LUẬN VĂN: Công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên - Thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: vascaravietnam

Từ lâu, ma túy đã trở thành hiểm họa của loài người. Các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, chất hướng thần đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đến sức khỏe và hạnh phúc của con người, cản trở sự phát triển lành mạnh đối với kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đe dọa sự ổn định về an ninh và chủ quyền của các quốc gia. Các hoạt động buôn bán ma túy trái phép mang lại lợi nhuận rất cao, và tạo điều...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên - Thực trạng và giải pháp

 

  1. LUẬN VĂN: Công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên - Thực trạng và giải pháp
  2. Mở đầu 1.Tính cấp thiết của đề tài Từ lâu, ma túy đã trở thành hiểm họa của loài người. Các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, chất hướng thần đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đến sức khỏe và hạnh phúc của con người, cản trở sự phát triển lành mạnh đối với kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đe dọa sự ổn định về an ninh và chủ quyền của các quốc gia. Các hoạt động buôn bán ma túy trái phép mang lại lợi nhuận rất cao, và tạo điều kiện cho các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia thâm nhập, làm ô nhiễm và phá hoại bộ máy nhà nước; làm phát sinh tội phạm, nó là con đường chính lây lan HIV/AIDS... Nhận thấy sự cần thiết phải huy động sức mạnh của các quốc gia cùng tham gia phòng, chống và kiểm soát ma túy, Liên hợp quốc đã ban hành 3 Công ước (1961;1971 và 1988) để phòng, chống và kiểm soát ma túy. Nhận thấy sự cần thiết phải kịp thời đấu tranh ngăn chặn và kiểm soát ma túy, ngay sau khi giành được độc lập, bên cạnh việc tập trung sức người, sức của kháng chiến chống thực dân Pháp, Chính phủ Việt Nam đã quan tâm đến việc ngăn chặn thuốc phiện. Ngày 05/3/1952, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 150-TTg quy định việc xử lý đối với những hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện. Bộ luật Hình sự năm 1985 và nhất là Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước ta, đã hình thành hệ thống các quy định tội phạm về ma túy. Ngày 09/12/2000, Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống ma túy. Ngày 01/9/1997, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số 789/QĐ-CTN tham gia 3 Công ước của Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy. Ngày 28/5/1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 686/TTg thành lập ủy ban quốc gia phòng, chống ma túy (nay là ủy ban quốc gia phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm). Ngày 10/3/2005, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 49/2005/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phòng, chống ma túy đến năm 2010, với mục tiêu đến năm 2015 cơ bản thanh toán tệ nạn ma túy trong cả nước... Tất cả các chủ trương, chính sách và các văn
  3. bản quy phạm pháp luật này đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống ma túy. Từ năm 2002 đến nay LLCSND nhất là LLCSĐTTP về ma túy đã phát hiện, điều tra và triệt phá nhiều ổ nhóm, đường dây và tổ chức tội phạm ma túy có quy mô xuyên quốc gia và quốc tế, bắt giữ nhiều tên tội phạm đặc biệt nguy hiểm như Trịnh Nguyên Thủy, Nguyễn Văn Cẩn, Nguyễn Văn Tám (Tám Phong), Sùng Giống Sếnh... góp phần làm ổn định tình hình an ninh tật tự, đem lại lòng tin cho nhân dân về công tác phòng, chống ma túy. Kết quả điều tra tội phạm ma túy phản ánh, hiện nay nguồn ma túy chủ yếu được thẩm lậu từ nước ngoài vào nước ta bằng nhiều đường khác nhau. Phần lớn các vụ án ma túy đều có sự tham gia của các đối tượng người dân tộc ít người (như Sùng Giống Sếnh -dân tộc Mông trong vụ Chu Văn Hiếu, giữ vai trò mua bán, vận chuyển ma túy từ Lào vào nước ta; hoặc vụ Trịnh Nguyên Thủy - câu kết với Triệu Văn ấu dân tộc Dao và nhiều đối tượng dân tộc Mông ở Mộc Châu - Sơn La gây án; vụ Nguyễn Văn Tám (Tám Phong) cùng nhiều đối tượng dân tộc Mông ở Na Ư- Điện Biên gây án...). Trong các vụ án đó họ giữ vai trò tạo nguồn. Điện Biên là một tỉnh miền núi Tây Bắc của Tổ quốc, có đông đồng bào dân tộc ít người sinh sống. Điện Biên luôn được xác định là tuyến, địa bàn trọng điểm về ma túy của cả nước, vì Điện Biên có các yếu tố: địa bàn sản xuất ma túy; tuyến thẩm lậu ma túy từ nước ngoài vào; địa bàn trung chuyển và cũng là địa bàn tiêu thụ lớn. Từ năm 2002 đến tháng 6/2006, Cơ quan CSĐT nhất là Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên phát hiện, điều