Lễ hội miền bắc 3

Chia sẻ: Nguyenthu Ha | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
72
lượt xem
16
download

Lễ hội miền bắc 3

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Lễ hội cờ lau Hoa Lư Để tưởng nhớ công lao to lớn của Đinh Tiên Hoàng, từ 8 đến 13 tháng 3 âm lịch hàng năm, nhân dân Ninh Bình tổ chức Lễ hội cờ lau Hoa Lư tại xã Trường Yên, huyện Hoa Lư - nơi Đinh Tiên Hoàng đã xây dựng kinh đô. Lễ hội diễn ra ở 2 đền thờ Đinh, Lê. Ngày mở đầu hội, nhân dân khởi hành từ đền vua Đinh ra sông Hoàng Long, nơi vua Đinh thường ra tắm khi còn nhỏ, lấy nước về tế lễ. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lễ hội miền bắc 3

  1. Lễ hội cờ lau Hoa Lư Để tưởng nhớ công lao to lớn của Đinh Tiên Hoàng, từ 8 đến 13 tháng 3 âm lịch hàng năm, nhân dân Ninh Bình tổ chức Lễ hội cờ lau Hoa Lư tại xã Trường Yên, huyện Hoa Lư - nơi Đinh Tiên Hoàng đã xây dựng kinh đô. Lễ hội diễn ra ở 2 đền thờ Đinh, Lê. Ngày mở đầu hội, nhân dân khởi hành từ đền vua Đinh ra sông Hoàng Long, nơi vua Đinh thường ra tắm khi còn nhỏ, lấy nước về tế lễ. Theo truyền thuyết, khi Đinh Bộ Lĩnh ở với chú là Đinh Thúc Dự, bị chú cầm gươm đánh đuổi vì đã giết của ông một con trâu khao lũ trẻ chăn trâu. Khi Đinh Bộ Lĩnh chạy vào núi Trường Yên trốn tránh, trên đường gặp dòng sông chắn ngang, không đi qua được, ông bèn gọi đò nhưng không có, tức thì một con rồng vàng nổi lên làm cầu để Đinh Bộ Lĩnh đi qua bên kia sông. Thấy vậy, người chú kinh hoàng, cắm gươm xuống chân núi bên sông rồi lạy như tế sao. Con sông đó sau được gọi là Hoàng Long. Quả núi mà ông chú cắm gươm xuống cũng được gọi là núi Cắm Gươm. Đi lấy nước thánh là tưởng nhớ người xưa, cũng là sự cầu mong mưa thuận gió hòa để nhân dân cày cấy đủ nước, làm ăn thịnh vượng. Đoàn rước nước, đi đầu là cờ quạt rồi đến phường bát âm, tiếp theo đến kiệu rồng, trên đặt một cái chóe để đựng nước sông Hoàng Long. Mọi người đi rước nước đều mặc trang phục thống nhất: nam mặc quần trắng, áo the, thắt lưng xanh, đỏ. Những người cầm cờ đội thêm chiếc nón nhỏ. Đi theo sau kiệu, là một cụ già cao tuổi mặc áo thụng tế màu lam cùng với một nhà sư hoặc một người có quyền thế nhất ở làng. Phần hội, ngoài những trò như: thi vật, thi bơi chải, thi thổi cơm, múa lân, múa rồng, cờ người... còn có trò cờ lau tập trận và kéo chữ. Đội quân cờ lau gồm các thiếu niên từ 14 đến 16 tuổi chia làm hai toán. Một bên mặc quần đùi xanh có nẹp đỏ, áo màu xanh lá cây, đội nón lá; một bên cũng quần đùi xanh nhưng mặc áo màu trắng. Cả hai toán đều giắt hai bông lau bắt chéo nhau ở sau
  2. lưng, tay cầm gậy. Mỗi toán đều có tướng chỉ huy. Tướng cầm kiếm, đội mũ bằng lá mít hay lá dừa. Riêng tướng đóng vai vua Đinh phải khôi ngô tuấn tú, mặc quần đen có sọc đỏ, đội mũ Bình Thiên bằng rơm, tay cầm thêm bông lau ngồi trên con trâu béo khỏe. Hai phe dàn quân tập trận. Đội này tiến, đội kia lùi. Nhạc đệm có trống, chiêng, thanh la, kèn. Sau đó, đến trò kéo chữ "Thái Bình", thể hiện niềm mong ước nền thái bình muôn thuở của nhân dân. Năm ngày hội là những ngày vui, nhộn nhịp, sôi động, thể hiện tinh thần thượng võ, mang tính nhân văn, giàu bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Lễ hội mùa xuân hồ Ba Bể Hồ Ba Bể nằm ở trung du phía Bắc thuộc tỉnh Bắc Kạn, cách Hà Nội 240km. Nơi đây tập trung 7 dân tộc gồm dân tộc Tày, Nùng, Dao và H'Mông..., trong đó dân tộc Tày chiếm 61%. Phong tục và văn hóa truyền thống của các dân tộc này đã thu hút rất nhiều du khách từ khắp các nơi trong nước cũng như khách quốc tế. Lễ hội mùa xuân diễn ra với các trò chơi và các tiết mục biểu diễn nghệ thuật như đấu vật, thi hát và đặc biệt hấp dẫn người xem là các cuộc đua thuyền. Người đi trảy hội có thể tham gia các điệu hát và múa trong điệu nhạc dân tộc du dương trầm bổng. Hồ Ba Bể là thắng cảnh đẹp nhất của tỉnh Bắc Kạn với một kho tàng văn hóa truyền thống đặc sắc của các dân tộc thiểu số. Nơi đây đã thu hút rất nhiều khách du lịch trong cũng như ngoài nước tới. Lễ hội Hồ Ba Bể được tổ chức vào ngày mùng 9 và 10 tháng giêng âm lịch hàng năm. Ðua thuyền, ném Còn, đấu vật, bắn cung và biểu diễn múa, hát truyền thống của các dân tộc được tổ chức trong suốt thời gian diễn ra lễ hội. Lễ hội cũng giúp cho khách thập phương hiểu thêm về con người và truyền thống văn hoá nơi đây. Hồ Ba Bể nằm ở độ cao145m so với mặt nước biển và được bao bọc bởi
  3. những dãy núi đá vôi cao tới 1.754m. Người ta cho rằng nó được hình thành cách đây 200 triệu năm. Mang tên là Ba Bể là do 3 cái hồ thông với nhau với tổng chiều dài 8km và chiều rộng 3km. Chính vì diện tích của hồ Ba Bể như vậy mà người dân ở đây coi Hồ Ba Bể như là biển của họ. Trong hồ có rất nhiều hòn đảo nhỏ, đặc biệt là Ao Tiên, tương truyền đây là nơi ngày xưa các nàng tiên trên trời thường xuống tắm và chơi cờ. Ba Bể dường như tươi đẹp hơn khi có khu rừng nguyên sinh với hệ động thực vật phong phú và mỗi dòng sông, con suỗi xanh trong giống như dải lụa mềm mại. Giống như nhiều lễ hội khác, lễ hội mùa xuân Hồ Ba Bể là nơi gặp gỡ, giao lưu và để hít thở không khí trong lành của vùng đất tươi đẹp này. Lễ hội “Kin Pang Then” của dân tộc Thái trắng Bản Kích, xã Pha Khinh, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La được biết đến với những nét văn hóa đặc trưng mang đậm bản sắc dân tộc của người Thái, và cùng với đó là lễ hội “Kin Pang Then” - lễ hội truyền thống của dân tộc Thái trắng. Lễ hội “Kin Pang Then” là lễ hội tiêu biểu của dân tộc Thái trắng ở Quỳnh Nhai. “Then” ở đây là thầy mo được quan niệm là cao tay hơn cả; thầy mo được coi như người của trời được cử xuống trần gian để cứu giúp người khỏi bị ốm đau, bệnh tật và có khả năng giao tiếp với thần linh. Hàng năm, cứ vào dịp đầu năm, thầy mo tổ chức lễ cúng và gặp mặt các con nuôi (đó là những người đã được thầy mo chữa cho khỏi bệnh). Lễ hội “Kin Pang Then” được tổ chức với quy mô lớn, không những các con nuôi và người trong bản tham gia, mà còn nhiều dân làng ở bản khác cũng đến tham dự. Thời gian cúng có thể kéo dài từ 3 đến 4 ngày, tuỳ thuộc và số lượng con nuôi đến với “Then” nhiều hay ít. Trong những ngày diễn ra lễ hội, mọi người trong làng bản cùng dâng lễ cảm tạ đất trời và cầu xin sang một năm mới mọi điều may mắn và tốt lành đến với bản làng. Cũng như nhiều lễ hội khác, lễ hội “Kin Pang Then” gồm có hai phần chính là phần lễ và phần hội. Phần lễ với lối hát Then truyền thống. Qua lời hát, ông Then cầu cúng cho dân làng trong bản, trong mường sang một năm mới có nhiều điều tốt đẹp, cho con người luôn khoẻ mạnh, no ấm, cầu cho mưa thuận gió hoà, cho mùa màng tươi tốt và cùng với đó là lễ tạ ơn của con cái đối với cha mẹ. Ngoài ra, “Kin Pang Then” cũng là lễ hội cầu phúc lộc cho gia đình và con cháu, là dịp để con cháu tạ ơn thầy trong dịp đầu
  4. năm mới. Phần lễ đơn giản nhưng mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc, không có yếu tố mê tín dị đoan, mang tính cộng đồng cao, vun đắp tình đoàn kết trong bản, trong mường. Phần hội với những lời hát Then, điệu múa, trò chơi dân gian lành mạnh như Trò mưa đá (là trò chơi ông Then xin trời cho mưa xuống để cho mùa màng tươi tốt), trò cày bừa, hái nấm, múa khăn, múa tăng bu tăng bẳng, múa vòng xoè… đã tạo ra không khí vui tươi phấn khởi, cuốn hút dân làng đến tham gia. Bên cạnh đó, lễ hội còn là dịp để trai gái trong bản, trong mường gặp gỡ và thể hiện mình qua những câu hát, điệu múa. Và sau lễ hội, nhiều đôi đã nên vợ, nên chồng. Bên cạnh ý nghĩa tâm linh sâu sắc, lễ hội Kin Pang Then còn nhắc nhở con người phải biết sống đúng đạo lý, gắn bó với tình làng, nghĩa bản. Trong bài cúng của ông Then có đoạn nhắc nhở và khuyên nhủ các con cháu rằng: “…Được ăn ngon đừng quên mình Được đi ngựa đừng quên thời đi bộ…” Lễ hội “Kin Pang Then” là lễ hội mang tính cộng đồng cao, góp phần tích cực vào việc vun đắp khối đoàn kết dân tộc, giáo dục truyền thống uống nước nhớ nguồn, tạo bầu không khí vui tươi, lành mạnh. Lễ hội là nét văn hóa đặc sắc, là hình thức diễn xướng dân gian độc đáo, góp phần vào việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Hội làng Bát Tràng (Báo Hà Nội Mới) Bát Tràng là một làng cổ nằm ở bờ bắc sông Hồng, nay thuộc xã Bát Tràng huyện Gia Lâm. Hơn 600 năm trước, có người họ Nguyễn từ Vĩnh Ninh (Thanh Hóa) đến đây lập nghiệp. Tiếp đó, 5 cụ họ Lê, Trần, Vương, Phạm, Nguyễn đem gia đình đến vùng 72 gò đất trắng lập phường sản xuất gốm gọi là Bạch Thổ phường. Trải theo năm tháng, nghề gốm ngày càng phát đạt và những người ở Bồ Sẩn phẩm làng Bát (Ninh Bình) kéo ra ngày càng đông. Bát Tràng Vào thời cuối Lê, làng Bát Tràng đã có 20 họ. Cùng với ngày nay sản xuất gốm sứ, làm ruộng, buôn bán, việc học ở làng cũng được người dân hết sức coi trọng. Trong hơn 5 thế kỷ, dưới thời học chữ Nho, Bát Tràng có 364 người đỗ đạt, trong đó có Trạng nguyên Giáp Hải (1506-1586), 8 người đậu tiến sĩ cùng nhiều quan võ.
  5. Ban đầu, làng chỉ có một ngôi miếu nhỏ làm bằng tranh tre ở ngoài bãi sông. Năm 1720, đình được làm với quy mô lớn. Đình xây kiểu chữ nhị, phía trong là tòa hậu cung 3 gian; phía ngoài là tòa đại bái 5 gian 2 chái. Cột đình bằng gỗ lim người ôm không hết vòng tay. Gian giữa thấp bày hương án. Các gian bên đều lát gỗ thành bục cao. Mặt đình hướng ra sông Hồng. Trong kháng chiến, đình đã bị bom Mỹ phá hủy. Năm 1993, dân làng đã góp tiền của dựng lại đình theo kiến trúc truyền thống. Tại đình còn giữ được một số đồ tế khí như ngai thờ, bát bửu, chuông đồng, kiệu bát cống, hai biển gỗ tạo vào thời Minh Mạng, cùng nhiều hoành phi, câu đối cỡ lớn, mỗi chữ có thể coi là một tác phẩm thư pháp độc đáo. Đình Bát Tràng còn giữ được 50 đạo sắc phong thần có niên đại thời Lê, thời Tây Sơn, thời Nguyễn. Bát Tràng là một điểm tụ cư, vì thế ngoài Thành hoàng bản địa, nhân dân nơi khác đến cũng rước thành hoàng cũ của mình đến thờ. Đó là thần Bạch Mã Đại vương; Trang Thuận Nghi Dung; Phan Đại tướng… Trước đây, Bát Tràng vào đám từ ngày 15 đến ngày 22 tháng hai âm lịch. Trước Tết, vào ngày 25 tháng Chạp, làng đem lễ vật đến làng Đuốc (làng kết chạ với Bát Tràng) xin chặt tre làm cây nêu. Ngày 7 tháng Giêng làm lễ hạ nêu. Cây tre làm nêu được dùng để chẻ tăm, vót đũa. Trước khi vào đám độ 10 ngày, làng tổ chức lễ rước nước từ sông Hồng để bao sái bài vị thần ở ngôi miếu bên sông. Sau đó dân làng rước bài vị thần ra đình tế lễ. Khi tế, các họ được rước Tổ của mình ra phối hưởng. Họ Nguyễn Ninh Tràng (họ đầu tiên đến làng Bát Tràng) được rước bát hương có lọng che vàng đi ở giữa. Các họ khác rước bát hương có lọng che xanh đi né sang hai bên. Khi tế, chỉ có các vị khoa mục (những người đỗ đạt) mới được vào đình, còn các hào mục (những chức dịch trong làng) đứng ngoài hầu lễ. Bát Tràng còn lệ giữ nghiêm ngôi thứ. Tại đình trải 4 chiếu cạp điều. Có chiếu dành cho các vị đậu tiến sĩ, có chiếu dành cho võ quan được phong tước công, có chiếu dành cho các cụ thọ từ 100 tuổi trở lên. Có năm không đủ người, chiếu nào trống thì làng đặt một cây đèn, chai rượu, đĩa trầu cau vào giữa chiếu để thờ vọng. Hằng năm vào ngày Rằm tháng hai, ngày đầu tiên vào đám, làng biện lễ cúng Thành hoàng gồm một con trâu tơ thật béo, thui vàng rồi đặt lên một chiếc bàn lớn sơn son, kèm theo 6 mâm cỗ và 4 mâm xôi. Tế xong, các quan viên chức sắc, đại diện 20 dòng họ cùng thụ lộc. Hội Bát Tràng có nhiều trò diễn, độc đáo nhất là trò chơi cờ người và hát thờ. Theo lệ, trước hội, làng chọn lấy 2 bà tướng cờ là những người phẩm hạnh, giàu có nhất trong làng. Mỗi bà tướng nhận 16 thiếu nữ tuổi từ 10 đến 15 xinh đẹp, nết na nuôi ăn uống và may cho áo quần thật đẹp. Các cô được rèn tập làm quân cờ trong một tháng mới được ra biểu diễn thi đấu ở sân đình.
  6. Công việc chuẩn bị cho hát thờ cũng công phu không kém. Làng tổ chức 3 chầu thi và 4 chầu cầm để chọn bài và người vào hát thờ, sau đó mời các đội đàn hát ở các làng xung quanh đến tập để kén giọng. Đội nào vượt lên nhất qua “4 chầu cầm” sẽ được hát thờ trong lễ hội năm đó. Hội làng năm Giáp Thân diễn ra trong 2 ngày 15 và 16 tháng hai âm lịch. Cùng với nghi lễ rước nước, tế lễ và các trò chơi dân gian, làng nghề sẽ trưng bày những sản phẩm gốm đặc sắc nhất của mình tại “Chợ gốm Bát Tràng” nằm ở vị trí trung tâm của làng.
Đồng bộ tài khoản