Lua Introduction (Lua - Lệnh gán)

Chia sẻ: Nguyễn Văn Đông | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:35

0
367
lượt xem
110
download

Lua Introduction (Lua - Lệnh gán)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Một trong những lí do mà phần lớn ''dân'' kĩ thuật ngại lập trình là vì những ngôn ngữ mới (C#, Java) dựa trên một hệ thống (framework) thư viện rất đồ sộ. Thật vậy, bạn có thể xây dựng những chương trình có giao diện rất đẹp, với hệ thống cơ sở dữ liệu hiện đại, hay dựa trên các công nghệ web mới nhất... Nhưng đó chỉ là những phần thưởng riêng cho ''dân'' ngành IT, những người mà số dòng mã lệnh viết trong một năm cũng nhiều như số dòng trong bản báo cáo thuyết minh...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Lua Introduction (Lua - Lệnh gán)

  1. LUA INTRODUCTION 1.Giới thiệu Lua. Lệnh gán Một trong những lí do mà phần lớn ''dân'' kĩ thuật ngại lập trình là vì những ngôn ngữ mới (C#, Java) dựa trên một hệ thống (framework) thư viện rất đồ sộ. Thật vậy, bạn có thể xây dựng những chương trình có giao diện rất đẹp, với hệ thống cơ sở dữ liệu hiện đại, hay dựa trên các công nghệ web mới nhất... Nhưng đó chỉ là những phần thưởng riêng cho ''dân'' ngành IT, những người mà số dòng mã lệnh viết trong một năm cũng nhiều như số dòng trong bản báo cáo thuyết minh nộp cho đối tác vậy. Rõ ràng, việc trang bị cho mình một cặp kính cận > 5 đi-ốp và một quyển sổ tay lập trình ngôn ngữ X. luôn kè kè trên bàn máy tính là rất không khả thi ! Với người dân kĩ thuật (thủy lợi, xây dựng, giao thông ...), tính linh động là quan trọng. Nhiều bài toán kĩ thuật trong thực tế cần được tính toán sơ bộ một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. Lập trình? Tất nhiên là cần thiết rồi. Nhưng lập trình như thế nào cho hiệu quả nhất khi ta phải bắt đầu từ một dòng mã lệnh đầu tiên ? Lua là một giải pháp hứa hẹn. Ngôn ngữ lập trình Lua (đọc là Lu-a) ra đời năm 1993 tại Đại học PUC-Rio, Rio de Janeiro, Brazil. Hiện nay (chương trình) Lua cũng là một phần mềm tự do: người dùng có quyền tự do download, gửi cho bạn bè, viết phần mềm từ Lua phục vụ cho mục đích bất kì: học tập, nghiên cứu, thương mại, kể cả viết các trò chơi (một trong những thế mạnh của ngôn ngữ này). Lua được đánh giá là một ngôn ngữ thông dịch có tốc độ vào loại nhanh nhất. Một số kết quả so sánh với ngôn ngữ Perl (thuộc vào dạng thông dịch nhanh) có thể được xem tại : http://shootout.alioth.debian.org/gp4/benchmark.php?test=all=lua&lang2=perl Bạn có thể hình dung mức độ nhỏ gọn của Lua khi download phiên bản chạy trên Windows từ http://luaforge.net/frs/download.php/3134/lua5_1_3_Win32_bin.zip Một file nén < 600 KB chứa các file exe để chạy chương trình. Không cần phải cài đặt, điều này rất tiện. Chẳng hạn khi ta muốn chạy chương trình viết từ ở nhà, trên một máy tính khác mà ta không được quyền admin. Trong chớp mắt, bạn đã download được file Lua (lua5_1_3_Win32_bin.zip). Giải nén vào một thư mục như C:\Lua. Click vào file lua5.1.exe. Dấu nhắc lệnh, với hình một kí hiệu lớn hơn, sẽ hiện ra: CODE Lua 5.0.3 Copyright (C) 1994-2006 Tecgraf, PUC-Rio > Bây giờ hãy thử một số lệnh nhé. Lệnh cơ bản nhất là lệnh gán, nó giống như trong (Visual)BASIC CODE >x=5 > Như vậy câu lệnh đúng, máy không báo lỗi và giá trị 5 được lưu vào trong biến x. Khoan đã, hình như ta thiếu một bước gì đó? Khai báo biến, sao lại không khai báo biến x là số nguyên? Câu trả lời: ngay khi Lua gặp lệnh gán thì nó sẽ căn cứ vào giá trị (ở đây là 5) mà quyết định rằng biến x có kiểu số chứ không phải kiểu chữ. Đặc điểm này tỏ ra rất có lợi: ta sẽ tiết kiệm được công gõ lệnh mà không sợ nhầm lẫn gì, vì trong kĩ thuật ta vẫn quy định mỗi biến có kiểu riêng của nó, không thay đổi được. Một số lệnh gán tiếp theo tỏ ra rất bình thường: CODE > y = 1.4 ^ 2 >z=x+y 1. Điều gì sẽ xảy ra nếu ta không viết vế trái của lệnh gán? Riêng trong trường hợp ta đang chạy trên dấu nhắc lệnh ( > ... ) thì máy sẽ không báo lỗi. Thay vì vậy, nó sẽ hiểu rằng kết quả tính được ở vế phải không lưu vào biến nào cả mà sẽ in ra màn hình. CODE >=z 6.96 Điểm đặc biệt thứ hai là: một loạt các giá trị bạn có thể được gán bằng một lệnh gán duy nhất. Kết quả là các biến vế trái (phân cách bởi dấu phảy) được gán với giá trị lần lượt ở vế phải: CODE > m, n = 8, 6 >=m 8 >=n 6 Luyện tập 1. Lệnh gán sau đây có lỗi không? Kết quả chứng tỏ máy thực hiện như thế nào?
  2. CODE > a, b, c = 1, 2, 3, 4 Luyện tập 2. Tựa như các lệnh ở trên ta đã viết, liệu ta có thể viết một lệnh gói gọn như sau không? Tại sao? CODE > xx, yy, zz = 5 , 1.4^2 , xx + yy Bạn tự thực hiện các phép tính trên dấu nhắc lệnh Lua. Cuối cùng hãy thử làm Qu!z sau đây: Qu!z 1. Để tính lưu lượng trong sông các kĩ sư vẫn thường dùng công thức Tự chọn một giá trị độ nhám từ 0.02 đến 0.04, độ sâu (bán kính thủy lực) từ 2 đến 3, độ dốc từ 0.0001 đến 0.0003. Tính ra Q. Hãy reply lại quá trình bạn đã làm trên Lua (câu lệnh + kết quả) ! Trang chủ của Lua: www.lua.org. Hướng dẫn người mới học http://lua-users.org/wiki/TutorialDirectory Sổ tay Lua (Tiếng Anh): http://www.lua.org/manual/5.1/. Bài Viết Về Các Kiểu Trong Lua Đây là phần giới thiệu về 8 kiểu giá trị cơ bản trong Lua: number, string, boolean, table, function, nil, userdata, thread. Mỗi phần giới thiệu 1 kiểu khác nhau. Chúng ta sẽ sử dụng hàm print() để xuất ra các giá trị hoặc các tính toán trên các giá trị đó. Dấu ngoặc () quanh các trị số rất quan trọng, nếu thiếu sẽ gây ra lỗi. > print(2) -- xuất ra số 2. 2 > print("hello") -- xuất ra chuỗi hello. hello Các số (numbers) Lua cho phép các phép tính đơn giản trên các số thông qua việc sử dụng các toán tử thông dụng để cộng, trừ, nhân và chia. > print(2+2) 4 >print(2-7) -5 > print(7*8) 56 > print(7/8) 0.875 Chú ý rằng các số không được làm tròn thành số nguyên, đó là các số thực. Chúng ta có thể gán các giá trị cho các biến nhờ dùng toán tử =. >x=7 > print(x) 7 Biến x được tạo khi được gán số 7. Dùng hàm print() để xuất giá trị của x. Giờ chúng ta có thể sử dụng giá trị trong x cho các tính toán khác. >x=x*9 > print(x) 63 > print(x*2) –- sẽ không thay đổi giá trị của x 126 > print(x) 63 Chú ý cách mà print(x*2) không thay đổi giá trị của x vì x không được gán qua toán tử = trong khi x = x * 9 là nhân giá trị hiện tại của x (là 7) cho 9 và lưu giá trị mới vào x 1 lần nữa. Các chuỗi (Strings) Lua cũng sử dụng các kiểu chuỗi (ví dụ text): > print("hello") hello Chúng ta có thể gán các chuỗi cho các biến giống như cách làm với các số: > who = "Lua user"
  3. > print(who) Lua user Chúng ta có thề nối các chuỗi lại với nhau qua toán tử .. giữa 2 chuỗi. > print("hello ") hello > print("hello " .. who) – biến “who” được gán ở trên hello Lua user > print(who) Lua user Chú ý rằng toán tử .. không thay đổi giá trị của mẩu tin nếu không sử dụng toán tử = (cũng như các số). > message = "hello " .. who > print(message) hello Lua user Không như 1 số ngôn ngữ khác, bạn không thể sử dụng toán tử cộng để nối các chuỗi. Ví dụ như lỗi trong dòng lệnh dưới đây: > message = "hello " + who stdin:1: attempt to perform arithmetic on a string value stack traceback: stdin:1: in main chunk [C]: ? Luận lý (Boolean) Các giá trị luận lý có 1 trong 2 giá trị là true hoặc false. Nếu 1 giá trị không phải là true thì nó sẽ phải là false và ngược lại. Toán tử not có thể được đặt trước 1 giá trị luận lý để phủ định (hay đảo ngược) nó. Ví dụ not true đồng nghĩa với false. > x = true > print(x) true > print(not x) false > print(notfalse) true Các giá trị luận lý được sử dụng để thể hiện kết quả các kiểm tra logic. Các toán tử bằng == và không bằng ~= sẽ trả lại các giá trị luận lý phụ thuộc vào các giá trị được cấp. > print(1 == 0) –- kiểm tra 2 số có bằng nhau không false > print(1 == 1) true > print(1 ~= 0) –- kiểm tra 2 số không bằng nhau hay không true > print(true ~= false) –- true không bằng false? true Để biết thêm thông tin về kiểu luận lý trong Lua, hãy đón xem các bài viết sau. Các bảng (Tables) Lua có 1 kiểu dữ liệu tổng thể đa dụng (general-purpose aggregate) gọi là 1 Table. Các kiểu dữ liệu tổng thể được sử dụng cho việc lưu trữ các tập hợp (như các danh sách, các mảng, các thiết đặt, các mảng liên kết). Lua là một ngôn ngữ đơn trong đó các bảng được sử dụng để thể hiện hầu hết các kiểu tổng thể khác. Các bảng được tạo sử dụng cặp ngoặc nhọn { } . Chúng ta hãy tạo 1 bảng rỗng: > x = {} > print(x) table: 0035C910 (sẽ là bình thường nếu bảng của bạn không có cùng định danh như trong ví dụ trên.) Khi chúng ta thể hiện giá trị bảng dùng cách built trong hàm print, Lua chỉ biều diễn đó là 1 bảng và định danh cho bảng đó (ví dụ địa chỉ của nó trong bộ nhớ). Chúng ta có thể xuất ra nội dung của bảng nhưng sẽ tìm hiểu trong các bài sắp tới. Chúng ta có thể xây dựng bảng chứa các đối tượng khác, chẳng hạn như các số và các chuỗi được mô tả trong ví dụ dưới đây > x = { value = 123, text = "hello" } > print(x.value) 123 > print(x.text) hello Chúng ta có thể xuất các giá trị thông qua cú pháp: table.item. Chúng ta cũng có thể đặt các bảng trong các bảng khác.
  4. > y = { const={ name="Pi", value=3.1415927 }, const2={ name="light speed", value=3e8 } } > print(y.const.name) Pi > print(y.const2.value) 300000000 Để biết thêm thông tin về kiểu bảng trong Lua, hãy đón xem các bài viết sau.. Các hàm (Functions) Trong lua, các hàm được gán vào các biến, giống như số và chuỗi. Các hàm được tạo thông qua từ khóa function. Ở đây chúng ta tạo 1 hàm đơn giản để xuất ra 1 lời chào. > function foo() print("hello") end –- khai báo hàm > foo() –- Gọi hàm hello > print(foo) –- nhận giá trị của biến "foo" function: 0035D6E8 Chú ý rằng chúng ta có thể xuất giá trị của biến foo và nó biểu diễn (như các bảng) giá trị là 1 hàm, và có định dạng cho hàm đó. Vậy, là 1 giá trị như mọi giá trị khác, chúng ta có thể gán các hàm cho các biến. > x = function() print("hello") end > x() hello > print(x) function: 0035EA20 Khả năng để làm điều này là vì Lua có các giá trị lớp đầu tiên (first class values). Điều này có nghĩa là tất cả các giá trị được xử lý cùng cách. Đây chính là 1 đặc điểm rất hữu dụng và mạnh của Lua. Để thêm thông tin về kiểu hàm trong Lua, hãy đón xem các bài viết sau. Các giá trị rỗng (nil values) nil là 1 giá trị đặc biệt chỉ ra “không giá trị” (no value). Nếu 1 biến có giá trị rỗng là nó không có giá trị gán vào, vì thế sẽ không còn tồn tại (hoặc chưa tồn tại). Bằng việc đặt 1 biến thành rỗng, bạn có thể delete biến. Ví dụ: > x = 2.5 > print(x) 2.5 > x = nil > print(x) nil Bạn cũng có thể kiểm tra 1 biến có tồn tại hay không thông qua việc kiểm tra giá trị của nó có phải nil hay không.  print(x == nil) true >x=7 > print(x == nil) false > print(x) 7 Dữ liệu tự tạo (Userdata) Các giá trị dữ liệu tự tạo là các đối tượng bên ngoài Lua, như các đối tượng được thực hiện trong C. Xảy ra khi một đối tượng trong 1 thư viện C được đặt vào Lua. 1 ví dụ của 1 giá trị userdata là 1 xử lý file (file handle). 1 userdata thường được xem như 1 bảng, và bạn có thể loại bỏ phần lớn sự khác biệt nếu trừ phi đang sử dụng. Muốn tham khảo thêm phần này, đón xem các bài viết sau. Xâu chuỗi (Thread) 1 giá trị xâu chuỗi thể hiện 1 xâu chuỗi độc lập với việc thực thi. Sẽ bàn sâu hơn trong bài sau. Dynamic typing Bạn có thể chú ý khi chúng ta tạo các biến trong các ví dụ trên, chúng ta đã không chỉ ra kiểu biến đang tạo. Ví dụ : a=1 b = "hello" c = { item1="abc" } Trong các ngôn ngữ khác, như C, chúng ta phải chỉ ra kiểu của 1 biến khi tạo ra nó. Trong Lua, chúng ta có thể gán nhiều kiểu giá trị khác nhau cho cùng 1 biến, ví dụ a=1 a = "hello" a = { item1="abc" } Đây được gọi là dynamic typing. Có nghĩa là bạn không phải chỉ ra biến đang thuộc kiểu nào. Biến nhận dạng được kiểu thông qua giá trị, hoặc đối tượng được gán vào.
  5. Truy vấn kiểu (Querying type) Vì Lua là 1 ngôn ngữ nội suy, chúng ta có thể dùng hàm type() để lấy ra kiểu của 1 đối tượng cụ thể. > x = "123" -- 1 chuỗi > print(x, type(x)) –- cho ra giá trị của x và kiểu của nó 123 string > x = x + 7 -- cộng 1 số vào chuỗi 1 các cưỡng bức > print(x, type(x)) –- lại cho ra giá trị và kiểu 130 number Dòng lệnh lua (Lua command line) Nếu chúng ta chạy thi hành Lua không có các thông số, chúng ta sẽ nhận được mẩu tin và 1 dấu nhắc lệnh > Lua 5.0 Copyright (C) 1994-2003 Tecgraf, PUC-Rio > Tất cả các ví dụ trong bài được đánh tại dấu nhắc lệnh > và được copy paste vào bài. > print("hello Lua user") hello Lua user > print(10*10) 100 Nếu 1 dòng bắt đầu với dấu =, Lua sẽ hiểu dòng đó là 1 diễn đạt. Đây là 1 cách thay thế cho hàm print(). > = "hello Lua user" hello Lua user > = 10*10 100 Mục đa dòng (Multiline entry) Chúng ta có thể gõ các dòng lệnh trên nhiều dòng. Lua sẽ thử ước chừng những gì bạn gõ trên 1 dòng và xác định xem lệnh đó có hoàn tất chưa. Nếu chưa, một dấu nhắc đôi xuất hiện >> và bạn có thể tiếp tục gõ. Ví dụ: > print( >> "Hello lua user" >> ) Hello lua user Trong ví dụ trên, print( chưa hoàn tất vì thiếu dấu ngoặc đóng ). Dòng lệnh Lua giả thiết bạn phải gõ thêm nữa nên dấu >> được hiển thị. Điều này tiếp tục cho đến khi hoàn tất statement. Nếu bạn làm 1 lỗi, kết quả sẽ sai. Như dưới đây: > = 10 * >> 10 + >> 5 105 Các Chú thích (Comments) Chỗ nào bạn thấy "--", theo sau là text, đây là các comment (bình luận, chú thích). Mọi thứ theo sau -- sẽ bị bỏ qua khi chạy chương trình. > = 1+1 -- cái này bỏ qua > = 1+1 no comment stdin:1: expected near `no' Chú thích: Dòng báo lỗi trên, bạn không được gõ comment vào! Các comment chủ yếu làm cho chương trình rõ ràng hơn. Gán Giá Trị Gán các giá trị (Assigning values) Việc đặt giá trị của 1 biến được gọi là gán giá trị: (assignment): >x=1 > y = "hello" > print(x,y) 1 hello Đa Gán, Gán bội (Multiple assignment) Trong Lua, chúng ta có thể tiến hành gán nhiều giá trị trong 1 phát biểu (statement). Ví dụ > x, y = 2, "there" > print(x,y) 2 there Danh sách các giá trị bên phải được gán cho danh sách các biến bên trái dấu =. Chúng ta có thể gán bao nhiêu giá trị tùy thích và chúng không nhất thiết phải cùng kiểu, ví dụ: > a,b,c,d,e,f = 1,"two",3,3.14159,"foo",{ this="a table" } > print(a,b,c,d,e,f)
  6. 1 two 3 3.14159 foo table: 0035BED8 Các giá trị bên phải của dấu = có thể là những biểu thức như i+1, nhưng những giá trị bên trái thì không thể. Đa gán có 1 số hình thức sau: Tính toán trước khi gán (Evaluation occurs before assignment) Mọi biểu thức được tính toán trước, sau đó mới được gán. >i=7 > i, x = i+1, i > print(i, x) 87 Khi Lua chạy đến dòng thứ 2, nó tính toán biểu thức i + 1 và i trước những cái khác. Sau khi tính toán, dòng thứ 2 sẽ thành i, x = 8, 7. Sau đó nó tiến hành gán giá trị từ phải qua trái. (xem phía dưới về thứ tự gán) Hoán chuyển các giá trị (Swapping values) Vì các giá trị được gán gần như đồng thời, nên bạn có thể sử dụng đa gán để hoán đổi các giá trị biến với nhau. > a,b = 1,2 -- đặt giá trị ban đầu > print(a,b) 12 > a,b = b,a -- hoán đổi lẫn nhau > print(a,b) 21 > a,b = b,a -- và làm lần nữa > print(a,b) 12 Chú ý rằng không cần đến 1 biến tạm thời (như là bold = b; b =a; a = bold như trong ngôn ngữ C. Thứ tự gán (Assignment order) Thứ tự trong đa gán là không xác định. Có nghĩa là bạn không nên cho rằng các phép gán được tiến hành từ trái qua phải; nếu cùng biến hoặc bảng tham chiếu xuất hiện 2 lần trong danh sách gán, bạn có thể sẽ ngạc nhiên về kết quả. > a, a = 1, 2 > print(a) 1 Trong ví dụ trên, Lua đã gán từ phải qua trái, a = 2 và sau đó a =1, nhưng chúng ta không nên phụ thuộc vào dạng này trong các phiên bản tiếp theo của Lua. Nếu thứ tự gán là quan trọng thì bạn nên sử dụng các phát biểu gán riêng biệt. Trường hợp đặc biệt, xem các phát biểu sau. Nếu i == j, 2 phát biểu này có thể làm khác nhau: > table[i], table[j] = table[j], table[k] > table[j], table[i] = table[k], table[j] Nên viết thành 2 phát biểu riêng. Điều này luôn hoán chuyển 2 giá trị, qua: > table[i], table[j] = table[j], table[i] Kích thước danh sách không trùng khớp (Mismatched list sizes) Nếu 1 danh sách giá trị dài hơn danh sách biến thì những giá trị dư sẽ bị bỏ qua. > a,b,c = 1,2,3,4,5,6 > print(a,b,c) 123 Nếu 1 danh sách giá trị ngắn hơn danh sách biến, Lua sẽ gán giá trị rỗng (nil) cho các biến không có giá trị. > a,b,c,d = 1,2 > print(a,b,c,d) 1 2 nil nil Bài viết về các số Giới thiệu Một số ngôn ngữ hỗ trợ 1 hoặc nhiều các kiểu số mặc định sau:  Số nguyên (Integer )  Số nguyên chính xác vô hạn (Unlimited precision integer )  Chấm động có độ chính xác đơn (Single precision floating point)  Chấm động có độ chính xác đôi (Double precision floating point)  Các số phức (Complex numbers) Để đơn giản, Lua chỉ hỗ trợ chỉ 1 kiểu số đó là các số chấm động (floating point numbers). Mặc định là các số chấm động có độ chính xác đôi (Double precision floating point numbers – Double) nhưng Lua có thể dễ dàng biên dịch lại để hỗ trợ các số chấm động có độ chính xác đơn (single precision floating point numbers – Single) như bạn mong muốn. Nếu bạn xa lạ với các số chấm động, tui xin giải thích sơ như thế này:
  7. Các số thực là các số có chứa phần thập phân, giữa phần thập phân và phần nguyên ngăn cách bởi dấu chấm (decimal point – US).Thuật ngữ dấu chấm động bắt nguồn từ thực tế là không có số con số cố định trước hoặc sau dấu chấm phân cách thập phân, nên dấu chấm có thể động. (do người Mỹ dùng dấu chấm phân cách thập phân nên mới gọi chấm động, người VN chắc sẽ dùng phẩy động). Nó khác với số nguyên là các số chấm cố định (fixed point numbers) do số chữ số sau dấu chấm luôn = 0. Còn Single và Double? Khi biểu diễn các số chấm động người ta dùng số lượng bit để giữ phần thập phân, càng nhìu bit dc sử dụng thì kết quả biểu diễn càng chính xác. Double là sử dụng số bit gấp đôi so với single vì thế nên phạm vi biểu diễn rộng hơn và độ chính xác cao hơn single. Muốn coi kỹ hơn về cái này các bạn có thể tham khảo thêm ở : http://www.webopedia.com/TERM/p/precision.html Lỡ nói nói luôn, số phức (complex numbers) là phần mở rộng của số thực thu được qua việc nối một đơn vị ảo (imaginary unit) ký hiệu là i và thỏa mãn : i^2 = -1. Mọi số phức được biểu diễn dưới dạng a + bi trong đó a, b là các số thực được gọi là phần thực và i là phần ảo. Số nguyên (Integer) thì chắc ai cũng bit rùi, là tập hợp các số tự nhiên bao gồm số 0 và phần âm của chúng. Số nguyên khi viết sẽ không có phần thập phân. Sử dụng các số Chúng ta có thể sử dụng dòng lệnh Lua để tính toán thông qua các biểu thức ví dụ Lua 5.1 Copyright (C) 1994-2006 Lua.org, PUC-Rio >=1 1 >=1+2 3 > = 3.1415927 3.1415927 >=5/6 0.83333333333333 Chúng ta có thể nhập số và thực hiện các phép tính đơn giản. Lua cũng có thể hiểu các kiểu số mũ trong các số biểu diễn dưới dạng * 10^ > = 1.2345e6 1234500 > = 543.21E8 54321000000 > = 2.56e-4 0.000256 Chúng ta có thể gán các số cho các biến và thực hiện phép tính: > width = 7.5 > height = 12.7 > = width * height 95.25 > depth = 2.8 > area = width * height > volume = area * depth > print(area, volume) 95.25 266.7 Thư viện toán học (The math library) Lua được trang bị 1 thư viện Toán học với các hàm được cung cấp như sau: math.abs Trả về giá trị tuyệt đối hoặc giá trị không âm của giá trị nhận vào. > = math.abs(-100) 100 > = math.abs(25.67) 25.67 > = math.abs(0) 0 math.acos , math.asin Trả về nghịch đảo cos và sin của giá trị đưa vào. > = math.acos(1) 0 > = math.acos(0) 1.5707963267949 > = math.asin(0)
  8. 0 > = math.asin(1) 1.5707963267949 math.atan , math.atan2 Trả về nghịch đảo tang. Chúng ta có thể được bằng cách cung cấp y/x sử dụng math.atan hoặc có thể truyền y và x vào math.atan2 > c, s = math.cos(0.8), math.sin(0.8) > = math.atan(s/c) 0.8 > = math.atan2(s,c) 0.8 math.atan2 được ưa chuộng hơn, đặc biệt khi chuyển tọa độ vuông góc sang tọa độ có cực. math.atan2 sử dụng dấu của cả hai tham số để đặt kết quả vào đúng góc phần tư và cũng tạo ra các giá trị đúng khi 1 trong 2 tham số là 0 hoặc rât gần 0. > = math.atan2(1, 0), math.atan2(-1, 0), math.atan2(0, 1), math.atan2(0, -1) 1.5707963267949 -1.5707963267949 0 3.1415926535898 math.ceil , math.floor Trả về số nguyên lớn hơn hoặc nhỏ hơn gần nhất giá trị đưa vào. > = math.floor(0.5) 0 > = math.ceil(0.5) 1 math.cos , math.sin , math.tan Trả về giá trị cos, sin và tang của giá trị đưa vào dưới dạng radian. > = math.cos(math.pi / 4) 0.70710678118655 > = math.sin(0.123) 0.12269009002432 > = math.tan(5/4) 3.0095696738628 > = math.tan(.77) 0.96966832796149 math.cosh , math.sinh , math.tanh Trả về giá trị cos, sin và tang hyperbolic từ giá trị đưa vào. > = math.sinh(1) 1.1752011936438 math.deg , math.rad Chuyển từ radian sang độ và ngược lại. > = math.deg(math.pi) 180 > = math.deg(math.pi / 2) 90 > = math.rad(180) 3.1415926535898 > = math.rad(1) 0.017453292519943 math.exp , math.log math.exp() trả về giá trị của e mũ giá trị nhập. math.log() trả về giá trị logarithm cơ số e của giá trị nhập vào. > = math.exp(0) 1 > = math.exp(1) 2.718281828459 > = math.exp(27) 532048240601.8 > = math.log(532048240601) 26.999999999998 > = math.log(3) 1.0986122886681
  9. math.log10 Trả về logarithm bậc 10 của 1 số. Số nhập vào phải dương. > = math.log10(100) 2 > = math.log10(256) 2.4082399653118 > = math.log10(-1) -1.#IND math.pow , x^y math.pow() trả về giá trị của x mũ y, tương tự với toán tử ^. math.pow(x,y) == x^y. > = math.pow(100,0) 1 > = math.pow(7,2) 49 > = math.pow(2,8) 256 > = math.pow(3,2.7) 19.419023519771 >=5^2 25 > = 2^8 256 math.min , math.max Trả về giá trị nhỏ nhất hay lớn nhất từ các tham số truyền vào. > = math.min(1,2) 1 > = math.min(1.2, 7, 3) 1.2 > = math.min(1.2, -7, 3) -7 > = math.max(1.2, -7, 3) 3 > = math.max(1.2, 7, 3) 7 math.modf Trả về phần nguyên và phần thập phân của số nhập vào. > = math.modf(5) 50 > = math.modf(5.3) 5 0.3 > = math.modf(-5.3) -5 -0.3 math.sqrt Trả về giá trị căn bậc 2 của số nhập vào. Chỉ cho phép số không âm. > = math.sqrt(100) 10 > = math.sqrt(1234) 35.128336140501 > = math.sqrt(-7) -1.#IND math.random , math.randomseed math.random() tạo ra những số ngẫu nhiên. Những tham số truyền vào sẽ thay đổi giá trị xuất:  math.random() không có tham số sẽ tạo ra 1 số thực nằm trong khoảng 0 và 1.  math.random(upper) tạo ra các số nguyên lớn hơn 1.  math.random(lower, upper) tạo ra các số nguyên nằm trong khoảng giữa lower và upper.  = math.random() 0.0012512588885159 > = math.random()
  10. 0.56358531449324 > = math.random(100) 20 > = math.random(100) 81 > = math.random(70,80) 76 > = math.random(70,80) 75 upper và lower phải là số nguyên. Hàm math.randomseed() đặt một seed cho việc tạo số ngẫu nhiên. Các seed bằng nhau sẽ cho các chuỗi số bằng nhau. > math.randomseed(1234) > = math.random(), math.random(), math.random() 0.12414929654836 0.0065004425183874 0.3894466994232 > math.randomseed(1234) > = math.random(), math.random(), math.random() 0.12414929654836 0.0065004425183874 0.3894466994232 Một seed tốt là os.time(), nhưng phải chờ 1 giây trước khi gọi hàm để thu được 1 trình từ khác! Để lấy được số ngẫu nhiên đẹp dùng: math.randomseed( os.time() ) math.frexp , math.ldexp Đây là những hàm chuẩn hóa. Hàm math.frexp() được sử dụng để tách giá trị số thành 1 phần nguyên chuẩn và 1 số mũ. 2 giá trị được trả về: giá trị đầu nằm trong khoảng ½ đến 1 và giá trị thứ 2 là một số mũ. Hàm math.ldexp() lấy 1 giá trị chuẩn và trả về biểu hiện chấm động. đây là giá trị được nhân cho 2 mũ số mũ. > = math.frexp(2) 0.5 2 > = math.frexp(3) 0.75 2 > = math.frexp(128) 0.5 8 > = math.frexp(3.1415927) 0.785398175 2 > = math.ldexp(0.785,2) 3.14 > = math.ldexp(0.5,8) 128 math.huge math.huge là 1 hằng số, biểu diễn +vô cực. > = math.huge inf > = math.huge / 2 inf> = -math.huge -inf > = math.huge/math.huge -- indeterminate nan > = math.huge * 0 -- indeterminate nan > = 1/0 inf > = (math.huge == math.huge) true > = (1/0 == math.huge) true Chú ý rằng một số toán tử trên math.huge trả về giá trị đặc biệt không phải là 1 số được biểu diễn là nan. Nan là 1 kiểu số, khác các kiểu số khác: > = type(math.huge * 0) number math.pi Đây là hằng số PI.
  11. > = math.pi 3.1415926535898 Chuyển đổi (Conversion) Bạn có thể chuyển đổi chuỗi ra số sử dụng hàm tonumber(). Nó sẽ lấy 1 tham số chuỗi và trả về 1 số. > = tonumber("123") + 25 148 > x = tonumber("123.456e5") > print(x) 12345600 Tính gượng ép (Coercion) Lua sẽ tự chuyển đổi các kiểu chuỗi và số để tiến hành các tính toán. Ví dụ, nếu bạn thử áp dụng một toán tử cho 1 chuỗi, Lua sẽ cố chuyển chuỗi đó thành số trước, nếu không phép toán sẽ không thực hiện. Nếu chuỗi không thể chuyển thành số, một thông báo lỗi se xuất hiện. Sự tự động chuyển đổi kiểu dữ liệu này được gọi là gượng ép (coercion). > = 100 + "7" 107 > = "1000" + 234 1234 > = "hello" + 234 stdin:1: attempt to perform arithmetic on a string value stack traceback: stdin:1: in main chunk [C]: ? > = 234 + "1000" 1234 Bạn có thể thấy chỗ 1 chuỗi chuyển được thành số, tính toán thành công. Chuỗi “hello” không chuyển được thành số nên đã bị lỗi. Trong các ngôn ngữ kiểu thống kê (như C), điều này sẽ bị lỗi do bạn không thể gán 1 giá trị cho 1 biến mà không cùng kiểu. Lua làm được vì nó thuộc kiểu động. 1 ngoại lệ đáng chú ý: Các toán tử so sánh (== ~= < > =) không gượng ép được các tham số của chúng. Toán tử == sẽ xem như 1 số không bằng với số đó biễu diễn dạng chuối ( hay bất kỳ kiểu biểu diễn ko phải kiểu số). Các toán tử so sánh tuần tự sẽ báo lỗi khi bạn nhập cho chúng các kiểu khác nhau. > = 100 == "100" false > = 100 ~= "hello" true > = 100 ~= {} true > = 100 == tonumber("100") true > = 100 = "hello" hello > = 'hello' hello > = [[hello]] hello Tại sao có quá nhiều cách làm 1 chuỗi? Nó cho phép bạn đặt 1 trích dẫn trong những cái khác, ví dụ > = 'hello "Lua user"' hello "Lua user" > = "Its [[content]] hasn't got a substring."
  12. Its [[content]] hasn't got a substring. > = [[Let's have more "strings" please.]] Let's have more "strings" please. Cặp ngoặc vuông cũng có 1 vài tính năng đặc biệt khác, sẽ bàn sau Các trình tự ngắt (Escape sequences) Lua cũng có các trình tự thoát giống như C. > = "hello \"Lua user\"" hello "Lua user" > = 'hello\nNew line\tTab' helloNew line Tab Các trình tự ngắt không được nhận dạng khi sử dụng cặp ngoặc vuông: > = [[hello\nNew line\tTab]] hello\nNew line\tTab Ngoặc đa dòng (Multiline quotes) 2 cặp ngoặc vuông có thể sử dụng để bao các chuỗi trải trên nhiều dòng, ví dụ: > = [[Multiple lines of text >> can be enclosed in double square >> brackets.]] Multiple lines of textcan be enclosed in double squarebrackets. Các ngoặc lồng (Nesting quotes) 2 cặp ngoặc vuông cho phép lồng vào nhau nhưng cần phải chèn thêm dấu = vào kế dấu ngoặc ngoài cùng để phân biệt chúng. Có bao nhiêu dấu = chèn vào cũng được miễn là phải đảm bảo có dấu = ở các ngoặc vuông bắt đầu và kết thúc. > = [[one [[two]] one]] -- ko được stdin:1: nesting of [[...]] is deprecated near '[' > = [=[one [[two]] one]=] -- ok one [[two]] one > = [===[one [[two]] one]===] -- ok lun one [[two]] one > = [=[one [ [==[ one]=] -- ok. one [ [==[ one Sự liên kết (Concatenation) Các chuỗi có thể nối với nhau thông qua toán tử liên kết “..” ví dụ > = "hello" .. " Lua user" hello Lua user > who = "Lua user" > = "hello "..who hello Lua user Các số có thể liên kết váo các chuỗi. Trong trường hợp này, số đã bị ép thành chuỗi và sau đó được gắn vào chuỗi. > = "Green bottles: "..10 Green bottles: 10 > = type("Green bottles: "..10) string Chú ý rằng việc liên kế các chuỗi lớn có thể lâu hơn việc thêm các chuỗi vào 1 mảng và truy cập sau đó. Như ví dụ sau (nhưng có thể không phải là ví dụ hay nhất cho việc tăng tốc độ ctrinh): newtable = {}function insertmany(ttable, ...) for var i = 1, getn(arg) do tinsert(ttable, arg) end end insertmany(newtable, 'Hello world! ', 'The first time ', 'is always ', 'the best. ', 'Never ', ' say ', 'never ', 'again.') for var i, getn(newtable) do write(newtable) end Thư viện chuỗi (The string library) Lua cung cấp 1 thư viện hàm rất hữu ich cho việc xử lý và thao tác trên chuỗi.
  13. Chú ý: Trong Lua, chuỗi được đánh số bắt đầu từ 1, không phải 0 như trong C. string.byte(s [, i [, j]]) s:byte([, i [, j]]) Trả về mã dạng số của chữ thứ i đến thứ j của chuỗi s truyền vào. > = string.byte("ABCDE") -- không có số thứ tự, nên sẽ lấy chữ đầu 65 > = string.byte("ABCDE",1) -- bắt đầu từ 1 65 > = string.byte("ABCDE",0) -- không có chữ nào > = string.byte("ABCDE",100) -- ngoài giới hạn nên ko có giá trị > = string.byte("ABCDE",3,4) 67 68 > s = "ABCDE" > = s:byte(3,4) -- có thể áp dụng trực tiếp trên biến chuỗi 67 68 string.char(i1, i2, ...) Tạo ra chuỗi thể hiện từ các mã ký tự được truyền vào trong tham số. > = string.char(65,66,67) ABC > = string.char() -- chuỗi rỗng string.dump(function) Trả về dạng nhị thức của hàm nhập vào, chuỗi load trên chuỗi đó sẽ trả về 1 bản sao của hàm. Hàm phải là hàm Lua không trả giá trị. (??????) string.find(s, pattern [, init [, plain]]) s:find(pattern [, init [, plain]]) Tìm xem có chuỗi thỏa mãn pattern trong chuỗi nhập vào. Nếu tìm thấy, sẽ trả về cặp giá trị biểu diễn cho vị trí bắt đầu và kết thúc của pattern tìm dc trên chuỗi nhập vào. Nếu không sẽ trả về nil. > = string.find("Hello Lua user", "Lua") 79 > = string.find("Hello Lua user", "banana") nil Tham số thứ 3 init biểu diễn vị trí bắt đầu tìm trên chuỗi, init có bắt đầu là 1 và có thể là số âm (sẽ đếm ngược từ cuối chuỗi trở lên). > = string.find("Hello Lua user", "Lua", 1) -- bắt đầu từ chữ đầu tiên 79 > = string.find("Hello Lua user", "Lua", 8) -- "Lua" không được tìm thấy sau chữ thứ 8 nil > = string.find("Hello Lua user", "e", -5) -- "e" đầu tiên tính từ ký tự thứ 5 từ cuối đếm lên 13 13 Tham số patern cũng có thể cho phép những tìm kiếm phức tạp hơn. Chúng ta có thể tắt những đặc tính biểu thức bình thường thông qua tham số thứ 4 plain. Plain nhận giá trị luận lý và phải được dẫn bằng init. Ví dụ : > = string.find("Hello Lua user", "%su") -- tìm 1 ký tự khoảng trắng và có chữ “u” theo sau 10 11 > = string.find("Hello Lua user", "%su", 1, true) –- bật tìm kiếm plain, ko có kết quả nào tìm thấy nil string.format(formatstring, e1, e2, ...) formatstring:format(e1, e2, ...) Tạo ra chuỗi được định dạng theo định dạng và tham số truyền vào. Nó giống với hàm printf(“format”,…) trong C. %q là để đặt dấu ngoặc kép quanh 1 giá trị của chuỗi tham số.  c, d, E, e, f, g, G, i, o, u, X, và x tất cả cần 1 số làm tham số.  q và s cần 1 chuỗi.  = string.format("%s %q", "Hello", "Lua user!") -- chuỗi và chuỗi được đóng ngoặc Hello "Lua user!" > = string.format("%c%c%c", 76,117,97) -- ký tự Lua > = string.format("%e, %E", math.pi,math.pi) -- số mũ 3.141593e+000, 3.141593E+000 > = string.format("%f, %g", math.pi,math.pi) -- động (float) và động rút gọn (compact float) 3.141593, 3.14159
  14. > = string.format("%d, %i, %u", -100,-100,-100) -- số nguyên có dấu, có dấu, không dấu -100, -100, 4294967196 > = string.format("%o, %x, %X", -100,-100,-100) -- octal, hex, HEX 37777777634, ffffff9c, FFFFFF9C string.gmatch(s, pat) s:gmatch(pat) Trả về 1 chuỗi thỏa pat thông qua vòng lặp. Vòng lặp sẽ tìm hết chuỗi truyền vào theo gợi ý của pat bạn truyền vào. > for word in string.gmatch("Hello Lua user", "%a+") do print(word) end HelloLuauser Về các pattern (mẫu) và vòng lặp for sẽ nói cụ thể trong các bài sau string.gsub(s, pattern, replace [, n]) s:gsub(pattern, replace [,n]) Đây là 1 hàm rất mạnh và có thể được sử dụng theo nhiều cách. Đơn giản nó có thể thay 1 gợi ý của pattern đưa vào bằng 1 giá trị khác. 1 cặp giá trị được trả về là chuỗi được sửa đổi và số lần thay thế, tham số n có thể được sử dụng để giới hạn số lần thay thế: > = string.gsub("Hello banana", "banana", "Lua user") Hello Lua user 1 > = string.gsub("banana", "a", "A", 2) -- giới hạn số lần thay là 2 bAnAna 2 Như string.find(), chúng ta có thể sử dung các biểu thức thông thường để tìm trong chuỗi. Nếu sử dụng 1 capture có thể tham khảo cách thay chuỗi sử dụng cú pháp %capture_index, ví dụ > = string.gsub("banana", "(an)", "%1-") -- bắt giữ mọi chữ "an" và thay thế ban-an-a 2 > = string.gsub("banana", "a(n)", "a(%1)") -- đóng ngoặc quan các ký tự n nào theo sau các ký tự a ba(n)a(n)a 2 > = string.gsub("banana", "(a)(n)", "%2%1") –- đảo ngược mọi chữ "an" bnanaa 2 Nếu sự thay thế là 1 hàm, không phải chuỗi, tham số truyền vào hàm là mọi bắt giữ được tạo. Nếu hàm trả về 1 chuỗi thì giá trị được trả về là sự thay thế trở lại chuỗi. > = string.gsub("Hello Lua user", "(%w+)", print) -- xuất ra mọi từ tìm thấy HelloLuauser 3 > = string.gsub("Hello Lua user", "(%w+)", function(w) return string.len(w) end) –- trả về độ dài của từ 5343 > = string.gsub("banana", "(a)", string.upper) -- biến tất cả các chữ “a” thành chữ hoa bAnAnA 3 > = string.gsub("banana", "(a)(n)", function(a,b) return b..a end) –- đảo ngược mọi chữ “an” bnanaa 2 Bắt giữ theo pattern, ta thấy hầu hết pattern bắt giữ đều là (.-), ví dụ {(.-)} nghĩa là bắt giữ mọi ký tự nằm giữa cặp ngoặc {}. 1 pattern khác đôi khi cũng gặp là (.*) nghĩa là bắt giữ mọi thứ bao gồm các dấu ngoặc được tím thấy. Xem thử 2 ví dụ sau: > = string.gsub("The big {brown} fox jumped {over} the lazy {dog}.","{(.-)}", function(a) print(a) end ) brown over dog > = string.gsub("The big {brown} fox jumped {over} the lazy {dog}.","{(.*)}", function(a) print(a) end ) brown} fox jumped {over} the lazy {dog string.len(s) s:len() Trả vể độ dài chuỗi. > = string.len("Lua") 3 > = string.len("") 0 > = string.len("Lua\000user") -- Chuỗi lua là 8 bit nên \000 bị loại bỏ 8 string.lower(s) s:lower() Chuyển chữ hoa thành chữ thường. > = string.lower("Hello, Lua user!") hello, lua user!
  15. string.match (s, pattern [, init]) s:match(pattern [, init]) Tìm pattern phù hợp đầu tiên của chuỗi s, nếu có sẽ trả ra kết quả theo pattern, ngược lại sẽ là rỗng. Tham số init biểu thị vị trí bắt đầu tìm trên chuỗi s, mặc định là 1 >= string.match("foobarfooo","foo(.*)fooo") –- trả về các chữ nằm giữa foo và fooo bar string.rep(s, n) s:rep(n) Tạo ra chuỗi từ việc nối n bản sao của chuỗi truyền vào. > = string.rep("Lua ",5) Lua Lua Lua Lua Lua > = string.rep("Lua\n",3) LuaLuaLua string.reverse(s) s:reverse(s) Đảo ngược chuỗi. > = string.reverse("lua") aul string.sub(s, i [, j]) s:sub(i [,j]) Trả về chuỗi con của chuỗi s truyền vào. Chuỗi con được bắt đầu từ i và kết thúc tại j. Nếu không có tham số j thì chuỗi con sẽ kết thúc tại vị trí kết thúc của chuỗi truyền vào. > = string.sub("Hello Lua user", 7) -- từ chữ thứ 7 cho đến hết chuỗi Lua user > = string.sub("Hello Lua user", 7, 9) -- từ chữ thứ 7 đến chữ thứ 9 Lua > = string.sub("Hello Lua user", -8) -- chữ thứ 8 tính từ cuối đến hết Lua user > = string.sub("Hello Lua user", -8, 9) -- chữ thứ 8 tính từ cuối đến chữ thứ 9 tính từ đầu Lua > = string.sub("Hello Lua user", -8, -6) –- chữ thứ 8 tính từ cuối đến chữ thứ 6 tính từ cuối Lua string.upper(s) s:upper() Chuyển các chữ trong chuỗi s thành chữ hoa. > = string.upper("Hello, Lua user!") HELLO, LUA USER!  Bài viết về các bảng Tạo bảng (Creating tables) Các bảng được ta qua các công cụ xây dựng bảng, được xác định qua các dấu ngoặc như {}. Đề định nghĩa 1 bảng rỗng, chúng ta có thể làm như sau. > t = {} -- xây dựng 1 bảng rỗng và gán giá vào biến “t” > print(t) table: 0035AE18 Chú ý khi giá trị của bảng được hiển thị, chỉ có kiểu và đơn vị id của đối tượng được hiển thị. Để xuất ra nội dung của bảng, chúng ta phải làm thật rõ ràng. Chúng ta sẽ cùng học cách làm sau. Các bảng như các mảng (Tables as arrays) Các bảng có thể được sử dụng để giữ các mảng thông tin. Các cấu trúc bảng có thể chứa 1 danh sách các đối tượng được phân cách nhau qua dấu phẩy để tạo 1 mảng. Có thể truy cập các phần tử mảng qua việc dùng cặp ngoặc vuông, cú pháp table[index]. Ví dụ: > t = { 1,1,2,3,5,8,13 } > print( t[1] ) 1 > print( t[0] ) nil > print( t[4] ) 3 Chú ý rằng thứ tự liệt kê trong bảng bắt đầu tại 1, không phải 0. t[0] có giá trị nil vì không có phần tử nào tại vị trí thứ 0. Dòng t = {
  16. 1,1,2,3,5,8,13 } tương đương với: > t = {} > t[1]=1 t[2]=1 t[3]=2 t[4]=3 t[5]=5 t[6]=8 t[7]=13 Sử dụng các công cụ tạo bảng ít hiệu quả nhưng lại ít lỗi hơn. Chúng ta có thể tìm ra kích thước của 1 bảng qua hàm thư viện bảng chuẩn như toán tử # (ví dụ lấy số lượng các phần tử) >=#t 7 Chúng ta có thể gắn các phần tử mới vào mảng bảng qua hàm table.insert(table,value). > table.insert(t,21) >=#t 8 > = t[7], t[8] 13 21 Chúng ta cũng có thể chèn các phần tử tại 1 vị trí định trước trong danh sách. Chúng ta có thể dùng thư viện bảng để chèn các phần tử vào mảng mà không cần xáo trộn các phần tử khác xung quanh. Để làm đều này, chúng ta cung cấp 3 tham số cho hàm table.insert(table,position,value). Chúng ta cũng có thể dùng table.remove(table,position) để loại bỏ các phần tử khỏi mảng bảng. > table.insert(t,4,99) > = t[3], t[4], t[5] 2 99 3 > table.remove(t,4) > = t[3], t[4], t[5] 235 Chúng ta có thể lặp qua các phần tử chứa trong mảng nhờ toán tử ipairs(). Toán tử này sẽ cung cấp khóa liệt kê next, trong sắp xếp tăng dần, mỗi lần được gọi. > for i,v ini pairs(t) do print(i,v) end 11 21 32 43 55 68 7 13 8 21 Chú ý rằng chúng ta không bị giới hạn phải sử dụng 1 kiểu dữ liệu trong 1 mảng. Chúng ta vẫn có thể chèn các số, chuỗi, hàm hoặc các bảng khác, ví dụ > t[4] = "three" > t[6] = "eight" > t[2] = { "apple", "pear", "banana" } > for i,v in ipairs(t) do print(i,v) end 11 2 table: 0035DFE8 32 4 three 55 6 eight 7 13 8 21 Các bảng như các từ điển (Tables as dictionaries) Các bảng cũng có thể được sử dụng để lưu trữ thông tin không được sắp xếp như các số hoặc trình tự như trong các mảng. Những kiểu lưu trữ này đôi khi được gọi là các từ điển, các mảng liên kết, các bảng hash hoặc các kiểu ánh xạ. Chúng ta sẽ sử dụng thuật ngữ từ điển trong đó 1 cặp phần tử pair có 1 khóa key và 1 giá trị value. Khóa key được sử dụng để đặt và nhận 1 giá trị liên kết với nó. Chú ý rằng như các mảng, chúng ta có thể dùng table[key] = value để chèn các phần tử vào bảng. Khóa không nhất thiết là số, nó có thể là chuỗi hoặc bất kỳ đối tượng Lua nào (ngoại trừ nil hoặc 0/0). Chúng ta hãy tạo 1 bảng với 1 vài cặp khóa – giá trị trong đó: > t = { apple="green", orange="orange", banana="yellow" } > for k,v in pairs(t) do print(k,v) end apple green orange orange banana yellow
  17. Chú ý rằng chúng ta phải sử dụng pairs(), thay vì ipairs() để xuất giá trị. Đó là vì các khóa key không còn là các số nữa, bên cạnh đó ipairs() chỉ lặp qua các chỉ số trong 1 bảng trong khi pairs() lặp qua các khóa key trong bảng. Chú ý, không có bảo đảm cho thứ tự các khóa sẽ lưu trong bảng khi dùng các từ điển, vì thế nên thứ tự việc lấy các khóa qua pairs() không được bảo đảm. Cảnh báo này thậm chí áp dụng cho cả phần được liệt kê của bảng hoặc cả bảng không phải dạng từ điển mà chỉ có các chỉ số dùng như các khóa key. > t.melon = "green" > t["strawberry"] = "red" >for k,v in pairs(t) do print(k,v) end melon green strawberry red apple green orange orange banana yellow Bạn cũng có thể tham khảo table.foreach()tương tự như pairs(), với tất cả các cảnh báo. Hàm này trong tương lai có thể bị loại bỏ trong các phiên bản Lua sau này. Dạng table.key = value là dạng rút gọn cho table["key"] = value khi khóa key là 1 chuỗi, ví dụ t.apple khả đọc hơn 1 chút so với t["apple"]. Dạng cú pháp thân thiện này làm Lua dễ đọc hơn. Trong ví dụ: > t = { apple="green", orange="orange", banana="yellow" } cũng giống như: > t = { ["apple"]="green", ["orange"]="orange", ["banana"]="yellow" } Chú ý, nếu khóa key có chứa khoảng trắng, chúng ta phải dùng dạng ["key"]=value: > t = { ["keys can contain more than one word"] = "as a string can contain any characters" } > t["another string"] = 99 Cấu tạo bảng trộn (Mixed table constructors) Bạn không bị giới hạn trong việc dùng các cấu tạo bảng như danh sách được liệt kê tuần tự hay các từ điển, bạn có thể trộn cả hai lại, ví dụ, > t = { 2,4,6, language="Lua", version="5.1" } Ở đây chúng ta có 1 mảng các số, sau đó là một vài giá trị từ điển. Chúng ta có thề dùng các hàm bảng trong thư viện Lua để xuất ra nội dung của bảng. > for k,v in pairs(t) do print(k,v) end 12 version 5.1 36 language Lua 24 > for i,v in ipairs(t) do print(i,v) end 12 24 36 Chú ý sự khác nhau: ipairs() chỉ xuất nội dung liệt kê dạng số theo thứ tự tăng dần, còn pairs() xuất tất cả nội dung theo thú tự không xác định. Chúng ta có thể chuyển đổi qua lại giữa 2 kiểu cấu trúc bảng > t = { 2,4,6, language="Lua", version="5.1", 8,10,12, web="www.lua.org" } Do tính gượng ép số/chuỗi, hãy cẩn thận khi xuất các khóa. Ví dụ: > t = {}; t[1] = "a"; t["1"] = "b" > for k,v in pairs(t) do print(k,v) end 1a 1b Tất nhiên, lệnh type(k) sẽ cho các thông tin khác nhau trong cả hai trường hợp. Lưu ý về các khóa (Notes about table keys) Lua lưu trữ tất cả các phần tử trong các bảng theo cặp khóa – giá trị (key-value). Lua không phân biệt giữa các mảng và các từ điển. Tất cả các bảng Lua thực chất đều là các từ điển. Trong 1 mảng, các khóa chỉ là các số. > t = { 3,6,9 } -- nó giống như... > t = { [1]=3, [2]=6, [3]=9 } -- giống như... > t = {} t[1]=3 t[2]=6 t[3]=9 Các khóa là các tham vấn (Keys are references) Chú ý rằng các khóa là các tham vấn đến các đối tượng, vì vậy bạn phải dùng cùng tham vấn để đưa khóa tương ứng vào bảng. Bạn có thể sử dụng bất cứ đối tượng Lua nào làm 1 khóa của 1 bảng. Chúng ta có thể biểu diễn các khóa là các tham vấn đến các đối tượng qua việc dùng 1 bảng như 1 khóa: > a = { [{1,2,3}]="yadda" } -- xây dựng bảng trong đó phần tử có 1 khóa bảng
  18. > table.foreach(a,print) -- hiển thị nội dung bảng: cặp khóa – giá trị table: 0035BBC8 yadda > = a[{1,2,3}] -- hiển thị giá trị phần tử nil Lệnh trên không thi hành vì khi chúng ta thử lấy lại giá trị của a[{1,2,3}] chúng ta đã không xây dựng một bảng khác, ví dụ bảng mà chúng ta dùng như 1 khóa trong cấu tạo bảng không giống như bảng mà chúng ta dùng để nhận giá trị. Nếu chúng ta dùng cùng bảng trong cả 2 trường hợp thì mọi việc sẽ diễn ra suông sẻ: > tablekey = {1,2,3} -- tạo 1 bảng với 1 biến đại diện nó > a = { [tablekey]="yadda" } -- tạo 1 bảng dùng bảng như là 1 khóa > table.foreach(a,print) -- hiển thị các phần tử mảng table: 0035F2F0 yadda > = a[tablekey] -- nhận 1 giá trị từ bảng yadda > print(tablekey) -- giá trị bảng cũn giống với khóa khóa ở trên table: 0035F2F0 Các chuỗi là các tham vấn (Strings as references) Chúng ta phải tham chiếu cùng một chuỗi khi nhận và đặt giá trị, nếu hông các khóa dạng chuỗi sẽ không hoạt động! Vì vậy bạn phải tham vấn 1 chuỗi với giá trị cùng với giá trị tham chiếu. > t = { apple=5 } > a = "apple" > b = "apple" > print(t.apple, t[a], t) -- tất cả cùng giá trị vì chỉ có 1 "apple"! 555 Gần như mọi thứ đều là khóa (Almost anything as a key) Chúng ta có thể sử dụng gần như mọi đối tượng Lua (như ở đây là 1 hàm) làm khóa: > t = { [function(x) print(x) end] = "foo" } > for key,value in pairs(t) do key(value) end foo 1 Hàm nhận 1 tham số khi in ra sẽ cho giá trị "foo". Chúng ta lặp duyệt qua bảng để thực hiện khóa key (hàm) và truyển cho nó giá trị của hàm để in ra được "foo". Thư viện bảng (The table library) Chú ý: Hầu hết các hàm trong thư viện bảng giả thiết rằng bảng đặ diện cho 1 mảng hoặc 1 danh sách. Đối với các hàm này, khi nói về “độ dài” của 1 bảng có nghĩa là kết quả từ toán tử độ dài bảng (như toán tử #). table.concat(table [, sep [, i [, j]]]) Nối các phần tử của 1 bảng lại thành 1 chuỗi. Mỗi phần tử đều phải gượng ép được thành chuỗi. Có thể tạo 1 phân cách giữa các phần tử đã được nối. 1 phạm vi có thể được chỉ rõ trong bảng bắt đầu tại phần tử thứ i và kết thúc tại phần tử thứ j.. > = table.concat({ 1, 2, "three", 4, "five" }) 12three4five > = table.concat({ 1, 2, "three", 4, "five" }, ", ") 1, 2, three, 4, five > = table.concat({ 1, 2, "three", 4, "five" }, ", ", 2) 2, three, 4, five > = table.concat({ 1, 2, "three", 4, "five" }, ", ", 2, 4) 2, three, 4 concat sẽ không làm được trên 1 bảng chứa các bảng vì không thể gượng ép được thành chuỗi. > = table.concat({ 1,2,{} }) stdin:1: bad argument #1 to `concat' (table contains non-strings) stack traceback: [C]: in function `concat' stdin:1: in main chunk [C]: ? table.foreach(table, f) Dù không còn thông dụng trong phiên bản 5.1 nhưng nó vẫn hữu ích trong việc xuất ra 1 bảng. Bạn nên dùng toán tử pair() thay cho hàm này. Như với pair(), phương pháp table.foreach() không bảo đảm trà lại các khóa được liệt kê theo thứ tự. Áp dụng hàm f cho các phần tử của bảng table truyền vào. Trên mỗi vòng lặp, hàm f được truyền cặp khóa – giá trị của phần tử trong bảng. > table.foreach({1,"two",3}, print) –- xuất cặp khóa – giá trị 11 2 two 33 > table.foreach({1,"two",3,"four"}, function(k,v) print(string.rep(v,k)) end) 1
  19. twotwo 333 fourfourfourfour Nếu hàm f trả về một giá trị không-rỗng (non-nil), vòng lặp sẽ dừng. > table.foreach({1,"two",3}, function(k,v) print(k,v) return k t = { 1,2,"three"; pi=3.14159, banana="yellow" } > table.foreach(t, print) 11 22 3 three pi 3.14159 banana yellow table.foreachi(table, f) (Chú ý: hàm này không còn thông dụng trong Lua 5.1 nhưng nó vẫn có thể hữu dụng để xuất ra 1 bảng. Bạn nên dùng toán tử ipairs() thay thế. Như với ipairs(), phương pháp table.foreachi() bảo đảm trả về các khóa được liệt kê theo thứ tự và bỏ qua các khóa không liệt kê.) Áp dụng hàm f cho các phần tử của bảng truyền vào. Mỗi lần lặp hàm f được truyền vào cặp thứ tự - giá trị của phần tử trong bảng, giống như table.foreach() ngoại trừ cặp truyền vào là thứ tự - giá trị chứ không phải khóa – giá trị. Nếu hàm f trả về 1 giá trị không-rỗng (non-nil) thì vòng lặp sẽ dừng. > t = { 1,2,"three"; pi=3.14159, banana="yellow" } > table.foreachi(t, print) 1 12 23 three Chú ý rằng trong ví dụ chỉ các phần tử liệt kê của bảng được hiển thị. table.sort(table [, comp]) Sắp xếp các phần tử của 1 bảng theo vị trí > t = { 3,2,5,1,4 } > table.sort(t) > = table.concat(t, ", ") -- hiển thị các giá trị được sắp xếp 1, 2, 3, 4, 5 Nếu bảng có 1 kích thước cụ thể thì chỉ có vùng cụ thể được sắp xếp, ví dụ, > t = { 3,2,5,1,4; n=3 } -- xây dựng bảng có kích thước là 3 > table.sort(t) -- sắp xếp sẽ bị giới hạn bởi kích thước > = table.concat(t, ", ") -- chỉ nối trong giới hạn kích thước cho trước 2, 3, 5 1 hàm so sánh có thể được cung cấp vào việc sắp xếp phần tử tùy chọn. Hàm so sánh phải trả về 1 giá trị luận lý chỉ rõ tham số đầu tiên có đứng trước tham số thứ 2 trong trình tự hay không. Mặc định là dạng so sánh t = { 3,2,5,1,4 } > table.sort(t, function(a,b) return a = table.concat(t, ", ") 1, 2, 3, 4, 5 Chúng ta có thể thấy nếu chúng ta đảo ngược so sánh thì thứ tự trình tự cũng bị đảo ngược. > table.sort(t, function(a,b) return a>b end) > = table.concat(t, ", ") 5, 4, 3, 2, 1 table.insert(table, [pos,] value) Chèn 1 giá trị được cho vào 1 bảng. Nếu 1 vị trí được cho, thì chèn giá trị vào trước phần tử hiện tại ở vị trí đó: > t = { 1,3,"four" }> table.insert(t, 2, "two") -- chèn "two" tại vị trí trước phần tử 2 > = table.concat(t, ", ") 1, two, 3, four Nếu không có vị trí được chỉ rõ thì chúng ta gắn giá trị vào cuối bảng: > table.insert(t, 5) -- không có vị trí đưa vào nên gắn vào cuối > = table.concat(t, ", ")
  20. 1, two, 3, four, 5 Khi 1 bảng có 1 phần tử được chèn vào thì cả kích thước bảng và thứ tự phần tử được cập nhật: > t = { 1,"two",3 } -- tạo 1 bảng > = # t -- tìm kích thước hiện tại 3 > table.foreach(t, print) -- hiển thị nội dung bảng 11 2 two 33 > table.insert(t, 1, "inserted") -- chèn 1 phần tử vào đầu > = table.concat(t, ", ") -- xem chúng ta có ji inserted, 1, two, 3 > = # t -- tìm kích thước 4 > table.foreach(t, print) -- thứ tự được cập nhật 1 inserted 21 3 two 43 Khi không có vị trí được chỉ rõ, phần tử được chèn vào cuối bảng theo kích thước được tính toán. Kích thước của 1 bảng có thể được chỉ rõ và không phản ánh số lượng phần tử, ví dụ: > t = { 1,"two",3; n=10 } -- tạo 1 bảng với kích thước cho trc > table.insert(t, "end") -- chèn mà không cho biết vị trí > table.foreach(t, print) -- hiển thị nội dung bảng 11 2 two 33 11 end n 11 table.remove(table [, pos]) Loại bỏ 1 phần tử khỏi bảng. Nếu 1 vị trí đưuợc chỉ rõ, phần tử tại vị trí sẽ bị loại bỏ. Các phần tử còn lại được sắp xếp lại 1 cách tuần tự và kích thước bảng được cập nhật phản ánh sự thay đổi. Phần tử bị loại bỏ được trả về qua hàm này. Ví dụ, > t = { 1,"two",3,"four" } -- tạo 1 bảng > = # t -- tìm kích thước 4 > table.foreach(t, print) -- Xem các phần tử 11 2 two 33 4 four > = table.remove(t,2) -- loại bỏ phần tử số 2 và hiển thị nó two > table.foreach(t, print) -- hiển thị nội dung bảng được cập nhật 11 23 3 four > = # t -- tìm kích thước 3 Nếu không có vị trí được đưa vào thì loại bỏ phần tử cuối cùng trong bảng được chỉ rõ qua kích thước bảng. Ví dụ, > t = { 1,"two","three" } > = # t -- tìm kích thước bảng (đã loại bỏ) 3 > table.foreach(t, print) -- hiển thị nội dung 11 2 two 3 three > = table.remove(t) -- loại bỏ phần tử tại vị trí “n” three > table.foreach(t, print) -- hiển thị nội dung cập nhật 11 2 two > = # t -- hiển thị kích thước mới
Đồng bộ tài khoản