Lập trình web với PHP - p9

Chia sẻ: Yukogaru | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
222
lượt xem
172
download

Lập trình web với PHP - p9

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chương 2: TẠO NHỮNG TRANG PHP SỬ DỤNG PHP5 Những cú pháp xen lẫn trong php. Xen lẫn giữa Bạn có thể xem code php trong html trong cách khác - Phải mở trong file php.ini với thẻ mở ngắn. - Phải mở trong file php.ini với thẻ ASP - and .Đây là giá trị không chuyển đổi trong file php.ini Xen lẫn trong mệnh đề echo Bạn đã sử dụng print_r(), nhưng bạn cũng đã sử dụng print() để trình bày đoạn text hoặc giá trị biến trong trang web của...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lập trình web với PHP - p9

  1. Chương 2: TẠO NHỮNG TRANG PHP SỬ DỤNG PHP5 Chương 2 giới thiệu những phần sau: 1. Sử dụng “echo” để trình bài text. 2. Định dạng text bằng HTML và PHP. 3. Hằng và biến. 4. Sử dụng URL để truyền biến . 5. Sessions và cookies. 6. HTML forms. 7. Mệnh đề if/else. 8. Includes. 9. Functions. 10. Array và foreach. 11. While và do/while. 12. Sử dụng lớp và thứ tự với OOP. Những cú pháp xen lẫn trong php. Xen lẫn giữa Bạn có thể xem code php trong html trong cách khác - Phải mở trong file php.ini với thẻ mở ngắn. - Phải mở trong file php.ini với thẻ ASP - and .Đây là giá trị không chuyển đổi trong file php.ini Xen lẫn trong mệnh đề echo Bạn đã sử dụng print_r(), nhưng bạn cũng đã sử dụng print() để trình bày đoạn text hoặc giá trị biến trong trang web của bạn. Sự khác nhau giữa echo() và printf() là khi bạn sử dụng print(), một giá trị 0 hoặc 1 sẽ được trả lại cho sự thành
  2. công hay thất bại của lệnh print(). Trong trường hợp này, bạn cũng có thể nói mọi thứ không in ra khi sử dụng lệnh print(). Trong khi echo() chỉ đưa ra những gì không có mà bạn biết là không có hoặc nó làm việc không chính xác. Trong các trường hợp khác thì cả hai là như nhau. Xen lẫn giữa các phép toán logic. Các phép toán and(&&), or(||) là các phép toán logic. Xen lẫn trong việc sử dụng dấu (“”). Ngoài việc sử dụng dấu (“”) ta cũng có thể sử dụng dấu (=
  3. Tóm tắt những ví dụ về OOP Sử dụng OOP giống như thứ tự tại một quầy pizza. Nó không làm bạn tăng cân và có một đôi chân đẹp, nhưng nó yêu cầu phải vận động: Trước tiên người bồi bàn sẽ nhận yêu cầu của bạn và đến nhà bếp. Anh ta đề nghị một cái bánh pizza thích hợp với yêu cầu của bạn để nấu. Nhà bếp sẽ coi công thức làm cái bánh đó và cần thêm người phụ làm. Sau đó nhà bếp làm bề mặt của bánh pizza và nướng nó trong một thời gian. Cuối cùng họ sẽ mang bánh pizza cho người bồi bàn. Trong ví dụ này những cách thức nhào bột, làm bề mặt của bánh, nấu và lấy ra từ lò. Những thành phần này là những đặt tả. Đối tượng của bạn là một bánh pizza. Nếu chúng ta thể hiện kinh nghiệm làm bánh trong PHP/hệ phương pháp OOP thì nó như sau:
  4. } public function bake() { //nướng bánh return true; } public function make_pizza($dough, $toppings) { //làm bánh $step1 = $this->MakeDough($dough); if ($step1) { $step2 = $this->addToppings($toppings); } if ($step2) { $step3 = $this->bake(); } } } ?> Sau đó bạn có thể tạo ra bánh pizza bất cứ lúc nào bạn cảm thấy thích và bạn có thể chắc rằng cái bánh được tạo đúng.
  5. //phân phối $pizza cho bảng 1; } else echo “uh-oh, looks like you should have gone to eat fast food.”; ?> Rõ ràng, nếu bạn chạy tập lệnh này nó sẽ không làm việc, đây chỉ là một hiển thị đơn giản. Bây giờ bạn có thể thấy cách tạo một cái bánh pizza như thế nào bất cứ khi nào bạn muốn, bằng cách sử dụng những biến như: $dough1, $toppings1, $pizza1, $dough2, $toppings2, $pizza2, table1, table2. Bất cứ lúc nào một người yêu cầu một cái pizza bạn có thể gọi lớp pizza và một cái bánh sẽ được tạo ra. Và khi khác một người khác yêu cầu một cái bánh bạn cũng làm như trên. Một vài chú ý: - Đặt tên lớp là sử dụng trộn lẫn chữ hoa và chữ thường. - Nếu muốn một hàm có thể sử dụng ở mọi nơi, ta cần khai báo function _construct(), khai báo như hàm đầu tiên trong lớp, được gọi là constructor - Ví dụ function __construct() { $this->tray = $round; } - $this->variable tương tự như trong cú pháp mảng, $this có thể là một đối tượng đặt biệt được tạo ra. - Bạn để ý rằng lớp của bạn bắt đầu với dòng biến ban đầu. Bạn cần khai báo một biến trong phạm vi một lớp. Bạn khai báo biến như “public,” “private,” hoặc “protected”. Biến public có thế thấy được ở bất kỳ lớp nào, biến private chỉ thấy trong lớp của nó, biến protected thấy trong lớp của nó và bất kỳ lớp nào mà có dòng mở rộng ở đầu. Nó có thể đồng ý để giữ hầu hết các biến của bạn như public, ngoại trừ những cái nào chứa thông tin cá nhân. - Để tạo đối tượng, sử dụng từ khóa new Ví dụ:
  6. $table1 = new Pizza(); Điều này giữ tất cả các thông tin về bánh pizza trong biến $table1 Để đơn giản, bạn tạo một hàm trong lớp của bạn mà nó gọi tất cả những hàm khác theo thứ tự bạn muốn. Nếu bạn được “carb-conscious” và tránh trộn bột lẫn vào nhau, quyết định không nướng bánh pizza. Bạn có thể vẫn sử dụng lớp pizza không? Tất nhiên là được. Đơn giản, bạn chỉ gọi cách thức addToppings thay vì gọi makePizza. Vì sao sử dụng OOP Sử dụng OOP có một vài lợi ích bao gồm một file đơn giản với những hàm trên nó. Đầu tiên, với OOP bạn có thể giữ những bit thông tin có liên quan với nhau và trình bày những nhiệm vụ phức tạp với dữ liệu đó. Thứ hai, bạn có thể xử lý dữ liệu không giới hạn thời gian mà không lo lắng về biến quá dài. Thứ ba, bạn có thể có nhiều ví dụ của những lớp chạy trong cùng thời gian mà những biến này không bị sửa hoặc đè lên.
Đồng bộ tài khoản