Luận văn báo cáo Thuế XNK ở VN thời kỳ hội nhập

Chia sẻ: Asfasdf Asdsad | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:40

1
577
lượt xem
282
download

Luận văn báo cáo Thuế XNK ở VN thời kỳ hội nhập

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Xuất nhập khẩu (XNK) có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tất cả các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách nhà nước. Chính sách thuế XNK không ngừng biến đổi, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO đã ảnh hưởng nhiều đến quá trình phát triển đất nước. Với mục đích hiểu rõ hơn về ảnh hưởng chính sách thuế XNK của Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO tới nền kinh tế, chúng em đã quyết định làm tiểu luận...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn báo cáo Thuế XNK ở VN thời kỳ hội nhập

  1. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 LỜI MỞ ĐẦU Xuất nhập khẩu (XNK) có vai trò quan trọng trong nền kinh t ế c ủa t ất c ả các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu đóng góp một phần đáng kể vào ngân sách nhà nước. Chính sách thuế XNK không ngừng bi ến đ ổi, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO đã ảnh hưởng nhiều đến quá trình phát triển đất nước. Với mục đích hiểu rõ hơn về ảnh hưởng chính sách thuế XNK c ủa Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO tới nền kinh tế, chúng em đã quyết định làm tiểu luận về đề tài này. Mục tiêu của bài tiểu luận mà chúng em hướng tới đó là: • So sánh chính sách thuế XNK của nhà nước trước và sau khi gia nhập WTO để thấy được điểm đổi mới trong quá trình phát triển kinh tế đất nước. • Từ những chính sách thuế mới thì cơ hội, khó khăn cho Việt Nam là gì. • Tìm hiểu một một ví dụ về thuế xuất nhập khẩu đối với mặt hàng ô tô để thấy rõ sự biến đổi của nó trước, sau khi gia nhập WTO, ảnh h ưởng của chính sách đó. Phương pháp nghiên cứu: tổng hợp, thống kê, phân tích. Phạm vi nghiên cứu : 10 năm trở lại đây Vì thời gian có hạn và kinh nghiệm thực tế chưa nhiều nên bài vi ết c ủa chúng em không tránh khỏi những thiếu sót. Qua đây, chúng em mong th ầy ch ỉ b ảo đ ể bài viết của chúng em được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn! Nhóm sinh viên: Vũ Thị Kiều Hoa Trần Thị Hương Giang Nguyễn Thị Quỳnh Anh Nguyễn Thanh Hiền Nguyễn Thị Hạnh Lớp Anh 5-TCQTB-K46 MỤC LỤC A. LỜI MỞ ĐẦU:………………………………………………………3 B. MỤC LỤC:..…………………………………………………………4
  2. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 C. THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP:..………………………………………………………...5 I/ Thực trạng thuế XNK ở Việt Nam trước khi gia nhập WTO:...…….6 1. Tổng quan:...…..…………………………………………………..6 1.1 Những chính sách của Nhà nước:.……………………………..6 1.2 Những mặt tích cực:…...………………………………………...7 1.3 Những mặt hạn chế:...………………………………………..…8 1.3.1 Sơ hở trong chính sách ưu đãi và miễn giảm thuế của Nhà nước:…………………………………………………8 1.3.2 Khâu quản lý khai báo và thu thuế còn chưa hiệu quả:..10 1.3.3 Mức thuế suất còn khá cao :...…..……… ……………… 11 2. Một số cải cách về thuế XNK trên tiến trình gia nhập WTO: . ….12 II/ Những đổi mới thuế XNK sau khi Việt Nam gia nhập WTO:...…..….20 1. Đổi mới trong các chính sách của Nhà nước:.........…………….....20 2. Khung thuế xuất nhập khẩu 2008:...….. …………………………..23 3. Thành công của những đổi mới:...…..…………………………….28 4. Những mặt còn hạn chế trong các chính sách đổi mới:...………...30 5. Ví dụ về thuế nhập khẩu ô tô có ảnh hưởng đối với tiêu dùng:…..34 III/ Thuế XNK ở Việt Nam trong tương lai sẽ như thế nào? .. …………44 D. KẾT LUẬN:...…..…………………………………………………48 THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
  3. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 Trước khi đi nghiên cứu về các biến động về thuế xuất nhập khẩu ở Việt Nam trong những năm gần đây chúng ta cần hiểu sơ lược thế nào là thu ế, thu ế xu ất nh ập khẩu. Thuế là hình thức động viên bắt buộc một phần thu nhập c ủa cá nhân, doanh nghiệp cho Nhà nước nhằm đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuế XNK là thuế đánh vào hàng hóa XNK, kể cả phi mậu dịch và làm thủ tục kê khai nộp thuế tại cửa khẩu, nên còn gọi là thuế quan. Ở những nước có khu chế xuất, đối tượng đánh thuế gồm cả hàng hóa từ khu chế xuất, đối tượng đánh thu ế gồm cả hàng hóa từ khu chế xuất đưa vào thị trường trong nước và từ thị trường trong nước đưa ra khu chế xuất. Thuế XNK được tính theo công thức: Thuế XNK = (Số lượng hàng XNK x Giá tính thuế đơn vị) x Thuế suất Giá tính thuế đơn vị là giá xuất, giá nhập tại cửa khẩu. Nếu vận chuyển bằng đường biển là giá FOB, giá CIF. Giá xuất không bao gồm cả chi phí v ận t ải và b ảo hiểm tới cửa khẩu đến. Thuế suất là số tiền thuế phải nộp trên một đơn vị đối tượng tính thuế. Sau khi xác định đối tượng tính thuế là gì ta có thể xác định n ội dung, cách quy đ ịnh m ức thuế suất. Tiếp đến chúng ta sẽ xem xét tình hình chung về thu ế xu ất nh ập khẩu Vi ệt Nam những năm trước khi gia nhập WTO. I/ Thực trạng thuế XNK ở Việt Nam trước khi gia nhập WTO. 1.Tổng quan: 1.1 Những chính sách của Nhà nước: Về số lượng hàng nhập khẩu, Nhà nước áp dụng các chính sách hạn chế định lượng XNK đối với mặt hàng ô tô, các m ặt hàng đi ện tử, đi ện l ạnh, phân bón, thuốc lá, thực phẩm và các mặt hàng xa xỉ phẩm; cấm nhập khẩu một số mặt hàng như xe đạp, xe hai bánh, ba bánh gắn máy cũ, các vật t ư, ph ương ti ện đã qua s ử d ụng. Hàng tiêu dùng như dệt may, giày dép, quần áo, đồ đi ện tử, điện lạnh, đi ện gia d ụng,
  4. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 hàng trang trí nội thất, thiết bị y tế, đồ gia dụng, các sản ph ẩm công ngh ệ thông tin đã qua sử dụng cũng nằm trong danh mục hàng cấm nhập. Nhà nước còn quy định hạn ngạch XNK đối với mặt hàng thuốc lá nguyên liệu, bông, s ữa nguyên li ệu cô đ ặc, sữa nguyên liệu chưa cô đặc, muối, ngô hạt và trứng gia cầm,... Số lượng hàng hóa nhập khẩu sẽ được điều chỉnh thuế suất dựa trên sự cân đối giữa nhu cầu và năng lực sản xuất trong nước. Ngoài ra còn có những quy định về việc c ấp phép nhập khẩu tùy ý đối với một số mặt hàng (đường,…) Về xác định trị giá tính thuế nhập khẩu, chủ trương áp dụng bảng giá tối thiểu và giá tham khảo để tính thuế nhập khẩu với m ột số mặt hàng: r ượu vang, r ượu mạnh, gạch lát, v.v… Về quyền kinh doanh XNK của các doanh nghiệp , quy định rõ: doanh nghiệp FDI và cá nhân nước ngoài không được chuyên kinh doanh XNK, mà doanh nghiệp FDI chỉ được nhập khẩu những mặt hàng qui định trong gi ấy phép đ ầu t ư nhằm ph ục v ụ mục đích sản xuất của mình. Về biểu thuế nhập khẩu: Ban hành biểu thuế xuất khẩu theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất đối với từng nhóm hàng, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất ưu đãi đối với từng nhóm hàng. 1.2 Những mặt tích cực Những chính sách trên đã có tác động không nhỏ tới nền kinh t ế đ ất nước. Thực tế cho thấy những chính sách này được đặt ra có rất nhiều mặt phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong những năm đ ầu th ời kì hội nhập. • Trước tiên các chính sách trên giúp hạn chế những mặt hàng xa xỉ phẩm vì một số mục đích xã hội. Nếu chính phủ cho phép nh ập khẩu những mặt hàng xa xỉ phẩm một cách tràn lan, không đánh thuế suất cao thì tài sản đất nước (bao gồm cả tài sản của toàn dân, c ủa các hãng, và của nhà nước) sẽ không thể tập trung vào phát triển nền sản
  5. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 xuất. Trong khi đất nước còn kém phát triển điều này sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ tới tăng trưởng kinh tế. • Thứ hai, nhà nước có những qui định khắt khe về các mặt hàng nh ư rượu, thuốc lá, xì gà,... vì đây là những mặt hàng th ực t ế n ếu nh ập nhiều sẽ gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe con người. • Thứ ba, Nhà nước có những chính sách hạn chế nhập với những mặt hàng dệt may, ô tô,... đã góp phần làm giảm cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước. Khi các doanh nghiệp trong nước chưa tạo được chỗ đứng cho mình mà nhà nước cho phép các mặt hàng này được phép nhập với thuế xuất thấp, không có hạn ngạch thì chắc ch ắn s ản ph ẩm nhập sẽ tràn lan trên thị trường, các doanh nghiệp trong nước không thể cạnh tranh nổi và tất yếu đi đến phá sản! • Thứ tư, nó còn giúp Nhà nước quản lý lượng dự trữ tài nguyên quốc gia như: than đá, kim loại màu, điện,…. Có thể thấy rõ các chính sách như trên không chỉ đem lại nguồn thu ngân sách cho nhà nước mà còn bảo vệ các doanh nghiệp trong nước, ph ục v ụ một số vấn đề vĩ mô của đất nước. Tuy nhiên, những chính sách này còn quá nhiều những hạn chế. 1.3 Những mặt hạn chế 1.3.1 Sơ hở trong chính sách ưu đãi và miễn giảm thuế c ủa Nhà nước. Để khuyến khích hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, nhà nước đã có những chính sách ưu đãi và miễn giảm thuế xuất nhập khẩu. Nhưng những thiếu sót trong các ưu đãi này đã tạo kẽ hở cho doanh nghiệp lách luật và gây một số điểm bất bình đẳng. Một ví dụ là chính sách ân hạn thuế trong Luật thuế XNK có ph ần hơi “thông thoáng”. Cụ thể, thời hạn nộp thuế nhập khẩu đối với hàng