tra làm rõ nhiều ổ nhóm, đường dây tội phạm ma túy có quy mô lớn về nhiều mặt như các đường dây của Lý A Va; Lường Văn Lợi; Lăng Văn Tôn; Trần Thị Nhàn; Lường Thị Trưởng... chúng đã vận chuyển, mua bán hàng trăm kg ma túy các loại. Khảo sát, nghiên cứu hồ sơ các vụ án tội phạm ma túy tại Công an tỉnh Điện Biên cho thấy: tình trạng người dân tộc ít người phạm tội chiếm tỷ lệ rất cao trong số các vụ án cũng như đối tượng phạm tội được phát hiện hàng năm. Mặc dù LLCSND Công an tỉnh Điện Biên luôn chủ động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm ma túy. Nhiều đường dây, ổ nhóm tội phạm ma túy hoạt động liên tỉnh, xuyên quốc gia, nhiều địa bàn nóng bỏng về ma túy được phát hiện, điều tra và triệt phá, nhất là các địa bàn đồng bào dân tộc ít người sinh sống như các bản của xã Na Ư; bản Pa Xá - Lào; bản Nà Ngum... nhưng do
  4. đặc điểm địa lý phức tạp, đối tượng phạm tội là người dân tộc ít người có những phong tục, tập quán sống đặc thù... làm cho công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trong đồng bào dân tộc ít người luôn gặp khó khăn. Trong khi chưa có lý luận chỉ dẫn cụ thể cũng như công tác tổng kết rút kinh nghiệm còn nhiều hạn chế làm cho công tác phòng, chống tội phạm ma túy trong đồng bào dân tộc ít người chưa đạt hiệu quả cao. Từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài "Công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên - Thực trạng và giải pháp" để nghiên cứu là vấn đề cần thiết. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Đấu tranh phòng, chống ma túy từ lâu đã mang tính toàn cầu cả mặt lý luận và thực tiễn. Để tổng kết thực tiễn, bổ sung lý luận nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma túy. Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều luận án tiến sĩ, nhiều luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu tội phạm ma túy. Như tiến sĩ Trần Văn Luyện với đề tài: Phát hiện và điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy của LLCSND; Thạc sĩ Lê Mộng Điệp với đề tài: Công tác phát hiện, điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy có yếu tố nước ngoài của LLCSND; Thạc sĩ Trịnh Xuyên với đề tài: Điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên tuyến biên giới Thanh Hóa - Hủa Phăn (nước CHDCN Lào) của lực lượng CSĐT tội phạm ma túy Công an tỉnh Thanh Hóa... Tuy nhiên, các công trình này thường được các tác giả nghiên cứu ở các cấp độ và phương diện khác nhau như: Tội phạm học; hình pháp học trên phạm vi rộng. Cũng có những đề tài chỉ nghiên cứu ở một số địa bàn nhất định. Vì vậy, việc áp dụng kết quả nghiên cứu vào từng địa phương, từng đối tượng chưa thật phù hợp. Vì ngoài đặc điểm chung thì ở mỗi địa phương, mỗi loại đối tượng lại có những đặc điểm riêng như địa lý, kinh tế, xã hội, tập quán, lối sống, phương thức thủ đoạn phạm tội... Hơn nữa, Điện Biên là một địa bàn nóng bỏng, phức tạp về tội phạm ma túy. Nhất là tình trạng người dân tộc ít người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
  5. phép chất ma túy, nhưng công tác tổng kết rút kinh nghiệm chưa được tiến hành một cách đầy đủ, khoa học. Vấn đề người dân tộc ít người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy tại địa bàn tỉnh Điện Biên là vấn đề rất đáng quan tâm nhưng chưa được nghiên cứu đầy đủ, toàn diện. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ có ý nghĩa thiết thực trong công tác phòng, chống tội phạm ma túy. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là tổng kết thực tiễn công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại tỉnh Điện Biên. Đánh giá những ưu điểm, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác đấu tranh chống tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên. Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên nói riêng và toàn quốc nói chung. Nhiệm vụ nghiên cứu: -Phân tích làm rõ đặc điểm pháp lý của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. -Phân tích làm sáng tỏ lý luận cơ bản về điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. -Làm rõ một số nhận thức cơ bản về dân tộc ít người và đặc điểm của người dân tộc ít người ở tỉnh Điện Biên liên quan đến công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý. phạm-Khảo sát, phân tích khái quát tội phạm về ma túy nói chung, tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nói riêng tại địa bàn tỉnh Điện Biên. - Khảo sát, phân tích đánh giá kết quả công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên. Đánh giá ưu điểm, tồn tại hạn chế của công tác điều tra, rút ra nguyên nhân của những tồn tại hạn chế đó.
