LUẬN VĂN: Bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay

Chia sẻ: dellvietnam

Bình đẳng giới một cách toàn diện, triệt để là lý tưởng mà nhân loại đã theo đuổi hàng nhiều thế kỷ. Đầu thế kỷ XIX, nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp S. Phuriê đã nhận định: trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ phát triển của xã hội. Luận điểm này tiếp tục được khẳng định trong học thuyết Mác – Lênin ngay từ khi nó ra đời và được phát triển ở trình độ mới cao hơn ở các giai đoạn tiếp theo. Những quan điểm trên đã cổ vũ...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay

LUẬN VĂN:


Bình đẳng giới trong lao động và
việc làm ở nông thôn tỉnh
Bình Phước hiện nay
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Bình đẳng giới một cách toàn diện, triệt để là lý tưởng mà nhân loại đã theo đuổi
hàng nhiều thế kỷ. Đầu thế kỷ XIX, nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp S.
Phuriê đã nhận định: trình độ giải phóng phụ nữ là thước đo trình độ phát triển của xã hội.
Luận điểm này tiếp tục được khẳng định trong học thuyết Mác – Lênin ngay từ khi nó ra
đời và được phát triển ở trình độ mới cao hơn ở các giai đoạn tiếp theo. Những quan điểm
trên đã cổ vũ cho nhiều phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng nam nữ, trở thành một
trong những mục tiêu phấn đấu của nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới trước đây và cho
tới hiện nay. Chính vì vậy từ giữa những năm 1980 đến nay, bình đẳng giới là vấn đề thu
hút sự quan tâm của các nhà khoa học cũng như quản lý trên thế giới và lĩnh vực này đã đạt
được nhiều thành quả đáng khích lệ. Trên bình diện xã hội, phụ nữ ngày càng được thu hút
vào các hoạt động của xã hội, trong phạm vi gia đình, người phụ nữ cũng đã nhận được sự
chia sẻ trách nhiệm của nam giới. Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử, tư tưởng trọng nam kinh
nữ, áp lực công việc gia đình, những định kiến có tính chất bất công đối với phụ nữ vẫn
đang tồn tại ở những mức độ khác nhau trong nhiều quốc gia, khu vực. Đặc biệt đối với các
nước đang phát triển thì khoảng cách bất bình đẳng giới đang còn khá lớn, hạn chế khả
năng đóng góp của mỗi giới vào sự phát triển nói chung làm ảnh hưởng tới sự phát triển
bền vững.
Ở Việt Nam, tư tưởng về bình đẳng giới đã có ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra
đời và được thể hiện trong văn kiện đầu tiên của Đảng. Trong Chính cương vắn tắt của Đảng,
Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố thực hiện nguyên tắc “nam nữ bình quyền”. Hiến pháp đầu
tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã khẳng định: phụ nữ và nam giới được bình đẳng
với nhau trên mọi phương diện. Hơn 70 năm qua, tư tưởng bình đẳng giới tiếp tục được Đảng,
Nhà nước tích cực chỉ đạo triển khai thực hiện một cách triệt để. Nhờ vậy, vị trí, vai trò của
người phụ nữ Việt nam đã có những thay đổi cơ bản theo hướng ngày càng bình đẳng hơn với
nam giới. Theo báo cáo của Liên hiệp quốc, năm 2008, chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt
Nam khá cao, chiếm vị trí thứ 105 trong tổng số 177 nước. Bất bình đẳng giới về phát triển con
người càng lớn thì GDI (chỉ số phát triển giới) của nước đó càng thấp so với HDI. Ở Việt Nam,
giá trị GDI bằng 0,732 so với HDI là 0,733, (gần như nhau). Trong số 156 nước có hai giá trị
này, chỉ có 8 nước có tỷ số cao hơn Việt Nam [20, tr.1].
Phụ nữ Việt Nam nói chung, phụ nữ nông thôn nói riêng đã tham gia tích cực và có
đóng góp đáng kể trong chiến lược xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, ổn định xã hội.
Trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, việc hình
thành và phát triển nhiều thành phần kinh tế, việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn đã tạo ra những thuận lợi, mở ra những cơ hội cho sự phát triển của
lực lượng lao động nói chung, lao động nữ nói riêng, nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn,
thách thức và yêu cầu mới đối với lực lượng này, làm cho khoảng cách bất bình đẳng giới
trong lao động và việc làm nông thôn có xu hướng gia tăng nhanh hơn so với ở thành thị. Do
vậy, thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm nói chung, ở nông thôn nói riêng
nhằm tạo điều kiện để phụ nữ được hưởng các quyền cơ bản của mình, tham gia và hưởng
thụ một cách bình đẳng và đầy đủ trong mọi khía cạnh của đời sống chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội đang trở thành mục tiêu được quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước hiện
nay.
Bình Phước là một tỉnh miền núi, thuộc một trong 6 tỉnh của khu vực Đông Nam bộ. Đến
nay, Bình Phước vẫn là một tỉnh nông nghiệp với cơ cấu kinh tế năm 2008: nông nghiệp 53,17%,
công nghiệp 21,14%, dịch vụ 25,69% . Khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế cùng với sự hội nhập kinh tế thế giới đã tạo
cho nông thôn Bình Phước có bước khởi sắc. Cũng như nam giới, phụ nữ ở Bình Phước có nhiều
cơ hội tham gia xây dựng kinh tế làm giàu cho bản thân và gia đình. Tuy nhiên, lao động nữ ở
nông thôn tỉnh Bình Phước đang phải đối đầu với những thách thức mới, đó là lực lượng lao động
nữ nông thôn của tỉnh tăng lên không ngừng và luôn nhiều hơn lao động nam, trong khi việc làm
dành cho lao động nữ ở nông thôn của tỉnh lại hạn chế, khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường
lao động yếu hơn nam giới. Thực tế cho thấy, vấn đề bình đẳng giới nói chung, bình đẳng giới
trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay vẫn còn là vấn đề cần quan tâm
giải quyết.
Từ những lý do nêu trên, với cương vị là một cán bộ công tác tại Hội Liên hiệp phụ
nữ tỉnh Bình Phước, học viên mạnh dạn lựa chọn đề tài Bình đẳng giới trong lao động và
việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay làm luận văn tốt nghiệp hệ cao học,
nhằm góp phần đề xuất một số giải pháp tăng cường bình đẳng giới trong lao động và việc
làm cho khu vực nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Thúc đẩy bình đẳng giới là một trong những vấn đề có tính toàn cầu, là mối quan
tâm lớn của nhân loại nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng. Trong giai đoạn hiện nay,
thúc đẩy bình đẳng giới là vấn đề hết sức quan trọng góp phần bảo đảm sự phát triển bền
vững. Thực tiễn cho thấy, vấn đề giải phóng phụ nữ từ lâu đã được các nhà tư tưởng và các
nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin quan tâm nghiên cứu và được đề cập rất sớm. Ở
Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản và Nhà nước ta ngay từ những ngày đầu
của cách mạng đã quan tâm đến vấn đề này, coi việc giải phóng phụ nữ, nâng cao vai trò,
vị trí của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội, thực hiện bình đẳng nam nữ là một nội
dung của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Cùng với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và tâm huyết của các nhà khoa học, một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về vấn đề giới, bình đẳng giới đã được đặt ra để xem xét và
đề ra những biện pháp giải quyết. Những năm gần đây, nhiều trung tâm nghiên cứu khoa
học về gia đình và phụ nữ đã được thành lập, đã có nhiều công trình nghiên cứu góp phần
luận giải nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra trong nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong gia
đình và ngoài xã hội, thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có liên quan đến giới và bình đẳng giới
tiêu biểu như:
- GS Lê Thi (1998) “Phụ nữ và bình đẳng giới trong đổi mới ở Việt Nam”, Nxb
Phụ nữ, Hà Nội, là một trong những công trình nghiên cứu chỉ rõ thực trạng đời sống lao
động nữ trong giai đoạn đổi mới của đất nước và những vấn đề cần quan tâm giải quyết.
- Đỗ Thị Bình, Lê Ngọc Lân (1996) “Phụ nữ nghèo nông thôn trong điều kiện kinh
tế thị trường”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. GS Lê Thi (1999): “Phụ nữ và bình đẳng
giới trong đổi mới ở Việt Nam”, “Việc làm, đời sống phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở
Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các nhà
khoa học đã làm rõ sự cần thiết phải tạo các điều kiện, cơ hội đề người phụ nữ nông thôn
được vươn lên, phát huy vai trò của mình trong công cuộc đổi mới hiện nay.
- Trung tâm Nghiên cứu gia đình và phụ nữ (1998-2000) “Điều tra cơ bản về gia
đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa”. Đề tài này chỉ ra sự biến đổi các mối quan hệ cơ bản trong gia đình như quan
hệ cha mẹ, vợ chồng, con cái. Qua đó phân tích, làm rõ quan hệ bình đẳng giới trong gia
đình cũng có sự chuyển biến theo một cách rõ rệt. Nếu trước đây người mang lại thu nhập
chính cho gia đình đồng thời cũng là người có uy quyền tối cao khi đưa ra các quyết định
lớn trong gia đình là người đàn ông trong gia đình, thì ngày nay vị thế của người phụ nữ
được khẳng định hơn đối với các vấn đề này.
- TS Hoàng Bá Thịnh (2002) “Vai trò của người phụ nữ nông thôn trong công
nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trong đó tác giả
đã phân tích những đóng góp quan trọng của phụ nữ nông thôn đối với sự phát triển nông
nghiệp, nông thôn, qua đó kiến nghị một số giải pháp chủ yếu về phát triển chuyên môn -
kỹ thuật và nâng cao sức khỏe cho phụ nữ nông thôn.
- TS Trần Thị Thu (2003) Tạo việc làm cho lao động nữ trong thời kỳ công nghiệp
hóa, hiện đại hóa (phân tích tình hình tại Hà Nội), Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. Cuốn
sách đã chỉ ra, trong thời kỳ đổi mới đất nước đã và đang tạo cơ hội tìm kiếm việc làm
cho lao động nữ trong các khu vực kinh tế với nhiều ngành nghề đa dạng và phong phú,
nhưng cũng đặt ra những khó khăn tìm kiếm việc làm, mà người chịu thiệt thòi là lao
động nữ.
- Vũ Tuấn Huy (2004) “Xu hướng gia đình ngày nay” (một vài đặc điểm từ nghiên
cứu thực nghiệm tại tỉnh Hải Dương). Công trình nghiên cứu này đã phân tích về sự biến
đổi gia đình ngày nay, cuốn sách cũng nhấn mạnh “Sự biến đổi cơ cấu kinh tế - xã hội,
các yếu tố thị trường, thay đổi công nghệ, di cư, sự biến đổi của định hướng giá trị đã tác
động đến sự hình thành hôn nhân, quan hệ giữa các thế hệ, phân công lao động trong gia
đình, số con và khoảng cách sinh con…”.
- PGS,TS Phan Thanh Khôi, PGS,TS Đỗ Thị Thạch (chủ biên) (2007) “Những vấn
đề giới: từ lịch sử đến hiện đại”, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. Công trình nghiên cứu
này đã đi sâu phân tích về vấn đề giới trong tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin
và Hồ Chí Minh, làm rõ địa vị của người phụ nữ trong gia đình và xã hội ở các xã hội có
tình trạng đối kháng giai cấp, áp bức, bất công. Các tác giả còn đi sâu phân tích quan
điểm giới, bình đẳng giới trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước…
- Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật Bình đẳng giới, Nxb
chính trị quốc gia, Hà Nội. Đề cập đến bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã
hội và gia đình như bình đẳng giới trong lĩnh vực: chính trị; kinh tế; lao động; giáo dục
và đào tạo; khoa học và công nghệ; văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế; gia đình.
- GS,TS Trịnh Quốc Tuấn, PGS, TS Đỗ Thị Thạch (chủ biên) (2008) Khoa học
giới những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội. Công trình
nghiên cứu này ngoài việc nêu bật quan điểm về giới và bình đẳng giới của các nhà kinh
điển chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh còn đề cập đến vấn đề giới trong lĩnh vực lãnh
đạo quản lý, văn hóa, giáo dục đào tạo, giới trong chiến lược giảm nghèo, trong gia đình
và chiến lược dân số, giới trong lĩnh vực kinh tế - lao động.
Ở Bình phước, những năm qua liên quan đến đề tài có một số tư liệu sau:
- Báo cáo tình hình phát triển kinh tế, xã hội của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh
Bình Phước các từ năm 2005 đến 2008.
- Báo cáo tổng kết công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh từ năm 2005 đến 2008.
- Báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh từ năm 2005 đến 2008.
Kết quả nghiên cứu của các đề tài, các công trình khoa học, các báo cáo nêu trên là
những tài liệu tham khảo rất quý giá cho việc nghiên cứu về bình đẳng giới trong lao
động và việc làm. Song những công trình ấy đã đề cập đến vấn đề phụ nữ, giới và phát
triển, vấn đề bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở một phạm vi rộng, có tính chất
bao quát chưa đi sâu làm rõ vấn đề bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn
nói chung, ở khu vực nông thôn tỉnh Bình Phước nói riêng. Trước tình hình đó, tác giả
chọn đề tài “Bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện
nay” với mong muốn góp phần công sức nhỏ của mình vào sự nỗ lực chung của toàn xã
hội đối với vấn đề giải phóng phụ nữ cả về lý luận lẫn thực tiễn.

3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích
Trên cơ sở nhận diện đúng thực trạng bình đ ẳng giới trong lao động và việc làm
ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay, luận văn nêu những định h ướng và đề xuất một
số giải pháp nhằm thúc đẩy bình đẳng giới ở lĩnh vực này trong thời gian tới.

Nhiệm vụ
- Phân tích cơ sở lý luận của vấn đề bình đẳng giới trong lao động và việc làm.
- Làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện bình đẳng giới
trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay.
- Nêu lên những định hướng cơ bản và đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần
thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động và việc làm ở Bình Phước trong thời gian
tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng bình đẳng giới trong lao
động và việc làm, các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia lao động của phụ nữ và nam giới
ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay.
Phạm vi: Đề tài tập trung nghiên cứu về tình hình thực hiện bình đẳng giới trong
lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước từ khi tách tỉnh (1997) đến nay.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề bình đẳng giới và
mối quan hệ giữa bình đẳng giới với lao động và việc làm nói riêng và sự phát triển của
xã hội nói chung.
- Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp kết hợp
logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, điều tra xã hội học - so sánh.

6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Trên cơ sở khái quát về giới, bình đẳng giới, lao động, việc làm và vai trò của
bình đẳng giới trong lao động và việc làm, luận văn góp phần làm rõ tầm quan trọng của
bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay.
- Từ việc khảo sát, đánh giá đúng thực trạng bình đẳng giới trong lao động và việc
làm ở nông thôn cấp tỉnh, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, luận văn đề xuất một số
định hướng cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục thúc đẩy bình đẳng giới trong thời
gian tới ở Bình Phước.

7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho việc hoạch định chính sách, đặt biệt là chính
sách xã hội có liên quan đến yếu tố giới trong lĩnh vực lao động và việc làm ở nông thôn
tỉnh Bình Phước thời gian tới.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành có
liên quan ở tỉnh Bình Phước nhằm điều chỉnh các chủ trương, chính sách theo hướng có
trách nhiệm giới.

8. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận
văn gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM


1.1. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ Ý NGHĨA CỦA BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM
1.1.1. Những khái niệm cơ bản
Giới và giới tính là hai khái niệm cặp đôi, có liên hệ chặt chẽ với nhau. Do đó, để
hiểu rõ khái niệm giới trước hết cần tìm hiểu khái niệm giới tính.
Khái niệm Giới tính
Phụ nữ và nam giới khác nhau ở hai phương diện: sinh học và xã hội. Những khác
biệt về mặt sinh học của phụ nữ và nam giới gọi là sự khác biệt về mặt giới tính. Như vậy
“giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ” [36, tr.2], là một thuật ngữ chỉ sự khác
biệt giữa nam giới và nữ giới xét về mặt sinh học, sự khác biệt căn bản về hình dáng bên
ngoài của cơ thể, sự khác nhau về chức năng sinh học tạo nên vai trò của giới tính như:
phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ. Về mặt sinh học, nam và nữ
không giống nhau trên nhiều phương diện nhưng chủ yếu nhất là hình dáng, giọng nói và
chức năng sinh sản.
Giới tính có đặc trưng cơ bản như: Tính bẩm sinh: Về phương diện sinh lý (hoóc
môn, nhiễm sắc thể, bộ phận sinh dục…) nam giới và nữ giới đã khác nhau ngay từ trong
bào thai, được quy định bởi tự nhiên, không theo và không phụ thuộc vào mong muốn
của con người. Nó ổn định về tương quan giữa hai giới trong quá trình sinh sản. Chức
năng sinh sản của nữ giới hay nam giới là không thể thay thế, thay đổi hay chuyển dịch
cho nhau. Tính đồng nhất: Nam giới hay nữ giới trên khắp thế giới đều có cấu tạo về mặt
sinh lý học giống nhau, đều tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình sinh sản
như nhau. Tính không đổi và không thay đổi: Về phương diện sinh lý, chức năng sinh sản
của nữ giới hay nam giới là không thể thay đổi hay chuyển dịch cho nhau được. Sự khác
biệt về giới tính hầu như bất biến cả về thời gian cũng như về không gian. Ngoài những
khác biệt sinh học như đã nêu, giữa phụ nữ và nam giới còn khác nhau ở nhiều đặc điểm
về mặt xã hội, và những khác biệt này dùng để phân biệt giới.

Khái niệm Giới
Giới là khái niệm khoa học ra đời từ môn nhân loại học, chỉ sự khác biệt giữa nam
và nữ về mặt xã hội. Nói về giới là nói về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội
quan niệm hay quy định cho nam và nữ.
Vai trò, trách nhiệm và quyền lợi đó thể hiện trước hết ở sự phân công lao động,
phân chia các nguồn của cải vật chất và tinh thần, tức là cách đáp ứng nhu cầu của nam và nữ
trong xã hội. Theo quan niệm và thói quen đã có từ lâu đời ở nhiều nước, nhiều khu vực thì
phụ nữ phải làm hầu hết các công việc trong nhà như nấu ăn, chăm sóc con, phục vụ
chồng… Còn nam giới có trách nhiệm lao động sản xuất để nuôi gia đình và làm các công
việc xã hội. Khi sinh ra con người chưa có trong bản thân sự phân biệt giới mà họ dần tiếp
thu và chấp nhận từ nền nếp gia đình, quy ước của xã hội và chuẩn mực của nền văn hóa.
Như vậy, khi nói giới tính là nói đặc điểm của con người do tự nhiên quy định. Nó
ổn định, thậm chí, hầu như bất biến đối với cả nam và nữ, xét cả về mặt không gian và
thời gian. Chẳng hạn, phụ nữ trong mọi thời đại, mọi chế độ chính trị, mọi nền văn hóa
đều giống nhau ở khả năng mang thai và sinh sản. Còn nói đến giới là nói đến địa vị xã
hội, thái độ và hành vi ứng xử giữa nam và nữ do hoàn cảnh, điều kiện, văn hóa, xã hội…
tạo nên. Địa vị, thái độ và hành vi đó không bất biến mà thay đổi theo sự thay đổi của
hoàn cảnh, điều kiện xã hội, văn hóa.
Giới và giới tính có quan hệ chặt chẽ với nhau. Giới tính là tiền đề sinh học của
giới, là dấu hiệu đầu tiên và lâu dài để phân biệt nam, nữ. Không nên và không thể xem
nhẹ sự khác biệt về giới tính giữa nam, nữ. Trái lại, cần tìm hiểu rõ những sự khác biệt
này vì điều đó cho phép người ta hiểu được đầy đủ hơn năng lực, sở trường, nhu cầu
riêng của nam, nữ để có sự phân công lao động phù hợp nhằm phát huy năng lực và đáp
ứng đúng hơn nhu cầu riêng của nam và nữ.
Hiểu rõ vai trò của giới và giới tính trong mối quan hệ qua lại là điều cần thiết để
tổ chức và triển khai sự phân công lao động hợp lý. Tuy thế cần thấy vai trò của từng
nhân tố và quan hệ giữa chúng không đơn giản và luôn thay đổi do tác động của hoàn
cảnh xã hội, văn hóa, điều đó được biểu hiện rõ ở thời kỳ đầu của lịch sử loài người, ở
thời kỳ này, nhân tố giới tính chi phối mạnh hơn, bởi con người sống theo bản năng tự
nhiên, còn quan hệ xã hội thì mới sơ khai. Đặc điểm tự nhiên của con người lúc đó tác
động mạnh hơn so với tác động của quan hệ xã hội. Do vậy, đặc điểm giới tính của nhóm
xã hội nào phù hợp với tính chất, trình độ của nền sản xuất thì nhóm đó tự nhiên có được
vị trí cao hơn. Ví dụ, thời kỳ đầu tiên của lịch sử loài người, đặc điểm giới tính của phụ
nữ phù hợp hơn với nền kinh tế hái lượm và trồng trọt và đó chính là cơ sở tự nhiên của
chế độ mẫu quyền. Khi xã hội chuyển sang nền kinh tế lấy chăn nuôi săn bắn là chính thì
đặc điểm giới tính của đàn ông tỏ ra phù hợp và họ đã giành được vị trí thống trị của phụ
nữ trước đó và chế độ phụ quyền được xác lập.
Từ khi chế độ phụ quyền được xác lập, đàn ông với ưu thế sẵn có đã buộc xã hội
chấp nhận quan niệm và cách sắp xếp của họ. Điều đó được nâng lên thành hệ tư tưởng và
được thể chế hóa thành pháp luật, lâu dần thành thói quen, thành nếp sống, phong tục tập
quán… Đến lúc này, giới tính được nhìn nhận và giải thích theo quan niệm thiên lệch của
nam giới. Thực nghiệm khoa học và thực tế xã hội đã chứng minh đầy thuyết phục rằng khả
năng tư duy logic của nữ không kém nam, mặt khác, khả năng chăm sóc, nuôi dạy con của
nam cũng không khác nữ nhiều. Tuy nhiên từ trước đến nay, trong xã hội gần như tuyệt đối
hóa sự phân công, nam thì lao động trí óc, làm công việc khoa học, phụ nữ thì nuôi con và
làm mọi công việc nhà. Sự phân công đó in sâu vào quan niệm của mọi người, cả nam và nữ.
Nhiều thế hệ được giáo dục theo tinh thần chấp nhận, tuân thủ sự phân công đó từ trong gia
đình, nhà trường và xã hội.
Trong xã hội, người ta thường lấy sự khác biệt về giới tính để giải thích sự khác
biệt về giới. Các quan niệm rập khuôn, những thói quen đã làm những điều mà xã hội
chấp nhận thường được coi là thước đo hành vi, là chuẩn mực đánh giá phẩm chất của
mỗi giới. Những tác động này làm duy trì và tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa nam
giới và nữ giới trong xã hội.
Qua đó cho thấy, giới có đặc trưng là do dạy và học mà có: Đứa trẻ được dạy dỗ
để trở thành nữ giới hay nam giới theo khuôn mẫu của xã hội. Bắt đầu từ khi sinh ra, đứa
trẻ đã được đối xử và dạy dỗ tùy theo nó là trai hay là gái. Đó là sự khác biệt về quần áo,
đồ chơi, màu sắc, cách nói năng, thái độ và có thể cả về thức ăn và tình cảm của cha mẹ,
anh chị. Con trai không được khóc, phải tỏ ra mạnh mẽ, dũng cảm, không chơi búp bê,
con gái không được cáu kỉnh, không nên nói to, phải dịu dàng, giúp mẹ cơm nước, nội
trợ. Giới còn có đặc trưng có thể thay đổi được. Mặc dù rất khó khăn và lâu dài, nhưng
các quan niệm, hành vi, chuẩn mực xã hội là hoàn toàn có thể thay đổi được. Quan niệm
“bếp núc” là “thiên chức” của nữ giới đang được xem xét lại khi rất nhiều đầu bếp giỏi,
các thợ giặt tinh xảo là nam giới. Trong nhiều gia đình hạt nhân, khi cả vợ và chồng cùng
phải tham gia tích cực vào quá trình sản xuất nhằm tăng thu nhập thì nam giới cũng đang
tham gia một cách tích cực vào các công việc nội trợ như: nấu ăn, chăm sóc con
cái…Thậm chí trong một số gia đình, khi người vợ tham gia công việc quản lý, điều hành
xã hội, tham gia vào các công việc sản xuất nhiều hơn người chồng thì người chồng đã
thay vai trò của người vợ trong các công việc gia đình. Bởi vậy, để thay đổi quan hệ giới
và các đặc trưng giới cần vượt qua những định kiến và quan niệm cũ, tức là cần bắt đầu
từ việc đổi mới nhận thức, thái độ, hành vi của từng người về giới. Do đó, điều mà nhân
loại đang hướng tới không phải là sự bình đẳng về giới tính giữa nam và nữ, mà là sự
bình đẳng giới. Bình đẳng về giới tính là việc không thể làm được và cũng không chủ thể
nào muốn làm, mà mục tiêu của thế giới là tiến tới bình đẳng giới.

Khái niệm Bình đẳng giới
Bình đẳng giới là môi trường trong đó cả nữ giới và nam giới được hưởng vị trí
ngang nhau, họ có các cơ hội bình đẳng để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình nhằm
cống hiến cho sự phát triển quốc gia và được hưởng lợi từ các kết quả đó [49]. Luật Bình
đẳng giới (2007) tại Điều 5 chỉ rõ: Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang
nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của
cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó [36,
tr.2]. Điều quan trọng nhất, bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được hưởng
các thành quả một cách bình đẳng. Tuy nhiên, việc đối xử như nhau, cơ hội như nhau
không đem lại kết quả như nhau đối với giới nữ và giới nam. Vì vậy, bình đẳng giới cần
được hiểu là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ có xét đến những đặc điểm
giống nhau và khác nhau của mỗi giới, và được điều chỉnh bởi các chính sách đối với
từng giới một cách hợp lý.
Nếu như cả phụ nữ và nam giới cùng có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả
năng và thực hiện các mong muốn của mình; có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp
và hưởng thụ từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển; được hưởng tự do và
chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của
xã hội, thì xã hội đó đã đạt được bình đẳng giới. Nếu những tiêu chí này không được xác
lập có nghĩa là trong xã hội đang tồn tại bất bình đẳng giới.
Không nên hiểu bình đẳng giới theo cách đơn giản là nam giới và nữ giới tham gia
như nhau trong tất cả các hoạt động, cũng không phải phương châm phụ nữ “vùng lên” đòi
hỏi quyền lợi ngang bằng nam giới, bất chấp sự khác biệt về đặc tính sinh học giữa nam và
nữ. Hơn nữa, việc không phân định rõ ràng sự khác biệt mang tính chất giới và giới tính lại
chỉ thấy có một phía là không bình đẳng nghiêng về nữ, chắc sẽ dẫn đến hệ quả ngược lại
với mong muốn ban đầu mang tính nhân văn sâu sắc của nhận thức giới và cách giải quyết
sẽ chỉ là: hoặc hoán vị vai trò giới một cách máy móc những gì phụ nữ có và phải làm thì
đem chuyển cho nam giới và ngược lại, hoặc đi đến chủ nghĩa bình quân giữa nam và nữ
để chỉ chia nhau cơ hội, lợi ích, trách nhiệm…
Bình đẳng giới theo yêu cầu của xã hội hiện nay còn cần phải gắn với quan điểm
phát triển, sự tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Nó đòi hỏi một sự chuyển biến
đồng bộ của tất cả mọi thành phần, mọi lứa tuổi, nhưng trước hết đối với nam giới trong
hàng loạt vấn đề: từ nhận thức đến thái độ ứng xử xã hội và hành vi cụ thể trong mối
quan hệ với phái nữ. Để có thể đáp ứng được yêu cầu trên, cần đảm bảo hai yếu tố: Thứ
nhất. Đó là sự tôn trọng giá trị nhân phẩm (quyền con người toàn diện) cũng như giá trị
lao động của lao động nam cũng như lao động nữ trong những đóng góp của họ đối với
xã hội và gia đình. Thứ hai. Là cả lao động nữ lẫn lao động nam đều có trách nhiệm, chia
sẻ với nhau trong thực hiện công việc gia đình và công việc chung của xã hội.
Muốn đạt được bình đẳng giới thì một trong những điều kiện quan trọng là nam và nữ
được bình đẳng với nhau trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó lĩnh vực kinh
tế, lao động và việc làm giữ vai trò cốt yếu nhất.
Khái niệm Lao động
Lao động là một phạm trù kinh tế, một mặt, lao động là quá trình tác động giữa
con người với tự nhiên, trong quá trình đó, con người cải biến những vật tự nhiên làm
cho nó thích ứng với nhu cầu của mình; mặt khác, lao động luôn luôn được tiến hành
trong xã hội, vì vậy nó đòi hỏi những quan hệ nhất định giữa người với người trong quá
trình tác động vào tự nhiên.
C.Mác chỉ ra: Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc
vào bất kỳ hình thái xã hội nào, là một sự tất yếu tự nhiên vĩnh cửu làm môi giới cho sự
trao đổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người. Con
người phải vận dụng sức lực tiềm tàng trong cơ thể mình, sử dụng công cụ lao động để
tác động vào tự nhiên một cách có mục đích, ý thức nhằm biến đổi những vật thể của tự
nhiên cho phù hợp với nhu cầu của mình. Vì vậy, trong bất cứ nền sản xuất nào, kể cả
nền sản xuất hiện đại, lao động bao giờ cũng là yếu tố cơ bản, điều kiện không thể thiếu
của sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội loài người, là sự tất yếu vĩnh viễn, một
điều kiện chung của sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên. Trong quá trình lao
động diễn ra việc sử dụng lao động.
Ph.Ăngghen viết:
Các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng lao động là nguồn gốc của mọi
của cải. Lao động đúng là như vậy, khi đi đôi với giới tự nhiên là giới cung cấp
những vật liệu cho lao động đem biến thành của cải. Nhưng lao động còn là một
cái gì vô cùng lớn lao hơn thế nữa. Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn
bộ đời sống loài người, và như thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó,
chúng ta phải nói: lao động đã sáng tạo ra bản thân con người [23, tr.641].
Từ khi con người xuất hiện, con người đã tiến hành các hoạt động như kinh tế,
chính trị, văn hóa, nghệ thuật…, trong đó hoạt động kinh tế giữ vị trí trung tâm và là cơ
sở cho các hoạt động khác. Để tiến hành các hoạt động này, trước hết con người phải tồn
tại. Con người muốn tồn tại thì phải được đáp ứng các nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở, đi
lại…Muốn vậy, con người phải sản xuất và không ngừng sản xuất. C. Mác và
Ph.Ăngghen đã khám phá ra: sản xuất vật chất là cơ sở tồn tại và phát triển của con người
và xã hội.
Sản xuất vật chất ngày càng phát triển thì càng đòi hỏi ở con người chức năng
sáng tạo và luôn đòi hỏi người lao động nâng cao trình độ mọi mặt nhằm đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của con người. Có thể khái quát nhu cầu của con người trên ba mặt:
Thứ nhất là nhu cầu sinh tồn, phát triển và hưởng thụ về vật chất; Thứ hai là nhu cầu về
tinh thần; Thứ ba là nhu cầu hoạt động lao động. C.Mác dự đoán trong xã hội cộng sản
chủ nghĩa, năng suất lao động xã hội cao, sản phẩm sản xuất ra quá dư thừa đủ để thực
hiện phân phối theo cơ chế làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, khi đó lao động là nhu
cầu đầu tiên của đời sống con người; còn trong giai đoạn hiện nay, thời kỳ đầu của quá
trình xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, năng suất lao động chưa cao, chưa đáp ứng được
đầy đủ các nhu cầu của con người, thì lao động vẫn còn là phương tiện sinh sống của con
người.
Trong những điều kiện lịch sử nhất định và cho đến nay lao động là phương tiện
để sinh sống, là nguồn gốc chân chính của thu nhập đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
mỗi thành viên và xã hội loài người. Do vậy, ở các quốc gia cũng như ở nước ta, vấn đề
lao động luôn luôn được coi trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Sau khi lãnh đạo nhân dân ta làm Cách mạng Tháng Tám thành công, giành chính quyền
về tay nhân dân Đảng ta đã lãnh đạo xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Từ
sau khi giành chính quyền đến nay, Nhà nước đã nhiều lần thông qua Hiến pháp, đầu tiên
là Hiến pháp 1946, sau đó là các Hiến pháp sửa đổi, bổ sung vào các năm 1959, 1980,
1992. Trong tất cả các Hiến pháp nói trên đều quy định lao động là quyền và nghĩa vụ
của công dân.
Hoạt động lao động sản xuất là hoạt động gắn liền với con người và xã hội loài
người. Từ xa xưa con người đã biết làm lụng, tìm kiếm thế giới xung quanh những sản
phẩm để phục vụ nhu cầu cho bản thân mình. Khi xã hội phát triển, những hoạt động lao
động sản xuất nói chung ấy, được phân chia thành những ngành nghề cụ thể khác nhau và
người lao động được làm việc trong những lĩnh vực phù hợp với khả năng của mình. Mỗi
người tham gia lao động sản xuất với một việc làm cụ thể nhằm tạo ra thu nhập nuôi sống
bản thân, gia đình và đóng góp cho xã hội. Từ đó cho thấy lao động có sự liên quan chặt
với vấn đề việc làm

Khái niệm Việc làm
Theo C.Mác vấn đề việc làm trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa có liên quan chặt
chẽ với lao động. Xét về mặt xã hội, việc làm thể hiện mối quan hệ giữa người với người
trong những giới hạn cần thiết mà trong đó quá trình lao động đang diễn ra, đồng thời nó
cũng là điều kiện cần thiết để thỏa mãn nhu cầu xã hội về lao động. Xét về mặt kinh tế,
việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con
người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất.
Vấn đề việc làm là một vấn đề kinh tế xã hội phức tạp, đó là công việc của mỗi cá
nhân nhưng lại gắn liền với xã hội. Có việc làm, không những người lao động có thu
nhập nuôi sống bản thân mà còn tạo ra một lượng của cải lớn cho xã hội. Việc làm có ý
nghĩa kinh tế xã hội và chính trị rất quan trọng đối với mỗi quốc gia. Hiện nay, đảm bảo
an toàn việc làm là một trong những yếu tố cơ bản của sự phát triển bền vững.
Trên thế giới có những cách hiểu không giống nhau về “người có việc làm”,
“người thất nghiệp”, theo ILO:
“Lực lượng lao động” hay “dân số hoạt động kinh tế” là một bộ phận dân
số trong độ tuổi quy định, bao gồm người có việc làm và người thất nghiệp.
Người có việc làm là những người làm một việc gì đó (không bị pháp luật
cấm) được trả tiền công, lợi nhuận hoặc thanh toán bằng hiện vật, hoặc những
người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay
vì thu nhập gia đình mà không được trả tiền công hoặc hiện vật.
Người thất nghiệp là người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm
việc làm hoặc đang chờ được trở lại làm việc.
Còn người không thuộc lực lượng lao động là một bộ phận dân số gồm
những người không có việc làm và cũng không phải là người thất nghiệp, đó là
học sinh, những người mất khả năng lao động, nội trợ và những người thuộc
tình trạng khác [45, tr.49].
Từ quan niệm trên về việc làm cho thấy, dân số hoạt động kinh tế là một bộ phận dân
số thường ở trong độ tuổi trên dưới 15-60 (có khác nhau ở các nước).
Ở Việt Nam, trong công cuộc đổi mới, thực hiện nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa đã có sự đổi mới trong quan niệm về việc làm. Trước đây, người
có việc làm chủ yếu ở thành phần kinh tế nhà nước và tập thể, lao động theo kế hoạch từ
trên xuống, thu nhập bình quân là chính, không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, lao
động dư thừa. Hiện nay ở nước ta, lực lượng lao động là bộ phận dân số có độ tuổi từ 15
đến 55 đối với nữ và từ 15 đến 60 đối với nam và tại Điều 13, chương II, Bộ luật Lao
động bổ sung sửa đổi năm 2003 nêu rõ: Mọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp
luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
Vấn đề việc làm luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm giải quyết, tạo
điều kiện để người lao động có việc làm, tăng thu nhập, thể hiện trong các văn bản pháp
lý như:
Điều 58, Hiến pháp 1980 quy định: “Nhà nước dựa vào phát triển kinh tế và văn
hóa mà tạo thêm việc làm, bố trí công tác căn cứ vào năng lực, nguyện vọng cá nhân và
nhu cầu xã hội, nâng cao trình độ nghề nghiệp, bồi dưỡng sức lao động, không ngừng cải
thiện điều kiện làm việc của lao động chân tay và lao động trí óc”.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI xác định: “Nhà nước cố gắng tạo thêm việc
làm và có chính sách để người lao động tự tạo việc làm bằng cách khuyến khích phát
triển kinh tế gia đình, khai thác mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác, kể cả
thành phần kinh tế tư bản tư nhân” [5, tr.88].
Đảng, Nhà nước đã xác định tầm quan trọng của vấn đề giải quyết việc làm và
thấy rõ mối quan hệ giữa các vấn đề giải quyết việc làm với phát huy nhân tố con người.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX nhận định: “giải quyết việc làm là yếu tố quyết
định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội,
đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” [7, tr.210].
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X đã đề ra các nhiệm vụ chủ yếu, trong đó
khẳng định: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giải quyết việc làm, khuyến khích
làm giàu hợp pháp, xóa đói, giảm nghèo, phát triển hệ thống an sinh xã hội” [8, tr.187]
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề việc làm, giải quyết việc
làm, song hiện nay vẫn còn tồn tại tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp ở cả lao động
nam và lao động nữ, tình trạng đó nghiêng về phía lao động nữ nhiều hơn, qua đó cho
thấy rõ trong xã hội và gia đình đã và đang tồn tại vấn đề giới trong lao động và việc làm.
Hai khái niệm lao động và việc làm có mối quan hệ chặt chẽ và rất khó phân biệt
rạch ròi, do vậy tác giả đề tài xin không tách biệt, mà trình bày gắn kết chung về hai khái
niệm trên, nghĩa là trình bày cả cụm từ: lao động và việc làm.

Khái niệm Bình đẳng giới trong lao động và việc làm
Theo Luật Bình đẳng giới (2007), bình đẳng giới trong lao động được xác định:
“Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi
làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các
điều kiện làm việc khác. Nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ
nhiệm giữ các chức danh trong các ngành nghề có tiêu chuẩn chức danh [36, tr.5].
Bình đẳng giới trong lao động, việc làm là đảm bảo cơ hội ngang bằng cho cả nữ
giới và nam giới trong lĩnh vực lao động và việc làm. Điều này bao gồm cơ hội tiếp cận
các nguồn lực đầu tư cho “vốn con người”, các nguồn lực sản xuất, cơ hội được tham gia
thị trường lao động và có được việc làm phù hợp với khả năng, sở thích và có thể phát
huy hết tiềm năng của bản thân.
Tuy nhiên, cùng với việc đảm bảo cơ hội ngang nhau giữa nam, nữ là việc cần
thấy rõ vai trò giới, nhu cầu giới của nam, nữ có thể giống và khác nhau, chỉ có một phần
nhỏ sự khác biệt này là do những khác nhau về đặc điểm sinh học giữa nam và nữ, còn
phần lớn là do những định kiến và quan niệm xã hội tạo nên. Mức độ ảnh hưởng của
những điểm bất lợi này đối với những tầng lớp phụ nữ khác nhau là khác nhau. Chẳng
hạn như, mức độ ảnh hưởng sẽ trầm trọng nhất và sâu sắc nhất là đối với những em bé
gái phải bỏ học hay đi làm sớm do gia đình quá nghèo, do đông anh em, hay do quan
niệm là con gái không cần học nhiều…Trong tương lai, các em sẽ phải chịu những rủi ro
thất nghiệp cao hoặc làm những công việc đem lại thu nhập thấp, hoặc những công việc
có gây tổn hại cho bản thân như mại dâm. Những phụ nữ đã có gia đình, những phụ nữ ở
nông thôn, trong những hộ gia đình nghèo là những người chịu nhiều thiệt thòi nhiều hơn
trước những bất lợi này.
Không có công việc hay nghề nghiệp nào chỉ dành riêng cho nam hay cho nữ mà
chỉ có công việc phù hợp với khả năng và sở thích của mỗi người. Nếu có bất kỳ sự phân
biệt đối xử nào cũng có thể dẫn tới những hậu quả xấu, chẳng hạn như với quan niệm nam
giới không nên làm công việc bán hàng, trong điều kiện nam giới đang thất nghiệp nhiều, sẽ
khiến cho tỷ lệ thất nghiệp càng tăng, mức thu nhập của nhiều hộ gia đình do vậy sẽ bị ảnh
hưởng.
Thực tế cho thấy vấn đề giới trong lao động và việc làm thể hiện ở các khía cạnh
sau:
Về việc làm:
Một là, lao động nữ ít có cơ hội hơn trong tiếp cận với việc làm (nhất là việc làm
phù hợp) và dễ bị thất nghiệp hơn so với lao động nam. Trong rất nhiều các đơn vị, doanh
nghiệp, quy trình tuyển dụng lao động (quảng cáo, tiêu chuẩn tuyển dụng, kiểm tra tuyển
chọn, phỏng vấn…) đã công khai ẩn ý thu hẹp hoặc gạt bỏ cơ hội của lao động nữ. Phụ nữ dễ
bị thất nghiệp hơn, nhất là ở vào những thời điểm mà các quốc gia đang có biến cố như:
chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, chuyển đổi nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Hai là, chỉ những hoạt động kinh tế được trả thù lao bằng tiền hoặc hiện vật thông
qua trả lương, trả công…mới được nhìn nhận là việc làm. Ngoài ra, nhiều hoạt động khác
thuộc vai trò tái sản xuất ra con người không được coi là việc làm, như nội trợ, nuôi con,
chăm sóc người già, ốm.
Ba là: vấn đề giới còn thể hiện cụ thể hơn ở các ngành nghề ngoài xã hội, cộng
đồng và trong gia đình mà nam và nữ tham gia. Ngoài xã hội, trong phân công lao động
thể hiện vấn đề giới rất rõ, ở chỗ tỷ lệ nam nữ trong các ngành nghề rất khác nhau, phụ
nữ thường chiếm tỷ lệ cao trong lực lượng lao động ở các ngành nghề như nông nghiệp,
thương mại buôn và bán lẻ. Nghĩa là phụ nữ làm nhiều ở các ngành nghề kỹ thuật thấp,
lao động giản đơn và ít làm quản lý hơn…do vậy, vất vả hơn và thu nhập thấp hơn so với
nam giới. Các hoạt động thuộc lĩnh vực công cộng như tham gia xây dựng đường sá, vệ
sinh và các công trình cộng đồng nói chung nam và nữ đều tham gia, nhưng nam thường
ở vị trí quyết định, làm công việc gián tiếp. Riêng các công việc trong gia đình không
được trả công như nấu ăn, chăm sóc con cái, mua bán…khoảng cách giới rất lớn [45,
tr.51].
Khoảng cách giới còn khá lớn, thể hiện ở thời gian làm việc giữa nam và nữ. Phần
lớn trong số lao động làm việc trên 50 giờ một tuần là phụ nữ. Ở mọi lứa tuổi, phụ nữ
phải làm việc nhà nhiều hơn nam giới. Ở lứa tuổi từ 25 đến 55, một năm người phụ nữ
phải làm đến khoảng 700 giờ việc nhà, thì người nam giới chỉ khoảng 300 giờ [50].
Nhìn chung, phụ nữ làm nhiều việc hơn, thời gian nhiều hơn, vất vả hơn và thu
nhập thấp hơn so với nam giới. Ngày nay, đang có sự san sẻ chuyển đổi nhất định về vai trò
giới trong xã hội, cộng đồng và gia đình nhưng rất chậm chạp. Thực trạng đó cho thấy có
những điểm chưa thật hợp lý.
Về tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực
Có việc làm mới chỉ là khởi đầu. Việc làm ấy được tiến hành trong thực tế, tức là
lao động, khi quá trình này “con người có công cụ sản xuất và nắm được kỹ năng sản
xuất, đã thay đổi ngoại giới và làm cho đối tượng lao động phù hợp với nhu cầu của
mình” [47, tr.299]. Nghĩa là tiếp cận và kiểm soát được các nguồn lực cho hoạt động kinh
tế. Các nguồn lực hoạt động kinh tế của người lao động bao gồm các yếu tố hữu hình
(công cụ sản xuất, đối tượng lao động, hạ tầng cơ sở…) và vô hình (khả năng, chuyên
môn làm việc…)
Hiện nay, trên thế giới còn có khoảng cách giới trong tiếp cận và kiểm soát các
nguồn lực trong lĩnh vực lao động, việc làm, thậm chí mang tính phổ biến như:
Do học vấn thấp hơn, hạn chế trong đào tạo nghề, lao động nữ trong gia đình và xã hội
(doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh…) tiếp cận các công cụ lao động kém kỹ thuật hơn, các đối
tượng lao động kém hiện đại và ít giá trị hơn nam giới.
Phần lớn lao động nữ không được quyền quyết định vốn sản xuất, vay vốn ngân
hàng khó hơn nam giới, thậm chí có những quốc gia (kể cả ở Mỹ) chỉ có chồng chứ
người vợ không được vay vốn ngân hàng.
Tổ chức Ngân hàng thế giới đã khái quát bức tranh hiện tại và tương lai của vấn đề
tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong lĩnh vực lao động và việc làm như sau:
Phụ nữ vẫn tiếp tục một cách có hệ thống có ít dần khả năng đòi hỏi hàng
loạt những nguồn lực sản xuất như giáo dục, đất đai, thông tin và tài chính. Ở
châu Á, phụ nữ có số năm đi học trung bình chỉ bằng nửa của nam giới và tỷ lệ
nhập học của bé gái ở cấp trung học chỉ bằng hai phần ba tỷ lệ đó ở các bé trai.
Khi có thể có đất đai, phụ nữ thường đòi phần sở hữu đất của mình ít hơn nam
giới. Ở phần lớn các khu vực đang phát triển, các doanh nghiệp do phụ nữ điều
hành thường thiếu vốn, khó tiếp cận đến các nguồn lực như máy móc, phân
bón, thông tin và tín dụng hơn các doanh nghiệp do nam giới điều hành [35,
tr.10]
Việc tiếp cận đã bất bình đẳng giới thì việc kiểm soát (quản lý, chi phối…) lại
càng có khoảng cách giới nhiều hơn. Điều này là do lao động nữ hạn chế về chuyên môn,
nhất là chiếm tỷ lệ thấp trong quản lý, lãnh đạo xã hội…do vậy, ít có cơ hội quản lý, chi
phối các yếu tố, các khâu hoạt kinh tế, hoạt động lao động tạo thu nhập và có thu nhập
cao: chủ gia đình, giám đốc doanh nghiệp, thủ trưởng cơ quan kinh tế và tổ chức sản xuất
kinh doanh.
Ở Việt Nam, trong điều kiện của nền kinh tế nhiều thành phần, định kiến giới vẫn
còn…thì bất bình đẳng nam, nữ về tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong lĩnh vực nói
chung, trong lao động và việc làm còn tồn tại ở những dạng nhất định như:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai trong gia đình trước khi có Luật Đất đai
sửa đổi 2003, chủ yếu chỉ ghi tên chồng, kể cả hiện nay, khi Luật Đất đai sửa đổi đã quy
định lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đai mang tên cả hai người thì phần lớn vẫn
do nam giới đứng tên. Theo số liệu thống kê về giới của Ủy ban quốc gia Vì sự tiến bộ
của phụ nữ Việt Nam thì: trung bình đất đai canh tác do phụ nữ quản lý chỉ bằng khoảng
một nửa đất canh tác do nam giới quản lý. Điều này gây khó khăn cho việc vay vốn, thiếu
chủ động về vốn của lao động nữ khi đầu tư sản xuất kinh doanh.
Trong nông nghiệp, việc tiếp cận các hình thức chuyển giao khoa học, kỹ thuật
phục vụ sản xuất, chăn nuôi (tập huấn, hội thảo, mô hình, tham quan…) phần lớn là nam
giới. Qua công cụ phân tích giới tiếp cận và kiểm soát “càng nhận thấy tình trạng bất hợp lý
và bất bình đẳng giữa nam và nữ, vì phần lớn phụ nữ nước ta ở nông thôn và làm nông
nghiệp (75%)” [45, tr.58]. Do vậy, sự hiểu biết về kiến thức khoa học, kỹ thuật canh tác
chăn nuôi của lao động nữ thấp hơn lao động nam, nên lao động nữ thường làm những
công việc giản đơn, năng suất lao động thường không cao, thu nhập thấp.
Về điều kiện và môi trường làm việc
Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã có lồng ghép giới trong nghiên cứu, giải
quyết các vấn đề liên quan đến điều kiện và môi trường làm việc của người lao động, nếu có
khác biệt giới thì quy định riêng cho nam và nữ. Ví dụ: danh mục việc làm, môi trường làm
việc mà chỉ lực lượng lao động nam mới làm được, được tuyển dụng; danh mục cấm lao
động nữ (không lợi cho sức khỏe và không phù hợp đạo đức…, điều kiện bảo vệ sản phụ
trong lao động…).
Ở Việt Nam, đã có nhiều văn bản của Nhà nước về công tác bảo hộ lao động. Bộ
luật Lao động dành riêng một chương về vấn đề này. Trong ý thức xã hội về an toàn lao
động, vệ sinh lao động được nâng cao. Việc giải quyết những hậu quả xấu do điều kiện
và môi trường làm việc không thuận lợi gây ra khá tốt, chính sách xã hội bảo hộ lao động
nữ có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, trong thực tế việc thực hiện các chính sách trên còn hạn
chế, vấn đề giới đang xuất hiện ngày càng nhiều như:
Ở các cơ sở lao động, các thành phần kinh tế thường xảy ra tình trạng vi phạm
hoặc coi nhẹ công tác bảo hộ lao động, nhất là không chú ý đến đặc thù lao động nữ, tình
trạng này xảy ra thường xuyên hơn ở các cơ sở kinh tế nhỏ, ngoài quốc doanh.
Các yếu tố gây ô nhiễm môi trường công nghiệp (bụi, tiếng ồn, nhiệt độ) ở nhiều
doanh nghiệp đã vượt quá, thậm chí vượt quá nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép, gây
tác hại lớn đến sức khỏe và cả tính mạng người lao động, nhất là lao động nữ. Do “miếng
cơm, manh áo”, một số người lao động cả nam và nữ, nhất là nữ, đã phải tự nguyện làm
những công việc không cho phép, không phù hợp, phải chấp nhận mạo hiểm làm việc ở
môi trường độc hại, không an toàn, quá nặng nhọc. Tỷ lệ lao động nặng nhọc, độc hại, nguy
hiểm, lao động nữ chiếm tới 76% so với lao động nam, có 8,66% tổng số doanh nghiệp có
lao động nữ đang làm các nghề cấm sử dụng lao động nữ. Cao nhất là các ngành hóa chất –
cao su, vật liệu xây dựng, cơ khí năng lượng…
Ở nông thôn, ô nhiễm môi trường nói chung và môi trường lao động nói riêng
cũng bắt đầu tăng. Nữ nông thôn mắc bệnh phụ khoa ngày càng nhiều. Ở các ngành công
nghiệp lao động nữ hay mắc các bệnh bụi phổi, viêm xạm da, điếc nghề nghiệp [45,
tr.62].
Về lợi ích kinh tế
Lợi ích kinh tế là kết quả trực tiếp của: việc làm, tiếp cận và kiểm soát các nguồn
lực, môi trường lao động. Lợi ích kinh tế thỏa đáng, công bằng giữa nam và nữ là động
lực mạnh mẽ trong lao động.
Trên thế giới, ở mọi quốc gia, nghiên cứu, bàn về lợi ích kinh tế là chủ đề hàng
ngày, nổi bật. Lợi ích kinh tế chủ yếu của người lao động thể hiện rất cụ thể: lương, tiền
công, tiền thưởng vật thưởng, tiếp cận phúc lợi xã hội…Bình đẳng giới về lợi ích kinh tế
là trả công, trả lương…bằng nhau cho nam và nữ ở những công việc có giá trị như nhau.
Ở Việt Nam, từ khi đổi mới đến nay, thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao
động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn của các nguồn lực
khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội là cơ sở và điều kiện thuận lợi
để bình đẳng giới hơn về lợi ích kinh tế. Bộ luật Lao động, điều 111 ghi rõ “Người sử
dụng lao động phải thực hiện nguyên tắc bình đẳng nam nữ về tuyển dụng, sử dụng, nâng
bậc lương và trả công lao động”.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, người lao động cả nam và nữ có cơ hội việc
làm nhiều hơn, do vậy có quyền lựa chọn ngành nghề có thu nhập cao. Tuy vậy, nền kinh
tế nhiều thành phần, đã làm nảy sinh không ít vấn đề giới trong phân phối, đó là: Thứ
nhất, những công việc vệ tinh, những việc làm thuộc vai trò tái sản xuất mà phần lớn do
phụ nữ thực hiện, vẫn không được xã hội nhìn nhận, đánh giá đúng mức. Thứ hai, lao
động nữ thường có mức thu nhập thấp hơn lao động nam. Thứ ba, có không ít hiện tượng
người sử dụng lao động vi phạm luật Lao động về điều khoản quy định về tiền lương
(không đủ mức tiền lương tối thiểu, không đóng các loại bảo hiểm, trả lương chậm và
không đền bù, trả lương làm thêm giờ không tương xứng…), nhưng phần lớn chịu hậu
quả của sự vi phạm ấy là lao động nữ. Thứ tư, Lợi ích kinh tế thể hiện ở thu nhập, nhưng
đồng thời còn thông qua hưởng thụ. Người lao động nam, nữ trở về nhà là thành viên gia
đình. Phụ nữ Việt Nam thường quản tiền nong, nhưng trước hết họ là những người vợ,
người mẹ, tiêu thì nhiều nhưng hưởng thì ít hơn chồng con.

1.1.2. Ý nghĩa của bình đẳng giới trong lao động và việc làm
Thứ nhất: Vị trí quyết định của lao động và việc làm trong phát triển xã hội, phát
triển con người.
Lao động, việc làm giúp con người từ vượn thành người, giúp con người thành
con người xã hội.
C. Mác đã chỉ ra rằng: thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con người đã làm
thay đổi, cải biến giới tự nhiên, con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái
sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên. Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động
sản xuất vật chất; hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của
con người. Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất
và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy;
xác lập quan hệ xã hội. Bởi vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội
của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội.
Lao động, việc làm tạo ra của cải vật chất cho xã hội, làm giàu cho xã hội, nhờ đó
xã hội phát triển tiến bộ. Theo quan điểm duy vật lịch sử: vật chất quyết định ý thức. Lao
động, việc làm tạo ra kinh tế, quy định sự phát triển của xã hội, xã hội phát triển được
hay không trước hết phải trên cơ sở phát triển kinh tế.
Lao động và việc làm là lĩnh vực quan trọng quyết định của đời sống xã hội.
Không có việc làm sẽ không có thu nhập và không có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu
chính đáng về vật chất, tinh thần của cả lao động nam và nữ, nhất là đối với lao động nữ,
chất lượng cuộc sống giảm sút. Cả lao động nam, nữ có việc làm, có thu nhập, một mặt
góp phần xây dựng kinh tế gia đình, mặt khác góp phần vào quá trình phát triển kinh tế,
xã hội.
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của mọi quá trình phát triển. Phát triển
của một quốc gia hay địa phương phải quan tâm đến hai nhân tố: sự phát triển tiềm lực
chung như công nghiệp, thương mại, giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng…và sự phát triển
nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực có liên quan trực tiếp với chương trình nâng
cao chất lượng cuộc sống. Chất lượng cuộc sống có thể hiểu là mức độ phúc lợi xã hội và
sự thỏa mãn một số nhu cầu của con người. Chất lượng cuộc sống càng cao, mức độ phúc
lợi xã hội, sự thỏa mãn nhu cầu của con người càng cao và càng thích ứng. Các yếu tố cốt
lõi của chất lượng cuộc sống bao gồm: sức khỏe, giáo dục, công việc làm, tiền bạc (do có
thu nhập), quan hệ xã hội, môi trường. Do đó, có việc làm, có thu nhập do việc làm đem
lại được coi là hai yếu tố quan trọng trong các yếu tố cấu thành chất lượng cuộc sống của
con người.
Thứ hai: bình đẳng giới trong lao động và việc làm góp phần trực tiếp phát huy
lực lượng lao động nam, nữ trong gia đình và ngoài xã hội.
Để phát triển đất nước cần có nhiều nguồn lực, trong đó nguồn lực con người trở
thành yếu tố quan trọng nhất. Nguồn lực con người bao gồm cả lao động nam và lao động
nữ, khi có bình đẳng giới sẽ phát huy được cả hai lực lượng lao động này, lao động nữ
chiếm một nữa bầu trời, nếu họ được bình đẳng với nam giới họ sẽ phát huy hết tiềm
năng, như vậy nguồn lực lao động sẽ có chất lượng hơn.
Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm, đồng nghĩa với việc giúp lao
động nữ có điều kiện, cơ hội tìm kiếm việc làm như lao động nam, từ đó giúp họ tự
khẳng định mình trong gia đình và ngoài xã hội, đồng thời cân bằng cuộc sống cho bản
thân, cho con và các thành viên trong gia đình, qua đó giúp họ có lòng tin đối với xã hội,
và cũng chính là điều kiện thực hiện quyền cơ bản nhất trong Hiến pháp, đó là quyền
được làm việc.
Để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới theo các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký
thì việc khắc phục và xóa bỏ dần khoảng cách giới trong lĩnh vực lao động, việc làm là
điều kiện quan trọng nhất. Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm sẽ tạo
điều kiện cho lực lượng lao động yếu thế hơn (chủ yếu là lực lượng lao động nữ) có cơ
hội tìm kiếm việc làm, góp phần phát huy được vai trò của họ trong quản lý gia đình,
nuôi dạy con cái, giảm nghèo khổ, tăng thu nhập, đảm bảo sự bình đẳng nam nữ; phát
triển thể lực, trí lực, tài năng, sáng tạo, cũng như nâng cao nhân cách, địa vị của người
lao động, trong đó có lao động nữ, đó còn là một trong những biện pháp hữu hiệu hạn chế
sự phát sinh những tệ nạn xã hội, nhức nhối nhất là tệ nạn mại dâm. Ý nghĩa sâu xa của
việc thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm sẽ giúp lực lượng lao động yếu
thế hơn tái sản xuất ra sức lao động mới tốt hơn, sinh và nuôi dưỡng được những đứa con
khỏe mạnh, thông minh, góp phần xây dựng một tương lai tốt đẹp.
Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm đồng nghĩa với việc tạo điều
kiện cho lực lượng lao động yếu thế (nghiêng về phía lao động nữ) tránh được các yếu tố
rủi ro xảy ra trong quá trình tìm kiếm việc làm, qua đó tạo cho lao động nữ cơ hội được
độc lập về kinh tế, phát triển các mối quan hệ xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế,
xã hội của đất nước.
Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm cũng sẽ tạo cho lao động yếu
thế được tiếp cận với các cơ hội đào tạo và phát triển, nâng cao trình độ nhận thức, khắc
phục dần và đi đến xóa bỏ định kiến về giới, từ đó tạo tiền đề vật chất (công nghệ, kỹ
thuật, vốn và môi trường pháp lý) để tạo việc làm, tự tạo việc làm của lao động, góp phần
tăng thu nhập ổn định cuộc sống và giữ gìn hạnh phúc gia đình. Điều này không chỉ có
lợi cho bản thân người lao động mà còn có lợi cho gia đình, cộng đồng và toàn xã hội.
Thứ ba: bình đẳng giới trong lao động và việc làm là cơ sở thúc đẩy bình đẳng
giới trong các lĩnh vực khác
Bất bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động và việc làm là nguyên nhân tác động
trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên bất bình đẳng giới trong giáo dục, y tế, quản lý…ở cả xã
hội, cộng đồng và gia đình. Bất bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nước ta
thường nghiêng về lao động nữ, làm giảm vai trò quan trọng có tính truyền thống của phụ
nữ Việt Nam, thiệt hại đến thu nhập, ảnh hưởng đến đời sống, sức khỏe của phụ nữ, đặc
biệt qua đó ảnh hưởng đến thiên chức sinh đẻ, phát triển nòi giống, thiệt hại đến nguồn
nhân lực mai sau.
Bất bình đẳng giới trong lao động và việc làm, dù nghiêng về phía lao động nam
hay nữ cũng đều dẫn đến lãng phí, không phát huy được nguồn lực con người trong lao
động, sản xuất, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới
hiện nay là phát triển kinh tế. Hiện nay, trên thế giới, bất bình đẳng giới nói chung, bất
bình đẳng giới trong lao động và việc làm nói riêng mang tính phổ biến, nhiều nơi rất
trầm trọng, là một thực tế cản trở không nhỏ đến thực hiện đường lối phát triển nền kinh
tế của nhiều nước. Việt Nam hiện nay chưa ra khỏi tình trạng kém phát triển, thậm chí
vẫn đang có nguy cơ tụt hậu về kinh tế, cho nên, phát triển kinh tế được xác định là nhiệm
vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới đất nước. Phấn đấu bình đẳng giới trong lĩnh vực lao
động và việc làm là một nội dung quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước,
đồng thời là cơ sở để Việt Nam thực hiện được những cam kết quốc tế trong việc thực hiện
Các mục tiêu thiên niên kỷ.

1.2. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ
MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO
ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM
1.2.1. Chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng giới trong lao động và việc làm
Từ khi xã hội phân chia thành giai cấp và xuất hiện tình trạng áp bức bóc lột, người
phụ nữ luôn ở vị trí thấp kém nhất trong xã hội và là đối tượng bị áp bức nhất trong tất cả
những người bị áp bức. Do vậy, từ rất sớm, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm rõ địa vị của
người phụ nữ trong các xã hội cũ, nhất là trong chủ nghĩa tư bản, đồng thời vạch trần tính chất
tàn bạo và dã man của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đối với lao động nữ, từ đó chỉ ra
con đường và điều kiện để giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam, nữ, trong đó thực hiện
bình đẳng nam, nữ trong lao động, việc làm là một lĩnh vực quan trọng của đời sống.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhất là khi chế độ tư hữu xuất hiện,
địa vị của người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội bắt đầu có những thay đổi,
thậm chí là một sự hoán đổi vị trí một cách triệt để nhất trong lịch sử: từ địa vị là người
làm chủ gia đình và xã hội, giờ đây người phụ nữ phải phục tùng tuyệt đối vào quyền lực
của đàn ông. Tình trạng bất bình đẳng nam, nữ ngày càng gia tăng và được đánh dấu
bằng sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ mẫu quyền do chế độ phụ quyền thay thế, mà hậu
quả là người phụ nữ rơi xuống địa vị thấp hèn nhất, Ph.Ăngghen viết:
Chế độ mẫu quyền bị lật đổ là sự thất bại có tính chất lịch sử toàn thế
giới của giới nữ. Ngay cả trong nhà, người đàn ông cũng nắm lấy quyền cai
quản, còn người đàn bà thì bị hạ cấp, bị nô dịch, bị biến thành nô lệ cho sự
dâm đãng của đàn ông, thành một công cụ sinh đẻ đơn thuần [24, tr.93].
Từ đây, trong gia đình “người vợ trở thành người đầy tớ chính và không được
tham gia vào nền sản xuất xã hội” [24, tr.115], trở thành “nô lệ” của đàn ông. Thân phận
bị nô dịch và bị áp chế của người phụ nữ ngày càng gia tăng cùng với sự gia tăng về mức
độ và tính chất bóc lột lao động làm thuê của chế độ tư hữu.
Đến chủ nghĩa tư bản khi chế độ tư hữu phát triển ở trình độ cao và tính chất bóc
lột lao động ngày càng trở nên gay gắt, trong gia đình, người phụ nữ vẫn tiếp tục bị áp
chế. Tuy nhiên, do mục đích lợi nhuận của giai cấp tư sản, thân phận người phụ nữ tư sản
và người phụ nữ vô sản cũng có những điểm khác biệt. Trong xã hội tư sản, giai cấp tư
sản nắm giữ quyền sở hữu tư liệu sản xuất và bóc lột giai cấp không có của. Tình hình
này cũng diễn ra trong gia đình - nơi mà người chồng nắm giữ vị trí thống trị về kinh tế -
và do đó nắm giữ vị thế thống trị người vợ. Trong gia đình vô sản, xét dưới góc độ kinh
tế, quan hệ vợ chồng trở nên bình đẳng hơn so với gia đình tư sản, vì hôn nhân trong gia
đình vô sản không còn bị chi phối bởi lợi ích kinh tế, không bị chi phối bởi những toan
tính vụ lợi kiểu tư bản chủ nghĩa, nhất là trong điều kiện “đại công nghiệp đã giật được
người đàn bà ra khỏi nhà” và ném họ vào thị trường lao động, vào công xưởng và trở
thành chủ thể chính kiếm tiền nuôi sống gia đình.
Trong chủ nghĩa tư bản, sự phát triển của sản xuất công nghiệp tư bản chủ nghĩa
đã tạo ra những điều kiện cho phụ nữ có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế, đó là
một xu hướng tiến bộ, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Chúng tôi coi khuynh hướng của nền
công nghiệp hiện đại thu hút trẻ em và thiếu niên nam nữ tham gia vào công việc sản xuất
xã hội lớn lao là một khuynh hướng tiến bộ, lành mạnh và chính đáng, mặc dù, trong chế
độ tư bản đó đã mang những hình thức quái gở” [22, tr.216].
Việc sử dụng lao động nữ trong nền sản xuất công nghiệp tư bản chủ nghĩa được
xem là một khuynh hướng tiến bộ, bởi vì, nó là tác nhân quan trọng làm thay đổi từng
bước trong nhận thức của xã hội về vị trí và vai trò của người phụ nữ trong gia đình và
ngoài xã hội, từ đó dẫn đến những thay đổi trong quan hệ giữa nam và nữ, đồng thời là
yếu tố thúc đẩy tiến tới bình đẳng giới trên thực tế sau này. Như vậy, quan điểm bình
đẳng nam, nữ nói chung và bình đẳng giới trong lao động, việc làm đã được C.Mác bàn
đến từ rất sớm. Mặc dù, trình độ phát triển kinh tế không hoàn toàn quyết định mức độ
bình đẳng nam, nữ, song nó là cơ sở vật chất kinh tế quan trọng, cần thiết để tiến tới thực
hiện giải phóng phụ nữ và bình đẳng nam nữ trên thực tế. Vấn đề này được C.Mác khẳng
định trong bộ Tư bản: “Trong khi đem lại cho phụ nữ, thiếu niên và trẻ em gái một vai trò
quyết định trong quá trình sản xuất xã hội có tổ chức ngoài phạm vi gia đình, đại công
nghiệp cũng vẫn tạo ra một cơ sở kinh tế mới cho hình thức cao hơn của gia đình và của
mối quan hệ giữa nam và nữ” [25, tr.696].
Tuy nhiên, trong chủ nghĩa tư bản, việc sử dụng lao động nữ trong nền sản xuất xã
hội lại dẫn đến sự mâu thuẫn và sự xung đột gay gắt với việc thực hiện chức năng gia
đình và chức năng xã hội của người phụ nữ. Sự xung đột này không thể giải quyết triệt để
trong chủ nghĩa tư bản, trái lại, nó càng làm trầm trọng thêm tình trạng “một cổ hai
tròng” của người phụ nữ - vừa bị nô dịch trong gia đình, vừa bị áp bức ngoài xã hội
Mặc khác, C.Mác và Ph. Ăngghen cũng chỉ ra “sự quái gở” và vạch trần tích chất
dã man, tàn bạo và vô cùng tinh vi của giới chủ tư sản khi sử dụng lao động nữ trong quá
trình sản xuất công nghiệp. Bọn chủ tư bản bóc lột sức lao động của phụ nữ bằng cách
kéo dài thời gian lao động của họ trong môi trường thiếu vệ sinh, thiếu không khí. Họ
phải làm việc cật lực trung bình ngày 16 giờ và trong mùa may mặc thì có khi làm một
mạch 30 giờ không nghỉ. Hậu quả dẫn đến tình trạng sức khỏe suy sụp về tinh thần và thể
xác, thậm chí tử vong. Động cơ của nền sản xuất tư bản là lợi nhuận, là làm giàu nên họ
bất chấp tất cả, C.Mác viết:
Tất cả các nữ công nhân may mặc, nữ công nhân may thời trang, nữ công
nhân may áo và nữ công nhân may thông thường đều chịu 3 thứ tai họa: lao
động quá sức, thiếu không khí và thiếu ăn…Nếu một nữ công nhân may áo tạo
ra được một ít khách hàng thì sự cạnh tranh bắt buộc người đó phải làm việc
cho đến chết ở nhà để giữ khách và nhất định phải bắt người giúp việc mình
cũng làm quá mức như thế [25, tr.374].
Trong các công xưởng tư bản chủ nghĩa, lao động nữ phải chịu bao nỗi nhục nhã,
đắng cay, phải lao động cực nhọc từ lúc mang thai đến lúc sinh nở, họ phải cật lực làm
việc, thậm chí không được nghỉ cho con bú và khi con ốm. Với đồng lương ít ỏi không đủ
nuôi sống gia đình, việc làm bấp bênh, nên nhiều phụ nữ sinh con được vài ba ngày đã
phải đến công xưởng để làm việc trong điều kiện hết sức tồi tệ.
Như vậy, thực chất, giới chủ tư sản sử dụng lao động nữ trong các công xưởng
hoàn toàn không phải vì mục đích giải phóng phụ nữ khỏi những công việc gia đình, khỏi
sự áp chế của đàn ông trong gia đình, mà trước hết vì chính lợi ích, lợi nhuận của họ,
nhằm bóc lột lao động ngày càng nhiều hơn và tinh vi hơn. Bởi lẽ, lao động phụ nữ thuộc
loại lao động rẻ mạc, dễ sai bảo và ít chống đối, do đó là loại lao động năng xuất hơn lao
động nam. Vì vậy, các ông chủ tư sản thích sử dụng lao động nữ trong các công xưởng
Ông E…một chủ xưởng cho biết rằng ông ta chỉ toàn dùng phụ nữ để
đứng máy dệt thôi, ông thích sử dụng đàn bà đã có chồng rồi, nhất là những
người có gia đình mà họ phải nuôi; họ chăm chỉ hơn và dễ bảo hơn là những
người phụ nữ chưa chồng và hơn nữa họ buộc phải làm việc cật lực để kiếm
được những tư liệu sinh hoạt cần thiết [25, tr.578].
Ở đây, sự khác biệt giới được giới chủ khai thác triệt để nhằm phục vụ cho lợi ích
của chúng. Bản chất của phụ nữ là thường xuyên chăm lo vun vén cho gia đình, sẵn sàng
hy sinh vì chồng vì con nên họ dễ dàng chấp nhận một khoản lương ít ỏi miễn là có việc
làm, có thu nhập để duy trì cuộc sống và nuôi sống gia đình, con cái; hơn nữa, bản tính
của phụ nữ là dịu dàng, ngoan ngoãn, nhẫn nhục chịu đựng, ít chống đối… “Như vậy là
những đức tính đặc biệt của người phụ nữ lại quay trở lại làm hại họ, cũng như sự dịu
dàng và nết na trong bản chất người phụ nữ đã trở thành công cụ biến họ thành nô lệ và
làm cho họ đau khổ” [25, tr.578].
Có thể thấy rõ là, vì lợi nhuận, giới chủ tư bản một mặt không ngừng cải tiến kỹ
thuật, cải tiến công nghệ sản xuất để tăng cường bóc lột lao động làm thuê nói chung, mặc
khác, không ngừng thay thế lao động nam giới bằng lao động phụ nữ vào tất cả các loại lao
động, kể cả những công việc nặng nhọc hao tổn nhiều sức lực và hoàn toàn không phù hợp
với lao động nữ. Giới chủ tư bản đã nhận thức rất rõ sự khác biệt giữa lao động nữ và lao
động nam nên họ đã khai thác triệt để sự khác biệt giới này vì mục đích lợi nhuận chứ hoàn
toàn không vì hướng tới cải thiện điều kiện lao động cho phù hợp với từng giới. Điều này thể
hiện ở chỗ mặc dù thích sử dụng lao động nữ thay thế cho lao động nam trong các công
xưởng, song giới chủ không hề quan tâm đến điều kiện lao động của nữ, không chịu mở hầu
bao để trích một phần ít ỏi so với lợi nhuận kết xù mà họ đã thu được từ việc bóc lột lao động
làm thuê. Trái lại, họ bắt lao động nữ phải làm việc lẫn lộn với lao động nam trong những
điều kiện hết sức tồi tệ, thậm chí là sử dụng cả lao động nữ vào những ngành nghề sản xuất
đặc biệt có hại cho cơ thể của người phụ nữ và không phù hợp với đạo đức.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện và vạch trần ra một xu hướng chung về việc
sử dụng lao động của giới chủ tư bản, đó là việc bọn chủ tư bản tăng cường tuyển dụng
lao động phụ nữ và trẻ em gái, tất cả vì mục đích lợi nhuận, vì lao động của đàn bà và trẻ
em rẻ hơn lao động của đàn ông. Đây là sự tính toán tinh vi của giới chủ tư bản nhằm đạt
lợi ích kinh tế cao nhất. Tính tham lam, bỉ ổi của giai cấp tư sản đã tạo nên bao nhiêu là
bệnh tật. Phụ nữ không thể sinh đẻ, trẻ con tàn tật:
Không mấy chốc họ đã thấy mệt mỏi, kiệt sức, suy nhược, ăn mất ngon,
đau vai, đau lưng, đau thắt lưng, nhất là đau đầu; sau đó là xương sống bị vẹo,
hai vai nhô cao và biến dạng, gầy mòn, mắt sưng, chảy nước mắt và nói chung
nhức nhối, cận thị, ho, ngực lép, khó thở và mọi thứ bệnh phụ nữ [21, tr.589].
“Công nhân gồm đàn ông và đàn bà, người lớn và trẻ em thuộc cả hai giới…trong
một số ngành thì ban đêm đàn bà và nữ thanh niên làm việc lẫn lộn với đàn ông” [25,
tr.377-378].
Như vậy, chỉ trên góc độ cải thiện điều kiện làm việc cho lao động nam và nữ, giới
chủ tư bản cố tình không đếm xỉa đến sự khác biệt giới, hay nói như cách nói hiện nay là
mù giới.
Không chỉ làm rõ thân phận của người phụ nữ trong các chế độ cũ và trong chủ
nghĩa tư bản, cũng như vạch rõ những nguồn gốc căn bản dẫn đến bất bình đẳng nam, nữ,
nhất là bất bình đẳng giới trong lao động và việc làm, C.Mác và Ph.Ăngghen còn chỉ ra
con đường và những điều kiện để giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam, nữ trên
thực tế về mọi mặt, Ph.Ăngghen khẳng định:
Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ có thể trở thành
hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối với cả hai giới và
khi công việc nội trợ riêng của gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã
hội [26, tr.341].
Bổ sung vào bức tranh của C.Mác và Ph. Ăngghen về tình cảnh của phụ nữ nói
chung, lao động nữ nói riêng trong xã hội tư bản, trong bài Chủ nghĩa tư bản và lao động
nữ, V.I.Lênin viết: “Hàng triệu và hàng triệu phụ nữ trong những gia đình như vậy đang
sống (hoặc nói cho đúng hơn đang bị đọa đầy) trong kiếp “gia nô”, ra sức lo ăn, lo mặc cho
cả gia đình bằng từng xu nhỏ mà họ phải trả giá bằng những cố gắng phi thường hàng ngày
và bằng “sự tiết kiệm” tất cả mọi thứ, chỉ trừ có “tiết kiệm” lao động của bản thân” [13,
tr.173].
Trong bài Nền sản xuất nhỏ trong nông nghiệp [13, tr.173], V.I.Lênin phân tích số
liệu so sánh lao động của phụ nữ ở nước Áo với ở nước Đức và đã chỉ ra rằng việc bóc
lột sức lao động của phụ nữ trong nền sản xuất nhỏ kiểu tư bản chủ nghĩa đã đạt tới một
trình độ cao và quy mô sản xuất càng nhỏ thì thành phần sức lao động càng tồi; tỷ lệ lao
động nữ càng lớn, tức là sự bóc lột sức lao động nữ càng nhiều. Ông viết:
Ở Áo, cuộc điều tra năm 1902 cho thấy rằng trong số 9.070.682 người
làm công trong nông nghiệp, thì có 4.422.981 phụ nữ, tức là 48,7% là phụ nữ.
Ở Đức là nơi mà chủ nghĩa tư bản phát triển cao hơn rất nhiều, thì phụ nữ
chiếm đa số trong tổng số người lao động làm việc trong nông nghiệp, cụ thể là
54,8%. Chủ nghĩa tư bản càng phát triển trong nông nghiệp, thì nó càng sử
dụng lao động của phụ nữ nhiều hơn, nghĩa là càng làm cho điều kiện sinh hoạt
của quần chúng lao động thêm tồi tệ. Trong nền công nghiệp Đức, phụ nữ
chiếm 25%, còn trong nông nghiệp thì gấp hơn 2 lần. Điều đó có nghĩa là công
nghiệp thu hút về nó những sức lao động tốt hơn, đồng thời để lại cho nông
nghiệp những sức lao động yếu hơn…
Chúng ta thấy rằng, trong cả hai nước đều cùng có chung một quy luật về
nông nghiệp tư bản chủ nghĩa. Nền sản xuất càng nhỏ, thì thành phầ n sức lao
động càng tồi, số phụ nữ trong tổng số người làm việc trong nông nghiệp càng
lớn…
Trong những hộ vô sản,…thì lao động phụ nữ nhiều hơn lao động nam
giới, đôi khi nhiều hơn với mức độ rất lớn…
Trong các hộ nông dân, lao động nam giới và lao động phụ nữ xấp xỉ
ngang nhau.
Cuối cùng trong các nông hộ tư bản chủ nghĩa, lao động nam giới nhiều
hơn lao động phụ nữ.
Điều đó có nghĩa là gì?
Điều đó có nghĩa là trong nền sản xuất nhỏ, thành phần sức lao động tồi
hơn trong nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa.
Điều đó có nghĩa là trong nông nghiệp, người lao động phụ nữ, vô sản
cũng như nông dân, đều phải cố đem hết sức mình ra, phải đổ mồ hôi sôi nước
mắt, làm đến kiệt sức, hại đến sức khỏe của mình và của con cái để cố đuổi cho
kịp người lao động nam giới trong nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa [13,
tr.355-357].
Theo V.I.Lênin, sự bất công đối với phụ nữ công nhân, biểu hiện rất rõ trong tiền
lương: “họ cùng làm ở công xương 10 giờ một ngày, nhưng chỉ được tất cả có 1,10 - 1,50
mác (nam giới thì được 2,50 - 2,70 mác) và nếu trả công theo sản phẩm thì họ được 1,7 -
2,0 mác” [11, tr.198].
Cũng như C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin xem xét tình trạng bất bình đẳng giới
từ nguyên nhân kinh tế, xã hội, văn hóa. Cải tạo toàn bộ xã hội nhằm giải phóng tất cả
những người lao động bị áp bức, bóc lột cũng là con đường giải phóng phụ nữ.
Phụ nữ là phần nửa của xã hội và lại là phần bị áp bức bóc lột nhất. Do đó công
cuộc giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ là một bộ phận của sự nghiệp giải
phóng những người lao động nói chung, giải phóng toàn xã hội. trong thời kỳ đầu hoạt
động của mình, V.I.Lênin thường đặt vấn đề đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ ở cấp độ
cương lĩnh của Đảng như: “Tăng số lượng nhân viên thanh tra của công xưởng, bổ nhiệm
nữ thanh tra trong các ngành mà lao động phụ nữ chiếm đa số” [12, tr.263-264].
Cấm dùng phụ nữ lao động trong các ngành mà lao động ấy có hại cho cơ
thể phụ nữ; cấm dùng phụ nữ lao động ban đêm; phụ nữ được nghỉ 8 tuần lễ
trước khi sinh đẻ và 8 tuần lễ sau khi sinh đẻ mà vẫn được hưởng lương như
thường lệ, được miễn không phải trả tiền chữa bệnh và tiền thuốc [15, tr.199].
Nhưng V.I.Lênin cũng nhắc nhở rằng, để xóa bỏ vĩnh viễn tình trạng bất bình
đẳng giới nói chung, bất bình đẳng giới trong lao động và việc làm nói riêng cần có sự nỗ
lực to lớn của Đảng, Nhà nước, toàn xã hội, nhưng trước hết và quyết định nhất là sự nỗ
lực của chính phụ nữ: “Việc giải phóng phụ nữ lao động…phải là việc của bản thân phụ
nữ lao động” [16, tr.232].
V.I.Lênin cho rằng bình đẳng nam - nữ trước hết là bình đẳng về kinh tế, bình
đẳng về địa vị của nam và nữ trong hệ thống phân công lao động xã hội. Do đó biện pháp
cơ bản nhất để xóa bỏ tình trạng bất bình đẳng đối với phụ nữ là xây dựng nền kinh tế mà
thích hợp với nó là sự phân công lao động hợp lý để phụ nữ có điều kiện tham gia như
nam giới vào công việc sản xuất của xã hội. Về vấn đề này V.I.Lênin viết: “Muốn để giải
phóng phụ nữ, muốn làm cho họ thật sự bình đẳng với nam giới, thì phải có nền kinh tế
chung của xã hội, phải để cho phụ nữ tham gia lao động sản xuất chung. Như thế phụ nữ
mới có địa vị bình đẳng với nam giới” [18, tr.230]. Trong lĩnh vực sản xuất phải tạo
những điều kiện thuận lợi để phụ nữ hoàn thành tốt công việc được xã hội phân công,
đồng thời cũng tạo những điều kiện để phụ nữ làm tốt việc nuôi con, thực hiện chức năng
làm mẹ. Do đó, ở:
Tất cả các nhà máy, công xưởng và các xí nghiệp khác có phụ nữ làm
việc, lập các nhà giữ trẻ cho những trẻ em còn bú và trẻ em nhỏ tuổi và các
phòng cho con bú; bất cứ nữ công nhân nào cho con bú cũng đều được để ra ít
nhất là nữa giờ vào những khoảng cách nhau không quá ba giờ, được nhận một
số tiền phụ cấp và chỉ làm việc sáu giờ một ngày [14, tr.230-231].
Theo V.I.Lênin, đối với phụ nữ giành được quyền bình đẳng về mặt pháp luật là
rất quan trọng, nhưng chưa đủ, bởi vì thực tế cho thấy giữa bình đẳng về mặt pháp luật
với bình đẳng trong hiện thực cuộc sống nhiều khi còn là một khoảng cách khá xa. Do đó
“Chúng ta phải làm sao cho nữ công nhân giành được bình đẳng với nam công nhân
không những về mặt pháp luật, mà cả trong thực tế đời sống nữa”.
Biện pháp hữu hiệu để mau chóng xóa bỏ khoảng cách giữa “bình đẳng về mặt
pháp luật” và “bình đẳng trong thực tế đời sống” cũng đã được V.I.Lênin chỉ ra và quyết
tâm thực hiện, đó là “làm cho nữ công nhân ngày càng tham gia nhiều hơn vào việc quản
lý các xí nghiệp công cộng, vào việc quản lý nhà nước”. V.I.Lênin đã nêu ra những luận
điểm quan trọng trong quá trình thực hiện giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam,
nữ, nhất là bình đẳng nam, nữ trong lao động và việc làm. Ông quan tâm đến vấn đề làm
thế nào để người phụ nữ được giải phóng thật sự. Theo ông thì công việc nội trợ trong gia
đình là một vấn đề hết sức nan giải trong số các vấn đề liên quan, V.I.Lênin cho rằng:
Ngay trong điều kiện hoàn toàn bình đẳng thì sự thật phụ nữ vẫn bị trói buộc vì toàn bộ
công việc gia đình đều trút lên vai phụ nữ; Đó là vì: Mặc dù có luật lệ giải phóng, nhưng
phụ nữ vẫn cứ là nô lệ trong gia đình, vì những công việc nội trợ linh tinh còn đè nặng
lên lưng họ, làm cho họ nghẹt thở, mụ mẫm…ràng buộc họ vào bếp núc, vào buồng con
cái, lãng phí sức lực của họ vào một công việc cực kỳ kém năng xuất.
Do vậy, việc ban hành hệ thống luật pháp mới bảo đảm quyền bình đẳng nam, nữ,
đưa phụ nữ vào tham gia quản lý nhà nước, giảm nhẹ gánh nặng công việc gia đình và bản
thân người phụ nữ cũng phải tự nỗ lực cố gắng vươn lên là những việc làm cần tiến hành
một cách triệt để và đồng bộ. Với việc thực hiện đồng bộ những biện pháp này, V.I.Lênin
hoàn toàn tin tưởng rằng: “phụ nữ sẽ học tập nhanh chóng và đuổi kịp được nam giới” [17,
tr.182-183].

1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về
bình đẳng giới trong lao động và việc làm
Là học trò xuất sắc của C.Mác và V.I.Lênin, lại am hiểu lịch sử dân tộc và trực
tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ vai trò to lớn của phụ
nữ Việt Nam trong quá trình dựng nước, giữ nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn lời của
C.Mác: "Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp
vào thì chắc chắn không làm nổi. Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết
xã hội tiến bộ thế nào". Người cũng dẫn lời của V.I.Lênin: "Đảng cách mệnh phải làm
sao dạy cho đàn bà nấu ăn cũng biết làm việc nước, như thế cách mệnh mới gọi là thành
công" [28, tr.288].
Người luôn tự hào và đánh giá rất cao vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam trong
công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc. Người thể hiện nhận thức giới sâu sắc ở sự khẳng
định rằng khả năng của phụ nữ Việt Nam không hề thua kém nam giới, coi lao động nữ
là một lực lượng cách mạng trong cải tạo và xây dựng cuộc sống mới. Trong thời gian ở
Pháp năm 1946, khi tiếp đại biểu các nước đến thăm, Người đã nói: “Từ ngày dân Việt
Nam tranh được chính quyền, phụ nữ đều ra sức gánh vác công việc. Nào giúp đỡ chiến
sỹ, tăng gia sản xuất. Nào chống nạn mù chữ, tham gia cử tuyển, Tuần lễ Vàng, Đời
sống mới, v. v, việc gì phụ nữ cũng hăng hái” [29, tr.202].
Trong cuộc kháng chiến to lớn của dân tộc, lao động nữ đã gánh vác một phần quan
trọng, còn trên mặt trận sản xuất thì: “Phụ nữ ở xí nghiệp, ở nông thôn hăng hái thi đua tham gia
ái quốc, thành tích không kém đàn ông” [30, tr.431-432].
Luôn tự hào và đánh giá cao vai trò của phụ nữ, của lao động nữ, Hồ Chí Minh
thật sự vui mừng trước sự phấn đấu vươn lên và sự tiến bộ của phụ nữ. Người còn chỉ rõ
ưu điểm của lao động nữ so với lao động nam trong công tác lãnh đạo, quản lý:
Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành
kiến, hẹp hòi. Như vậy là rất sai. Hiện nay, có nhiều phụ nữ tham gia công tác
lãnh đạo ở cơ sở. Nhiều người công tác rất giỏi. Có cháu gái làm chủ nhiệm
hợp tác xã toàn thôn, không những hăng hái mà còn làm tốt. Các cháu gái ở
hợp tác xã thường có nhiều ưu điểm: ít mắc tội tham ô, lãng phí, không hay
chè chén, ít hống hách mệnh lệnh như một số cán bộ nam [31, tr.401].
Đây là một nhận xét sắc sảo, trên cơ sở bình đẳng giới của Hồ Chí Minh về phẩm
chất của phụ nữ, đồng thời cũng chỉ ra sự khác biệt giới trong công tác lãnh đạo, quản lý.
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của lực lượng lao động nữ trong công
cuộc xây dựng tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người chỉ rõ: “Phụ nữ ta là một lực
lượng lớn trong công cuộc xây dựng Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội” [33, tr.451]. “Non
sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức thêu dệt mà thêm tốt đẹp, rực
rỡ” [30, tr.432]. Lực lượng lao động nữ được coi là nguồn lực to lớn để xây dựng chủ nghĩa
xã hội, điều này thể hiện rõ trong lời phát biểu của Người: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội
phải làm gì? Nhất định phải tăng gia sản xuất thật nhiều. Muốn sản xuất nhiều thì phải có sức
lao động, phải giải phóng sức lao động của phụ nữ” [32, tr.532].
Xuất phát từ vai trò to lớn của phụ nữ nói chung, của lực lượng lao động nữ nói
riêng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã hội chủ
nghĩa, Hồ Chí Minh đã xác định một cách nhất quán rằng giải phóng phụ nữ, thực hiện
bình đẳng nam nữ trên mọi lĩnh vực của đời sống, kể cả lĩnh vực lao động, việc làm, là
một trong những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, Người nói: “Nếu không giải phóng
phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nữa” [34, tr.195].
Hồ Chí Minh đã làm rõ nguyên nhân kinh tế - xã hội đẩy nguời phụ nữ Việt Nam
vào cảnh đau khổ thảm thương dưới chế độ thực dân, nửa phong kiến trước đây và Người
kết luận: con đường giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, xóa bỏ áp bức, bóc lột, đói
nghèo và lạc hậu là con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng phụ nữ. Muốn triệt để giải
phóng phụ nữ, phải nâng cao trình độ mọi mặt cho mọi người, trong đó có phụ nữ, xóa bỏ
tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng một đời sống kinh tế, văn hóa cao. Đó là quá trình
đấu tranh cho sự tiến bộ của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng mục tiêu bình đẳng nam, nữ nói chung, bình đẳng
trong lĩnh vực lao động việc làm nói riêng. Ngay trong Chánh cương vắn tắt của Đảng,
Người nêu rõ mục tiêu “Nam nữ bình quyền” [29, tr.1]. Trong bài thơ Mười chính sách của
Việt Minh, Người ghi rõ:
“Đàn bà cũng được tự do,
Bất phân nam nữ, đều cho bình quyền" [29, tr.10].
Điều 24 của Hiến pháp nói: Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền
bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình
[37, tr.8]. Người nhận rõ và chỉ ra cách hiểu chưa đúng về sự bình đẳng nam nữ, đó
không phải là sự chia đều công việc của hai giới: “Nhiều người lầm tưởng đó là một việc
dễ, chỉ: hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát
thế là bình đẳng, bình quyền. Lầm to!” [30, tr.433].
Trong thời kỳ xây dựng đất nước, theo quan điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện
bình đẳng giới trong lao động và việc làm còn là quá trình giải phóng sức lao động, tạo
điều kiện cho lao động nữ phát huy hết khả năng sáng tạo của mình. Người nói: “Phải đặc
biệt chú ý đến sức lao động của phụ nữ. Phụ nữ là đội quân lao động rất đông. Phải giữ
gìn sức khỏe cho phụ nữ để chị em tham gia sản xuất được tốt” [4].
Hơn ai hết, Hồ Chí Minh ý thức sâu sắc rằng bước tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
không thể tách rời sự quan tâm, giúp đỡ của Đảng và Chính phủ. Người luôn yêu cầu
Đảng, Chính phủ cần phải có những kế hoạch thiết thực để giúp đỡ phụ nữ về mọi mặt,
trong đó đặc biệt chú ý về lĩnh vực lao động, việc làm. Trong di chúc, Người căn dặn:
“Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để
ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo” [34, tr.504].
Nhờ sự quan tâm đó của Hồ Chí Minh, Nhà nước đã ban hành nhiều chế độ, chính
sách quan trọng, quy định rõ việc tuyển dụng lao động nữ vào các cơ quan, xí nghiệp của
các ngành nghề mới mở. Việc thực hiện các chính sách này đã tạo nên một bước chuển
biến mới mẻ trong việc phân bổ, sử dụng lao động nữ ở nước ta, hình thành một đội ngũ
công nhân viên chức, giáo viên, y bác sĩ đông đảo, nhiều người có trình độ tay nghề cao,
lao động hiệu quả. Song lao động nữ lại có những nét đặc thù, do họ phải thực hiện chức
năng sinh đẻ. Hồ Chí Minh nhận thức rõ và rất quan tâm đến đặc điểm giới tính này của
phụ nữ. Người luôn nhắc nhở các cấp chính quyền, các cán bộ lãnh đạo các đơn vị sản
xuất, công tác phải quan tâm đến những yêu cầu riêng của người lao động, chú ý đến việc
sự dụng sức lao động nữ một cách hợp lý. Thực hiện quyền bình đẳng giữa nam, nữ trong
lao động, việc làm không có nghĩa là sắp xếp cho lao động nữ làm bất cứ việc gì, phân
công công tác nào cũng như nam giới. Quan điểm này của Người đã bao trùm quan điểm
giới. Người phê bình cán bộ tỉnh là mắc bệnh máy móc khi “bắt phụ nữ có 3, 4 con mọn
cũng phải đi tập “một, hai” [30, tr.4]. Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo các cấp “Cần phải
tìm mọi cách để bảo vệ phụ nữ thai nghén”; “phân phối công tác cho phụ nữ phải thích
hợp, không nên để phụ nữ làm những việc nặng”; “khi phụ nữ có kinh thì hợp tác xã chớ
phân công cho họ đi làm ở chỗ ruộng sâu, nước rét” [34, tr.194]. Người chỉ rõ: “Phải đặc
biệt chú ý đến sức lao động phụ nữ. Phụ nữ là quân đội lao động rất đông. Phải giữ gìn
sức khỏe cho phụ nữ để chị em tham gia sản xuất được tốt…Các hợp tác xã phải có
những tổ giữ trẻ tốt để phụ nữ có con mọn có chỗ gửi các cháu để yên tâm lao động” [34,
tr.194]. Là nguồn nhân lực dồi dào, nhưng việc sắp xếp công việc cho phụ nữ có những
khó khăn, bên cạnh những nguyên nhân khác, có vấn đề trình độ văn hóa, nghiệp vụ của
họ còn thấp, Người cũng đòi hỏi các cấp lãnh đạo các ngành phải có trách nhiệm đào tạo,
bồi dưỡng về văn hóa và nghề nghiệp, kỷ thuật chuyên môn cho lao động nữ để họ có thể
tham gia vào mọi công việc sản xuất, công tác trong tư thế bình đẳng với nam giới và có
tương lai phát triển lâu dài “Các cấp đảng, chính quyền địa phương khi giao công tác cho
phụ nữ, phải căn cứ vào trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ phụ nữ
nhiều hơn nữa” [33, tr.184].
Mặt khác, Người luôn luôn chân thành khuyên nhủ và yêu cầu chị em phụ nữ “Không
nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình, mà tự mình phải tự cường,
phải đấu tranh” [32, tr.524], “phải quyết học tập, phát huy sáng kiến, tin tưởng ở khả năng của
mình, nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết giúp đỡ nhau” [33, tr.185], “Phải xóa bỏ cái tâm lý tự
ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hóa, kỹ
thuật” [33, tr.295].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ phải “mang sức ta mà giải phóng cho ta”. Như
vậy, để thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm, lao động nữ không chỉ trông
vào việc thực thi các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước mà phải tự
vươn lên, tự đấu tranh để khẳng định vị trí của mình.
Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước luôn luôn quan tâm đến vấn đề bình đẳng nam nữ
và đảm bảo để phụ nữ được tham gia đầy đủ, bình đẳng trong công cuộc xây dựng và
phát triển đất nước. Đảng ta luôn khẳng định, phụ nữ là một lực lượng to lớn, phụ nữ có
vai trò quan trọng trong sản xuất và hoạt động xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài
đến sự phát triển của đất nước. Đến nay đã có nhiều Bộ luật, Hiến pháp, Nghị quyết, Chỉ
thị, chuyên đề hoạt động về giới nữ nhằm phát huy vai trò của lao động nữ và cán bộ nữ.
Điều 6, Hiến pháp đầu tiên của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1946, khẳng định: “Tất cả các công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương
diện chính trị, kinh tế, văn hóa” và Điều 9 “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi
phương diện”.
Điều 24, Hiến pháp 1959 khẳng định: “Phụ nữ Việt Nam có quyền bình đẳng với
nam giới về tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa và gia đình”
Nghị quyết 31 của Hội đồng Chính phủ (1967) quy định: Phải bồi dưỡng lực
lượng lao động nữ; những công việc thích hợp với phụ nữ nhất thiết phải được sử dụng
phụ nữ; những công việc độc hại không phù hợp với điều kiện sinh lý của phụ nữ thì
không được sử dụng lao động nữ.
Điều 63, Hiến pháp 1980 khẳng định: “Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau
về mọi mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Nhà nước và xã hội chăm lo
nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và nghề nghiệp của phụ nữ".


Tạo điều kiện cho nữ giới tham gia ngày càng nhiều vào lĩnh vực lãnh đạo, quản
lý, coi đây là dấu hiệu cao nhất của thực hiện bình đẳng giới nói chung, bình đẳng giới
trong lao động và việc làm nói riêng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã
xây dựng và thực hiện Chiến lược vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến 2000, trong đó
đã có sự quan tâm rất lớn đến việc làm của lao động nữ:
Đặc biệt coi trọng đào tạo nghề nghiệp, giúp đỡ chị em có việc làm, phát
triển kinh tế gia đình, cải thiện đời sống, bảo vệ sức khỏe của phụ nữ và trẻ em.
Quan tâm phát triển Đảng và đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, tăng tỷ lệ nữ trong
các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ở các cấp, các ngành [6, tr.125].
Ngoài ra, Đảng còn nhấn mạnh phải có định hướng phát triển cho nữ giới, tạo việc
làm, phát triển nghề nghiệp cho họ trong chiến lược tổng thể phát triển đất nước.
Những văn kiện của Đảng nhấn mạnh đến việc thực hiện bình đẳng giới, bình đẳng
giới trong lao động và việc làm nói riêng, chú trọng công tác cán bộ nữ, coi việc tăng tỷ lệ nữ
tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tạo điều kiện cho lao động nữ có việc
làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ học vấn cho phụ nữ là điều kiện quan trọng để thực
hiện bình đẳng giới, là điều kiện để phát huy tiềm năng và nâng cao địa vị xã hội cho phụ nữ.
Đại hội X khẳng định:
Nâng cao trình độ mọi mặt cả đời sống vật chất và tinh thần cho phụ nữ,
thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện tốt vai trò của
người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người.
Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã
hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp. Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bà
mẹ, trẻ em. Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo
hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ [8, tr.120].
Trong mục tiêu cụ thể của Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đến giai
đoạn 2001 - 2010 đã rất quan tâm đến việc thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong
lĩnh vực lao động và việc làm, thể hiện qua các chỉ tiêu như: Hàng năm trong tổng số việc
làm, tỷ lệ lao động nữ tăng dần để đạt 40% vào năm 2005 và 50% vào năm 2010; Tăng tỷ
sử dụng thời gian lao động nữ ở khu vực nông thôn lên 75% vào năm 2005 và lên đến
80% vào năm 2010; Giảm tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ ở khu vực thành thị xuống
còn khoảng 5-6% vào năm 2005 và xuống dưới 5% vào năm 2010 [46, tr.1].


Kết luận chương 1

Giới, bình đẳng giới là vấn đề có tính toàn cầu mà mọi quốc gia đã rất quan tâm
giải quyết, trong đó bình đẳng giới trong lao động, việc làm của đất nước đã đặt ra cấp
bách vì tầm quan trọng của nó.

Bình đẳng giới nói chung, trong lao động và việc làm nói riêng đã được bàn đến
ngay từ khi có sự bất bình đẳng giới, đặt biệt là sự quan tâm của các nhà kinh điển
C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh, các ông đã chỉ ra nguồn gốc nảy sinh bất
bình đẳng giới có nguyên nhân sâu xa từ bất bình đẳng về sở hữu kinh tế, mà trong đó
lĩnh vực lao động và việc làm là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo ra của cải vật chất cho bản
thân, gia đình và xã hội, từ đó xác lập quyền sở hữu về kinh tế. Tiếp sau đó là sự cổ vũ
của các thành kiến tôn giáo, văn hóa, luật hóa. Từ đó các nhà kinh điển chỉ ra con đường
giải phóng phụ nữ là giải pháp quan trọng để thực hiện bình đẳng giới, trong đó phải xóa
bỏ bất bình đẳng giới trong lao động và việc làm và biến lao động gia đình thành lao
động có tính chất xã hội; khắc phục tất cả các tình trạng bất bình đẳng về văn hóa, xã hội
giữa nam và nữ.
Trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin và Hồ Chí Minh, tư tưởng nam nữ
bình quyền đã xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng ta. Tuy nhiên, hiện nay bất
bình đẳng giới nói chung, bất bình đẳng giới trong lao động và việc làm nói riêng còn tồn
tại phổ biến, vì vậy những đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật này cần được tiếp
tục bổ sung, hoàn thiện nhằm đem lại hiệu quả cao trong thực tế đời sống.
Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG VÀ
VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY


2.1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO
ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa tỉnh Bình Phước
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Bình Phước được tách ra từ tỉnh Sông Bé từ 01/01/1997, là tỉnh miền núi
thuộc miền Đông Nam Bộ, đến nay có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm thị xã Đồng
Xoài và 7 huyện, với 102 xã, phường, thị trấn. Phía Đông giáp tỉnh Đắc Nông và Lâm
Đồng; phía Nam giáp tỉnh Đồng Nai và Bình Dương, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh; phía
Bắc và Tây Bắc giáp nước bạn Campuchia, với chiều dài biên giới 240 km. Diện tích tự
nhiên là 6.853,9 km2, dân số năm 2007 là 828.550 người, mật độ dân số 84,8 người/km2, có
41 dân tộc anh em cùng sinh sống, nhưng đông nhất là người Kinh và người S’tiêng. Người
S’tiêng là dân tộc bản địa chính của Bình Phước và tỉnh Bình Phước cũng là địa bàn sinh
sống tập trung nhất của người S’tiêng trên cả nước.
Đất đai màu mỡ, tài nguyên phong phú, khí hậu và thủy văn ở Bình Phước được
thiên nhiên ưu đãi. Đất Bình Phước rất thích hợp với các loại cây công nghiệp dài ngày
có giá trị kinh tế cao như: tiêu, cà phê, cao su, điều. Bên cạnh những loại cây công nghiệp
dài ngày, đất bazan còn thích hợp cho nhiều loại cây màu, lương thực.
Cũng như các tỉnh Nam bộ khác, khí hậu Bình Phước thuộc khí hậu nhiệt đới gió
mùa ổn định. Trong năm chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Trên địa bàn
Bình Phước, sông Bé là phụ lưu của sông Đồng Nai nhưng là dòng sông lớn chảy trong
lãnh thổ của tỉnh. Thác Mơ không chỉ là cảnh đẹp thiên nhiên thơ mộng mà còn có giá trị
kinh tế, nhà máy thủy điện Thác Mơ được xây dựng hòa vào mạng lưới điện quốc gia để
phục vụ cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của nhân dân.
Ngoài ra, Bình Phước còn có nhiều sông, suối nhỏ nằm rải rác khắp các huyện, nhiều hồ
thiên nhiên, bưng, bàu thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản và góp phần làm cho môi
trường, khí hậu của Bình Phước trở nên ôn hòa.
Bình Phước có hai trục đường giao thông chiến lược quan trọng là Quốc lộ 14 và
Quốc lộ 13, nối liền Bình Phước với Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh
Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên và nước bạn Campuchia. Các tuyến đường giao thông
từ tỉnh đến các xã cũng đang được sửa chữa, làm mới, nâng cấp để phục vụ cho yêu cầu
phát triển kinh tế và đời sống sinh hoạt của nhân dân.
Là mảnh đất được thiên nhiên ưu đãi nên từ xưa đến nay Bình Phước là nơi thu
hút rất nhiều cư dân từ khắp các tỉnh thành trong cả nước đến làm ăn sinh sống, do vậy,
đời sống văn hóa nhân dân rất đa dạng và phong phú, mang những nét chung của nền văn
hóa Việt Nam. Nhân dân Bình Phước có tinh thần lao động cần cù, ý thức tự lực tự cường
được phát huy, họ ra sức làm ăn, khai thác những lợi thế thiên nhiên ban tặng, đời sống
nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, tạo nên tâm lý phóng khoáng. Nhưng là
một tỉnh nông nghiệp, chủ yếu với các cây công nghiệp như, điều, cà phê, cao su, tiêu…,
nên trong quá trình phát triển sản xuất cần đến sức mạnh của người đàn ông, lao động nữ
thường bị yếu thế hơn trong cạnh tranh tìm kiếm việc làm. Do những công việc người
đàn ông đảm nhận đem lại nguồn thu nhập chính nuôi sống gia đình nên người đàn ông
được xem là trụ cột trong gia đình, còn người phụ nữ thường có tâm lý trông chờ, ỷ lại.
Do vậy tình trạng bất bình đẳng giới nói chung và bất bình đẳng giới trong lao động và
việc làm nói riêng vẫn còn tồn tại phổ biến và bản thân người phụ nữ vẫn đang chịu thiệt
thòi về nhiều mặt.

2.1.1.2. Điều kiện kinh tế
Bình Phước là một trong những tỉnh có tiềm năng phát triển kinh tế, dựa vào điều
kiện tự nhiên và tiềm năng sẵn có Bình Phước xác định cơ cấu kinh tế của tỉnh là Nông
lâm nghiệp - dịch vụ - công nghiệp. Với tổng quỹ đất nông nghiệp trên 177.452 ha, chiếm
gần 26% diện tích toàn tỉnh, chủ yếu là đất đỏ bazan thích hợp với các loại cây trồng có
giá trị kinh tế cao, là tỉnh nằm cạnh khu kinh tế năng động phía Nam, tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao, có nhiều lợi thế về vị trí, cơ sở hạ tầng, môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn
như Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai…là lợi thế để Bình Phước hội
nhập, kêu gọi đầu tư [44, tr.19].
Tuy nhiên, sau ngày tái lập tỉnh, kinh tế Bình Phước chủ yếu là nông nghiệp thuần
túy, chiếm hơn 70% trong cơ cấu kinh tế; xuất phát điểm về mọi mặt đều thấp hơn nhiều
so với mức độ bình quân của cả nước. Là một trong những tỉnh nghèo nhất cả nước, đời
sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh gặp nhiều khó khăn, bình quân thu nhập đầu người
năm 1996 chỉ đạt 1,9 triệu đồng, tỷ lệ hộ nghèo 17%, thu ngân sách địa phương năm
1997 chỉ đạt 172,9 tỉ đồng [44, tr.19]. .
Phát huy truyền thống "Miền Đông gian lao mà anh dũng", cùng với cả nước Bình
Phước vượt qua mọi khó khăn thách thức. Sau hơn 10 năm tái lập, Đảng bộ, chính quyền
và nhân dân trong tỉnh đã đoàn kết, khắc phục gian khó, phát huy tiềm năng và thế mạnh
của tỉnh vươn lên phát triển kinh tế. Nhiều năm qua kinh tế Bình Phước liên tục tăng
trưởng với tốc độ khá, GDP năm 2007 tăng gấp 3 lần so với năm 1997, bình quân mỗi
năm tăng 12,75%. Thu ngân sách năm sau cao hơn năm trước, năm 2007 tăng gấp 5 lần
so với năm 1997, bình quân mỗi năm tăng 20,91%. Thu nhập của nhân dân không ngừng
được cải thiện, riêng năm 2007, mức tăng trưởng đạt 14,2%, GDP bình quân đầu người từ
2,2 triệu đồng năm 1997, tăng lên 11,3 triệu đồng/năm 2007, bình quân mỗi năm tăng
14,57%. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 9,12% theo tiêu chí mới (trong khi tỷ lệ bình quân cả
nước là 14,7%), thu ngân sách đạt 1.270 tỉ đồng. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng
giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Tỷ lệ nông, lâm
nghiệp còn 53,17%, công nghiệp - xây dựng 21,14%, dịch vụ 25,69%. Kinh tế trang trại
được khuyến khích phát triển, hiện toàn tỉnh có 4.440 trang trại với tổng vốn đầu tư là
2.669 tỉ đồng; chăn nuôi đại gia súc tăng 6,3%. Đến tháng 3 năm 2008 tỉnh đã quy hoạch và
triển khai 7 khu công nghiệp với tổng diện tích 3.205 ha, có 66 doanh nghiệp đi vào hoạt
động với tổng vốn đầu tư hơn 1.000 tỉ đồng, 39 dự án đầu tư nước ngoài với vốn đăng ký
là 113,9 triệu USD [43, tr. 5].
Các khu công nghiệp đa số nằm ở khu vực nông thôn, do vậy, lao động nông thôn
Bình Phước có cơ hội hơn trong tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên, ở nông thôn Bình Phước hiện
nay đang nảy sinh một nghịch lý là lực lượng lao động ở nông thôn, nhất là lao động nữ thiếu
trình độ, tay nghề nên khó cạnh tranh trong tìm kiếm việc làm ở các khu công nghiệp, hoặc
nếu tìm được công việc thì chỉ là làm những công việc giản đơn, thu nhập thấp và khả năng
bị mất việc lớn.
Cơ sở hạ tầng điện, đường, trường, trạm của tỉnh nhiều năm qua được quan tâm đầu
tư xây dựng. Tổng chiều dài đường điện trung thế tăng hơn 6 lần và đường dây hạ thế tăng
hơn 16 lần năm 1997; 100% xã phường có điện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ sử dụng điện từ
18,03% lên 76%. Đến nay, 100% xã có đường ô-tô đến trung tâm xã. Các trung tâm y tế
khu vực, huyện và trạm xá cũng được quan tâm đầu tư, toàn tỉnh có 45% trạm y tế có bác
sĩ, 80% hộ dân ở nông thôn được sử dụng nước sạch. Bưu chính - viễn thông cũng là lĩnh
vực phát triển mạnh [43, tr.6].
Diện mạo kinh tế - xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh đã có
nhiều đổi mới. Hơn 10 năm qua, tỉnh đầu tư 281 tỉ đồng xây dựng 665 công trình kết cấu
hạ tầng thiết yếu, hơn 24 tỉ đồng cho việc chuyển giao và áp dụng khoa học - kỹ thuật vào
sản xuất. Thu nhập bình quân đầu người vùng đồng bào dân tộc thiểu số từ 1,92 triệu đồng
năm 2000 tăng lên 4,61 triệu đồng năm 2007. Năm 1997, số hộ nghèo trong đồng bào là
41,2%, năm 2005 giảm còn 15% (theo chuẩn cũ) và đến cuối năm 2007 giảm xuống còn
23,59% (theo chuẩn mới), về cơ bản trong tỉnh không còn hộ đói thường xuyên [43, tr. 7].
Ngành sản xuất nông nghiệp tỉnh Bình Phước trong những năm gần đây phát triển
tương đối ổn định, việc chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp, cơ cấu kinh tế được đẩy
mạnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sản xuất nông nghiệp đã hình thành các
vùng trồng cây chuyên canh có thế mạnh với quy mô lớn như, tiêu, cao su, điều, cây ăn
trái…Năm 2007, diện tích cây lâu năm là 250.677 ha. Tỉnh đã đẩy mạnh phát triển kinh
tế trang trại với mô hình chủ yếu là cây cao su, cây điều, cây tiêu, cây ăn trái không
những đem lại hiệu quả kinh tế mà còn góp phần giải quyết công ăn việc làm cho số lao
động dư dôi, đến năm 2007, toàn tỉnh có 4.440 trang trại, với vốn đầu tư 2.669 tỷ, sử
dụng 38.834 ha, giải quyết việc làm cho 35.507 lao động, trong đó lao động nữ là 12.373
người [39, tr.5]. Sau hơn 10 năm hình thành và phát triển kinh tế trang trại đã góp phần
từng bước chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, hình thành vùng
chuyên canh tập trung cây công nghiệp nguyên liệu, tạo điều kiện cho công nghiệp chế
biến phát triển, lao động ở nông thôn có cơ hội tìm kiếm việc làm, do vậy, lao động nữ
cũng cũng được hưởng lợi từ sự phát triển này, có cơ hội tìm kiếm việc làm hơn.
Tuy nhiên, trong những hộ gia đình ở nông thôn gánh nặng gia đình chủ yếu đặt
lên vai người phụ nữ. Hiện tượng này diễn ra phổ biến ở nông thôn Việt Nam nói chung
và nông thôn Bình Phước nói riêng. Công việc gia đình đã chiếm nhiều thời gian của phụ
nữ, nên mặc dù, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tỉnh Bình Phước đang
ngày một phát triển đi lên, các khu công nghiệp đang từng bước hình thành, lao động
Bình Phước có cơ hội tìm kiếm việc làm dễ hơn so với những tỉnh khó khăn khác, song
đối với lao động nữ nói chung, lao động nữ nông thôn nói riêng vẫn bị yếu thế hơn trong
cạnh tranh tìm kiếm việc làm so với lao động nam.

2.1.1.3. Dân số và lao động
Phát triển dân số là một trong những vấn đề nóng mà toàn xã hội quan tâm hiện
nay vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của mỗi quốc gia,
đặc biệt là vấn đề việc làm và thu nhập của mỗi người lao động. Phát triển dân số là
nguồn cung cấp lao động chủ yếu cho sự phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, khi dân số
quá đông và mứt tăng nhanh sẽ trở thành gánh nặng hạn chế sự phát triển kinh tế và gây
ảnh hưởng bất lợi đến phát triển xã hội.
Từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, dân số Bình Phước liên tục tăng
nhanh, trong đó phần lớn là đồng bào các tỉnh đông dân theo chương trình của Đảng, Nhà
nước di dân vào Bình Phước xây dựng kinh tế mới. Một số khác là cán bộ tập kết trở về,
bộ đội phục viên, công nhân cao su được tuyển từ nơi khác đến để khôi phục và phát triển
các nông trường cao su. Từ 01/01/1997, tỉnh được tách ra từ tỉnh Sông Bé, dân số Bình
Phước lại tiếp tục tăng nhanh do nhân dân ở khắp các tỉnh thành trong cả nước đến lập
nghiệp, xây dựng kinh tế và công tác. Theo Niên giám thống kê năm 2007 (thể hiện qua
bảng 2.1), dân số toàn tỉnh là 828.550 người (tăng 185.413 người so với năm 1999) bao
gồm 420.028 nam, chiếm 50,7%, 408.522 nữ, chiếm 49,3%. Dân số thành thị là 126.170
người, chiếm 15,2%, dân số nông thôn là 702.380, chiếm 84,8%. Trong tổng số 475.981
người, lực lượng lao động nam 236.991 người, chiếm 49,8%, lực lượng lao động nữ
238.990 người, chiếm 50,2% là nguồn lao động dồi dào của tỉnh Bình Phước hiện nay.
Bảng 2.1: Dân số trung bình phân theo giới và phân theo thành thị, nông thôn

Phân theo thành thị, nông
Phân theo giới tính
thôn
Năm Tổng số
Nam Nữ Thành thị Nông thôn

1999 643.137 319.247 323.890 96.475 546.662

2000 675.186 340.493 334.693 100.635 574.551

2004 773.297 392.863 380.434 116.431 656.866

2005 794.838 403.828 391.010 120.787 674.051

2006 814.330 413.835 400.495 123.749 690.591

2007 828.550 420.028 408.522 126.170 702.380

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Phước 2007.

Dân số đông, người dân Bình Phước có tính cần cù, chịu khó. Đây là một trong
những thế mạnh hết sức quan trọng cho sự phát triển kinh tế toàn tỉnh. Tuy nhiên, đối với
Bình Phước, dân số tăng nhanh đã gây sức ép rất lớn cho giải quyết việc làm cho người
lao động, tình trạng thất nghiệp hoặc làm những việc theo mùa vụ, thu nhập thấp tồn tại
tương đối nhiều và chủ yếu nghiêng về phía lao động nữ, nhất là lực lượng lao động nữ ở
nông thôn.

2.1.1.4. Điều kiện văn hóa - xã hội
Thuở xa xưa trên vùng đất Bình Phước đã có con người sinh sống và chủ nhân của
vùng đất này thuộc các dân tộc thiểu số S’tiêng, Châu Ro, M’nông, Tà mun… Sang đầu
thế kỷ XVII, vùng đất này dần dần thu nạp những cư dân Khơme đã lập làng ở vùng Nha
Bích, người Kinh từ các tỉnh phía Bắc vào. Bình Phước hiện nay có đủ cư dân của 64 tỉnh
thành trong cả nước đến làm ăn sinh sống, đã tạo dựng cho Bình Phước một vườn hoa
văn hóa muôn màu muôn sắc. Trong đó dân tộc kinh chiếm số đông (80%), tiếp đến là
người Stiêng (9,17%), Mnông (1,05%), Tày (2,37&), Khơ me (1,78%) và nhiều dân tộc
khác như: Tà mun, K’ho, Mạ, Tày, Nùng, Dao, Mường, Chăm, Hoa… Daân toäc thieåu
soá và đa số soáng ñan xen vôùi nhau treân taát caû caùc huyeän, thò cuûa tænh. Song có
moät soá daân toäc taäp trung chủ yếu ôû moät soá huyeän nhö: ngöôøi S'tieâng soáng
taäp trung ôû Phöôùc Long, Bình Long, Buø Ñaêng (tập trung ở Sóc BomBo), Loäc
Ninh; ngöôøi Nuøng taäp trung ôû Ñoàng Phuù, Buø Ñaêng vaø ngöôøi Khơme ôû Loäc
Ninh…
Ở Bình Phước do đa phần dân cư từ các nơi đến làm ăn sinh sống, nên thiết chế tổ
chức làng xã không chặt chẽ như ở miền Bắc, miền Trung. Dân làng thường ít bị ràng
buộc bởi lệ làng đối với người không phải dân tộc bản địa (chiếm đa số). Điều đó làm
cho hoạt động giao tiếp của cá nhân với cộng đồng cởi mở hơn, tạo điều kiện cho họ
hướng ra bên ngoài, mang lại cho họ tri thức mới của văn hóa các dân tộc bản địa sống
trong tỉnh.
Cư dân Bình Phước đa phần từ các tỉnh khác đến, do vậy, ảnh hưởng đến trình độ
học vấn, tay nghề của người dân, theo thống kê, trình độ học vấn, lao động qua đào tạo
thấp (25%), số người mù chữ còn cao (1612). Trình độ học vấn, chuyên môn cũng ảnh
hưởng lớn đến cơ cấu nghề nghiệp của lao động nông thôn trong tỉnh, ảnh hưởng nhiều
hơn đối với lao động nữ, gây cản trở cho việc thực hiện bình đẳng giới trong lao động và
việc làm.
Ngoài những đặc điểm chung của cư dân Đông Nam bộ, Bình Phước có đặc thù
riêng, nơi có đông đồng bào dân tộc Stiêng sinh sống (đông nhất của cả nước). Người Stiêng
sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, vùng hẻo lánh, kết cấu hạ tầng thấp kém, canh tác sản
xuất chủ yếu trên nương rẫy, kinh tế thuần nông, sống dựa vào điều kiện tự nhiên là chính,
họ rất thạo việc săn bắt, làm rẫy, bắt cá, hái rau. Trước đây, người Stiêng sống du canh, du
cư. Ngày nay, do chính sách định canh, định cư của Đảng, Nhà nước nên họ đã sống theo
phương thức định canh, định cư, mô hình làm kinh tế ruộng nước kết hợp kinh tế vườn được
xem là chiến lược lâu dài. Ngoài làm rẫy, người Stiêng rất chú ý đến chăn nuôi, họ nuôi heo,
gà, vịt, chó… còn nuôi trâu chỉ để dành hiến tế trong các dịp lễ, tết lúa mới có thịt trâu để ăn.
Bên cạnh việc bổ sung thực phẩm hái lượm măng rừng, đọt mây, nấm… do phụ nữ kiếm về,
vào những khi mùa khô họ lại tranh thủ ra suối xúc cá để cải thiện bữa ăn. Đời sống sản xuất
khó khăn, nên đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào còn rất nhiều khó khăn.
Về nhà ở, Người Stiêng thường làm nhà nền đất, mái tranh, vách bằng tre nứa, một
số sống bằng nhà sàn, có khi nuôi cả heo, gà ngay dưới sàn nhà, gây ổ nhiểm môi trường,
mất vệ sinh, do vậy, phụ nữ dân tộc thiểu số thường hay mắc các bệnh phụ khoa.
Hoân nhaân gia ñình ôû ngöôøi S'tieâng laø hoân nhaân theo cheá ñoä phuï heä
vaø maãu heä. Người Stiêng ở Bình Phước gồm hai nhánh: Stiêng Bù Lơ và Stiêng Bù
Đek, ở gia đình Stiêng Bù Lơ là gia đình phụ hệ do người đàn ông nắm quyền quản lý,
người phụ nữ chỉ là nhân tố phụ chịu trách nhiệm việc dạy dỗ con cái. Người Stiêng Bù
Đek là gia đình mẫu hệ, người phụ nữ trong gia đình giữ vai trò quan trọng, chịu trách
nhiệm chính việc quản lý về dòng họ, sinh hoạt gia đình. Dù là người Stiêng thuộc
nhánh nào thì cả đàn ông và phụ nữ đều cùng nhau chia sẻ công việc gia đình, cùng
nhau lao động sản xuất trang trải cho cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, còn tồn tại một
thực trạng phụ nữ dân tộc thiểu số trong tỉnh (chủ yếu người Stiêng) chưa quan tâm
nhiều đến vấn đề sức khỏe sinh sản, do vậy, ảnh h ướng lớn đến sức lao động của phụ
nữ. Nhìn chung, vấn đề giới trong lao động và việc làm bình đẳng hơn người kinh.

2.1.2. Tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn của tỉnh trong những năm qua
Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là giải pháp cơ
bản để chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành nền kinh tế có cơ cấu công - nông -
dịch vụ tiên tiến và hướng đến cơ cấu phát triển của nền sản xuất hiện đại dịch vụ - công
- nông. Phát triển nông nghiệp, nông thôn còn là giải pháp quan trọng để giải quyết các
vấn đề kinh tế, xã hội ở nông thôn, đặc biệt là vấn đề việc làm.
Sau khi tách tỉnh năm 1997, Bình Phước là một trong những tỉnh nghèo của cả nước,
đời sống nhân dân các dân tộc trong tỉnh gặp rất nhiều khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số
chiếm khoảng 20% với trình độ dân trí thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Sau hơn 10 năm thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn sản xuất nông nghiệp Bình Phước
phát triển tương đối ổn định, kinh tế nông thôn gắn với công nghiệp chế biến nông sản, dịch
vụ tạo việc làm tại chỗ, từng bước xây dựng mô hình nông thôn mới có kinh tế phát triển,
văn hóa xã hội lành mạnh. “Diện tích gieo trồng tăng nhanh, đến năm 2007 tổng diện tích
gieo trồng là 308.059ha, bình quân mỗi năm tăng 4,22%, sản lượng lương thực có hạt năm
2007 đạt 63.951 tấn, bình quân tăng mỗi năm 7,19%, đạt bình quân 67kg/người (năm 2000)
tăng lên 79kg/người (năm 2007)” [43, tr.7].
Tuy đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, nhưng vì tỉnh có xuất phát
điểm thấp hơn so với các tỉnh, thành trong kh u vực, trong cơ cấu kinh tế của tỉnh,
nông nghiệp vẫn chiếm số lượng lớn, trong khi công nghiệp và dịch vụ phát triển
chưa cao, thu nhập của người dân vùng nông thôn còn thấp, vốn tích luỹ để tái đầu tư
không nhiều, vấn đề tái đầu tư chủ yếu tập trung ở khu vực kin h tế trang trại. Thực tế
cho thấy, sự phát triển của kinh tế còn nặng về phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp,
trong đó sự phát triển của kinh tế trang trại đã thu hút, giải quyết việc làm cho nhiều
lao động ở Bình Phước, song chủ yếu lao động được giải quyết việc làm vẫn nghiêng
về phía lao động nam. So với lao động nam số lao động nữ được giải quyết việc làm
đạt tỷ lệ chưa tương xứng.
Những năm gần đây, quá trình đô thị hoá nông thôn, việc quy hoạch các khu
công nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng tác động và ảnh hưởng đến nông nghiệp, diện tích
đất sản xuất, trồng trọt bị thu hẹp, người dân chưa chuẩn bị tốt tâm lý, tư thế để sống
chung với tốc độ đô thị hoá, tình trạng thất nghiệp trong nông thôn t ăng lên. Phần lớn
lao động ở nông thôn đang dịch chuyển ra khỏi khu vực sản xuất nông nghiệp, chủ yếu
tham gia ở những khu vực không chính thức, không ổn định, lao động thủ công. Một
trong những nguyên nhân là do người lao động có trình độ dân trí thấp và công tác đào
tạo nghề của tỉnh còn bất cập, người dân thiếu tích cực, chưa chủ động trong việc học
nghề. Năm 2008 số lao động được đào tạo mới đạt 25%.
C ông cu ộc phát triển nông thôn Việt Nam nói ch ung và t ỉnh Bình Ph ư ớc
n ói riêng di ễn ra trong xu h ư ớng công nghiệp hoá, đ ô th ị hoá v à toàn c ầu hoá,
t rong khi đó lao đ ộ ng có tay ngh ề ở k hu vực nông nghiệp của tỉnh r ất thiếu và
y ếu, l ực lao đ ộng nữ c ó trình đ ộ tay nghề y ếu h ơn .
Hai năm qua vận dụng quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X),
tỉnh đã và đang đẩy mạnh thực hiện 5 giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn trong
những năm tiếp theo, từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn.
Trong đó, giải pháp thứ 5 nhấn mạnh:
Trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn, cần phát triển văn hoá
xã hội, giải quyết đồng bộ các vấn đề của nông thôn như: các thiết chế văn hoá,
tăng cường giáo dục, nâng cao dân trí, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đẩy mạnh
công tác xoá đói giảm nghèo. Đối với người dân bị thu hồi đất để phục vụ phát
triển đô thị nông thôn, cần có chính sách đảm bảo cho họ có cuộc sống ổn định
và cao hơn so với trước khi thu hồi đất, nhất là tạo điều kiện cho người dân có
nghề mới, ổn định thu nhập [39, tr.4].
Theo đó, nhằm đảm bảo an sinh xã hội vùng nông thôn, cần triển khai hiệu quả
hơn chương trình 135 giai đoạn 2; quan tâm đến vấn đề bảo hiểm nông nghiệp đối với
cây trồng, vật nuôi, xây dựng quỹ rủi ro thiên tai, bảo hiểm mất mùa cho nông dân. Thực
hiện quyền bình đẳng giới nói chung, bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông
thôn, nâng cao vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình và xã hội ở khu vực này.
Đảng bộ và chính quyền tỉnh đang nỗ lực trong việc thực hiện chiến lược bình
đẳng giới trong nông nghiệp và phát triển nông thôn, đã đưa việc lồng ghép giới vào
lĩnh vực nông nghiệp nông thôn để thực hiện nhằm đạt được bình đẳng giới trên các
lĩnh vực nói chung và bình đẳng giới trong lao động và việc làm nói riêng, góp phần
nâng cao vị thế của phụ nữ nông thôn, nhằm tạo ra chất lượng và hiệu quả sử dụng
nguồn nhân lực nữ cao hơn, góp phần thực hiện thành công mụ c tiêu đã đề ra trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong nông nghiệp và phát triển nông thôn giai
đoạn 2005-2010 của tỉnh. Tuy nhiên, bất bình đẳng giới trong lao động, việc làm ở
nông thôn Bình Phước là một vấn đề lớn nổi cộm trong phát triển ki nh tế xã hội của
tỉnh.

2.2. THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI
TRONG LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN
NAY
2.2.1. Thực trạng bất bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn
tỉnh Bình Phước hiện nay
2.2.1.1. Thực trạng việc làm của lao động nam, nữ ở nông thôn tỉnh Bình
Phước
Thứ nhất: về phân công lao động giữa nam và nữ
Cùng với những biến đổi trong cơ cấu lao động xã hội dưới tác động của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao
cấp sang nền kinh tế thị trường đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho cả lao động nam lẫn
nữ. Trước đây, phân công lao động theo giới trong xã hội Việt Nam truyền thống có tính
phổ biến, đàn ông làm những công việc “quan trọng”, “nặng nề”, tiêu tốn nhiều sức lực,
còn phụ nữ chỉ đảm nhận những công việc “nhỏ”, “lặt vặt”, “nhẹ nhàng” trong nhà. Câu
nói “Vắng đàn ông quạnh nhà, vắng đàn bà quạnh bếp” cho thấy vị trí, vai trò của phụ
nữ và nam giới khác nhau cả về không gian sống và phân công công việc. Quan niệm lỗi
thời này kéo dài suốt cả thời gian đầu của quá trình xây dựng xã hội mới, do vậy người
phụ nữ dù đã có cống hiến rất nhiều sức lực để tạo ra thu nhập cho gia đình nhưng công
lao của họ trên thực tế vẫn chưa được nhìn nhận bình đẳng với nam giới.
Trong bối cảnh xã hội mới hiện nay, bên cạnh những chính sách kinh tế xã hội
mới, chính sách về giới được lồng ghép vào các chương trình kinh tế xã hội ở địa
phương, công tác tuyên truyền về bình đẳng giới đã được quan tâm, người phụ nữ không
còn bị trói buộc trong công việc bếp núc chật hẹp mà đã vươn ra làm kinh tế, tạo thu nhập
cho gia đình. Cả hai vợ chồng cùng tham gia các hoạt động sản xuất luôn chiếm tỷ lệ
đáng kể trong các hộ gia đình ở nông thôn. Nhiều công việc sản xuất và công việc gia
đình trước đây vốn được xem là “công việc riêng” của phụ nữ thì hiện nay sự chia sẻ của
người chồng là rất đáng kể. Trong nhiều hộ gia đình, nhiều người chồng bước đầu đã tự
giác chia sẻ công việc nhà cùng người vợ như nấu cơm, rửa bát, quét nhà, giặt đồ… và
một số gia đình đã thuê người giúp việc… “So với thế hệ chúng tôi, con gái, phụ nữ bây
giờ tiến bộ hơn nhiều, có trình độ, có nhiều hiểu biết. Có đóng góp kinh tế cho gia đình
nhiều hơn trước nhưng vẫn lo toan hết các công việc gia đình. Bây giờ nam giới cũng đã
có sự chia sẻ công việc gia đình với vợ, con như nấu cơm, rửa bát, trông con” (nữ, 67
tuổi, xã Minh Hưng, huyện Bù Đăng). Đối với gia đình ở thành thị, công việc gia đình
được người chồng chia sẻ nhiều hơn “Cả hai vợ chồng chúng tôi cùng phải đi làm, thời
gian đầu không có người giúp việc, sau khi đi làm về cả hai vợi chồng đều phải tất bật
với công việc gia đình, hơn nữa, vì đặc thù công việc, chúng tôi không có thời gian làm
việc nhà nên vợ chồng tôi đã thuê người giúp việc” (nam 39 tuổi, xã Tiến Thành, thị xã
Đồng Xoài). Đó là một sự chuyển biến tích cực trong phân công lao động gia đình, song
về cơ bản đa số gia đình kể cả ở thành thị và nông thôn vẫn tuân thủ phân công lao động
giới truyền thống, người phụ nữ vẫn là người đóng vai trò chính trong công việc gia đình,
vẫn tốn nhiều thời gian và công sức cho công việc này.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động trực tiếp tới phân công lao động
trong các hộ gia đình ở nông thôn, nhất là trong nông thôn Bình Phước, đang có hướng di
chuyển lao động từ nông nghiệp sang kinh doanh và các ngành nghề khác hoặc di chuyển
ra đô thị kiếm việc làm. Nhiều nam giới di chuyển ra thành phố kiếm sống, cho nên công
việc gia đình, công việc sản xuất ở nông thôn chủ yếu đặt lên vai người phụ nữ, lao động
nữ ở nhà phải đảm nhận cả công việc gia đình và công việc sản xuất, kể cả công việc
nặng nhọc. Mặt khác, sự phân công lao động giữa nam và nữ vẫn chưa có những thay đổi
đáng kể, do có sự khác nhau về cấu trúc sinh học, nam giới thường khỏe hơn nên thường
đảm nhận những công việc nặng nhọc. Kết quả điều tra ở 3 xã Minh Hưng, Tiến Thành,
Tân Xuân cho thấy công việc mà nam giới thường làm là phát rẫy, làm đất, trồng cây
(79%), phụ nữ thường đảm nhận việc gieo trồng lúa, hoa màu, làm cỏ vườn, rẫy (54%),
chăn nuôi gà, lợn (68%), buôn bán nhỏ (81%) [10, tr.1]. Có thể dễ dàng nhận thấy, người
phụ nữ vẫn phải đảm nhiệm nhiều loại công việc hơn nam giới, hơn nữa những công việc
phụ nữ đảm nhận vẫn được xem là những công việc “nhẹ nhàng”.
Trong khu vực nông thôn tỉnh Bình Phước, sản xuất nông nghiệp vẫn là ngành sản
xuất chính, lao động nông nghiệp ngày càng tăng, trong khi đất nông nghiệp, đặc biệt là
đất canh tác ngày càng có xu hướng giảm dần do xây dựng các khu công nghiệp, cơ sở hạ
tầng. Quá trình hậu thu hồi đất đền bù, giải tỏa đô thị hóa đã và đang đẩy một bộ phân
nông dân vào chỗ khó khăn, thiếu đất sản xuất diễn ra gay gắt. Một bộ phận nông dân sử
dụng số tiền đền bù đất đai chủ yếu vào việc xây nhà cửa, mua sắm vật dụng gia đình. Do
vậy, nhìn bên ngoài thì cảm nhận thấy sự giàu có, song bên trong thì nghèo thật, vì ruộng
đất không còn, trong lúc không có nghề nghiệp gì để kiếm sống.
Sự mất cân đối giữa lao động nông nghiệp ngày càng tăng và đất đai sản xuất ngày
càng bị thu hẹp dẫn đến tình trạng thiếu việc làm. Các khu công nghiệp ngày càng
chuyển dịch về nông thôn, song do phần lớn lực lượng lao động nông thôn, nhất là lực
lượng lao động nữ, không có tay nghề hoặc trình độ tay nghề thấp, nên khả năng tìm
kiếm việc làm trong các khu công nghiệp bị hạn chế. Tình trạng thiếu việc làm, làm
những công việc theo mùa vụ, những công việc có thu nhập thấp tồn tại t ương đối phổ
biến.
Một số gia đình cả nhà đi làm mướn, nhất là những vùng có nhiều người dân tộc
Stiêng, Mnông, Khơ me, đa số các dân tộc này sống trong cảnh khó khăn, thiếu thốn, do
phương thức, kỹ thuật canh tác lạc hậu, không có đất sản xuất. Theo thống kê, hiện nay
trong toàn tỉnh còn 5.157 hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu và không có đất sản xuất, tỷ
lệ hộ nghèo 23,59% [1, tr.2], do vậy đi làm thuê nhiều, khi đi làm họ mang theo con cái,
nếu là con nhỏ thì trông coi đồ đạc, nếu con lớn thì cùng lao động với cha mẹ. Tình trạng
lao động nữ làm những công việc gần giống lao động nam diễn ra phổ biến, kể cả công
việc nặng nhọc như cuốc đất trồng hoa màu. Nhiều phụ nữ người Stiêng, Mnông, Khơme
theo thói quen, đi làm ngay sau khi sinh khoảng 2 hoặc 3 ngày, do vậy, ảnh hưởng rất lớn
đến sức khỏe của phụ nữ dân tộc thiểu số. Từ đó cho thấy, thiếu việc làm ổn định, thu
nhập thấp là một thách thức to lớn đối với người phụ nữ, đặt họ vào những điều kiện bất
lợi. Để tăng thu nhập cho gia đình, phụ nữ phải lao động với thời gian và cường độ cao,
chấp nhận làm mọi việc, kể cả việc không phù hợp với sức khỏe của mình như việc gieo
trồng lúa, hoa màu, làm cỏ, chăn nuôi, buôn bán nhỏ đến phụ hồ, phun thuốc trừ sâu, làm
công nhân lò gạch…
Nhiều gia đình khó khăn ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đ ồng bào dân
tộc, các bậc phụ huynh thường cho con cái nghỉ học để phụ giúp gia đình, nhất là con
gái thường phải nghỉ học sớm, ảnh hưởng không nhỏ đến việc học của một bộ phận
cháu gái. Theo báo cáo của Sở Giáo dục - đào tạo tỉnh năm học 2008-2009, tỷ lệ học
sinh bỏ học; ở bậc tiểu học, nữ 0,54%, nam 0,33%; bậc trung học c ơ sở, nữ 3,08%,
nam 1,65%; bật trung học phổ thông, nữ 4,02%, nam 2,28% [41, tr.13 ]. Mặc dù chính
quyền địa phương đã có nhiều biện pháp như: miễn giảm học phí, hỗ trợ sách vở, có
khi giáo viên đến tận nhà nhắc nhở, năn nỉ phụ huynh cho con trở lại trường học, song
những giúp đỡ đó vẫn chưa khắc phục được tình trạng nghỉ học của các cháu gái.
Hiện nay ở Bình Phước, có 43 nông trường, 9 nhà máy chế biến mủ cao su với
tổng số công nhân là 23.441, trong đó nam là 10.783 chiếm 46%, nữ là 12.658 chiếm
54% [19, tr.1]. Trong lĩnh vực khai thác mủ cao su, tỷ lệ lao động giữa nam và nữ về
số lượng hầu như không có nhiều khác biệt, song đây là một ngành độc hại, ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của phụ nữ và chức năng sinh sản của họ. Trong
các nông trường cao su, tỷ lệ lao động nam và lao động nữ tương đối bằng nhau, song
vấn đề giới chủ yếu đặt ra ở chỗ: đa số lao động nữ không có đủ sức khỏe để lao động
đến độ tuổi nghỉ h ưu theo quy định của nhà nước (55 tuổi), vì đây là lĩnh vực độc hại,
nặng nhọc, lao động với cường độ cao (trung bình 12 giờ mỗi ngày), cộng với thời
gian họ phải thực hiện chính công việc gia đình. Do vậy, để đảm bảo chế độ hưu trí,
đa số phụ nữ phải thuê lao động làm việc cho họ trong các nông tr ường khoảng 5 đến
10 năm cuối và phải trả với mức lương nhất định cho lao động họ thuê. Đây là khó
khăn rất lớn cho lao động nữ. Tình trạng này công nhân nam cũng gặp phải, song do
họ ít phải làm công việc gia đình, sức khỏe tốt hơn nên đa số công nhân nam vẫn lao
động tới tuổi về hưu.
Thứ hai: về tiếp cận các nguồn lực để sản xuất, kinh doanh
Hiện nay, ở nông thôn Bình Phước khoảng cách giới về tiếp cận các nguồn lực để
sản xuất kinh doanh (thông tin, kiến thức canh tác, chăn nuôi, vốn, sức khỏe, đào tạo) còn
khá lớn, cụ thể như:
Một trong những nguồn lực rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp là thông tin,
kiến thức canh tác, chăn nuôi. Ở Bình Phước, việc chuyển giao kiến thức này đến nông
dân bằng nhiều kênh khác nhau, trước hết thông qua hoạt động khuyến nông. Tuy nhiên,
nhiều năm qua, những người tham gia các hình thức chuyển giao kiến thức sản xuất (tập
huấn, hội thảo, trình diễn, mô hình, tham quan…) chủ yếu là nam giới. Từ năm 2005 đến
2008 có 2.068 đợt tập huấn khuyến nông, với tổng số người tham dự 83.405 người, trong
đó nam giới tham gia 54.091, chiếm tỷ lệ 64,85%, nữ tham gia 29.314, chiếm tỷ lệ 35,15
% [39, tr.8]. Tiếp cận được dịch vụ khuyến nông sẽ có một ý nghĩa rất lớn trong phát
triển kinh tế gia đình, nâng cao mức sống, phụ nữ và nam giới có cơ hội tiếp thu những
thành tựu khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, có sự khác biệt
đáng kể trong việc tham gia dịch vụ khuyến nông giữa phụ nữ và nam giới. Phụ nữ ít có
cơ hội và điều kiện để tham dự các lớp tập huấn khuyến nông sẽ là một thiệt thòi lớn cho
họ trong việc nâng cao trình độ nghề nghiệp trong sản xuất trồng trọt, chăn nuôi.
Vốn sản xuất đồng nghĩa với cơ hội việc làm, thu nhập của người nông dân, một
trong những khó khăn nhất của lao động nông thôn tỉnh là thiếu vốn đầu tư sản xuất,
phần lớn nghiêng về phía phụ nữ, bởi đất đai và các tài sản lớn khác họ ít được tiếp cận
và kiểm soát, theo kết quả khảo sát về bình đẳng giới trong lao động và việc làm, có đến
62% phụ nữ được hỏi trả lời họ không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [10,
tr.1], do vậy cản trở phụ nữ vay vốn làm ăn. Thực tế hiện nay, phụ nữ nông thôn của tỉnh
thường chỉ được vay vốn ở ngân hàng Chính sách xã hội, Quỹ xóa đói giảm nghèo
(thường do Hội phụ nữ, Hội nông dân liên kết với các tổ chức Phi chính phủ cho vay
bằng tín chấp) có 69% phụ nữ được vay [9, tr.1].
Nếu như lao động trong các nhà máy, xí nghiệp, cơ quan nhà nước, doanh
nghiệp…đã được quan tâm, chăm sóc sức khỏe ở những mức độ nhất định (chế độ bảo
hiểm, khám sức khỏe định kỳ, chế độc độc hại…) thì ở nông nghiệp, nông thôn, vấn đề
sức khỏe của người lao động vẫn còn bỏ ngỏ. Rất ít hoặc chưa có chương trình chăm sóc
sức khỏe riêng cho phụ nữ nông thôn, mặc dù có đội ngũ nữ hộ sinh dân tộc (số lượng ít,
không đủ đáp ứng nhu cầu). Đặc biệt đối với vùng sâu, vùng xa của tỉnh còn tồn tại
không ít những phong tục tập quán, thói quen lạc hậu, phụ nữ dân tộc thường sinh đẻ
nhiều hơn số lượng cho phép, sau sinh chỉ vài ngày lại tiếp tục đi làm, do vậy, ảnh hưởng
không tốt cho sức khỏe của phụ nữ.
Thực tế đời sống đã chứng minh vai trò của yếu tố học vấn là hết sức quan
trọng đối với phát triển kinh tế gia đình nói riêng, đối với phát triển kinh tế xã hội của
quốc gia nói chung. Kết quả khảo sát cho thấy , thực trạng chênh lệch học vấn, đào tạo
giữa phụ nữ và nam giới ở nông thôn tỉnh Bình Ph ước hiện nay là vấn đề cần quan
tâm, đặc biệt đối với những người trên 45 tuổi. Có 72% nam giới có trình độ học vấn
từ trung học cơ sở trở lên, trong khi đó, tỷ lệ này ở phụ nữ chỉ chiếm 5 1% [10, tr.1].
Trong tổng số 25% lao động nông thôn được đào tạo nghề năm 2008, chỉ có khoảng
gần 11% là lao động nữ [38, tr.6]. Với hoạt động cạnh tranh trong phát triển kinh tế
thị trường như hiện nay thì những người có học vấn cao sẽ có nhiều lợi thế trong tìm
kiếm việc làm ổn định, có thu nhập cao.
Thứ ba: về tỷ lệ thất nghiệp giữa lao đ ộng nam và lao động nữ

Theo bảng 2.2, qua các năm, tỷ lệ thất nghiệp của lao động nữ cao hơn so với
nam giới. Chênh lệch về tỷ lệ thất nghiệp giữa nam và nữ ngày càng t ăng lên từ 0,36%
năm 2000 lên đến 0,75% năm 2006 và 1,14% năm 2007. N guyên nhân là do, lao động
nữ của tỉnh ngày càng tụt hậu, không đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Hơn nữa, vì “đất lành chim đậu”, Bình Phước là
mảnh đất dễ làm ăn sinh sống nên hàng năm làn sóng di dân từ các tỉnh khác đến Bình
Phước khá nhiều, họ thường là những người có đời sống khó khăn, nghề nghiệp không
ổn định, trình độ tay nghề thấp, thiếu đất sản xuất…những điều đó cũng góp phần làm
tăng tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh nói chung và ở nông thôn trong tỉnh nói riêng.

Bảng 2.2: Thất nghiệp của lực lượng lao động Bình Phước chia theo thành thị, nông
thôn và chia theo giới tính

Đơn vị
Chỉ tiêu 2000-2005 2006 2007
tính
Dân số người 675.186 814.330 828.550
Lực lượng lao động người 435.000 475.981 482.958
LLLĐ có việc làm người 378.062 390.187 425.801
Thất nghiệp so với LLLĐ % 3,2 3,23 3,2
Lao động nam thất nghiệp % 1.42 1.24 1.03
Lao động nữ thất nghiệp % 1.78 1.99 2.17
Thất nghiệp thành thị % 4.36 3.37 3.52
Thất nghiệp nông thôn % 1.81 1.25 1.03
Thời gian lao động % 89,76 93,02 90,01

Nguồn: Thống kê tình hình lao động, việc làm của Sở Lao động TB & XH tỉnh
Bình Phước, từ năm 2000-2007.
Thực hiện chương trình số 32/CT-UB của UBND tỉnh về chương trình xóa đói giảm
nghèo giai đoạn 2005-2010 và chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo tỉnh Bình
Phước, đến năm 2008 công tác xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và xây dựng nông
thôn mới ở Bình Phước đã đạt được nhiều thành quả tích cực. Toàn tỉnh đã tập trung đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế; cơ cấu lao động; khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế, thực
hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm; thúc đẩy các dự án đầu tư vào tỉnh như
các chương trình nuôi trồng thủy sản, chương trình phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, chương
trình xuất khẩu lao động, phân công mỗi doanh nghiệp hỗ trợ, giúp đỡ cho một xã nghèo… đã
góp phần đắc lực giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn tỉnh, nhất là lao động ở
khu vực bị thu hồi đất nông nghiệp.
Chương trình vay vốn quốc gia giải quyết việc làm đã sử dụng đúng mục đích và
phát huy hiệu quả tốt. Các trung tâm giới thiệu việc làm đã phát huy chức năng cung ứng,
giới thiệu lao động, đa dạng hóa các hình thức giao dịch trực tiếp giữa người lao động và
người sử dụng lao động. Riêng năm 2008 tỉnh đã giải quyết việc làm cho 27.025 người
lao động, trung bình mỗi năm giải quyết cho khoảng 26.000 lao động, giảm tỷ lệ thất
nghiệp ở thành thị xuống còn 3,5%, ở nông thôn xuống còn 1.06%.
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tích trong đào tạo và giải quyết việc làm, trong
công tác xóa đói giảm nghèo, nhưng tỷ lệ thiếu việc làm của người lao động ở Bình Phước
còn cao. Nếu như tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị cao hơn ở nông thôn thì tỷ lệ thiếu việc làm ở
nông thôn lại cao hơn ở thành thị (bảng 2.3), trong đó lao động nữ nông thôn thiếu việc
làm năm 2000 là 24.759 người, lao động nam nông thôn thiếu việc làm 19.034 người.
Đến năm 2007 lao động nữ nông thôn thiếu việc làm là 26.139 người, lao động nam nông
thôn thiếu việc làm 23.634 người. Nguy cơ thất nghiệp của cả lao động nam và nữ ở nông
thôn đều không cao hơn so với lực lượng lao động ở thành thị, song tình trạng thiếu việc làm
của lực lượng lao động nông thôn cũng ảnh hưởng tới thu nhập và đời sống của người lao
động, nhất là lao động nữ nông thôn.
Bảng 2.3: Số người và % thiếu việc làm trong dân số hoạt động kinh tế
của tỉnh Bình Phước
Khu vực 2000 2007
% thiếu
% thiếu
Dân số Số Dân số Số việc làm
việc làm
HĐKH người HĐKH người trong Dsố
trong Dsố
TX từ thiếu TX từ thiếu HĐKH
HĐKH TX
15 tuổi việc 15 tuổi việc TX
từ 15 tuổi
trở lên làm trở lên làm từ 15 tuổi
trở lên
trở lên
1. Toàn tỉnh: 366.713 47.583 12,98 458.327 53.079 11,58
Thành thị 55.006 5.351 9,73 68.751 6.056 8,81
Nông thôn 311.707 42.232 13,55 389.576 47.023 12,07
2. Nam toàn tỉnh: 187.023 21.185 11,33 235.121 25.909 11,02
Nam thành thị 46.755 2.151 4.60 58.787 2.275 3.87
Nam nông thôn 140.268 19.034 13.57 176.334 23.634 13,40
3. Nữ toàn tỉnh: 179.690 26.398 14,70 133.206 27.170 20,40
Nữ thành thị 28.750 1.639 5.7 23.977 1.031 4.3
Nữ nông thôn 150.940 24.759 16,45 109.229 26.139 23,93

Nguồn: Số liệu thống kê lao động - việc làm năm 2000 - 2007, Sở Lao động
Thương binh Xã hội tỉnh Bình Phước.

2.2.1.2. Thực trạng về thời gian làm việc của nam giới và nữ giới ở nông thôn
tỉnh Bình Phước
Thứ nhất: Thời gian lao động sản xuất
Thời gian làm các công việc sản xuất và thời gian làm các công việc gia đình (lao
động gia đình) của lao động nam, nữ trong một năm ở nông thôn là một chỉ tiêu quan
trọng để đánh giá có hay không sự bất bình đẳng giới trong lao động và việc làm. Thông
qua sự phân công lao động theo giới có thể thu nhận thông tin về mức độ thực hiện bình
đẳng giới nói chung và bình đẳng giới trong lao động và việc làm nói riêng.
Trong nông nghi ệp và nông thôn thời gian làm việc của n gười lao động trong
năm phụ thuộc khá nhiều vào đặc điểm tự nhiên của vùng, vào c ơ cấu ngành nghề
hiện có. Ở B ình Phước, th eo kết quả đi ều tra về tình hình thực hiện bình đ ẳng giới
trong lao động và việc làm, đ ối với nhóm công nhân c ạo mủ cao su, bình quân một
năm, c ông nhân nam và nữ sử dụng thời gian lao động là tương đ ối nh ư nhau, sáng 4
giờ họ đến các lô cao su để cạo mủ, trưa về nghỉ ngơi, ăn trưa sau đó tiếp tục đ ến lô
trút mủ, đ ến 6 giờ chiều cùng đ ược nghỉ nh ư nhau. Đ ối với nhóm thuộc các gia đ ình
có vườn, rẫy trồng tiêu, cà phê, đi ều, t hời gian lao động sản xuất c ủa nam giới nhiều
hơn so với nữ.
Do đặc thù điều, tiêu, cà phê là những loại cây trồng ít tốn công chăm sóc, đầu tư,
nhất là đối với cây điều, chủ yếu chỉ tốn công trồng, còn làm cỏ, bón phân khoảng 1-2
lần/năm là cho thu hoạch; còn đối với cây tiêu và cà phê mất công chăm sóc nhiều hơn,
chỉ mất khoảng 5 tháng/năm đầu tư cho làm cỏ, bón phân và thu hoạch. Trung bình lao
động nam làm khoảng 150 công/năm, trong khi đó, lao động nữ rất ít tham gia vào hoạt
động sản xuất này, bình quân họ chỉ tham gia khoảng 80 công/năm, số thời gian còn lại
họ sử dụng vào việc chăm sóc con cái, nội trợ trong gia đình, chăm lo việc nấu ăn cho
chồng đi rẫy và cho công nhân thuê mướn, chỉ tranh thủ những ngày rảnh rỗi để đi rẫy.
Đa phần những phụ nữ trong các gia đình này vào những tháng nông nhàn thường ở nhà
chăm sóc gia đình, hoặc trồng thêm hoa màu, buôn bán nhỏ lẻ, một bộ phận khác chị em
thường làm công việc bóc vỏ lụa hạt điều để kiếm thêm thu nhập cho gia đình, song việc
bóc vỏ lụa hạt điều thường hay bị dị ứng da và mang lại thu nhập thấp, nên nhiều c hị
e m không muốn l àm vi ệc này.
Đối với nhóm trồng hoa màu và buôn bán nhỏ lẻ, thời gian lao động của nam, nữ
ngược lại với nhóm 2 trên. Trong nhóm này thời gian tham gia lao động sản xuất của chị
em phụ nữ nhiều hơn hẳn so với nam giới, vì yêu cầu công việc và vì tâm lý truyền
thống. Trồng hoa màu nam giới còn tham gia tương đối nhiều, vì đây là lĩnh vực phải làm
quanh năm, trung bình nam giới làm khoảng 145 công/năm, trong khi nữ làm khoảng 195
công/năm. Trong lĩnh vực buôn bán nhỏ lẻ chị em phụ nữ tham gia là chủ yếu.
Theo số liệu điều tra về việc làm của lao động nông thôn trong tỉnh cho thấy, số
ngày nông nhàn của lao động nông thôn Bình Phước còn lớn, trung bình 125 ngày/năm,
có 17% số người được hỏi cho biết họ thiếu việc làm trong những tháng nông nhàn, trong
đó phụ nữ chiếm trên 60% [10, tr.1].
Đối với Bình Phước, khái niệm nông nhàn chỉ mang tính tương đối, người lao
động chỉ tạm nghỉ việc vườn rẫy để làm các việc khác như buôn bán chạy chợ, phát triển
chăn nuôi tại nhà, cạo vỏ lụa hạt điều…tất cả những việc này thường do lao động nữ thực
hiện. Những hoạt động này thu nhập thấp và thường không ổn định nhưng phụ nữ chấp
nhận vì họ ít có cơ hội và điều kiện tìm việc làm có giá trị ngày công cao hơn. Trong khi
đó, nam giới ở những gia đình có đất sản xuất, công việc chính của họ là nương rẫy,
ngoài mùa vụ họ thường được nghỉ ngơi, hoặc trồng thêm hoa màu để tạo thêm thu nhập
cho gia đình (trồng rau, trồng sắn, trồng đậu). Đối với gia đình không có đất sản xuất,
nam giới thường đi làm thuê làm mướn, buôn bán theo mùa vụ, làm thợ hồ, hoặc đi xa
làm công nhân, do vậy công việc gia đình trong các gia đình này hầu như vẫn do phụ nữ
đảm nhận.
Phụ nữ nông thôn trong tỉnh phải làm việc từ 12-14 giờ trong ngày, ngày mùa lên
tới 16 giờ/ngày, trong khi đó nam giới làm việc từ 7-9 giờ trong ngày, ngày mùa 12
giờ/ngày [10, tr.1]. Đối với phụ nữ, lao động với thời gian như vậy là quá tải, song họ vẫn
có nhu cầu tìm kiếm thêm việc làm, vì bản thân phụ nữ cũng muốn tự mình tìm kiếm
công việc nhằm tăng thêm thu nhập cho gia đình, góp phần cùng nam giới tạo thu nhập
cho gia đình và cũng vì muốn tự mình phấn đấu vươn lên.
Tình trạng việc làm của lao động nữ hiện nay ở Bình Phước vừa thiếu lại vừa thừa,
“thiếu việc làm” là thiếu những việc có thu nhập cao để cải thiện đời sống, “thừa việc
làm” nghĩa là phụ nữ phải làm rất nhiều việc không có thu nhập nhằm giảm chi trong gia
đình như các công việc nội trợ, chăm sóc con cái và người ốm đau và vì thế thời gian làm
việc của lao động nữ rất cao, thường từ 12-14 giờ/ngày, kết quả điều tra cho thấy như
sau:

Bảng 2.4: Người làm chính các công việc sản xuất và gia đình (%)

Công việc Chồng làm Vợ làm Cả 2 cùng làm
- Trồng trọt:
Làm đất 71,3 7,4 21,3
Gieo trồng 34,6 37,4 28,0
Chăm sóc 47,7 28,0 24,3
Thu hoạch 51,1 22,7 26,2
- Chăn nuôi 2,1 81,0 16,9
- Chăm sóc con 1,3 61,3 37,4
- Nội trợ 2,1 79,6 18,3

Nguồn: số liệu điều tra 5/2009 của tác giả đề tài.

Theo bảng trên, xét về tính chất công việc, so với nam giới, phụ nữ nông thôn bị
quá tải bởi những công việc có năng suất và thu nhập thấp. Thời gian lao động kéo dài
trong ngày, phụ nữ ít có điều kiện thời gian, sức lực để nắm bắt các cơ hội mới về việc
làm. Mặt khác, trách nhiệm gia đình đặt lên vai họ khiến phụ nữ không có điều kiện tìm
và duy trì việc làm ổn định, có thu nhập cao. Đây là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới
về cơ hội và khả năng tìm kiếm việc làm.
Thứ hai: về thời gian làm công việc gia đình
Mục tiêu của đổi mới kinh tế là tạo ra chuyển biến tích cực cho xã hội, tạo điều
kiện cho mọi người, trong đó có lao động nữ vươn lên có cuộc sống dễ chịu hơn, đầy đủ
hơn. Xóa bỏ bao cấp, xóa bỏ tem phiếu, thực hiện chính sách một giá được coi là một tiến
bộ trong nền kinh tế thị trường. Song cũng từ đây sự lo toan cho cuộc sống hàng ngày
của gia đình (trước đây có sự trợ giúp của nhà nước), chuyển giao hoàn toàn cho gia đình
và đặt lên vai người phụ nữ, người vợ. Sự bùng nổ tiêu dùng ở thời mở cửa, các chi phí
cho ăn, mặc, học tập… ngày càng cao khiến cho nhiều phụ nữ phải bươn chải hơn trong
cuộc sống. Ngoài thời gian làm việc tại doanh nghiệp, vườn, rẫy… họ phải làm thêm
những công việc như may gia công, bán hàng, chăn nuôi, dạy học, bóc vỏ lụa hạt điều…
để tăng thêm thu nhập. Ngày lao động của họ quá dài với cường độ quá lớn. Kết quả điều
tra của tác giả đề tài về tình hình thực hiện bình đẳng giới trong lao động việc làm 5/2009
cho thấy 40% phụ nữ không có thời gian dành cho thư giãn, giải trí cá nhân trong ngày.
Trong bối cảnh đổi mới chung của đất nước, những quan niệm về vai trò của phụ
nữ và nam giới đối với công việc gia đình đã có sự biến đổi theo chiều hướng tiến bộ và
tích cực. So với phụ nữ ngày xưa thì phụ nữ ngày nay đã nhận được một phần đáng kể
trách nhiệm và sự tham gia của nam giới vào công việc nội trợ trong gia đình, chẳng hạn như
nấu cơm, giặt giũ, lau dọn nhà cửa… Dù vậy, đến nay công việc gia đình chủ yếu vẫn do phụ
nữ đảm nhận.
Thực tế công việc nội trợ chiếm rất nhiều thời gian và sức lực của con người. Song
việc đo lường hiệu quả kinh tế của công việc này vẫn còn bất cập và thiếu khách quan,
công bằng. Trong quan niệm của xã hội cũng như của nhiều gia đình vẫn cho đây là công
việc lặt vặt, không tên, không có giá trị (không được trả lương) vì không đem lại thu nhập
và nói chung nó thường gắn với “thiên chức của phụ nữ” và là công việc “phù hợp” với
giới nữ.
Đến nay đã có nhiều nghiên cứu về thời gian, sức lao động cũng như giá trị thực
của công việc gia đình, trong đó chỉ rõ, tuy công việc nội trợ không đem lại thu nhập
bằng tiền nhưng lại là những đóng góp quan trọng tất yếu trong cuộc sống gia đình. Theo
kết quả khảo sát cho thấy trên 70% phụ nữ vừa tham gia tích cực các công việc sản xuất
vừa tham gia các công việc gia đình như nuôi dạy, chăm sóc con cái, giặt giũ, chợ búa,
cơm nước và các công việc lặt vặt khác. Sự tham gia của nam giới vào loại hình công
việc này vẫn còn ít. Kết quả điều tra đó cho thấy, một trong những yếu tố quan trọng tác
động tới quá trình phân công công việc trong gia đình là trình độ học vấn. Thông thường
đối với những gia đình có học vấn cao thì sự chia sẻ các công việc nội trợ trong gia đình
có sự bình đẳng hơn. Đối với các hộ gia đình có trình độ học vấn trên trung học phổ
thông, tỷ lệ người vợ làm chính công việc nấu cơm chiếm 48%; cả hai vợ chồng là 37%;
bậc trung học cơ sở: 59% và 22%; bậc tiểu học là: 79% và 10% [10, tr.1]. Ở nông thôn
Bình Phước, trình độ học vấn của người dân thấp hơn ở thành thị nên công việc gia đình
ít nhận được sự chia sẻ của nam giới, đa số phụ nữ trong hộ gia đình nông thôn vẫn phải
đảm nhận chính công việc nội trợ. Đây là khoảng cách giới trong công việc gia đình.

2.2.1.3. Thực trạng thu nhập của lao động nam và nữ ở nông thôn tỉnh Bình
Phước
Một là: phụ nữ làm việc gia đình nhiều hơn nên thu nhập thường thấp hơn nam
giới
Trong thời kỳ đổi mới mặc dù người phụ nữ có vai trò quan trọng trong đời sống
kinh tế của gia đình nhưng công việc nội trợ vẫn do họ đảm nhận là chính. GS. Lê Thi trong
cuốn Phụ nữ nông thôn và việc phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp đã chỉ rõ trong
gia đình nông thôn người phụ nữ giữ vai trò trụ cột trong sản xuất nông nghiệp và họ cũng là
lực lượng quan trọng tạo ra của cải vật chất và xây dựng văn hóa nông thôn. Tuy nhiên,
người phụ nữ nông thôn thường làm kinh tế tự cấp tự túc nuôi sống gia đình, rất khó tính ra
tiền cho nên xét về thu nhập bằng tiền họ vẫn thua kém nam giới, bình quân hàng tháng tiền
công lao động của phụ nữ ở nông thôn chỉ bằng 60% tiền công của nam.
Theo kết quả điều tra “Bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh
Bình Phước hiện nay” nhiều người cho rằng nam giới đóng góp cho thu nhập gia đình
nhiều hơn phụ nữ, mặc dù mọi người đều thừa nhận sự đóng góp của phụ nữ vào gia đình
không kém phần quan trọng. Theo số liệu thu thập được của đề tài ở 3 xã thì tỷ lệ đóng
góp cho kinh tế gia đình của nam giới nhiều hơn so với nữ và có sự khác nhau giữa các
ngành nghề. Đối với nhóm công nhân cạo mủ cao su, tỷ lệ cả hai vợ chồng đóng góp ít có
sự khác biệt. Đối với nhóm thuộc các gia đình có vườn, rẫy trồng tiêu, cà phê, điều thì có
sự khác biệt, có tới 71% cho là chồng đóng góp chính, vợ chỉ có 27 % và khác là 2%. Như
vậy, đối với loại ngành nghề này, vai trò trụ cột phụ thuộc vào nam giới, phụ nữ thường ở
nhà chăm lo công việc gia đình, chỉ vào mùa thu hoạch, hoặc những khi rảnh rỗi mới cùng
chồng hoặc thay chồng đi rẫy, do vậy nam giới được đánh giá mang lại thu nhập cao hơn
nhiều so với phụ nữ. Đối với nhóm trồng hoa màu và buôn bán lẻ, phụ nữ được đánh giá là
mang lại thu nhập cho gia đình có cao hơn so với nam giới, nhưng không nhiều, có 54% số
người được hỏi cho rằng vợ đóng góp là chính yếu, chồng chiếm 42%.
Hai là: phụ nữ thường bị trả công thấp do làm công việc sản xuất giản đơn, ít kỹ
thuật
Trên thị trường lao động nông thôn, ngày công của lao động nữ thường bị trả thấp
hơn ngày công của lao động nam. Thực tế ở Bình Phước cho thấy, lao động nông thôn phần
lớn làm việc theo mùa vụ. Chẳng hạn, vào ngày mùa thu hoạch, lao động nông thôn ít bị
thiếu việc làm, số tiền công được trả cho lao động nam và lao động nữ bằng nhau, không có
sự khác biệt trong thuê mướn và trả công, vào những ngày không thuộc mùa vụ, các chủ
vườn, rẫy rất cần đến lao động có sức khỏe tốt để làm cỏ và chăm sóc cây, nên thường thuê
lao động nam và nếu có thuê mướn lao động nữ thì tiền công trả cho họ ít hơn lao động nam
(lao động nam là 70 nghìn đồng/ngày so với lao động nữ khoảng từ 55-60 nghìn đồng/ngày).
Định kiến giới ảnh hưởng tới việc đánh giá giá trị công việc của phụ nữ thường thấp hơn so
với nam giới, đã trở thành một ước lệ của xã hội, được mọi người chấp nhận (kể cả phụ nữ),
đây là một trong những bất lợi cho lao động nữ trong tìm kiếm việc làm và thụ hưởng bình
đẳng trong việc trả công.
Thực tế cho thấy, các hoạt động kinh tế của lao động nữ nông thôn thường được
thực hiện theo tập quán và kinh nghiệm truyền thống, chưa được đào tạo đầy đủ (ngay cả
kỹ năng nghề nông), bởi vậy, mặc dù công sức bỏ ra thì lớn nhưng sản lượng thu hoạch
từ cây trồng, vật nuôi rất thấp, hơn nữa dễ gặp rủi ro trong sản xuất nông nghiệp, nên
đóng góp thu nhập của họ vào gia đình thường thấp hơn nam giới.
Trên thị trường lao động, phụ nữ khó cạnh tranh với nam giới, nhiều khi không
hoàn toàn là do tài sức kém cỏi, mà họ phải làm những việc như: nuôi dưỡng con cái, nội
trợ gia đình, do đó không thể làm việc đều đặn hay đi làm xa gia đình được. Mặt khác giá trị
ngày công của phụ nữ thường rẻ nên trong việc thuê mướn nhiều chủ sử dụng lao động đã lợi
dụng lao động nữ, đặc biệt thuê mướn theo vụ việc, không có hợp đồng hay chỉ có hợp đồng
miệng.
Trong mỗi gia đình khi xem xét vấn đề ai là người đóng góp nhiều tiền của và công sức
hơn cho kinh tế gia đình, thực tế cho thấy người chồng thường đóng góp nhiều hơn người vợ,
vì họ thường làm những công việc có tiềm năng đưa lại thu nhập cao hơn, hơn nữa họ không
hoặc ít tham gia công việc gia đình, vì vậy những tháng nông nhàn, nam giới có thể ra thành
phố hoặc đi các địa phương khác làm ăn kiếm sống. Những người có nghề như thợ mộc, thợ
nề…thì làm theo nghề, còn người không có nghề thì làm thuê bất kể việc gì, miễn là có thu
nhập.

2.2.2. Nguyên nhân của bất bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông
thôn tỉnh Bình Phước
Vai trò và vị thế của phụ nữ ngày nay trong gia đình và ngoài xã hội ngày càng
được nâng lên rõ rệt so với trước đây, quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong nhiều khía
cạnh của cuộc sống đã có nhiều tiến bộ. Ngày nay đa số phụ nữ không chỉ quanh quẩn
với công việc gia đình mà còn biết vươn ra bên ngoài để tìm kiếm việc làm đóng góp
kinh tế cho gia đình. Tuy nhiên, qua phân tích thực trạng các vấn đề giới trong lao động
và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước hiện nay, sự bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại
phổ biến. Điều này xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Thứ nhất: Nền sản xuất nhỏ, lạc hậu còn khá phổ biến trong sự phát triển kinh
tế của tỉnh.
Yếu tố kinh tế có vai trò quan trọng trong việc thực hiện bình đẳng giới nói chung và
bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động và việc làm nói riêng. Bình Phước vẫn là một tỉnh
nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi còn phân tán, manh mún, mang yếu tố tự
phát. Do hạn chế về vốn và trình độ kỹ thuật, ngành nông nghiệp, nông thôn Bình Phước
chưa có nhiều điều kiện tiếp thu thành tựu khoa học tiên tiến ứng dụng vào sản xuất. Chậm
ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, trình độ khoa học công nghệ phục vụ
sản xuất nhiều mặt còn lạc hậu, phần lớn lao động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn
Bình Phước là lao động thủ công, dựa vào kinh nghiệm truyền thống, phụ thuộc nhiều vào
điều kiện tự nhiên, chính vì vậy năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều sản
phẩm nông nghiệp còn thấp, kém hiệu quả và thiếu bền vững, dẫn tới thu nhập thấp, ít tạo
được việc làm mới, ảnh hưởng tới thu nhập của hơn 80% lực lượng lao động nông thôn, gây
ra tình trạng thiếu việc làm.
Thực tế đó đòi hỏi Bình Phước phải đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ tiên
tiến vào sản xuất nông nghiệp, tăng năng suất lao động, tạo nhiều việc làm và việc làm ổn
định cho lao động trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, góp phần giải phóng lao động
nông nghiệp, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông
thôn theo hướng tiến bộ hiện đại. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển dịch này phụ nữ
nông thôn phải đối diện với nhiều khó khăn hơn so với nam giới như trình độ chuyên
môn, kỹ thuật, trình độ quản lý cũng như kinh nghiệm bất cập trước yêu cầu công nghiệp
hóa nông thôn. Mặt khác, người phụ nữ nông thôn còn phải đảm nhận chính các công
việc gia đình khi họ không có sự hỗ trợ mạnh và đầy đủ các loại hình dịch vụ xã hội như
phụ nữ đô thị, điều này khiến cho phụ nữ nông thôn chưa được giảm bớt vất vả nặng
nhọc, chưa có thời gian nhàn rỗi để học hỏi, thụ hưởng đời sống văn hóa tinh thần, nâng
cao trình độ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật, nâng cao hiểu biết, do vậy lao động nữ nông
thôn thường bị yếu thế hơn trong cạnh tranh với nam giới để tìm kiếm việc làm.
Thứ hai: Định kiến giới trong phân công lao động còn tồn tại khá nặng nề.
Một là: ở ngoài xã hội
Tư tưởng trọng nam khinh nữ vốn đã tồn tại lâu đời trong xã hội Việt Nam và nó
còn dai dẳng cho đến tận ngày nay. Riêng ở nông thôn, đây là tư tưởng còn khá phổ biến,
ăn sâu vào tiềm thức của người nam cũng như nữ, làm khuôn mẫu để phân biệt đối xử
nam nữ trong cuộc sống, định kiến giới đã trở thành lực cản cho việc thực hiện bình đẳng
giới ở nông thôn Việt Nam hiện nay. Sự phân biệt đối xử giới còn ảnh hưởng khá phổ
biến trong xã hội với những biểu hiện phức tạp trên nhiều lĩnh vực từ trong gia đình cho
đến ngoài xã hội trong mọi tầng lớp dân cư ở nước ta hiện nay. Ở nhiều vùng nông thôn,
nhiều phụ nữ vẫn chưa được quyền quyết định những công việc sản xuất, những công
việc quan trọng của gia đình, quyền tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, chẳng hạn như,
trong gia đình nếu có mua hoặc bán vật dụng gì lớn thì phần lớn vẫn do nam giới quyết định,
phần lớn nam giới đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã hạn chế quyền quyết định
vay vốn ngân hàng trong đầu tư sản xuất, kinh doanh của phụ nữ.
Tư tưởng đề cao nam giới, coi thường phụ nữ thể hiện rõ nét trong phân công lao
động. Trước đây, trong xã hội phong kiến, nam giới làm việc ngoài xã hội, phụ nữ làm
việc trong gia đình “nam ngoại, nữ nội”. Sự phân công lao động truyền thống đã
giành phần lao động trí óc, lao động quản lý lãnh đạo chủ yếu cho nam, còn phần lao
động chân tay, mệt nhọc, vất vả thì chủ yếu giành cho phụ nữ. Sự phân công bất hợp
lý này vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Nhận thức của xã hội nói chung, gia đình nói
riêng chưa theo kịp những chuyển biến lớn lao trong đời sống kinh tế, tình trạng đa số
phụ nữ là người chịu trách nhiệm chính trong công việc gia đình vẫn còn tồn tại phổ
biến, nhiều nam giới không muốn vợ tham gia hoạt động xã hội mà ở nhà lo cơm nước
và muốn phụ nữ phải là người đảm đang, làm tốt công việc nội trợ , đây là một khó
khăn rất lớn đối với các chị phụ nữ tham gia công tác phong trào ở địa phương (chi
hội trưởng, chi hội phó, tổ tr ưởng, tổ phó phụ nữ hoặc các cộng tác viên dân số) .
Nhiều chị phụ nữ chia sẻ, vì sự phát triển của phong trào phải th ường vắng nhà (mặc
dù vẫn phải lo công việc nội trợ ), nhưng khi về đến nhà thường bị chồng cằn nhằn chê
trách bỏ bê công việc gia đình.
Xã hội không đánh giá đúng công việc gia đình và vai trò to lớn của nó dẫn đến bất
lợi cho phụ nữ, làm cho họ không hoặc ít có cơ hội tham gia công việc xã hội, tham gia tìm
kiếm việc làm có thu nhập cao hoặc nếu tham gia công việc xã hội thì trên vai họ phải gánh
vác hai loại công việc (công việc sản xuất và công việc gia đình). Sức ép về thời gian đối với
người phụ nữ là rất lớn, kéo theo những hậu quả khác như không có thời gian giành cho hoạt
động tham gia công tác xã hội hay các hoạt động cộng đồng, giải trí, nghỉ ngơi. Hoặc vì
không được xã hội, gia đình, nam giới ủng hộ dẫn đến phải làm việc cầm chừng. Trường hợp
không hoặc ít tham gia công việc sản xuất, người phụ nữ không có cơ hội tham gia vào các
hoạt động kinh tế tạo thu nhập, có nghĩa là mất đi cơ hội quan trọng để thực hiện bình đẳng
giới trong lao động và việc làm.
Hai là, ở trong gia đình
Tư tưởng trọng nam khinh nữ còn tồn tại ngay chính trong mỗi người nam và nữ.
Đối với nam giới, người phụ nữ mà họ muốn chọn thường là người “mẹ hiền, vợ đảm”.
Nam giới trong cả nước nói chung, tỉnh Bình Phước nói riêng vẫn coi công việc gia đình
là công việc nhẹ nhàng, là “thiên chức” của phụ nữ. Trong gia đình, nam giới coi mình là
trụ cột và có quyền quyết định mọi vấn đề, phụ nữ theo họ còn nhiều hạn chế.
Mặc khác, phụ nữ ở Bình Phước vẫn nghĩ rằng công việc gia đình là trách nhiệm của
phụ nữ, đó là công việc không nặng nhọc, là “thiên chức mà mình phải thực hiện”, thậm chí
một số phụ nữ sẵn sàng phê phán những phụ nữ khác khi họ chỉ biết chăm lo công việc xã
hội nhiều hơn công việc gia đình; cũng có phụ nữ không muốn nam giới, chồng mình tham
gia các công việc nội trợ.
Khi phải lựa chọn con trai hay con gái đi học thì không ít bậc cha mẹ tỏ rõ thái độ
và quyết định chọn con trai, vì sau này còn nối dõi tông đường. Do vậy, tỷ lệ em gái bỏ
học nhiều hơn (thể hiện qua bảng thống kê 2.5), đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng
khi trưởng thành tỷ lệ nam giới có trình độ, năng lực cao hơn nữ giới, khả năng cạnh
tranh trên thị trường lao động của lao động nam thường có ưu thế hơn lao động nữ.
Bảng 2.5: Tỷ lệ học sinh nam, nữ bỏ học
Số HS đầu năm Số HS bỏ học
Tỷ lệ HS Tỷ lệ HS
Stt Cấp học
Nam Nữ TS Nữ nữ bỏ nam bỏ
học học
1 Tiểu học 89.751 42.483 519 228 0,54% 0,33%
2 THCS 59.071 29.505 1.882 907 3,08% 1,65%
3 THPT 27.577 11.980 1.111 483 4,02% 2,28%
Tổng cộng 176.399 83.968 3.512 1.618

Nguồn: Sở GD-ĐT, báo cáo tổng kết năm học 2008-2009.

Do ảnh hưởng tư tưởng trọng nam khinh nữ, nhiều phụ nữ cảm thấy tự ti, an phận,
cam chịu và thụ động. Khả năng suy nghĩ độc lập, sáng tạo của họ bị kìm chế, là lực cản
kìm hãm sự phát triển. Tư tưởng đàn bà chỉ nên làm việc nhà, đàn ông đi kiếm tiền đã tạo
thành nếp nghĩ và tạo nên những định kiến giới trong phân công lao động khiến cho phụ
nữ ít có cơ hội tìm việc làm có thu nhập cao, thậm chí nghi ngờ khả năng hoạt động xã
hội của mình.
Định kiến giới ở nông thôn tồn tại nặng nề và phổ biến hơn ở thành thị, vì ở nông
thôn trình độ học vấn, nhận thức về mọi mặt đời sống của cả nam và nữ đều thấp hơn, điều
kiện tiếp xúc thông tin, môi trường giao lưu không năng động so với thành thị, các cơ sở y tế,
các điều kiện chăm sóc sức khỏe, các dịch vụ hỗ trợ…đều hạn chế hơn, do vậy, phụ nữ nông
thôn trong tỉnh phải chịu nhiều thiệt thòi trong giáo dục, y tế, thụ hưởng các giá trị văn
hóa…Đây là vấn đề gặp nhiều bất cập giữa yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân
lực trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển như hiện nay.
Thứ ba: Trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ của lao động nữ vùng nông
thôn của tỉnh còn thấp hơn so với lao động nam.
Người phụ nữ vừa là người vợ, người mẹ, người thầy, ảnh hưởng của họ rất lớn
không chỉ đối với việc xây dựng và giữ gìn hạnh phúc gia đình mà còn có vai trò quan
trọng trong việc phát triển nguồn lực con người trong tương lai của đất nước. Một khi
người phụ nữ được giáo dục, đào tạo đầy đủ, trình độ mọi mặt được nâng lên, họ sẽ nhận
thức và thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình, có kiến thức và biết nuôi dạy con tốt, biết
làm vợ đảm, biết giữ gìn hạnh phúc gia đình và họ sẽ là người có khả năng cạnh tranh bình
đẳng với nam giới trong tìm kiếm việc làm trên thị trường lao động. Tuy nhiên, định kiến
giới đã cản trở việc học hành của phụ nữ và trẻ em, cản trở họ trong việc cạnh tranh về việc
làm và lao động, trong xây dựng gia đình hạnh phúc.
Giáo dục và đào tạo luôn giữ vai trò quyết định và là nhiệm vụ hàng đầu để nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong chiến lược
phát triển nguồn nhân lực, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Giáo dục đào tạo là
quốc sách hàng đầu” và luôn tạo ra những cơ hội, điều kiện để phụ nữ được bình đẳng
với nam giới trong lĩnh vực giáo dục. Song trên thực tế, phụ nữ và trẻ em gái còn chịu
thiệt thòi nhiều hơn nam giới, nhất là ở vùng nông thôn.
Trình độ học vấn, tay nghề của cư dân nông thôn tỉnh Bình Phước nói chung còn
thấp, lao động nông thôn qua đào tạo nghề năm 2008 mới chỉ đạt 25%, tỷ lệ mù chữ còn
khá cao. Năm 2008 mù chữ trong độ tuổi từ 15-35 là 11.612 (trong đó nam 5421 người,
chiếm 46,7%; phụ nữ 6.191, chiếm 53,3%), đây cũng là lý do phụ nữ tiếp tục làm các
công việc giản đơn, năng suất và thu nhập thấp.
Bình Phước là một trong những tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam,
có tiềm năng phát triển, nhưng cho đến nay vẫn còn là tỉnh nghèo, đời sống nhân dân còn
nhiều khó khăn. Hàng năm, dân cư từ các tỉnh khác đến Bình Phước lập nghiệp, làm ăn
sinh sống đều tăng qua, tuy nhiên, phần đông trong số họ khi tới lập nghiệp ở Bình Phước
đều là hộ nghèo, đời sống khó khăn, trình độ học vấn thấp, do vậy các bậc cha mẹ chủ
yếu tập trung lo cho cái ăn, cái mặc cho con cái, còn việc học hành của con còn ít quan
tâm đầu tư.
Quan niệm của một số bậc cha mẹ về trình độ học vấn cần có ở con trai và con
gái vẫn còn thể rõ nét. Nhiều bậc cha mẹ ở nông thôn đặt hy vọng vào con trai nhiều hơn,
kết quả phỏng vấn “Tôi có 3 con gái, 2 con trai, con gái chúng tôi chỉ cho học hết cấp 2
rồi ở nhà phụ việc gia đình hoặc đi buôn bán; còn con trai, tôi và vợ quyết định cho học
cao hơn, vì chúng tôi thấy mấy đứa con gái gần nhà cũng chỉ học đến vậy, vì chúng
không thể học tiếp và nếu có học tiếp thì cũng không thi đậu đại học, hoặc có đậu thì khi
ra trường khó xin việc; còn con trai có khả năng học đến đâu thì cho học đến đó, vì
chúng năng động hơn, dễ xin việc hơn” (nam, 44 tuổi, xã Minh Hưng, huyện Bù Đăng).
Vì còn nhiều suy nghĩ tương tự như vậy, nên số học sinh nam ở Bình Phước được đầu tư
cho học vấn nhiều hơn nữ.
Trình độ học vấn đối với cả nam và nữ đều ảnh hưởng đến vấn đề bình đẳng giới.
Tuy nhiên phụ nữ học vấn thấp ảnh hưởng nặng nề hơn đối với việc thực hiện bình đẳng
giới trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Khi nam giới có học vấn thấp, họ ít thấy trách
nhiệm chia sẻ công việc gia đình với vợ, để vợ có thời gian học tập, giải trí nâng cao trình
độ, có thời gian tham gia công tác xã hội… qua đó nâng cao hiểu biết cho bản thân, có lợi
cho cả gia đình và từ việc làm đó làm tăng thêm hạnh phúc gia đình. Nhưng khi phụ nữ
có học vấn thấp sẽ thiếu kiến thức nuôi dạy con cái, thiếu hiểu biết về các mặt của đời
sống, dễ bị động trước các tình huống xảy ra trong cuộc sống và ứng xử thiếu khôn khéo
trong các mối quan hệ, khả năng tự bảo vệ kém hơn những phụ nữ có trình độ học vấn
cao. Trình độ học vấn thấp đã ảnh hưởng lớn đến cơ cấu nghề nghiệp của phụ nữ nông
thôn trong tỉnh. Những phụ nữ có trình độ thấp thường an phận với cuộc sống, họ chỉ biết
mưu toan cho hạnh phúc gia đình, vì gánh nặng gia đình phải kiếm sống, hơn nữa trình
độ thấp họ thường trở nên lạc hậu với thực tế, nhận thức xã hội bị hạn chế, gặp nhiều khó
khăn trong cạnh tranh với nam giới trong tìm kiếm việc làm.
Thứ tư: Vấn đề chăm sóc sức khỏe, thực hiện kế hoạch hóa gia đình đối với lao
động nữ, đặc biệt là nữ nông thôn, nữ vùng dân tộc thiểu số trong tỉnh còn chưa thực
sự đầy đủ.
Phụ nữ - sức khỏe và kế hoạch hóa gia đình có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa
là nguyên nhân, vừa là kết quả. Để có những thế hệ người lao động đầy đủ về thể lực và
trí lực thì việc giải quyết tốt mối quan hệ này được xem là một đòi hỏi thiết thực. Bình
Phước là tỉnh có tiềm năng về kinh tế nhưng nguồn nhân lực còn yếu. Bên cạnh việc đầu
tư cho giáo dục, đào tạo, dạy nghề, trình độ khoa học kỹ thuật, cải thiện đời sống vật chất
và tinh thần thì vấn đề sức khỏe, nhất là sức khỏe lao động nữ cần được quan tâm. Tình
trạng sức khỏe của phụ nữ vẫn còn nhiều điều đáng lo ngại.
Sức khỏe - kế hoạch hóa gia đình có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống và công việc
của lao động nữ nông thôn Bình Phước. Đây là nhóm có nguy cơ dễ bị mắc bệnh cao hơn
bởi lao động vất vả, làm việc ở môi trường độc hại, cuộc sống khó khăn, ô nhiễm môi
trường do phân hóa học, thuốc trừ sâu, điều kiện tiếp xúc với thông tin hạn chế… Bản
thân lao động nữ ở nông thôn tỉnh vừa ham công việc, vừa quá chủ quan với tình trạng
sức khỏe của mình, chỉ đến lúc bệnh nặng mới chịu đi khám và điều trị. Những căn bệnh
mà lao động nữ nông thôn thường gặp là bệnh phụ khoa 48,3% [48, tr.1], bệnh đau đầu,
đau khớp, đau lưng.
Những năm gần đây thực hiện kế hoạch hóa gia đình đã có sự chia sẻ của nam
giới, tuy vậy phụ nữ vẫn là những người chủ yếu sử dụng các biện pháp tránh thai. Số
liệu 6 tháng đầu năm 2009 cho thấy, có 6.310 ca sử dụng biện pháp tránh thai, trong đó
triệt sản nam chỉ có 85 ca [48, tr.1]. Hàng năm có nhiều ca nạo phá thai gây nguy hại đến
sức khỏe của phụ nữ, nhất là sức khỏe của phụ nữ dân tộc thiểu số Stiêng, Khơme,
M,nông, đa số phụ nữ dân tộc thiểu số còn sống trong cảnh cơ cực, điều kiện ăn uống
kham khổ, lao động vất vả, lại sinh đẻ nhiều, dẫn tới nhiều bệnh nhưng họ rất hiếm khi đi
khám, cộng với thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết, nên đã có nhiều trường hợp phụ nữ dân
tộc thiểu số bị tử vong liên quan đến sức khỏe sinh sản.
Thực tế cho thấy, khi có sức khỏe, chủ động trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia
đình, người lao động sẽ tự tin, chủ động thực hiện các kế hoạch, các công việc của mình
trong cuộc sống. Nhưng hiện nay, sự quan tâm của chính quyền các cấp, cũng như các cơ
sở y tế đối với vấn đề chăm sóc sức khỏe cho lao động nữ trên địa bàn tỉnh còn chưa
nhiều. Điều đó được thể hiện qua việc đầu tư nâng cấp các cơ sở y tế của tỉnh còn hạn
chế cả về trang thiết bị và đội ngũ cán bộ y tế cơ sở, đến năm 2008, tỷ lệ trạm y tế xã có
bác sĩ chỉ đạt 45% [42, tr.2].
Thứ năm: Thiếu những chính sách xã hội cho lao động nữ nông thôn, chính
sách phát huy nguồn nhân lực nữ nông thôn trong tỉnh còn hạn chế.
Chính sách xã hội dù tiếp cận dưới góc độ nào cũng lấy con người và các mối
quan hệ của con người làm đối tượng, nó nhằm vào sự phát triển con người, cả nam và
nữ, nghĩa là tạo điều kiện và cơ hội cho mọi thành viên của xã hội cùng hội nhập phát
triển. Vì vậy, dù là các chính sách chung không trực tiếp nhằm vào vấn đề phụ nữ, những
quy định pháp lý chung cho cả hai giới (chưa nói đến chính sách riêng dành cho phụ nữ)
cũng đều tác động, ảnh hưởng đến phụ nữ ở mức độ khác nhau.
Cũng như những phụ nữ Việt Nam khác, phụ nữ nông thôn Bình Phước có thuận
lợi rất cơ bản, là những công dân của một quốc gia đứng hàng đầu trên thế giới về việc
sớm đưa ra và thực thi các nguyên tắc về bình đẳng giới nhằm nâng cao địa vị của người
phụ nữ. So với nhiều nước trên thế giới, xét về mặt văn bản pháp lý, phụ nữ Việt Nam
được hưởng quyền bình đẳng khá đầy đủ. Tuy nhiên, quyền lợi và chế độ cũng như sự
bình đẳng của phụ nữ trong phát triển không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng các văn
bản về quyền bình đẳng giới mà quan trọng hơn là hiệu quả tổ chức triển khai thực hiện
nó trên thực tế.
Đối với nông thôn Bình Phước, việc thực hiện cơ chế mới trong nông nghiệp với
hàng loạt các chính sách về phát triển văn hóa, giáo dục, y tế nông thôn, đã thực sự tạo
những điều kiện thuận lợi cho việc phát huy nguồn nhân lực nữ nông thôn. Sự ban hành
các chính sách là rất quan trọng, song vấn đề có ý nghĩa với quá trình phát huy nguồn
nhân lực nữ là việc cụ thể hóa mục tiêu bình đẳng giới gắn với việc đề ra các biện pháp
thực hiện chính sách đó của địa phương. Những năm gần đây, Bình Phước đã đạt được
một số mục tiêu quan trọng trong việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm, với mục
tiêu “Phấn đấu hàng năm tạo ra được 60% trong tổng số việc làm mới cho lao động nữ”
[2, tr.7]. Lao động nữ luôn là đối tượng được quan tâm hàng đầu trong việc bố trí, sắp
xếp công việc hay trong việc tạo cơ hội tiếp cận các nguồn vốn vay tín dụng đầu tư cho
sản xuất.
Ngoài việc được hưởng các chính sách xã hội chung cho phụ nữ toàn tỉnh và của
cả nước, cho đến nay hầu như chưa có chính sách xã hội dành riêng cho phụ nữ nông
thôn trong tỉnh, trong khi đó họ là đối tượng rất đáng được có những chính sách mang
tính đặc thù để giải quyết những vấn đề mà phụ nữ thường gặp hơn nam giới do hoàn
cảnh sống và điều kiện lao động thường ngày tạo nên. Các chủ trương, chính sách của
tỉnh chưa nhằm trực tiếp vào đối tượng phụ nữ nông thôn. Ngay trong việc thi hành cũng
như kiểm tra giám sát kết quả thực hiện các chính sách xã hội cũng còn nhiều bất cập và
chưa đáp ứng yêu cầu. Các chính sách đối với phụ nữ lại thường giao phó cho Hội phụ
nữ các cấp, dẫn đến tình trạng chính sách của phụ nữ thì do phụ nữ thực hiện. Tổ chức
Hội phụ nữ vừa kiểm tra giám sát, vừa trực tiếp chỉ đạo thực hiện lại vừa vận động thuyết
phục cấp ủy, chính quyền và các ngành quan tâm thực hiện chính sách đối với phụ nữ.
Điều này hạn chế rất nhiều tới việc phát huy vai trò nguồn nhân lực nữ nông thôn, hạn
chế sự thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn của tỉnh trong
điều kiện hiện nay.
Thứ sáu: Chưa quán triệt đầy đủ việc thực hiện pháp luật về quyền lao động nói
chung, quyền lao động nữ nói riêng trên địa bàn tỉnh .
Quyền lao động nói chung và quyền lao động nữ nói riêng có mối quan hệ chặt
chẽ với nhau. Quyền lao động vừa là quyền con người, đồng thời cũng là quyền cơ bản
của công dân được Hiến pháp và pháp luật Lao động ghi nhận và bảo vệ. Quyền lao động
là một quyền đương nhiên của cá nhân người lao động nói chung, lao động nữ nói riêng,
là một trong những quyền kinh tế - xã hội quan trọng, tồn tại thống nhất trong hệ thống
quyền con người được cộng đồng quốc tế thừa nhận và bảo vệ.
Trong các chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam đều quy
định sự bình đẳng của nam và nữ về trách nhiệm và nghĩa vụ. Trong quá trình thực hiện đòi
hỏi các cơ quan, tổ chức xã hội, người lao động và người thuê lao động đều phải thực hiện
nghiêm túc. Tuy nhiên, giữa chính sách và thực tế thực hiện vẫn còn một khoảng cách không
nhỏ, không phải ở đâu và bao giờ quyền lợi của lực lượng lao động yếu thế hơn, lao động nữ
cũng được đảm bảo, sự bình đẳng vẫn còn là mục tiêu phấn đấu, là những giá trị định hướng.
Pháp luật về quyền lao động nữ Việt Nam bao hàm nhiều nội dung: trong lĩnh vực
việc làm, lĩnh vực tuyển dụng lao động, lĩnh vực tiền lương, tiền công, trong lĩnh vực an
toàn, vệ sinh lao động, trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội…Thực hiện nghiêm túc pháp luật
về quyền lao động nữ là thể hiện sự tôn trọng, bình đẳng đối với lao động nữ, còn là sự
thông cảm, sẻ chia của xã hội với những thiệt thòi của lao động nữ và là điều kiện tốt
nhất để lao động nữ được làm việc, được đóng góp sự hiểu biết và công sức của mình cho
xã hội.
Nhưng hiện nay, việc thực hiện pháp luật về quyền lao động nữ trên địa bàn tỉnh còn
chưa được quán triệt đầy đủ, ở khu vực nông thôn. Đến nay, đã có nhiều khu công nghiệp,
doanh nghiệp đóng trên địa bàn nông thôn của tỉnh nhưng việc thực hiện tuyển dụng lao
động, thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ còn chưa đúng quy định,
chưa tạo điều kiện cho lao động nữ, đa số các công ty thường ngại tuyển dụng lao động nữ vì
lao động nữ phải mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ, doanh nghiệp phải chi trả bảo hiểm xã
hội cho lao động nữ trong thời gian nghỉ hậu sản, đồng thời phải kiếm người khác thay vào
chỗ lao động nữ đã nghỉ hậu sản, điều đó đã làm thất thu đối với doanh nghiệp, do vậy so với
nam giới tỷ lệ lao động nữ còn thấp trong các doanh nghiệp, thể hiện qua kết quả điều tra
như sau: công ty TNHH. T.M. VINA (dệt nhuộm) thuộc khu công nghiệp Minh Hưng – Hàn
Quốc, có 174 công nhân, trong đó: 113 nam, 61 nữ; công ty TNHH. T&C (dệt nhuộm), khu
công nghiệp Minh Hưng – Hàn Quốc, có 201 công nhân, trong đó: 118 nam, 83 nữ; Nhà
máy cơ khí chính xác, công ty TNHH. TECH SEAL – Đại Bình, khu công nghiệp Tân
Thành, có 82 công nhân, trong đó: nam 63, nữ 19 [10, tr.1].

2.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG
GIỚI TRONG LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM Ở NÔNG THÔN TỈNH BÌNH PHƯỚC
HIỆN NAY
Thứ nhất: Quan niệm về việc làm chưa hoàn thiện gây bất lợi và thiệt thòi cho phụ
nữ.
Quan niệm mới về việc làm ở Việt Nam (Bộ luật Lao động sửa đổi 2003) tạo ra nhiều cơ
hội cho lao động cả nam và nữ tìm kiếm việc làm ở nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực không phân
biệt các thành phần kinh tế, các vùng miền, phát huy sự sáng tạo và năng động, tạo động lực mạnh
mẽ cho sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, quan niệm mới về việc làm theo ý kiến của một số
nhà nghiên cứu còn cho thấy: Chỉ những hoạt động kinh tế được trả thù lao bằng tiền hoặc hiện vật
thông qua trả lương, trả công…mới được nhìn nhận là việc làm. Nhiều hoạt động khác thuộc vai
trò tái sản xuất ra con người không được coi là việc làm, như nội trợ, nuôi con, chăm sóc người
già, ốm, quan điểm này bất hợp lý và gây bất lợi cho nam, nữ (những người thực hiện công việc tái
sản xuất), ở chỗ: thứ nhất, nếu thiếu những hoạt động được gọi là “không phải là việc làm” thì
những việc làm được trả thù lao bằng tiền hay hiện vật không thể thực hiện được hoặc thiếu kết
quả như mong đợi; thứ hai, nếu các hoạt động được coi “không phải là việc làm” chuyển cho
người khác làm dưới dạng thuê mướn thì lại được đánh giá, trả tiền công (người giúp việc gia
đình); thứ ba, số nam hoặc nữ đảm nhận các hoạt động “không phải là việc làm” bị coi là người
không có việc làm, không thuộc lực lượng lao động, không bằng cả người thất nghiệp và dĩ nhiên
không được tính công, trả lương. Như vậy, xã hội đã đánh giá không đúng, không hợp lý, thiếu
công bằng về sức lao động của một bộ phận nam, nữ. Hơn nữa, cách đánh giá này mang
đậm dấu ấn bất bình đẳng giới, vì những hoạt động không được tính công, không được coi
trọng, phần lớn do phụ nữ đảm nhận [45, tr.51].
Quan điểm trên lại được nhà nước hóa bằng số đo GNP (tổng sản phẩm quốc dân)
và GDP (tổng sản phẩm quốc nội) để đo sự phát triển kinh tế quốc gia. Trong bản chất
của các chỉ số này đã thiếu tinh thần, trách nhiệm giới. Cụ thể là, chỉ số thu nhập quốc
dân hiện nay được đo bằng tổng những hoạt động có giá trị tính bằng tiền, tức chỉ từ
những công việc có công. Song theo tính toán của một số nhà nghiên cứu về kinh tế và
phát triển, tổng thể nền kinh tế phải bao gồm không chỉ việc làm có công mà còn việc
làm không công (còn gọi là các công việc vệ tinh – công việc tái sản xuất ra con người)
[45, tr.52]. Theo cách tính như trên, sẽ gây bất lợi cho những người chủ yếu làm công
việc vệ tinh. Do vậy, vấn đề đặt ra là Đảng, Nhà nước, xã hội cần quan tâm, đổi mới quan
niệm về việc làm để tạo cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện bình đẳng giới trong lao động
và việc làm.
Thứ hai: nhận thức về tầm quan trọng của bình đẳng giới trong lao động và việc
làm của đa số cán bộ, đảng viên, nhân dân còn thấp.
Phụ nữ luôn là một lực lượng lao động quan trọng, họ tham gia hoạt động ở hầu
hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, đóng góp to lớn cho sự phát triển của xã hội. Tuy
nhiên, nhận thức về tầm quan trọng của bình đẳng giới trong lao động và việc làm của
một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân còn thấp, kìm hãm sự
đóng góp của phụ nữ. Để người phụ nữ được phát triển và cống hiến nhiều hơn cho gia
đình và xã hội, sự giúp đỡ, chia sẻ của người nam giới trong gia đình là điều kiện vô cùng
quan trọng, nếu không nói là yếu tố quyết định. Khi được chia sẻ bình đẳng công việc gia
đình và được hưởng bình đẳng các phúc lợi của gia đình, chị em có điều kiện để học tập
nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và lãnh đạo. Tạo điều kiện
để người phụ nữ phát triển sánh ngang với nam giới không những đem lại lợi ích cho phụ
nữ, cho mỗi gia đình mà cho toàn xã hội.
Chính vì nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân còn thấp nên còn tồn tại tình
trạng: đối xử bất bình đẳng trong việc đầu tư cho việc học tập của các con, nam được chú
trọng hơn nữ; sức khỏe phụ nữ nông thôn, nhất là phụ nữ dân tộc, vùng sâu, vùng xa ít
được quan tâm chăm sóc; các chủ sử dụng lao động thường tuyển lao động nam nhiều
hơn lao động nữ, trả công cho lao động nữ thấp hơn lao động nam…
Đa số cán bộ, đảng viên, nhân dân chưa nhận thức được rằng thực hiện bình đẳng
giới trong lao động và việc làm sẽ: góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội, góp phần sinh và
nuôi dưỡng những đứa con khỏe mạnh, thông minh, xây dựng một tương lai tốt đẹp cho
mỗi gia đình; góp phần tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, giữ gìn hạnh phúc gia đình, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Chính vì nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân còn thấp nên mới chưa thấy
được rằng: phụ nữ nếu có cơ hội bình đẳng với nam giới trong lao động, việc làm, trong
xã hội và gia đình thì sẽ không những mang lại hiệu quả kinh tế mà còn mang lại hiệu
quả về chính trị và xã hội trước mắt cũng như lâu dài, tạo điều kiện để phát triển bền
vững. Vấn đề đặt ra là cần nâng cao hơn nữa nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân
về tầm quan trọng của bình đẳng giới trong lao động và việc làm nhằm hướng tới một gia
đình bình đẳng thực sự và một xã hội phát triển.
Thứ ba: cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trong
lao động và việc làm còn hạn chế.
Pháp luật Việt Nam đã thể hiện đầy đủ nguyên tắc bình đẳng nam nữ trong lao
động và việc làm, điều đó thể hiện rõ trong Bộ luật lao động, Hiến pháp, gần đây nhất là
luật Bình đẳng giới. Việt Nam cũng đã phê chuẩn 14 Công ước của Tổ chức Lao động
thế giới (ILO), trong đó Công ước 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao
động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau, Công ước 45 về sử dụng lao động nữ
về những công việc dưới mặt đất, trong hầm mỏ… Tuy nhiên, trên thực tế cơ chế kiểm
tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới nói chung, trong lĩnh vực lao
động và việc làm nói riêng còn nhiều hạn chế như: hiện tượng quyền của một số người
lao động nữ chưa được đảm bảo, phụ nữ chưa được bình đẳng với nam giới trong tuyển
dụng, trong trả lương xảy ra nhiều nơi nhưng chưa được phát hiện để có biện pháp khắc
phục; quyền tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực từ thành quả lao động như vốn, kiến thức
khoa học kỹ thuật, sức khỏe, đào tạo… Mặc dù luật đã ban hành, có những quy định cụ thể
kèm theo, song do nhiều nguyên nhân, trong đó việc thực hiện kiểm tra, giám sát chưa được
các cấp, các ngành có thẩm quyền chú trọng, chưa có sự quan tâm sâu sát hoặc chưa có
hướng phản hồi kịp thời để điều chỉnh, đề xuất giải phù hợp hơn, thiết thực hơn.
Xác định rõ quá trình thực hiện công nhiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn hiện nay, nếu không xem xét một cách thấu đáo vấn đề bình đẳng giới nói chung,
bình đẳng giới trong lao động và việc làm nói riêng thì những vấn đề liên quan đến phụ
nữ và nam giới, nhất là phụ nữ rất dễ có nguy cơ bị đưa ra ngoài công cuộc công nhiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn hoặc không quan tâm xem xét một cách đúng
mức. Do vậy, vấn đề đặt ra với Bình Phước nói riêng, Việt Nam nói chung là phải tăng
cường hơn nữa việc, thực thi pháp luật, giám sát và phản biện xã hội đối với văn bản quy
phạm pháp luật về bình đẳng giới nói chung, bình đẳng giới trong lao động và
việc làm nói riêng, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Kết luận chương 2

Công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đã tác động sâu sắc và toàn diện
đến nông thôn, tạo nên nhiều chuyển biến về bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở
nông thôn Bình Phước. Phân công lao động giữa nam và nữ không còn quá cứng nhắc,
nhiều nam giới đã chia sẻ công việc gia đình với phụ nữ, nhiều phụ nữ đã vươn ra khỏi
gia đình và tìm kiếm những công việc ngoài xã hội nhằm mang lại thu nhập cho bản thân
và gia đình.
Tuy đã có sự tiến bộ, nhưng bất bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông
thôn tỉnh Bình Phước vẫn còn tồn tại phổ biến, phụ nữ chưa có điều kiện và cơ hội phát
triển như nam giới, sự phân biệt đối xử với phụ nữ làm cho họ thấp kém hơn nam giới ở
nhiều khía cạnh như: Trình độ văn hóa, chuyên môn, tay nghề của nữ nông thôn thấp hơn
nam, phụ nữ tham gia vào hoạt động kinh tế rất đông đảo nhưng thường làm những công
việc giản đơn và thu nhập thấp, thời gian làm việc của phụ nữ nhiều hơn nam giới
nhưng thu nhập lại thấp hơn, lao động nữ thất nghiệp và thiếu việc luôn cao hơn nam
giới.
Phân tích thực trạng bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh
Bình Phước, rút ra những mặt tiến bộ, những mặt còn hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của
chúng, để từ đó, chúng ta xây dựng những định hướng cơ bản và giải pháp nhằm thực
hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước trong thời
gian tới được tốt hơn.
Chương 3
NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG LAO ĐỘNG VÀ VIỆC LÀM Ở NÔNG
THÔN TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY


3.1. NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN
3.1.1. Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm gắn liền với sự
nghiệp giải phóng phụ nữ, phát huy vai trò của phụ nữ Bình Phước nói chung, phụ
nữ nông thôn của tỉnh nói riêng
Đấu tranh để đạt được bình đẳng thật sự giữa nam và nữ là cuộc đấu tranh lâu dài,
còn nhiều khó khăn, thử thách. Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ
và lạc hậu. Đất nước ta trải qua hàng ngàn năm phong kiến, tàn dư của nó là tư tưởng
“trọng nam khinh nữ” còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng, nhất là ở
vùng nông thôn.
Thực hiện bình đẳng giới là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam,
giải phóng phụ nữ là nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam, lực lượng cơ bản để
thực hiện mục tiêu đó, trước hết là phụ nữ. Trong giai đoạn hiện nay, chiến lược phát
triển đất nước phải tạo ra những điều kiện để thực hiện mục tiêu vì sự tiến bộ của phụ nữ,
cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ, nâng cao và phát huy năng lực, khả
năng và vai trò của họ, đảm bảo cho người phụ nữ có thể thực hiện nhiệm vụ và tham gia
đầy đủ, bình đẳng với nam giới trong mọi hoạt động, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để
đạt được mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Vấn đề giải phóng phụ nữ về thực chất là bàn về địa vị, vai trò của phụ nữ trong xã
hội và những con đường giải phóng phụ nữ, đảm bảo quyền bình đẳng của phụ nữ trên tất
cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhằm phát huy vai trò to lớn của phụ nữ
trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Khi bàn về cách mạng Trung Quốc với việc giải phóng phụ nữ vào năm 1923, Chủ
tịch Hồ Chí Minh cho rằng vấn đề giải phóng phụ nữ là:
Quyền bình đẳng về giáo dục, kinh tế, chính trị cho cả đàn ông cũng như
cho cả đàn bà thi hành hệ thống trường học thống nhất, tức là thành lập trường
học, trong đó con trai và con gái cùng học, trả công như nhau cho sự lao động
như nhau. Quyền được nghỉ ngơi và tiền trợ cấp cho trường hợp đau ốm, có
mang [27, tr.11].
Do vậy, thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình
Phước cần thiết phải thực hiện công bằng và bình đẳng về giáo dục, đào tạo, về tuyển
dụng lao động, về trả công, về việc tính đến sự khác biệt đặc điểm sinh học giữa nam giới
và nữ giới, và có sự chia sẻ công việc gia đình của nam giới đối với phụ nữ, nhất là phụ
nữ nông thôn, nơi mà phần lớn phụ nữ còn chịu gánh nặng công việc gia đình. Khuyến
khích nam giới có thái độ hợp tác cùng chia sẻ công việc gia đình với phụ nữ (lĩnh vực
không mang lại thu nhập bằng tiền), nhằm tạo điều kiện cho cả nam và nữ kết hợp hài
hòa các loại công việc sản xuất - mang lại thu nhập và công việc gia đình - không có thu
nhập để cả hai cùng phát triển tiến bộ. Bên cạnh đó, Chính quyền và các đoàn thể từ tỉnh
đến huyện/thị và cơ sở trong tỉnh cũng cần tăng cường thực hiện nhiều chương trình hỗ
trợ, chính sách riêng dành cho phụ nữ để giúp họ làm kinh tế gia đình như chương trình
xóa đói giảm nghèo, chương trình phụ nữ giúp nhau về vốn, cây, con, giống…Những
chương trình này có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện công bằng xã hội, bình đẳng
trong lao động và việc làm giữa lao động nam và nữ.

3.1.2. Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh gắn
liền với chiến lược phát triển việc làm, phát triển dân số, phát triển nguồn nhân lực và
sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của tỉnh
Với quan điểm “Con người là trung tâm của sự phát triển” vì vậy, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn nói chung, của lao động nữ nông thôn nói
riêng là sự cần thiết khách quan để phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn của tỉnh.
Hiện tại, chất lượng lao động nữ nông thôn của tỉnh còn thấp hơn so với lao
động nam. Phần lớn phụ nữ lao động giản đ ơn, trình độ văn hóa thấp, ít được đào tạo
nghề, ít có cơ hội tiếp xúc với khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. Nếu tình trạng
này còn kéo dài trên quy mô l ớn sẽ ảnh h ưởng nghiêm trọng đến chất lượng của hơn
một phần hai nguồn nhân lực của tỉnh. Do vậy, để sử dụng có hiệu quả nguồn nhân
lực hiện có, nâng cao chất lượng lao động nữ nông thôn trong tỉnh, từng bước tiến tới
bình đẳng giới trong lao động và việc làm, Đ ảng bộ và chính quyền các cấp trong tỉnh
cần thiết phải:
- Có chính sách và chương trình phát triển giáo dục đối với phụ nữ nông thôn như:
Đầu tư phát triển giáo dục, nâng cao trình độ học vấn, kiến thức xã hội, kiến thức khoa
học kỹ thuật và công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp, kiến thức về quản lý kinh tế,
kinh doanh trong nông nghiệp, những kinh nghiệm và kỹ năng làm ăn, phổ biến những
thông tin kinh tế thông qua các hình thức, phương pháp tổ chức sinh động, phù hợp với
từng nhóm đối tượng sẽ giúp cho phụ nữ nông thôn tiếp cận với tri thức hiện đại của nền
sản xuất nông nghiệp tiên tiến.
- Có chương trình dạy nghề và đầu tư phát triển các hình thức, các cơ sở dạy nghề
ở nông thôn cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh ở từng nơi từng lúc, phù hợp với
điều kiện, hoàn cảnh của lao động nữ giúp họ có điều kiện học tập, nâng cao tay nghề. Do
đặc thù của phụ nữ nông thôn Bình Phước, nhất là nữ vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa
điều kiện kinh tế khó khăn nên rất ít quan tâm đếm sức khỏe của chính bản thân mình, do
vậy tỉnh cần có chương trình chăm lo cho sức khỏe cho người dân nông thôn nói chung
và lao động nữ nông thôn nói riêng như chương trình khám chữa bệnh, nước sạch, vệ
sinh môi trường.

- Đồng thời, thực hiện chương trình gắn kết giữa chiến lược phát triển việc làm với
chiến lược phát triển dân số, như: đẩy mạnh hơn nữa chương trình dân số; đẩy mạnh
tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện kế hoạch hóa gia đình; tăng cường công tác chỉ
đạo, lãnh đạo chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình; huy động mạnh mẽ các ngành
chức năng tham gia, tích cực vận động nhân dân thực hiện tốt chương trình dân số - kế
hoạch hóa gia đình, coi mục tiêu dân số là một trong những mục tiêu phát triển kinh tế -
xã hội; triển khai tốt chiến lược dân số đến năm 2010 của tỉnh, định hướng những năm
tiếp theo giảm tỉ lệ sinh. Phấn đấu đạt mức sinh thay thế chậm nhất là năm 2015; Kết hợp
các chính sách xã hội với chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình như: Xóa đói giảm
nghèo, giải quyết việc làm.
3.1.3. Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm là trách nhiệm chung
của toàn xã hội và của cả hệ thống chính trị các cấp trong tỉnh
Quán triệt quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề phụ nữ thể hiện
trong nghị quyết 11 ngày 27/4/2007, cho rằng: “Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của
phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng
Việt Nam trong thời kỳ mới” và “trình độ học vấn, chuyên môn, nghề nghiệp còn
thấp, phụ nữ bị hạn chế hơn nam giới về cơ hội có việc làm và thu nhập”, “c ông tác
phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng gia đình” [3,
tr.3]. Do vậy, thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn phải là
nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn xã hội và cả hệ thống chính trị tỉnh Bình
Phước. Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn phức tạp, phải có sự phối hợp chặt
chẽ, cộng đồng trách nhiệm cao của cả xã hội.
Lực lượng lao động nữ ở nông thôn tỉnh chiếm tỷ lệ cao, nhưng chưa được hưởng
sự bình đẳng trong lao động và việc làm với nam giới, việc phát huy khả năng, tiềm lực
của lực lượng này có ý nghĩa hết sức quan trọng đến sự phát triển của nông thôn Bình
Phước. Do vậy, thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh
phải hướng việc xây dựng, thực hiện các chính sách ở nông thôn vào việc giải phóng thực
sự cho người phụ nữ, huy động tối đa và hiệu quả, phù hợp với sự tham gia của nguồn
lực này. Như vậy, trước hết đòi hỏi phải có sự lãnh đạo toàn diện của tỉnh Đảng bộ về
chủ trương phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, trong đó lồng ghép được mục tiêu về giới
trong lao động và việc làm, tạo cơ hội về mặt quan điểm, chủ trương cho phụ nữ nông
thôn được tham gia một cách tích cực trong các hoạt động sản xuất và hưởng thụ một
cách công bằng với nam giới.
Chính quyền các cấp trong tỉnh cụ thể hóa các chủ trương của tỉnh Đảng bộ, xây
dựng và ban hành những chính sách sát hợp, nhất quán với chủ trương chung, tạo hành
lang pháp lý và tạo các điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện bình đẳng giới trong lao
động và việc làm ở nông thôn. Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ các cấp trong tỉnh phải trên
cơ sở mục tiêu chung, xây dựng chương trình hành động cụ thể về vấn đề lao động, việc
làm nhằm đạt tới mục tiêu tiến bộ cho phụ nữ nông thôn. Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp
trong tỉnh cần chủ động, tích cực trong việc tham mưu cho các cấp ủy Đảng, phối hợp
chặt chẽ với chính quyền các cấp trong việc tạo những điều kiện tốt nhất, cơ hội nhiều
nhất cho mục tiêu bình đẳng giới trong lao động và việc làm trong tỉnh nói chung và ở
nông thôn trong tỉnh nói riêng.
Ngoài ra, cũng cần có sự quan tâm, tạo điều kiện của toàn xã hội, nhất là các chủ
sử dụng lao động và sự nỗ lực phấn đấu vươn lên về mọi mặt của lao động nữ. Có như
vậy, mới có thể thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh
trong tương lai không xa.

3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
3.2.1. Thực hiện tốt luật pháp và chính sách vì sự bình đẳng giới trong lao
động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước
Mục đích của hệ thống chính sách, pháp luật, cơ chế là tạo ra điều kiện tốt nhất,
môi trường tốt nhất cho việc mở rộng cơ hội phấn đấu của lao động nữ. Hệ thống luật
pháp, chính sách về bình đẳng giới sẽ xác định khả năng tiếp cận nguồn lực của nam giới
và phụ nữ, cơ hội và quyền lực của họ. Chính vì vậy, yếu tố thiết yếu trong việc nâng cao
bình đẳng giới là phải tạo lập và thực hiện một môi trường bình đẳng cho phụ nữ và nam
giới.
Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản nhằm đảm bảo quyền bình đẳng
cho cả nam và nữ, trong đó gần đây nhất là luật Bình đẳng giới yêu cầu phải:
Quy định tỷ lệ nam nữ được tuyển dụng;
Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ;
Người sử dụng lao động tạo điều kiện vệ sinh an toàn cho lao động nữ
làm việc trong một số ngành, nghề nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các
chất độc hại [36, tr.5]
Tuy nhiên, các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể và bản thân người
lao động tỉnh Bình Phước trong quá trình thực hiện bình đẳng giới trong lao động, việc
làm còn nhiều hạn chế. Muốn nâng cao hiệu quả thực hiện hệ thống luật pháp, chính sách
về bình đẳng giới nói chung, bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh
Bình Phước nói riêng, Đảng bộ, Chính quyền và các Tổ chức đoàn thể trong tỉnh cần thực
hiện tốt những vấn đề sau:
Trên cơ sở luật Bình đẳng giới, Hội Liên hiệp phụ nữ, Liên đoàn lao động, Ban Vì
sự tiến bộ phụ nữ tỉnh tham mưu cho Ban thường vụ Tỉnh ủy tạo điều kiện về vốn, chủ
trương giúp Sở Lao động thương binh - Xã hội cùng các Trung tâm dạy nghề của tỉnh mở
rộng, đa dạng hóa các hình thức dạy nghề, trong đó chú ý chính sách cụ thể về đào tạo,
đào tạo lại, đào tạo nghề dự phòng, dạy nghề và di chuyển nghề cho lao động nữ phù hợp
với cơ cấu nền kinh tế đang chuyển đổi; đồng thời kiến nghị với Đảng, Nhà nước xem xét
điều chỉnh thời gian nghỉ hưu sớm hơn so với quy định (khoảng 50 tuổi đối với nữ, 55
tuổi đối với nam) cho công nhân cao su và các ngành nặng nhọc, độc hại khác.
Tổ chức công đoàn, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp thực hiện kiểm tra, giám sát chặt
chẽ các chủ sử dụng lao động nhằm đảm bảo trên thực tế quyền được lao động, quyền bình
đẳng của lao động nữ trên mọi quan hệ lao động: tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội, điều
kiện lao động. Đảng bộ và chính quyền các cấp trong tỉnh cần thực hiện tốt chính sách xã hội
trợ giúp cho lao động nữ gặp hoàn cảnh éo le, bất trắc hoặc khó khăn đặc biệt, phụ nữ vùng
sâu, vùng xa, vùng khó khăn, nhất là phụ nữ dân tộc Stiêng, Mnông, Khơme. Trong đó, đặc
biệt là chính sách tín dụng cho vay với lãi xuất ưu đãi để tạo việc làm hoặc xóa đói giảm nghèo
cho các hộ nói trên. Liên đoàn lao động tỉnh, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tham mưu với Tỉnh ủy
nhằm thể chế hóa một số chính sách về quan hệ lao động có tính đặc thù của lao động nữ (chế
độ nghỉ sinh, thời gian làm việc linh hoạt, nghề cấm sử dụng lao động nữ…). Khi phát hiện vi
phạm cần xử lý nghiêm minh.
Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ, Hội Liên phụ nữ tỉnh có biện pháp tăng cường lãnh đạo,
chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao hơn nữa sự hiểu biết và ý thức trách
nhiệm vì bình đẳng giới nói chung, bình đẳng giới trong lao động và việc làm nói riêng,
trong đó chú ý tuyên truyền khuyến khích nam giới quan tâm chia sẻ việc gia đình với
phụ nữ. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân cần lồng ghép giới trong hoạch định các chính sách và
hoạch định mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các cấp ủy đảng cũng cần phải
thường xuyên chỉ đạo hoạt động của các cấp Hội phụ nữ, tạo điều kiện để Hội thực hiện
tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.
Trong quá trình thực hiện, Hội phụ nữ, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp, các chủ
sử dụng lao động, các cơ quan có liên quan nếu phát hiện những vấn đề bất hợp lý cần có
kiến nghị để bổ sung, sửa đổi phù hợp, tránh tình trạng cho rằng luật là đúng, là miễn
bàn, cứ thế mà làm… Cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa các quy định trong chính sách,
pháp luật với phong tục, tập quán địa phương vì một số nơi còn quan niệm “phép vua
thua lệ làng”.
Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân cần có những biện pháp khuyến khích người chủ sử
dụng lao động tăng cường tuyển dụng và sử dụng lao động nữ, ví dụ như: có chính sách
tín dụng với lãi suất ưu đãi, miễn, giảm trong thời gian đầu mới thành lập doanh
nghiệp…
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp với các cơ quan hữu quan thường
xuyên tổ chức các đợt khuyến nông, trong đó có quy định tỷ lệ nam, nữ tham gia, tạo
điều kiện để lao động nữ được tiếp cận các dịch vụ khuyến nông để giúp phụ nữ đầu tư
cho sản xuất có hiệu quả.
Ngành Y tế cần đầu tư hơn nữa cho các trạm y tế xã về nâng cao trình độ chuyên
môn cho cán bộ, đầu tư các trang thiết bị, thường xuyên liên kết với các bệnh viện lớn tổ
chức các đoàn bác sĩ về nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc để khám bệnh miễn
phí, mở rộng mạng lưới nữ hộ sinh dân tộc.

3.2.2. Gắn kết giải quyết việc làm cho lao động nữ nông thôn với tích cực
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nhằm khai thác một cách có hiệu quả, hợp lý nguồn lao động nữ trong tỉnh
Muốn vậy cần thực hiện tốt các cấn đề sau:
Thứ nhất, phát huy tiềm năng, lợi thế của kinh tế hộ và kinh tế trang trại, tạo cơ
hội việc làm cho lao động nữ nông thôn.
Ở Bình Phước, kinh tế hộ và kinh tế trang trại là nguồn lực quan trọng góp phần
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tuy về lâu dài, sự tồn tại và phát triển của kinh tế hộ sẽ
bị giới hạn bởi sự hạn hẹp về thị trường, sự hạn chế trong nhận thức của chủ hộ và những
khó khăn trong việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỷ thuật vào sản xuất…Nhưng trước
mắt, ít nhất trong vòng 10-15 năm tới đây kinh tế hộ vẫn đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong sự phát triển của nông thôn Bình Phước. Kinh tế hộ đã góp phần khai thác nguồn
lao động dồi dào nông thôn, vì vậy Sở Khoa học - Công nghệ, sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn của tỉnh phải có sự hỗ trợ mạnh hơn đối với kinh tế hộ, đầu tư hỗ trợ
giống mới, kỹ thuật canh tác, đầu tư vốn, tạo điều kiện về vốn vay tín dụng cho nông dân
đầu tư sản xuất, chú trọng ưu tiên đến đối tượng là phụ nữ và nhất là phụ nữ nghèo. Các
cơ quan có thẩm quyền như Uỷ ban nhân dân tỉnh, Ngân hàng mạnh dạn giao quyền quản
lý các dự án vay tín dụng, tín chấp từ các ngân hàng, các chương trình dự án tín dụng phi
chính phủ cho Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp nhằm giúp phụ nữ vay vốn sản xuất. Sở
Khoa học - công nghệ, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh cần hỗ trợ giống
mới, kỹ thuật canh tác, khuyến khích các nông hộ đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật
và công nghệ vào sản xuất, tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư.
Kỹ thuật và nguồn vốn sẽ giúp cho quá trình đầu tư sản xuất của phụ nữ nông thôn hiệu
quả hơn, tạo cơ hội việc làm và việc làm có thu nhập cao cho phụ nữ.
Bên cạnh phát triển kinh tế hộ, phát triển và nâng cao hiệu quả của kinh tế trang
trại trong tỉnh rất cần được quan tâm. Từ năm 1991 trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã
xuất hiện mô hình kinh tế trang trại, chủ yếu là trồng các loại cây l ương thực, thực
phẩm. Từ những chủ trương, định hướng đúng của Đảng và Nhà nước về kinh tế trang
trại, sau quá trình phát triển sản xuất, nhiều hộ gia đình đã tích luỹ được vốn và chuyển
sang trồng các loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao. Đến nay, toàn tỉnh có 4.440
trang trại với tổng diện tích đất sản xuất 38.835 ha, chủ yếu là trang trại trồng cây lâu
năm (có 4.242 trang trại).
Năm 2008 kinh tế trang trại phát triển đã giải quyết việc làm cho 35.507 lao động,
trong đó có 12.373 lao động nữ, góp phần đáng kể vào việc ổn định đời sống kinh tế cho
bà con nông dân trong tỉnh. Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, các chủ trang trại
luôn tìm biện pháp cải tiến quản lý đồng thời áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất. Đây chính là yếu tố quan trọng tác động mạnh vào quá trình phát triển nông lâm
nghiệp, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn ở tỉnh.
Hiện nay, bình quân mỗi trang trại là 8,7 ha. Tuy nhiên, kinh tế trang trại ở Bình
Phước chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, diện tích đất sản xuất cho kinh tế trang
trại chiếm 10,6 % so với tổng diện tích của toàn tỉnh, trong khi đó đóng góp GDP hàng
năm của kinh tế trang trại chỉ có 4% và mức thu nhập bình quân của 1 ha cho sản phẩm
chỉ đạt 30 triệu đồng/năm. Phát triển nhanh nhưng thiếu bền vững. Với đặc điểm tự nhiên
khí hậu, đất đai, thổ nhưỡng phù hợp cho phát triển nhiều loại cây trồng và vật nuôi có
giá trị kinh tế cao như: Cao su, điều, tiêu, và phát triển chăn nuôi đại gia súc... nên tỉnh
Bình Phước có nhiều điều kiện để thu hút nhiều nhà đầu tư ở các tỉnh khác đến Bình
Phước phát triển nhanh kinh tế trang trại.
Theo kết quả điều tra của sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tổng vốn đầu tư
của 4.440 trang trại hiện nay là 2.669 tỷ đồng; bình quân vốn đầu tư cho mỗi trang trại
chỉ ở mức 600 triệu đồng, trong đó vốn vay chiếm 7,4%; tổng doanh thu của kinh tế trang
trại năm 2006 là 788,2 tỷ đồng, thu nhập bình quân của một trang trại là 177 triệu
đồng/năm [39, tr.4]. Người lao động thường xuyên tại trang trại có mức thu nhập bình quân
chỉ 900 ngàn đồng/tháng và lao động thời vụ có mức thu nhập 1,5 triệu đồng/tháng [39, tr.5].
Hiện nay, đất sản xuất bình quân của mỗi trang trại có từ 5 đến 10 ha. Hầu hết, các trang trại
trong tỉnh chủ yếu trồng cây công nghiệp lâu năm (cao su, điều, tiêu) chiếm tỷ trọng
khoảng 95%; số còn lại là các trang trại trồng cây ăn trái, trang trại chăn nuôi, trang trại
trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, trồng cây lâm nghiệp và trang trại kinh doanh
tổng hợp.
Hiện các loại hình trang trại này cũng đang có xu hướng chuyển dịch theo hướng
tăng số lượng trang trại trồng cây công nghiệp lâu năm và trang trại chăn nuôi, giảm số
lượng trang trại trồng cây hàng năm, trang trại trồng cây ăn trái... vì những loại hình này
hiệu quả thấp và tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn. Kinh tế trang trại ở một số vùng trong
tỉnh đang gặp không ít khó khăn để phát triển sản xuất liên quan đến đất đai. Phần lớn các
trang trại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên người dân chưa có điều
kiện thế chấp vay vốn ngân hàng đầu tư cho sản xuất. Vốn đầu tư của trang trại lớn và
thời gian cho thu hoạch sản phẩm mất dài ngày nên các trang trại thường thiếu vốn giữa
chu kỳ sản xuất. Đa số các chủ trang trại đều xuất thân từ nông dân, mức độ am hiểu thị
trường, nắm bắt khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế... Bên cạnh đó, giá cả nông sản lên
xuống thất thường, các chủ trang trại thường bị động trong định hướng đầu tư. Do vậy
tỉnh cần những giải pháp đòn bẩy để kinh tế trang trại phát triển bền vững. Thời gian qua,
mặc dù kinh tế trang trại trong tỉnh chưa phát huy được hết tiềm năng sẵn có, nhưng cũng
đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của địa phương (4%/năm), góp phần tích
cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi. Bước đầu đã phát huy nội
lực, khai thác được thêm nguồn vốn trong dân; mở rộng thêm diện tích đất sản xuất, tạo
việc làm cho lao động nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo...
Xác định thế mạnh trên của kinh tế trang trại, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên – Môi trường Bình Phước cần quan tâm
thực hiện tốt các giải pháp: Đẩy mạnh việc chỉ đạo giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận kinh tế trang trại để các chủ trang trại yên tâm
đầu tư cho sản xuất và có điều kiện để vay vốn ngân hàng; sớm xây dựng quy hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế trang trại phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội, nhất là quy hoạch vùng nguyên liệu chuyên canh, quy hoạch chăn nuôi đại gia súc, nuôi
trồng thủy sản... Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân cần tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng như: điện, giao thông, thủy lợi để tạo điều kiện cho kinh tế trang trại phát triển; đẩy
mạnh hỗ trợ khoa học - kỹ thuật cho các trang trại, hướng dẫn cho các trang trại áp dụng quy
trình sản xuất sạch và an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quy định, có như vậy mới nâng cao
được năng lực canh tranh và tiêu thụ được sản phẩm... Kinh tế trang trại được đầu tư phát
triển hiệu quả sẽ không chỉ đem lại nguồn lợi cho phát triển kinh tế của tỉnh mà còn góp phần
quan trọng trong việc tạo việc làm hiệu quả cho lao động trong tỉnh và đương nhiên lực
lượng lao động nữ nông thôn trong tỉnh cũng sẽ cơ hội tìm kiếm việc làm hơn trước.
Thứ hai, có chính sách khuyến khích phát triển hệ thống dịch vụ xã hội ở nông
thôn nhằm hỗ trợ một cách tốt nhất cho lao động nữ nông thôn.
Phụ nữ nông thôn không thể phân biệt rõ ràng thời gian giữa công việc sản xuất và
công việc gia đình như phụ nữ ở thành thị, do tính chất lao động đan xen của hai loại
công việc này. Công việc gia đình ở nông thôn rất vất vả, chiếm nhiều thời gian và công
sức, nhưng lại do phụ nữ đảm nhận chính, do vậy, việc phát triển các dịch vụ xã hội ở
nông thôn, các vùng sâu, vùng xa trong tỉnh là rất cần thiết nhằm giảm bớt gánh nặng cho
họ.
Kết cấu hạ tầng của Bình Phước tương đối tốt, đến nay đã có 100% đường ô tô
xuống trung tâm xã, nhưng còn rất nhiều con đường đi từ xã đến các thôn, xóm, ấp, buôn
làng còn rất khó khăn, cản trở không ít tới sự phát triển mọi mặt ở nông thôn, trong đó có
việc phát triển hệ thống dịch vụ. Chính vì vậy, cùng với việc tập trung đầu tư cho xây
dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là đường giao thông, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh
cần có cơ chế hỗ trợ thích hợp về thuế, về vốn vay đầu tư kinh doanh… đối với các cơ sở
dịch vụ xã hội ở nông thôn, tăng cường xúc tiến thành lập và đưa các trung tâm thương
mại vào hoạt động có hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện, cơ hội để các huyện trực tiếp
được tiếp cận với các chương trình dự án trong và ngoài nước trong việc thu hút đầu tư
xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn.
Một khi nhận được sự quan tâm tạo điều kiện của các cấp, các ngành về hỗ trợ
phát triển các dịch vụ xã hội, thực hiện trợ giá cho những vùng có sự chênh lệch giá cả
hàng hoá tiêu dùng, sẽ dẫn đến bộ mặt nông thôn được thay đổi tốt hơn, văn minh hơn,
nhân dân được tiếp cận với các dịch vụ xã hội tiến bộ thuận tiện hơn như bếp ga, điện
thắp sáng, đường giao thông, nguồn nước sinh hoạt....ngoài ra nếu nhận được sự trợ giá
của tỉnh sẽ giúp giảm chi tiêu trong gia đình, góp phần giảm bớt đời sống khó khăn của
nhân dân nông thôn và kéo theo là phụ nữ sẽ được hưởng lợi nhừng những dịch vụ này,
cuộc sống đỡ vất vả, phụ nữ sẽ cơ hội giao lưu, học hỏi, nâng cao hiểu biết…khắc phục
khó khăn, vươn lên trong cuộc sống.

3.2.3. Lồng ghép giới trong các dự án kinh tế xã hội của tỉnh có liên quan đến
việc làm, việc làm cho người lao động ở nông thôn. Phổ biến kiến thức giới cho đội
ngũ cán bộ làm công tác quản lý giáo dục và đào tạo, các ngành, các cơ sở sản xuất
ở nông thôn trong toàn tỉnh
Phương pháp tiếp cận lồng ghép giới về bản chất liên quan đến công tác quản lý
nhà nước, trên cơ sở nhận thức rằng nam giới và phụ nữ có những thực tế trải nghiệm,
nhu cầu và vấn đề ưu tiên khác nhau, cũng như chịu sự tác động khác nhau bởi các chính
sách. Để có thể đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội, các cơ quan
nhà nước cần xem xét và giải quyết các vấn đề giới.
Luật Bình đẳng giới có ghi rõ: Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng
văn bản quy phạm pháp luật là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, bằng
cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để
giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều
chỉnh.
Có thể hiểu Lồng ghép giới nghĩa là thay đổi cách thức làm việc của cơ quan nhà
nước và các tổ chức sao cho những khía cạnh phức tạp và khác biệt có liên quan đến thực
tế trãi nghiệm, nhu cầu và ưu tiên của nam giới và phụ nữ đều được coi trọng, xem xét và
giải quyết một cách tự giác ngay từ ban đầu, ở mọi cấp, mọi ngành và mọi giai đoạn của
chu trình chính sách.
Thực hiện bình đẳng giới trong lao động và việc làm là một trong các mục tiêu cụ
thể của chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2020, nhằm nâng
cao địa vị và cải thiện đời sống cho phụ nữ góp phần vào sự phát triển của đất nước.
Mục tiêu tổng quát và lâu dài của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả bền
vững, có năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cao trên cơ sở ứng dụng các thành tựu
khoa học công nghệ tiên tiến. Với đặc điểm của nông thôn Bình Phước, lực lượng lao
động dồi dào nhưng chủ yếu là lao động thủ công, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nhất là
lao động nữ thấp, điều này gây nên tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm. Nếu không
sớm khắc phục tình trạng trên thì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn ở Bình Phước sẽ không có được kết quả mong muốn.
Để phụ nữ Bình Phước nói chung, phụ nữ vùng nông thôn trong tỉnh nói riêng
có điều kiện phát triển, có việc làm và có thêm thu nhập , có cơ hội bình đẳng với nam
giới trong lao động, việc làm thì trong các chương trình tạo việc làm, xóa đói giảm
nghèo của tỉnh trước hết phải quan tâm đến phụ nữ. Thực tế đó đòi hỏi các cơ quan
như Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân, Hội phụ nữ, Sở lao động, Thương binh - Xã hội, Liên
đoàn lao động tỉnh, Sở Tư pháp và cán bộ công chức toàn tỉnh cần quán triệt quan
điểm giới trong công việc, tiến hành các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới bằng cách
lồng ghép vào các chính sách phát triển kinh tế - xã hội nhằm làm giảm sự cách biệt
giới.
Sở lao động, thương binh và xã hội, Các Trung tâm dịch vụ việc làm, Hội liên hiệp
phụ nữ tỉnh cần thực hiện tốt hơn các chương trình quốc gia nhằm đảm bảo việc làm, tăng
thu nhập và giảm nghèo cho phụ nữ như: chương trình xúc tiến việc làm cho lao động nữ,
chương trình xóa đói giảm nghèo cho phụ nữ nông thôn trong tỉnh, nhất là phụ nữ dân tộc
thiểu số; chương trình đào tạo, dạy nghề, chuyển giao công nghệ, hướng dẫn phụ nữ làm
kinh tế gia đình.
Nâng cao nhận thức về giới trong giáo dục nghề nghiệp và việc làm cũng như
nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho lao động nữ, giúp họ có nhiều cơ hội kiếm được
việc làm và việc làm có thu nhập cao, cần thiết phải có những giải pháp tổng thể và sự
tham gia của các cấp, các ngành, và toàn thể người dân trong tỉnh như đưa chương trình
giới vào giảng dạy trong các trường học từ cấp phổ thông cho đến trung cấp, cao đẳng,
đại học…Ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ từ cấp tỉnh đến cấp huyện và cơ sở tiếp tục phối
hợp với cơ quan tư pháp mở các lớp nâng cao nhận thức về giới cho đối tượng là nam
giới ở các cấp, các ngành, nhất là các lãnh đạo nam.
Ngoài ra Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp còn phải nâng cao kiến thức về giới
cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý giáo dục và đào tạo ở các cấp, các cơ sở sản
xuất trong tỉnh vì đây là tác nhân quan trọng để xóa bỏ những định kiến về khuôn mẫu
giới và đưa sự bình đẳng giới vào trong các chính sách giáo dục nghề nghiệp và sử dụng
lao động công bằng và hiệu quả đối với cả lao động nam và lao động nữ.

3.2.4. Thực hiện tốt công tác giáo dục đào tạo, công tác chăm sóc sức khỏe
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ nông thôn, đáp ứng yêu cầu sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Bình Phước
Thứ nhất, đẩy mạnh đầu tư cho giáo dục phổ thông vùng nông thôn, quan tâm đến
việc đảm bảo tỷ lệ nữ ở các cấp học, tiếp tục làm tốt công tác bổ túc trình độ văn hóa cho
phụ nữ nhằm nâng cao trình độ học vấn cho nguồn nhân lực nữ nông thôn.
Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng, năng suất nông nghiệp
phụ thuộc rất lớn vào trình độ của lực lượng lao động trong khu vực này. Trình độ học
vấn là cơ sở để người dân nông thôn lĩnh hội kiến thức của chương trình khuyến nông
một cách thuận lợi hơn, chủ hộ sẽ dễ dàng hơn trong học nghề, nâng cao trình độ chuyên
môn kỹ thuật để nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật, nhờ đó năng suất lao động nông
nghiệp tăng lên.
Phụ nữ chiếm 49% trong lao động nông nghiệp của Bình Phước, vì vậy, quan tâm
tới việc nâng cao trình độ học vấn cho nguồn nhân lực nữ nông thôn Bình Phước là giải
pháp có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới thành công của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông thôn của tỉnh. Trước hết, để khuyến khích trẻ em gái học tập, Bình
Phước cần quan tâm hơn nữa tới giáo dục ở nông thôn bằng việc tích cực đầu tư xây
dựng cơ sở trường lớp, trang bị đầy đủ trang thiết bị dạy học. Cùng với các biện pháp
tuyên truyền vận động các gia đình đối xử bình đẳng giữa con trái và con gái trong việc
đầu tư cho học tập, nhằm đảm bảo tỷ lệ học sinh gái ở các cấp học phổ thông là việc tăng
cường mở các lớp bổ túc văn hóa cho người lớn, đối tượng chủ yếu là phụ nữ, với các
hình thức học tập phù hợp với sự tham gia của chị em, ví dụ: có thể học vào ban đêm,
tránh thời vụ, địa điểm học thuận lợi…quan tâm công tác xóa mù cho phụ nữ, như vận
động phụ nữ mù chữ đi học các lớp xóa mù do Hội phụ nữ, các Trung tâm giáo dục
thường xuyên mở hoặc các lớp do bộ dội biên phòng mở, giúp phụ nữ xóa mù, biết cách
tính toán làm ăn.
Thứ hai, chú trọng nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng khoa học kỹ thuật, tạo
cơ chế thuận lợi để phụ nữ nông thôn nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ nông thôn thì cùng với việc nâng cao
trình độ học vấn phải trang bị kiến thức khoa học kỹ thuật và công nghệ mới cho họ.
Khoa học công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn, song nó chỉ được phát huy khi người sử dụng có trình độ cao.
Phụ nữ nông thôn là một trong những chủ thể quan trọng của nông thôn, vì vậy họ
cần được trang bị tri thức để đủ năng lực tiếp thu và ứng dụng những tiến bộ của khoa
học công nghệ. Để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức khoa học cho phụ
nữ nông thôn phải tăng cường mở các lớp tập huấn, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về
kiến thức khoa học kỹ thuật cho phụ nữ nông thôn. Các chương trình tập huấn đối tượng
tham gia phải là những người trực tiếp làm, bởi với đối tượng là phụ nữ nông thôn, việc
tham gia học tập là rất khó khăn, dù phần đông họ là người trực tiếp sản xuất nhưng do
bận nhiều việc, ngại học, và thường hay có tâm lý nhường cho chồng đi hội họp, học tập.
Thứ ba, tăng cường các hoạt động nhằm chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ nông
thôn.
Nâng cao thể lực cho nguồn nhân lực nữ là yêu cầu bức xúc nhằm đáp ứng đòi hỏi
về chi phí và cường độ lao động ngày càng cao khi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn đang được đẩy mạnh với sức ép về công việc đối với người
phụ nữ nông thôn. Chỉ có những người phụ nữ khỏe mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần
mới có thể nâng cao sức mạnh của bản thân, bắt nhịp được với cuộc sống hiện đại, mới
có khả năng làm việc dẻo dai và tập trung về trí tuệ, có niềm tin và ý chí để làm tốt công
việc.
Trước hết, tỉnh cần tập trung đầu tư xây dựng các trạm xá đạt chuẩn quốc gia có bố trí
bác sĩ và nữ hộ sinh. Ngành Y tế và Hội phụ nữ các cấp, nhất là cấp cơ sở cũng cần đổi mới
công tác tuyên truyền dưới nhiều hình thức phù hợp với trình độ phụ nữ nông thôn như lồng
ghép nội dung sinh hoạt các câu lạc bộ hoặc các chi, tổ hội phụ nữ, đưa nội dung công tác
chăm sóc sức khỏe vào các buổi sinh hoạt nhằm giúp cho phụ nữ thực hiện việc tự chăm sóc
tốt hơn sức khỏe cho bản thân và gia đình. Đối với lao động nữ trong cơ quan nhà nước hoặc
các doanh nghiệp, hiện nay chính sách tuy chưa nhiều, song họ cũng đã được hưởng chế độ
bảo hiểm ốm đau, thai sản. Bộ luật Lao động đã dành riêng một chương để quy định về
nghĩa vụ, quyền lợi của lao động nữ. Còn đối với phụ nữ nông thôn, hầu như chưa có chính
sách về chăm sóc sức khỏe cũng như hàng loạt vấn đề khác. Đây là bất cập của chính sách và
là thiệt thòi lớn cho họ. Trong khi chờ đợi một chính sách chung mang tính toàn diện đối với
phụ nữ nông thôn, về phía tỉnh cần quan tâm đến vấn đề này bằng việc bổ sung khoản mục
cần chi cho công tác chăm sóc sức khỏe phụ nữ trong tổng quỹ chung của từng thôn bản
(nguồn có thể là từ sự hỗ trợ của tỉnh hoặc do dân đóng góp) qua đó thể hiện trách nhiệm của
cộng đồng đối với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, khắc phục sự ngộ nhận và
hiểu nhầm trong xã hội cho rằng đây là trách nhiệm của riêng Hội phụ nữ như hiện ở nhiều
nơi trong tỉnh.

3.2.5. Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban vì sự tiến bộ phụ nữ, tổ chức Hội
Liên hiệp phụ nữ từ tỉnh đến cơ sở. Tiếp tục đổi mới và tăng cường công tác tuyên
truyền, giáo dục, vận động xã hội nhằm tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận
thức trong toàn xã hội vì mục tiêu tiến bộ của phụ nữ nói chung, phụ nữ nông thôn
trong tỉnh nói riêng
Sự phát triển của phụ nữ là một trong những thước đo sự phát triển toàn diện của
xã hội, nó đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, người
lao động mà trực tiếp và quan trọng là vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp. Đây là tổ
chức quần chúng tập hợp đông đảo các tầng lớp phụ nữ, đồng thời là nơi xây dựng và tổ
chức thực hiện các chương trình, các phong trào vì sự tiến bộ của phụ nữ. Đối với phụ nữ
nông thôn, ở nhiều địa phương tổ chức Hội phụ nữ là nơi duy nhất để họ được tham gia
các hoạt động tập thể, trao đổi kinh nghiệm làm ăn và được hỗ trợ vay vốn phát triển kinh
tế gia đình, là nơi được thổ lộ tâm tư, tình cảm, chia sẻ hoàn cảnh kinh tế giữa chị em phụ
nữ với nhau và còn là nơi giới thiệu chị em tham gia học tập nâng cao trình độ, tay nghề,
là nơi giới thiệu việc làm, tạo việc làm cho chị em. Chính vì vậy, phát huy tốt vai trò,
chức năng của Hội phụ nữ các cấp, nhất là cấp cơ sở là một trong những giải pháp quan
trọng để hỗ trợ một cách hiệu quả cũng nh ư khai thác tốt nhất sự tham gia của các tầng
lớp phụ nữ nông thôn hiện nay, nhằm từng bước giúp chị em có đủ điều kiện tiếp cận với
việc làm có thu nhập cao mang lại sự bình đẳng giới thực sự trong lao động và việc làm.
Để Hội phụ nữ làm tốt vai trò, chức năng của mình trong việc thực hiện các mục
tiêu vì sự tiến bộ của phụ nữ nông thôn, Bình Phước cần tập trung giải quyết những vấn
đề sau:
- Quan tâm đầu tư đào tạo cán bộ Hội về mọi mặt, có đủ năng lực và trình độ hoàn
thành các nhiệm vụ của Hội. Có chính sách thu hút những người có năng lực tham gia
công tác Hội ở cơ sở, đặc biệt là ở thôn bản - nơi trực tiếp triển khai các chương trình
hoạt động của Hội đến với các tầng lớp chị em phụ nữ, nhằm khắc phục tình trạng ở cấp
cơ sở hiện nay đội ngũ cán bộ rất yếu (cán bộ phụ nữ thôn, ấp).
- Các Ngân hàng, các tổ chức Phi Chính phủ mạnh dạn giao quyền quản lý các dự
án tín chấp cho Hội phụ nữ, vì thực tế đây là con đường dễ nhất để phụ nữ nông thôn
được tiếp cận với các nguồn vốn vay.
- Về phía tổ chức Hội, cần phát huy tính n ăng động, sáng tạo của mình trong
việc tổ chức thực hiện các ch ương trình, nhiệm vụ trọng tâm của Hội như xây dựng
các mô hình hoạt động có hiệu quả như nuôi heo đất, góp vốn xoay vòng, thực hiện tốt
phong trào phụ nữ khá giúp phụ nữ khó bằng cho vay không tính lãi, phong trào giúp
nhau về cây, con, giống, khuyến khích phát triển các nhóm tín chấp của phụ nữ …
Tiếp tục phát triển đa dạng các hình thức đào tạo nghề như cắt may, uốn tóc, thêu, cạo
mủ cao su, kỷ thuật viên vi tính …của trung tâm Dịch vụ việc làm Hội phụ nữ tỉnh,
Trung tâm giáo dục, chữa bệnh, dạy nghề và tạo việc làm cho phụ nữ thuộc đối tượng
tệ nạn xã hội. Một trong những nội dung quan trọng mà các cấp Hội cần quan tâm để
tuyên truyền, giáo dục cho hội viên và các tầng lớp phụ nữ, nhất là phụ n ữ nông thôn
đó là: nâng cao tính tích c ực, chủ động của bản thân trong quá trình phấn đấu vươn
lên.
Cùng với đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội phụ nữ là nâng cao
trách nhiệm của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp trong việc xây dựng và tham mưu thực
hiện các mục tiêu chương trình vì sự tiến bộ của phụ nữ, trong đó có các mục tiêu và
nhiệm vụ cụ thể về dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập cho lao động nữ nông thôn
trong tỉnh. Hiện nay thành viên Ban vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh Bình Phước cũng như các
tỉnh khác đều hoạt động kiêm nhiệm, chưa có cán bộ chuyên trách vì vậy phần lớn các
nội dung, chương trình của Ban đều do Hội phụ nữ tham mưu là chính, trách nhiệm chủ
yếu dồn lên vai Hội phụ nữ. Hiện nay Ban vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh tách khỏi Hội phụ nữ,
chuyển về Sở Lao động, Thương binh - Xã hội nhưng hoạt động chưa ổn định. Việc nâng
cao chất lượng hoạt động của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ các cấp, quan tâm đến quyền và
lợi ích chính đáng của phụ nữ nông thôn là động lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng
nông thôn mới.
Để đạt được bình đẳng giới trong lao động và việc làm cần có sự hiểu biết và đồng
tình của toàn xã hội, mọi giới, mọi cấp, mọi ngành. Một trong những biện pháp hết sức
quan trọng là Hội phụ nữ, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ, ngành Tư pháp, Đài Phát thanh
Truyền hình tỉnh phải tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục kiến thức giới và bình
đẳng giới cho toàn dân. Quán triệt và triển khai thực hiện tốt các chủ trương, chính sách
của Đảng, Nhà nước, cụ thể là: Tăng cường phổ biến giáo dục pháp luật về luật Bình
đẳng giới, luật Phòng chống bạo lực gia đình, luật Lao động, luật Bảo hiểm xã hội, đồng
thời vận động thuyết phục các chủ sử dụng lao động, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn
của tỉnh ưu tiên, tạo điều kiện trong tuyển dụng, sử dụng lao động nữ; tỉnh cần quan tâm
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đã và đang có chính sách ưu tiên sử dụng lao động nữ
như tạo điều kiện về vay vốn để phát triển sản xuất.
Mục tiêu tổng quát của Chiến lược quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
đến năm 2010 là: nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ, tạo mọi
điều kiện cần thiết để thực hiện các quyền cơ bản của phụ nữ để họ tham gia và thụ
hưởng đầy đủ và bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội.
Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ bao gồm 6 mục tiêu chính với các
chỉ tiêu cụ thể cho từng lĩnh vực đến năm 2010 như sau:
Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động và việc làm.
Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực giáo dục.
Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.
Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội để tăng số phụ nữ được giới thiệu và bầu tham gia lãnh đạo các
cấp, các ngành.
Tăng cường năng lực hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.
Trên cơ sở đó, Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ, Hội Liên hiệp phụ nữ các cấp trong tỉnh
cần tiếp tục xây dựng chương trình hành động cụ thể cho từng năm nhằm triển khai thực
hiện tốt Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ và Chiến lược quốc gia Vì sự tiến
bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010, thực hiện phối hợp hành động giữa các cơ quan,
tổ chức có liên quan để triển khai, tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện,
bồi dưỡng, nâng cao kiến thức cho đội ngũ cán bộ giảng viên tập huấn về giới, tăng
cường mở các lớp bồi dưỡng nâng cao kiến thức giới, xây dựng kế hoạch cụ thể về tập
huấn giới cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành trong tỉnh và tuyên truyền về
bình đẳng giới, bình đẳng giới trong lao động và việc làm cho các chủ sử dụng lao động
trong tỉnh. Tỉnh cần có sự đầu tư nhiều hơn cho việc tuyên truyền, thông tin và phổ biến
kiến thức giới dưới mọi hình thức truyền thông như báo, đài, tờ rơi…trong toàn tỉnh để
thay đổi định kiến giới trong phân công lao động thấm nhuần đến từng thành viên trong
tỉnh và xây dựng các hình thức tuyên truyền phong phú, sinh động, phù hợp với trình độ
văn hóa của người dân, nhằm đạt được và duy trì mục tiêu bình đẳng giới nói chung,
bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn ở Bình Phước nói riêng.

3.2.6. Thúc đẩy bình đẳng giới trong các gia đình, đặc biệt là các gia đình
nông thôn, đồng thời bản thân người phụ nữ nông thôn tỉnh Bình Phước cũng phải
nỗ lực vươn lên về mọi mặt
Gia đình là hạt nhân của xã hội. Xã hội có tốt đẹp và phát triển phồn vinh hay
không phụ thuộc rất nhiều vào các hạt nhân này. Trong mỗi gia đình đều có phân công
lao động giữa các thành viên, mỗi thành viên trong gia đình có trách nhiệm đóng góp sức
mình cho sự phát triển của gia đình và xã hội. Vì vậy để tăng cường bình đẳng giới trong
gia đình, bản thân các thành viên trong gia đình cần chủ động thực hiện các công việc
sau:
Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của công việc gia đình, dù là công việc lặt vặt
nhưng rất mất thời gian và công sức của người thực hiện nó (thường là phụ nữ), xét cho
cùng thì đây là công việc tiết kiệm chi tiêu trong gia đình, có thể quy đổi ra tiền (nếu thuê
người giúp việc), do vậy cần có sự phân công một cách khoa học và hợp lý công việc gia
đình giữa các thành viên trong gia đình, nhất là giữa vợ và chồng, giữa trẻ em trai và trẻ
em gái, nhằm giảm nhẹ cường độ lao động, thời gian làm việc của phụ nữ, tăng sự phụ
giúp của nam giới trong công việc gia đình, tạo điều kiện giúp phụ nữ hưởng thụ văn hóa,
nghỉ ngơi để tái tạo sức lao động. Các bậc cha mẹ cần tạo điều kiện để trẻ em trai và trẻ
em gái được tiếp cận giáo dục, các lĩnh vực khác. Các thành viên trong gia đình và xã hội
cần thay đổi định kiến việc nội trợ là việc của đàn bà.
Trong vấn đề tạo việc làm cho nam và nữ, nguyên tắc bình đẳng và công bằng cần
được thực hiện trong sự gắn bó chặt chẽ. Quan tâm tạo việc làm cho cả hai giới là bình
đẳng, nhưng phụ nữ có những điều kiện, hoàn cảnh đặc thù, khó khăn hơn nam giới (do
chức năng sinh đẻ, nuôi con nhỏ) thì sự công bằng đòi hỏi cho họ những điều kiện tốt
hơn, dễ dàng tiếp cận hơn để họ có việc làm bình đẳng với nam giới. Nhưng bình đẳng
giữa nam và nữ lại không có nghĩa là đối xử với nam và nữ trong việc làm, trong học tập,
trong gia đình như nhau khi điều kiện, hoàn cảnh, cơ hội của mỗi giới lại khác nhau và họ
ở những điểm xuất phát khác nhau. Nếu máy móc đối xử như nhau lại là không công
bằng.
Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, cần phát huy hơn nữa vai trò của phụ
nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Song vấn đề này còn nhiều hạn chế, trong đó có
hạn chế từ phía chủ quan của phụ nữ. Do ảnh hưởng của tư tưởng từ xưa để lại, chính
trong bản thân mỗi người phụ nữ vẫn còn tư tưởng tự ti an phận, cam chịu và thụ động,
ảnh hưởng đến hạn chế sự độc lập suy nghĩ sáng tạo, khả năng cống hiến của chính phụ
nữ, là lực cản bên trong kìm hãm họ. Để xóa bỏ bất bình đẳng giới, ngoài sự tác động của
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, sự quan tâm của xã hội thì bản
thân người phụ nữ phải tự vươn lên khẳng định mình, dám đấu tranh chống lại những hủ
tục lạc hậu, sự áp bức, coi thường, trói buộc phụ nữ. Đồng thời phụ nữ cũng phải chiến
thắng chính bản thân mình bằng sự tự tin và phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, vượt qua
những thành kiến và suy nghĩ lạc hậu, từng bước khẳng định vị trí, vai trò của mình trong
gia đình và ngoài xã hội.
Sự chịu thương, chịu khó, hy sinh vì chồng con, lòng nhân hậu, vị tha là những
phẩm chất cao đẹp của phụ nữ. Song phải kết hợp hài hòa với tính tự chủ sáng tạo. Trong
điều kiện hiện nay, người phụ nữ phải có đủ phẩm chất, năng lực và bản lĩnh mới có thể
thực hiện tốt vai trò của mình. Trước hết với tư cách là người lao động, để đáp ứng yêu
cầu ngày càng cao của thị trường lao động, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn lao động nữ không chỉ biết cần cù, chịu khó, mà phải tháo vát,
dám nghĩ, dám làm, nhạy bén với cái mới, chịu khó học tập để năng động, xử trí kịp thời,
có hiệu quả các tình huống xảy ra trong thực tế. Phải quyết tâm nâng cao năng lực bản
thân, tranh thủ cơ hội, học đủ, học có kết quả. Thường ngày cố gắng đọc sách báo, cập
nhật thông tin, kiên quyết gạt bỏ những lý do chưa cần thiết, chưa vội, cản trở việc học
tập đều đặn và khắc phục khó khăn.
Trong việc học tập phụ nữ cần khắc phục bệnh tự ti về năng lực bằng cách chịu
khó tìm tòi, học hỏi, nâng cao hiểu biết, đề từ đó có đủ bản lĩnh, tự tin, ý chí tự lực tự
cường, quyết tâm phấn đấu tích cực rèn luyện khắc phục và vượt qua mặc cảm, định kiến,
những khó khăn của gia đình, có đủ phẩm chất và năng lực, tự tạo ra các cơ hội để trưởng
thành. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi lao động
nữ nông thôn phải biết tiếp thu, ứng dụng và làm chủ các tiến bộ khoa học, kỹ thuật, giỏi
một nghề và biết nhiều nghề, có như vậy mới có khả năng cạnh tranh với nam giới trên
thị trường lao động.
KẾT LUẬN


Bình đẳng giới là một trong những mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay. Thực tiễn đời sống đã chứng minh, bất bình đẳng
giới không chỉ hạn chế sự phát triển của phụ nữ mà còn cản trở tiến trình phát triển của
mỗi quốc gia, đặc biệt đối với các nước đang phát triển.
Chủ nghĩa Mác - Lê nin đã chỉ ra bất bình đẳng giới, sự áp bức của giới này đối
với giới kia diễn ra trong xã hội loài người là do nhiều yếu tố thuộc về chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội và nhận thức quy định.
Ở nước ta hiện nay, vị trí, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội được nâng
lên so với trước. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản và Nhà nước ta luôn coi trọng
việc thực hiện bình đẳng giới, đánh giá cao vai trò, vị trí của phụ nữ trong quá trình dựng
nước và giữ nước, đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật như: Hiến pháp,
Luật Hôn nhân gia đình, Luật Lao động, Luật Bình đẳng giới…đó là những cơ sở quan
trọng để thúc đẩy bình đẳng giới ở nước ta.
Chiến lược phấn đấu cho sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam và thực hiện bình đẳng
giới đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Tuy nhiên, bình đẳng giới vẫn cần được quan tâm đặc
biệt trong thời gian dài, vì đây là cuộc đấu tranh trên nhiều lĩnh vực, là cuộc đấu tranh
giữa cái cũ và cái mới, cái tiến bộ và cái lạc hậu, là cuộc đấu tranh còn nhiều khó khăn,
thử thách, bởi tàn dư của tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của
một bộ phận dân chúng.
Bình Phước là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, là tỉnh có nhiều
tiềm năng phát triển kinh tế, trong mỗi bước đi, mỗi thành công của công của công cuộc
xây dựng nông thôn mới của tỉnh đều in đậm công lao của những người phụ nữ trong
tỉnh. Địa vị của người phụ nữ nông thôn được cải thiện hơn rất nhiều bởi những đóng góp
của họ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh. Song cũng chính quá trình
tham gia vào công cuộc đó, sự biến đổi của nông thôn ngày nay đang đặt người phụ nữ
Bình Phước trước hàng loạt những vấn đề như trình độ văn hóa và chuyên môn, nghiệp
vụ của phụ nữ, nhất là phụ nữ nông thôn còn nhiều bất cập, phần lớn là phụ nữ nông thôn
của tỉnh chưa được đào tạo nghề, chiếm chủ yếu trong lao động giản đơn, thiếu ổn định,
thu nhập thấp, sự phân biệt trong việc trả công, trong việc tuyển dụng giữa lao động nữ
và lao động nam ở nhiều chủ doanh nghiệp, cơ hội việc làm của lao động nữ.
Để thực hiện tốt bình đẳng giới trong lao động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình
Phước là một quá trình khó khăn, lâu dài, đòi hỏi sự cộng đồng trách nhiệm của cả xã hội
và sự nổ lực vươn lên của bản thân người phụ nữ nông thôn.
Các giải pháp không có tính tuyệt đối và lại càng không có tính đơn lẻ, nó chỉ phát
huy tác dụng trong hệ thống các giải pháp, tức là để thực hiện tốt bình đẳng giới trong lao
động và việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước là một quá trình giải quyết đồng bộ các
vấn đề đặt ra, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực cần được đầu tư nghiên cứu và
tổ chức thức hiện một cách toàn diện, lâu dài.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Ban Dân tộc Tỉnh ủy Bình Phước (2007), Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết
1.
Trung ương 7 khóa IX về công tác dân tộc.
Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ tỉnh Bình Phước (2005-2008), Báo cáo tổng kết công tác vì
2.
sự tiến bộ phụ nữ tỉnh.
Bộ Chính trị (2007), Nghị quyết 11/NQ-TW về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh
3.
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề giải phóng phụ nữ (1970), Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
4.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nxb
5.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb
6.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb
7.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb
8.
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bình Phước (2008), Thống kê số liệu vay vốn từ các
9.
nguồn do Hội phụ nữ và hội nông dân cho vay.
10. Kết quả điều tra của tác giả (5/2009), Tình hình thực hiện bình đẳng giới trong lao
động việc làm ở nông thôn tỉnh Bình Phước.
11. V.I.Lênin (1975), Toàn tập, tập 5, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
12. V.I.Lênin (1975), Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
13. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
14. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
15. V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 32, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
16. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 39, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
17. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 40, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
18. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
19. Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Phước (2008), Tổng hợp số liệu công nhân lao động.
20. Liên Hiệp quốc (2008), Báo cáo về chỉ số phát triển của Việt Nam.
21. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 16, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
23. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
25.
26. C.Mác và Ph.Ăngghen (1999), Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia,
27. Hồ Chí Minh (2000) Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
28. Hồ Chí Minh (2000) Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. Hồ Chí Minh (2000) Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
30. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
31. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
32. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
33. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
34. Hồ Chí Minh (2000) toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
35. Ngân hàng Thế giới (2000) Tổng quan đưa vấn đề giới vào phát triển, Hà Nội.
36. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2007), Luật Bình đẳng giới,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
37. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1995), Hiến pháp 1946, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Sở Lao động - Thương binh và xã hội tỉnh Bình Phước (2008), Báo cáo công tác lao
38.
động - thương binh xã hội.
39. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước (2008), Báo cáo tình hình
thực hiện nhiệm vụ.
40. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước (2008), Báo cáo vấn đề
nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Bình Phước.
41. Sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh Bình Phước (2009): Báo cáo tổng kết năm học 2008-
2009.
42. Sở y tế tỉnh (2008): Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn
2005-2010.
43. Tỉnh ủy Bình Phước (2000-2008), Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh.
44. Tỉnh ủy Bình Phước (2009): Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Phước thời kỳ đổi mới
45. Phan Thanh Khôi (2008), Giới trong lĩnh vực kinh tế - lao động, trong sách Khoa học
giới, những vấn đề lý luận và thực tiễn, do Trịnh Quốc Tuấn, Đỗ Thị Thạch (chủ
biên), Nxb Chính trị - hành chính, Hà Nội.
46. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 19 (2002), Phê duyệt Chiến lược quốc gia vì sự
tiến bộ của phụ nữ Việt Nam 2001-2010.
47. Từ điển kinh tế (1976), Nxb Sự thật, Hà Nội.
48. Trung tâm Bà mẹ, trẻ em tỉnh (2008, 2009): số liệu thống kê về bệnh phụ khoa, thực hiện
các biện pháp tránh thai.
49. Ủy ban Quốc gia VSTBPNVN (2004), Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định
và thực thi chính sách, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.
Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam (2002), Số liệu thống kê về
50.
giới ở Việt Nam.

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản