LUẬN VĂN: Công tác vận động tín đồ tôn giáo trong thời kỳ đổi mới: thực trạng, phương hướng và giải pháp

Chia sẻ: dellvietnam

Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn: công tác vận động tín đồ tôn giáo trong thời kỳ đổi mới: thực trạng, phương hướng và giải pháp', luận văn - báo cáo, thạc sĩ - tiến sĩ - cao học phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Công tác vận động tín đồ tôn giáo trong thời kỳ đổi mới: thực trạng, phương hướng và giải pháp

LUẬN VĂN:


Công tác vận động tín đồ tôn giáo trong
thời kỳ đổi mới: thực trạng, phương
hướng và giải pháp




Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài

Công tác vận động quần chúng nói chung, công tác vận động tín đồ các tôn giáo
nói riêng là công tác thường xuyên và tưởng chừng như quá quen thuộc trong sự nghiệp
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trước kia cũng như trong sự nghiệp cách mạng
XHCN hiện nay do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, thế nhưng khi Đảng ta thực hiện
bước chuyển đổi cách mạng, đẩy mạnh công cuộc đổi mới và từng bước đưa nước ta
bước vào quỹ đạo của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì công tác
vận động tín đồ các tôn giáo - một công tác vận động quần chúng "đặc biệt" lại càng
phải hết sức coi trọng.

Hơn thế nữa, những chuyển biến tích cực và tiêu cực của đời sống quốc tế cũng
tác động khá phức tạp đối với tình hình trong nước một khi Đảng ta chủ trương mở rộng
quan hệ quốc tế với phương châm "Việt Nam sẽ là bạn của các nước!". Trên phương
diện của đời sống tôn giáo - một vấn đề vừa tế nhị, vừa phức tạp, lại mang tính quốc tế
hóa cao, tất nhiên cũng đặt ra cho Đảng, Nhà nước ta phải có những chủ trương, đường
lối, chính sách thích ứng, phù hợp với tình hình quốc tế và điều kiện lịch sử cụ thể của
đất nước.

Từ khi Đảng ta thực hiện công cuộc đổi mới, tạo điều kiện cho đất nước ta hội
nhập trong xu thế quốc tế hóa thì hoạt động tôn giáo ở nước ta nói chung, ở tỉnh Quảng
Ngãi nói riêng bên cạnh những mặt tốt cũng tồn tại không ít những hoạt động tôn giáo
vi phạm những qui định của Nhà nước: Truyền đạo trái phép; vi phạm quyền tự do
không tín ngưỡng của nhân dân như đe dọa, ép buộc đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo,
thậm chí có nơi hoạt động tôn giáo còn có biểu hiện né tránh sự quản lý của bộ máy nhà
nước ở cơ sở, tập hợp một số người quá khích gây rối, tạo nên những "điểm nóng" gây
ảnh hưởng xấu đến tư tưởng, tâm lý của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà
nước ta, qua đó tạo ra sự chia rẽ giữa đồng bào có đạo và đồng bào không có đạo, chia
rẽ giữa đồng bào theo đạo với cán bộ, đảng viên của ta.

Chính vì lẽ đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu về công tác vận động tín đồ các tôn
giáo ở tỉnh Quảng Ngãi để có những giải pháp thích ứng trong việc bóc tách những
phần tử phản động đội lốt trong các tôn giáo phá hoại chủ trương, đường lối, chính sách
về Tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, gây tổn thất đến uy tín trong đời sống đạo của tín
đồ các tôn giáo là một việc làm bức bách và cần thiết hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài đã được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. ở địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
có đề tài khoa học do đồng chí Từ Tân Vũ (chủ nhiệm đề tài) "Vấn đề tôn giáo và đổi
mới công tác tôn giáo trong tình hình hiện nay ở tỉnh Quảng Ngãi"; Bộ chỉ huy Biên
phòng tỉnh Quảng Ngãi có đề tài khoa học "Đổi mới công tác vận động quần chúng có
đạo của Bộ đội Biên phòng ở khu vực biển - đảo Quảng Ngãi" (D7- 97) do đồng chí
Phan Thanh Long (chủ nhiệm đề tài). Luận án Thạc sĩ có đề tài "Công tác vận động
quần chúng theo đạo Thiên chúa ở miền Bắc nước ta hiện nay" (5.03.14). Ngoài ra, còn
có một số công trình được đăng tải trên các tạp chí "Mấy suy nghĩ về bộ đội làm công
tác dân vận ở vùng đồng bào có đạo" của thượng tá Nguyễn Ngọc Kim (Tạp chí Quốc
phòng toàn dân, tháng 8/2000); "Đoàn B15 với công tác vận động quần chúng ở vùng
đồng bào dân tộc và tôn giáo" của đại tá Võ Quang Hải (Tạp chí Quốc phòng toàn dân,
tháng 11/1999); "Vận động giáo phái Cao đài, nét độc đáo, sáng tạo của Đảng bộ Tây
Ninh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước" của Võ Thị Hoa (Tạp chí Lịch sử Đảng,
tháng 2/2000).

Các công trình nêu trên chỉ đề cập đến những khía cạnh, những vấn đề có liên
quan đến công tác vận động tín đồ các tôn giáo, chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ
thống về công tác vận động tín đồ tôn giáo ở một địa phương cụ thể nhằm đưa ra những
giải pháp khả thi cho việc thực hiện thắng lợi công tác vận động tín đồ các tôn giáo
trong tình hình mới.

3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ thực trạng tình hình công tác vận
động tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi hiện nay; qua đó đề xuất phương hướng và
giải pháp đúng đắn góp phần đưa công tác vận động tín đồ tôn giáo ở địa phương phù
hợp với yêu cầu của tình hình. Với mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:

- Nêu lên bức tranh tổng quan về tình hình tín đồ các tôn giáo ở Quảng Ngãi.

- Đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của công tác vận động tín đồ các tôn giáo trong
những năm qua (nhất là từ khi có Nghị quyết 24/BCT (1990) đến nay).

- Luận giải và kiến nghị về công tác vận động tín đồ các tôn giáo ở địa phương
trong thời gian tới.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận chủ đạo của luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn
giáo và công tác vận động tín đồ tôn giáo.

- Phương pháp luận chung cho luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể có liên
quan để nghiên cứu: điều tra, khảo sát, thống kê, lôgíc và lịch sử, phân tích, tổng hợp
nhằm luận giải các nội dung được nêu ra trong luận văn.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn

-Làm rõ về đặc điểm tâm lý, tình cảm, tư tưởng của các tín đồ tôn giáo trong
từng địa bàn dân cư khác nhau để áp dụng biện pháp tuyên truyền, vận động tín đồ các
tôn giáo một cách thích hợp nhất.

- Đề cập những bài học kinh nghiệm mang tính khả thi đối với công tác vận
động tín đồ ở địa phương đúng đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hiện
nay.

6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Luận văn bảo vệ thành công sẽ là tài liệu tham khảo cho việc hoạch định chính
sách vận động quần chúng tín đồ của các cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể ở địa
phương; hy vọng luận văn sẽ góp phần bé nhỏ trong việc xây dựng cơ sở đoàn kết dân
tộc, đoàn kết và bình đẳng tôn giáo.

- Trong chừng mực nhất định, luận văn cũng là một tài liệu tham khảo có giá trị
trong việc giảng dạy (thuộc hệ thống Trường Chính trị) cũng như nghiên cứu về tình
hình công tác vận động tín đồ tôn giáo ở địa phương.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 2
chương, 4 tiết.
Mục lục

Trang



5
Chương 1

tín đồ các tôn giáo ở tỉnh quảng ngãi - tình hình và đặc
điểm

1.1. Khái niệm điều kiện tự nhiên - xã hội ở tỉnh Quảng Ngãi tác động 5
đến đời sống vật chất - tinh thần của tín đồ các tôn giáo

1.2. Tình hình và đặc điểm tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi 11
hiện nay

1.2.1. Tình hình, đặc điểm tín đồ đạo Phật 14

1.2.2. Tình hình, đặc điểm tín đồ đạo Công giáo 22

1.2.3. Tình hình, đặc điểm tín đồ đạo Tin lành 27

1.2.4. Tình hình, đặc điểm tín đồ Cao đài 36

Chương 2: 45
công tác vận động tín đồ tôn giáo trong thời kỳ đổi mới:
thực trạng, phương hướng và giải pháp

2.1. Thực trạng tình hình vận động tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng 47
Ngãi

2.1.1. Những thành tựu đạt được 51

2.1.2. Những thiếu sót tồn tại 58

2.1.3. Nguyên nhân và thực trạng 63

2.2. Phương hướng và giải pháp cho công tác vận động tín đồ các 67
tôn giáo ở địa phương

2.2.1. Một vài dự báo về tình hình tôn giáo ở Việt Nam và tỉnh Quảng 67
Ngãi

2.2.2. Những phương hướng chung 71

2.2.3. Những biện pháp cần thực thi 73

77
Kết luận

79
Danh mục tài liệu tham khảo




Chương 1

Tín Đồ Các TÔN Giáo ở Tỉnh Quảng Ngãi -
Tình Hình Và Đặc Điểm

1.1. Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội ở tỉnh Quảng Ngãi tác động đến
đời sống vật chất - tinh thần của tín đồ các tôn giáo
Nằm trong địa phận của các tỉnh miền Trung Trung Bộ, tỉnh Quảng Ngãi gần
như ở khoảng giữa hai đầu của đất nước. Theo quốc lộ 1A về phía bắc cách Thủ đô Hà
Nội 883km; về phía nam cách thành phố Hồ Chí Minh 838 km. Từ 14032'40'' - 15025'
độ vĩ bắc và từ 108006' - 109004'35'' độ kinh đông [24, tr. 2], tỉnh Quảng Ngãi giáp với
tỉnh Quảng Nam ở phía bắc; giáp với tỉnh Bình Định ở phía Nam; về phía Tây, tỉnh
Quảng Ngãi bị ngăn cách với tỉnh Kontum bởi các chi nhánh của dãy núi Trường Sơn
hùng vĩ; về phía Đông giáp mặt với biển Đông.

Tỉnh Quảng Ngãi có bờ biển dài 130km, bờ biển quanh co và khúc khuỷu tạo ra
nhiều cửa lạch, vũng Vịnh. Đó là nơi cư trú thuận lợi của nhiều tàu, thuyền hoạt động
trên vùng biển Quảng Ngãi. Đặc biệt, có vũng nước sâu Dung Quất được Nhà nước
Trung ương chọn làm nơi xây dựng nhà máy lọc dầu và xây dựng Cảng biển nước sâu.

Diện tích tự nhiên 5.135,51 km2, tỉnh Quảng Ngãi có chiều dài theo hướng Bắc
- Nam gần 100km, có chiều rộng theo hướng Đông - Tây là 60km [24, tr. 3]. Địa hình
của tỉnh nghiêng từ Tây sang Đông và hội đủ bốn khu vực: Đồng bằng, trung du, miền
núi và hải đảo - chính vì sự phức hợp và đa dạng này đã tạo cho tỉnh Quảng Ngãi mang
những đặc điểm có tính chất đặc thù cho từng vùng, từng khu vực. Do vậy, khó có thể
có chung một chiến lược mang tính đồng bộ trong lãnh đạo, quản lý địa phương. Từ
đó dẫn đến tác động dây chuyền gây ảnh hưởng đến tình hình đời sống kinh tế - chính
trị - xã hội của nhân dân địa phương.

Tỉnh Quảng Ngãi có 4 con sông lớn, nhưng nhìn chung sông ngòi của tỉnh có độ
đốc cao(từ 100,5 đến 330) và ngắn, lưu lượng thấp nên nước thường dâng cao vào mùa
mưa, khô cạn vào mùa khô. Để khắc phục tình trạng này, sau ngày đất nước thống nhất,
được sự giúp đỡ của Trung ương năm 1976 tỉnh Quảng Ngãi khởi công xây dựng công
trình thủy lợi Thạch Nham trên thượng nguồn sông Trà Khúc để đưa nước phục vụ sản
xuất và đời sống nhân dân ở các huyện đồng bằng trong mùa khô cạn.

Do địa hình nghiêng nên mùa mưa thường xảy ra hiện tượng lũ ở miền núi
khiến cho đất đai canh tác vốn đã bạc màu lại càng bị xói mòn nghiêm trọng. Theo bản
đồ thổ nhưỡng của tỉnh Quảng Ngãi thì hiện nay trong toàn tỉnh có 68 loại đất khác
nhau, nhưng nhìn chung chất lượng đất trồng trọt thuộc loại trung hình so với cả nước.

Về khí hậu, thời tiết chủ yếu là khắc nghiệt, một năm có hai mùa rõ rệt: Mùa
mưa và mùa nắng. Mùa mưa thì gây ra lũ, lụt lớn, mùa nắng dễ gây ra hạn hán kéo dài.

Như vậy, điều kiện tự nhiên ở Quảng Ngãi là bất lợi cho đời sống của nhân dân,
vốn là một địa phương có cư dân nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao. Chúng ta đều biết
rằng, khó khăn về đời sống kinh tế chính là mảnh đất tốt để cho tín ngưỡng, tôn giáo
sinh sôi, nẩy nở. Song tùy theo biên độ nhiệt của tình hình chính trị mà đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo có những biểu hiện (sôi nổi hoặc thầm lặng) khác nhau, mang những
mục đích khác nhau. Vì lẽ đó mà cũng có thể nói rằng: tác động xấu của điều kiện địa lý
tự nhiên là tiền đề cho sự phát sinh tín ngưỡng tôn giáo. Nhưng điều có tính quyết định
cho sự hình thành và phát triển của tín ngưỡng, tôn giáo chính là do tác động của yếu tố
xã hội.

Theo "Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam" thì tỉnh Quảng Ngãi nguyên
là đất Cổ Lũy của Chiêm Thành. Năm 1402 Hồ Quý Ly cất binh đánh Chiêm Thành,
chiếm phần đất Cổ Lũy và chia Cổ Lũy thành hai châu: Châu T ư và Châu Nghĩa trực
thuộc lộ Thăng Hoa của nước Đại Ngu- Bên cạnh binh sĩ và quan lại trấn giữ, nhà Hồ
đưa dân Việt ở Nghệ An và Thuận Hóa vào định cư, sinh sống lâu dài [65, tr. 62-63].
Từ đó, trên đất Cổ Lũy ngoài các tộc người bản xứ còn có thêm người Việt cùng sinh
sống. Đến đời Hồng Đức, hai Châu Tư và Nghĩa được đổi thành phủ Tư Nghĩa trực
thuộc thừa tuyên Quảng Nam. Đời Tây Sơn, phủ Tư nghĩa được đổi thành trấn hòa
Nghĩa. Năm 1808, Gia Long đổi trấn Hòa Nghĩa thành trấn Quảng Nghĩa. Vì kỵ tên húy
của Nguyễn Phúc Toản nên trấn Quảng Nghĩa được đổi thành trấn Quảng Ngãi. Năm
1832 trấn Quảng Ngãi được đổi thành tỉnh Quảng Ngãi.

Căn cứ vào hai câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ:

"Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long"
Cũng minh chứng được rằng con người đất Quảng ngày nay chính là hậu duệ
của các đấng hào kiệt ở đất kinh kỳ ngày xưa "Cầm gươm đi mở cõi". Do kế thừa truyền
thống bất khuất, ngoan cường của cha ông, nên quê hương Quảng Ngãi được mệnh
danh là tỉnh nổi tiếng với phong trào chống thuế (1901); phong trào cộng sản và cách
mạng. Đặc biệt, trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, tỉnh Quảng Ngãi đã trở thành
vùng chiến khu kiên cường của Liên khu V. Tiếp nối truyền thống ấy, trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước vừa qua quân dân tỉnh Quảng Ngãi cũng ghi được những
chiến công rực rỡ rất đáng tự hào: Chiến thắng Ba Gia; chiến thắng Vạn Tường... góp
phần tô thêm những trang sử chống ngoại xâm kỳ diệu của dân tộc!

Đi liền với truyền thống và lịch sử ấy, quê hương Quảng Ngãi cũng sản sinh ra
những nhân vật lừng danh một thời như: Trương Quyền, Trương Định, Trương Quang
Trọng, Nguyễn Bá Loan, Phạm Văn Đồng, Phạm Kiệt, Trần Quí Hai, Trần Văn Trà...
đó là niềm tự hào tiêu biểu của quê hương và đất nước.

Năm 1945, tỉnh Quảng Ngãi được mang tên tỉnh Lê Trung Đình - tên của một
chiến sĩ cách mạng sinh ra trên đất Quảng Ngãi. Nhưng sau đó đổi tên tỉnh thành tỉnh
Quảng Ngãi để thống nhất về mặt tổ chức hành chính của cả nước.

Tháng 11/1975, tỉnh Quảng Ngãi sáp nhập với tỉnh Bình Định thành tỉnh Nghĩa
Bình. Đến tháng 7/1989, tách tỉnh Nghĩa Bình thành hai tỉnh độc lập là Quảng Ngãi và
tỉnh Bình Định.

Dựa vào kết quả sơ bộ của cuộc "Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999" dân
số tỉnh Quảng Ngãi có 1.193.000 người, chiếm 1,6% dân số của cả nước. Với 17 dân
tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc kinh chiếm số đông 87,8%; dân tộc H're có
8,58%; dân tộc Cor có 1,8%; dân tộc Xêđăng có 0,7% các dân tộc khác có tỷ lệ 0,12%
[24, tr. 12]. Trong 13 huyện (thị) của tỉnh Quảng Ngãi thì có 6 huyện (thị) ở khu vực
đồng bằng; 1 huyện trung du, 1 huyện hải đảo và 5 huyện miền núi. Dân cư phân bố
không đều, tập trung chủ yếu ở đồng bằng chiếm 83,8% còn ở miền núi, hải đảo dân cư
thưa thớt chiếm 16,3% dân số của tỉnh. ở các vùng đồng bằng, trung du và hải đảo đại
đa số là dân tộc kinh., có đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội thuận lợi và tiến bộ hơn so
với các dân tộc ít người ở miền núi. Dù ở khu vực lãnh thổ nào đi nữa, nhìn chung cư
dân Quảng Ngãi chủ yếu vẫn là cư dân nông nghiệp. Do vậy, yếu tố cộng đồng làng xã,
cộng đồng dòng họ cũng ít nhiều chi phối đến đời sống mọi mặt của con người. Tuy
nhiên so với bản quán tổ tiên thì tính cộng đồng làng xã, cộng đồng dòng họ không bị
ràng buộc chặt chẽ mà chỉ là cái nghĩa, cái tình trong quan hệ giữa con người với con
người trong một cộng đồng. Những truyền thống quí báu của tổ tiên cũng được lưu
truyền và ứng dụng vào đời sống ở vùng đất mới, tất nhiên phải qua sự chọn lọc và phát
triển phù hợp với đời sống văn hóa bản địa. Đối với đời sống tín ngưỡng và tôn giáo,
người dân Quảng Ngãi cũng mang đầy đủ những yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo của một cư
dân nông nghiệp đa thần: ở vùng biển, người dân coi trọng việc xây dựng Lăng, Miếu
thờ cá voi (cá Ông) với những nghi thức long trọng và trang nghiêm. Cư dân ở đồng
bằng và trung du vẫn dựng đình, miếu để thờ Thành Hoàng của làng, xã; còn c ư dân
miền núi vẫn bảo lưu đậm nét những tín ngưỡng đa thần nguyên thủy của họ.

Có thể nói rằng, Quảng Ngãi là một tỉnh bị tàn phá ác liệt bởi nhiều cuộc chiến
tranh liên tiếp, kéo dài; lại thêm điều kiện thiên nhiên, thời tiết khắc nghiệt, nên tỉnh
Quảng Ngãi rất khó khăn trong việc phục hồi và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội.

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV tại Đại hội
đại biểu tỉnh Đảng bộ lần XVI (9/2000) có nêu:

Nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội đạt thấp - nông nghiệp phát triển chưa
toàn diện, tỉ suất hàng hóa thấp, các ngành công nghiệp, dịch vụ còn nhiều
mặt yếu, năng lực cạnh tranh kém- văn hóa, xã hội tuy có chuyển biến nhưng
có mặt còn chậm, chất lượng thấp, đời sống của một bộ phận dân cư nhất là
đồng bào miền núi còn nhiều khó khăn [1, tr. 19].

Phản ánh bức tranh kinh tế - văn hóa- xã hội như trên quả là vấn đề còn nan
giải, cần phải không ngừng phấn đấu cật lực hơn nữa mới mong đem lại ấm no và hạnh
phúc cho mọi người.

Sống trên mảnh đất không mấy thuận lợi, thường xuyên chống chọi với thiên
nhiên, chống và khắc phục hậu quả của chiến tranh khiến cho con người Quảng Ngãi đã
quen chịu đựng gian lao, vất vả. Song, không phải vì vốn có đức tính chịu đựng gian
khổ mà con người không cần cầu viện đến một sức mạnh bên ngoài làm trợ thủ, cứu
giúp họ. Với 17 tộc người khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ ắt phải có cách
nghĩ, cách nhìn về đời sống tâm linh của mình bên cạnh đời sống tâm linh của người
khác. Chính vì vậy mà sự giao lưu, đan xen về tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống tinh
thần của các cư dân ở tỉnh Quảng Ngãi là điều dễ hiểu. ở tỉnh Quảng Ngãi có nhiều tín
ngưỡng tôn giáo hiện diện, cộng cư xen lẫn với nhau- không có khu vực toàn tòng của
bất kỳ tôn giáo nào cho dù tôn giáo đó được xem là lớn nhất hoặc nhỏ nhất; ngay trong
một gia đình truyền thống tồn tại hai thế hệ thì có cùng một lúc hai tôn giáo cùng song
song tồn tại, đó là trường hợp ở xã Bình Hải, huyện Bình Sơn (bố và mẹ theo Phật giáo,
các con theo đạo Tin lành). Tuy đan xen, cộng cư trong cùng một địa bàn, song tín đồ
các tôn giáo vẫn tôn trọng lẫn nhau trong các quan hệ xã hội. Đây là đặc điểm có tính
chất nền móng của đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc từ xưa đến nay.

Theo số liệu của Ban Tôn giáo tỉnh, hiện nay toàn tỉnh có 42.049 tín đồ nhưng
con số này chỉ tập trung ở các tôn giáo lớn của tỉnh: Đạo Phật, đạo Cao Đài, đạo Công
giáo và đạo Tin lành. Ngoài ra, còn một số tín đồ đạo Phật của người Hoa (có hai cơ sở
thờ tự tại thị xã Quảng Ngãi); tín đồ đạo Hồi, tín đồ đạo Hòa Hảo; tín đồ của các tà đạo
đang lén lút hoạt động trong các địa bàn dân cư của tỉnh (Thanh Hải vô Thượng sư, đạo
Tâm linh, đạo Bhai...). Bên cạnh những tôn giáo và tà đạo kể trên, còn có hoạt động của
tín ngưỡng dân gian như: Thờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng (ở dân tộc Kinh); tín
ngưỡng đa thần nguyên thủy (của dân tộc ít người) đã phản ánh một bức tranh tôn giáo,
tín ngưỡng trong đời sống nhân dân địa phương hiện nay là rất phong phú và phức tạp.
Theo đạo rầm rộ, rồi nhạt đạo, khô đạo, bỏ đạo và tái theo đạo là cái vòng luẩn quẩn
trong đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương, nó phản ánh một sự bế
tắc trong cuộc sống của con người; nó phản ánh một tư tưởng tự do trong tôn giáo và
đồng thời cũng chứng tỏ sự cởi mở, không cực đoan, cuồng tín trong đời sống đạo của
nhân dân, và một phần nào đó nó cũng nói lên tính thực dụng trong tôn giáo. Xu hướng
này hiện nay có tình trạng "mượn đạo tạo đời", "theo đạo kiếm gạo mà ăn...", đây là
những bả vật chất quen thuộc của các thế lực phản động hoặc số người lợi dụng đội lốt
tôn giáo dùng để lừa bịp, tập hợp quần chúng nhân dân nhẹ dạ cả tin vào tổ chức tôn
giáo này, tôn giáo nọ nhằm thực hiện các mưu đồ chính trị, kinh tế, xã hội khác nhau.

Là một tỉnh có truyền thống hiếu học nhưng nhân dân nông nghiệp, nông thôn
lại không có điều kiện đi học nên dân trí thấp. Do vậy ở một bộ phận nhân dân nông
thôn (kể cả tín đồ các tôn giáo) dễ bị lợi dụng, lôi kéo vào những hoạt động xấu của bọn
đội lốt trong các tôn giáo là đương nhiên.

Nêu bức tranh tổng quát về điều kiện tự nhiên - xã hội tác động đến đời sống
muôn mặt của tín đồ các tôn giáo ở địa phương là điều cần thiết. Nhưng vấn đề quan
trọng hơn là cần phải đi sâu tìm hiểu về đặc điểm tâm lý của tín đồ ở từng tôn giáo để có
giải pháp phù hợp cho việc vận dụng công tác quần chúng của Đảng vào từng tôn giáo
cụ thể.

1.2. Tình hình và đặc điểm tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi hiện nay

Trong tác phẩm "Từ điển tiếng Việt" có viết: "Tín đồ là người tin theo một tôn
giáo: Tín đồ Phật giáo, tín đồ Công giáo" [65, tr.7 88]. Nói như vậy sẽ chưa chặt chẽ,
bởi lẽ có người tin theo một tôn giáo, sùng kính một tôn giáo nào đó nhưng hoàn toàn
không phải là tín đồ của tôn giáo đó. Trường hợp này vẫn thường thấy ở Phật giáo, có
người đến chùa thắp hương, lễ Phật do trong cuộc sống hằng ngày của người ta gặp phải
chuyện éo le hoặc gặp điều may mắn họ đều đến cửa Phật để sẻ chia... Nhưng họ không
có quy y tam bảo, họ không bị ràng buộc bởi chế định nào của đạo Phật thì không thể
xem người đó là tín đồ được.

Do vậy, để có được một khái niệm hoàn hảo thế nào là tín đồ của một tôn giáo,
hiện nay các nhà khoa học thuộc lĩnh vực xã hội và nhân văn còn đang tiếp tục nghiên
cứu. Trong khi chờ đợi có sự thống nhất khái niệm về tín đồ của một tôn giáo, chúng ta
cũng cần phải tạm thời quán triệt một vài định ước thế nào là tín đồ của một tôn giáo
trong điều kiện hiện nay.
Đồng chí Nguyễn Chính - nguyên trưởng tiểu ban công tác tôn giáo của Ban
Dân vận Trung ương Đảng, trong bài viết: "Vấn đề tín đồ của một tôn giáo" có ghi nhận
những yếu tố cơ bản về tín đồ của một tôn giáo như sau:

Trước hết là tự nguyện tiếp nhận tín ngưỡng và giáo lý tối thiểu của
tôn giáo bằng một hành vi (nghi thức) nhập đạo căn bản. Ví dụ: Việc chịu
phép rửa tội của đạo Công giáo, quy y tam bảo (phật, pháp, tăng) của đạo
Phật... Thứ đến phải tuân thủ những giới luật tối thiểu đối với một tín đồ. Ví
dụ: Việc thọ ngũ giới của đạo Phật, giữ 10 điều răn và các phép bí tích của
đạo Công giáo... Cuối cùng là thành viên tự giác của một giáo hội hay một
cộng đồng tôn giáo [25, tr. 4].

Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn - Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo cho
rằng:

Tín đồ của một tôn giáo là người chịu theo một qui định của tôn giáo
đó (qui định về tổ chức, qui định về giáo lý, qui định về hành vi). Ví dụ: Đạo
Công giáo khi sinh ra đã chịu lễ bắp tem nghĩa là sống cả đời trong đạo; đạo
Tin lành thì con người trưởng thành từ 16 - 18 tuổi trở lên chịu lễ bắp tem;
còn đối với tín đồ đạo Phật khi họ quy y, ăn chay và theo quy định của đạo
Phật... Như vậy, tín đồ là dấu hiệu để phân biệt người theo tôn giáo và người
không theo tôn giáo, dấu hiệu đó do từng tôn giáo quy định.

(Trích theo đề cương bài giảng của GS Đặng Nghiêm Vạn: Mối quan hệ giữa
tôn giáo và cộng đồng xã hội (ngày 28/8/2000)).

Thiết nghĩ, những nhận định nêu trên có thể khái quát hóa thành khái niệm về
tín đồ của một tôn giáo. Đây cũng là vấn đề cần phải thống nhất trước khi nghiên cứu về
tình hình, đặc điểm của từng tín đồ tôn giáo cụ thể ở địa phương. Mặt khác, cũng cần
nên lưu ý đến đặc điểm, tình hình chung của tín đồ các tôn giáo để có cái nhìn nhận nhất
quán trong nghiên cứu, tìm hiểu đó là:
- "Bất kỳ tín đồ một tôn giáo nào cũng coi niềm tin tôn giáo của mình là thiêng
liêng. ý thức và niềm tin đó chủ yếu là tự bản thân họ" [78, tr. 9].

- ở tất cả các tôn giáo dù truyền thống hay hiện đại đều mang tính mơ hồ, vừa
quyến rũ, lôi kéo, vừa hù dọa, răn đe tín đồ bằng những tội lỗi "nghiệp chướng", tội lỗi
"tổ tông" khiến tín đồ phải quy phục trước uy quyền mầu nhiệm của đấng tối cao. Do
đó, trong tư tưởng của một tín đồ luôn thể hiện hai động thái song song là tin kính và sợ
hãi.

- Phần lớn tín đồ các tôn giáo là nông dân cần cù, chất phác. Do đó, tính hướng
thiện, tính yêu thương con người và đất nước là một trong những đặc tính bao trùm của
người tín đồ chân chính, họ muốn có cuộc sống êm đẹp ở trần gian, nên tín đồ các tôn
giáo thường hay đứng ở vị trí yếm thế hơn là linh hoạt, sôi nổi trong môi trường xã hội,
nếu như cuộc sống đạo và đời của họ được ổn định, bình yên. Tỉnh Quảng Ngãi có 4 tôn
giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Cao đài, Tin lành. Những năm đầu sau ngày giải phóng
hoạt động của các tôn giáo bị thu hẹp, tín đồ các tôn giáo đều giảm, phần lớn các cơ sở
thờ tự bị tàn phá trong chiến tranh. Từ khi có chính sách đổi mới của Đảng và Nhà
nước, đặc biệt sau khi có Nghị quyết 24/TW và Nghị định 69/HĐBT thì hoạt động của
tôn giáo phục hồi và số lượng tín đồ các tôn giáo phát triển nhanh. Nhìn chung hoạt
động của tín đồ các tôn giáo đều xoay quanh đường hướng hành đạo của tôn giáo mình,
hoạt động trong khuôn khổ chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Tuy nhiên vẫn có một số tín đồ cực đoan, còn luyến tiếc với những gì mà chế độ
ngụy quyền ưu ái, mặc dù đó chỉ là sách lược mua chuộc, lừa bịp dã hiệu. Số này thường
được bọn đội lốt trong các tôn giáo triệt để khai thác và lôi kéo. Chúng lợi dụng chính sách
đổi mới của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo để đưa ra những yêu sách, kiến nghị không
đúng với quy định của luật pháp, làm ảnh hưởng đến đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo
trong cộng đồng xã hội.

1.2.1. Tình hình, đặc điểm tín đồ đạo Phật
Trong bản báo cáo tại Đại hội lần thứ II của Ban trị sự Phật giáo tỉnh Quảng
Ngãi ghi rõ: đến năm 2000, trong toàn tỉnh có 3.215 tín đồ được nhận quy y. Nhưng
theo đồng chí chuyên viên đảm nhận công tác Phật giáo của Ban Tôn giáo tỉnh cho biết:
Tín đồ đạo Phật trong toàn tỉnh hiện nay có khoảng 24.577 tín đồ gồm cả hai loại (thuần
thành và không thuần thành) (xem biểu 2, trang 44).

Tín đồ thuần thành là tín đồ có quy y và thực hiện năm giới của
nhà phật.

Tín đồ không thuần thành, không tham gia quy y nhưng tin và theo đạo Phật, đi
lễ chùa, ăn chay vào ngày rằm (ngày 15 âm lịch) và ngày mồng một (01 âm lịch) hằng
tháng, và thờ Phật trong nhà. Số lượng tín đồ không thuần thành có số lượng lớn hơn số
lượng tín đồ thuần thành nhiều lần. Do vậy, đứng về mặt số lượng tín đồ Phật giáo hiện
nay thì không thể có con số chính xác mà chỉ nêu lên một cách tương đối để có cơ sở
đánh giá.

Phật giáo xuất hiện ở tỉnh Quảng Ngãi rất sớm, nhưng chỉ ở dạng "tiềm tàng"
trong từng con người, trong từng gia đình của các cư dân phía Bắc vào lập nghiệp. "Khi
nhà sư Minh Hải (Pháp Bảo) - Nhà sư thuộc thiền phái Lâm Tế - Một tông phái chủ yếu
của Phật giáo miền Trung và miền Nam hiện nay, thành lập chùa Thiên ấn vào n ăm
1677 thì ở tỉnh Quảng Ngãi mới chính thức có tổ chức Phật giáo ra đời" [85, tr. 8]. Song
vào thời điểm của năm 1677 chùa Thiên ấn mới chỉ là một thảo am, đến năm 1695 chùa
được khởi công xây dựng lại. Năm 1727 Vua Lê Dụ Tông phong sắc tứ "Thiên ấn tự". Nhà
sư Pháp hóa hòa thượng trở thành vị tổ sư đầu tiên của chùa Thiên ấn và được coi là
người đầu tiên truyền phái Thiền Lâm Tế vào Quảng Ngãi. Đồng thời chùa Thiên ấn
được xem là tổ đình Thiền phái Lâm Tế tại Quảng Ngãi. Bên cạnh chùa Thiên ấn được
phong sắc Tứ còn có chùa Phổ Tế thuộc huyện Tư Nghĩa được chúa Nguyễn Phúc Khoát
(1738-1765) đề tặng: "Quốc chủ Tứ - Tế đạo nhơn ngự để". Và lần lượt các ngôi chùa
khác được xây dựng khắp các địa bàn trong tỉnh như chùa: Bảo Lâm, Viên Giác, Khánh
Vân, Thình Thình, Quang Lộc, Long sơn, An Long, Hội phước... Căn cứ vào sự hiện diện
của hàng loạt ngôi chùa ở địa phương cũng chứng tỏ về sự phát triển của đạo pháp
trong buổi đầu xây dựng quê hương mới.

Sau hơn hai trăm năm hưng thịnh dưới thời Lê Trung Hưng và các chúa
Nguyễn, Phật giáo ở Quảng Ngãi bắt đầu đi vào sự suy thoái giống như số phận chung
của đạo Phật cả nước- nguyên nhân chủ yếu là do các Vua thời Nguyễn (Từ Gia Long
đến Tự Đức) cần có một học thuyết để trị nước có lợi cho chính quyền phong kiến
chuyên chế mới hình thành. Nhà Nguyễn chọn Nho giáo làm tư tưởng độc tôn, còn Phật
giáo chẳng những không được trọng vọng như trước mà ngược lại bị triều đình phong
kiến nhà Nguyễn bài xích và hạn chế. Tuy nhiên, trong dân gian các tín đồ đạo Phật vốn
đã sẵn có tư tưởng đồng nguyên tam giáo: Nho - Đạo - Phật. Do đó, sự tranh chấp, kỳ
thị giữa các tín đồ khác nhau không diễn ra. Khi thực dân Pháp từng bước xâm lược
Việt Nam thì sự tranh chấp giữa Phật giáo và Công giáo cũng bắt đầu nảy sinh. Song,
đối với tín đồ Phật giáo, việc đạo Phật giữ vai trò tham chính hay không tham chính là
vấn đề không quan trọng mà điều cốt yếu là tín đồ đạo Phật có hòa quyện vào cộng
đồng dân tộc như một truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chung lưng đấu cật
cùng với dân tộc hay không.

Phật giáo là một tôn giáo đại diện cho sự từ bi, độ lượng, đại xá trong quan hệ
đời thường giữa người với người. Vì vậy, trải qua bao thăng trầm, tín đồ đạo Phật ở
Quảng Ngãi vẫn tồn tại với số lượng, đông đúc, mặc dù tổ chức giáo hội và giáo lý của
Phật giáo rất lỏng lẻo.

Trong những năm 20 của thế kỷ 20, thực dân Pháp cũng đã thấy được sự hiện
hữu của Phật giáo trong lòng dân tộc là không thể chối bỏ được, mặc dù có sự suy vong
trầm trọng về đạo pháp. Do đó, trong xu hướng "Tương kế tựu kế" thực dân pháp cho
phép Phật giáo thực hiện công cuộc "chấn hưng" đạo pháp để qua đó nắm lấy đạo Phật
làm cơ sở xã hội, thực hiện mưu đồ chính trị của chúng. Thế nhưng "phong trào chấn
hưng Phật giáo" không đi theo xu hướng của chính quyền thực dân mong muốn. Các
Hội Phật học lần lượt ra đời ở khắp nơi trên đất nước để tuyên truyền quan điểm mới về
giáo lý nhà Phật, cải tổ tổ chức, củng cố lại giáo hội nhằm khắc phục những tồn tại, vì
rằng nguyên nhân làm cho đạo Phật suy vong cũng phát xuất từ những tồn tại của nó.
Ngày 20/8/1938 tại tổ đình Thiên ấn, Chi hội An Nam phật học hội tỉnh Quảng Ngãi
được thành lập, thành phần của Chi hội bao gồm cả nhân sĩ, trí thức, thương gia. Trụ sở
của Chi hội đặt tại chùa Hội Phước - thị xã Quảng Ngãi. Tiếp theo sự ra đời của Chi hội
An Nam phật học hội tỉnh thì ở các huyện Ban Tịnh độ của Hội cũng thành lập, trở
thành phong trào sôi nổi vừa phát triển hội viên, vừa tuyên truyền phật pháp. Sự kiện
này tạo điều kiện thuận lợi cho tín đồ an tâm hành đạo, phần nào đó cũng động viên họ
gắn bó với truyền thống yêu nước của dân tộc.

Bên cạnh tổ chức Phật giáo yêu nước, xuất hiện các tổ chức phật giáo thân
pháp, cụ thể như: Nguyễn Tăng - đạo danh Thích Trí Hưng, con thứ 13 của Nguyễn
Thân, tu ở chùa Từ Lâm được thực dân pháp nâng đỡ và dựa vào thế Tuần Vũ Quảng
Ngãi là Võ Chuần, lập ra Phật giáo Thuyền Lữ và cho ra đời tập san Thuyền Lữ. Tổ
chức này sống không quá 4 năm và chỉ hoạt động ở các tỉnh miền Trung. Sau đó,
Nguyễn Tăng chạy vào Sài Gòn cùng với Thích Trung Nghĩa lập ra Phật giáo Cổ sơn
môn, trụ sở đặt tại chùa Giác Lâm (Phú Thọ - Sài Gòn), ít lâu rời về chùa Phụng Sơn.
Nhưng tổ chức này cũng bị các tổ chức Phật giáo yêu nước tẩy chay. Xuyên suốt những
giai đoạn lịch sự tiếp theo, tín đồ Phật giáo tỉnh Quảng Ngãi đã đóng góp một vị trí xứng
đáng trong phong trào chống giặc, cứu nước ở địa phương.

Trước 1945, được sự hướng dẫn của Mặt trận Việt Minh, Phật giáo Quảng Ngãi
thành lập Chi hội phật giáo cứu quốc, do hòa Thượng Thích Giải Hậu làm Hội trưởng.
Từ đó, tín đồ Phật giáo ở Quảng Ngãi có hướng đi đúng đắn trong lòng dân tộc.

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp trở lại xâm lược Việt Nam,
dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, vào năm 1951, giới Phật tử yêu nước trong
tỉnh mở Đại hội bầu Ban trị sự Chi hội Phật giáo liên lạc Quảng Ngãi. Đại hội bầu hòa
thượng Thích Giải Hậu làm Chi hội trưởng, trụ sở của Ban trị sự Chi hội đặt tại chùa Hội
Phước - thị xã Quảng Ngãi.

Tháng 8/1954, Chi hội Phật giáo liên lạc Quảng Ngãi được xác nhập vào Tổng
giáo hội tăng già Trung Việt. Cũng trong thời gian này, các cư sĩ phật giáo ở Quảng
Ngãi vận động thành lập Hội Phật giáo và Hội Phật giáo ra đời do ông Tạ Dinh làm hội
trưởng- Giai đoạn này đã chứng kiến một thời kỳ đen tối nhất trong đời sống tín ngưỡng
tôn giáo của tín đồ phật giáo ở tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và ở miền Nam Việt Nam nói
chung. Với mưu đồ "Công giáo hóa" miền Nam Việt Nam, gia đình họ Ngô dùng tất cả
mọi thủ đoạn đàn áp, khống chế, bách hại nhân dân miền Nam mà đối tượng gánh chịu
chính sách ngụy tạo này không ai khác ngoài tín đồ Phật giáo. Mỹ - Diệm đánh đồng tín
đồ Phật giáo với người cộng sản ở miền Nam Việt Nam là một. Do vậy, cuộc sống ảm
đạm bao quanh tín đồ Phật giáo miền Nam Việt Nam lúc này đã được các nhà nghiên
cứu ghi nhận qua vài nét phát họa sau đây:

Trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng "tại Quảng Ngãi, bằng việc tổ chức các lớp
học chủ nghĩa nhân vị, chính quyền Ngô Đình Diệm đã bắt ép dân, chủ yếu là tín đồ
Phật giáo bỏ đạo của mình để theo Thiên chúa giáo, có nơi Phật giáo bị đã kích mạnh.
Nếu những ai phản đối thì đủ mọi thứ tai ương ập đến" [20, tr. 15].

Hàng loạt những trò mưu ma, xảo quyệt được chính quyền Ngô Đình Diệm
tung ra để nhằm áp chế, cải đạo đối với tín đồ Phật giáo thật là kinh khủng. Thư đề ngày
23/9/1961 của Khuôn hội Phật giáo xã Sơn Mỹ gởi tỉnh Quảng Ngãi cho biết:

Trong thời gian gần đây, cứ theo các báo cáo có Ông thầy Dư người
Công giáo ở Phú Hòa về giảng đạo và dạy thuyết Duy linh tại xã Sơn Mỹ, đi đến
thôn, Ông ấy dùng lời lẽ ép hội viên chính thức của Phật giáo, buộc họ ký đơn
tình nguyện vào Thiên chúa giáo, nếu không thì dùng biện pháp chính quyền
khủng bố. Như ghép vào tội tình nghi, lướng hướng bắt học tập, thu giấy căn
cước và thẻ chứng minh của Phật giáo, làm cho sinh hoạt trở ngại [20, tr. 20].

Kết quả của mưu đồ trên là hầu hết các "cán bộ" từ thôn, xã trở lên (trong bộ
máy chính quyền của Ngô Đình Diệm) đã được cải giáo, lực lượng này được xem như
là cơ sở chính trị của chính quyền Ngô Đình Diệm. Nhưng không bao lâu khi chính
quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ thì "cán bộ" thôn, xã trong bộ máy chính quyền ấy hầu
hết cũng bỏ đạo mới theo mà quay trở lại làm tín đồ đạo Phật.
Trong lĩnh vực kinh tế- xã hội - văn hóa - giáo dục, sự kỳ thị đối với tín đồ phật
giáo còn gian manh, xảo quyệt hơn, "Nổi bật nhất là từ năm 1957, Ngô Đình Cẩn và tay
chân của hắn đã tạo ra. "Vụ án gián điệp miền Trung" giả tạo, khiến cho hầu hết các
tỉnh miền Trung từ (Quảng Trị đến Khánh Hòa) nhiều người bị ghép vào tội làm gián
điệp cho Pháp mà nạn nhân chủ yếu là những tín đồ Phật giáo có thế lực kinh tế" [21, tr.
13].

Hoặc một dẫn chứng khác: "Tại Quảng Ngãi, cũng vịn vào lý do an ninh
(1961), chính quyền Ngô Đình Diệm đã cấm không cho tổ chức lễ Phật đản mà trước đó
chính quyền đã cho phép, trong khi cũng tại đây, một hội chợ của các linh mục đang tổ
chức và được tiếp tục" [21, tr. 16].

Phải chăng tín đồ Phật giáo ở Quảng Ngãi nói riêng, ở miền Nam Việt Nam nói
chung đã có một truyền thống yêu nước gắn liền với lịch sử bất khuất của dân tộc, khiến
cho bọn tay sai của ngoại bang phải thẳng tay trừng trị không thương tiếc! Chính quyền
Ngô Đình Diệm dùng biện pháp qui chụp tín đồ Phật giáo là cộng sản để đàn áp, ly gián
khỏi quê hương bản quán dưới chiêu bài "di dân"... Nhưng "vỏ quýt dày có móng tay
nhọn", trước sự đàn áp khốc liệt của chính quyền Ngô Đình Diệm thì sự kiện ngày
7/5/1963 của phong trào Phật giáo miền Nam đã ghi dấu ấn trong lịch sử là góp phần
làm sụp đổ chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm (1/11/1963). Sau sự kiện này, chính
quyền ngụy Sài gòn có nới tay cho tín đồ Phật giáo được hưởng "tự do dân chủ" nhưng
chỉ là cái bánh vẽ mang tính khẩu hiệu không hơn không kém. Vì vậy, "phong trào đấu
tranh của các bậc cao tăng, tín đồ phật từ diễn ra liên tục suốt thập kỷ 60- 70 mà người
đứng đầu phong trào là hòa thượng Thích Giải Hậu" [85, tr. 15].

Ngày 31/10/1967, đại đức Thích Hạnh Đức tự thiêu tại chùa Tỉnh hội đã gây ra
một chấn động lớn trong đời sống tinh thần của tín đồ Phật giáo Quảng Ngãi. Được sự
chỉ đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, đám tang của đại đức Thích Hạnh Đức đã trở
thành cuộc biểu tình của hơn 20.000 nghìn người xuống đường thị uy lực lượng, đối
mặt với kẻ thù của dân tộc.
Dưới sự hướng dẫn và lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Quảng
Ngãi, trong giai đoạn chống Mỹ, cứu nước nhiều tổ chức Phật giáo yêu nước ra đời trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi: "Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất" (1954). Tổ chức
"gia đình phật tử" (1963); các phong trào đấu tranh cho hòa bình, chống bắt lính trong
phật tử... đi vào hoạt động đạt được kết quả thiết thực, góp phần cùng cả nước làm nên
cuộc chiến thắng mùa xuân lịch sử 1975.

Sau ngày giải phóng đất nước đến năm 1989, tình hình địa phương và đất nước
có sự đổi thay lớn, tác động đến đời sống của tín đồ Phật giáo. Song đa phần tín đồ Phật
giáo hành động theo hiến chương của giáo hội Phật giáo Việt Nam "đạo pháp - dân tộc
và chủ nghĩa xã hội". Từ khi có Nghị quyết 24/BCT (16-10-1990) tín đồ Phật giáo ở
Quảng Ngãi hoạt động sôi nổi với nhiều hình thức phong phú. Bên cạnh việc cúng
dường, niệm phật, lo toan chuyện công đức, các tín đồ Phật giáo còn tham gia các công
tác xã hội mà rõ nét nhất là công tác từ thiện xã hội. Song, việc hiểu sâu sắc về chính
sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo của tín đồ đạo Phật thì
còn nhiều vấn đề khá mơ hồ. Do đó, dễ dẫn đến động thái cực đoan, yêu sách một khi
có kẻ xấu mua chuộc và lợi dụng. Vấn đề mê tín dị đoan trong đời sống một bộ phận tín
đồ Phật giáo ở Quảng Ngãi vẫn còn nặng nề; hiện t ượng xem tử vi, bùa chú... đang là
vấn đề tồn tại trong đời sống tâm linh của họ.

Bàn về đặc điểm, tình hình của tín đồ đạo Phật ở Quảng Ngãi không thể không
điểm qua một đơn vị tôn giáo mang tính quần chúng rất quan trọng đó là Gia đình phật
tử, được thành lập từ năm 1963, tổ chức Gia đình phật tử ở miền Nam Việt Nam chia
thành 5 khu vực (miền):

- Miền Quảng đức: Sài gòn - Gia Định

- Miền Khánh Hòa: Bình thuận, Ninh thuận, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu

- Miền Khuôn Việt: Lâm Đồng - Đắc Lắc - Gialai-Kontum

- Miền Liểu quán: Bình Định- Phú Yên- Khánh Hòa

- Miền Vạn Hạnh: Quảng Trị - Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam - Quảng Ngãi.
Như vậy, Gia đình phật tử Quảng Ngãi thuộc miền Vạn Hạnh, tức là trực thuộc
sự chỉ đạo của Gia đình phật tử đóng tại Huế. Sau ngày đất nước thống nhất, tổ chức
Gia đình phật tử tự giải thể. Đến 1996, Gia đình phật tử ở Quảng Ngãi được phép hoạt
động trở lại. Nhà nước ta "cho sinh hoạt các đơn vị Gia đình phật tử gắn với đơn vị
chùa, niệm phật đường có vị sư bảo trợ, coi là phương thức tu học giáo lý đạo Phật
trong phạm vi chùa, chứ không phải là tổ chức hoặc hội đoàn theo hệ thống (như trước
kia)" [5, tr. 7]. Thành phần tham gia sinh hoạt Gia đình phật tử là nam - nữ thanh - thiếu
niên (chủ yếu là học sinh tiểu học và học sinh phổ thông cơ sở, phổ thông trung học và
kể cả một vài trường hợp là giáo viên trung học phổ thông). Gia đình phật tử sinh hoạt
theo từng đơn vị chùa, thời gian sinh hoạt thường xuyên theo tuần (ngày cuối tuần), nội
dung sinh hoạt chủ yếu là giáo dục giáo lý, đạo đức tôn giáo của đạo Phật và các hoạt
động xã hội khác. Đây là lực lượng bổ sung cho nguồn tín đồ Phật giáo sau này. Đến
nay, toàn tỉnh đã hình thành 32 đơn vị Gia đình phật tử, trong đó 18 đơn vị đã được Ban
trị sự cấp quyết định công nhận; 14 đơn vị còn lại hình thành tự phát nên Ban trị sự xem
xét để có kiến nghị lên cấp trên xin được công nhận sinh hoạt theo yêu cầu của đơn vị.

Thời gian gần đây, một số đối tượng cầm đầu đơn vị Gia đình phật tử trái phép
có những hoạt động phục hồi lại tổ chức Gia đình phật tử thuộc phật giáo Việt Nam
thống nhất trước năm 1975. Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, tuy chưa có sự hình thành tổ
chức Gia đình phật tử của nhóm Nguyễn Châu (tức Nguyễn Sĩ Thiều đang hoạt động
chống lại chủ trương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, muốn lập Gia đình phật tử thành
một tổ chức, tách với Giáo hội để một số người lợi dụng như một côngcụ hoạt động
chính trị - tư tưởng). Nhưng đã có một số huynh trưởng của Gia đình phật tử trước năm
1975, núp bóng danh nghĩa Gia đình phật tử thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam để lén
lút hoạt động theo hướng của nhóm Nguyễn Châu. Đối với tỉnh Quảng Ngãi, việc phân
rẽ nội bộ giáo hội cũng như Gia đình phật tử hiện nay xuất phát từ sự tồn tại và hoạt
động chống phá ngấm ngầm của nhóm thuộc phe phái Huyền Quang. Bên cạnh đó có sự
"tiếp sức", "móc nối" của số phần tử "Phật giáo Hải ngoại" đang ở nước ngoài hoạt
động trái phép đã và đang là chỗ dựa về vật chất cũng như tinh thần, tạo điều kiện cho
bọn cực đoan trong gia đình phật tử ở Quảng Ngãi ngoi lên hoạt động tuyên truyền
xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, lôi kéo tín đồ, đạo hữu gây
chia rẽ nội bộ Giáo hội cũng như đời sống bình an của tín đồ phật giáo ở địa phương.

1.2.2. Tình hình, đặc điểm tín đồ đạo Công giáo

Hiện nay tín đồ đạo Công giáo ở tỉnh Quảng Ngãi có 5.885 người, sống tập
trung chung quanh 13 nơi thờ tự, có 8 chức sắc và 3 Hội đoàn chủ yếu là Thánh ca và lễ
nghi phụng vụ trong các ngày lễ trọng của đạo, đa số tín đồ Công giáo cư trú tập trung ở
các huyện đồng bằng, trung du và hải đảo. Tín đồ Công giáo ở tỉnh Quảng Ngãi khác
với nhiều địa phương khác là họ không có khu vực cư trú toàn tòng mà sống xen kẽ
cùng tín đồ các tôn giáo khác. Vì vậy, tín đồ Công giáo không chỉ biết có chúa của mình
là độc tôn và duy nhất, mà họ còn biết đến các vị chúa của các tôn giáo khác. Đặc điểm
này làm giảm đi tính cực đoan trong tư tưởng của tín đồ Công giáo ở địa phương. Cũng
như tín đồ các tôn giáo khác ở tỉnh Quảng Ngãi, tín đồ Công giáo đều có chung nguyện
vọng là được sống hòa bình, yên ổn để làm ăn, đạo - đời hòa hợp theo tinh thần Thư
chung (1980) của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Vì những lý do riêng, đạo Công giáo ở
Quảng Ngãi chưa thành lập được ủy ban Đoàn kết Công giáo của tỉnh. Đây là một sự
thiệt thòi đối với tín đồ Công giáo ở tỉnh Quảng Ngãi. Bởi lẽ họ không có cơ hội để thể
hiện cuộc sống "phúc âm trong lòng dân tộc".

Do xuất thân từ những người lao động, đa phần tín đồ Công giáo ở Quảng Ngãi
là nông dân (với ba ngành nghề chính là: trồng trọt và chăn nuôi, đi biển, làm muối),
một số ít là tiểu thương nên ngoài việc đạo, họ tham gia tích cực vào các công việc của
xã hội. Thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Qua nhận xét của
nhiều cơ quan chuyên môn đều cho rằng: Tín đồ Công giáo chấp hành các chủ trương,
chính sách của Đảng, Nhà nước triệt để hơn so với các công dân khác trên địa bàn.

Tuy vậy, tín đồ Công giáo cũng còn những đặc điểm riêng mà bọn xấu dễ lợi
dụng, kích động, lôi kéo vào những mưu đồ xấu, làm ảnh hưởng đến đời sống đạo của
người giáo hữu chân chính.
Tiến trình hình thành và phát triển của đạo Công giáo ở tỉnh Quảng Ngãi có
những bước thăng trầm mang tính lịch sử, tác động khá lớn đến đời sống muôn mặt của
tín đồ.

Năm 1671, khi dòng tu Mến thánh giá được thành lập tại An Chỉ (xã Hành
Phước, huyện Nghĩa Hành) đã đánh dấu về sự ra đời, phát triển của đạo Công giáo ở
tỉnh Quảng Ngãi. Tiếp đó, các họ đạo và nhà thờ lần lượt được xây dựng và xác lập:
Châu me, Kỳ thọ, Chà và, Chợ mới, Ân Hội, Chà là... Như vậy, ở từng vùng, khu vực
dân cư trong toàn tỉnh các vành đai của họ đạo được hình thành. Tuy nhiên, sự hình
thành nên vành đai các họ đạo ở Quảng Ngãi là một quá trình lâu dài, bởi lẽ đạo Công
giáo khá xa lạ với tín ngưỡng truyền thống của địa phương. Kể từ khi các nhà truyền
giáo phương Tây đặt chân lên mảnh đất này cho đến thế kỷ thứ XIX (gần 300 năm
truyền giáo) đạo Công giáo ở tỉnh Quảng Ngãi mới có một lực lượng tín đồ khoảng
7.000 người (số liệu của đề tài nghiên cứu khoa học, Từ Tân Vũ, trang 15). Thế nhưng
đến đời các vua triều Nguyễn (từ Gia Long đến Tự Đức) đạo Công giáo ở Quảng Ngãi
bị bài xích và cấm cách nên hạn chế đáng kể đến việc phát triển tín đồ. Điều đáng ghi
nhận hơn là vào năm 1883, với phong trào "Bình Tây sát tả" do sĩ phu yêu nước khởi
xướng đã đã phá mạnh vào lực lượng chức sắc và giáo dân đạo Công giáo.

"Trong bối cảnh đó, các họ đạo, nhà thờ ở Quảng Ngãi cũng bị bách bại khốc
liệt. Hầu hết các nhà thờ họ đạo bị đốt phá, các giáo sĩ pháp như Guegan (Cố Hồng) ở
Phú Hòa, Poiriere (Cố Tân) ở Bầu Gốc, Garin (Cố Châu) ở Cù và bị giết chết. Trong
tổng số 7.000 tín hữu lúc bấy giờ, sau thảm sát chỉ còn 1000 người" [85, tr. 16]. Do
nhận thức lệch lạc của các sĩ phu, văn thân yêu nước cho rằng, thực dân Pháp xâm lược
Việt Nam là do sự tiếp tay của đồng bào giáo dân, giáo sĩ đạo Công giáo. Vì vậy, họ đã
vô tình đẩy phần lớn giáo dân lương thiện đứng về trận tuyến đối địch với dân tộc. Đến
khi nhà yêu nước Phan Bội Châu kêu gọi đoàn kết dân tộc, trong đó có đoàn kết đồng
bào Công giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, đánh đuổi thực dân Pháp thì vấn đề
đoàn kết đồng bào Công giáo mới được nhận thức lại trong giới sĩ phu, văn thân yêu
nước thời bấy giờ. Tuy vậy, phong trào "Bình Tây sát tả" cũng để lại cho tín đồ Công
giáo ở địa phương một ấn tượng khó phai mờ trong ký ức của họ, tín đồ Công giáo
mang nặng mặc cảm và tội lỗi với dân tộc, đất nước, quê hương.

Sang đầu thế kỷ XX do tương quan lực lượng khi đó của thực dân Pháp, đạo
Công giáo được phục hồi, các họ đạo lại tiếp tục mở mang; bên cạnh dòng Mến thánh
giá đã có từ trước còn có các dòng tu khác như dòng Chúa cứu thế, dòng Paolo lần lượt
ra đời. Cùng với các dòng tu là các trường học, Cô nhi viện của Công giáo mọc lên khá
nhiều trong địa bàn tỉnh. Như vậy, công cuộc truyền đạo lại một lần nữa được dấy lên
mạnh mẽ ở địa phương.

Trong thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, không phải tín đồ Công giáo nào cũng
được chính quyền đương thời bảo vệ, nâng đỡ (mặc dù họ là cơ sở xã hội của chế độ
thực dân) mà ngược lại, tín đồ Công giáo cũng bị chế độ đương thời phân biệt, đối xử tệ
hại cũng chẳng khác gì người "ngoại đạo" trong vùng. Tín đồ Công giáo ở Quảng Ngãi
cũng cùng chung một số phận, một hoàn cảnh của người dân mất nước. Do vậy, khi có
sự tập trung và vận động của Mặt trận Việt Minh thì ít nhiều tín đồ Công giáo cũng
phần nào giác ngộ được vai trò, trách nhiệm của công dân trước vận mệnh của dân tộc.
Dẫu rằng họ bị đầu độc khá sâu sắc về những luận điệu xuyên tạc, vu khống chính trị
của kẻ thù, dẫn đến sự đố kỵ, chia rẽ đối với cộng đồng dân tộc. Nhưng dần dần nhiều
tín đồ Công giáo tham gia vào tổ chức Công giáo cứu quốc ở địa phương do Mặt trận
Việt Minh lãnh đạo trong giai đoạn 1945- 1954 là một minh chứng cho tinh thần "kính
Chúa - yêu nước" đáng trân trọng của họ.

Đặc biệt, đến giai đoạn 1955 - 1963, giai đoạn gắn liền với chính thể Ngô Đình
Diệm, đạo Công giáo một lần nữa có điều kiện phát triển rầm rộ và lan rộng, gây dựng
thanh thế cho chính sách "Công giáo hóa miền Nam". Một quốc sách chống Cộng thâm
độc, lộ liễu và "sai lầm tai hại" cho chính thể Ngô Đình Diệm". Khắp nơi trong tỉnh đều
bàn chuyện "Cần lao", "cải tạo"... gây nên không khí nghi kỵ, mất đoàn kết trong đời
sống nhân dân ở từng thôn, từng xã và từng họ hàng, gia tộc. Một mâu thuẫn lớn nảy
sinh trong đời sống xã hội đương thời của người dân địa phương là theo chúa hay theo
ông bà, tổ tiên? Trước sức mạnh cưỡng chế của chính quyền, số lượng tín đồ Công giáo
tăng lên đáng kể, song đó chỉ là những con số tạm bợ, có tính chất giả tạo "gió chiều nào
theo chiều ấy" nhằm hợp thức với thời cuộc, để rồi khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ
thì tại tỉnh Quảng Ngãi, phong trào "tố Cần lao Công giáo" được dấy lên mạnh mẽ và sôi
nổi làm xáo trộn đến đời sống của đồng bào tín hữu cũng như chức sắc của đạo Công giáo.
Những tín hữu "cải đạo" trước kia nay quay trở lại với tôn giáo truyền thống của họ;
khô đạo, nhật đạo là trường hợp tương đối phổ biến ở những tín đồ Công giáo bị cưỡng
ép trong thời kỳ cai trị của đế chế Ngô Đình Diệm. Bộ phận còn lại là những tín đồ
Công giáo mộ đạo, thầm lặng sinh hoạt đạo ở một số nhà thờ giáo xứ nằm trong vùng
kiểm soát của Mỹ - Ngụy.