  6. - Đưa ra dự báo tình hình tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án trên địa bàn tỉnh Điện Biên trong những năm tới. - Xây dựng, đề xuất các giải pháp thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trên địa bàn tỉnh ĐiệnBiên. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy do người dân tộc ít người gây án tại địa bàn tỉnh Điện Biên, và những yếu tố tự nhiên, xã hội ảnh hưởng đến kết quả công tác điều tra. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu kết quả tiến hành các biện pháp nghiệp vụ điều tra trinh sát và điều tra theo luật tố tụng do lực lượng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh Điện Biên thực hiện từ năm 2002 đến tháng 6 năm 2006. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận Mác – Lêin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng và ngành Công an về đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Khảo sát; tọa đàm chuyên gia; thống kê so sánh; phân tích tổng hợp; khái quát hóa. 6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Về mặt lý luận, luận văn là công trình chuyên khảo trong khoa học pháp lý về điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án, góp phần bổ sung lý luận nhằm chỉ dẫn công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập trong các trường CAND; bổ sung vào các phương pháp, chiến thuật điều tra áp dụng vào thực tiễn đấu tranh chống tội phạm ma túy trong tình hình mới.
  7. 7. Những điểm mới trong kết quả nghiên cứu của luận văn - Rút ra đặc điểm, nguyên nhân, điều kiện về vấn đề người dân tộc ít người phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. -Xây dựng phương pháp, chiến thuật điều tra và đề ra biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tình trạng người dân tộc ít người phạm tội ma túy. - Đưa ra những chỉ dẫn để áp dụng vào thực tiễn tiến hành điều tra tội phạm về ma túy do người dân tộc ít người gây án. 8. Bố cục của luận văn Luận văn gồm: Phần mở đầu; Phần nội dung gồm 3 chương và các tiết trong chương; Kết luận đề tài và danh mục tài liệu tham khảo.
  8. Chương 1 nhận thức cơ bản về công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án 1.1. Một số đặc điểm cơ bản của người dân tộc ít người ở Điện Biên, có liên quan đến công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy Nước ta có 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc Kinh chiếm số đông nên gọi là dân tộc đa số; các dân tộc khác ít người hơn nên gọi là các dân tộc thiểu số nay gọi là dân tộc ít người. Các dân tộc anh em đều thống nhất một lòng, đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bình đẳng, tương trợ lẫn nhau cùng phát triển. Theo Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 2001 của nhà xuất bản Đà Nẵng thì "Dân tộc ít người (dân tộc thiểu số) là dân tộc chiếm số ít, so với dân tộc chiếm số đông nhất trong một nước có nhiều dân tộc". Như vậy, dân tộc ít người ở đây được hiểu là các dân tộc không phải là dân tộc Kinh. Điện Biên là một tỉnh có 18 dân tộc khác nhau cùng sinh sống, trong đó dân tộc Thái là dân tộc đông nhất chiếm 40%; Dân tộc Mông chiếm 30,9%; Dân tộc Kinh chiếm 20,5 %; Các dân tộc ít người khác chỉ chiếm 8,6% dân số toàn tỉnh. Các dân tộc luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, không có tình trạng cưỡng bức, kỳ thị, chia rẽ hoặc đồng hóa, thôn tính giữa dân tộc đa số với dân tộc ít người. Các dân tộc luôn được đảm bảo phát triển tự do mọi mặt nhằm nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của dân tộc mình cũng như toàn thể cộng đồng các dân tộc trên địa bàn tỉnh nói riêng và cả nước nói chung. ở một số vùng chỉ có một dân tộc cư trú tương đối tập trung như dân tộc Mông ở xã Na Ư - Điện Biên, Tỏa Tình, Tênh Phông - Tuần Giáo; dân tộc Hà Nhì ở xã Xín Thầu – Mường Nhé. Song, cũng như trong cả nước, các dân tộc ở Điện Biên sống xen kẽ, không có " lãnh thổ " riêng biệt. Người Thái và người Kinh phần lớn sống ở vùng thấp, vùng gần sông suối nơi có điều kiện sản xuất lúa nước thuận lợi. Người Mông và các dân tộc khác chủ yếu sống ở vùng núi cao, gắn liền với tập quán sản xuất trên nương rẫy. Tình trạng cư trú phân tán, xen kẽ giữa các dân tộc là điều kiện để các dân tộc tăng cường