  6. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 xuất khẩu là 15 ngày, với nguyên phụ liệu nhập khẩu để làm hàng xuất khẩu là 275 ngày kể từ ngày ra thông báo nộp thuế. Đây là k ẽ h ở cho doanh nghiệp cho những doanh nghiệp nhập khẩu nguyên phụ liệu. Họ có thể bán hết số nguyên phụ liệu đã nhập về cho th ị trường trong nước khi chưa hết hạn nộp thuế. Sau đó họ giải tán doanh nghiệp để trốn cả thu ế tiêu thụ nội địa lẫn thuế nhập khẩu.1 Bên cạnh đó, việc áp dụng nhiều mức thuế khác nhau với các nhãn sản phẩm khác nhau cũng tạo điều kiện cho việc thừa cơ chuộc lợi của nhiều công ty. Việc áp thuế cho xe 6 – 9 chỗ ngồi thấp hơn xe từ 6 chỗ trở xuống làm doanh nghiệp hạn chế nhập xe con vì sợ chịu thuế cao. Hay đơn cử việc áp dụng Bảng giá tối thiểu tính thuế nh ập khẩu cũng d ẫn đến doanh nghiệp nhập hàng giá cao không có trong danh sách bảng giá này để hưởng lợi nhuận. Minh chứng cho điều này là trường hợp của công ty Đông Nam. Theo Quyết định 177 của Tổng cục Hải quan thì Bảng giá tối thiểu tính thuế chỉ quy định các loại Nokia 3210, 5110, 5510 (90 USD/chiếc), 6110, 6150, 8210 (120 USD/chiếc), 8810, 8850 (190 USD/chiếc), 9910 (400 USD/chiếc); còn các loại khác (ch ưa quy đ ịnh) ch ỉ chịu thuế 80 USD/chiếc. Doanh nghiệp Đông Nam đã lợi dụng kẽ hở này, cho nhập ồ ạt các nhãn điện thoại Nokia như 8250, 8855, 8310,8910 là những sản phẩm giá cao nhưng chỉ chịu thuế 80 USD/chiếc. Như vậy áp dụng bảng giá tính thuế còn nhiều bất cập vì các sản ph ẩm th ường ra các dòng mới liên lục và thường đắt hơn những loạt trước đ ấy. Trong khi đó, bảng giá chậm cập nhập nên những mặt hàng mới này lại ch ỉ ch ịu thuế thấp. 2 1 http://www.dautuchungkhoan.com/Nganhang-Taichinh/2005/06/5644.OTC 2 http://www.vnn.vn/kinhte/toancanh/2003/2/3231/
  7. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 Một sơ hở nữa là vấn đề thanh toán. Tại các công văn số 1482/TC/TCT ngày 11-4-2000, số 5957/TC/TCT ngày 9-6-2003, số 8282/TC/TCT ngày 12-6-2003, Bộ Tài chính có đưa ra ưu đãi thuế GTGT với hàng xuất nh ập khẩu: Nếu được thanh toán qua ngân hàng thì ch ỉ chịu mức thu ế su ất 0%. Nhiều hợp đồng kinh doanh có giao dịch bằng giấy tờ có giá nhưng làm hợp đồng danh nghĩa là thanh toán qua ngân hàng để không phải ch ịu thuế. Ví dụ: Tại Nghệ An, khi kiểm tra sau thông quan 6 doanh nghi ệp nh ập khẩu hàng hoá qua cửa khẩu Móng Cái, ô 20 đều ghi thanh toán qua ngân hàng nhưng khi cán bộ hải quan đến ngân hàng thương mại Móng Cái đ ể xác minh thì đã phát hiện một số doanh nghiệp không thanh toán qua ngân hàng.3 1.3.2 Khâu quản lý khai báo và thu thuế còn chưa hiệu quả Hiện nay thủ tục khai báo và thu nộp thuế tại Hải quan còn khá rườm rà. Việc càng nhiều khâu, nhiều quy trình đồng nghĩa với càng nhiều khe hở để xảy ra hiện tượng gian lận và trốn thuế. Tại h ầu h ết các khâu, các lĩnh vực trong quá trình làm thủ tục Hải quan đều xảy ra hiện tượng gian lận thương mại, cụ thể như: Khai báo không đúng tên hàng, khai báo nhiều chủng loại hàng hoá với một tên hàng để áp mã có m ức thuế suất thấp; làm giả C/O để được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt; Khai báo không đúng giá trị thực thanh toán để gian l ận trị giá; bán nguyên phụ liệu, thành phẩm ra thị trường nội địa đối với loại hình nh ập khẩu đầu tư gia công sản xuất - xuất khẩu để trốn thuế với số lượng lớn…4 3 Báo Hải quan 31/05/2004 4 http://customs.gov.vn/Default.aspx?tabid=1&mid=520&ItemID=3126
  8. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 Ngoài ra, sự thiếu nhất quán trong quản lý cũng gây khó khăn cho việc nộp thuế của các doanh nghiệp, khiến cho nguy cơ gian lận thuế càng tăng. Đơn cử như trường hợp Bảng giá tính thuế tối thiểu nói trên, Tổng cục Hải quan cho phép: ''Đối với mặt hàng nhập khẩu không có hợp đồng, mặt hàng nhập khẩu có hợp đồng có trị giá tính thu ế ước tính d ưới 20 triệu đồng, thì Cục trưởng uỷ quyền cho Chi cục trưởng ra quy ết đ ịnh xây dựng, sau đó báo cáo Cục Hải quan tổng hợp ban hành áp dụng th ống nhất trong Cục và báo cáo Tổng cục Hải quan''. Các doanh nghi ệp ái ng ại không chỉ vì mỗi chi cục tính giá mỗi khác, mà ngay khi Cục H ải quan tổng hợp từ các chi cục để ban hành bảng giá áp dụng thống nh ất thì cũng không áp dụng hồi tố, các doanh nghiệp đã đóng thuế rồi thì không được áp mức giá thống nhất ấy. Việc xây dựng giá cũng tạo kẻ hở cho tiêu cực. 5 Thêm nữa, nhiều cán bộ hải quan còn thiếu sự nhạy bén và hiểu biết tường tận về Luật thuế XNK. Điều này dẫn đến không phát hi ện được hành vi gian lận thuế. 1.3.3 Mức thuế suất còn khá cao Tác động của thuế nhập khẩu đến nền kinh tế 6 5 http://www.vnn.vn/kinhte/toancanh/2003/2/3231/ 6 “Khi đánh thuế nhập khẩu, người sản xuất hàng trong nước được lợi nhưng người tiêu dùng bị thiệt hại vì nó làm tăng giá của hàng nhập khẩu từ mức giá thế giới lên bằng với giá thế giới cộng với thuế nhập khẩu. Đồ thị này chỉ ra tác động của thuế nhập khẩu”.
  9. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 Mức thuế còn khá cao so với nhiều nước trong ASEAN và trên thế giới. Để bảo vệ sức mạnh của hàng hoá trong nước, nhà nước đã áp dụng mức thuế cao. Nhưng điều này gây khó khăn cho nhiều m ặt hàng nh ập khẩu có nhu cầu lớn. Có thể xem xét mặt hàng sữa nhập khẩu tại Việt Nam là m ột ví d ụ. Theo đánh giá của Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghi ệp nông thôn, giá sữa bán lẻ ở Việt Nam đứng ở mức cao nhất thế giới. Tính bình quân cho các n ước Bắc M ỹ, châu Đại Dương, Trung Quốc, Israel và EU là 0,8 USD/kg; các n ước thu ộc khu v ực Đông Âu, Nam Mỹ có mức giá trung bình thấp nhất là 0,4 USD/kg. Trong khi đó, giá sữa bán lẻ Việt Nam lại lên đến 0,82 USD/kg. Tóm lại các chính sách như trên đã kìm hãm sự phát tri ển của các doanh nghi ệp chuyên kinh doanh XNK, hạn chế sự phát triển một số mặt hàng, làm tăng giá cả trên thị trường, giảm tính cạnh tranh của thị trường. Ngoài ra, cách tính tr ị giá nh ập kh ẩu chưa hợp lý sẽ làm mất đi sự công bằng của luật thuế. 2. Một số cải cách về thuế XNK trên tiến trình gia nhập WTO Trong quá trình đàm phán đa phương để gia nhập WTO, các thành viên đã đ ưa ra những đề xuất điều chỉnh chính sách kinh tế ở Việt Nam. Trong đó có r ất nhi ều đ ề xuất liên quan đến thuế xuất nhập khẩu và hải quan. Đó là:
  10. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 • Xúc tiến việc thành lập hệ thống thuế hải quan minh bạch dựa trên Bi ểu thuế thống nhất của ASEAN. • Thông tin và giải thích cụ thể về cụm từ "Những khoản thuế và phụ thu khác", như các loại thuế và khoản thu tài chính (Ngoài thuế hải quan) áp dụng đối với nhập khẩu những sản phẩm không sản xuất trong nước. • Áp dụng thuế nội địa - đặc biệt là các mức thuế đặc biệt đánh vào các m ặt hàng thuốc lá và bia. . • Huỷ bỏ mức giá nhập khẩu tối thiểu. áp dụng những qui đ ịnh v ề xác đ ịnh mức giá hải quan theo WTO. 7 Và trên thực tế để đẩy nhanh quá trình vào WTO, Việt Nam đã thực hiện một số cải cách quan trọng về thuế nói chung và thuế XNK nói riêng. Tính đến cuối năm 2002, Việt Nam đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với 167 n ước, quan hệ ngoại thương với hơn 155 nước; khai thông các quan hệ với các t ổ chức tài chính ti ền tệ quốc tế như IMF, WB, ADB (1992);gia nhập các tổ chức khu v ực và qu ốc t ế nh ư ASEAN (1995); gia nhập APEC (1998)... Việt Nam cũng đã ký k ết đ ược 82 hi ệp đ ịnh thương mại song phương, 42 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, đã thi ết lập được mối quan hệ thương mại với nhiều nước lớn trên thế giới, đặc biệt là ký kết Hiệp định thương mại Việt Mỹ vào 7/2000.... Hệ thống kế hoạch hoá ngoại thương cứng nhắc của Việt Nam đã được cải cách theo xu hướng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. ∗ Về cơ chế nhập khẩu: Chính phủ đã sử dụng những công cụ chính sách thông thường như thu ế quan, côta, cấp giấy phép nhập khẩu. Thuế quan: Việt Nam đã đạt được những bước cắt giảm thuế quan rất quan trọng kể từ năm 1996 khi tiến hành gia nhập AFTA. Trong quá trình h ội nh ập kinh t ế khu vực, Việt Nam đã cam kết cắt giảm thuế quan đối với 5.505 sản ph ẩm, trong đó có 80% sản phẩm cắt giảm ở mức thuế 0-5% và 20% sản phẩm ở mức thuế trên 5%. 7 http://asemconnectvietnam.gov.vn/vn/NewsDetail.aspx? type=1&hoinhap=1&SubId=1&NewsId=7723
  11. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 Khi hiệp định thương mại Việt - Mỹ chính thức có hiệu lực, Vi ệt Nam đã cam k ết giảm thuế nhập khẩu đối với 244 mặt hàng trong vòng 3-6 năm với mức thuế giảm bình quân từ 35% xuống còn 26% (trong đó có 80% là sản phẩm nông nghi ệp). Cũng theo cam kết này, Việt Nam đang tiến hành bãi bỏ ưu đãi về thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hoá và dần dần tháo bỏ việc áp dụng chế độ thu phí và lệ phí liên quan đ ến hàng hoá XNK. Tuy nhiên, Việt Nam hiện duy trì thuế suất, thuế nhập khẩu trung bình đối với hàng nông sản là khoảng 25%, với thuế suất đỉnh lên đến từ 40% đến 100% áp dụng cho hoa quả tươi, đường kính, ngũ cốc, rượu vang, bia, thu ốc lá... Mà theo quy định của WTO, các nước xin gia nhập thường phải giảm thuế suất trung bình đối v ới hàng nông sản xuống còn khoảng 20%, đối với hàng chế tạo còn 10%. Hệ thống miễn thuế nhập khẩu hàng hoá cũng được chính phủ áp dụng, đặc biệt đối với hai loại hàng hoá chủ yếu là nguyên li ệu thô và hàng hoá trung gian phục vụ sản xuất hoặc các hàng hoá lắp ráp sử dụng để xuất khẩu. Hệ thống pháp luật phục vụ các hoạt động chế biến xuất khẩu ở Việt Nam được thành lập năm 1991 thông qua những quy định về việc thành lập các khu ch ế xu ất. H ệ th ống này đang d ần dần đưa Việt Nam lại gần với thị trường thế giới hơn, tránh được sự bóp méo và kiểm soát nhập khẩu như trước đây. Nhờ đó, hoạt động sản xu ất và ch ế bi ến xu ất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Các hàng rào phi thuế quan: Chính phủ đã sử dụng một loạt các biện pháp phi thuế quan để kiểm soát và điều tiết nhập khẩu. Hệ thống cấp gi ấy phép nhập kh ẩu và côta thực sự được nới lỏng khi hệ thống danh mục hàng XNK chịu thuế được đưa vào áp dụng năm 1992 theo nghị định 114-HĐBT. Theo Ngh ị định này, s ố lượng m ặt hàng nhập khẩu phải chịu quản lý bằng hạn ngạch đã gi ảm đáng k ể, và m ọi hàng hoá đều được tự do XNK và chịu điều tiết bằng thuế XNK, trừ danh m ục hàng c ấm nh ập khẩu, cấm xuất khẩu, danh mục hàng XNK được quản lý bằng hạn ngạch. Hi ện t ại, Việt Nam đang cố gắng loại bỏ hạn ngạch, côta theo đúng ti ến trình th ực hi ện hi ệp định thương mại Việt - Mỹ, hạn chế các khoản phụ phí nhập khẩu, ban hành nh ững quy định mới về giá trị tính thuế hải quan, và mở r ộng quyền kinh doanh XNK đ ối v ới các hình thức doanh nghiệp khác ngoài thành phần kinh tế Nhà nước.
  12. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 Những hạn chế về quyền giao dịch thương mại truyền thống cũng là một trong những hàng rào phi thuế quan quan trọng mà chính phủ đã s ử dụng. Quyền giao dịch buôn bán, thường được gọi là thương mại Nhà n ước, đơn gi ản là quyền XNK hàng hoá, đã được nới lỏng. Trước năm 1986, quyền XNK hàng hoá ch ủ yếu n ằm trong tay Nhà nước dưới dạng những tổng công ty XNK mang tính chất đ ộc quy ền. Luật thuế XNK ra đời (1988) đã nới lỏng hơn đối với vi ệc thành l ập các t ổ chức thương mại nước ngoài, và việc Nhà nước độc quyền ngoại thương đã chấm dứt. Các tổ chức, các công ty thuộc nhiều thành phần kinh tế của Vi ệt Nam đã đ ược phép tham gia các hoạt động thương mại quốc tế. Trong những năm sau đó, quyền tham gia kinh doanh nhập khẩu của các doanh nghi ệp được m ở rộng h ơn. M ọi doanh nghi ệp đ ều có thể được cấp giấy phép kinh doanh XNK nếu đảm bảo m ột số điều ki ện nh ư ph ải có mức vốn lưu động tối thiểu là 200.000 USD, ho ạt động đúng ngành hàng đăng ký, và không hạn chế kim ngạch nhập khẩu.... Cho đến năm 1998, theo ngh ị đ ịnh 57/1998/NĐ-CP, những quy định về các điều kiện kinh doanh XNK đề ra tr ước đây đã được bãi bỏ hoàn toàn nhằm khuyến khích hơn nữa các thành phần doanh nghi ệp tham gia hoạt động XNK. ∗ Về cơ chế xuất khẩu Cải cách cơ chế xuất khẩu của nước ta cũng có những thành tích nổi bật như cải cách hệ thống quản lý nhập khẩu. Hệ thống lập kế ho ạch xu ất khẩu tr ực ti ếp mang tính cứng nhắc dần được thay thế bằng những ho ạt động phi t ập trung hoá và theo c ơ chế thị trường. Xu hướng thờ ơ và không coi trọng xuất khẩu của hệ thống thương mại trước cải cách dần dần đã được huỷ bỏ vì chính phủ phi tập trung hoá ho ạt đ ộng ngoại thương và đưa vào thực hiện các chính sách tỷ giá h ối đoái không đ ối x ử phân biệt với hàng xuất khẩu. Mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu: Thay đổi quan trọng nhất là mở rộng quyền kinh doanh thương mại cho hoạt động xuất khẩu. Như trên đã đề cập, quyền kinh doanh XNK đã được nới lỏng, và ngay cả những mặt hàng thi ết yếu Nhà n ước cũng không có chủ trương độc quyền hoàn toàn về kinh doanh XNK. Các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế doanh thu, n ếu doanh nghi ệp dùng lợi nhuận đầu tư vào sản xuất hàng xuất khẩu thì được giảm thuế lợi tức. Các doanh
  13. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 nghiệp sản xuất hàng cần thay thế nhập khẩu được xét giảm thuế doanh thu, thu ế l ợi tức trong thời gian sản xuất ban đầu; các doanh nghiệp gia công hàng hoá cho n ước ngoài được nhập khẩu miễn thuế thiết bị vật tư phục vụ sản xuất. K ể từ năm 1998, những ưu đãi đối với doanh nghiệp xuất khẩu được mở rộng hơn. Theo Ngh ị đ ịnh 57/1998/NĐ-CP Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép xuất khẩu những mặt hàng không nêu trong giấy phép đầu tư của mình. Còn các doanh nghi ệp trong nước thì được quyền xuất khẩu sản phẩm trực tiếp mà không cần có gi ấy phép XNK. Tháo dỡ hạn ngạch xuất khẩu: Việt Nam đã dỡ bỏ hạn ngạch đối với hầu hết các mặt hàng xuất khẩu, trừ một số mặt hàng thiết yếu đặc biệt là gạo. Trong Bản ghi nhớ về chế độ ngoại thương nộp cho WTO, gạo là nông sản duy nhất bị áp dụng hạn ngạch xuất khẩu vì lý do an ninh lương thực qu ốc gia. Cùng v ới đó, c ải cách thu ế xuất khẩu cũng được thực hiện. Ví dụ, thuế xuất khẩu đối với gạo đã giảm từ 2%/năm (1997) xuống còn 0%/năm (1998). Tuy nhiên, là m ột n ước đang phát tri ển nghèo, Việt Nam không phải đưa ra các cam kết cắt gi ảm tr ợ c ấp nông ph ẩm xu ất khẩu trong vòng 6 năm khi gia nhập WTO. Cải cách ngoại hối: Cải cách giá cả và phân bổ ngoại hối là một yếu tố khác rất quan trọng liên quan đến tăng trưởng xuất khẩu trong những năm qua. Trong giai đoạn trước cải cách, nhà nước đã cố định tỷ giá theo hướng định giá cao đ ồng n ội t ệ để trợ cấp nhập khẩu các hàng hoá ưu tiên có hàm lượng vốn cao mà trong n ước ch ưa thể sản xuất được. Vào cuối thập kỷ 1980, nhà n ước đã thay đổi dần các yếu t ố này của hệ thống ngoại hối, cơ chế hai tỷ giá đã được xoá bỏ để thay thế bằng c ơ chế một tỷ giá chủ đạo là tỷ giá trên thị trường ngo ại tệ liên ngân hàng. Các quy đ ịnh v ề kết hối ngoại tệ cũng được nới lỏng, các quy định về quản lý dự trữ ngoại hối đã có sự thay đổi, và các nghiệp vụ thị trường mở đang được xem xét áp dụng. Chính sách tỷ giá trong thời gian qua đã có những điều chỉnh, phân theo ba giai đoạn sau:  Thời kỳ thứ nhất: 1988-1991: tỷ giá được nới lỏng để đưa dần các yếu tố thị trường vào cơ chế xác định tỷ giá.
  14. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46  Thời kỳ thứ hai: 1992-1997 (trước khi nổ ra khủng hoảng tài chính tiền tệ), tỷ giá được ấn định và điều chỉnh gần như c ố định để kiềm chế lạm phát, ổn đ ịnh th ị trường tài chính tiền tệ và thu hút đầu tư nước ngoài.  Thời kỳ thứ ba: từ sau khủng hoảng đến nay, chính phủ đã có những đi ều chỉnh có tính chủ động hơn để khắc phục khủng ho ảng và tránh đ ồng Vi ệt Nam b ị định giá quá cao. Chính sách tỷ giá như trên đã có tác động tích c ực đến ngo ại th ương, đ ặc bi ệt đối với lĩnh vực xuất khẩu. Đồng tiền đã được định giá ngày càng sát v ới giá tr ị th ực của nó. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái như hiện nay vẫn cần ph ải có sự đi ều ch ỉnh h ơn nữa, tiến tới tự do hoá tỷ giá trong giai đoạn sớm nhất. Hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu cho nông nghiệp : Hiệp định nông nghiệp của WTO yêu cầu các nước phải giảm các hình thức trợ c ấp bóp méo th ương mại. Hiệp định nông nghiệp của WTO đã chia trợ cấp thành 4 nhóm: tr ợ c ấp h ộp xanh lơ, trợ cấp hộp xanh lá cây, trợ cấp hộp vàng và tr ợ c ấp h ộp đ ỏ. Tr ợ c ấp thu ộc di ện hộp xanh lơ và xanh lá cây là các biện pháp trợ cấp được phép mà không phải chịu s ự điều chỉnh. Trợ cấp hộp vàng ảnh hưởng đến thương mại, phải ràng buộc và cam kết điều chỉnh. Trợ cấp hộp đỏ bị cấm và phải loại bỏ khi đã tr ở thành thành viên chính thức của WTO. Ở Việt Nam, trợ cấp hộp vàng trước kia được sử dụng để hỗ trợ nông phẩm thông qua Quỹ bình ổn giá. Gần đây, Quỹ này được đổi tên là Qu ỹ h ỗ tr ợ xu ất khẩu. Tổng trợ cấp tính gộp hàng năm của Việt Nam trong thời kỳ 1996-1998 là khoảng 1.644,84 tỷ VND. Gạo, đường, thịt lợn, bông, gia súc, gia c ầm, d ứa là nh ững đối tượng được hưởng những khoản trợ cấp này. Tuy nhiên, lượng ti ền h ỗ tr ợ này của Việt Nam được WTO coi là thấp, chưa cần phải cắt gi ảm trong giai đo ạn hi ện nay. Bảng 1: Mức thưởng theo kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng năm 2002 Mặt hàng Mức Mặt hàng Mức thưởng thưởng (đ/USD) (đ/USD) Gạo các loại 180 Cà phê nhân 220 Thịt lợn sữa 280 Cà phê hoà tan, cà phê bột 100
  15. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 Thịt lợn miếng 900 Rau quả hộp 400 Thịt gia súc, gia cầm 100 Rau quả tươi, sấy khô và sơ 100 chế Chè 220 Lạc nhân 100 Hạt tiêu 100 Hạt điều 100 Thủ công mỹ nghệ 100 Hàng mây tre lá 100 Đồ nhựa 100 Hàng cơ khí 100 Việt Nam vẫn đứng trước những khó khăn lớn về thuế XNK cần giải quyết. Trong chính sách phát triển kinh tế theo định hướng xuất khẩu, Vi ệt Nam đã đạt đ ược những kết quả to lớn. Tốc độ tăng trưởng XNK trong giai đo ạn 1991-2000 là 18,4%, nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của GDP 2,6 lần. Xuất khẩu đạt tốc độ tăng trưởng cao, tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm đã qua chế biến tăng nhanh (t ừ 8% năm 1991 lên 31,4% năm 2002). Tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu được dựa vào vi ệc khai thác các nguồn lực tương đối dễ dàng, cần ít vốn đầu tư, hoặc cần đến vốn đầu tư c ủa bên ngoài (FDI), và gắn liền với việc phát triển nông nghi ệp, nông thôn nh ư g ạo, cà phê, thuỷ sản, dệt may, dầu thô, điện tử... Tuy nhiên, trong thực tế, mô hình th ương m ại của Việt Nam trong thời gian qua có xu hướng nghiêng về thay th ế nhập khẩu. Nhà nước đã khuyến khích đầu tư phát triển các ngành công nghiệp thay thế nhập kh ẩu và đa số các dự án FDI được phê duyệt là giành để sản xuất các sản phẩm ph ục v ụ th ị trường nội địa. Năm 1997, số ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu đ ược nhà n ước tập trung đầu tư là 11 ngành, trong khi số ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu là 3 ngành. 9 tháng đầu năm 2002, con số này tương ứng là 18 ngành và 2 ngành. Năm 2002, tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam đạt 5,1%/năm trong khi tăng tr ưởng nh ập khẩu đạt 10,8%/năm. Trong xu thế giá cả thế giới ngày càng giảm sút, xuất khẩu hàng hoá của Việt nam có nguy cơ càng sản xuất nhiều càng thua lỗ nặng. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước còn chiếm tỷ lệ khá lớn cũng là m ột nguyên nhân ảnh hưởng đến mô hình thương mại của Việt nam trong thời gian qua. Xu h ướng b ảo h ộ mậu dịch đi ngược với định hướng chiến lược trong thời gian qua có nguy cơ đẩy Việt Nam đi vào thua thiệt khi tiến hành tự do hoá thương mại theo quy định của WTO. Bảng 2: Mối quan hệ giữa xuất nhập khẩu với tăng trưởng kinh tế (%)
  16. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Xuất khẩu 33,2 26,6 1,9 23,3 25,5 3,8 5,1 Nhập khẩu 36,6 4,0 -0,8 2,1 33,2 3,4 10,8 GDP 9,34 8,15 5,76 4,77 6,79 6,8 7,0 Nguồn: Niên giám thống kê 2002 Ngoài ra, mức thuế quan và các hàng rào phi thuế quan của Vi ệt Nam còn cao . Điều này có tác dụng bảo hộ các doanh nghiệp và các ngành công nghi ệp non tr ẻ trong nước, tuy nhiên đã làm cho biểu thuế của Việt Nam phức tạp, chồng chéo, khó quản lý và tạo điều kiện thuận lợi cho việc trốn thuế, lậu thuế. Ngoài ra, việc áp dụng tính giá tính thuế tối thiểu như hiện nay của Việt Nam chưa phù h ợp v ới nh ững quy đ ịnh của WTO. Hiện tại, chúng ta vẫn sử dụng các công cụ phi thuế quan như cấm, tạm ngưng, hạn ngạch, chỉ tiêu, giấy phép không tự động, phụ thu ... và những công c ụ này sẽ phải cắt giảm và tiến tới xoá bỏ khi gia nhập WTO. II/ Những đổi mới thuế XNK sau khi Việt Nam gia nhập WTO 1. Đổi mới trong các chính sách của Nhà nước: Thực hiện các chính sách về thương mại hàng hóa: th ương m ại không phân bi ệt đối xử, tự do hóa thương mại, cạnh tranh công bằng, chính sách minh bạch và m ột s ố ngoại lệ. Về thương mại không phân biệt đối xử, thực hiện đối xử tối huệ quốc (MFN) tức là đối xử bình đẳng giữa hàng hóa xuất khẩu từ các nước thành viên WTO liên quan đến thuế xuất, nhập khẩu, thuế nội địa, qui định liên quan đến XNK và bán hàng trong nước. (Ngoại lệ: Khu vực mậu dịch tự do, GSP). Chính sách đối xử quốc gia (NT): đối xử bình đẳng giữa hàng hóa sản xuất trong n ước và hàng hóa nh ập kh ẩu tương tự về chính sách thuế nội địa, các qui định liên quan đến bán hàng trong nước. Về tự do hóa thương mại, cấm áp dụng hạn chế định lượng XNK (VD: cấm nhập khẩu, hạn ngạch, cấp phép nhập khẩu tùy ý. Sau khi gia nhập WTO, không được tăng thuế nhập khẩu lên cao hơn mức đã ràng buộc ở Biểu cam kết thuế.
  17. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 Về thương mại công bằng, cấm áp dụng trợ cấp dựa vào thành tích xuất khẩu hoặc sử dụng hàng nội địa thay cho hàng nhập khẩu; áp d ụng thu ế đ ối kháng khi hàng nhập khẩu được trợ cấp gây thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất trong n ước c ủa nước nhập khẩu; áp dụng thuế chống bán phá giá khi hàng nhập kh ẩu đ ược bán phá giá gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong n ước. Ngoài ra còn có các biện pháp tự vệ và những quy định về doanh nghiệp thương mại Nhà nước. Thực hiện những cam kết đa phương và những cam kết về việc mở cửa th ị trường: cam kết cắt giảm thuế quan, cam kết về hạn ngạch thu ế quan, cam kết m ở của thị trường dịch vụ,… Trước hết là cam kết về quyền kinh doanh XNK, quy định: Doanh nghiệp và cá nhân nước ngoài được kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu như doanh nghi ệp và cá nhân VN kể từ khi gia nhập (trừ một số trường hợp cụ thể); được đăng ký quyền XNK tại VN mà không cần có hiện diện; có quyền nhập khẩu (không bao gồm quyền phân phối) tức là được nhập khẩu hàng hóa và bán cho doanh nghiệp, cá nhân có quyền phân phối ở Việt Nam. Về thuế nội địa, Việt Nam cam kết: trong vòng 3 năm kể từ khi gia nhập WTO: áp dụng một mức thuế tuyệt đối hoặc phần trăm thuế TTĐB thống nhất với rượu trên 20 độ cồn,8 một mức thuế phần trăm thuế TTĐB với bia. Về hạn chế số lượng hàng nhập khẩu , cam kết: không áp dụng hạn ngạch nhập khẩu; xóa bỏ lệnh cấm nhập khẩu đối với xe máy phân kh ối l ớn (31/5/2007), ô tô cũ sản xuất 5 năm trở lại nhưng đánh thuế nhập khẩu cao, thuốc lá điếu, xì gà, các sản phẩm chứa phần mềm mã hóa lưu thông rộng rãi trên th ị tr ường; ch ỉ ki ểm duy ệt nội dung văn hóa phẩm ở lô hàng nhập khẩu đầu tiên. Về việc xác định trị giá tính thuế nhập khẩu, áp dụng Hiệp định về xác định trị giá tính thuế của WTO (CVA) kể từ khi gia nhập: lấy giá tr ị đ ể tính thu ế nh ập kh ẩu theo giá trị giao dịch thực tế; bỏ bảng giá tối thiểu,… 8 Chính sách thuế TTĐB của VN trước khi gia nhập: Rượu 40o trở lên: 65% Rượu từ 20o đến dưới 40o: 30% Bia chai và bia lon: 75% Bia tươi và bia hơi: 30%
  18. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 Chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ, bãi bỏ trợ c ấp nông nghi ệp (v ề tr ợ c ấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa). Đối với các đặc khu kinh tế: tuân thủ các nguyên tắc của WTO và cam kết về trợ cấp bị cấm, thuế nội địa, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại trong các đặc khu này: các doanh nghiệp sẽ không cần phải đáp ứng các điều kiện về xuất khẩu hay tỷ lệ nội địa hóa khi đầu tư vào các khu này; hàng hóa khi nh ập vào và xu ất ra khỏi các khu này sẽ chịu sự điều chỉnh của các quy định (v ề thu ế, v ề th ủ t ục h ải quan v.v.) theo đúng các quy định của WTO và cam kết của Việt Nam. Những cam kết về thuế quan: những điều chỉnh về biểu thuế nhập khẩu MFN9, cắt giảm thuế quan theo ngành10 (cắt giảm thuế nhập khẩu đối với các sản phẩm của một ngành); áp dụng hạn ngạch thuế quan với nông sản (dưới m ức h ạn ngạch: thu ế suất thấp, trên mức hạn ngạch: thuế suất cao), bảo đảm việc áp dụng, phân bổ và quản lý hạn ngạch thuế quan một cách minh bạch, không phân bi ệt đ ối xử và tuân th ủ theo đúng các quy định của WTO. 2. Khung thuế xuất nhập khẩu 2008: Theo Bộ Tài chính, hiện nay các nước ASEAN đã xây dựng và thống nhất áp dụng Danh mục AHTN 2007 làm cơ sở để xây dựng Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi. VN cũng đã áp dụng Danh mục Biểu thuế nh ập khẩu ưu đãi mới từ ngày 1/1/2008. Theo đó, Biểu khung thuế xuất khẩu mới được xây dựng nhằm tiếp tục thực hiện mục tiêu hạn chế xuất khẩu những sản phẩm thô, khuyến 9 Biểu thuế nhập khẩu MFN: Phần I - Giảm bình quân từ 17,4% à 13,4% - Nông sản: 23,5% à 20,9% - Công nghiệp: 16,8% à 12,6% - Giảm nhiều nhất: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc và thiết bị điện - điện tử 10 Tham gia 100%: sản phẩm công nghệ thông tin (0%), dệt may (13,2%) và thiết bị y tế (0%) Tham gia từng phần: thiết bị khoa học, thiết bị xây dựng
  19. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 khích sử dụng nguyên liệu để tái chế và về cơ bản vẫn giữ nguyên khung thuế suất với hầu hết các nhóm hàng chịu thuế. Khung thuế suất trần của một số nhóm hàng được điều chỉnh tăng lên là dầu mỏ (từ 0-8% lên 0-20%); than đá (từ 0-5% lên 0-20%); quặng kim loại (từ 0-3%; 0-5% và 5-20% lên thành 0-20%) nhằm định hướng hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô và tập trung cho sản xuất trong nước là chính. Các mặt hàng được giảm thuế suất trần và sàn là nhóm hàng phế liệu sắt thép (từ 30-40% xuống 10-30%); phế liệu kim loại màu (từ 40- 50% xuống còn 10-40%) để phù hợp với cam kết gia nhập WTO. Trên cơ sở Biểu khung thuế nhập khẩu gồm 1.221 nhóm mặt hàng hiện hành, Bộ Tài chính đã ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi với 10.680 dòng thuế chi tiết và theo cam kết WTO, VN ràng buộc với toàn bộ biểu thuế này. Hầu hết các mặt hàng thuộc nhóm có thuế suất cam kết thấp h ơn mức trần, chỉ một số mặt hàng có mức cam kết thấp hơn mức thuế sàn của khung thuế suất. Do đó, Biểu khung thuế nhập khẩu ưu đãi mới sẽ giảm mức thuế suất trần khung của 1.149 nhóm hàng (chi ếm 94%) đ ể phù hợp với cam kết WTO và những nhóm hàng mà m ức khung thu ế su ất hiện hành đang cao hơn nhiều so với thực tế áp dụng. Giảm mức thuế suất sàn khung của 202 nhóm hàng (chi ếm khoảng 16,5% trong Biểu khung) để thực hiện cam kết gia nhập WTO và l ộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu trong điều kiện thực hiện các cam k ết qu ốc t ế, đồng thời góp phần giảm thuế đầu vào đối với những nhóm nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Mức sàn khung của 1.019 nhóm hàng khác v ẫn được giữ nguyên.
  20. Thuế XNK ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập Nhóm TT lớp Anh 5-TCQTB- K46 Cũng theo Bộ Tài chính, biểu khung thuế xuất khẩu, nhập kh ẩu hiện hành đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng để đảm bảo phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta cần phải sửa đổi. Trước hết, vì theo cam kết gia nhập WTO, hầu hết các mức thuế của những mặt hàng trong Biểu thuế NK ưu đãi đều thấp hơn mức trần của khung và nhiều mặt hàng có mức thuế suất cam kết thấp h ơn mức sàn của khung. Do đó, để phù hợp với cam kết, chúng ta ph ải h ạ các m ức thuế suất trần và sàn. Thứ hai, từ năm 2008, VN phải thực hiện Danh mục Biểu thuế chung ASEAN mới (AHTN 2007) đã được các nước xây dựng trên Hệ thống mô tả và mã hàng hóa HS2007 của Tổ chức Hải quan thế giới, trong đó mô tả của nhiều nhóm mặt hàng đã được thay đổi so với Danh mục biểu thuế mà chúng ta đang áp dụng. Ngoài ra, Biểu khung thuế xuất khẩu, nhập khẩu ưu đãi mới cũng được xây dựng trên nguyên tắc đảm bảo thực hiện chính sách bảo h ộ sản xuất trong nước có chọn lọc, có điều kiện và th ời hạn; ổn đ ịnh khung thuế suất đối với những nhóm mặt hàng đang được thực hiện có hiệu quả và phù hợp với cam kết quốc tế. Tháng 5/2008, Bộ Tài chính cân nhắc phương án giảm thu ế nhập khẩu từ mức 15% xuống 5 hoặc 0% đối với mặt hàng xăng dầu phục vụ lĩnh vực hàng không, nhằm tháo g ỡ khó khăn cho các nhà vận chuyển trong bối cảnh giá thế giới không ngừng tăng cao. Theo Bộ Tài chính, giá nhiên liệu thế giới liên tục tăng cao trong thời gian qua khiến các hãng vận tải hàng không nh ư Vietnam Airlines, Pacific Airlines... bị lỗ trên các chuyến nội địa. Trong khi đó thu ế nh ập

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản