LUẬN VĂN: Công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên - Thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: vascaravietnam

Từ lâu, ma túy đã trở thành hiểm họa của loài người. Các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, chất hướng thần đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đến sức khỏe và hạnh phúc của con người, cản trở sự phát triển lành mạnh đối với kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đe dọa sự ổn định về an ninh và chủ quyền của các quốc gia. Các hoạt động buôn bán ma túy trái phép mang lại lợi nhuận rất cao, và tạo điều...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên - Thực trạng và giải pháp

LUẬN VĂN:


Công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại
địa bàn tỉnh Điện Biên - Thực trạng và giải pháp
Mở đầu

1.Tính cấp thiết của đề tài

Từ lâu, ma túy đã trở thành hiểm họa của loài người. Các hoạt động sản xuất,
tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, chất hướng thần đã làm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến đến sức khỏe và hạnh phúc của con người, cản trở sự phát
triển lành mạnh đối với kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đe dọa sự ổn định về an ninh
và chủ quyền của các quốc gia. Các hoạt động buôn bán ma túy trái phép mang lại lợi
nhuận rất cao, và tạo điều kiện cho các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia thâm nhập, làm
ô nhiễm và phá hoại bộ máy nhà nước; làm phát sinh tội phạm, nó là con đường chính lây
lan HIV/AIDS... Nhận thấy sự cần thiết phải huy động sức mạnh của các quốc gia cùng
tham gia phòng, chống và kiểm soát ma túy, Liên hợp quốc đã ban hành 3 Công ước
(1961;1971 và 1988) để phòng, chống và kiểm soát ma túy.

Nhận thấy sự cần thiết phải kịp thời đấu tranh ngăn chặn và kiểm soát ma túy,
ngay sau khi giành được độc lập, bên cạnh việc tập trung sức người, sức của kháng chiến
chống thực dân Pháp, Chính phủ Việt Nam đã quan tâm đến việc ngăn chặn thuốc phiện.
Ngày 05/3/1952, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 150-TTg quy định việc xử
lý đối với những hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện. Bộ luật Hình sự năm 1985
và nhất là Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước ta, đã hình thành hệ thống các quy định tội
phạm về ma túy. Ngày 09/12/2000, Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống ma túy. Ngày
01/9/1997, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số
789/QĐ-CTN tham gia 3 Công ước của Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy. Ngày
28/5/1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 686/TTg thành lập ủy ban quốc
gia phòng, chống ma túy (nay là ủy ban quốc gia phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm).
Ngày 10/3/2005, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 49/2005/QĐ-TTg phê duyệt Kế
hoạch tổng thể phòng, chống ma túy đến năm 2010, với mục tiêu đến năm 2015 cơ bản
thanh toán tệ nạn ma túy trong cả nước... Tất cả các chủ trương, chính sách và các văn
bản quy phạm pháp luật này đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống ma
túy.

Từ năm 2002 đến nay LLCSND nhất là LLCSĐTTP về ma túy đã phát hiện, điều
tra và triệt phá nhiều ổ nhóm, đường dây và tổ chức tội phạm ma túy có quy mô xuyên
quốc gia và quốc tế, bắt giữ nhiều tên tội phạm đặc biệt nguy hiểm như Trịnh Nguyên
Thủy, Nguyễn Văn Cẩn, Nguyễn Văn Tám (Tám Phong), Sùng Giống Sếnh... góp phần
làm ổn định tình hình an ninh tật tự, đem lại lòng tin cho nhân dân về công tác phòng,
chống ma túy. Kết quả điều tra tội phạm ma túy phản ánh, hiện nay nguồn ma túy chủ
yếu được thẩm lậu từ nước ngoài vào nước ta bằng nhiều đường khác nhau. Phần lớn các
vụ án ma túy đều có sự tham gia của các đối tượng người dân tộc ít người (như Sùng
Giống Sếnh -dân tộc Mông trong vụ Chu Văn Hiếu, giữ vai trò mua bán, vận chuyển ma
túy từ Lào vào nước ta; hoặc vụ Trịnh Nguyên Thủy - câu kết với Triệu Văn ấu dân tộc
Dao và nhiều đối tượng dân tộc Mông ở Mộc Châu - Sơn La gây án; vụ Nguyễn Văn
Tám (Tám Phong) cùng nhiều đối tượng dân tộc Mông ở Na Ư- Điện Biên gây án...).
Trong các vụ án đó họ giữ vai trò tạo nguồn.

Điện Biên là một tỉnh miền núi Tây Bắc của Tổ quốc, có đông đồng bào dân tộc
ít người sinh sống. Điện Biên luôn được xác định là tuyến, địa bàn trọng điểm về ma túy
của cả nước, vì Điện Biên có các yếu tố: địa bàn sản xuất ma túy; tuyến thẩm lậu ma túy
từ nước ngoài vào; địa bàn trung chuyển và cũng là địa bàn tiêu thụ lớn. Từ năm 2002
đến tháng 6/2006, Cơ quan CSĐT nhất là Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện
Biên phát hiện, điều tra làm rõ nhiều ổ nhóm, đường dây tội phạm ma túy có quy mô lớn
về nhiều mặt như các đường dây của Lý A Va; Lường Văn Lợi; Lăng Văn Tôn; Trần Thị
Nhàn; Lường Thị Trưởng... chúng đã vận chuyển, mua bán hàng trăm kg ma túy các loại.
Khảo sát, nghiên cứu hồ sơ các vụ án tội phạm ma túy tại Công an tỉnh Điện Biên cho
thấy: tình trạng người dân tộc ít người phạm tội chiếm tỷ lệ rất cao trong số các vụ án
cũng như đối tượng phạm tội được phát hiện hàng năm. Mặc dù LLCSND Công an tỉnh
Điện Biên luôn chủ động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm ma túy. Nhiều đường
dây, ổ nhóm tội phạm ma túy hoạt động liên tỉnh, xuyên quốc gia, nhiều địa bàn nóng
bỏng về ma túy được phát hiện, điều tra và triệt phá, nhất là các địa bàn đồng bào dân tộc
ít người sinh sống như các bản của xã Na Ư; bản Pa Xá - Lào; bản Nà Ngum... nhưng do
đặc điểm địa lý phức tạp, đối tượng phạm tội là người dân tộc ít người có những phong
tục, tập quán sống đặc thù... làm cho công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trong đồng bào dân tộc ít người luôn
gặp khó khăn. Trong khi chưa có lý luận chỉ dẫn cụ thể cũng như công tác tổng kết rút
kinh nghiệm còn nhiều hạn chế làm cho công tác phòng, chống tội phạm ma túy trong
đồng bào dân tộc ít người chưa đạt hiệu quả cao.

Từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài "Công tác điều tra tội phạm
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây
án tại địa bàn tỉnh Điện Biên - Thực trạng và giải pháp" để nghiên cứu là vấn đề cần
thiết.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

Đấu tranh phòng, chống ma túy từ lâu đã mang tính toàn cầu cả mặt lý luận và
thực tiễn. Để tổng kết thực tiễn, bổ sung lý luận nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng
ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma túy. Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu
khoa học, nhiều luận án tiến sĩ, nhiều luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu tội phạm ma
túy. Như tiến sĩ Trần Văn Luyện với đề tài: Phát hiện và điều tra tội phạm tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy của LLCSND; Thạc sĩ Lê Mộng Điệp với đề tài:
Công tác phát hiện, điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
có yếu tố nước ngoài của LLCSND; Thạc sĩ Trịnh Xuyên với đề tài: Điều tra tội phạm
vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên tuyến biên giới Thanh Hóa - Hủa Phăn
(nước CHDCN Lào) của lực lượng CSĐT tội phạm ma túy Công an tỉnh Thanh Hóa...
Tuy nhiên, các công trình này thường được các tác giả nghiên cứu ở các cấp độ và
phương diện khác nhau như: Tội phạm học; hình pháp học trên phạm vi rộng. Cũng có
những đề tài chỉ nghiên cứu ở một số địa bàn nhất định. Vì vậy, việc áp dụng kết quả
nghiên cứu vào từng địa phương, từng đối tượng chưa thật phù hợp. Vì ngoài đặc điểm
chung thì ở mỗi địa phương, mỗi loại đối tượng lại có những đặc điểm riêng như địa lý,
kinh tế, xã hội, tập quán, lối sống, phương thức thủ đoạn phạm tội...

Hơn nữa, Điện Biên là một địa bàn nóng bỏng, phức tạp về tội phạm ma túy.
Nhất là tình trạng người dân tộc ít người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy, nhưng công tác tổng kết rút kinh nghiệm chưa được tiến hành một cách
đầy đủ, khoa học. Vấn đề người dân tộc ít người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy tại địa bàn tỉnh Điện Biên là vấn đề rất đáng quan tâm nhưng chưa
được nghiên cứu đầy đủ, toàn diện. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ có ý nghĩa thiết thực
trong công tác phòng, chống tội phạm ma túy.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tổng kết thực tiễn công tác điều tra tội phạm
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại
tỉnh Điện Biên. Đánh giá những ưu điểm, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của
những tồn tại, hạn chế trong công tác đấu tranh chống tội phạm tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện
Biên. Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra tội
phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây
án tại địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng và toàn quốc nói chung.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

-Phân tích làm rõ đặc điểm pháp lý của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy.

-Phân tích làm sáng tỏ lý luận cơ bản về điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma túy.

-Làm rõ một số nhận thức cơ bản về dân tộc ít người và đặc điểm của người dân
tộc ít người ở tỉnh Điện Biên liên quan đến công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý.

phạm-Khảo sát, phân tích khái quát tội phạm về ma túy nói chung, tội phạm tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nói riêng tại địa bàn tỉnh Điện Biên.

- Khảo sát, phân tích đánh giá kết quả công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh
Điện Biên. Đánh giá ưu điểm, tồn tại hạn chế của công tác điều tra, rút ra nguyên nhân
của những tồn tại hạn chế đó.
- Đưa ra dự báo tình hình tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma túy do người dân tộc ít người gây án trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong những năm tới.

- Xây dựng, đề xuất các giải pháp thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả công tác
điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh
ĐiệnBiên.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác điều tra
tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy do người dân tộc ít
người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên, và những yếu tố tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến
kết quả công tác điều tra.

Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu kết quả tiến hành các biện pháp nghiệp vụ điều
tra trinh sát và điều tra theo luật tố tụng do lực lượng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh
Điện Biên thực hiện từ năm 2002 đến tháng 6 năm 2006.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận Mác – Lêin; tư tưởng Hồ
Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng và ngành Công an về đấu tranh phòng, chống
tội phạm ma túy.

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên
cứu cụ thể như: Khảo sát; tọa đàm chuyên gia; thống kê so sánh; phân tích tổng hợp; khái
quát hóa.

6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận, luận văn là công trình chuyên khảo trong khoa học pháp lý về
điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít
người gây án, góp phần bổ sung lý luận nhằm chỉ dẫn công tác điều tra tội phạm tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án. Về mặt thực
tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy
và học tập trong các trường CAND; bổ sung vào các phương pháp, chiến thuật điều tra áp
dụng vào thực tiễn đấu tranh chống tội phạm ma túy trong tình hình mới.
7. Những điểm mới trong kết quả nghiên cứu của luận văn

- Rút ra đặc điểm, nguyên nhân, điều kiện về vấn đề người dân tộc ít người phạm
tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy.

-Xây dựng phương pháp, chiến thuật điều tra và đề ra biện pháp phòng ngừa, đấu
tranh ngăn chặn tình trạng người dân tộc ít người phạm tội ma túy.

- Đưa ra những chỉ dẫn để áp dụng vào thực tiễn tiến hành điều tra tội phạm về
ma túy do người dân tộc ít người gây án.

8. Bố cục của luận văn

Luận văn gồm: Phần mở đầu; Phần nội dung gồm 3 chương và các tiết trong
chương; Kết luận đề tài và danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1

nhận thức cơ bản về công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án



1.1. Một số đặc điểm cơ bản của người dân tộc ít người ở Điện Biên, có liên
quan đến công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma túy

Nước ta có 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm số đông nên gọi là
dân tộc đa số; các dân tộc khác ít người hơn nên gọi là các dân tộc thiểu số nay gọi là dân
tộc ít người. Các dân tộc anh em đều thống nhất một lòng, đoàn kết xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, bình đẳng, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển.

Theo Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2001 của nhà xuất bản Đà Nẵng thì "Dân
tộc ít người (dân tộc thiểu số) là dân tộc chiếm số ít, so với dân tộc chiếm số đông nhất
trong một nước có nhiều dân tộc". Như vậy, dân tộc ít người ở đây được hiểu là các dân
tộc không phải là dân tộc Kinh. Điện Biên là một tỉnh có 18 dân tộc khác nhau cùng sinh
sống, trong đó dân tộc Thái là dân tộc đông nhất chiếm 40%; Dân tộc Mông chiếm
30,9%; Dân tộc Kinh chiếm 20,5 %; Các dân tộc ít người khác chỉ chiếm 8,6% dân số
toàn tỉnh. Các dân tộc luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, không có tình trạng cưỡng bức, kỳ
thị, chia rẽ hoặc đồng hóa, thôn tính giữa dân tộc đa số với dân tộc ít người. Các dân tộc
luôn được đảm bảo phát triển tự do mọi mặt nhằm nâng cao đời sống vật chất, văn hóa,
tinh thần của dân tộc mình cũng như toàn thể cộng đồng các dân tộc trên địa bàn tỉnh nói
riêng và cả nước nói chung.

ở một số vùng chỉ có một dân tộc cư trú tương đối tập trung như dân tộc Mông ở
xã Na Ư - Điện Biên, Tỏa Tình, Tênh Phông - Tuần Giáo; dân tộc Hà Nhì ở xã Xín Thầu
– Mường Nhé. Song, cũng như trong cả nước, các dân tộc ở Điện Biên sống xen kẽ,
không có " lãnh thổ " riêng biệt. Người Thái và người Kinh phần lớn sống ở vùng thấp,
vùng gần sông suối nơi có điều kiện sản xuất lúa nước thuận lợi. Người Mông và các dân
tộc khác chủ yếu sống ở vùng núi cao, gắn liền với tập quán sản xuất trên nương rẫy.
Tình trạng cư trú phân tán, xen kẽ giữa các dân tộc là điều kiện để các dân tộc tăng cường
hiểu biết, hòa hợp, giúp đỡ và xích lại gần nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu
và phát triển kinh tế – văn hóa cũng như tăng cường an ninh, quốc phòng... Địa bàn cư
trú của các dân tộc ít người ở Điện Biên có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính
trị, môi trường sinh thái, đặc biệt về quốc phòng và an ninh. Các địa bàn giáp biên giới,
sự sinh sống của đồng bào được xem là "phên giậu" của Tổ quốc để ngăn chặn tội phạm
và các hành vi xâm nhập khác gây mất ổn định tình hình trong nước.

Địa bàn đồng bào dân tộc ít người sinh sống, gần khu vực Tam giác vàng - nơi
xuất ma túy lớn của thế giới - thuận lợi cho tội phạm ma túy hoạt động. Bên cạnh đó,
đồng bào các dân tộc ít người có phong tục trồng thuốc phiện. Hiện vẫn còn nhiều đối
tượng sống ở vùng sâu, vùng xa lén lút trồng (sản xuất) để bán cho các đối tượng thu
gom (trong nước) ma túy.

Tuy sống xen kẽ nhưng mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, lâu đời, phản
ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào của mỗi dân tộc. Các dân tộc có những phong
tục, tập quán, tín ngưỡng được hình thành từ lâu đời và đến nay phần lớn vẫn được gìn
giữ. Tuy nhiên cũng có không ít những phong tục, tập quán mang tính hủ tục lạc hậu
chưa được xóa bỏ làm cản trở sự phát triển nói chung. Đó là do phần lớn đồng bào dân
tộc ít người vẫn còn nhiều hạn chế về kiến thức văn hóa, khoa học hiện đại. Nhiều vùng
đồng bào vẫn tin có các lực lượng siêu nhiên ở trên trời thường xuyên tác động vào đời
sống con người. Vì vậy, không ít đồng bào dân tộc ít người tin thần thánh, và các thuật
mê tín, dị đoan hơn các kiến giải khoa học về các sự việc, hiện tượng có ảnh hưởng đến
cuộc sống của đồng bào như khám chữ bệnh, phát triển sản xuất... Đây là tâm lý mà kẻ
xấu triệt để lợi dụng để tuyên truyền đạo trái phép và lợi dụng các tập tục nh ư "cài lá
xanh, cấm cửa người lạ"... để hoạt động phạm tội, gây rất nhiều khó khăn cho
LLCSĐTTP về ma túy nói riêng và lực lượng công an nói chung, tiếp cận để tiến hành
các hoạt động nghiệp vụ cơ bản nhằm đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả.

Một nét đáng chú ý trong đời sống của một số dân tộc ít người là do tập quán, lối
sống dòng họ nên họ không có khái niệm lãnh thổ hành chính. Vì vậy, việc họ qua lại
biên giới trái phép để thăm thân, gặp gỡ họ hàng họ cho là bình thường. Phần lớn các dân
tộc ít người ở Điện Biên có họ hàng, dòng tộc sinh sống ở các nước láng giềng. Nhiều
dân tộc còn tình trạng du canh, du cư, hoặc di dịch cư trái phép, kể cả di cư ra nước ngoài
với nhiều lý do khác nhau. Tội phạm ma túy không bỏ lỡ đặc điểm này để thuê mướn, lôi
kéo một bộ phận đồng bào tham gia hoạt động phạm tội như thuê vận chuyển qua biên
giới, hoặc mua gom ma túy (từ ngoài vào) qua mỗi lần qua lại thăm thân... từ đó hình
thành nên nhiều đường dây, ổ nhóm tội phạm về ma túy trong khu vực sinh sống của
đồng bào dân tộc thiểu số. Đó cũng là những vấn đề khó khăn cho công tác quản lý nhân,
hộ khẩu của các cấp các ngành và cũng như công tác phát hiện điều tra tội phạm.

Trong những năm qua, tuy được sự đầu tư đáng kể của nhà nước cho chiến lược
phát triển kinh tế – xã hội đối với Điện Biên nói chung và đồng bào các dân tộc ít người
ở Điện Biên nói riêng, nhưng tình hình kinh tế - xã hội của Điện Biên còn rất nhiều khó
khăn, tỷ lệ đói nghèo trong nhân dân chưa giảm đáng kể. Theo số liệu của Cục Thống kê
tỉnh Điện Biên, thu nhập bình quân đầu người năm 2005 của tỉnh mới đạt 257,79
USD/người, chỉ số này chưa bằng một nửa chỉ số thu nhập bình quân của cả nước. Kinh
tế của đồng bào dân tộc ít người chưa phát triển, sản xuất vẫn mang nặng tính tự cấp, tự
túc. Sản phẩm lao động chưa đủ trang trải đời sống hàng ngày của bà con. Do kinh tế khó
khăn cộng với trình độ dân trí kém phát triển, hiểu biết pháp luật thấp nên không ít đồng
bào dân tộc ít người đã xem vận chuyển, mua bán ma túy như một hoạt động kinh tế. Do
vậy, trong những năm qua tình trạng đồng bào các dân tộc ít người phạm tội về ma túy ở
Điện Biên chiếm tỷ lệ lớn trong số tội phạm ma túy bị phát hiện, bắt giữ. Nhiều nơi hình
thành nên xã hoặc bản phạm tội về ma túy như xã Na Ư - Điện Biên; bản Nà Ngum -
Thanh Yên; bản Na Hai - Sam Mứn... Vì vậy, việc phát hiện điều tra tội phạm ma túy ở
những địa bàn này chưa có các giải pháp mang tính khoa học, đồng bộ mà mới chỉ dừng
lại ở mức độ giải quyết vụ việc điều đó đã làm cản trở các mục tiêu phòng, chống ma túy
đã đề ra.

Mặc dù được nhà nước quan tâm về các mặt như y tế, giáo dục nhưng thực chất
trình độ nhận thức của đồng bào các dân tộc ít người ở Điện Biên còn rất hạn chế. Công
tác chăm sóc y tế vẫn còn chưa đầy đủ kịp thời... do vậy nhận thức của đồng bào về tác
hại do tệ nạn ma túy gây ra cho xã hội chưa đầy đủ. Khi trong nhà có người bị ốm đau,
do kém hiểu biết, hoặc do không có thuốc men chữa trị phần nhiều vẫn quen dùng ma túy
để chữa bệnh... Đây là thói quen trong lối sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc ít người ở
Điện Biên. và cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tội phạm ma túy tồn tại và
phát triển (quan hệ cung - cầu).

Tuy nhiên, đồng bào các dân tộc ít người vốn có bản chất thật thà, sống chân
thật, thẳng thắn... nên trong nhiều trường hợp các đối tượng người dân tộc ít người phạm
tội do nhận thức sai lầm, hoặc do được thuê mướn thì khi bị phát hiện, bắt giữ họ đã
thành khẩn khai báo tạo điều kiện cho lực lượng phòng, chống tội phạm ma túy bắt giữ
bọn chủ mưu, cầm đầu. Tuy nhiên số này rất ít.

Nghiên cứu về đồng bào dân tộc ít người ở Điện Biên, rút ra một số đặc điểm
liên quan đến công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma
túy, đó là:

- Có bản chất thật thà, ngay thẳng, đa số đồng bào vẫn tin tưởng có thần linh, ma
quỷ.

- Phần lớn đồng bào dân tộc ít người sinh sống ở khu vực biên giới Việt – Lào;
Việt – Trung của tỉnh. Những nơi đây là những điểm nóng, những đường dây hoạt động
xuyên quốc gia của tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Địa bàn sinh
sống của đồng bào thuận lợi cho tội phạm ma túy hoạt động.

- Là địa bàn có nhiều dân tộc ít người khác nhau sinh sống, mỗi dân tộc có bản
sắc văn hóa riêng, họ sống rải rác, đan xen trong từng vùng. Đường sá đi lại khó khăn, hệ
thống thông tin, truyền thông phần lớn chưa được cung cấp tới các bản làng đồng bào dân
tộc ít người. Cơ sở hạ tầng yếu kém cũng như một số phong tục lạc hậu của đồng bào gây
không ít khó khăn trong công tác phòng, chống tội phạm ma túy.

- Trình độ nhận thức về mọi mặt của đồng bào dân tộc ít người ở Điện Biên còn
rất thấp, đời sống kinh tế khó khăn, tập quán lạc hậu trong sinh hoạt, sản xuất còn nặng
nề. Việc trồng cây thuốc phiện và sử dụng thuốc phiện tuy đã được giải quyết nhưng
chưa triệt để.

- Nương rẫy sản xuất cách xa bản làng. Vì vậy đời sống lao động sản xuất, sinh
hoạt khác vùng đồng bằng. Thông thường đồng bào dân tộc ít người nơi đây đi làm rẫy
về muộn, thậm chí đêm khuya, có khi nhiều ngày mới về nhà hoặc có khi sinh hoạt trên
nương rẫy trong suốt vụ sản xuất.
- Do nhận thức hạn chế nên ý thức pháp luật và trách nhiệm công dân chưa được
đồng bào tôn trọng và thực hiện nghiêm túc.

1.2. Nhận thức cơ bản về tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy

1.2.1. Khái niệm về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
trong Bộ Luật hình sự Việt Nam

Bộ luật hình sự 1999 đã quy định: "Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
hoặc chiếm đoạt chất ma túy " tại Điều 194, cụ thể là:

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma
túy, thì bị phạt tù từ hai đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm
đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

e) Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho trẻ em;

g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam
đến dưới một kilôgam;

h) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;

i) Lá, hoa, quả cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới
hai mươi lăm kilôgam;

k) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới hai trăm
kilôgam;
l) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới năm mươi
kilôgam;

m) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một
trăm gam;

n) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm
mươi mililít;

o) Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương
với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2
Điều này;

p) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm
năm đến hai mươi năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ một kilôgam
đến dưới năm kilôgam;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng l ượng từ hai mươi lăm
kilôgam đến dưới bảy mươi lăm kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ hai trăm kilôgam đến dưới sáu trăm
kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới một trăm
năm mươi kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba
trăm gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ hai trăm năm mươi mililít đến dưới bảy
trăm năm mươi mililít;
h) Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương
với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3
Điều này;

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai mươi
năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm kilôgam
trở lên;

b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên;

c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ bảy mươi lăm
kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ sáu trăm kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ một trăm năm mươi kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên;

h) Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương
với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 4
Điều này;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu
đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

1.2.2. Đặc trưng pháp lý của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma túy

- Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy là vi phạm chế độ độc quyền và thống nhất quản lý của Nhà nước
đối với chất ma túy.

Đối tượng của tội phạm này là các chất ma túy và các tiền chất ma túy được quy
định trong các danh mục do Chính phủ ban hành.
- Mặt khách quan của tội phạm:

+ Theo Từ điển tiếng Việt thì tàng trữ có nghĩa là cất giữ. Như vậy hành vi tàng
trữ trái phép chất ma túy là việc lưu giữ, cất giấu ma túy ở một địa điểm nào đó có thể là
nhà ở, công sở hoặc nơi nào đó trái pháp luật. Thông thường hành vi này được thực hiện
một cách lén lút, người cất giấu không muốn cho người khác thấy - biết việc làm của
mình.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ bất hợp pháp chất ma
túy ở bất cứ nơi nào mà không nhằm mục đích mua bán, hay sản xuất trái phép chất ma
túy. Được coi là tàng trữ trái phép khi hành vi cất giấu được thực hiện xong, không phụ
thuộc thời gian dài hay ngắn. Địa điểm và thời gian tàng trữ không có ý nghĩa trong việc
định tội danh và quyết định hình phạt.

+ Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi đưa chất ma túy từ địa
điểm này đến địa điểm khác một cách không hợp lệ. Vận chuyển ma túy có thể diễn ra
bất cứ đâu như vận chuyển trong nội địa, vận chuyển từ nước ngoài vào nước ta và ngược
lại, tùy thuộc vào mục đích của người vận chuyển. Hành vi vận chuyển trái phép chất ma
túy chỉ có thể là hành động. Vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi đưa trái phép
chất ma túy từ nơi này đến nơi khác. Hành vi này có thể được thực hiện trong phạm vi
lãnh thổ Việt Nam, hoặc có thể được thực hiện từ nước ngoài và kết thúc ở Việt Nam,
hoặc ngược lại từ Việt Nam và kết thúc ở nước ngoài. Hành vi vận chuyển có thể được
thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như đi bộ hoặc sử dụng các phương tiện giao
thông, cũng có thể gián tiếp gửi qua đường bộ, đường hàng không, đường bưu điện...
Hành vi này được tiến hành lén lút và không được sự đồng ý (cho phép) của các cơ quan
có thẩm quyền của nhà nước. Người vận chuyển có thể cho ma túy vào trong người như
quần áo đang mặc, hành lý tư trang mang theo, hoặc có thể bọc kín nuốt vào bụng, hoặc
nhét vào các lỗ tự nhiên trên cơ thể... Việc vận chuyển trên quãng đường dài hay ngắn,
vận chuyển với thời gian bao lâu không ảnh hưởng đến việc định tội danh cũng như hình
phạt. Người vận chuyển thuê chất ma túy cho người khác mà không nhằm mục đích mua
bán thì hành vi của người đó cũng là hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy.
+ Mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao đổi trái phép chất ma túy dưới
các hình thức khác nhau, là hành vi phạm tội nguy hiểm, phức tạp nhất trong bốn hành vi
quy định trong điều 194. Tính nguy hiểm của nó được thể hiện bằng việc thu siêu lợi
nhuận của người mua bán, từ đó kích thích lòng tham làm cho nhiều người nảy sinh ý
định phạm tội. Trái phép nghĩa là trái với pháp luật, những quy định được cấp thẩm
quyền cho phép, phân biệt với những hoạt động được phép để phục vụ các ngành kinh tế
của mỗi quốc gia. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao đổi chất ma túy
dưới bất kỳ hình thức nào. Hành vi mua bán cũng được thực hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau như mua bán theo nghĩa thông thường, hoặc trao đổi, hoặc thanh toán bằng
chất ma túy. Người giúp tàng trữ, hoặc giúp vận chuyển trái phép chất ma túy, mà biết
mục đích để mua bán thì các hành vi đó cũng được kết luận đồng phạm hành vi mua bán.

Như vậy, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là hành vi cất
giấu, dịch chuyển, trao đổi các chất kích thích gây nghiện, chất hướng thần, tiền chất ma
túy được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành mà không có sự đồng ý
của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm các mục đích khác nhau, gây ảnh hưởng
xấu đến an ninh trật tự của xã hội.

- Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.

- Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách
nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

1.3. Nhận thức chung về hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án

1.3.1. Khái niệm hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy

Công tác điều tra tội phạm bao gồm hoạt động phát hiện tội phạm và hoạt động
điều tra vụ án hình sự. Phát hiện tội phạm là quá trình lực lượng CSND tiến hành các
biện pháp công khai, bí mật theo quy định của pháp luật nhằm tìm kiếm, thu thập thông
tin, tài liệu phản ánh về sự việc, hiện tượng hoặc những đối tượng có liên quan đến tội
phạm. Xác định có dấu hiệu của tội phạm hay không, căn cứ để khởi tố vụ án và tiến
hành các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật.
Do đó, hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma túy gồm: hoạt động điều tra trinh sát và hoạt động điều tra theo luật tố tụng hình sự.

Điều tra trinh sát là hoạt động điều tra được tiến hành thông qua việc áp dụng các
biện pháp trinh sát như nội tuyến; ngoại tuyến; xây dựng và sử dụng đặc tình, cơ sở bí
mật...

Điều tra theo luật tố tụng hình sự là hoạt động điều tra của cơ quan điều tra và
những cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, tiến hành
các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện, thu thập các tài liệu,
chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội theo trình tự và thủ tục quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự.

Như vậy, điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
là quá trình cơ quan điều tra tiến hành các biện pháp, các chiến thuật nghiệp vụ và các
biện pháp điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nhằm tìm kiếm, thu thập tin
tức, tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm cơ sở cho hoạt động
truy tố, xét xử người phạm tội trước pháp luật.

Hoạt động phát hiện tội phạm và điều tra vụ án là hai hoạt động có quan hệ chặt
chẽ trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm nói chung và tội phạm tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý nói riêng (mối quan hệ này sẽ được làm rõ ở phần
sau luận văn).

- Hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất
ma túy hiện nay được chia làm hai bộ phận:

+ Hoạt động điều tra trinh sát: là hoạt động điều tra được tiến hành thông qua
công tác nghiệp vụ cơ bản của LLCSND như: trinh sát nội tuyến, trinh sát ngoại tuyến,
xây dựng và sử dụng đặc tình, cơ sở bí mật, đấu tranh chuyên án, các biện pháp trinh sát
kỹ thuật hỗ trợ... để thu thập tài liệu về hoạt động của tội phạm, phát hiện tội phạm. Các
thông tin, tài liệu thu thập từ các biện pháp điều tra trinh sát chưa đảm bảo giá trị chứng
minh tội phạm. Vì vậy, để nó trở thành chứng cứ nhất thiết các tài liệu đó phải được
chuyển hóa bằng các biện pháp phù hợp.
+ Hoạt động điều tra theo luật tố tụng hình sự: là hoạt động điều tra của cơ quan
điều tra và các cơ quan khác được tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành các biện
pháp điều tra theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện, thu thập các tài liệu, chứng cứ
để xác định tội phạm và người phạm tội theo trình tự và thủ tục được Bộ luật tố tụng hình
sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự quy định. Ngoài ra, trong quá trình điều tra theo
tố tụng hình sự, điều tra viên còn thu thập được các tài liệu phản ánh hoạt động tội phạm.
Tuy nhiên, các tài liệu này chưa có đủ các thuộc tính chứng cứ. Vì vậy, các tài liệu này
được làm cơ sở để tiến hành các biện pháp điều tra trinh sát nhằm phát hiện tội phạm ẩn
và điều tra mở rộng.

Vụ án chỉ có thể được đưa ra xét xử khi các hoạt động thu thập chứng cứ đảm
bảo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định.

1.3.2. Nội dung, biện pháp công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án

- Hoạt động phát hiện tội phạm: Hoạt động phát hiện tội phạm tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án là quá trình lực
lượng CSND tiến hành các biện nghiệp vụ công khai, bí mật theo quy định của pháp luật
nhằm tìm kiếm, thu thập thông tin, tài liệu phản ánh về sự việc, hiện t ượng hoặc những
đối tượng liên quan đến tội phạm, xác định có dấu hiệu tội phạm hay không là căn cứ để
khởi tố vụ án và tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình
sự.

- Hoạt động chứng minh tội phạm và người phạm tội là làm rõ những vấn đề cần
chứng minh trong vụ án:

Những quy định tại Điều 63 BLTTHS là những vấn đề pháp luật bắt buộc các cơ
quan tiến hành tố tụng phải chứng minh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án
hình sự.

Cơ sở lý luận để đề ra nội dung những vấn đề cần phải chứng minh trong các vụ
án ma túy nói chung và các vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do
người dân tộc ít người gây án nói riêng là những quy luật hình thành thông tin về thủ
phạm và vụ án, được phản ánh ở môi trường vật chất trong quá trình thực hiện tội phạm,
mà cơ quan điều tra có thể thu thập được.

Trong quá trình điều tra vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma
túy do người dân tộc ít người gây án, cơ quan điều tra cần phải quán triệt đầy đủ những
vấn đề cần phải chứng minh quy định tại Điều 63 - BLTTHS và căn cứ vào các dấu hiệu
pháp lý đặc trưng của tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy quy
định tại Điều 194 - BLHS. Đó là các nội dung:

- Có hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy xẩy ra
hay không? Thời gian xảy ra vụ án? Xảy ra ở đâu?

- Ai là người phạm tội?

+ Các thông tin về nhân khẩu học của người phạm tội: Họ tên, tuổi, dân tộc, quốc
tịch, nơi sinh, nơi thường trú.

+ Các thông tin về bản chất xã hội của người phạm tội: Trình độ văn hóa, đảng
phái, nghề nghiệp, chức vụ, nơi làm việc, thái độ đối với lao động, mức độ tham gia vào
các hoạt động xã hội, có thành tích gì không; có tiền án, tiền sự không.

+ Các thông tin về điều kiện sống của người phạm tội: Mức độ thu nhập, điều
kiện, nơi làm việc, những thông tin về hoàn cảnh gia đình... đây là những thông tin góp
phần làm rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội.

+ Những thông tin về đặc điểm tâm lý, thể chất của người phạm tội: Có hay
không năng lực trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Động cơ, mục đích phạm tội là
gì? Phạm tội có tổ chức hay không? Nếu có thì vai trò, vị trí của từng đối tượng trong tổ
chức như thế nào?

+ Thông tin về lối sống và các mối quan hệ xã hội của người phạm tội.

+ Các thông tin về phẩm chất riêng và cá tính của người phạm tội.

- Phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm; công cụ, phương tiện được sử dụng
để gây án?

- Chất ma túy, thủ đoạn cất giấu?
- Những tài sản, tiền và những giá trị vật chất khác do phạm tội mà có hiện đang
được cất giấu ở đâu?

- Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội

- Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội phạm ma túy nói chung và tội phạm
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nói riêng, có quan điểm cho rằng đối
với loại tội phạm này thì cơ quan điều tra phải thu được vật chứng là ma túy thì mới xét
xử được, điều này làm hạn chế khả năng mở rộng vụ án. Điều 64 - BLTTHS quy định
chứng cứ được xác định bằng:

a) Vật chứng;

b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân
sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo;

c) Kết luận giám định;

d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.

Vì vậy, về phương diện lý luận và pháp lý, ma túy là vật chứng và là một trong
những nguồn chứng cứ để chứng minh tội phạm. Để chứng minh các hành vi phạm tội về
ma túy có thể dùng chứng cứ từ những nguồn khác nhau, nhưng chứng cứ phải bảo đảm
tính xác thực, hợp pháp và liên quan đến vụ án. Những vấn đề cần phải chứng minh trong
quá trình điều tra là từ những vấn đề cơ bản, khái quát đến chi tiết, đầy đủ từ những vấn
đề có tính định hướng đến những vấn đề cụ thể. Thực chất đó là quá trình thu thập tài
liệu, chứng cứ để làm rõ các giả thuyết nghiệp vụ, các kế hoạch điều tra nhằm làm rõ vụ
án. Vì vậy, trong từng vụ án cụ thể, điều tra viên phải vận dụng linh hoạt nội dung những
vấn đề cần chứng minh nhằm làm rõ tội phạm. Đối tượng là ai, quốc tịch, dân tộc nào,
hiện đang sinh sống, cư trú ở đâu... Làm rõ những vấn đề này sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho việc điều tra, truy tố, xét xử được khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đồng thời giúp làm rõ các nguyên nhân, điều kiện người dân tộc ít người phạm tội tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy để đưa ra biện pháp phòng ngừa điều tra
có hiệu quả.

1.3.2.1. Tổ chức các biện pháp nghiệp vụ để phát hiện và tiếp nhận tin báo, tố
giác tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do ng ười dân tộc ít
người gây án

Đặc điểm chung của tội phạm ma túy là hoạt động kín đáo, bí mật. Do đó, việc tổ
chức phát hiện thông tin ban đầu đối với tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ
quá trình điều tra vụ án. Vì vậy, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của tất cả các lực lượng,
phương tiện, biện pháp nghiệp vụ nhằm phát hiện nhanh nhất, chính xác nhất các đối
tượng, các tổ chức, ổ nhóm tội phạm và hoạt động phạm tội của chúng.

Thông tin ban đầu về các vụ phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy thường có thể là tin tức về những dấu hiệu hoạt động có nghi vấn của những
đối tượng đang trong diện sưu tra, hiềm nghi về ma túy; hoặc có thể là thông tin về sự
xuất hiện của một đối tượng mới (lạ) có nghi vấn về hoạt động phạm tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy... Từ đó có cơ sở để nghi vấn về một đối tượng,
một tổ chức, một đường dây phạm tội mua bán trái phép chất ma túy...

Tin ban đầu về tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
được thu nhận từ nhiều nguồn khác nhau có thể qua biện pháp công khai từ kết quả của
phong trào quần chúng tham gia phát hiện tội phạm; Thông qua công tác quản lý hành
chính về trật tự an toàn xã hội, tuần tra kiểm soát để phát hiện; Thông qua hoạt động
nghiệp vụ của LLCSĐTTP về ma túy, cũng có khi lại do chính đối tượng phạm tội ma
túy cung cấp. Có nhiều động cơ khác nhau thúc đẩy loại đối tượng này cung cấp tin tội
phạm ma túy cho cơ quan điều tra, có thể do bị đe dọa, có thể do muốn triệt hạ đối thủ,
cũng có thể do đối tượng tự thú...

Tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy hoạt động với
những thủ đoạn rất tinh vi và xảo quyệt. Tuy nhiên, dù tinh vi xảo quyệt đến đâu thì trong
quá trình thực hiện tội phạm chúng không tránh khỏi việc để lại dấu vết, những bộc lộ
nhất định như bất minh về kinh tế, bất minh về hành vi, sinh hoạt trái quy luật chung của
cộng đồng dân cư trong khu vực, có các mối quan hệ không rõ ràng, đáng nghi vấn... Sự
bộc lộ đó phản ánh quy luật của tội phạm ma túy nói chung và tội phạm tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án nói riêng. Đây là
cơ sở để cơ quan Công an nói chung và LLCSĐTTP về ma túy nói riêng, có được những
thông tin phản ánh để phát hiện tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma
túy do đối tượng là người dân tộc ít người gây án.

Hoạt động điều tra đối với các đối tượng người dân tộc ít người phạm tội tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy thường được bắt đầu và dựa trên cơ sở
những tin tức, tài liệu phản ánh về hoạt động phạm tội của chúng. Những thông tin này
rất phong phú, đa dạng, có từ nhiều nguồn khác nhau cả công khai và bí mật, và thường
gồm các nguồn sau:

- Thông tin về tội phạm ma túy do nhân dân, các cơ quan nhà nước, tổ chức xã
hội... cung cấp. Nó có thể được phản ánh và thu nhận trực tiếp hoặc gián tiếp.

- Thông tin thu nhận từ các biện pháp trinh sát hoặc mạng lưới bí mật của lực
lượng Công an cung cấp.

- Những tin tức, tài liệu được sàng lọc, phát hiện từ công tác điều tra cơ bản,
công tác sưu tra về đối tượng ma túy....

- Thông tin do các lực lượng nghiệp vụ trong ngành cung cấp.

- Tài liệu từ hồ sơ lưu trữ.

- Tài liệu từ Cảnh sát các nước qua Văn phòng Interpol Việt Nam.

- Thông tin do các đối tượng phạm tội ra tự thú, đầu thú khai báo, tố giác của
đồng bọn... Nội dung thông tin phản ánh cũng rất đa dạng, mức độ tin cậy, độ chính xác
của thông tin phụ thuộc nhiều vào khả năng nhận thức và phản ánh của người cung cấp
thông tin.

Thông tin phản ánh về hoạt động của các đối tượng người dân tộc ít người phạm
tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái chất ma túy phát hiện, thu nhận được có thể bằng
hình thức trực tiếp hay gián tiếp, nhưng dù trong trường hợp nào, cán bộ tiếp nhận thông
tin cũng cần phải thực hiện đúng các quy định về tiếp nhận và xử lý thông tin của ngành.
Tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc
ít người gây án cũng có đặc điểm chung đó là thường hình thành ổ nhóm, tổ chức đường
dây, hoạt động trên quy mô lớn, liên quan đến nhiều địa bàn, có nhiều đối tượng tham
gia, thủ đoạn hoạt động phạm tội và che giấu tội phạm được thực hiện rất tinh vi, xảo
quyệt và bí mật. Vì vậy, LLCSĐTTP về ma túy cần áp dụng những biện pháp điều tra đặc
thù mới có thể làm rõ hành vi phạm tội của từng đối tượng. Một trong những hình thức
điều tra có hiệu quả là công tác xác lập và đấu tranh chuyên án trinh sát. Khi chuyên án
trinh sát được xác lập, chúng ta cần tập trung lực l ượng, phương tiện hỗ trợ và sử dụng
tổng hợp các biện pháp nhằm đấu tranh chuyên án có hiệu quả để thu thập các tài liệu,
chứng cứ, bắt quả tang đối tượng phạm tội, bóc gỡ các đường dây, ổ nhóm tội phạm ma
túy, lập hồ sơ đưa người phạm tội ra xử lý trước pháp luật...

1.3.2.2. Phương pháp điều tra xác minh, thu thập các thông tin, tài liệu về tội
phạm tàng trữ, vận chuyển,mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây
án

- Trinh sát xác minh: là một trong những hoạt động phổ biến trong điều tra tội
phạm nói chung, và trong chuyên án trinh sát điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma túy do đối tượng là người dân tộc ít người gây án nói riêng. Trong
quá trình làm rõ đối tượng hiềm nghi hoặc trong đấu tranh chuyên án, hoạt động trinh sát
xác minh có nhiệm vụ:

+ Thu thập, xác minh tất cả những thông tin có liên quan đến đối tượng như:
nhân thân, lai lịch, tiền án, tiền sự, quan hệ xã hội, kinh tế, đặc điểm tâm lý cá nhân, thói
quen trong sinh hoạt...

+ Thu thập, xác minh các tài liệu dùng làm căn cứ tiến hành các hoạt động điều
tra, lựa chọn phương pháp đấu tranh trinh sát và tổ chức đặc tình trong chuyên án.

+ Thu thập, xác minh những thông tin phản ánh về hoạt động phạm tội của các
đối tượng trong đường dây, ổ nhóm tội phạm.

+ Xác minh các thông tin, tài liệu do các hoạt động nghiệp vụ khác nhau cung
cấp như: các thông tin, tài liệu do trinh sát ngoại tuyến, trinh sát nội tuyến, mạng lưới bí
mật hoặc từ việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ 2; nghiệp vụ 3; nghiệp vụ 4...
- Hoạt động theo dõi, giám sát đối tượng (trinh sát ngoại tuyến): Cũng là một
hoạt động nghiệp vụ trinh sát, được LLCSĐTTP về ma túy phối hợp thực hiện phổ biến
trong các chuyên án trinh sát nhằm khám phá tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy do đối tượng người dân tộc ít người gây án. Thông thường, hoạt động
theo dõi, giám sát đối tượng trong chuyên án do cán bộ trinh sát tham gia chuyên án thực
hiện. Trường hợp cần thiết có sự giúp đỡ của lực lượng ngoại tuyến chuyên trách trong
một khoảng thời gian nhất định (đối với những chuyên án có nhiều đối tượng, cần theo
dõi, giám sát thời gian dài, địa bàn rộng, liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố). Tùy từng
chuyên án cụ thể, hoạt động theo dõi, giám sát được thực hiện nhằm giải quyết những
nhiệm vụ cụ thể:

+ Theo dõi, giám sát đối tượng và quan hệ của chúng để phát hiện hết các đối
tượng có liên quan đến hoạt động của ổ nhóm, tổ chức đường dây tội phạm ma túy.

+ Thông qua việc theo dõi, giám sát giúp ta nắm vững quy luật, phương thức, thủ
đoạn hoạt động trong quá trình thực hiện tội phạm cũng như quy luật đi lại, sinh hoạt của
đối tượng, để phục vụ cho việc triển khai các hoạt động bắt, khám xét khi phá án.

+ Ngăn chặn hành vi phạm tội hoặc những hành vi, những biểu hiện tiêu cực
khác của đối tượng chuyên án.

+ Thu thập thông tin, tài liệu để xây dựng đặc tình, kiểm tra hoạt động của đặc
tình và bảo vệ họ trong khi tiếp xúc với đối tượng nguy hiểm hoặc thực hiện những
nhiệm vụ quan trọng khác.

+ Tham gia thực hiện kế hoạch trinh sát phối hợp để giám sát chặt chẽ đối tượng
phục vụ cho việc bắt giữ khi phá án.

+ Hỗ trợ, bảo vệ trinh sát nội tuyến.

+ Thu thập thông tin, tài liệu phục vụ cho công tác điều tra vụ án sau này như hỏi
cung, khám xét...

- Trinh sát nội tuyến: Đây là hoạt động nghiệp vụ do cán bộ trinh sát thực hiện
bằng cách trinh sát ngụy trang tiếp cận đối tượng trong ổ nhóm, tổ chức, đường dây tội
phạm ma túy. Hoạt động trinh sát nội tuyến nhằm mục đích:
+ Trực tiếp quan sát, tìm kiếm thu thập những thông tin, tài liệu, đặc biệt là vật
chứng như: Chất ma túy, các dấu vết, phương tiện, đồ vật, tài sản liên quan đến các hoạt
động phạm tội về ma túy.

+ Giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ và mục tiêu đã được xác định trong
chuyên án trinh sát.

Việc trinh sát nội tuyến đi sâu vào tổ chức, đường dây tội phạm bằng cách nào,
tiếp cận đối tượng nào, điều tra xác minh vấn đề gì còn tùy thuộc vào yêu cầu điều tra đối
với từng chuyên án trinh sát và đối tượng cụ thể.

Thực tiễn cho thấy, đối tượng hoạt động trong các ổ nhóm, tổ chức đường dây tội
phạm về ma túy thường rất cảnh giác và hay nghi ngờ. Vì vậy, hoạt động trinh sát nội
tuyến không nên kéo dài, mà chỉ nên sử dụng vào từng việc, từng thời điểm. Việc tổ chức
trinh sát nội tuyến cần phải được chuẩn bị, tính toán kỹ lưỡng và nên sử dụng chéo giữa
các đơn vị để tránh bị lộ.

- Xây dựng và sử dụng đặc tình: Hoạt động của các đối tượng người dân tộc ít
người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy thường theo đường
dây, ổ nhóm có sự cấu kết chặt chẽ, hoạt động hết sức tinh vi, bí mật và xảo quyệt tạo
thành một chu trình khép kín từ việc tổ chức nguồn hàng, cất giấu, vận chuyển và tiêu
thụ. Trong quá trình thực hiện tội phạm, chúng dùng nhiều thủ đoạn để đối phó với hoạt
động điều tra, phát hiện của cơ quan chức năng. Vì vậy, việc xây dựng và sử dụng đặc
tình để tiếp cận đối tượng, thu thập thông tin về đối tượng và thực hiện nhiệm vụ điều tra
trong chuyên án có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đặc điểm hoạt động của tội phạm tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy thường chỉ hoạt động với những đối
tượng đã có những mối quan hệ nhất định với nhau, kiểm tra kỹ càng người lạ trước khi
hành động phạm tội; tội phạm được thực hiện theo nhiều công đoạn khác nhau như gom
hàng, vận chuyển, trao đổi, thanh toán tiền... chúng luôn đề cao cảnh giác. Vì vậy, tội
phạm ma túy thường hoạt động theo đường dây, ổ nhóm, hoạt động khép kín có tổ chức
chặt chẽ, nhiều đường dây, ổ nhóm được tổ chức mang tính chất họ hàng, dòng tộc, gia
đình nhằm mục đích đảm bảo không bị phát hiện. Do đó, khi xây dựng và sử dụng đặc
tình để tiếp cận các đối tượng trong các đường dây, ổ nhóm tội phạm ma túy, yêu cầu
trinh sát phải tính toán kỹ càng, thận trọng trong tuyển chọn đối tượng để xây dựng đặc
tình, có như vậy mới có thể đạt được các yêu cầu đề ra.

Khi khống chế đối tượng trong vụ án để xây dựng đặc tình, cán bộ trinh sát phải
nghiên cứu kỹ đối tượng định khống chế, đó phải là các đối tượng không giữ vai trò chủ
mưu, cầm đầu, thủ ác... nhưng có khả năng trinh sát, trung thành, đảm bảo yêu cầu bí
mật. Khi có đủ các thông tin phản ánh về đối tượng, các tài liệu chứng cứ để khống chế
đối tượng thì tiến hành bắt bí mật, hoặc ngụy trang dưới các hình thức khác nhau. Sau khi
bắt phải nhanh chóng điều tra khai thác buộc đối tượng nhận hoặc chứng minh hành vi
phạm tội của đối tượng, từ đó trinh sát tiến hành cảm hóa kết hợp với giáo dục, khống
chế để đối tượng thay đổi tư tưởng, nhận rõ sai lầm của bản thân và cam kết hợp tác để
lập công chuộc tội. Đồng thời, quá trình điều tra có thể nghiên cứu mạng lưới đặc tình
sẵn có, hoặc những người có đủ phẩm chất và năng lực để xây dựng làm đặc tình để đánh
vào chuyên án, thực hiện các nhiệm vụ của chuyên án.

Sau khi lựa chọn, trinh sát phải thực hiện đúng các quy định về xây dựng và sử
dụng đặc tình. Giao nhiệm vụ, hướng dẫn cho đặc tình cách thức tiếp cận tội phạm, cách
thức thu thập thông tin, tài liệu và cách báo cáo thông tin. Trong mọi tr ường hợp tuyệt
đối không để đặc tình kích động đối tượng hoặc tự mình thực hiện các hành vi phạm tội,
phải có kế hoạch để đặc tình ngăn chặn tội phạm và trong những điều kiện nhất định có
thể tác động để các đối tượng đầu thú, chấm dứt hành động gây án.

Khi xây dựng và sử dụng đặc tình trong các chuyên án đấu tranh tội phạm tàng
trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, trinh sát cần chú ý:

+ Đặc tình phải là người có điều kiện khai thác, thu thập các thông tin về đối
tượng chuyên án, có hiểu biết về ma túy, và các thông tin liên quan đến việc mua bán ma
túy như ma túy loại gì, giá cả, địa bàn trao đổi...

+ Cần phải trang bị cho đặc tình một số thông tin cần thiết như giá cả, cách xem
và thử ma túy. Luôn giữ thái độ điềm tĩnh trong mọi tình huống. Phải có cách từ chối nếu
đối tượng yêu cầu đặc tình vận chuyển hoặc cất giấu ma túy.

+ Đưa đặc tình vào và rút ra khỏi chuyên án phải có kế hoạch chi tiết cụ thể, phải
có các tình huống giả định để đề phòng nhằm bảo vệ đặc tình. Các hoạt động của đặc tình
trong chuyên án phải làm cho đối tượng tin tưởng rằng đặc tình cũng là một thành viên
trong đường dây, ổ nhóm tội phạm, việc tội phạm bị phát hiện, bắt giữ là do các lý do
khác không xuất phát từ đặc tình.

+ Xây dựng và sử dụng đặc tình phải đảm bảo phù hợp, có hiệu quả cho từng
chuyên án cụ thể. Thực tế hiện nay cho thấy, do nhiều lý do khác nhau nên việc tuyển
chọn và xây dựng đặc tình sử dụng trong các chuyên án đấu tranh chống tội phạm ma túy
rất khó khăn. Vì vậy, trinh sát thường sử dụng đặc tình cho nhiều chuyên án khác nhau.
Việc sử dụng này tuy có thuận lợi nhưng cũng có không ít bất lợi đó là dễ bị lộ, hoặc đặc
tình dùng thông tin giả cung cấp cho trinh sát, hoặc lợi dụng mối quan hệ để phạm pháp...

Xây dựng, sử dụng đặc tình để thực hiện nhiệm vụ điều tra trong các chuyên án
trinh sát đấu tranh chống tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
do người dân tộc ít người gây án là vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp ngoài những yêu
cầu chung, đòi hỏi đặc tình phải biết tiếng dân tộc, am hiểu phong tục, tập quán, sinh hoạt
của đồng bào dân tộc ít người. Song đây là một trong những hoạt động nghiệp vụ rất hữu
hiệu. Điều đó đòi hỏi phải có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Ban chuyên án; có
kiến thức, sự năng động sáng tạo cùng lòng nhiệt tình, đức tính khiêm tốn học hỏi và biết
đúc rút, tích lũy kinh nghiệm của mỗi cán bộ trinh sát.

- Trinh sát kỹ thuật: Tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma
túy hoạt động ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Chúng triệt để khai thác những thành tựu
khoa học, công nghệ để thực hiện tội phạm, và nhằm đối phó công tác phát hiện, điều tra
của các lực lượng chức năng phòng, chống ma túy.Vì vậy, cùng với việc triển khai các
biện pháp nghiệp vụ, cần chú trọng sử dụng các phương tiện kỹ thuật đặc biệt trong đấu
tranh chuyên án. Lực lượng CSĐTTP về ma túy cần chủ động phối hợp với lực lượng Kỹ
thuật nghiệp vụ II sử dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật đặc biệt phục vụ yêu cầu
điều tra. Tùy từng chuyên án cụ thể, căn cứ vào thực tế hoạt động của tội phạm, yêu cầu
công tác trinh sát mà việc huy động và sử dụng các phương tiện kỹ thuật ở các mức độ
khác nhau.

1.3.2.3. Xác lập và đấu tranh chuyên án khám phá tội phạm tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án
- Điều 1 Quyết định số 362/2003/QĐ-BCA ngày 06/6/2003 của Bộ trưởng Bộ
Công an, quy định về công tác đấu tranh chuyên án của LLCSND nêu rõ " Chuyên án
trong công tác phòng, chống tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội của LLCSND là:
Hoạt động điều tra trinh sát, có sự chỉ đạo tập trung, thống nhất, phối hợp chặt chẽ của
nhiều lực lượng, sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện kỹ thuật, chiến thuật
nghiệp vụ, nhằm vào những đối tượng nguy hiểm, phức tạp đã xác định để phòng ngừa,
ngăn chặn và khám phá, truy bắt tội phạm, đảm bảo kịp thời, hiệu quả ".

Trong Quyết định này cũng phân chuyên án thành hai loại: Chuyên án trinh sát
và chuyên án truy xét.

* Căn cứ để xác lập chuyên án trinh sát là từ việc phát triển chủ yếu từ hoạt động
nghiệp vụ trinh sát, hoặc từ các nguồn thông tin tài liệu khác phản ánh về các hoạt động
của tội phạm phức tạp, nghiêm trọng, nhưng chưa đủ căn cứ để điều tra theo quy định của
Luật tố tụng hình sự.

* Căn cứ để xác lập chuyên án truy xét là vụ án đã được khởi tố; quá trình điều
tra có nhiều tình tiết phức tạp, tội phạm nguy hiểm đang lẩn trốn cần phải tiến hành tổng
hợp nhiều biện pháp để ngăn chặn tội phạm, làm rõ các vấn đề cần chứng minh trong vụ
án và truy bắt các đối tượng phạm tội cần bắt giữ hoặc bỏ trốn.

- Tổ chức đấu tranh chuyên án:

+ Xác lập chuyên án: Nhiệm vụ của giai đoạn này gồm:

Xác minh làm rõ tin tức, tài liệu phản ánh về đối tượng từ các nguồn tài liệu cụ
thể; Xem xét đối chiếu các căn cứ, điều kiện của quy định về xác lập chuyên án; Xác định
đối tượng của chuyên án; Ra quyết định xác lập chuyên án; Chuẩn bị các điều kiện cần
thiết phục vụ đấu tranh chuyên án.

+ Tổ chức đấu tranh chuyên án: Thành lập Ban chuyên án; Xây dựng kế hoạch
đấu tranh chuyên án; Sử dụng các phương pháp thực hiện kế hoạch đấu tranh chuyên án;
Tổ chức đặc tình, cơ sở bí mật trong đấu tranh chuyên án; Xác minh, củng cố tài liệu
trinh sát đã thu thập; Bảo vệ tài liệu trinh sát trong quá trình đấu tranh chuyên án; Chuyển
hóa tài liệu trinh sát thành chứng cứ.
+ Kết thúc chuyên án với các hình thức: Phá án; Tạm đình chỉ chuyên án; Đình
chỉ chuyên án.

- Chuyên án truy xét điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy do người dân tộc ít người gây án cũng phải tuân theo trình tự các bước như
Quyết định 362/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 06/6/2003 của Bộ trưởng Bộ Công an, quy
định về công tác đấu tranh chuyên án của lực lượng Cảnh sát nhân dân. Ngoài một số
hoạt động trinh sát nêu trên, chuyên án truy xét cần phải sử dụng, huy động tổng hợp các
biện pháp công tác nghiệp vụ trong đó hoạt động điều tra tố tụng được tiến hành đồng
thời để ngăn chặn, truy bắt tội phạm, thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm và
người phạm tội.

1.3.2.4. Tiến hành các hoạt động điều tra theo luật tố tụng hình sự

- Khởi tố vụ án, khởi tố bị can

Khởi tố vụ án hình sự: Đây là giai đoạn đầu của quá trình tố tụng hình sự. Tuy
nhiên, trong quá trình thu thập, xác minh củng cố thông tin tài liệu về tội phạm tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án, các hoạt
động khám nghiệm hiện trường, thu thập, giám định dấu vết, tài liệu, vật chứng có thể
được thực hiện trước để có căn cứ chính xác phục vụ khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Sau
khi tội phạm xẩy ra được phát hiện, đối tượng gây án bị bắt giữ hoặc bỏ trốn, hoặc chưa
phát hiện được đối tượng. Hồ sơ ban đầu về vụ án được chuyển giao từ lực lượng trinh
sát, hoặc cơ quan khác đến lực lượng điều tra theo luật tố tụng hình sự. Trước ngày
01/10/2004, hồ sơ này được chuyển giao từ Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về
ma túy hoặc các cơ quan khác đến Phòng Cảnh sát điều tra, giai đoạn này ở cấp huyện
chưa có Đội CSĐTTP về ma túy nên Đội Cảnh sát điều tra tiếp nhận hồ sơ để khởi tố vụ
án, khởi tố bị can.

Căn cứ vào hồ sơ được chuyển giao, xét có dấu hiệu của tội phạm thì Cơ quan
Cảnh sát điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, theo Điều 100 BLTTHS. Khi có đủ
căn cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra
Quyết định khởi tố bị can theo Điều 126 BLTTHS. Khi có căn cứ xác định bị can trốn
hoặc không biết bị can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra Quyết định truy nã bị can,
theo Điều 161 BLTTHS. Sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Cơ quan điều tra tiến hành
các biện pháp điều tra theo quy định của LTTHS.

- Bắt đối tượng là người dân tộc ít người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy:

Tội phạm phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người
dân tộc ít người gây án cũng có đặc điểm chung của tội phạm ma túy đó là: thường hoạt
động theo đường dây, ổ nhóm, tổ chức và có mối quan hệ chặt chẽ, kín đáo trong quá
trình thực hiện tội phạm. Vì vậy, để công tác điều tra vụ án được tiến hành triệt để, chúng
ta cần thực hiện tốt công tác bắt giữ đối tượng phạm tội. Muốn vậy, khi quyết định phá án
chúng ta cần tập trung thu thập các thông tin, tài liệu về đối tượng cần bắt. Đây là việc
làm quan trọng giúp cho chúng ta có thể đánh giá được các khả năng của đối tượng như
chống trả, bỏ chạy, tiêu hủy hoặc tẩu tán vật chứng... Trước khi bắt phải xây dựng kế
hoạch tỉ mỉ, vẽ sơ đồ, vị trí các mục tiêu, các lối ra vào mục tiêu, đường giao thông, lối
thoát... của đối tượng; số đối tượng cần bắt; dự kiến các tình huống có thể xẩy ra khi bắt
đối tượng và các phương án giải quyết các tình huống. Yêu cầu đặt ra trong khi bắt đối
tượng là phải bí mật, bất ngờ thủ tiêu khả năng chống cự và tiêu hủy vật chứng của
chúng.

Làm rõ đặc điểm nhân dạng như khuôn mặt, chiều cao cân nặng, các dị tật bẩm
sinh (nếu có)... Nắm phong tục tập quán của từng địa bàn, từng dân tộc; có vũ khí hay
không, chủng loại - đây là vấn đề cần chú ý vì người dân tộc thiểu số thường có phong
tục tự chế vũ khí và tâm lý tự ti, trả thù, chống đối... Vì vậy cần làm rõ để đảm bảo an
toàn cho các cuộc vây bắt.

- Khám xét, thu giữ vật chứng:

Đây cũng là một trong những biện pháp điều tra được tiến hành nhằm thu thập tài
liệu, công cụ phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội
phạm, hoặc những đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án đang điều tra. Cũng như
hoạt động khám xét trong điều tra các vụ án hình sự khác, hoạt động khám xét trong các
vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây
án, khi tiến hành phải đảm bảo các quy định từ Điều 140 đến Điều 149 BLTTHS, từ căn
cứ đến thẩm quyền trình tự, thủ tục khám xét... Việc khám xét cần được tiến hành ngay
sau khi bắt giữ người phạm tội để kịp thời thu giữ vật chứng, tài liệu liên quan đến vụ án.

- Hỏi cung bị can; lấy lời khai người bị bắt, người làm chứng và người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan:

Hỏi cung bị can; lấy lời khai người bị bắt, người làm chứng và người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do
người dân tộc ít người gây án là một hoạt động điều tra được tiến hành theo quy định của
BLTTHS, nhằm thu thập tài liệu liên quan đến vụ án, chứng cứ chứng minh tội phạm và
người phạm tội. Hỏi cung bị can có các nhiệm vụ:

+ Phát hiện đồng bọn để kịp thời truy bắt, những vật chứng còn cất giấu để kịp
thời thu giữ, những âm mưu và hành động chuẩn bị gây án để kịp thời ngăn chặn.

+ Làm rõ nội dung vụ án, vai trò, vị trí và mức độ phạm tội của từng bị can; thủ
đoạn gây án và che giấu tội phạm; động cơ, mục đích phạm tội để lập hồ sơ đề nghị truy
tố.

+ Khai thác mở rộng nhằm làm rõ quá trình hoạt động phạm tội của từng bị can
và ổ nhóm tội phạm; thu thập những tin tức, tài liệu về hoạt động của những đối tượng
hoặc ổ nhóm tội phạm khác mà bị can biết.

+ Làm rõ những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm; những sơ hở,
thiếu sót trong hoạt động điều tra cũng như trong phòng - chống tội phạm để có biện pháp
khắc phục, ngăn ngừa.

Hỏi cung đối tượng người dân tộc ít người phạm tội về ma túy ở Điện Biên cần
chú ý: đa số bị can không biết hoặc biết nói – viết bằng tiếng phổ thông, phần lớn có trình
độ nhận thức thấp, làm cho họ diễn đạt nội dung phạm tội rất khó khăn. Trong khi đó đội
ngũ điều tra viên người dân tộc ít người, hoặc sử dụng tiếng dân tộc ít người để hỏi cung
chưa đáp ứng được yêu cầu công tác cả về số lượng cũng như chất lượng. Điều đó làm
ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả công tác hỏi cung. Từ thực tế đó đòi hỏi trong giai
đoạn hiện nay rất cần thiết phải có phiên dịch để nâng cao hiệu quả công tác hỏi cung bị
can người dân tộc ít người, phục vụ công tác điều tra tội phạm ma túy.
- Trưng cầu giám định: Là một hoạt động tố tụng hình sự được quy định từ Điều
155 đến Điều 159 BLTTHS. Công tác giám định có ý nghĩa quan trọng trong điều tra tội
phạm ma túy. Nó không những cung cấp chứng cứ phục vụ công tác điều tra mà còn là
chứng cứ quan trọng trong khi xét xử. Vì kết luận của giám định viên về các chất ma túy
thu giữ được là một trong những căn cứ để quyết định khởi tố vụ án hay không khởi tố vụ
án... Vì vậy, công tác giám định chất ma túy phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của
pháp luật từ khâu thu mẫu, niêm phong, đóng gói, giám định sơ bộ...

Trong qua trình điều tra, tùy từng vụ án mà Cơ quan điều tra có thể tiến hành các
hình thức trưng cầu giám định khác nhau như: Trưng cầu giám định; trưng cầu giám định
lại; trưng cầu giám định bổ sung.

- Đối chất: Là biện pháp điều tra được quy định tại Điều 138 BLTTHS. được tiến
hành bằng cách hỏi hai hay nhiều người cùng một lúc để giải quyết mâu thuẫn trong lời
khai của họ. Để cuộc đối chất đạt kết quả, điều tra viên phải lập kế hoạch tỷ mỷ, chuẩn bị
trước các câu hỏi và dự phòng các giả thiết để giải quyết các tình huống có thể xẩy ra khi
tiến hành đối chất, nhằm mục đích cuối cùng xác định lời khai của người nào đúng, người
nào sai để làm sáng tỏ vụ án.

- Nhận dạng: Trong điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy do người dân tộc ít người gây án, nhận dạng góp phần xác định người phạm
tội, chất ma túy, công cụ, phương tiện gây án, địa điểm cất giấu và những vấn đề khác có
ý nghĩa chứng minh sự thật vụ án. Nhận dạng là một hoạt động điều tra được quy định tại
Điều 139 BLTTHS. Nhận dạng nhằm để cho một người quan sát, so sánh, nhận lại đối
tượng hiện tại với đối tượng họ đã tri giác trước đây, làm rõ sự đồng nhất, sự tương đồng
hay sự khác biệt giữa đối tượng nhận dạng với đối tượng có liên quan đến vụ án mà họ
còn ghi nhớ được. Nhận dạng là một trong những hình thức xác định đồng nhất đặc biệt
trong điều tra vụ án hình sự. Nhận dạng gồm nhiều hình thức khác nhau nh ư: nhận dạng
người, đồ vật, tài liệu... Nhận dạng có thể được tiến hành trực tiếp hoặc gián tiếp.

- Kết thúc điều tra: Khi đã thu thập đủ chứng cứ chứng minh tội phạm và hành vi
phạm tội của bị can, cũng như các tình tiết khác của vụ án thì điều tra viên báo cáo Thủ
trưởng cơ quan điều tra để viết kết luận điều tra vụ án. Khi được báo cáo, thủ trưởng cơ
quan điều tra phải đánh giá đã có đủ chứng cứ chứng minh vụ án hay chưa (đề nghị truy
tố, tạm đình chỉ, đình chỉ), hoặc yêu cầu điều tra viên tiếp tục điều tra bổ sung. Các tài
liệu trinh sát đã được chuyển hóa bằng các hoạt động điều tra theo luật tố tụng hình sự và
rút đặc tình, cơ sở bí mật, trinh sát nội tuyến ra khỏi chuyên án một cách hợp lý. Bản kết
luận điều tra cần nêu khái quát diễn biến hành vi phạm tội của các bị can trong vụ án,
chứng cứ đã thu thập được cũng như các biện pháp điều tra được tiến hành để chứng
minh tội phạm. Đồng thời, bản kết luận điều tra phải nêu rõ các biện pháp ngăn chặn đã
được áp dụng, thời gian tạm giữ, tạm giam. Phải làm rõ số lượng, chủng loại ma túy và
kết luận giám định. Ngoài ra, cần làm rõ về tài sản cũng như nguồn tài chính và các vấn
đề khác (có liên quan đến vụ án) của bị can nhằm tạo thuận lợi trong quá trình xét xử và
thi hành án.



Kết luận chương 1

Trong chương thể hiện các nội dung: Khái niệm và những đặc điểm phong tục,
tập quán của người dân tộc ít người nói chung và người dân tộc ít người sinh sống trên
địa bàn tỉnh Điện Biên. Những nhận thức cơ bản về tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma túy. Nhận thức chung về hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy như các hoạt động điều tra trinh sát, hoạt động
phát hiện tội phạm, tiếp nhận và xử lý tin báo tố giác về tội phạm ma túy do người dân
tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên; các hoạt động điều tra theo luật tố tụng
hình sự để chứng minh tội phạm ma túy là người dân tộc ít người. Đây là những lý luận
cơ bản để trên cơ sở đó xem xét, đánh giá thực trạng tội phạm này diễn ra ở địa bàn tỉnh
Điện Biên, cũng như kết quả thực tiễn công tác điều tra loại tội phạm này do người dân
tộc ít người gây ra. Qua đó có cơ sở khoa học để đánh giá đúng đắn về những mặt đã đạt
được, chưa đạt được và có phương hướng khắc phục.
Chương 2

Thực trạng công tác điều tra tội phạm

tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy

do người dân tộc ít người gây án



2.1. Thực trạng tình hình tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
các chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại Điện Biên

2.1.1. Khái quát đặc điểm tình hình của tỉnh Điện Biên có liên quan đến tội
phạm về ma túy

Là một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam. Tỉnh Điện Biên có diện tích tự nhiên
9.554,1 km2; có đường biên giới dài 398,5 km, trong đó: biên giới Việt Nam - Lào dài
360 km; biên giới Việt Nam - Trung Quốc dài 38,5 km; Điện Biên có cửa khẩu Tây
Trang là cửa khẩu quốc gia. Có các tuyến đường giao thông như quốc lộ 6; quốc lộ 12 và
quốc lộ 279 chạy qua. Toàn tỉnh có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm: 6 huyện, 1
thị xã, 1 thành phố; có 93 xã, phường và thị trấn.

Dân số Điện Biên có trên 45 vạn người, gồm 18 dân tộc anh em cùng sinh sống,
mật độ dân cư trung bình 47,17 người/km2. Ba nhóm dân tộc có tỷ lệ dân số cao là Thái -
Mông và Kinh (dân tộc Thái chiếm 40%; dân tộc Mông chiếm 30,9%; dân tộc Kinh
chiếm 20,5%; các dân tộc ít người khác chiếm 8,6%). Mặt bằng dân trí giữa các vùng và
giữa các dân tộc không đồng đều, trình độ văn hóa của phần lớn dân cư còn thấp, số
người không biết chữ còn nhiều, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Tình trạng người nghiện
ma túy ở Điện Biên hiện nay rất đáng quan tâm. Theo kết quả điều tra, hiện nay Điện
Biên có 5.464 người nghiện ma túy gồm nhiều thành phần, độ tuổi, dân tộc và giới tính
khác nhau. Cụ thể:

- Nam giới: 5.102 người; Nữ giới: 362 người.

- Độ tuổi: Dưới 18 tuổi: 04,6%; Từ 18 - 40 tuổi: 60%; Trên 40 tuổi: 35,4%.
- Dân tộc Mông chiếm 43,77%; Dân tộc Thái chiếm 28,47%; Dân tộc Kinh
chiếm 16,72%; Các dân tộc ít người khác chiếm 11%.

Về kinh tế - xã hội: Trong những năm qua, được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu
tư cũng như được sự lãnh đạo, chỉ đạo của đảng bộ tỉnh, kinh tế của Điện Biên luôn có sự
tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, đời sống của cán bộ và nhân dân các dân tộc
từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, so với cả nước, Điện Biên vẫn là tỉnh nghèo thuộc
diện đặc biệt khó khăn, tỷ lệ đói nghèo còn cao, đời sống của một bộ phận nhân dân ở
vùng cao, vùng sâu vùng xa chưa được cải thiện đáng kể. Thu nhập trung bình đầu người
năm 2005 mới đạt 257,79 USD/ người, chưa bằng một nửa mức bình quân của cả nước.
Việc đầu tư cho y tế, giáo dục còn thấp, hiệu quả từ đầu tư chưa được phát huy. Vì vậy,
công tác chăm lo sức khỏe cho nhân dân chưa được đầy đủ, kịp thời hàng năm vẫn xẩy ra
dịch bệnh trong phạm vi nhất định. Vẫn còn tình trạng trẻ em đến trường nhưng chưa
được chăm sóc học hành đầy đủ, hạn chế việc nâng cao dân trí. Công tác tuyên truyền
phổ biến pháp luật chưa được quan tâm đầy đủ...

Cũng như một số tỉnh miền núi khác của nước ta, đồng bào vùng cao Điện Biên
từ lâu đã có tập quán trồng cây thuốc phiện, vừa để chữa bệnh vừa để hút, không ít đối
tượng có hành vi lén lút trồng hoặc thu gom để mua bán kiếm lời. Từ khi Đảng và Nhà
nước ta có chủ trương phá nhổ cây thuốc phiện, qua nhiều cuộc vận động, tuyên truyền
và huy động các lực lượng trực tiếp phá nhổ, đến nay diện tích trồng cây thuốc phiện trên
địa bàn tỉnh vẫn còn, tuy không đáng kể nhưng vẫn phải thường xuyên nắm bắt, phát hiện
và phá nhổ. Hơn nữa, Điện Biên nằm gần khu " Tam giác vàng " - nơi sản xuất ma túy
lớn của thế giới - bên cạnh đó còn bị ảnh hưởng của công tác đấu tranh chống ma túy
chưa có hiệu quả của nước bạn (Lào). Vì vậy, trong những năm qua lượng ma túy từ
nước ngoài thẩm lậu và đi qua Điện Biên được phát hiện, bắt giữ rất lớn. Đồng thời, với
hơn 5.464 người nghiện ma túy trên địa bàn hiện nay, làm tình hình hoạt động của tội
phạm ma túy ở Điện Biên còn diễn biến hết sức phức tạp.

Về an ninh trật tự: Cũng như tình hình chung của cả nước, trong những năm gần
đây tình hình an ninh trật tự của Điện Biên có những diễn biến phức tạp. Trên lĩnh vực an
ninh, các thế lực thù địch vẫn ráo riết chống phá ta dưới các hình thức như chiến lược "
Diễn biến hòa bình"; đặc biệt là vấn đề lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để truyền đạo trái
phép, gây mất ổn định ở vùng cao, vùng biên giới, vùng có đông đồng bào dân tộc ít
người sinh sống. Bên cạnh đó tình hình tranh chấp đất đai, khiếu nại, tố cáo vẫn chưa
được giải quyết triệt để... Trên lĩnh vực trật tự an toàn xã hội, hoạt động của tội phạm
hình sự diễn ra nghiêm trọng trên hầu hết các lĩnh vực như tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ
em; hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em; cướp tài sản, tội phạm ma tuý... chưa có chiều hướng
giảm. Nhiều tội phạm về trật tự xã hội có nguồn gốc sâu xa từ tệ nạn và tộ i phạm ma túy.
Tình trạng đồng bào dân tộc ít người phạm tội tăng giảm hàng năm không rõ ràng nhưng
vẫn ở mức cao. Với những vấn đề đó làm cho tình hình an ninh trật tự của Điện Biên
chưa đảm bảo ổn định bền vững.

2.1.2. Tình hình tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất
ma túy diễn ra tại tỉnh Điện Biên từ năm 2002 đến tháng 6/2006

- Tình hình tệ nạn ma túy ở Điện Biên:

Việc trồng và hút thuốc phiện đã xuất hiện từ lâu trong đồng bào các dân tộc ít
người ở Điện Biên. Dưới thời thực dân, phong kiến thuốc phiện là một trong những sản
vật người dân phải nộp cho nhà cầm quyền (vua Mèo, vua Thái). Trồng thuốc phiện trở
thành truyền thống, hút thuốc phiện trở thành tập quán của đa số đồng bào dân tộc ít
người, trong tiềm thức nhiều người cao tuổi họ xem hút thuốc phiện như nghi thức văn
hóa của họ và cộng đồng. Khách đến vùng đồng bào dân tộc ít người phải là khách quý
mới được họ mời hút thuốc phiện và uống rượu, dần dần như thế trở thành phong tục.
Nhưng cùng với sự phát triển kinh tế, chính sách mở cửa cũng là điều kiện cho một số tệ
nạn du nhập làm thay đổi cách nghĩ, cách sống của không ít đồng bào vùng cao. Tệ lạm
dụng ma túy từ những năm 80 của thế kỷ XX đã làm cho một bộ phận không nhỏ dân cư
trở nên nghiện ngập.

Hiện tại, tệ nạn nghiện ma túy vẫn là hiện tượng phổ biến trong toàn tỉnh. Trong
các cơ quan nhà nước tình hình nghiện ngập không đáng kể, nhưng hầu hết ở địa bàn các
xã, phường, thị trấn đều có người nghiện ma túy. Số liệu thống kê cho thấy hiện cả tỉnh
có 5.464 đối tượng nghiện ma túy có hồ sơ kiểm soát, thực tế số nghiện chưa được phát
hiện và chưa có hồ sơ không phải là nhỏ. Nếu trước đây người nghiện chỉ sử dụng thuốc
phiện với hình thức hút bằng tẩu (điếu) thì nay đã thay đổi bằng nhiều hình thức khác, cả
ở vùng đồng bào dân tộc ít người. Đó là việc sử dụng các chất ma túy tinh chế như
hêrôin, hoặc ma túy tổng hợp và sử dụng với hình thức tiêm chích hoặc nuốt, uống.

Cơ cấu giới tính của người nghiện ma túy ở Điện Biên chủ yếu nam giới. Một
hiện tượng đáng lo ngại không chỉ riêng Điện Biên đó là tình trạng thanh thiếu niên và
người trong độ tuổi lao động nghiện ma túy. Số liệu thống kê cho thấy nông dân, người
không có việc làm vẫn là đối tượng chính của tệ nạn nghiện ma túy, chiếm 95,14%. Về
thành phần dân tộc người Mông, người Thái và người Kinh là những dân tộc có tỷ lệ
người mắc nghiện cao. Đa số người nghiện ma túy có trình độ văn hóa thấp, phần lớn chỉ
giới hạn ở bậc trung học cơ sở trở xuống. Nguyên nhân của tình trạng tệ nạn nghiện ma
túy ở Điện Biên rất đa dạng, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do đua đòi, tò mò muốn thử
để biết cảm giác... lâu dần thành nghiện. Thực trạng của tệ nạn ma túy này cũng là một
trong những nguyên nhân làm cho tội phạm mua bán trái phép chất ma túy diễn biến
phức tạp.

- Tình hình diễn biến hoạt động của tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Điện Biên:

Từ năm 2002 đến tháng 6/2006, tội phạm ma túy bị phát hiện, bắt giữ, điều tra
xử lý 1.517 vụ; gồm 2.296 đối tượng. Vật chứng thu giữ gồm: 154,9 kg thuốc phiện; 26,8
kg hêrôin; 4.634 viên ma túy tổng hợp; 2,785 tỷ VND và 6.800,0 USD ngoài ra còn thu
giữ: 05 khẩu súng quân dụng; 70 khẩu súng tự tạo; 04 quả lựu đạn và nhiều đồ vật tài sản
khác có liên quan đến hoạt động của tội phạm ma túy. (Xem bảng 1 phần phụ lục).

Trong số đó, tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là:
1.196 vụ chiếm 78,83% số vụ phạm tội về ma túy; gồm 1.794 đối tượng, chiếm 78,13%
số đối tượng bị phát hiện bắt giữ. Số vật chứng thu giữ gồm: 152 kg thuốc phiện; 26,17
kg hêrôin; 4.528 viên ma túy tổng hợp; 2,719 tỷ VND và 6.800,0 USD; 05 khẩu súng
quân dụng; 70 khẩu súng tự tạo; 04 quả lựu đạn và nhiều đồ vật tài sản khác có liên quan
đến hoạt động của tội phạm ma túy. (Xem bảng 2 phần phụ lục).

Tình hình diễn biến hoạt động của tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án trong thời gian từ năm 2002 đến tháng
6/2006, được thể hiện: trong tổng số 1.196 vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy được phát hiện thì số vụ do người dân tộc ít người gây án: 915 vụ, chiếm
76,5%; gồm 1.350 đối tượng, chiếm 75,25%. Cụ thể:

- Mua bán trái phép chất ma túy: 434 vụ; gồm 734 đối tượng;

- Vận chuyển trái phép chất ma túy: 289 vụ; gồm 389 đối tượng;

- Tàng trữ trái phép chất ma túy: 192 vụ; gồm 227 đối tượng.

(Xem bảng 3 phần phụ lục).

Từ năm 2002 đến hết tháng 6/2006, Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Điện Biên xét
xử 1.506 vụ; gồm 2.219 bị cáo phạm tội về ma túy. Các mức án đã tuyên: tử hình 35 bị
cáo; Tù chung thân: 74 bị cáo; Tù từ 15 năm đến 20 năm: 406 bị cáo; Tù từ 7 năm đến 15
năm: 669 bị cáo; Tù dưới 7 năm: 948 bị cáo; Tù cho hưởng án treo: 87 bị cáo. Trong đó
đối tượng là người dân tộc ít người chiếm tỷ lệ cao và cũng bị xử lý với các mức án trên.

Thực tiễn công tác đấu tranh chống tội phạm cho thấy, mặc dù bị tấn côn g quyết
liệt và xử lý rất nghiêm minh, nhưng do nhiều lý do như khó khăn kinh tế, nhận thức
pháp luật thấp... Đặc biệt chủ yếu do lợi nhuận cao đem lại nên trong các năm gần đây tội
phạm tàng trữ, vận chuyển,mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây
án được phát hiện bắt giữ ngày càng nhiều. Nếu năm 2002 có 185/367 vụ (do người dân
tộc ít người gây án), chiếm 50,4% số vụ án về tội phạm ma túy, thì 6 tháng đầu năm 2006
tỷ lệ này là 123/149 vụ, chiếm 85,55% số vụ án về tội phạm ma túy được phát hiện, bắt
giữ. Tính chất gây án ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn, số lượng người gây án và số
lượng ma túy thu giữ trong một số vụ án rất lớn, nhiều vụ đối tượng sử dụng vũ khí nóng
để bảo vệ khi gây án như vụ Vàng A Sùng - sinh năm 1975 trú tại xã Na Ư và Và A Mua
- sinh năm 1974, quốc tịch Lào bắt ngày 25/5/2006, khi bị bắt chúng mang theo 566,7
gam hêrôin, 01 khẩu K59 - 06 viên đạn và 01 khẩu AK cùng 44 viên đạn lắp đầy trong 2
băng; có vụ khi bị bắt giữ chúng hô hào dân bản chống đối để đánh tháo như vụ Sùng A
Di - sinh năm 1965 và Sùng A Tùng - sinh năm 1984, mua bán 1,5 kg thuốc phiện bị bắt
ngày 03 tháng 4 năm 2006 tại bản Nà Côm - xã Núa Ngam - Điện Biên. Điều đó thể hiện
sự gay go, quyết liệt và nguy hiểm của cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy.

Số liệu trên theo tác giả mới chỉ phản ánh được sự tăng lên của số vụ được phát
hiện, nhưng chưa phản ánh đầy đủ được diễn biến hoạt động của tội phạm này. Với thực
tế cho thấy, tấn công mạnh phát hiện nhiều và số vụ án có quy mô lớn vẫn phát hiện
nhiều hàng năm, mặt khác số người nghiện ma túy trên địa bàn không giảm, hàng năm
đối tượng nghiện mới vẫn phát sinh nhiều. Điều đó thể hiện tính chất nghiêm trọng, phức
tạp của tội phạm ẩn diễn ra trên địa bàn tỉnh. Cần lưu ý, phải có tội phạm sản xuất, mua
bán trái phép chất ma túy tồn tại và hoạt động thì người nghiện mới có ma túy sử dụng.
Đó là một trong những cơ sở để tác giả đưa ra quan điểm: Số liệu về công tác đấu tranh
chống ma túy, mới chỉ phản ánh sự tăng giảm của vụ việc được phát hiện, mà chưa phản
ánh được sự tăng giảm hoạt động của tội phạm ma túy. Đó cũng là cơ sở để chứng minh
sự phức tạp trong đấu tranh chống ma túy hiện nay trên địa bàn tỉnh Điện Biên, trong đó
tội phạm này do người dân tộc ít người gây án chiếm tỷ lệ cao.

2.1.3. Một số đặc điểm hình sự của tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên

Nghiên cứu những vụ phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma
túy xẩy ra trong những năm qua do người dân tộc ít người gây án, có thể rút ra một số
đặc điểm hình sự của tội phạm này như sau.

- Đặc điểm về nhân thân đối tượng phạm tội:

Tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc
ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên tuy đa dạng về thành phần dân tộc nhưng
không đa dạng về nhóm đối tượng. Cụ thể nổi lên các nhóm: nhóm đối tượng chuyên
nghiệp; nhóm đối tượng không chuyên nghiệp; nhóm đối tượng cơ hội.

+ Nhóm đối tượng chuyên nghiệp: là nhóm các đối tượng lấy hoạt động phạm tội
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy làm nguồn thu nhập chính cho cuộc
sống. Hoạt động của nhóm này gắn liền với sự hình thành các ổ nhóm, đường dây; hoạt
động có tổ chức chặt chẽ, các giai đoạn gây án được phân công tương đối rành mạch.
Trong ổ nhóm, đường dây tội phạm có sự phân chia thứ bậc, thành phần thường là các
đối tượng có tiền án tiền sự (về tội phạm ma túy hoặc tội phạm hình sự khác). Hoạt động
của chúng có tổ chức chặt chẽ, do hoạt động có tính chuyên nghiệp nên chúng luôn đề
cao cảnh giác khi gây án cũng như các biểu hiện khác trong đời sống. Có "bản lĩnh" trong
hoạt động, có nhiều thủ đoạn che giấu tội phạm cũng như chống sự phát hiện của quần
chúng và các cơ quan chức năng. Có mối quan hệ rộng (với nhiều nghĩa khác nhau),
thường tự trang bị các phương tiện hiện đại như thông tin liên lạc, giao thông, các
phương tiện kỹ thuật khác, vũ khí... phục vụ cho hoạt động phạm tội. Có những kiến thức
nhất định liên quan đến tội phạm nhất là kinh nghiệm nhận biết ma túy, giá cả từng thời
điểm, từng khu vực. Đối tượng chủ mưu cầm đầu ít khi trực tiếp tham gia các hoạt động
phạm tội mà chỉ giữ vai trò chỉ huy, chỉ đạo từ tạo vốn đến tạo nguồn hàng... Vì vậy,
trong ổ nhóm, đường dây thường chỉ có người chỉ huy, cầm đầu mới biết hết các đối
tượng trong tổ chức, ngược lại các thành viên ít khi biết đến đối tượng thứ 3 trong ổ
nhóm đường dây. Điển hình như chuyên án MC9, khám phá tổ chức tội phạm ma túy do
Lý A Va trú tại xã Na Ư cùng đồng bọn sát hại đồng chí Phạm Văn Cường - trinh sát
phòng PC17 Công an tỉnh Điện Biên và 2 người dân. Vụ án có quy mô lớn nhất từ trước
đến nay được phát hiện và khám phá tại địa bàn tỉnh Điện Biên. Kết thúc điều tra, Cơ
quan điều tra đã khởi tố, bắt tạm giam 31 bị can, làm rõ quá trình hình thành và hoạt động
phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, giết người, cướp
tài sản của chúng tồn tại hơn 10 năm. Đây là ổ nhóm tội phạm được tổ chức tương đối
chặt chẽ trong các giai đoạn gây án. Sau khi ổ nhóm này bị bóc gỡ, triệt phá tình hình tội
phạm ma túy ở xã Na Ư lắng xuống, an ninh trật tự dần dần được củng cố.

+ Nhóm đối tượng hoạt động không chuyên nghiệp: Là loại không lấy hoạt động
tội phạm làm nguồn thu nhập chính cho cuộc sống. Loại này ngoài hoạt động phạm tội về
ma túy, còn có các hoạt động xã hội khác. Điểm đáng chú ý của loại này trong hoạt động
là khi thấy "thị trường" khan hiếm, lợi nhuận cao, dễ dàng hoạt động thì tham gia, khi bị
tấn công gay gắt, quyết liệt thì chuyển sang lĩnh vực khác để phạm tội. Thành phần của
loại này cũng rất đa dạng như về giới tính, về độ tuổi, dân tộc, trình độ văn hóa, tiền án,
tiền sự...

+ Nhóm đối tượng hoạt động có tính chất cơ hội: Trong các vụ án tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại Điện Biên,
được phát hiện trong thời gian qua cho thấy: loại đối tượng này được phát hiện không
nhiều, phần lớn họ là những người sống sát biên giới Việt Nam - Lào, do phía Lào ma túy
rẻ, quản lý lỏng lẻo cùng với việc kiểm soát biên giới của ta ch ưa thật chặt chẽ nên họ lợi
dụng để phạm tội, hoặc một số khi có điều kiện qua lại thăm thân được các đối tượng
khác thuê mua hoặc vận chuyển giúp, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn và được thuê với số
tiền cao họ đã phạm tội.

Qua khảo sát 1350 đối tượng là người dân tộc ít người phạm tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép bị bắt giữ trong thời gian từ năm 2002 đến tháng 6/2006 ở tỉnh
Điện Biên cho thấy:

- Đối tượng chuyên nghiệp: 1053 đối tượng chiếm 78%;

- Đối tượng không chuyên nghiệp: 235 đối tượng chiếm 17,4%;

- Đối tượng cơ hội: 62 đối tượng chiếm 4,6%.

- Về thành phần đối tượng phạm tội: Trong tổng số 1350 đối tượng người dân tộc
ít người phạm tội bị phát hiện từ năm 2002 đến tháng 6/2006, chủ yếu đối tượng ngoài xã
hội (sản xuất nông nghiệp hoặc không nghề), gồm 1311 đối tượng chiếm 97,1%; Số đối
tượng là viên chức nhà nước (cán bộ xã, kiểm lâm, cán bộ y tế, giáo viên) 29 đối tượng
chiếm 2,9 %.

Như vậy thành phần đối tượng người dân tộc ít người phạm tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy chủ yếu là đối tượng sản xuất nông nghiệp, đối
tượng không nghề nghiệp. Số đối tượng là công nhân viên nhà nước chiếm tỷ lệ không
đáng kể.

- Về thành phần dân tộc:

Dân tộc Thái: 581 đối tượng, chiếm 43,02%;

Dân tộc Mông: 471 đối tượng, chiếm 34,89%;

Dân tộc Dao: 129 đối tượng, chiếm 9,53%;

Các dân tộc ít người khác: 169 đối tượng, chiếm 12,56 %.

- Về giới tính: Nữ: 274 đối tượng 3,7%; Nam: 1076 đối tượng 96,3%

- Lứa tuổi phạm tội:

Dưới 18 tuổi: 43 đối tượng, chiếm 3,18%;

Từ 18 đến 30 tuổi: 401 đối tượng, chiếm 29,7%;
Từ 30 đến 45 tuổi: 601 đối tượng, chiếm 44,5%;

Từ 45 tuổi trở lên: 305 đối tượng, chiếm 22,62%.

Các số liệu trên cho thấy, đối tượng người dân tộc ít người phạm tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, chủ yếu tập trung vào dân tộc Thái và dân tộc
Mông. Đây là nhóm đối tượng có tỷ lệ dân số cao nhất nhì trong các dân tộc sinh sống tại
tỉnh Điện Biên, địa bàn sinh sống rộng khắp trong toàn tỉnh, từ trong nội địa đến khu vực
biên giới với các nước láng giềng. Tình trạng di dịch cư tự do trong đồng bào người
Mông vẫn diễn ra phức tạp. Trong ý thức của đồng bào nhiều dân tộc như Mông, Dao, thì
biên giới quốc gia không được coi trọng bằng phong tục tập quán, họ có thể đi tìm họ
hàng, đi thăm thân, hỏi vợ gả chồng từ địa bàn này sang địa bàn khác, thậm chí từ quốc
gia này sang quốc gia khác mà không cần biết chính quyền địa phương hoặc nhà nước
đồng ý hay không. Trong sự di dịch cư, sự đi lại thăm hỏi đó có không ít người lợi dụng
để phạm tội về ma túy. Về giới tính người phạm tội, chủ yếu nam giới chiếm 96,3%. Lứa
tuổi phạm tội tập trung chủ yếu vào hai nhóm: nhóm từ 18 tuổi đến 30 tuổi chiếm 29,7%
và nhóm từ 30 tuổi đến 45 tuổi chiếm 44,5%. Đáng lưu ý tình trạng phụ nữ dân tộc ít
người nhất là phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ, phụ nữ có hoàn cảnh kinh tế khó
khăn... phạm tội có chiều hướng gia tăng. Nhiều trường hợp sử dụng trẻ em phạm tội,
phần lớn họ là những nạn nhân bị bọn tội phạm lợi dụng, lôi kéo, mua chuộc, dụ dỗ để
thực hiện mục đích của chúng.

- Đặc điểm về thủ đoạn hoạt động:

+ Thủ đoạn khai thác nguồn ma túy:

Nghiên cứu hồ sơ các vụ án cho thấy, chất ma túy (đối tượng của tội phạm) rất
phong phú, nhưng chủ yếu nổi lên 3 loại ma túy chính: Hêrôin, thuốc phiện và ma túy
tổng hợp (dạng viên nén). Nghiên cứu 915 vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy do đối tượng người dân tộc ít người gây án cho thấy: Thuốc phiện: 353 vụ,
chiếm 38,57%; Hêrôin: 519 vụ, chiếm 56,72%; Ma túy tổng hợp: 43 vụ, chiếm 4,69%.

Số liệu thống kê cho thấy chất ma túy - đối tượng tội phạm - đang có xu hướng
thay đổi mạnh. Nếu ở các năm cuối của thế kỷ XX, tội phạm vẫn tập trung chủ yếu vào
thuốc phiện thì nay chúng ngày càng tập trung vào mua bán hêroin. Ưu điểm của hêrôin:
gọn nhẹ, dễ cất giấu, lãi suất cao, có tác động mạnh thần kinh người sử dụng nên được
các đối tượng nghiện quan tâm; ma túy tổng hợp được các đối tượng nghiện con nhà
giàu, lớp trẻ ưa chuộng.

Nguồn ma túy ở Điện Biên trong thời gian qua xuất phát chủ yếu từ nước ngoài
thẩm lậu vào nước ta bằng các hình thức khác nhau, nhưng chủ yếu đối tượng vượt biên
trái phép và vận chuyển về bằng đường rừng, đường tiểu mạch. Các đối tượng mua
hêrôin hoặc thuốc phiện đem về có thể để nguyên mang đi bán kiếm lời, một số đối tượng
như Lý Giống Minh (xã Na Ư) lại đem hêroin nghiền nhỏ trộn lẫn chất khác dùng máy ép
thủy lực đóng lại nhằm tăng số lượng; hoặc như Sùng A Tùng; hoặc Lò Văn Thanh đem
thuốc phiện trộn nhựa cây có màu sắc gần giống thuốc phiện, bán lại với giá cao hơn số
lượng cũng nhiều hơn. Phần lớn ma túy được các đối tượng mua từ nước ngoài về đem
bán cho các đối tượng sinh sống ở thành phố, thị xã, thị trấn, vùng sâu trong nội địa hoặc
đối tượng từ các tỉnh khác đến; một số dường dây trực tiếp mua từ nước ngoài hoặc từ
Điện Biên mang đi các tỉnh khác như đường dây Lăng Văn Tôn - Trùng Khánh - Cao
Bằng, mua ma túy từ Điện Biên đưa đi Cao Bằng và sang cả Trung Quốc tiêu thụ. Đặc
Biệt đường dây của Lý A Va; đường dây của Sùng Giống Sếnh mua ma túy từ nước
ngoài và mang đi tiêu thụ ở nhiều tỉnh, thành phố miền Bắc nước ta trong thời gian hơn
10 năm mới bị phát hiện. Trong hoạt động tạo nguồn, có không ít trường hợp đối tượng
móc nối với họ hàng ở nước ngoài mang ma túy vào nước ta như vụ Tòng Văn Lợi ở
Thanh Chăn - Điện Biên; hoặc đối tượng người nước ngoài mang ma túy vào Việt Nam
tiêu thụ như vụ Thào A Chua – sinh năm 1986 và Thào A Ly – sinh năm 1981 đều trú tại
Pa Hốc – Mường Mày – Phongsalỳ (Lào), vận chuyển 2 bánh hêrôin vào Điện Biên bị bắt
ngày 10/7/05; hoặc Và A Hừ – sinh năm 1979 trú tại Mường Mày bị bắt ngày 07/11/2005
vận chuyển 52 gam hêrôin và 78 gam ma túy tổng hợp... Kết quả điều tra các vụ án cho
thấy, nguồn ma túy từ nước ngoài thâm nhập vào nước ta qua Điện Biên hiện nay rất lớn.

+ Thủ đoạn cất giấu, vận chuyển ma túy:

Ma túy được vận chuyển vào Điện Biên và từ Điện Biên đi các địa bàn khác chủ
yếu bằng đường bộ, đường thủy (chưa phát hiện vụ nào bằng đường hàng không và bưu
điện), trong đó chủ yếu đường bộ. Vận chuyển là khâu yếu nhất, khâu dễ bộc lộ nhất của
tội phạm ma túy. Thực tiễn công tác đấu tranh chống tội phạm ma túy ở Điện Biên trong
thời gian qua đã phản ánh, đa số các vụ phạm tội về ma túy được phát hiện bắt giữ khi
đối tượng vận chuyển. Trong bảng phân tích hành vi phạm tội về ma túy thể hiện hành vi
mua bán chiếm đa số, bởi hành vi mua bán chủ yếu được xác định sau khi tiến hành điều
tra từ hành vi vận chuyển hoặc các hành vi khác như tàng trữ, hoặc sử dụng trái phép chất
ma túy... Tội phạm ma túy rất biết họ có thể bị phát hiện, bắt giữ ở khâu vận chuyển. Vì
vậy, trước khi phạm tội, phần lớn chúng đã tính toán các phương án để ngụy trang, che
giấu tránh bị phát hiện. Khâu vận chuyển được diễn ra bằng: đi bộ mang ma túy; vận
chuyển bằng các phương tiện giao thông chủ yếu ôtô và xe máy và vận chuyển bằng
thuyền trên sông Đà.

Khi vận chuyển, đối tượng có nhiều cách thức cất giấu ma túy, như giấu ma túy
trong người (quần áo đang mặc, nhét vào các lỗ tự nhiên trên cơ thể...) điển hình như Lò
Văn Cương khâu túi nhỏ giấu hêrôin ở đũng quần lót đưa cho Lò Văn Quân mặc –
Cương và Quân đều trú tại xã Thanh Yên, cả hai mang đi thị xã Mường Lay tiêu thụ.
Hoặc cầm ở tay khi vận chuyển (đoạn đường ngắn) như Chá Thị Sua và Lầu Thị Dia ở
Na Ư bị bắt ngày 19/12/2005, đối tượng dùng thủ đoạn này nhằm khi bị phát hiện sẽ ném
ma túy để không bị bắt giữ. Hoặc bỏ vào túi xách đi xe ôtô với thủ đoạn hàng để một nơi,
người ngồi một nơi (thủ đoạn này khá phổ biến), nếu bị phát hiện ma túy người vận
chuyển bỏ hàng không nhận túi có ma túy. Điển hình như vụ Lường Thị Trưởng - sinh
năm 1968 trú tại Thanh Xương, bị bắt ngày 06/01/2005, trong quá trình phạm tội Trưởng
và đồng bọn bán cho Nguyễn Thị Vân ở Hà Nội 35,5 bánh hêrôin tương đương 11,39 kg.
Hoặc dùng xe máy để vận chuyển, cùng với việc mang ma túy đi trên các phương tiện
giao thông công cộng, vận chuyển ma túy bằng xe máy được các đối tượng phạm tội sử
dụng nhiều, như vụ Lù Văn Kẻ và Hạng A Sung vận chuyển 0,75 kg thuốc phiện, bắt
ngày 19/01/2006; vụ Giàng Seo Chảo, Giàng Seo Dúng vận chuyển 2,8kg thuốc phiện
bắt ngày 17/01/2006 tại Mường Chà; vụ Mùa A Lo vận chuyển 51,59 gam hêrôin và 805
viên ma túy tổng hợp, bắt ngày 05/11/2005 tại Thanh Xương - Điện Biên...

+ Thủ đoạn giao nhận ma túy:

Bọn tội phạm ma túy thường chọn địa điểm giao nhận có tính bí mật, bất ngờ,
thường thay đổi địa điểm, thời gian giao hàng không theo đúng thỏa thuận, không theo
quy luật. Trong thanh toán tiền chúng có nhiều cách khác nhau.
Để việc mua bán được thực hiện trót lọt, an toàn, trong hoạt động, tội phạm ma
túy thường tạo mối quan hệ tin tưởng trước khi mua bán. Đối với những đường dây mua
bán với số lượng lớn, thời gian dài, thực hiện nhiều lần thì việc mua bán phần lớn từ mối
quen biết. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội chúng thường kiểm tra kỹ để xác định:
Có đúng người có nhu cầu mua ma túy hay không, khả năng thanh toán và thanh toán
bằng cách nào, tiền hay vàng bạc hay tài sản khác. Ngược lại bên mua cũng kiểm tra kỹ
để xác định: Có ma túy để bán hay không, chất lượng, số lượng ma túy, loại ma túy, đề
phòng bị lừa để chiếm đoạt tiền... Sau khi hai bên đã kiểm tra lẫn nhau và xác định cầu
gặp cung thì đi đến thống nhất giá cả, thời gian, địa điểm, cách thức mua bán, trao đổi...
Quy định các ám tín hiệu nhận biết người, nhận biết hàng hóa và một số diễn biến khác
có ảnh hưởng đến việc mua bán; quy định người giao, người nhận ma túy. Phần lớn các
trường hợp mua bán, bên bán yêu cầu bên mua phải cho xem tiền trước, (hiện nay chúng
thường dùng ngoại tệ – chủ yếu USD - để thanh toán, vừa gọn nhẹ và thuận tiện trong
thanh toán quốc tế) nhằm kiểm tra có tiền để mua hay không, có mục đích mua bán hay
có mục đích khác, khả năng thanh toán đến đâu... bên mua cũng thường yêu cầu được thử
hàng trước khi giao tiền. Khi tội phạm ma túy hoạt động đã hình thành đường dây, ổ
nhóm hoạt động mua bán trao đổi với nhau diễn ra nhiều lần thì những lần sau mọi việc
diễn ra thuận lợi và nhanh chóng hơn.

Không ít trường hợp để vận chuyển, mua bán được thuận lợi, bọn tội phạm ma
túy tìm cách móc nối câu kết với các phần tử thái hóa trong lực lượng phòng, chống ma
túy, biến họ thành " phương tiện ", thành " ô dù " để bao che cho hoạt động phạm tội của
chúng.

+ Thủ đoạn trong thông tin liên lạc:

Tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc
ít người gây án tại Điện Biên trong những năm qua hoạt động rất phức tạp, các hoạt động
phần lớn mang tính có tổ chức, hoạt động chuyên nghiệp. Do chúng có khả năng tài chính
lớn nên để hoạt động phạm tội được diễn ra an toàn, nhanh chóng chúng đầu tư nhiều
trang thiết bị, nhiều phương tiện thông tin liên lạc rất hiện đại như: máy Fax, điện thoại di
động thế hệ mới có khả năng thu sóng vệ tinh, sử dụng điện thoại cố định có hệ thống
chống nghe trộm, hoặc thường xuyên thay đổi simcard, sử dụng dịch vụ điện thoại di
động trả trước và sử dụng nhiều số thuê bao trong cùng thời gian... Trong quá trình hoạt
động chúng thường xuyên thông báo cho nhau về sự an toàn của mỗi chuyến hàng từ
khâu cất giấu, vận chuyển, giao nhận hàng đến các phương thức thanh toán, kinh nghiệm
trong việc cất giấu, vận chuyển, mua bán cũng như thông báo khi bị phát hiện, bắt giữ để
các đối tượng khác chạy trốn, che giấu tội phạm, tẩu tán vật chứng hoặc tài sản. Trong vụ
án Lường Thị Trưởng cùng đồng bọn mua bán trái phép chất ma túy, các bị can Lò Thị
Nhung, Lò Văn Minh tuy phải lên rừng trốn truy nã nhưng vẫn dùng điện thoại di động
điều khiển các đối tượng khác nhiều lần mang ma túy về Hà Nội và Thái Nguyên tiêu
thụ. Chúng luôn tìm cách để nắm các động thái trong hoạt động của các lực lượng phòng,
chống ma túy để cung cấp cho nhau, như hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật sở
tại; tên tuổi, đặc điểm người, sở thích của cán bộ, chiến sĩ thuộc LLCSĐTTP về ma túy.
Tìm hiểu và thông báo cho nhau về phương tiện, trang thiết bị của lực lượng phòng
chống ma túy để đồng bọn đối phó. Nhiều trường hợp khi quyết định gây án, chúng bố trí
người theo dõi cán bộ chiến sĩ chống ma túy để chúng đưa ra phương án gây án.

Trong quá trình trao đổi chúng sử dụng tiếng các dân tộc ít người và sử dụng
tiếng lóng (vừa phổ thông, vừa địa phương) như vờ thăm hỏi về cuộc sống gia đình của
nhau, về giá cả hàng hóa thông dụng... Đây là điểm đáng chú ý trong thông tin liên lạc
của chúng. Phần lớn các dân tộc ít người ở Điện Biên sử dụng thông thạo tiếng của nhau
(nhất là dân tộc Mông và dân tộc Thái), ngược lại các lực lượng phòng chống ma túy
phần lớn không biết tiếng các dân tộc ít người. Đây là những vấn đề gây không ít khó
khăn cho lực lượng phòng, chống ma túy.

+ Về thủ đoạn đối phó:

Trước khi gây án tội phạm ma túy thường tính toán rất kỹ lưỡng các thủ đoạn
trong đó có thủ đoạn đối phó cơ quan điều tra khi bị bắt giữ. Một số thủ đoạn tội phạm
thường sử dụng vừa để đối phó vừa để thực hiện tội phạm như: quy ước chặt chẽ trong
thông tin liên lạc, thời gian và địa điểm giao hàng, kiểm tra đối tượng mua bán... và
thường hay thay đổi các quy ước giao hẹn trước đó, nhằm đề phòng bị mai phục, bị cài
cơ sở, tránh bị phát hiện.
Khi bị phát hiện, tội phạm ma túy thường dùng mọi thủ đoạn để trốn tội như bỏ
chạy, hoặc dùng vũ khí các lại chống đối lực lượng bắt giữ, như vụ tên Và Chù Tú dùng
súng AK chống lực lượng khám xét xẩy ra năm 2003, mới đây lực lượng trinh sát bắt giữ
là vụ tên Và A Mua thu hai bánh hêroin và hai khẩu súng quân dụng cùng 50 viên đạn.
Nhiều vụ khi bị phát hiện đối tượng liều lĩnh dùng xe lao vào lực lượng bắt giữ. Ngày
03/4/2006, tổ công tác của phòng CSĐTTP về ma túy bắt Sùng A Tùng tại bản Nà Côm –
Núa Ngam, thu giữ 1,5kg thuốc phiện. Sau khi bị bắt Tùng gọi cả bản ra đánh tháo, do
lực lượng của ta mỏng nên dân bản đã cướp thuốc phiện, đánh tháo cho Tùng chạy và bắt
giữ tổ công tác trong khoảng 5 giờ phải đến khi lực lượng Cảnh sát Cơ động tấn công, tổ
công tác mới được giải cứu... Nhiều đối tượng khi bị bắt không chịu ký nhận Biên bản
bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, hoặc không khai nhận bất cứ điều gì, không
trả lời câu hỏi nào của điều tra viên như tên Tòng Văn Lẻ... Phần lớn các đối tượng sau
khi bị bắt luôn tìm mọi cách để thông cung, hợp lý hóa lời khai, che giấu hành vi phạm
tội.

Ngoài ra, đối tượng nữ đối phó bằng cách lợi dụng chính sách nhân đạo của pháp
luật hình sự, như "... có thể không bắt giam phụ nữ có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng
tuổi". Vì vậy, nhiều đối tượng thường xuyên "chửa đẻ" để đối phó và tiếp tục phạm tội
như chị em Lò Thị Xuân, Lò Thị Đôi - trú tại Pom Loi - Thanh Xương, tổng hợp hình
phạt từ nhiều bản án đã hơn 30 năm tù giam. Một số đối tượng khi gây án thường mang
theo con nhỏ nhằm làm bình phong che chắn cho họ khi bị bắt giữ.

- Đặc điểm về tuyến, địa bàn hoạt động: ở Điện Biên nổi lên các tuyến sau:
Tuyến biên giới Việt Nam - Lào; Tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc; Tuyến Điện
Biên - Hà Nội; Tuyến Điện Biên - Lai Châu.

Địa bàn trọng điểm của tội phạm này tập trung chủ yếu tại thành phố Điện Biên
Phủ; huyện Điện Biên (đặc biệt xã Na Ư, xã Thanh Yên); huyện Tuần Giáo; huyện Điện
Biên Đông; huyện Tủa Chùa và huyện Mường Nhé là những nơi tập trung đồng bào dân
tộc ít người sinh sống, hoặc là nơi thuận lợi cho việc mua bán, trao đổi.

Mối liên kết thực hiện tội phạm đã tạo ra những tuyến vận chuyển, mua bán đặc
biệt như tuyến từ Lào vào Na Ư đi qua Điện Biên Đông về Tuần Giáo về Thuận Châu -
Sơn La, tuyến này dài hơn một trăm km, chủ yếu đi bộ trong rừng; Hoặc tuyến Lào vào
Mường Nhé - Mường Chà đi thị xã Mường Lay về địa bàn tỉnh Lai Châu... Các tuyến này
có địa hình rừng núi hiểm trở, không thuận tiện cho việc đi lại, dân cư thưa... khó khăn
cho việc phát hiện bắt giữ.



2.2. Thực trạng hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên

2.2.1. Tổ chức lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh
Điện Biên

2.2.1.1. Tổ chức từ thời điểm trước tháng 10/2004

Quyết định số 824/QĐ-BNV(PX13) ngày 11/10/1997 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ
(nay là Bộ Công an) về việc thành lập Phòng (Đội) Cảnh sát phòng, chống tội phạm ma
túy – Công an tỉnh Điện Biên (Lai Châu cũ). Theo đó, ngày 31/12/1997, Giám đốc Công
an tỉnh Điện Biên ký Quyết định số 607/QĐ-PX13, về việc điều động cán bộ chiến sĩ đến
nhận công tác tại phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm ma túy Công an tỉnh Điện Biên.
Tổ chức đơn vị chuyên trách được thành lập với quân số ban đầu 13 đồng chí, ở một số
huyện, thị xã trọng điểm đội cảnh sát phòng, chống tội phạm ma túy cũng được thành lập
với quân số từ 3-5 đồng chí. Thời gian này công tác phòng ngừa, phát hiện và điều tra án
được phân làm các bộ phận:

- Bộ phận làm công tác phòng ngừa và phát hiện: ở Công an tỉnh có Phòng Cảnh
sát phòng, chống tội phạm về ma túy được biên chế 13 đồng chí (7 đồng chí có trình độ
đại học, 6 đồng chí trình độ trung cấp), gồm: đồng chí Trưởng phòng đồng thời là Phó
Thủ trưởng Cơ quan CSĐT, chỉ đạo chung và 2 đồng chí Phó Trưởng phòng, giúp việc
Trưởng phòng. Cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị được phân chia thành 4 đội gồm: Đội tham
mưu tổng hợp; Đội đấu tranh chống sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy; Đội phòng ngừa và chống bán lẻ; Đội đấu tranh chống tổ chức sử dụng và sử
dụng trái phép chất ma túy.

Đến tháng 8/2004, Công an các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh đều có đội
Cảnh sát phòng, chống tội phạm về ma túy. Thời gian này quân số của LLCSĐTTP về
ma túy toàn tỉnh có 36 đồng chí (9 đồng chí có trình độ đại học, 25 đồng chí có trình độ
trung cấp), được phân bổ ở 8 huyện, thị xã và thành phố.

- Bộ phận hoạt động điều tra án: Theo Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm
1989, điều tra tội phạm ma túy (ở cấp tỉnh) giao cho Đội điều tra tội phạm kinh tế và ma
túy. Đến năm 1997, khi BLHS bổ sung chương VII A " Tội phạm ma túy ", ở cấp tỉnh
thành lập đội điều tra án ma túy, biên chế quân số 12 điều tra viên do một Phó Thủ
trưởng Cơ quan CSĐT trực tiếp chỉ đạo; cấp huyện có bộ phận điều tra tội phạm ma túy
thuộc đội Cảnh sát điều tra.

2.2.2.2. Tổ chức lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy từ tháng
10/2004 đến nay

Về tổ chức: LLCSĐTTP về ma túy toàn tỉnh hiện có: 70 đồng chí (22 Điều tra
viên) bao gồm 39 đồng chí có trình độ đại học, 30 đồng chí có trình độ trung cấp và 1
đồng chí chưa qua đào tạo; 23/70 đồng chí là người dân tộc ít người; nữ: 1 đồng chí.
Trong đó: Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy biên chế 22 đồng chí (có 12 Điều
tra viên) gồm 1 đồng chí Trưởng phòng, 2 đồng chí Phó Trưởng phòng. Đơn vị được chia
thành 5 đội: Đội tham mưu tổng hợp; Đội chống vận chuyển, mua bán trái phép chất ma
túy; Đội chống bán lẻ; Đội chống sử dụng và tổ chức sử dụng; Đội hướng dẫn, điều tra án
và truy nã.

Đội CSĐTTP về ma túy - Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện - Công an tỉnh
Điện Biên gồm:

Công an thành phố Điện Biên Phủ: 7 đồng chí, có 2 Điều tra viên; Công an thị xã
Mường Lay: 5 đồng chí, có 1 Điều tra viên; Công an huyện Điện Biên: 9 đồng chí, có 1
Điều tra viên; Công an huyện Điện Biên Đông: 7 đồng chí, có 2 Điều tra viên; Công an
huyện Tuần Giáo: 7 đồng chí, có 2 Điều tra viên; Công an huyện Tủa Chùa: 4 đồng chí,
chưa có Điều tra viên; Công an huyện Mường Chà: 6 đồng chí, chưa có Điều tra viên;
Công an huyện Mường Nhé: 3 đồng chí, có 2 Điều tra viên.

Trong đó có 3 huyện biên giới (Điện Biên, Mường Chà và Mường Nhé), các địa
bàn này rất phức tạp về ma túy, nhưng lực lượng chuyên trách phòng chống ma túy được
biên chế chưa đủ so với yêu cầu và nhiệm vụ công tác đặt ra. Huyện Điện Biên có 2 điểm
rất " nóng " về ma túy là xã Na Ư và xã Thanh Yên. Địa bàn rộng, địa hình hiểm trở, lực
lượng mỏng, phương tiện thiếu thốn lạc hậu, kinh phí hỗ trợ rất hạn chế. Đặc biệt thiếu
cán bộ điều tra nữ trước yêu cầu đấu tranh với các đối tượng là nữ phạm tội tăng cao

Hàng năm LLCSĐTTP về tội phạm ma túy Công an tỉnh Điện Biên điều tra trung
bình hơn 280 vụ án, nhưng chỉ có 22 Điều tra viên - số Điều tra viên người dân tộc ít
người chỉ có 8 đồng chí; Đội CSĐTTP về ma túy của nhiều cơ quan CSĐT cấp huyện
chưa có điều tra viên. Đây cũng là vấn đề bất cập trước yêu cầu tăng thẩm quyền cho Cơ
quan CSĐT công an cấp huyện.

Về chức năng, nhiệm vụ: Căn cứ Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004;
Quyết định số: 1165/2005/QĐ-X11(X13) và 1173/2005/QĐ-X11(X13) ngày 01/4/2005
của Tổng cục trưởng Tổng cục XDLL-CAND, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và tổ chức bộ máy của Phòng (Đội) Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy. Theo đó,
Phòng CSĐTTP về ma túy có 10 nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể, liên quan trực tiếp đến
công tác phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm về ma túy như: Công tác nghiên
cứu nắm tình hình hoạt động của tội phạm ma túy; tình hình hoạt động phòng, chống tội
phạm ma túy để tham mưu, đề xuất các kế hoạch, biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống
tội phạm ma túy; Thực hiện các biện pháp về công tác nghiệp vụ cơ bản để phòng, chống
ma túy và hướng dẫn công tác nghiệp vụ theo hệ; Tiến hành điều tra tội phạm ma túy
theo quy định của Luật tố tụng hình sự; truy nã, truy bắt đối tượng phạm tội về ma túy...
xử phạt hành chính, xây dựng lực lượng... và thực hiện một số nhiệm vụ thuộc chức năng
của mình do Giám đốc Công an tỉnh giao.

Theo Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004, ngoài đơn vị PC17, Văn
phòng Cơ quan CSĐT cũng có chức năng điều tra tội phạm ma túy. Thực tế tại Công an
tỉnh Điện Biên, từ tháng 10/2004 đến nay, mặc dù đội điều tra của Văn phòng Cơ quan
CSĐT chỉ có 2 Điều tra viên, nhưng đội đã và đang thụ lý điều tra trên 15 vụ án về tội
phạm ma túy có tính chất rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.

2.2.2. Kết quả công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên, từ năm
2002 đến tháng 6 năm 2006
2.2.2.1. Kết quả công tác tiếp nhận, xử lý tin báo tố giác và phát hiện tội phạm
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án

Thực tiễn đấu tranh chống tội phạm ma túy chứng minh thông tin về các vụ án
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do đối tượng người dân tộc ít người
cũng được ghi nhận từ các nguồn: công khai và bí mật. Các nguồn tin này do các đối
tượng khác nhau cung cấp cho các lực lượng phòng, chống ma túy. Số liệu nghiên cứu
các vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do đối tượng người dân tộc
ít người gây án tại Điện Biên từ năm 2002 đến tháng 6/2006 cho thấy:

- Tin từ quần chúng nhân dân cung cấp 168 vụ, chiếm 12,4%;

- Tin từ đơn vị ĐTTP về TTATXH; ĐTTP về TTQLKT và CV; ĐTTP về ma túy
925 vụ, chiếm 68,47%;

- Tin từ công tác tuần tra, kiểm soát và biện pháp quản lý hành chính công khai
183 vụ, chiếm 13, 56%;

- Tin của Hải quan, Bộ đội biên phòng và các tổ chức xã hội khác 75 vụ, chiếm
5,57%.

Thống kê trên phản ánh, tin báo tố giác về tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma túy do đối tượng người dân tộc ít người gây án có nguồn chủ yếu từ
các hoạt động của các lực lượng nghiệp vụ phòng, chống tội phạm trong lực lượng Công
an. Tin từ quần chúng nhân dân chiếm tỷ lệ không đáng kể. Trên thực tế vấn đề không
phải người dân không biết nhiều về hoạt động của tội phạm ma túy, nhưng phần nhiều họ
sợ bị trả thù hoặc do quan hệ họ hàng, dòng tộc, quan hệ bản làng nên không báo hoặc
không dám báo cho các lực lượng phòng, chống ma túy.

Thực tế cán bộ tiếp nhận đã chú ý làm rõ những vấn đề cơ bản sau: Nhân thân
người cung cấp tin? Người đó cung cấp tin về vấn đề gì? Tàng trữ, vận chuyển, mua bán
hay sản xuất... Đối tượng nào thực hiện hành vi đó? Hoặc căn cứ vào đâu để nghi vấn đối
tượng đó liên quan đến tội phạm ma túy? Làm sao anh (chị, ông, bà...) biết được nguồn
tin này, biết trong hoàn cảnh nào, trực tiếp hay gián tiếp, ngoài ra còn ai biết không,
người đó ở đâu ? Xem xét động cơ, mục đích báo tin; Xác minh làm rõ quan hệ của
người báo tin với đối tượng nghi vấn, đối tượng phạm tội như thế nào ?
Trong thực tế hiện nay vẫn có trường hợp nhiều đơn vị Công an các cấp thường
bố trí những cán bộ kém năng lực ở khâu trực ban hình sự. Vì vậy, việc tiếp nhận và xử
lý tin báo tố giác tội phạm nói chung và tội phạm ma túy nói riêng chưa được đảm bảo
yêu cầu như không ghi nhận, hoặc ghi nhận hời hợt không phản ánh đầy đủ nội dung sự
việc được báo tin, hách dịch, sách nhiễu làm cho người dân cảm thấy bị xúc phạm dẫn
đến hình thành tâm lý ngại ngùng khi báo tin tội phạm cũng như tiếp xúc lực lượng Công
an. Cũng có trường hợp nhận tin báo nhưng do nhiều lý do khác nhau nên không báo cáo
hoặc báo cáo không kịp thời lên cấp trên để xử lý... ở một số nơi trụ sở của lực lượng
Công an không thuận lợi cho người dân đến báo tin.

2.2.2.2. Kết quả xác lập và đấu tranh chuyên án

Từ năm 2002 đến hết tháng 6/2006, LLCSND Công an tỉnh Điện Biên đã lập và
đấu tranh 133 chuyên án đấu tranh chống tội phạm ma túy (108 chuyên án trinh sát và 25
chuyên án truy xét); 307 đối tượng. Trong đó có 97 chuyên án; 224 đối tượng là người
dân tộc ít người. (Xem bảng 4 phần phụ lục).

Trong số 97 chuyên án được xác lập có 84 chuyên án trinh sát (chiếm 86,6%); 13
chuyên án truy xét (chiếm 23,4%). Công an cấp huyện xác lập 26 chuyên án trinh sát với
43 đối tượng và 3 chuyên án truy xét với 5 đối tượng. Các phòng cấp tỉnh lập 58 chuyên
án trinh sát với 149 đối tượng và 10 chuyên án truy xét với 27 đối tượng. Phòng Cảnh sát
điều tra tội phạm về ma túy xác lập 55 chuyên án trinh sát: 148 đối tượng và 8 chuyên án
truy xét: 21 đối tượng.

Các chuyên án đấu tranh chống đối tượng người dân tộc ít người phạm tội ma túy
được xác lập dựa vào các thông tin, tài liệu do LLCSĐTTP về ma túy phát hiện hoặc thu
nhận từ các lực lượng nghiệp vụ và quần chúng cung cấp. Kết quả xử lý cho thấy, sau khi
phát hiện hoặc tiếp nhận thông tin, tài liệu, LLCSĐTTP về ma túy đã tổ chức kiểm tra,
xác minh, sàng lọc và thu thập thêm những thông tin khác từ các nguồn công khai và bí
mật để xác định rõ về đối tượng của chuyên án. Các chuyên án được xác lập đều đảm bảo
căn cứ theo Quyết định số 362/2003/QĐ-BCA(C11) quy định. Các thông tin, tài liệu này
được lực lượng trinh sát kiểm tra và xác minh xác định có thật, nhưng nếu áp dụng các
biện pháp nghiệp vụ điều tra đơn thuần thì việc chứng minh tội phạm khó có thể đạt kết
quả. Để triệt phá các đường dây, ổ nhóm tội phạm ma túy này lực lượng phòng, chống tội
phạm ma túy phải sử dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, phát huy được sức mạnh
tổng hợp của các lực lượng, có sự chỉ huy, chỉ đạo tập trung thống nhất của Ban chuyên
án.

Thông tin, tài liệu phản ánh về vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy do người dân tộc ít người gây án được lực lượng trinh sát thu thập từ các
nguồn:

+ Từ công tác sưu tra, xác minh hiềm nghi, công tác đặc tình, cơ sở bí mật, cộng
tác viên và các hoạt động trinh sát khác, hoặc từ các hoạt động nghiệp vụ khác chiếm
76% căn cứ để xác lập chuyên án.

+ Thông tin, tài liệu do các đơn vị nghiệp vụ khác và tin báo, tố giác của quần
chúng nhân dân, của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội chiếm 24% căn cứ để
xác lập chuyên án.

Về tổ chức đặc tình trong chuyên án:

Hiện nay mạng lưới bí mật của LLCSĐTTP về ma túy Công tỉnh Điện Biên có
426 người, bao gồm: 99 đặc tình; 321 cơ sở bí mật; 03 cộng tác viên và 03 hộp thư. Mạng
lưới bí mật được bố trí chủ yếu trên các tuyến và địa bàn trọng điểm như tuyến Điện Biên
– Hà Nội; Tuyến biên giới Việt Nam – Lào và các địa bàn: thành phố Điện Biên Phủ;
huyện Điện Biên và huyện Tuần Giáo. Trong năm 2005 và 6 tháng đầu năm 2006, mạng
lưới bí mật đã cung cấp 486 nguồn tin có giá trị phục vụ công tác phòng, chống tội phạm
ma túy có hiệu quả.

Thực tiễn đấu tranh chống tội phạm ma túy, nhất là trong đấu tranh chống tội
phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây
án, thời gian qua LLCSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên phần lớn sử dụng đặc
tình theo chiến thuật đánh vào. Đặc tình loại này chủ yếu được xây dựng từ những đối
tượng có tiền án, tiền sự về tội phạm ma túy hoặc các tội phạm khác đã được giáo dục.
Ưu điểm của chiến thuật này là khi đặc tình đã vào được chuyên án thì đối tượng thường
mất cảnh giác và khó hoặc không chú ý phát hiện đặc tình hay nói cách khác không đề
phòng việc bị lực lượng phòng, chống ma tuý "cài". Do đặc tình là người có tiền án, tiền
sự nên trong tiếp xúc với đối tượng chuyên án thường có cùng ngôn ngữ, hòa nhập nhanh
vào các hoạt động của đối tượng chuyên án... nên có điều kiện nắm bắt được nhiều thông
tin cung cấp cho ban chuyên án. Nhờ đó các chuyên án có đặc tình loại này xâm nhập
thường thu được những kết quả to lớn khi phá án.

Một số chuyên án điển hình như: Ngày 13/9/2004 Phòng PC17 phối hợp với
Phòng PC26 và Công an thị xã Mường Lay phá chuyên án 904H bắt quả tang Tẩn Sếnh
Chiêm – sinh năm 1972 – dân tộc Dao, trú tại thị trấn Sìn Hồ – Lai Châu, vận chuyển 10
kg thuốc phiện. Đây là đối tượng trong đường dây mua bán trái phép chất ma túy từ Lào
đưa vào Điện Biên vận chuyển về Lai Châu, Lào Cai tiêu thụ. Trong chuyên án này trinh
sát đã đánh đặc tình mang bí danh Thu - Dân tộc Dao - với vai trò vận chuyển, khi phá án
Thu đã chạy thoát theo kế hoạch trinh sát xây dựng. Ngày 10/12/2004, Phòng PC17 phối
hợp đồn biên phòng 425 Bộ đội biên phòng tỉnh Điện Biên phá chuyên án 1104P bắt quả
tang Tòng Thị Phượng – sinh năm 1982, trú tại Mường Mày – Phong sa lỳ(Lào) thu giữ
57,73 gam hêrôin. Số ma túy này được Phượng giấu trong đế dép để vận chuyển qua biên
giới vào Việt Nam. Chuyên án này trinh sát đánh đặc tình Đào để giúp Phượng giấu hàng
khi mang vào Việt Nam. Ngày 22/3/2006, Phòng PC17 phá chuyên án 206-H bắt quả
tang Ly Thị Dua – sinh năm 1983, trú tại Na Ư - Điện Biên vận chuyển 3 bánh = 1.050
gam hêrôin... Đây là một số trong nhiều chuyên án chống tội phạm ma túy mà đối tượng
gây án là người dân tộc ít người gây án, được các đơn vị thuộc Công an tỉnh Điện Biên
tiến hành trong thời gian qua sử dụng đặc tình theo chiến thuật đánh đặc tình vào.

Ngoài ra, LLCSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên còn sử dụng phương
pháp kéo ra nhằm bổ sung lực lượng đặc tình phục vụ điều tra các chuyên án lớn. Điển
hình như: Ngày 22/11/2005, Phòng PC17 phá chuyên án 105M bắt quả tang Lò Văn Mậu
– sinh năm 1962, trú tại Thanh Chăn - Điện Biên, thu giữ 352,72 gam hêrôin. Trong
chuyên án này, lực lượng trinh sát đã kéo đối tượng Lò Văn T – đối tượng giữ vai trò thứ
yếu để khống chế và xây dựng. Tháng 02/2005, sau khi xác minh nguồn tin về đường dây
vận chuyển ma túy từ Lào vào Việt Nam do các đối tượng ở 2 bên biên giới gây án, trinh
sát phòng PC17 bắt khống chế đối tượng Tòng Văn B về hành vi sử dụng chất ma túy (B
là đối tượng được thuê vận chuyển trong đường dây), và xây dựng thành đặc tình trong
chuyên án 205T. Ngày 05/3/2005, phá án bắt quả tang Lò Thị Tiên – sinh năm 1977, trú
tại Thanh An - Điện Biên, thu giữ 1 bánh hêrôin...

Khi tiến hành phương pháp kéo ra, LLCSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện
Biên đã làm tốt khâu tuyển chọn. Trong thời gian qua các đối tượng kéo ra đều là các đối
tượng không giữ vai trò tổ chức, cầm đầu, hoặc đối tượng có hành vi phạm tội rất nghiêm
trọng, đặc biệt nghiêm trọng, nhưng bản thân họ đều là người đã thu nhận và phản ánh
những thông tin, tin tức, tài liệu quan trọng về đối tượng đấu tranh cho ban chuyên án.

Ngoài ra, Công an tỉnh Điện Biên đã sử dụng nhiều đặc tình trong một chuyên
án. Như phá chuyên án 904X, bắt giữ Lò Văn Xoan thu giữ 4 bánh hêrôin. Kết thúc điều
tra có 7 bị can bị truy tố về tội mua bán trái phép chất ma túy. Quá trình đấu tranh chuyên
án đã sử dụng 5 đặc tình vừa sử dụng phương pháp đưa vào, vừa kéo ra, vừa sử dụng đặc
tình để thu thập thông tin, tài liệu vừa sử dụng đặc tình để kiểm tra đánh giá nguồn tin do
đặc tình (khác) cung cấp...

Trong đấu tranh chuyên án chống tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy LLCSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên thường sử dụng các
chiến thuật sau để rút đặc tình khỏi chuyên án:

Chiến thuật tạo điều kiện cho đặc tình chạy trốn: đây là chiến thuật nghiệp vụ
thường được sử dụng ở giai đoạn phá án, bắt giữ các đối tượng phạm tội và chỉ áp dụng
trong tình huống đặc tình và đối tượng không biết, hoặc biết không rõ về nhau, không
biết tên tuổi, địa chỉ, nơi sinh sống, làm việc hoặc các quan hệ xã hội khác của đặc tình.
Để áp dụng chiến thuật này, trước khi tiến hành bắt giữ đối tượng, trinh sát đã có kế
hoạch rút đặc tình ra khỏi chuyên án bằng cách tạo ra các tình huống rất tự nhiên, khéo
léo để đặc tình chạy trốn, tránh sự phát hiện của đối tượng trong chuyên án.

Chiến thuật tách hồ sơ vụ án: Chiến thuật này chỉ sử dụng trong trường hợp đặc
tình và đối tượng biết rõ về nhau, trinh sát không thể áp dụng chiến thuật bố trí cho đặc
tình chạy trốn. Chiến thuật này được thực hiện bằng hình thức ngay từ khi các đối tượng
trong chuyên án bị bắt, trinh sát phải chủ động khai thác các tài liệu tập trung phản ánh
hành vi phạm tội của các đối tượng chủ mưu, cầm đầu để đề nghị truy cứu trách nhiệm
hình sự. Riêng đối với đặc tình cũng phải chủ động thu thập các thông tin, tài liệu, chứng
cứ chứng minh vai trò thứ yếu, cũng như thái độ ăn năn hối lỗi, lập công chuộc tội, tự
thú... nhằm tạo nhiều tình tiết giảm nhẹ, và trong nhiều trường hợp phải đề xuất VKS, TA
trong quá trình truy tố, xét xử phải chú ý để miễn truy cứu trách nhiệm hình sự...

Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua công tác xây dựng, sử dụng đặc tình của Công
an tỉnh Điện Biên vẫn còn có những sơ hở, yếu kém nhất định. Đó là mạng lưới bí mật
còn quá mỏng, số lượng ít, chất lượng chưa cao vì thế chưa đáp ứng được yêu cầu chủ
động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma túy. Trong lãnh đạo, sử dụng đặc tình
của lực lượng trinh sát còn nhiều vấn đề phải sớm khắc phục như tuyển chọn đặc tình yếu
về khả năng thu thập thông tin, xây dựng nóng vội, xây dựng chưa qua thử thách nên kém
hiệu quả, hoặc sử dụng đặc tình đánh nhiều chuyên án trong một địa bàn hẹp. Có trường
hợp để lộ đặc tình gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án như vụ Nguyễn Thị Hoa –
Thanh Yên vận chuyển 2 bánh hêroin; hoặc vụ Giàng Pả Sình vận chuyển 5 bánh hêrôin;
hoặc vụ Lò Thị Vinh do phối hợp phá án giữa trinh sát và đặc tình không thống nhất nên
1 bánh hêrôin phải chấp nhận hàng vô chủ và làm lộ đặc tình. Công tác hồ sơ đặc tình
chưa được chú trọng đầy đủ, vẫn còn hiện tượng sử dụng đặc tình không đăng ký hồ sơ.

Lực lượng trinh sát chưa mạnh dạn xây dựng, sử dụng đặc tình loại 3, đặc tình
ngoại biên, đặc biệt là việc xây dựng và cài cắm đặc tình ở những địa bàn trọng điểm, địa
bàn giáp ranh biên giới, địa bàn đồng bào dân tộc ít người sinh sống, do vậy việc phát
hiện tin tức cũng như ngăn chặn tội phạm ma túy trong đồng bào dân tộc ít người còn gặp
nhiều khó khăn.

- Trinh sát ngoại tuyến:

Thực tiễn công tác đấu tranh chống tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy do người dân tộc ít người phạm tội của lực lượng Cảnh sát - Công an
tỉnh Điện Biên đã tổ chức 145 lượt trong quá trình đấu tranh ở các chuyên án. Các
chuyên án có sử dụng biện pháp trinh sát ngoại tuyến và đã thu thập được nhiều tin tức,
tài liệu quan trọng góp phần phá án thắng lợi.

Đặc điểm địa bàn Điện Biên đã bộc lộ rõ đối tượng người dân tộc ít người gây án
thường có địa bàn mua bán, trao đổi và tuyến vận chuyển tương đối cố định. Vì vậy,
trước khi tiến hành biện pháp trinh sát ngoại tuyến, cán bộ trinh sát đã nghiên cứu kỹ,
nắm vững tuyến, địa bàn hoạt động của các đối tượng chuyên án; nắm vững mục đích,
yêu cầu, nhiệm vụ của hoạt động ngoại tuyến đối với từng chuyên án cụ thể, biểu đồ hoạt
động của các loại phương tiện giao thông. Nắm chắc đặc điểm của đối tượng chuyên án
như phong cách ăn mặc, phương tiện và thời gian đi lại, lai lịch, các mối quan hệ của đối
tượng... Từ những thông tin đó trinh sát lập kế hoạch ngoại tuyến chi tiết như số lượng
con người cần thiết để tham gia ngoại tuyến, sử dụng các phương tiện phối hợp (phương
tiện giao thông, phương tiện kỹ thuật hỗ trợ việc ghi thu các tài liệu phục vụ cho công tác
điều tra sau này). Đồng thời các tình huống có liên quan đến kết quả ngoại tuyến như đặt
trạm cố định, đặt vị trí nào, đặt như thế nào, dự kiến các tình huống có thể xẩy ra, phương
án giải quyết các tình huống đó... đã được chú ý và thực hiện có bài bản. Các thành viên
tham gia ngoại tuyến đã nắm vững kế hoạch nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động được ăn
khớp không để lộ, không để mất đối tượng, làm cho chuyên án phát triển đúng kế hoạch.
Điển hình như chuyên án 904X, sau khi nghiên cứu hoạt động của đường dây mua bán
chất ma túy do Lò Văn Xoan cầm đầu thường vận chuyển ma túy về Hà Nội tiêu thụ.
Xoan dùng thủ đoạn cho hêrôin vào các bao gạo và gửi theo xe khách tuyến Hà Nội và
cho người đi theo giám sát theo chặng. Khi đổi chặng đối tượng chặng trước xuống xe
nếu an toàn, hoặc trả tiền cước đi tiếp nếu không an toàn đối tượng chặng tiếp theo căn
cứ vào biểu hiện đó để nhận biết. Khi về Hà Nội chúng thường giao hàng ở quãng đường
Hà Đông – Văn Điển hoặc khu chung cư Linh Đàm, đối tượng nhận hàng sẽ đón xe và
hỏi lấy gạo, nếu an toàn đối tượng theo hàng sẽ ngồi trên xe ngược lại đối tượng sẽ xuống
xe nhằm đánh động cho đối tượng nhận hàng biết. Nắm được quy luật hoạt động của
đường dây, LLCSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên đã tổ chức ngoại tuyến và
phối hợp Công an Hà Tây bắt quả tang khi Phạm Văn Thường (đối tượng trong đường
dây) nhận hàng tại thị xã Hà Đông vào ngày 16/9/2004, cùng ngày Công an Điện Biên
bắt Phạm Đức Thanh tại Điện Biên. Hoặc trong chuyên án bắt Tẩn Sếnh Chiêm, nhiều
đơn vị thuộc Công an Điện Biên đã phối hợp nhịp nhàng, bắt quả tang khi đối tượng trên
đường vận chuyển...

- Trinh sát nội tuyến:

Trong thời gian từ năm 2002 đến tháng 6/2006, LLCSĐTTP về ma túy Công an
tỉnh Điện Biên tổ chức 192 lượt nội tuyến (phần lớn các chuyên án đều sử dụng kết hợp
nhiều biện pháp trinh sát) để thu thập thông tin tài liệu. Hiện nay hoạt động nội tuyến rất
khó khăn vì thiếu trinh sát (cả về số lượng và khả năng nội tuyến). Tuy nhiên, qua phân
tích từng chuyên án cụ thể các trinh sát đã thực hiện nội tuyến an toàn, có hiệu quả. Các
hoạt động nội tuyến đã nắm các thông tin, tài liệu như: số lượng đối tượng trong đường
dây; đối tượng cầm đầu; thời gian vận chuyển, mua bán; địa điểm, giao hàng hoặc cất
giấu vật chứng; kích thích đối tượng bộc lộ; phương thức, thủ đoạn phạm tội... ví dụ như
chuyên án 203T do LLCSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên, thực hiện ngày
18/02/2003 bắt giữ 2 đối tượng tại địa bàn xã Na Ư - Điện Biên, thu giữ 02 bánh hêrôin;
Chuyên án 105 – TY thực hiện ngày 24/5/2005 tại địa bàn xã Thanh Yên - Điện Biên bắt
giữ 3 đối tượng thu giữ 01 bánh hêrôin. Hoặc chuyên án 105K do LLCSĐTTP về ma túy
Công an tỉnh Điện Biên phối hợp Cục CSĐTTP về ma túy thực hiện ngày 03/11/2005 tại
địa bàn xã Mường Mơn - Điện Biên bắt 2 đối tượng là Cà Văn Kiên và Tòng Văn Kho
thu giữ 1 bánh hêrôin và một số đồ vật, tài sản khác có liên quan đến vụ án. Trong
chuyên án 104D do Công an huyện Tuần Giáo thực hiện ngày 03/11/2004 tại xã Chiềng
Sinh – Tuần Giáo, qua hoạt động nội tuyến phát hiện Lò Văn Thuận xây một ngăn nhỏ
trong chuồng lợn để giấu ma túy. Vì vậy, khi phá án Thuận có thái độ thách thức lực
lượng khám xét nhưng nhờ có tài liệu nội tuyến cung cấp, ban chuyên án đã phát hiện,
thu giữ 10 gam hêrôin và 210 viên ma túy tổng hợp...

Bên cạnh những ưu điểm đã đạt được trong quá trình tiến hành nội tuyến các
chuyên án như đã nêu trên, thì trong quá trình sử dụng biện pháp này LLCSĐTTP về ma
túy Công an tỉnh Điện Biên vẫn còn có những sơ hở, thiếu sót như làm lộ trinh sát nội
tuyến như trong chuyên án bắt giữ đối tượng Giàng Pả Sình và Nguyễn Trọng Đạt hoặc
chuyên án bắt giữ đối tượng Vì Văn Yến trú tại bản Nà Ngum – Thanh Yên. Do bị lộ nội
tuyến nên trong quá trình điều tra vụ án, một số đối tượng xấu có hành động gây mất trật
tự hoặc có lời lẽ đe dọa.

- Kết thúc chuyên án

Trong thời gian từ năm 2002 đến tháng 6/2006, LLCSĐTTP về ma túy Công an
tỉnh Điện Biên đã xác lập 84 chuyên án trinh sát với đối tượng là người dân tộc ít người,
13 chuyên án truy xét. Các chuyên án này đ ều được kết thúc bằng hình thức phá án,
không có chuyên án nào tạm đình chỉ hoặc đình chỉ.
Hình thức phổ biến nhất của hoạt động phá án là tổ chức bắt quả tang đối tượng
khi đối tượng đang vận chuyển và việc bắt được tiến hành bất ngờ, nhanh gọn, kiên
quyết, đề phòng đối tượng chống đối hoặc vứt, ném ma túy để chối tội như vụ tên Sùng A
Tùng (đã nêu ở phần trên)... Hoặc căn cứ thực tế để tạo cớ kiểm tra hành chính nhằm phát
hiện ma túy và tiến hành bắt quả tang. Việc tiến hành các hoạt động kiểm tra hành chính
đã có các lực lượng làm nhiệm vụ công khai hỗ trợ như Cảnh sát giao thông trong vụ bắt
giữ Cà Văn Kiên và Tòng Văn Kho thuộc chuyên án 105K. Trong chuyên án 104D do
Công an Tuần Giáo thực hiện, bắt giữ đối tượng Lò Văn Thuận, đội CSĐTTP về ma túy
Công an Tuần Giáo đã phối hợp với đội Công an phụ trách xã và Công an xã Chiềng Sinh
kiểm tra hành chính đối với Thuận. Quá trình kiểm tra phát hiện Thuận đang sử dụng
chất ma túy tại nhà, dựa vào tài liệu do nội tuyến cung cấp đội CSĐTTP về ma túy Công
an Tuần Giáo khám xét khẩn cấp và thu giữ 10 gam hêrôin và 210 viên ma túy tổng hợp
được Thuận giấu trong chuồng lợn. Ngày 25/5/2006, PC16 và PC17 Công an tỉnh Điện
Biên phối hợp đồn biên phòng Tây Trang phá chuyên án S10999 (lập ngày 15/9/2005)
bắt Và A Sùng và Và A Mua thu giữ 2 bánh hêrôin, 1 khẩu súng Ak và 1 khẩu K59...

Những vụ án chỉ phá một phần ổ nhóm, đường dây tội phạm ma túy LLCSĐTTP
về ma túy Công an Điện Biên đã làm tốt khâu giữ bí mật, làm cho các đối tượng còn lại
không biết hoạt động của chúng đang bị theo dõi. Thực tiễn trong một số chuyên án đã
tiến hành bắt ngụy trang đối tượng trước khi phá án, đã làm tốt khâu "điều" đối tượng ra
xa địa bàn hoạt động làm cho các đối tượng khác không biết chúng đã bị lộ. Điển hình là
chuyên án 204G do Công an huyện Điện Biên tiến hành đã bắt giữ 2 đối tượng trong
cùng thời gian ở 2 địa điểm khác nhau. Sau khi bắt đã khống chế đối tượng và đánh trở
lại chuyên án. Khi chuyên án kết thúc, căn cứ kết thông tin tài liệu do họ cung cấp trong
giai đoạn đấu tranh chuyên án, Cơ quan điều tra phối hợp Viện kiểm sát và Tòa án nhân
dân tỉnh đã xem xét giảm nhẹ hình phạt cho 2 đối tượng này.

Ngoài tổ chức bắt quả tang để phá án, LLCSĐTTP về ma túy Công an Điện Biên
còn tiến hành bắt khẩn cấp. Trước khi bắt, lực lượng tham gia đấu tranh chuyên án đã thu
thập căn cứ để tiến hành bắt khẩn cấp, phần lớn dựa vào hành vi phạm tội không phải là
tội phạm ma túy để bắt khẩn cấp, như chuyên án 806B bắt Cà Văn Biên tại xã Thanh
Luông. Ban chuyên án căn cứ vào hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc. Khi "đối tượng"
đánh bạc bị bắt đã khai nhận nhìn thấy Biên lấy ma túy từ trong buồng ra cho các con bạc
sử dụng... có chuyên án trinh sát yêu cầu đặc tình khống chế tự thú khai báo về hoạt động
của ổ nhóm, đường dây tội phạm ma túy như chuyên án 106H do PC17 thực hiện bắt giữ
Lò Văn Hỏa thu 200 gam hêrôin. Trong quá trình đấu tranh chuyên án, trinh sát cảm hóa,
giáo dục đặc tình T tự thú về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng Hỏa và tố cáo
Hỏa tàng trữ trái phép chất ma túy...

LLCSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên luôn chú trọng công tác thu thập
chứng cứ chứng minh tội phạm ngay từ khi phá án như: khám xét người, khám xét và thu
giữ các chất ma túy, các đồ vật phương tiện mang theo nghi có liên quan đến tội phạm
như tiền bạc tài sản, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, vũ khí..., quản lý chặt chẽ
các đối tượng ngay từ bắt không để chúng thông cung, hợp lý hóa lời khai nhằm che giấu
hành vi phạm tội (trường hợp có nhiều đối tượng bị bắt cùng một lúc), tiến hành lập biên
bản phản ánh toàn bộ việc bắt giữ và có đầy đủ chữ ký của các thành phần, lực lượng
tham gia. Trong trường hợp đối tượng không ký biên bản, lực lượng bắt ghi đầy đủ lý do
không ký và yêu cầu những người có mặt cùng ký xác nhận thì biên bản vẫn có giá trị
pháp lý. Như trường hợp đối tượng Lý A Lầu khi bị bắt và thu giữ trong người 1 bánh
hêrôin nhưng không chịu ký biên bản, nhưng lực lượng bắt giữ dùng "mẹo" để Lầu ghi
vào Biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang "tôi không ký", đồng thời yêu
cầu những người có mặt (ngay từ đầu tại nơi bắt giữ) ký với tư cách người làm chứng.
Hoặc trường hợp Mùa A Chống – sinh năm 1974 trú tại Núa Ngam - Điện Biên, khi bị
bắt và thu giữ 7,6kg thuốc phiện Chống không chịu ký Biên bản bắt giữ người có hành vi
phạm tội quả tang, lực lượng bắt giữ đã phản ánh toàn bộ sự việc phát hiện, bắt giữ bằng
biên bản và cũng yêu cầu những người có mặt ký xác nhận toàn bộ sự việc kể cả việc
Chống không ký biên bản. Quá trình xét xử, Mùa A Chống đã bị Tòa án nhân dân tỉnh
Điện Biên xử phạt chung thân về tội vận chuyển trái phép chất ma túy.

Trong những năm qua LLCS Công an tỉnh Điện Biên đã lập nhiều chuyên án,
phối hợp với Công an các tỉnh thành phố bắt nhiều đối tượng truy nã như bắt Sùng Giống
Sếnh thuộc đường dây mua bán ma túy của Chu Văn Hiếu do Cơ quan CSĐT - Bộ Công
an thụ lý; Phối hợp Công an Hà Nội bắt hàng chục đối tượng như Trần Văn Huy mua bán
20 bánh hêrôin trong vụ án Tám Phong; Nguyễn Thị Vân mua bán 35,5 bánh hêrôin; phối
hợp Công an các tỉnh Tây Nguyên bắt nhiều đối tượng truy nã khác; phối hợp an ninh
Phongsalỳ (Lào) bắt Vũ Chí Hưng mua bán 11 kg thuốc phiện; Cà Thị Xinh mua bán 130
gam hêrôin... Nhiều vụ án đã được khám phá làm rõ sau khi các đối tượng truy nã bị bắt
giữ.

2.2.2.3. Kết quả công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy theo Luật tố tụng hình sự

- Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can:

Từ năm 2002 đến tháng 6/2006, các hoạt động khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội
phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy của Cơ quan CSĐT – CA tỉnh
Điện Biên luôn chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự. Đồng thời
đáp ứng kịp những thay đổi của BLTTHS và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, các hoạt
động khởi tố vụ án và khởi tố bị can của LLCSĐTTP về ma túy Công an Điện Biên đã có
những thay đổi phù hợp. Đó là, từ ngày 30/9/2004 về trước, LLCSĐTTP về ma túy chức
năng chủ yếu hoạt động điều tra trinh sát, khi phát hiện tội phạm đồng chí Trưởng phòng
(Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT) ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong thời hạn 7
ngày kể từ khi ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cảnh sát phòng, chống tội đã tiến
hành các hoạt động tố tụng khác như: lấy lời khai; khám xét khẩn cấp; thu giữ và bảo
quản vật chứng; áp dụng một số biện pháp ngăn chặn như bắt người trong trường hợp
khẩn cấp; tạm giữ. Trong giai đoạn này, Cảnh sát phòng chống tội phạm ma túy khi phá
các chuyên án phức tạp, thường có sự phối hợp với Cơ quan CSĐT nên hồ sơ ban đầu
của vụ án hầu hết được xây dựng chặt chẽ, đúng pháp luật.

Từ ngày 01/10/2004, thực hiện Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004,
ngoài PC17 đơn vị chính có chức năng điều tra các vụ án về tội phạm ma túy, Văn phòng
Cơ quan CSĐT cũng có chức năng điều tra các vụ án (kể cả án ma túy) khi được Giám
đốc Công an tỉnh hoặc Thủ trưởng Cơ quan CSĐT cấp tỉnh giao.

Từ năm 2002 đến tháng 6/2006, LLCSĐTTP về ma túy (PC16 và PC17) Công an
tỉnh Điện Biên đã khởi tố: 357 vụ án. Các vụ án được khởi tố khi đã xác định có dấu hiệu
tội phạm ma túy (một số vụ khởi tố tội danh khác nhưng quá trình điều tra có đủ chứng
cứ kết luận có tội phạm ma túy xảy ra và đã được khởi tố để điều tra), và do các đơn vị
PC16; PC17 và PC26 trực tiếp phát hiện, và đã khởi tố 726 bị can. Các bị can bị khởi tố
khi Cơ quan CSĐT đã có đủ căn cứ xác định bị can đã thực hiện hành vi phạm tội. Phần
lớn các bị can ngay từ đầu đã bị khởi tố về các hành vi liên quan tội phạm ma túy, một số
bị can bị khởi tố về tội danh khác nhưng khi Cơ quan CSĐT có đủ chứng cứ kết luận bị
can phạm tội về ma túy thì được thay đổi hoặc khởi tố bổ sung về tội phạm ma túy. Tính
đến tháng 6/2006, hoạt động khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội phạm ma túy các Cơ
quan điều tra của Công an tỉnh Điện Biên chưa xảy ra trường hợp nào oan, sai.

Các vụ án sau khi khởi tố, Cơ quan CSĐT nghiên cứu, xem xét nếu trong vụ án
có căn cứ để lập chuyên án truy xét thì đồng chí phó Thủ trưởng và Điều tra viên được
phân công điều tra vụ án hình sự báo cáo và đề nghị Giám đốc và Thủ trưởng Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an tỉnh ra quyết định thành lập chuyên án truy xét. Trưởng Ban
chuyên án là Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh, Ban chuyên án gồm các điều tra
viên, các trinh sát viên của các đơn vị chức năng nhưng chủ yếu LLCSĐTP về ma túy.
Các biện pháp điều tra theo quy định của BLTTHS và các biện pháp hoạt động nghiệp vụ
trinh sát được tiến hành nhằm nhanh chóng, khẩn trương thu thập các tài liệu, chứng cứ
chứng minh tội phạm và người phạm tội về ma túy. Trong thời gian qua các đơn vị
(PC16;PC17) của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên đã lập nhiều chuyên án truy
xét đấu tranh có hiệu quả như đã đề cập ở phần trước, góp phần làm rõ nhiều ổ nhóm,
đường dây tội phạm ma túy nói chung và tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án. Song, thực tiễn đấu tranh cho thấy số
chuyên án truy xét đấu tranh chống các đối tượng người dân tộc ít người của LLCSĐTTP
về ma túy của Công an Điện Biên còn ít, Cơ quan CSĐT cấp huyện chưa xác lập chuyên
án truy xét nhất là các vụ án chưa phát hiện được đối tượng gây án, những trường hợp
này thường chỉ ra quyết định khởi tố vụ án mà không lập án truy xét để điều tra làm rõ
đối tượng phạm tội cũng như toàn bộ vụ án.

Trong thực tế điều tra tội phạm ma túy nói chung và tội phạm tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án nói riêng, hoạt
động khởi tố bị can thường đi liền sau khởi tố vụ án. Trước khi ra quyết định khởi tố bị
can, Điều tra viên và Thủ trưởng Cơ quan CSĐT luôn chú ý đánh giá các căn cứ để tiến
hành khởi tố, nhờ đó các trường hợp khởi tố của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên
chưa xẩy ra trường hợp nào oan, sai trong điều tra tội phạm nói chung và tội phạm ma túy
nói riêng. Vì phần lớn các vụ án ma túy thường được khám phá bằng hình thức bắt quả
tang người phạm tội. Từ kết quả đấu tranh chuyên án do đó khi vụ án được phát hiện thì
đối tượng phạm tội cũng bị bắt giữ hoặc bị phát hiện. Tội phạm tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma túy là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, có khung hình phạt cao
nhất: tử hình. Do đó, phần lớn các bị can sau khi khởi tố bị áp dụng biện pháp tạm giam
để ngăn chặn nghiêm khắc.

- Công tác bắt đối tượng: Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập thông qua điều tra vụ
án, Cơ quan Cảnh sát điều tra quyết định bắt các đối tượng có liên quan đến vụ án. Tùy
thuộc yêu cầu điều tra vụ án và đặc điểm tính chất hành vi phạm tội của đối tượng mà cơ
quan điều tra quyết định thực hiện việc bắt quả tang hoặc bắt đối tượng trong trường hợp
khẩn cấp hay khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam. Như đã đề cập ở phần trên,
đặc điểm đặc thù của tội phạm ma túy cũng như tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy thì phần lớn các đối tượng phạm tội bị bắt trong trường hợp phạm
tội quả tang và được tiến hành theo kế hoạch chi tiết.

Từ năm 2002 đến tháng 6/2006, LLCSĐTTP về ma túy Công an Điện Biên đã
khởi tố 1350 bị can về tội phạm ma túy (người dân tộc ít người). Trong đó: bắt quả tang:
985 trường hợp (chiếm 73%); Bắt khẩn cấp:149 trường hợp (chiếm 11%); Bắt bị can để
tạm giam: 216 trường hợp (chiếm 16%).

Thực tiễn cho thấy, đây là hoạt động hết sức khó khăn, phức tạp. Trước hết do
địa bàn sinh sống của đối tượng chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa giao thông không thuận tiện
- đến nay chủ yếu vẫn đi bộ. Bên cạnh đó có nhiều yếu tố khác cũng ảnh hưởng không
nhỏ đến công tác bắt giữ như phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc ít người. Họ có
phong tục làm nhà tập trung thành từng bản nhưng thường sinh sống ở nhà nương trên
rẫy để thuận tiện lao động sản xuất, chỉ khi nào có những công việc hệ trọng của gia đình
và cộng đồng hoặc hết mùa nương rẫy mới về bản. Vì vậy, nếu không có sự xác minh kỹ
càng mà chỉ hành chính, căn cứ vào nơi đăng ký hộ khẩu thì việc bắt khó đạt kết quả.
Đáng lưu ý, có dân tộc sinh sống tại bản nhưng mùa nương rẫy thì họ đi làm từ khi trời
chưa sáng đến tận nửa đêm mới về nhà, do đó nếu chỉ tiến hành việc bắt vào ban ngày thì
khó thực hiện được và việc bắt sẽ bị lộ. Để khắc phục những khó khăn này các điều tra
viên thường tiến hành bằng cách phối hợp với chính quyền địa phương tiếp cận đối tượng
và giữ chân để khi có đủ điều kiện thuận tiện sẽ thi hành lệnh. Bắt lúc trời tối ở bản vùng
sâu rất nguy hiểm, đối tượng thường tìm mọi cách kích động dân chúng chống lại lực
lượng bắt giữ (vì dân bản đa số có quan hệ họ hàng và làm ăn với nhau) ví dụ: Ngày
08/10/2003, bắt tạm giam bị can Lò Văn Phớ, trú tại bản Dồm – Búng Tra – Thuận Châu
– Sơn La. Khoảng 4 giờ sáng (cùng ngày), cơ sở báo tin Phớ chuẩn bị trốn, tổ công tác
quyết định phối hợp Công an huyện Thuận Châu tổ chức thi hành lệnh bắt đối với Phớ.
Trong khi bắt Phớ, lợi dụng đêm tối gia đình Phớ kích động dân bản ném đá, chặn đường
nhằm giải thoát cho Phớ. Hoặc vụ bắt khẩn cấp Sùng A Tùng tại bản Nà Côm ngày
03/4/2006, vận chuyển 1,5kg thuốc phiện, Tùng hô hoán anh em, dân bản đánh tháo cho
Tùng và cướp thuốc phiện. Nhiều vụ bắt giữ ở xã Na Ư - Điện Biên đối tượng dùng súng,
dùng gạch đá chống lại hoặc dùng chông đánh thủng lốp xe của lực lượng bắt giữ. Một
khó khăn khác thực tế nữa là cách gọi tên của một số dân tộc ít người. Có dân tộc khi phụ
nữ lấy chồng thì đổi họ theo chồng; đàn ông khi có con thì gọi kèm tên con vào tên của
bố; Hoặc quy định tên con trai con gái cụ thể, để phân biệt từng người phải căn cứ vào
tên đệm (dân tộc Dao); hoặc khi có con phải đổi tên đệm (dân tộc Mông)... do đó nhiều
tên tội phạm ma túy lợi dụng đặc điểm này để trốn tránh khi cơ quan điều tra cần xác
định chính xác tên tuổi. Vì tuổi nhân khẩu học người dân tộc ít người ít khai sinh hoặc
nhiều năm sau khi đẻ mới khai sinh, nên nhiều đối tượng khi phạm tội đã khai ít hơn tuổi
14 hoặc khai tuổi vị thành niên để trốn tránh pháp luật như vụ Sùng A Khứ bị bắt quả
tang vận chuyển 2 bánh hêrôin. Khi bị bắt Khứ khai 13 tuổi, tiến hành xác minh tại địa
phương phản ánh em gái Khứ đã lấy chồng và có con hơn 3 tuổi... Đó là một số khó khăn
trong hoạt động điều tra có liên quan đến phong tục tập quán của đồng bào dân tộc ít
người mà cơ quan điều tra thường gặp (chủ yếu khi thi hành lệnh bắt) trong quá trình
điều tra.

Hiện nay số bị can phạm tội về ma túy bị Cơ quan CSĐT công an tỉnh Điện Biên
ra Quyết định (Lệnh) truy nã cũng như các đối tượng truy nã ở các tỉnh thành phố khác
đến lẩn trốn còn nhiều, tính đến tháng 6/2006 có 154 đối tượng. Trong số này nhiều đối
tượng giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu trong nhiều vụ án lớn như Lường Văn Khan sinh
năm 1964 trú tại Búng Lao – Tuần Giáo C16 truy nã; Nguyễn Văn Quang và Nguyễn
Xuân Biên – Cục Hải quan Điện Biên... là những đối tượng có hành vi phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng, cần bắt giữ để điều tra triệt phá các đường dây, ổ nhóm tội phạm ma túy.

- Hoạt động khám xét: Trong thời gian qua, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện
Biên đã tiến hành khám xét 387 vụ bao gồm khám xét khẩn cấp và khám xét có phê
chuẩn của Viện kiểm sát đối với chỗ ở, chỗ làm việc, địa điểm, đồ vật (các trường hợp
bắt đều tiến hành khám xét người, đồ vật theo quy định và đúng pháp luật).

Trong quá trình khám xét đã chú ý phát hiện, thu giữ các chất ma túy, những
công cụ phương tiện phạm tội, đồ vật tài sản do phạm tội mà có hoặc có liên quan đến tội
phạm cần chứng minh làm rõ. Chủ yếu tiến hành khám người, khám chỗ ở, khám chỗ làm
việc, địa điểm để thu giữ vật chứng. Chưa có trường hợp nào thu giữ thư tín, điện tín, bưu
phẩm tại bưu điện. Tất cả các hoạt động khám xét đều tuân thủ pháp luật như Lệnh khám
xét do người có thẩm quyền ra lệnh, các trường hợp cần có phê chuẩn của VKSND đều
được thực hiện đầy đủ trước khi thi hành; các hoạt động đều có sự giám sát của VKSND;
khi tiến hành khám, các quyền và nghĩa vụ của đối tượng luôn được đảm bảo; đối với
khám người không có trường hợp nào do đối tượng khác giới tiến hành; mọi hoạt động
khám xét đều có người chứng kiến theo luật định; các phát hiện, thu giữ vật chứng, đồ
vật, tài liệu có liên quan vụ án đều được thống kê, niêm phong, lập biên bản và bảo quản
đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, chưa có trường hợp nào khiếu nại, tố cáo có vi
phạm trong khi khám xét của lực lượng điều tra.

Hoạt động khám xét của LLCSĐTTP về ma túy trong thời gian qua đã có những
đóng góp mang tính quyết định chứng minh tội phạm trong phần lớn các vụ án tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án, như: khám
xét người, chỗ ở của các đối tượng Lý Giống Minh; Lý A Va; Sình A Páu trong chuyên
án MC9, việc khám phá chuyên án này đã góp phần làm cho tụ điểm ma túy Na Ư lắng
dịu trong thời gian dài, và triệt phá ổ nhóm, đường dây ma túy lớn nhất ở Điện Biên từ
trước đến nay. Hoạt động của các đối tượng trong đường dây liên quan đến 11 tỉnh, thành
phố trong nước. Nguồn ma túy (chủ yếu hêrôin) được chúng mua từ nước ngoài đưa vào
Việt Nam (một số chúng mua nguyên liệu đem về ép thành bánh tại Na Ư). Kết thúc điều
tra vụ án, trong số 31 bị cáo đưa ra xét xử có 6 bị cáo bị tuyên phạt tử hình 11 bị cáo có
mức án tù chung thân... Hoặc như vụ Vừ A Pó – sinh năm 1974 trú tại xã Na Ư, bị bắt
ngày 24/10/2005 (thuộc chuyên án 241N) quá trình khám xét thu giữ 2 bánh hêrôin có
trọng lượng 679,88gam; hoặc vụ Tòng Văn Lẻ – sinh năm 1963 trú tại xã Thanh Yên
(thuộc chuyên án 102L) bắt ngày 10/01/2006, khám xét chỗ ở của Lẻ thu giữ 2 bánh
hêrôin có trọng lượng 656,5gam; Ngày 14/9/2005, khám xét nhà Nguyễn Thị Hồng trú tại
tổ 11, phường Phan Đình Phùng – Thành phố Thái Nguyên bắt Lò Thị Nhung (đối tượng
truy nã), thu giữ 630.000.000,0đ và nhiều tài liệu liên quan đến hoạt động mua bán ma
túy của Lường Thị Trưởng.

- Hoạt động giám định:

Thực tiễn điều tra tội phạm ma túy hiện nay cho thấy: để khởi tố vụ án, khởi tố bị
can về tội phạm ma túy thì quá trình phát hiện, bắt giữ tội phạm phải thu giữ được chất
ma túy. Để phục vụ công tác điều tra xử lý tội phạm ma túy, từ năm 2002 đến tháng
6/2006, Tổ chức giám định Kỹ thuật hình sự tỉnh Điện Biên (nay là phòng Kỹ thuật hình
sự Công an tỉnh Điện Biên) đã giám định 1748 vụ.

Hiện nay các hoạt động giám định chất ma túy (của Công an Điện Biên) cơ bản
do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên tiến hành. Để kết quả giám định đảm
bảo giá trị chứng minh tội phạm và làm rõ các yêu cầu khác của vụ án, ngay từ đầu các
cơ quan CSĐT thuộc Công an tỉnh Điện Biên chú trọng thực hiện đầy đủ những quy định
của pháp luật từ lấy mẫu, đóng gói, niêm phong để gửi yêu cầu giám định. Từ yêu cầu
phải có chất ma túy mới có thể xử lý tội phạm ma túy, LLCSĐTTP về ma túy đã chú
trọng công tác giám định chất ma túy phục vụ điều tra, xử lý vụ án. Điển hình như vụ Lò
Văn Lả, tàng trữ 0,7kg thuốc phiện khi bị thu giữ Lả không công nhận ma túy mà trình
bày đó là thuốc bằng nhựa cây Lả lấy về chữa bệnh, Lả kêu oan, chống đối việc bắt giữ.
Lực lượng bắt tiến hành dùng chất thử nhanh và cho kết quả đó là chất ma túy. Ngay sau
khi bắt Lả, đã yêu cầu giám định kết quả giám định khẳng định mầu vật gửi giám định có
chứa thành phần thuốc phiện. Kết quả giám định đã chứng minh hành vi tàng trữ trái
phép chất ma túy của Lả. Trong vụ án Bế Thị Nga giấu 1 bánh hêrôin trong làn nhựa vận
chuyển bằng xe khách, khi bị phát hiện Nga không nhận. Kiểm tra làn nhựa phát hiện
ngoài bánh hêrôin còn có một số đồ dùng khác, trong đó đáng chú ý chai rượu ngâm
thuốc nam. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nga phát hiện và thu giữ 1 can rượu 10 lít có
màu sắc giống chai rượu thu trong làn nhựa có chất ma túy. Kết quả giám định kết luận
thành phần rượu thu trong làn nhựa đồng nhất với rượu thu tại nhà Nga. Từ kết quả giám
định cơ quan điều tra đấu tranh buộc Nga phải thừa nhận hành vi vận chuyển trái phép
chất ma túy. Ngoài giám định chất ma túy, PC21 còn tiến hành giám định nhiều tài liệu
khác phục vụ công tác điều tra tội phạm ma túy, như giám định chữ viết xác định số điện
thoại ghi trên mảnh giấy thu của Đinh Xuân Năm là do Ngô Thị Thúy ghi để liên lạc khi
mua bán ma túy. Giám định các tài liệu phục vụ công tác hỏi cung vụ Hoàng Văn Đằng,
hoặc vụ Lý A Va... Tuy nhiên vẫn còn một số vụ án khi ra Quyết định trưng cầu giám
định, Cơ quan điều tra vẫn còn có thiếu sót như đưa ra yêu cầu giám định không rõ ràng,
niêm phong không đúng quy định... hoặc một số thông tin mà cơ quan giám định cần
được biết nhưng chưa được cung cấp kịp thời.

Cũng như nhiều địa phương khác, công tác giám định của phòng Kỹ thuật hình
sự Điện Biên hiện nay mới chỉ thực hiện việc giám định về định tính đối với thuốc phiện
và hêrôin nhưng chưa xác định được hàm lượng chất ma túy có trong mẫu giám định. Để
xác định hàm lượng chất ma túy hoặc các chất ma túy khác khi cần giám định thì phải
trưng cầu Viện Khoa học hình sự giám định. Đó là những khó khăn làm cho công tác
trưng cầu giám định các chất ma túy vất vả, tốn kém và không đáp ứng được yêu cầu
nhanh chóng, kịp thời cho công tác điều tra giải quyết án.

- Hoạt động hỏi cung bị can và lấy lời khai người làm chứng, người bị hại và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Quá trình hỏi cung các bị can người dân tộc ít người phạm tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy thường diễn ra nhiều tình huống khác nhau, phần
lớn các bị can thành khẩn khai báo (do nhiều lý do khác nhau, nhưng chủ yếu muốn nhẹ
tội), số ngoan cố là những bị can phạm tội nhiều lần, có tiền án về phạm tội ma túy hoặc
có chút ít kiến thức pháp luật... Cũng có tình huống bị can thành khẩn khai vấn đề này
nhưng lại che giấu vấn đề khác, hoặc rất muốn khai nhưng không thể nào diễn đạt được
do khả năng tri giác và hạn chế về tiếng phổ thông... Do đó để công tác hỏi cung đạt được
hiệu quả cao, điều tra viên đã linh hoạt trong lựa chọn các phương pháp và chiến thuật
hỏi cung. Kết quả cho thấy, trước khi tiến hành hỏi cung, điều tra viên đặt ra các câu hỏi
yêu cầu bị can trả lời, nếu bị can thành khẩn khai báo sau khi hỏi xong thì yêu cầu bị can
viết bản tự khai sau đó điều tra viên mới lập biên bản hỏi cung; trường hợp bị can không
biết chữ thì mời người chứng kiến khi hỏi. áp dụng thủ thuật này có tác dụng chống bị
can phản cung trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.

Khi hỏi cung, điều tra viên đã chú ý thu thập và xác minh đánh giá các nguồn tin
do bị can cung cấp. Chỉ những lời khai (tin tức) nào phù hợp với các chứng cứ trong vụ
án mới có giá trị chứng minh tội phạm.

Để đấu tranh với bị can trong quá trình hỏi cung, trong những năm qua cơ qua
điều tra đã tích cực xây dựng và sử dụng đặc tình trại giam để kiểm tra thái độ và thu thập
các thông tin về bị can trong quá trình giam giữ, nhất là trong giai đoạn hỏi cung để nắm
bắt các tài liệu và diễn biến tâm lý bị can phục vụ công tác điều tra có hiệu quả.

Hiệu quả từ công tác hỏi cung trong những năm qua đã được chứng minh. Từ
công tác hỏi cung cơ quan điều tra tích cực mở rộng điều tra nhiều vụ án, triệt phá được
nhiều ổ nhóm, đường dây tội phạm ma túy, như giải quyết tụ điểm ma túy ở xã Na Ư vào
năm 2002; phá đường nhiều đường dây ma túy từ Điện Biên đi Cao Bằng như đường dây
của Bế Văn Truyền trú tại Thanh Luông - Điện Biên, đường dây của Lăng Văn Tôn trú
tại Trùng Khánh – Cao Bằng và gần đây nhất là đường dây do Lường Thị Trưởng trú tại
Thanh Xương vận chuyển đi Hà Nội, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng tiêu thụ, khởi tố
bắt giam 18 bị can, chứng minh chúng tiêu thụ 35,5 bánh hêrôin trong đó thu giữ 14
bánh.

Đa số bị can người dân tộc ít người không nói, đọc, viết được bằng tiếng phổ
thông, trong khi đó điều tra viên người dân tộc ít người chưa đáp ứng được cả về số
lượng và chất lượng. Số điều tra viên hỏi cung bằng tiếng dân tộc ít người rất ít, những
người được sử dụng làm phiên dịch dịch không đạt yêu cầu do trình độ hạn chế (về nhiều
mặt), không mô tả được diễn biến hoạt động phạm tội của bị can. Phần lớn không hiểu
biết pháp luật, họ cho rằng mua bán ma túy cũng là làm ăn kinh tế, nên không thể giải
thích để họ nhận thức được hành vi của họ bị pháp luật cấm, không làm cho họ nhận thức
được các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ... để kích thích họ khai báo. Từ những khó khăn
đó dẫn đến tình trạng có trường hợp điều tra viên hỏi cung chỉ nhằm hoàn chỉnh hồ sơ mà
không chú trọng để mở rộng vụ án. Hiện nay tỉnh Điện Biên chưa có đoàn luật sư hoạt
động. Vì vậy, không ít trường hợp bị can đòi hỏi phải có luật sư bào chữa nhưng chưa
được đáp ứng. Đó là một số khó khăn mà điều tra viên thường gặp khi hỏi cung bị can là
người dân tộc ít người.

- Hoạt động đối chất: Từ năm 2002 đến tháng 6/2006, các Cơ quan CSĐT Công
an Điện Biên đã tiến hành 466 cuộc đối chất. Kết quả các cuộc đối chất phần lớn góp
phần quan trọng trong quá trình thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm. Nhiều bị can
không tin đối tượng cùng phạm tội đã bị bắt, nên khi đối chất lại khai nhận ngay. Tuy
nhiên, cũng như hoạt động hỏi cung, khó khăn lớn nhất của đối chất là phải sử dụng
người phiên dịch, không ít trường hợp phải sử dụng 2 người phiên dịch dịch 2 ngôn ngữ
của 2 dân tộc khác nhau.

Trước khi tiến hành đối chất, điều tra viên đã làm tốt khâu chuẩn bị nên các cuộc
đối chất phần lớn đạt được yêu cầu, góp phần nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, như vụ án
Giàng Khua Lầu, sinh năm 1964 – trú tại Pu Nhi - Điện Biên Đông, bị bắt tháng 02/2003.
Quá trình điều tra Lường Văn Thưởng – trú tại Pú Pẩu – Sông Mã - Sơn La, không nhận
mua bán 1,7 kg thuốc phiện với Giàng Khua Lầu, khi đưa ra đối chất Thưởng đã công
nhận hành vi phạm tội của bản thân. Khi xét xử tòa hỏi tại sao sau khi bị bắt không nhận
tội, Thưởng khai vì Thưởng nghĩ Lầu chưa bị bắt, hoặc Lầu không khai ra Thưởng; hoặc
hoạt động đối chất trong vụ án Lý A Va giết người, mua bán trái phép chất ma túy, đã
góp phần làm rõ hành vi phạm tội của nhiều đối tượng trong vụ án.

Tuy nhiên, cũng có trường hợp đối chất không thu được kết quả mà các bị can lợi
dụng để thông cung, như trường hợp Nguyễn Văn Lạc đối chất với bị can Nguyễn Thị
Vân trong vụ Lường Thị Trưởng. Trong khi đối chất đặt câu hỏi không rõ nội dung làm
cho bị can trước đó khai nhận, thì nay phản cung và cho rằng lời khai trước không căn cứ
vào sự việc có thật. Thất bại đó là do điều tra viên không làm tốt công tác chuẩn bị,
không có kế hoạch chi tiết.

- Hoạt động nhận dạng:

Từ năm 2002 đến tháng 6/2006, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên đã tiến
hành 269 cuộc nhận dạng người (vừa trực tiếp, vừa qua ảnh), 168 cuộc nhận dạng đồ vật.
Thực tiễn cho thấy đây là một trong những hoạt động được điều tra viên tiến hành có hiệu
quả trong điều tra án. Nhiều đối tượng khi bị bắt một mực kêu oan và khai không hề quen
biết ai như điều tra viên hỏi, nhưng khi đưa ra nhận dạng có đối tượng không chờ khi kết
thúc cuộc nhận dạng mà thừa nhận ngay hành vi phạm tội, như bị can Nguyễn Văn Phúc,
trú tại Đông Phương – Thái Bình (thuộc vụ án Tô Văn ổn) khi bị bắt không nhận tội,
nhưng khi đưa các đối tượng ra nhận dạng thì Phúc nhận ngay Phúc có tội. Trong vụ án
Lường Thị Trưởng, kết quả nhận dạng ảnh kết luận Nguyễn Văn Mạnh ở Chợ Mới – Bắc
Kạn, và Trần Trọng San ở Kháng Nhật – Sơn Dương - Tuyên Quang là các đối tượng
mua hêrôin của Trưởng và Dung, kết hợp các chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã khởi tố
bị can, bắt tạm giam Mạnh và San. Hoạt động nhận dạng đồ vật thường được tiến hành là
nhận dạng chất ma túy. Do đặc điểm địa hình rừng núi, đi lại chủ yếu đi bộ nên nhiều đối
tượng sau khi mua được ma túy thì bỏ chung vào ba lô hoặc túi và chia nhau khoác, khi
bị bắt giữ nhiều khi do sơ suất không làm rõ ngay từ đầu mà niêm phong chung. Vì vậy,
để xác định số lượng, chủng loại và của ai thì phải tiến hành nhận dạng. Đây là hoạt động
nhận dạng đồ vật thường gặp trong điều tra tội phạm ma túy tại Điện Biên.

- Kết quả công tác xây dựng, hoàn thiện hồ sơ vụ án:

Từ năm 2002 đến tháng 6/2006, hồ sơ các vụ án về tội phạm ma túy đều đảm
bảo các thủ tục, trình tự do BLTTHS quy định. Vì vậy, hồ sơ khi chuyển Viện kiểm sát
đề nghị truy tố cơ bản tốt, chưa xảy ra tình trạng oan. Đối với các vụ án phức tạp trong
công tác đánh giá chứng cứ, Cơ quan điều tra cùng Viện kiểm sát và Tòa án tiến hành
họp liên ngành để cùng đánh giá, đưa ra kết luận đủ hay chưa đủ chứng cứ để tránh tình
trạng kết luận theo chủ quan. Không có hồ sơ nào bị trả để điều tra bổ sung hay điều tra
lại do thiếu chứng cứ khi kết luận vụ án. Tuy nhiên, trong công tác điều tra và kết thúc hồ
sơ đề nghị truy tố vẫn còn những tồn tại nhất định, như: nhiều trường hợp đủ điều kiện
bắt quả tang lại bắt khẩn cấp, hoặc bắt để tạm giam lại bắt khẩn cấp; hoặc sắp xếp hồ sơ
chưa khoa học; một số tài liệu mang tính hành chính điều tra viên làm chưa tốt, như việc
lập biên bản tống đạt các quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng cho bị can; chưa
thực hiện đầy đủ việc cho bị can ký nhận vào các thủ tục tố tụng như Quyết định tạm giữ,
hoặc Lệnh tạm giam... một số trường hợp phải trả lại để hoàn chính các thủ tục như danh
chỉ bản của bị can; hoặc một số thông tin liên quan nhân khẩu học của bị can. Cá biệt có
trường hợp khi xét xử tòa án không tuyên bị cáo vô tội nh ưng lại thay đổi tội danh tuyên
bị cáo phạm tội khác như Che giấu hoặc Không tố giác tội phạm, hoặc tổ chức sử dụng
trái phép chất ma túy, như vụ Lường Thị Trưởng, hoặc vụ Tòng Văn Lợi.

2.2.2.4. Mối quan hệ giữa LLCSĐTTP về ma túy với các lực lượng khác trong
công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do ng ười
dân tộc ít người gây án tại Điện Biên.

- Mối quan hệ phối hợp giữa LLCSĐTTP về ma túy với Hải quan và Bộ đội biên
phòng. Mối quan hệ này được dựa trên những quy định cụ thể của pháp luật về quyền hạn
và trách nhiệm của từng lực lượng. Theo Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Pháp lệnh
Hải quan, Pháp lệnh về Bộ đội biên phòng thì các lực lượng, Hải quan, Bộ đội biên
phòng đều có quyền điều tra, xử lý các hành vi phạm tội được quy định tại Chương
XVIII (Các tội phạm ma túy) BLHS.

Điểm b Khoản 1 Điều 111 BLTTHS quy định, các cơ quan Hải quan, Bộ đội
biên phòng khi phát hiện tội phạm ma túy có tính chất nghiêm trọng, rất nghiêm trọng,
đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết định
khởi tố vụ án và tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho cơ quan
điều tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định. Để nâng cao
trách nhiệm quan hệ phối hợp giữa các lực lượng này, ngày 09/10/2002 Thủ tướng Chính
phủ đã ký Quyết định số 133/2002/QĐ-TTg ban hành quy chế phối hợp giữa các lực
lượng Công an, Bộ đội biên phòng, Hải quan và Cảnh sát biển trong đấu tranh phòng,
chống các tội phạm ma túy tại địa bàn biên giới, cửa khẩu, trên biển. Từ năm 2002 đến
tháng 6/2006, mối quan hệ phối hợp giữa LLCSND Công an tỉnh Điện Biên với lực
lượng Hải quan, Bộ đội biên phòng trong điều tra xử lý các vụ án ma túy do người dân
tộc ít người gây án không ngừng được tăng cường nhất là từ khi các lực lượng Hải quan
và Bộ đội biên phòng thành lập lực lượng phòng, chống ma túy chuyên trách theo Quyết
định số 1078/QĐ-TTg ngày 11/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ. Sự phối hợp đó được
thể hiện:

Địa bàn sinh sống và hoạt động của các đối tượng người dân tộc ít người phạm
tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy cơ bản nằm trên địa bàn do Hải
quan và Bộ đội biên phòng quản lý. Vì vậy, trong đấu tranh chuyên án đối tượng là người
dân tộc ít người, lực lượng CSĐTTP về ma túy đã chủ động phối hợp bằng hình thức trao
đổi những nội dung kế hoạch mà Hải quan và Bộ đội biên phòng có nhiều thuận lợi trong
điều tra xác minh những yêu cầu cần thiết về đối tượng. Thực tế Hải quan và Biên phòng
trong nhiều chuyên án sau khi được thông báo và yêu cầu phối hợp điều tra đã chủ động
thực hiện tốt các yêu cầu phối hợp, cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến đối
tượng như lý lịch cá nhân; quy luật sinh hoạt; tác phong lối sống của đối tượng... và trực
tiếp tham gia trao đổi và bổ sung thống nhất kế hoạch đấu tranh chuyên án, tham gia lực
lượng điều tra, bắt giữ đối tượng theo đề nghị của lực lượng CSND. Mối quan hệ này
ngày càng được tăng cường và củng cố nhất là trong các khâu truy bắt đối tượng phạm tội
bỏ trốn, đối tượng truy nã giữa LLCSND với Bộ đội biên phòng; phối hợp kiểm tra hành
chính hàng hóa xuất nhập khẩu, để phát hiện các đối tượng cất giấu ma túy giữa
LLCSND với Hải quan. Trong chiều quan hệ ngược lại, khi Hải quan và Bộ đội biên
phòng có yêu cầu LLCSND cung cấp thông tin về đối tượng hoặc ổ nhóm, đường dây tội
phạm ma túy ở trong nội địa, thì LLCSND nhất là LLCSĐTTP về ma túy luôn kịp thời
trao đổi, phối hợp điều tra xác minh để các đơn vị yêu cầu sớm có thông tin phục vụ cho
công tác phòng, chống tội phạm ma túy ở khu vực biên giới, khu vực đồng bào dân tộc ít
người sinh sống.

Sau khi phát hiện và bắt giữ tội phạm ma túy, căn cứ quy định của pháp luật về
chức năng, thẩm quyền của mình, Hải quan và Bộ đội biên phòng tiến hành khởi tố vụ án
hình sự, tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu và đã khẩn trương chuyển vụ án đến Cơ
quan CSĐT (từ 01/10/2004 đến nay Bộ đội biên phòng chuyển đến 17 vụ – 25 đối tượng,
nhiều vụ có nhiều về đối tượng và lớn về ma túy như vụ Vừ A Xá Pó, Ly A Lay và Vừ A
Sợ, thu 1820 gam hêrôin và 110 viên ma túy tổng hợp... Hải quan chuyển 6 vụ 9 đối
tượng) để phối hợp điều tra (trừ đối tượng vi phạm là quân nhân). Thực tế hiện nay Hải
quan và Bộ đội biên phòng đã có lực lượng phòng, chống ma túy chuyên trách. Tuy
nhiên, do mới thành lập nên nhiều hoạt động nghiệp vụ, nhiều trang thiết bị, phương tiện
cần thiết chưa được trang bị đầy đủ nên trong thời gian qua khi có vụ án xẩy ra các đơn vị
này luôn chủ động phối hợp với LLCS ĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên, để cùng
giải quyết vụ án như phối hợp phát hiện bắt giữ, thu giữ niêm phong vật chứng, lập biên
bản, tạm giữ đối tượng... nhờ đó các vụ án khi chuyển đến cơ quan CSĐT, cơ bản hoàn
chỉnh các bước điều tra ban đầu. Nhờ có sự phối hợp giữa các lực lượng nói trên mà
nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng, nhiều đối tượng phạm tội đặc biệt nguy hiểm đã được
phát hiện bắt giữ như vụ bắt Và A Mua – sinh năm 1974, trú tại xã Na Ư bị Bộ đội biên
phòng bắt ngày 25/5/2005 thu giữ 2 bánh hêrôin, 1 khẩu súng AK 44 viên đạn và 1 khẩu
súng K59 có 6 viên đạn...

Tuy nhiên trong mối quan hệ phối hợp này vẫn còn một số hạn chế như sự phối
hợp chưa thường xuyên, việc đi lại của lực lượng trinh sát trong khu vực biên phòng quản
lý còn nhiều vướng mắc; tuy đã phối hợp phá nhiều vụ án lớn song lại chưa tổ chức tổng
kết, trao đổi rút kinh nghiệm để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác phòng, chống tội
phạm ma túy.

- Mối quan hệ phối hợp với các lực lượng khác trong ngành Công an: Trong
những năm qua cho thấy sự phối hợp giữa LLCSĐTTP về ma túy với các lực lượng khác
trong Công an tỉnh Điện Biên luôn được coi trọng. Điện Biên được xác định là địa bàn
nóng bỏng về ma túy, vì vậy trong hoạt động nghiệp vụ của mình các lực lượng luôn chủ
động phát hiện tội phạm ma túy, nhất là LLCSGT. Thông qua hoạt động nghiệp vụ, kết
hợp với việc xây dựng các cơ sở bí mật, từ năm 2002 đến tháng 6/2006 LLCSGT Công
an tỉnh Điện Biên đã phát hiện 62 vụ vận chuyển ma túy, nhiều vụ có số lượng ma túy
lớn như các vụ Nguyễn Hữu Chung vận chuyển 14 bánh hêrôin bắt tại đèo Tằng Quái –
Tuần Giáo; Và Chù Tú vận chuyển 2 bánh hêroin tại đèo Pha Đin; Nguyễn Văn Tiến –
Lò Văn Toản thu 6 bánh hêrôin tại bến xe Tuần Giáo; Lò Văn Saư thu 5 kg thuốc phiện
tại thành phố Điện Biên Phủ... nhất là sự phối hợp khi có yêu cầu của LLCSĐTTP về ma
túy trong giai đoạn phá án, như chốt chặn kiểm tra an toàn phương tiện giao thông nhằm
tạo cớ để lực lượng trinh sát tiến hành các hoạt động nghiệp vụ; tham gia truy bắt các đối
tượng phạm tội bỏ chạy... Đối với các lực lượng khác như CSQLHC – CS khu vực đã
tích cực phối hợp trong công tác để phát hiện các đối tượng phạm tội, các đối tượng lẩn
trốn; Hoạt động giám định chất ma túy của kỹ thuật hình sự là hoạt động không thể thiếu
được trong kết luận có hay không có chất ma túy, kết luận đó trong nhiều trường hợp giữ
vai trò quyết định chứng minh tội phạm. Lực lượng Cảnh sát bảo vệ, cảnh sát cơ động
cũng thường xuyên phối hợp trong đấu tranh chống tội phạm ma túy như tuần tra kiểm
soát, bảo vệ các mục tiêu phát hiện di biến động của đối tượng nghi vấn. Đặc biệt là sự
tích cực tham gia trong đợt tấn công vào tụ điểm ma túy xã Na Ư - Điện Biên cùng với
LLCSĐT phá chuyên án MC9, bắt giữ nhiều đối tượng chính trong vụ án giết đồng chí
Phạm Văn Cường – trinh sát PC17; hoặc vụ giải vây cho các trinh sát bị dân bản Nà Côm
– Núa Ngam bắt giữ ngày 03/4/2006. Trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của
mình các lực lượng PC14; PC15 khi có các tin tức về hoạt động của tội phạm ma túy đã
kịp thời trao đổi để PC17 xác minh và lập án đấu tranh. Đối với PC14 thường xuyên, tích
cực phối hợp trong truy bắt, vận động các đối tượng truy nã đầu thú.

Để có các thông tin về đối tượng, PC17 trong đấu tranh các chuyên án đã phối
hợp với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ để tiến hành 680 lượt như: nghe nhìn; nghe thoại;
kiểm tra tài liệu; kiểm tra bí mật địa điểm của các đối tượng phạm tội ma túy và nghi
phạm tội ma túy; sử dụng CT3 trong các buồng giam... và kiểm tra ngược để phát hiện sơ
hở của mình. Nhiều tài liệu do lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ 2 cung cấp có giá trị cao
trong xác lập và đấu tranh chuyên án, nhất là các tài liệu thu thập khi đối tượng bị giam
giữ, phục vụ cho hoạt động hỏi cung rất có hiệu quả, như vụ phát hiện bị can Nguyễn Thị
Vân gửi thư cho người thân nhờ hối lộ (chạy án), thu tại điểm bưu điện văn hóa xã Thanh
Xương.

- Mối quan hệ hợp tác của LLCSĐTTP về ma túy Công an Điện Biên với Công
an các tỉnh của Lào và Trung Quốc có chung đường biên giới.

+ Quan hệ với các tỉnh của Lào: Điện Biên có biên giới chung với các tỉnh
Phong Sa Lỳ và Luông Pha Băng. Căn cứ Hiệp định hợp tác trong công tác giữ gìn
ANTT đã được Bộ Công an Việt Nam và Bộ An ninh Lào ký ngày 05/8/2001, Công an
tỉnh Điện Biên và Công an 2 tỉnh (Phong Sa Lỳ, Luông Pha Băng) đều tiến hành hội đàm
thường niên nhằm thực hiện các cam kết ghi trong hiệp định, trong đó có công tác đấu
tranh chống tội phạm ma túy (phiên hội đàm lần thứ 19 diễn ra trong các ngày 09
và10/6/2006, tại Điện Biên Phủ). Trong các cuộc hội đàm 2 bên đều xác định chống tội
phạm ma túy là vấn đề quan trọng nhất trong phối hợp chống các loại tội phạm. Nhờ sự
giúp đỡ của Công an Điện Biên, Công an Phong Sa Lỳ đã phá 33 chuyên án, bắt 43 đối
tượng, thu giữ:123 kg thuốc phiện; 3 kg hêrôin; 38.483 viên ma túy tổng hợp, 11 khẩu
súng... (Biên bản hội đàm thường niên lần thứ 19). Hai bên xác định trên tuyến biên giới
có 4 tụ điểm mua bán ma túy rất phức tạp mà 2 bên cần phải tập trung để đấu tranh...
Cũng trong thời gian trên, bạn Lào cung cấp cho Công an Điện Biên 156 tin có giá trị
phục vụ công tác chống tội phạm ma túy, phối hợp bắt nhiều đối tượng truy nã trốn trên
đất bạn như Cà Thị Xinh và Lò Thị Bính, mua bán 130 gam hêrôin, trốn khỏi nơi giam
bắt ngày 15/8/2003; Vũ Chí Hưng mua bán 10 kg thuốc phiện, trốn khỏi nơi giam bắt
ngày 28/4 2005...

Công an Điện Biên thường xuyên mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ giúp
bạn nâng cao nghiệp vụ đấu tranh chống tội phạm ma túy. Đến nay Công an Điện Biên đã
mở 20 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cho 723 cán bộ của bạn.

Tuy nhiên sự phối hợp vẫn còn có những hạn chế nhất định như: Hợp tác trong
phòng ngừa tội phạm ma túy chưa đạt hiệu quả cao, đó là chưa ngăn chặn đến mức thấp
nhất nguồn ma túy vào Việt Nam; chưa có sự phối hợp cụ thể trong đấu tranh như phối
hợp đấu tranh chuyên án, xây dựng mạng lưới bí mật; chưa tích cực trong truy bắt đối
tượng truy nã; trong bồi dưỡng đào tạo cũng còn hạn chế, đó là hạn chế trong công tác
thiết kế chương trình tài liệu, bài giảng; chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy của Công an
tỉnh trong quá trình mở lớp giúp bạn, trao đổi kinh nghiệm, kiến thức; thời gian học tập,
bồi dưỡng ngắn (tối đa 15 ngày cho một lớp)...

+ Quan hệ với tỉnh Vân Nam – Trung Quốc: Hiện nay Công an hai tỉnh (Điện
Biên và Vân Nam) đã có thỏa thuận phối hợp 7 vấn đề trong đấu tranh chống tội phạm,
nhưng sự phối hợp trong đấu tranh chống tội phạm ma túy chưa đạt hiệu quả cao. Thực
tiễn phản ánh chưa có vụ án ma túy nào do Công an Điện Biên thụ lý liên quan đến đối
tượng người Trung Quốc.

2.2.3. Nhận xét đánh giá về những ưu điểm và những tồn tại hạn chế trong
công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do
người dân tộc ít người gây án, những nguyên nhân của tồn tại và hạn chế

2.2.3.1. Những ưu điểm cơ bản

Từ năm 2002 đến tháng 6/2006, công tác điều tra khám phá tội phạm tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn
tỉnh Điện Biên đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đó là phát hiện và triệt phá nhiều ổ
nhóm, đường dây mua bán trái phép chất ma túy với số lượng lớn (như số liệu thống kê
phản ánh), nhiều đối tượng có dư luận phạm tội ma túy đã được phát hiện xử lý. Tạo
được lòng tin cho quần chúng nhân dân đối với cuộc đấu tranh chống tội phạm nói chung
và tội phạm ma túy nói riêng. Làm cho nhân dân các dân tộc ít người thấy được phải tích
cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy. Phát huy được sức mạnh tổng hợp
của toàn xã hội, nhất là các lực lượng chuyên trách tích cực tham gia phòng, chống ma
túy trên mọi phương diện. Kết quả điều tra, truy tố, xét xử các vụ án đã trừng trị được
những đối tượng ngoan cố, phạm tội nguy hiểm, khoan hồng tạo điều kiện cho các đối
tượng thật thà ăn năn hối cải có điều kiện cải tạo, lập công chuộc tội để sớm tái hòa nhập
cộng đồng, ngăn chặn nguyên nhân nảy sinh một số tội phạm và tệ nạn xã hội khác, góp
phần giữ vững kỷ cương pháp luật, xây dựng nền an ninh chính trị và trật tự an toàn xã
hội vững chắc. Những kết quả trình bày ở các phần trên đã thể hiện rõ những ưu điểm đã
đạt được trong công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma túy, do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên.




2.2.3.2. Những tồn tại, hạn chế:

+ Công tác xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật còn hạn chế, thiếu cả số lượng
và chất lượng, đặc biệt thiếu lực lượng để nắm tình hình, cung cấp thông tin về hoạt động
phạm tội của người dân tộc ít người ở địa bàn phức tạp về ma túy mà ở nơi đó chủ yếu là
người dân tộc ít người sinh sống. Hiện nay chỉ có 3 đặc tình ngoại biên trong mạng lưới
bí mật, hiệu quả công tác đấu tranh với loại tội phạm này hoạt động ở khu vực biên giới
bị hạn chế.

+ Các chuyên án được xác lập từ công tác sưu tra, hiềm nghi còn ít. Tình trạng
chỉ lập chuyên án khi có đủ căn cứ bắt (khẩn cấp) vẫn còn tồn tại. Một số chuyên án do
chỉ đạo thiếu sát sao làm lộ nghiệp vụ, lộ đặc tình, hoặc lộ nội tuyến. Nhiều chuyên án
chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong giai đoạn phá án, làm cho hiệu quả
phá án chưa cao.
+ Trong hoạt động điều tra theo luật tố tụng vẫn còn những hạn chế như tình
trạng bắt, khám xét không đúng quy định vẫn tồn tại (thường lạm dụng vào trường hợp
khẩn cấp); công tác hỏi cung hiệu quả còn thấp; còn có sai sót trong đối chất.

+ Công tác điều tra mở rộng các vụ án còn hạn chế, chủ yếu mới chỉ xử lý được
các đối tượng bị bắt quả tang; các đối tượng chủ mưu, cầm đầu được phát hiện ít làm hạn
chế hoạt động mở rộng điều tra, triệt phá các đường dây, ổ nhóm.

+ Sự phối hợp trong phòng ngừa và điều tra tội phạm ma túy giữa LLCSĐTTP
về ma túy của Công an tỉnh Điện Biên với các tỉnh và thành phố khác chưa thật chặt chẽ,
chưa thường xuyên trao đổi, cung cấp thông tin, chưa có tính tổng thể mà chỉ mới dừng
lại ở mức độ giải quyết các vụ việc đơn lẻ.

+ Các hoạt động điều tra trinh sát và điều tra theo tố tụng hình sự đôi khi còn
thiếu thận trọng, làm lộ nghiệp vụ, hoặc thu thập đánh giá chứng cứ có khi còn mang tính
chủ quan làm ảnh hưởng đến hoạt động chứng minh tội phạm. Thực tế hiện nay đang có
tình trạng chạy việc theo các vụ án khởi tố nên các mặt công tác nghiệp vụ cơ bản chưa
được quan tâm đúng mức.

+ Sự phối hợp giữa các LLCSĐTTP về ma túy với các ngành, các cơ quan trong
và ngoài ngành Công an nhất là các cơ quan như Hải quan, Bộ đội biên phòng trong công
tác phát hiện, điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do
đối tượng người dân tộc ít người gây án chưa được thường xuyên và chặt chẽ, kịp thời

2.2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế thiếu sót:

+ Hiện đang còn nhiều người nghiện ma túy, công tác cai nghiện hiệu quả thấp,
số nghiện mới hàng năm không giảm; do siêu lợi nhuận từ mua bán ma túy cùng với đời
sống kinh mọi mặt của đồng bào dân tộc ít người còn nhiều khó khăn, ý thức pháp luật
kém, bên cạnh đó Điện Biên là địa bàn gần khu vực Tam giác vàng thuận tiện cho ma túy
thẩm lậu vào nước ta... đó là những nguyên nhân làm cho tội phạm ma túy tồn tại và phát
triển.

+ Trong nhiều trường hợp điều tra viên chưa có ý thức điều tra triệt để tội phạm
ma túy, ngại khó, ngại khổ nên bằng lòng với kết quả điều tra ban đầu; không có ý thức
mở rộng điều tra làm rõ ổ nhóm, đường dây tội phạm ma túy; chưa đi sâu làm rõ nguyên
nhân, điều kiện phạm tội của đối tượng. Sự trao đổi thông tin giữa bộ phận điều tra trinh
sát và điều tra theo luật tố tụng hình sự nhiều khi chưa đầy đủ, kịp thời.

+ Số lượng cũng như chất lượng cán bộ phòng chống ma túy chưa đáp ứng yêu
cầu cuộc đấu tranh nhất là cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc ít người. Phần lớn cán bộ trực
tiếp đấu tranh với loại tội phạm này chưa được đào tạo cơ bản hoặc chưa được tập huấn
thường xuyên để có kiến thức nhất định về phòng, chống ma túy, chưa biết tiếng dân tộc
ít người và hạn chế hiểu biết về phong tục tập quán của đồng bào.

+ Tổ chức phong trào bảo vệ ANTQ, đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy
trong vùng đồng bào các dân tộc ít người còn yếu, chưa tổ chức được phương án phòng,
chống ma túy mang tính khả thi. Chưa nắm được di biến động của các đối tượng nghi
hoạt động phạm tội về ma túy. Các đối tượng bị bắt nằm trong diện quản lý (sưu tra, hiềm
nghi) còn ít.

+ Kinh phí, phương tiện kỹ thuật, phương tiện nghiệp vụ phục vụ cho hoạt động
điều tra còn thiếu, lạc hậu chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh chống tội phạm ma túy.
Nhất là phương tiện thông tin, liên lạc, phương tiện giao thông.

+ Sự hỗ trợ của các lực lượng Hải quan và Bộ đội biên phòng trong phát hiện,
điều tra tội phạm ma túy trong vùng biên giới chưa thường xuyên và trách nhiệm. Công
tác phối hợp của các lực lượng khác trong ngành công an còn chưa kịp thời, trao đổi cung
cấp thông tin, chưa thường xuyên coi trọng đến việc hỗ trợ tích cực, đầy đủ.

+ Điện Biên là tỉnh có đường biên giới dài, phần lớn dân số là đồng bào dân tộc ít
người có tập quán sản xuất và sử dụng ma túy, có địa hình rộng lớn, hiểm trở, giao thông
đi lại khó khăn, có vị trí địa lý gần khu vực Tam giác vàng, hoạt động kiểm soát ma túy
của bạn Lào còn nhiều hạn chế... nên gây không ít khó khăn cho công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm ma túy nhất là tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy do người dân tộc ít người gây án.

+ Công tác tuyên truyền, vận động phòng, chống ma túy nói chung và trong đồng
bào dân tộc ít người nói riêng còn có những hạn chế nhất định. Nhiều vùng, sản xuất kinh
tế chưa đảm bảo cuộc sống, hiện tượng du canh, du cư chưa được giải quyết triệt để.
Chưa quan tâm đầy đủ việc phát triển toàn diện trong vùng đồng bào dân tộc ít người,
làm cho đời sống của đồng bào chưa thật đảm bảo ổn định. Do đó chưa làm chuyển biến
mạnh mẽ, toàn diện nhận thức của đồng bào về tác hại của tệ nạn ma túy cũng như vai trò
trách nhiệm trong phòng, chống ma túy. Trong đó công tác tuyên truyền giáo dục pháp
luật cho đồng bào chưa được thường xuyên, chưa có các hình thức tuyên truyền phù hợp
để nâng cao nhận thức cho đồng bào. Từ đó chưa làm nảy sinh ý thức tự giác đấu tranh
chống tội phạm ma túy ở mỗi người dân. Để công tác phòng, chống ma túy có hiệu quả
chúng ta cần phải làm cho mỗi người tự ý thức được tác hại của ma túy, trách nhiệm của
bản thân trong phòng, chống ma túy và phải luôn có ý thức tự giác đấu tranh chống tội
phạm ma túy.



Kết luận chương 2

Nội dung chương 2 làm rõ Điện Biên là một tỉnh có điều kiện tự nhiên và xã hội
thuận lợi cho tội phạm ma túy hoạt động. Thực tiễn điều tra tội phạm ma túy tại Điện
Biên cho thấy: số đối tượng người dân tộc ít người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma túy chiếm tỷ lệ cao và đang có chiều hướng gia tăng.

Trong những năm qua LLCSND Công an tỉnh Điện Biên, nhất là LLCSĐTTP về
ma túy đã điều tra có nhiều kết quả đáng trân trọng, bắt giữ nhiều tội phạm ma túy và
triệt phá nhiều đường dây, ổ nhóm tội phạm, thu giữ số lượng ma túy lớn. Trong quá
trình đấu tranh đã có sự phối hợp với các lực lượng trong và ngoài ngành. Tuy nhiên,
trong công tác điều tra vẫn bộc lộ nhiều sơ hở, thiếu sót cần được khắc phục, như mạng
lưới cơ sở bí mật còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng; lộ nghiệp vụ trong đấu tranh
chuyên án; hoạt động chứng minh tội phạm chưa triệt để; khối lượng công việc lớn
nhưng con người thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng nhất là cán bộ nữ, cán bộ người dân
tộc ít người; phương tiện lạc hậu, kinh phí hạn chế... đó là những vấn đề cần được xem
xét, khắc phục, giải quyết sớm. Có như vậy mới nâng cao được hiệu quả công tác điều tra
tội phạm ma túy nói chung và tội phạm ma túy là người dân tộc ít người nói riêng.
Chương 3

Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma
túy do người dân tộc ít người gây án

tại địa bàn tỉnh điện biên



3.1. Dự báo tình hình tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên trong những
năm tới.

3.1.1. Cơ sở của dự báo

Cùng với cả nước, trong những năm tới kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội tỉnh
Điện Biên sẽ có những bước phát triển mới. Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ XI Đảng
bộ tỉnh Điện Biên xác định: " Tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực, sức chiến đấu của tổ
chức Đảng và đảng viên; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng hoạt động
của chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Tăng cường đoàn kết... xây dựng,
củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh... đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
Chủ động khai thác tiềm năng lợi thế, nội lực, kết hợp với tăng cường mở rộng quan hệ
hợp tác phát triển với bên ngoài, sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, tập trung cho đầu tư
phát triển. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo chuyển biến nhanh, mạnh, vững
chắc, có hiệu quả trong sản xuất nông - lâm nghiệp, thủy sản, dịch vụ – du lịch, công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; tích cực xóa đói
giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Sớm đưa Điện Biên ra
khỏi một tỉnh nghèo;... tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 11-12%/ năm; GDP bình quân
đầu người đạt 450-500 USD/năm... ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng – an ninh, giữ
vững chủ quyền biên giới quốc gia và khối đoàn kết các dân tộc; kiềm chế sự gia tăng và
đẩy lùi tội phạm, tai tệ nạn xã hội...".

Từ lâu, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm phát triển đời sống vật chất, tinh thần
cho nhân dân cả nước nói chung, đồng bào các dân tộc ít người nói riêng. Để nâng cao
đời sống mọi mặt cho nhân dân các dân tộc Điện Biên nói riêng và đồng bào Tây Bắc nói
chung, Đảng và Nhà nước ta đã thành lập Ban chỉ đạo Tây Bắc, và có chiến lược phát
triển kinh tế vùng núi Bắc bộ. Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X chỉ rõ "
Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách
mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và
giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển
kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ
dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp
của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu,
vùng xa, vùng biên giới...Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
trí thức là người dân tộc thiểu số... Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc".

Đó là những thuận lợi cơ bản để tỉnh Điện Biên nói chung và đồng bào các dân
tộc ít người nói riêng, có điều kiện phát triển đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần. Tuy
nhiên, cũng có không ít yếu tố có khả năng gây mất ổn định chính trị và cản trở phát triển
kinh tế, văn hóa - xã hội. Một trong những yếu tố đó là sự gia tăng hoạt động của tội
phạm ma túy, trong đó các đối tượng người dân tộc ít người phạm tội vẫn có xu hướng
gia tăng.

Thực tiễn hoạt động điều tra tội phạm ma túy trong những năm qua cho thấy, tội
phạm ma túy hoạt động ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhiều loại ma túy mới xuất hiện;
người nghiện không giảm, có chiều hướng gia tăng và có nhiều hình thức mới trong sử
dụng ma túy; nhiều thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm được thực hiện ngày càng tinh
vi, xảo quyệt hơn, hậu quả do tội phạm ma túy gây ra cho xã hội ngày càng nghiêm trọng,
không gì có thể so sánh được. Dựa trên cơ sở: điều kiện tự nhiên, đặc điểm dân cư; tình
hình tội phạm ma túy đặc biệt tình hình tệ nghiện ma túy đã và đang diễn ra trên thực tế;
căn cứ vào điều kiện kinh tế – xã hội hiện tại cũng như khả năng phát triển trong tương
lai; căn cứ vào hệ thống pháp luật và hoạt động phòng, chống tội phạm ma túy và khả
năng phát triển của nó; tình hình hoạt động của tội phạm ma túy và hoạt động đấu tranh
chống tội phạm ma túy trong khu vực và trên thế giới. Dựa trên những dự báo về kinh tế
– xã hội những năm tới trên địa bàn tỉnh Điện Biên và diễn biến hoạt động của tội phạm
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, cho phép chúng tôi đưa ra dự báo về
tình hình tội phạm ma túy nói chung (trên diện rộng) và tình hình của tội phạm tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy do người dân tộc ít người gây án trên địa
bàn tỉnh Điện Biên trong thời gian tới như sau:

3.1.2. Nội dung dự báo

- Về nguồn ma túy:

Thuốc phiện và các chất ma túy có nguồn gốc tự nhiên được sản xuất trong nước
sẽ giảm dần và tiến tới được xóa bỏ hoàn toàn. Vì hiện nay chúng ta đang thực hiện có
hiệu quả Nghị quyết 06/CP của Chính phủ về việc thay đổi cơ cấu giống cây trồng ở
những vùng trồng cây thuốc phiện và các cây có chứa chất ma túy. Nhưng lượng ma túy
thâm nhập vào nước ta bằng nhiều con đường khác nhau tiếp tục tăng lên. Trong đó tội
phạm ma túy trên tuyến các tỉnh Tây Bắc tiếp tục diễn biến phức tạp; ma túy từ ngoài vào
chưa ngăn chặn được triệt để. Tổng cục Cảnh sát xác định đây là nguồn ma túy chủ yếu
vào các tỉnh phía Bắc. Vì các tỉnh Tây Bắc nằm gần khu "Tam giác vàng", các loại ma
túy buôn bán, vận chuyển từ Lào vào rất thuận lợi, dễ dàng, sự kiểm soát và đấu tranh
của bạn (Lào) còn rất hạn chế. Mặt khác, trong t ương lai Việt Nam dễ có khả năng trở
thành địa bàn trung chuyển và tiêu thụ của tội phạm ma túy quốc tế. Tội phạm ma túy
tiếp tục lợi dụng các tuyến đường bộ, tuyến biên giới dài, hiểm trở của Việt Nam để đưa
ma túy vào nội địa.

Các chất ma túy mới xuất hiện có xu hướng ngày càng tăng, trong đó các chất ma
túy tổng hợp sẽ dần thay thế các chất ma túy có nguồn gốc tự nhiên trên thị trường bất
hợp pháp. Tội phạm ma túy sẽ chú trọng buôn bán các chất ma túy tổng hợp và các tiền
chất để sản xuất ma túy tổng hợp. Vì hiện nay công tác kiểm soát tiền chất của các lực
lượng chức năng còn nhiều sơ hở và gặp nhiều khó khăn. Do ma túy tổng hợp được sản
xuất tương đối đơn giản, tốn ít thời gian, được các đối tượng nghiện ưa chuộng và có lợi
nhuận cao gấp nhiều lần sản xuất ma túy có nguồn gốc tự nhiên, nên việc sản xuất ma túy
ngay trong nước sẽ có khả năng gia tăng.

- Về phương thức và thủ đoạn hoạt động:
Thủ đoạn hoạt động của tội phạm ma túy ngày càng tinh vi, xảo quyệt ngay từ
thủ đoạn gây án đến các thủ đoạn che giấu tội phạm. Trước hết chúng sẽ triệt để lợi dụng
các thành tựu khoa học để nghiên cứu, sản xuất ra nhiều chất ma túy khác nhau để tăng
chủng loại ma túy. Và lợi dụng các thành tựu khoa học để thực hiện các hành vi trao đổi,
mua bán, vận chuyển, hoặc sử dụng công nghệ cao trong thông tin liên lạc; sử dụng nhiều
hình thức thanh toán mới – chủ yếu thanh toán gián tiếp; đồng thời chúng tăng cường các
hoạt động rửa tiền thông qua các hình thức hoạt động kinh tế như đầu tư sản xuất, kinh
doanh, đầu tư vào thị trường chứng khoán... Tội phạm ma túy sẽ tiếp tục trang bị nhiều
loại phương tiện giao thông tối tân hiện đại đảm bảo cho hoạt động phạm tội đạt mục
đích. Tội phạm ma túy trong nước và quốc tế sẽ câu kết chặt chẽ với nhau hình thành nên
các băng, ổ nhóm, đường dây, tổ chức tội phạm ma túy hoạt động mang tính chất quốc tế.
Chúng không ngừng trang bị và sử dụng các loại vũ khí hiện đại để phạm tội trót lọt và
trốn tránh pháp luật, chống lại các lực lượng chức năng khi bị phát hiện. Mặt khác chúng
tìm cách móc nối, cũng như tìm cách làm thoái hóa một bộ phận cán bộ trong các cơ
quan chức năng phòng, chống ma túy và cơ quan bảo vệ pháp luật để chúng lợi dụng.

- Về tuyến và địa bàn: Tỉnh Điện Biên vẫn là một trong những địa bàn nóng bỏng
về ma túy của cả nước; là một trong những địa bàn chính của khu vực Tây Bắc về ma
túy. Từ đây sẽ hình thành các tuyến:

+ Điện Biên đi Sơn La – Hà Nội và các tỉnh thành khác.

+ Điện Biên đi Lai Châu – Lào Cai.

Mặt khác Điện Biên cũng là một tụ điểm tiêu thụ ma túy lớn. Vì số người nghiện
hiện nay còn nhiều, bên cạnh đó tình trạng tái nghiện và nghiện mới vẫn diễn biến phức
tạp. Đặc biệt địa bàn đồng bào các dân tộc ít người sinh sống hoạt động của tội phạm ma
túy tiếp tục phức tạp hơn. Như vậy Điện Biên vẫn là địa bàn chính chính mà ma túy tìm
cách xâm nhập để đi vào nội địa và cũng là điểm tiêu thụ cần tập trung đấu tranh.

- Về đối tượng: Các đối tượng chuyên nghiệp vẫn giữ vai trò chỉ đạo chính trong
các đường dây, ổ nhóm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Chúng vẫn
chú trọng lợi dụng khó khăn kinh tế và sự hạn chế trong nhận thức pháp luật của một bộ
phận nhân dân để thực hiện tội phạm. Trong đó, đáng chú ý là đồng bào dân tộc ít người
sống ở khu vực biên giới, đồng bào có họ hàng sinh sống ở các nước sản xuất ma túy, để
biến họ thành công cụ vận chuyển, cất giấu thuê ma túy cho chúng.

Hoạt động của tội pham ma túy ngày càng manh động hơn, hoạt động ngày càng
có tính tổ chức cao và liên kết hình thành các tổ chức tội phạm quốc tế. Đồng thời tội
phạm ma túy trong một khía cạnh nhất định chúng sẽ có những mối quan hệ với tội phạm
hình sự và tội phạm ma túy như buôn bán vũ khí, hoạt động mại dâm, buôn lậu, rửa tiền,
tham nhũng...

Đối với Điện Biên, đáng chú ý các đối tượng người dân tộc ít người tiếp tục lợi
dụng những điều kiện sẵn có như địa bàn địa hình hiểm trở; các mối quan hệ với các đối
tượng buôn bán ma túy ở nước ngoài; sự thông thạo địa hình... nên chúng tiếp tục hoạt
động phức tạp.

- Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động điều tra:

Hoạt động điều tra tội phạm ma túy nói chung và tội phạm tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên
trong những năm tới sẽ có những thuận lợi nhất định, đó là ngày càng có nhiều văn bản
quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho công tác phát hiện, điều tra xử lý
tội phạm ma túy. Sự phối kết hợp giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhất là của
các lực lượng chuyên trách phòng, chống ma túy sẽ được tăng cường, củng cố ngày càng
có hiệu quả cao hơn. Hoạt động điều tra trinh sát và điều tra theo tố tụng hình sự ngày
càng được nâng cao về chất, tạo ra thế chủ động trong phát hiện và xử lý tội phạm ma
túy.

Là một địa bàn trọng điểm của tuyến Tây Bắc trong phòng, chống ma túy. tỉnh
Điện Biên sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm đầu tư, sự chỉ đạo, phối hợp của các cấp các
ngành Trung ương trong phòng, chống ma túy. Với sự quan tâm giúp đỡ đó chắc chắn
hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy của
LLCSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên sẽ tiếp tục giành được nhiều thắng lợi
mới.

Tuy nhiên hoạt động điều tra của LLCSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên
cũng có những khó khăn nhất định, đó là:
+ Hoạt động của tội phạm ma túy trên địa bàn cũng như các địa bàn tiếp giáp, địa
bàn lân cận sẽ diễn ra rất phức tạp điều đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến công tác phát
hiện và điều tra xử lý.

+ Do địa hình hiểm trở, phức tạp, có đường biên giới dài, có vị trí địa lý nằm gần
khu "Tam giác vàng"... là những yếu tố gây khó khăn cho hoạt động của các lực lượng
phòng, chống ma túy.

+ Đời sống kinh tế và điều kiện văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc ít người
còn nhiều khó khăn, nên việc tuyên truyền, vận động phòng, chống ma túy ở một số vùng
sẽ còn nhiều trở ngại.

+ Lực lượng chuyên trách phòng, chống ma túy chưa đủ mạnh về mọi mặt; trang
thiết bị, phương tiện và kinh phí cho hoạt động phòng, chống ma túy nếu chưa được quan
tâm đầy đủ cũng là những cản trở đối việc nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống ma
túy.

+ Vấn đề khó khăn trong điều tra trinh sát là các hoạt động trinh sát, trong đó có
công tác đặc tình chưa có luật quy định, vì vậy tài liệu thu thập từ công tác đặc tình chỉ có
giá trị trong ngành Công an, để sử dụng các tài liệu này để chứng minh tội phạm phải
chuyển hóa chứng cứ bằng các biện pháp công khai theo quy định của pháp luật nên gây
không ít phiền hà, khó khăn và tốn kém cho LLCSĐTTP về ma túy. Năm 2000, Luật
Phòng, chống ma túy được ban hành, tại Điều 13 Luật này quy định: " Cơ quan chuyên
trách phòng, chống tội phạm về ma túy thuộc Công an nhân dân được tiến hành áp dụng
các biện pháp nghiệp vụ trinh sát cần thiết để phát hiện tội phạm về ma túy"; Nghị định
số 99/2002/NĐ-CP ngày 27/01/2002 của Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục, thẩm
quyền và trách nhiệm của cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm ma túy, đó là
những cơ sở pháp lý cho hoạt động phát hiện tội phạm ma túy của các lực lượng Cảnh
sát. Tuy nhiên, so với yêu cầu thực tiễn của cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy thì
những quy định này được ban hành chậm, các quy định chưa được rõ ràng, cụ thể. Do đó,
nhà nước cần có những quy định mang tính luật hóa để làm cơ sở pháp lý cho các hoạt
động nghiệp vụ của lực lượng Công an nhất là các hoạt động nghiệp vụ cơ bản.
Một khó khăn khác trong công tác đấu tranh chống tội phạm nói chung và công
tác đặc tình, cơ sở bí mật là kinh phí phục vụ cho các hoạt động đấu tranh phòng, chống
tội phạm ma túy. Đối với công tác đặc tình, khi cộng tác với cơ quan Công an thì đặc tình
và cơ sở bí mật thường phải bỏ công việc, bỏ thời gian và nhiều khi còn nguy hiểm cho
tính mạng của họ... như vậy rất ảnh hưởng đến cuộc sống của họ cũng như gia đình họ,
nhiều khi do phải bí mật nên không ít trường hợp bị người thân và gia đình nghi ngờ...
Phần lớn các chuyên án trinh sát đấu tranh chống tội phạm ma túy thì đặc tình phải đóng
"vai" người tìm mua ma túy, để vào "vai" tội phạm đặc tình phải có phong cách, lối sống,
sử dụng các phương tiện cá nhân như phương tiện giao thông, điện thoại, chi tiêu sinh
hoạt... giống trùm ma túy. Nhưng với chế độ kinh phí hiện nay thì để phục vụ cho công
tác này còn hạn hẹp, nhiều khi do yêu cầu nhiệm vụ trinh sát phải "hóa trang" cả tiền
bằng cách ruột giấy ngoài bọc bằng vài tờ đô la có mệnh giá thấp, khi đối tượng yêu cầu
được xem tiền chỉ cho đối tượng nhìn mà không dám cho cầm kiểm. Bên cạnh đó, quy
định thẩm quyền chi mật phí hiện hành không còn phù hợp (Trưởng - Phó phòng, Trưởng
–Phó Công an huyện chỉ được chi mỗi lần cao nhất 300.000,0đ không còn phù hợp với
thực tế hiện nay).

+ Hợp tác quốc tế, nhất là với bạn (Lào) còn nhiều bất cập nếu không được khắc
phục kịp thời thì chưa đạt được mục tiêu của chương trình quốc gia phòng chống ma túy.

3.2. Những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra tội phạm
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây
án tại địa bàn tỉnh Điện Biên

Trên cơ sở khảo sát và đánh giá thực trạng công tác điều tra tội phạm tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn
tỉnh Điện Biên trong thời gian từ năm 2002 đến tháng 6/2006; đánh giá những tồn tại hạn
chế và nguyên nhân làm ảnh hưởng đến kết quả công tác điều tra, cùng với những dự báo
tình hình tội phạm ma túy trong những năm tới. Chúng tôi đưa ra những giải pháp để
nâng cao hiệu quả công tác điều tra loại tội phạm này như sau:

3.2.1. Tập trung, chủ động làm tốt công tác nắm tình hình phát hiện tội phạm
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án
Trong điều tra loại tội phạm này, cơ quan chức năng có chủ động nắm tình hình
hoạt động của tội phạm mới có thể phát hiện được tội phạm. Phát hiện tội phạm là căn cứ
để tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra xử lý tội phạm. Đồng thời phát hiện nguyên
nhân, điều kiện tội phạm để đưa ra các giải pháp phòng ngừa và đấu tranh.

Thực tiễn đã phản ánh, tuy công tác phát hiện tội phạm của LLCSĐTTP về ma
túy cùng với sự đóng góp của các lực lượng và quần chúng nhân dân đã cung cấp nhiều
thông tin để tiến hành hoạt động điều tra đạt kết quả. Nhưng tội phạm do người dân tộc ít
người diễn ra còn phức tạp, nhiều vụ việc chưa được phát hiện hoặc chưa được điều tra
triệt để. Do đó, để chủ động nắm tình hoạt động và phát hiện tội phạm ma túy nói chung
và tội phạm ma túy do người dân tộc ít người gây án trước hết chúng ta cần phải:

+ Triển khai đồng bộ các loại hình thông tin, tuyên truyền, giáo dục sâu rộng
nhiệm vụ đấu tranh chống tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy
do người dân tộc ít người gây án đến những tuyến, địa bàn trọng điểm; trong thanh thiếu
niên, đồng bào các dân tộc ít người, đồng bào vùng sâu vùng xa nhất là ở các khu vực
biên giới, nhóm có nguy cơ cao, tạo ra phong trào sâu, rộng trong toàn dân lên án, phát
hiện tố giác và tham gia đấu tranh phòng, chống ma túy nói chung và các đối tượng là
người dân tộc ít người nói riêng. Tạo ra phong trào trong quần chúng nhân dân, trong các
cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội chủ động cung cấp các thông tin, tài liệu về hoạt động
của tội phạm ma túy (nhất là trong vùng đồng bào dân tộc ít người sinh sống) đến các lực
lượng chuyên trách phòng, chống ma túy.

+ Đẩy mạnh công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng cảnh sát nhân dân nhất là
của LLCSĐTTP về ma túy.

Trước hết phải làm tốt công tác điều tra cơ bản, công tác sưu tra, xác minh hiềm
nghi; có biện pháp quản lý chặt chẽ các đối tượng là người dân tộc ít người có điều kiện,
khả năng phạm tội hoặc có những biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội ma túy. Kịp
thời phát hiện dấu hiệu nghi vấn liên quan đến tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma túy, khẩn trương áp dụng các biện pháp xác minh, kết luận để tổ chức
các biện pháp điều tra kết luận tội phạm. Để chủ động nắm tình hình phát hiện tội phạm,
công tác sưu tra phải được tiến hành khẩn trương, thường xuyên, liên tục, có trọng tâm,
trọng điểm. Cụ thể khi có căn cứ phải đưa ngay đối tượng vào hoặc loại ra khỏi diện sưu
tra; hồ sơ sưu tra phải đảm bảo theo quy định và phải có chất lượng phản ánh được các
hoạt động của đối tượng sưu tra như tiến hành sưu tra theo danh mục, theo hệ loại, theo
tuyến, địa bàn, lĩnh vực trọng điểm... phải gắn công tác sưu tra với các công tác cơ bản
khác; tiến hành sưu tra không chỉ nhằm phát hiện các biểu hiện hoạt động phạm tội, mà
còn phải có các biện pháp quản lý, giáo dục họ từ bỏ ý định phạm tội và có thái chấp
hành nghiêm pháp luật... phải thường xuyên rà soát xác định các trọng điểm, nắm và
quản lý các đối tượng, lên sơ đồ các đường dây, ổ nhóm tàng trữ, vận chuyển ma túy lớn.
Đặc biệt tập trung vào các xã biên giới có đồng bào dân tộc ít người sinh sống, các địa
bàn có nhiều đối tượng tù về tội ma túy được tha về có khả năng phạm tội. Thường xuyên
rà soát, phân loại các đối tượng sưu tra có nghi vấn hoạt động phạm tội ma túy để có thể
lập chuyên án để đấu tranh. Đồng thời lãnh đạo các đơn vị phải làm tốt công tác kiểm tra,
đánh giá toàn diện để có kế hoạch tiếp tục chỉ đạo thực hiện

Đầu tư đúng mức tới công tác xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật, trong đó
đặc biệt quan tâm phát triển mạng lưới đặc tình, cơ sở bí mật là người dân tộc ít người,
hoặc người có điều kiện thường xuyên tiếp xúc với đối tượng sưu tra hoặc địa bàn, tuyến
trọng điểm người dân tộc ít người thường lợi dụng hoạt động phạm tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Tăng cường số lượng và chất lượng đặc tình
ngoại biên nhằm chủ động chặn ma túy từ Lào hoặc Trung Quốc đưa vào. Cần lựa chọn
người có điều kiện tiếp cận đối tượng và khả năng điều tra, phát hiện tội phạm cũng như
có khả năng thu thập và cung cấp các thông tin tài liệu liên quan đến công tác đấu tranh
chống tội phạm ma túy. Nhất là người dân tộc ít người, người sống làm việc trong địa
bàn đồng bào dân tộc ít người. Phải xây dựng đủ số lượng, chất lượng đặc tình trên các
tuyến, địa bàn trọng điểm như tuyến biên giới Việt Nam – Lào; tuyến Điện Biên – Hà
Nội; địa bàn thành phố Điện Biên Phủ, xã Na Ư và xã Thanh Yên - huyện Điện Biên.
Mạnh dạn nghiên cứu, củng cố chặt hồ sơ tài liệu, tuyển chọn, giáo dục thuyết phục... các
đối tượng có tiền án, tiền sự, người đang hoạt động phạm tội và can phạm nhân để xây
dựng đặc tình loại 2, loại 3 phục vụ công tác phát hiện và điều tra tội phạm ma túy.

Đổi mới công tác tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm mà túy. Bố trí địa điểm tiếp
nhận tin báo vừa đi lại thuận tiện, vừa bí mật cho người cung cấp thông tin. Chấn chỉnh
công tác trực ban hình sự như bố trí cán bộ có năng lực, trách nhiệm để thu nhận thông
tin; chống thái độ sách nhiễu, gây phiền hà người báo tin; đặt các hòm thư tố giác tội
phạm; thông báo các số điện thoại nóng. Nâng cao năng lực trong khâu nhận và xử lý tin
cho lực lượng Cảnh sát 113, thực tế hiện nay cho thấy khi có các vụ việc có dấu hiệu tội
phạm phần lớn nhân dân báo cho lực lượng 113 xử lý.

Đối với Công an phường, xã, thị trấn phải trang bị và hướng dẫn đầy đủ cách ghi
chép các thông tin có liên quan đến tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng
vào "Sổ ghi nhận và xử lý tin về an ninh trật tự", mẫu ban hành theo Quyết định số
998/2001/QĐ-BCA(C11) ngày 10/10/2001.

Hướng dẫn, phối hợp với các lực lượng Công an xã, phường, an ninh thôn bản
phải tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát – nhất là khu vực biên giới, địa bàn trọng
điểm về ma túy để phát hiện, ngăn chặn các hoạt động sử dụng, tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma túy.

3.2.2. Nghiên cứu, tổ chức thực hiện các chiến thuật điều tra có hiệu quả hơn,
phù hợp với đặc tính của tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma
túy là người dân tộc ít người trên cơ sở tuân thủ pháp luật; điều tra khai thác khám
phá, bóc gỡ triệt để các ổ nhóm, đường dây tội phạm ma túy.

Đồng bào các dân tộc ít người là những nhóm dân cư có phong tục, tập quán sinh
hoạt khác nhau. Đời sống vật chất, tinh thần cơ bản vẫn dựa vào điều kiện tự nhiên, trình
độ dân trí phần lớn còn hạn chế, nhận thức và chấp hành pháp luật còn thấp... vì vậy để
nâng cao hiệu quả điều tra tội phạm ma túy đối với đối tượng người dân tộc ít người cần
phải dựa vào các quy định của pháp luật, nghiên cứu thực tiễn để tổ chức các chiến thuật
điều tra phù hợp.

- Kết quả điều tra theo hình thức xác lập chuyên án tuy đã mang lại những kết
quả to lớn nhưng cũng chưa khai thác được triệt để. Công tác điều tra tố tụng hình sự tuy
đã tuân thủ theo quy trình nhưng cũng còn nhiều điểm tồn tại, đã được đề cập ở phần
trước. Việc vận dụng các biện pháp này vào quá trình điều tra tội phạm là người dân tộc
ít người ở nhiều vụ án chưa mang lại hiệu quả cao, nhất là chưa bóc gỡ triệt để tổ chức
đường dây tội phạm.
- Căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương để phát triển công tác điều tra theo
hình thức xác lập chuyên án nhằm thu thập các thông tin, tài liệu đối với các đối tượng có
dấu hiệu hoạt động phạm tội về ma túy hiện hành trong một số ổ nhóm, đường dây đã xác
định. Bố trí kế hoạch phá án, bắt quả tang đối tượng phạm tội, chủ động chuyển hóa tài
liệu thành chứng cứ chứng minh tội phạm.

- Tổ chức bắt đối tượng phù hợp với phong tục, tập quán sinh hoạt, lao động sản
xuất của từng địa bàn, từng dân tộc. Thực tiễn cho thấy phần lớn đồng bào dân tộc ít ng-
ười ở Điện Biên phần lớn có tập quán sản xuất nương rẫy, và sản xuất theo mùa vụ. Khi
vào mùa sản xuất phần lớn họ lao động và sinh hoạt tại nương rẫy, hoặc đi sớm về muộn.
Vì vậy cần phải có chiến thuật điều tra phù hợp mới có thể tiến hành bắt đối tượng có
hiệu quả.

- Xây dựng các chiến thuật khám xét phù hợp với đặc điểm đối tượng người dân
tộc ít người. Phần lớn đồng bào dân tộc ít người hiện nay vẫn giữ phong tục nhiều thế hệ
(gia đình) sống trong một nhà, hoặc nhà nương mới là nơi cất giữ tài sản (nhà chính là
nơi thờ cúng). Vì vậy, để hoạt động khám xét có hiệu quả, điều tra viên phải thu thập đầy
đủ các tài liệu phản ánh nơi cất giấu tài liệu, vật chứng cần thu giữ.

- Hoạt động đối chất, nhận dạng đối với các đối tượng người dân tộc ít người có
những đặc điểm đặc thù riêng, như: khác nhau về ngôn ngữ; ít khái niệm về đặc điểm
người, đồ vật để nhận dạng... Vì vậy, khi tiến hành đối chất ngoài đảm bảo các thủ tục
cần có người (không có quan hệ với đối tượng) thông thạo tiếng dân tộc để phiên dịch,
đồng thời chống thông cung. Trong hoạt động nhận dạng, trước khi tiến hành dạng cần
hướng dẫn cho đối tượng cách nhận biết và so sánh đặc điểm ở các đối tượng khác để họ
biết cách mô tả, diễn đạt khi nhận dạng đối tượng chính. Khi nhận dạng trực tiếp người
cần khéo léo bố trí cho họ có nơi quan sát thuận tiện nhất để nhận dạng, vì phần lớn họ có
tâm lý sợ sệt, nể cả nếu để họ đối mặt với đối tượng, phần lớn họ không dám khẳng định
những gì họ biết về đối tượng nhận dạng.

- Chú trọng công tác điều tra mở rộng các vụ án đây là biện pháp phát hiện tội
phạm rất hiệu quả, kinh tế, rút ngắn được nhiều hoạt động nghiệp vụ khác, là nguồn xác
lập chuyên án trinh sát... đạt hiệu quả rất cao trong điều tra tội phạm ma túy. Mở rộng
điều tra để phát hiện các tổ chức, đường dây, các đối tượng phạm tội. Phát hiện các âm
mưu, thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm; vật chứng, tài sản chúng cất giấu... nhằm bóc
gỡ triệt để các tổ chức, đường dây tội phạm.

- Đẩy mạnh công tác xác minh, truy bắt các đối tượng truy nã. Chú trọng công
tác vận động các đối tượng ra đầu thú nhằm tiết kiệm tài chính và đảm bảo an toàn cho
các lực lượng khi bắt giữ.

-Thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tội phạm
ma túy. Phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng Công an các cấp, nhất là cấp xã, phường, thị
trấn với các cơ quan, tổ chức xã hội và gia đình cùng các lực lượng khác trong xã hội để
phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi liên quan đến tội phạm ma túy.

- Đấu tranh, phát hiện, ngăn chặn và triệt phá kịp thời việc sản xuất, vận chuyển
mua bán trái phép các tiền chất để sản xuất các chất ma túy. Đồng thời phối hợp với các
lực lượng phòng, chống ma túy của các nước nhất là bạn (Lào) để đấu tranh xóa bỏ các
cơ sở sản xuất ma túy ở khu vực biên giới; truy bắt các đối tượng truy nã lẩn trốn trên đất
bạn. Thường xuyên tấn công, truy quét tội phạm ma túy, không để nảy sinh và tồn tại các
tụ điểm ma túy trong vùng đồng bào dân tộc ít người. Đầu tư cơ sở vật chất, các trang
thiết bị kỹ thuật hiện đại hỗ trợ việc thu thập tin tức, phát hiện tội phạm ma túy. Phối hợp
đồng bộ, chặt chẽ trong phòng ngừa và đấu tranh chống ma túy giữa các lực lượng
chuyên trách, nhất là trong công tác điều tra khám phá các tổ chức đường dây tội phạm
ma túy.

- Coi trọng tổ chức thường xuyên và có chất lượng công tác sơ kết, tổng kết rút
kinh nghiệm kết quả công tác điều tra. Từ đó phổ biến, nhân rộng các kinh nghiệm, các
điển hình tiên tiến. Đồng thời rút ra những tồn tại, thiếu sót và nguyên nhân phát sinh,
phát triền tội phạm để phối hợp làm tốt công tác phòng ngừa, ngăn chặn làm giảm thiểu
tội phạm diễn ra.

3.3.3. Củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ, đầu tư trang bị phương tiện cho
LLCSĐTTP về ma túy của Công an tỉnh Điện Biên đảm bảo góp phần thực hiện thắng
lợi chương trình quốc gia về phòng, chống ma túy.
Điện Biên được xác định là một trong những địa bàn trọng điểm đấu tranh chống
tội phạm ma túy của cả nước, địa bàn có các yếu tố như địa bàn sản xuất; tuyến thẩm lậu
ma túy từ nước ngoài vào; địa bàn trung chuyển; địa bàn tiêu thụ lớn.

Công tác điều tra tội phạm về ma túy trong những năm qua cho thấy: số vụ án
cũng như đối tượng phạm tội phát hiện hàng năm lớn (trung bình 280 vụ, gần 400 đối
tượng), địa bàn đấu tranh rộng, nhiều vụ án lớn, phức tạp... trong khi đó LLCSĐTTP về
ma túy hiện nay mới có 22 điều tra nên chưa đáp ứng được về số lượng và sẽ có những
ảnh hưởng nhất định làm hạn chế chất lượng điều tra.

Thực tiễn cho thấy với quân số hiện nay LLCSĐTTP về ma túy Công an tỉnh
Điện Biên khó hoàn thành nhiệm vụ nhất là thực hiện công tác điều tra cơ bản; hoặc mở
rộng điều tra vụ án. Việc bổ sung đủ lực lượng là yêu cầu cấp thiết, trong đó cần coi
trọng bổ sung đủ điều tra viên cho Đội CSĐTTP về ma túy cấp huyện nhằm củng cố tổ
chức, nghiệp vụ để đến năm 2009 Cơ quan CSĐT cấp huyện đảm nhận điều tra các vụ án
có mức án từ 15 năm trở xuống. Chú trọng công tác bồi dưỡng nghiệp vụ và đào tạo lại
nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ, pháp luật phục vụ công tác đấu tranh chống tội phạm
ma túy ngày càng có hiệu quả hơn.

- Tăng cường trang bị phương tiện, đầu tư kinh phí: phương tiện, kinh phí cho
lực lượng chuyên trách phòng, chống ma túy nhất là tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án. Để thu thập chứng cứ chứng
minh tội phạm, trong quá trình điều tra, trinh sát viên, điều tra viên phải tiến hành nhiều
hoạt động điều tra khác nhau từ thu thập thông tin, tài liệu ban đầu về hoạt động tội phạm
đến các hoạt động khác như bắt, khám xét, và các hoạt động thu thập và đánh giá chứng
cứ khác để chứng minh tội phạm... đây là các hoạt động rất khó khăn không đơn giản có
sức người là làm được mà nhiều khi đòi hỏi phải có sự trợ giúp của các công cụ, phương
tiện khác để đảm bảo an toàn, khách quan trong hoạt động điều tra. Sự hỗ trợ của các
phương tiện kỹ thuật trong theo dõi đối tượng cũng như phát hiện, thu thập chứng cứ hết
sức quan trọng trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy hiện nay. Vì vậy,
theo chúng tôi hiện nay lực lượng phòng, chống tội phạm ma túy nói chung và phòng,
chống các đối tượng người dân tộc ít người phạm tội về ma túy nói riêng cần được bổ
sung, tăng cường các loại công cụ phương tiện sau:
+ Phương tiện giao thông: ô tô, xe máy.

+ Phương tiện thông tin liên lạc.

+ Các loại phương tiện phục vụ công tác bắt, khám xét, thu thập tài liệu, chứng
cứ: Camera ghi âm, ghi hình; Mẫu thử nhanh chất ma túy...

+ Các loại vũ khí và công cụ hỗ trợ, kho bãi bảo quản vật chứng và các loại tài
sản có liên quan đến tội phạm (được thu giữ).

+ Chó nghiệp vụ, nhất là chó phát hiện ma túy.

+ Kinh phí phục vụ các hoạt động nghiệp vụ: cần có sự thay đổi về mức và thẩm
quyền chi, bổ sung theo chiều hướng tăng lên về mặt kinh phí, đảm bảo chi phí trong điều
tra cũng như đảm bảo cho công tác hoạt động nghiệp vụ. Thực tế hiện nay với mức chi
20.000 đ/1 buổi làm ngoài giờ không còn phù hợp. Với kinh phí hạn hẹp, và mức chi thấp
như hiện nay thì việc đầu tư có chiều sâu cho công tác nắm tình hình, phát hiện tội phạm
ma túy rất khó thực hiện.

- Tổ chức đào tạo bồi dưỡng: Cần có kế hoạch đào tạo dài hạn để có cán bộ
chuyên sâu về nghiệp vụ điều tra trinh sát, kiến thức pháp luật trong điều tra theo tố tụng.
Về lâu dài đào tạo thành những cán bộ cốt cán chỉ đạo công tác phòng, chống tội phạm
ma túy. Chú trọng đào tạo cán bộ địa phương, cán bộ người dân tộc ít người để họ yên
tâm công tác lâu dài. Kết hợp đào tạo theo hình thức vừa học, vừa làm để chuẩn hóa và
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ chiến sĩ. Cần đề ra kế hoạch đến
năm 2012 số cán bộ chiến sĩ có trình độ đại học đạt 100%. Coi trọng công tác đào tạo lại
và bồi dưỡng chuyên đề để nâng cao kiến thức, nghiệp vụ cho cán bộ chiến sĩ.

- Coi trọng đầu tư kinh phí cho công tác tổng kết các chuyên án lớn để phân tích
làm rõ những âm mưu, thủ đoạn phạm tội mới, các chất ma túy mới. Trao đổi kinh
nghiệm hay trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy nói chung và đối tượng là
người dân tộc ít người nói riêng.

- Mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho cán bộ phòng, chống ma túy
kết hợp nâng cao hiểu biết và nhận thức về phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc ít
người nhằm phục vụ cho công tác phòng, chống ma túy trong địa bàn các dân tộc ít người
sinh sống.

- Thực hiện chế độ khen thưởng vật chất để động viên khích lệ tập thể, cá nhân
tích cực chủ động đấu tranh chống tội phạm ma túy trong địa bàn đồng bào dân tộc ít ng-
ười.

3.3.4. Thiết lập chặt chẽ, hiệu quả hơn mối quan hệ phối hợp với các lực
lượng trong và ngoài ngành để ngăn chặn, điều tra, khám phá, xử lý nghiêm minh kịp
thời tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít
người gây án

Sự phối hợp giữa các lực lượng nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phát hiện,
điều tra tội phạm ma túy, như trao đổi thông tin về hoạt động của tội phạm, hoặc phối
hợp truy bắt các đối tượng phạm tội.

Thực tiễn cho thấy sự phối hợp còn ở mức độ hạn chế, chưa thường xuyên, liên
tục, hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân trước do hết khác nhau về chức năng, nhiệm vụ và
cơ cấu tổ chức, bên cạnh đó còn có một số nguyên nhân khác như về chuyên môn, nghiệp
vụ; về thẩm quyền...

Theo Điều 111 BLTTHS, các cơ quan Hải quan và Bộ đội biên phòng trong khi
làm nhiệm vụ phát hiện tội phạm (tội phạm ma túy nói riêng) nghiêm trọng, rất nghiêm
trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì ra quyết
định khởi tố vụ án, tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu và chuyển cho Cơ quan điều
tra có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án. Như
vậy mối quan hệ này đã được pháp luật xác định. Ngoài ra, ngày 09/10/2002 Thủ tướng
Chính phủ đã ký Quyết định số 133/2002/QĐ-TTg ban hành quy chế phối hợp giữa lực
lượng Công an, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển và Hải quan trong đấu tranh phòng,
chống tội phạm ma túy trên địa bàn biên giới, cửa khẩu và trên biển.

Để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác đấu tranh chống tội phạm ma túy là
người dân tộc ít người, trong thời gian tới mối quan hệ phối hợp giữa LLCSĐTTP về ma
túy Công an Điện Biên với Hải quan và Bộ đội biên phòng cần có những đổi mới cả về
nội dụng và hình thức phối hợp, đó là: phải xây dựng quy chế phối hợp; tổ chức giao ban
định kỳ để thông báo cho nhau về âm mưu, thủ đoạn, tình hình hoạt động của tội phạm
trong khu vực biên giới, cửa khẩu và trong nội địa; LLCSĐTTP về ma túy có trách nhiệm
tổ chức tập huấn trao đổi kiến thức, kinh nghiệm trong công tác điều tra cơ bản, cung cấp
các thông tin, tài liệu trong nội địa liên quan đến tội phạm ma túy ở khu vực biên giới,
cửa khẩu, phương pháp xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật, điều tra trinh sát và các
hoạt động điều tra tố tụng mà Luật tố tụng hình sự giao thẩm quyền cho Hải quan và Bộ
đội biên phòng; Bộ đội biên phòng có trách nhiệm giúp đỡ CSĐTTP về ma túy và Hải
quan trong thu thập thông tin, tài liệu, phối hợp đấu tranh chuyên án, hoặc truy bắt các
đối tượng trong khu vực biên giới; Hải quan có trách nhiệm giúp đỡ trong khâu phát hiện
ma túy qua cửa khẩu và khu vực kiểm soát của Hải quan khi có yêu cầu phối hợp của
CSĐTTP về ma túy hoặc Bộ đội biên phòng.

- Phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát ngay từ ban đầu, đối với những vụ việc
phức tạp cần tổ chức đánh giá tài liệu ban đầu để xác định có hay không có sự việc phạm
tội xẩy ra để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án; bổ sung tài liệu, chứng cứ trước
khi kết thúc điều tra. Trong giai đoạn điều tra tố tụng, khi có vướng mắc cần tổ chức họp
liên ngành để đánh giá chứng cứ trước khi ra quyết định, có như vậy mới hạn chế tình
trạng oan, sai. Phối hợp giữa 3 ngành tiến hành điều tra, truy tố xét xử một số vụ án điểm,
xét xử lưu động phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức phòng, chống tội phạm
ma túy trong vùng đồng bào dân tộc ít người.

Xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện quy chế phối hợp với các lực lượng
PC13;PC14;PC15;PC16;PC21;PC26;PC35;PA23;PV27 thông qua hoạt động nghiệp vụ
của mình để nắm bắt tình hình và cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến hoạt động
của tội phạm ma túy người dân tộc ít người; phối hợp trong công tác điều tra khám phá
án, như kiểm tra an toàn giao thông; tăng cường công tác nghiệp vụ cơ bản; giám định kỹ
thuật; hoạt động các loại hình nghiệp vụ kỹ thuật như nghe, kiểm tra bí mật... nhằm thực
hiện thắng lợi kế hoạch tổng thể phòng chống ma túy.

3.3.5. Mở rộng quan hệ hợp tác 6 tỉnh Bắc Lào (nhất là 2 tỉnh có chung đường
biên giới) và tỉnh Vân Nam - Trung Quốc để nâng cao hiệu quả công tác điều tra tội
phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người
gây án
Dựa trên cơ sở các quy định của Luật Phòng, chống ma túy (của Việt Nam) và
các Điều ước quốc tế mà Việt nam, Lào và Trung Quốc ký kết tham gia để thực hiện các
chương trình hợp tác về phòng, chống ma túy như hỗ trợ cung cấp thông tin, truy bắt tội
phạm, đào tạo cán bộ, hỗ trợ công cụ, phương tiện, kinh phí phục vụ công tác phòng,
chống ma túy giữa Điện Biên với các tỉnh của Lào và Trung Quốc.

Trong thực tiễn đấu tranh cho thấy nguồn ma túy chủ yếu từ Lào và Trung Quốc
thẩm lậu vào Điện Biên và không ít tội phạm sau khi bị phát hiện đã sang Lào lẩn trốn.
Thuốc phiện và hêrôin vào qua biên giới Việt Nam – Lào một số được vận chuyển qua
Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh tiêu thụ tại Trung Quốc; ma túy tổng hợp phần lớn có
nguồn gốc từ Trung Quốc vào Việt Nam qua cửa khẩu Lào Cai. Vì vậy, cần phải có sự
phối hợp thường xuyên giữa lực lượng phòng chống ma túy của các nước mới có thể
ngăn chặn tội phạm ma túy, nhất là đối với đối tượng người dân tộc ít người. Đây là
nhóm đối tượng có quan hệ họ hàng, làm ăn kinh tế liên quan đến 3 nước.

Trước hết phải thực hiện nghiêm quy chế biên giới giữa Việt Nam với Lào và
Trung Quốc. Tăng cường tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân các dân tộc Điện Biên
với nhân dân các nước có chung biên giới, và giữa các lực lượng phòng, chống ma túy
của các nước. Thường xuyên trao đổi thông tin về hoạt động của tội phạm ma túy.

Đối với các tỉnh của Lào: Thực hiện có hiệu quả Hiệp định giữa Chính phủ nước
CHXHCN Việt Nam và Chính phủ CHDCND Lào, ký ngày 06/7/1998 "Về hợp tác kiểm
soát ma túy, các chất hướng thần". Duy trì đều đặn chế độ giao ban, tiến hành hội đàm
thường niên. Thực hiện các hiệp định và biên bản thỏa thuận đã ký giữa Công an Điện
Biên với Công an các tỉnh Bắc Lào trong phòng, chống ma túy.

Công an Điện Biên có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng, chống
ma túy và điều tra tội phạm ma túy cho bạn nhất là 2 tỉnh Phong Sa Lỳ và Luông Pha
Băng.

Tổ chức xây dựng cơ sở bí mật trên đất bạn để ngăn chặn, phát hiện tội phạm ma
túy trước khi thẩm lậu vào Điện Biên.

Phối hợp truy bắt các đối tượng truy nã lẩn trốn trên đất bạn.
Hỗ trợ các công cụ, phương tiện giúp bạn phòng, chống ma túy có hiệu quả nhằm
ngăn chặn ngay từ nguồn không để ma túy thâm nhập vào nước ta qua địa bàn Điện Biên.

Đối với tỉnh Vân Nam – Trung Quốc: Tăng cường kiểm soát việc vận chuyển và
buôn bán ma túy ở khu vực biên giới 2 nước, sớm thiết lập chế độ liên hệ giữa 2 tỉnh, và
tổ chức giao ban định kỳ, tiến tới giao ban thường niên giữa chính quyền 2 tỉnh để trao
đổi thông tin về tình hình tội phạm ma túy và đưa ra các giải pháp cụ thể để phối hợp
kiểm soát ma túy.

Kết luận

Tội phạm ma túy đang có những diễn biến hoạt động phức tạp. Trong đó tình
trạng các đối tượng người dân tộc ít người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma túy đang có chiều hướng gia tăng. Tính chất hoạt động của chúng ngày
càng tinh vi xảo quyệt kèm theo các hành vi phạm tội khác hết sức manh động, tàn bạo.
Hoạt động của chúng là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, làm hủy hoại đạo đức,
sức khỏe, ảnh hưởng đời sống cộng đồng. Liên quan đến tội phạm ma túy đã có không ít
nhân viên nhà nước hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau đã bị thoái hóa, biến chất. Tội
phạm ma túy gây hậu quả đặc biệt nghiêm trong cho xã hội, làm cho trật tự xã hội luôn
không được ổn định.

Trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật, các tài liệu lý luận và tổng kết các
hoạt động thực tiễn, đề tài góp phần làm rõ những lý luận cơ bản của hoạt động điều tra
tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người
gây án những năm qua tại Điện Biên, cũng như những chỉ dẫn về phát hiện, điều tra loại
tội phạm này trên một số nội dung sau:

Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về ma túy, tội phạm tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma túy; Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội
phạm ma túy; trình bày những vấn đề cơ bản về hoạt động phát hiện đấu tranh chuyên án,
khởi tố điều tra, những vấn đề cần chứng minh trong quá trình điều tra tội phạm tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án.

Luận văn trình bày khái quát những vấn đề có liên quan đến tình hình, diễn biến
tội phạm ma túy nói chung, tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma
túy do người dân tộc ít người gây án tại Điện Biên nói riêng; làm sáng tỏ thực trạng công
tác phát hiện, điều tra loại tội phạm này từ năm 2002 đến tháng 6/2006 của lực lượng
CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên. Đồng thời phân tích rõ những ưu điểm cũng
như những khó khăn, tồn tại hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong
công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người
dân tộc ít người gây án trên địa bàn tỉnh Điện Biên.

Trên cơ sở lý luận chung cũng như tình hình hoạt động của tội phạm ma túy;
thực tiễn công tác phát hiện, điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại Điện Biên, chúng tôi đưa ra dự báo tình
hình tội phạm ma túy trong phạm vi toàn quốc nói chung, và tại tỉnh Điện Biên nhất là
trong vùng đồng bào dân tộc ít người nói riêng; đưa ra những giải pháp, những kiến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả điều tra loại tội phạm này trong thời gian tới cho lực lượng Cảnh
sát điều tra tội phạm về ma túy. Đó là:

Tập trung, chủ động làm tốt công tác nắm tình hình phát hiện tội phạm tàng trữ,
vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án.

Nghiên cứu, tổ chức thực hiện các chiến thuật điều tra có hiệu quả hơn, phù hợp
với đặc tính của tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là người
dân tộc ít người trên cơ sở tuân thủ pháp luật; điều tra khai thác khám phá, bóc gỡ triệt
để các ổ nhóm, đường dây tội phạm ma túy. Nghiên cứu, tổ chức thực hiện các chiến
thuật điều tra có hiệu quả hơn, phù hợp với đặc tính của tội phạm tàng trữ, vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma túy là người dân tộc ít người trên cơ sở tuân thủ pháp luật;
điều tra khai thác khám phá, bóc gỡ triệt để các ổ nhóm, đường dây tội phạm ma túy.

Củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ, đầu tư trang bị phương tiện cho LLCSĐTTP
về ma túy của Công an tỉnh Điện Biên đảm bảo góp phần thực hiện thắng lợi chương
trình quốc gia về phòng, chống ma túy. Thiết lập chặt chẽ, hiệu quả hơn mối quan hệ
phối hợp với các lực lượng trong và ngoài ngành để ngăn chặn, điều tra, khám phá, xử lý
nghiêm minh kịp thời tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do
người dân tộc ít người gây án.
Mở rộng quan hệ hợp tác 6 tỉnh Bắc Lào (nhất là 2 tỉnh có chung đường biên
giới) và tỉnh Vân Nam - Trung Quốc để nâng cao hiệu quả công tác điều tra tội phạm
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án.




Danh mục tài liệu tham khảo



1. Bộ luật Hình sự – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. 1997

2. Bộ luật Hình sự – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. 2000

3. Chuyên đề về Bộ luật Hình sự – Tạp chí Dân chủ và Pháp luật – Bộ Tư pháp. Hà Nội
năm 2000

4. Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự – Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh.
1995

5. Bộ luật Tố tụng Hình sự – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. 2004

6. Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004
7. Quyết định số 1165 và 1173 ngày 01/4/2005 của Tổng cục trưởng Tổng cục xây
dựng lực lượng Bộ Công an

8. Kế hoạch tổng thể phòng, chống ma túy đến năm 2010. Nhà xuất bản CAND

9. Ba Công ước của liên hợp quốc về kiểm soát ma túy – Văn phòng thường trực
phòng, chống ma túy. Nhà xuất bản Công an nhân dân 2005

10. Nguyễn Xuân Yêm – Trần Văn Luyện – Hiểm họa ma túy và cuộc chiến mới. Nhà
xuất bản CAND. Hà Nội 2002

11. Trần Văn Luyện – Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy. Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia. Hà Nội 1998

12. Phan Quốc Kinh – Các chất ma túy ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật.
Hà Nội 1995

13. Bộ Nội vụ – Từ điển các chất ma túy. Nhà xuất bản Công an nhân dân – Hà Nội 1998

14. Học viện Cảnh sát nhân dân – Giáo trình, những vấn đề cơ bản trong phòng, chống
tội phạm về ma túy. Hà Nội 2005

15. Học viện Cảnh sát nhân dân – Giáo trình, hoạt động phòng ngừa và điều tra các tội
phạm về ma túy của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về ma túy. Hà
Nội 2002

16. Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X - Nhà xuất bản Chính trị quốc
gia - 2006.

17. Cấn Văn Chúc. Hoạt động nghiệp vụ trinh sát đấu tranh chống băng nhóm tội phạm
hình sự trong tình hình hiện nay. Nhà xuất bản CAND

18. Học viện Cảnh sát nhân dân - Giáo trình hoạt động nghiệp vụ trinh sát của lực lượng
Cảnh sát nhân dân. Hà Nội 2004

19. Đại học Luật Hà Nội - Giáo trình khoa học điều tra hình sự. Nhà xuất bản Công an
nhân dân. Hà Nội 2002

20. Trường đại học Cảnh sát nhân dân. Giáo trình lý luận và phương pháp luận của khoa
học điều tra hình sự. Hà Nội 1998
21. Sổ tay công tác dân tộc và miền núi – ủy ban Dân tộc và Miền núi và Ban Tư tưởng -
Văn hóa Trung ương. Hà Nội 2000

22. Từ điển tiếng Việt – Viện ngôn ngữ học. Nhà xuất bản Đà Nẵng 2001

a. Từ điển bách khoa CAND – Nhà xuất bản CAND. Hà Nội năm 200

23. Quyết định số 156/2004 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng “Về việc thành lập lực lượng
chuyên trách phòng. Chống ma túy thuộc Bộ đội biên phòng”

24. Tạp chí CAND số 6/2006

25. Tạp chí thông tin, lý luận CSND số 2/2006

26. Báo cáo tổng kết các năm: 2002; 2003; 2004; 2005 và Sơ kết 6 tháng đầu năm 2006
của Công an tỉnh Điện Biên.

27. Tài liệu Hội nghị Giao ban tấn công tội phạm ma túy trên tuyến Tây Bắc.

28. Hồ sơ các vụ án về tội phạm ma túy lưu trữ tại Công an tỉnh Điện Biên.

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản