LÀM GÌ ĐỂ PHÒNG NGỪA THOÁI HÓA KHỚP

Chia sẻ: Phuong Thanh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:13

0
434
lượt xem
311
download

LÀM GÌ ĐỂ PHÒNG NGỪA THOÁI HÓA KHỚP

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Thoái hóa khớp là căn bệnh dễ xảy ra ở người cao tuổi và phụ nữ, gây nên các cơn đau dữ dội và có thể dẫn đến tàn phế. Vậy phải làm gì để chủ động phòng ngừa thoái hoá khớp? Trầm cảm ở người cao tuổi thường biểu hiện bằng sự lo lắng thái quá về sức khỏe. Nó có thể diễn tiến thành bệnh Alzheimer và các hình thức khác của chứng mất trí. Bệnh thường khó chẩn đoán và điều trị vì bệnh nhân không thừa nhận là mình bị trầm cảm...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LÀM GÌ ĐỂ PHÒNG NGỪA THOÁI HÓA KHỚP

  1. LÀM GÌ ĐỂ PHÒNG NGỪA THOÁI HÓA KHỚP Thoái hóa khớp là căn bệnh dễ xảy ra ở người cao tuổi và phụ nữ, gây nên các cơn đau dữ dội và có thể dẫn đến tàn phế. Vậy phải làm gì để chủ động phòng ngừa thoái hoá khớp? thoái hoá khớp là gì? thoái hoá khớp là tình trạng hư hỏng phần sụn đệm giữa 2 đầu xương, kèm theo phản ứng viêm và giảm thiểu lượng dịch nhầy giúp bôi trơn ma sát ở điểm nối giữa 2 đầu xương. Tình trạng này gây đau nhức và cứng khớp, hạn chế cử động khớp. Tuy không gây tử vong như cao huyết áp, đái tháo đường nhưng bệnh ảnh hưởng nặng nề đến sinh hoạt do triệu chứng đau, tê, hạn chế cử động... Những đối tượng nào dễ bị thoái hoá khớp? thoái hoá khớp không phải là bệnh của riêng người lớn tuổi. Nó có thể phát triển từ những tháng đầu tiên của cuộc đời. Khoảng 30% người trên 35 tuổi, 60% người trên 65 và 85% người trên tuổi 80 có nguy cơ mắc bệnh. Khoảng 2/3 số bệnh nhân là phụ nữ. Sau tuổi 45, tỷ lệ nữ giới mắc bệnh cao hơn nam giới (gấp khoảng 1,5 - 2 lần). thoái hoá khớp hay tấn công phụ nữ trẻ sau thời kỳ mang thai và sinh nở, gây các cơn đau đớn. Nguyên nhân gây thoái hoá khớp? thoái hoá khớp ở người cao tuổi phần lớn không có nguyên nhân rõ rệt. Các yếu tố thúc đẩy quá trình thoái hóa bao gồm tuổi tác, tình trạng béo phì, chấn thương nhẹ và mạn tính ở khớp. Nhiều nghiên cứu cho thấy, trong quá trình lão hóa, chức năng chống đỡ của sụn bị suy giảm và dễ hư hỏng khi khớp cử động. Thêm vào đó, các chấn thương nhẹ nhưng kéo dài nhiều năm do khuân vác đồ nặng, cũng làm tăng gánh nặng cho các khớp, khiến sự thoái hóa thêm trầm trọng. Ngoài ra, yếu tố di truyền và di chứng từ các bệnh lý khác cũng góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
  2. Điều trị thoái hoá khớp Nếu thấy đau nhức ở các khớp và khó di chuyển trong 2 tuần, bạn nên đi khám bác sĩ để xác định loại thoái hoá khớp. Việc chẩn đoán và điều trị sớm sẽ giúp giảm thiểu đáng kể cơn đau và nguy cơ tàn phế. Hiện có 2 phương pháp điều trị: dùng thuốc và không dùng thuốc. Tùy theo thể trạng bệnh mà bác sĩ sẽ có phương pháp áp dụng thích hợp. Những khớp dễ bị thoái hóa. Làm gì để phòng ngừa thoái hoá khớp? Để phòng ngừa và hạn chế các cơn đau do thoái hoá khớp trong sinh hoạt cũng như ăn uống, bạn nên lưu ý những điều sau đây: Giảm cân: hãy giảm cân nếu cân nặng của bạn vượt chuẩn. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu, bởi nó sẽ giúp giảm áp lực cho khớp. Tập luyện: tập luyện sẽ đem lại những ích lợi nhất định đối với người mắc chứng viêm khớp. Sẽ là sai lầm nếu cho rằng, khi các cơn đau hoành hành thì càng ít hoạt động càng tốt, bởi điều
  3. đó sẽ chỉ làm cảm giác đau đớn kéo dài thêm. Tuy nhiên, bạn nên lựa chọn hình thức luyện tập phù hợp với sức khỏe bản thân. Ví như các động tác nhẹ nhàng có tác dụng thư giãn các khớp, tránh tình trạng để cho các khớp bị “ỳ”, ít hoạt động. Ngoài ra, bạn cũng có thể nhờ đến sự giúp đỡ từ phía các nhà vật lý trị liệu, để thực hiện các bài tập “chống lại” các cơn đau khớp. Hoặc áp dụng các biện pháp châm cứu. Chế độ ăn uống: trong chế độ ăn cũng nên lưu ý những điểm sau: - Hạn chế đồ uống có cồn. Bạn cần tránh sử dụng những loại đồ uống như rượu, bia và các đồ uống có chứa nhiều cồn khác. - Tránh ăn những thực phẩm có hàm lượng purin và fructozo cao như: cá trích, thịt gia súc, gan và thịt lợn muối. - Cần tránh tất cả món ăn làm tăng mỡ trong máu như: thịt mỡ, bơ, xúc xích, dăm bông và ngay cả bánh kẹo cũng nên hạn chế, vì sẽ làm gia tăng tình trạng viêm tấy. Nên ăn bổ sung thêm thực phẩm có chứa acid omega -3, tăng cường vitamin D qua chế độ ăn uống và uống viên nén sẽ có tác dụng giảm đau lâu dài. - Tăng cường các loại trái cây như: đu đủ, dứa, chanh, bưởi vì các loại trái này là nguồn cung ứng men kháng viêm và sinh tố C, 2 hoạt chất có tác dụng kháng viêm. BS. Trọng Nghĩa Khoẻ 24 - Chất Lượng Cuộc Sống www.khoe24.vn Nguồn: SKDS
  4. TRẦM CẢM Ở NGƯỜI CAO TUỔI Trầm cảm ở người cao tuổi thường biểu hiện bằng sự lo lắng thái quá về sức khỏe. Nó có thể diễn tiến thành bệnh Alzheimer và các hình thức khác của chứng mất trí. Bệnh thường khó chẩn đoán và điều trị vì bệnh nhân không thừa nhận là mình bị trầm cảm. Triệu chứng phổ biến: Người bệnh thường thấy chán nản hoặc dễ cáu, cảm thấy bản thân sống không có ý nghĩa, không tham gia hoặc không mặn mà với những hoạt động hằng ngày, dễ tức giận, dễ bị kích động. Bệnh nhân thay đổi khẩu vị, thường ăn không ngon miệng, trọng lượng cơ thể thay đổi (sút hoặc tăng cân), khó ngủ, thức giấc nhiều lần trong đêm, tỉnh giấc sớm, thèm ngủ ngày... Một số biểu hiện khác là mệt mỏi, mất tập trung, giảm trí nhớ, tư duy khác thường, có ý nghĩ phạm lỗi và ý định tự vẫn, thậm chí có kế hoạch hoặc đã thử tự vẫn. Nếu những triệu chứng trên xuất hiện liên tục hơn 2 tuần nghĩa là người cao tuổi đã mắc chứng trầm cảm. Những biểu hiện trầm cảm ở người cao tuổi tương đối phức tạp, thường thấy nhất là mệt mỏi, chán ăn, khó ngủ đi kèm với quá trình lão hóa. Ngoài ra, họ còn có các biểu hiện khác như xa lánh người thân trong gia đình, bạn bè, đau ốm liên miên, không hoạt bát, hay thất vọng, giảm trí nhớ, khó thích nghi với những thay đổi như việc chuyển chỗ ở hoặc những thay đổi trong nội bộ gia đình. Trầm cảm ở người cao tuổi còn biểu hiện bởi sự rối loạn chức năng não đi kèm với quá trình lão hóa mà người ta thường gọi là bệnh Alzheimer. Để cải thiện chứng bệnh này, người cao tuổi cần được giúp đỡ để thoát khỏi tình trạng bị cách ly hoặc cô đơn. Để làm được điều này, nên tổ chức các cuộc dã ngoại, hướng người cao tuổi
  5. tự rèn luyện sức khỏe hoặc thường xuyên đưa họ đi thăm hỏi bạn bè, người thân. Nếu có thể, nên tạo hoàn cảnh tiếp tục hoạt động nghề nghiệp cho họ, hoặc tổ chức học thêm để bổ sung kiến thức, tăng khả năng giúp đỡ con cháu. Điều trị bằng thuốc chống suy nhược cũng góp phần mang lại hiệu quả tuy nhiên cần lưu ý đến tác dụng phụ và nên dùng với liều lượng thấp. Các loại thuốc an thần cũng giúp người già giảm nguy cơ bị kích động. Nếu chúng không mang lại hiệu quả thì liệu pháp sốc điện có thể được áp dụng. Những biện pháp này cần được thực hiện theo hướng dẫn của thầy thuốc. Bác sĩ Hạnh Trinh Khỏe 24 (nguồn: SKDS) ĐỐI PHÓ VỚI SA SÚT TRÍ TUỆ Ở NGƯỜI CAO TUỔI Sa sút trí tuệ được xác định bằng suy giảm trí nhớ, mất khả năng phán đoán, rối loạn định hướng và rối loạn nhận thức. SSTT có thể gặp ở lứa tuổi trung niên hoặc sớm hơn do hậu quả của thiếu ôxy, chấn thương, nhiễm khuẩn, khối u và các bệnh thần kinh như Parkinson. SSTT không chỉ là vấn đề của các thầy thuốc mà còn là vấn đề của toàn xã hội.
  6. Não bộ ở người bình thường (bên trái) và người bệnh Alzheimer (bên phải) Sa sút trí tuệ - Nỗi khổ cần được cảm thông Biểu hiện của SSTT khác nhau tùy theo từng bệnh nhưng triệu chứng chung của SSTT bao gồm các thay đổi về trí nhớ, trí tuệ, hành vi và nhân cách. Một số người già than phiền về chứng hay quên, suy nghĩ không rành mạch. sa sút trí tuệ thường dẫn đến vệ sinh kém, sử dụng các trang thiết bị thiếu an toàn, nhầm lẫn trong chi tiêu và đi lang thang, hay lặp lại các câu hỏi. Rối loạn giấc ngủ ban đêm và các rối loạn hành vi gây khó khăn cho việc điều trị và săn sóc: kích động, kêu la ầm ĩ, chống đối khi tắm giặt và thay quần áo. Giải tỏa bản năng tình dục, đòi hỏi quan hệ tình dục với những người không phải vợ (chồng)... Biểu hiện bên ngoài của người bệnh có thể rất khác nhau, người sống một mình rất luộm thuộm, những người khác được chăm sóc nuôi dưỡng chu đáo. Người bệnh
  7. thường che giấu sự suy giảm nhận thức trong một thời gian dài, vì vậy nhiều người vẫn cho rằng người bị lú lẫn nhẹ vẫn có thể tự quản lý cuộc sống của mình. Một triệu chứng khá phổ biến khác là rối loạn định hướng về thời gian, người bệnh thường cho sự nhầm lẫn về thời gian là do họ đã nghỉ hưu, do nghe nhìn kém và do cách biệt với xã hội, đôi khi họ không phân biệt được ngày đêm, sáng chiều, không biết thứ, ngày, tháng. Rối loạn định hướng về không gian ít bị bộc lộ nếu người bệnh vẫn sống ở một nơi cố định trong nhiều năm. Người bệnh có thể lo âu, kích động, rối loạn nặng cảm xúc và cơ thể nếu bị đòi hỏi vượt quá khả năng đáp ứng của người bệnh. Về sau kích động thường diễn ra vào buổi chiều tối và ban đêm. 5% số người bệnh sa sút trí tuệ có trầm cảm điển hình kèm theo, đặc biệt sa sút trí tuệ do bệnh mạch máu, bệnh Parkinson và các bệnh thần kinh khác. Các biểu hiện trầm cảm Thu mình khỏi các hoạt động xã hội, kích động, khóc lóc, mất ngủ, ăn không ngon miệng. Những người già bị lú lẫn, trầm cảm nhìn vẻ lo âu buồn phiền và có cảm giác bất hạnh. Về ngôn ngữ có các khó khăn trong chọn từ. Nội dung tư duy đơn giản, rời rạc và lặp đi lặp lại. Ở giai đoạn tiếp theo, người bệnh sa sút trí tuệ có các triệu chứng tư duy sai lệch, ảo giác và hoang tưởng. Khi đồ dùng để một chỗ không nhớ ra được, người bệnh thường cho rằng đã bị ăn cắp. Các lệch lạc tư duy đó thường ổn định lại khi đồ đạc đó đã được tìm thấy. Một số trường hợp khác, vợ (chồng) được coi là kẻ giả dạng, bố mẹ đã chết từ lâu được nghĩ là đang còn sống, những người hàng xóm bị tố cáo là nhòm ngó tài sản, đồ đạc của người bệnh. Các ảo giác có thể xuất hiện nhiều dạng song ảo thị là phổ biến nhất, thường ảo thị về trẻ con và các động vật. Các ảo thị kì lạ, sặc sỡ thường gợi ý đến mê sảng hoặc sa sút trí tuệ thể Lewybodies. Chăm sóc và điều trị
  8. Sa sút trí tuệ ở tuổi già. - Ở người già sa sút trí tuệ do Cần đưa ra một chẩn đoán sa bệnh Aizheimer chiếm khoảng sút trí tuệ về bệnh căn có thể 50% số trường hợp. nhất, loại ra các nguyên nhân có thể điều trị được, trầm - Bệnh mạch máu 15%. cảm và mê sảng là biểu hiện - Hỗn hợp Aizheimer và mạch máu đơn thuần góp phần làm xảy 20%. ra lú lẫn. sa sút trí tuệ ít khi có thể hồi phục hoàn toàn ở - Sa sút thể Lewy 17%. người rất già nhưng nếu do máu tụ dưới màng cứng, u - Các sa sút do nguyên nhân dưới não, não úng thủy thì nhất vỏ não 15%. thiết phải được loại bỏ nguyên nhân. Các nguyên - Nghiện rượu 6% và các nguyên nhân thiếu máu, đái đường, nhân khác. thiểu năng giáp trạng và - sa sút trí tuệ gặp 5-8% ở những nhiễm độc ma túy cũng cần người trên 65 tuổi, 15-20% ở được loại bỏ. những người trên 75 tuổi, 25-50% Các chất ức chế men ở những người trên 85 tuổi. cholinesteraza có thể làm cải thiện các triệu chứng nhận thức ở bệnh nhân Alzheimer tạo ra sự tiến bộ tương đương với quá trình hồi phục trong vòng 6 -12 tháng. Ngược lại các thuốc hướng thần chỉ đóng vai trò hạn chế, có khả năng làm cho lú lẫn nặng thêm, gây rối loạn sự thăng bằng và gây ngã. Các thuốc an thần kinh mới như risperidon, olanzapin an toàn hơn và được chỉ định ưu tiên hơn các thuốc truyền thống. Tác dụng phụ có liên quan tới liều lượng nên sử dụng thuốc ở liều thấp. Các thuốc ổn định khí sắc được sử dụng chọn lọc để điều trị kích động, tấn công và dao động cảm xúc. Oestrogen và cyproteron acetate có thể điều trị sự mất kiểm soát tình dục và trạng thái tấn công ở nam giới. Thuốc chống trầm cảm được sử dụng để điều trị các trạng thái trầm cảm với các triệu chứng nổi bật như: khí sắc giảm kéo dài, kích động vật vã hay chậm chạp tâm thần vận động, mất ngủ và mất ngon miệng. Có tác giả khuyên cho dù đã chẩn đoán xác định là sa sút trí tuệ vẫn nên điều trị theo hướng trầm cảm cho
  9. người bệnh, nhiều trường hợp lâm sàng sẽ tốt lên rõ rệt. Nên lựa chọn thuốc chống trầm cảm mới như các thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin, tránh dùng thuốc chống trầm cảm 3 vòng có tác dụng kháng cholinergic vì chúng làm nặng thêm trạng thái lú lẫn. Lưu ý các thuốc chống loạn thần đều có thể gây ra mê sảng nhất là các thuốc kháng cholinergic, các chất gây ngủ, các thuốc chống co giật, vì vậy cần chỉ định thận trọng cho người bệnh sa sút trí tuệ. PGS.TS. Cao Tiến Đức Khoẻ 24 - Chất Lượng Cuộc Sống www.khoe24.vn Nguồn: SKDS BẤT THƯỜNG ĐƯỜNG HUYẾT Ở NGƯỜI CAO TUỒI Đối với người cao tuổi (NCT), những bất thường xảy ra ở bất kỳ một cơ quan nào cũng là những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, thậm chí là tính mạng. Tăng hay giảm đường huyết (ĐH) là một trong những bệnh lý cần đặc biệt chú ý. Bài viết sau đây sẽ giúp độc giả, nhất là NCT có những hướng xử trí cần thiết nếu rơi vào tình trạng này. ĐH bình thường (đo khi cơ thể nghỉ, xa bữa ăn) là 4,4-6,6 mmol/l. Khi ĐH nằm ngoài ngưỡng bình thường này được xem là tăng hay hạ. Về già, hệ thống điều hòa ĐH kém nhạy bén, do vậy dễ dẫn đến triệu chứng tăng hoặc hạ ĐH. Những biểu hiện bất thường này có thể gây ra những hậu quả xấu cho NCT.
  10. Tiêm glucose vào tĩnh mạch bệnh nhân khi hạ ĐH nặng. Tăng ĐH xảy ra khi nào? Tình trạng tăng ĐH ở NCT (ngoại trừ người có bệnh đái tháo đường) trong hầu hết trường hợp là tạm thời (khi vận động, khi ở trạng thái tâm lý quá phấn khích: cáu giận, hoảng sợ, bực tức, lo phiền...). Với NCT, chỉ cần nhớ rằng nếu tình trạng trên kéo dài và xảy ra thường xuyên, có thể làm tiết nhiều adrenalin, gan cạn kiệt glucid - đe dọa chuyển sang hạ ĐH. Thêm nữa, những trạng thái tâm lý trên còn ảnh hưởng xấu tới tim mạch, huyết áp. Hình thức tập luyện khí công và thiền tỏ ra có tác dụng tốt. Trường hợp tăng ĐH kéo dài gặp trong bệnh đái tháo đường. Ở NCT, bệnh này không do thiếu insulin mà do các tế bào sử dụng kém hiệu quả chất này, do vậy nói chung những năm đầu tiên chưa cần chữa bằng insulin (như với người trẻ). Hiện đã có rất nhiều loại thuốc chữa, dùng lâu dài, nhưng chọn loại nào thích hợp thì cần được thầy thuốc hướng dẫn và bệnh nhân tự theo dõi. Phát hiện sớm bệnh đái tháo đường ở NCT không dễ, vì ĐH tăng thường không gây ra triệu chứng mà bệnh được phát hiện do tình cờ. Do vậy, ở tuổi trên 60 rất nên đo ĐH định kỳ. Không nên đo trong nước tiểu (vì có đường trong nước tiểu là bệnh đã tiến triển một thời gian dài). Đái tháo đường ở NCT thường đi liền
  11. với các bệnh khác như: xơ vữa động mạch vành, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, do vậy những yếu tố này cần được kiểm soát chặt chẽ, NCT cần có một chế độ ăn uống và tập luyện sau khi đã đi thăm khám và có ý kiến của bác sĩ. Xử trí đúng khi bị hạ ĐH Hạ ĐH do đột ngột tăng lượng sử dụng, trong khi kho dự trữ đường ở gan không còn dồi dào, hoặc không huy động kịp. Nói chung, gan NCT giảm khả năng dự trữ glucid, nhất là khi xa bữa ăn (một số cụ già cần ăn nhiều bữa). Khi tiếp cận môi trường lạnh (do đột ngột ra lạnh mà không mặc đủ ấm, hoặc do ở lâu ngoài trời lạnh), người trẻ dễ thích nghi, còn NCT rất dễ hạ ĐH. Nếu NCT dùng sức đột ngột mà thiếu sự khởi động cho cơ thể kịp thích nghi, cũng dẫn đến hạ ĐH. Ví dụ, đột ngột thực hiện một loạt động tác thể dục tương đối mạnh, hoặc tập khi bụng đói... Khi có cơn nóng giận kéo dài, không tự kiềm chế được... Hạ ĐH do gan giảm dự trữ. Ở NCT, ngay sau khi ăn, tổng lượng đường ở gan vẫn thấp. Tình trạng này càng rõ nếu mắc các bệnh gan mạn tính (xơ gan, suy gan), đáng chú ý là gan của người nghiện rượu... Nhiều người nghiện từ thời trẻ, dần dần có thói quen uống mà quên ăn. Một dấu hiệu nói lên tình trạng hạ ĐH ban đêm là ngủ mê mệt, trong giấc mơ thấy mình ăn rất nhiều và ngon lành. Một nguy cơ là dự trữ protein của cơ thể có thể cạn kiệt dần, do biến thành glucose để chống hạ ĐH. Hậu quả là suy dinh dưỡng (khó phục hồi).
  12. Hạ ĐH do sử dụng quá mức các biện pháp chữa bệnh đái tháo đường. Có thể do người bệnh sử dụng một chế độ ăn quá nghèo glucid với mục đích tích cực chữa bệnh, phòng biến chứng. Nên nhớ rằng, dù mắc bệnh Tác dụng của insulin lên đường đái tháo đường, bệnh huyết. nhân vẫn cần một khẩu phần glucid đủ mức cần thiết, chủ yếu là loại glucid nguyên hạt. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân đái tháo đường bị hạ ĐH thường do sử dụng quá mức các thuốc hạ ĐH (hy vọng kiềm chế bệnh tốt hơn), mà không theo chỉ dẫn của thấy thuốc và không tự theo dõi định kỳ mức ĐH. Tế bào não duy nhất chỉ sử dụng glucose làm thức ăn, mà không sử dụng mỡ, protein như mọi tế bào khác. Do vậy, nếu ĐH hạ đột ngột xuống dưới 4mmol/l sẽ có ngay các triệu chứng thần kinh: run rẩy, mắt hoa, xây xẩm; nếu giảm tới 3mmol/l sẽ có bủn rủn, choáng váng, vã mồ hôi lạnh, tim đập nhanh, mạch yếu... Nếu còn hạ tiếp sẽ có cứng hàm, lú lẫn, mất hẳn trương lực các cơ (ngã vật), hôn mê. Cùng một mức độ giảm ĐH, NCT thường có bệnh cảnh nặng hơn, khó cứu chữa hơn (so với người trẻ). Nếu hạ ĐH từ từ, thoạt tiên thấy đói cồn cào, bộ máy tiêu hóa co bóp mạnh. Sau đó cũng là run rẩy, mắt hoa, vã mồ hôi lạnh, tứ chi bủn rủn; do diễn biến kéo dài nên cơ thể trẻ đủ thời gian để kịp điều chỉnh (huy động protein); trái lại, NCT sự huy động này tỏ ra chậm chạp và kém hiệu lực, do vậy hậu quả thường nặng nề: có thể hôn mê, có thể thiểu lực kéo dài, có thể suy cạn kho protein khó hồi phục. Trong tình trạng này, NCT cần ăn ngay các loại glucid dễ hấp thu: kẹo, bánh ngọt, khẩn cấp hơn có thể dùng nước đường (không dùng đường hóa học), nước quả cây, sữa... Trường hợp khẩn cấp phải truyền glucose vào máu.
  13. GS. Nguyễn Ngọc Lanh Khỏe 24 (nguồn: SKDS)
Đồng bộ tài khoản