  9. hiểu biết, hòa hợp, giúp đỡ và xích lại gần nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu và phát triển kinh tế – văn hóa cũng như tăng cường an ninh, quốc phòng... Địa bàn cư trú của các dân tộc ít người ở Điện Biên có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, môi trường sinh thái, đặc biệt về quốc phòng và an ninh. Các địa bàn giáp biên giới, sự sinh sống của đồng bào được xem là "phên giậu" của Tổ quốc để ngăn chặn tội phạm và các hành vi xâm nhập khác gây mất ổn định tình hình trong nước. Địa bàn đồng bào dân tộc ít người sinh sống, gần khu vực Tam giác vàng - nơi xuất ma túy lớn của thế giới - thuận lợi cho tội phạm ma túy hoạt động. Bên cạnh đó, đồng bào các dân tộc ít người có phong tục trồng thuốc phiện. Hiện vẫn còn nhiều đối tượng sống ở vùng sâu, vùng xa lén lút trồng (sản xuất) để bán cho các đối tượng thu gom (trong nước) ma túy. Tuy sống xen kẽ nhưng mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, lâu đời, phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào của mỗi dân tộc. Các dân tộc có những phong tục, tập quán, tín ngưỡng được hình thành từ lâu đời và đến nay phần lớn vẫn được gìn giữ. Tuy nhiên cũng có không ít những phong tục, tập quán mang tính hủ tục lạc hậu chưa được xóa bỏ làm cản trở sự phát triển nói chung. Đó là do phần lớn đồng bào dân tộc ít người vẫn còn nhiều hạn chế về kiến thức văn hóa, khoa học hiện đại. Nhiều vùng đồng bào vẫn tin có các lực lượng siêu nhiên ở trên trời thường xuyên tác động vào đời sống con người. Vì vậy, không ít đồng bào dân tộc ít người tin thần thánh, và các thuật mê tín, dị đoan hơn các kiến giải khoa học về các sự việc, hiện tượng có ảnh hưởng đến cuộc sống của đồng bào như khám chữ bệnh, phát triển sản xuất... Đây là tâm lý mà kẻ xấu triệt để lợi dụng để tuyên truyền đạo trái phép và lợi dụng các tập tục nh ư "cài lá xanh, cấm cửa người lạ"... để hoạt động phạm tội, gây rất nhiều khó khăn cho LLCSĐTTP về ma túy nói riêng và lực lượng công an nói chung, tiếp cận để tiến hành các hoạt động nghiệp vụ cơ bản nhằm đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả. Một nét đáng chú ý trong đời sống của một số dân tộc ít người là do tập quán, lối sống dòng họ nên họ không có khái niệm lãnh thổ hành chính. Vì vậy, việc họ qua lại biên giới trái phép để thăm thân, gặp gỡ họ hàng họ cho là bình thường. Phần lớn các dân tộc ít người ở Điện Biên có họ hàng, dòng tộc sinh sống ở các nước láng giềng. Nhiều dân tộc còn tình trạng du canh, du cư, hoặc di dịch cư trái phép, kể cả di cư ra nước ngoài
  10. với nhiều lý do khác nhau. Tội phạm ma túy không bỏ lỡ đặc điểm này để thuê mướn, lôi kéo một bộ phận đồng bào tham gia hoạt động phạm tội như thuê vận chuyển qua biên giới, hoặc mua gom ma túy (từ ngoài vào) qua mỗi lần qua lại thăm thân... từ đó hình thành nên nhiều đường dây, ổ nhóm tội phạm về ma túy trong khu vực sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Đó cũng là những vấn đề khó khăn cho công tác quản lý nhân, hộ khẩu của các cấp các ngành và cũng như công tác phát hiện điều tra tội phạm. Trong những năm qua, tuy được sự đầu tư đáng kể của nhà nước cho chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đối với Điện Biên nói chung và đồng bào các dân tộc ít người ở Điện Biên nói riêng, nhưng tình hình kinh tế - xã hội của Điện Biên còn rất nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo trong nhân dân chưa giảm đáng kể. Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Điện Biên, thu nhập bình quân đầu người năm 2005 của tỉnh mới đạt 257,79 USD/người, chỉ số này chưa bằng một nửa chỉ số thu nhập bình quân của cả nước. Kinh tế của đồng bào dân tộc ít người chưa phát triển, sản xuất vẫn mang nặng tính tự cấp, tự túc. Sản phẩm lao động chưa đủ trang trải đời sống hàng ngày của bà con. Do kinh tế khó khăn cộng với trình độ dân trí kém phát triển, hiểu biết pháp luật thấp nên không ít đồng bào dân tộc ít người đã xem vận chuyển, mua bán ma túy như một hoạt động kinh tế. Do vậy, trong những năm qua tình trạng đồng bào các dân tộc ít người phạm tội về ma túy ở Điện Biên chiếm tỷ lệ lớn trong số tội phạm ma túy bị phát hiện, bắt giữ. Nhiều nơi hình thành nên xã hoặc bản phạm tội về ma túy như xã Na Ư - Điện Biên; bản Nà Ngum - Thanh Yên; bản Na Hai - Sam Mứn... Vì vậy, việc phát hiện điều tra tội phạm ma túy ở những địa bàn này chưa có các giải pháp mang tính khoa học, đồng bộ mà mới chỉ dừng lại ở mức độ giải quyết vụ việc điều đó đã làm cản trở các mục tiêu phòng, chống ma túy đã đề ra. Mặc dù được nhà nước quan tâm về các mặt như y tế, giáo dục nhưng thực chất trình độ nhận thức của đồng bào các dân tộc ít người ở Điện Biên còn rất hạn chế. Công tác chăm sóc y tế vẫn còn chưa đầy đủ kịp thời... do vậy nhận thức của đồng bào về tác hại do tệ nạn ma túy gây ra cho xã hội chưa đầy đủ. Khi trong nhà có người bị ốm đau, do kém hiểu biết, hoặc do không có thuốc men chữa trị phần nhiều vẫn quen dùng ma túy để chữa bệnh... Đây là thói quen trong lối sống, sinh hoạt của đồng bào dân tộc ít người ở
  11. Điện Biên. và cũng là một trong những nguyên nhân làm cho tội phạm ma túy tồn tại và phát triển (quan hệ cung - cầu). Tuy nhiên, đồng bào các dân tộc ít người vốn có bản chất thật thà, sống chân thật, thẳng thắn... nên trong nhiều trường hợp các đối tượng người dân tộc ít người phạm tội do nhận thức sai lầm, hoặc do được thuê mướn thì khi bị phát hiện, bắt giữ họ đã thành khẩn khai báo tạo điều kiện cho lực lượng phòng, chống tội phạm ma túy bắt giữ bọn chủ mưu, cầm đầu. Tuy nhiên số này rất ít. Nghiên cứu về đồng bào dân tộc ít người ở Điện Biên, rút ra một số đặc điểm liên quan đến công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy, đó là: - Có bản chất thật thà, ngay thẳng, đa số đồng bào vẫn tin tưởng có thần linh, ma quỷ. - Phần lớn đồng bào dân tộc ít người sinh sống ở khu vực biên giới Việt – Lào; Việt – Trung của tỉnh. Những nơi đây là những điểm nóng, những đường dây hoạt động xuyên quốc gia của tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy. Địa bàn sinh sống của đồng bào thuận lợi cho tội phạm ma túy hoạt động. - Là địa bàn có nhiều dân tộc ít người khác nhau sinh sống, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, họ sống rải rác, đan xen trong từng vùng. Đường sá đi lại khó khăn, hệ thống thông tin, truyền thông phần lớn chưa được cung cấp tới các bản làng đồng bào dân tộc ít người. Cơ sở hạ tầng yếu kém cũng như một số phong tục lạc hậu của đồng bào gây không ít khó khăn trong công tác phòng, chống tội phạm ma túy. - Trình độ nhận thức về mọi mặt của đồng bào dân tộc ít người ở Điện Biên còn rất thấp, đời sống kinh tế khó khăn, tập quán lạc hậu trong sinh hoạt, sản xuất còn nặng nề. Việc trồng cây thuốc phiện và sử dụng thuốc phiện tuy đã được giải quyết nhưng chưa triệt để. - Nương rẫy sản xuất cách xa bản làng. Vì vậy đời sống lao động sản xuất, sinh hoạt khác vùng đồng bằng. Thông thường đồng bào dân tộc ít người nơi đây đi làm rẫy về muộn, thậm chí đêm khuya, có khi nhiều ngày mới về nhà hoặc có khi sinh hoạt trên nương rẫy trong suốt vụ sản xuất.
  12. - Do nhận thức hạn chế nên ý thức pháp luật và trách nhiệm công dân chưa được đồng bào tôn trọng và thực hiện nghiêm túc. 1.2. Nhận thức cơ bản về tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy 1.2.1. Khái niệm về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy trong Bộ Luật hình sự Việt Nam Bộ luật hình sự 1999 đã quy định: "Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy " tại Điều 194, cụ thể là: 1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai đến bảy năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Có tổ chức; b) Phạm tội nhiều lần; c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Vận chuyển, mua bán qua biên giới; e) Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho trẻ em; g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam; h) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam; i) Lá, hoa, quả cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới hai mươi lăm kilôgam; k) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới hai trăm kilôgam;
  13. l) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới năm mươi kilôgam; m) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam; n) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít; o) Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2 Điều này; p) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm: a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ một kilôgam đến dưới năm kilôgam; b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam; c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng l ượng từ hai mươi lăm kilôgam đến dưới bảy mươi lăm kilôgam; d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ hai trăm kilôgam đến dưới sáu trăm kilôgam; đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới một trăm năm mươi kilôgam; e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam; g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ hai trăm năm mươi mililít đến dưới bảy trăm năm mươi mililít;
  14. h) Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3 Điều này; 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình: a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm kilôgam trở lên; b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên; c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ bảy mươi lăm kilôgam trở lên; d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ sáu trăm kilôgam trở lên; đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ một trăm năm mươi kilôgam trở lên; e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên; g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên; h) Có từ hai chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 4 Điều này; 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. 1.2.2. Đặc trưng pháp lý của tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy - Khách thể của tội phạm: Khách thể của tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm chế độ độc quyền và thống nhất quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Đối tượng của tội phạm này là các chất ma túy và các tiền chất ma túy được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành.
  15. - Mặt khách quan của tội phạm: + Theo Từ điển tiếng Việt thì tàng trữ có nghĩa là cất giữ. Như vậy hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là việc lưu giữ, cất giấu ma túy ở một địa điểm nào đó có thể là nhà ở, công sở hoặc nơi nào đó trái pháp luật. Thông thường hành vi này được thực hiện một cách lén lút, người cất giấu không muốn cho người khác thấy - biết việc làm của mình. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào mà không nhằm mục đích mua bán, hay sản xuất trái phép chất ma túy. Được coi là tàng trữ trái phép khi hành vi cất giấu được thực hiện xong, không phụ thuộc thời gian dài hay ngắn. Địa điểm và thời gian tàng trữ không có ý nghĩa trong việc định tội danh và quyết định hình phạt. + Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi đưa chất ma túy từ địa điểm này đến địa điểm khác một cách không hợp lệ. Vận chuyển ma túy có thể diễn ra bất cứ đâu như vận chuyển trong nội địa, vận chuyển từ nước ngoài vào nước ta và ngược lại, tùy thuộc vào mục đích của người vận chuyển. Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy chỉ có thể là hành động. Vận chuyển trái phép chất ma túy là hành vi đưa trái phép chất ma túy từ nơi này đến nơi khác. Hành vi này có thể được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, hoặc có thể được thực hiện từ nước ngoài và kết thúc ở Việt Nam, hoặc ngược lại từ Việt Nam và kết thúc ở nước ngoài. Hành vi vận chuyển có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như đi bộ hoặc sử dụng các phương tiện giao thông, cũng có thể gián tiếp gửi qua đường bộ, đường hàng không, đường bưu điện... Hành vi này được tiến hành lén lút và không được sự đồng ý (cho phép) của các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước. Người vận chuyển có thể cho ma túy vào trong người như quần áo đang mặc, hành lý tư trang mang theo, hoặc có thể bọc kín nuốt vào bụng, hoặc nhét vào các lỗ tự nhiên trên cơ thể... Việc vận chuyển trên quãng đường dài hay ngắn, vận chuyển với thời gian bao lâu không ảnh hưởng đến việc định tội danh cũng như hình phạt. Người vận chuyển thuê chất ma túy cho người khác mà không nhằm mục đích mua bán thì hành vi của người đó cũng là hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy.
  16. + Mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao đổi trái phép chất ma túy dưới các hình thức khác nhau, là hành vi phạm tội nguy hiểm, phức tạp nhất trong bốn hành vi quy định trong điều 194. Tính nguy hiểm của nó được thể hiện bằng việc thu siêu lợi nhuận của người mua bán, từ đó kích thích lòng tham làm cho nhiều người nảy sinh ý định phạm tội. Trái phép nghĩa là trái với pháp luật, những quy định được cấp thẩm quyền cho phép, phân biệt với những hoạt động được phép để phục vụ các ngành kinh tế của mỗi quốc gia. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao đổi chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào. Hành vi mua bán cũng được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như mua bán theo nghĩa thông thường, hoặc trao đổi, hoặc thanh toán bằng chất ma túy. Người giúp tàng trữ, hoặc giúp vận chuyển trái phép chất ma túy, mà biết mục đích để mua bán thì các hành vi đó cũng được kết luận đồng phạm hành vi mua bán. Như vậy, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là hành vi cất giấu, dịch chuyển, trao đổi các chất kích thích gây nghiện, chất hướng thần, tiền chất ma túy được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành mà không có sự đồng ý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm các mục đích khác nhau, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của xã hội. - Mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. - Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định. 1.3. Nhận thức chung về hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án 1.3.1. Khái niệm hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy Công tác điều tra tội phạm bao gồm hoạt động phát hiện tội phạm và hoạt động điều tra vụ án hình sự. Phát hiện tội phạm là quá trình lực lượng CSND tiến hành các biện pháp công khai, bí mật theo quy định của pháp luật nhằm tìm kiếm, thu thập thông tin, tài liệu phản ánh về sự việc, hiện tượng hoặc những đối tượng có liên quan đến tội phạm. Xác định có dấu hiệu của tội phạm hay không, căn cứ để khởi tố vụ án và tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật.
  17. Do đó, hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy gồm: hoạt động điều tra trinh sát và hoạt động điều tra theo luật tố tụng hình sự. Điều tra trinh sát là hoạt động điều tra được tiến hành thông qua việc áp dụng các biện pháp trinh sát như nội tuyến; ngoại tuyến; xây dựng và sử dụng đặc tình, cơ sở bí mật... Điều tra theo luật tố tụng hình sự là hoạt động điều tra của cơ quan điều tra và những cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện, thu thập các tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội theo trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự. Như vậy, điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy là quá trình cơ quan điều tra tiến hành các biện pháp, các chiến thuật nghiệp vụ và các biện pháp điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nhằm tìm kiếm, thu thập tin tức, tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm cơ sở cho hoạt động truy tố, xét xử người phạm tội trước pháp luật. Hoạt động phát hiện tội phạm và điều tra vụ án là hai hoạt động có quan hệ chặt chẽ trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm nói chung và tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý nói riêng (mối quan hệ này sẽ được làm rõ ở phần sau luận văn). - Hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy hiện nay được chia làm hai bộ phận: + Hoạt động điều tra trinh sát: là hoạt động điều tra được tiến hành thông qua công tác nghiệp vụ cơ bản của LLCSND như: trinh sát nội tuyến, trinh sát ngoại tuyến, xây dựng và sử dụng đặc tình, cơ sở bí mật, đấu tranh chuyên án, các biện pháp trinh sát kỹ thuật hỗ trợ... để thu thập tài liệu về hoạt động của tội phạm, phát hiện tội phạm. Các thông tin, tài liệu thu thập từ các biện pháp điều tra trinh sát chưa đảm bảo giá trị chứng minh tội phạm. Vì vậy, để nó trở thành chứng cứ nhất thiết các tài liệu đó phải được chuyển hóa bằng các biện pháp phù hợp.
  18. + Hoạt động điều tra theo luật tố tụng hình sự: là hoạt động điều tra của cơ quan điều tra và các cơ quan khác được tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật nhằm phát hiện, thu thập các tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội theo trình tự và thủ tục được Bộ luật tố tụng hình sự và Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự quy định. Ngoài ra, trong quá trình điều tra theo tố tụng hình sự, điều tra viên còn thu thập được các tài liệu phản ánh hoạt động tội phạm. Tuy nhiên, các tài liệu này chưa có đủ các thuộc tính chứng cứ. Vì vậy, các tài liệu này được làm cơ sở để tiến hành các biện pháp điều tra trinh sát nhằm phát hiện tội phạm ẩn và điều tra mở rộng. Vụ án chỉ có thể được đưa ra xét xử khi các hoạt động thu thập chứng cứ đảm bảo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định. 1.3.2. Nội dung, biện pháp công tác điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án - Hoạt động phát hiện tội phạm: Hoạt động phát hiện tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án là quá trình lực lượng CSND tiến hành các biện nghiệp vụ công khai, bí mật theo quy định của pháp luật nhằm tìm kiếm, thu thập thông tin, tài liệu phản ánh về sự việc, hiện t ượng hoặc những đối tượng liên quan đến tội phạm, xác định có dấu hiệu tội phạm hay không là căn cứ để khởi tố vụ án và tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. - Hoạt động chứng minh tội phạm và người phạm tội là làm rõ những vấn đề cần chứng minh trong vụ án: Những quy định tại Điều 63 BLTTHS là những vấn đề pháp luật bắt buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. Cơ sở lý luận để đề ra nội dung những vấn đề cần phải chứng minh trong các vụ án ma túy nói chung và các vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án nói riêng là những quy luật hình thành thông tin về thủ
  19. phạm và vụ án, được phản ánh ở môi trường vật chất trong quá trình thực hiện tội phạm, mà cơ quan điều tra có thể thu thập được. Trong quá trình điều tra vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy do người dân tộc ít người gây án, cơ quan điều tra cần phải quán triệt đầy đủ những vấn đề cần phải chứng minh quy định tại Điều 63 - BLTTHS và căn cứ vào các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy quy định tại Điều 194 - BLHS. Đó là các nội dung: - Có hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy xẩy ra hay không? Thời gian xảy ra vụ án? Xảy ra ở đâu? - Ai là người phạm tội? + Các thông tin về nhân khẩu học của người phạm tội: Họ tên, tuổi, dân tộc, quốc tịch, nơi sinh, nơi thường trú. + Các thông tin về bản chất xã hội của người phạm tội: Trình độ văn hóa, đảng phái, nghề nghiệp, chức vụ, nơi làm việc, thái độ đối với lao động, mức độ tham gia vào các hoạt động xã hội, có thành tích gì không; có tiền án, tiền sự không. + Các thông tin về điều kiện sống của người phạm tội: Mức độ thu nhập, điều kiện, nơi làm việc, những thông tin về hoàn cảnh gia đình... đây là những thông tin góp phần làm rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội. + Những thông tin về đặc điểm tâm lý, thể chất của người phạm tội: Có hay không năng lực trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Động cơ, mục đích phạm tội là gì? Phạm tội có tổ chức hay không? Nếu có thì vai trò, vị trí của từng đối tượng trong tổ chức như thế nào? + Thông tin về lối sống và các mối quan hệ xã hội của người phạm tội. + Các thông tin về phẩm chất riêng và cá tính của người phạm tội. - Phương thức, thủ đoạn thực hiện tội phạm; công cụ, phương tiện được sử dụng để gây án? - Chất ma túy, thủ đoạn cất giấu?
  20. - Những tài sản, tiền và những giá trị vật chất khác do phạm tội mà có hiện đang được cất giấu ở đâu? - Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người phạm tội - Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử tội phạm ma túy nói chung và tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy nói riêng, có quan điểm cho rằng đối với loại tội phạm này thì cơ quan điều tra phải thu được vật chứng là ma túy thì mới xét xử được, điều này làm hạn chế khả năng mở rộng vụ án. Điều 64 - BLTTHS quy định chứng cứ được xác định bằng: a) Vật chứng; b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; c) Kết luận giám định; d) Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác. Vì vậy, về phương diện lý luận và pháp lý, ma túy là vật chứng và là một trong những nguồn chứng cứ để chứng minh tội phạm. Để chứng minh các hành vi phạm tội về ma túy có thể dùng chứng cứ từ những nguồn khác nhau, nhưng chứng cứ phải bảo đảm tính xác thực, hợp pháp và liên quan đến vụ án. Những vấn đề cần phải chứng minh trong quá trình điều tra là từ những vấn đề cơ bản, khái quát đến chi tiết, đầy đủ từ những vấn đề có tính định hướng đến những vấn đề cụ thể. Thực chất đó là quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ các giả thuyết nghiệp vụ, các kế hoạch điều tra nhằm làm rõ vụ án. Vì vậy, trong từng vụ án cụ thể, điều tra viên phải vận dụng linh hoạt nội dung những vấn đề cần chứng minh nhằm làm rõ tội phạm. Đối tượng là ai, quốc tịch, dân tộc nào, hiện đang sinh sống, cư trú ở đâu... Làm rõ những vấn đề này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử được khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời giúp làm rõ các nguyên nhân, điều kiện người dân tộc ít người phạm tội tàng
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản