Lịch sử nhà nước và pháp luật Thế Giới

Chia sẻ: forbear69

Nằm trên lưu vực các con sông lớn = đất mềm, nhiều phù sa nhưng phải đối mặt với lũ lụt hàng năm. Công tác trị thủy đóng vai trò quan trọng.Địa hình xung quanh là sa mạc, rừng núi, biển… = các tộc người sinh sống trong khu vực tập trung về lưu vực các con sông = chiến tranh thường xuyên xẩy ra để tranh giành nguồn nước.

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Lịch sử nhà nước và pháp luật Thế Giới

Lịch sử nhà nước và
pháp luật Thế Giới
CHƯƠNG 1
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT THỜI KỲ CỔ ĐẠI
BÀI 1
NHÀ NƯỚC PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC

1. Điều kiện tự nhiên

- Nằm trên lưu vực các con sông lớn => đất mềm, nhiều phù sa nh ưng ph ải đối m ặt v ới lũ
lụt hàng năm. Công tác trị thủy đóng vai trò quan trọng.
o Ai Cập: sông Nil
o Lưỡng Hà: sông Tigris và sông Ơphrat
o Ấn Độ: sông Ấn và sông Hằng
o Trung Quốc: sông Trường Giang và sông Hoàng Hà.

- Địa hình xung quanh là sa mạc, rừng núi, biển… => các tộc người sinh sống trong khu
vực tập trung về lưu vực các con sông => chiến tranh th ường xuyên x ẩy ra đ ể tranh
giành nguồn nước.
o Ai Cập: phía bắc là địa trung hải; phía nam là vùng rừng núi nubi, phía đông là
hồng hải, phía tây là sa mạc Libi. Xung quang ai c ập b ị bao b ọc b ởi nh ững dãi núi
đá thẳng đứng.
o Lưỡng Hà: đông bắc giáp dãi núi Acmênia và cao nguyên Iran; phía tây giáp th ảo
nguyên Xiri và sa mạc Arập, phía nam là vịnh Pecxich.
o Ấn Độ: phía bắc là dãi núi Hymalaya, phía đông nam và tây nam giáp biển.


- Khí hậu nhiệt đới => mưa nhiều, đa dạng sinh vật

=> Thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế nông nghiệp
2. Điều kiện xã hội và quá trình hình thành nhà nước

- Kinh tế:

• Công cụ lao động bằng đồng xuất hiện
• Ba lần phân công lao độngCác tiểu gia đình tách khỏi công xã thị

=> Năng suất lao động tăng, sản phẩm dưtộcừa.
th
∗ Đời sống sinh hoạt xã hội mới phá
- Xã hội: vỡ biên giới và trật tự của công xã thị
• Công xã thị tộc tan rã tộc
• Nguyên nhân:
o Kinh tế phát triển =>




Khi công xã thị tộc tan rã, công xã nông thôn xu ất hi ện và th ế ch ổ – là đ ơn v ị xã h ội t ồn
tại lâu đời và có nhiều ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế, xã hội, chính trị ở phương đông.

• Chế độ tư hữu xác lập
Trong quá trình tan rã của công xã thị tộc tan rã, khi các tiểu gia đình tách khỏi “đại gia
đình” của mình, họ chiếm đoạt tư liệu sản xuất nh ư: ruộng đất, công c ụ lao đ ộng c ủa công xã
nông thôn làm tài sản riêng của gia đình mình => xuất hien chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.

• Phân hoá giai cấp trong xã hội
Trong quá trình chiếm đoạt tài sản công làm của riêng:
• Đại đa số nông dân công xã giữ được một ít tài sản => nông dân
• Một thiểu số chức sắc trong xã hội nguyên thủy như: tộc trưởng, tù trưởng, th ủ
lĩnh liên minh bộ lạc chiếm được nhiều tài sản hơn. Ngoài ra, h ọ còn d ựa vào s ức
mạnh, ưu thế của mình để cướp bóc, chiếm đoạt tài sản, ruộng đất c ủa nông dân
trong bộ lạc của mình đồng thời tiến hành chiến tranh cướp tài sản của các bộ lạc
khác; biến dân cư của những bộ lạc này thành nô lệ nên họ càng ngày càng giàu có
=> quý tộc thị tộc.

Do đó, dân cư trong xã hội lúc này phân hoá thành:
• Giai cấp chủ nô
• Nông dân nghèo
• Nô lệ

(Theo học thuyết của Mac – Lê nin về nguồn gốc nhà nước, khi mâu thu ẫn giai c ấp trong xã
hội trở nên gay gắt, không thể tự điều hoà được thì gia cấp m ạnh h ơn s ẽ thành l ập m ột t ổ
chức để điều hoà những mâu thuẫn ấy và đàn áp nh ững cuộc đấu tranh c ủa giai c ấp đ ối kháng
đồng thời quản lý xã hội theo một khuôn khổ nh ất định, phù h ợp v ới ý chí c ủa h ọ. T ổ ch ức đó
gọi là nhà nước.
Nhưng ở các quốc gia phương đông cổ đại, khi trong xã hội đã phân hoá giai cấp, đã xuất
hiện mâu thuẫn giai cấp. Tuy nhiên, mâu thuẫn ấy chưa đ ến m ức gay g ắt, ch ưa tr ở thành mâu
thuẫn đối kháng nhưng nhà nước đã xuất hiện.)

Đây là một ngoại lệ trong học thuyết về nguồn gốc nhà nước của Mac – Lênin vì ở ph ương
đông ngoài hiện tượng phân hóa giai cấp, quá trình hình thành nhà nước ở vùng này còn b ị
ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:

- Công cuộc xây dựng các Công trình thủy lợi:
Trong quá trình xây dựng các công trình thủy lợi, để công việc đạt đ ược hi ệu qu ả
cao, cần phải có sự quản lý thống nhất trong một tập thể. Chính yếu tố quản lý này là
tiền đề của việc quản lý nhà nước sau này.

- Chiến tranh:
Để tiến hành chiến tranh, cần phải có trật tự, kỷ cương trong 1 tập thể, đặc biệt
cần phải có người thống lĩnh quân đội. Nếu chiến th ắng, vai trò, quy ền l ực và uy tín c ủa
người thủ lĩnh này càng tăng cao.
Trong bối cảnh chung, khi chế độ tư hữu manh mún xuất hiện thì với quy ền lực
ngày càng được tập trung cao độ của mình, thủ lĩnh quân sự cùng với những tùy tùng thân
tín của Ông chiếm giữ được nhiều tài sản hơn các thành viên khác trong công xã.
Sau mỗi chiến thắng, thủ lĩnh quân sự và tuỳ tùng của ông:
• Xác định biên giới lãnh thổ;
• Thiết lập một bộ máy quản lý và quản lý dân cư theo đ ại bàn lãnh th ổ mà h ọ sinh
sống (không còn quản lý theo huyết thống dòng họ như trước đây).
• Thu thuế để nuôi sống bộ máy đó;
• Xây dựng pháp luật làm chuẩn mực xử sự cho mọi người theo ý chí của giai c ấp
cầm quyền.
• Tiếp tục xây dựng và củng cố lực lượng quân đội để bảo vệ vùng lãnh thổ của
mình và tiếp tục đi xâm lược các vùng đất khác.
=> Các dấu hiệu của nhà nước xuất hiện.

Đến một thời điểm nhất định, khi quyền lực tập trung cao đ ộ, th ủ lĩnh quân s ự t ự
xưng mình là vua. Đây cũng là nguyên nhân để lý giải vì sao trong buổi đầu thành l ập nhà
nước, chính thể của các nước ở phương đông là Quân chủ tuyệt đối với quyền lực
được tập trung vào tay vua ngày càng cao độ.

Sự ra đời của các quốc gia này không hề mâu thuẫn với h ọc thuy ết về ngu ồn g ốc nhà
nước của Mac-Lênin, vì chính sự phân hoá giai cấp trong xã hội mới chính là nguyên nhân chính
làm xuất hiện nhà nước. Còn yếu tố quản lý và vai trò c ủa ng ười th ủ lĩnh trong công cu ộc xây
dựng công trình thủy lợi và chiến tranh là yếu tố thúc đẩy nhà nước ra đời sớm hơn.


Thủy lợi Chiến tranh


Nhà nước




Chế độ tư hữu Phân hoá giai Mâu thuẫn giai MTGC gay gắt
xuất hiện cấp cấp


MÔ HÌNH VỀ QUÁ TRÌNH XUẤT HIỆN NHÀ NƯỚC Ở CÁC QUỐC GIA
PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI
3. Quá trình xuất hiện, phát triển và suy vong nhà nước ở các quốc gia phương đông cổ đại

- Ai Cập
Khoảng 3000 TCn, Ai cập đã bước vào xã hội có giai cấp và nhà n ước. L ịch s ử Ai C ậpp
được các sử gia chia thành 4 thời kỳ: tảo vương quốc, cổ vương quốc (thiên niên kỷ 3 – 2
TCN) đây là thời kỳ hình thành nhà nước chiếm hữu nô l ệ Ai C ập; Trung v ương qu ốc (th ế
kỷ 20 đến thế kỷ 16 TCN) đâylà thời kỳ vũng mạnh nh ất của Nhà n ước Ai C ập; Tân v ương
quốc. Trong đó, thời kỳ trung vương quốc là thời kỳ vững mạnh nhất c ủa nhà n ước Ai C ập.
Năm 225 TCN, Ai Cập bị Ba Tư xâm lược, chế độ chiếm hữu nô lệ Ai Cập kết thúc.

- Lưỡng Hà

Xuất hiện vào khoảng 3000 TCN, với sự tồn tại của nhi ều qu ốc ia nh ỏ c ủa ng ười Xume nh ư:
Ua, Êriđu, Lagash… khoảng đầu thế kỷ 23 TCN, miền nam Lưỡng Hà th ống nh ất v ới s ự cai tr ị
của người Xêmit, đặt tên nước là Accat. Vào thế kỷ 21 -20 TCN, quyền thống trị Lưỡng Hà rơi
vào tay của vương quốc Ua của người Xume. Thế nhưng, họ không giữ được sự thống nh ất
lâu. Những năm cuối của thế kỷ 20 TCN, Lưỡng Hà lại bị phân hoá thành nh ững qu ốc gia nh ỏ.
Năm 1894 TCN, Lưỡng Hà thống nhất dưới quyền cai trị của người Amôrit, thuộc vương quốc
Babilon. Đây là thời kỳ cực thịnh nhất của Lưỡng Hà, đặc bi ệt d ưới tri ều đ ại c ủa Hammurapi.
Sau khi Hammurapi chết, Babilon bị diệt vong, Lưỡng Hà liên tiếp bị các t ộc ng ười bên ngoài
thống trị gần 1000 năm. Năm 626 TCN, nhà nước Tân Babilon được khôi ph ục và th ống tr ị
Lưỡng Hà trong gần 1 thế kỷ. Năm 538 TCN, Lưỡng Hà bị Ba Tư thôn tính.

- Ấn Độ

Khoản đầu thiên niên kỷ 3 đến giữa thiên niên kỷ th ứ 2 TCN, Ở Ấn Đ ộ đã t ồn t ại n ền văn
minh Harappa và Môhenjô-Đarô ở lưu vực sông Ấn. Lúc này, dân c ư là người Đravida đang
sống trong quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên th ủy đ ể chuy ển sang xã h ợi có giai c ấp,
có nhà nước.
Nữa sau thiên niên kỷ thứ 2 TCN, cùng với sự lan rộng c ủa sa m ạc Thar là s ự thiên di ồ ạt c ủa
người Arya (tộc người nói ngôn ngữ Ấn Âu) từ Nam Au, Đông Địa Trung Hải,… đã làm cho
nền văn minh sống Ấn tàn lụi và dần dần di chuyển sang lưu vực sông Hằng, gọi là n ền văn
minh sông Hằng.
Khi người Arya xâm chiếm ấn độ, họ còn sống trong giai đoạn tan rã c ủa công xã th ị t ộc, trình
độ thấp kèm hơn so với người Đravida, do đó, họ dùng những biện pháp … để cai trị, đồng thời
tiếp thu dần những thành tựu văn minh của họ. Từ những công xã trước đó, hàng loạt tiểu quốc
được thành lập ven bờ sông Hằng. Đến khoảng thế kỷ thứ 6 TCN, v ương qu ốc Magađa tri ển
hùng mạnh và thống nhất miền bắc Ấn Độ.
Năm 327 TCN, vua Maxêđônia là Alechxăngdrơ trong quá trình chinh ph ục các vùng đất phía
đông đã tiến vào Ấn Độ. Trong cuộc chiến chống lại quân xâm lược Alechxăngdrơ, chanđra
gupta thủ lĩnh của tầng lớp bình dân chiến thắng. Sau đó, ông th ẳng ti ến v ề kinh đô, l ật đ ổ s ự
thống trị của Magađa, thành lập vương tiều môria, một vương triều hưng thịnh nhất ở An Độ.
Từ thế kỷ 1 TCN đến thế kỷ 3, Ấn Độ rơi vào tình trạng phân quy ền cát c ứ. Đ ến th ế k ỷ 4, ấn
độ mới thống nhất dưới vương triều mới, vương triều Gupta, đây cũng là bước ngoặt đánh
dấu sự kết thúc của chế độ chiếm hữu nô lệ và bắt đầu của chế độ phong kiến.

- Trung Quốc

Khoảng 3000 năm TCN, Trung Quốc bước vào giai đoạn dân ch ủ quân s ự, là giai đo ạn quá đ ộ
từ công xã thị tộc sang xã hội có giai cấp. Năm 2140 TCN, ông Kh ải là con c ủa H ạ Vũ, không
cần được cộng đồng bầu cử, vẫn lên ngôi kế vị, mở đầu cho thòi kỳ cha truy ền con n ối, thành
lập nhà Hạ, nhà nước đầu tiên của Trung Quốc. Vua cuối cùng của triều Hạ là Ki ệt, hoang
dâm, tàn bạo làm cho vương triều bị diệt vong.
Năm 1711 TCN, nhà Thương thay thế nhà Hạ. Nhà Th ương còn được gọi là nhà Ân, vì nhà
Thương dời đô về đất Ân Khư. Vua cuối cùng cùa Nhà Thương là Trụ V ương say mê s ắc đ ẹp
của Đắc Kỷ hoang dâm, tàn bạo làm cho vương triều suy y ếu. Nhà Chu l ợi d ụng tình hình này
tiến quân tiêu diệt nhà Thương. Thành lập nhà Chu. Nhà Chu th ực hi ện chính sách phân phong
đất đai cho con cháu của mình làm chư hầu.
Nhà chu có 2 thời kỳ:
Tây Chu (1066 – 770 TCN) đóng đô ở hạo Kinh. Vua cùng của Tây Chu là U vương,

Đông chu (771 – 256 TCN), có 2 thời kỳ:

Xuân Thu (771 – 475 TCN)
Chính quyền trung ương nhà chu hoàn toàn suy yếu, gần 100 n ước ch ư h ầu gây chi ến tranh
thôn tính lẫn nhau, xưng bá để khống chế nhà chu và các n ước khác. Đây là th ời ký suy s ịp
những giá trị đạo đức, xã hội rối ren, loạn lạc… do đó, xuất hiện nhiều tư tưởng, học thuy ết
chính trị nhằm ổn định xã hội (thời kỳ bách gia chư tử).

Chiến Quốc (475 – 256 TCN)
Trải qua hàng trăm năm chiến tranh thoôn tính lẫn nhau, các nước nhỏ đã bị các nước lớn tiêu
diệt, sang thời chiến quốc chỉ còn lại 7 nước lớn Tề, Yên, Hàn, Sơ, Tri ệu, Ngu ỵ, T ần và m ột
số nước nhỏ. Năm 256, nhà Chu bị nhà Tần tiêu diệt. Sau đó, nhà Tần l ại l ần l ượt thôn tính các
quốc gia còn lại, thống nhất Trung Quốc. Đây là mốc th ời gian đánh d ấu s ự ch ấm d ứt c ủa ch ế
độ chiếm hữu nô lệ. Trung Quốc bước sang chế độ phong kiến.


II. CHẾ ĐỘ XÃ HỘI

1. Quan hệ giai cấp
Trong xã hội lúc này hình thành 3 giai cấp chính, đó là chủ nô, nô lệ và nông dân công xã.

- Giai cấp chủ nô:
• Gồm có: quý tộc thị tộc (vua, quan lại); quý tộc tăng lữ và những
người giàu có khác.
• Họ đồng thời là giai cấp thống trị trong xã hội, nắm giữ nhiều ruộng
đất, của cải trong cả nước; đồng thời có nhiều quyền lợi chính trị.
- Giai cấp nô lệ:
• Nguồn:
o Tù binh chiến tranh,
o Nông dân công xã bị phá sản,
o Là con của nô lệ…
• Thân phận:
o Không có quyền chính trị,
o Thuộc quyền sở hữu của chủ nô (chủ nô có quyền bán, chuyển
nhượng, trao tặng hoặc giết nô lệ của mình)
o Bị xem là đồ vật hay công cụ lao động, không được xem là con
người (Họ phải lao động khổ sai không giờ giấc nhưng không
được hưởng những giá trị của cải do họ làm ra)
• Quan hệ nô lệ trong xã hội phương đông cổ đại mang nặng tính gia
trưởng:
o Số lượng nô lệ không chiếm đa số trong xã hội;
o Lực lượng lao động chủ yếu trong xã hội không phải là nô lệ
mà là nông dân công xã, nô lệ chủ yếu làm công việc h ầu h ạ,
phục dịch trong nhà chủ nô;
o Mâu thuẫn đối kháng giai cấp trong xã hội không phải là mâu
thuẫn giữa chủ nô và nô lệ mà lại là mâu thuẫn gi ữa ch ủ nô và
nông dân công xã.

- Nông dân công xã:
• Số lượng chiếm đa số và là lực lượng lao động chủ yếu của xã hội.
Sống trong các công xã nông thôn.
• Phần lớn họ là những người nghèo, ít ruộng đất phải nhận ruộng đất
của nhà nước từ các công xã nông thôn để cày cấy và đóng thuế cho
nhà nước hoặc thuê ruộng của các chủ nô và nộp tiền thuê đất hay hoa
lợi thu hoạch được.
• Họ được quyền làm người nhưng là đối tượng bóc lột chủ yếu của
giai cấp chủ nô.
• Ngoài ra, họ còn phải cùng với nô lệ lao động khổ sai để xây dựng các
công trình cho vua và nhà nước.
- Bên cạnh đó, còn có tầng lớp thợ thủ công, thương nhân, chiếm thiểu số trong dân cư.
Thành phần của họ khá phức tạp nhưng nhìn chung họ là những người nghèo, ch ịu sự
bóc lột của giai cấp chủ nô.

Như vậy, trong xã hội phương đông cổ đại kết cầu giai cấp đã hoàn ch ỉnh. Giai c ấp bóc l ột
bao gồm chủ nô như vua, quan lại, tăng lữ, người giàu có. Giai cấp bị trị bao g ồm nô l ệ, nông
dân công xã, thợ thủ công và thương nhân.

 Chế độ đẳng cấp
Bên cạnh sự phân hoá xã hội thành giai cấp, xã h ội ph ương đông còn phân bi ệt dân c ư theo
chế độ đẳng cấp:
- Giai cấp thống trị là đẳng cấp cao quý nhất;
- Nông dân nghèo, thợ thủ công, nô lệ bị xem là tầng lớp thấp hèn nhất.

Chế độ đẳng cấp điển hình nhất là ở Ấn Độ, phân biệt thành 4 đẳng cấp (ch ế độ
Vacna):
- Đẳng cấp Bà La Môn: gồm tăng lữ Bà La Môn, là đẳng cấp cao quý nh ất,
được sinh ra rừ miệng thần Brama, đọc kinh, giảng đạo, không phải lao
động sản xuất vật chất.
- Đẳng cấp Ksatơria: sinh ra từ cánh tay của thần Brama. Đẳng c ấp này có
nhiệm vụ bảo vệ chế độ (gồm vua, quan lại, và nh ững người trong quân
đội) cũng không phải lao động sản xuất.
- Đẳng cấp Vaisia: gồm những người làm nông nghiệp, buôn bán và th ợ
thủ công, sinh ra từ đùi của thần Brama. Họ có nghĩa vụ sản xuất để nuôi
sống 2 đẳng cấp trên.
- Đẳng cấp Suđra: gồm những người cùng khổ nhất trong xã hội, là con
cháu của những bộ tộc bị thất trận, không có tư li ệu s ản xu ất và ở ngoài
công xã, sinh ra từ bàn chân của thần Brama. Họ có nghĩa v ụ ph ụ v ụ cho
3 đẳng cấp trên.
Sự phân biệt đẳng cấp ở An Độ rất khắc nghiệt. Người thuộc đẳng cấp dưới phải tôn trọng
và phục tùng người thuộc đẳng cấp trên, những người khác đẳng c ấp không đ ược k ết hôn v ới
nhau, …
Nguyên nhân của sự phân biệt đẳng cấp ở Ấn Độ: để duy trì s ự th ống trị c ủa nh ững
người có trình độ thấp kém hơn những người có trình độ phát triển cao hơn.

2. Chế độ ruộng đất

- Tất cả ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà vua. Vua l ập nh ững trang tr ại l ớn c ủa
mình, bắt nô lệ cày cấy.
- Ngoài ra, vua dùng đất để thưởng cho các quan lại, quý t ộc. Ru ộng th ưởng thu ộc quy ền
sở hữu của quan lại, quý tộc.
Điển hình ở Trung Quốc, thời kỳ nhà Chu, Vua dùng đất đai đ ể phân phong
cho các chư hầu. Các chư hầu nhận đất đai, chức tước từ tông ch ủ (nhà Chu), có
nghĩa vụ nộp cống và cử lính tham gia quân đội của nhà vua khi có chi ến tranh.
(chế độ tông pháp)
- Số ruộng đất ở địa phương Vua giao cho các công xã nông thôn qu ản lý. Công xã có
quyền chia đất cho nông dân cày cấy. Nông dân phải nộp tô thuế cho nhà n ước thông qua
công xã.
Ở Trung Quốc, Nhà Chu phân phối đất đai ở địa phương theo chế độ tỉnh điền.
Mỗi hộ nông dân được chia một mãnh ruộng bằng 100 mẫu (2 ha) gọi là một điền.
Để chia ruộng đất thành những phần như vậy và để đẫnn nước vào ruộng, ng ười ta
đắp những bờ vùng, bờ thửa và đảo những con kênh, mương ngang dọc, do dó, tạo
thành những hình như chữ điền – gọi là chế độ tỉnh điền.
III. TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

Hình thức chính thể: quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền
 Quản lý nhà nước

- Ở trung ương:

• Vua: là người đứng đầu nhà nước, có quyền lực tối cao.
- Mọi mệnh lệnh của vua có giá trị thi hành như pháp luật.
- Vua có quyền quyết định mọi vấn đề quan trọng của quốc gia, quyết
định bổ nhiệm, cách chức, trừng phạt bất cứ ai.
- Vua là người có thẩm quyền xét xử cao nhất
- Vua là chỉ huy quân sự cao nhất
- Bên cạnh đó, vua được thần thánh hoá, vua được xem là con ho ặc đ ại
diện hoặc chính là hiện thân của thần linh.

• Quan đầu triều: Là một vị quan hay một hội đồng thân tín nh ất c ủa nhà vua,
nắm giữ các công việc quan trọng trong triều.

• Hệ thống các cơ quan giúp việc: Gồm một số quan lại cao cấp. Tùy từng
nơi, từng thời kỳ mà có sự phân công nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng hay
không.

- Ở địa phương

Quản lý nhà nước ở địa phương thường dựa vào công xã nông thôn. Người đ ứng đ ầu là
người của chính địa phương đó (vương công, tù trưởng…). Quyền lực của họ như một vị
vua nhỏ ở địa phương, có quyền thu thuế, đặt pháp luật, xây dựng quân đội, quy ết đ ịnh mọi
vần đề ở địa phương.
Do đó, khi chính quyền trung ương suy yếu, h ọ là nh ững th ế lực ph ản lo ạn, n ổi day ch ống
lại chính quyền trung ương, thành lập nhà nước riêng, tạo nên trạng thái cát cứ phân quyền.
Sau mỗi lần cát cứ như thế, chính quyền trung ương th ực hiện nhi ều bi ện pháp đ ể qu ản lý
chặt chẽ hơn địa phương. Như: cử quan ở triều đình về giám sát hoặc trực tiếp quản lý,
chia nhỏ địa phương và phân cấp quản lý chặt chẽ. Ví dụ như ở Ấn Độ.riêng trung quốc,
nhà tây chu thiết lập hệ thống các nước chư hầu để thông qua các nước chư hầu quản lý
toàn bộ lãnh thổ rộng lớn.

 Cơ quan xét xử

- Vua luôn là người có quyền xét xử tối cao. Vua có thể xét xử bất kỳ vụ án nào mà vua
muốn, quyết định của nhà vua là quyết định sau cùng.
- Ở trung ương, có cơ quan chuyên trách việc xét xử.
- Ở địa phương, việc xét xử được giao cho người quản lý địa phương đó hoặc giao cho
hội đồng công xã hoặc các vị bô lão có uy tín.
 Quân đội

Do đặc điểm thường xuyên xẩy ra chiến tranh nên các quốc gia này rất chú trong vi ệc
xây dựng và phát triển quân đội.
- Vua là người chỉ huy quân đội tối cao hoặc vua sẽ chỉ định người thân c ận nh ất
của mình làm chỉ huy quân đội, nhưng người này ph ải tuân theo m ọi ý ki ến ch ỉ
đạo và chịu trách nhiệm trước vua.
- Về lực lượng: rất đông, rất đa dạng. Gồm lính thường trực, lính đánh thuê.
Được phân loại như quân lính của vua, của địa phương, …
- Về binh chủng: tương đối đa dạng, gồm bộ binh, kỵ binh, tượng binh, chiến xa.
- Về chế độ đãi ngộ quân lính; thông thường lính phải tự trang bị vũ khí và có
quyền nhận các chiến lợi phẩm. Về sau, họ được nhà nước trả lương, cấp đ ất
tuỳ theo chức vị và quân công

 Tôn giáo
Do trình độ khoa học kỹ thuật hạn chế nên tôn giáo là công cụ hổ trợ đắc lực cho việc quản
lý của nhà nước.

IV. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ

1. Các nhà nước ở phương đông trong thời kỳ cổ đại xuất hiện “sớm” do sự tác động của
công cuộc xây dựng công trình thủy lợi và các cuộc chiến tranh đến quá trình xuất hiện
nhà nước.
2. Về chính thể nhà nước; luôn là hình thức chính th ể quânchủ chuyên ch ế trung ương t ập
quyền.
3. Bộ máy nhà nước là bộ máy bạo lực lớn, được thần thánh hóa nhằm bảo v ệ giai c ấp
thống trị một cách đắc lực nhất. Điều này làm cho bản chất giai cấp của các nhà n ước
này nổi trội hơn bản chất xã hội của nó.
4. Sự tồn tại lâu dài của các công xã nông thôn ảnh hưởng đến tổ chức chức bộ máy nhà
nước. Nhà nước quản lý địa phương thông qua công xã nông thôn.
5. Tuy nhiên, trong quá trình phục vụ cho giai cấp của mình, nhà n ước chi ếm h ữu nô l ệ
phương đông đã làm nồng cốt cho nhân dân sáng tạo, xây d ựng và phát tri ển văn hóa. Do
đó, các quốc gia phương đông cổ đại đã đạt nhiều thành tựu huy hoàng về văn hoá trở
thành một trong những trung tâm của văn minh thế giới cổ đại.


BÀI 2
PHÁP LUẬT PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI


I. GIỚI THIỆU CÁC BỘ LUẬT CỔ Ở PHƯƠNG ĐÔNG

1. BỘ LUẬT HAMMURAPI

a. Đặc điểm của luật Hammurapi
Bộ luật Hammurapi được các nhà khảo cổ người Pháp tìm ra vào năm 1901 - đây là
bộ luật thành văn sớm nhất được phát hiện trong lịch s ử nhân lo ại. Lu ật đ ược kh ắc trên
tảng đá Bazan cao 2 mét. Phần trên cùng của tấm đá có hình Hammurapi đ ứng tr ước th ần
mặt trời Samat (vị thần bảo vệ tòa án). Điều này chứng tỏ Hammurapi đã ý th ức đ ược
hiệu quả của việc kết hợp giữa vương quyền, thần quyền và pháp quyền để tiến hành
cai trị dân chúng.

- Về nguồn của bộ luật:

• Nguồn của bộ luật là những tiền lệ pháp, các tập quán pháp của người Xume trong
xã hội trước đó,
• Những quyết định của tòa án và các phán quyết của tòa án cao cấp lúc bấy giờ.
• Mệnh lệnh, chiếu chỉ của nhà vua

- Về cơ cấu của bộ luật:

• Phần mở đầu và phần nội dung: Khẳng định rằng đất nước Babilon là một
vương quốc do các thần linh tạo ra. Và chính các thần linh này đã trao đ ất n ước
cho Hammurapi thống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ. Hammurapi
kể công lao của mình đối với đất nước. Riêng ở phần nội dung Hammurapi tuyên
bố sẽ trừng trị tất cả những ai xem thường và có ý định hủy bỏ bộ luật.

• Phần nội dung: Chứa đựng 282 điều luật – đây là phần chủ yếu của bộ luật. Tuy
nội dung của bộ luật chưa phân chia thành từng ngành luật riêng biệt, nh ưng tác
giả của bộ luật đã có ý thức phân chia các điều khỏan ra từng nhóm riêng theo n ội
dung của chúng. Điều này thuận tiện cho việc tìm hiểu và xét xử.
Điều 1 đến điều 4 : về thủ tục tố tụng;
Điều 6 –11: về tội trộm cắp;
Điều 15 – 16: về tội xâm phạm nô lệ của người khác;
Điều 21 – 25: tội xâm phạm tài sản của người khác;
Điều 26 – 41: chế độ ruộng đất của Rêdum và Bairum;
Điều 42 – 66: về việc thuê ruộng và trách nhiệm của người cày cấy;
Điều 98 – 107: về việc vay tiền;


b. Nội dung

- Chế định hợp đồng

• Hợp đồng mua bán
Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
• Người bán phải là chủ thật sự của tài sản (đ 7)
• Tài sản phải bảo đảm giá trị sử dụng ( đ 108)
• Khi ký kết hợp đồng, phải có người làm chứng (đ7)
Thiếu 1 trong 3 điều kiện trên, hợp đồng không có giá trị, người vi phạm sẽ bị xử phạt
bằng hình phạt.

• Hợp đồng vay mượn
o Quy định mức lãi suất khác nhau đối với từng loại: vay thóc và vay ti ền (đ
89)
o Nếu người cho vay lấy lãi suất cao hơn mức quy định thì s ẽ m ất v ật cho
vay (đ 91)
o Dùng thân thể con người làm vật bảo đảm hợp đồng (đ 115, 116, 117)

• Hợp đồng lĩnh canh ruộng đất

o Quy định mức thu tô đối với từng loại lĩnh canh: vườn và ruộng.( đ 46 và đ
64)
o Quy định trách nhiệm của người lĩnh canh trong từng trường hợp không
chuyên cần canh tác. (đ 42, 43,44)
o Quy định mức bồi thường thiệt hại đối với người lĩnh canh nếu làm thiệt hai
hoa màu trên ruộng người bên cạnh (đ 53, 554, 55, 56)
 Có dấu hiệu của sự phân biệt lỗi cố ý và vô ý.

• Hợp đồng gởi giữ

o Khi gởi giữ phải có người làm chứng (đ 122) nếu không, người nh ận gi ữ s ẽ
bị xem là ăn trộmvà bị xử tử (đ 7).
o Mức thù lao gởi giữ (đ 121)

- Chế định hôn nhân gia đình

o Thủ tục kết hôn: phải có giấy tờ ( đ 128)
o Công khai thừa nhận sự bất bình đẳng giữa nam và nữ. Đề cao vai trò và bảo
vệ quyền lợi của người chồng. Người vợ bị xem là tài sản của người chồng
( đ 141, 143, 129)
o Tuy nhiên trong một số trường hợp, luật cũng bảo vệ quyền lợi của người
phụ nữ (đ 130, 148)
o Ngoài ra, luật còn bảo vệ một số giá trị đạo đức trong xã hội (155)

- Chế định thừa kế

o Có 2 hình thức thừa kế: theo luật và theo di chúc ( đ 165)
o Căn cứ để chia thừa kế theo cha, không theo mẹ ( đ 162, 163, 167)
o Có sự phân biệt trong việc hưởng thừa kế giữa con trai, con gái, con c ủa n ữ
nô lệ nếu được người tự do thừa nhận (đ 170, 179, 180, 182, 183)
o Điều kiện tước quyền thừa kế ( đ 169)
- Chế định hình sự

o Bảo vệ các quan hệ xã hội như: quyền sở hữu (đ 6,7,8,…) bảo vệ chế độ nô
lệ (đ 15, 16, 226), bảo vệ nhân phẩm, danh dự, của con người.
o Quan niệm hình phạt là sự trừng trị tội lỗi, mang tính ch ất tr ả thù ngang
bằng nhau ( đồng thái phục thù) ( 196, 197, 229)
o Tuy nhiên, do bộ luật cũng thừa nhận sự phân biệt đẳng cấp, giai cấp tính
chất đồng thái phục thù chỉ là tương đối (đ 198, 199, 201).
o Chế tài phạt tiền cũng đã được áp dụng. Mức tiền phạt tuỳ vào đ ịa v ị xã h ội
của các đương sự.
o Các hình thức của hình phạt thường rất dã man, như: chặt tay, chân, thiêu,
dìm xuống nước, đóng cọc…

- Chế định tố tụng

o Xét xử công khai
o Coi trọng giá trị chứng cứ, không phân biệt chứng cứ thuộc đẳng cấp nào.
o Trách nhiệm của người xét xử. Nếu có quyết định không đúng trong phiên
toà, thì phải nộp tiền phạt và bị truất quyền xét xử.

2. BỘ LUẬT MANU

a. Đặc điểm của bộ luật Manu

- Là bộ luật hoàn chỉnh nhất trong tất cả các luật lệ cổ ở Ấn độ, được xây d ựng vào
khoảng thế kỷ thứ II – I TCN bởi các giáo sĩ Bà La Môn. Th ực ch ất nó là nh ững lu ật l ệ,
những tập quán pháp của giai cấp thống trị được các giáo sĩ Bà La Môn t ập h ợp l ại d ưới
dạng trường ca, được trình bày dưới dạng câu song vần.
- Gồm 2685 điều, chia thành 12 chương.
- Nội dung của bộ luật không chỉ là những quan hệ pháp luật mà còn là những vấn đế khác
như chính trị, tôn giáo, quan niệm về thế giới và vũ trụ. Nh ưng xét trên ph ương di ện
pháp lý, chúng ta có thể phân bộ luật Manu thành những chế định cụ thể.

b. Nội dung

- Chế định quyền sở hữu
o Đối với ruộng đất: giống như phần chế độ ruộng đất đã trình bày. Đối với
đất thuộc quyền sở hữu của tư nhân thì được quyền mua bán nh ưng phải
chịu sự giám sát của nhà nước (nếu người bán động s ản nh ận được s ố ti ền
nhiều hơn giá quy định thì nhà nước sẽ thu hồi số tiền dư đó)
o Đối với những tài sản khác, nhà nước chỉ thừa nhận quyền sở h ữu khi có
chứng cứ cụ thể chỉ rõ nguồn gốc của nó (mua bán, thừa kế, ban thưởng).

- Chế định hợp đồng
o Quy định điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
• Không được ký với người điên, người say rượu, người già yếu, người
chưa đến tuổi thành niên.
• Không được lừa dối hay dùng áp lực để ký hợp đồng.
• Phải được ký công khai.

o Đề cập nhiều đến hợp đồng vay mượn, cầm cố:
• Trong đó quy định mức lãi tối đa phải trả mỗi tháng, mức lãi su ất này
tùy thuộc theo từng đẳng cấp trong xã hội.
• Bà la Môn: 2%
• Ksatơria: 3%
• Vaisia: 4%
• Suđra: 5%
• Nếu con nợ không trả được nợ thì bị biến thành nô lệ.
• Nếu con nợ có khả năng trả nợ nhưng không chịu trả thì chủ nợ có
quyền đánh đập, hành hạ con nợ cho đến khi đòi được nợ.

- Chế định hôn nhân gia đình

o Hôn nhân mang tính chất mua bán. Người vợ được chồng mua về và tất cả
của hồi môn của người vợ thuộc quyền sở hữu của chồng.
o Thừa nhận sự bất bình đẳng trong quan hệ vợ chồng:
• Lúc nào người phụ nữ cũng phải chịu sự bảo hộ của đàn ông (tam
tòng)
• Vợ không được quyền ly dị chồng trong mọi trường hợp. Người
chồng dù tàn bạo, ngoại tình vợ cũng phải tôn trọng và xem nh ư
một thánh nhân của đời mình.
• Ngược lại, chồng có quyền ly dị vợ nếu vợ không có con hoặc sinh
toàn con gái. Ngoài ra chồng được quyền đánh đập hành h ạ vợ con
mà không bị tội.
o Bộ luật quy định chỉ được kết hôn trong cùng đẳng cấp. Tuy nhiên, đàn ông
vẫn có thể lấy vợ thuộc đẳng cấp dưới.

- Chế định thừa kế

o Ban đầu, ở Ấn Độ chỉ thừa nhận hình thức thừa kế theo pháp luật (khi người
cha chết, mọi tài sản được chia đều cho các con còn sống). Về sau, do ảnh
hưởng của văn hoá phương tây, người Ấn cũng lập di chúc. Đẳng cấp Bà La
Môn ủng hộ tục lệ mới này vì điều này làm cho tài sản của giáo hội tăng lên,
nếu người dân lập di chúc để lại tài sản cho giáo hội.
o Tất cả các con đều có quyền thừa kế tài sản của người cha. Con gái nhận tài
sản thừa kế để làm của hồi môn.
- Chế định hình sự

o Những chế đình sự đề ra theo nguyên tắc: khoan dung đối với những ng ười
chà đạp lên quyền lợi của kẻ dưới, trừng trị thẳng tay đ ối v ới nh ững ng ười
xâm phạm đến tính mạng, quyền lợi, nhân phẩm của đẳng cấp trên.
o Các hình phạt trong bộ luật rất dã man:
• Luật quy định hình phạt rất nặng đối với tội trộm cắp. Trộm c ắp vào
ban đêm hay khoét ngạch vào nhà thì bị chặt tay hoăc ngồi trên chi ếc
cọc nhọn, nếu phạm tội lần thứ ba thì bị tử hình. Nếu trộm cắp tài
sản của vua hay của đến chùa thì bị xử tử mà không cần xét xử.
• Phạm tội gây rối trong dân chúng sẽ bị thiêu chết
o Cũng giống như luật Hammurapi, chế định hình sự của luật Manu cũng
mang tính trả thù ngang bằng nhau.
o Sử dụng phép thử tội: dầu sôi + phân bò hay rắn độc

- Chế định tố tụng

o Rất coi trọng chứng cứ (nhân chứng, vật chứng)nhưng giá trị của chứng cứ
lại phụ thuộc vào đẳng cấp và giới tính.
• Người làm chứng phải cùng đẳng cấp và giới tính với bị can.
• Khi có sự mâu thuẫn giữa các chúng cứ thì chứng cứ của đẳng c ấp
trên thì có giá trị hơn so với đẳng cấp dưới.

3. PHÁP LUẬT TRUNG QUỐC

Đến ngày nay, người ta vẫn chưa tìm thấy bộ luật cổ đại nào ở trung quốc. Ng ười ta ch ỉ
biết đến nó thông qua các sách sử cổ.

a. Thời Hạ, Thương:

- Hình thức pháp luật chủ yếu là mệnh lệnh của nhà vua.
- Hình pháp đã rất được chú trọng với nhiều hình ph ạt dã man nh ư: đóng dấu nung đ ỏ, c ắt
mũi, gông cùm, xữ tử bằng các hình thức: chôn sống, mổ bụng, xẻo từng mãnh nh ỏ bỏ
vào nước sôi, bỏ vào cối giã.

b.Thời nhà Chu

 Pháp luật

- Do cơ chế chính trị nhà Chu dựa trên chế độ tông pháp (quan h ệ đ ẳng c ấp huy ết th ống)
nên Nhà Chu đặt ra Lễ. Lễ dùng để phân biệt sang hèn, trật t ự tôn ty trong xã h ội, nh ững
nghi thức về ăn, ở, hội họp, ma chay cúng lễ, cưới xin… do đó, ng ười ta làm theo l ễ m ột
cách tự nguyện. Lễ trở thành quy tắc sử xự của mọi người trong xã hội, nếu ai không
tuân theo lễ sẽ bị cười chê là không có chính nghĩa, không biết lễ…
Hệ thống Lễ gồm 5 loại, gọi là Ngũ Lễ:
• Cát lễ: lễ tế các thần linh
• Cung lễ:lễ cúng tế, ma chay, mất mùa
• Quân lễ: lễ ra quân
• Tân lễ: lễ tiếp đón các chư hầu
• Gia lễ: lễ hôn nhân, lễ đặt con trưởng.

- Chính vì đặc điểm đó của lễ nên Nhà Chu dựa vào l ễ đ ể qu ản lý xã h ội và hình pháp lúc
này dùng để trừng trị những ai không tuân theo Lễ. Dần dần Lễ trở thành m ột c ơ ch ế
chính trị trong nhà Chu.

- Hình phạt của nhà Chu rất tàn bạo, gồm 5 thang bậc, gọi là phép Ngũ Hình:
• Mặc: thích chữ vào trán
• Tỵ : cắt mũi
• Phị: chặt chân
• Cung: thiến hoặc nhốt vào nhà kín
• Đại tịch: tử hình (mổ tim, bêu đầu, xẻo thịt thành từng mãnh nhỏ…)

- Thời Xuân Thu, nước Trịnh soạn ra Hình Thư và khắc lên đỉnh đúc bằng sắt. (công bố
pháp luật thành văn đầu tiên ở Trung Quốc)
- Thời Chiến Quốc, để tranh thủ ủng hộ của các tầng lớp đ ịa ch ủ m ới xu ất hi ện, các
nướcc ban hành một loạt các bộ luật như:
• Nước Hàn ban hành Hình Phù;
• Nước Sở có Hiến Lệnh;
• Nước Tề có Thất Pháp;
• Nước Việt có Quốc Luật
• Nước Hàn tổng hợp kinh nghiệm lập pháp của các nước soạn ra bộ Pháp Kinh.
Bộ luật này đã thất truyền nhưng theo sử sách thì đây là b ộ lu ật hoàn ch ỉnh và n ổi
tiếng nhất của Trung Quốc cổ đại. Nội dung của nó gồm 6 chương:
• Đạo pháp: quy định về tội cướp
• Tặc pháp: quy định về tội giả mạo
• Tư pháp; quy định vvề tố tụng, xét xử
• Bộ pháp: quy định về bắt giam
• Tạp pháp: tạp luật
• Bối pháp: quy định những nguyên tắc chung.
Theo Pháp Kinh, những hành vi xâm phạm đen vua và làm nguy hại đến triều đình đều bị
coi là trọng tội, bị xử tru di cả họ.

 Các tư tưởng chính trị

Trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc, công cuộc trị quốc của các quốc gia còn b ị ảnh
hưởng bởi các học thuyết, các hệ tư tưởng của những chính trị gia như: Nho Giáo (l ễ trị k ết
hợp với đức trị) của Khổng Tử, trường phái Pháp Gia (thuy ết pháp trị) c ủa Qu ản Tr ọng,
Thương Ưởng, Thận Đáo, Thân Bất Hại, Hàn Phi; thuy ết vô vi c ủa Lão T ử, thuy ết kiêm ái
của Mặc Gia… Trong đó, ảnh hưởng lớn đến phương pháp cai trị của các nhà nước Trung
Quốc là nho giáo và thuyết pháp trị.
Tuy nhiên, do Nho giáo không phù hợp với đặc đi ểm tình hình lúc b ấy gi ờ nên không
được giai cấp thống trị áp dụng. Về sau, đến đời Hán Võ Đ ế, Nho giáo m ới tr ở thành qu ốc
giáo. Còn thuyết pháp trị thích ứng với tình hình lúc b ấy gi ờ nên đ ược giai c ấp th ống tr ị s ử
dụng và thể chế thành đường lối chính sách pháp luật của nhà nước.

Thuyết pháp trị đề cao vai trò của pháp luật. Về nội dung, nó gồm 3 yếu tố: pháp,
thế,thuật.
o Pháp: pháp luật và mệnh lệnh của vua phải rõ ràng, mạch lạc. Việc chấp pháp ph ải
nghiêm minh.
o Thế: uy quyền của nhà vua.
o Thuật: phương pháp điều hành, quản lý con người: bổ nhi ệm (căn c ứ vào tài năng đ ể
bổ nhiệm, không kể đến dòng dõi), khảo hạch (căn cứ vào trách nhiệm để kiểm tra
hiệu quả công viêc) và thưởng phạt (căn cứ vào kết quả khảo hạch, th ưởng nhiều,
phạt nặng)
Theo Pháp Gia, với 3 yếu tố pháp, thế, thuật vua có thể trở thành một vị vua tốt mà không
cần nhân nghĩa, không cần trí tuệ,…

II. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁP LUẬT PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI

1. Nền kinh tế
Kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp => giao thương mua bán ít => pháp luật về dân
sự, thương mại không phát triển.
2. Chế độ chính trị

Với nền quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, vua là người có quy ền ban hành
pháp luật => không có trí tuệ tập thể, không dân chủ.
Với chế độ chiếm hữu nô lệ => quyền lợi của chủ nô được bảo vệ tối đa.

3. Tôn giáo

Các giáo sĩ có ảnh hưởng lớn đến nội dung của pháp luật. Đặc biệt là ở Ấn Độ, các
giáo sĩ Bà La Môn căn cứ vào những quy định của tôn giáo, vào quyền lợi của giáo phái
mà ban hành, điều chỉnh pháp luật.

4. Lễ và các hệ tư tưởng chính trị

Điều này chúng ta thấy rõ nhất là ở trung quốc. Lễ và hệ t ư tưởng chính tr ị đã ảnh
hưởng rất lớn đến pháp luật.

III. NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ
- Công khai thừa nhận sự bất bình đẳng trong quan hệ giai cấp, đẳng cấp bảo vệ quy ền
lợi và địa vị của giai cấp chủ nô và những người thuộc đẳng c ấp trên trong xã h ội nh ằm
củng cố sự thống trị tuyệt đối của giai cấp chủ nô.
- Trong quan hệ gia đình, thừa nhận sự bất bình đẳng gi ữa v ợ và ch ồng, gi ữa các con v ới
nhau, do ảnh hưởng của chế độ thống trị gia trưởng.
- Trọng hình, khinh dân, ranh giới giữa hình sự và dân sự rất mờ nhạt.
- Mang tính chất đồng thái phục thù
- Có dấu hiệu của sự phân biệt lỗi cố ý và vô ý
- Bị ảnh hưởng bởi tôn giáo, lễ và các hệ tư tưởng chính trị.
- Về hình thức, không có tính hệ thống, từ ngữ sử dụng rất cụ thể, không mang tính khái
quát.

Bài 3:
NHÀ NƯỚC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC

1. Điều kiện tự nhiên

- Hy lạp nằm trên bán đảo Bankan, các đảo trên biển Êgiê và vùng đất phía Tây Tiểu
A, giáp với đông Địa Trung Hải, đất đai cằn cổi và bị chia cắt thành nhi ều khu v ực
nhỏ bởi đồi, núi, đèo, sông suối…
- La mã nằm trên bán đảo Italia, đất đai tương đối phì nhiêu.
- Cả Hy Lạp và La Mã đều có nhiều khoáng sản quý, nằm trong vùng khí h ậu ôn
đới.
Do đó:
- Cả Hy Lạp và La Mã có nhiều vịnh và hải cảng tốt, rất thuận l ợi cho vi ệc phát
triển nghề thương nghiệp, đặc biệt là mậu dịch hàng hải.
- Kinh tế thủ công nghiệp rất phát triển.
- Kinh tế nông nghiệp kém phát triển, không đóng vai trò kinh tế ch ủ đạo c ủa qu ốc
gia.
- Ngoài ra, do địa hình của Hy Lạp bị chia cắt thành nhiều khu vực nhỏ nên xu
hướng thống nhất về lãnh thổ và chính trị không đặt ra cấp thiết, lịch sử của Hy
Lạp là lịch sử của các thành bang tồn tại độc lập với nhau.

2. Điều kiện kinh tế xã hội và quá trình hình thành nhà nước

a. Hy Lạp

- THỜI KỲ VĂN MINH TỐI CỔ CRET – MYXEN
+ Xã hội đã phân hoá giai cấp, nhà nước đã xuất hiện
+ Người Hy Lạp tràn vào tấn công và hủy hoại không kế thừa nền văn minh
này.
- Thời kỳ hôme
+ Xã hội đang là xã hội thị tộc mạt kỳ
+ Cuối thời đại này, xã hội xuất hiện sự phân hoá giai c ấp. Ch ế độ nô l ệ hình
thành nhưng còn mang tính gia trưởng
- THỜI KỲ THÀNH BANG
+ Kinh tế phát triển mạnh, làm cho chế độ tư hữu diễn ra nhanh chóng, tư hữu
cả về ruộng đất làm cho phân hoá xã hội diễn ra mạnh mẽ:
• Những gia đình có thế lực trong công xã thị tộc trước kia nh ư tù trưởng,
thủ lĩnh quân sự chiếm nhiều ruộng đất và tư liệu sản xuất, ngày càng
trở nên giàu có trở thành giai cấp quý tộc thị tộc ( còn gọi là quý tộc chủ
nô ruộng đất hay quý tộc cũ)
• Thương nhân, thợ thủ công, bình dân trong quá trình tìm vùng đ ất th ực
dân … ngày càng trở nên giàu có. Khi chế độ tư hữu ruộng đất xuất hiện,
họ tậu được nhiều ruộng đất, nô lệ… trở thành tầng lớp quý tộc chủ nô
công thương nghiệp hay còn gọi là quý tộc mới.
• Cùng với sự giàu có của quý tộc chủ nô là sự bần cùng của nông dân, h ọ
giải quyết sự bần cùng của mình bằng 3 cách sau đây:
 Lĩnh canh ruộng đất của chủ nô để cày cấy hoặc đi làm thuê và tr ở
thành tầng lớp bình dân Đêmôt
 Một số quá nghèo, bán mình làm nô lệ.
 Một số rời bỏ quê hương tìm vùng đất khác sinh sống. Họ vượt
biển đến các đảo và vùng Tây Tiểu A, dần dần họ biến những
vùng đất này thành thuộc địa, là nơi cung cấp nguyên vật liệu cho
các ngành sản xuất trong nước và tiêu thụ hàng hoá từ chính quốc.
Do đó, những người này ngày càng giàu có và gia nhập vào tầng lớp
quý tộc chủ nô công thương nghiệp, làm cho tầng lớp này ngày
càng đông hơn.
+ Do phân hóa giai cấp diễn ra mạnh mẽ nên mâu thuẫn giai cấp trở nên rất
gay gắt. Trong đó, giai cấp chủ nô bóc lột sức lao động của nô lệ là chủ yếu.
Quan hệ nô lệ ở hy lạp nói riêng và ở phương tây nói chung mang tính ch ất
điển hình. Giai cấp nô lệ phản kháng lại sự áp bức bóc lột b ằng nhi ều cu ộc
nổi dậy, để dập tắt những cuộc đấu tranh đó, giai cấp chủ nô thiết lập ra
nhà nước để quản lý và đàn áp giai cấp bị trị.
+ Nhận xét:
• Các nhà nước ở Hy Lạp xuất hiện vào khoảng thế kỷ 8 TCN, và t ồn t ại
dưới dạng các nhà nước thành bang. Trong đó, có hai thành bang lớn, có
vai trò quan trọng trong lịch sử của Hy Lạp là thành bang Spac và Aten.
• Quá trình hình thành nhà nước ở Hy Lạp là sự thoát thai trực tiếp t ừ các
công xã thị tộc, do sự phân hóa giai cấp, mâu thuẫn giai c ấp và đ ấu tranh
giai cấp, không bị tác động bởi yếu tố bên ngoài.
- THỜI KỲ MAKÊĐÔNIA
+ Các thành bang Hy Lạp biến thành chư hầu của đế quốc Makêđônia. Vua
Makêđônia là Alechxăngđơ thống lĩnh quân đội tấn công Ba Tư, thôn tính
được đế quốc này và một phần của Ấn Độ. Sau khi Alechxăngđơ chết, các
tướng lĩnh của ông ta tranh giành quyền lực với nhau.
+ Vào thế kỷ 3 TCN, đế quốc Makêđônia bị chia thành 3 nước lớn:
• Makêđônia và Hy Lạp do dòng họ Antigôn cai trị
• Xini do dòng họ Xêlơcút cai trị
• Ai Cập do dòng họ Prôtêmê nắm chính quyền.

b. La Mã

- THỜI KỲ VƯƠNG CHÍNH
+ Vào thế kỷ 8 TCN, xã hội La Mã đang sống trong giai đoạn tan rã của công
xã nguyên thủy.Trên đồng bằng Latium là nơi sinh sống của 3 bộ lạc, gọi họ
là người Latinh. Mỗi bộ lạc có 10 bào tộc (Curi). Mỗi Curi l ại chia thành 10
thị tộc.
+ Để quản lý xã hội, các bộ lạc cùng nhau thiết lập một tổ chức gồm các cơ
quan sau:
• Đại hội nhân dân (Đại hội Curi) : gồm tất cả các công dân nam của cả 3
bộ lạc. Có quyền quyết định các vấn đề quan trọng như tuyên chi ến hay
nghị hoà, thông qua hoặc bác bỏ những đạo luật do Viện nguyên lão th ảo
luận trước, bầu vua và các chức quan cao cấp khác, có vai trò là toà án t ối
cao. Khi tham gia đại hội, các công dân nam của m ỗi Curi s ẽ t ập h ợp l ại
thành một đơn vị. Khi biểu quyết, mỗi curi được quyền có một lá phiếu.
• Viện nguyên lão (Senat): gồm thủ lĩnh của 300 thị tộc. Mỗi thị tộc cử 1
người tham gia, thông thường là những người thuộc những gia đình giàu
có, danh vọng nhất trong thị tộc. Viện nguyên lão có thẩm quy ền quy ết
định các công việc quan trọng giữa hai kỳ họp của Đại hội nhân dân, thảo
luận các đạo luật trước khi trình trước đại hội công dân.
Về sau, quyền lực của Viện nguyên lão dần dần lớn mạnh và trở
thành cơ quan chính quyền trọng yếu của La Mã.
• Vua (rex): do Đại hội Curi bầu ra, thực tế chỉ là tù trưởng liên minh b ộ
lạc. Thời chiến là tổng tư lệnh quân đội, thời bình ch ỉ lo vi ệc t ế l ễ và xét
xử.
+ Thời kỳ này còn là thời kỳ dân chủ quân sự.

- THỜI KỲ CỘNG HOÀ
+ Vào thế kỷ ……….., người La Mã bị người Êtrucxơ thống trị. Do đó, các vua
đều là người Êtrucxơ.
+ Do sự phát triển kinh tế hàng hoá và chính sách mở rộng xâm lược, nhi ều cư
dân mới đến sinh sống trên lãnh thổ La Mã. Những cư dân này không thuộc
bộ tộc nào của người La Mã, do đó, không được xem là dân La Mã chính gốc
nên họ không được hưởng bất kỳ quyền lực chính trị nào cả. Tuy nhiên, thân
phận của họ không giống như nô lệ, họ là dân tự do, phải nộp thuế và đi
lính cho người La Mã, có quyền tự do kinh doanh, được quyền sở hữu ruộng
đất. Họ chính là tầng lớp bình dân Pơlep.
+ Khi lực lượng này lớn mạnh về kinh tế và quân đội, h ọ đấu tranh đ ể đòi
hưởng quyền chính trị. Trước tình thế đó, người La Mã ph ải nh ượng bộ,
thực hiện cải cách để đáp ứng yêu cầu của họ.
+ Giữa thế kỷ thứ 6 TCN, vua Xecvius Lutius tiến hành c ải cách xã h ội v ới
những nội dung như sau:
• Ba bộ lạc trước kia bị xoá bỏ, thay vào đó là 4 b ộ l ạc mới, th ực ch ất là 4
khu vực hành chính.
• Căn cứ theo tài sản, ruộng đất, ông chia dân cư thành 5 đăng cấp, c ứ 5
năm đăng ký lại đẳng cấp một lần.
 Đẳng cấp 1: là những người có từ 20 jujêra đất trở lên. (1 jujêra đất
= 52,5 ha)
 Đẳng cấp 2: là những người có từ 15 đến 20 jujêra đất.
 Đẳng cấp 3: là những người có từ 10 đến 15 jujêra đất.
 Đẳng cấp 4: là những người có từ 5 đến 10 jujêra đất.
 Đẳng cấp 5: là những người có từ 2,5 đến 5 jujêra đất.
• Bỏ đại hội Curi và thay vào đó là đại h ội Xenturi. Đ ại h ội Xenturi v ừa là
đại hội tổ chức theo đơn vị quân đội của các đẳng cấp vừa là đ ại h ội
mang tính chất hành chính, vì nó được quyền quyết định những vấn đề
quan trọng, được quyền bầu ra những quan chức cao cấp trong bộ máy
nhà nước.
 Đẳng cấp 1: được tổ chức thành 80 Xenturi bộ binh và 18 Xenturi
kỵ binh.
 Đẳng cấp 2,3,4: mỗi đẳng cấp được tổ chức thành 20 Xenturi bộ
binh
 Đẳng cấp 5: được tổ chức thành 30 Xenturi bộ binh
 Những người không có ruộng đất thì không được xếp vào đẳng
cấp nào cả, tuy nhiên vẫn được tổ chức thành 5 Xenturi.
• Trong các kỳ đại hội, các Xenturi được quyền bỏ 1 là phiếu để thể hiện ý
kiến của mình. Nếu có quá bán số phiếu tán thành thì v ấn đ ề đ ược thông
qua. Như vậy, đẳng cấp 1 bao giờ cũng có số phiếu đông nhất.
+ Cuộc cải cách của vua Xecvius Lutius đánh dấu sự sụp đổ c ủa ch ế đ ộ công
xã thị tộc và sự ra đời của nhà nước.
+ Song song với cuộc đấu tranh giữa bình dân Pơlép và quý t ộc th ị t ộc, còn có
cuộc đấu tranh của người La Mã nhằm lật đổ ách thống trị của người
Êtrucxơ. Năm 509 TCN, người La Mã đánh đuổi vị vua cuối cùng c ủa ng ười
Êtrucxơ là Taccanh II và thiết lập nhà nước La Mã.
- THỜI KỲ QUÂN CHỦ CHUYÊN CHẾ

c. Nhận xét
+ Nhà nước phương tây cổ đại ra đời do sự phân hoá xã h ội thành giai c ấp, là
kết quả của sự thoát thai trực tiếp từ công xã thị tộc.
+ Do đặc điểm về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế nên ch ế độ tư h ữu về
ruộng đất sớm ra đời, là nguyên nhân hình thành nền chính thể cộng hòa ở
các quốc gia chiếm hữu nô lệ phương tây.

II. TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

1. Nhà nước Hy Lạp
a. Thành bang Spac

 Tổ chức xã hội

- Nhà nước Spac có quá trình hình thành khác biệt hơn so v ới đ ại đa s ố các thành
bang còn lại của Hy Lạp, do đó, tổ chức bộ máy nhà n ước của nó cũng khác so
với các thành bang khác, đặc biệt là thành bang Aten.
- Vào giữa thế kỷ thứ 9 TCN, bộ lạc người Đôrian xâm nhập vào vùng đ ồng
bằng Lacôni thuộc bán đảo Pêlôpône nơi sinh sống của người Akêan. Khi xâm
nhập vào đây, người Đôrian có trình độ văn hoá, xã h ội th ấp kém h ơn so v ới
người Akêan, nhưng với đội quân hùng mạnh, được rèn luyện trong chiến đấu
và cuộc sống du mục gian khổ, nên họ chiến thắng được người Akêan và làm
chủ vùng đất này. Họ dồn đuổi một bộ phận khác đến miền trung và bắc
Pêlôpône và nô dịch một bộ phận người Akêan:
+ Đất đai, dân cư vùng Lacôni thuộc quyền sở hữu chung của người chi ến
thắng. Mỗi gia đình người Đôrian được chia một mãnh đất bằng nhau
(khoảng 20 ha).
+ Người Đôrian chủ trương duy trì tổ chức công xã thị tộc để th ống trị nh ững
người có trình độ văn hoá cao hơn mình.
- Sau khi đã củng cố vững chắc nền thống trị ở vùng Lacôni, gi ữa th ế k ỷ 8 TCN,
người Đôrian lại xâm nhập sang vùng đồng bằng Métxini và biến toàn bộ dân
cư ở đây thành nô lệ, gọi là nô lệ Hillôt.
- Lúc này, trong xã hội Spac hình thành 3 hạng người khác nhau:
+ Người Spac (người Đôrian): là giai cấp thống trị, công việc của họ là cai tr ị
và đánh giặc. Họ không phải lao động, tuy nhiên họ được nô lệ Hillôt nuôi
sống bằng việc nộp lại ½ số hoa màu thu hoạch được trên phần đất được
công xã chia. (người Spac không được quyền sở hữu mãnh đất mà họ được
chia, họ chỉ được quyền hưởng hoa lợi thu trên mãnh đất đó). Toàn bộ đất
đai và nô lệ thuộc quyền sở hữu chung của nhà nước.
+ Người Pêriet: là người Akêan bị chinh phục, họ là người tự do, có ru ộng đ ất
để cày cấy và tài sản riêng, nhưng không có quy ền lợi về chính trị và không
được quyền kết hôn với người Spac. Họ phải cống nạp và đi lính cho ng ười
Spac, nhưng trong quân đội họ được tổ chức thành đội ngũ riêng.
+ Người Hillôt: là nô lệ chung của cả xã hội người Spac, h ọ không l ệ thu ộc
vào cá nhân chủ nô nào. Họ phải cày cấy trên những cánh đồng của người
Spac và nộp ½ sản phẩm thu hoạch, phần còn lại h ọ được quy ền gi ữ lại
làm tài sản, (thân phận của họ giống nông nô trong thời kỳ phong kiến hơn).

 Tổ chức bộ máy nhà nước

- Hai Vua:
+ Đồng thời là thành viên của Hội đồng trưởng lão.
+ Chức vụ này theo chế độ thế tập, được tôn kính hết mực.
+ Tuy nhiên, quyền lực của nhà Vua bị hạn chế nhiều. Thời bình, vua ch ỉ lo
việc tế lễ và xét xử; thời chiến, thì thống lĩnh quân đội.
- Hội đồng trưởng lão:
+ Gồm 30 vị bô lão từ 60 tuổi trở lên, là những quý tộc danh vọng nh ất trong
hàng ngũ quý tộc Spac.
+ Đây là cơ quan soạn thảo pháp luật và thảo luận trước mọi vấn đề trước khi
đưa ra quyết định tại Đại hội nhân dân.
- Đại hội nhân dân:
+ Thành viên của đại hội gồm những công dân nam, người Spac từ 30 tu ổi tr ở
lên.
+ Đại hội chỉ được tổ chức khi có lệnh triệu tập của nhà vua.
+ Về hình thức, đây là cơ quan có quyền lực cao nh ất, có quy ền thông qua
những văn bản luật do Hội đồng trưởng lão soạn th ảo, có quy ền phê chu ẩn
những nghị quyết của Hội đồng trưởng lão. Tuy nhiên, khi thông qua nh ững
vấn đề này, đại hội nhân dân không được quy ền bàn b ạc, th ảo lu ận, h ọ ch ỉ
được quyền biểu quyết bằng cách hô to : “Đồng ý” hay “Phản đối” hoặc đối
với những vấn đề quan trọng thì được biểu quyết bằng cách xếp hàng. Do
đó, Đại hội nhân dân chỉ có quyền lực vể mặt hình thức, trên th ực t ế, quy ền
lực thuộc về Hội đồng trưởng lão.
- Hội đồng 5 quan giám sát:
+ Về sau, do mâu thuẫn quý tộc và bình dân Spac ngày càng gay g ắt, th ể hi ện
thông qua mâu thuẫn giữa Hội đồng trưởng lão và Đại h ội nhân dân. Giai
cấp quý tộc Spac (Hội đồng trưởng lão) nắm quyền lực thực tế (quyền phân
chia ruộng đất, quyền lực kinh tế…) nên trong cuộc đấu tranh này, giai c ấp
quý tộc Spac bảo vệ quyền lợi cho mình bằng cách thành lập một cơ quan
mới, có nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ chế độ chiếm hữu nô lệ, bảo vệ nền
cộng hoà quý tộc chủ nô, cơ quan đó là Hội đồng năm quan giám sát.

+ Thành viên của cơ quan này là những quý tộc bảo thủ nh ất, danh v ọng nh ất
của giai cấp quý tộc.
+ Có chức năng và quyền hạn rất lớn, là cơ quan lãnh đạo tối cao, nhằm tập
trung quyền lực vào tay giai cấp quý tộc chủ nô:
• Giám sát vua, hội đồng trưởng lão.
• Triệu tập và chủ trì cuộc họp hội đồng trưởng lão, hội nghị công dân.
• Giải quyết mọi công việc quan trọng (ngoại giao, tài chính, tư pháp…)
• Kiểm tra tư cách công dân.

 Nhận xét

- Qua tổ chức bộ máy nhà nước, chúng ta có th ể kh ẳng định rằng nhà n ước Spac
là nhà nước được tổ chức theo hình thức chính thể Cộng hoà Quý tộc Chủ nô.

b. Thành bang Aten

 Tổ chức xã hội
- Aten là một thành bang gồm 4 bộ lạc chung sống với nhau trên vùng đ ồng b ằng
Attic.
- Ban đầu nhà nước Aten cũng được tổ chức theo chính th ể Cộng hoà Quý t ộc
Chủ nô, quyền lực tập trung vào tay giai cấp quý t ộc th ị t ộc (quý t ộc ru ộng
đất).
- Khi kinh tế phát triển, đặc biệt là kinh tế công thương nghiệp dần dần chi ếm
vai trò chủ đạo thì thế lực của quý tộc chủ nô công thương cũng d ần phát tri ển
theo. Họ liên kết với nông dân tự do đấu tranh với giai cấp quý tộc th ị tộc đ ể
nắm quyền lực chính trị.
- Giai cấp quý tộc thị tộc buộc phải nhượng bộ, chấp nh ận một vài đ ại di ện c ủa
quý tộc công thương được đứng trong hàng ngũ quan lại. Thông qua cải cách xã
hội, các vị quan chấp chính này dần dần chuyển nền cộng hòa quý tộc chủ nô
thành nền cộng hoà dân chủ chủ nô.
+ Cải cách của Xôlông:
Năm 594 TCN, Xôlông, một đại biểu của tầng lớp quý tộc công thương
nghiệp được bầu vào chức quan chấp chính. Trong th ời gian đương nhi ệm, ông
thựa hiện cải cách mang lại dân chủ cho rộng rãi dân chúng, xoá b ỏ đ ặc quy ền
của quý tộc thị tộc:
• Bãi bỏ nợ nần cho dân chúng, nhổ hết các thể cầm cố ruộng đ ất, tr ả
ruộng đất cho nông dân tự do, cấm việc biến dân tự do thành nô l ệ vì n ợ.
Điều này làm cho lực lượng của dân tự do đông hơn và c ủng c ố đ ược địa
vị của mình, do đó, sau này dân tự do là lực lượng ủng h ộ cho quý t ộc
mới thực hiện các cuộc cải cách sau này.
• Thành lập Hội đồng 400 người. Mỗi bộ lạc được cử 100 người thuộc
đẳng cấp 1,2,3 tham gia vào hội đồng này. Hội đồng này có quyền tư vấn
cho Quan chấp chính, soạn thảo những nghị quyết trước khi đưa ra bàn
bạc, quyết định tại Hội nghị công dân; giải quyết các công việc thường
ngày khi Hội nghị công dân không họp.
• Căn cứ theo tài sản, Xôlông chia dân cư thành 4 đẳng c ấp. Ng ười dân
được hưởng quyền chính trị tương ứng với đẳng cấp của mình (xoá bỏ
đặc quyền của quý tộc thị tộc):
 Đẳng cấp 1: gồm những người có thu nhập hàng name từ 500
mêđim thóc trở lên (1 mêđim = 52,5 lít). Đẳng cấp này đ ược h ưởng
đầy đủ quyền chính trị, được ứng cử vào các chức quan cao cấp
(quan chấp chính, thành viên hội đồng trưởng lão…)và có nghĩa vụ
cung cấp tiền của cho nhà nước để xây dựng các hạm đội, các
công trình công cộng,…
 Đẳng cấp 2: thu nhập hàng name từ 300 đến 500 mêđim thóc
 Đẳng cấp 3: thu nhập hàng name từ 200 đến 300 mêđim thóc.
Đẳng cấp 2 và 3 được quyền ứng cử vào hội đồng 400 người.
 Đẳng cấp 4: có ít hoặc không có ruộng đất, đẳng cấp này ch ỉ đ ược
quyền tham gia vào hội nghị công dân, không được quy ền tham gia
vào các cơ quan khác.
• Thành lập toà án công dân. Tại toà án này, mọi công dân đ ếu được quy ền
bào chữa và kháng án.

+ Cải cách của clixten:
• Bỏ 4 bộ lạc cũ và chia dân cư theo 3 khu vực. Mỗi khu v ực chia thành 10
phân khu, và cứ 3 phân khu hợp lại thành một liên khu. Như vậy, ở aten
lúc bấy giờ có tất cả là 10 liên khu.
• Vì 4 bộ lạc trước kia không cón nữa , do đó hội đồng 400 người cũng bị
huỷ bỏ theo. Thay vào đó, clixten thành lập hội đồng 500 người. M ỗi
một liên khu sẽ cử 50 người tham gia, không kể thuộc đẳng cấp nào.
• Thành lập Hội đồng 10 tướng lĩnh
• Để bảo vệ nền Cộng hoà Dân chủ và chống lại âm mưu thiết lập nền
độc tài nên Clixten cón đặt ra luật bỏ phiếu bằng vỏ sò. Theo đó, nếu ai
bị ghi tên trên hơn 6000 vỏ sò, tức bị hơn 6000 ý kiến cho là có âm mưu
thiết lập nền độc tài thì sẽ bị trục xuất ra khỏi Hy L ạp trong vòng 10
năm.
• Bên cạnh đó, ông còn khuyến khích mọi người tham gia bảo vệ ch ế độ
dân chủ bằng cách khen thưởng hoặc sẽ giải phóng thân phận cho nô lệ
thành kiều dân hoặc từ kiều dân được công nhận là công dân Aten.
+ Cải cách của Pêriclet:
• Trả lương cho những người tham gia vào cơ quan nhà nước. Điều này
tạo điều kiện cho dân nghèo có thể tham gia quản lý nhà nước.
• Thay chế độ bầu bằng chế độ bóc thăm để chọn ra nhân viên nhà nước.

 Tổ chức bộ máy nhà nước:

- Hội nghị công dân:
+ Thành viên: toàn thể công dân nam người aten (có cha và mẹ đều là người
aten) từ 18 tuổi trở lên.
+ Hoạt động và quyền hạn:
• Cứ 10 ngày họp 1 lần. Trong buổi họp, các công dân có quyền tự do bàn
bạc, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng, bầu những ch ức
quan cao cấp, giám sát các cơ quan khác thông qua các đ ạo lu ật, ban ho ặc
tước quyền công dân…
- Hội đồng 500 người:
+ Chia thành 10 ủy ban. Một ủy ban gồm 50 người cua một liên khu, hoạt
động trong thời gian 1/10 năm tức 36 đến 39 ngày. Tên của các thành viên
của ủy ban này được lập thành một danh sách và theo danh sách đó, m ọi
người theo thứ tự của bản danh sách đảm nhiệm chức vụ chủ tịch ủy ban
một ngày.
+ Quyền hạn, nhiệm vụ:
• Thi hành những quyết nghị của hội nghị công dân
• Giải quyết những vấn đề quan trọng giữa hai kỳ họp của hội nghị công
dân.
• Giám sát công việc của các viên chức nhà nước
• Quản lý tài chính
• Thảo luận những vấn đề quan trọng trước khi trình ra quy ết đ ịnh tại h ội
nghị công dân.
- Hội đồng 10 tướng lĩnh:
+ Thành viên của hội đồng này không được cấp lương và được bầu ra t ại h ội
nghị công dân bằng cách biểu quyết giơ tay.
+ Quyền hạn, nhiệm vụ: thống lĩnh quân đội, chịu sự giám sát của h ội ngh ị
công dân.
- Toà bồi thẩm:
+ Là cơ quan xét xử và giám sát tư pháp cao nhất.
+ Mọi công dân nam từ 30 tuổi trở lên được quyền ứng cử để trở thành th ẩm
phán. Hội nghị công dân sẽ bầu ra các thẩm phán bằng cách bỏ phiếu.

 Nhận xét:

- Bộ máy nhà nước của Aten được tổ chức theo nguyên tắc tập trung quy ền lực
vào hội nghị công dân, nghĩa là dành cho toàn thể công dân Aten quy ền dân ch ủ.
Do đó, có thể kết luận rằng nhà nước Aten được tổ chức theo hình th ức chính
thể Cộng hoà Dân chủ Chủ nô.
- Tuy nhiên, nền Cộng hoà Dân chủ này còn có những hạn chế của nó, như:
+ Chỉ những công dân nam Aten (có cha và mẹ đều là người Aten) từ 18 tuổi
trở lên mới quyền tham gia vào Hội nghị công dân, còn ph ụ nữ, ki ều dân và
nô lệ thì không có quyền này. Trong khi tỷ lệ dân kiều dân và nô lệ chiếm
một con số khá lớn.
+ Các cuộc họp của Hội nghị công dân đa số đều được tổ chức tại thành Aten,
do đó, các công dân Aten sinh sống ở những vùng nông thôn xa xôi không có
điều kiện để thường xuyên tham gia Hội nghị. Chỉ có một bộ phận nhỏ công
dân Aten sinh sống tại thành Aten và các vùng nông thôn lân cận mới th ỉnh
thoảng tham gia vào cuộc họp của Hội nghị công dân. Chỉ có nh ững cuộc
họp bỏ phiếu bằng vỏ sò thì mới tập trung đông đảo công dân tham gia.

2. Nhà nước La Mã

- Viện nguyên lão:
+ Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Thành viên của Hội đồng này gồm
từ 300 đến 600 người, có lúc lên đến 900 người. Họ là những quý tộc giàu
sang, có thế lực do đại hội Xenturi bầu ra.
+ Quyền hạn, nhiệm vụ:
• Phê chuẩn các chức quan cao cấp do Đại hội Xenturi bầu ra.
• Đề ra và chỉ đạo việc thực hiện các chính sách đối nội và đối ngoại
• Điều tra sơ bộ và thành lập phiên toà xét xử đối với những vụ án quan
trọng.
• Giải thích pháp luật và kiến nghị xây dựng những đạo luật mới.
- Hội đồng quan chấp chính:
+ Gồm 2 quan chấp chính do Đại hội Xenturi bầu ra, có nhiệm kỳ 1 năm.
+ Quyền hạn, nhiệm vụ:
• Là tổng chỉ huy quân đội
• Có quyền triệu tập Viện nguyên lão và Đại hội công dân (Đại hội
Xenturi và Đại hội nhân dân)
• Chỉ đạo thực hiện những quyềt nghị của Viện nguyên lão, Đại hội công
dân.
• Sa thải các quan lại cấp dưới.
- Hội đồng quan án:
+ Ban đầu có 2 người, sau tăng lên thành7 người, do đại hội Xenturi bầu ra.
+ Nhiệm vụ, quyền hạn:
• Giải quyết những vấn đề liên quan đến dân sự, hình sự.
• Khi Quan Chấp chính vắng mặt, Hội đồng Quan án sẽ đảm nhiệm công
việc của Quan Chấp chính.
- Viện giám sát (viện quan bảo dân):
+ Được hình thành do sự đấu tranh của bình dân với quý tộc.
+ Thành viên của Viện giám sát có từ 2 đến 7 người, do Hội nghị Nhân dân
bầu ra.
+ Nhiệm vụ, quyền hạn:
• Phủ quyết những quyết nghị của Viện nguyên lão.
• Có quyền giữ và lấp phúc cung các quan lại
+ Tuy nhiên, quyền lực của các cơ quan này chỉ hạn chế ở thành ph ố, ch ưa có
hiệu quả ở những vùng nông thôn xa xôi. Quyền lực của cơ quan này mang
tính chất hình thức và hoạt động cầm chừng, không th ường xuyên, không
bảo vệ được quyền lợi cho tầng lớp bình dân.
- Đại hội công dân:
+ Đại hội Xenturi: có quyền giải quyết những vấn đề quan trọng như chiến
tranh và hoà bình, bầu ra các chức quan cao cấp
+ Đại hội nhân dân: không có thực quyền, tồn tại mang tính hình hình thức.

 Nhận xét

- Khi được bầu đảm nhiệm các chức vụ trong bộ máy nhà nước, người dân
không được trả lương mà còn phải chi một khoảng tiền nhất định cho các quan
chức cấp trên, để đóng góp cho nhà nước xây dựng các công trình công cộng,
xây dựng quân đội… do đó, dân nghèo không thể trở thành viên chức nhà nước.
- Qua bộ máy nhà nước của La Mã, chúng ta có th ể th ấy rằng quy ền l ực nhà
nước được tập trung vào Viện nguyên lão (quý tộc). Do đó, hình th ức chính th ể
của La Mã là Cộng hoà Quý tộc Chủ nô.



Bài 4
PHÁP LUẬT PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI
I. Pháp luật Hy Lạp
II. Pháp luật La Mã
1. Thời cộng hoà sơ kỳ (thế kỷ 6 đến thế kỷ 4 TCN)
a. Đặc điểm kinh tế-xã hội
- Đây là thời kỳ mà nhà nước La Mã vừa thoát thai khỏi chế độ công xã nguyên
thủy; bộ máy nhà nước mới hình thành và đang trong quá trình hoàn thiện.
- Lãnh thổ La Mã chưa vượt ra khỏi bán đảo Italia.
- Quan hệ nô lệ vẫn còn mang tính gia trưởng.
- Kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp, kinh tế hàng hoá công thương nghiệp
chưa phát triển.
b. Nội dung
- Các chế định về dân sự
+ Bộ luật 12 bảng bảo vệ quyền tư hữu bằng nhiều biện pháp, mà chủ yếu là
bằng hình phạt nghiêm khắc, dã man.
+ Trong hợp đồng vay nợ, dùng thân thể con nợ làm vật bảo đảm hợp đồng,
nếu con nợ không trả được nợ thì chủ nợ có quyền bắt giữ hoặc giết chết
con nợ.
+ Trong quan hệ hôn nhân gia đình, thừa nhận quyền gia trưởng của người
chồng, người chồng được quyền quyết định các vấn đề quan trọng trong gia
đình và đại diện gia đình trong các quan hệ xã hội. Người cha có quyền bán
con của mình làm nô lệ nhưng không quá 3 lần.
+ Trong quan hệ thừa kế, quy định hình thức thừa kế theo pháp luật và thừa kế
theo di chúc, người chết được quyền để lại thừa kế cho bất cứ người nào
(không nhất thiết phải là con của họ). Hội nghị công dân có quyền giám sát
việc chia tài sản.
- Các chế định về hình sự
+ Vẫn còn sử dụng các hình phạt mang tính dã man, tàn bạo.
+ Thừa nhận nguyên tắc đồng thái phục thù.
- Chế định tố tụng
+ Quy định thủ tục xét xử rườm rà, máy móc gây nhiếu khó khăn cho công tác
xét xử.
- Nhận xét
+ Bộ luật 12 bản còn nhiều hạn chế cả về nội dung, phạm vi điều chỉnh và
kỹ thuật lập pháp
2. Thời cộng hoà hậu kỳ (thế kỷ 3 TCN – thế kỷ 1)
(Gồm cả thời cộng hoà hậu kỳ và thời kỳ quân chủ)
a. Đặc điểm kinh tế xã hội
- Lãnh thổ của đế quốc được mở rộng.
- Kinh tế hàng hoá phát triển mạnh
- Quan hệ nô lệ phát triển và mang tính chất điển hình.
b. Nội dung
- Nguồn
+ Tập quán pháp
+ Quyết định của hoàng đế la mã
+Quyết định của toà án các cấp
+Quyết định của viện nguyên lão
+Quyết định của quan thái thú các tỉnh
+Các công trình nghiên cứu, công trình hệ thống hoá pháp luật của các luật gia
la mã.
- Các chế định dân sự
+ Đưa ra khái niệm quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng định
đoạt; quy định căn cứ xuất phát, nội dung,… của các quyền này.
+ Khi quy định về hợp đồng, pháp luật đưa ra điều kiện và phân loại hợp
đồng, quy định quyền và nghĩa vụ của hai bên khi không thực hiện hợp
đồng.
• Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
 Do sự thoả thuận của 2 bên tham gia hợp đồng.
 Phù hợp với quy định của pháp luật
• Phân loại hợp đồng
 Hợp đồng thực tại: quyền và nghĩa vụ của các bên chuyển giao tại
thời điểm giao vật. Loại này gồm các hợp đồng bảo quản, vay mượn.
 Hợp đồng thoả thuận: quyền và nghĩa vụ của các bên chuyển giao tại
thời điểm ký hợp đồng. Loại này gồm hợp đồng mua bán, cho thuê
sức lao động, súc vật, nhà cửa, ruộng đất…
• Nếu một bên vi phạm hợp đồng thì phải thực hiện trái vụ (bồi thường
hợp đồng). Biện pháp để bảo đảm trái vụ: cầm cố vật, sự bảo lãnh của
người trung gian. Trái vụ sẽ chấm dứt khi:
 Hai bên thoả thuận chuyển khoản nợ cũ sang trái vụ mới.
 Người chủ nợ từ chối quyền đòi hỏi của mình
 Hết thời hiệu đưa đơn kiện
 Người mắc nợ gặp thiên tai, địch hoạ không thể cưỡng lại được.
+ Về quan hệ hôn nhân gia đình
• Quy định quan hệ hôn nhân một vợ một chồng, do sự tự nguyện của hai
người.
• Tài sản của vợ chồng là riêng biệt. Mọi chi phí trong thời gian chung
sống do người chồng gánh vác.
• Người vợ có quyền ly hôn chồng nếu có lý do chính đáng.
• Cha không được quyền bán con.
+ Trong quan hệ thừa kế
• Quy định hình thức thừa kế theo di chúc và theo pháp luật
• Quy định diện và hàng thừa kế theo quan hệ huyết thống trong phạm vi 6
đời.
- Các chế định hình sự
+ Hình phạt mang tính độc đoán, tàn bạo, chủ yếu là sự dụng nhục hình.
+ Tùy theo người bị phạt thuộc giai cấp nào mà hình phạt sẽ được áp dụng
khác nhau.
- Chế định tố tụng
+ Quy định việc xét xử phải do hội đồng toà án đặc biệt đảm nhiệm.
+ Trong mỗi vụ án, người ta sẽ chọn ra thẩm phán xét xử bằng các bóc thăm.
+ Các thẩm phán tiến hành bỏ phiếu để quyết định bản án.
+ Thẩm phán vừa tiến hành điều tra, vừa xét xử, kết tội, tuyên bố hình phạt.
3. Nhận xét
- Pháp luật có những phát triển vượt bậc, đưa ra nhiều khái niệm chuẩn xác, có
giá trị pháp lý cao.
- Kỹ thuật lập pháp chuẩn xác, từ ngữ rõ ràng, trong sáng.
- Điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội quan trọng, phổ biến, đặc biệt lá các
quan hệ trong lĩnh vực dân sự.

PHẦN 2
THỜI KỲ PHONG KIẾN
Bài 5

NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN PHƯƠNG TÂY

I. ĐIỀU KIỆN VÀ SỰ HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN PHƯƠNG TÂY

1. Điều kiện và sự hình thành nhà nước phong kiến phương Tây

a) Các yếu tố tác động từ bên trong

- Sự suy yếu của đế quốc La Ma

Từ thế kỷ thứ 3 đến 5 sau công nguyên, chế độ chiếm hữu nô lệ ở La Mã rơi vào kh ủng
hoảng trầm trọng. Nhiều cuộc khởi nghĩa của nô l ệ di ễn ra kh ắp n ơi m ột cách m ạnh m ẽ, làm
cho thành thị tiêu điều, ruộng vườn hoang vu, những cuộc chiến tranh cướp nô l ệ buộc ph ải
dừng lại. Do đó, nguồn nô lệ can kiệt dần, giá bán nô lệ lên rất cao nên vi ệc s ử d ụng nô l ệ v ới
quy mô lớn không còn mang lại lợi nhuận cao như trước mà còn trở nên nguy hiểm. Kinh t ế
theo đó bị đình trệ, nền kinh tế công thương nghiệp một thời phát triển cũng nhanh chóng suy
sụp, cư dân thành thị thưa thớt dần, mối liên hệ kinh tế giữa các vùng trong đ ế qu ốc không còn
chặt chẽ như trước nữa. Trong khi đó, ở phía đông, nhờ sự liên hệ với các n ước ph ương đông
nên kinh tế còn có thể phát triển hơn ở phía tây. Năm 330, Hoàng đế Conxtantinut quy ết đ ịnh
dời đô sang miền đông. Năm 395, hoàng đế Têôdôdiut chia đế quốc La Mã thành 2 qu ốc gia
riêng biệt: Đông La Mã và Tây La Mã.

- Quan hệ sản xuất phong kiến xuất hiện ở Tây La Mã

Ở Tây La Mã, quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ tỏ ra không còn phù hợp. Nh ững m ầm
mống của quan hệ sản xuất phong kiến dần dần hình thành, mà bi ểu hi ện c ụ th ể c ủa quá trình
đó thể hiện qua 2 mặt:
 Lãnh địa hóa toàn bộ ruộng đất trong xã hội.
 Nông nô hóa giai cấp nông dân.
Hai mặt này diễn ra song song nhau, đan xen lẫn nhau, chứ không phải lãnh địa hoá ruộng
đất xong mới nông nô hoá giai cấp nông dân.
- Như phần trên đã đề cập, các chủ nô lớn không th ể sử d ụng nô l ệ v ới quy mô l ớn tham
gia sản xuất trên phần đất của mình. Họ bắt đầu chia đất của mình ra 2 phần:
+ Phần nhỏ hơn (1/3)do chủ đất trực tiếp quản lý,
+ Phần lớn hơn (2/3) họ lại chia thành nhiều mãnh nhỏ, phát canh cho nh ững nông
dân tự do thậm chí cho cả nô lệ của mình. Những người này lĩnh canh ruộng
đất và có nghĩa vụ nộp lại cho chủ đất một khoảng tiền hay hi ện v ật (g ọi là
địa tô); ngoài ra, họ còn phải đến lao động không công trên ph ần đ ất của ch ủ
đất trong một số ngày nhất định (gọi là tô lao d ịch). Những người lĩnh canh
ruộng đất như vây gọi là “Lệ nông”. Họ chính là ti ền thân của nông nô trong
thời kỳ phong kiến.
- Trong thời kỳ này, xã hội La Mã vẫn còn tồn tại một số nông dân tự do. Tr ước n ạn c ướp
bóc hoành hành khắp nơi, họ không thể tự bảo vệ cho mình, nhà n ước La Mã thì đã quá
suy yếu cũng không thể bảo vệ được cho họ, họ lâm vào tình c ảnh khó khăn, nguy c ơ b ị
cướp đất, trắng tay ngày càng hiện hữu. Trong khi đó, lợi dụng tình trạng hổn lo ạn c ủa
xã hội và địa vị của mình, các chủ đất lớn tổ chức quân đội riêng để bảo vệ ruộng đ ất,
giữ gìn an ninh trật tự trong phần đất của mình. Do đó, nh ững nông dân t ự do th ường tìm
đến những chủ đất này xin được bảo hộ bằng cách biến đất của mình thành đất c ủa ch ủ
đất rồi lĩnh canh lại phần đất đó, và trở thành lệ nông. Do đó, đất đai của những chủ
đất lớn ngày càng lớn hơn. Dần dần, chúng nắm cả quyền thu thu ế, l ập toà án
riêng và nhà tù, thế lực của chúng ngày càng mạnh, có xu h ướng thoát ly s ự ki ểm
soát của chính quyền trung ương. Nếu chúng ta xem những lệ nông là tiền thân của
nông nô thời trung cổ thì cũng có thể xem những tên ch ủ đất này là ti ền thân c ủa các lãnh
chúa phong kiến tương lai.

Như vậy, trong xã hội lúc bấy giờ đã hình thành 2 giai cấp ti ền thân c ủa giai c ấp đ ặc
trưng cho chế độ phong kiến là địa chủ và lệ nông. Phương thức bóc lột s ức lao đ ộng trong
thời kỳ này cũng đã thay đổi và chuyển sang phương thức bóc lột của chế độ phong kiến là “địa
tô”.

b) Các yếu tố tác động từ bên ngoài

Bên cạnh đó, ở phía đông đường biên giới sông Ranh và sông Đanuyp của đế quốc La Mã
là địa bàn cư trú của người Giecmanh gồm nhiều tộc người nh ư người Iaraniêng, người Frăng,
… Lúc này, họ vẫn đang sống trong thời kỳ công xã th ị tộc mạt kỳ, nên ng ười La Mã g ọi h ọ là
“Man tộc”.
Từ thế kỷ 5, những Man tộc này tràn vào chinh phục đế quốc Tây La Mã và giành đu ợc
một vai chiến thắng có ý nghĩa quan trọng. Chiến thắng này làm cho xã h ội ng ười Giecmanh
cũng như xã hội của người La Mã có nhiều thay đổi lớn.
- Khi chinh phục được những người La Mã có trình độ văn hoá, xã h ội cao h ơn mình,
người Giecmanh không thể dung nạp họ vào các tập đoàn thị tộc của họ, cũng
không thể dùng những tập đoàn này để quản lý ho . Do đó, các cơ quan quản lý thị tộc
buộc phải nhanh chóng chuyển hoá thành những cơ quan nhà n ước phù h ợp đ ể th ống tr ị,
quản lý được những người La Mã. Nhà nước đó không thể là nhà nước chiếm hữu nô
lệ, vì hình thức nhà nước này đã tỏ ra không còn phù h ợp trong xã h ội ng ười La Mã. L ực
lượng sản xuất đã phát triển đến một giai đoạn mới, dần trở thành lực lượng s ản xuất
của chế độ phong kiến. Do đó, buộc các quan hệ sản xuất cũng như kiến trúc thượng
tầng cũng phải phù hợp theo. Cho nên, nhà nước mà người Giecmanh có thể thành
lập để quản lý được người La Mã chỉ có thể là nhà nước phong kiến . Do tình thế
thúc đẩy nên các cơ quan của tổ chức thị tộc người Giecmanh chuy ển hoá hành c ơ quan
nhà nước rất nhanh chóng. Trong quá trình chuyển hóa này, các th ủ lĩnh quân s ự đo ạt l ấy
quyền lực, thay thế cho các tù trưởng bộ lạc, lại được sự ủng hộ của lực lượng quân đội
nên đã trở thành vua với quyền lực tối cao. Nhà vua tuyên bố tất cả đất đai chiếm được
đều thuộc sở hữu của vương triều và đem đất đai đó phong t ặng cho nh ững tùy tùng c ủa
mình như các quý tộc quân sự, quý tộc thị tộc, tăng l ữ, nh ững quan ch ức La Mã cũ nh ận
giúp chính quyền mới và cả những bình dân nô lệ được giải phóng để phục vụ cho nhà
vua.như vậy, người giecmanh đã xây dựng nhà nước phong kiến với hình th ức quân ch ủ
chuyên chế trên đất nước Tây La Mã.
- Về phần xã hội Tây La Mã, đang manh nha phát triển thành xã h ội phong ki ến thì xu ất
hiện cuộc chiến của các tộc người Giecmanh, đóng vai trò như nhân tố xúc tác làm cho
xã hội chuyển biến sang xã hội phong kiến một cách nhanh hơn, dứt khoát hơn.

Cùng với sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã, Nhiều vương quốc của người Giecmanh
được thành lập như: Vương quốc Vidigôt; Vương quốc Frăng; Vương quốc Buôcgiôngđơ;
Vương quốc Anglô - Săcxông; Vương quốc Xuyevơ; Vương quốc Ôxtrôgôt; V ương quốc
Lôngba...
Tuy nhiên, phần lớn các vương quốc này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Chỉ có Vương
quốc Frăng tồn tại lâu dài và có ảnh h ưởng mạnh mẽ đến lịch s ử Tây Au trong su ốt giai đo ạn
sơ kỳ của chế độ phong kiến.

2. Kết cấu xã hội

Trong xã hội lúc này, đã hình thành nên 2 giai cấp cơ bản: đại địa ch ủ – chi ếm h ầu h ết
ruộng đất, là giai cấp thống trị; nông nô – không có ru ộng đất và l ệ thu ộc vào lãnh chúa, là giai
cấp bị trị.
 Giai cấp thống trị
Chia thành 2 loại: lãnh chúa thế tục (ph ần nhiều xuất thân từ t ầng l ớp võ sĩ) và lãnh chúa
tăng lữ. Hai loại này lại chia thành nhiều thang bậc khác nhau t ạo nên m ột h ệ th ống đ ẳng c ấp
phong kiến.
• Lãnh chúa thế tập
- Đứng đầu trong hệ thống này là Vua. Dưới Vua gồm có những cận thần là Công
tước và Bá tước, nhận đất trực tiếp từ Vua. Như vậy, Vua là lãnh ch ủ, còn Công
tước và Bá tước là thần thuộc của nhà vua.
- Đến lượt mình, Công tước, Bá tước cấp ruộng đất lại cho các th ần th ụôc c ủa
mình (Nam tước và Kỵ sĩ) và trở thành lãnh chủ của họ.
- Ngoài ra, các Nam tước và Kỵ sĩ có thể có thần thuộc riêng, gọi là Tiểu Kỵ sĩ.
Trên phần đất đã phong cho Công tước và Bá tước, nhà Vua không có quy ền h ạn gì
nữa, kể cả các thần thuộc của họ cũng không được xem là thần thuộc của nhà Vua.
Như vậy, giai cấp phong kiến đã hợp thành những bậc thang phong ki ến, trong đó,
mỗi thành viên của chế độ này trong quan hệ với cấp trên là thần thuộc, trong quan h ệ
với cấp dưới là lãnh chủ. Dần dần đất phong ấy được thế tập và truyền lại cho người
con trai trưởng, nhưng vẫn là thần thuộc của lãnh chủ.
Về nguyên tắc, thần thuộc phải phục tùng lãnh chủ, phải tham gia vào nh ững cu ộc
chiến của lãnh chủ, tham gia những hội nghị do lãnh chủ triệu tập. Còn lãnh chủ có nghĩa
vụ giúp đỡ thần thuộc, bảo vệ ruộng đất cho thần thuộc.
• Bọn lãnh chúa tăng lữ cũng chia ra nhiều đẳng cấp: đại giáo ch ủ, giáo ch ủ, giáo ph ụ
các tu viện đều là những đại lãnh chủ có nhiều thần thuộc không thua gì các lãnh chủ thế
tục.
 Giai cấp bị trị
Giai cấp nông nô là người trực tiếp sản xuất và đ ối t ượng bóc l ột ch ủ y ếu trong xã
hội phong kiến. Học có nguồn gốc là những nô lệ, lệ nông, và nông dân tự do.
- Về kinh tế, nông nô được lãnh chúa giao đất để cày cấy, nộp tô cho chủ, có thể là tô
lao dịch, tô hiện vật hay tô tiền. Ngoài ra, còn nộp nhiều thứ thuế như: thuế xay bột,
thuế nước, thuế qua cầu, qua đò… nếu là tín đồ cơ đốc giáo, họ còn phải nộp thuế
1/10 và nhiều khoản khác thường khác.
- Về chính trị, nông nô chưa hoàn toàn mất tự do. Họ có gia đình riêng, tài sản riêng.
Lãnh chúa có thể mua bán nông nô nhưng không được tuỳ tiện giết nông nô như chủ
nô giết nô lệ, tuy vậy họ vẫn có quyền đánh đập nông nô miễn không nguy hại đến
tính mạng. Tuy họ phải làm việc cho chủ, nộp một phần lớn hoa lợi cho ch ủ nh ưng
họ được giữ lại một phần thu hoạch cho mình . Vì thế họ có hứng thú hơn nô lệ
trong lao động sản xuất, do đó, lao động của họ có năng suất cao hơn so với nô lệ.
- Tuy nhiên, nông nô bị trói chặt vào ruộng đất , họ không thể tự tiện rời bỏ ruộng đất
mà chủ giao cho, thậm chí con cháu họ cũng phải kế th ừa mãnh đất ấy đ ể ti ếp t ục
làm nông nô cho lãnh chúa. Bên cạnh đó, nông nô không có quyền tự do kết hôn , mà
phải có sự đồng ý của lãnh chúa. Nếu nữ nông nô lấy chồng là nông nô c ủa lãnh chúa
khác, thì phải nộp một khoảng tiền phạt, gọi là tiền ngo ại hôn, con cái c ủa h ọ sinh ra
phải chia cho cã 2 lãnh chúa.
 Ngoài 2 giai cấp cơ bản trên, trong xã hội phong kiến còn có t ầng l ớp tiểu nông, là
những nông dân có chút ít ruộng đất. Tuy nhiên, đời s ống c ủa h ọ rất bấp bênh, luôn b ị b ọn quý
tộc chèn ép, có nguy cơ bị phá sản và mất đất để trở thành nông nô.

II. CÁCH THỨC TỔ CHỨC QUYỀN LỰC.

Cách thức tổ chức quyền lực của nhà nước phong kiến phương tây phù hợp với từng giai
đoạn phát triển của nó, cụ thể gồm các hình thức sau đây:
- Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền trong các vương quốc ở giai
đoạn phong kiến sơ kỳ (điển hình là Vương quốc Frăng);
- Chế độ tự quản trong các thành thị giành được quyền tự trị (thế kỷ 12-14);
- Nền quân chủ đại diện đẳng cấp (thế kỷ 14-15) khi quyền lực của nhà vua suy yếu, và
tỏ ra mâu thuẫn với quyền lợi của các lãnh chúa phong kiến nhưng lại được s ự ủng h ộ
của thị dân và kỵ sĩ. Do đó, nhà vua dung nạp cả nh ững đại bi ểu c ủa th ị dân và k ỵ sĩ vào
các kỳ đại hội quan trọng, bên cạnh tăng lữ và quý tộc.
- Nền quân chủ chuyên chế vào giai đoạn suy yếu của chế độ phong kiến (thế kỷ 15-16),
khi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa xuất hiện. Do cần có một th ị tr ường r ộng l ớn và
thống nhất, cần có một chính quyền mạnh để bảo hộ kinh doanh sản xuất và buôn bán,
giai cấp tư sản đã liên minh và gíup đỡ nhà vua, ch ống lại bọn lãnh chúa phong ki ến cát
cứ và xây dựng nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền.




1. VƯƠNG QUỐC FRĂNG

a) Quá trình phát triển của Vương quốc Frăng

Trong số các quốc gia Man tộc xây dựng ở Tây Au vào thời kỳ đầu của ch ế đ ộ phong
kiến ở Tây âu, vương quốc Frăng là lớn mạnh nhất. Có ảnh hưởng sâu sắc nh ất đối với các
nước Tây Âu sau này.
Vương quốc Frăng trải qua 3 giai đoạn phát triển chủ yếu sau:

 Triều đại Mêrôvanhgiêng

Năm 486, Clovic, là một thủ lĩnh liên quân người Frăng, ông liên k ết v ới nhi ều liên minh
khác đánh bại quân La Mã. Năm 507, Hoàng đế của đế quốc Đông La Mã cử Clôvic giữ ch ức
Chấp chính quan, nghĩa là Clôvic được công nhận là quốc v ương c ủa c ả n ước Frăng. M ở đ ầu
triều đại Mêrôvanhgiêng.
Do còn chịu ảnh hưởng của phong tục tập quán trong xã hội công xã nguyên thủy, khi vua
cha mất, quốc gia được đem chia đều cho những người con trai, hình thành nên các qu ốc gia
nhỏ, tranh chấp với nhau. do đó, lãnh thổ của vương quốc Frăng c ứ th ống nh ất r ồi l ại b ị phân
chia, thống nhất, phân chia...
Khi quyền lực của nhà vua suy yếu, th ế lực của các quý t ộc tăng lên , ng ười n ắm th ực
quyền trong cả nước là các Tể tướng hay vị quan tổng quản của triều đình.




• Triều đại Carôlanhgiêng

Năm 714, Saclơmacten giữ chức Tể tướng. Khi làm Tể tướng, ông lập được nhiều công cho
quốc gia bằng cách đấu tranh vũ trang, thống nhất toàn bộ vương quốc Frăng hùng mạnh xưa
kia và mở rộng thêm lãnh thổ.
Năm 737, khi Quốc vương của gia tộc Mêrôvanhgiêng chết, triều đình không lập vua mới.
Vương quốc Frăng do Saclơmacten thống trị.
Năm 741, Saclơmacten bị bệnh chết. Ông chia lãnh th ổ của mình cho 2 đ ứa con, Caloman và
Pepin lùn. Năm 751, Pepin lùn được cử làm vua, mở đầu cho vương triều Carôlanhgiêng.
Năm 768, Pepin lùn chết. Con ông là Salơ đã thống nh ất cả vương quốc Frăng và còn m ở
rộng vương quốc ra gấp đôi, bao gồm cả các nước Pháp, Đức, Hà Lan, B ỉ, Ao, Ý và m ột ph ần
của Tây Ba Nha ngày nay. Do vậy, ông được xem nh ư là v ị đ ại đ ế Sacl ơ hay Sacl ơmanh ơ
(Charlemagne).

• Giai đoạn suy yếu của Frăng và tình trạng phân quyền cát cứ

Năm 824, Saclơmanhơ chết, người con trai của ông là Louis ngoan đạo lên ngôi nh ưng ông
chỉ suốt ngày lo việc tôn giáo mà không lo việc triều chính. Chính vì v ậy, trong 3 năm lên ngôi,
Louis ngoan đạo đem đất nước chia cho 3 đứa con của mình, đó là: Lothair, Pepin, Louis.
Nhưng đến năm 829, Louis ngoan đạo phủ nhận quyết định nói trên để cắt m ột ph ần đ ất
cho người con trai của bà vợ sau là Saclơ hói. Ba người con trai của Louis ngoan đạo đều không
đồng ý, thế là cha con họ đã tiến hành một cuộc nội chiến kéo dài gần 10 năm.
Năm 840, Louis ngoan đạo chết, ba năm sau cả ba anh em họ ngồi l ại với nhau đ ể ký hoà
ước Vecđoong (Verdun). Theo hoà ước này, ba người con trai của Louis ngoan đạo sẽ chia nhau
cai trị lãnh thổ vương quốc Frăng, tạo thành 3 nước Đức, Pháp và Ý ngày nay.

b) Đặc điểm bộ máy nhà nước

• Mêrôvanh giêng
Bộ máy nhà nước được tổ chức còn rất thô sơ.
 Ở Trung ương
- Đứng đầu bộ máy nhà nước là Vua;
- Bên dưới vua là các quan lại cao cấp phụ trách các việc như quân sự, tư pháp, tài
chính, văn thư, kho rượu… song sự phân công ấy chưa thật rõ ràng và cố định.
Ví dụ: Quan Chưởng ấn hoặc Thị vệ có khi làm cả nhiệm vụ ngo ại giao ho ặc
quân sự; Quan thống chế có khi phụ trách cả việc ăn uống hoặc tiệc tùng…
- Ngoài ra còn có các viên quan quản lý trông coi các trang viên c ủa nhà vua .
Đứng đầu và quản lý các viên quan này là quan quản lý cung đình, tức Tể tướng.
Trong thời kỳ vua lười, Tể tướng là người cầm quyền thực tế.

• Đến thời Carôlanhgiêng

Trong thời kỳ của vương triều Carôlanhgiêng, quan trọng nhất là thời kỳ trị vì c ủa
Saclơmanhơ, bộ máy nhà nước của vương quốc Frăng ngày càng hoàn chỉnh hơn
- Đứng đầu bộ máy nhà nước vẫn là Vua
- Bộ máy quan lại dưới Vua là các chức: Thừa tướng, Tổng Giám mục và Đại thần cung
đình.
+ Thừa tướng giữ chức vụ bí thư và chưởng ấn của nhà vua.
+ Tổng Giám mục quản lý giáo sĩ trong cả nước.
+ Đại thần cung đình thì gần giống như quan Tể tướng trước kia, có nhiệm vụ quản
lý các công việc hành chính của triều đình.
Chức tể tướng trước kia đến thời kỳ này bị bãi bỏ.
- Bên dưới có các quan lại khác như: Quan Thống chế, Quan Chánh án, Quan coi quốc
khố, Quan quản lý kho rượu…

 Ở địa phương :

- Ở thời kỳ Mêrôvanhgiêng, cả nước chia thành nhiều đơn vị hành chánh địa ph ương. Đứng
đầu mỗi đơn vị đó là Quan Bá tước nên đơn vị hành chính này còn được gọi là “ Khu quản
hạt Bá tước”.
Quyền hạn của Bá tước :
+ Các bá tước được toàn quyền về hành chính, tư pháp, tài chính, quân sự ở địa
phương.
+ Họ được nhà vua ban cho một số ruộng đất và giữ lại 1/3 tiền án phí.
- Từ thời Saclơmanhơ trở về sau, quan hệ giữa vua và các bá tước trở thành quan hệ giữa tôn
chủ và bồi thần. Dần dần, chức vụ này (Bá tước) biến thành cha truyền con nối.

 Ở các vùng biên giới :

Từ thời Carôlanhgiêng, vua còn thành lập những đơn vị hành chính đặc biệt ở các biên
giới, gọi là Biên trấn. Ở đây, nhà vua cho xây dựng những pháo đài kiên cố nhằm mục đích
phòng ngự các cuộc chiến tranh từ bên ngoài và làm căn cứ đ ể ti ến hành chi ến tranh xâm l ược
mở rộng lãnh thổ.
Đứng đầu biên trấn là : Bá tước, hoặc Hầu tước, hoặc Công tước.
 Ngoài ra, nhà vua thường cử những đoàn khâm sai để quản lý tình hình ở địa
phương, mỗi đoàn thường gồm hai người.
Nhiệm vụ quyền hạn của quan khâm sai:
- Để kiểm tra việc thực hiện các sắc lệnh của nhà Vua.
- Xử lý các hành vi lạm dụng quyền hạn của các quan lại địa phương.
- Giải quyết những vụ khiếu tố trong nhân dân đối với Bá tước hoặc Giáo chủ ở địa
phương.

 Tòa án :

+ Ở trung ương:
- Cơ quan tư pháp có thẩm quyền xét xử là tòa án của nhà vua.
- Thành phần xét xử: là các pháp quan gồm chánh án và bồi thẩm – do nhà vua chỉ định.



+ Ở địa phương:
- Lúc đầu, quyền xét xử thuộc về những người dân tự do . Lúc nhà nước Frăng mới được
xây dựng, người dân được tham gia bồi thẩm và được cử nh ững đại bi ểu c ủa mình làm
thẩm phán nhưng chẳng bao lâu, khi nông dân bị nông nô hoá, quyền hạn ngày càng tập
trung vào tay các bá tước thì tình trạng này bị bãi bỏ.
- Về sau, quyền tư pháp thuộc tay bá tước.
+ Ngoài ra, các đoàn khâm sai do nhà vua cử về địa phương cũng có quyền mở phiên tòa
xét xử tại chỗ.

 Quân đội

- Ban đầu, lực lượng quân đội chủ yếu của quốc gia gồm có đội thân binh của nhà vua,
lực lượng quần chúng. (Tất cả dân tự do đều có nghĩa vụ quân dịch cho nhà vua). Nh ưng do
đời sống nông nghiệp định cư , đa số nông dân không muốn rời xa ruộng đất, gia đình đ ể đi
chinh chiến nữa. Họ chấp nhận hiến ruộng đất cho địa chủ và trở thành nông nô nh ằm thoát
khỏi nghĩa vụ binh dịch. Vì vậy, giờ đây, đội thân binh của nhà vua trở thành lực lượng
quân đội chủ yếu.
- Thời Carôlanhgiêng, lực lượng quân đội chia thành 2 bộ phận:
+ Quân đội chuyên nghiệp: thường xuyên có mặt trong các trang trại quân đội, nhất
là ở các biên trấn.
+ Quân đội của bồi thần được phong đất - cùng kỵ binh của họ: Đội quân này
chỉ tập hợp lại mỗi khi có chiến tranh

c) Nhận xét

- Bằng các biện pháp như tập trung mọi quyền hành về hành chính, t ư pháp, tài chính, quân
sự… và việc bản thân mình được phong làm hoàng đế, nhà n ước Frăng tr ở thành m ột nhà n ước
quân chủ chuyên chế tập quyền.
- Thế nhưng, do chính sách phân phong ruộng đất cho các lãnh chúa phong kiến, do vua đã
giao cho các lãnh chúa phong kiến quá nhiều quyền lực trên mãnh đất của h ọ nên trong qu ốc
gia dễ xẩy ra cục diện phân quyền cát cứ.
- Đồng thời, do phong tục cha truyền con nối: Sau khi vua qua đ ời, qu ốc gia s ẽ b ị chia đ ều
cho tất cả các con trai của vua - tàn dư của chế độ công xã thị tộc. Nên sau khi lãnh th ổ v ừa
được thống nhất, thì lại phải chia cắt cho các con khi vua cha qua đ ời. Nên l ịch s ử c ủa V ương
quốc Frăng là một chuỗi dài của sự thống nhất, phân chia, thống nhất...

2. CHẾ ĐỘ TỰ QUẢN CỦA CÁC THÀNH THỊ
a) Điều kiện kinh tế, xã hội

 Điều kiện kinh tế

Đến thế kỷ thứ 11, nền kinh tế Châu Au phát triển vượt b ậc, ch ủ y ếu là trong lĩnh v ực th ủ
công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp.
- Trong thủ công nghiệp, nhiều ngành nghề mới ra đời với trình đ ộ kỹ thu ật ngày càng
hoàn thiện (luyện kim, khai mỏ, chế tạo vũ khí, thuộc da, dệt len, dạ…).
- Trong nông nghiệp, do có nhiều tiến bộ, nh ư: nông cụ được c ải ti ến, đ ồ s ắt đ ược s ử
dụng phổ biến trong xã hội, diện tích canh tác không ngừng đ ược mở rộng… làm cho
sản lượng và số lượng nông sản ngày càng nhiều đa dạng.
- Thương nghiệp do đó cũng phát triển. do thợ thủ công và nông dân đ ều t ạo ra nh ững
sản phẩm dư thừa, họ phải nhờ tới lực lượng thương nhân. Nhờ vậy, người thợ thủ
công không cần sản xuất nông nghiệp cũng có cái để ăn và người nông dân không cần
sản xuất thủ công nghiệp cũng có dụng cụ, đồ dùng … Mặt khác, nông nghi ệp còn là
nơi cung cấp nguyên vật liệu cho ngành thủ công nghiệp. Đi ều này t ạo đi ều ki ện cho
các thợ thủ công có cơ hội thoát ly hoàn toàn khỏi nông nghiệp để chuyên môn hoá
ngành nghề của mình.
Sự lao động trong xã hội lại một lần nữa được phân công, làm cho kinh tế trong xã h ội
khôi phục sau cuộc khủng hoảng của chế độ chiếm hữu nô lệ. Chính sự phân công lao đ ộng
này là điều kiện quan trọng để dẫn đến sự ra đời của các thành thị ở Tây Au trong thời kỳ trung
đại.

 Điều kiện xã hội

Thế nhưng, nếu chỉ có các điều kiện kinh tế như trên thì vẫn chưa dẫn đến sự ra đời của
thành thị ở Tây Au; mà bên cạnh các điều kiện kinh tế đó, còn có s ự tác đ ộng c ủa đi ều ki ện xã
hội.
• Sự đối kháng giai cấp

Một trong các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành các thành th ị t ại Tây Au là s ự đ ối kháng
giai cấp xảy ra giữa nông nô, cũng như giữa nh ững người nông dân l ệ thu ộc khác v ới các lãnh
chúa phong kiến.
- Những người nông nô có tay nghề thủ công chuyên nghiệp vì muốn thoát kh ỏi sự bóc
lột của lãnh chúa phong kiến, nên họ đã tìm đủ mọi cách để trốn khỏi các trang trại
phong kiến.
Sau khi trốn khỏi trang trại và họ tìm đến những ch ổ thuận l ợi cho vi ệc s ản xu ất
và mua bán của mình, như những bến đò, h ải cảng, đường giao thông quan tr ọng;
hoặc gần những lâu đài, thành quách của lãnh chúa phong kiến, cũng như những nơi
gần nhà thờ của đạo Cơ đốc (do ở đây có các thành quách kiên c ố, có th ể b ảo v ệ tài
sản và tính mạng của họ). Và khi đến vùng đất c ủa lãnh chúa m ới đ ể th ực hiện kinh
doanh thủ công nghiệp, người nông nô buộc phải đặt mình dưới sự bảo hộ của lãnh
chúa mới, chịu sự thống trị về mặt hành chính và tư pháp của những lãnh chúa này,
mà người cai quản là do chính các lãnh chúa phong kiến hoặc các quan viên đ ược lãnh
chúa cử đến. Họ còn khôn khéo đặt ra nhiều danh mục phải đóng góp cho thành thị để
vơ vét tiền của, tiếp tục bóc lột thị dân.
Những người làm nghề thủ công này tập hợp tại một địa phương và dân số dần
dần tăng lên. Người tới lui mua bán, trao đổi với họ ngày càng nhiều. Vì vậy mà
những thành phố công thương nghiệp tập trung dần dần xuất hiện.
- Đối với nông nô, do muốn thoát khỏi sự bóc lột của lãnh chúa phong ki ến nên h ọ r ời
bỏ ruộng đất, đến vùng thành thị để sinh sống và trở thành cư dân của thành th ị, làm
cho dân cư thành thị ngày càng phát triển. Do đó, thành th ị cũng ngày càng phát tri ển
theo.
- Đối với lãnh chúa phong kiến và những giáo sĩ thuộc gíao hội Cơ đốc giáo, do th ấy
công thương nghiệp ở thành thị có thể mang đến nguồn thu nhập cho mình, nên h ọ
thường kêu gọi những người nông nô bỏ trốn đến vùng đất của họ đ ể sinh s ống d ưới
sự thống trị của họ.
Bên cạnh đó, sự xuất hiện của thành thị còn làm cho ch ất l ượng c ủa đời s ống c ủa
lãnh chúa càng nâng cao, đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của lãnh chúa.
Mặt khác, lúc này hình thức thu địa tô ch ủ y ếu là tô hi ện v ật, làm cho các hi ện v ật
trong nhà lãnh chúa trở nên dư thừa, ông ta muốn bán những thứ đó đi để lấy tiền, và
ông ta ủng hộ, tạo điều kiện cho sự ra đời ngày càng nhi ều, ngày càng phát tri ển c ủa
thành thị.

• Cuộc chiến tranh thập tự

Diễn ra trong khoảng thế kỷ thứ 11. Mục đích của các cuộc th ập t ự chinh này là nh ằm
chiếm các vùng đất giàu có, màu mỡ của phương Đông, của vùng đ ất Jêrusalem. M ặc dù cu ộc
chinh chiến này có chiếm cứ được một số vùng đất ở phương Đông trong một thời gian nh ất
định, nhưng cuối cùng vẫn thất bại nặng nề. Tuy nhiên, qua cuộc thập tự chinh này, các t ộc
người Giecmanh (vừa thoát khỏi chế độ công xã thị tộc) đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm
về mua bán đang phát triển của các quốc gia ph ương Đông, tạo lập được mối quan hệ thương
mại với các quốc gia này, làm cơ sở cho việc phát triển các thành thị ở phương tây.

Từ những điều kiện kinh tế – xã hội nói trên, thành thị đã xuất hiện hàng loạt ở Tây Au từ
khoản thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 13 (ch ẳng h ạn: Strasbourg, Saint Quentin, Saint Maur,
Oxford, Frănkfut, Paris…

b) Đặc điểm của thành thị
- Thường xuất hiện ở các trung tâm chính trị hoặc trung tâm tôn giáo (nơi có nhiều
thành lũy tự vệ) hoặc những nơi thuận tiện cho việc mua bán, vận chuyển hàng
hoá (ngả ba sông, bến đò, bến cảng…)
- Nằm trong lãnh địa của lãnh chúa phong kiến và chịu sự qu ản lý, chi ph ối c ủa
lãnh chúa .
Là chủ sở hữu, lãnh chúa có quyền bán thành th ị của mình cho lãnh chúa khác ho ặc
chuyển quyền sở hữu thành phố cho con cháu. đồng thời có rất nhiều quyền đối với
thành phố như: quyền hành chính, tư pháp, quy ền đúc ti ền, quy ền thu thu ế, quy ền c ư
trú trong những ngày lãnh chúa đến thành phố, quyền trưng dụng ngựa để phục vụ
cho những việc cần thiết.. Ở mọt số thành phố, lãnh chúa còn bắt th ị dân ph ải làm
một số công việc tạp dịch..Lãnh chúa thường ủy nhiệm cho kẻ khác thay mình đến
quản lý thành phố, Sự bóc lột của lãnh chúa không ngừng tăng lên cùng v ới s ự giàu có
của thành thị, do đó, đã cản trở sự phát triển của công thương nghiệp.
- Giúp nền kinh tế phong kiến thoát khỏi chế độ tự cung tự cấp, ngày càng phát triển
và trở thành tiền đề cho quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa sau này.
Trong cuộc sống hàng ngày, cư dân thành thị cần phải có lương thực, th ực ph ẩm
như rau, thịt, hoa quả…, trong quá trình sản xuất, thành thị cần có nguyên li ệu nh ư
nho, lông cừu… Tất cả những thứ đó, thành thị đều dựa vào sự cung cấp của nông
thôn, do đó đã tạo nên mối liên hệ kinh tế chặt chẽ giữa thành th ị và nông thôn, các
trang viên phong kiến của lãnh chúa cũng nhập cuộc, làm cho nền kinh tế tự cung t ự
cấp của các công xã nông thôn, các trang viên phong kiến bị phá sản.
Mặt khác, do hàng hoá ngày càng xuất hiện nhiều trên thị trường, một ph ần do
thành thị sản xuất, một phần do chở từ phương Đông đến, nhu cầu của giai cấp
phong kiến cũng ngày càng tăng lên. Để có nhiều tiền mua các s ản ph ẩm đó, các lãnh
chúa chuyển sang dùng hình thức tô tiền thay cho tô hiện v ật, và tô lao d ịch. H ơn n ữa,
nhiều lãnh chúa còn cho phép nông nô dùng tiền để chuộc lại tự do. Sau khi n ộp đ ủ
tiền cho lãnh chúa, họ hoàn toàn thoát khỏi thân ph ận nông nô. Nh ư v ậy, quan h ệ ti ền
tệ đã làm cho chế độ nông nô ngày càng trở nên lỏng lẻo và do đó đã phá hoại từ từ
chế độ phong kiến.

Trên đây là một đặc điểm cơ bản của thành thị ở Tây Au thời kỳ phong kiến. Qua đó, ta thấy
trong lòng thành thị đã xuất hiện tầng lớp thị dân mới chịu sự bóc lột của các lãnh chúa mới. Và
khi không còn chịu nổi sự bóc lột của các lãnh chúa phong kiến, h ọ đ ấu tranh r ất quy ết li ệt v ới
các lãnh chúa nhằm giành quyền tự trị cho thành phố của mình.

c) Phương pháp giành quyền tự trị

Phong trào đấu tranh giành quyền tự trị diễn ra từ khi xuất hiện thành th ị nh ưng sôi n ổi nh ất
vào thế kỷ 12 và 13. Thế nhưng, cách thức mà các thành th ị giành quy ền t ự tr ị ở các thành ph ố
khác nhau là khác nhau. Tuy vậy, chúng ta có th ể khái quát chúng thành các ph ương pháp chính
sau đây:

 Đấu tranh vũ trang
Cư dân của các thành thị đã tổ chức thành những “Công xã” để tiến hành cuộc đ ấu tranh.
Lãnh chúa thường dùng bạo lực để trấn áp mọi sự hoạt đ ộng c ủa công xã. Và nh ững thành th ị
nào đủ sức mạnh thì giành đượa quyền tự trị (hoàn toàn hay không hoàn toàn); còn không, thì
vẫn phải chịu sự áp bức, bóc lột của lãnh chúa.
Như tại thành phố Milanô (Ý), thị dân đã nổi lên chống lại người chủ giáo vào đầu thế kỷ
11. Đến cuối thế kỷ 11, những người làm nghề tiểu thủ công lại nổi lên chống lại các lãnh
chúa phong kiến trong giáo hội và ngoài thế tục. Nhưng cuối cùng, Milano cũng giành được
quyền tự trị của mình

.
 Chuộc tiền

Do có một số lãnh chúa đang rất cần tiền nên đã ch ấp nhận cho các thành th ị n ộp ti ền đ ể
thoát khỏi sự thống trị của các lãnh chúa; tuy nhiên cũng có nh ững thành th ị ph ải dùng c ả hai
biện pháp nói trên mới giành được độc lập.
Thành phố Laon (Pháp) là một trong những thành phố giàu có. Đầu thế kỷ 12, các thị dân đã
nộp cho lãnh chúa và Vua Louis VI một số tiền to để đổi lấy sự tự chủ. Nhưng chỉ ít lâu sau,
người chủ giáo ở thành phố Laon đã bội ước, lấy lại quyền thống trị thành phố Laon. Nhân
dân thành phố đã giết chết vị chủ giáo và các đồng bọn của ông ta. Triều đình phái quân tới để
giải tán công xã. Thế nhưng thị dân ở đây đã kiên trì đấu tranh nên vào năm 1128, Vua phải cho
phép các thị dân ở đây thành lập công xã.

d) Tổ chức quản lý tại các thành thị

 Đối với các thành thị đã giành được quyền tự trị hoàn toàn:


Quản lý thành thị là hội đồng thành phố.
- Hội đồng thành phố do thị dân bầu ra.
- Đây là cơ quan hành chính tối cao của thành thị.
- Hội đồng này có quyền soạn ra chính sách, pháp lệnh, và đúc tiền riêng.
- Họ có quyền tuyên chiến hoặc giảng hoà.
Thông qua một cuộc bầu cử, các thị dân chọn ra thị trưởng, chánh án và nhân viên quản lý.
Trong thành thị cũng có tổ chức toà án, có lực lượng vũ trang của mình.

 Đối với các thành thị hưởng quyền tự trị không hoàn toàn

Các thành thị hưởng quyền tự trị không hoàn toàn như: Paris, Orleans, Lyon, Oxford,
Lincoln… thì trong tổ chức quản lý còn chịu sự ảnh hưởng c ủa nhà vua. T ức là, bên cạnh sự
tự quản của hội đồng thành phố, nhà vua vẫn còn thẩm quyền tác động vào các hoạt
động ở đây thông qua một cơ quan thường trú hay thông qua hội đồng thành phố.
Tuy vậy, dù đã giành được quyền tự trị hoàn toàn hay không thì hàng năm, các thành th ị
vẫn phải đóng cho nhà vua hay lãnh chúa một khoản tiền thuế nhất định.

 Và có một số thành thị như: Veneza, Genova, … sau khi giành đ ược quy ền t ự tr ị còn xây
dựng được những nhà nước cộng hoà.

 Bên cạnh đó, vẫn còn những thành thị nhỏ khác, do không đ ủ sức đ ấu tranh v ới lãnh
chúa, nên vẫn phải chịu sự thống trị của họ




3. NỀN QUÂN CHỦ ĐẠI DIỆN ĐẲNG CẤP

a) Nền quân chủ đại diện đẳng cấp ở Pháp

 Điều kiện kinh tế - xã hội

- Nước Pháp ở thế kỷ 11 là một quốc gia điển hình của ch ế đ ộ phong ki ến phân quy ền: Đ ất
nước bị chia ra làm nhiều lãnh địa phong kiến hoàn toàn tự trị. V ương tri ều Capêchiêng có lãnh
địa vừa và nhỏ so với lãnh địa của các lãnh chúa phong kiến khác, nên quy ền lực của V ương
triều chỉ mang tính hình thức.
- Vương triều ra sức củng cố quyền quyền lực, làm suy y ếu th ế lực c ủa các lãnh chúa b ằng
nhiều hình thức:
+ Từ thế kỷ 12, Vương triều bắt đầu lớn mạnh dần do thành thị và thủ công nghi ệp
phát triển. Khi thị dân ở miền Bắc Pháp đấu tranh với các lãnh chúa, nhà Vua ủng h ộ
cho thị dân với mong muốn làm cho quyền lực của các lãnh chúa l ớn suy y ếu. Giáo
hội và nhà tu cũng trở thành đồng minh của vua, vì họ muốn thoát khỏi sự xâm phạm
của lãnh chúa phong kiến. Họ dùng tiền tăng cường quỹ cho vua, mua vũ khí cho quân
đội của vua. Nhờ đó, vua Pháp dần dần củng cố được nền th ống tr ị trên lãnh th ổ c ủa
mình.
+ Cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13, các vua Pháp tiến hành nhiều bi ện pháp nh ằm làm suy
yếu thế lực của các lãnh chúa, đồng th ời nâng cao th ế l ực c ủa V ương tri ều, nh ư:
Tiến hành chiến tranh giành lại đất đai; Xây dựng bộ máy chính quy ền trung ương
tập quyền; Tổ chức lại chính quyền địa phương; Cải cách tư pháp theo hướng thu
hẹp thẩm quyền xét xử của các lãnh chúa, những vụ án quan trọng hay có liên quan
đến lãnh chúa đều do toà án nhà vua xét xử.
- Bên cạnh đó, trong cuộc đấu tranh để tăng cường quyền lực của chính quy ền trung ương,
triều đình nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của thị dân, nên địa vị của thị dân trong chính
quyền của nhà vua ngày càng được nâng cao . Họ được tham gia vào các công việc hành
chính, tư pháp và tài chính của triều đình, trở thành ti ếng nói c ủa qu ần chúng trong các kỳ H ội
nghị quý tộc.
- Đến thời Phillip IV, do cần tiền cho những cuộc chiến, nhà Vua tăng thuế đối với Giáo hội.
Điều đó dẫn đến sự xung đột gay gắt giữa nhà Vua và Giáo hoàng. Trong tình hình đó, nhà Vua
rất cần sự ủng hộ của các tầng lớp xã hội để làm áp lực đối với Giáo hoàng. Năm 1302, lần
đầu tiên, Phillip IV chính thức mở rộng Hội ngh ị đại biểu quý t ộc. Trong H ội ngh ị này, ông
mời cả đại biểu thị dân tham dự. Đó là Hội nghị 3 đẳng cấp, gồm: Tăng lữ, Quý tộc và Th ị
dân, gọi là Hội nghị tam cấp . Trong đó, giới tăng lữ và quý tộc tham gia với tư cách cá nhân,
còn thị dân thì tham gia với tư cách đại diện.
Tuy nhiên, Hội nghị 3 đẳng cấp không phải là đại biểu cho toàn th ể nhân dân Pháp, vì b ộ
phân dân số đông nhất là nông dân thì không có đại biểu tham dự.

 Nhiệm vụ, quyền hạn:

- Lúc đầu, là cơ quan tư vấn cho nhà vua, góp ý với nhà vua trong các lĩnh vực đối nội và
đối ngoại. Bàn bạc và quyết định vấn đề thuế khoá.
Mỗi khi cần tiền, vua Pháp yêu cầu Hội nghị 3 đẳng c ấp cho tăng thu ế. Các đ ại bi ểu
thường lợi dụng những dịp như thế, đòi hỏi nhà Vua phải ban bố những sắc lệnh có lợi
cho mình, thì mới thông qua vấn đề tăng thuế.
Ở Hội nghị, từng đẳng cấp thảo luận và giải quy ết các v ấn đ ề riêng r ẽ nhau, đ ến lúc tr ả
lời vua lần cuối thì họp chung. Trong cuộc họp chung, quyết định của đẳng cấp này không
ràng buộc quyết định của đẳng cấp khác.
- Năm 1357, do những yêu sách của nhân dân Paris nên Hội nghị đẳng cấp có một số thay đổi
như:
+ Được triệu tập họp một năm 2 lần, không cần có sự đồng ý của nhà vua,
+ Được giải quyết vấn đề thuế khoá theo yêu cầu của mình, ki ểm tra thu chi ngân sách
nhà nước và được cử cố vấn cho nhà Vua.
Tuy nhiên, đến thế kỷ 15, Nhà nước quân chủ chuyên chế ở Pháp được thành l ập thì H ội
nghị 3 đẳng cấp cũng mất hết vai trò của mình.

b) Sự thành lập nghị viện Anh

 Điều kiện kinh tế - xã hội
-Vào thế kỷ 11, nước Anh là nước phong kiến phân quyền . Tuy nhiên, vua Anh
chiếm giữ được một số lãnh địa và thành thị lớn, xây dựng Vương quyền tương đối
hùng mạnh, khống chế được các lãnh chúa phong kiến, bắt họ phải phục vụ mình
và ngăn không cho họ đánh lẫn nhau.
- Tuy vậy, các lãnh chúa phong kiến đều manh nha t ổ ch ức b ạo đ ộng , họ muốn
được độc lập như những lãnh chúa ở Pháp. Nhưng mưu đồ của họ không thành, do
các kỵ sĩ nhỏ và thị dân ủng hộ nhà vua, vì h ọ sợ lãnh chúa tr ở nên l ộng quy ền và áp
bức họ.
- Giữa thế kỷ 12, Henri II củng cố thêm quyền lực của chính quyền Trung ương
lên một bước nữa, ông dựa vào kỵ sĩ và thị dân để đấu tranh kiên quy ết với các lãnh
chúa phong kiến, như: phá hủy lâu đài, thành quách của lãnh chúa, đặt quân phòng thủ,
mở rộng thẩm quyền xét xử của toà án của nhà vua; Ban hành đ ạo lu ật quân d ịch, xây
dựng quân đội thường trực hùng mạnh.
- Với các chính sách trên, nước Anh trở thành một nước hùng mạnh nh ất Châu Au.
Nhưng sau đó, các vua Anh thi hành chính sách chuyên ch ế quá nghiêm ng ặt, liên ti ếp
tổ chức chiến tranh, vơ vét sức lực, tiền của của nhân dân vào các cu ộc chi ến ấy, nên
bị đại bộ phận nhân dân phản đối.
- Ngoài ra, Vương triều còn mâu thuẫn với Giáo hội, thất bại trong chiến tranh với
Pháp… nên các lãnh chúa phong kiến nổi dậy chống lại Triều đình. Tầng lớp kỵ sĩ và
thị dân trước đây ủng hộ nhà vua, nay cũng liên kết với các lãnh chúa, ch ống đ ối tri ều
đình.
- Trước tình thế ấy, vua Anh phải chấp nhận các yêu sách của h ọ. Nh ững yêu sách này
được viết lại trong văn bản “ Đại Hiến chương tự do” (Magna Carta). Đại Hiến
chương này bảo đảm quyền tự do của người dân, xác định lại nh ững nguyên t ắc c ủa
nền chính trị tập quyền, hạn chế quyền độc đoán của nhà vua, xác nh ận quy ền t ự do
của các thành phố, quyền tự do đi lại mua bán.
 Nghị viện Anh được thành lập
- Tuy vậy các vua Anh đều tìm cách phá hoại bản Hi ến ch ương, khi ến cho quý t ộc
phong kiến phải liên hiệp với kỵ sĩ và nông dân, nhi ều lần n ổi d ậy kh ởi nghĩa ch ống
lại. Năm 1264, quân khởi nghĩa đánh tan quân đội nhà vua, một quý t ộc phong ki ến là
bá tước Ximông Đơ Mônpho lên nắm chính quyền. Ông chủ trương một Liên minh
giữa quý tộc phong kiến với thị dân và kỵ sĩ.
- Năm 1265, Ximông Đơ Mônpho triệu tập một Hội nghị gồm có quý tộc, tăng lữ, đại
biểu kỵ sĩ của mỗi lãnh địa, đại biểu thị dân của thành th ị. Hội ngh ị này đ ược xem là
Quốc hội đầu tiên ở nước Anh.
- Từ thế kỷ 14, Quốc hội Anh chia thành 2 viện: Thượng nghị viện – gồm quý tộc và
tăng lữ cao cấp; Hạ nghị viện, gồm tầng lớp kỵ sĩ và thị dân.
 Nhiệm vụ, quyền hạn
- Quyền hạn của Quốc hội là bàn bạc và thông qua các vấn đề về thuế khoá, ngân sách.
Nhà vua không được quyền thu thuế trực tiếp hay gián tiếp khi ch ưa có quy ết đ ịnh
của Quốc hội.
- Quốc hội dần trở thành cơ quan lập pháp tối cao. Qua Qu ốc h ội, quý t ộc phong ki ến,
kỵ sĩ và cả những thị dân giàu nắm lấy quyền hành pháp và khống chế việc thu thuế.
Tuy nhiên, Quốc hội cũng chỉ là cơ quan đại diện cho những giai cấp, t ầng lớp trên. Dân
chúng nghèo khó ở nông thôn và thành thị đều không có đại bi ểu. Do đó, Qu ốc h ội c ủa Ximông
Đơ Monpho lập ra không được xem là thực thể đại diện cho nhân dân theo nghĩa hi ện đ ại.
Nhưng cũng phải thừa nhận hình thức Quốc hội này là tiền thân cho các cơ quan đại di ện nhân
dân ngày nay.

4. CHẾ ĐỘ QUÂN CHỦ CHUYÊN CHẾ.

1. Điều kiện kinh tế - xã hội

Thế kỷ 15, Tây Au bước vào giai đoạn phong kiến hậu kỳ. Trong th ời kỳ này, s ự phát
triển của kinh tế làm cho xã hội Tây Au có nhiều thay đổi sâu sắc.
- Về kinh tế
+ Công thương nghiệp đạt được những thành tựu quan trọng. Việc phát minh ra lò cao,
máy hơi nước, máy dệt, máy in... làm cho nhiều ngành công nghi ệp phát tri ển. S ự
phân công lao động thủ công được đẩy mạnh, nhiều nghề mới ra đời. Lao động thủ
công từ hợp tác đơn thuần tiến dần lên công trường thủ công - hình th ức đ ầu tiên c ủa
sản xuất tư bản chủ nghĩa.
+ Trong nông nghiệp, tuy không có sự phát triển vượt bậc như trong công nghiệp, không
có sự phân công lao động một cách tỉ mỉ, nhưng nó cũng có nhiều ti ến b ộ đáng k ể,
như: khối lượng nông sản phẩm, diện tích gieo trồng tăng lên, phương pháp canh tác
tiến bộ. Ngoài cung cấp lương thực, nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên li ệu
cho ngành công nghiệp chế biến. Một số địa phương còn có xu h ướng chuyên môn
hoá việc cung cấp nguyên liệu là nông sản.
- Về xã hội
+ Trên cơ sở của sức sản xuất, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được hình thành.
Hàng loạt nông dân mất hết ruộng đất, nhiều thợ thủ công bị phá sản, trở thành đội
ngũ của những người làm thuê. Giai cấp tư sản hình thành và ngày càng kh ẳng định
được vị trí của nó trong xã hội phong kiến.
+ Do nhu cầu cần có một thị trường thống nh ất, cần có một chính quy ền m ạnh đ ể b ảo
hộ kinh doanh, sản xuất và mua bán, giai cấp t ư s ản đã liên minh và giúp đ ở nhà Vua
để chống lại bọn lãnh chúa phong kiến cát cứ và xây d ựng m ột nhà n ước trung ương
tập quyền.
+ Trong khi đó, lãnh chúa phong kiến ngày càng tăng cường bóc lột nông dân làm cho
mâu thuẫn giữa lãnh chúa phong kiến với nông dân trở nên gay gắt. Giai cấp tư s ản
lợi dụng phong trào quần chúng để tấn công vào bọn lãnh chúa phong kiến, làm suy
yếu lực lượng của chúng.
+ Trong tình hình đó, chính quyền nhà vua đã phải dựa vào lực l ượng c ủa giai c ấp t ư
sản để củng cố sự thống trị của mình. Kết quả là, vào các thế kỷ 15 - 16, chế độ quân
chủ chuyên chế đã lần lượt được thiết lập ở các nước Tây Au.
 Đặc điểm của nền quân chủ chuyên chế trong thời kỳ này

- Thực chất chế độ quân chủ chuyên chế vẫn là nền chuyên chính của giai cấp th ống
trị phong kiến, nhưng về hình thức thì có nhiều thay đổi so với nhà n ước quân ch ủ
trong thời kỳ trước đó. Điều này do những thay đổi về t ương quan giai c ấp quy ết
định.
- Chế độ quân chủ chuyên chế ở các nước Tây Au lúc này được thiết lập trong điều
kiện chế độ phong kiến Tây Au đang lâm vào kh ủng hoảng, quan h ệ sản xu ất t ư b ản
chủ nghĩa đang hình thành. Do đó, nhà nước quân chủ chuyên ch ế ra đời nh ư m ột liên
minh tạm thời giữa nhà nước phong kiến với giai cấp tư sản. Nhà vua s ử d ụng giai
cấp tư sản để chống lại tập đoàn lãnh chúa phong kiến cát cứ. Ng ược l ại, giai c ấp t ư
sản được nhà vua bảo hộ, che chở, thống nhất tiền t ệ và đo l ường, đi ều này r ất quan
trọng đối với giai cấp tư sản còn non trẻ.
- Tuy nhiên giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản là 2 giai cấp có quy ền lợi và địa v ị
khác nhau. Do vậy, nhà nước quân chủ chuyên chế tồn tại trên sự mâu thuẫn giữa quý
tộc phong kiến và tư sản, nhà nước này không phải là biểu hiện của sự hưng th ịnh
của chế độ phong kiến mà nó biểu hiện cho một nhà nước đang ở vào giai đo ạn quá
độ trước khi nhà nước tư sản ra đời. Trong giai đoạn này, quan h ệ s ản xu ất phong
kiến chưa sụp đổ hẳn, quan hệ sản xuất tư bản ch ủ nghĩa đã hình thành nh ưng ch ưa
được củng cố vững chắc, do đó, cả 2 thế lực này đề cần đ ến một chính quy ền trung
ương đủ mạnh để bảo vệ cho sự tồn tại của mình ở một mức độ nào đó.
- Tuy nhiên, không phải tất cả các nước Tây Au đều thiết lập được nền quân chủ
chuyên chế. Ở một số nước như Đức, Italia... do những điều kiện lịch sử của mình
mà vào thế kỷ 11-16 vẫn duy trì chế độ chính trị phong kiến phân quyền.
---o0o---
BÀI 6:
PHÁP LUẬT PHONG KIẾN PHƯƠNG TÂY

1. Nguồn luật của pháp luật phong kiến Tây Âu

Do tình hình chính trị của chế độ phong kiến Tây Âu nên ngu ồn lu ật r ất ph ức t ạp và đa
dạng, nó gồm các nguồn sau đây:
- Tập quán pháp : gồm nhiều phong tục tập quán của các bộ tộc người la mã, ng ười
Giecmanh, những tập quán pháp chủ yếu được tập hợp trong bộ luật Xa Lích (cuối
thế kỷ 5 đầu thế kỷ 6)
- Luật pháp của triều đình phong kiến , bao gồm chiếu chỉ, mệnh lệnh của nhà Vua, các
án lệ và quyết định của toà án nhà Vua.
- Luật lệ của giáo hội Thiên chúa, nó vừa điều chỉnh quan h ệ tôn giáo, quan h ệ hôn
nhân, quan hệ thừa kế, quan hệ trái vụ…
- Luật lệ của lãnh chúa, của chính quyền ở các thành phố tự trị.
- Những quy định dẫn chiếu từ luật La Mã cổ đại.

Tuỳ theo từng vùng, từng thời kỳ mà vai trò của từng nguồn luật có khác nhau.
- Trong thời kỳ đầu, nguồn của pháp luật chủ yếu là các tập quán pháp.
- Đến thế kỷ 6, các nước phong kiến tây âu ban hành luật thành văn như: luật Xalich,
luật Vidigot, Buôcgôngđơ, Xăcxông… Nội dung của các bộ luật này chính là sự sao
chép lại các tập quán pháp của các “Man tộc” trước đây, do đó lu ật pháp trong th ời kỳ
này chưa được xây dựng trên một chuẩn mực pháp lý nào cả.
- Thế kỷ 8, Vương triều Carôlanhgiêng ban hành “Bộ luật điền sản” để điều ch ỉnh ch ế
độ kinh tế phong kiến, mà đặc biệt là chế độ ruộng đất.
- Vào thế kỷ 11, 12 chế độ phong kiến phát triển cực thịnh, nhiều bộ luật thành văn
được ban hành. Đặc biệt, trong thời kỳ này kinh t ế hàng hoá phát tri ển trong khi pháp
luật phong kiến vẫn không có chế định điều chỉnh quan hệ này, do đó, ng ười ta vi ện
dẫn luật la mã để giải quyết những vấn đề phát sinh từ quan hệ này.

2. Nội dung của pháp luật phong kiến Tây Au

 Các quy định liên quan đến luật dân sự

• Các quan hệ pháp lý về tài sản

- Về quyền sở hữu ruộng đất:

+ Từ thế kỷ 5 đến 6, do người Frăng vừa thoát thai khỏi chế độ công xã thị tộc nên ở
buổi ban đầu của chế độ phong kiến, quyền sở hữu ruộng đất ở công xã có 2 hình
thức:
• Thuộc quyền sở hữu chung của công xã đối với ruộng đất canh tác. Công xã
tiến hành việc phân chia ruộng canh tác cho các thành viên của mình. Đ ến th ời
hạn nhất định nông dân phải trả lại cho công xã để phân chia lại.
• Thuộc quyền sở hữu tư nhân đối với nhà cửa, vườn tuợc xung quanh nhà.
Theo bộ luật Xa Lích, ruộng đất được chia cho các thành viên công xã và
được cha truyền con nối, tuy nhiên ruộng đất chỉ có th ể chuy ển cho con trai. N ếu
người chết không có con trai thì phải trả ruộng đất lại cho công xã.
+ Đến đời vua Sinpê Rich (561 – 584), Nhà Vua quy định nếu người ch ết không có
con trai, ruộng đất được quyền để lại cho con gái, không ph ải trả l ại cho công xã
nữa. Đây là một bước quá độ để chuyển sang chế độ tư hữu về ruộng đất.
+ Thế kỷ 6, 7 quyền sở hữu ruộng đất của công xã bị tan rã, đ ất đai thu ộc quy ền s ở
hữu của người được phân phối (nông dân). Bọn quý tộc
+ Trên danh nghĩa, toàn bộ lãnh thổ của vương quốc là tài sản của Nhà Vua, Nhà Vua
phân phong cho các thần thuộc của mình. D ần dần, các th ần thu ộc bi ến ru ộng đ ất
được phân phong thành ruộng đất tư hữu. Từ thế kỷ 9, 10 trở về sau, ruộng đất
này trở thành lãnh địa và thuộc toàn quyền sở h ữu của lãnh chúa phong ki ến. Trên
phần ruộng đất được phân phong, các quan hệ pháp lý về ruộng đất do các lãnh
chúa quy định (quy định về hợp đồng mua bán, chuyển nh ượng ruộng đất giữa các
chủ đất, việc lĩnh canh ruộng đất, các nghĩa vụ của nông nô đ ối v ới lãnh chúa, quy
định về thủ tục thừa kế ruộng đất… Những quy định này đều th ể hiện nguyên t ắc
“Không đất nào là không có chủ”). Dần dần những quy định này trở thành tập quán
pháp.

- Đối với việc sở hữu các tài sản khác

+ Bộ luật Xa Lích thừa nhận chế độ tư hữu về động sản. Vấn đề này được ph ản
ánh qua những điều khoản quy định các hình phạt đối với các tội trộm cắp hoặc
gây thiệt hại đến gia súc, hoa màu của người khác.
+ Đến thế kỷ 11, 12, trong các thành phố tự trị kinh tế công thương nghiệp phát
triển, các thành phố này bắt đầu viện dẫn pháp luật la mã để giải quyết các vấn
đề liên quan đến lĩnh vực hợp đồng, trái vụ như các loại hợp đ ồng mua bán, t ặng
cho, đổi chác, thuê mướn, ủy thác… do đó, pháp luật của các thành thị trong thời kỳ
này rất phát triển.

• Luật lệ về hôn nhân gia đình

- Bộ luật Xa Lích nghiêm cấm tục cướp vợ hoặc mua bán vợ. B ộ luật quy đ ịnh trong
thủ tục kết hôn, người chồng phải tặng quà cưới cho vợ (thay cho ti ền mua v ợ). Sau
đó số tài sản này trở thành tài sản chung.
- Theo phong tục, để giữ lại toàn bộ số tài sản của dòng h ọ, người phụ nữ goá ph ải
kết hôn với anh hoặc em của chồng (chưa có vợ). Tuy nhiên, ng ười ph ụ n ữ này đ ược
quyền lấy chồng khác với điều kiện:
+ Phải được gia đình chồng cũ ưng thuận
+ Người chồng mới phải nộp cho gia đình chồng cũ một khoản tiền nhất định
- Về sau, luật hôn nhân gia đình chịu nhiều ảnh hưởng của thế lực nhà thờ và luật lệ
thiên chúa giáo. Luật lệ tôn giáo và luật pháp nhà nhà nước đều ngăn cấm việc ly hôn.
- Địa vị pháp lý của người phụ nữ có được cải thiện hơn so với trong th ời chiếm h ữu
nô lệ. Tuy nhiên, họ vẫn phải phụ thuộc vào người cha, ng ười ch ồng và con trai;
ngoài xã hội phụ nữ có địa vị xã hội thấp kém hơn so v ới đàn ông cùng đ ẳng c ấp. Do
bị ảnh hưởng của thế lực nhà thờ, giáo hội, càng ngày người phụ nữ càng bị mất năng
lực pháp lý về tài sản và bị áp dụng cực hình. Tuy nhiên ở một số đ ịa ph ương c ủa
nước Anh, người vợ được quyền quản lý tài sản của mình, ở miền Nam nước Pháp,
người vợ được quyền lấy lại của hồi môn và được gia đình chồng cấp phần đất riêng
cho người phụ nữ goá chồng.
- Ở nông thôn, trai gái làng này bị cấm kết hôn với trai gái c ủa làng khác, do đó th ường
dẫn đến tình trạng loạn luân.
- Đối với nông nô, khi kết hôn phải có sự đồng ý của lãnh chúa. N ếu k ết hôn v ới nông
nô của lãnh chúa khác thì phải nộp phạt tiền ngoại hôn. Con do hai nông nô này sinh
ra phải chia đều cho cả hai lãnh chúa.

 Các quy định liên quan đến luật Hình sự

• Tục trả nợ máu
- Do bị ảnh hưởng của các phong tục tập quán trong th ời kỳ công xã nguyên th ủy, trong
giai đoạn đầu của chế độ phong kiến, tục trả nợ máu vẫn còn tồn tại khá đậm nét.
- Bộ luật Xa Lích quy định:
+ Nếu tội phạm không đủ tiền nộp phạt và cũng không có người nộp thay thì ph ải
mang mạng sống của mình ra chịu tội.
+ Đối tượng phải trả nợ máu là chính kẻ giết người hoặc con trai của người đó.
+ Người được trả thù chỉ có thể là cha, con trai, anh em trai của nạn nhân
+ Quy định thời gian chờ trả thù nhằm làm giảm bớt tính hung hãn của gia đình
người bị hại và tạo điều kiện cho tội phạm có tiền nộp để chuộc tội (ví dụ ở Anh,
thời gian chờ trả thủ là 12 tháng).

• Nộp tiền chuộc tội

- Theo bộ luật Xa Lích, bất cứ tội phạm nào cũng được phép dùng ti ền đ ể chu ộc tội
(trừ những tội phạm bị xem là trọng tội: tội phản quốc, tội chống lại giáo hội…)
- Lúc đầu, mức tiền nộp phạt tùy thuộc vào sự thoả thuận c ủa hai bên. V ề sau, b ộ lu ật
quy định mức phạt cụ thể (ví dụ: trộm chó: 15 xôlidút, trộm ngựa: 45 xôlidút, xúc
phạm người frăng tự do: 30 xôlidút, giết chết người frăng tự do: 200 xôlidút, giết chết
phụ nữ mang thai: 600 đến 700 xôlidút). ½ số tiền nộp ph ạt đ ược chia cho gia đình b ị
hại, ½ còn lại sung vào công quỹ.
- Luật cho phép họ hàng của tội phạm được nộp tiền thay và t ội ph ạm s ẽ tr ở thành nô
lệ cho người đã nộp phạt thay mình. Nhưng đến thế kỷ 6, luật cấm người khác nộp
phạt thay, tội phạm phải tự mình bỏ tiền ra để chuộc tội và mức tiền nộp ph ạt tùy
thuộc vào địa vị của người bị hại. Nếu tội phạm là kẻ giết người mà không ch ịu n ộp
phạt hoặc không có tiền nộp phạt thì sẽ bị tử hình.
- Đối với những tội phản quốc, không trung thành với nhà vua hoặc lãnh chúa phong
kiến, chống lại nhà thờ và luật lệ tôn giáo, trộm cắp tài sản c ủa nhà nước hay c ủa
nhà thờ… đều bị coi là trọng tội. Tất cả những trọng tội đều không được dùng tiền
chuộc mà phải chịu án tử hình. Phương thức thực hiện án tử hình rất tàn bạo nh ư:
chém đầu, treo cổ, hoả thiêu, làm cho tội phạm chết dần trong đau đớn… Tuy nhiên
luật lại không quy định như thế nào là phản quốc, như thế nào là không trung thành
với nhà vua… do đó, đối với những loại tội phạm này, quan toà th ường xét x ử tùy
tiện, chủ quan.
• Hình phạt
- Tính chất giai cấp trong pháp luật phong kiến th ể hiện rõ trong vi ệc quy định hình
phạt. Tùy theo thân phận và địa vị của người ph ạm tội và người b ị h ại, pháp lu ật quy
định mức hình phạt khác nhau. Ví dụ: giết một người có địa vị cao thì ph ải n ộp ph ạt
gấp 3 đến 4 lần mức bình thường, tiền phạt tội bắt trộm nôlệ bằng mức tiền phạt tội
bắt trộm con ngựa hay con bò, nếu người dân tự do và người nô lệ phạm tội như nhua
thì người dân tự do chuộc tội bằng tiền, còn người nô lệ thì thì bị thể xác.

 Pháp luật về tố tụng và tư pháp
• Toà án
- Trong thời kỳ phong kiến, quyền tư pháp thuộc về cả nhà vua, giáo h ội và các lãnh
chúa phong kiến. Tuỳ từng thời kỳ khác nhau mà quy ền tư pháp c ủa các th ế l ực có vai
trò khác nhau.
+ Thế kỷ 6 đến thế kỷ 10, quyền tư pháp của các lãnh chúa lớn mạnh. Nhà vua ch ỉ
có quyền xét xử trên phần đất của vương triều.
+ Thế kỷ 11 đến 14, nhà vua tìm mọi cách hạn ch ế bớt quy ền l ực c ủa các lãnh chúa
phong kiến, tăng cường quyền lực của mình. Do đó, phạm vi và thẩm quy ền xét
xử của toà án nhà vua ngày càng được mở rộng.
+ Thế kỷ 15, 16 quyền tư pháp của các lãnh chúa phong ki ến b ị suy y ếu và d ần d ần
bị loại trừ. Quyền xét xử trong cả nước thuộc về toà án của nhà vua.
+ Giáo hội có quyền lập ra những “toà án tôn giáo thiêng liêng” đ ể xét x ử nh ững
người bị coi là dị giáo, chống lại giáo hội…
- Trong thời kỳ hưng thịnh của chế độ phong kiến, một nguyên tắc hoạt động ph ổ bi ến
của toà án là người xét xử phải có tài sản ít nhất bằng tài sản của của người b ị xét
xử.

• Tổ chức luật sư

- Tổ chức luật sư đã từng xuất hiện trong thời kỳ La Mã cổ đại, đ ến th ời kỳ phong
kiến tổ chức này hoạt động như những ngành nghề trong xã hội và có vai trò quan
trọng trong đời sống chính trị – xã hội.

• Viện công tố

- Ban đầu, viện công tố do nghị viện thành lập và trực thuộc nghị viện. Ủy viên công tố
phải là thành viên của Nghị Viện. Về sau, Viện Công tố tách khỏi Ngh ị Viện thành
một cơ quan độc lập.
- Viện Công tố có chức năng theo dõi ngân kh ố quốc gia và giám sát công vi ệc t ố t ụng
hình sự.


NHẬN XÉT

- Pháp luật là một phương tiện để nhà nước đàn áp, bóc lột quần chúng nhân dân lao
động, bảo vệ địa vị, quyền lợi của tập đoàn phong kiến thế tục và tập đoàn phong
kiến giáo hội.
- Pháp luật phong kiến kém phát triển hơn so với pháp luật th ời Hy La c ổ đ ại, vì nh ững
nguyên nhân sau đây:
+ Trong một thời gian dài, tình trạng phân quy ền cát c ứ và kinh t ế t ự cung t ự c ấp đã
kìm hãm sự của kinh tế hàng hoá
+ Các lãnh chúa phong kiến phải tập trung và các cuộc chinh phạt lẫn nhau, không có
thời gian cho việc xây dựng pháp luật. Trong các lãnh địa, các tập quán pháp và
mệnh lệnh của lãnh chúa phong kiến được dùng để điều chỉnh các vấn đề xã hội.
+ Tuyệt đại đa số cư dân bị mù chữ, thậm chí nhiều quý tộc cũng không bi ết đ ọc
biết viết. Nhà nước và giáo hội thực hiện chính sách ngu dân, b ắt bu ộc dân chúng
học thuộc lòng kinh thánh và không thực hiện giáo dục toàn diện.

---o0o---



BÀI
NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN PHƯƠNG ĐÔNG
---o0o---

I. NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN TRUNG QUỐC

1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ SUY VONG

a. Giai đoạn xác lập nhà nước phong kiến Trung Quốc

 Quá trình hình thành quan hệ sản xuất phong kiến
- Vào thời kỳ Đông Chu (thế kỷ thứ 8 – 3 TCN), xã hội phong kiến Trung Qu ốc có nhi ều
biến đổi quan trọng:

• Việc sử dụng công cụ lao động bằng sắt làm cho sức sản xuất phát triển nhanh
chóng (Trong nông nghiệp, diện tích đất trồng trọt được mở rộng, nhiều kỹ thuật
canh tác được áp dụng làm cho năng suất nông nghiệp tăng lên; Th ủ công nghi ệp
có nhiều tiến bộ, đó là việc cải tiến kỹ thuật và vi ệc tăng s ố l ượng các ngành
nghề; Thương nghiệp cũng rất nhộn nhịp.)
• Bên cạnh đó, chế độ sở hữu ruộng đất của nhà nước đang dần tan rã,hình thành
chế độ tư hữu về ruộng đất, lý do là:
• - Chế độ phân phong ruộng đất bị phá vỡ, chế độ tỉnh điền cũng tan rã.
Khi chính quyền nhà Chu trở nên suy yếu, các nước chư hầu được nhà Chu
phân phong ruộng đất trước nay để làm phên dậu bảo vệ mình, thì nay, l ợi
dụng tình hình này để không phục tùng nhà Chu nữa. Các nước tranh nhau
quyền lực, đất đai và tiêu diệt lẫn nhau. Do vậy, trong suốt thời kỳ Đông Chu,
ở Trung Quốc đã diễn ra cuộc nội chiến kéo dài triền miên. Để có đủ tiềm
lực theo đuổi cuộc chiến tranh, các nước lớn đều lần lượt thi hành nh ững c ải
cách về chính trị và kinh tế. Một trong những nội dung cải cách quan tr ọng là
thừa nhận sự tư hữu ruộng đất và quyền tự do bán đất.

• - Việc mua bán ruộng đất trở nên phổ biến, nhiều ruộng đ ất c ủa nhà vua
trở thành ruộng tư của quý tộc.
• - Quý tộc sử dụng sức lao động của nô l ệ đ ể khai kh ẩn đ ất hoang và bi ến
thành ruộng đất tư của mình.

- Quan hệ sản xuất phong kiến hình thành:
• Do chế độ tỉnh điền tan rã, và với diện tích ruộng đất rộng lớn nh ư th ế, quan l ại,
thương nhân, quý tộc tiến hành phát canh thu tô . Nhiều nông dân không có
ruộng đất và nô lệ trở thành tá điền, cày cấy ruộng của chủ đất. Một số khác, do ít
ruộng cũng phải lĩnh canh thêm ruộng để cày cấy.
• Họ phải nộp địa tô (có thể là tô tiền hay tô hiện vật) cho chủ đất, ngoài ra họ còn
phải nộp các khoản sưu thuế khác, phải đi làm công không cho nhà nước trong một
thời gian nhất định trong năm, như đắp đê, xây dựng các công trình… (tô lao dịch).

Như vậy, trong xã hội dần dần hình thành 2 tầng l ớp mới: t ầng l ớp đ ịa ch ủ và
tầng lớp nông dân tá điền. Đồng thời, xuất hiện một ph ương th ức bóc l ột m ới - mà
theo cách gọi của Mac, là “cưỡng bức siêu kinh tế” – nghĩa là, ch ỉ c ần có ru ộng đ ất, không
cần vốn đầu tư trang thiết bị, chủ đất vẫn có thể bóc lột được địa tô và nhiều khoản sưu
thuế khác đối với nông dân.

 Quá trình hình thành nhà nước phong kiến Trung Quốc thống nhất
- Trải qua cuộc chiến lâu dài, đến nữa sau th ế kỷ th ứ 5 TCN, ở Trung Qu ốc còn l ại 7
nước lớn, đó là: Tề, Yên, Triệu, Nguỵ, Hàn, Sở, Tần và một số nước nhỏ khác.
- Nhờ cải cách kịp thời, nước Tần trở nên hùng mạnh và tiến hành thống nhất Trung
Quốc, thành lập nhà nước phong kiến đầu tiên.
Để có đủ tiềm lực theo đuổi cuộc chiến tranh, các nước lớn đều l ần l ượt thi hành
những cải cách về chính trị và kinh tế. Tuy nội dung và quá trình thực hi ện nh ững c ải
cách của các nước này có khác nhau, song chúng đều đi theo 1 phương hướng chung.
Chẳng hạn như ở nước Tần, trong vòng 9 năm, kể từ năm 539 đến 530, vua Tần Hiếu
Công đã 2 lần hạ lệnh cải cách theo đường lối của Thương Ưởng, mà nội dung ch ủ y ếu
của cải cách này là:
• Xoá bỏ những tàn tích của chế độ thị tộc và đặc quyền của quý tộc
chủ nô,
• Thừa nhận chế độ tư hữu ruộng đất và quyền tự do mua bán đất,
• Ưu ái giai cấp địa chủ mới và tạo điều kiện cho quan hệ sản xu ất
phong kiến phát triển,
• Tăng cường trật tự trị an, khuyến khích lập quân công( manh nha xu ất
hiện phương thức tiến cử quan lại, bên cạnh hình thức thế tập),
• Tổ chức lại hệ thống hành chính theo chế độ quận, huyện…
Những cải cách như trên rất phù hợp với những biến đổi về kinh t ế, chính tr ị c ủa
Trung Quốc nói chung và nước Tần nói riêng, do vậy đã khiến cho nước T ần phát tri ển
nhanh chóng.
Đến thế kỷ thứ 5 TCN, nước Tần trở nên hùng mạnh và tiến hành công cuộc chinh
phục trên toàn cõi Trung Quốc. Năm 249 TCN, nước T ần di ệt nhà Đông Chu, ngôi Thiên
tử bù nhìn tồn tại trong 5 thế kỷ đến đây bị chấm dứt. Từ năm 230 đến năm 221 TCN,
nước Tần lần lượt tiêu diệt Hàn (230 TCN), Triệu (228 Tcn), Nguỵ (225 Tcn), S ở (223
Tcn), Yên (222 Tcn), Tề (221 TCN) hoàn thành việc thống nhất Trung Quốc. Vua T ần là
Doanh Chính, tự cho mình là “đức độ bao trùm cả Thiên Hoàng, công lao hơn hẳn Ngũ
Đế” nên tự xưng mình là Hoàng Đế, lấy hiệu là Thủy Hoàng Đế (nghĩa là Hoàng đế đầu
tiên) lịch sử quen gọi là Tần Thủy Hoàng.
- Tần Thủy Hoàng xây dựng và củng cố nhà nước phong kiến theo chính th ể quân ch ủ
chuyên chế trung ương tập quyền.

Để duy trì sự thống nhất đất nước mới vừa đạt được và đ ể c ủng c ố đ ược s ự
thống trị trên một đế quốc rộng lớn, Tần Thủy Hoàng đã tiếp tục th ực hi ện nh ững chính
sách có từ khi cải cách Thương Ưởng, nhằm xây dựng một nhà nước trung ương t ập
quyền chuyên chế.
• Tần Thủy Hoàng thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay, trở thành Hoàng đế có
quyền lực tối cao.
• Hàng ngũ quan lại được tuyển chọn và bị chính quyền trung ương chi phối mạnh
mẽ.
• Chế độ quận huyện được xác lập.
• Thống nhất pháp luật, tiền tệ, các đơn vị do lường, văn tự và thực hi ện m ột s ố
chính sách tích cực nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển.

Như vậy, trước khi thống nhất Trung Quốc thì chỉ có nước Tần là n ước có quan h ệ s ản
xuất phong kiến phát triển nhất, còn các nước khác, tuy đã xuất hiện quan h ệ s ản xu ất phong
kiến nhưng tàn dư của chế độ chiếm hữu nô lệ còn nhiều, thế lực quý tộc chủ nô còn mạnh thì
sau khi thống nhất, thông qua những chính sách chính trị, kinh tế, văn hóa của Tần Thủy Hoàng,
chế độ phong kiến được thiết lập trong cả nước.
Toàn quốc đặt dưới nền thống trị của một chính quyền trung ương tập quy ền chuyên ch ế.
Bộ máy nhà nước vừa là công cụ để giai cấp phong kiến áp b ức, bóc l ột qu ần chúng lao đ ộng,
vừa là công cụ dùng để duy trì nền thống nhất của đất nước. Bộ máy nhà nước Tần với th ể
chế quan liêu rất quy mô và đầy đủ, đã trở thành cơ sở cho việc xây dựng bộ máy nhà nước
phong kiến Trung Quốc trong suốt hơn hai ngàn năm.

b. Quá trình phát triển và suy vong của nhà nước phong kiến Trung Quốc

- Sự sụp đổ của nhà Tần

• Những chủ trương, chính sách của Tần Thủy Hoàng tuy phù hợp với ti ến trình l ịch
sử lúc bấy giờ nhưng ông tỏ ra rất tàn bạo và xa xỉ làm cho đời s ống c ủa nhân dân
Trung Quốc vô cùng cực khổ:
• Ông dùng phương pháp cai trị: “Mọi việc đều dùng pháp luật
để quyết định, không dùng ân đức, nhân nghĩa”. Đồng thời kiên quyết bày trừ
Nho giáo. Trước tình hình một số nhà nho thường dùng những câu trong sử
sách để chê bai tình hình đương thời, Tần Thủy Hoàng ra lệnh: nhân dân phải
nộp tất cả các loại sách thi, thư và các tác phẩm của các tác gia thời Chiến
quốc để đốt đi, cấm dẫn sách cổ để bàn luận với nhau, nếu hai người bàn
bạc về kinh thi, kinh thư thì chém ngay giữa chợ, lấy đời xưa để chê đời nay
thì giết cả họ (sự kiện 460 nhà nho bị chôn sống ở Hàm Dương).
• Bắt nhân dân xây dựng nhiều công trình kiến trúc đồ sộ như:
Vạn lý trường thành, lăng Ly Sơn, cung A Phòng và h ơn 700 cung rãi rác kh ắp
cả nước.
• Bắt nhân dân tham gia nhiều cuộc chiến tranh xâm lược

• Do đó, xuất hiện nhiều cuộc đấu tranh giai cấp đã nổ ra nhằm chống lại ách th ống
trị của nhà Tần.

Năm 206 TCN, Lưu Bang và Hạng Vũ, hai thủ lĩnh của nhân dân lao động đã lật
đổ được nhà Tần.

- Sơ lược lịch sử Trung Quốc từ nhà Hán đến nhà Thanh

Do mâu thuẫn trong việc phân chia quyền lực nên L ưu Bang và H ạng Vũ l ại chi ến tranh v ới
nhau (chiến tranh Hán – Sở). Năm 202 TCN, Lưu Bang tiêu diệt Hạng Vũ, th ống nh ất Trung
Quốc, lập ra nhà Hán, đóng đô ở Lạc Dương, gọi là nhà Tây Hán.
Năm 8 TCN, Vương Mãng là một ngoại thích đã cướp ngôi nhà Hán, lập ra nhà Tân. Năm 23
nhà Tân bị lật đổ.
Nhà Hán được khôi phục bởi Lưu Tú Hán Quang Vũ. Hán Quang Vũ d ời đô v ề Tr ường An,
phía đông của Lạc Dương nên gọi là Nhà Đông Hán. Năm 184, nhà Đông Hán suy s ụp, th ối nát,
cướp ruộng đất của nông dân, bóc lột nhân dân tàn tệ.
Do đó, năm 184, khởi nghĩa Khăn Vàng bùng nổ, các th ế lực phong ki ến liên minh v ới nhau
để đàn áp khởi nghĩa nhưng không thành công. Nhà Đông Hán suy vong, xu ất hi ện c ục di ện
Tam Quốc
Trong thời kỳ Tam Quốc, Trung Quốc bị phân liệt thành 3 n ước: n ước Ng ụy c ủa Tào Tháo,
nước Thục của Lưu Bị, nước Ngô của Tôn Quyền. Ba nước chiến tranh v ới nhau kh ốc li ệt
suốt hơn nữa thế kỷ. Năm 280, Tư Mã Viêm tiêu diệt được Ngô và Th ục, th ống nh ất Trung
Quốc, lập ra nhà Tấn.
Nhà Tấn diệt vong, cục diện Trung Quốc lại rơi vào cục diện Nam Bắc triều.
Năm 581, Dương Kiên thống nhất Trung Quốc, lập ra nhà Tuỳ, lên ngôi và xưng là Tuỳ
Văn Đế.
Năm 618, nhà Tuỳ mất, Lý Uyên và con là Lý Thế Dân lập ra nhà Đường.
Trong thời kỳ nhà Đường, chế độ phong kiến Trung Quốc phát triển cao nhất, hưng thịnh
nhất. Năm 907, nhà Đường diệt vong. Trung Quốc bước vào cục diện Ngũ đại Thập quốc (hay
còn gọi là 5 đời, 10 nước)
Năm 907, Triệu Khuông Dật thống nhất Trung Quốc lập ra nhà Tống.
Năm 1279, nhà Nam Tống bị quân Nguyên - Mông do Hốt Tất Li ệt c ầm đầu tiêu di ệt.
Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên. Năm 1368, nhà Nguyên bị cuộc khởi nghĩa c ủa nông dân do
Chu Nguyên Chương lãnh đạo lật đổ. Chu Nguyên Chương lập ra triều Minh.
Năm 1644, nhà Minh bị người Mãn Châu ở Đông Bắc Trung Quốc ti ến xu ống l ật đ ổ và l ập
ra nhà Thanh.

- Quá trình chấm dứt thời kỳ phong kiến ở Trung Quốc.

Năm 1840, thực dân Anh cầm đầu các nước tư bản xâm lược Trung Quốc. Trung Quốc bị
biến thành nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến.
Năm 1857, 1858, khởi nghĩa nông dân Thái Bình Thiên quốc do Hồng Tú Toàn lãnh đạo đã
làm chủ được một phần lớn lãnh thổ Trung Quốc nhưng cuối cùng, khởi nghĩa th ất bại. Một
trong những nguyên nhân thất bại là khi vào Nam Kinh, với cuộc sống vương giả, các lãnh tụ
của Thái Bình Thiên quốc đã thoái hoá, giết hại lẫn nhau, tranh giành quyền lực.
Trong khi đó, mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản đã xuất hiện. Đến năm 1911, cuộc
cách mạng tư sản ở Trung Quốc nổ ra đưới sự lãnh đạo của Tôn Trung Sơn, tri ều Thanh b ị l ật
đổ, chấm dứt thời kỳ phong kiến Trung Quốc kéo dài hơn 2000 năm.

2. CHẾ ĐỘ XÃ HỘI TRONG THỜI KỲ PHONG KIẾN Ở TRUNG QUỐC

a. Chế độ ruộng đất

Trong thời phong kiến, ở Trung Quốc có hai hình thái s ở hữu ru ộng đ ất: ru ộng đ ất c ủa nhà
nước và ruộng đất của tư nhân.

 Ruộng của nhà nước

- Ruộng đất của nhà nước có thể được gọi là công điền, vương điền, quan đi ền… nhà
nước thường đem ruộng này ban cấp cho quý tộc quan lại làm bổng l ộc và t ổ ch ức thành
đồn điền, điền trang để sản xuất; hoặc chia cho nông dân dưới hình thức QUÂN ĐIỀN
để thu tô thuế.

Năm 485, vua Hiếu Văn Đế của triều Bắc Nguỵ ban hành chế độ quân đi ền nhằm
phục và phát triển sản xuất nông nghiệp, sau đó, các triều đại Bắc Tề, Tùy, Đường cũng
áp dụng chế độ quân điền này.

- Nội dung chủ yếu của chế độ quân điền trong thời kỳ phong kiến Trung Quốc:

• Tuỳ theo chức vụ cao thấp, quan lại được ban cấp ruộng đất làm bổng lộc.
Đối với ruộng ban thưởng cho quý tộc quan lại, họ được quyền tự do mua
bán.
• Nhà nước đem ruộng đất do mình trực tiếp quản lý chia cho nông dân cày cấy.
Tuỳ theo loại ruộng, là ruộng trồng lúa hay trồng dâu, tuỳ theo ng ười nh ận
ruộng là đàn ông hay đàn bà, mà nhà nước sẽ cấp ruộng đất với diện tích khác
nhau.
Trong thời kỳ nhà Đường, ruộng trồng lúa gọi là ruộng khẩu ph ần,
ruộng trồng dâu gọi là ruộng vĩnh nghiệp.
Ruộng trồng lúa được giao đến năm 60 tuổi phải trả lại cho nhà
nước, còn ruộng trồng dâu được truyền lại cho con cháu. Nông dân không
được quyền chuyển nhượng ruộng đất do nhà nước cấp. Chỉ trong những
trường hợp đặc biệt như: dư hoặc thiếu ruộng, gia đình có vi ệc tang ma, quá
túng thiếu, chuyển nơi ở thì được quyền bán ruộng trồng lúa ho ặc tr ồng dâu
tuỳ theo từng trường hợp cụ thể

• Trên cơ sở quân điền, nhà nước bắt nông dân phải chịu nghĩa vụ ngang nhau
về thuế khoá và lao dịch. Đến đời Tuỳ, Đường nghĩa vụ đó đ ược quy đ ịnh
thành chế độ “tô, dung, điệu”.
o Tô: là thuế đánh vào ruộng lúa, được nộp bằng thóc.
o Dung: là thuế hiện vật, thay cho nghĩa vụ lao dịch, cũng nộp
bằng lúa.
o Điệu: thuế đánh vào đất trồng dâu, nộp bằng lụa.

- Khi thực hiện chế độ quân điền, toàn bộ ruộng đất bị bỏ hoang th ời chiến tranh được
canh tác trở lại, nông nghiệp phát triển, còn nông dân thì thoát khỏi sự lệ thuộc vào đ ịa
chủ. Do đó, nhà nước và nông dân đều có lợi.

- Tuy nhiên chế độ quân điền không tồn tại được lâu do sự áp bức bóc lột khốc liệt của
nhà nước, thay vào đó là chế độ thuế 2 kỳ.
Đến giữa đời Đường, do sự chiếm đoạt ruộng đất của giai c ấp đ ịa ch ủ, và
do nông dân không chịu nổi nghĩa vụ thuế khóa nên phải rời bỏ quê hương đi tha
phương cầu thực, gây nên những xáo trộn lớn về nhân khẩu. Chế độ quân điền
bị phá hoại dần dần. Trước tình cảnh đó, nhà Đường phải đặt ra chế độ thuế
khoá mới, gọi là phép thuế 2 kỳ: nhà nước căn cứ vào số ruộng đất và tài sản có
thực để đánh thuế, thu 2 lần, tương ứng với 2 mùa thu hoạch trong năm.
Từ đó, ruộng đất của nhà nước ngày càng bị thu hẹp l ại, và ch ỉ s ử d ụng đ ể
ban cấp cho quan lại hoặc lập đồn điền, điền trang để sản xuất.

 Ruộng đất tư nhân

- Trong thời kỳ phong kiến, ruộng đất tập trung vào tay giai c ấp đ ịa ch ủ ngày càng nhi ều.
Trên cơ sở ấy, tổ chức điền trang xuất hiện. Điền trang là những đơn vị kinh tế tự sản
tự tiêu.
Người lao động trong điền trang gọi là điền khách, bộ khúc, nô tỳ.
o Điền khách là những nông dân lĩnh canh ruộng đất của điền
trang, có nghĩa vụ nộp địa tô cho chủ, chủ yếu là tô sản phẩm.
o Bộ khúc là những điền khách được luyện tập quân sự, bình
thường thì sản xuất nông nghiệp, khi có chiến tranh thì trở
thành lực lượng tự vệ của điền trang.
Tuy tên gọi khác nhau nhưng điền khách và bộ khúc đều là nông dân l ệ thu ộc vào
chủ điền trang. Khác với nông nô ở phương tây, họ không bị ràng buộc đời đời vào
ruộng đất, họ có thể tự ý rời bỏ điền trang bất cứ lúc nào.

- Đến đời Đường, Tống cùng với sự phát triển của ruộng đất tư hữu, số điền trang trong
nước nhiều hơn. Nhưng lúc này, do sự phát triển của kinh tế hàng hoá, tính ch ất t ự nhiên
của kinh tế điền trang có giảm bớt. Những thay đổi này là biểu hiiện của sự tan rã dần
chế độ điền trang ở trung quốc.

- Bên cạnh đó, còn có chế độ ruộng đất của nông dân tự canh . Bộ phận ruộng đất này
rất bấp bênh, nhưng trước sau vẫn tồn tại trong xã hội phong kiến.

b. Quan hệ giai cấp
Cơ cấu giai cấp trong xã hội phong kiến Trung Quốc tương đối phức tạp, trong đó, bao gồm
các giai cấp và tầng lớp sau đây:

 Giai cấp địa chủ

Chia thành 2 tầng lớp chủ yếu là: địa chủ quan lại và địa chủ bình dân.

• Địa chủ quan lại

- Trong tầng lớp địa chủ quan lại, có một bộ phận giàu sang, th ế l ực nh ất là Địa chủ quý
tộc phong kiến, gồm: vương hầu, tôn thất, công thần… đến đời Tấn, địa ch ủ quý tộc
trở thành một tầng lớp đặc biệt, gọi là Địa chủ môn phiệt, còn gọi là Địa chủ sĩ tộc hay
Địa chủ thế tộc. Về chính trị, địa chủ thế tộc đời đời giữ những chức vụ lớn và được
quan niệm là thanh cao trong triều đình. Tầng lớp này tồn tại trong suốt chi ều dài c ủa
chế độ phong kiến.
- Địa chủ quan lại cấp dưới được gọi là Địa chủ hàn môn. Do đó, lúc bay giờ có câu
truyền miệng rằng: “Phẩm cao không có hàn môn, phẩm thấp không có thế tộc”.

• Địa chủ bình dân

Là tầng lớp không giữ chức vụ gì trong bộ máy nhà nước. Tuy v ậy, b ằng bi ện pháp chi ếm
đoạt ruộng đất, bóc lột nhân dân, buôn bán… họ trở nên rất giàu có, do đó, cũng có th ế l ực l ớn
về chính trị.
Khi chính quyền trung ương suy yếu, Một số nhà địa chủ bình dân giàu có bắt các đi ền
khách luyện tập quân sự, trước là để bảo vệ điền trang, sau có thể tham gia vào cu ộc đ ấu
tranh trong triều đình. Nếu thành công, họ trở thành địa chủ quan lại.
• Ngoài ra, từ thời Nam Bắc Triều về sau, Phật giáo và Đạo giáo nhanh chóng phát
triển. Do đó, bên cạnh địa chủ thế tộc còn có địa chủ nhà chùa. Tầng lớp này có nhiều
ruộng đất, nô dịch nhiều nông dân nhưng không giữ vai trò quan trọng trong xã hội.

 Giai cấp nông dân

Trong xã hội phong kiến trung quốc, giai cấp nông dân phân hoá thành 2 loại: nông dân t ự
canh và nông dân lĩnh canh.

• Nông dân tự canh

• Là những người cày cấy ruộng đất của mình hoặc của nhà nước cấp cho theo
chế độ quân điền.
• Họ có nghĩa vụ nộp thuế (thường là bằng 1/10 thu hoạch) và ph ải đi làm lao
dịch cho nhà nước.
• Họ là dân tự do, nếu có điều kiện học hành và thi cử đỗ đạt thì có th ể tr ở thành
quan lại.
Tuy vậy, do sự áp bức bóc lột của nhà nước phong kiến và do trình độ của
sức sản xuất còn thấp, thiên tai lại thường xuyên xẩy ra nên đời sống của họ
cũng rất vất vả. Nếu bị phá sản, họ sẽ trở thành nông dân lĩnh canh, nô tỳ, hoặc
phải đi tha phương cầu thực.

• Nông dân lĩnh canh

• Là những người không hoặc có ít ruộng đất, nên phải trở thành tá đi ền cho đ ịa
chủ.
• Họ có nghĩa vụ phải nộp tô cho địa chủ, thương bằng 5/10 thu hoạch.
• Thân phận của nông dân lĩnh canh tuỳ theo từng th ời kỳ mà có ít nhi ều khác
nhau:
o Thời Tây Hán, họ vẫn là thần dân của nhà nước.
o Nhưng từ đời Đông Hán trở về sau họ được coi là điền khách, bộ khúc
trong các điền trang, chỉ lệ thuộc vào địa chủ chứ không có nghĩa vụ gì
đối với nhà nước.
o Đời Nguyên, họ phải nộp tô nặng hơn trước và bị lệ thuộc nhiều hơn vào
ruộng đất của địa chủ. Nông dân muốn rời bỏ ruộng của địa chủ là một
việc rất khó. Thậm chí địa chủ còn can thiệp vào việc hôn nhân của tá
điền và tự ý nô dịch con cái của họ.

Trong hai loại nông dân nói trên, nông dân tự canh là đối t ượng n ộp thu ế và làm nghĩa v ụ
lao dịch cho nhà nước, còn nông dân lĩnh canh là đối tượng bóc lột ch ủ y ếu c ủa giai c ấp đ ịa
chủ. Vì vậy, nhà nước muốn duy trì đến mức tối đa tầng lớp nông dân tự canh, còn giai c ấp đ ịa
chủ thì muốn chiếm đoạt ruộng đất của nông dân và bắt h ọ l ệ thu ộc mình. Do đó, đã d ẫn đ ến
sự giành giật ruộng đất và nông dân giữa nhà nước và giai cấp địa chủ.
Do bị áp bức, bóc lột nặng nề nên nông dân Trung Quốc th ường xuyên n ổi d ậy kh ởi
nghĩa. Nhìn chung, tất cả các cuộc khởi nghĩa ấy đều th ất bại xét theo ý nghĩa chính tr ị, t ức là
không giải phóng được nông dân, không đem lại ruộng đất và quyền dân ch ủ cho h ọ. Dù kh ởi
nghĩa có thắng lợi, thì lãnh tụ nông dân lại bước lên ngai vàng thi ết l ập tri ều đ ại m ới, các lãnh
tụ phong kiến hoá quay lại bóc lột giai cấp mình. Lý do ch ủ y ếu làm cho phong trào nông dân
thất bại là do nông dân không đại diện cho lực lượng sản xuất mới. Nông dân có kh ả năng đ ập
phá xã hội cũ nhưng không có khả năng đưa ra được cương lĩnh xây d ựng một xã h ội m ới khác
với xã hội phong kiến.

 Tầng lớp công thương:

- Tầng lớp thợ thủ công:
Từ đời Hán về sau, số lượng tầng lớp công thương tăng lên ngày càng nhiều. Thợ th ủ
công cũng bị nhà nước bóc lột nặng nề. Họ có nghĩa vụ ph ải nộp thu ế và làm nghĩa v ụ lao
dịch bằng nghề nghiệp của mình. Những người nghèo, không có t ư li ệu s ản xu ất thì đi làm
thuê cho nhà nước. Chính sách bóc lột của nhà n ước cũng đã d ẫn đ ến s ự đ ấu tranh c ủa th ợ
thủ công như: trốn nô dịch, bạo động chống quan hoạn đến thu thuế công thương.
- Tầng lớp thương nhân cũng rất phát triển. Nhưng xuất phát từ quan niệm ngh ề buôn bán
là nghề ngọn, không phải là cơ sở của nền kinh tế phong kiến nên các triều đại phong
kiến ở Trung Quốc đều thi hành chính sách kiềm chế sự phát triển kinh tế của họ nh ư:
thu thuế nặng, nhà nước độc quyền một số mặt hàng quan trọng, đ ồng th ời kìm th ấp đ ịa
vị chính trị của họ, không cho họ làm quan, xếp h ọ vào l ọai cu ối cùng cùng trong “t ứ
dân” (sĩ, nông, công, thương).

 Tầng lớp nô lệ: (Còn được gọi là nô tỳ)

- Nô lệ trong thời trung đại vẫn còn chiếm khá đông. Ngu ồn nô l ệ chính là tù binh, nh ững
người phạm tội và những người quá nghèo khổ phải bán bản thân hoặc vợ con làm nô
lệ.
- Thân phận của họ tuy có khác hơn so với thời kỳ c ổ đại, nh ưng h ọ v ẫn b ị coi là m ột th ứ
hàng hoá để mua bán và trao tặng. (Đời Hán, giá 1 nữ tì là 20.000 tiền – b ằng giá 5 con
ngựa).Tính mạng của nô lệ vẫn không được bảo đảm.
- Sức lao động của nô tỳ tuy cũng có bị sử dụng vào các ngành s ản xu ất nh ư nông nghi ệp,
chăn nuôi, thủ công nghiệp,… nhưng phần lớn là dùng vào việc hầu hạ trong gia đình
địa chủ.
Sự tồn tại đông đảo tầng lớp nô tỳ trong xã hội ảnh hưởng mạnh mẽ đến nguồn thuế và lao
dịch của nhà nước. Do đó, một số quan lại đã nêu ra vấn đề h ạn ch ế hoặc xoá b ỏ quan h ệ nô
lệ. Nhiều triều đại khi mới thành lập cũng tuyên bố giải phóng nô l ệ, nh ưng do cu ộc s ống b ần
cùng của nhân dân lao động, nên đến cuối chế độ phong kiến, nô lệ vẫn còn tồn tại.

3. TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

Tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến Trung Quốc ngay từ khi vừa thành l ập và trong su ốt
thời kỳ tồn tại là Chính thể Quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền ngày càng hoàn
thiện.

a. Triều Tần

 Ở trung ương

- Đứng đầu bộ máy nhà nước là Hoàng đế. Ông là người nắm mọi quy ền lực nhà n ước.
Mọi công việc quan trọng của nhà nước đều được các đại th ần th ảo lu ận, nh ưng Hoàng
đế là người quyết định cuối cùng. Mệnh lệnh của hoàng đế phải được chấp hành một
cách tuyệt đối. Hoàng đế ở trong cung điện tại kinh đô ở Hàm D ương, hàng ngày duy ệt
văn thư từ các nơi trong cả nước gởi tới.

- Dưới Hoàng đế là là bộ máy quan lại trung ương gồm Tam công và Cửu khanh.

• Tam công là 3 chức quan đầu triều, gồm:
1. Thừa tướng: tổng quản chính vụ, giúp hoàng đế cai trị dân, nắm thu chi c ủa nhà
nước, quản lý các công trình công cộng.
2. Thái úy: phụ trách về quân sự.
3. Ngự sử đại phu: nắm giữ văn thư và giám sát các quan.
• Cửu khanh gồm 9 vị quan phụ trách các công việc khác nhau như:
1. Lang trung lệnh: quản lý túc vệ thị tòng, thủ vệ cung điện trắc môn
2. Vệ uý: quản lý cung môn, bảo vệ các đồn lính
3. Thái phó: phụ trách việc hoàng đế sử dụng ngựa và mã chính toàn quốc
4. Đình úy: chưởng quản hình sự và thẩm phán
5. Điển khách: phụ trách tiếp đãi các dân tộc ít người quy ph ục v ề v ới tri ều đình và
đối ngoại
6. Trị túc nội sử: coi về thuế má, kho tiền và sự thu nhập quốc gia
7. Tổng chính: coi sóc tiền tài trong hoàng tộc và đồ đạc trong thất
8. Thiếu phủ: phụ trách sự việc trong cung đình
9. Phụng thường: phụ trách chế độ lễ nghi và cúng tế.

 Ở địa phương

- Chế độ quan lại địa phương đời Tần được chia làm 2 cấp là quận và huyện.
- Tần Thủy Hoàng không thi hành chính sách phân phong ruộng đất mà chia c ả n ước thành
36 quận, đứng đầu là Quận thú.
- Mỗi quận lại chia ra một số huyện, do Huyện lệnh cai trị. Các quan ở qu ận và huy ện
đều do trung ương bổ nhiệm

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, trong 1 quận có Quan Thú coi vi ệc chính tr ị, Quan Uy coi v ề quân s ự.
Trong một huyện có lệnh và dưới lệnh thì có thừa.

b. Nhà Hán

- Buổi đầu, bộ máy nhà nước Hán đại để vẫn theo chế độ của nhà Tần.
- Thế nhưng, vua đầu tiên của nhà Hán là Hán Cao Tổ th ực hiện chính sách phân phong
ruộng đất cho anh em, con cháu mình làm Vương hầu.
Vương hầu được quyền lập quân đội, thu tô thuế, đúc tiền và phát hành tiền
không hạn chế trong khu vực do mình quản lý. Do đó, quyền lực của vương hầu
ngày càng mạnh và họ âm mưu phản loạn cát cứ.
- Đến đời vua Hán Vũ Đế, ông thi hành nhiều chính sách làm suy y ếu th ế l ực v ương h ầu,
cụ thể là:
• Cho phép vương hầu phân phong đất cho con em của mình, nh ằm phân tán đ ất và làm
suy yếu thực lực của họ.
• Thay đổi chế độ tuyển dụng quan lại, ngoài việc chọn con em đại thần làm quan,
hàng năm, các địa phương phải chọn người hiếu liêm để bổ sung vào hàng ngũ quan
lại.
- Về bộ máy nhà nước
• Ở trung ương, về cơ bản, vẫn giữ nguyên các cơ quan như th ời nhà Tần, tuy nhiên,
lúc này Thượng thư lệnh nắm đại quyền của Thừa tướng.
• Ở kinh sư, tăng thêm cơ quan mới là Tam phụ, gồm có: Kinh Triệu Doãn, Tả Phong
Dực, Hữu Phù Phong (cấp bậc này ngang với Quận thú).
• Ở địa phương:
• Chia cả nước thành 13 bộ (châu) mỗi bộ đặt một quan Thứ sử, về sau đổi lại là
Châu mục.
• Dưới châu là quận, đứng đầu quận là Quận thú.
• Dưới quận là huyện, đứng đầu huyện là Huyện lệnh.

Như vậy, chế độ quản lý ở địa phương có 3 cấp (bộ, quận, huy ện). Và ch ế đ ộ này đ ược
áp dụng suốt đến thời kỳ Nam Bắc Triều.

c. Nhà Đường

Nhà Đường lật đổ nhà Tuỳ. Kế thừa tổ chức bộ máy nhà n ước c ủa chính quy ền tùy, tuy
nhiên có thực hiện một số cải cách trong tổ ch ức bộ máy nhà n ước nh ằm c ủng c ố và tăng
cường chính thể quân chủ chuyên chế.

 Ở trung ương

- Thừa kế và hoàn thiện hơn chế độ tam tỉnh và lục bộ.

• Tam tỉnh: thượng thư tỉnh, trung thư tỉnh, môn hạ tỉnh. Đứng đầu là tể tướng.
• Thượng thư tỉnh: chưởng quản những công việc hành chính lớn lao. Thượng th ư
tỉnh gồm 6 bộ (lục bộ):
1. Bộ lại: phụ trách việc quan lý quan lại.
2. Bộ hộ: quản lý hộ, hôn, điền sản.
3. Bộ binh: phụ trách quân sự.
4. Bộ lễ: phụ trách lễ nghi, triều tiết.
5. Bộ hình: quản lý việc xét xử.
6. Bộ công: quản lý thủ công nghiệp, buôn bán.
Đứng đầu mỗi bộ là Thượng Thư. Phó là Thị Lang. Dưới m ỗi b ộ có 4
ty, đứng đầu mỗi ty là Lang Trung.
• Trung thư tỉnh: soạn thảo văn bản, luật lệnh.
• Môn hạ tỉnh: có nhiệm vụ thẩm nghị sách lệnh sáng chế quy định và ban bố.

Tuy đã có sự phân công nhiệm vụ, quyền hạn nhưng các cơ quan này vẫn
thường xuyên hổ trợ phối hợp với nhau, là cơ chế tể tướng tập thể.

- Ngoài ra, nhà Đường còn lập một số cơ quan khác như:

• Đại lý tự: cơ quan xét xử tối cao.
• Ngự sử đài: cơ quan kiểm sát tối cao, giám sát quan lại trung ương và địa ph ương.
Trưởng quan ngự sử đài do Hoàng đế trực tiếp lãnh đạo….

 Ở địa phương
- Chia cả nước thành 10 đạo (đến thế kỷ thứ 8 tăng lên thành 15 đ ạo). Đ ứng đ ầu m ỗi đ ạo
là thứ sử.
- Dưới đạo vẫn là quận (châu), huyện.
- Đứng đầu châu là thích sử, đứng đầu huyện là huyện lệnh.
- Quan lại từ cấp huyện trở lên do triều đình bổ nhiệm.

 Một cải cách có ý nghĩa vô cùng quan trong khác của nhà Đường là cải cách
chế độ sĩ tộc và mở rộng khoa cử.
- Chế độ Sĩ tộc không theo dòng dõi huyết thống như trước mà theo phẩm trật cao th ấp
của quan lại. Phẩm trật còn gọi là phẩm hàm hoặc tước vị. Ph ẩm hàm g ồm có chính b ậc
(cửu phẩm) theo thứ tự từ cao đến thấp. Mỗi bậc l ại có 2 c ấp. Nh ư v ậy, th ực t ế có 18
cấp bậc.
- Còn chế độ khoa cử có tổng cộng 8 khoa mục, trrong đó, quan trọng nhất là khoa tiến sĩ.

 Quân đội

- Tổ chức theo chế độ phủ binh (trưng binh nông dân dựa theo chế độ quân điền).
Đàn ông phải gia nhập phủ binh từ năm 20 – 60 tuổi. Hàng ngày ở nhà làm
ruộng và luyện tâp quân sự. Hàng năm thay nhau lên kinh đô làm quân túc v ệ ho ặc
đồn thú ở biên cương. Khí giới, trang bị, lương thực do binh sĩ tự túc. Khi có chi ến
tranh, binh sĩ được tập trung lại theo tướng soái ra trận. Khi chiến tranh chấm dứt
thì tướng về triều, binh về đạo.
- Từ giữa thế kỷ thứ 8, chế độ phủ binh được thay thế bằng chế độ mộ binh.
Những con em nhà giàu, khỏe mạnh được đưa vào kinh đô làm quân túc vệ.
Đối với vùng biên thuỳ thì binh lính được trưng dụng tại ch ỗ, đ ồng th ời đ ặt ch ức
Tiết độ sứ, nắm binh quyền đề phòng ngự biên cương và trấn áp nhân dân.
- Thời trung Đường, Tiết độ sứ kiêm luôn cả chức Thứ sử, nắm đại quyền quân chính ở
địa phương. Về sau, chính các Tiết độ sứ này là những phần tử phản loạn cát cứ.

d. Nhà Tống

- Tổ chức bộ máy nhà Tống về cơ bản giống mô hình của nhà Đường.
- Nhưng rút kinh nghiệm của nhà Đường trong việc giao cho Ti ết đ ộ s ứ quy ền l ực quá
lớn, tạo cơ hội cho Tiết độ sứ uy hiếp chính quy ền trung ương, Nhà Tống thu hồi binh
quyền của các Tiết độ sứ bằng cách bãi bỏ các đạo. C ả n ước chia thành nhi ều khu
vực nhỏ hơn gọi là Lộ, do Tri Lộ đứng đầu. Dưới Lộ vẫn là Châu, Huyện Xã.
- Nhà Tống rất chú trọng đến việc xây dựng đội ngũ quan lại thông qua con đường khoa
cử.

e. Nhà Nguyên

- Do là một dân tộc có nền văn minh thấp kém hơn so với dân tộc bị trị, nên ng ười Mông
Cổ đã bắt chước mô hình tổ chức nhà nước, chế độ phân phong ruộng đất thuế khóa của
người Trung Quốc trước đó.
- Mặt khác, Nhà Nguyên thi hành chế độ phân biệt đối xử dân tộc trắng trợn.
• Cư dân được chia thành 4 hạng người:
1. Người Mông Cổ;
2. Người Sắc Mục (người Hạ, người Trung A, người Ba Tư…);
3. Người Hán ( người Khiết Đan, Hán, Cao Li…);
4. Người Nam (các tộc người ở phía Nam Trung Quốc).
• Trong đó, các chức quan trong bộ máy nhà nước, trước nhất dành cho người Mông
Cổ, rồi đến người Sắc Mục, sau đó mời đến Người Hán. Quy ền ch ỉ huy quân đội
hoàn toàn thuộc về người Mông Cổ.
- Một số thay đổi trong bộ máy nhà nước:
• Lục bộ không còn do Thượng thư tỉnh cai quản mà do Trung thư tỉnh.
• Ở địa phương, chia cả nước thành 10 hành tỉnh. Dưới tỉnh là lộ (đứng đầu là Đạt lỗ
hoa xích và Tổng quản), châu (đứng đầu là Châu doãn) và huy ện (đ ứng đ ầu là Huy ện
doãn).
- Sau này, Nhà Nguyên khôi phục lại chế độ khoa cử. Lúc đó, con em người Hán đ ỗ đ ạt và
chiếm số lượng lớn trong hàng ngũ quan lại.

f. Nhà Minh

Chu Nguyên Chương sau khi lật đổ được Nhà Nguyên, lập nên Nhà Minh đã tiến hành
cải cách tổ chức bộ máy nhà nước, làm cho cơ chế thực hiện quyền lực quân chủ phát tri ển
đến mức cực đoan.

- Chức thừa tướng bị bãi bỏ để tập trung quyền lực vào tay nhà vua.
- Từng bộ phận của lục bộ phải chịu trách nhiệm trước nhà vua.
- Ngự sử đài được đổi tên thành Đô sát viện, có chức năng kiểm sát quan lại và xét xử.
- Thành lập Hàn lâm viện để soạn thảo các văn kiện. Đông các vi ện đ ể sửa ch ữa các văn
kiện. Quốc tử giám trông coi việc giáo dục. Tư thiên giám trông coi thiên văn và đ ịnh l ịch
pháp…
- Cải đổi Trung thư tỉnh thành Nội các (tập hợp các Hàn lâm biên tu, Thái học sĩ).
- Ở địa phương, Nhà Minh đổi đạo, quận (châu), huyện thành tỉnh, phủ, huyện, xã.
• Nếu trước đây, quyền hành của đạo được tập trung vào tay của một viên quan thì nay
quyền hành ở tỉnh được chia cho Tam ti. Tam ti do tri ều đình tr ực ti ếp ch ỉ huy và
thường xuyên chịu sự giám sát của đô sát viện, các giám sát ngự sử, gồm có 3 quan:
• Thừa tuyên bố chính sứ ti: quản lý hành chính
• Đề hình án sát sứ ti: nắm quyền tư pháp.
• Đô chỉ huy sứ ti: nắm quyền chỉ huy quân đội.
Sở dĩ chỉ có quyền hành của người quản lý ở cấp tỉnh bị phân chia vì t ỉnh là
một khu vực lớn, dễ xưng hùng xưng bá, nên nhà minh chia ra như v ậy nh ằm tránh
nạn phân quyền cát cứ.
• Đứng đầu phủ là tri phủ.
• Đứng đầu huyện là tri huyện
• Đứng đầu xã là xã trưởng.
- Về quân đội, Nhà Minh đặt ra Ngũ quân đô đốc ph ủ (trung, t ả, h ữu, ti ền, h ậu). Qu ản lý
các đội quân binh này là Đô đốc phủ, nhưng chỉ có nhiệm vụ nắm sổ binh, không trực
tiếp chỉ huy quân đội. Khi có chiến tranh, hoàng đế cử tướng soái chỉ huy quân đội.
Chiến tranh kết thúc, họ phải trả lại ấn tín và về lại nhiệm sở. Bằng cách đó, vua trực
tiếp nắm giữ quân đội.

g. Nhà Thanh

Cũng là một triều đại ngoại tộc có trình độ phát triển thấp hơn người Trung Quốc, nên
giống như Nhà Nguyên, Nhà Hán tiếp tục xây dựng chế độ quân chủ chuyên chế cực đoan và
cũng thi hành chế độ phân biệt sắc tộc.
- Trong bộ máy nhà nước, Hoàng đế nắm quyền lực tối cao và trực tiếp giải quy ết m ọi
việc.
- Dưới Hoàng đế là một cơ quan tối cao gọi là “Quân cơ xứ”, do Hoàng đ ế trực ti ếp lãnh
đạo để giải quyết những vấn đề quan trọng. Thành viên của Quân cơ xứ là nh ững quý
tộc cao cấp người Mãn.
- Lục bộ lúc này chỉ là cơ quan chấp hành theo ý chí của Hoàng đế.
Theo quy định, chỉ có một số quan cao cấp mới được tấu trình. Do đó, hoàng đế
nhà thanh ngày càng xa rời cấp dưới.
- Ở địa phương, Hoàng đế trực tiếp bổ nhiệm quan lại cấp tỉnh. Quan lại người Hán
không được nhận chức ở quê nhà (hạn chế việc quan lại Hán tộc liên hệ với nhân dân
địa phương chống lại triều đình Mãn Thanh).
- Về quân đội, được chia thành 2 loại:
• Quân Bát kỳ: là quân chủ lực của triều đình, đóng ở kinh đô và các vùng trọng y ếu,
được hưởng nhiều ưu đãi;
• Quân Lục doanh: là quân đội Hán tộc ở các địa phương.

 TỔNG QUAN VỀ CHẾ ĐỘ QUAN LẠI PHONG KIẾN TRUNG QUỐC

1. Chức Tể tướng

- Trong nhà Tần, chức Tể tướng là một chức quan trọng cơ cấu Tam công, có nhiệm vụ
tổng quản chính vụ, giúp Hoàng đế cai trị dân, nắm thu chi của nhà nước, qu ản lý các
công trình công cộng. Có lúc phân chia thành Tả Hửu Th ừa tướng. Nếu dùng ho ạn quan
đảm nhiệm chức thừa tướng thì gọi là Trung thừa tướng, được vào n ội đi ện tâu m ọi
việc lên Hoàng đế.
- Thời Tây Hán, phủ thừa tướng có Trưởng sử, còn gọi là Bí thư trưởng..
- Thời Tuỳ , Đường không đặt ra chức Tướng quốc. Đứng đầu Tam tỉnh đều là ch ức Tể
tướng.
- Nhà Tống, dùng Đàm Môn Hạ, Đồng Trung Thư, Bình Chương Sự làm Tể tướng chính
và lấy Tham Tri Chính Sự làm Phó tể tướng. V ề sau, danh xưng T ể t ướng đ ược s ửa đ ổi
nhiều lần: Thượng Thư Tả Bộc Xạ Kiêm Môn Thị Lang; hoặc Thái Tể Kiêm Môn Hạ
Thị Lang; hoặc Tả Thừa Tướng, Hữu Thừa Tướng.
- Triều Nguyên, ở Trung thư tỉnh có Tả Hữu Thừa tướng.
- Triều Minh, triệt tiêu Trung thư tỉnh và Tả Hữu Thừa tướng, tất cả mọi vi ệc đ ều do
Hoàng đế trực tiếp quyết định. Tuy nhiên, có dùng các Học sĩ làm quan cố vấn cho nhà
vua, đại học sĩ tuy không có danh xưng là Tể tướng nhưng thực sự là Tể tướng.
- Nhà Thanh, đặt ra cơ quan “Quân cơ xứ”, chức quyền của Nội các Đại học sĩ d ần d ần b ị
Quân cơ xứ thay thế. Do đó, Quân cơ xứ cũng dần thay thế vai trò Tể tướng của Đại học
sĩ.
Như vậy, để quản lý quốc gia rộng lớn như Trung Quốc, Hoàng đ ế d ưới tri ều đ ại nào cũng
cần có một vị quan hay một hội đồng thân tính giúp việc với tính chất là 1 Tể tướng.

2. Các cơ quan ở địa phương.

a. Tỉnh

- Ban đầu Tỉnh là tên của cơ quan trung ương (Thượng Thư Tỉnh, Trung Thư Tỉnh, Hạ
Môn Tỉnh…).
- Đời Nguyên, Trung Thư Tỉnh cai quản Lục bộ, cơ cấu Trung thư t ỉnh phái xu ất ra là
Hành Trung Thư Tỉnh, là cơ quan hành chính tối cao ở địa phương. Toàn quốc, trừ kinh
đô và Tây Tạng, các địa phương còn lại đặt thành 10 hành trung th ư tỉnh. Từ đó, Hành
Trung Thư Tỉnh đã biên chế thành cơ cấu địa phương.
- Nhà Minh bãi bỏ Trung Thư Tỉnh. Từ đó về sau, tỉnh không còn là cơ cấu của trung ương
nữa. Hành Trung Thư Tỉnh ở địa phương được đổi lại thành Thừa Tuyên Bố Chính Sứ
Ty (nhưng theo thói quen, người ta vẫn gọi địa ph ương là Tỉnh). Tr ừ kinh đô ra, toàn
quốc được chia thành 13 bố chính sứ ty (tỉnh).
- Nhà Thanh chia toàn quốc thành 18 tỉnh, về sau lại tăng lên đến 23 tỉnh.

b. Châu


- Ban đầu, Trung Quốc có 9 Châu, châu ở đây là khu vực hoạt động c ủa b ộ l ạc. (C ửu châu
tức là chỉ 9 bộ lạc sinh sống ở Trung Quốc.)
- Thời Hán Võ Đế, chia toàn quốc thành 13 bộ, về sau gọi là châu. Mỗi châu đ ặt 1 quan
Thứ sử để giám sát các quan lại ( châu là khu giám sát).
- Cuối thời Đông Hán, châu quan trọng được đổi thành mục, triều đình c ử c ửu khanh đ ến
trấn nhậm (châu là khu hành chính).
- Thời Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều, châu là khu hành chính cao nh ất, đ ứng đ ầu v ẫn là Th ứ
sử. Châu quan trọng vẫn gọi là mục.
- Đời Tuỳ, châu và quận cùng 1 cấp.

c. Huyện

- Thời Tây Chu, ở Trung Quốc đã đặt huyện. (Trong thành nội chia thành nhi ều huy ện. Ở
bên ngoài , chia thành các toại, mỗi toại lại chia thành 5 huy ện. Mỗi huy ện có kho ảng
2500 hộ, đứng đầu là chính huyện.)
- Khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, cứ vạn hộ trở lên gọi là đ ại huy ện, đ ứng đ ầu là
Huyện lệnh; không đủ vạn hộ gọi là tiểu huyện, đứng đầu là ti ểu huy ện là Tr ưởng
huyện.
- Về sau, huyện luôn là cơ quan địa phương của các triều đại. Tuy nhiên, tên g ọi, ch ức v ụ
của vị quan đứng đầu huyện có thay đổi: Huyện Tể, Tri Huyện, Huyện Doãn…
4. ĐẶC TRƯNG CỦA NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN TRUNG QUỐC

a. Nhà nước phong kiến Trung Quốc là chính thể quân chủ chuyên chế điển
hình ở phương đông.

- Trong tất cả các triều đại, Hoàng đế luôn là người đứng đầu nhà nước, toàn bộ quyền
lực đều tập trung vào tay nhà vua.
• Cơ cấu bộ máy nhà nước là nhất nguyên chế, ngòai quyền lực của Hoàng đế ra,
không có cơ cấu lập pháp, hành pháp, tư pháp.
• Quan lại, thuộc hạ các cấp đều là tôi tớ của Hoàng đ ế. Đ ể cho n ền th ống tr ị trên toàn
quốc có thực lực mạnh mẽ, hệ thống quan lại được chia thành 2 cấp: trung ương và
địa phương. Quan lại của trung ương và địa phương thực hiện quyền lực của Hoàng
đế khắp ngang cùng ngõ hẻm. Họ trở thành đại biểu của nhà vua, và thông qua họ,
nhà vua có thể kiểm soát được toàn quốc, toàn dân, nh ờ đó, ch ế đ ộc quân ch ủ chuyên
chế càng được củng cố.
- Trong lịch sử phát triển lâu dài của mình, nhà nước phong kiến trung quốc không tránh
khỏi những thời kỳ bị phân quyền cát cứ ngắn. Nh ư th ời kỳ Tam Qu ốc Chí, th ời kỳ Nam
Bắc Triều, thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc. Nhưng trạng thái phân quy ền cát c ứ ch ỉ là t ạm
thời, nó không phá vỡ được cả tiến trình phát triển của nền quân chủ chuyên chế.
 Lý do:
- Giống như trong chế độ chiếm hữu nô lệ, nhà vua nắm quy ền sở h ữu tối cao ru ộng đ ất;
nhà nước gánh vác chức năng trị thủy các con sông lớn, chức năng tiến hành chiến
tranh… Do đó, cần phải tập trung quyền lực vào tay vua để huy động được sức người,
sức của trong thiên hạ.
- Bên cạnh đó, do đặc thù lịch sử, công xã nguyên th ủy Châu A tan rã không tri ệt đ ể, công
xã nông thôn còn tồn tại một cách bền vững với vai trò là tế bào vững chắc nhất của nền
chuyên chế phương đông với đầy đủ truyền thống quyền uy gia trưởng, quyền uy bạo
lực, quyền uy tôn giáo, quyền uy pháp luật, quyền uy bạo lực, quyền uy kinh tế… Tất
cả các quyền uy đó tập hợp lại thành một thứ quy ền uy vô h ạn, mà đ ại di ện t ối cao c ủa
nó là nhà vua.

b. Nhà nước sử dụng Nho giáo làm hệ tư tưởng thống trị trong suốt thời kỳ
phong kiến.
- Nho giáo là một học thuyết do khổng tử khởi xướng từ thời xuân thu, được thoàn thi ện
và bổ sung trong các thời đại về sau. Tư tưởng căn bản của nho giáo là mu ốn t ạo ra m ột
xã hội ổn định trong gia đình, trong nhà nước và trên toàn th ế gi ới. M ục tiêu c ơ b ản c ủa
học thuyết này là bảo đảm lợi ích của giai cấp thống trị.
- Nho giáo yêu cầu hành vi của con người trước hết ph ải dựa vào một h ệ th ống luân lý
đạo đức nghiêm ngặt, sau đó mới dựa theo chuẩn m ực c ủa pháp lu ật. Theo đó, h ệ th ống
luân lý mà nho giáo đưa ra là: người trẻ tuổi phải ph ục tùng người nhii ều tu ổi, người
dước phải phục tùng người trên, người không phải là người Trung Quốc ph ải phục tùng
người Trung Quốc; trói buộc con người trong mối ràng buộc của tam cương (vua –tôi; vợ
– chồng; cha – con) nhằm củng cố trật tự đẳng cấp phong kiến, mà cụ thể là trật tự quan
liêu và trật tự gia trưởng. Trong đó, trung quân là là c ốt lõi c ủa m ọi tr ật t ự xã h ội và m ọi
quan hệ xã hội.
- Như vậy, Nho giáo giải quyết các mối quan hệ trong xã hội theo chiều h ướng bất bình
đẳng vầ xã hội chính trị và dân tộc. Nó có lợi cho giai cấp thống trị nên được nhà nước
phong kiến Trung Quốc lợi dụng, biến nó thành hệ tư tưởng thống trị của mình.


c. Luôn tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược nhằm mở rộng lãnh thổ.

- Chức năng xâm lược là một chức năng cơ bản của nhà nước phong kiến Trung Qu ốc.
Theo quan điểm của đạo Nho, thiên hạ rất rộng, tất cả các vùng ngoài Trung Quốc đều
là thiên hạ. Mà thiên hạ thì thuộc về Hoàng đế, do đó, Hoàng đế có nhi ệm v ụ bình thiên
hạ, tức là phải chinh phục các nước khác.
- Chúng ta có thể thấy trong suốt 2000 năm của thời kỳ phong ki ến, h ầu h ết các tri ều đ ại
đều tiến hành công cuộc chinh phục, mở mang bờ cõi. Trong quá trình xâm l ược, các đ ế
chế phong kiến Trung Hoa thực hiện nhiều phương thức và thủ đoạn như:
• Chinh phục đi đôi với đồng hóa.
• Kết hợp các thủ đoạn ngoại giao, kinh tế, chính trị, quân sự…
• Di dân, lấn chiếm lãnh thổ, quay rối biên giới rồi tiến tới vũ trang xâm lược.
• Lôi kéo, chia rẽ, dùng nước này đánh nước khác…

II. NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN NHẬT BẢN

1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ SUY VONG

a. Quá trình hình thành nhà nước phong kiến Nhật Bản

 Xã hội chiếm hữu nô lệ ở Nhật Bản

- Căn cứ vào nhiều tài liệu, người ta biết rằng vào những thế kỷ đầu công nguyên, ở Nh ật
Bản đã xuất hiện những hình thức phôi thai của nhà nước.
Theo Đông Di Truyện, Hán Thư Địa Chí và Hậu Hán Thư của Trung Quốc,
thì vào thế kỷ 1, ở Nhật Bản đã hình thành hơn 100 nước nhỏ. Những nước này
thực chất là liên minh của các bộ lạc, nhưng đã mang m ột vài y ếu t ố c ủa nhà
nước, người ta thường gọi các quốc gia này là những quốc gia bộ lạc. Các quốc
gia này thường tổ chức chiến tranh thôn tính lẫn nhau. Đến cuối thế kỷ thứ 4, trên
đảo Hôn Sư xuất hiện quốc gia Yamatô. Quốc gia này nhanh chóng lớn mạnh và
thống nhất được Nhật Bản.
- Nhật Bản tuy là quốc gia hình thànhh muộn nhưng phát triển rất nhanh chóng nh ờ bi ết
tiếp thu, học hỏi văn minh của các nước khác như Triều Tiên, Trung Quốc.
Sau khi thống nhất Nhật Bản, năm 391, Yamatô đưa quân đi xâm chi ếm Nam
Triều Tiên, bắt cả vùng này quy phục Nhật Bản trong thời gian gần 2 thế kỷ.
Trong giai đoạn này, Nhật Bản được tiếp xúc với văn hoá và kỹ thuật của Tri ều
Tiên, đồng thời thông qua Triều Tiên, Nhật Bản cũng mở rộng giao lưu ti ếp xúc
với Trung Quốc. Triều đình Yamatô còn cho mời người Trung Quốc, Tri ều Tiên
sang ở hẳn bên Nhật để truyền bá nhiều phương diện kỹ thuật và văn hoá. Từ th ế
kỷ 4, chữ Hán du nhập vào Nhật Bản và trở thành quốc tự của n ước này. Đ ến th ế
kỷ thứ 5 thì Nho giáo, và sau đó, vào thế kỷ 6, Phật giáo cũng đ ược truy ền vào
Nhật Bản.
- Với những nguyên nhân trên, xã hội Nhật Bản có rất nhi ều bi ến chuy ển, hình thành nên
nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau:

• Giai cấp thống trị

• Đứng đầu là Thiên Hoàng. Vào thế kỷ thứ 6, vì thấy vua ở Trung Qu ốc g ọi là
Thiên Tử, đồng thời thấy một vài dòng họ ở triều tiên t ự x ưng V ương nên vua
Nhật Bản lấy hiệu cao quý là Thiên Hoàng.
• Bên dưới, Thiên Hoàng tập hợp các hào tộc cũng là những người cùng họ với
Thiên Hoàng để chia nhau quyền hành trong triều đình.

• Giai cấp bị trị

• Dân tự do phải lao động cực nhọc và bị áp bức, bóc lột nặng nề.
• Bên cạnh đó, trong xã hội Nhật Bản cũng đã xuất hi ện nô l ệ. Nô l ệ chi ếm s ố
lương ít, sức lao động của nô lệ dùng để phục dịch trong các gia đình quý t ộc, khai
khẩn đất hoang, làm thủy lợi và nhiều công trình khác.
• Tầng lớp bộ dân: đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát tri ển c ủa Nh ật
Bản.
Họ vốn là thành viên của những bộ tộc bị chinh phục. Sau khi chinh
phục, người chiến thắng bắt kẻ bị chinh phục phải lệ thuộc vào mình và gọi
đó là bộ, thành viên của nó gọi là bộ dân. Bộ dân bị phá sản và phụ thuộc
vào quý tộc. Họ là những người nửa tự do, có một chút tài sản riêng, chủ
không có quyền bán và giết họ, nhưng họ bị trói chặt vào ruộng đ ất c ủa
Thiên Hoàng và quý tộc.

- Tình hình xã hội Nhật Bản thời kỳ nhà nước Yamatô chứng tỏ rằng, tuy quan hệ nô lệ đã
từng tồn tại trong lịch sử nhưng, nó không trải qua sự phát triển đầy đủ của xã hội
chiếm hữu nô lệ. Mà nguyên nhân của nó là do:
• Nền kinh tế chủ yếu của Nhật Bản là nông nghiệp chủ y ếu do nông dân công xã cày
cấy. Nô lệ chưa bao giờ là nguồn lao động sản xuất chủ yếu.
• Nguồn nô lệ ngày một suy giảm. Trước nay, nô lệ mà Nh ật B ản có đ ược ch ủ y ếu do
tiến hành chiến tranh xâm lược Triều Tiên, nhưng vào thời kỳ này, Tri ều Tiên l ớn
mạnh, có khả năng đẩy lùi các cuộc đấu tranh của Nhật Bản.
• Thời kỳ hình thành nhà nước Nhật Bản cũng là th ời kỳ ch ế đ ộ nô l ệ, xét trên ph ạm vi
toàn thế giới đã lâm vào tình trạng suy sụp.

 Quá trình tan rã chế độ chiếm hữu nô lệ
- Từ thế kỷ 6, Nhật Bản đã trở thành một quốc gia th ống nh ất. Sản xuất phát tri ển nh ờ áp
dụng nhiều cải tiến kỹ thuật.
- Tuy nhiên, sự phát triển của sản xuất chỉ làm giàu thêm cho tầng lớp quý tộc, còn t ầng
lớp nhân dân vẫn cực khổ vì bị áp bức bóc lột. Nh ững cu ộc ph ản kháng c ủa qu ần chúng
nhân dân thường xuyên diễn ra, thông thường là bỏ trốn. Chế độ bộ dân có nhiều dấu
hiệu bị tan rã. Để cứu vãn tình hình, Nhà nước cử quan lại đến quản lý một số bộ dân,
tiến hành đăng ký các gia đình của bộ dân vào sổ hộ tịch.
- Từ đó, các bộ dân, từ thân phận phụ thuộc các quý tộc sang địa vị th ần dân nhà n ước.
Điều này chứng tỏ rằng vào cuối thế kỷ 6, xã hội chiếm h ữu nô lệ nh ật b ản b ắt đầu
chuyển mình sang xã hội phong kiến.
Người đặt nền mống cho những thay đổi đó là thái tử Sôtôcư với đạo luật
17 điều và chính sách tiến bộ của ông. Tuy nhiên, ông đã không thực hi ện được
những cải cách của mình, do hoàn cảnh lịch sử.

 Quá trình thiết lập nhà nước phong kiến Nhật Bản

- Năm 645, Thiên Hoàng Côtôcư lên ngôi, đặt niên hiệu là Taica. Ngay sau đó 1 năm, ông
ban chiếu cải cách và ban hành những luật lệnh cụ th ể. Lịch s ử Nh ật B ản g ọi đó là cu ộc
cải cách Taica (646 – 649).
- Nội dung của cuộc cải cách:
• Xoá bỏ quyền sỡ hữu tư nhân về đất đai; quy định chỉ có nhà nước được quy ền sở
hữu đất đai.
• Xoá bỏ chế độ bộ dân, toàn bộ cư dân trở thành thần dân cả nước, được lĩnh canh
ruộng đất của quốc gia và có nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước.
• Nhà nước thực hiện chế độ ban điền và chế độ thu tô “tô, dung, đi ệu” (t ương t ự nh ư
ở Trung Quốc.)
Người ở địa phương nào được chia ruộng ở địa phương ấy. Nam từ 6 tuổi
trở lên, mỗi người được cấp 1 đoạn, nữ bằng 2/3 suất của nam, nô tì hoặc tôi tớ
trong nhà được cấp 1/3 suất của dân tự do. Những người nhận phải ruộng x ấu thì
được gấp đôi.
Nông dân nhận ruộng phải nộp thuế cho nhà nước bằng thóc (3% sản
lượng/ những người có dưới 1 mẫu; 25% sản lượng/ những người có trên 1 mẫu);
đồng thời họ còn phải nộp thuế bằng sản phẩm thủ công nghiệp như t ơ l ụa, bông
vải… ngoài ra còn làm lao dịch 10 ngày trong năm trong các công trình công cộng.
Mỗi gia đình được quyền sở hữu đối với đất nhà, đất vườn của họ. Rừng
núi, ao ngòi, sông hồ là của chung, ai cũng có quyền sử dụng.
Người nông dân lĩnh canh ruộng đất, về hình thức, không bị mất quyền tự do
cá nhân, nhưng họ cũng không có quyền rời bỏ mãnh đất được chia và trở thành
đối tượng bóc lột chủ yếu của nhà nước và giai cấp thống trị.
• Tầng lớp quý tộc thống trị cũng có ruộng đất dưới hình thức phong nhận được của
nhà nước.
Căn cứ theo tước vị, chức vụ, công lao của quý tộc mà nhà nước ban cấp
ruộng đất cho họ những loại ruộng khác nhau, có 3 loại ruộng đ ất phong: ru ộng
tước vị, ruộng đẳng cấp và ruộng thưởng công lao với nhà nước. Ruộng tước vị
và ruộng đẳng cấp được ban tặng trong thời kỳ đảm nhiệm chức vụ nhất định hay
được phong vào 1 cấp nhất định. Nhìn chung, những loại đất này được ban cấp
trong một thời gian, ngắn hay dài, tuỳ trường hợp.
Ngoài đất phong, họ còn được nhận kèm theo những hộ nông dân làm bổng
lộc. Nếu có công với nhà nước, họ cũng được ban cấp một số hộ nông dân. Những
gia đình này phải nộp một nữa tô thóc cho nhà nước, một n ữa còn l ại nộp cho quý
tộc phong kiến trực tiếp sử dụng họ.
• Xây dựng nhà nước quân chủ trung ương tập quyền (theo mô hình bộ máy nhà nước
phong kiến Trung Quốc đời Đường.)

- Cuộc cải cách này là kết quả của cuộc đấu tranh của nông dân, mà trước h ết là của b ộ
dân và nô lệ với giai cấp thống trị, nó buộc giai c ấp th ống tr ị ph ải thay đ ổi ph ương th ức
bóc lột. Như vậy, có thể nói cuộc cải cách Taica là kết quả c ủa yêu c ầu khách quan.
Nhưng khi thiết lập trật tự và thể chế mới, Taica đã rập khuôn ch ế độ phong kiến của
Trung Quốc, thời nhà Đường trong việc thực hiện quy ền s ở h ữu ru ộng đất, ch ế đ ộ quân
điền, tổ chức bộ máy nhà nước nhằm củng cố chế độ quân chủ chuyên ch ế trung ương
tập quyền.

Sau cải cách, nền tảng căn bản của chế độ phong kiến ở Nh ật B ản đã đ ược xây d ựng. V ới
ý nghĩa đó, cải cách Taica được xem là một sự kiện lịch sử quan trọng đánh dấu s ự thi ết lập
chế độ phong kiến ở Nhật Bản.

b. Quá trình phát triển và suy vong của nhà nước phong kiến Nhật Bản

 Thời kỳ Nara

- Năm 710, Nhật Bản chọn Nara làm thủ đô. Từ đó đến năm 794, Nara tr ở thành trung tâm
kinh tế, chính trị văn hóa của Nhật Bản. Lịch sử Nhật Bản gọi thời kỳ này là th ời kỳ
Nara.
- Sau cuộc cải cách Taica, do ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc ngày càng sâu sắc,
quyền lực của Thiên Hoàng càng được củng cố. Nhà nước phong kiến Nh ật B ản ti ếp
tục ban hành một số luật lệnh, chiếu dụ để hoàn thiện các cuộc cải cách tr ước đó, đ ồng
thời thi hành nhiều biện pháp để thống nhất đất nước. Kết qu ả, đ ến cu ối th ế k ỷ th ứ 8,
Nhật Bản đã kiểm soát được hầu hết quần đảo Nhật Bản, trừ đảo Hôcaiđô.
- Tuy nhiên, trong giai đoạn này, tầng lớp quý tộc cũ muốn khôi phục lại địa vị và quy ền
lợi trước kia nên đã đấu tranh với tầng lớp quý tộc quan lại mới. Đến cuối th ời Nara,
dòng họ Phudioara- một dòng họ của quý tộc quan lại - đã trở nên rất mạnh, đánh b ại
hoàn toàn tầng lớp quý tộc cũ. Sau đó, dòng họ này muốn làm suy y ếu th ế l ực c ủa thiên
hoàng. Họ buộc thiên hoàng phải dời kinh đô sang Yômashirô, th ủ đô m ới c ủa qu ốc gia
là Hâyan Kiô. Thời kỳ Hâyan bắt đầu từ đó.

 Thời kỳ Hâyan (794 – 1192)

- Trong thời kỳ này, họ Phudioara tìm mọi cách lấn át quyền lực thực tế của Thiên Hoàng.
Trong khoảng hơn 2 thế kỷ, họ Phudioara thay nhau chiếm đoạt hết quyền
lực của Thiên Hoàng và lần lượt đảm nhiệm chức Nhiếp chính. Về sau tiến lên
chức Nhiếp chính Quan bạch.
- Từ nữa sau thế kỷ thứ 11, Thiên Hoàng tìm cách thoát khỏi sự kh ống chế và ràng buộc
của dòng họ Phudioara.
Thiên Hoàng thiết lập các cơ quan giúp việc cho mình, do mình tr ực ti ếp
quản lý, không phụ thuộc vào Nhiếp chính Quan bạch, như: Ký Lục Sở, Tàng Nhân
Sở, Viện Chính. Viện chính dựa vào thế lực của hai họ là Taira và Minamôtô để
chống lại họ Phudioara. Về hình thức đây là các cơ quan theo dõi việc chính trị
của triều đình và giúp đỡ thiên hoàng nhưng thực chất là cơ sở của hoàng gia đ ể
chống lại họ Phudioara.
Bên cạnh đó, Thiên Hoàng còn lập ra chế độ Thượng Hoàng và Pháp Hoàng.
Thượng Hoàng và Pháp Hoàng gíup đỡ cho Thiên Hoàng điều hành đất nước, kiểm
soát phủ Nhiếp chính và triều đình.
- Kết quả là từ đầu thế kỷ 12, quyền lực của h ọ Phudioara bị thu h ẹp d ần. Nh ưng quy ền
hành lại chuyển sang họ Minamôrô.
Trong khi đó, họ Taira lại nhanh chóng phát triển thế lực của mình và n ắm
lấy mọi quyền hành, gây nên mâu thuẫn với Viện chính và họ Minamôtô. Vì thế,
cuộc nội chiến giữa họ Taira và họ Minamôtô đã nổ ra. Năm 1185, nội chi ến k ết
thúc với sự thất bại của họ Taira. Từ đó, quyền hành d ần chuy ển sang tay h ọ
Minamôtô

 Nhà nước trong thời kỳ thống tị của chính quyền mạc phủ ( th ế k ỷ 12
đến thế kỷ 19)

Họ Minamôtô khởi nghiệp trên vùng đất Camacưra ở sứ Sagami thuộc miền Cantô. Sau
khi đánh bại họ Taira, Camacưra trở thành trung tâm để họ Minamôtô điều hành và khống tất
cả các mặt chính trị, kinh tế, quân sự của toàn quốc.

- Năm 1192, Yôrimôtô, người đứng đầu họ Minamôtô lập ra chính quy ền riêng và h ộ ph ủ
riêng gọi là Mạc phủ, chính thức khai nguyên nên chế độ Tướng quân.
Lúc này, tướng quân là từ có nghĩa chính thức là nhà cầm quy ền quân s ự
phong kiến ở nhật bản, cón từ mạc phủ chỉ tổng hành dinh của tướng quân.
- Chính quyền của mạc phủ tồn tại song song với chính quyền của thiên hoàng, tạo nên
hệ thống chính quyền kép, trong đó, Mạc Phủ dần dần trở thành chính quy ền công khai,
thâu tóm toàn bộ quyền lực , còn triều đình chỉ là chính quyền danh nghĩa, núp bóng.

Chổ dựa chủ yếu của chính quyền Mạc Phủ là tầng lớp võ sĩ đạo. Tầng lớp
này ngày càng phát triển, họ được Tướng quân ban cho nhiều ruộng đất và chiếm
ưu thế về mọi mặt. Trong khi đó, quý tộc quan lại của tri ều đình Thiên Hoàng
ngày càng suy yếu.
- Bên cạnh đó, các lãnh chúa lớn ở địa phương dần dần củng cố, tăng cường thế lực của
mình bằng cách chiếm đoạt đất đai, dần dần trở thành nh ững địa ch ủ lớn, gọi là “Đ ại
danh”. Các Đại danh giống như 1 ông vua trong vương quốc nhỏ của mình, họ có chính
quyền, lực lượng quân đội riêng…
Khi chính quyền Mạc Phủ suy yếu, các đại danh tranh hùng, tranh bá v ới
nhau và nhà nước phong kiến nhật bản trải qua 2 thời kỳ M ạc Ph ủ n ổi ti ếng n ữa,
đó là Mạc Phủ Murômachi của dòng họ Asicaga và Mạc Phủ Tôcưgaoa của dòng
họ Tôcưgaoa.
- Trước sự áp bức bóc lột nặng nề của chính quyền mạc phủ nên từ thế kỷ 18 đến nữa
đầu thế kỷ 19, phong trào khởi nghĩa của nông dân phát triển mạnh mẽ.
Trong hoàn cảnh đó, giai cấp phong kiến bị phân làm 2 phái: phái ủng hộ
mạc phủ và phái chủ trương mạc phủ phải trả lại chính quyền cho thiên hoàng.
Đến nữa sau thế kỷ 19, cuộc đấu tranh giữa hai phe phái đó phát tri ển thành cu ộc
nội chiến.
- Năm 1968, Tướng quân Mạc Phủ phải trao trả chính quy ền lại cho Thiên Hoàng lúc b ấy
giờ là Mâygi (Minh Trị). Sau đó, Minh Trị tiến hành cuộc cải cách (Minh Trị Duy Tân)
đưa Nhật Bản tiến lên một xã hội mới cao hơn, xã hội tư bản chủ nghĩa.
- Sự kiện trên đánh dấu sự sụp đổ của chính quyền Mạc Phủ, kết thúc ch ế đ ộ phong ki ến
nhật bản.

2. CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT

- Sau cải cách Taica, nhà nước đã xác lập quyền sở hữu tối cao của mình đối với ru ộng
đất trong toàn quốc và thực hiện quyền sở hữu tối cao đó dưới hình thức ban điền (giống
hình thức quân điền của Trung Quốc).
- Tuy nhiên, hình thức sở hữu nhà nước đối với ruộng đất không tồn t ại đ ược lâu. T ừ th ế
kỷ 9, chế độ ban điền của Taica dần dần tan rã, đồng thời, chế độ sở hữu tư nhân về
ruộng đất dần dần hình thành mà nguyên nhân của sự thay đổi này là:
• Ruộng đất mà nhà nước ban cấp cho quý tộc theo ch ức v ụ, đẳng c ấp và th ưởng công
trước đây luôn kèm theo điều kiện. Nhưng khi họ Phudioara lớn mạnh và lũng đoạn
chính quyền Thiên Hoàng thì những điều kiện đó dần d ần b ị m ất đi và ru ộng đ ất
được ban trở thành sở hữu riêng của các địa chủ.
• Nông dân cày cấy trên ruộng của nhà nước cấp cho phải chịu nhiều thuế má và tạp
dịch nặng nề nên phần nhiều bị phá sản.Họ phải rời bỏ ruộng đất của mình đi l ưu
lạc hoặc vào làm trong ruộng đất của các chúa phong ki ến, ho ặc đem ru ộng hi ến cho
nhà chùa… do đó, chế độ ban cấp ruộng đất của nhà nước bị phá hoại nghiêm trọng.
• Do dân số ngày càng tăng nên nhà nước phải khuyến khích nhân dân khai kh ẩn đ ất
hoang để đủ ruộng đất ban cấp cho nông dân. năm 743, nhà nước đã th ừa nh ận quy ền
sở hữu tư nhân đối với đất khai khẩn, và dĩ nhiên, s ố ruộng đất này cũng r ơi vào tay
bọn quý tộc địa chủ. Giữa thế kỷ 10, hình thức s ở h ữu t ư nhân v ề ru ộng đ ất c ủa các
lãnh chúa phong kiến đã được xác lập hoàn toàn.
- Trong quá trình tan rã của chế độ ban điền, chế độ trang viên phong kiến đã ra đời.
• Từ thế kỷ 10, toàn bộ đất đai của lãnh chúa phong kiến đều được miễn thuế và có
quyền bất khả xâm phạm về mặt hành chính.
• Người làm việc cho các tranh viên phong kiến gọi là trang dân. Họ là nh ững nông dân,
thợ thủ công… hầu hết các trang viên đều có thể sản xuất tại ch ổ nh ững nhu c ầu
thiết yếu trong cuộc sống. Do đó, trang viên vừa là đơn vị hành chính mà nhà n ước
không thể kiểm soát được, vừa là đơn vị kinh tế tự cung tự cấp.
Từ hoàn cảnh thực tế như vậy, nên nông dân làm việc trong các trang
viên phong kiến bị bóc lột nhẹ nhàng hơn so với làm vi ệc trên ru ộng đ ất do
nhà nước ban cấp. Do đó, nông dân từ bỏ ruộng do nhà nước ban cấp để
vào làm trong các trang viên ngày càng nhiều.
• Bên cạnh đó, các trang viên còn chú ý việc xây dựng lực lượng vũ trang riêng v ới tên
gọi là võ sĩ (Samurai). Điều kiện cao nhất của người võ sĩ là ph ải tr ọn v ẹn trung
thành với chủ, ngược lại họ được chủ chuyển ruộng đất của mình cho các thân binh
sử dụng với tính chất là thưởng công. Như vậy, trong những vùng đất rộng lớn đã bắt
đầu hình thành quan hệ thái ấp.
3. TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC

a. Thời kỳ Nara (năm 710 – 794)

Sau cải cách của Taica, bộ máy nhà nước của Nhật Bản được tổ ch ức rập khuông theo bộ
máy nhà nước của nhà nước phong kiến Trung Quốc đời nhà Đường.

- Người đứng đầu nhà nước và có quyền lực cao nhất là Thiên Hoàng. Thiên Hoàng đ ược
thần thánh hoá, được coi là vị thánh sống.
- Ở trung ương
• Dưới quyền và giúp việc cho Thiên Hoàng là vị quan cao nh ất là T ể t ướng. T ể t ướng
có 2 chức phó giúp việc cho mình là Tả Thừa Tướng và Hữu Thừa Tướng.
• Để quản lý các công việc khác nhau có 8 bộ: Bộ Trung Ương, B ộ Lễ, Bộ L ại, B ộ
Hộ, Bộ Binh, Bộ Hình, Bộ Ngân Khố Và Bộ Cung Vua. Đứng đầu mỗi b ộ là quan
Thượng thư.
- Tổ chức quản lý địa phương được chia thành các cấp
• Quốc hay còn được gọi là tỉnh, đứng đầu là Quốc ti;
• Dưới quốc là quận. Đứng đầu quận là Quận Ti;
• Dưới quận là Lí, đứng đầu là Lí Trưởng
Chức quốc ti trở lên do nhà nước trực tiếp bổ nhiệm, được cấp ruộng đất
làm bổng lộc, nhưng không được thế tập.

Thể chế nhà nước này ban đầu được ghi nhận trong cải cách Taica, sau đó được pháp lý hoá
trong bộ luật Taihô Risư Riô (Đại Bảo luật lệnh) được ban hành vào năm 701.

b. Thời kỳ Hâyan (năm 794 – 1192)

Về cơ bản, bộ máy nhà nước trong thời kỳ này vẫn không có gì thay đổi. Tuy nhiên, thoát
khỏi sự thao túng của nhiếp chính quan bạch, thiên hoàng đã bổ sung một số cơ quan mới.
- Từ lúc họ Phudioara vững mạnh và thao túng chính quy ền Thiên Hoàng, trong c ơ c ấu t ổ
chức bộ máy nhà nước có thêm chức Nhiếp chính và sau này là Nhiếp chính Quan bạch.
Nhiếp chính Quan bạch có quyền xếp đặt ngôi thế tập Thiên Hoàng và
lập Chính cung, có quyền quyết định cả việc văn võ trong triều, phê chuẩn
các tấu sớ trước rồi mới tâu lại Thiên Hoàng.
- Từ nữa sau thế kỷ thứ 11, Thiên Hoàng lập hàng loạt các cơ quan nhà n ước m ới nh ằm
thoát khỏi sự khống chế và ràng buộc của dòng họ Phudioara.
• Thiên Hoàng lập ra cơ quan mới là Kí Lục Sở, do nhà vua trực tiếp quản lý chứ không
chịu sự chi phối của Nhiếp chính Quan bạch. Ký lục sở giải quyết tất cả công việc
chính trị và hành chính trên toàn quốc, do đó quyền lực của Nhiếp chính bị giảm
xuống.
• Sau đó, Thiên Hoàng còn lập ra cơ quan Tàng Nhân Sở đ ể tự Thiên Hoàng nghiên c ứu
và ban bố sắc lệnh, chiếu chỉ cho bá quan và toàn quốc thi hành.
• Bên cạnh đó, để kiềm chế họ Phudioara một các khéo léo và lâu dài, thiên hoàng còn
lập ra chế độ Thượng Hoàng và Pháp Hoàng.
Theo đó, khi Thiên Hoàng nhường ngôi cho con thì trở thành Thượng
Hoàng. Trong trường hợp Thượng Hoàng còn sống thì Thượng Hoàng sẽ lên
ngôi Pháp Hoàng. Thượng Hoàng và Pháp Hoàng gíup đỡ cho Thiên Hoàng
điều hành đất nước, kiểm soát phủ Nhiếp chính và triều đình.
• Không dừng lại ở đó, chính quyền còn lập ra cơ quan mới là Viện Chính. V ề hình
thức thì Viện Chính là cơ quan theo dõi vi ệc chính tr ị c ủa tri ều đình và giúp đ ỡ Thiên
Hoàng nhưng thực chất là cơ sở của hoàng gia để chống lại họ Phudioara.

c. Thời kỳ Mạc Phủ (thế kỷ 12 – 19)

Trong thời kỳ Mạc Phủ, quản lý nhà nước là một hệ th ống chính quy ền kép. T ức là, bên
cạnh chính quyền của Thiên Hoàng còn có chính quy ền Mạc Ph ủ. Trong đó, chính quy ền M ạc
Phủ dần dần trở thành thâu tóm toàn bộ quyền lực, còn chính quy ền Thiên Hoàng ch ỉ là chính
quyền danh nghĩa, núp bóng.
- Về tổ chức bộ máy nhà nước trong chính quyền Thiên Hoàng thì không có gì thay đổi.
- Tổ chức bộ máy chính quyền Mạc Phủ:
• Đứng đầu Mạc Phủ là Tướng quân, theo chế độ thế tập. Tướng quân là địa chủ lớn
hất trong cả nước, đồng thời nắm mọi quyền hành. Th ực ch ất, Tướng quân là Thiên
Hoàng của Nhật Bản.
• Giúp việc cho Tướng quân có nhiều quan chức, là những võ sĩ thân tín nh ất c ủa
Tướng quân. Thời Mạc Phủ Murômachi lập ra chức Quản Lĩnh, gồm có 3 người, giúp
Tướng quân giải quyết mọi công việc ở các địa phương.
• Ở các địa phương, có Thủ Hộ và Địa Đầu do các võ sĩ thân tín c ủa T ướng quân đ ảm
nhiệm. Thủ hộ và Địa đầu là chính quyền của Mạc Ph ủ ở đ ịa ph ương, ch ỉ đ ạo, giám
sát hệ thống quan lại địa phương của Thiên Hoàng
• Thủ hộ có nhiệm vụ giúp quốc ti quản lý công việc quân sự ở tỉnh.
• Địa đầu làm nhiệm vụ quản lý ruộng đất, thu tô thu ế, lùng b ắt gi ặc c ướp ở qu ận,
làng.
Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng, chính quyền m ạc ph ủ đã lũng đo ạn chính quy ền c ủa
thiên hoàng từ cấp trung ương xuống địa phương và thật sự trở thành chính quy ền chi ph ối
thực tế ở Nhật Bản.
TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN NHẬT BẢN
THỜI KỲ NARA




THIÊN HOÀNG



Cơ quan quản
lý nhà nước ở TỂ TƯỚNG
trung ương



HỮU THỪA TẢ THỪA TƯỚNG
TƯỚNG




BỘ TRUNG ƯƠNG, BỘ LỄ, BỘ LẠI, BỘ HỘ, BỘ BINH,
BỘ HÌNH, BỘ NGÂN KHỐ VÀ BỘ CUNG VUA
ĐỨNG ĐẦU MỖI BỘ LÀ QUAN THƯỢNG THƯ




Cơ quan QUỐC
quản lý nhà (QUỐC TY)
nước ở địa
phương

QUẬN
(QUẬN TY)




(LÝ TRƯỞNG)
TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN KÉP CỦA NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN NHẬT BẢN THỜI KỲ
MẠC PHỦ

TƯỚNG QUÂN THIÊN HOÀNG




THỦ HỘ QUỐC TY




ĐỊA ĐẦU
QUẬN TY




LÝ TRƯỞNG




Bài 8
PHÁP LUẬT PHONG KIẾN PHƯƠNG ĐÔNG

I. PHÁP LUẬT PHONG KIẾN TRUNG QUỐC

1. Công tác ban hành pháp luật

a. Pháp luật nhà Tần

- Tháng 12 năm 1972, các nhà khảo cổ học phát hiện bộ “Vân Mộng T ần Gi ản”. Trong b ộ
này gồm có “Bộ Tần Luật” do Thừa tướng Lý Tư sưu t ầm và h ệ th ống hoá d ựa trên b ộ
Pháp Kinh (Đạo, Tặc, Võng, Bổ, Tạp, Cụ) của nước Hàn thời Chiến Qu ốc. Ngoài ra,
còn có các văn bản đơn lẻ do nhà Vua ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
- Về hình thức pháp luật, gồm có các hình thức sau:
+ Luật: gồm 29 luật. Là hình th ức chính của pháp lu ật nhà T ần (Lu ật Đi ền Đ ịa; Lu ật
Chăn Nuôi; Thương Luật; Công Luật; Công Phân Trình Luật; Kim B ố Luật; Quan
Thị Luật…)
+ Lệnh: là chiếu của hoàng đế, có hiệu lực pháp lý cao nhất.
+ Pháp luật vấn đáp: việc giải thích luật hình, cũng có hiệu lực pháp lý.
+ Thức: thể thức tra hỏi, xét xử
+ Lệ: (án lệ) những bản án đã được xử rồi vẫn được ti ếp t ục dùng đ ể b ổ khuy ết
những phần còn thiếu sót của pháp luật.
- Như vậy pháp luật nhà Tần đã có đầy đủ các ch ế đ ịnh c ủa dân s ự, hình s ự, t ố t ụng. V ề
hình phạt, sử dụng hình phạt giam cầm để thay thế cho hình phạt mang tính ch ất nh ục
hình. Đây là một tiến bộ nhưng nhìn chung các hình phạt còn rất tàn ác, dã man.

b. Pháp luật nhà Hán

- Nhà Hán (đặc biệt là trong thời kỳ trị vì của Hán Vũ Đế) rút kinh nghi ệm c ủa nhà T ần
trong việc trị nước nên đồng thời với việc đặt ra hình luật còn sử dụng Nho gia làm t ư
tưởng chủ đạo nên chủ trương:
+ “Bãi truất bách gia, độc tôn nho thuật”
+ “Đức chủ hình phụ” (lấy đức làm chủ yếu, còn hình phạt là phụ theo, dùng để trợ
giúp cho việc thực hành đức)
+ “Lễ pháp tịnh dụng” (lễ và pháp cùng áp dụng ngang nhau).
+ “Lấy Xuân Thu quyết án”
- Ban hành pháp luật:
+ Thừa tướng Tiêu Hà chịu mệnh của Hán Cao Tổ, tham kh ảo Tần Lu ật đ ặc ra “C ửu
Chương Luật” (lấy lục luật của Tần làm cơ sở: Tắc Đạo Lu ật, Trá Ngu ỵ Lu ật,
Đoạn Ngục Luật, Bổ Vong Luật, Tạp Luật, Danh Lệ Luật) tăng thêm 3 lu ật: H ộ
Luật (luật hôn nhân, gia đình) Hưng Luật (thuế khoá, lao d ịch) và C ứu Lu ật (quân
đội, chuyên chở, …).
+ Đến đời Hán Vũ Đế, còn cho soạn thảo những luật liên quan đến vi ệc c ảnh v ệ ở
cung đình, lễ nghi, triều chính… gồm tổng cộng 60 thiên, gọi là “Hán Luật”.
- Cải cách:
+ Nhà Hán có những cải cách về việc áp dụng luật hình như giảm nhẹ hình phạt:
• Cạo đầu, lấy vòng sắt buộc quanh đầu đày đi làm lao công xây dựng thành
dùng để thay thế cho hình phạt thích chữ lên mặt,
• Đánh 300 roi thay cho hình phạt cắt mũi,
• Đánh 500 roi thay cho hình phạt chặt đầu gối trái,
• Giảm nhẹ hình phạt đối với người già trên 70 tuổi, trẻ em dưới 10 tuổi, người
tàn tật,
• Miễn trách nhiệm hình sự đối với người già trên 80 tuổi trừ t ội vu cáo và gi ết
người, trẻ em dưới 7 tuổi.
+ Thực hiện chế độ nghiễn ngục để giải quyết án tồn động

c. Pháp luật nhà Đường

- Hình thức pháp luật chủ yếu trong giai đoạn này là: luật, lệnh, cách, thức.
+ Luật: là dựa theo đó mà định tội và xử phạt.
+ Lệnh:
+ Cách: quy tắc hành chính làm việc hàng ngày của các quan trong bộ máy nhà nước.
+ Thức: là thể thức các loại công văn, giấy tờ.
Trong đó, luật là hình thức chủ yếu của pháp luật, tuy nhiên những chiếu ch ỉ của
vua trên thực tế mới có hiệu lực pháp lý tối cao.
- Thực hiện chủ trương “An nhân ninh quốc” (nhân dân yên ổn, đ ất nước thái bình) và
“Ước pháp tỉnh hình” (pháp luật đơn giản, hình phạt nhẹ)
- Hoạt động lập pháp đời Đường tập trung vào 4 đời vua: Cao Tổ, Thái Tông, Cao Tông,
Huyền Tông.
+ Đường Cao Tổ ban hành bộ luật Vũ Đức gồm 500 điều, ngoài ra còn có 30 quy ển
Lệnh, 14 quyển Thức.
+ Đường Thái Tông dựa trên bộ luật Vũ Đức, chỉnh sửa bổ sung thành bộ luật Trinh
Quán, cũng gần 500 điều, ngoài ra còn cho ban hành 60 quyển L ệnh, 18 quy ển Cách,
20 quyển Thức.
+ Thời Đường Cao Tông, Tướng quốc Trương Tôn Vô Kỵ h ệ thống hoá lu ật thành bộ
luật “Vĩnh Huy”. Bộ luật này bắt đầu xây dựng từ năm 624, qua nhiều lần sửa chữa,
soạn thảo lại và hoàn thành vào năm 653. Về hình thức, bộ luật thành lu ật, l ệnh,
cách, thức, gồm 12 chương được thể hiện hết sức cô đọng nhưng khó hiểu, khó
thực hiện. Do đó, sau này ban hành thêm văn bản để hướng dẫn thi hành, gọi là Luật
Sớ. Đến đời Nguyên gọi là “Đường Luật Sớ Nghị” (hay còn gọi là “Đ ường Lu ật
Thư Nghĩa”).
+ Đời Vua Đường Huyền Tông cho chỉnh sửa bộ luật này nhiều lần và năm 737, văn
bản hoàn chỉnh được ban hành. Đây là bản mà ngày nay chúng ta còn bi ết đ ến, g ồm
502 điều, chứa đựng các quy định về hộ, hôn, điền sản, hình lu ật, th ể th ức, hành
chính… Bộ luật được sắp xếp theo từng chương mục hợp lý, tương ứng với đối
tượng điều chỉnh của chúng. Các điều khoản đều được thể hi ện d ưới d ạng lu ật
hình nhưng so với pháp luật của các triều đại trước thì hình ph ạt mang tính ch ất
khoan hồng, nhân đạo hơn ( bãi bỏ những hình phạt tàn kh ốc nh ư lăng trì (x ẻo t ừng
miếng thịt), liệt (xé xác) và định tội có phần nh ẹ h ơn). Năm lo ại hình ph ạt quy đ ịnh
là: xuy, trượng, đồ, lưu, tử (gồm 2 bậc: trảm và giảo)

d. Pháp luật đời Tống

- Thời kỳ này có bộ “Tống Hình Thống” là phiên bản của “Đường Luật Sớ Nghị” (tập hợp
các các quy phạm pháp luật hình sự từ đời Đường năm th ứ 2 đ ến đ ời T ống năm th ứ 3 –
khoảng 150 năm)
- Đời Tống còn áp dụng “Lệ”.
- Năm 1069, tống thần tông cử vương an thạch làm tể tướng. Trong cương vị của mình,
vương an thạch thực hiện Biến pháp, gồm các đạo luật:Luật nông điền th ủy l ợi, Lu ật
thanh miêu, Luật miễn dịch, Luật phương điền quân thuế, Lu ật th ị d ịch, Lu ật quân thâu,
Luật bảo giáp, Luật trí tướng, Luật mơ quân khi giám. Nội dung của bi ến pháp có th ể
tóm tắc trong câu “ lí tài, chỉnh quân, phú quốc, cường binh”, nghĩa là làm cho dân giàu
nước mạnh. Tuy nhiên, biến pháp của vương an thạch chỉ được thực hiện trong trong đời
vua tống thần tông, sau đó, bị bãi bỏ.

e. Pháp luật nhà Nguyên
- Năm 1291, Hốt Tất Liệt ban hành “Chí Nguyên Tân Cách” đ ến năm 1323 có b ộ “Đ ại
Nguyên Thống Chế”.
- Pháp luật nhà Nguyên thực hiện chính sách kỳ thị và áp bức dân tộc (người Hán ph ạm tội
sẽ bị xử nặng hơn người Mông Cổ; người Mông Cổ đánh người Hán thì người Hán
không có quyền đánh lại, nếu đánh lại thì người Hán sẽ bị xử phạt rất nặng, có thể là xử
tử).

f. Pháp luật nhà Minh

- Nhà Minh ban hành “ Luật Đại Minh” và “Vấn Hình Điều Lệ” (quy đ ịnh vi ệc dùng l ệ đ ể
bổ sung những điều luật còn thiếu sót)
- Ngoài ra, minh thành tổ còn ban hành “Tổ huấn”, và răn d ạy các vua đ ời sau không đ ược
sửa đổi, thay thế.

g. Pháp luật nhà Thanh

- Ngay từ thời Thanh Thế Tổ đã ban hành “Đại Thanh Luật”. Đến đời Càn Long năm thứ 5
nó được tu chỉnh lại và có tên là “Đại Thanh Luật L ệ” bao g ồm 1412 đi ều. B ộ lu ật đi ều
chỉnh nhiều lĩnh vực như quan hệ ruộng đất, quan hệ hôn nhân gia đình, th ừa k ế, mua
bán… và tất cả những vấn đề này đều áp dụng chế tài hình sự.
- Pháp luật nhà Thanh thực hiện chính sách phân biệt đối xử gi ữa ng ười Mãn Thanh và
người Hán (người Mãn Thanh phạm tội được xét xử ở cơ quan riêng, vào nhà ngục riêng,
nếu phạt đánh bằng trượng thì thay bằng đánh roi…)
- Ngoài ra, các vua nhà Thanh còn ban hành nh ững bộ Hội đi ển (pháp đi ển hành chính nhà
nước) như: Khang Hi Hội Điển, Càn Long Hội Điển, Gia Khánh Hội Điển…

2. Những đặc trưng của pháp luật phong kiến Trung Quốc

a. Pháp luật phong kiến Trung Quốc là sự kết hợp giữa lễ và hình

- Từ thời Tây Chu, lễ đã dần dần trở thành một thể chế chính trị, hổ trợ cho hình luật. Tuy
nhiên, do đặc điểm tình hình lúc bấy giờ và do s ự xu ất hi ện các t ư t ưởng chính tr ị khác,
đặc biệt là thuyết pháp trị – phù hợp với tình hình xã h ội nên vi ệc áp d ụng l ễ giáo ch ưa
giữ vai trò chủ đạo. Đặc biệt, trong triều đại nhà Tần, Tần Thu ỷ Hoàng ch ủ tr ương ch ỉ
sử dụng pháp luật, không dùng lễ giáo nhân nghĩa đ ể cai trị. Do đó, l ễ giáo trong th ời kỳ
này rất mờ nhạt.
- Từ nhà Hán trở về sau, đặc biệt là từ đời Hán Vũ Đế, ông ch ủ tr ương s ử d ụng nho giáo
để quản lý nhà nước và biến nho giáo thành quốc giáo thì lễ – nội dung trọng tâm c ủa
nho giáo trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong xã hội phong kiến. L ễ kết h ợp với hình
luật để xây dựng và thực thi pháp luật. Trong mối quan h ệ gi ữa l ễ và hình thì hình dùng
các nguyên tắc của lễ làm sự chỉ đạo, còn lễ thì mượn sự cưỡng chế của hình để duy trì.
- Thực hiện chủ trương kết hợp lễ và hình, nhà nước phong ki ến trung qu ốc áp d ụng các
nguyên tắc:
+ Đức chủ hình phụ
+ Lễ pháp tịnh dụng
+ Và sử dụng nguyên tắc “Tam cương ngũ thường” của nho gia làm chủ đạo.
- Tuy nhiên việc dùng lễ đã gây ra sự áp dụng pháp luật không th ống nh ất; xu ất hi ện hi ện
tượng “Tội đồng luận dị” (tội giống nhau nhưng lý luận khác đi d ẫn đ ến hình ph ạt cũng
khác nhau).các quan lại tùy tiện trong quá trình xét xử, có điều kiện phát sinh tiêu cực.

b. Pháp luật phong kiến Trung Quốc có sự kết h ợp gi ữa đ ức tr ị và pháp tr ị, gi ữa quy
phạm pháp luật với quy phạm đạo đức.

- Nội dung của học thuyết pháp trị:
+ Pháp: phải có hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch, h ợp lý, ổn đ ịnh,ban hành cho
khắp dân chúng biết; phải thi hành pháp luật nghiêm minh, tri ệt đ ể, “chí công vô
tư” không khoan dung người mình yêu, không khắc nghiệt người mình ghét.
+ Thế: ở đây, thuyết pháp trị sử dụng nội dung “chính danh” của nho giáo, theo đó,
vua phải làm tròn phận sự của mình, các quan lại dân chúng, tuỳ theo danh ph ận
của mình mà làm tròn công việc của mình. Trong đó, chỉ có vua mới là người có
thế để cai trị thiên hạ.
+ Thuật: phương pháp, thủ đoạn cai trị, nó bao gồm hai nội dung: bổ nhi ệm và kh ảo
hạch (kiểm tra, thưởng phạt)

- Nội dung của học thuyết Đức trị: (là nội dung chủ yếu của Nho giáo)
+ Theo Khổng Tử, pháp luật chỉ làm người ta sợ mà không dám làm điều ác; khi có
thể dấu được hành vi phạm tội, khi có thể tránh được sự trừng ph ạt thì k ẻ x ấu
vẫn làm điều ác. Nếu dùng đức trị mà cai trị dân, khi biến quyền lợi của giai cấp
phong kiến thành quyền lợi của dân, thì họ sẽ không vì sợ pháp luật nhưng vì s ợ
xấu hổ trước người khác, sợ lương tâm cắn rứt mà không còn phạm tội nữa.
+ Thực hành đức trị, giai cấp phong kiến dưa nh ững lợi ích, nh ững tr ật t ự xã h ội tr ở
thành quy tắc xử sự hàng ngày của mọi người, thành nghĩa vụ của người dân. Do
đó, nó là phương tiện lừa bịp của giai cấp thống trị: nó khiến cho kẻ áp bức bóc lột
dân lại trở thành ân nhân của người dân.
+ Cũng theo Khổng Tử, dức trị muốn đạt hiệu quả cao phải đi đôi với lễ trị. Nghĩa là
đạo đức sẽ được củng cố bằng những lễ nghi, cách nói năng, ăn m ặc, c ư x ử trong
cuộc sống…

- Tử đời Hán trở đi, Đức trị giữa vai trò chủ đạo trong đời sống xã h ội cũng nh ư trong
chính sách cai trị của nhà nước. Đến đời Đường, Đức trị của Nho giáo còn đ ược b ổ sung
thêm thuyết Nhân trị của Phật giáo. Nhân trị ở đây là lòng từ bi, cứu nhân độ th ế. Đ ến
đời Tống, Minh sự suy yếu của đạo đức nho giáo được biểu hiện qua sự suy thoái của
triều đại, một số học giả muốn khôi phục lại học thuyết pháp trị nh ưng không thành.
Đến cuối đời Thanh, nho giáo cũng bị phê phán kịch liệt.

Tóm lại, trong suốt thời kỳ phong kiến Trung Quốc đức trị và pháp trị đã cùng t ồn t ại v ới
nhau, tương hổ nhau. Tuy nhiên ở mỗi giai đoạn khác nhau thì mức độ ảnh h ưởng của hai
học thuyết này có khác nhau. Nhìn chung thì nho giáo gi ữ v ị trí th ượng tôn, pháp tr ị v ẫn
được áp dụng nhưng không thể hiện một cách công khai.
II. PHÁP LUẬT PHONG KIẾN NHẬT BẢN

1. Công tác ban hành pháp luật

- Sau cải cách Taica, người Nhật mới bắt đầu soạn ra luật pháp. Pháp lu ật c ủa Nh ật B ản
bị ảnh hưởng rất nhiều từ pháp luật Trung Quốc, chủ yếu của thời Tùy, Đường.
- Về hình thức, pháp luật Nhật Bản cũng gồm 4 loại: Ritsu, Ruô, Kyaku, Shiki, t ương ứng
với luật, lệnh, cách, thức của Trung Quốc. Có thể coi đó là lu ật hình s ự (Ristu), lu ật dân
sự và hành chính (Ryô) và một loạt các quy định khác (Kyaku và Shikki).
- Bộ luật đầu tiên của Nhật Bản là bộ luật 17 điều do Sôtôcư ban hành vào năm 104, bộ
luật này đặt nền tảng cho việc xây dựng một thiết chế nhà nước phong kiến theo hình
thức chính thể quân chủ (điều 12: trong nước không thể nào có 2 vua, người dân không
lẽ nào thờ 2 chủ. Trăm họ chỉ là thần dân của Thiên Hoàng. Thuế là phải nộp cho vua đ ể
lo việc nước. Phu dịch là để kiến tạo quốc gia.)
- Năm 622, Thiên Hoàng ban hành một bộ luật, nhưng bộ luật này không còn nữa, chúng ta
biết đến nó qua các tư liệu lịch sử.
- Năm 701, bộ luật Taihô Risư Riô được soạn th ảo và ban hành và đ ược ch ỉnh s ửa, b ổ
sung vào năm 718. Bộ luật này gồm 2 phần: một phần luật (Ristu) ấn định nh ững th ể
thức về hình phạt và một phần lệnh (Ryô) quy định nh ững chính sách v ề quan ch ế, quân
điền, thuế vụ, binh dịch, phu dịch… Bộ luật này được Nhật Bản áp dụng làm nguyên tắc
trong tổ chức chính quyền trong mấy thế kỷ sau đó.
- Năm 757, nhà nước lại ban hành bộ luật Yoro. Bộ luật này về hình th ức và thu ật ng ữ thì
giống với pháp luật Trung Quốc nhưng về nội dung thì luật hình s ự ít kh ắc khe h ơn, lu ật
hành chính thì có những sửa đổi khá nhiều để phù hợp với tình hình của Nhật Bản.
- Đến thời cầm quyền của các Mạc Phủ. Do quan niệm rằng cách ứng x ử c ủa m ọi ng ười
không dựa trên quy phạm pháp luật mà dựa trên quy ph ạm đạo đức nên chính quy ền
Mạc Phủ không ban hành luật dưới dạng các bộ luật mà công bố pháp luật dưới dạng
các bảng khuyến cáo, dán ở những cột cao, để ở những nơi dễ nhìn thấy trong khắp
thành thị và thôn quê. Trong số các bảng này, nổi ti ếng nh ất là b ảng Thân huynh, nó
khuyên các thành viên trong gia đình sống hoà hợp, tôi tớ ph ải trung thành v ới ch ủ, ch ủ
phải công minh, mọi người phải cần cù, sống tiết kiệm và ph ải giữ đúng đ ịa v ị trong
cuộc sống. Do quyền lực của chính quyền Mạc Phủ trong th ời kỳ này l ấn át quy ền l ực
của Thiên Hoàng nên pháp luật của Mạc Phủ cũng có giá trị pháp lý cao h ơn pháp lu ật
của Thiên Hoàng.

Nhìn chung, pháp luật phong kiến Nhật Bản rất đa dạng. Nó bao g ồm nhi ếu h ệ th ống pháp
luật như pháp luật của Thiên Hoàng, pháp luật của chính quyền Mạc Ph ủ, pháp luật của lãnh
chúa phong kiến. Trong thời kỳ Mạc Phủ, pháp luật của Tướng quân có hiệu lực pháp lý cao
nhất.

2. Các đặc trưng của pháp luật phong kiến Nhật Bản

- Hình luật: áp dụng các hình phạt rất dã man: chém đầu, bêu đầu, moi gan, phanh thây,
đâm bằng giáo và nhiều hình thức hành hạ khác cho đến ch ết (ph ạm nhân b ị chôn s ống,
mọi người tham dự cuộc hành hình được quyền dùng cưa tre đ ể x ẻo th ịt ph ạm nhân
trước khi phạm nhân chết; thân thể của phạm nhân được giao cho các võ sĩ (samurai) đ ể
thử gươm. Những phạm nhân phạm tội đốt phá, gây hỏa hoạn thì s ẽ b ị ho ả thiêu. Ap
dụng hình thức tra tấn cực hình để điều tra, xét hỏi.
- Dân luật và hình luật thời Tôcưgaoa đều tuân thủ nguyên t ắc phân chia đ ẳng c ấp xã h ội
(sĩ, nông, công, thương). Một bộ sưu tập luật thời này có đoạn vi ết: “M ọi t ội ph ạm đ ều
được trừng phạt theo địa vị xã hội”. Cùng một hành vi phạm tội, nh ưng với Samurai thì
được xem là hành động quá khích và được giảm án, nếu là thường dân thì sẽ bị xem là
tội ác và bị trừng trị rất nặng

Bài 9
NHÀ NƯỚC TƯ SẢN

- Lịch sử nhà nước tư bản trải qua 2 thời kỳ:
+ Thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh.
+ Thời kỳ chủ nghĩa tư bản lũng đoạn và chủ nghĩa tư bản hiện đại.
- Từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 17, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành và l ớn
mạnh trong lòng xã hội phong kiến Tây Au. Trong lịch sử phát triển, ch ủ nghĩa tư bản đã
trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn mang nét đặc thù riêng trên n ền t ảng bi ến đ ổi ít
nhiều về kinh tế, chính trị. Tuy nhiên, ở tất cả các giai đoạn, bản chất của ch ủ nghĩa tư bản
không biến đổi, đó là áp bức, bóc lột, cạnh tranh bằng mọi thủ đoạn kể cả bằng chiến tranh
bạo lực để thu lợi nhuận tới mức cao nhất:
+ Từ năm 1640 đến 1870 là giai đoạn giai cấp tư sản lãnh đạo nhân dân ti ến hành cách
mạng tư sản để nắm chính quyền và xác lập chủ nghĩa tư bản trên ph ạm vi toàn th ế
giới. Thời kỳ này được gọi là thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, nghĩa là ch ưa có
tổ chức hoặc cá nhân tư bản độc quyền, các nhà tư sản tự do buôn bán.
+ Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa tư bản chuy ển sang m ột b ước phát tri ển m ới,
đó là thời kỳ đế quốc chủ nghĩa. Trong đó, từ năm 1870 đ ến năm 1945, ch ủ nghĩa t ư b ản
chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, cạnh tranh tự do ch ấm dứt. Từ năm 1945 đ ến
nay, chủ nghĩa tư bản độc quyền chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quy ền nhà nước,
tức là chủ nghĩa tư bản hiện đại.
I. THỜI KỲ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TỰ DO CẠNH TRANH
1. Quá trình hình thành nhà nước
a. Những tiền đề của chủ nghĩa tư bản và nhà nước tư bản
- Thế kỷ 15, 16 nền quân chủ chuyên chế ở các nước phong kiến Tây Au lâm vào
tình trạng khủng hoảng trầm trọng trên tất cả các mặt: chính trị, t ư tưởng, kinh t ế,
xã hội… mà biểu hiện rõ nét nhất là trong lĩnh vực quan hệ sản xuất.
- Những tiến bộ của kỹ thuật được ứng dụng rộng rãi vào sản xuất đã làm thay đ ổi
tốc độ và quy mô sản xuất. Đồng thời làm cho quá trình phân công gi ữa các ngành
nghề diễn ra một cách mạnh mẽ, đặc biệt sự phân công lao động trong nông
nghiệp và công nghiệp là điều kiện để nền kinh tế hàng hoá phát triển.
- Quá trình tích lũy tư bản được các nhà tư bản tiến hành bằng mọi thủ đoạn dã man
và hèn hạ. Quá trình tích lũy tư bản là quá trình diễn ra sự tập trung vốn vào một
số ít người, là quá trình tước đoạt tư liệu sản xuất của người lao động, biến họ
thành những lao động làm thuê.
b. Sự ra đời của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
- Công trường thủ công
Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa giai đoạn đầu được biểu hiện dưới hình thức
công trường thủ công trong lĩnh vực công nghiệp. Công trường thủ công có 2 lo ại:
công trường thủ công phân tán và công trường thủ công tập trung.
- Các hình thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp
Sự phát triển nhanh chóng của công trường thủ công đòi h ỏi ph ải có nguồn
nguyên liệu dồi dào. Để đáp ứng yêu cầu này, nền kinh tế tự cung tự cấp trong
từng lãnh địa phong kiến bị phá bỏ, và thay vào đó là nền nông nghiệp phát tri ển
theo hướng kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa đang dần dần hình thành, đó là:
+ Sự xuất hiện những trang trại của phú nông (một bộ ph ận nông dân giàu có lên,
họ mở rộng quy mô sản xuất và thuê những người nông dân mất h ết ru ộng đ ất
vào làm trong trang trại của mình để bóc lột sức lao động làm thuê);
+ Phương thức canh tác và bóc lột trong các nông trang địa chủ cũng có sự thay
đổi (sử dụng sức lao động làm thuê thay cho những người nông dân lĩnh canh)
+ Những trại ấp, đồn điền của những nhà tư bản xuất hiện (h ọ là những nông
dân hoặc cư dân thành thị giàu có, thuê ruộng đất của các lãnh chúa phong ki ến
để lập trại ấp, đồn điền và thuê mướn công nhân nông nghiệp làm vi ệc đ ể bóc
lột giá trị thặng dư. Hình thức bóc lột này là hình thức bóc lột tô tư bản.
c. Tiến trình cách mạng tư sản và sự thiết lập nhà nước tư sản
- Phong trào phục hưng, cải cách tôn giáo và sự hoàn thiện hệ tư tưởng dân chủ
tư sản (thế kỷ 15, 16)
+ Phong trào phục hưng nêu cao khẩu hiệu đòi ph ục h ồi những tư tưởng dân ch ủ
thời kỳ cổ đại Hy Lạp, La Mã vào việc xây dựng một hệ tư tưởng mới mang
tính chất dân chủ tư sản. Nội dung cơ bản của hệ tư tưởng phục hưng: đả kích
giáo hội và phê phán chế độ phong kiến; xây dựng nhân sinh quan tư sản (không
thừa nhận thượng đế là nơi phát nguyên vạn vật, đề cao giá trị con người và
khởi xướng tự do cá nhân). Trong thời kỳ này, có các nhà khoa h ọc xu ất s ắc
như; Côpecnich, Brunô, Galilê…
+ Sang thế kỷ 16, phong trào phục hưng chống phong kiến và thiên chúa giáo
được thể hiện rầm rộ ở khắp mọi nơi dưới hình thức cải cách tôn giáo. Các
nhà cải cách đòi hỏi xóa bỏ trật tự đẳng cấp ph ức t ạp, l ễ nghi tốn kém, l ối
sống xa hoa và chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến của nhà th ờ. H ọ không
thừa nhận quyền lực nhà thờ đứng trên quyền lực nhà nước, tuy nhiên, lại kêu
gọi ủng hộ giáo hội vì nó là công cụ tinh th ần để ru ngủ nhân dân. Nghĩa là cải
cách tôn giáo để nó thích ứng với nhu cầu của giai cấp tư sản.
+ Bên cạnh đó, giai cấp tư sản dần dần xây dựng cho mình một hệ tư tưởng mới,
tiến bộ, đó là hệ tư tưởng dân chủ tư sản nhằm xây dựng chính quyền dân chủ,
công bằng, bình đẳng, bảo đảm quyền thuộc về nhân dân. (Giôn Lôccơ: Học
thuyết về phân chia quyền lực; Vônte: Những bức thư triết học; Môngtetxkiơ:
Tinh thần pháp luật; Rut-xô: Khế ước xã hội…).
- Cách mạng tư sản thắng lợi và sự ra đời của nhà nước tư sản
Khi những tiền đề về kinh tế tư sản và tư tưởng dân chủ tư sản nêu trên chín
muồi thì giai cấp tư sản sẽ phát động quần chúng nhân dân làm cuộc cách m ạng
chính trị giành lấy chính quyền từ tay giai cấp phong ki ến. Tuy nhiên, khi cách
mạng vừa thắng lợi thì giai cấp tư sản hoặc liên kết v ới giai c ấp phong ki ến ho ặc
tự đi ngược lại tiến trình cách mạng vì lo sợ cách mạng thành công s ẽ ảnh h ưởng
đến quyền lợi của chúng.
2. Đặc điểm của nhà nước tư bản trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh
- Nhà nước tư sản không can thiệp vào quá trình sản xuất và trao đổi tư bản. Nó gần
như đứng ngoài đời sống kinh tế, xã hội và chỉ can thiệp khi có sự lung lay của chế
độ tư hữu. Do đó, nền kinh tế trong giai đoạn này đang t ự đi ều ch ỉnh b ởi quy lu ật
cạnh tranh tự do và quy luật giá trị, cho nên các cá nhân t ư b ản h ầu nh ư có đ ầy đ ủ
quyền trong việc kinh doanh và bóc lột người lao động.
- Bộ máy nhà nước không lớn, nhiều bộ phận của nó kế thừa từ trong bộ máy nhà
nước phong kiến như quân đội, cảnh sát, nhà tù. Vì mục tiêu của nhà n ước không
phải là thủ tiêu sự bóc lột, mang lại quyền bình đẳng cho t ất c ả công dân mà là
đưa một nhóm bóc lột này thay thế cho một nhóm bóc lột khác nên nó không cần
triệt tiêu nhà nước cũ.
- Trong thời kỳ này, hình thức nhà nước phổ biến là Quân chủ Ngh ị viện do trong
quá trình chống phong kiến, giai cấp tư sản nhiều nước còn nhiều mối quan hệ
quyền lợi với giai cấp phong kiến. Chúng tìm cách thỏa hi ệp v ới phong ki ến đ ể đi
đến thiết lập nhà nước quân chủ nghị viện. Chỉ một vài quốc gia khi th ực hi ện
cách mạng triệt để thì xây dựng nhà nước cộng hoà nghị viện (Pháp, Hoa Kỳ,
Thụy Sỹ).
- Về hình thức nhà nước thì có thể khác nhau, nhưng về bản chất của tất cả các nhà
nước tư sản là giống nhau. Đó là nền chuyên chính của giai c ấp t ư s ản. Còn nhân
dân lao động - những người đã từng đứng dưới ngọn cờ cách mạng tư sản, là động
lực của cách mạng tư sản – lại trở thành nạn nhân, là đối tượng đàn áp, bóc l ột
của chế độ tư bản chủ nghĩa. Nhà nước tư sản, về bản chất vẫn là m ột ki ểu nhà
nước bóc lột.


 CÁCH MẠNG TƯ SẢN VÀ NHÀ NƯỚC TƯ SẢN ANH

- Nước Anh phong kiến cát cứ được thống nhất vào thế kỷ 15 do dòng họ Stuart nắm
chính quyền. Trong chính sách cai trị, nhà vua không tôn trọng Ngh ị vi ện, tăng thu ế và
đặt ra nhiều thứ thuế mới. Năm 1625, Saclơ I kế vị và thực hiện chính sách bóc lột
nhân dân như: phát hành công trái bắt buộc, phạt vạ, bắt nộp thuế m ột cách nghiêm
ngặt, ngoài ra, nông dân còn phải nộp thuế 1/10 cho nhà thờ Anh giáo và ch ịu ch ế đ ộ
áp bức bóc lột của lãnh chúa một cách hà khắc. Ông ta còn đàn áp một cách tàn b ạo
những ai chống lại giáo hội và nhà nước. Toàn thể nhân dân Anh đều mâu thuẫn
và căm thù nhà nước phong kiến thối nát, tham lam và tàn bạo.
- Vào thế kỷ 16, chủ nghĩa tư bản Anh đã ra đời và phát triển mạnh mẽ trong lòng
chế độ phong kiến, nhất là ở miền nam nước Anh:
+ Nghề kéo sợi, dệt len, dạ phát triển. Công xưởng thủ công mọc lên rất nhiều.
+ Chủ nghĩa tư bản Anh phát triển ngay cả trong nông nghi ệp, Quý tộc Anh ở
miền nam và đông nam kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa, c ướp đo ạt ru ộng
đất của nông dân để trồng cỏ nuôi cừu. Họ trở thành tầng lớp quý tộc mới (quý
tộc tư sản hóa) gia nhập vào hàng ngũ quý tộc Anh. Tầng lớp này đặc biệt lớn
mạnh vào thế kỷ 16. Việc sử dụng đồng cỏ chăn cừu làm cho 40 vạn nông dân
bị phá sản, không có ruộng đất, phải gia nhập vào đội quân vô sản đông đảo.
Thành phố Luân Đôn lúc này đã có 70 vạn dân, là thành phố lớn nhất thế giới và là
trung tâm tài chính, mậu dịch của cả Châu Au. Trước khi cách m ạng t ư s ản bùng n ổ,
ngoại thương Anh tăng gấp 5 lần so với trước.
Giai cấp tư sản Anh cũng đã chuẩn bị tư tưởng cho mình dưới lá cờ tôn giáo họ
nêu cao “Thanh giáo” (đạo Tin lành) chống lại Anh giáo (Thiên chúa giáo). Cu ộc đ ấu
tranh tôn giáo này thực chất là cuộc đấu tranh giai cấp.
Tóm lại vào những năm đầu thế kỷ 17, mâu thuẫn giữa một bên là tư sản,
nông dân, thị dân, thợ thủ công với một bên là giai cấp phong ki ến chuyên ch ế,
phản động do Saclơ I cầm đầu đã rất gay gắt.
Năm 1640, cách mạng tư sản Anh bùng nổ và phát triển qua 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: từ 1640 đến 1642, là giai đoạn chuẩn bị và bùng nổ cách mạng.
Năm 1639, người Scốtlen vũ trang khởi nghĩa, tràn vào miền bắc n ước Anh. Đ ể
có tiền đàn áp khởi nghĩa, năm 1640, Saclơ I triệu tập Nghị viện họp đòi tăng
thuế. Thành viên chủ yếu của Nghị viện là quý t ộc mới và t ư s ản đã ch ống l ại
đề nghị của nhà vua. Saclơ I dùng vũ lực để ch ống lại Nghị vi ện. Nhân dân
Luân Đôn xuống đường bảo vệ Nghị viện. Thấy thủ đô không tuân theo lệnh
mình, Sắclơ I chạy lên miền bắc tập trung lực lượng tuyên chiến với Nghị
viện. Cách mạng Anh đã bùng nổ dưới hình th ức một cuộc nội chi ến gi ữa quân
đội của nhà vua và quân đội của Nghị viện.
+ Giai đoạn 2:
• Nội chiến lần thứ 1 (1642 – 1646)
Tháng 8/1642, nhà vua tuyên chiến với Nghị viện. Quân Nghị viện
dưới sự chỉ huy của Ôlivơ Crômoen, một lãnh tụ thuộc tầng l ớp quý t ộc
mới , với 22.000 ngàn quân lính được mệnh danh là quân sườn sắt đã
đánh bại quân của nhà vua ở Nêdơbi ngày 14/6/1645, bắt sống 5.000 tù
binh của Sáclơ I. Năm 1646, Saclơ I bị bắt trên đường chạy trốn. Quân
đội Crômoen tiến vào Luân Đôn nắm chính quyền.
• Nội chiến lần thứ 2: (1648)
Cuối năm 1647, Saclơ I trốn thoát và chiêu mô quân đội, gây nội
chiến lần 2. tháng 8 năm 1648 Saclơ I bị thất bại và b ị bắt gi ữ l ần 2.
Ngày 30/01/1649, trước áp lực của nhân dân, Nghị viện Anh đưa Sacl ơ I
lên máy chém về tội danh phản quốc và gây chiến tranh ch ống lại nhân
dân.
Ngày 04/01/1649, Nghị viện thông qua nghị quyết, khẳng định
quyền tối cao của Hạ nghị viện trong bộ máy nhà nước (nhân dân do
nhân dân bầu ra, có quyền lực tối caotrong quốc gia; những gì Hạ viện
tuyên bố là pháp luật thì nó có hiệu lực, dù cho các Thượng nghị sĩ, nhà
vua có phản bác)
Ngày 19/5/1649, trước sức mạnh đấu tranh của quần chúng, nền
cộng hoà được tuyên bố chính thức thành lập. Hạ nghị viện nắm quyền
lập pháp, thượng nghị viện bị giải tán. Quyền hành pháp được giao cho
nội các do nghị viện bầu ra. Như vậy, ban đầu nhà nước tư sản Anh
mang hình thức chính thể Cộng hòa Nghị viện, hình thức này chỉ tồn tại
được trong một khoản thời gian ngắn và đây là thành công cao nhất của
cuộc cách mạng tư sản Anh.
+ Giai đoạn 3: (1649 – 1688)
Sau khi cuộc nội chiến kết thúc, quần chúng nhân dân tiếp tục đấu tranh
đòi chính quyền tư sản phải thực hiện lời hứa với quần chúng cách mạng. Lo
sợ trước phong trào của quần chúng, giai cấp tư sản một mặt đàn áp phong trào
quần chúng, một mặt sẳn sàng thủ tiêu nền cộng hoà để xây dựng một chính
quyền mới.
Trong Chính quyền mới, CrômOen mang danh nhà bảo hộ và trở thành kẻ
độc tài; công dân phải có thu nhập từ 200 bảng mới có đủ t ư cách c ử tri b ầu h ạ
viện; chế độ hai viện được khôi phục.
Cuối cùng, năm 1688, giai cấp tư sản Anh đã lựa chọn hình th ức Quân ch ủ
Nghị viện với việc lên ngôi của Guyôm Orănggiơ, thống đốc Hà Lan, con rể
vua Anh. Lấy niên hiệu là Vinhem III.
Việc lựa chọn hình thức Quân chủ Nghị viện chứng minh cuộc cách
mạng Anh là cuộc cách mạng không triệt để. Hình thức nhà n ước này ch ỉ là s ự
bắt tay, liên minh với phong kiến của tư bản. Cách mạng chỉ đưa giai cấp t ư
sản lên nắm chính quyền, còn nó vẫn duy trì phong kiến cả ở cơ cấu chính trị,
xã hội và kinh tế. Giai cấp tư sản Anh dựa vào nhân dân để bước lên vũ đài
chính trị, khi đã đạt được mục đích, chúng quay lại phản bội nhân dân.(phân
tích và làm rõ hơn)
- Cách mạng tư sản Anh đã đưa giai cấp tư sản lên nắm chính quyền, mở đường cho
chủ nghĩa tư bản phát triển, sau cuộc cách mạnh chính trị này, cu ối th ế k ỷ 18, Anh đi
tiên phong trên con đường công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa với sự áp dụng khoa h ọc
kỹ thuật vào các ngành kinh tế, kỹ thuật, quân sự. Anh trở thành cường quốc tư bản
số 1 và được mệnh danh là công xưởng thế giới, thay vị trí của Hà Lan. Anh v ươn lên
làm bá chủ mặt biển, từ đó có điều kiện đi xâm lược kh ắp th ế giới, do đó, Anh còn là
cường quốc số 1 về thuộc địa. Cách mạng tư sản Anh không ch ỉ k ết thúc ch ế đ ộ
phong kiến, mở ra một thời đại mới cho nước Anh mà cón k ết thúc th ời kỳ trung đ ại,
mở đầu lịch sử cận đại trên toàn thế giới.

 CÁCH MẠNG TƯ SẢN VÀ NHÀ NƯỚC TƯ SẢN MỸ

- Cristốp Côlômbô tìm ra Châu Mỹ năm 1492. Từ đó, bọn th ực dân Châu Au đ ặt chân
tới cướp bóc vàng bạc, tàn sát người da đỏ, sau đó là xâm l ược và thi ết l ập n ền th ống
trị ở châu lục này.
+ Từ Mêhicô trở xuống cực nam Châu Mỹ là thuộc địa của Tây Ban Nha.
+ Braxin, nước lớn nhất Nam Mỹ trở thành thuộc địa của Bồ Đào Nha.
+ Từ Mêhicô trở lên phía bắc là thuộc địa của người Anh.
- Theo chân của bọn thực dân, hàng chục triệu người dân Châu Au vì nghèo đói, vì lý do
tôn giáo, chính trị lần lượt di cư tới miền đất hứa thành nhiều đợt qua nhiều th ế th ế
kỷ. Người da đỏ, chủ nhân châu lục bị giết hại và bị dồn vào vùng rừng sâu núi thẳm.
- Công cuộc khai thác vàng bạc ở các hầm mỏ, lao động khổ sai nặng nhọc ở các đồn
điền đòi hỏi những lao động khoẻ mạnh. Do đó, từ thế kỷ 16 đến 19, bọn th ực dân
Châu Au đưa 60 triệu người da đen ở miền nam Châu Phi đến đây làm nô lệ.
- Năm 1752, người Anh đã thiết lập 13 bang thuộc địa với chế độ phong kiến chuyên
quyền kết hợp với bóc lột kiểu nô lệ để khai thác.
- Về tổ chức chính trị, thực dân Anh chia thuộc địa thành 2 loại, một s ố bang tự trị và
một số bang chính quyền Anh đưa thống đốc tới cai trị. C ả 13 bang đ ều ph ải áp d ụng
pháp luật của Anh.
- Về kinh tế, xã hội công thương nghiệp tư bản thuộc địa phát triển nhưng bị chính phủ
Anh tìm cách cản trở. Chính phủ Anh không cho phép kinh tế tư bản ở bắc mỹ phát
triển, mà muốn biến các thuộc địa thành th ị trường tiêu th ụ hàng hóa c ủa chính qu ốc,
cung cấp nguyên vật liệu, thực phẩm cho chính quốc. Cho dù nhà nước Anh cố tình
kìm hãm, chế độ kinh tế tư bản thuộc địa vẫn ra đời và phát tri ển ngày càng l ớn
mạnh. Phát triển nhất là nghề đóng tàu, khai thác mỏ, luyện gang, nghề dệt vải, len,
dạ…. Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, giai cấp tư sản M ỹ ra đ ời và l ớn m ạnh, bao
gồm tư sản công thương nghiệp ở miền bắc và tầng lớp chủ đồn điền ở miền nam.
Giai cấp này ngày càng lớn mạnh về kinh tế, tư tưởng, chính trị.
- Trong nông nghiệp, tuy kinh tế tư bản phát triển nhưng trong các đồn điền còn ph ổ
biến kiểu bóc lột nông nô và nô lệ.
- Như vậy, trong xã hội bắc mỹ xuất hiện hai mâu thuẫn: mâu thuẫn giai cấp và mâu
thuẫn giữa thuộc địa với chính quốc. Nhân dân các thuộc địa, dưới s ự lãnh đ ạo c ủa
giai cấp tư sảnđã nổidậy tiến hành cuộc chiến tranh để dành độc l ập. Đó cũng là
cuộc cách mạng tư sản, vì nó không những dành độc lập mà còn xoá bỏ những tàn tích
phong kiến, dọn đường cho tư bản bắc mỹ phát triển mạnh mẽ.
Vào những năm của thập niên 70 thế kỷ 18, toàn Bắc Mỹ sôi sục bởi tem
thuế phi lý của chính quyền. Tháng 12 năm 1773, nhân dân thành ph ố c ảng Boston
đã ném 343 thùng chè của Anh xuống biển. Chính ph ủ Anh l ập t ức ra l ệnh phong
tỏa Boston.
Giai cấp tư sản Bắc Mỹ ở các bang cử đại diện đến h ọp “Đại h ội lục đ ịa”
ở Philadenphia. Chính phủ Anh tuyên bố tình trạng thuộc địa nổi lo ạn và c ử 25.000
quân tới Bắc Mỹ. Năm 1775, chiến tranh giữa Anh và thuộc địa bắt đầu.
Ngày 04/7/1776, Đại hội lục địa lần thứ 2 công bố bản tuyên ngôn độc lập
do Tômát Zepphecxơn và một Ủy ban 4 người khởi thảo. Tuyên ngôn khẳng định
những quyền tự do tự do dân chủ tư sản, quyền lực nhà nước thu ộc v ề nhân dân.
Tuyên ngôn tuyên bố nước Mỹ độc lập khỏi nước Anh.
Trong khi đại hội đang họp thì chiến tranh đã lan rộng và rất ác liệt. Ban đầu
do lực lượng chênh lệch, ưu thế thuộc về phía Anh, quân cách mạng gặp nhi ều
khó khăn. Tổng chỉ huy quân đội cách mạng Mỹ là Gioócgiơ Oasinht ơn đã áp d ụng
phương pháp tác chiến du kích để tiêu hao lực lượng địch, tạo chuyển biến so sánh
lực lượng có lợi cho quân cách mạng. Ngày 17/10/1777, quân đội Oasinhtơn đã
đánh thắng quân đội Anh một trận lớn ở Saratôga. Sau trận Saratôra, các nước
Châu Au thù địch với Anh như Nga, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan đ ều b ắt tay v ới
Oasinhtơn để gởi quân đội, tàu chiến sang tham gia chiến đấu bên cạnh nhân dân
Mỹ.
Trong một cuộc tấn công tổng lực của cả hải quân, pháo binh của quân đội
Oasinhtơn ở Yooctao, 8.000 quân Anh bị hạm đội Pháp chặn đường. Bị quân đội
Oasinhtơn và quân Pháp bao vây, quân Anh buộc phải đ ầu hàng vào ngày
19/10/1781. Thủ tướng Anh, Rôckinhham phải đàm phán với quân Mỹ ở Vecxây.
Ngày 03/9/1783, Chính phủ Anh phải ký Hiệp ước thừa nhận nền độc lập của Mỹ.
Năm 1787, Mỹ ban hành bản Hiến Pháp, trong đó ghi nh ận thành l ập Nhà
nước Hợp chủng quốc Hoa Kỳ theo thể chế Cộng hoà Tổng thống và tổ ch ức th ực
hiện quyền lực nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập. V ề cơ c ấu lãnh th ổ,
Hoa kỳ là nhà nước liên bang.

- Cuộc cách mạng tư sản Mỹ mang tính chất là một cuộc cách mạng dân ch ủ t ư s ản và
cách mạng giải phóng dân tộc.
+ Lực lượng có vai trò quyết định mang đến thành công là quần chúng lao
động. Còn giai cấp tư sản Mỹ đóng vai trò lãnh đạo cách mạng. Cuộc cách
mạng sản Mỹ đã lật đổ chế độ phong kiến thuộc địa Anh, đưa giai cấp tư
sản Mỹ lên nắm chính quyền, thiết lập được nhà nước tư sản.
+ Cách mạng thắng lợi đã giải phóng dân tộc Mỹ khỏi ách áp bức bóc l ột c ủa
thực dân Anh. Bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ với vi ệc kh ẳng đ ịnh nh ững
quyền cơ bản, tất yếu của con người là những tư tưởng mới và cấp ti ến
nhất của thời đại. Những tư tưởng của tuyên ngôn độc lập và b ản thân cu ộc
cách mạng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc ở Mỹ đã ảnh hưởng sâu
rộng đến trào lưu cách mạng ở Châu Au và Nam Mỹ, thúc đẩy, cổ vũ các
dân tộc đứng dậy lật đổ chế độ phong kiến, chế độ thuộc địa, giành độc
lập, tự do, dân chủ.

 CUỘC CÁCH MẠNG TƯ SẢN PHÁP

Cuối thế kỷ 18, chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến pháp đã khủng hoảng trầm
trọng. Quàn chúng nhân dân nổi dậy khắp nơi. Năm 1789, nhân dân lao đ ộng d ưới s ự
lãnh đạo của giai cấp tư sản đã đứng lên tiến hành chiến tranh lật đổ ch ế độ phong
kiến, lập nên chính quyền tư sản. Quá trình đó có thể được chia thành 3 giai đoạn.
- cách mạng bùng nổ và nền quân chủ lập hiến đại tư sản (14/7/1789 – 10/8/1792)
ngày 5/5/1789, hội nghị đại diện đẳng cấp khai mạc, dưới sự chủ toạ của nhà vua. Do
mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là là đẳng cấp th ứ 3 (t ư s ản, th ị dân, nông dân) v ới m ột
bên là nhà vua và 2 đẳng cấp còn lại (quý tộc, tăng l ữ), ngày 17/6, các đ ại bi ểu c ủa đ ẳng
cấp thứ 3 tự tuyên bố thành lập hội đồng dân tộc. Ngày 9/7, hội đồng dân tộc tự tuyên bố
là quốc hội lập hiến.
Ngày 14/7, cuộc khởi nghĩa vũ trang của quần chúng cách mạng n ổ ra ở Pari, l ật đ ổ ch ế
độ quân chủ chuyên chế phong kiến. (ngày này trở thành ngày quốc khánh c ủa pháp).
Chính quyền mới được thiết lập, đại diện cho tầng lớp đại tư sản và quý tộc tư sản hoá.
Ngày 26/8/1789, quốc hội lập hiến thông qua bản tuyên ngôn nhân quy ền và dân quy ền
gồm 17 điều, khẳng định những nguyên lý cơ bản của xã h ội tư b ản. Tuyên ngôn xóa b ỏ
quyền lực của vua chúa cùng chế độ đẳng cấp phong kiến, nêu ra quy ền bình đ ẳng c ủa
con người và chủ quyền của nhân dân
Năm 1791, quốc hội lập hiến ban hành hiến pháp, xác định:
chính thể quân chủ lập hiến tư sản. Trong đó, vua giữ quy ền hành pháp, quy ền l ập pháp
thuộc về quốc hội.
Chế độ bầu cử: hiến pháp chia công dân thành 2 lo ại, tuỳ theo tài s ản c ủa h ọ. Công dân
tích cực (nam giới, từ 25 tuổi trở lên, không làm thuê cho ai, có tên trong danh sách v ệ
quốc quân, đóng thuế trực thu ít nhất bằng 3 ngày lương) có quyền bầu cử quốc hội.
Công dân tiêu cực không có quyền bầu cử.
Quy định này đã vi phạm những nguyên tắc tự do, bình đẳng, bác ái đ ược ghi trong tuyên
ngôn nhân quyền và dân quyền. (có 4,28 triệu công dân tích cực/26 tri ệu dân)nh ư v ậy,
chính quyền tư sản đầu tiên được thiết lập ở pháp là chính quy ền của tầng l ớp đ ại t ư
sản với chính thể quân chủ lập hiến
- sự thiết lập chính thể cộng hoà của tầng lớp tư sản địa phương (10/8/1792 –
02/6/1793)
tầng lớp đại tư sản ngày càng tỏ ra rằng họ không muốn giải quyết các yêu c ầu c ủa
quần chúng và dần dần trở thành lực lương phản đ ộng. Ngày 10/8/1792, qu ần chúng
cách mạng lại khởi nghĩa vũ trang, lật đổ nền thống trị của đ ại t ư s ản, đ ưa phái
girôngđanh đại diện của tư sản địa phương lên nắm chính quyền và lãnh đạo cách mạng.
Trong giai đoạn này, một sắc lệnh của lực lượng cách mạng được ban hành quy định chế
độ phổ thông đầu phiếu cho tất cả nam giời từ 21 tuổi trở lên; thành lập hiệp hội dân tộc
thay thế quốc hội cũ.
Ngày 20/9/1792, sau khi đánh bại liên quân Ao – phổ, hiệp hội dân tộc khai mạc, tuyên
bố bãi bỏ chính thể quân chủ lập hiến, xác lập chế độ cộng hoà nghị viện.
Sau khi nắm được chính quyền, phái girôngđanh không muốn cách mạng tiến xa h ơn n ữa
vì sợ rằng lực lượng quần chúng sẽ xâm hại đến quyền lợi và địa vị của mình. Họ trở
thành tầng lớp bảo thủ và phản động.
- chính thể cộng hoà của tầng lớp tư sản lớp dưới (02/6/1793 – 27/7/1794)
đây là giai đoạn phát triển cao nhất và cũng là giai đoạn kết thúc của cách m ạng t ư s ản
pháp.
Trước chính sách phản động của phái girôngđanh, quần chúng cách mạng lại đứng lên
hkởi nghĩa vũ trang. Ngày 02/6/1793, những người thuộc phái girôngđanh trong hiệp h ội
dân tộc bị bắt. Chính quyền nhà nước chuyển sang tay phái giacôbanh.
Phái giacôbanh ban hành sắc lệnh bãi bỏ chế độ ruộng đất phong kiên và quan h ệ bóc l ột
phong kiến, chia ruộng đất cho nông dân. Việc làm này đã phá hủy tận gốc chế độ phong
kiến, xác lập kinh tế tiểu nông, tạo điều kiện thuận lợi cho s ự phát tri ển kinh t ế t ư b ản
chủ nghĩa.
Để tạo cơ sở pháp lý nhằm củng cố nền cộng hoà tư s ản, ngày 24/6/1793, hi ệp h ội dân
tộc đã thông qua bản hiến pháp mới, quy định:
Hình thức chính thể: cộng hòa nghị viện
Quốc hội một viện là cơ quan lập pháp
Hội đồng hành pháp (chính phủ) do quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước quốc hội
Về sau, nội bộ của phái giacôbanh mâu thuẫn và chia rẽ trầm trọng. Nhi ều chính sách
của họ đi ngược lại yêu cầu của quần chúng cách mạng. Chính quyền giacôbanh ngày
càng suy yếu. Ngày 277/1794, tầng lớp tư sản phản động cướp được chính quy ền nhà
nước.
Cuộc chính biến ngày 27/7/1794đã chuyển chính quyền từ phái tư sản cách mạng
giacôbanh sang phái tư sản phản cách mạng. Sau khi lên nắm quy ền, h ọ ban hành b ản
hiến pháp 1795.
Nội dung hiến pháp 1795:
hạn chế các quyền tự do, dân chủ,
quy định chế độ bầu cử với điều kiện tài sản rất cao;
toàn bộ quyền lực nhà nước tập trung vào Ủy ban đốc chính (gồm 5 ng ười), vì v ậy, th ời
kỳ này còn được gọi là thời kỳ đốc chín;
quốc hội gồm 2 viện: hạ nghị viện: (hội đống 500 người) có quy ền đưa ra và th ảo lu ận
dự án luật nhưng không có quyền biểu quyết thông qua; thượng ngh ị vi ện (h ội đ ồng
trưởng lão) nắm quyền biểu quyết thông qua ho8ạc bác bỏ dự luật nhưng không có
quyền dự thảo điều luật.
Uy ban đốc chính do quốc hội bầu ra. Uy ban này n ắm quy ền c ử ho ặc cách ch ức b ộ
trưởng mà không cần đến quốc hội.
Hoảng sợ trước phong trào đấu tranh của nhân dân, giai cấp tư sản ủng hộ viên tướng
trẻ napôlêông bônapac thực hiện cuộc chính biến, xoá bỏ chính quy ền đốc chính và thi ết
lập chính quyền mạnh mẽ kiểu độc tài. Năm 1799 Napôlêông tự xưng là hoàng đế và ban
hành bản hiến pháp mới. Napôlêông tuyên bố là đại tổng tài suốt đời, lập nên nền đế chế
thứ nhất với hình thức chính thể quân chủ lập hiến.

II. THỜI KỲ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LŨNG ĐOẠN VÀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN HIỆN ĐẠI.

1. Quá trình ra đời nhà nước tư bản lũng đoạn

Có 3 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự ra đời của nhà nư6ớc tư bản độc quyền:
- cạnh tranh tự do của chủ nghĩa tư bản ngày càng gay gắt, tất yếu dẫn đến tư bản độc
quyền nhà nước. do sự phát triển của lực lượng sản xuất, s ự c ạnh tranh gay g ắt gi ữa
các tập đoàn tư bản nên nhà nước tư bản phải đứng ra can thi ệp và đi ều ti ết đ ối v ới
nền s3n xuất và phân phối tư sản.
- Lực lượng sản xuất ngày càng tập trung. Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản độc quy ền
với giai cấp công nhân, các tầng lớp và giai cấp khác nhau ngày càng gay gắt. Để giữa
được địa vị thống trị của mình, giai cấp tư sản lũng đoạn cần ph ải thi ết l ập nhà n ước
tư sản độc quyền.
- Để đối phó lại phong trào cách mạng thế giới (cách mạng tháng 10 nga th ắng l ợi,
phong trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động) và nhằm giữ vững thuộc địa và thị trường của chúng, nên nhà nước tư
bản độc quyền đã ra đời.
Như vậy chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước ra đời là một sự bị động thối nát, hấp hối về
kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước. Nó ra đời nhằm tìm một ph ương pháp th ống trị
thích hợp hơnđể duy trì và cũng cố địa vị đang lung lay của chúng.

2. Đặc điểm của nhà nước tư bản trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản lũng đoạn và chủ nghĩa tư
bản hiện đại.

- Các nhóm tư bản lũng đoạn trực tiếp nắm giữa các ch ức vụ trong b ộ máy nhà n ước.
Với chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước, nhà nước ở các nước t ư bản đã trở thành
công cụ tập trung vốn cung cấp cho các tập đoàn tư sản lũng đoạn, là công cụ phân
phối lại thu nhập quốc dân dầu người có lợi cho TBLĐ, gây thi ệt h ại cho nhân dân
lao động bằng những biện pháp; ngân sách, chính sách giá cả, lương bổng, lạm phát,
tợ cấp cho bọn tư bản lũng đoạn, quốc hữu hóa, đền bù v ới giá cao nh ững xí nghi ệp
thua lỗ hoặc kỹ thuật lạc hậu. Ngoài ra, nhà nước còn là m ột công c ụ đ ể tranh giành
thị trường xuất khẩu tư bản và để thực hiện chính sách th ực dân ki ểu mới. Nh ư v ậy,
nhà nước tư bản đã trở thành công cụ của một nhóm nhỏ tư bản độc quy ền. Tất cả
cơ cấu , chức năng nhà nước ngày càng công khai phục tùng bọn t ư b ản quy ền. Trong
thời kỳ tư bản tự do cạnh tranh, bọn tư bản cầm quyền thông qua đại diện của chúng,
còn trong thời kỳ tư bản lũng đoạn, bọn tư bản độc quy ền trực ti ếp gi ữa các ch ức v ụ
chủ chốt.
- Chức năng trấn áp và điều chỉnh các mối quan hệ chính trị, xã h ội của nhà nước tư
bản lũng đoạn.
nhà nước tư sản lũng đoạn ngày càng cồng kềnh, quan liêu, s ố lượng nhân viên tăng lên
chưa từng thấy, đặc biệt là bộ máy hành pháp. Quyền lực ngày càng được chuyển từ lĩnh
vực kinh tế, chính trị sang lĩnh vực hành chính. Các cơ quan đàn áp ch ủ y ếu nh ư quân
đội, cảnh sát, tình báo, nhà tù được tăng cường đến mức tối đa.
Xóa bỏ nền pháp chế tư sản, xó bỏ những hình thức dân chủ tư sản, phát tri ển xu h ướng
độc tài, phát xít hóa bộ máy nhà nước.
- một chức năng mới của nhà nước tư bản độc quyền là nhà nước tham gia vào vi ệc
điều tiết nền kinh tế. Việc này được thực hiện thông qua một hệ thống các tổ chức
nhà nước: cơ quan hành pháp, cơ quan điều tiết theo luật định giám sát ho ạt đ ộng c ủa
các cơ quan kinh tế… phương pháp điều chỉnh thông qua tài chính nhà nước như hệ
thống thuế khóa, hệ thống tín dụng, các cơ quan bảo hiểm xã hội, phúc lợi công
cộng…
- chức năng đối ngoại cũng có sự thay đổi nhất định so với th ời kỳ tr ước. Nhà n ước t ư
bản lũng đoạn ra đời trong bối cảnh cách mạng xã h ội ch ủ nghĩa đang phát tri ển trên
cục diện rộng lớn, đồng thời trào lưu hoà bình dân ch ủ cũng bùng lên m ột cách m ạnh
mẽ ở nhiều nước tư bản. Để đối phó với tình hình và cục di ện chính tr ị th ế gi ới, các
nhà nước tư bản chống phá và ngăn cản quá trình phát tri ển c ủa các trào l ưu cách
mạng trên thế giới. Chúng tiến hành mọi thủ đoạn và biện pháp t ừ quân s ự đ ến chính
trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá,…




bài 10
pháp luật tư sản

I. PHÁP LUẬT TƯ SẢN THỜI KỲ CẠNH TRANH TỰ DO
1. Phân loại hệ thống pháp luật tư sản
- Pháp luật tư sản đã xuất hiện trong lòng xã hội phong kiến. Nhưng từ khi giai c ấp t ư s ản
thiết lập được nhà nước thì pháp luật tư sản mới mang tính h ệ th ống và tr ở thành m ột ki ểu
pháp luật mới.
- Do ảnh hưởng của hai cuộc cách mạng tư sản và sự xâm lược của Anh, Pháp nên pháp lu ật
của hai nước đó có ảnh hưởng tới pháp luật của nhiều nước tư sản khác. Vì vậy, về cơ bản
có thể phân chia pháp luật tư sản thành hai hệ thống chủ yếu:
+ Hệ thống pháp luật lục địa : bao gồm pháp luật của Pháp, các nước lục địa Châu Au,
một phần lục địa Châu Mỹ La Tinh.
+ Hệ thống pháp luật Anh-Mỹ: bao gồm pháp luật Anh, Mỹ và các nước thuộc địa hoặc
phụ thuộc Úc, Canađa.
- Sự khác biệt của hai hệ thống pháp luật này:
Hệ thống pháp luật lục địaHệ thống pháp luật Anh-
Mỹ
Nguồn Các bộ luật mới được xây dựng Tiền lệ pháp và bộ luật,
nhưng các bộ luật này
không được xây dựng mới
mà tư sản hoá những bộ
luật phong kiến
Trong lĩnh Dựa trên những nguyên tắc của Không theo các nguyên tắc
vực điều pháp luật La Mã của pháp luật La Mã
chỉnh các
quan hệ tài
sản
Hệ thống Chia pháp luật thành công pháp và Không phân chia pháp luật
pháp luật tư pháp. thành công pháp và tư pháp

2. Những ngành luật cơ bản trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do
a. Luật Hiến pháp tư sản
- Cuối thế kỷ 12, đầu thế kỷ 13 khi giai cấp tư sản lớn mạnh và có th ế l ực l ớn
trong kinh tế nên muốn vươn lên giành quyền thống trị vô hạn của nhà vua – người
đại diện của giai cấp phong kiến. Giai cấp tư sản đề xướng m ột văn b ản có hi ệu
lực pháp lý cao hơn hẳn các quýêt định của nhà vua và văn bản khác, văn bản ấy
được gọi là Hiến pháp. Như vậy, kể từ cách mạng tư sản, khái niệm Hiến pháp
với nghĩa là luật cơ bản của nhà nước mới xuất hiện. Nó là một ngành luật mới,
được xác lập từ chế độ tư bản chủ nghĩa.
- Hiến pháp tư bản có 3 nhóm chế định cơ bản quy định v ề tổ ch ức b ộ máy nhà
nước, chế độ bầu cử, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân:
+ Về chế định bầu cử, Hiến pháp xác định một loạt các biện pháp để hạn ch ế
quyền bầu cử của nhân dân lao động, chẳng hạn:
• Điều kiện về tài sản: cử tri phải là người có số tài sản nhất định (Tây Ba
Nha, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Braxin căn cứ vào thu nhập cá nhân, m ột s ố
nước khác căn cứ vào mức độ đóng thuế cho nhà nước). V ề phía người ứng
cử, họ phải là người có thế lực kinh tế mạnh vì pháp luật tư sản quy định
người ứng cử ký quỹ và gánh chịu mọi chi phí vận động bầu cử .
• Điều kiện về trình độ văn hoá: cử tri phải là người có trình đ ộ văn hoá nh ất
định.
• Điều kiện về tuổi: cử tri phải từ 21 tuổi trở lên.
• Điều kiện về giới tính: phụ nữ không có quyền bầu cử.
• Về chủng tộc: người da đen, người da đỏ không có quyền bầu cử.
• Điều kiện cư trú: công dân muốn được bầu cử hay ứng cử ph ải s ống cố
định tại một nơi trong một khoảng thời gian nhất định.
• Đặc biệt, một số nước tư sản còn quy định có những tầng lớp được quyền
bỏ nhiều lá phiếu hơn những cử tri bình thường.
• Về chế định tổ chức bộ máy nhà nước, tuỳ theo từng nước mà có hình th ức
chính thể khác nhau: quân chủ nghị viện, cộng hòa ngh ị viện, cộng hoà tổng
thống. Dủ ở chính thể nào thì hiến pháp cũng quy định tổ ch ức của 4 lo ại cơ
quan chủ yếu: nghị viện, chính phủ, toà án và người đứng đầu nhà nước
(vua, tổng thống).
+ Về chế định quyền và nghĩa vụ của công dân, hầu hết các Hiến pháp t ư sản
đều ghi nhận quyền tư hữu là thiêng liêng và bất kh ả xâm ph ạm. Trong th ời
gian đầu quyền công dân bị hạn chế rất nhiều, nhưng do phong trào đấu tranh
của nhân dân lao động, dần dần nhà nước tư sản phải ghi nh ận thêm một s ố
quyền công dân vào Hiến pháp. Tuy vậy, quyền và nghĩa vụ của công dân vẫn
còn phiến diện, nghĩa vụ thường không đi đôi với quyền lợi.
+ Về chế định tổ chức bộ máy nhà nước, chế định này nhằm củng cố và tăng
cường quyền lực của giai cấp tư sản, đàn áp và bóc lột nhân dân lao động. Mục
đích của việc ban hành Hiến pháp của giai cấp tư sản là nh ằm h ạn ch ế quy ền
lực tuyệt đối của nhà vua, tách quyền lập pháp, hành pháp và t ư pháp thành các
quyền độc lập và đối trọng lẫn nhau. Hiến pháp tư sản thường tập trung quy
định về nguyên tắc tổ chức, thẩm quyền và hoạt động của bốn c ơ quan nhà
nước trung ương: Tổng thống, Nghị viện, Chính phủ và Toà án.
b. Những chế định của dân luật tư sản
- Nguyên tắc cơ bản của dân luật tư sản là quyền bình đẳng giữa các công dân trong
quan hệ pháp luật dân sự.
- Nội dung chủ yếu của dân luật tư sản là bảo vệ quy ền t ư h ữu t ư s ản, đi ều ch ỉnh
các văn bản hợp đồng hợp đồng hôn nhân, thừa kế,…
+ Chế định quyền tư hữu tư sản
• Quyền tư hưũ được coi là quyền tự nhiên của con người, nó gồm có 3
quyền: quyền định đoạt, quyền chiếm hữu và quyền sử dụng.
• Luật dân sự chia vật sở hữu gồm 2 loại: động sản và bất động sản
+ Chế định hợp đồng và trái vụ tư sản
• Dân luật tư sản xác định quyền bình đẳng và tự biểu lộ ý chí của các bên.
• Các bộ dân luật tư sản điều ghi rõ những điều kiện bảo đảm hợp đồng:
o Hợp đồng phải được nghiêm chỉnh trong bất kỳ hoàn cảnh nào.
o Pháp luật chỉ cho phép huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợp có sự đồng ý
của các bên tham gia.
• Các biện pháp để thực hiện hợp đồng cũng đựơc qui đ ịnh nh ư: c ầm c ố, đ ặt
cọc, phạt tiền, bảo lãnh…
• Trái vụ là một quan hệ pháp luật, trong đó một nguời hoặc một số người
phải thực hiện một hành vi nào đó đối với chủ thể khác
+ Chế định pháp nhân và công ty cổ phần tư sản.
• Chế định này nhằm củng cố địa vị kinh doanh của nhà tư sản, đồng th ời
không ngừng tập trung vốn, mở rộng kinh doanh để dẫn tới độc quyền.
• Ban đầu việc thành lập công ty cổ phần phải được Chính phủ cho phép, v ề
sau nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh thì việc thành lập công ty ch ỉ
cần đăng ký với Chính phủ.
• Cơ quan quản lý cao nhất của công ty là h ội ngh ị các cổ đông. Trong h ội
nghị số đầu phiếu không tính theo đầu người mà tính theo cổ phiếu. Do đó,
quyền quản lý công ty thực chất thuộc về các nhà tư bản lớn.
+ Chế định về hôn nhân gia đình.
• Hôn nhân được xem là 1 loai hợp đồng. Việc kết hôn phải có đủ 2 điều ki ện
sau:
o Người kết hôn phải có năng lực pháp lý
o Hai bên tự nguyện kết hôn với nhau.
• Về hình thức kết hôn, có nước quy định hình thức kết hôn dân sự (do chính
quyền chứng nhận), có nước theo hình thức tôn giáo, có nước coi 2 hình thức
trên điều có giá trị pháp lý.
• Chế định này củng cố quan hệ không bình đẳng trong gia đình. Ng ười v ợ b ị
hạn chế năng lực pháp lý, đồng thời xác định người ch ồng là người đứng
đầu trong gia đình, bảo hộ người vợ, do đó người vợ phải phục tùng
+ Chế định thừa kế.
• Theo luật dân sự tư sản thừa kế có 2 hình thức:
o Thừa kế theo di chúc: xác định nguyên tắc tự do di chúc. Tuy nhiên, đ ể
bảo đảm quyền lợi cho những người trong gia đình, một s ố nước h ạn
chế sự độc đoán của người lập di chúc.
o Thừa kế theo pháp luật xảy ra khi người chết không để lại di chúc hoặc
di chúc được xem là vô hiệu hoặc không giải quyết hết tất cả tài sản.
• Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật thuộc địa, tài sản th ừa kế được
chuyển thẳng cho những người thừa kế. Còn ở hệ thống pháp luật Anh
-Mỹ, tài sản được chuyển cho người trung gian (được chỉ định trong di chúc
hoặc do toà án chỉ định). Sau khi người trung gian thực hiện những th ủ tục
luật định thì tài sản được chuyển hết cho người thừa kế.
c. Những chế định của luật hình tư sản
- So với pháp luật phong kiến, luật hình tư sản có những tiến bộ lớn: chống lại sự
độc đoán xét xử của vua chúa; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; không
quy định về tội chống tôn giáo….
- Nhưng về bản chất, luật hình tư sản là cơ s ở pháp lý đ ể đàn áp nhân dân lao đ ộng
và các thế lực chống đối khác. Án tử hình được áp dụng với nhi ều t ội danh không
đáng để áp dụng với các biện pháp dã man (cho xe cán, chặt tứ chi và đ ầu, m ổ
bụng, moi lục phủ ngũ tạng…). Ngoài ra, nó còn bảo lưu nhiều hình ph ạt nh ục
hình như đóng dấu, chặt tay… Về sau, các hình ph ạt man rợ này b ị bãi b ỏ và gi ảm
nhẹ hình phạt cho những tội không nghiêm trọng.
- Về hình phạt tù, các nước thường có 3 hình thức: bi ệt giam, kh ổ sai và đ ưa đi đày
ở các thuộc địa.
- Từ thế kỷ 19, hình thức án treo bắt đầu được áp dụng ở một số nước.
d. Tổ chức tư pháp và tố tụng tư sản
- So với pháp luật phong kiến, tiến bộ lớn của pháp luật tư pháp là quy ền tư pháp
được tách ra khỏi quyền hành pháp. Cơ quan hành pháp không được quy ền xét x ử,
quyền này được trao cho một cơ quan chuyên trách là toà án.
- Tố tụng được tách thành tố tụng hình sự và tố tụng dân sự.
- Trong luật tố tụng tư sản, những nguyên tắc cơ bản dần dần được hình thành:
• Nguyên tắc tranh tụng tại phiên toà: người buộc tội là Viện công tố, người
gỡ tội là bị cáo và luật sư bào chữa.
• Nguyên tắc suy đoán vô tội: khi chưa có đủ chứng cứ buộc tội, thì bị can vẫn
được xem là người vô tội. Từ nguyên tắc suy đoán vô tội, bị can có quy ền
được bào chữa, còn trách nhiệm buộc tội thuộc về Ủy viên công tố.
• Bản án được quyết định bởi đa số Hội đồng xét xử
• Không ai có quyền kháng cáo đối với việc trắng án.
• Nguyên tắc không thay đổi thẩm phán.
3. Nhận xét
- Pháp luật tư sản ra đời là một tiến bộ lớn lao trong lịch sử nhà nước và pháp luật:
+ Lần đầu tiên Hiến pháp và một loạt nguyên tắc mới của pháp luật xuất hiện.
+ Kỹ thuật lập pháp với việc phân chia pháp luật thành các ngành luật, các ch ế
định, với việc nêu ra các chế định pháp lý, với việc pháp điển hoá,… đã có sự
tiến bộ nhảy vọt. Có thể nói, về phương diện hình thức pháp lý và kỹ thuật lập
pháp, sự ra đời của pháp luật tư sản là một cuộc cách mạng trong luật pháp.
+ Trong những thế kỷ 17 đến 19, pháp luật tư sản đã đóng vai trò tích cực trong
việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, thúc đẩy xã hội phát triển.
- Những thế kỷ 17 - 19 cũng là thời kỳ từng bước hình thành và phát triển nền dân
chủ tư sản và nó được thể chế hoá bằng pháp luật. Pháp luật thành một phương
tiện quan trọng nhất của nhà nước tư sản để quản lý xã hội.
- Hệ thống pháp luật tư sản tuy đã ra đời nhưng chưa đầy đủ và hoàn thiện. Th ời kỳ
này, khối lượng các văn bản pháp luật chưa nhiều. Và cũng khác với th ời kỳ t ư
bản chủ nghĩa độc quyền, pháp luật tư sản ở thời kỳ này b ảo v ệ t ự do c ạnh tranh
trong sản xuất và trao đổi tư bản của các nhà tư sản.
- Tuy nhiên, trong giai đoạn nào thì nhà nước và pháp luật tư sản đều th ể hi ện đ ầy
đủ bản chất giai cấp của nó.
II. PHÁP LUẬT TƯ SẢN THỜI KỲ TƯ BẢN LŨNG ĐOẠN NHÀ NƯỚC, CHỦ NGHĨA TƯ
BẢN HIỆN ĐẠI
1. Một số ngành luật cơ bản trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản lũng đoạn và tư bản hiện đại
a. Luật Hiến pháp
- Trong thời kỳ này, một số nước vẫn áp dụng Luật Hiến pháp của thời kỳ trước,
tuy có sửa đổi, bổ sung một vài điều luật (Mỹ, Na-Uy, B ỉ, Thu ỵ S ỹ, hi ến pháp
không thành văn của Anh). Một số nước khác tiến hành xây dựng lại Hiến pháp.
Đối với những nước tư bản mới được thành lập thì xây dựng m ới Lu ật Hi ến pháp
cho quốc gia mình.
- Trong giai đoạn này, Hiến pháp ghi nhận mối tương quan lực lượng xã h ội gi ữa
giai cấp tư sản và nhân dân lao động. (Trong thời kỳ chủ nghĩa t ư b ản tự do c ạnh
tranh, nó ghi nhận mối tương quan lực lượng giữa giai cấp tư sản và giai cấp
phong kiến).
- Trước sự đấu tranh của nhân dân lao động, giai cấp tư sản buộc phải nhượng bộ
thông qua việc ghi nhận vào hiến pháp một số điều khoản có nội dung dân ch ủ
hơn thời kỳ trước (quyền tự do bầu cử, quyền có việc làm, quy ền bình đ ẳng nam
nữ…)
b. Luật dân sự tư sản
- Quyền sở hữu tài sản
Bước sang thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền, dân luật t ư s ản có nhi ều bi ến
động lớn:
+ Pháp luật của thời kỳ trước tước quyền sử dụng lòng đất của ch ủ sở h ữu, pháp
luật tư sản hiện đại còn tước quyền sử dụng năng lượng nước và quy ền s ử
dụng không phận.
+ Việc trưng thu, trương mua quyền sử dụng đất để xây dựng đường giao thông,
xây dựng các công trình quân sự ở các nước được tiến hành với thủ tục đơn
giản. Thực chất, những quy định pháp luật trên đây đã hạn chế quyền tư hữu
nhỏ, phục vụ cho các tập đoàn tư bản độc quyền (chỉ có tập đoàn tư bản lớn
mới đủ vốn và khả năng xây dựng các công trình với quy mô lớn như thế).
+ Một trong những chế định mới và quan trọng của pháp luật tư sản thời kỳ này
là chế định về quyền sở hữu tư bản nhà nước. Chế định này điều chỉnh quan
hệ quan hệ sở hữu tư bản nhà nước với mục đích vừa mang l ại l ợi ích cho nhà
nước, vừa mang lại lợi nhuận tối đa cho tư bản độc quyền.
+ Nhìn chung, chế định này không nhằm tước đoạt quyền sở hữu của tư sản mà
chỉ nhằm tập trung tư sản vào tay tư bản độc quyền. Nghĩa là nó không b ảo v ệ
triệt để quyền tư hữu nói chung mà bảo vệ cho tư bản độc quyền.
- Các đạo luật chống Tơ-rớt
+ Trong nửa đầu thế kỷ 20, do phong trào đấu tranh của quần chúng nên đa số các
nước tư sản ban hành những đạo luật chống Tơ-rớt (luật chống độc quy ền).
Tuy nhiên, các đạo luật này không có hiệu lực trên th ực t ế ho ặc ch ỉ t ồn t ại
trong một thời gian ngắn.

- Các chế định hợp đồng
+ Do sự độc quyền về nguyên liệu và thị trường, nên quyền bình đẳng giữa các
bên trong hợp đồng bị hạn chế nhiều.
+ Nhà nước tư bản từng bước can thiệp vào quan hệ hợp đồng thông qua vi ệc
ban hành các đạo luật, các văn bản này điều chỉnh chi tiết các loại hợp đồng.
- Chế định hôn nhân gia đình
+ Do phong trào đấu tranh của quần chúng và do vai trò của lực lượng lao động
nữ nên địa vị pháp lý của người phụ nữ từng bước được cải thiện. Phụ n ữ d ần
dần được hưởng những quyền của mình (được toàn quyền sử dụng thu nh ập
của mình, quyền bình đẳng nam nữ, cấm sự cưỡng ép kết hôn, xác nhận quyền
thừa kế của các con trong gia đình, phụ nữ được quyền bầu cử….)
+ Chế định này còn được sửa đổi theo xu hướng đơn giản hoá trình t ự và th ủ t ục
ly hôn (Vợ chồng bình đẳng trong ly hôn; vợ hoặc ch ồng được ly hôn trong
trường hợp người kia không chung thủy, đối xử tàn nhẫn, mắc bệnh nan y…)
- Chế định thừa kế cũng có nhiều thay đổi như:
+ Xác lập trật tự thừa kế đối với các loại di sản.
+ Bảo đảm điều kiện vật chất cho phụ nữ góa bụa.
+ Con ngòai giá thú và con nuôi cũng được tham gia quan hệ thừa kế.
- Luật Lao động
+ Do phong đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và do ảnh
hưởng của chế độ xã hội chủ nghĩa đồng thời nhằm từng bước can thiệp vào
quan hệ lao động – quan hệ giữa người chủ và người làm thuê, nhà nước tư sản
ban hành đạo luật mới: Luật Lao động.
+ Luật lao động điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng lao động
làm thuê: hợp đồng lao động, bảo hộ lao động, tranh chấp lao động…
- Luật Hình sự
+ Từ thời kỳ chiến tranh thế giới lần I đến vài thập niên sau chi ến tranh th ế gi ới
lần II, các nhà nước tư sản ban hành nhiều đạo luật đặc biệt về tội chính trị.
Nội dung của các đạo luật này là cấm các Đảng C ộng s ản ho ạt đ ộng, h ạn ch ế
hoặc cấm các tổ chức công đòan, các cuộc bãi công và trào lưu dân chủ khác.
+ Đi đôi với việc ban hành các đạo luật trên, Nhà nước tư sản đẩy mạnh các cuộc
đàn áp ngoài vòng pháp luật. Bộ máy trấn áp của Nhà nước tư sản bỏ tù hoặc
đã giết hại những người cộng sản và những người tiến bộ khác mà không c ần
xét xử, thẳng tay đàn áp các cuộc biểu tình, bãi công. Từ vài thập kỷ trở lại đây,
các đạo luật rái với Hiến pháp tư sản như trên bước bị bãi b ỏ. Chính quy ền t ư
sản thay các biện pháp đàn áp trắng trợn bằng các biện pháp ôn hoà.
- Luật tố tụng
+ Trong một thời gian dài (đặc biệt trong thời kỳ trị vì của phát xít), ch ế đ ịnh dự
thẩm, nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền của bị cáo trước toà – nh ững ch ế đ ịnh
mang tính dân chủ tư sản bị hạn chế hoặc bãi bỏ.
+ Sau chiến tranh thế giới lần II, những chế định này dần dần được phục hồi.
2. Đặc điểm của pháp luật tư sản trong thời kỳ này
Xét về mặt bản chất thì tính giai cấp của pháp luật tư s ản không thay đ ổi, nh ưng do
những biến động về kinh tế, chính trị, xã hội hoặc do bị ảnh h ưởng của phong trào đ ấu
tranh của các trào lưu dân chủ, nên trong thời kỳ chủ nhghĩa t ư bản lũng đo ạn, ch ủ nghĩa
tư bản hiện đại, pháp luật tư sản có nhiều biến đổi. Nhìn chung, pháp lu ật t ư s ản trong
thời kỳ này có những đặc điểm sau:
- Do đặc điểm và một số chức năng mới của Nhà nước tư sản nên kh ối l ượng các văn
bản pháp luật tăng nhiều.
- Nhà nước tư bản độc quyền có chức năng mới là chức năng qu ản lý kinh t ế nên pháp
luật của thời kỳ này góp phần vào việc điều tiết kinh tế tư bản chủ nghĩa.
- Trong một thời gian dài, Nhà nước tư bản ban hành và th ực hi ện nhi ều đ ạo lu ật phát
xít, trái với Hiến pháp tư sản. Sau đó, các đạo luật này dần dần bị bãi bỏ và các ch ế
định của dân chủ tư sản từng bước được phục hồi và phát triển.
- Trong vài thập niên gần đây, nhằm ổn định xã h ội tư sản, bảo v ệ tr ật t ự pháp lu ật t ư
sản, trật tự của chế độ tư bản chủ nghĩa, pháp luật tư sản từng bước hoàn thiện và
phát triển các chế định dân chủ tư sản.

---o0o---
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản