LỚP TẬP HUẤN NÔNG DÂN VÀ NHÓM NÔNG DÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP

Chia sẻ: Hai Dang | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:57

0
338
lượt xem
122
download

LỚP TẬP HUẤN NÔNG DÂN VÀ NHÓM NÔNG DÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kể từ khi thực hiện Đổi Mới năm 1986, trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, sản lượng và năng xuất nông nghiệp tăng đáng kể. Sản xuất lương thực trên đầu người tăng 50% trong giai đoạn từ 1990 đến 2000 và an ninh lương thực đã đạt được tổng thể ở cấp quốc gia, chủ yếu là nhờ tăng sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Mêkông và Đồng bằng sông Hồng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LỚP TẬP HUẤN NÔNG DÂN VÀ NHÓM NÔNG DÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP

  1. Chính phủ Việt Nam DANIDA Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn LỚP TẬP HUẤN NÔNG DÂN VÀ NHÓM NÔNG DÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ NGÀNH NÔNG NGHIỆP (ASPS) TÁC ĐỘNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM Tháng 3, 2007 1
  2. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân o DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AIDS Bệnh liệt kháng ARD-SPS Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn ASPS Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp AT Nhóm đánh giá CIPM Quản lý dịch hại tổng hợp cộng đồng DARD Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn DKK Đồng tiền Krone của Đan Mạch FAO Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc FFS Lớp tập huấn nông dân trên đồng ruộng (IPM) FG Nhóm nông dân FLS Lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ FS Lớp tập huấn nông dân FSPS Lớp tập huấn nông dân sản xuất giống FT Tập huấn viên nông dân FU Hội Nông dân (cấp tỉnh) HH Hộ gia đình HIV Virút gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải - Virút gây bệnh AIDS IPM Quản lý dịch hại tổng hợp KAP Kiến thức, Thái độ, Thực hành (hành vi) MARD Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn MT Giảng viên chính NMU Ban Quản lý quốc gia PC Uỷ ban Nhân dân PH Sau thu hoạch PHH Sử lý sau thu hoạch PPP Quy trình lập kế hoạch có sự tham gia PPD Cục bảo vệ thực vật PPSD Chi cục bảo vệ thực vật (cấp tỉnh) SC Tiểu hợp phần SL Chăn nuôi gia súc nhỏ SLC Hợp phần Chăn nuôi gia súc nhỏ TA Hỗ trợ kỹ thuật TOT Đào tạo tập huấn viên USD Đô la Mỹ VBARD Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam VND Tiền Đồng Việt Nam VNFU Hội Nông dân Việt Nam (cấp quốc gia) i
  3. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT I TÓM TẮT IV SỐ LIỆU CHÍNH VỀ CHƯƠNG TRÌNH VII TIỀN TƯƠNG ĐƯƠNG VII 1. GIỚI THIỆU 8 1.1 PHƯƠNG PHÁP VÀ KHUNG LẤY MẪU 10 2. CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐƯỢC ỨNG DỤNG CHO LỚP TẬP HUẤN NÔNG DÂN VÀ NHÓM NÔNG DÂN CỦA CHƯƠNG TRÌNH ASPS 12 2.1.1 Bắt đầu với tập huấn có sự tham gia 13 2.1.2 Bắt đầu với những trình diễn 14 2.1.3 Bắt đầu với các nhóm 15 2.1.4 Hàm ý của các phương pháp tiếp cận khác nhau 15 2.1.5 Nhận thức của nông dân đã được tập huấn 17 2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP KHUYẾN NÔNG 18 2.2.1 Tỷ lệ ghi nhớ 19 2.2.2 Phương pháp tiếp cận khuyến nông linh hoạt 21 2.2.3 Kiến thức và kỹ năng thu được từ lớp tập huấn nông dân của các nhóm nông dân 22 2.3 TÁC ĐỘNG ĐẾN THÁI ĐỘ NÓI CHUNG 23 2.4 TÁC ĐỘNG LAN TỎA CỦA LỚP TẬP HUẤN NÔNG DÂN VÀ NHÓM NÔNG DÂN CỦA CHƯƠNG TRÌNH ASPS 24 2.5 SÁNG TẠO 25 3. TIẾP CẬN CÁC NHÓM ĐỐI TƯỢNG ĐÍCH 26 3.1 GIẢM NGHÈO 27 3.2 GIỚI 28 3.3 DÂN TỘC THIỂU SỐ 30 4. CÁC VẤN ĐỀ XUYÊN SUỐT 32 4.1 LỢI ÍCH XÃ HỘI 32 4.2 MÔI TRƯỜNG 32 4.3 HIV/AIDS 33 4.4 DÂN CHỦ HÓA 33 5. COST AND BENEFIT 34 5.1 ĐỊNH NGHĨA VỀ CHI PHÍ VÀ LỢI ÍCH 35 5.1.1 Chi phí 36 5.1.2 Lợi ích 37 5.2 ĐÁNH GIÁ CHI PHÍ LỢI ÍCH 38 5.2.1 Chi phí tài chính và lợi ích tổng thể 38 5.2.2 Danida 39 5.2.3 Chính phủ 40 5.2.4 Nông dân 40 6. TÍNH BỀN VỮNG VÀ SỞ HỮU 42 6.1.1 Tính bền vững của phương pháp tiếp cận IPM, Giống và Chăn nuôi gia súc nhỏ 42 6.1.2 Tính bền vững của phương pháp cận xử lý sau thu hoạch 43 ii
  4. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân 6.1.3 Tính bền vững của phương pháp tiếp cận của Hội nông dân Việt Nam và Ban Quản lý quốc gia 43 6.2 TÍNH BỀN VỮNG TRÊN ĐỒNG RUỘNG 44 6.3 TIẾP TỤC NHỮNG SÁNG KIẾN CỦA ASPS 44 6.4 NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA ĐỐI TÁC 45 6.5 CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC 46 7. SỰ PHÙ HỢP VỚI CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA CỦA NGÀNH 48 6.6 THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI KHUYẾN NÔNG CÓ SỰ THAM GIA 49 6.7 CHẤP NHẬN THỰC HIỆN CÁC PHƯƠNG PHÁP 51 8. BÀI HỌC KINH NGHIỆM 52 8.1 CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP VÀ BỐ TRÍ 52 8.2 ĐÓNG GÓP CỦA CHÍNH PHỦ 53 8.3 ĐÁP ỨNG CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI NHU CẦU CỦA NÔNG DÂN 54 9 KHUYẾN NGHỊ 56 Phụ lục: Phụ lục A Điều kiện tham chiếu (giao việc) Phụ lục B Tính chi phí và lợi ích Phụ lục C Hành trình và những người đã gặp Phụ lục D Tài liệu tham khảo Phụ lục E Báo cáo khởi đầu iii
  5. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân TÓM TẮT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được Chương trình ASPS hỗ trợ thông qua một loạt các hoạt động. Một trong những các hoạt động quan trọng nhất là phương pháp tiếp cận có sự tham gia được ứng dụng trên diện rộng trong đó tổng cộng có 507.776 nông dân được tập huấn thông qua các lớp tập huấn nông dân và 15.720 nông dân được tổ chức trong các nhóm nông dân. Hoạt động tập huấn nông dân của Chương trình ASPS thực sự là một quá trình học tập có sự tham gia. Quá trình này nhấn mạnh đến những quyết định và hành động trên cơ sở trao đổi cởi mở các ý kiến. Quá trình học tập có sự tham gia được nông dân tiếp thu tốt trong suốt quá trình thực hiện Chương trình ASPS. Các mô hình khuyến nông khác nhau được các hợp phần ASPS ứng dụng càng chứng minh rằng thành công của chương trình tập huấn nông dân không chỉ bó hẹp trong phương pháp tiếp cận có sự tham gia. Sự tham gia là quan trọng, nhưng tính phù hợp của chủ đề, chất lượng hướng dẫn, sự tham gia thực hành của nông dân, sự sáng tạo của các công nghệ được giới thiệu và tiềm năng của những cơ hội kinh doanh là những yếu tố quan trọng của chương trình tập huấn nông dân. Các lớp tập huấn nông dân - nhóm nông dân của Chương trình ASPS đã có những tác động rất tích cực đối với sản xuất và năng xuất, ví dụ hợp phần IPM đã kết hợp giữa giảm chi phí đầu vào và tăng năng xuất 8% kết quả là tăng thu nhập 16%. Hơn nữa Chương trình ASPS đã nâng cao nhận thức của nông dân về sự cộng tác, môi trường, HIV/AIDS và các khía cạnh xã hội khác trong xã hội. Chương trình ASPS đã tiếp cận với phụ nữ chiếm 39% tổng số người tham gia (196.846 nữ nông dân), người nghèo: 22% tổng số người tham gia (112.918 nông dân nghèo) và người dân tộc thiểu số: 11% tổng số người tham gia (53.373 nông dân các dân tộc thiểu số khác ngoài dân tộc Kinh), nhưng với sự khác nhau lớn về mặt địa lý và giữa các hợp phần. Với việc lựa chọn địa điểm và chủ đề, ví dụ sau thu hoạch, chăn nuôi gia súc nhỏ, sản xuất lúa hoặc rau, nhóm đối tượng đích về mặt giới và dân tộc cũng được lựa chọn do tính chất của chương trình. Với việc thực hiện thành công hơn 15,000 lớp tập huấn nông dân với sự tham gia của 500.000 người, Chương trình ASPS đã góp phần quan trọng vào sự đổi mới đang nổi lên của phương pháp tiếp cận khuyến nông. Chương trình ASPS đã chứng minh rằng có thể dần dần thay đổi phương thức cũ của việc truyền đạt cùng thông điệp kỹ thuật tới tất cả những người nông dân sử dụng cùng một phương pháp khuyến nông chuyển sang phương pháp tiếp cận tập trung vào khách hàng hơn trong hệ thống khuyến nông. Nhóm khách hàng của khuyến nông gồm những nông dân sản xuất nhỏ tự cung tự cấp, nông dân sản xuất hàng hóa thương mại, thanh niên nông thôn, phụ nữ, người nghèo ở nông thôn, các gia đình nông dân có người tàn tật và bị nhiễm HIV/AIDS, và tất cả những người này đều có những nhu cầu khuyến nông riêng. IPM cho thấy lợi ích kinh tế rất cao. Lý do là thu nhập của nông dân tăng lên đáng kể và đầu tư cũng như chi phí khá ít. Khi áp dụng tính toán chi phí lợi ích biên thì nó vẫn rất mạnh. IPM đã qua giai đoạn đầu tư và đang trở nên dễ dàng hơn và chi phí ít hơn cho việc nhân rộng. Nó cũng có các con số đầu vào ưu điểm hơn nhiều. Giống và xử lý sau thu hoạch đang kết thúc giai đoạn thí điểm và các giai đoạn đầu tư đã đạt được khối lượng khá lớn và sự gia tăng nhanh với tỷ lệ chi phí và lợi ích nói chung là hợp lý và tỷ lệ biên khá. Ở một số nơi, ví dụ như Nghệ An, lớp tập huấn nông dân sản xuất giống rõ ràng đã được coi là phương án hấp dẫn nhất vì nó nhanh chóng tạo ra sản phẩm hàng hóa với thu nhập đáng kể cho những người tham gia. iv
  6. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ có phần khác về mặt lợi ích kinh tế vì hiện nay nó vẫn đang ở giai đoạn thí điểm. Mặc dù chỉ mới có một vài quan sát của nghiên cứu đánh giá tác động nhưng nó cho thấy tiềm năng và tỷ lệ chi phí và lợi nhuận hợp lý. Nông dân và những người hưởng lợi khác sẽ là chủ nhân của chương trình khi nó được ứng dụng vào thực tế của họ. Điều này có thể là, ví dụ như năng xuất cao hơn trên đồng ruộng hay thông qua những cơ hội kinh doanh qua nhóm nông dân. Đối với những người hưởng lợi từ Chương trình ASPS, không còn nghi ngờ gì về việc đa số nông dân sẽ tiếp tục áp dụng những bài học mà họ đã tiếp thu được. Chương trình ASPS đóng góp nhiều nhất vào việc tăng cường năng lực, quản lý, hoạch định chính sách, lập kế hoạch, giám sát và thực hiện của các cơ quan đối tác với việc đào tạo gần 11.000 cán bộ và người cung cấp dịch vụ. Chính phủ được trang bị để tiếp tục đáp ứng những nhu cầu của các nhóm nông dân thông qua dịch vụ với chi phí thấp và theo yêu cầu. Có thể nói một cách hợp lý rằng các hoạt động của Chương trình ASPS, đặc biệt là các nhóm nông dân và các phương pháp khuyến nông có sự tham gia được ứng dụng phù hợp với chính sách quốc gia về khuyến nông. Các phương thức sản xuất tốt hơn và sạch hơn đã được đẩy mạnh song song với việc năng xuất tăng lên. Hơn nữa, Chương trình ASPS đã tạo điều kiện và trao quyền cho nông dân đi vào sản xuất hàng hóa thương mại nhiều hơn. Chương trình ASPS cho thấy rằng tập huấn có sự tham gia với quy mô lớn là có thể thực hiện được qua việc sử dụng tập huấn viên nông dân. Một trong những nhận xét thường thấy đối với phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân là lớp học không hiệu quả vì chỉ có 30 người được tập huấn trong 16 tuần. Nay nó được chứng minh là chương trình tập huấn nông dân trên đồng ruộng với quy mô lớn có thể thực hiện được và thậm chí đạt kết quả tuyệt vời. Các lớp tập huấn nông dân nhìn chung là chất xúc tác cho các hoạt động dựa vào cộng đồng, có thể là chăn nuôi, sản xuất giống, xử lý sau thu hoạch hay bảo vệ thực vật. Điều này được thấy rõ khi những học viên của lớp tập huấn nông dân sau khi học xong đã thành lập nhóm nông dân. Việc thành lập những nhóm này cũng là một đóng góp quan trọng vào mục tiêu tổng thể của Chương trình ASPS vì những nhóm này có thể đóng góp vào “tăng trưởng bền vững trong sản xuất và thu nhập hộ gia đình nông dân từ việc cải thiện về chất lượng và số lượng trong sản xuất nông nghiệp và tiếp thị”. Các nhóm có khả năng làm được việc này bằng cách chịu trách nhiệm phát triển địa phương và họ đã được đào tạo và trang bị kiến thức để làm việc đó trong thực tế. Một vài nhóm nông dân được thành lập trong Chương trình ASPS có khả năng tiếp tục hoạt động sau giai đoạn I của Chương trình ASPS. Tuy nhiên, nếu các nhóm không xác định được mục đích sản xuất hàng hóa thương mại của nhóm mình, thì cuối cùng nhóm sẽ bị tan rã. Một số câu lạc bộ đã được thành lập và đang hoạt động như là các doanh nghiệp và có lẽ sẽ bền vững hoặc có khả năng bền vững. Vì vậy việc chú trọng đến sự phù hợp về mặt kinh tế và khả năng tồn tại được của công nghệ đang được thúc đẩy là cấp thiết cho sự bền vững của các nỗ lực. Một đặc điểm quan trọng của Chương trình ASPS là sự phối hợp với các đoàn thể quần chúng và khu vực tư nhân, đây là điều cần thiết cho sự bền vững của các nhóm. Chỉ có một vài ví dụ của các hợp phần về việc tích cực nỗ lực gây ảnh hưởng đối với các chính sách và chiến lược nhằm làm cho phương pháp tiếp cận đã thành công được mở rộng trên toàn quốc, ngoài sáng kiến của hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ về việc ủng hộ hình thành chiến lược khuyến nông quốc gia. IPM được thiết lập một cách vững chắc tại Cục bảo vệ thực vật và các chi cục bảo vệ thực vật. Trung tâm khuyến nông quốc gia là đối tác của Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ và vì vậy đương v
  7. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân nhiên phương pháp tiếp cận có sự tham gia sẽ tìm được con đường để đi vào các chính sách quốc gia. Các chính sách này đang được xây dựng, nhưng chưa rõ điều gì sẽ được đưa vào. Rất có thể các lớp tập huấn nông dân sản xuất giống và chăn nuôi nhỏ chưa được thực hiện trong thời gian đủ dài để có thể trở thành một phần trong hệ thống khuyến nông chính thống, nghĩa là chúng chưa tự chứng minh được đầy đủ để có thể trở thành một ưu tiên trong công tác lập kế hoạch. Tuy nhiên, có một số tiến triển có thể củng cố các yếu tố có sự tham gia. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đang hỗ trợ việc thành lập các Hội đồng Khuyến nông có sự tham gia tại 40 tỉnh. Vẫn tiếp tục cần có tài liệu chứng minh một cách tích cực và thử nghiệm các mô hình có hiệu quả chi phí để lồng ghép các phương pháp tiếp cận. Bài học kinh nghiệm chính Một trong những bài học quan trọng nhất được rút ra là mối quan hệ chặt chẽ giữa tập huấn có sự tham gia chủ động và việc hình thành nhóm. Nông dân bắt đầu hiểu rõ giá trị của làm việc theo nhóm, học cách trao đổi, đưa ra tiếng nói của mình và thách thức ý kiến của nhau. Qua cách làm việc này nông dân thấy rằng họ có thể thu được nhiều hơn so với làm việc một mình. Điều này tạo ra nền tảng vững chắc cho làm việc theo nhóm. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng quá trình này không thể ép buộc được vì nhóm cần có thời gian để phát triển và hoàn thiện. Tính toán chi phí và lợi ích cho thấy thực tế là các phương pháp tiếp cận được ứng dụng là rất hiệu quả một khi đầu tư ban đầu được thực hiện với tỷ lệ chi phí và lợi ích rất tốt. Việc điều chỉnh một cách hiệu quả các thông điệp và phương pháp làm việc đạt được lợi ích về mặt tài chính đáng kể cho nông dân cùng với một loạt những lợi ích gián tiếp về mặt xã hội và môi trường. Một bài học được rút ra là lãnh đạo địa phương và cán bộ khuyến nông rất cởi mở với những ý tưởng mới và thay đổi thái độ hướng tới các phương pháp tiếp cận khuyến nông có sự tham gia và tập trung vào người nông dân. Tuy nhiên, không phải lúc nào họ cũng ở vị trí có thể thực sự áp dụng được những ý tưởng mới này. Nếu các chính sách và chiến lược chính thức ủng hộ một phương pháp tiếp cận khác hay nhóm đối tượng đích khác thì sẽ rất khó thực hiện được những ý tưởng mới này. Những bài học chính có thể sử dụng cho việc thực hiện Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (ARD-SPS) là: • Sẽ là một lợi thế nếu hình thành chiến lược đảm bảo rằng việc phát triển về mặt tổ chức của nông dân được mô tả từ hộ gia đình cá thể đến hợp tác xã hay các nhóm nông dân bền vững khác. • Cần phải xây dựng giáo trình cho lớp tập huấn nông dân, đặc biệt là được thiết kế cho nhóm đối tượng đích của Chương trình ARD-SPS đó là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu vùng xa. Hơn nữa, khi hướng vào đồng bào dân tộc thiểu số, điều quan trọng là phải có những tập huấn viên là người dân tộc vì những khó khăn về mặt ngôn ngữ. • Khi thiết kế giáo trình mới cho lớp tập huấn nông dân trong tương lai, cần phải đưa cả sáu khía cạnh học tập quan trọng vào đó là: phù hợp với nông dân, cơ hội kinh doanh, công nghệ sáng tạo, học tập có sự tham gia, bài tập thực hành và hướng dẫn phù hợp. Các yếu tố này cần được đưa vào càng nhiều càng tốt, liên quan đến chủ đề và đối tượng. Việc hướng dẫn nông dân cần phải tuân theo chu kỳ sản xuất và có những bài tập thực hành ở tất cả các giai đoạn phát triển của cây trồng và vật nuôi hay quá trình vận hành thiết bị xử lý sau thu hoạch. • Các cơ hội kinh doanh hay những khả năng tạo thu nhập khác cần phải được đưa vào thiết kế các chương trình nông nghiệp và phát triển nông thôn. vi
  8. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân SỐ LIỆU CHÍNH VỀ CHƯƠNG TRÌNH Tên chương trình: Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp Nước hưởng lợi: Việt Nam Ngày ký hiệp định: 21/8/ 2000 (IPM tháng 5- 2000, Hội Nông dân VN năm 2004) Thời gian thực hiện được phê Tháng 8- 2000 đến 30-06- 2007 duyệt: Tổng tài trợ: 435,4 triệu DKK Giải ngân đến ngày 31-10- 2006: 253,3 triệu DKK Quyết toán: 182,1 triệu DKK Các cơ quan đối tác: Bộ NN&PTNT, Hội Nông dân và Ngân hàng NN&PTNN Các hợp phần: IPM, Giống, Chăn nuôi gia súc nhỏ, Xử lý sau thu hoạch, Tín dụng và Hội Nông dân Việt Nam TIỀN TƯƠNG ĐƯƠNG Tỷ giá hối đoái USD - DKK -VND1 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 USD 1.00 7,7938 8,2151 8,1071 6,7528 5,9703 6,0377 6,0157 DKK USD 1.00 13981 14775,4 15137,5 15425 15700 15830 15966,66 VND DKK 1.00 1793,86 1764,38 1871,12 2290,53 2630,75 2628,12 2656,35 VND VND 1.00 0,000557 0,000556 0,000536 0,000438 0,000380 0,000381 0,000377 DKK 1 Đại sứ quán Đan Mạch cung cấp, Hà nội (EoD) vii
  9. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân 1. GIỚI THIỆU Kể từ khi thực hiện Đổi Mới năm 1986, trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, sản lượng và năng xuất nông nghiệp tăng đáng kể. Sản xuất lương thực trên đầu người tăng 50% trong giai đoạn từ 1990 đến 2000 và an ninh lương thực đã đạt được tổng thể ở cấp quốc gia, chủ yếu là nhờ tăng sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Mêkông và Đồng bằng sông Hồng. Cơ cấu nông nghiệp và nông thôn đã thay đổi hướng vào đa dạng hóa ngành nghề và cây trồng, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế quốc gia theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Nghề nghiệp ở nông thôn và những cơ hội việc làm mới, vì vậy, đòi hỏi có sự chuyển đổi lực lượng lao động nông nghiệp sang lực lượng lao động phi nông nghiệp, ví dụ chế biến hàng nông sản. Có khoảng 12 triệu hộ gia đình ở nông thôn, trong đó có 10 triệu hộ trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp. Với trung bình mỗi hộ 5 nhân khẩu, ước tính có khoảng 60 triệu người sống ở khu vực nông thôn, tương đương với 76% tổng dân số và 70% lao động của cả nước. Theo các chính sách của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nục tiêu phát triển lâu dài của ngành nông nghiệp là xây dựng ngành nông nghiệp thương mại đa dạng trên cơ sở tối đa hóa các lợi thế cạnh tranh, ứng dụng công nghệ mới và cải thiện khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Khác với những giai đoạn trước đây với đặc điểm là tăng cường khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên và mở rộng quy mô sản xuất, việc lập kế hoạch và các mục tiêu cho giai đoạn tới chủ yếu dựa vào cải thiện hiệu quả kinh tế, tăng giá trị sản phẩm với việc ứng dụng công nghệ mới và đẩy mạnh các biện pháp quản lý. Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang khai thác một cách có hiệu quả tiềm năng của các địa phương là một ưu tiên cao. Điều này đòi hỏi một hệ thống khuyến nông hữu hiệu và phương pháp tiếp cận tập huấn cho nông dân hiệu quả. Để hỗ trợ sự phát triển nông nghiệp này ở Việt Nam, DANIDA đã triển khai Chương trình Hỗ trợ ngành Nông nghiệp (ASPS). Chương trình ASPS gồm 6 hợp phần chính: Giống, Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), Xử lý sau thu hoạch (PHH), Chăn nuôi gia súc nhỏ (SL), Tín dụng và Hội nông dân Việt Nam (VNFU). Bốn hợp phần đầu nằm trong Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (MARD), hợp phần Tín dụng nằm trong Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (VBARD) và hợp phần cuối cùng do Hội Nông dân Việt Nam thực hiện. Điều phối chung toàn bộ chương trình là Ban Quản lý quốc gia (NMU) có trụ sở tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Thỏa thuận của Chính phủ về hợp phần IPM được ký ngày 18-4-2000 trong khi đó Thỏa thuận chính của Chương trình ASPS được ký ngày 21-8- 2000. Giai đoạn (I) của Chương trình ASPS, theo kế hoạch, sẽ kết thúc vào ngày 30-6-2007. Sau đó sẽ thực hiện Giai đoạn II (2nd Generation) của Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (ARD – SPS) tập trung mạnh vào việc cải thiện sinh kế nông thôn tại 5 tỉnh (mới) ở vùng cao trong đó Phương pháp tiếp cận Lớp tập huấn nông dân và Nhóm nông dân sẽ tiếp tục được thực hiện có xem xét đầy đủ những bài học kinh nghiệm rút ra từ Chương trình ASPS hiện nay. Mục tiêu phát triển của Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp (ASPS) là "Giảm nghèo ở nông thôn trên cơ sở phát triển nông nghiệp bền vững" Mục tiêu trước mắt là: "Tăng trưởng bền vững về sản lượng và thu nhập hộ gia đình từ việc cải thiện số lượng và chất lượng sản xuất nông nghiệp và tiếp thị, chú trọng đến người nghèo, phụ nữ và đồng bào dân tộc thiểu số” 8
