Luận văn: Chính Sách Quản Lý Tài Nguyên Cộng Đồng Đầm Ô Loan, Huyện Tuy An - Tỉnh Phú Yên

Chia sẻ: Le Thi Hoa Ban | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:94

0
82
lượt xem
23
download

Luận văn: Chính Sách Quản Lý Tài Nguyên Cộng Đồng Đầm Ô Loan, Huyện Tuy An - Tỉnh Phú Yên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chính sách quản lý tài nguyên cộng đồng được xây dựng nhằm quản lý đầm Ô Loan theo hướng bền vững, để phục hồi và bảo tồn nguồn lợi thuỷ sản của đầm. Trong

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Chính Sách Quản Lý Tài Nguyên Cộng Đồng Đầm Ô Loan, Huyện Tuy An - Tỉnh Phú Yên

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN CỘNG ĐỒNG ĐẦM Ô LOAN HUYỆN TUY AN-TỈNH PHÚ YÊN NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỂ NHẬN VĂN BẰNG CỬ NHÂN NGÀNH KINH TẾ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG Thành Phố Hồ Chí Minh Tháng 07/2008
  2. Hội đồng chấm báo cáo khóa luận tốt nghiệp đại học khoa Kinh Tế, trường Đại Học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh xác nhận khóa luận “Chính Sách Quản Lý Tài Nguyên Cộng Đồng Đầm Ô Loan, Huyện Tuy An - Tỉnh Phú Yên” do Nguyễn Thị Phương Dung, sinh viên khóa 30, ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường, đã bảo vệ thành công trước hội đồng vào ngày TS Đặng Minh Phương Người hướng dẫn, Ngày tháng năm Chủ tịch hội đồng chấm báo cáo Thư ký hội đồng chấm báo cáo Ngày tháng năm Ngày tháng năm
  3. LỜI CẢM TẠ Quãng thời gian bốn năm trên giảng đường đại học sắp kết thúc và giờ đã đ ến lúc phải nói lời chia tay với tất cả thầy cô và bạn bè tại trường đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh. Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và sinh hoạt tại trường, tôi đã tích lũy được vô vàn kiến thức về kinh nghiệm sống và học tập quý báu. Trước khi kết thúc khóa học, việc hoàn tất khóa luận tốt nghiệp là minh chứng cho thành quả bao năm học tập. Và tôi muốn nhân dịp này đ ể bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban Chủ Nhiệm Khoa, các Thầy Cô giảng dạy và các bạn sinh viên lớp Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường 30 đã cùng gắn bó với tôi trong suốt quãng thời gian qua. Hơn ai hết tôi không thể nào quên công ơn của thầy trưởng bộ môn, người đã sáng lập nên chuyên ngành Kinh Tế Tài Nguyên Môi Trường - Tiến sĩ Đ ặng Minh Phương. Thầy đã nhiệt tình chỉ bảo chúng tôi học tập, truyền đạt những kiến thức bổ ích cũng như những điều hay lẽ phải để tôi trưởng thành như ngày hôm nay. Đồng thời Thầy cũng là giáo viên hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Xin gửi đến Thầy lòng biết ơn chân thành nhất. Cám ơn Thầy! Bên cạnh đó, trong quá trình đến địa bàn nghiên cứu, phỏng vấn hộ tại đầm Ô Loan, các cô chú, anh chị ở Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Huyện Tuy An và các chú ở Uỷ Ban Nhân Dân Các Xã Ven Đầm đã ủng hộ và trợ giúp rất nhiều để tôi có số liệu tính toán cho khóa luận. Tôi xin chân thành cảm ơn! Đồng thời cho tôi gửi lời cám ơn đến các anh chị ở Chi Cục Môi Trường, các anh chị trong dự án SEMLA, Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, những người đã tạo điều kiện tốt cũng như giúp tôi tìm kiếm những thông tin cần thiết phục vụ cho việc viết khóa luận. Lời cuối cùng tôi muốn gởi đến là đằng sau thành công của mình có được ngày hôm nay, tôi không thể nào quên hình ảnh của ba mẹ, người đã sinh thành, dưỡng dục tôi khôn lớn cũng như luôn theo sát, động viên và ủng hộ tôi về mọi mặt. Tôi xin giữ lại những tình cảm tốt đẹp nhất trong trái tim mình.
  4. NỘI DUNG TÓM TẮT NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG. Tháng 07 năm 2008. “Chính Sách Quản Lý Tài Nguyên Cộng Đồng Đầm Ô Loan, Huyện Tuy An - Tỉnh Phú Yên”. NGUYEN THI PHUONG DUNG. July 2007. “Common Management Resources Policy of O Loan Lagoon, Tuy An District – Phu Yen Provine”. Khoá luận xác định tình trạng hiện tại của đầm Ô Loan là tự do tiếp cận, do đó việc khai thác và nuôi trồng thuỷ sản diễn ra ồ ạt. Sự gia tăng một cá nhân khai thác sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của các cá nhân khác trong cộng đồng dân cư ven đầm (yếu tố ngoại tác), những hành vi khai thác không được kiểm soát chặt chẽ dẫn đến những vấn đề và mâu thuẫn xảy ra. Khoá luận định lượng lợi ích của người dân t ừ hoạt động khai thác trong những năm hiện tại là rất thấp, đời sống của cộng đ ồng đang rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Chính sách quản lý tài nguyên cộng đồng được xây dựng nhằm quản lý đầm Ô Loan theo hướng bền vững, để phục hồi và bảo tồn nguồn lợi thuỷ sản c ủa đ ầm. Trong mô hình quản lý cộng đồng, các nhóm cộng đồng được thành lập và hoạt động thống nhất với nhau, ngư dân được giao quyền sở hữu và họ tự quản lý nguồn tài nguyên. Ngoài ra, khóa luận đã xác định được phương trình hàm sản lượng theo nỗ lực đánh bắt (số đăng chấn) là Ht = - 0.0000249*Et2 + 0.213*Et - 127.410 và mức khai thác bền vững về sinh học (EMSY = 4277, HMSY = 328 tấn), sản lượng khai thác và mức nỗ lực bỏ ra trong điều kiện tự do tiếp cận ( EOA = 7022, HOA = 140,5 tấn) và có sở hữu (E* = 3.875, H*= 324 tấn). Qua đó thấy được mức nỗ lực khai thác hiện tại của đầm ( E2007 = 5530) đang ở gần với mức khai thác tự do tiếp cận, cần có biện pháp chuyển về mức khai thác tối ưu về kinh tế. Từ đó giúp cộng đồng phân công khai thác nhằm quản lý việc khai thác hiệu quả. Với chính sách đề ra, khoá luận mong muốn nguồn lợi thuỷ sản dần phục hồi bởi đây là nguồn sống chủ y ếu cho cộng đồng dân cư ven đầm. Bên cạnh đó, khoá luận cũng đề ra những ý kiến nhằm hoàn thiện chính sách, hoạt động hiệu quả hơn cũng những khó khăn và thuận lợi khi chính sách được thực hiện.
  5. MỤC LỤC Trang Danh mục các chữ viết tắt viii Danh mục các bảng ix Danh mục các hình x Danh mục phụ lục xi
  6. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CN – TTCN Công Nghiệp – Trung Tâm Công Nghiệp CPR Tài Nguyên Chung Cộng Đồng (Common property resourses) ĐNN Đất Ngập Nước HTX Hợp Tác Xã KTTS Khai Thác Thủy Sản NTTS Nuôi Trồng Thuỷ Sản NN & PTNT Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn QĐ Quyết Định TTCN Trung Tâm Công Nghiệp TCVN Tiêu Chuẩn Việt Nam UBND Uỷ Ban Nhân Dân VHTT Văn Hoá Thông Tin v
  7. DANH MỤC CÁC BẢNG Trang vi
  8. DANH MỤC CÁC HÌNH Trang vii
  9. DANH MỤC PHỤ LỤC Phụ lục 1. Kết xuất mô hình Phụ lục 2. Bảng Câu Hỏi Phỏng Vấn. Phụ lục 3. Bản Đồ Đầm Ô Loan Phụ lục 4. Một Số Hình Ảnh Minh Họa viii
  10. CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1.1. Đặt vấn đề Phú Yên là một tỉnh duyên hải miền Trung nằm trong tiểu vùng ven biển Nam Trung Bộ. Vùng có các đầm, vịnh nằm tiếp giáp với biển tạo một điều kiện sinh thái thuận lợi phát triển nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản cùng giao thương với các vùng khác trong và ngoài nước. Trong đó, đầm Ô Loan là nguồn nuôi sống con người nơi đây từ xa xưa, cộng đồng ngư dân ở đầm có nguồn thu nhập đa dạng nhưng đ ều có mối đe dọa nghiêm trọng về an ninh lương thực. Họ sống ven bờ đầm phong phú nhưng nhìn chung họ lại nghèo, đông đúc và bị gạt ra bên lề sự phát triển. Tuy nhiên, họ tỏ ra tháo vát khi nguồn tài nguyên bị suy thoái, họ có thể thiếu tiền nhưng họ vẫn tồn tại. Gần đây những áp lực gia tăng dân số đã đẩy nhiều người đ ến nơi đây với hy vọng suy trì sinh kế dựa vào nguồn tài nguyên thủy sản vẫn thường được coi là tài sản chung. Họ là những người không có sự ràng buộc từ trước với địa phương, điều này có nghĩa là họ có ít vốn trí thức về sinh thái địa phương và mục đích kinh t ế khiến họ không quan tâm về mặt môi trường đầm. Do đó, họ đã đối xử tồi với món quà tặng này, đầm không còn cung cấp những gì nó có thể. Giờ đây đầm Ô Loan đang suy thoái nghiêm trọng, người dân đang mất đi nhiều lợi ích thu hoạch t ừ đ ầm do sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thủy sản. Đầm Ô Loan được xem như một nguồn tài nguyên thiên nhiên tự do tiếp cận, mọi người đổ xô vào khai thác, đánh bắt thủy sản thậm chí chặt phá cây trồng. Từ những năm 1998 mặt nước Đầm Ô Loan đã bị ô nhiễm trầm trọng khi tình trạng nuôi tôm tự phát nổ ra ồ ạt bởi hàng ngàn hộ dân ven đầm, cùng một số người từ các huyện trong tỉnh khiến những sinh vật có nguồn gốc từ biển như mực, cá đuối, tôm hùm mất trắng. Nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên vốn có của đầm bị suy giảm nhanh chóng, thậm chí một số loài có nguy cơ bị thiệt chủng. Tuy nhiên, nếu chúng ta đối ix
  11. xử tốt, đầm sẽ dần khôi phục, đáp ứng và các cộng đồng địa phương có thể sống bền vững. Nhưng vẫn chưa có một chính sách nào được đề ra để giải quyết tình trạng ô nhiễm ngày càng trầm trọng và hiện tượng người dân xâm phạm khai thác bừa bãi đầm Ô Loan. Trước thực tế bức xúc ấy, tôi được sự đồng ý của trường Đại Học Nông Lâm và sự hướng dẫn trực tiếp của TS. Đặng Minh Phương được phép thực hiện đề tài: “CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN CỘNG ĐỒNG ĐẦM Ô LOAN HUYỆN TUY AN - TỈNH PHÚ YÊN”. Đề tài thực hiện nhằm đề xuất mô hình quản lý tài nguyên chung cộng đồng (CPRs) đầm Ô Loan, thực hiện chiến lược quản lý bảo tồn và phục hồi năng suất nguồn tài nguyên nơi đây nhằm đảm bảo lợi ích cho cộng đồng cư dân nơi đây. Hi vọng với chính sách đề ra, cộng đồng ngư dân tự quản lý tốt nguồn tài nguyên, những luật lệ và cam kết đã đặt ra giúp họ có ý thức rõ ràng trong việc tham gia bảo vệ đầm, đồng thời đổi mới bộ mặt cho đầm Ô Loan. Nghiên cứu này sẽ khắc phục được tình hình hiện nay để các nhà chức trách liên quan như: Sở Tài Nguyên và Môi Trường, Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn.v.v.có một hướng quản lý kinh tế mới theo xu hướng bền vững và tiếp cận công cụ quản lý của các nước phát triển trên thế giới. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1. Mục tiêu chung Xây dựng chính sách quản lý tài nguyên cộng đồng đầm Ô Loan 1.2.2. Mục tiêu cụ thể • Phân tích chế độ sở hữu tài nguyên và thực trạng khai thác hiện tại • Xây dựng mô hình quản lý tài nguyên cộng đồng 1.3. Các giả thiết của vấn đề nghiên cứu Trong phạm vi đề tài này, tôi xin đưa ra một số giả thiết để kiểm chứng quá trình thực hiện nghiên cứu. Trước hết không thể phủ nhận tình hình đầm Ô Loan đang rơi vào tình cảnh khó khăn cả về việc suy giảm tài nguyên và chất lượng môi trường, do đó chính sách quản lý tài nguyên cộng đồng được lựa chọn đ ể quản lý đầm theo xu hướng quản lý bền vững. Tuy nhiên phương pháp này vẫn còn mới mẻ đối với Việt Nam, vì thế khó khăn xảy ra trong quá trình tiến hành là không nhỏ. Thứ hai, người dân ven đầm hoạt động cả nông nghiệp và ngư nghiệp, đề tài đã chọn x
  12. ngư nghiệp mà cụ thể là hoạt động khai thác thủy sản là đối tượng nghiên c ứu ch ủ yếu. 1.4. Phạm vi nghiên cứu 1.4.1. Địa điểm nghiên cứu Đầm Ô Loan thuộc huyện Tuy An, cách trung tâm thành phố Tuy Hoà 25 km về phía bắc địa phận tỉnh Phú Yên. Cụ thể là số liệu khai thác và nuôi trồng thuỷ sản được thu thập tại năm xã ven đầm Ô Loan: An Ninh Đông, An Cư, An Hiệp, An Hoà và An Hải. 1.4.2. Thời gian nghiên cứu Từ 24/3/2008 – 24/6/2008 1.5. Cấu trúc của khoá luận Khoá luận gồm năm nội dung chính và được chia thành năm chương, với nội dung của từng chương như sau: Chương một là phần mở đầu, gồm có năm phần chính là đặt vấn đề, mục tiêu nghiên cứu, các giả thiết của vấn đề nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và cấu trúc của khóa luận. Chương hai là tổng quan, giới thiệu tổng quan về tài liệu tham khảo và tổng quan về địa điểm nghiên cứu như: điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, một số vấn đề môi trường và hệ sinh thái Đầm…. Chương ba là nội dung và phương pháp nghiên cứu, trình bày một số khái niệm về lĩnh vực nghiên cứu; phương pháp để tiến hành nghiên cứu được trình bày với những phương pháp chủ yếu mà đề tài ứng dụng như phương pháp tính sản l ượng, trữ lượng khai thác tối ưu. Chương bốn là chương kết quả nghiên cứu và thảo luận. Đây là phần chính của đề tài. Trong chương này, tôi đưa ra những nhận định tổng quát về thực tr ạng khai thác thủy sản, nuôi trồng thuỷ sản và môi trường hiện tại của Đầm dưới chế độ tự do tiếp cận. Từ đó xây dựng chính sách quản lý cộng đồng nhằm khôi phục nguồn tài nguyên thuỷ sản của đầm và bảo đảm cuộc sống cho cộng đồng dân c ư nơi đây. xi
  13. Chương năm là kết luận và kiến nghị, tóm lược các kết quả đã nghiên cứu cũng như nêu lên những ưu điểm và hạn chế của khóa luận. Đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong khai thác, nuôi trồng với hình thức quản lý mới theo hướng bền vững. CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu có liên quan Dự án phát triển lâm nghiệp xã hội Sông Đà là dự án hợp tác kĩ thuật giữa Chính phủ Đức và Việt Nam, do Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức hỗ trợ và Cục phát triển lâm nghiệp thuộc Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn thực thi. Mục đích dự án là “Các cộng đồng (nông thôn) ở hai tỉnh Sơn La và Lai Châu quản lý nguồn tài nguyên thiên một cách bền vững về mặt sinh thái, kinh tế và xã hội”. Dự án đã s ử dụng cơ sở phương pháp luận về quy hoạch sử dụng đất và giao đất giao rừng có người dân tham gia, đồng thời xác định khả năng của cộng đồng dân cư từ đó đưa ra những công cụ pháp lí để quản lí nhằm đạt mục tiêu đề ra. Bên cạnh đó còn có nghiên cứu “Quản lí môi trường dựa vào cộng đ ồng trong nuôi trồng thuỷ sản ở xã Quỳnh Bảng - Quỳnh Lưu - Nghệ An” của Mai Văn Tài (Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thuỷ Sản 1). Nghiên cứu đánh giá sơ bộ hiện trạng quản lý môi trường có nhiều vấn đề bức xúc đang diễn ra trong NTTS ven bi ển ở khu vực Bắc Trung Bộ nói chung và Nghệ An nói riêng. Để giải quyết tốt các vấn đề phức tạp đang đặt ra trong NTTS ven biển, dự án đã triển khai mô hình quản lý dựa vào cộng đồng với các mục tiêu hình thành những mô hình về cải tiến hệ thống quản lý NTTS, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực quản lý môi trường và cộng đồng cho các cán bộ quản lý cộng đồng và thành viên tham gia, đồng thời hỗ trợ thúc đẩy nghề NTTS ven biển. Nghiên cứu đánh giá hiện trạng NTTS xã xii
  14. Quỳnh Bảng, đồng thời đưa ra một số vấn đề ảnh hưởng đến việc NTTS theo cộng đồng ngư dân đánh giá theo các mức độ khác nhau. Cuối cùng, nghiên cứu đã mô tả hoạt động của tổ cộng đồng NTTS nơi đây với đầy đủ mục tiêu thành lập tổ cộng đồng, hoạt động và quy ước của cộng đồng, những khó khăn trong hoạt động và lợi ích tham gia tổ cộng đồng. Nghiên cứu cũng đưa ra vai trò quản lý của cơ quan quản lý trong quản lý môi trường cộng đồng. Nghiên cứu được áp dụng đã mang l ại hi ệu quả rất lớn cho xã Quỳnh Bảng trong việc giải quyết một số khó khăn trong quản lý môi trường và dịch bệnh, các hộ đều thực hiện đúng các quy ước, điều lệ cộng đồng và cùng nhau bàn bạc các biện pháp xử lý khi phát hiện dịch bệnh. Dự án sau khi triển khai đã nâng cao được năng lực quản lý môi trường, năng lực quản lý cộng đồng một cách rõ rệt tuy vẫn cần sự hỗ trợ từ phía các bên liên quan ở địa phương. Ngoài ra, để thực hiện đề tài này chúng tôi còn tham khảo tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau chủ yếu là nghiên cứu quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản của Sở Thuỷ Sản Tỉnh “Quy Hoạch Phát Triển Thuỷ Sản Đầm Ô Loan - Huyện Tuy An “Chuyên đề vùng đất ngập nước Đầm Ô Loan” của Sở Tài Nguyên Môi Trường Tỉnh, và nhiều nguồn internet… Các nghiên cứu trên giúp ích cho hướng nghiên cứu của đề tài này. Tuy nhiên vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu mô hình CPRs cho vùng nước như đ ầm, v ịnh, hồ để tham khảo. 2.2. Đặc điểm tổng quan của vùng đất ngập nước đầm Ô Loan Đất ngập nước nói chung và đất ngập nước ven biển nói riêng là những vùng sinh thái có năng suất sinh học vào loại cao nhất của vùng nhiệt đới, song chúng cũng là hệ sinh thái rất nhạy cảm, dễ bị biến đổi nhất so với các vùng sinh thái khi có s ự tác động của các yếu tố tự nhiên và các hoạt động kinh tế xã hội của con người. Đầm Ô Loan không những đã tạo nên những phong cảnh hữu tình cho các vùng đất ven biển của tỉnh, mà còn là những vùng đất ngập nước mang đầy đủ những tính chất đặc trưng của những vùng đất ngập nước ven biển nhiệt đới. Đầm Ô Loan nằm phía Nam thị trấn Chí Thạnh, huyện Tuy An, n ằm cạnh chân đèo Quán Cau, tiếp giáp các xã An Cư, An Hoà, An Hải, An Hiệp và An Ninh Đông của huyện Tuy An, cách thị xã Tuy Hoà khoảng 25 km về phía Bắc theo đường Quốc lộ 1A, nằm trong phạm vi 109o14’30” và 109o17’30” kinh độ Đông; 13o13’50” xiii
  15. đến 13o19’00” độ vĩ Bắc. Diện tích lưu vực đầm Ô Loan khoảng 110 km 2. Ô Loan là đầm nước lợ gần như nằm lọt trong đất liền, có diện tích khoảng 1.570 ha, tr ải dài theo hướng Bắc Nam, nơi rộng nhất 2,5km, nơi dài nhất 8km, diện tích mặt nước rộng khoảng 1200 ha cửa đầm được gọi là cửa Tân Quy, rộng khoảng 100 m. Vị trí cửa đầm không ổn định, thường di chuyển xa về phía Bắc cách núi gần 6 km. Hình 2.1. Đầm Ô Loan Nguồn tin: Ảnh chụp đầm Ô Loan Đầm được bao bọc bởi núi Đồng Cháy, núi Cấm và cồn An Hải, có bán đ ảo An Ninh Đông, An Hải, An Hoà bao bọc đầm Ô Loan ở mũi Phú Tân cao 114 m, với một lạch nước thông ra biển về phía Bắc giữ cho mặt nước trong đầm quanh năm xanh biếc và phẳng lặng. Phía Tây đầm Ô Loan là những quả đồi nằm nằm san sát nhau. Phía đông là mả Cao Biền. Đứng trên đèo Quán Cau nhìn xuống, Ô Loan giống như con phượng đang xoè cánh, còn trên bản đồ Ô Loan giống như con thiên nga đang bay. Đầm Ô Loan đã được Bộ Văn hoá Thông Tin công nhận Di tích thắng cảnh cấp Quốc gia vào năm 1996 (Theo Quyết định số 2410 – QĐ/VH ngày 27 tháng 9 năm 1996 của Bộ Trưởng Bộ Văn Hóa – Thông Tin). Qua nhiều thế hệ con người sinh sống nơi đây đã góp phần tô điểm thêm vẻ đẹp của đầm bằng những giá trị văn hoá xiv
  16. truyền thống sinh động. Tuy nhiên với nhu cầu phát triển kinh tế, vì lợi ích trước mắt, phong trào nuôi tôm tự phát trên mặt đầm và việc khai thác huỷ diệt các nguồn lợi thuỷ sản trong đầm kéo dài nhiều năm nay đã làm cho ô nhiễm môi tr ường đ ầm và các nguồn lợi thuỷ sản có giá trị bị suy giảm đáng kể. 2.2.1. Đặc điểm khí hậu - thuỷ văn a. Khí hậu Do chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương và đặc điểm của địa hình nằm sâu trong khu vực nội chí tuyến, đầm có lượng bức xạ mặt trời phong phú. Hàng năm mặt đầm Ô Loan thu được nguồn năng lượng mặt trời từ 140 đến 150 Kcal/cm 2 với trên 2400 giờ nắng. Đầm Ô Loan nằm trong đới khí hậu nam trung bộ. Nhiệt độ không khí đầm trung bình năm 26,5oC, Nhiệt độ nước trong đầm tương đối cao và ổn định, biến thiên đồng bộ với nhiệt độ không khí nhưng chậm hơn 01 tháng. Nhiệt độ nước đo được trung bình nhiều năm vào tháng 6 là 30,9 oC, vào tháng 4 là 30,4oC, nghĩa là có 2 đỉnh cao trong năm, điều đó phù hợp với xu thế chung toàn vùng miền Trung. Nhiệt độ nước thấp nhất vào tháng 1 là 23,7oC. Nhiệt độ nước của đầm Ô Loan nằm trong giới hạn sinh thái cho việc nuôi tôm và các loài hải sản khác. Mưa: Lượng mưa trung bình năm dưới 1500mm, lượng mưa biến động bất thường, năm nhiều nhất 2.000mm, năm ít nhất 900mm. Trong mùa mưa, nước đầm dâng lên rất cao. Độ ẩm tương đối trung bình 80 – 85% Gió: vào các tháng 9, 10, 11 và 12 gió có hướng thống tr ị là Đông Bắc - Tây Nam, các tháng 4, 5, 6 và 7 gió có hướng chủ yếu là Đông Nam - Tây Bắc nhưng khi vào đầm bị các yếu tố địa phương chi phối nên thường thay đổi thành hướng Đông Đông Nam hay Tây - Nam, do đó sóng trong đầm cũng đổi hướng theo. Nhìn chung trong cả năm đầm tương đối lặng, khoảng từ 11 giờ đến 15 giờ hàng ngày ở mặt đầm mới xuất hiện sóng, sóng cực đại chỉ đạt đến cấp III. Thuỷ triều: là loại thủy triều hỗn hợp thiên về nhật triều. Trong một tháng có từ 18 - 22 ngày nhật triều, biên độ nhật triều lớn nhất là 1,4 – 2,4m, mực nước biển trung bình là 1,2 – 1,4m. b. Thuỷ văn xv
  17. Sông suối đổ vào đầm rất ít và có lưu lượng nhỏ. Đáng chú ý là chỉ có 2 con sông chính là sông Hải Yến và suối Đá. Suối Đá bắt nguồn từ thôn Quảng Đức xã An Thọ đổ vào đầm Ô Loan tại thôn Xóm Bến xã An Hiệp (phía Tây Nam đầm). Sông Hà Yến là chi lưu phía hữu của sông Cái chảy qua đập Hà Yến, đây là nguồn cung cấp nước đáng kể cho đầm Ô Loan đổ vào đầm tại thôn Xóm Đá xã An Cư. 2.2.2. Đặc điểm địa hình - địa chất khu vực Địa hình xung quanh đầm Ô Loan tương đối phức tạp: đồi núi xen kẽ thung lũng. Đồi núi ở đây thấp (thường dưới 200m) nhưng dốc, cấu tạo bởi các đá granit, bazan. Đáy đầm tương đối bằng phẳng và khá nông, độ sâu từ 1,2m - 1,4m. Đáy đầm Ô Loan đang bị san bằng và nông dần do vật liệu lục nguyên, cùng với sự tích tụ mùn xác sinh vật hàng năm gia nhập, và tích tụ lại trong đầm bởi eo đầm thông v ới bi ển quá nhỏ, dài và quanh co không thể cân bằng được lượng nhập và mất bồi tích. Đồng thời việc đắp hồ nuôi tôm trên đầm một cách tự phát và tràn lan cũng là nguyên nhân làm cho tốc độ nông đáy đầm ngày càng tăng. 2.2.3. Đất đai và tình hình sử dụng đất Diện tích đất lưu vực đầm rộng lớn được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, nhưng việc sử dụng đất còn tùy thuộc loại đất. Bảng 2.1. Hiện Trạng Sử Dụng Đất Lưu Vực Đầm Ô Loan Các xã nằm trong lưu vực đầm Ô Loan Mục đích sử Diện An An dụng đất tích đất Ninh An Hải An Cư An Hiệp Hoà Đông Tổng diện tích tự nhiên 13397 2642 1467 2251 2319 4718 Đất nông nghiệp 6146,62 1099 642,84 1205,36 1557,99 1641,25 Đất lâm nghiệp 894,02 221,2 363,2 46,5 211,32 51,8 Đất nuôi trồng thuỷ sản 372,17 52,74 38,33 133,55 76,81 70,74 Đất phi nông nghiệp 2783,18 702,3 419,53 630,7 445,57 585,07 Đất chưa sử 4.467,2 840,5 404,63 414,94 315,44 2.491,68 xvi
  18. dụng Nguồn tin: Báo cáo thống kê đất đai 5 xã An Ninh Đông, An Hải, An Cư, An Hòa, An Hiệp - 2005. Đất nuôi trồng thuỷ sản của lưu vực đầm Ô Loan năm 1995 là 60,27ha, năm 2000 tăng lên 382,09ha và đến 2005 còn 372,17ha. Trong đó diện tích NTTS tăng tại xã An Cư, An Hiệp; giảm tại xã An Hải, giữ nguyên tại các xã An Hòa, An Ninh Đông. Tại các xã tăng diện tích NTTS do nhân dân đã tận dụng những vùng bị nhiễm mặn ven đầm để nuôi tôm, mặc dầu hiệu quả mang lại không cao do điều kiện môi trường nước ngọt chưa bảo đảm, nước mặn thường xuyên bị ô nhiễm. Ở xã An Hải, diện tích NTTS chủ yếu trên mặt đầm, do dịch bệnh xảy ra liên tiếp nên diện tích này đã giảm so với năm 2000. Tại xã An Hiệp hiện có 2.491,86 ha đ ất ch ưa s ử dụng, tại An Cư có 414,94 ha đất chưa sử dụng; An Hòa có 315,44 ha đất chưa sử dụng, An Ninh Đông có 840,5 đất chưa sử dụng, An Hải có 404,63 đất chưa s ử dụng. Diện tích đất chưa sử dụng giảm do đưa vào trồng rừng và sử dụng cho các mục đích công cộng, khu dân cư.v.v. Qua đó, có thể thấy tình hình sử dụng đất nơi đây chưa thật sự hiệu quả nhất là diện tích nuôi trồng và khai thác thủy sản ở l ưu vực Đầm. 2.2.4. Các đặc trưng sinh học - nguồn lợi thuỷ sản đầm Ô Loan Đầm Ô Loan không những là một thắng cảnh quốc gia mà còn là một vùng ĐNN với năng suất sinh học và nguồn lợi thủy sản vô cùng phong phú và quý giá a) Các đặc trưng sinh học của đầm Ô Loan Thực vật nổi: thực vật nổi phát triển mạnh, có hơn 100 loài đã được tìm thấy trong đầm. Sinh vật lượng trung bình khoảng 104 – 105 tế bào/lít. Trong năm có hai lần thực vật nổi phát triển cao nhất, một vào tháng 7 và một vào tháng 12. Động vật nổi: có tới 84 loài, phần lớn có nguồn gốc từ biển. Sinh vật l ượng động vật nổi rất cao, trung bình đạt đến 2064con/m3, cao hơn 4 – 5 lần các đầm vịnh khác của Việt Nam. Đây là lượng thức ăn đáng kể cho các loài thuỷ sản trong đầm, nhất là tôm con. Sinh vật đáy: chủ yếu là loài giun nhiều tơ, thân mềm, giáp xác, da gai. Khối lượng của chúng thường dao động trong khoảng 0,82 – 17,97g/m2, với mật độ là 20 – 50 con/m2. xvii
  19. Năng suất sinh học sơ cấp: tương đối cao, dao động trong khoảng 288 – 888mgC/m3-ngày. Điều này cho biết đầm Ô Loan là vực nước có tiềm năng sinh học lớn. Hàng năm toàn đầm tổng hợp được hơn 50 ngàn tấn hữu cơ, là lượng thức ăn nguyên thuỷ quan trọng cho toàn hệ sinh thái của đầm. b) Các loài cá ở đầm Ô Loan Đầm Ô Loan nói riêng và một số vùng cửa sông ven biển miền Trung nói chung tập trung nhiều nhất vào bộ cá Vược (Perciformes) thể hiện tính chất nước lợ điển hình của các thuỷ vực cửa sông đầm phá ven biển. Có 72 loài cá thuộc 51 giống và 39 họ, trong đó có 24 loài sống ở biển, 48 loài sống ở biển - c ửa sông, 5 loài chiếm sản lượng lớn là cá đối, cá căng, cá móm, cá dìa và cá bóng. Các loài cá đặc trưng cho vùng nước lợ ở đây có cá Vược, cá Đối mắt đỏ, cá Đối rằn, cá Bống bớp. Cá kinh tế là những loài cho sản lượng cao và có chất lượng tốt, đem l ại giá trị thương phẩm cao. Trong 200 loài cá có mặt ở các vùng ven biển miền Trung, xác định được 23 loài có giá trị kinh tế, chiếm 11,5% tổng số loài. Đa số chúng có nguồn gốc biển như: cá Mòi cờ chấm, cá thác lác, cá chình hoa, cá chép, cá Dầy, cá Trê đen, cá mú đen, cá bống, cá Đối mục, cá Đối lá, con Lươn, cá quả, cá Chẽm, cá Căng đàn, cá Ong căng, cá Móm xiên, cá Hồng, cá Đù bạc.v.v. Các loài cá kinh tế phần đông thai thác được quanh năm. Tuy nhiên, sản lượng đánh bắt cao tập trung vào các tháng mùa khô, khi các loài cá có nguồn gốc biển di nhập vào trong các cửa sông. Ngư c ụ khai thác khác nhau tuỳ theo từng vùng, ở vùng cửa sông ngư cụ khai thác thường là câu, lưới, đáy.v.v. c) Các nguồn lợi thuỷ sản giá trị khác Đầm Ô Loan có 3 loài rong, loài có giá trị cao là rau câu chỉ vàng. Rong phát triển tự nhiên vào mùa Đông - Xuân và tàn lụi vào mùa hè thu, sản l ượng t ự nhiên không ổn định, phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết từng năm, bình quân trên 20 tấn khô/năm. Tôm có trên 10 loài, chủ yếu thuộc họ tôm he, nhiều nhất là tôm rảo (đất), sản lượng có thể khai thác được hàng năm 200 - 250 tấn/năm. Nhóm nhuyễn thể cũng rất da dạng, điển hình là sò huyết, ngao dầu, xút, hàu, điệp, vẹm vỏ xanh. Những năm gần đây (từ sau năm 1998), do khai thác hủy diệt nên sò huyết có nguy cơ tuyệt chủng chưa khôi phục lại được. xviii
  20. Các loài giáp xác: cua, ghẹ, những năm trước đây có thể khai thác 10 - 20 tấn/năm. Ngoài ra sứa ăn cúng là loài đặc sản của đầm ô Loan mà một thời nó là một trong những sản phẩm khai thác chính của ngư dân Ô Loan, sản lượng có thể đạt hàng trăm tấn/năm, nhưng do có sự biến đổi môi trường nước nên hiện nay l ượng sứa còn trong đầm không đáng kể. d) Đa dạng cỏ biển Cỏ biển (seagrass) là nhóm thực vật bậc cao sống thích nghi hoàn toàn trong nước biển. Chúng phát triển rộng rãi trên nền đáy vùng nước nông nhờ bộ r ễ bám chặt trên nền đáy bùn. Cửa đầm Ô Loan, dọc bờ biển Phú Yên rải rác có cỏ biển nhưng diện tích cỏ hẹp vì bờ biển có độ dốc lớn. Các nguồn lợi được mô tả trên đây cho thấy Đầm chứa đựng đa dạng sinh học nước lợ rất phong phú. Nó cung cấp nguồn lợi rất lớn và nhiều chủng loại cho cư dân địa phương. Vì thế việc quản lý bảo vệ để không bị cạn kiệt là việc làm rất cần thiết. 2.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội vùng đất ngập nước đầm Ô Loan 2.3.1. Đặc điểm kinh tế a) Dân số - Lao động Dân số 5 xã quanh đầm Ô Loan khoảng 46.542 người (Theo Niên giám Thống kê huyện Tuy An năm 2004), trong đó có gần 3.900 người sống bằng nghề cá trên đầm (8,4%). Lao động trực tiếp đánh bắt và nuôi trồng là 2.570 người, trong đó lao động khai thác 1.150 người. Rõ ràng đầm Ô Loan đã tạo công ăn việc làm cho một số lượng đáng kể cư dân trong vùng, là nguồn cung cấp nguồn thực phẩm khá lớn cho dân cư năm xã và nhân dân trong tỉnh. b) Vai trò nghề cá ở đầm Ô Loan đối với dân sinh kinh tế năm xã quanh đầm Ô Loan là một vực nước vốn được xem là giàu có về nguồn lợi thuỷ sản, giải quyết việc làm và đời sống cho hàng ngàn lao động hộ dân cư 5 xã quanh đầm, lao động thiếu việc làm từ khu vực khác đến hoạt động nuôi trồng, thu mua, chế biến và dịch vụ hậu cần cho nghề cá.v.v. Một số làng, thôn chuyên sống bằng nghề đánh bắt hải sản trên đầm Ô Loan từ nhiều thập kỷ qua như: Tân Hoà – An Hoà; Gành Hàu – An Hiệp, Tân Long – An Cư, Phú Sơn – An Ninh Đông và Tân Quy – An Hải. Ngh ề xix

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản