Lịch sử văn hiến Hà Nội

Chia sẻ: Quangdat Quangdat | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:19

1
326
lượt xem
114
download

Lịch sử văn hiến Hà Nội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hà Nội, mảnh đất nghìn năm văn hiến, với bích đào Nhật Tân, chợ hoa Hàng Lược, với hoa sữa, với quán cóc liêu xiêu... đã và sẽ luôn là một phần trái tim chúng ta.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lịch sử văn hiến Hà Nội

  1. Ý NGHĨA TÊN GỌI HÀ NỘI Sau khi diệt triều Tây Sơn, vua Gia Long đã đổi phủ Phụng Thiên ( vốn là đất đai của kinh  thành Thăng Long cũ ) thành phủ Hoài Đức và vẫn coi là một đơn vị trực thuộc ngang với trấn   tức trực thuộc trung ương mà đại diện là Tổng trấn Bắc Thành. Đến năm Minh Mạng thứ 12  ( 1831 ) vị vua này tiến hành một đợt cải cách hành chính lớn, xoá bỏ Bắc Thành ( gồm 11  trấn và 1 phủ trực thuộc ) ở miền Bắc, chia cả nước ra làm 29 tỉnh trong đó có 15 tỉnh trực  thuộc trung ương. Tỉnh Hà Nội gồm thành Thăng Long, phủ Hoài Đức của trấn Tây Sơn, và ba  phủ Ứng Hoà, Thường Tín, Lý Nhân của trấn Sơn Nam. ­ phủ Hoài Đức gồm 3 huyện : Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm ­ phủ Thường Tín gồm 3 huyện : Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên ­ phủ Ứng Hoà gồm 4 huyện : Sơn Minh ( nay là Ứng Hòa ), Hoài An ( nay là phía nam Ứng  Hòa và một phần Mỹ Đức ), Chương Đức ( Nay là Chương Mỹ ­ Thanh Oai ) ­ phủ Lý Nhân gồm 5 huyện : Nam Xang ( nay là Lý Nhân ), Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh  Liêm, Bình Lục  Danh từ Hà Nội bắt đầu có từ bấy giờ ( 1831 ). Hà Nội có nghĩa là phía trong các con sông, vì tỉnh mới Hà Nội được bao bọc bởi 2 con  sông : sông Hồng và sông Đáy. Như vậy tỉnh Hà Nội lúc đó gồm thành phố Hà Nội, nửa  chính đông tỉnh Hà Tây ( chính là tỉnh Hà Tây thời Pháp thuộc ) và toàn bộ tỉnh Hà Nam. Như  vậy rõ ràng tỉnh Hà Nội có đại bộ phận nằm kẹp giữa sông Hồng và sông Đáy. Có người cho rằng chữ Hà Nội là lấy từ câu trong sách Mạnh Tử ( Thiên Lương Huệ Vương ) :  "Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ tức ư Hà Nội" ( nghĩa là : Hà Nội bị tai hoạ  thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về Hà Nội ). Nguyên ở Trung Quốc thời Mạnh  Tử ( thế kỷ III tr.CN ) phía bắc sông Hoàng gọi là đất Hà Nội, phía Nam là Hà Ngoại. Vùng đất  Hà Nội ấy nay ứng với tỉnh Hà Bắc. Lại do sông Hoàng khi tới địa đầu tỉnh Sơn Tây ngày nay  thì chạy theo hướng Bắc ­ Nam, trở thành ranh giới giữa hai tỉnh Thiểm Tây và Sơn Tây. Sơn  Tây ở phía đông sông Hoàng nên thời cổ có tên là đất Hà Đông, còn Thiểm Tây là Hà Tây.  Thực sự cũng có việc dùng câu sách Mạnh Tử nói trên, nhưng đó là trường hợp năm 1904 khi  muốn đổi tên tỉnh Cầu Đơ cho khỏi nôm na, người ta mới dùng tên Hà Đông ( dựa vào tên Hà  Nội đã có từ trước )  ( Theo "Hỏi Đáp ­ 1000 năm Thăng Long ­ Hà Nội" ­ Tô Hoài, Nguyễn Vinh Phúc ) NHỮNG TÊN GỌI CỦA HÀ NỘI QUA CÁC THỜI KỲ LỊCH SỬ THĂNG LONG ­ HÀ NỘI là kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam. Mảnh đất địa linh  nhân kiệt này từ trước khi trở thành kinh đô của nước Ðại Việt dưới triều Lý (1010) đã là đất  đặt cơ sở trấn trị của quan lại thời kỳ nhà Tuỳ (581 ­ 618), Ðường (618 ­ 907) của phong kiến  phương Bắc. Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long ­ Hà Nội có nhiều tên gọi, được chia  thành hai loại: chính quy và không chính quy, theo thứ tự thời gian như sau:
  2. Tên chính quy: Là những tên được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến, Nhà nước  Việt Nam chính thức đặt ra: Long Ðỗ: Truyền thuyết kể rằng, lúc Cao Biền nhà Ðường, vào năm 866 mới đắp thành Ðại  La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Ðỗ. Do đó trong sử sách thường gọi Thăng  Long là đất Long Ðỗ. Thí dụ vào năm Quang Thái thứ 10 (1397) đời Trần Thuận Tông, Hồ  Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời kinh đô về đất An Tôn, phủ Thanh Hoá.  Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: "Ngày xưa, nhà Chu, nhà Nguỵ  dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Ðỗ có núi Tản Viên, có sông Lô Nhị (tức  sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi". Ðiều đó cho thấy, Long  Ðỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ. Tống Bình: Tống Bình là tên trị sở của bọn đô hộ phương Bắc thời Tuỳ (581­618), Ðường (618  ­ 907). Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay). Tới đời Tuỳ  chúng mới chuyển đến Tống Bình. Ðại La: Ðại La hay Ðại La thành nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao bọc lấy Kinh Ðô.  Theo kiến trúc xưa, Kinh Ðô thường có "Tam trùng thành quách": Trong cùng là Tử Cấm  thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là  Ðại La thành. Năm 866 Cao Biền bồi đắp thêm Ðại La thành rộng hơn và vững chãi hơn trước.  Từ đó, thành này được gọi là thành Ðại La. Thí dụ trong Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ viết  năm 1010 có viết: "... Huống chi thành Ðại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa  khu vực trời đất..." (Toàn thư, Tập I, H, 1993, tr 241). Thăng Long (Rồng bay lên). Ðây là cái tên có tính văn chương nhất, gợi cảm nhất trong số  các tên của Hà Nội. Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết lý do hình thành tên gọi này như  sau: "Mùa thu, tháng 7 năm Canh Tuất (1010) vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra Kinh phủ thành  Ðại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành  gọi là thành Thăng Long" (Toàn thư, Tập I, H, tr 241). Ðông Ðô: Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết: "Mùa hạ tháng 4 năm Ðinh Sửu (1397) lấy  Phó tướng Lê Hán Thương (tức Hồ Hán Thương ­ TM) coi phủ đô hộ là Ðông Ðô" (Toàn thư  Sđd ­ tr 192). Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sử thần nhà Nguyễn chú  thích: "Ðông Ðô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hoá là Tây Ðô, Thăng Long là Ðông Ðô"  (Cương mục ­ Tập 2, H 1998, tr 700). Ðông Quan: Ðây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị  Kinh đô của Việt Nam, chỉ được ví là "cửa quan phía Ðông" của Nhà nước phong kiến Trung  Hoa. Sử cũ cho biết, năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở thành  Ðông Ðô, đổi tên thành Ðông Quan. Sách Ðại Việt sử ký toàn thư chép: "Tháng 12 năm Mậu  Tý (1408), Giản Ðịnh đế bảo các quân "Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một  mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh thành Ðông Quan thì chắc phá được chúng"  (Toàn thư Sđd ­ Tập 2, tr224). Ðông Kinh: Sách Ðại Việt sử ký toàn thư cho biết sự ra đời của cái tên này như sau: "Mùa hạ,  tháng 4 năm Ðinh Mùi (1427), Vua (tức Lê Lợi ­ TM) từ điện tranh ở Bồ Ðề, vào đóng ở thành  Ðông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Ðại Việt đóng đô ở Ðông 
  3. Kinh. Ngày 15 vua lên ngôi ở Ðông Kinh, tức là thành Thăng Long. Vì Thanh Hoá có Tây Ðô,  cho nên gọi thành Thăng Long là Ðông Kinh" (Toàn thư ­ Sđd. Tập 2, tr 293). Bắc Thành: Ðời Tây Sơn (Nguyễn Huệ ­ Quang Trung 1787 ­ 1802 ­ TM). Vì kinh đô đóng ở  Phú Xuân (tức Huế ­ TM) nên gọi Thăng Long là Bắc thành"(Nguyễn Vinh Phúc ­ Trần Huy  Bá ­ Ðường phố Hà Nội ­ H. 1979, tr 12). Thăng Long: (Thịnh vượng lên). Sách Lịch sử thủ đô Hà Nội cho biết: "Năm 1802, Gia Long  quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (tức Huế ­ TM), không ra Thăng Long, cử Nguyễn  Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc.  Kinh thành đã chuyến làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi. Nhưng vì tên  Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong nhân dân toàn quốc, nên Gia Long thấy không  tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ "Long" là Rồng thành chữ "Long"  là Thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không  được dùng chữ "Long" là "rồng" (Trần Huy Liệu (chủ biên). Lịch sử thủ đô Hà Nội, H. 1960, tr  81). Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ hoàng thành  cũ, vì vua không đóng đô ở Thăng Long, mà hoàng thành Thăng Long lại lớn rộng quá. Hà Nội: Sách Lịch sử thủ đô Hà Nội cho biết: "Năm 1831, vua Minh Mạng đem kinh thành  Thăng Long cũ hợp với mấy phủ huyện xung quanh như huyện Từ Liêm, phủ Ứng Hoà, phủ  Lý Nhân VÀ phủ Thường Tín lập thành tỉnh Hà Nội, lấy khu vực kinh thành Thăng Long cũ  làm tỉnh lỵ của Hà Nội". (Trần Huy Liệu (chủ biên). Lịch sử thủ đô Hà NỘI. H. 1960, TR 82). Tên không chính quy: Là những tên trong văn thơ, ca dao, khẩu ngữ... dùng để chỉ thành  Thăng Long ­ Hà Nội: Trường An (Tràng An): Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc nhất  của nước Trung Quốc: Tiền Hán (206 tr CN ­ 8 sau CN) và Ðường (618 ­ 907). Do đó, được  các nhà nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ kinh đô. Từ đó cũng được  người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ chỉ kinh đô Thăng Long. Thí dụ: Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An Rõ ràng chữ Tràng An ở đây là để chỉ kinh đô Thăng Long. Phượng Thành (Phụng Thành): Vào đầu thế kỷ XVI, ông Trạng Nguyễn Giản Thanh người Bắc Ninh có bài phú nôm rất nổi  tiếng:
  4. Phượng Thành xuân sắc phú (Tả cảnh sắc mùa xuân ở thành Phượng). Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa xuân của Thăng Long đời Lê. Phụng thành hay  Phượng thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ thành Thăng Long. Long Biên: Vốn là nơi quan lại nhà Hán, Nguỵ, Tấn, Nam Bắc triều (thế kỷ III, IV, V và VI)  đóng trị sở của Giao Châu (tên nước Việt Nam thời đó). Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong  thơ văn để chỉ Thăng Long ­ Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử  Tam nguyên Trần Bích San (1838 ­ 1877); ghi lại bài thơ của vua Tự Ðức viếng ông, có hai  câu đầu như sau: Long Biên tài hướng Phượng thành hồi Triệu đối do hi, vĩnh biệt thôi! Dịch nghĩa: Nhớ người vừa từ thành Long Biên về tới Phượng Thành. Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi và triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay. Thành Long Biên ở đây, vua Tự Ðức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang  lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877 vua Tự Ðức triệu ông về kinh đô Huế để sung chức sứ  thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất. Long Thành: Là tên viết tắt của Kinh thành Thăng Long. Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc Du,  quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc. Ngô  Ngọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở Ðống Ða ­ Ngọc Hồi của vua  Quang Trung. Sau chiến thắng xuân Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài Long thành  quang phục kỷ thực (Ghi chép việc khôi phục Long thành). Hà Thành: Là tên viết tắt của thành phố Hà Nội được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội.  Thí dụ như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh  (khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng của Ba Giai?... Hoàng Diệu: Ngay sau Cách mạng tháng Tám ­ 1945, đôi khi trong các báo chí của Việt Nam  sử dụng tên này để chỉ Hà Nội. Ngoài ra, trong cách nói dân gian, còn nhiều từ được dùng để chỉ Thăng Long ­ Hà Nội như:  Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề đất lề Kẻ Chợ ­ Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ), Thượng Kinh, tên  này để nói đất kinh đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để chỉ kinh đô Thăng Long  (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, Chẳng lịch cũng thể con người Thượng Kinh). Kinh Kỳ, tên  này nói đất có kinh đô đóng (Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến). Và đôi khi chỉ dùng một từ kinh như "¡n Bắc, mặc Kinh". Bắc đây chỉ vùng Kinh Bắc (Bắc  Ninh), Kinh chỉ kinh đô Thăng Long.
  5. Loại tên "không chính quy" của Thăng Long ­ Hà Nội còn nhiều được sử dụng khá linh hoạt  trong văn học, ca dao... kể ra đây không hết được Tường Minh (Tạp chí Xưa và Nay) THẾ NÀO LÀ "HÀ NỘI 36 PHỐ PHƯỜNG" Nội thành Hà Nội hiện nay có 7 quận gồm 102 phường, tức 102 đơn vị hành chính cấp cơ sở  với trên 400 phố và ngõ. Nhưng đó là phường và phố Hà Nội hiện nay. Còn ca dao cổ có câu: Hà Nội băm sáu phố phường Hàng Gạo, Hàng Ðường, Hàng Muối trắng tinh... Câu ca dao đó nay ai cũng thuộc nhưng không chính xác! Thực ra, phố và phường là hai phạm trù khác nhau. Vào thời Lê, "phường" ngoài nội dung chỉ các tổ chức của những người cùng làm một nghề  (phường chèo, phường thợ) thì còn một nội dung nữa, chỉ những khu vực địa lý được coi là  đơn vị hành chính cấp cơ sở ở kinh thành Thăng Long. Sử cũ còn ghi Thăng Long đời Lê gọi  là phủ Phụng Thiên. Chia ra hai huyện Vĩnh Xương (sau đổi ra Thọ Xương) và Quảng Ðức  (sau đổi ra Vĩnh Thuận). Mỗi huyện 18 phường. Như vậy Thăng Long có 36 phường. Suốt ba  thế kỷ, nhà Lê vẫn giữ nguyên sự phân định hành chính đó. Sang đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đổi gọi Thăng Long là phủ Hoài Ðức và chia nhỏ ra làm  nhiều đơn vị mới, có tên gọi là phường, thôn, trại. Huyện Thọ Xương bị chia ra làm 8 tổng với  183 phường, thôn, trại; huyện Vĩnh Thuận bị chia ra làm 5 tổng với 56 phường, thôn, trại.  Tổng cộng phủ Hoài Ðức, tức kinh thành Thăng Long cũ, gồm 13 tổng, 239 phường, thôn, trại. Ðến khoảng giữa thế kỷ XIX, hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận vẫn y nguyên 13 tổng nhưng  con số các phường, thôn, trại rút xuống mạnh (do sáp nhập): Thọ Xương còn 113 phường,  thôn, trại. Vĩnh Thuận còn 40 phường, thôn, trại. Tổng cộng là 153 phường, thôn, trại. Như  vậy là nhà Lê cho Thăng Long hưởng một quy chế riêng (gọi là Phủ, trực thuộc trung ương và  suốt ba thế kỷ chỉ gồm có 36 phường). Ngược lại, nhà Nguyễn đã đánh đồng Thăng Long với  các phủ khác, phải lệ thuộc vào tỉnh và cũng có tổng, có thôn, có trại như mọi nơi. Ðó là một  việc làm của chủ trương "hạ cấp" Thăng Long. Như thế, không làm gì có cái gọi là "Hà Nội 36 phố phường". Chỉ có Thăng Long thời Lê có 36  phường hoặc là Hà Nội thời Minh Mạng có 239 phường, thôn, trại và Hà Nội thời Tự Ðức với  153 phường, thôn, trại. Do tình hình chia nhỏ Thăng Long nên một phường đời Lê đã phân ra  làm nhiều phường, thôn, trại thời Nguyễn. Bây giờ sang vấn đề "phố". Phố khác hẳn phường. Nếu phường nguyên nghĩa là một khu vực  hành chính thì phố nguyên nghĩa là chỗ bán hàng, nơi bày hàng, tức là như ta nói ngày nay là 
  6. cửa hàng, cửa hiệu. Phố có thể là một ngôi nhà bày bán hàng mà cũng có thể ban đầu chỉ là  một chỗ trống nhưng lấy làm nơi bày hàng hoá để buôn bán. Cho nên ví dụ như cụm từ phố  Hàng Trống nguyên nghĩa chỉ là một ngôi nhà, một cửa hàng có bán mặt hàng là trống. Cũng  vậy phố Hàng Chiếu vốn chỉ một nhà có bán mặt hàng chiếu... Song do các "phố" tập trung  ken sát nhau thành một dãy (dài hoặc ngắn là tuỳ) nên cái dãy gồm nhiều phố ấy (phố với  nghĩa là cửa hàng, cửa hiệu) cũng được gọi tắt là phố. Và dần dần cái từ phố với biến nghĩa là  một dãy các cửa hàng cửa hiệu đã lấn át cái từ phố có nguyên nghĩa là một ngôi nhà bày bán  hàng. Và thế là thay vì nói dãy phố Hàng Chiếu, người ta nói phố Hàng Chiếu, phố Hàng  Bạc... để chỉ những con đường mà hai bên là những ngôi nhà bày bán chiếu, bán vàng bạc...  Hiện nay trong ngôn ngữ miền Bắc, từ phố với nguyên nghĩa là ngôi nhà, cửa hàng đã phai  mờ hoàn toàn, song miền Trung, miền Nam thì lớp trung niên trở lên vẫn sử dụng. Do sự hình thành như vậy mà trong một phường cổ có nhiều phố. Như cùng trong phường  Ðông Các có phố Hàng Bạc, phố Hàng Mắm, phố Hàng Giày... Cho nên phường không bao  giờ lại ngang hàng với phố mà là trùm lên các phố. Và cũng vì thế, 36 phường thời Lê không  thể là 36 phố + phường được. ( Theo "Hỏi Đáp 1000 năm Thăng Long ­ Hà Nội" ­ Tô Hoài, Nguyễn Vinh Phúc ) KHÉO TAY NGHỀ, ĐẤT LỀ KẺ CHỢ Người Hà Nội đang tìm về điểm xuất phát của mình ở chính cái tên "Hà Nội ba mươi sáu phố  phường". Buôn có bạn, bán có phường. Ba mươi sáu phố phường xưa chính là nơi tụ hội của  người Kẻ Chợ có cùng một nghề nghiệp, một năng khiếu làm ăn. Vào thế kỷ 17 ­ 18, các  phường nghề phát triển khá nhanh, nhất là các nghề thủ công mỹ nghệ. Triều đình Lê ­ Trịnh  muốn tu bổ hoàng thành đã tuyển mộ những người thợ tài hoa khắp đất nước về Thăng Long,  họ ở lại sinh sống và hành nghề trên các phường phố: thợ kim hoàn phố Hàng Bạc, thợ Khảm  phố Hàng Khay, thợ thêu phố Hàng Trống... Cùng với những phường thợ là sự ra đời của các  sản phẩm, có những phố bán riêng từng thứ: Hàng Ðào bán tơ lụa. Bát Sứ bán đồ sành sứ...  làm cho Hà Nội sáng rực trăm màu: phố Hàng Ðồng lấp lánh ánh vàng, phố Hàng Tranh màu  sắc vui tươi sặc sỡ... Bàn tay vàng của người Kẻ Chợ được khẳng định bằng câu ngạn ngữ: Ngát thơm hoa sói, hoa nhài Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ Một số nghề có tên tuổi nổi tiếng tồn tại đến ngày nay. Nghề gốm Bát Tràng có từ thời Lý.  Nghề làm giấy đỏ vùng Bưởi xưa là sản phẩm riêng của đất kinh kỳ cung cấp giấy cho cả  nước, nay vẫn là đặc sản có tính nghệ thuật của Hà Nội dùng để in tranh tết, in truyện Kiều.  Hàng dệt tơ tằm vùng Bưởi (Trích Sài, Bái Ân, Yên Thái, Nghĩa Ðô) nổi tiếng ngay từ buổi đầu  xây dựng Thăng Long. Thế kỷ 17 định hình những trung tâm dệt lớn: Nghi Tàm, Thuỵ Chương, Làng Bùng, Vạn  Phúc, La Khê, La Cả, Ðại Mỗ...
  7. góp phần làm nên sự phồn vinh của Kẻ Chợ và bán hàng dệt cho các lái buôn phương Tây.  Lê Quý Ðôn khẳng định đất nước ta thuộc xứ nóng, nuôi tằm nhiều hơn xứ khác, một năm 8  lứa, tổ tiên ta tìm ra 8 loại tằm, mỗi loại thích nghi với khí hậu một số tháng nhất định. Vùng  Tam Giang có nhiều bãi trồng dâu rất tốt, dân lại có tài dệt lụa, chồi, lĩnh... Nhân dân Kẻ Chợ  ca tụng sự phong lưu, thành thạo của nghề tầm tang: Làm ra đủ các thứ hàng Hàng đơn, hàng kép dọc ngang tinh tường Lượt, là, lĩnh, lụa, khuyến, lương Quế, vân, gấm, vóc, băng, sa, kỳ, cầu Nghề thêu phát triển từ đời Lý đến nay còn làm mặt hàng xuất khẩu quan trọng. Nghề kim  hoàn, đúc đồng, chạm khảm, đan lát, mây tre... ngày nay đang có nhiều mặt hàng được bạn  bè thế giới ưa chuộng. Những nghề được truyền từ nhiều đời, được luyện từ tấm bé ấy đã tạo ra một nền kinh tế phồn  vinh làm nên cuộc sống no đủ của người Hà Nội, hình thành nếp sống người Hà Nội thanh lịch  trong cách ăn chơi, giao tiếp. Các món ăn Kẻ Chợ cũng trở thành những nghề truyền thống  với những cái tên chẳng phai mờ: bún sen Tứ Kỳ, bún Phú Ðô, bánh cuốn Thanh Trì, gạo dự  Mễ Trì, giò chả Ước Lễ, cốm Vòng, bánh cốm Hàng Than... THÀNH CỔ HÀ NỘI Trên đất Thăng Long đã từng toạ lạc một toà Hoàng thành hoa lệ, trải suốt các triều Lý ­  Trần ­ Lê và được xây dựng lại thành toà trấn thành thời Nguyễn. Mùa thu năm 1010, Lý Thái  Tổ dời đô từ Hoa Lư về Ðại La và đổi tên là Thăng Long. Trải qua 8 thế kỷ, toà thành đã trở  thành trung tâm chính trị và đô thị phồn thịnh nhất Ðại Việt. Cuối triều Lý, hoàng cung Thăng  Long bị đốt cháy. Tới triều Trần, thành Thăng Long được xây dựng lại nhưng rồi lại bị lũ xâm  lược Nguyên ­ Mông dày xéo, tàn phá. Sau khi đánh đuổi giặc Minh năm 1428, Lê Thái Tổ  cho xây dựng lại Thăng Long và đổi tên là Ðông Ðô rồi Ðông Kinh... Vậy là, qua bao cuộc  chiến tranh và cuối cùng là sự phá hoại của thực dân Pháp, toà thành cổ kính mang tên  Thăng Long ­ Hà Nội gần như mất hết dấu vết, chỉ còn tồn tại trong hoài niệm của bao thế hệ  người Hà Nội. Thành cổ Hà Nội do nhà Nguyễn xây dựng từ năm 1803 theo kiến trúc châu Âu nhưng có tầm  vóc nhỏ hơn thành của những vương triều trước. Mặc dù, tính tới nay thành cổ còn chưa đủ  200 năm tuổi nhưng đã có không ít nhà bảo tàng học, sử học thảo luận nhiều lần nhằm thống  nhất về cách nhìn. Năm 1959, ông Trần Huy Bá đưa ra ý kiến hoạch định ranh giới Hoàng thành Thăng Long đời  Lý ­ Trần là phía Bắc từ trường Ðua Ngựa tới đền Quan Thánh, phía Ðông từ đến Quan Thánh  tới Văn Miếu, phía Nam từ Văn Miếu tới cuối đường xe điện Cầu Giấy, phía Tây từ cuối đường  xe điện Cầu Giấy tới trường Ðua Ngựa. Ðã có khá nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ giả thuyết  này. Tới tháng 4/1996, ông Trần Quốc Vượng và ông Vũ Tuấn Sản đã lập luận, chứng minh 
  8. Thăng Long đời Lý vẫn giữ nguyên vẹn vị trí cũ cho đến đời Nguyễn. Núi Nùng (tức núi Long  Ðỗ) vẫn là trung tâm của Thăng Long qua bao thế kỷ... Năm 1998, Bộ Quốc phòng đã bắt đầu trao lại 3 khu vực Cửa Bắc, Hậu Lâu và Ðoan Môn cho  Sở Văn hoá ­ Thông tin Hà Nội quản lý và tôn tạo nhằm phục vụ kỷ niệm Thăng Long ­ Hà  Nội 990 và 1000 năm. Công tác khai quật khảo cổ học đã được khẩn trương tiến hành tại cả 3  nơi và đã cho nhiều kết quả bất ngờ, trả lời được nhiều vấn đề sau bao năm tranh luận nghiên  cứu. Bắc Môn được xác định chính là Cửa Bắc của thành Hà Nội thời Nguyễn. Nơi đây được  xem xét từng lớp dấu vết để phá dỡ những gì được vá víu từ thời Pháp thuộc, sửa sang tu bổ  lại những gì vốn có của toà thành thời Nguyễn, xây lại vọng lâu trên cửa thành. Lầu Tĩnh Bắc (Tĩnh Bắc Lâu) là một toà lầu xây phía sau cụm kiến trúc chính là Hành cung  của Thành cổ Hà Nội. Tuy ở sau Hành cung nhưng lại là phía Bắc, xây với ý đồ phong thuỷ  giữ yên bình phía Bắc Hành cung nên mới có tên là Tĩnh Bắc Lâu. Nơi đây còn có tên là Hậu  Lâu (lầu phía sau), hoặc là Lầu Công chúa, bởi tương truyền xưa kia đây là lầu xây để công  chúa ở mỗi khi theo vua đi tuần du. Tại Tĩnh Bắc Lâu, các nhà khảo cổ học đã khai quật một  diện tích gần 200m2. Vách hố khai quật cho phép nhìn rõ một dòng nước vốn chảy qua đây,  dưới lòng lạch có những hòn tảng kê chân cột, bên bờ có xếp 3 bậc đá mang vết cánh hoa  sen. Di vật tìm thấy trong hố khai quật rất nhiều. Có gạch ngói của nhiều đời từ trước thời Lý  cho đến thời Lê: Cạnh có chữ, ngói bò hình lá đề, hình rồng phượng, đồ gốm đủ loại, đủ thời... Kết quả khảo cổ tại Đoan Môn khá bất ngờ : ở độ sâu 1,9m phát hiện một con đường lát gạch  theo hướng Bắc ­ Nam nằm chính giữa Ðoan Môn. Tại đây được trải 12 lớp sỏi, gạch, đất sét  đầm nén kỹ dài tới 1m rồi mới lát 5 lớp gạch bìa lên trên. Hai bên đường cắm gạch theo kiểu  dăm cối để tạo thành những ô hoa chanh đẹp mắt. Công việc tu bổ, tôn tạo lại Ðoan Môn đã  vấp phải nhiều khó khăn. Các lớp gạch tại đây đa phần đã bị mục ruỗng, không còn khả năng  liên kết, chịu lực; các đường nét trang trí hoạ tiết bị gẫy vỡ, có nguy cơ sập đổ cả tầng lầu  phía trên... Chính vì thế, công việc tôn tạo di tích Ðoan Môn vẫn chưa xong để khánh thành  vào dịp này. Thế là sau gần 2 thế kỷ, nay một phần thành cổ Hà Nội lại được "hồi sinh", mở cửa đón nhân  dân thủ đô và cả nước vào thăm, đưa họ tìm lại về cội nguồn mảnh đất rồng bay qua bóng  dáng của kinh thành cổ. Thành cổ là một trong mười công trình đầu tiên gắn biển Công trình  trọng điểm kỷ niệm 990 năm Thăng Long ­ Hà Nội THÀNH ĐẠI LA Thành Ðại La là một kiến trúc vĩ đại, có đầu tiên ở trên đất này. La thành không phải là một  tên riêng, chỉ có nghĩa là một bức thành lớn bao quanh một bức thành nhỏ ở bên trong. La  thành có từ đời nhà Ðường bên Trung Quốc, những căn cứ của những đất đã chiếm được đều  đắp hai lần thành, thành ngoài gọi là La thành. Suốt cả thời kỳ Bắc thuộc (111 trước Công lịch đến 939 sau Công lịch), bọn vua quan phong  kiến Trung Quốc sang xâm lược nước ta, đều đóng căn cứ địa ở mấy nơi bên tả ngạn sông  Hồng, như Liên Lâu (Tiên Du, Bắc Ninh), rồi đến Long Biên (phía Bắc sông Ðuống). Ðến đời 
  9. Ðường, thường có quân Chà Và ở ngoài bể tràn vào và quân Nam Chiếu ở mạn Vân Nam tràn  xuống, kéo đến vây đánh phủ Ðô hộ; hơn nữa nhân dân không chịu nổi sự áp bức bóc lột của  bọn xâm lược, cũng thường nổi lên chống đánh. Năm 824, Ðô hộ là Lý Nguyên Gia, tin theo  thuyết phong thuỷ, cho rằng trước cửa thành Long Biên có dòng nước chảy ngược, nên nhân  dân hay nổi lên "làm phản". Lý Nguyên Gia bèn rời phủ trị sang địa phận huyện Tống Bình,  gần sông Tô Lịch. Lúc đầu chỉ xây một toà thành nhỏ, sau đó nhận thấy nơi ấy có địa thế  hiểm yếu, liền lập phủ trị vĩnh viễn ở đó, đắp rộng cao thêm thành, làm cho dân ta hồi đó phải  phục dịch rất khổ sở. Ðến năm 866, nhà Ðường đổi An Nam đô hộ phủ làm Tĩnh Hải quân, sai Cao Biền sang làm  Tiết độ sứ. Cao Biền là một tướng có nhiều tài lược và mưu trí, đã dùng nhiều thủ đoạn để loè  nạt dân chúng, như việc phá những thác ngầm ở dọc sông: đêm đến, hắn cho đục đá đặt  thuốc nổ, làm nổ tung những thác ấy, rồi nói phao lên là vì trời giúp vua Ðường sai thiên lôi  xuống phá thác, làm cho nhân dân sợ hãi. Muốn củng cố thêm căn cứ thống trị, Cao Biền cho  đắp lại thành Ðại La, bốn mặt dài hơn 1.982 trượng linh 5 thước, cao 2 trượng linh 6 thước.  Muốn ngăn ngừa không cho nước sông Tô, sông Hồng tràn vào phủ trị, Cao Biền lại cho đắp  một đường đê bao bọc ở ngoại thành, dài hơn 2.125 trượng linh 8 thước, cao 1 trượng, dày 2  trượng, trong thành cho nhân dân làm nhà ở hơn bốn chục vạn nóc. Ðường đê bao ngoài  thành gọi là Ðại La thành, cũng gọi là Ngoại La thành. Với Cao Biền, ngày nay ở dân gian ta vẫn còn những truyền thuyết hoang đường, như nói Cao  Biền thấy ở đất Giao Châu ta có nhiều kiểu đất đế vương, nên thường cưỡi diều giấy bay đi  xem xét, rồi dùng phép thuật phá những nơi có hình thế sơn thuỷ đẹp, và chặn những đất có  long mạch bằng cách đào những giếng khơi rất sâu. Vì vậy, ở nông thôn, làng nào có nhiều  giếng khơi, người ta vẫn nói đó là giếng do Cao Biền đào ra. Lại như, mỗi khi thấy người nào  yếu sức, tay chân cử động run rẩy, thường vẫn nói câu đã gần thành tục ngữ: "Lẩy bẩy như  Cao Biền dậy non". Người ta giải thích là Cao Biền có phép thuật "tản đậu thành binh" nghĩa  là mỗi khi cần có quân lính đi đánh dẹp, không cần mộ người chỉ cần rắc đậu vào một bãi đất,  rồi ủ kín, đọc một trăm lần thần chú rồi mở ra, mỗi hạt đậu hoá thành một người lính. Có lần  Cao Biền đọc thần chú còn thiếu, khi mở ra những hạt đậu đã thành lính nhưng đều còn non  chưa đủ sức, đứng lên không vững. Lại còn chuyện nói Cao Biền đắp La thành, mấy lần bắt  đầu đều bị sụt lở; một đêm Biền đứng trên vọng lâu nhìn ra, thấy một vị thần cưỡi ngựa trắng  chạy đi, chạy lại như bay, rồi bảo cho Biền cứ theo vết chân ngựa chạy mà đắp thành. Vì vậy,  sau khi đắp thành xong, Biền cho lập đền thờ vị thần ấy ở ngay nơi hiển hiện, gọi là đền Bạch  Mã. Ðền thờ ngày nay vẫn còn ở phố Hàng Buồm. Từ năm 939, chấm dứt thời kỳ Bắc thuộc, nước ta bắt đầu độc lập tự chủ, nhưng đời Ngô  Vương Quyền lại đóng đô ở Cổ Loa, hai đời Ðinh, Lê thì đóng đô ở Hoa Lư, thành Ðại La trở  nên hoang phế. Mãi đến năm 1010, Lý Thái Tổ mới dời kinh đô đến đó, nhưng lại đắp một  thành khác nhỏ hẹp hơn gọi là thành Thăng Long. Nền cũ của thành Ðại La, phần lớn không  còn lại dấu vết, chỉ còn nhận thấy những khoảng từ Thanh Nhàn (giáp Thanh Trì) đi lên cửa ô  Cầu Dền sang ô Chợ Dưà, rồi thẳng đến ô Cầu Giấy, ngược lên đến làng Bưởi. Năm kia, ta đã  cho theo dấu cũ ấy, sửa chữa lại nhiều nơi, đắp cao lên làm thành thân đê, đề phòng nạn lụt.  Còn phần đê La Thành về phía sông Hồng, từ đời Lý đã nhập vào với đê Cơ Xá, và từ đời  Trần đã nhập vào với đê Quai Vạc, chuyên ngăn nước sông Hồng.
  10. Ðê Ðại La thành này khi còn độc lực giữ việc chống nước lụt cho nội thành, thường bị sạt lở.  Năm 1243, đời vua Thái Tôn nhà Trần, nước sông Hồng lên to quá, phá vỡ một đoạn thân  thành, làm cho nội thành bị ngập lụt. Cũng từ đó, các đời vua Trần mới nghĩ đến việc đắp đê  quai vạc suốt từ đầu nguồn trở xuống cho đến miền bể, dọc hai bên bờ sông Hồng. Bài thơ "Ðiếu cổ La thành" của nhà thơ Tế Xuyên, đời cuối Lê đã mai mỉa dã tâm xâm lược  của Cao Biền, tốn công, nhọc lòng đắp nên thành ấy, kết cục bọn phong kién thống trị Trung  Quốc đều phải diệt vong. Sau chiến công trên sông Bạch Ðằng năm 939, nước ta hoàn toàn  tự chủ. Bài thơ đại ý như sau: "Ðại La thành tốn công xây, Cao Biền tưởng chiếm đất này dài lâu. Nào ngờ mấy chục năm sau, Vùi quân xâm lược dòng sâu Bạch Ðằng" Doãn Kế Thiện (Cổ tích và thắng cảnh Hà Nội) VĂN HIẾN THĂNG LONG Từ lâu, đã có một thành ngữ quen thuộc với mọi người khi nói về đặc tính của Thăng Long ­  Hà Nội: Ngàn năm văn hiến. Vậy văn hiến là gì? Nếu như hai khái niệm văn hoá và văn  minh hiện được dùng phổ biến có nguồn gốc từ phương Tây thì khái niệm văn hiến là hoàn  toàn gốc từ phương Ðông. Phương Tây không có khái niệm này. Chỉ ở Việt Nam và Trung  Quốc, khái niệm văn hiến mới được dùng phổ biến. Ở Việt Nam, từ văn hiến xuất hiện trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (1428) rồi sau  đó được tiếp tục sử dụng trong ngôn ngữ Việt Nam. Như nước Ðại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Nền văn hiến mà Nguyễn Trãi nói đó mang một nội dung khá rộng. Nó thể hiện bản sắc của  dân tộc Việt Nam không chỉ ở "núi sông bờ cõi đã chia" mà còn ở "phong tục Bắc, Nam cũng  khác". Bản sắc ấy không chỉ ở truyền thống văn hoá Việt Nam qua các thời kỳ mạnh yếu khác  nhau mà còn ở sự tiếp nối không ngừng của các thế hệ anh hùng hào kiệt trong lịch sử Việt  Nam. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau Nhưng hào kiệt đời nào cũng có Ở Nguyễn Trãi, con người hào kiệt và văn hoá là  những nhân tố cấu thành của nền văn hiến  Việt Nam. Nói tới văn hiến Việt Nam, Nguyễn Trãi đã khái quát những truyền thống tốt đẹp đã  tạo nên sức mạnh tinh thần bất diệt của dân tộc Việt Nam. Văn hiến Thăng Long chính là sự  thu nhỏ lại của văn hiến dân tộc và là biểu hiện tập trung nhất của nền văn hiến ấy.
  11. Kỷ niệm 990 năm và chuẩn bị kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long cũng là kỷ niệm những thành  tựu của cả nước được hội nhập ở Thăng Long và lại từ Thăng Long toả sáng trên mọi miền  của đất nước. Văn hiến Thăng Long không phải là của riêng vùng đất Thăng Long mà là tự hào chung của  cả dân tộc Việt Nam. Cũng ở thế kỷ 15, bia tiến sĩ Văn Miếu năm Quang Thuận thứ 4 (1463) do Tiến sĩ Ðào Cử  soạn, có ghi: "Học trò may được khắc trên bia đá này, phải theo danh nghĩa sửa đức hạnh,  bắt chước tính giữ gìn văn hiến". Thế kỷ 19 trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú viết: "Khi nhà Lê dựng nước,  văn hoá lại thịnh dần, hơn 300 nắm tác đầy đủ kỹ càng, văn hiến đứng đầu trung châu điển  chương rạng cả triều đại" (Văn tịch chí, bản dịch, quyển 4, trang 41). Vậy nội dung văn hiến là gì? Chu Hy (đời Tống, Trung Quốc) giải thích: "Văn, điển tịch dã; hiến, hiền dã". Có thể hiểu văn  tức là văn hoá chỉ khuôn phép, trước tác, sách vở, hiến chỉ người hiền tài của đất nước. Như vậy, có thể khẳng định rằng khái niệm văn hiến bao hàm không chỉ nội dung của khái  niệm văn hoá, văn minh mà còn nhấn mạnh một yếu tố quan trọng nữa, đó là những hiền tài  của đất nước. Nền văn hiến của một dân tộc bao gồm cả trình độ văn hoá và số lượng hiền tài  của dân tộc ấy. Cách viết như trên chính là cách hiểu ở Việt Nam, kể từ Nguyễn Trãi. Tóm lại, văn hiến là trạng thái phát triển nhất định của mỗi dân tộc. Nó nói lên xu hướng luôn  luôn khắc phục tình trạng nguyên sơ lạc hậu và thấp kém để vươn tới cuộc sống ngày một  phát triển hơn, tiến bộ hơn, cao đẹp hơn, với sự phong phú của đời sống vật chất và tinh thần,  với sự xuất hiện ngày một nhiều những hiền tài của đất nước. Nó đánh dấu trình độ của một  dân tộc đã đạt được trong quá trình sử dụng thiên nhiên, hoàn thiện đời sống xã hội và không  ngừng đào tạo ra những con người ưu tú cả về trí tuệ phẩm chất và tài năng. Với quan niệm trên đây, chúng ta sẽ dễ dàng hiểu được văn hiến Thăng Long từ nguồn gốc ra  đời đến những biểu hiện phong phú của nó trên các lĩnh vực của đời sống và qua các thời kỳ  lịch sử. ­ Sự ra đời của văn hiến Thăng Long có thể bắt đầu từ Chiếu dời đô, từ ngày kinh đô Thăng  Long ra đời (1010). Tuy nhiên, văn hiến Thăng Long không phải đã được hình thành từ con số  không. Hàng ngàn năm lịch sử trước đây đã chuẩn bị cho sự ra đời và phát triển của nó. Văn  hiến Thăng là sự tiếp nối và nâng cao của những phẩm chất bất diệt của con người Việt Nam  đã được rèn đúc suốt bao nhiêu thế kỷ chiến đấu để tồn tại và phát triển. Không thể hiểu được  văn hiến Thăng Long nếu như bỏ qua những giá trị vật chất và tinh thần mà tổ tiên đã tạo  dựng từ trước Thăng Long và để lại cho Thăng Long. Sự dời đô từ Hoa Lư đến Thăng Long không phải là sự thay đổi địa điểm một cách bình  thường như bao nhiêu cuộc thay đổi Thủ đô đã từng diễn ra trong lịch sử Việt Nam cũng như ở  các quốc gia khác trên thế giới. Sự dời đô của Việt Nam năm 1010 mang một ý nghĩa đặc 
  12. biệt. Nó đánh dấu một sự chuyển biến quan trọng trong lịch sử Việt Nam từ thời dựng nước  cho đến ngày năm đó. Sự dời đô của Việt Nam và sự ra đời của Thăng Long thể hiện đỉnh cao của tâm hồn và bản  lĩnh Việt Nam, thể hiện đầu óc tự cường của dân tộc, thể hiện khí phách anh hùng của cả  lãnh tụ và toàn thể nhân dân Việt Nam. Việc dời đô này là sự tuyên bố vang dội bốn phương về chủ quyền bất khả xâm phạm của đất  nước Việt Nam, về sức mạnh bất khả chiến thắng của dân tộc Việt Nam trên con đường độc  lập và phát triển. Thăng Long lại là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước. Cho nên văn hiến Thăng  Long không phải là sản phẩm riêng của những con người sinh sống trên mảnh đất gọi là  Thăng Long này. Nó là sự hội tụ, sự chắt lọc và nâng cao những tinh hoa trí tuệ và tâm hồn  của cả nước và từ đây lại lan toả mọi miền, trở thành di sản tinh thần và niềm tự hào chung  của cả đất nước. Văn hiến Thăng Long phản ánh tinh hoa đời sống tinh thần của dân tộc. Ðặc điểm của nền  văn hiến ấy thể hiện từ cung cách tư duy đến sinh hoạt hàng ngày, từ sự bảo vệ một cách  ngoan cường bản sắc dân tộc đến sự tiếp thu nhạy bén và sáng tạo những tinh hoa của nhân  loại, từ sự phát minh khoa học đến sự sáng tạo văn học nghệ thuật. Chính vì thế mà văn hiến  Thăng Long là đỉnh cao của văn hiến dân tộc. Văn hiến Thăng Long cũng thể hiện ở trình độ thẩm mỹ sâu sắc và tế nhị trong hoạt động  nghệ thuật cũng như trong cuộc sống hàng ngày. Nó khiến cho Thủ đô luôn luôn đi đầu, luôn  luôn là mẫu mực về một cuộc sống thanh lịch trong ăn, mặc, ở, trong mọi ứng xử hàng ngày. Người Hà Nội ngày nay đã và đang phát huy truyền thống ngàn năm văn hiến đó để xây dựng  thành phố của mình đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát huy truyền thống kết hợp với  hội nhập thế giới văn minh, cùng cả nước vững vàng và hào hùng tiến vào thiên niên kỷ thứ  ba NÉT ÐẸP VĂN HOÁ CỦA NGƯỜI HÀ NỘI THANH LỊCH Hà Nội, thủ đô một đất nước có bốn ngàn năm văn hiến. Nơi hội tụ những tài năng, những trí  tuệ tiêu biểu của dân tộc Việt Nam. Từ xa xưa, đã được nhân dân cả nước ca ngợi: "Ngàn  năm văn vật đất Thăng Long" hoặc "Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Dẫu không thanh lịch  cũng người Tràng An"... Những câu mến yêu đó nhằm nói về những nét đẹp văn hoá trong cử chỉ, lời ăn tiếng nói và  hành động của người Thăng Long, người kinh kỳ, kẻ chợ, người Hà Nội, người thủ đô. Xin được lược kê đôi nét về cử chỉ: Hào hoa mà không kênh kiệu, khoe vẻ giàu sang.
  13. Phong nhã mà không lề mề, chậm chạp, lù dù. Linh hoạt mà không xấc xược, láu lỉnh, kệch cỡm. Vui tươi duyên dáng mà không suồng sã, lẳng lơ. Vừa thông minh, lịch thiệp mà không ba hoa, hời hợt. Vừa chững chạc, khiêm nhường, vừa ân cần, tế nhị... khiến cho ai đó mỗi khi gặp gỡ, giao  thiệp đều cảm thấy hài lòng, quý trọng và cảm kích những giây phút hội ngộ đầy thoải mái.  Khi ra về vẫn luyến tiếc và mong sao có dịp tái ngộ, hàn huyên. Khi gặp người quen thì tươi cười chào hỏi, dù người đó ít tuổi hơn, vai vế trong họ hàng và xã  hội có kém hơn... Lại càng chủ động hỏi han ân cần để kẻ dưới khỏi tủi thân hoặc chê trách. Trái lại, đối với người có chức, quyền cao hoặc giàu sang thì người Hà Nội thanh lịch có ý lảng  tránh... để khỏi mắc tiếng "Thấy người sang bắt quàng làm họ". Bởi họ biết rõ đó là của phù  vân, là quyền chức "nhất thời". Nhưng, đối với các vị đáng bậc cha chú, người Hà Nội thanh lịch phải ngả mũ chào, tỏ lòng  tôn kính với mong muốn được phụ giúp việc gì đó có ích để các bậc trên được hài lòng về con  cháu. Trong mối quan hệ bạn bè nam nữ, thanh niên Hà Nội làm quen với phái nữ bằng những cử  chỉ và lời nói lịch sự tế nhị biểu lộ một chiều sâu tâm hồn trong sáng, một trí tuệ thông minh...  Chinh phục ai đó bằng hành động cao thượng, bằng sự cảm mến, quý trọng, tận hưởng. Còn các thanh nữ thủ đô thuỳ mị, duyên dáng kín đáo. Yêu ai, ghét ai cũng để trong lòng.  Nhưng cô ấy khinh bỉ ra mặt những kẻ ăn nói thô lỗ, bỉ ổi, sỗ sàng, ăn nói huênh hoang  "trưởng giả học làm sang". Phụ nữ Hà Nội thanh lịch được tiếp xúc rộng rãi biết phân biệt người có tài, có đức với kẻ ba  hoa con ông cháu cha, áo quần bảnh bao, ăn tiêu xa hoa khoe của. Các nàng chỉ cười bằng  ánh mắt. Lấy nón che nghiêng hoặc khăn che miệng khi tủm tỉm cười. Họ rất sợ đi với bạn  quen lối cười hô hố, cười toe toét rũ rượi, ảnh hưởng lây tới tư cách mình. Lời nói và giọng nói thanh thiếu nữ Hà Nội đến là dễ nghe, bởi chất dịu dàng, duyên dáng,  kèm theo chữ ạ rất nhỏ cuối mỗi câu, nghe sao mà xao xuyên. Ví dụ: ­ "Thưa ông, mẹ cháu xin gửi lại ông tờ báo ạ!". ­ "Thưa thầy, thầy giảng giúp cho em bài này ạ!" ­ "Chị ơi! Ðây có phải nhà bác A không ạ?" Nghe vậy ai nỡ nào trả lời cộc lốc, hững hờ được. Những bữa cỗ đông người dự, người Hà Nội thanh lịch bao giờ cũng gắp những miếng ngon  nhất mời các vị cao tuổi với lời lẽ trân trọng: "Xin mời cụ nếm thử ạ!". Sau cùng, mới nhận  miếng nhỏ nhất cho mình. Ðến dự lễ cưới với thái độ vui tươi, nhưng không lợi dụng sự mừng vui ấy mà rượu chè say  khướt và nói năng bừa bãi, khôi hài bằng những câu dung tục, rẻ tiền.
  14. Còn đi dự lễ tang, dù thân hay sơ, người Hà Nội có văn hoá không phì phèo thuốc lá, trò  chuyện oang oang, cười nói nhởn nhơ, mà phải có cử chỉ, nét mặt u buồn tỏ ý chia sẻ nỗi đau  thương. Khi đi đường gặp đám tang, người Hà Nội đều ngả mũ chào linh hồn người quá cố. Ðến bệnh viên thăm bệnh nhân, thăm hỏi ân cần, nhẹ nhàng... Khỏi phiền người khác đang  đau mệt cần yên tĩnh. Những nét đẹp "văn hoá" không chỉ dành riêng cho thanh niên hoặc người nhiều tuổi. Nó  thấm sâu, lan rộng tới các em thiếu niên, nhi đồng. Tôi xin kể mẩu chuyện này: Năm 1975 một buổi tối tôi đi tàu điện từ chợ Hôm lên Bờ Hồ lo không kịp chuyến tàu cuối vào  Ngã Tư Sở. Cho nên tàu mới đến Bờ Hồ từ trên toa tôi đã hỏi rất to một cách bâng quơ: "Tàu  nào vào Ngã Tư Sở đó các bác ơi?". Có nhiều tiếng đáp của các em nhỏ: "Ðây, đây, lại đây ông ơi!". Mừng quá, tôi đi về phía các  em. Tôi được nghe những lời nói chân tình: "Chúng cháu cũng về chuyến này, ông ạ!". Rồi  các em chìa tay dìu tôi lên và hỏi ríu rít: "Ông về đâu ạ?". "Ông xuống đoạn nào ạ?". Những  tiếng ạ luôn vang lên tai tôi đã nói lên đầy đủ nếp sống văn hoá. Khi lấy lại tiền vé thừa cho  tôi, các em ân cần đưa tận tay, nói rành rõ: "Ðây là tờ 5 hào, đây là tờ 2 hào, ông ạ!". Ngồi  trên toa, tôi lắng nghe các em nói chuyện, đôi khi tranh cãi sôi nổi với những lý lẽ sắc bén về  bố cục, về đường vét về màu sắc một bức tranh nào đó của danh hoạ Picasso, Levitan, Tô  Ngọc Vân... khiến tôi tin là các em vừa được học ở một lớp học vẽ nào đó. Gần đến gò Ðống Ða, trước khi xuống, các em chào từ biệt tôi kèm theo lời dặn dò: "Chúng  cháu xuống đây. Ông chuẩn bị đến chỗ đỗ sắp tới là Ngã Tư Sở đó ạ!". Dứt khoát đó không  phải là sự bột phát, ngẫu nhiên mà có nguồn gốc từ xa xưa. Bất giác, tôi liên tưởng tới trí tuệ  thông minh của người Âu Việt, Lạc Việt mà tiêu biểu nền văn minh đó là kỹ thuật đúc trống  đồng. Dù phải trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, rồi gần trăm năm hết Pháp, Nhật, đến Mỹ  xâm chiếm, nhưng ngoài trí tuệ thông minh và lòng dũng cảm, nhân dân ta còn biết chắt lọc,  lược bỏ đi những gì là cổ hủ, lạc hậu. Và tiếp thu những tinh hoa của các nền văn minh lớn  của nhân loại: "Trung Hoa, Ấn Độ, Pháp, Nhật, Mỹ... để tạo nên một sắc thái độc đáo vừa tài  hoa, vừa thanh lịch Việt Nam mà kết tinh là ở thủ đô Hà Nội". Người Hà Nội thanh lịch biết tuỳ nghi sử dụng các kiểu quần khăn mũ, hài hoà màu sắc, phù  hợp với hoàn cảnh công việc hoặc nghi lễ... khác hẳn lối tuỳ tiện Âu Mỹ, dự quốc lễ vẫn ăn  mặc hở hang như dạo mát trên bãi biển. Hoặc ăn uống xô bồ không cần để ý tới ai, cứ nhồm  nhoàm nhai, mút tay mỡ chùn chụt... dù đó là giữa hội nghị văn học quốc tế (xem "Một thời  lầm lỗi" của Lê Lựu sang thăm Mỹ 1989). Người Hà Nội rất hay "xin lỗi" dù họ chẳng có lỗi. Có  một hôm tôi đang ngồi nói chuyện với ông anh họ, bác gái ở trong nhà đi ra, khẽ né mình rồi  nói nhẹ. Người Hà Nội cũng hay nói "cảm ơn". Mua sách báo xong cũng "cảm ơn". Cắt tóc, bơm xe  xong, dù trả tiền rồi, vẫn "cảm ơn". Sự cảm ơn lẫn nhau tạo nên một không khí ấm áp tình  người, làm cho ta tạm quên giây phút những vất vả cuộc đời. Những dẫn chứng trên, dẫu sao vẫn chỉ là sơ lược những nét duyên dáng thanh lịch của người  Hà Nội
  15. Mai Khánh (Người Hà Nội) DANH NHÂN Lý Thái Tổ ­ Lý Công Uẩn (1010 ­ 1028) Người khởi dựng triều Lý là Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp (Từ Sơn, Hà Bắc).Công Uẩn  sinh năm Giáp Tuất (974), là con nuôi của thiền sư Lý Khánh Văn từ năm ba tuổi và truyền  thuyết vẫn cho rằng ông là con của Vạn Hạnh, anh ruột Khánh Văn. Cũng theo truyền thuyết ông thân sinh ra Lý Công Uẩn nhà nghèo đi làm ruộng thêu ở chùa  Tiên Sơn (An Phong, Bắc Ninh) phải lòng một tiểu nữ và làm nàng có mang. Nhà chùa thấy  thế đuổi đi nơi khác. Hai vợ chồng dẫn nhau đến khu rừng Báng mệt mỏi, dừng lại nghỉ.  Chồng khát nước đến chỗ giếng nước giữa rừng uống, chẳng may sẩy chân chết đuối. Vợ chờ  lâu không thấy, đến xem thì đất đã đùn lấp giếng. Ngưòi phụ nữ bất hạnh tha khóc một hồi rồi  xin vào ngủ nhờ ở chùa ứng Tâm gần đó. Sư trụ trì chùa này đêm trước nằm mơ thấy Long  thần báo mộng rằng: "Ngày mai dọn chùa cho sạch để đón hoàng đế đến". Tỉnh dậy, nhà sư  sai chú tiểu quét dọn sạch sẽ, túc trực từ sáng tới chiều chỉ thấy một người đàn bà có mang  đến chùa xin ngủ nhờ. Được vài tháng sau bỗng có chuyện lạ: Một đêm, khu tam quan của chùa sáng rực lên, hương thơm ngào ngạt lan tỏa. Nhà sư cùng  bà hộ chùa ra xem thì thấy người đàn bà ấy đã sinh một con trai, hai bàn tay có bốn chữ son  "sơn hà xã tắc". Sau đó, trời bỗng nổi trận mưa to gió lớn, mẹ chú bé chết ngay sau khi sinh  con và chú bé được nhà chùa nuôi nấng. Khi 8,9 tuổi nhà sư cho chú bé theo học sư Vạn  Hạnh ở chùa Tiên Sơn. Chú bé đó là Lý Công Uẩn. Công Uẩn lớn lên tỏ rõ chí khí lớn khác thường. Ông đến Hoa Lư làm quan cho nhà Tiền Lê  đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Khi vua Thiếu Đế bị giết, ông ôm thây vua khóc.  Vua Ngoạ Triều khen là trung, cử ông làm Tư tướng quân chế chỉ huy sứ, thống lĩnh hết quân  túc vệ. Theo truyền thuyết, làng Cổ Pháp hồi ấy có cây gạo cổ thụ bị sét đánh tước vỏ ngoài lộ ra  mấy câu sấm. Sư Vạn Hạnh xem câu sấm ấy biết điềm nhà Lê đổ nhà Lý sắp lên bèn bảo Lý  Công Uẩn rằng: ­ Mới rồi tôi thấy lời sấm kỳ dị, biết rằng họ Lý cường thịnh, tất dấy cơ nghiệp. Nay xem trong  thiên hạ người họ Lý rất nhiều nhưng không ai bằng ông là người khoa từ nhân thứ, được lòng  dân chúng mà binh quyền nắm trong tay. Người đứng đầu muôn dân chẳng phải ông thì còn  ai? Sợ câu nói ấy tiết lộ, Lý Công Uẩn phải nhờ người đem dấu Vạn Hạnh ở chùa Tiên Sơn. Khi Lê Long Đĩnh mất, Lý Công Uẩn đã ngoài 35 tuổi. Vua kế tục Long Đĩnh còn nhỏ, Lý 
  16. Công Uẩn chỉ huy quân túc vệ trong chốn cung cấm. Bấy giờ lòng người đã oán giận nhà Tiền  Lê nên quan Chi hậu là Đào Cam Mộc cùng các quan trong triều tôn Lý Công Uẩn lên ngôi  hoàng đế tức Thái Tổ nhà Lý. Vua Thái Tổ thấy Hoa Lư hẹp liền dời đô về La Thành. Thái Tổ  lấy cớ có điềm trông thấy rồng vàng bay lên liền đổi Đại La thành Thăng Long thành (tức Hà  Nội bây giờ), đổi Hoa Lư thành phủ Tràng An và Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức. Vua Thaí Tổ  chỉnh đốn việc cai trị, chia nước ra làm 24 lộ, gọi Hoan Châu và ái Châu là trại. Vốn thông minh bẩm sinh, lại được nhập thân văn hóa một vùng đất văn minh, văn hiến, là  con đẻ con nuôi của những vị cao tăng xuất chúng, Lý Công Uẩn thực sự là người con ưu tú  của dân tộc. Ông đã cùng triều Lý làm rạng danh nước Đại Việt, viết nên những trang sử oanh  liệt dựng nước và giữ nước. Chùa ứng Tâm nơi ông sinh ra bây giờ có tên là chùa Dặn. Ngôi huyệt chỗ giếng nước ở rừng Báng năm xưa, những gò ở xung quanh trông giống như  hoa sen nở 8 cánh nên nhà Lý truyền ngôi được 8 đời. Vua Lý Thái Tổ trị vì 19 năm thì mất, thọ 55 tuổi. Các sách tuyển tập văn học Việt Nam đã đặt bài Thiên đô chiếu ( Chiếu dời đô ) của ông ở  vị trí mở màn cho nền văn học thời Lý. Đó là tác phẩm văn học duy nhất của ông, đồng thời  cũng là tác phẩm đầu tiên viết về Hà Nội. Bài chiếu chỉ gồm 214 chữ nhưng đã từng nổi tiếng  trong gần một nghìn năm qua, nhờ ý nghĩa và tác dụng đặc biệt của nó. Lấy tư cách là một vị  hoàng đế, tác giả bày tỏ với bề tôi những ý kiến chính thức của mình về lý do phải thay đổi  kinh đô, và việc lập ra kinh đô mới. Bài chiếu gồm hai phần : phần đầu, đưa những dẫn chứng  lịch sử chứng tỏ việc dời đô xưa nay không phải là tùy tiện, trái lại luôn luôn gắn liền với yêu  cầu xây dựng một địa điểm có tính chất trung tâm của vương triều phong kiến, tiêu biểu được  cho sự phồn vinh lâu dài của quốc gia, của triều đại, và phù hợp với "ý dân" và cả "mệnh trời".  Kinh đô Hoa Lư trước sau không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản này. Phần thứ hai, chỉ  rõ vị trí thuận lợi của kinh đô mới, với những ưu thế về địa lý không thể chối cãi, với tư cách là  "nơi hội tụ của bốn phương đất nước", nơi lập nghiệp "của muôn đời đế vương" Thiên Đô Chiếu  Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi  Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức  vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp  cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phu. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ  tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí  thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tín hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm  thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.  Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long  bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bội chi  nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn 
  17. điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng  địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô. Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà ? Dịch nghĩa : Chiếu Dời Đô Ngày xưa, nhà Thương đến vua Bàn Canh năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành  Vương cũng ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng  bậy đâu ? Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu  muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên  vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi  thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây,  đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp.  Trẫm rất đau đớn, không thể không đổi dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương : ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng  cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này  mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng  tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nươc Việt đó là nơi thắng địa,  thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đung là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn  đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy để định nơi ở. Các khanh nghĩ thế nào ? ( Trích Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ­ Bản Kỷ ­ Quyển II ­ ebook trang 90 ) Chú Thích : Bàn Canh: vua thứ mười bảy của nhà Thương, một triều đại rất xưa trong lịch sử Trung Quốc; năm lần dời đô nói việc  các vua nhà Thương dời đô từ đất Bặc (Thương Khâu, Hà Nam) sang đất Hiêu (Huỳnh Trạch, Hà Nam), đất Tương (An  Dương, Hà Nam), đất Cảnh (Hà Tân, Sơn Tây), đất Hình (Hình Đài, Hà Bắc), rồi đất Ân (Yển Sư, Hà Nam). Thành Vương: vua thứ ba nhà Chu, triều đại cổ tiếp nối nhà Thương; ba lần dời đô nhắc đến việc Chu Văn Vương dựng  nghiệp ở đất Kỳ (Thiểm Tây), Chu Vũ Vương dời đô đến Trường Yên (cũng Thiểm Tây), và Chu Thành Vương lại dời đô  sang Lạc „p (Hà Nam). Thật ra, phải nói hai lần dời đô mới đúng ! Tam Đại: tên chung chỉ ba triều đại cổ ở Trung Quốc ­­ nhà Hạ do Vũ sáng lập, nhà Thương do Thành Thang dựng lên,  và nhà Chu do Chu Văn Vương khởi thủy. nơi đây: ý chỉ Hoa Lư, kinh đô của nhà Đinh do Đinh Bộ Lĩnh sáng lập và nhà Tiền Lê do Lê Hoàn sáng lập. Lúc Lý  Công Uẩn mới lên ngôi, kinh đô của nhà Lý vẫn còn ở đó. Cao Vương: tức viên quan cai trị nhà Đường Cao Biền, tên tự Thiên Lý, làm đô hộ sứ châu Giao từ 864 đến 875. Cao  Biền xây thành Đại La thuộc vùng đất Hà Nội khoảng năm 866. Tương truyền Cao Biền giỏi địa lý, tướng số, bùa phép,  có tài vẩy đậu thành binh và biết trấn yểm các nơi có long khí. 
  18. Thái Úy Lý Thường Kiệt (1019 ­ 1105 ) Năm 1019 tại căn nhà của một võ quan ở phường Thái Hoà, con trai đầu lòng của ông Ngô  An Ngữ và bà họ Hàn ra đời đặt tên là Ngô Tuấn. Năm Thiên Thành đời Lý Thái Tông, ông An Ngữ được cử đi tuần vùng phía nam Thanh Hoá,  ít lâu sau bị lâm bệnh qua đời. Chồng của cô ruột là Tạ Ðức đem ông về nuôi dậy văn võ. Năm 18 tuổi mẹ mất (1036), Ngô  Tuấn cùng em lo đủ tang lễ mai táng. Hết tang, ông được bổ chức kỵ mã hiệu uý. Do tính  siêng năng, cần mẫn lại hết lòng trung thành, càng được vua tin yêu thăng thưởng dẫn lên  đến chức Ðô Tri và được đổi sang họ Vua gọi là Lý Thường Kiệt. Năm 1061, ông được Vua cử vào trấn giữ vùng núi Thanh ­ Nghệ hiểm trở, ông đã vỗ về nhân  dân chăm lo sản xuất, khai khẩn đất hoang làm cho nhân dân no ấm, biên cương được bảo vệ  vững vàng. Năm 1075, Nhà Tống do Vương An Thạch làm Tể tướng âm mưu chuẩn bị xâm lược nước ta,  Thái uý Lý Thường Liệt tâu với Thái hậu Ỷ Lan rằng "Ngồi yên đợi giặc, không bằng đưa quân  ra trước ", Thái Hậu đồng ý cho Lý Thường Kiệt và Tông Ðản đem quân sang đánh phá các  căn cứ tập kết lương thực, vũ khí của Nhà Tống ở Châu Khâm, Châu Liêm, Châu Ung  ( Quảng Ðông, Quảng Tây ) rồi chủ động rút quân về nước. Lập phòng tuyến chống giặc  Tống xâm lược ở bờ nam sông Cầu. Ðầu năm 1077 Quách Quỳ và Triệu Triệu Tiết dẫn hơn 10 vạn quân tiến vào xâm lược nước  ta, quân xâm lược bị quân và dân ta chặn lại bên bờ bắc sông Cầu hơn 2 tháng. Chính trên phòng tuyến sông Cầu, Lý Thường Kiệt đã cho ra đời bài thơ: Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm? Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư! Ðấy chính là "Bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của dân tộc ta. Quân Tống phải rút chạy  về nước, bờ cõi nuớc ta lại vững bền. Lý Thường Kiệt đã có công đánh thắng nhà Tống, lại có công bình Chiêm. Tháng 6 năm ất  Dậu (1105), Ðôn Quốc Thái uý Lý Thường Kiệt mất, thọ 87 tuổi, nhà Vua truy tặng chức; nhập  nội điện đô tri hiển hiệu thái uý bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt quốc công. Lý Thường Kiệt chính gốc ở làng Bình Sa, phía nam Hồ Tây. Đời Lý Công Uẩn, làng này được  dời ra bãi sông Cái ( tức sông Hồng ) để lấy đất mở mang kinh đô. Từ đó bãi có tên là làng An  Xá. Lý Thường Kiệt là người làng này. Sau làng đổi tên là Cơ Xá. Nay Cơ Xá là tên gọi chung  của dải đất ven sông Cái, từ bắc cầu Long Biên xuống đến bãi Đồng Nhân.Văn nghiệp của Lý  Thường Kiệt ngày nay chỉ còn được biết qua hai tác phẩm : một là bài thơ Nam Quốc Sơn Hà  ở trên, hai là bài văn Lộ bố khi đánh Tống ( Phạt Tống lộ bố văn ). Bài văn này là một trong 
  19. số những bài hịch của ông, bài này được viết gửi nhân dân các châu Ung, Khâm, Liêm vào  năm 1075, trước khi đưa đại quân đến tiêu diệt các hậu cứ quân Tống ở đó. Bài văn nói rõ  tính chính nghĩa của cuộc hành quân, vạch tội ác của triều đình Tống, đề cao lý tưởng lấy  dân làm trọng, và tuyên bố rã lập trường quang minh chính đại, không xâm phạm lãnh thổ  Trung Quốc, chỉ cốt diệt trừ âm mưu xâm lược của triều đình Tống. Phạt Tống Lộ Bố Văn Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hoà mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua  Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An  Thạch, bày những phép "thanh miêu", "trợ dịch" khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng  thoả cái mưu nuôi mình béo mập. Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng  kẻ ở trên cố nhiên phải xót. Những việc từ trước, thôi nói làm gì ! Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng  yêu nghiệt chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn  hôi tanh để đến thủơ ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thăng bình ! Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người  cùng nghe. Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi !
Đồng bộ tài khoản