  10. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân Mục tiêu trước mắt của Chương trình ASPS cũng là mục tiêu phát triển của một số hợp phần của Chương trình ASPS. Đánh giá này chú trọng vào tác động và bài học kinh nghiệm rút ra từ các lớp tập huấn nông dân và nhóm nông dân. Các phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân và nhóm nông dân mà Chương trình ASPS áp dụng có thể chia làm ba phương pháp tiếp cận khác nhau. Một phương pháp tiếp cận là lớp tập huấn nông dân – như là một sự kiện đơn lẻ – không có hoạt động nối tiếp chính thức của hợp phần, mà chỉ do chính quyền địa phương và bản thân người nông dân tiếp tục làm. Nói chung, phần lớn Chương trình ASPS là tập huấn cho nông dân, những người vừa mới tham gia vào một sự kiện tập huấn đơn lẻ như vậy. Trong các hợp phần IPM, Giống và Chăn nuôi gia súc nhỏ, sự hỗ trợ này được tiếp tục với những người nông dân có quan tâm và đã tham gia lớp tập huấn nông dân phát triển thành nhóm nông dân hoạt động thường xuyên hơn (hay câu lạc bộ) có nội quy, quy chế bằng văn bản và có ban quản lý v.v. Các Nhóm nông dân (IPM, Giống hay Chăn nuôi gia súc nhỏ) sẽ tiếp tục hoạt động với hầu hết các phần của giáo trình sử dụng trong lớp tập huấn nông dân. Tuy nhiên, khác với tất cả các lớp tập huấn nông dân trên đồng ruộng nói chung, lớp tập huấn nông dân sản xuất giống hay chăn nuôi nhỏ được tiếp tục với các nhóm nông dân. Một phương pháp tiếp cận nữa, mà Hợp phần Xử lý sau thu hoạch thực hiện ở miền Bắc chú trọng đến trình diễn xử lý sau thu hoạch (như vậy thực tế không phải là lớp tập huấn nông dân) thường tổ chức các cuộc hội họp vào mùa vụ, nhưng không có cơ cấu nhóm chính thức (như vậy không phải là nhóm). Phương pháp tiếp cận thứ ba về lớp tập huấn nông dân do Ban quản lý quốc gia và Hội Nông dân Việt Nam thực hiện bắt đầu với việc thành lập các nhóm nông dân trong đó nhóm nông dân được chính thức thành lập trước và sau đó các nhóm viên được tập huấn theo yêu cầu của họ. Bảng 1.1; Các phương pháp tiếp cận do một số hợp phần ASPS ứng dụng HP IPM HP HPChăn HPXử lý Nhóm Ban HP Hội Giống nuôi sau TH Quản lý Quốc ND Lớp tập huấn nông dân (chỉ một vụ) Lớp tập huấn nông dân Lớp TH ND Lớp TH ND Lớp THND TH tăng Tập huấn sản xuất chăn nuôi trình diễn cường năn kỹ thuật giống nhỏ xử lý STH lực nhóm Nhóm nông dân ( có quy chế hoạt động nhóm và nhiều vụ) Nghiên cứu đồng ruộng CLB CLBChăn Nhóm sở Nhóm tổng Nhóm sở IPM cộng đồng kiến phát triển Giống = Dự nuôi nhỏ thích hợp thích Nghiên cứu Câu lạc bộ đồng ruộng IPM 9
  11. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân 1.1 PHƯƠNG PHÁP VÀ KHUNG LẤY MẪU Để rút ra bài học kinh nghiệm từ Chương trình ASPS điều quan trọng là phải phân tích và thu thập tài liệu chứng minh một số tác động của các lớp tập huấn nông dân và nhóm nông dân trong Chương trình ASPS về mặt phương pháp luận và cách tiếp cận đối với khuyến nông, phác thảo bài học kinh nghiệm để có thể góp phần vào việc thiết kế các dự án phát triển nông nghiệp và nông thôn trong tương lai và các phương pháp khuyến nông. Những dự án tương lai này có thể là của Bộ NN&PTNT, Sở NN&PTNT, các chương trình khác hay Chương trình hỗ trợ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn ARD-SPS của DANIDA sắp tới, vì vậy đánh giá này sẽ có một số người sử dụng hoặc người hưởng lợi tiềm năng. Đánh giá tác động này dựa vào những cuộc phỏng vấn và xem xét các báo cáo và các cơ sở dữ liệu hiện có. Những nhà tư vấn trước đây và bản thân các hợp phần đã thu thập được khá nhiều số liệu về tác động gồm những số liệu đầu tiên, ví dụ như số liệu về sản xuất, số liệu về thu nhập, về nhóm đối tượng đích v.v. Vì vậy, tư vấn lần này không thu thập lại những số liệu chung này mà dựa vào những số liệu đã có. Trong khi khảo sát thực địa và phỏng vấn, Nhóm đánh giá chú trọng các số liệu định tính hơn là các số liệu định lượng. Đánh giá này dựa vào một bộ câu hỏi toàn diện, được chia thành từng phần cụ thể cho những cơ quan và người tham gia khác nhau ví dụ nông dân đã được tập huấn, nông dân không được tập huấn, các nhà hoạch định chính sách, các đoàn thể quần chúng, những người thực hiện, v.v. Bảng hỏi được sử dụng như là danh mục tham khảo đảm bảo rằng tất cả các chủ đề được trao đổi khi phù hợp. Ngoài các phỏng vấn, Nhóm đánh giá đã đến thăm một số hoạt động đang được tiến hành trong Chương trình ASPS ví dụ lớp tập huấn nông dân phòng chống HIV, lớp tập huấn nông dân trồng rau, lớp tập huấn nông dân trồng lúa, các cuộc họp của nhóm nông dân chăn nuôi gia súc nhỏ, các câu lạc bộ chăn nuôi và giống và của Ban quản lý quốc gia và Hội Nông dân Việt Nam. Nhóm đánh giá đã tham khảo ý kiến các hợp phần trong việc tổ chức các cuộc đến thăm và làm việc với các cơ quan đơn vị tham gia, các nhóm và học viên của các lớp tập huấn nông dân cần phỏng vấn. Ngoài những gợi ý của các hợp phần, Nhóm đánh giá cũng liên hệ và phỏng vấn một số nông dân và quan chức địa phương không tham gia vào chương trình để tham khảo đối chứng. Nhóm đánh giá đã đi khảo sát ở Thái Bình, Nghệ An, Thanh Hóa, Hậu Giang, Đồng Tháp và Sơn La. Ngoài những tỉnh này ra, Nhóm cũng phỏng vấn các đơn vị và cá nhân tham gia chương trình ở Hà Nội. Trong thời gian khảo sát, Nhóm đánh giá đã đến thăm và làm việc với: • Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn các tỉnh thực hiện Chương trình ASPS • Hội nông dân cấp tỉnh, huyện và xã • Các cán bộ khuyến nông • Các trưởng nhóm nông dân • Cán bộ Ban quản lý các hợp phần của Chương trình ASPS • Tập huấn viên (nông dân và chủ chốt) • Nông dân /thành viên đã được tập huấn • Những đơn vị cung cấp đầu vào và thương nhân • Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn tại các tỉnh không có Chương trình ASPS • Cán bộ lãnh đạo các xã không có Chương trình ASPS • Những người không tham gia lớp tập huấn nông dân /nhóm nông dân 10
  12. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân Các lớp tập huấn nông dân đồng ruộng và nhóm nông dân trong đánh giá này là: • IPM – Các lớp tập huấn nông dân trên đồng ruộng do hướng dẫn viên chính/chủ chốt tiến hành • IPM – Các lớp tập huấn nông dân trên đồng ruộng do hướng dẫn viên nông dân tiến hành • IPM cộng đồng về nghiên cứu đồng ruộng • IPM cộng đồng về câu lạc bộ và nhóm nông dân • Chăn nuôi nhỏ - Các lớp tập huấn nông dân chăn nuôi • Chăn nuôi nhỏ – Các câu lạc bộ nông dân • Giống – Các lớp tập huấn nông dân sản xuất giống • Các câu lạc bộ giống/Nhóm nông dân sản xuất giống • Các nhóm sở thích của Hội Nông dân Việt Nam • Các nhóm nông dân xử lý sau thu hoạch • Các nhóm nông dân tổng hợp của Ban Quản lý dự án quốc gia 11
  13. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân 2. CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐƯỢC ỨNG DỤNG CHO LỚP TẬP HUẤN NÔNG DÂN VÀ NHÓM NÔNG DÂN CỦA CHƯƠNG TRÌNH ASPS Để hỗ trợ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đạt được những mục tiêu của mình, Chương trình ASPS đã hỗ trợ một loạt các hoạt động. Trong số những hoạt động này, hoạt động quan trọng nhất là phương pháp tiếp cận có sự tham gia được ứng dụng trên diện rộng. Bảng dưới đây đưa ra danh sách số nông dân đã được đào tạo trong các hợp phần khác nhau và số nông dân tham gia vào các nhóm. Bảng 2.1; Chương trình tập huấn nông dân của ASPS chia theo các lớp tập huấn nông dân và nhóm nông dân, 2000 – 2006 Tổng Hợp phần 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 cộng 2 1. HP IPM (tổng cộng ) 1.810 21.315 70.168 83.995 87.885 78.351 44.337 387.861 1.1 Lớp tập huấn nông dân 1.810 19.585 65.138 76.114 76.620 63.592 34.864 337.723 1.2 Nghiên cứu đồng ruộng (2.558 nông dân tham gia) 0 1.730 5.030 7.881 11.265 14.759 9.473 50.138 2. HP Giống (tổng cộng ) 2.353 9.629 18.648 12.340 42.970 2.1 Lớp tập huấn nông dân sản xuất giống 2.353 9.629 18.648 11.596 42.226 2.2 Câu lạc bộ Giống (30) 744 744 3. HP Chăn nuôi nhỏ (tổng cộng) 110 1.116 2.111 2.693 6.030 3.1 Lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ 1.008 1.536 2.484 5.028 3.2 Câu lạc bộ Chăn nuôi nhỏ (13) 366 366 4. HP Xử lý sau thu hoạch Miền bắc (tổng cộng) 4.190 4.175 5.300 13.665 4.1 Trình diễn cho người nghèo 3.200 3.200 4.500 10.900 4.2 Trình diễn cho người khá giả 960 960 800 2.720 4.3 Người cung cấp dịch vụ khác 30 15 0 45 5. HP Hội Nông dân (tổng cộng) 3.380 3.380 5.1 Nhóm kinh tế (40) 3.380 3.380 6. Ban quản lý quốc gia (tổng cộng) 696 696 6.1 Nhóm sở thích (27) 696 696 Tổng cộng 1.810 19.585 65.138 78.467 94.677 91.166 63.564 414.407 Tổng số nông dân tham gia lớp tập huấn 1.810 19.585 65.138 78.467 91.447 87.951 54.244 398.642 Tổng số nông dân trong các nhóm 3.200 3.200 9.320 15.720 Tổng cộng những cái khác 30 15 0 45 2 Số lượng các hoạt động và nông dân đã tham gia vào các chương trình IPM khác nhau chênh nhau rất nhiều. Số lượng các lớp tập huấn nông dân là 11.000 và đã tập huấn cho 230.000 nông dân. Sau các lớp tập huấn nông dân có 895 nghiên cứu đồng ruộng với tổng số 12.000 nông dân tham gia (những người nông dân này đầu tiên được tham gia lớp tập huấn nông dân). Trong chương trình IPM cộng đồng, có 1.633 nghiên cứu đồng ruộng với tổng số 38,000 nông dân tham gia. Ngoài ra đã thành lập 760 Câu lạc bộ IPM và 383 xã đã nhận được sự hỗ trợ thông qua chương trình IPM cộng đồng. Tổng số các nghiên cứu đồng ruộng trong chương trình IPM cộng đồng là 2.558 và khoảng 50.000 nông dân đã tham gia. 12
  14. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân 2.1.1 Bắt đầu với tập huấn có sự tham gia Phương pháp tiếp cận đầu tiên được các hợp phần IPM, Giống và Chăn nuôi nhỏ áp dụng lấy điểm xuất phát từ Lớp tập huấn nông dân IPM được FAO đưa vào Việt Nam năm 1992. Dần dần một vài hợp phần của Chương trình ASPS thực hiện phương pháp tiếp cận này có điều chỉnh theo yêu cầu của các chương trình khác nhau. Tuy nhiên, các nguyên tắc cơ bản của một vài phương pháp tiếp cận là tương đối giống nhau, đặc biệt là các hợp phần IPM và Giống, và chừng mực nào đó là hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ. Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ có điều chỉnh đáng kể để nó có thể ứng dụng được trong tập huấn chăn nuôi nhỏ, nhưng vẫn giữ phương pháp tiếp cận có sự tham gia, kể cả khả năng sáng tạo của các công cụ học tập do lớp tập huấn nông dân IPM ứng dụng. Những điều chỉnh của phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ là cần thiết vì những lớp tập huấn nông dân chăn nuôi không dựa vào đồng ruộng như những lớp tập huấn nông dân trên đồng ruộng, vì vậy ít thực hành hơn và có ít chỗ cho việc thử nghiệm. Hợp phần PM bắt đầu năm 2000 và đã dễ dàng bắt đầu chương trình này vì đối tác là Cục bảo vệ thực vật đã có kinh nghiệm đối với phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân, về mặt nào đó có cả hoạt động tiếp tục của lớp tập huấn nông dân, cụ thể là các câu lạc bộ IPM. Với sự tài trợ của Chương trình ASPS, chương trình này đã có đà và được thực hiện trong phạm vi rộng. Các yếu tố tập huấn quan trọng được tất cả các hợp phần áp dụng cho tập huấn nông dân đều đưa kinh nghiệm học tập dài hạn vào trong đó 25-30 nông dân cùng nhau học tập và theo dõi diễn tiến của chủ đề từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, ví dụ từ khâu chọn giống cho đến khi thu hoạch. Các lớp tập huấn được những giảng viên có kinh nghiệm hướng dẫn, những người này được trang bị để hướng dẫn quá trình học tập. Trong các chương trình tập huấn, nông dân ứng dụng thu thập mẫu có hệ thống, quan sát có cấu trúc và thử nghiệm những giả thuyết của chính họ. Sự tò mò của người nông dân là lực hút trong quá trình học tập. Chương trình IPM đã hỗ trợ một số lớp tập huấn nông dân đáng kể, 13.773 lớp và tập huấn cho 33.723 nông dân thông qua các lớp tập huấn nông dân. Hợp phần IPM đã rất lớn nay lại mở rộng các hoạt động IPM cộng đồng (CIPM) bắt đầu vào năm 2001 tại 4 tỉnh thí điểm. Sau khi tham gia vào lớp tập huấn nông dân, một số học viên của lớp tập huấn được hỗ trợ để tiếp tục nghiên cứu thông qua các nghiên cứu đồng ruộng, những nghiên cứu này chủ yếu là hoạt động tiếp tục của lớp tập huấn nông dân. Sau đó nó được phát triển lên thành IPM cộng đồng. Các cộng đồng thực hiện CIPM xuất hiện từ những nghiên cứu đồng ruộng và những người tham gia thực hiện những thí nghiệm trên cơ sở những khảo sát trong cộng đồng, và sau đó báo cáo lại kết quả cho cộng đồng. Các câu lạc bộ IPM cộng đồng cũng thường làm nhiều thí nghiệm và thử nghiệm do chính họ thiết kế, nhưng đôi khi họ cũng thực hiện những hoạt động khác ví dụ đi tham quan học tập kinh nghiệm các đơn vị khác và công tác xã hội. Hợp phần Giống cũng tranh thủ phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân của FAO và điều chỉnh chút ít để đáp ứng yêu cầu mục đích của hợp phần là sản xuất giống nông hộ. Một điều chỉnh quan trọng là thời gian tập huấn là 22 tuần cho lớp tập huấn nông dân sản xuất giống để có thể theo suốt cả vụ kể cả khâu làm đất và làm mạ thay vì 15 tuần như của lớp tập huấn nông dân IPM. Trong chương trình đào tạo cũng có một số điều chỉnh, đặc biệt là về việc chọn giống, chống lẫn trong khi trồng, thu hoạch và cất giữ giống. Phương pháp tiếp cận có sự tham gia vẫn giống như với lớp tập huấn nông dân IPM nhưng có bổ xung thêm vào chương trình đào tạo những vấn đề kỹ thuật liên quan đến giống cụ thể hơn. Hợp phần Giống đã thực hiện khoảng 1.300 lớp tập huấn nông dân sản xuất giống nông hộ và tập huấn cho 42.226 nông dân. Theo khái niệm hình thành các nhóm sau khóa tập huấn dài theo mùa vụ, các Nhóm nông dân sản xuất giống/ Câu lạc bộ giống bắt đầu được thành lập tại 7 tỉnh. Thành viên thường là những người nông dân đã được đào tạo trong lớp tập huấn nông dân sản xuất giống, nhưng không phải lúc nào cũng như vậy. Để chia sẻ những ý tưởng và kinh nghiệm và để đẩy mạnh quá trình thành lập câu lạc bộ giống, một cuộc hội thảo đã được tổ chức vào tháng 2 năm 2006. Hơn nữa, để khởi xướng 13
  15. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân một số nhóm thí điểm, Hợp phần giống quyết định cung cấp một số hỗ trợ ban đầu cơ bản, nghĩa là tập huấn và trang bị, cho tổng cộng 30 câu lạc bộ giống trong 7 tỉnh thực hiện hợp phần này. Một số thành viên của Câu lạc bộ giống đã hình thành các tiểu nhóm giống. Những tiểu nhóm này là những nhóm mà ở đó có một vài thành viên của nhóm chính thành lập ra nhóm nhỏ tại thôn xóm của mình. Tại những nhóm nhỏ này họ trao đổi và phổ biến nội dung và chủ đề của nhóm chính. Những tiểu nhóm này không nhận được sự hỗ trợ trực tiếp của Chương trình ASPS và không có số lượng cụ thể về tổng số bao nhiêu người tham gia trong những tiểu nhóm này. Tuy nhiên, đây là một chỉ số của tác động lan tỏa của Chương trình ASPS. Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ cũng được bắt đầu từ chương trình tập huấn nông dân của FAO, nhưng với bản chất là chăn nuôi chứ không phải là trồng trọt, nên cần phải xây dựng giáo trình và sách hướng dẫn với thiết kế đặc biệt cho lớp tập huấn nông dân chăn nuôi gia súc nhỏ. Công bằng mà nói thì Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ bắt đầu với một lĩnh vực khá mới và chưa được biết đến đó là tập huấn cho những người chăn nuôi nhỏ với việc sử dụng phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ. Trên thế giới mới chỉ có rất ít kinh nghiệm được đúc rút về phương pháp tiếp cận này và Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ đã đóng góp quan trọng vào việc xây dựng phương pháp tiếp cận này. Giáo trình in về chăn nuôi gà, vịt và lợn cũng đã được cung cấp cho một số tổ chức khác đang thực hiện những chương trình phát triển nông thôn tương tự. Ngoài việc xây dựng giáo trình và sách hướng dẫn, Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ cũng đã tạo ra được một nhóm giảng viên nòng cốt được đào tạo bởi những cán bộ giảng dạy được lựa chọn từ các trường đại học vì không có ai chuyên về giảng dạy cho lớp tập huấn nông dân chăn nuôi gia súc nhỏ trước khi Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ bắt đầu chương trình này. Do những khó khăn và những thách thức ban đầu trong việc đạt được sự nhất trí giữa Chương trình ASPS và Trung tâm khuyến nông quốc gia về mục đích và nhóm đối tượng đích của Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ, lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ đã bắt đầu khá chậm, trong năm 2003. 170 lớp tập huấn nông dân chăn nuôi gia súc nhỏ đã được tổ chức và 5.028 nông dân được đào tạo. Câu lạc bộ nông dân chăn nuôi gia súc nhỏ là một sáng kiến gần đây trong Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ theo yêu cầu của nông dân và học tập kinh nghiệm từ các hợp phần khác của Chương trình ASPS. Câu lạc bộ mới bắt đầu hoạt động từ quý 3 năm 2006 và mới chỉ có rất ít kinh nghiệm. Thành viên câu lạc bộ thường là nông dân đã tham gia lớp tập huấn chăn nuôi nhỏ, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Cũng giống như trong Hợp phần giống, quan sát thấy rằng một số thành viên đã thành lập các tiểu nhóm. Hai, ba người đã được tập huấn từ “Nhóm mẹ” thành lập nhóm con ở thôn xóm của mình. Đây là một ví dụ tuyệt vời về mạng lưới nông dân, trong đó thông tin về công nghệ, thị trường, những cảnh báo và chính sách v.v được phổ biến một cách có hiệu quả giữa những người nông dân. 2.1.2 Bắt đầu với những trình diễn Một phương pháp tiếp cận khác hẳn đã được Hợp phần Xử lý sau thu hoạch ứng dụng. Điểm xuất phát là những lớp tập huấn ngắn trong đó những kỹ thuật mới được giới thiệu và trình diễn và hướng dẫn sử dụng những công nghệ. Theo đúng nghĩa của nó, phương pháp tiếp cận này rất khác phương pháp tiếp cận lớp tập huấn nông dân của FAO, vì những trình diễn của lớp tập huấn nông dân xử lý sau thu hoạch ít ưu tiên cho phương pháp tiếp cận có sự tham gia hơn. Tuy nhiên, do “thông điệp” quan trọng của hợp phần là về phơi và cất giữ thóc, ngô, vì vậy đã đưa ra những giải pháp làm tăng đáng kể thu nhập cho những người tham gia, nên chương trình đã thành công. Hợp phần Xử lý sau thu hoạch bắt đầu các hoạt động ở Đồng bằng sông Mêkông và tương đối muộn, trong năm 2004, chiến lược cho miền Bắc được xây dựng và việc đưa công nghệ mới vào được bắt đầu với tỉnh Sơn La và Hà Giang. Hợp phần đã đào tạo 42.000 nông dân trong tổng số 13.665 người được tập huấn ở miền Bắc. Sau khi tiến hành tập huấn ở miền Bắc xong, Hợp phần Xử lý sau thu hoạch đã phối hợp với chính quyền địa phương trong các hoạt động tiếp theo. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Sơn La và Hà Giang đã tập huấn xử lý sau thu hoạch 14
  16. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân cho 5.400 nông dân với tất cả chi phí trực tiếp do các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chịu trách nhiệm thông qua “Chương trình phát triển kinh tế xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn”, thường gọi tắt là “Chương trình 135” và Hợp phần Xử lý sau thu hoạch đóng góp chi phí cho việc cung cấp tài liệu tập huấn, trình diễn trong tập huấn và trang thiết bị cho theo dõi, giám sát. Không có nhóm nông dân nào có quy chế bằng văn bản được xác định, nhưng học viên lớp xử lý sau thu hoạch tham gia vào các “câu lạc bộ khuyến nông hiện có” đã được chính quyền địa phương thành lập. 2.1.3 Bắt đầu với các nhóm Phương pháp tiếp cận thứ 3 được Hợp phần của Hội Nông dân Việt nam và Ban quản lý quốc gia áp dụng bắt đầu với việc hình thành các nhóm trên cơ sở những sở thích của nông dân và sau đó, sau khi các nhóm viên quyết định chủ để mà họ sẽ cùng nhau thực hiện, tập huấn mới được tổ chức. Tất cả các nhóm bắt đầu bằng việc xây dựng nội quy quy chế và những ưu tiên của nhóm. Từ năm 2005 Ban quản lý quốc gia đã bắt đầu với 27 nhóm nông dân tổng hợp với tổng cộng 696 nhóm viên, thông qua các thỏa thuận đồng tài trợ với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hậu Giang và Cần Thơ. Các nhóm tập trung vào những cơ hội kinh doanh và từ đầu năm 2006 đã nhận được hỗ trợ về quản lý và kỹ thuật và trợ giúp của các cơ quan địa phương. Thường thường các nhóm này gồm những người đã tham gia lớp tập huấn nông dân đã thành lập một nhóm hoặc câu lạc bộ và nay lồng ghép thêm các hoạt động vào. Các nhóm tổng hợp của Ban quản lý quốc gia không tiến hành tập huấn kỹ thuật cho nông dân. Tập huấn chủ yếu chú trọng vào những vấn đề về mặt tổ chức (phát triển nhóm), kế hoạch sản xuất và kinh doanh, được bổ xung bằng tập huấn kỹ thuật phù hợp trong sản xuất trên cơ sở những nhu cầu của nhóm. Hợp phần của Hội Nông dân Việt Nam đã thành lập 40 nhóm nông dân có cùng sở thích với tổng cộng 3.380 nông dân tham gia. Các nhóm này chỉ mới bắt đầu từ tháng 9 năm 2006, như vậy mới chỉ hoạt động được 4 tháng. Các nhóm này được hình thành theo sở thích của nông dân và những sở thích này được xác định thông qua một khảo sát toàn diện tại địa phương. Tuy nhiên, những nhóm này chỉ được hỗ trợ trong việc tập huấn quản lý nhóm ban đầu trước khi các hoạt động bị dừng vào tháng 11 năm 2006. Mô hình liên quan đến các nhóm nông dân được những người tham gia hưởng ứng tốt. Các nhóm viên bày tỏ mong đợi cao vào nỗ lực của nhóm và tất cả những người được phỏng vấn đều nói rằng họ dự định tiếp tục hoạt động của nhóm không có sự hỗ trợ của Chương ASPS. Một nông dân ở tỉnh Thái Bình nói rằng nhóm có thể tiếp tục công việc bình thường của Hội Nông dân một cách dễ dàng. 2.1.4 Hàm ý của các phương pháp tiếp cận khác nhau Mặc dù phương pháp tiếp cận cơ bản gần tương tự như nhau, giữa các hợp phần có sự khác nhau đáng kể. Quy mô của các hợp phần là quan sát đầu tiên liên quan đến tác động của nó. Đặc biệt là hợp phần IPM đã tiếp cận với số lượng nông dân rất lớn. Vì chương trình IPM đã có khi Chương trình ASPS bắt đầu, ví dụ, giảng viên loại 1 đã được đào tạo và đã có kinh nghiệm, người ta hy vọng rằng chương trình IPM tiếp cận được với nhiều nông dân hơn các hợp phần khác. Trong quá trình thực hiện chương trình của FAO, khái niệm về tập huấn viên nông dân đã được phát triển là một phần của “Chương trình phát triển cộng đồng của FAO khu vực”. Tuy nhiên khái niệm này chưa bao giờ được thực hiện với quy mô lớn. Chương trình IPM của ASPS đã lấy khái niệm này và sau khi có một số điều chỉnh của phương pháp này, ví dụ thời gian và nội dung đào tạo giảng viên (ToT), Chương trình ASPS đã mở rộng quy mô và tiếp cận với một số lớn nông dân. Đồng thời Hợp phần Giống và Xử lý sau thu hoạch cũng đã tiếp cận với số lượng nông dân khá lớn, như vậy có tác động đáng kể đến cấp nông trại. Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ vẫn đang trong giai đoạn thí điểm, nhưng tuy thế đến nay đã sẵn sàng mở rộng quy mô bởi vì đã có 700 tập huấn viên được đào tạo, những người này được trang bị kiến thức để tiến hành các lớp tập 15
  17. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân huấn nông dân chăn nuôi nhỏ. Các nhóm của Hội Nông dân chỉ mới hoạt động khoảng 3-4 tháng vì vậy còn quá sớm để đánh giá phương pháp tiếp cận này. Một trong những khác nhau quan trọng giữa các phương pháp tiếp cận được áp dụng là thời gian tập huấn. Hợp phần giống đã lựa chọn việc kéo dài lớp tập huấn hơn vì vậy tập huấn sâu hơn các hợp phần khác, đặc biệt liên quan đến đào tạo tập huấn viên nông dân. Cũng cần lưu ý rằng những người nông dân nghèo tham gia vào chương trình xử lý sau thu hoạch chỉ được hướng dẫn trong 4 ngày về công nghệ mới. Bảng 2.2; Thời gian tập huấn của một số hợp phần trong Chương trình ASPS Thời gian tập huấn (cả ngày) các khía cạnh kỹ thuật Tập huấn Tập huấn Tập huấn viên Nông dân viên loại 1 viên loại 2 nông dân IPM 96 32 8 (16 tuần) Giống 125 100 66 – 88 22 (Tiểu HP 8) (22 tuần) HP Chăn 50 21 21 8/13 nuôi nhỏ (16 tuần) Xử lý sau 30 14 - 4/8 thu hoạch (8 tuần) (Đầu ra 7) Trong khi Hợp phần IPM và Giống đào tạo dài cho tập huấn viên, thì Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ và Sau thu hoạch hoạt động với những chương trình đào tạo khá ngắn. Nhóm đánh giá không thấy có những sai sót nghiêm trọng nào do hậu quả của những khác nhau này, tuy nhiên cũng đáng xem xét vấn đề này. Nếu chỉ có 14 ngày (xử lý sau thu hoạch) là đủ để hướng dẫn người dân các phương pháp tiếp cận và công nghệ mới, thì cũng cần tranh luận rằng, vậy thì Hợp phần IPM và Giống đã lãng phí thời gian và công sức trong các khóa tập huấn của mình chăng. Tuy nhiên, có những dấu hiệu cho thấy phải mất hơn 2 – 3 tuần tập huấn hiệu quả thì mới đưa vào được một phương thức làm việc mới một cách đầy đủ kể cả việc học viên làm quen với các phương pháp tiếp cận mới thiết thực và dễ hiểu cho nông dân. Một trong những lợi thế chính của đào tạo dài hạn là việc nông dân không những học được kỹ lưỡng hơn mà họ còn rất thích làm việc cùng nhau. Việc các cuộc thảo luận và tranh luận dẫn đến sản xuất tăng lên sẽ chứng minh cho nông dân thấy rằng sự cộng tác giữa những người tham gia mang lại hiệu quả rất tốt. Việc đánh giá cao sự cộng tác giữa nông dân được coi là điểm khởi đầu mạnh nếu nông dân muốn tiếp tục làm việc theo nhóm và tạo đà cho làm việc theo nhóm cho đến khi nhóm được thiết lập vững chắc và các nhóm viên cùng nhau hình thành những mục tiêu của nhóm mình, ví dụ tiếp thị, cùng nhau quản lý máy móc hay sản xuất các mặt hàng đặc biệt nào đó. Nhóm đánh giá thấy có dấu hiệu về việc hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ và Xử lý sau thu hoạch có áp dụng tập huấn chú trọng nhiều hơn đến việc giới thiệu các công nghệ chứ không chỉ đảm bảo các bài tập thực hành tích cực tập trung vào nông dân. Nông dân của hai chương trình này trên thực tế thấy tập huấn rất thú vị và hữu ích, nhưng cũng thấy hơi lý thuyết quá và thực hành quá ít. Chương trình của Hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ hình như có sự tham gia trong đó nông dân trao đổi với nhau và có ảnh hưởng đến chủ đề thảo luận, nhưng ít thực hiện các bài tập thực hành đầy đủ một cách tích cực để thấy tự tin trong việc áp dụng những kiến thức đã học. Một trong những lý do chính của sự khác nhau này là các lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ và sau thu hoạch không dựa vào đồng ruộng như các lớp tập huấn nông dân IPM và lớp tập huấn nông 16
  18. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân dân sản xuất giống. Điều này dẫn đến việc giữa các học viên không có sự sản xuất thống nhất và theo thời vụ. Về Hợp phần Xử lý sau thu hoạch, chú trọng chủ yếu đến hoạt động của máy móc và ít quan tâm đến động lực của nhóm. Những minh họa được sử dụng trong chương trình xử lý sau thu hoạch đã được chuẩn bị trước chứ không phải chính học viên làm, bởi vì nếu học viên tự làm thì sẽ học được chi tiết hơn và nhiều hơn vì trong khi vẽ. Những thông số tương tự có thể được sử dụng để đánh giá khả năng học viên tham gia các buổi tập huấn nông dân có thể hình thành nhóm và tiếp tục cộng tác trong nhóm, hay khả năng của những người nông dân chưa được tập huấn trong việc hình thành nhóm. Nhóm đánh giá thấy rằng các nhóm hay câu lạc bộ của những nông dân có động cơ cao, được hình thành trong chương trình ASPS, đã đưa ra những quyết định đối với các vấn đề liên quan đến quỹ quay vòng vốn của nhóm, chất lượng giống, quản lý phân bón, quản lý nước, các hoạt động văn hóa, máy móc nông cụ, các hoạt động đa dạng hóa thu nhập và tiếp thị sản phẩm. Đối với Nhóm đánh giá một đặc điểm quan trọng của Chương trình ASPS là các nhóm đã được thành lập và hình thành những mục tiêu và quy chế cho sự cộng tác của mình. Đây là một hoạt động cần có sự quan tâm nhiều hơn. Những nhóm tổng hợp hoạt động tốt của Ban Quản lý Quốc gia mà Nhóm đánh giá đến thăm đều đã trưởng thành thành những nhóm ổn định bao gồm những người đã tham gia các lớp tập huấn nông dân và đã hình thành nhóm trong các hợp phần (chủ yếu là IPM). Vì nhóm sở thích của Hội Nông dân Việt Nam chưa bao giờ qua được giai đoạn đầu sau khi nhóm được thành lập, Nhóm đánh giá không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy các nhóm nông dân được hình thành, hoạt động và phát triển mà không có sự trợ giúp trước. Phương pháp tiếp cận phổ biến của Chương trình ASPS bắt đầu với việc tập huấn có sự tham gia là một phương pháp tuyệt vời cho việc hình thành các nhóm nông dân bền vững tự chịu trách nhiệm đối với các hoạt động của mình 2.1.5 Nhận thức của nông dân đã được tập huấn Nhóm đánh giá thấy có sự tăng lên đáng kể về nhận thức của những học viên tham gia các lớp tập huấn nông dân về những vấn đề kỹ thuật, an toàn (ví dụ IPM) và mối quan hệ qua lại với thị trường (ví dụ câu lạc bộ giống). Một tác động rất quan trọng nữa của lớp tập huấn nông dân /nhóm nông dân đáng chú ý là sự thay đổi thái độ của các đơn vị tham gia, những nhà hoạch định chính sách và nông dân về khái niệm và nhận thức của phương pháp tiếp cận có sự tham gia. Nhận thức này về một phương pháp tiếp cận thay thế được thấy ở một số công đoạn của quy trình lập kế hoạch (ví dụ Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Thái Bình), thông qua việc thực hiện và thủ tục giám sát. Nông dân tham gia lớp tập huấn chăn nuôi nhỏ biết rõ hơn những loại bệnh của vật nuôi hơn những nông dân không được tập huấn. Họ biết cách phòng ngừa và chữa trị những bệnh thông thường cho vật nuôi của mình. Nhu cầu của họ đối với dịch vụ thú y cũng tăng lên (ví dụ tiêm phòng cho vật nuôi được nông dân yêu cầu nhiều đối với câu lạc bộ). Nhiều nông dân hài lòng với dịch vụ thú y. Tuy nhiên, như nêu trong báo cáo đánh giá tác động của hợp phần chăn nuôi gia súc nhỏ, ở một số khu vực như vùng núi, dịch vụ thú y chưa đáp ứng yêu cầu của nông dân. 17
  19. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân Nông dân làm IPM chú trọng nhiều đến việc phòng ngừa an toàn hơn trước. Ví dụ, nhiều nông dân sử dụng quần áo bảo hộ lao động và khẩu trang khi phun thuốc trừ sâu. Nông dân cũng có kiến thức tốt hơn về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đối với sức khỏe con người và môi trường, đặc biệt là ảnh hướng đến nguồn nước. Nhiều nông dân làm IPM sử dụng sinh học để kiểm soát dịch bệnh thay vì chỉ dựa vào thuốc trừ sâu. Ví dụ, ở huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang nông dân IPM đã nuôi vịt trong ruộng lúa để vịt ăn những con ốc bươu vàng nhỏ. Theo phân tích KAP từ tỉnh Sơn La và Hà Giang, những nông dân tham gia đã nâng cao kiến thức của mình về công nghệ sau thu hoạch lên 41%. Trước khi tham gia tập huấn, hầu hết nông dân không có kiến thức về công nghệ sau thu hoạch, nhưng sau khi tập huấn kiến thức, thái độ và thực hành của họ tăng lên đáng kể. Nhận thức và thái độ của nông dân đối với tập huấn cũng đã thay đổi theo thời gian. Trước đây nông dân tham gia các lớp tập huấn nông dân IPM chỉ khi họ được hỗ trợ về mặt tài chính, nhưng sau khi đã tham gia được một thời gian, rất nhiều người trong số họ sẵn sàng chi tiền để được đào tạo nâng cao. Đó là do nông dân đã thấy được tầm quan trọng của tập huấn để tăng thu nhập từ đồng ruộng của mình (ví dụ trồng ớt ở tỉnh Thái Bình hay sản xuất giống ở tỉnh Đồng Tháp). Nông dân trong lớp tập huấn nông dân /nhóm nông dân thấy rõ hơn những công nghệ mới và cảm thấy tự tin hơn khi tiếp cận với những công nghệ mới đó. Họ cũng thấy rõ hơn những cơ hội khác nhau mà những laọi cây trồng khác nhau có thể mang lại, ví dụ nông dân trồng lúa bắt đầu chuyển sang trồng ớt, khoai lang, đậu xanh, lạc trên những thửa ruộng trồng lúa của mình. Nông dân đã tham gia lớp tập huấn sản xuất giống ở tỉnh Đồng Tháp đã nhận rõ lợi ích khi là thành viên của câu lạc bộ giống vì họ tin là với việc tham gia câu lạc bộ họ sẽ có khả năng tiếp cận với thị trường dễ dàng hơn. Suy nghĩ này được một tập huấn viên nông dân của lớp tập huấn sản xuất giống ở xã Đình An, huyện Lập Võ ủng hộ. Anh nông dân này đã thành lập câu lạc bộ giống tại thôn của mình với 20 thành viên. Hàng năm, câu lạc bộ của anh có hợp đồng sản xuất 21 ha lúa giống cho công ty giống. Hình thức làm việc được giới thiệu đã làm tăng nhận thức giữa các đơn vị tham gia và những người hưởng lợi, không những về những vấn đề kỹ thuật mà cả hiệu quả của phương pháp tiếp cận có sự tham gia. 2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP KHUYẾN NÔNG Dịch vụ khuyến nông ở Việt Nam tương đối mới và được khởi xướng theo Nghị định số 13/CP của Thủ tướng chính phủ năm 1993. Khi mới bắt đầu, dịch vụ khuyến nông nằm trong Vụ Khuyến nông Khuyến lâm (DAFE), và từ tháng 11, 2003 trở thành một đơn vị độc lập nằm trong Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn gọi là Trung tâm khuyến nông quốc gia (NAEC). Đây là sự chuyển đổi lớn vì các vụ thường là những đơn vị trực thuộc theo chiều dọc trong khi chức năng của dịch vụ khuyến nông là đơn vị tổng hợp hoạt động theo chiều ngang. Trước khi thành lập dịch vụ khuyến nông ở Việt Nam, mỗi vụ trong Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện chuyển giao kiến thức về lĩnh vực của mình cho nông dân. Chính vì vậy mà IPM vẫn nằm trong Cục bảo vệ thực vật, Lớp tập huấn nông dân sản xuất giống nằm trong Cục Trồng trọt (DA) và Lớp tập huấn nông dân xử lý sau thu hoạch nằm trong Vụ Khoa học Kỹ thuật (DST). Chỉ có các lớp tập huấn nông dân chăn nuôi nhỏ là nằm trong Trung tâm khuyến nông quốc gia chứ không nằm trong Cục Chăn nuôi (DLP). 18
  20. ASPS, Việt Nam Đánh giá tác động của lớp tập huấn nông dân & nhóm nông dân Sự rời rạc về mặt tổ chức này và thiếu phối hợp liên cục, vụ là một trong những lý do làm cho sự hòa nhập kém giữa các hợp phần khác nhau của Chương trình ASPS và lỡ cơ hội gây tác động quan trọng trong việc đưa các phương pháp khuyến nông có sự tham gia vào hệ thống khuyến nông của Việt Nam. Hệ thống dịch vụ khuyến nông hiện nay đang được xây dựng từ cấp trung ương - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đến các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ở tất cả các tỉnh (Trung tâm khuyến nông) và 70 % các huyện (Trạm khuyến nông). Tuy nhiên, dịch vụ khuyến nông hiện tương đối thiếu nhân viên và khó có thể tiếp cận với tất cả các thôn bản. Vì vậy, dịch vụ còn giới hạn trong việc “truyền đạt các thông điệp kỹ thuật” cho một nhóm nông dân tương đối lớn trong một buổi họp. Phương pháp khuyến nông phổ biến này là hiệu quả trong việc tiếp cận với nhiều nông dân với chi phí thấp trên một người nông dân được tiếp cận. Vì vậy nếu chỉ số tác động chỉ giới hạn trong số nông dân được tập huấn, thì hệ thống khuyến nông hiện tại hiệu quả hơn nhiều so với phương pháp tiếp cận có sự tham gia. Tuy nhiên, nông dân không học được nhiều và hầu hết nông dân quên thông điệp được truyền đạt trước khi họ về đến nhà. Trong khi dịch vụ khuyến nông truyền thống bao gồm việc học tập khá thụ động vì nông dân chỉ ngồi nghe cán bộ khuyến nông thuyết trình, và thường tập trung trong một phòng với khoảng hơn 100 người tham gia, thì Chương trình ASPS tạo điều kiện có sự tham gia nhiều hơn và học tập chủ động hơn. Sự khác nhau chính giữa khuyến nông có sự tham gia được Chương trình ASPS áp dụng và dịch vụ khuyến nông truyền thống là sự tham gia chủ động của người dân địa phương vào cuộc đối thoại. Tập huấn của Chương trình ASPS lấy điểm xuất phát từ tình hình của người nông dân và nông dân cần phải tham gia vào các cuộc trao đổi, bàn bạc, ví dụ thông qua làm việc theo nhóm. Hầu hết những người được phỏng vấn, khi được hỏi, đều nhất trí cho rằng trong những lớp tập huấn thụ động trước đây họ không có cơ hội trao đổi ý kiến và thảo luận với nhau. Nhận rõ tầm quan trọng của sự tham gia của người dân, các phương pháp tiếp cận có sự tham gia tạo ra diễn đàn cho học viên có ý kiến và phản hồi ngay lập tức với giảng viên và tập huấn viên. Trong phương pháp tiếp cận này, học viên đóng vai trò chủ động trong quá trình học tập và sự tin tưởng của họ cũng như kiến thức của họ được nâng lên đáng kể. Một hiệu quả nữa của cách làm việc có sự tham gia là những phản hồi của học viên thể hiện kiến thức mà họ đã hấp thụ được thế nào từ bài học. Hơn nữa, nó tạo ra một môi trường tốt cho học viên đối thoại với nhau, kết quả là cả học viên và giảng viên/tập huấn viên đều được lợi nhiều hơn từ những trao đổi tương tác này. 2.2.1 Tỷ lệ ghi nhớ Hình chóp nghi nhớ3 cho thấy biểu đồ về tỷ lệ nhớ trung bình đối với một số phương pháp giảng bài. Theo biểu đồ này, thuyết trình, ở trên đỉnh cao nhất của hình chóp, có tỷ lệ ghi nhớ trung bình là 5%. Ở phía cuối hình chóp, phương pháp “dạy người khác/sử dụng ngay” có tỷ lệ ghi nhớ trung bình là 90%. 3 Biểu đồ hình nón về hiệu quả ghi nhớ của Dale. Biểu đồ minh họa kết quả nghiên cứu do Edgar Dale tiến hành trong những năm 1960. Theo nghiên cứu của Dale, phương pháp ít hiệu quả nhất, ở trên đỉnh của hình nón, gồm việc ghi nhớ thông tin được trình bày bằng miệng, nghĩa là, nghe những lời nói. phương pháp hiệu quả nhất, ở đáy của hình nón, gồm những kinh nghiệm ghi nhớ có mục đích và trực tiếp, như học qua người khác hay kinh nghiệm thực địa. 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản