Lịch sử ngành kinh doanh theo mạng

Chia sẻ: Nguyễn Văn Hùng | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:6

0
529
lượt xem
234
download

Lịch sử ngành kinh doanh theo mạng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giới thiệu về ngành kinh doanh theo mạng, với những khái niệm cơ bản nhất về lĩnh vực kinh doanh theo mạng

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lịch sử ngành kinh doanh theo mạng

  1. LỊCH SỬ NGÀNH KINH DOANH THEO MẠNG Bạn chỉ thành công khi bạn hiểu thật kỹ những ý tưởng sau đây! Kinh doanh theo mạng (Multi­level marketing) hay còn gọi là kinh doanh đa cấp, tiếp thị đa  tầng, tiếp thị hệ thống.  Trước khi bắt tay tham gia vào một công việc kinh doanh nào thì điều quan tâm đầu tiên là  ngành kinh doanh đó có ổn định và lâu dài không? Trước khi lựa chọn sự nghiệp của mình là  kinh doanh mạng thì bạn cũng cần hiểu rõ về lịch sử hình thành và phát triển của ngành kinh  doanh mạng như thế nào.  Lịch sử của ngành KDTM gắn liền với tên tuổi của nhà hóa học người Mỹ có tên là Karl Renborg (1887­1973). Ông  là người đầu tiên đã đưa tư tưởng của KDTM vào trong cuộc sống, tạo ra một hệ thống kinh tế, một ngành kinh  doanh được gọi là có triển vọng nhất của thế kỷ 21 Ông Renborg có một thời gian 20 năm sống tại Trung Quốc và làm việc tại nhiều công ty khác nhau (dầu hỏa, đóng tàu.). Giữa   thập niên 1920­1930 ông và một số người nước ngoài khác bị bắt vào tù khi chính quyền thuộc về tay lực lượng cách mạng Tưởng  Giới Thạch. Trong điều kiện sống trong tù rất thiếu thốn, ông đã thực nghiệm nhiều kiểu ăn khác nhau và đã nhận thấy giá trị thực  tiễn rất lớn của dinh dưỡng cần thiết đối với sức khỏe con người. Nhưng lấy các chất dinh dưỡng gồm các vitamin và các khoáng  chất đó ở đâu ra? Ví dụ như sắt? Ông Renborg đã tìm ra lối thoát duy nhất: đó là ông cạo từng ít chất sắt từ những chiếc đinh rỉ để  cho vào khẩu phần ăn dành cho người tù và thỏa thuận với cai tù để xin một ít các loại rau cỏ khác nhau. Vì vậy ông và một số ít   người làm theo phương pháp của ông còn sức đề kháng và sống sót được đến ngày trở về tổ quốc, đa số những người khác đều bị  chết.  Năm 1927 Ông Renborg về lại Mỹ và bắt đầu chế biến các chất bổ sung dinh dưỡng khác nhau dựa trên cỏ linh lăng là một loại cỏ  có chứa rất nhiều vitamin, khoáng chất, đạm và nhiều thành phần có ích khác. Ông đề nghị những người quen của ông thử  nghiệm miễn phí sản phẩm nhưng ông đã thất bại: Không ai dám dùng thử vì chẳng có ai muốn mình làm vật thí nghiệm. Sau  nhiều cố gắng liên tục mà không đem lại được kết quả, ông hiểu ra rằng chẳng ai chịu đánh giá tốt những thứ cho không, vì vậy  ông đã nghĩ ra một tư tưởng vĩ đại và ngày nay đã trở thành một xu thế kinh doanh tất yếu của thời đại:  Ông Renborg đề nghị các bạn của ông tự truyền bá thông tin về chất bổ sung dinh dưỡng này cho người quen của họ,   còn nếu người quen của họ mua sản phẩm thì ông hứa sẽ trả hoa hồng cho họ. Ông cũng quyết định trả hoa hồng cho   các người quen của bạn mình nếu truyền bá sản phẩm tiếp theo quan hệ của họ.    Kết quả thật bất ngờ: thông tin về các chất bổ sung dinh dưỡng có lợi bắt đầu được truyền bá rộng rãi (vì mỗi người bạn của ông  lại có nhiều người bạn khác và bạn của bạn của bạn là vô hạn). Doanh thu bán hàng của công ty tăng vượt quá sức tưởng tượng,   mọi người đề nghị gặp ông để tham khảo về thông tin sản phẩm mới này.  Từ đó ngành KDTM bắt đầu ra đời. Năm 1934 ông Karl Renborg sáng lập ra công ty "Vitamins California" và nhờ hệ thống bán  hàng kiểu mới này, khi người tiêu dùng cũng trở thành người truyền bá sản phẩm (Distributor­Nhà phân phối độc lập), công ty của   ông đã nhanh chóng đạt doanh số 7 triệu USD mà không hề mất một đồng quảng cáo nào. Sự độc đáo ở chỗ nhờ tiết kiệm được  quảng cáo và các khâu trung gian (đại lý bán buôn, bán lẻ, kho bãi.) nên những người tham gia vào hệ thống của ông có thể nhận  được thù lao rất cao.  Cuối năm 1939 đầu 1940 ông Renborg đổi tên công ty mình thành công ty "Nutrilite Products" theo tên sản phẩm và vẫn giữ  nguyên phương pháp tiêu thụ. Những công tác viên của ông tự tìm người mới, chỉ cho người mới đầy đủ thông tin về sản phẩm và   dạy cho người mới phương pháp xây dựng mạng lưới bắt đầu từ những người quen của mình. Công ty đảm bảo cho tất cả nhà  phân phối độc lập có đủ sản phẩm và nhận hoa hồng không chỉ lượng sản phẩm họ bán ra mà còn trả hoa hồng cho lương sản  phẩm được bán ra của những người do họ trực tiếp tìm ra. 
  2. Những người tham gia mạng lưới của công ty nhận được sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của người bảo trợ. Phương pháp tiêiu thụ  của ông Renborg chính là khởi điểm của kinh doanh theo mạng (Muti­level Maketing), ở đây ông chỉ mới áp dụng một tầng, và  trong nhiều tài liệu thì năm 1940 được xem như là năm khởi đầu của KDTM và ông Renborg là ông tổ của ngành này.  Lịch sử tiếp theo của KDTM gắn liền với tên tuổi của hai cộng tác viên của "Nutrilite Products" là Rich De Vos và Jey Van Andel.   Sau một thời gian làm việc có hiệu quả với công ty "Nutrilite Products" hai ông đã nhận thấy sức mạnh rất lớn của Muti­level  Maketing và đã sáng lập ra công ty riêng của mình là "American Way Corporation", viết tắt là Amway và hiện nay Amway đã trở  thành một công ty hàng đầu thế giới về KDTM với chi nhánh trên 125 nước trên toàn thế giới. Cuối thập niên 60, nhờ nỗ lực của ông Glen Terner­một người đã hướng dẫn nhiều những kỹ năng làm việc mới vào kinh doanh  mạng, KDTM đã mang bản chất mới. Ông nhận thấy rõ vai trò của thành đạt cá nhân trong cuộc sống con người. Ông chỉ cho mọi   người thấy những chân trời mới trong cuộc sống và khẳng định rằng mỗi người đều có tiềm năng lớn lao để đạt được mọi mục  đích. Ông thành lập công ty và dạy cho mọi người kỹ năng thành đạt, giúp cho mọi người khai thác khả năng tiềm ẩn rất lớn trong   mỗi con người. Rất nhiều người nhờ áp dụng chương trình huấn luyện của ông đã tìm thấy và đánh thức được những bản chất tốt  đẹp nhất và đạt nhiều thành quả lớn. Chương trình huấn luyện của ông vẫn còn được áp dụng cho đến ngày nay.  Vào những năm đầu của thập niên 70, KDTM bắt đầu bị sự phản đối mãnh liệt. Năm 1975 trong hội đồng liên bang Hoa Kỳ có  những nhân vật phản đối KDTM và đồng nghĩa KDTM với hình tháp ảo là hình thức lừa đảo đang bị cấm ở Hoa Kỳ. Đây là đòn  đánh đầu tiên của chính phủ vào KDTM. Bắt đầu cuộc chiến dũng cảm của các công ty KDTM để khẳng định chân lý, tính đúng  đắn của mình. Công ty Amway đứng mũi chịu sào, suốt bốn năm liền hầu tòa từ năm 1975­1979. Cuối năm 1979 toà án thương  mại liên bang hoa kỳ công nhận phương pháp kinh doanh của Amway không phải là hình tháp ảo và được chấp nhận về mặt luật  pháp. Từ đó Bộ luật đầu tiên về KDTM đã ra đời tại Mỹ. Ông Richard Poe, phóng viên của báo Success ­ một tờ báo rất nổi tiếng tại Mỹ­ Trong cuốn: "Làn sóng thứ ba­Kỷ nguyên của  KDTM" đã chia KDTM ra làm ba thời kỳ.  Làn sóng thứ nhất (Thời kỳ thứ nhất) là thời kỳ bắt đầu hình thành của ngành KDTM: từ 1940 cho đến năm 1979 chỉ có khoảng 30   công ty KDTM ra đời tại Mỹ.  Làn sóng thứ II (Thời kỳ thư hai): từ 1979 ­ 1990 là thời kỳ bùng nổ của KDTM. Mỗi đêm ngủ dậy chúng ta có thể thấy hàng trăm  công ty KDTM bố cáo thành lập với đủ loại sản phẩm và sơ đồ kinh doanh. Đây là thời kỳ phát triển và chọn lọc tự nhiên.  Làn sóng thứ III (Thời kỳ thứ ba): từ 1990 trở đi, nhờ tiến bộ của công nghệ thông tin truyền thông, KDTM đã mang màu sắc mới.  Các nhà phân phối độc lập có thể đơn giản hóa công việc của mình nhờ vào điện thoại, điện đàm, hội thảo vô tuyến, internet và  nhiều phương tiện khác. Nếu như ở làn sóng thứ II, những nhà phân phối độc lập giỏi phải là nhà hùng biện và họ phải đi lại như   con thoi đến các mạng lưới thì ở làn sóng thứ III, bất cứ ai cũng có thể sử dụng thời giờ nhàn rỗi của mình để tham gia KDTM.   Hàng ngàn công ty đã áp dụng KDTM để truyền bá sản phẩm của mình. Các công ty áp dụng phương pháp bán hàng truyền  thống như Ford, Colgate, Canon, Coca­cola và nhiều công ty nổi tiếng khác đã bắt đầu áp dụng phương pháp KDTM để phân phối   những mặt hàng độc đáo của mình.  Một số thống kê vào 1998 (Tổng hợp từ các tạp chí kinh tế thế giới ):  •  Trên thế giới có hơn 30.000 công ty KDTM, trong đó có 5.000 công ty lớn. Doanh số toàn ngành KDTM đạt hơn 400 tỷ USD.   •   Tốc   độ   tăng   hàng   năm   từ   20%   ­   30%   •  Mỹ: hiện Có 2.000 công ty hoạt động và cứ 10 gia đình có 1 người làm KDTM chiếm khoảng 15% dân số, có 500.000 người  trở   thành   triệu   phú   nhờ   KDTM.   •   NHẬT:   90%   hàng   hoá   &   Dvụ   theo   KDTM,   có   2,5   triệu   Nhà   Phân   Phối   đạt   Doanh   thu   30   tỷ   USD.   •   ĐÀI   LOAN:   Cứ   12   người   có   1   người   làm   KDTM.   •   MALAISIA:   Có   hơn   1   triệu   NPP   đạt   Doanh   thu   1tỷ   USD.   •   ÚC:   Doanh   thu   từ   KDTM   đạt   1,5   tỷ   USD.   •   ĐỨC,   PHÁP,   Ý:   mỗi   nước   đạt   trên   2   tỷ   USD.   •   ANH:   Doanh   thu   đạt   trên   1   tỷ   USD.   •   NGA:   Có   trên   100   Cty   KDTM   với   hơn   2   triệu   NPP.   •   VIỆT   NAM:   Tại   thời   điểm   hiện   nay   có   khoảng   20   Cty   KDTM   và   trên   100.000   NPP   •  Mỗi ngày trên thế giới có 60.000 người tham gia KDTM. 
  3. Cũng theo thống kê thì cứ 100 người đang là triệu phú trên thế giới thì có đến 40 người xuất phát theo ngành KDTM và trong thế   kỷ 21 này thì 70% hàng hóa và dịch vụ sẽ phát triển theo phương thức kinh doanh này.  Tại sao hệ thống mạng lưới tiêu thụ có thể phát triển thành công ở các nước trên thế giới trên 60 năm qua? Đó chính là nhờ vào  việc vận dụng 2 nguyên lý sau:  •  NGUYÊN LÝ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG MẠNG LƯỚI  Nguyên lý thứ nhất gọi là nguyên lý chia sẻ (truyền khẩu): và để quý vị hiểu rõ, chúng tôi xin đưa ra ví dụ sau đây.  Vào một ngày đẹp trời nào đó, vô tình bạn ghé vào một cửa tiệm bán quần áo, tiệm được trang trí gọn gàng, nhân viên bán hàng  xinh đẹp và đặc biệt rất niềm nở chu đáo. Sau khi giúp bạn thử quần áo đến 50 lần mà vẫn tươi cười vui vẻ. Cuối cùng bạn cũng  lựa chọn được bộ quần áo vừa ý, chất liệu vải rất tốt, màu sắc rất đẹp, thế nhưng thật ngạc nhiên vì giá cả cũng rất rẻ. Bạn cảm   thấy rất hài lòng với bộ quần áo mới mua đó. Rồi khi về nhà bạn nói chuyện lại cho bạn bè, đồng nghiệp và những người thân  trong gia đình, và như vậy là bạn đã vô tình quảng cáo cho cửa hàng đó.  Đến một ngày nào đó, bạn bè, đồng nghiệp và người thân của bạn cũng có nhu cầu và họ tìm đến cửa hàng này. Kết quả là họ   cũng rất hài lòng và rồi lại giới thiệu đến những người khác.  Đó chính là tâm lý chung của mỗi con người chúng ta. Khi chúng ta dùng một sản phẩm hay một dịch vụ nào tốt mà chúng ta cảm  thấy hài lòng, chúng ta thường có thói quen kể lại, chia sẻ lại, truyền miệng lại cho những người bạn, đồng nghiệp và gia đình  chúng ta. Đó được gọi là nguyên lý chia sẻ.  Nguyên lý thứ hai gọi là nguyên lý phát triển theo cấp số nhân (Bội tăng):  tăng theo cấp số nhân là như thế nào, có một câu chuyện kể như thế này: Ngày xưa ở nước Ấn Độ có một ông vua rất thích chơi cờ. Một hôm có một người nông dân phát minh ra một cách chơi cờ mới mà   ngày nay được gọi là cờ vua, ông ta liền mang đến dâng cho Quốc Vương. Quốc Vương rất hài lòng và nói rằng: "Nhà ngươi muốn   ta ban thưởng gì". Người nông dân đáp rằng: "Thần không ước muốn gì cao xa, chỉ xin Quốc Vương đặt lên ô bàn cờ thứ nhất 1  hạt gạo, ô thứ hai 2 hạt gạo, ô thứ ba 4 hạt và cứ thế, mỗi ô sau số hạt gạo được đặt gấp đôi ô trước. Khi đặt đầy 64 ô cờ là hạ   thần mãn nguyện vô cùng". Vừa nghe xong Quốc Vương liền cười lên và gật đầu đồng ý. Thế nhưng rồi khi đem ra thực thi thì   Quốc Vương nọ đã phải vét kho đến hạt gạo cuối cùng rồi mà vẫn không trả đủ cho người nông dân ấy.  Qua câu chuyện trên chúng ta thấy được uy lực mạnh mẽ của cấp số nhân. Nó đã tập trung được sức mạnh của nhiều người trong  khoảng thời gian ngắn nhất để tạo nên một hiệu quả nhanh nhất.  Đối với công việc phát triển mạng lưới cũng vậy, thời điểm ban đầu rất chậm vì bạn phải tuyển chọn từng người một cho đến khi   có được người thật sự thích thú với công việc giống như bạn. Khi bạn tìm được 2 người tích cực thì từ 2 người này sẽ phát triển  thành 4 người, và 4 người thành 8 người. Công việc thật chậm chạp và chán nản. Thế nhưng khi bạn đã có 500 người trong mạng   lưới thì từ 500 thành 1000 và từ 1000 thành 2000 rất là nhanh. SO SÁNH KINH DOANH TRUYỀN THỐNG (KDTT) VÀ KINH DOANH THEO MẠNG ĐỐI   VỚI   HÀNG   HÓA   LƯU   THÔNG   QUA   HỆ   THỐNG   KDTT Tc: Quảng Cáo + Các Khâu Trung Gian Chiếm 70% ­ 80% Giá Thành Sản Phẩm
  4. ĐỐI   VỚI   HÀNG   HÓA   NHẬP   KHẨU  Tc: Quảng Cáo + Các Khâu Trung Gian Chiếm 70% ­ 80% Giá Thành Sản Phẩm  ĐỐI   VỚI   HÀNG   HÓA   LƯU   THÔNG   QUA   HỆ   THỐNG   KDTM  hình thức kinh doanh truyền thống thì bất kỳ sản phẩm nào nó cũng được xuất xưởng từ một nhà máy. Ví dụ đối với những sản  phẩm nhập khẩu thì nó sẽ được nhập về bởi một công ty nhập khẩu, từ đó được phân phối đến các đại lý khu vực ­ Đại lý bán sỉ ­  rồi đến các cửa hàng bán lẻ. Chúng ta là người tiêu dùng đơn thuần, chúng ta sẽ mua hàng trực tiếp tại các cửa hàng bán lẻ.  Để kiếm được lợi nhuận thì các nhà kinh doanh thường tăng giá ở các khâu trung gian. Thông thường các khâu này chiếm từ 30%   ­ 40% giá bán ra của một sản phẩm. Bên cạnh đó người tiêu dùng còn phải gánh chịu một khoản chi phí khác nữa, đó là chi phí   dành cho quảng cáo, tiếp thị, tuyên truyền và khuyến mãi. Khoản chi phí này cũng rất đáng kể, thường chiếm khoảng 40% giá bán  ra của một sản phẩm.  Ví dụ như chi phí quảng cáo trên Tivi vào giờ cao điểm với khoảng thời gian 30 giây là 21 triệu đồng. Mà theo các nhà tâm lý thì   một mẫu quảng cáo muốn tạo được ấn tượng nơi người xem thì thường xuyên phải được quảng cáo từ 4 ­ 10 lần trong 1 ngày và   kéo dài liên tục trong nhiều tháng. Như vậy chi phí cho quảng cáo rất lớn cộng với việc tăng giá ở mỗi khâu trung gian đã đẩy giá  thành tăng lên từ 70­80%, trong khi giá thành sản xuất ra một sản phẩm tại nhà máy thường chỉ chiếm từ 20­30% mà thôi, nhưng  Người tiêu dùng chúng ta luôn phải mua với 100% giá thành, nên dù muốn hay không cũng vẫn phải gánh chịu khoản chi phí này.  Xin đưa ra một ví dụ cụ thể: 1 chai nước ngọt sản xuất ra tại nhà máy, giá thành sản xuất thực chất chỉ có 400đ, nhưng tại các  tiệm ăn hoặc các tiệm tạp hóa chúng ta vẫn phải trả với giá từ 2000 ­ 3000đ tuỳ theo mỗi nơi. Tại sao lại có sự chênh lệch như   vậy. Đó chính là do chi phí quảng cáo cộng với việc tăng giá ở các khâu trung gian đã đẩy giá lên. Còn hình thức kinh doanh theo  mạng là sao?  Thì sản phẩm cũng được xuất xưởng từ một nhà máy, sau đó được phân phối bởi một công ty tiêu thụ. Từ công ty này hàng hóa sẽ  được phân phối trực tiếp đến tay người tiêu dùng không qua bất cứ một chi phí quảng cáo hay một khâu trung gian nào cả. Chúng   ta là người tiêu dùng đơn thuần, ngoài việc có được một sản phẩm tốt để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho người thân và gia đình,  chúng ta thì chúng ta còn có 1 quyền gọi là quyền kinh doanh. Công việc kinh doanh của chúng ta cũng rất là đơn giản, sau khi   dùng sản phẩm, cảm nhận thấy sản phẩm thực sự tốt và chất lượng thì chúng ta chia sẻ lại cho người thân, bạn bè, đồng nghiệp  và hàng xóm của chúng ta. Những người chịu đi chia sẻ như vậy gọi là Nhà Phân Phối Và những người này cũng có mối quan hệ  của họ, họ lại tiếp tục chia sẻ cho người thân, bạn bè, đồng nghiệp và hàng xóm của họ, và vô hình chung một hệ thống mạng   lưới tiêu thụ đã được hình thành. Công ty sẽ tiết kiệm từ những khâu quảng cáo và những khâu trung gian này gởi lại cho những  người tham gia giới thiệu bằng hình thức phần trăm (%) hoa hồng.  ƯU ĐIỂM CỦA NGÀNH NGHỀ M.L.M (Còn gọi là Kinh doanh theo mạng):  Theo Luật gia Trương Trọng Tài và Thạc sĩ Nguyễn Hoài Phương : Đây là 1 mô hình kinh doanh hiện đại , khoa học, đại chúng   hóa nhưng rất mới ở VN. Nó hoàn toàn hợp tình , hợp lý, hợp pháp, hợp lòng dân trong thời kỳ đổi mới, hòa nhập với cộng đồng   quốc tế, trước mắt là chuẩn bị gia nhập WTO của nước ta .  A) Đối với các Công ty kinh doanh M.L.M : 
  5. 1/ Loại bỏ các khâu trung gian, tiết kiệm chi phí quảng cáo khổng lồ. Không phải bỏ tiền ra quảng cáo trước. (Các Công ty kinh  doanh kiểu truyền thống phải CHI KHỐNG trước tiền quảng cáo, sau đó mới lấy lại thông qua việc thu tiền hàng về sau)  2/ Chi phí tiết kiệm được chủ yếu tập trung cho việc nghiên cứu nâng cao chất lượng sản phẩm nên sản phẩm mang tính ưu việt  cao: độc đáo, độc quyền, chất lượng cực tốt để hướng đến thuyết phục và làm hài lòng người tiêu dùng 100%. Bởi vì cơ sở  ngành nghề này là: NIỀM TIN VỀ SẢN PHẨM được lan truyền từ người này sang người khác. Sản phẩm phải cực kỳ tốt thì qui  trình này mới diễn ra, kinh doanh mới phát triển.  3/ Chống được hiện tượng hàng gian, hàng giả vì sản phẩm được phân phối trực tiếp đến tận tay người tiêu dùng.  4/ Tạo ra 1 lực lượng tiếp thị, tư vấn, đội ngũ bán hàng khổng lồ rộng khắp mọi nơi trên thế giới một cách nhanh chóng và ổn  định bền lâu. Nhiều Công ty doanh số vẫn tăng trưởng dù trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn khu vực.  5/ Tạo ra 1 ý tướng sống rất nhân bản “ KHỎE, ĐẸP, GIÀU VỀ TÌNH YÊU THƯƠNG, ĐỒNG ĐỘI, TIỀN TÀI, BẠN BÈ, THỜI  GIAN, TỰ DO … “ ; Điều mà Ngành kinh doanh truyền thống rất khó đạt được .  6/ Đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới công nhận và được bảo vệ công bằng bởi luật pháp và các hiệp hội ngành  nghề M.L.M. quốc tế và trong nước.  B) Đối với xã hội và đất nước :  1/ Xã hội tiết kiệm được chi phí rất lớn dành cho quảng cáo, khuyến mãi. Những chi phí khổng lồ này đối với người dân và xã  hội là VÔ ÍCH xét về 1 mặt nào đó. Tự nhiên xã hội phải tốn 1 số tiền rất lớn cho 1 panô to đùng, thậm chí mất vẻ mỹ quan thành  phố chỉ với mục đích nhắc người tiêu dùng nhớ đến 1 sản phẩm nào đó!  2/ Tăng khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển nhanh hơn.  3/ Huy động được nguồn vốn và sức lao động nhàn rỗi hoặc dư thừa trong nhân dân. Góp phần thực hiện chương trình XÓA  ĐÓI GIẢM NGHÈO của nhà nước và toàn dân. Giải quyết việc làm cho nhiều người lao động, đặc biệt những người trên 45 tuổi   ( Các Công ty truyền thống chỉ tuyển người từ 20 ~ 45 tuổi ) và những người không có điều kiện xin việc làm do trình độ, tay nghề   hoặc sức khỏe…  4/ Kích thích tiêu dùng, tăng thị phần kinh doanh, góp phần nâng cao mặt bằng mức sống xã hội, nâng cao thu nhập và chất  lượng cuộc sống.  5/ Đóng góp, tăng cường đáng kể ngân sách nhà nước, tăng phúc lợi xã hội. Điển hình một số công ty các năm qua đã đóng  góp cho ngân sách nhà nước hàng chục tỷ đồng (theo báo Tuổi trẻ và Thanh niên) qua các loại thuế nhập khẩu, thuế doanh thu,  thuế môn bài, thuế lợi tức doanh nghiệp, thuế thu nhập của các nhà phân phối… và tài trợ các chương trình nhân đạo vì người  nghèo, vì học sinh bất hạnh, vì người già cô đơn... 6/ Hơn thế nữa, Việt Nam ta thể hiện ý chí , tinh thần cùng tất cả các nước  hội nhập thật sự về mọi mặt, trước mắt là gia nhập  WTO. Toàn dân mạnh dạn đi lên, dám nghĩ, dám làm, dám học hỏi, chỉnh sửa để HOÀN THIỆN hơn các quốc gia khác trong khu  vực và cả thế giới. Về ngành nghề M.L.M. biết đâu Việt Nam ta sẽ làm tốt, qua mặt cả các nước đàn anh chỉ một thời gian   ngắn !    C) Đối với người dân và người tiêu dùng :  1/ Có nhiều sự lựa chọn và nhiều cơ hội hơn được sử dụng hàng chất lượng cao với giá phải chăng. Có thêm QUYỀN ĐƯỢC  KINH DOANH, thêm ý tưởng kinh doanh sáng tạo. (trong kinh doanh truyền thống, người tiêu dùng chỉ có quyền sở hữu và sử   dụng hàng chứ không có quyền kinh doanh)  2/ Đây là 1 ngành nghề làm thêm ngoài công việc chính, 1 phương tiện dễ dàng hơn để phấn đấu thành công trong cuộc đời đầy  giông tố này! Người lớn tuổi có cảm giác vẫn còn khả năng lao động giúp ích cho xã hội. Tăng khả năng và nguồn thu nhập phụ  nhưng khá đáng kể cho người dân. Khơi dậy tinh thần làm giàu, cải thiện chất lượng cuộc sống .  3/ Phát huy lòng yêu thương, tinh thần đồng đội hỗ trợ, giúp đỡ nhau cùng vươn tới thành công. 
  6. 4/ Tăng cường ý thức bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh hơn trị bệnh, giảm tải cho bệnh viện và các cơ sở y tế. Góp  phần đẩy mạnh công tác CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU, ý thức dinh dưỡng hợp lý ngay trong gia đình.  5/ Là môi trường rèn luyện ý chí và nghị lực vươn lên thành công trong cuộc sống đầy rủi ro. Qua đó đào tạo ra một lớp người  ưu tú cho xã hội.  6/ Tóm lại ngành nghề này mang TÍNH NHÂN BẢN RẤT CAO: ít vốn, không cần trình độ, không phân biệt tuổi tác, tôn giáo,  chủng tộc, ngôn ngữ, không phân biệt giàu nghèo, giai cấp, nghề nghiệp, hoàn toàn tự do, chỉ cần thời gian rảnh, chỉ cần có lòng  tốt vị tha, yêu thương người, quan tâm người khác, có tinh thần đồng đội yêu thương hỗ trợ nhau, có quan hệ rộng,  tin yêu sản  phẩm (bằng cách tự sử dụng hoặc theo dõi đánh giá qua người thân), luôn có ý muốn chia xẻ thông tin cho người khác và đặc  biệt nhất là nghề này không có tuổi về hưu, được thừa kế cho con cháu, hoàn toàn không có rủi ro, chỉ có thành công (nhanh hay  chậm) hoặc bỏ cuộc chứ không hề có thất bại! Một khi đã đạt đến thành công thì khả năng thu nhập rất cao và rất ổn định   lâu dài cho gia đình, thậm chí thừa kế cho thế hệ mai sau !  SO SÁNH KINH DOANH TRUYỀN THỐNG VÀ KINH DOANH THEO MẠNG  TIÊU   CHÍ KINH   DOANH   KINH   DOANH   SO SÁNH  TRUYỀN THỐNG  THEO MẠNG  VỐN  Rất lớn  Rất ít  NGÀNH NGHỀ Cần   có   bằng   cấp   hoặc  Không đòi hỏi bằng cấp  nghiệp vụ MẶT HÀNG  Đa dạng và dễ bão hòa  Độc đáo, chất lượng tốt , độc quyền, dễ sử dụng  LỢI NHUẬN  Rất thấp  Rất cao  THỜI GIAN  Gò bó  Tự do  CẠNH TRANH  Khắc nghiệt  Không có, rất ít  TÌNH CẢM  Mất mát  Giàu có bạn bè  KINH NGHIỆM  Không phổ biến  Luôn chia sẻ RỦI RO  Rất lớn  Không có  Hiện nay ở nhiều nước, luật về KDTM đã ra đời nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà phân phối độc lập và ngăn chặn   các hình tháp ảo. Các trường đại học lớn đều có khoa KDTM, hàng vạn cuốn sách về KDTM đã ra đời để giúp các nhà phân phối  độc lập nắm bắt được phương pháp làm việc. Cũng theo ông Richard Poe trong cuốn "Làn sóng thứ ba­Kỷ nguyên mới trong  KDTM" thì dù bạn có tin hoặc có theo hay không, KDTM vẫn là một xu thế kinh doanh tất yếu trong thời gian tới.  Bạn   có   thể   tìm   hiểu   thêm   về   KDTM   trên   trang   Web:  www.mlm.com  hoặc   tìm   hiểu   về   luật   KDTM   trên   trang   Web:  www.mlmlaw.com  Để phân biệt được đâu là công ty KDTM thật còn đâu là hình tháp ảo, xin hãy vào phần Phân Biệt Hình Tháp Ảo
Đồng bộ tài khoản