Sau năm 1975, nhìn chung đạo Công giáo ở tỉnh Quảng Ngãi suy giảm kéo theo
sự suy giảm về số lượng của tín đồ. Một bộ phận vượt biên ra nước ngoài, một bộ phận
vào Nam sinh sống theo luồng kinh tế mới... Phần lớn nhà thờ, nhà nguyện bị hư hỏng
do sự tàn phá của chiến tranh nên bỏ hoang. Đối với tín đồ Công giáo ở tỉnh Quảng
Ngãi sau ngày đất nước thống nhất (1975), họ vẫn là công dân lương thiện, chấp hành
tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Song, họ vẫn còn mang những mặc
cảm nhất định đối với xã hội. Do đó, họ ít hòa nhập với đời sống xã hội, luôn có những
biểu hiện "trầm lặng", "kín đáo". Khác với tín đồ của các tôn giáo khác, tín đồ Công
giáo có tổ chức Giáo hội khá chặt chẽ, tổ chức này chi phối mạnh mẽ đến mọi hoạt động
của tín đồ (nhất là lĩnh vực tinh thần). Do vậy, để họ vừa là một công dân tốt, vừa là
một con chiên ngoan đạo, đó là vấn đề cần phải thường xuyên tác động theo nhiều chiều
kích khác nhau. Bởi lẽ tín đồ Công giáo có mối liên hệ mật thiết với "bề trên" của mình,
lời răn của Cha chính là lời răn của Chúa. Điều này cũng có thể nói lên rằng: Muốn có
con chiên yêu nước, trước hết phải có "vị" Cha yêu nước, có lẽ đây là vấn đề mấu chốt
dùng để cắt nghĩa cho bản tính "trầm lặng", "kín đáo" của tín đồ Công giáo ở Quảng
Ngãi.

Từ năm 1989 trở lại đây và nhất là từ khi có Nghị quyết 24/BCT, Nghị định
69/HĐBT thì sinh hoạt của các tôn giáo trong đời sống xã hội thật sự sôi động, có nhiều
chiều hướng khác nhau: Tích cực và tiêu cực. Riêng tín đồ Công giáo ở tỉnh Quảng
Ngãi nhiều gia đình ở vùng biển, đảo có mối liên hệ thân nhân ở nước ngoài (số người
vượt biên trái phép trước đây) nên ít nhiều có tư tưởng vọng ngoại. Một số gia đình
thuộc diện "đền ơn đáp nghĩa", thuộc diện chính sách xã hội có đời sống kinh tế khó
khăn. Đối tượng này rất được tổ chức Giáo hội địa phương chú ý nắm để lợi dụng trong
việc làm đối trọng với chính quyền mỗi khi có "sự kiện" xảy ra. Trong 9 vụ tranh chấp
đất đai, cơ sở thờ tự của đạo Công giáo từ năm 1990 đến năm 2000 trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi thì hầu hết những người đi đầu ở các vụ việc trên là những tín đồ nằm trong
diện gia đình chính sách. Thật tình, họ không phải là kẻ chủ mưu của các vụ việc mà họ
là những người bị "Ban giúp việc" lợi dụng vào những mưu đồ xấu. Được cảm hóa và
giải thích, tất cả những tín đồ nêu trên đều cảm thấy mình bị lừa dối. Do đó, có thể nói
rằng tín đồ Công giáo ở Quảng Ngãi cơ bản là công dân tốt, số lượng tín đồ được phát
triển theo truyền thống gia đình, không có cơ sở xã hội cho việc tăng trưởng tín đồ đột
biến như đạo Tin lành hoặc đạo Phật. Tuy nhiên, để có được những công dân tốt "sống
phúc âm trong lòng dân tộc". Việc đạo, việc đời hài hòa thì không thể không thường xuyên
giác ngộ ý thức dân tộc cũng như giác ngộ về trách nhiệm và nghĩa vụ công dân cho họ.

1.2.3. Tình hình, đặc điểm tín đồ đạo Tin lành

Khác với tín đồ ở các tôn giáo khác, tín đồ đạo Tin lành đa phần là những thị
dân (ở vùng đô thị, thị tứ) và đồng bào người dân tộc thiểu số. Đến nay, đạo Tin lành
chưa được Nhà nước ta công nhận tư cách pháp nhân (đối với các tỉnh phía Nam),
nhưng số lượng tín đồ đạo Tin lành ở Quảng Ngãi khá đông, đứng hàng thứ hai sau tín
đồ Phật giáo. Theo số liệu thống kê của Ban tôn giáo tỉnh Quảng Ngãi, đến tháng
12/2000, toàn tỉnh có 7.431 tín đồ Tin lành thuộc các hệ phái: Hội thánh Tin lành Việt
Nam (CMA); hệ phái Cơ đốc truyền giáo; hệ phái Cơ đốc phục lâm; hệ phái Bắp tít và
hệ phái Cơ đốc liên hữu. Trong đó, đáng chú ý nhất là hệ phái Hội thánh Tin lành Việt
Nam: Xuất hiện ở Quảng Ngãi rất sớm (1928) và có tổ chức hoạt động theo hệ thống ba
cấp (từ trên xuống dưới) là: Tổng liên hội, Địa hạt và Chi hội cơ sở.

Trong những năm gần đây, hệ phái Hội thánh Tin lành Việt Nam tại Quảng
Ngãi có những hoạt động rầm rộ, sôi động để tuyên truyền và lôi kéo tín đồ, phát triển
tín đồ mới ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người với phương thức cơ
động, gọn nhẹ và hiện đại. Đạo Tin lành đã "bành trướng" lên những vùng đất vốn trước
đây là vùng căn cứ địa cách mạng, làm thay đổi nếp sống truyền thống bao đời của đồng
bào, gây không khí bất hòa, mất đoàn kết trong nội bộ cư dân, thậm chí làm ảnh hưởng
đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương.

Ngược dòng lịch sử để biết về sự hình thành đạo Tin lành ở tỉnh Quảng Ngãi là
vấn đề cần thiết hiện nay cho những ai quan tâm đến đời sống, đặc điểm, tâm lý của tín
đồ đạo Tin lành.

Tháng 5-1928, được xem là mốc khởi điểm ở tỉnh Quảng Ngãi có đạo Tin lành
xuất hiện, khi mà Mục sư Ôn Văn Huyên và truyền đạo Đặng Ngọc Cầu đến huyện Đảo
Lý Sơn phát kinh thánh, làm chứng đạo cho một số tín đồ theo đạo. Mặc dù đạo Tin
lành bị đạo Công giáo xem là "người anh em lầm lỗi", nhưng đối với thực dân Pháp đạo
Tin lành không có chế độ "ưu tiên" trong việc mở rộng "phúc âm" mà còn bị chính quyền
thực dân cấm cách.

Do vậy, để tồn tại, phương cách đầu tiên của đạo Tin lành là thực hiện chủ
trương "nhập thế", hòa đồng vào các hoạt động xã hội từ thiện, nhân đạo để tạo lập cơ
sở bám trụ lâu dài. Không tham gia chính trị, tổ chức giáo hội và giáo lý cởi mở, sinh
hoạt đạo linh hoạt... đã tạo ra lớp vỏ bọc quan trọng cho quá trình lưu hành và phát triển
đạo Tin lành ở Quảng Ngãi nói riêng, ở Việt Nam nói chung. Nhưng đó chỉ là chủ
trương tạm thời khi thế và lực còn ở trong tình trạng non yếu mà thôi.

Tại tỉnh Quảng Ngãi, giai đoạn 1928 - 1954 chỉ duy nhất có hệ phái Hội thánh
Tin lành Việt Nam (CMA) phát triển được 100 tín đồ, xây dựng được ba cơ sở Hội
thánh (thị xã Quảng Ngãi, huyện Mộ đức và huyện Đức Phổ). Thế nhưng, đến khi cuộc
kháng chiến chống Pháp nổ ra khá ác liệt tại Quảng Ngãi thì các nhà thờ ở thị xã Quảng
Ngãi, huyện Mộ đức, huyện Đức Phổ bị tàn phá hầu như toàn bộ. Do vậy, việc truyền
đạo bị thu hẹp, các Hội thánh thiếu vắng Mục sư, truyền đạo dẫn đến sự bế tắc, ngưng
đọng trong hoạt động của đạo Tin lành.

Trong giai đoạn 1954 - 1975, Tin lành ở Quảng Ngãi cũng như Tin lành ở miền
Nam có được sự hỗ trợ đắc lực của Mỹ về chính trị lẫn kinh tế nên đạo Tin lành dễ dàng
phát triển và bành trướng thế lực trong các vùng bị địch tạm chiếm. Mặc dù chính
quyền Ngô Đình Diệm muốn thực hiện Công giáo hóa hoàn toàn miền Nam, chèn ép,
khống chế, cấm cách... các tôn giáo khác, duy chỉ có đạo Tin lành mà đằng sau là các tổ
chức giáo hội của Mỹ vẫn tiếp tục mở rộng vùng truyền đạo, phát triển tín đồ, xây dựng
cơ sở thờ tự. Cho đến trước ngày giải phóng miền Nam Việt Nam, Hội thánh Tin lành
Việt Nam ở Quảng Ngãi xây dựng được 16 cơ sở tôn giáo trong đó có 2 trường trung và
tiểu học; 1 trung tâm truyền giáo của các giáo sĩ nước ngoài và nhà thờ sắc tộc người
Hrê. Do điều kiện chiến tranh, nên tín hữu Tin lành chỉ phát triển ở các huyện, thị thuộc
khu vực đồng bằng. Trong giai đoạn này có cả giáo sĩ người nước ngoài tham gia trực
tiếp và chỉ đạo Hội thánh Tin lành ở Quảng Ngãi. Đây là giai đoạn hoàng kim của công
cuộc truyền bá "phúc âm"của đạo Tin lành ở Quảng Ngãi, bởi lẽ dựa vào thế lực chủ đạo
của Mỹ để hoạt động, đạo Tin lành không thể đứng ngoài chính trị mà trái lại đạo Tin
lành đã bộc lộ rõ ý đồ tham chính của nó, biến tổ chức tôn giáo này thành cơ sở chính trị
xã hội của chế độ thực dân kiểu mới của Mỹ ở miền Nam - không chỉ dùng cho hiện tại
mà dùng cả cho chính sách hậu chiến của Mỹ. Do đó, nhiều tín đồ, mục sư, truyền đạo
tham gia quân đội ngụy Sài gòn, nắm giữ các cơ quan tình báo, gián điệp chống lại cuộc
chiến đấu chính nghĩa của dân tộc. Sau ngày đất nước giải phóng, một số trong bọn họ di
tản vào miền Nam, vượt biên ra nước ngoài hoặc một số khác buộc phải cải tạo rồi xin
định cư ở Mỹ theo diện HO v.v... Bên cạnh những kẻ chống lại cách mạng, lợi dụng
lòng tin tôn giáo của tín hữu để trục lợi về chính trị thì đại bộ phận tín đồ đạo Tin lành,
vốn xuất thân từ người lao động nghèo khổ và do nhiều hoàn cảnh khách quan khác
nhau họ theo đạo Tin lành chủ yếu là vì động cơ kinh tế "vào đạo có gạo mà ăn", một số
khác theo đạo là để có được chỗ dựa trong cuộc sống nhằm tính kế mưu sinh ở thời buổi
chiến tranh loạn lạc. Đạo Tin lành dùng vật chất quyến rũ tín đồ, thông qua các hoạt
động xã hội và từ thiện để thu hút tín đồ trong điều kiện sống của một xã hội tạm bợ
(biết ngày nay chẳng biết ngày mai). Thật tình đạo Tin lành không được lòng dân
ngưỡng mộ một cách sâu sắc, không phải là lòng tin kính chân thành của người dân
Quảng Ngãi như đạo Phật hoặc tư tưởng Khổng giáo. Nên tín đồ Tin lành, mỗi khi điều
kiện sống thay đổi họ sẵn sàng nhạt đạo, khô đạo. Chính vì thế mà âm mưu của Mỹ
ngụy trong việc phát triển đạo Tin lành ở Quảng Ngãi để gây cơ sở xã hội, làm hậu
thuẫn chính trị cho chúng đã hoàn toàn thất bại. Trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước, ở
tỉnh Quảng Ngãi có nhiều gia đình tín hữu đạo Tin lành theo cách mạng, đã cống hiến
sức người, sức của cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Theo thống kê (ch ưa đầy đủ)
hiện nay toàn tỉnh Quảng Ngãi có 21 gia đình liệt sĩ, thương binh và 01 Bà mẹ Việt
Nam Anh hùng là tín đồ của đạo Tin lành. Sau ngày đất nước thống nhất (4/1975) số
lượng tín đồ đạo Tin lành giảm đáng kể. Một phần là do điều kiện, môi trường cuộc
sống thay đổi, một số lớn rời bỏ "khu dồn" về quê sinh sống thì việc "đạo" đối với họ
không còn ý nghĩa nữa mà vấn đề được quan tâm hàng đầu là phục hồi sản xuất kinh tế
để mưu sinh cho gia đình và tập thể. Do vậy việc nhạt đạo, khô đạo là lẽ tất nhiên. Từ
việc tín đồ khô đạo nhạc đạo, không quan tâm đi lễ nhà thờ nên nguồn thu của các giáo
sĩ vốn đã bị "cắt đứt" do các tổ chức Tin lành quốc tế mất liên hệ với Việt Nam, nay lại
càng khó khăn hơn một khi tín đồ không làm bổn phận 10% phước thiện thì các giáo sĩ
cũng lần lượt bỏ giáo hạt vào miền Nam kiếm sống hoặc trốn ra nước ngoài. Số giáo sĩ
ở lại (tuy số lượng ít ỏi) thực hiện theo chủ trương của Tổng hội là ngấm ngầm chờ đợi
thời cơ, xem chừng thái độ của chính quyền cách mạng để hoạt động phù hợp... Mặc dù
vậy, vẫn còn một số chức sắc, tín đồ tỏ thái độ phản ứng đối với Nhà nước địa phương
về một số vấn đề mà họ vi phạm như: Khôi phục nơi thờ tự; tổ chức truyền đạo trái
phép... Đặc biệt, khi Đảng ta đẩy mạnh công cuộc đổi mới, mở rộng hợp tác và giao lưu
quốc tế, các tổ chức NGO có điều kiện trở lại Việt Nam và thâm nhập sâu vào từng địa
phương, thông qua hợp tác và hoạt động từ thiện để làm bức bình phong cho việc hà
hơi, tiếp sức, khơi dậy các hoạt động của hội Tin lành Việt Nam nói riêng và các hệ
phái Tin lành khác ở Việt Nam nói chung có điều kiện gia tăng hoạt động. Hội thánh
Tin lành Việt Nam ở Quảng Ngãi cũng như các hiệp hội Tin lành khác đã không bỏ lỡ
thời cơ, tích cực hoạt động truyền đạo, tranh thủ tín đồ bằng nhiều biện pháp, phương
pháp khác nhau: Dùng bằng hình vidéo; đài phát thanh tiếng dân tộc Hrê ở nước ngoài,
in ấn kinh sách bằng chữ dân tộc Hrê hoặc chữ dân tộc COR; tổ chức hội chơi bài tiến
lên... để tuyên truyền, lôi kéo người vào đạo Tin lành mà địa bàn được quan tâm hơn cả
là vùng xa, vùng sâu, vùng dân tộc ít người còn nhiều khó khăn về đời sống kinh tế - xã
hội, khó khăn về giao lưu, giao thông. Với lợi thế có được ở đạo Tin lành Quảng Ngãi là
dùng người dân tộc truyền đạo cho người dân tộc. Một lực lượng mà trong thời chiến
tranh đã được các cô nhi viện Tin lành đào tạo khá kỹ, nay đã trưởng thành và có kinh
nghiệm trong việc truyền đạo cho cư dân bản địa. Song, điều nguy hiểm hơn trong quá
trình truyền bá đạo Tin lành, các phần tử phản động đội lốt tôn giáo trong các hệ phái
Tin lành luôn luôn đặt vấn đề phủ định những việc làm của Đảng và Nhà nước ta chăm
lo đời sống cho nhân dân; và thay vào đó là những ví dụ "sinh động" về sự giàu có, sung
sướng từ các nước tư bản mà chủ yếu là Mỹ "vì nhân dân nước Mỹ theo Chúa nên được
chúa ân sủng". Hiện nay hệ phái Hội thánh Tin lành Việt Nam ở Quảng Ngãi có ý đồ
thu hút toàn bộ tín đồ người dân tộc ở các hệ phái khác ngả theo hội thánh Tin lành Việt
Nam để thống nhất chỉ đạo chung.

ở Quảng Ngãi, ngoài tín đồ Tin lành thuộc hệ phái Hội Tin lành Việt Nam còn
có tín đồ Tin lành thuộc hệ phái Cơ đốc truyền giáo, thành lập từ 1956 là hệ phái Tin
lành lớn thứ hai sau Hội thánh Tin lành Việt Nam, số tín hữu có khoảng 2.097 người, có
01 mục sư và 07 truyền đạo (trong đó có 03 truyền đạo phong chui) chủ trương của hệ
phái trên là tôn giáo hóa đạo Tin lành vùng đồng bào dân tộc ít người ở Quảng Ngãi.

Giai đoạn từ 1956 - 1975 hệ phái này tổ chức truyền giáo cho đồng bào dân tộc
ở các huyện miền núi: Ba tơ, Sơn hà, Trà bồng mà tập trung chủ yếu là gia đình binh sĩ
người dân tộc trong quân đội Sài gòn. Họ đã xây dựng được 13 cơ sở tôn giáo: 11 nhà
thờ, nhà nguyện, 01 cô nhi viện sắc tộc, 01 tr ường tiểu học (tài liệu của Ban Tôn giáo
tỉnh Quảng Ngãi). Số tín hữu hầu hết là người dân tộc sống trong vùng tạm chiếm của
Mỹ - Ngụy, trừ một số truyền đạo người dân tộc và con em dân tộc trong cô nhi viện
của Tin lành là thành phần có hiểu biết về đời sống đạo, tín lý, tín điều của đạo Tin
lành, còn đại đa số tín đồ Tin lành người dân tộc chỉ biết làm theo tôn giáo trong điều
kiện của cuộc sống "chim lồng cá chậu". Tín đồ dân tộc ở đạo Tin lành không mấy mặn
mà với đạo Tin lành mà chỉ thích quay trở về với bản làng, rừng núi của mình để tự do
sinh sống. Đến những thời gian sau, khi tình thế của cuộc chiến tranh chống Mỹ - Ngụy
ở địa phương phát triển thuận lợi, Mỹ- ngụy chủ trương dồn ép đồng bào dân tộc tập
trung vào các khu dồn thuộc vùng chúng kiểm soát, trong đó có tín đồ dân tộc đạo Tin
lành. Song, đồng bào dân tộc (có đạo và không có đạo) đều tỏ thái độ bất bình trước
hành động cưỡng bức này. Do vậy, một bộ phận đồng bào kéo nhau về quê hương của
mình, bất chấp sự ngăn chặn bằng bạo lực cũng như những rủi ro trên bước đường "hồi
hương". Âm mưu tôn giáo hóa đạo Tin lành ở vùng đồng bào dân tộc ít người của hệ
phái Cơ đốc truyền đạo không thành. Từ những năm 1972 đến năm 1975 các huyện
miền tây của tỉnh Quảng Ngãi lần lượt được giải phóng khỏi ách nô lệ, kìm kẹp của Mỹ
- Ngụy thì lực lượng truyền đạo Tin lành ở các địa phương trên cũng rút chạy về đồng
bằng và như vậy, các tín đồ đạo Tin lành cũng tự tan rã.

Cuối những năm 80, hoạt động của hệ phái Cơ đốc truyền giáo trong toàn tỉnh
bị thu hẹp, thế nhưng đến đầu thập kỷ 90, hệ phái Cơ đốc truyền giáo hoạt động khá
mạnh ở vùng dân tộc. Do có kinh nghiệm được tích lũy trong hoạt động truyền giáo
trước đây, đặc biệt do có đội ngũ truyền giáo người dân tộc, nguyên trước kia là con em,
sống trong các cô nhi viện (Tin lành) ở Quảng Ngãi và Đà Nẵng là đội ngũ quan trọng
cho việc truyền giáo ở vùng đồng bằng dân tộc. Mặt khác, yếu tố về vật chất được hệ
phái này xem như là " báu vật" quan trọng để dụ dỗ, tuyên truyền đạo Tin lành trong các
tầng lớp nhân dân địa phương mà chủ yếu là đội ngũ thanh thiếu niên học sinh, phụ nữ
và trung niên người dân tộc. Ngoài ra, có một số ngoại lệ là những con người bê tha
trong đời sống xã hội: Rượu chè bê bết, đánh vợ chửi con, bỏ bê công việc... Nay được
tổ chức đạo Tin lành chú ý xây dựng những con người "bất hảo" thành con người "cải tà
quy chánh" với mục tiêu tạo dựng "gương sáng" cho mọi người noi theo. Dùng đối
tượng này tuyên truyền đạo Tin lành ít nhiều đã đem lại kết quả nhất định cho hệ phái
Cơ đốc truyền giáo. Với khẩu khí tuyên truyền lừa bịp cho rằng: Chúa đã cứu cho đối
tượng bất hảo trở thành người tốt (!) và chỉ có Chúa mới làm được việc này, ai theo
Chúa thì sẽ có cuộc sống tốt đẹp... Điều đáng quan tâm hiện nay là trong khi tuyên
truyền, mua chuộc và cảm hóa người dân theo đạo Tin lành bất hợp pháp, các phần tử
truyền giáo dùng biện pháp ly gián, chia rẽ giữa gia đình cán bộ thôn, xã với tín đồ Tin
lành ở địa phương. Có trường hợp gây sự cô lập trong mọi quan hệ xã hội, nhất là trong
sản xuất nương rẫy giữa những người theo đạo Tin lành và những người không theo đạo
Tin lành, để từ đó buộc những người khác phải "tình nguyện" theo đạo để được hợp tác,
giúp đỡ trong sản xuất nương rẫy cũng như các hoạt động trong mọi quan hệ xã hội
khác. Đối tượng con, em, vợ và nói chung là gia đình cán bộ địa phương được các tổ
chức truyền giáo Tin lành "ưu tiên" hàng đầu trong công cuộc chinh phục, lôi kéo để
phát triển đạo hiện nay ở vùng đồng bào dân tộc.

Nhìn chung, thái độ chính trị của hệ phái này có những vấn đề rất "khó chịu",
hay có hành vi vi phạm và chống đối lại chính quyền địa phương. Bọn cầm đầu thường
dựa vào chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta để đưa ra những yêu sách không
đúng luật định hiện hành. Do đó, khi chính quyền địa phương xử lý, chúng lại xúi giục
đồng bào dân tộc tham gia tranh chấp với chính quyền, gây ra những phức tạp trong
quản lý nhà nước địa phương.

Hệ phái Cơ đốc Phục lâm có mặt ở tỉnh Quảng Ngãi vào những năm đầu của
thập kỷ 60. Trong điều kiện tỉnh nhà đang trong thời điểm chiến đấu ác liệt giữa nhân
dân và chính quyền Mỹ - Ngụy nên hệ phái Cơ đốc Phục lâm hoạt động gói gọn trong
nội thị của thị xã Quảng Ngãi với số lượng tín đồ không đáng kể (khoảng 50 tín đồ).
Khi đất nước giải phóng, hầu hết các tín đồ của hệ phái này không tham gia việc đạo.
Từ những năm 90 của kỷ 20 trở lại đây, hệ phái Cơ đốc Phục lâm hoạt động mạnh,
nhưng địa bàn hoạt động không phải là vùng nội thị thị xã Quảng Ngãi mà hướng về các
huyện miền núi của tỉnh. Hiện nay, đang tập trung tuyên truyền đạo Tin lành ở xã Sơn
Hạ huyện Sơn Hà, đã lôi kéo khoảng 300 tín đồ người dân tộc. Điều đáng nói là hệ phái
Cơ đốc Phục lâm ở Quảng Ngãi thường xuyên liên lạc và nhận chỉ đạo của một số Mục
sư Tin lành ở Thành phố Hồ Chí Minh, thậm chí có cả người nước ngoài.

Hệ phái Bắp tít ở Quảng Ngãi số lượng không lớn, trước 1975 có khoảng 100
tín đồ, cư trú tập trung tại thị xã Quảng Ngãi, không có nơi thờ tự riêng mà dùng nhà tư
nhân để hội họp và hành lễ. Do vậy, sau 1975 hệ phái Bắp tít nhanh chóng tan rã. Thế
nhưng, vào những năm gần đây có một số giáo sĩ người nước ngoài (có tên tuổi hẳn hoi)
thường xuyên liên hệ, móc nối, viện trợ tài chính tạo điều kiện cho hệ phái Bắp tít ở
Quảng Ngãi hoạt động trở lại. Mặc dù mới phục hồi sau những năm 90 của thế kỷ 20,
nhưng hệ phái Bắp tít đã có sự phân hóa trong tổ chức, hiện nay riêng hệ phái Bắp tít có
03 nhóm khác nhau: Bắp tít tư gia, Bắp tít độc lập, Đoàn truyền giáo Bắp tít. Song, trên
thực tế một số nhóm không còn thực lực, chỉ hoạt động thầm lặng. Chính sự "chia năm
sẽ bảy" trong nội bộ hệ phái bắp tít đã làm cho tín đồ của họ có nhiều băn khoăn trong
việc đạo. Nảy sinh nhiều nghi kỵ trong đời sống đạo dẫn đến sự nghi kỵ trong việc đời
mà cụ thể là mang nặng tư tưởng vọng ngoại, nuối tiếc quá khứ "vàng son" của thời kỳ
nô lệ cho Mỹ - Ngụy.

Vào những năm 90 của thế kỷ 20 hệ phái Cơ đốc Liên hữu của đạo Tin lành du
nhập bất hợp pháp vào hai huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi là huyện Ba Tơ, huyện
Sơn Hà. Đội ngũ truyền giáo cũng như tín đồ của hệ phái Cơ đốc Liên hữu chính là đội
ngũ truyền giáo và tín đồ của hệ phái Cơ đốc Truyền giáo đã có ở các địa phương này
trước đây nay vì động cơ kinh tế nên (họ) bỏ hệ phái Cơ đốc Truyền giáo mà ngã về với
hệ phái Cơ đốc Liên hữu. Tín đồ hiện nay của hệ phái Cơ đốc Liên hữu là 2.645 người,
chủ yếu là bà con dân tộc ít người (tài liệu của Ban Tôn giáo tỉnh Quảng Ngãi).

Có thể nói rằng tín đồ của đạo Tin lành rất phức tạp về thành phần xã hội (có cả
thị dân, có cả nông dân, có cả "lưu manh" thành thị và nông thôn...). Sự chuyển đổi từ
hệ phái này sang hệ phái khác như trở bàn tay chẳng qua là vì động cơ kinh tế. Do đó,
biểu hiện tư tưởng thực dụng rất rõ nét trong đời sống đạo của họ. Mặt khác, do trình độ
văn hóa và nhận thức hạn chế nên tín đồ đạo Tin lành không thấy được tính hai mặt của
vấn đề "tài trợ" kinh tế: Giúp đỡ ban đầu về vật chất để rồi bòn rút dần dần trong tỷ lệ
10% cho "hòm phước thiện". Và quan trọng hơn, tín đồ đạo Tin lành cũng không nhìn
thấy được sự trục lợi kinh tế (kể cả chính trị) của bọn cầm đầu đội lốt tôn giáo trong đạo
Tin lành. Hiện nay, có một số người tự phong mình là truyền giáo đã nợ tiền bạc của tín
đồ để mua xe hơi, tạo dựng nhà lầu... Như trường hợp của Đinh Nhít ở huyện Sơn Hà là
một ví dụ cụ thể đang bị các cơ quan chức năng làm rõ để xử lý.

1.2.4. Tình hình đặc điểm tín đồ Cao đài

Năm 1929, đạo Cao đài được du nhập vào tỉnh Quảng Ngãi đó là hệ phái Cao
đài Tây Ninh. Có tư liệu cho rằng: Hệ phái Cao đài Tây Ninh được truyền bá vào tỉnh
Quảng Ngãi là do bà con thương nhân người Quảng Ngãi, lúc đầu truyền bá trong bà
con vùng biển, sau đó lan tỏa dần trong bà con ở khu vực đồng bằng [45, tr. 8]. Thế
nhưng, theo truyền thống phát triển đạo của đạo Cao đài chủ yếu là tranh thủ, lôi kéo
tầng lớp trên trong xã hội như: Hương chức làng, xã; thành phần trung nông, địa chủ,
giới có học... ở địa phương. Bởi vì, đối tượng như trên thường nắm trong tay khá nhiều
những con người hoặc gia đình sống phụ thuộc vào họ (cả kinh tế lẫn chính trị). Tranh
thủ được đối tượng bên trên của xã hội đứng vào hàng ngũ chức sắc của đạo là một lợi
thế đáng kể. Bởi lẽ, những người phụ thuộc như: Tá điền, nông dân muốn đảm bảo về
đời sống cũng như sinh hoạt thì chỉ có con đường theo chủ của họ. Khi chủ đề nghị họ
theo đạo Cao đài thì lẽ nào họ từ chối. Do vậy, đa phần tín đồ đạo Cao đài là nông dân
nghèo khổ, có tư tưởng an phận với hoàn cảnh xã hội của mình. Bởi lẽ, tín đồ đạo Cao
đài coi trần gian là cõi tạm, song không chủ trương đi tu là trốn tránh cuộc đời, mà trước
hết phải tạo điều kiện cứu rỗi con người với con người trong hiện tại. Nghĩa là phải hòa
mình trong việc đời để trước hết hoàn thiện bản thân, sau là hoàn thiện hóa con người.

Đến nay ở Quảng Ngãi có 5 hệ phái Cao đài tồn tại đó là: Cao đài Tây Ninh;
Cao đài Ban chỉnh; Cao đài thống nhất; Cao đài Cầu kho và Cao đài Truyền giáo. Có
tổng số tín đồ là 4.156 người với 36 thành thất và 42 chức sắc ở các chi phái (xem biểu 2
trang 44). Tín đồ đạo Cao đài cư trú chủ yếu ở các huyện đồng bằng và hải đảo; các
huyện miền núi, trung du cư trú rất ít thậm chí có đến 04 huyện miền núi không có tín
đồ đạo Cao đài và ở các huyện trung du và miền núi có đạo Cao đài thì tín đồ của đạo là
người dân tộc kinh. Như vậy, có nghĩa là người dân tộc thiểu số không theo đạo Cao
đài. Mặc dù đạo Cao đài tự xưng là đạo của dân tộc Việt Nam, là tôn giáo của các tôn
giáo được hiệp nhất lại. Song, có lẽ do tính chất thần bí của đạo cũng như do sự cầu kỳ
về nghi lễ nên đạo Cao đài không phù hợp với đời sống môi trường của đồng bào dân
tộc ít người. Chính điều đó làm cho đạo Cao đài ở Quảng Ngãi hạn chế về địa bàn hoạt
động cũng như hạn chế về sự phát triển tín đồ của đạo.

Để hiểu thêm về đặc điểm, tình hình của tín đồ của đạo Cao đài ở tỉnh Quảng
Ngãi cần có sự khái quát sơ bộ về quá trình hình thành các hệ phái Cao đài ở địa
phương như sau:
Cao đài Tây Ninh hình thành một Khâm châu (tỉnh đạo) của mình vào năm
1929 tại thôn Trà Câu thuộc xã Phổ Văn huyện Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi. Khâm châu
Quảng Ngãi trực thuộc trấn đạo Phú Khánh. Khi hình thành Khâm châu, Cao đài Tây
Ninh chỉ lôi kéo được 4 người và họ được sắp xếp vào những chức vụ quan trọng của
Khâm châu. Từ đó, 4 "yếu nhân" này tự phân chia khu vực để phụ trách và truyền đạo ở
các huyện (Đức Phổ, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Bình Sơn, Sơn Tịnh, Mộ Đức). Bằng
phương pháp này, trong vòng hơn 10 năm Cao đài Tây Ninh đã truyền đạo và phát triển
được 5 tộc đạo với hơn 400 tín đồ tham gia.

Chúng ta biết rằng đạo Cao đài ảnh hưởng đến nơi cư trú và xã hội thông qua
việc truyền bá và tổ chức cơ sở đạo, thông qua việc tham gia hoạt động chính trị (có cả
đảng phái và quân đội riêng) mặc dù bên ngoài thường hay tuyên truyền là không tham
chính. Do đó, năm 1945 một số người cầm đầu Khâm châu Cao đài Tây Ninh ở Quảng
Ngãi liên kết với phát xít Nhật chống lại nhân dân nên bị chính quyền nhân dân xử trị.
Từ đây, tỉnh đạo Cao đài Tây Ninh gần như tan rã. Đến năm 1955, được đế quốc Mỹ đỡ
đầu tỉnh đạo Cao đài Tây Ninh ở Quảng Ngãi được khôi phục trở lại một cách mạnh mẽ.
Từ năm 1955- 1975 Châu đạo Quảng Ngãi từ 5 tộc đạo đã phát triển lên thành 10 tộc
đạo, có 15 chức sắc và 3.754 tín đồ [12, tr. 7]. Văn phòng tỉnh đạo được chuyển từ Trà
Câu, Phổ Văn, Đức phổ đến thôn Năng Tây xã Nghĩa Phương huyện Tư Nghĩa.

Sau năm 1975, Thánh thất Năng Tây vẫn tiếp tục hoạt động mãi đến tháng
10/1980 khi Tòa thánh Tây Ninh có thông tư giải thể cơ cấu tổ chức hành chính đạo từ
Trung ương đến địa phương, chỉ bầu ra Ban cai quản trông coi cơ sở vật chất của thánh
thất thì tại tỉnh Quảng Ngãi cũng đã tổ chức giải tán các ban lãnh đạo vào ngày
9/10/1980 và đến 1986, người có trách nhiệm của văn phòng thánh thất đã ký biên bản
hiến thánh thất cho chính quyền địa phương phục vụ vào công ích xã hội. Từ đó đạo
hữu của Cao đài Tây Ninh thực hành việc đạo tại gia theo qui định của giáo lý tôn giáo
và pháp luật của Nhà nước hiện hành.

Hệ phái Cao đài Bến Tre xuất hiện ở tỉnh Quảng Ngãi vào năm 1975 do giáo sư
Phùng Văn Khôi (được Hội thánh Ban chỉnh cử ra Quảng Ngãi) chỉ đạo hoạt động. Tín
đồ của hệ phái Bến Tre phần lớn là tín đồ của hệ phái Tây Ninh chuyển sang, do có sự
mâu thuẫn nội bộ cũng như có sự lôi kéo của hệ phái Bến Tre. Trong thời gian từ 1935 -
1944, chi phái Bến Tre đã phát triển ở Quảng Ngãi được 9 họ đạo, chủ yếu thuộc các
huyện thị vùng đồng bằng với 790 tín đồ.

Cũng như hệ phái Tây Ninh, tháng 8/1945 những tên cầm đầu của hệ phái Bến
Tre đã cấu kết với phát xít chống lại cuộc chiến đấu của nhân dân, bị chính quyền nhân
dân xử trị nên tỉnh đạo ngừng hoạt động và hầu như tan rã hoàn toàn. Đến giai đoạn từ
1955 - 1965 là giai đoạn phục hồi và phát triển của hệ phái Bến Tre: Xây dựng được 13
thánh thất, phát triển lượng tín đồ gồm 1.327 người [12, tr. 8]. Vào năm 1970, trước âm
mưu thâm độc của Mỹ - Ngụy, chúng mua chuộc một số chức sắc cao cấp trong Hội
thánh nên đã có sự phân hóa làm mâu thuẫn nội bộ. Hai thánh thất thuộc tu viện Bình Sa
và nhà nguyện An Điềm (của huyện Bình Sơn) gia nhập vào hiệp hội Đô thành.

Ngày 15/8/1985 tòa thành Bến Tre có Châu Tri đạo lịch số 001/CT gửi toàn
đạo, giải thể toàn bộ cơ cấu tổ chức hành chính đạo từ Trung ương đến địa phương, chỉ
cử ra một Ban cai quản thánh thất từ 3 - 5 người để trông coi cơ sở vật chất của thánh
thất. Từ đó, một số chức sắc, tín đồ bỏ đạo, một số trở về nhà tu tại gia.

Vào năm 1959, do có sự mâu thuẫn trong hàng ngũ lãnh đạo của Cao đài
Truyền giáo nên một số người trong ban lãnh đạo đã lôi kéo một số tín đồ vào Sài Gòn
gia nhập hệ phái Thống nhất. Sau hai năm gia nhập với Cao đài Thống nhất, họ trở về
tỉnh Quảng Ngãi cùng với 15 người đều là chức sắc của Cao đài Truyền giáo, tổ chức
cuộc họp quyết định thành lập Cao đài Thống nhất tại Quảng Ngãi. Thế là ngày
19/2/1961 tỉnh đạo Cao đài Thống nhất ra mắt tại thánh thất Vệ Long Trung (thị trấn
Sông Vệ huyện Tư Nghĩa), có 200 tín đồ tham gia. Đến năm 1972 chi phái này xây
dựng văn phòng tỉnh đạo tại số 241 đường Quang Trung thị xã Quảng Ngãi.

Tháng 3/1976 làm đơn xin giải tán tỉnh đạo và tháng 8/1976 có quyết định giải tán
thì một số chức sắc về tu tại gia, hoạt động đơn lẽ và độc lập, phần lớn tín đồ bỏ đạo.
Hệ phái Cao đài Cầu Kho ở Quảng Ngãi cũng phát triển được một số thánh thất
tại thôn Thạch Bi xã Phổ Thạnh huyện Đức Phổ. Tín đồ của hệ phái này hoạt động như
một họ đạo của Hội thánh Tam quan, với số lượng tín đồ ít ỏi khoảng 50 người.

Cùng với sự ra đời của hệ phái Cao đài Truyền giáo miền Trung, Cao đài
Truyền giáo Quảng Ngãi được ông Huỳnh Ngọc Trác từ Quảng Nam vào Quảng Ngãi
tuyên truyền và phát triển đạo Cao đài. Trong thời gian 1937- 1938 Huỳnh Ngọc Trác
đã xây dựng được 3 cơ sở thờ tự: Thánh thất Vệ Long Trung; Thánh thất Sông Vệ;
Thánh thất Trung Hòa. Tháng 8/1945, Huỳnh Ngọc Trác cũng bị chính quyền cách
mạng xử trị do chống lại nhân dân. Khác với các hệ phái Cao đài đã nêu ở trên, hệ phái
Cao đài Truyền giáo ở Quảng Ngãi sau năm 1945 vẫn tiếp tục hoạt động. Cuối 1947
Cao đài Truyền giáo Quảng Ngãi tổ chức Đại hội, mở các khóa học tập giáo lý. Năm
1948 tham gia Hội nghị các nhà hướng đạo Nam Ngãi - Bình phú. Phải nói rằng: Sau
1954 việc phát triển tín đồ, tu sửa nơi thờ tự được hệ phái Cao đài Truyền giáo Quảng
Ngãi quan tâm và chú trọng hơn trước. Hàng ngũ chức sắc, nhơn sanh được chỉnh đốn lại.
Đặc biệt, việc xây dựng (Báo ân đường linh tháp) nhằm mục đích "khắc cốt ghi xương
2.791 thánh tử đạo" (bảng chữ in bằng bê tông của bia tưởng niệm tại Báo ân đường linh
tháp) nhắc lại biến cố năm 1945 do hai Ông Lê Quang Trân và Lê Quang Sách chủ trương
quyên góp tiền bạc của tín đồ xây dựng nên vào năm 1956. Đây là một việc làm thiếu thiện
chí có ý đồ xấu, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nhân dân.

Vào những năm 1956- 1957, khi cuộc chiến tranh leo thang ác liệt, Mỹ - Ngụy
dùng bạo lực cưỡng ép nhân dân rời khỏi vùng giải phóng, tập trung vào khu dồn do
chúng thiết lập (gần Thánh thất Báo ân đường linh tháp),và nơi đây còn là văn phòng
tỉnh đạo Cao đài Truyền giáo Quảng Ngãi, do vậy đây là dịp tốt để Cao đài Truyền giáo
phát triển thêm tín đồ cho mình. Đi cùng với hoạt động tuyên truyền, lôi kéo tín đồ, Cao
đài Truyền giáo xây dựng nhiều cơ sở vật chất mang tính xã hội hóa như: Xây dựng
trường trung học Trần Hưng Đạo, xây dựng ba trường tiểu học; một cô nhi viện và một
nhà máy điện nhằm gây ảnh hưởng và thanh thế của Cao đài Truyền giáo ở địa phương.
Điều cần nói thêm đối với Cao đài Truyền giáo Quảng Ngãi là việc thành lập tổ chức
thanh niên Hưng đạo đoàn vào năm 1971 gồm hai liên đoàn. Đây là tổ chức đoàn thể
thế tục, chi phối mạnh mẽ đến đời sống chính trị xã hội của tín đồ trong tỉnh đạo. Đến
ngày đất nước giải phóng (1975) các cơ sở xã hội cũng như tổ chức đoàn thể kể trên tự
giải tán cho đến ngày nay.

Có thể nói rằng đạo Cao đài thuộc các hệ phái ở Quảng Ngãi có quá trình du
nhập không mấy thuận lợi, phần lớn là do sự đầu cơ chính trị của tầng lớp lãnh đạo ở
từng hệ phái, khiến cho đời sống đạo của tín đồ bị ảnh hưởng xấu. Họ đã bị các phần tử
đội lốt tôn giáo trong đạo Cao đài lôi kéo vào tổ chức vũ trang khủng bố chống lại cuộc
chiến đấu của dân tộc. Sau năm 1954, được sự hỗ trợ của Mỹ, các hệ phái Cao đài bắt đầu
tổ chức lại những tổ chức chính trị phản động một số chức sắc cao cấp đã tham gia trong
hàng ngũ lãnh đạo của chính quyền Sài Gòn. Sau giải phóng, bọn này chạy ra nước ngoài,
tham gia vào tổ chức "Cao đài hải ngoại", phản lại Tổ quốc. Tín đồ Cao đài ở các hệ phái
do còn ấn tượng của năm 1945 nên sau ngày giải phóng họ hoạt động rời rạc, tẻ nhạt, địa
bàn và phạm vi hoạt động cũng thu hẹp dần, tín đồ dần dần bỏ đạo, hoặc tu tại gia, không
muốn đi lễ thánh thất. Do vậy, việc thực hiện công đức của tín đồ đối với giáo hội cũng
không còn nữa, từ những năm 90 của thế kỷ 20 trở lại đây, các hệ phái Cao đài ở Quảng
Ngãi cũng phục hồi lại việc đạo; các hệ phái Cao đài ở Quảng Ngãi được phép mở "Đại hội
nhân sanh", "Đại hội vạn linh" và được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc sinh hoạt đạo. Tuy nhiên, hoạt động của một số người lãnh đạo ở
một vài hệ phái Cao đài Quảng Ngãi còn những hành động không tốt, ngấm ngầm vận
động các thánh thất của một số hệ phái Cao đài không thực hiện chủ trương hoàn nguyên.
Tình hình nổi lên hiện nay là các hệ phái Cao đài vẫn thường xuyên nhận được tài liệu của
Lê Quang Sách (cầm đầu tổ chức Cao đài Hải ngoại) cùng những khoản tiền trợ cấp cho
con em tín đồ Cao đài ở Quảng Ngãi học tập nhằm phụng sự "việc đạo" sau này.

Nếu so sánh đời sống kinh tế của tín đồ giữa các tôn giáo ở Quảng Ngãi hiện
nay thì tín đồ đạo Cao đài đa phần nằm trong diện nghèo khó khăn. Việc sùng đạo và theo
đạo chỉ còn tồn tại ở lứa tuổi trung niên trở lên, còn giới thanh, thiếu niên không mấy
mặn mà với việc đạo. Hiện nay, một số vị lãnh đạo ở các thánh thất đang có tư tưởng lo
sợ không có người "nối nghiệp" việc đạo. Đồng thời, việc tuyên truyền lôi kéo tín đồ hiện
nay vẫn đang là vấn đề bế tắc đối với các hệ phái Cao đài ở địa phương.
Nhìn chung, tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi dù thuộc về tín đồ của tôn
giáo truyền thống như đạo Phật; hay tín đồ của tôn giáo ngoại nhập như: Công giáo, Tin
lành hoặc tín đồ của tôn giáo nội sinh như: đạo Cao đài... họ vẫn mang một nét chung là
cần cù lao động, yêu quê hương, yêu đất nước. Nhưng do điều kiện, môi trường cuộc
sống hiện thực chi phối nên tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi có những đặc điểm
và bản sắc riêng cần lưu ý:

Số lượng tín đồ các tôn giáo tăng hoặc giảm đều do điều kiện kinh tế, chính trị
của từng giai đoạn lịch sử cụ thể tác động chứ không phải do ý thức chủ quan của từng
con người hình thành. Điều này đã được ghi nhận qua bức tranh tổng quan về tình hình
phát triển và hình thành các tôn giáo ở Quảng Ngãi mà chúng tôi đã nêu ở phần trước:
Việc cải đạo của tín đồ Phật giáo trong thời kỳ Ngô Đình Diệm; việc khô đạo, nhạt đạo
ở các Tôn giáo Tin lành, Cao đài, Công giáo... sau những ngày đầu giải phóng đất nước.
Vì vậy, có thể nói rằng, phát triển tín đồ hoặc giảm sút số lượng tín đồ ở các tôn giáo là
do môi trường và điều kiện của cuộc sống hiện thực quyết định. Môi trường và điều
kiện của cuộc sống thay đổi sẽ làm thay đổi về số lượng tín đồ ở các tôn giáo. Nói như
thế không có nghĩa là không có tín đồ sùng đạo, mộ đạo ở Quảng Ngãi, lực lượng tín
đồ, mộ đạo, sùng đạo một cách chân chính đúng với ý nghĩa truyền thống chân tu thì
không đáng kể. Do vậy, có những tín đồ tôn giáo ở Quảng Ngãi có biểu hiện thực dụng
"Theo đạo kiếm gạo mà ăn" hoặc theo đạo để mong có cuộc sống an phận thủ thường
với thời cuộc, thậm chí có trường hợp theo đạo là sự mang ơn đối với đấng thiêng liêng
và kể cả sự mang ơn đối với những con người hiện thực (như trường hợp của tín đồ đạo
Cao đài). Biểu hiện tiếp theo của tín đồ các tôn giáo ở Quảng Ngãi là mang nặng tính
mê tín và sự cầu xin. Thực tình, họ không am hiểu sâu sắc về giáo lý của tôn giáo mà họ
theo. Do đó, tín đồ theo các tôn giáo thông thường là để cầu xin những khoản thiếu hụt
mà "người trần mắt thịt" không thể đền bù cho họ được. Cho nên, trong tư tưởng của tín
đồ các tôn giáo ở Quảng Ngãi bị pha tạp bởi những tư tưởng mê tín hơn là tư tưởng
cuồng tín. Đây chính là cơ sở của vấn đề tín đồ các tôn giáo ở Quảng Ngãi cư trú đan
xen với nhau mà ít gây ra sự đố kỵ, chia rẽ trong cộng đồng cư dân.
Việc tín đồ các tôn giáo ở Quảng Ngãi bị kẻ địch lợi dụng vào mục tiêu chính
trị, xúi giục họ làm đối trọng với nhân dân là xuất phát từ trình độ học vấn còn thấp của
họ. Nếu như họ được giáo dục, thuyết phục theo luồng tư tưởng chính thống của dân tộc
thì họ sẵn sàng đứng vào lực lượng của nhân dân, bảo vệ quyền lợi sống còn của dân
tộc. Nhiều vụ việc xảy ra trong lĩnh vực tôn giáo ở địa bàn tỉnh (trong lịch sử cũng như
trong hiện tại) đều do sự ngộ nhận của bà con tín đồ các tôn giáo trước sự lôi kéo, mua
chuộc, dụ dỗ của bọn phản động đội lốt tôn giáo mà họ không ý thức được. Qua hai
cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trước kia, cũng như trong công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc ngày nay đã chứng minh điều đó. Nhiều gia đình và cá nhân tín đồ
của các tôn giáo ở Quảng Ngãi đã đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp cách
mạng. Nhiều gia đình tín đồ các tôn giáo thuộc diện gia đình liệt sĩ, gia đình thương
binh hoặc được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Qua tìm hiểu về tình hình, đặc điểm của tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi,
lại một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của công tác vận động tín đồ các tôn giáo của
Đảng ta đặt ra trong giai đoạn hiện nay là hoàn toàn hợp lý và cần thiết.
Biểu 1: Số lượng tín đồ ở các địa phương trong tỉnh


Phật Công Tin Tổng tín đồ /
TT Địa phương Cao đài
giáo giáo lành tổng dân số

1 H. Bình Sơn 8.263 2.120 1.004 853 12.240 /
172.504

2 H. đảo Lý Sơn 866 540 265 660 2.331 / 18.187

3 H. Sơn Tịnh 2.602 1.115 211 162 4.090 /
187.454

4 T.X Quảng Ngãi 5.104 586 289 90 6.069 /
106.180

5 H. Tư Nghĩa 2.059 628 417 1.147 4.251 /
168.481

6 H. Mộ Đức 1.274 528 442 840 3.084 /
136.465

7 H. Đức Phổ 2.625 127 348 369 3.469 /
143.008

8 H. Nghĩa Hành 1.012 132 160 2 1.306 / 92.267

9 H. Minh Long 89 20 122 0 231 / 13.671

10 H. Ba Tơ 88 2 168 0 258 / 44.956

11 H. Sơn Hà 315 5 3.458 0 3.823 / 60.245

12 H. Sơn Tây 80 15 1.106 0 1.201 / 14.312

13 H. Trà Bồng 200 22 531 33 789 / 40.770
Nguồn: Tài liệu của Ban Tôn giáo tỉnh Quảng Ngãi.



Biểu 2: Số lượng tín đồ và cơ sở thờ tự hiện có đến 2000
ở tỉnh Quảng Ngãi


Tôn giáo Tín đồ Cơ sở thờ tự

Phật giáo 24.577 294

Công giáo 5.885 13

Tin Lành 7.431 6

Cao Đài 4.156 36

Tổng số: 42.049 349

Nguồn: Tài liệu của Ban Tôn giáo tỉnh Quảng Ngãi.

Chương 2
CÔNG Tác Vận Động Tín Đồ TÔN Giáo TRONG Thời Kỳ Đổi Mới: Thực Trạng,
PHƯƠNG Hướng Và Giải Pháp

Đề cập đến công tác tôn giáo là đề cập chủ yếu vào công tác quần chúng và
công tác vận động quần chúng tôn giáo. Một đối tượng quần chúng đặc biệt. Gọi là quần
chúng đặc biệt bởi lẽ quần chúng tôn giáo (trong đó có chức sắc, tín đồ, giáo hội) vừa là
một công dân, vừa là một người theo đạo, thực hiện mọi giáo luật, giáo lý của tôn giáo.
Tính đặc biệt của đối tượng quần chúng này còn biểu hiện ở chỗ:

Bất kể tín đồ tôn giáo nào, trước hết cũng đều là công dân của nước
Việt Nam độc lập, có chủ quyền. Do vậy, mọi tín đồ tôn giáo đều có quyền
lợi và nghĩa vụ như tất cả những công dân khác, đều phải tuân thủ hiến pháp
và pháp luật của Nhà nước. Nhưng đây là những công dân có tín ngưỡng tôn
giáo. Vì vậy, ngoài các nội dung vận động như các công dân khác thì có
thêm nội dung vận động đặc thù liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo của nhân
dân [76, tr. 121]..

Do đó, khi đặt vấn đề vận động quần chúng tôn giáo nói chung, vận động tín đồ
các tôn giáo nói riêng cần có những hiểu biết và thông cảm về đối tượng quần chúng
này; cần nắm vững yêu cầu cụ thể trong việc vận động họ. Một vấn đề quan trọng hiện
nay đối với công tác vận động tín đồ các tôn giáo là đặt trong điều kiện có sự tranh
giành, lôi kéo quần chúng của các thế lực phản động quốc tế, nhằm thực hiện mưu đồ
"Diễn biến hòa bình" gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự xã hội ở địa phương...
thì việc đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trị phản động cũng cần đến
phương pháp kết hợp chặt chẽ giữa biện pháp quần chúng với biện pháp hành chính,
trong đó phải rất coi trọng công tác giáo dục, vận động quần chúng tín đồ; làm cho tín
đồ các tôn giáo nhận rõ và phân biệt được âm mưu lợi dụng tôn giáo của chúng, tự giác
đấu tranh chống lại chúng; làm cho quần chúng đồng tình với việc xử lý của chính
quyền, qua đó mà nâng cao giác ngộ cho quần chúng tín đồ. Như vậy những vấn đề có
liên quan đến công tác tôn giáo đều dựa vào công tác vận động quần chúng tôn giáo,
trong đó chủ yếu là vận động bà con tín đồ.

Khi nghiên cứu về công tác vận động tín đồ các tôn giáo cần phải phân biệt sự
khác nhau giữa công tác vận động quần chúng tôn giáo với công tác vận động tín đồ các
tôn giáo. Vì rằng, công tác vận động quần chúng tôn giáo bao gồm cả ba bộ phận: công
tác đối với tín đồ; công tác đối với chức sắc, chức việc, nhà tu hành; công tác đối với
giáo hội, tổ chức tôn giáo và tổ chức xã hội - tôn giáo. Phân biệt sự khác nhau này nhằm
thu hẹp phạm vi nghiên cứu cũng như đối tượng nghiên cứu. Song, trong quá trình tổ
chức thực hiện những nội dung của công tác vận động tín đồ các tôn giáo không nhất
nhất phải có sự khác biệt, vì tín đồ - chức sắc - giáo hội có mối liên quan mật thiết với
nhau.

Một vấn đề nữa được đặt ra khi nghiên cứu về công tác vận động tín đồ các tôn
giáo là công tác này thuộc về lĩnh vực của cơ quan nào? Của Mặt trận, các đoàn thể
nhân dân; của chính quyền nhà nước; của cơ quan Đảng. Công tác vận động tín đồ các
tôn giáo có ba lĩnh vực tham gia thực hiện với những mức độ khác nhau, nhưng sự phân
chia này chỉ mang tính tương đối và có tính chất "nghiệp vụ" mà thôi. Bởi lẽ trong thực
tế của nước ta hiện nay, việc quản lý tôn giáo chủ yếu vẫn là tuyên truyền, giáo dục,
thuyết phục, giám sát để điều chỉnh các hoạt động tôn giáo đi vào đúng quĩ đạo của
pháp luật Nhà nước; hoạt động quản lý nhà nước về tôn giáo không thể chỉ bằng những
biện pháp hành chính như quản lý nhà nước ở một số lĩnh vực khác. Do vậy, có thể hiểu
công tác vận động tín đồ các tôn giáo là chung của cả ba lĩnh vực: Đảng, Nhà nước và
Mặt trận - đoàn thể nhân dân. Hay nói cách khác, công tác vận động tín đồ các tôn giáo
là công tác của các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống chính trị của Đảng. Đây là việc cần
khẳng định trước khi đi vào chi tiết hóa nội dung của vấn đề.

2.1. Thực trạng tình hình vận động tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi

Theo nhận định của chủ nghĩa Mác, tôn giáo đã và đang còn đóng vai trò rất
quan trọng trong đời sống xã hội. Dù muốn hay không, tôn giáo bao giờ cũng là một sự
kiện đại chúng. Đối lập, tuyên chiến với tôn giáo là điều các nhà kinh điển của chủ
nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ đó là điều tối kỵ. Bởi vì điều đó chỉ để làm lợi cho những
người lợi dụng tôn giáo kích động sự cuồng tín của các tín đồ. C. Mác đã từng khuyên:
"Không thể đả kích vào tôn giáo dưới hình thức thù địch cũng như dưới hình thức khinh
bạc, chung cũng như riêng, nghĩa là nói chung không được đả kích vào nó" [53, tr. 23].
Còn V.I.Lênin khi xác định thái độ của đảng công nhân đối với tôn giáo cũng chỉ rõ:
"Tuyên chiến với tôn giáo coi đó là nhiệm vụ chính trị của Đảng công nhân, thì đó chỉ là
một luận điệu vô chính phủ"[48, tr. 511]. ấy thế mà ở vào thời điểm ngày nay vẫn còn
có người nhầm tưởng rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa vô thần giống như chủ
nghĩa vô thần tầm thường của thời kỳ giai cấp tư sản mới bắt đầu ngoi lên chiếm địa vị
độc tôn trong xã hội: Dùng chủ nghĩa vô thần tầm thường chống lại chủ nghĩa duy tâm
tôn giáo, chống lại chủ nghĩa kinh viện thời trung cổ. Cay nghiệt hơn, các thế lực phản
động quốc tế chống chủ nghĩa xã hội, chống chủ nghĩa Mác - Lênin tuyên truyền xuyên
tạc rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa vô thần sẽ đố kỵ và tiêu diệt tôn giáo,
rằng chủ nghĩa cộng sản và tôn giáo đối nghịch nhau như nước với lửa, nghĩa là chủ
nghĩa cộng sản và tôn giáo không thể "đội trời chung" được (!).

Trong một không gian gần, chúng ta có thể cảm nhận tư tưởng của Chủ tịch Hồ
Chí Minh đối với cộng đồng các tôn giáo:

Luôn nêu chủ trương tự do tín ngưỡng và phương châm tốt đời đẹp
đạo. Người trân trọng và đề cao những giá trị nhân bản trong các giáo lý
nguyên sơ, biểu hiện niềm tin vào tinh thần yêu nước và phẩm chất tốt đẹp
của những người lao động theo
tôn giáo, coi họ là một bộ phận hữu cơ trong cộng đồng quốc gia dân tộc,
phân biệt họ với những phần tử phản động đội lốt tôn giáo [83, tr. 159].

Thống nhất với tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tôn
giáo, Đảng cộng sản Việt Nam cũng đưa ra những quan điểm, chính sách đối với lĩnh
vực tôn giáo đều xuất phát từ những nhu cầu chính đáng của nhân dân, nhất là của đồng
bào các tôn giáo. Xuyên suốt trong các nhiệm kỳ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn ghi nhận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do
không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Quan điểm nêu trên đã được Hiến pháp của
Nhà nước Việt Nam bảo vệ. Có thể lấy một vài trích dẫn để minh họa:

Đảng, Nhà nước ta trước sau như một thực hành chính sách tôn giáo
tự do tín ngưỡng, lãnh đạo và giúp đỡ đồng bào theo tôn giáo đoàn kết, xây
dựng cuộc sống mới và hăng hái tham gia bảo vệ Tổ quốc, cảnh giác, kiên
quyết và kịp thời chống lại âm mưu, thủ đoạn của bọn đế quốc và phản động
chia rẽ đồng bào có đạo với đồng bào không có đạo, giữa đồng bào theo đạo
này và đồng bào theo đạo khác [28, tr. 117].

Hoặc ở Điều 70 của Hiến pháp năm 1992:

Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc
không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật;
những nơi thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo vệ. Không ai
được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để làm trái
pháp luật và chính sách của Nhà nước [11, tr. 7].

Gần đây, Chỉ thị số 37/CT-TW, ngày 2/7/1998 của Bộ Chính trị khóa VIII về
công tác tôn giáo trong tình hình mới đã xác định: Nội dung cốt lõi của công tác tôn
giáo là công tác vận động quần chúng tín đồ và cả hệ thống chính trị làm tốt công tác
tôn giáo do Đảng trực tiếp lãnh đạo.

Dựa vào những quan điểm trên, trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng ở
địa phương, Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã quán triệt sâu sắc trong nhận thức cũng như
trong hành động cách mạng là phải thật sự tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân địa phương. Trong những năm
đầu sau ngày đất nước thống nhất, tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi hầu nh ư "im
lặng", họ không mấy quan tâm đến việc đạo, nếu có chăng chỉ là tu tại gia hoặc tu tại
tâm. Sở dĩ có trình trạng như vậy là do đồng bào các tôn giáo không hiểu biết về chính
sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, họ rất ngại khi đề cập đến đời sống tôn giáo, tín
ngưỡng trong lòng một xã hội mới - mà trước kia họ bị ảnh hưởng bởi những luận điệu
tuyên truyền xuyên tạc của địch rằng: xã hội cộng sản bài trừ tôn giáo. ở một khía cạnh
khác có phần quan trọng hơn chính là điều kiện, môi trường cuộc sống thay đổi. Một bộ
phận lớn trong dân cư đã tự rời bỏ khu dồn, trại định cư của chế độ Mỹ - Ngụy về quê
hương sinh sống. Họ chỉ quan tâm đến đời sống kinh tế hàng ngày theo trào lưu chung
của xã hội. Thế nhưng, từ khi Đảng ta đưa ra chính sách đổi mới; đặc biệt sau khi có
Nghị quyết 24/NQ-TW và Nghị định 69/HĐBT thì hoạt động của tôn giáo nói chung,
hoạt động trong đời sống đạo của đồng bào các tôn giáo nhanh chóng phục hồi và có
phần sôi nổi hơn so với thời kỳ trước ngày đất nước, quê hương giải phóng. Lý do cơ
bản là nền kinh tế của đất nước và địa phương đi vào sự ổn định và phát triển, tác động
đến sự phát triển của từng cá nhân trong xã hội. Thứ đến là do nhu cầu của đời sống tinh
thần, đời sống tâm linh xuất hiện và tái hiện nhằm đáp ứng những nguyện vọng, cầu
mong được bình an trong cuộc sống của cơ chế thị trường đầy rẫy những hên, xui, may,
rủi... bất thường chợt đến, chợt đi đối với từng cá nhân con người. Song chung quy lại,
tín đồ các tôn giáo ở Quảng Ngãi là người lao động có tinh thần dân tộc, yêu quê hương,
đất nước, gắn liền đạo với đời, hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng trong khuôn khổ chính
sách và pháp luật Nhà nước cho phép. Tuy nhiên, sống trên một mảnh đất nghèo, khó,
thì không thể một sớm một chiều làm thay đổi đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân
địa phương. Tình trạng thiếu thốn về vật chất, nghèo nàn về tinh thần là mảnh đất tốt để
cho kẻ địch lợi dụng, mua chuộc, dụ dỗ và lôi kéo vào những việc làm trái quy định của
luật pháp, không tôn trọng sự quản lý của chính quyền. Biểu hiện hay gặp là sử dụng
con bài "tự do tôn giáo". Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ sau ngày thực hiện công cuộc
đổi mới cũng có không ít những vụ việc nổi lên trong lĩnh vực tôn giáo như: truyền đạo
trái phép, đòi lại nơi thờ tự mà trước kia Giáo hội đã tự hiến cho Nhà nước; cố tình thực
hiện sai những qui định của Nhà nước về việc cơi nới, xây dựng nơi thờ tự, tổ chức lễ
lạt... nhằm gây thanh thế cho tổ chức tôn giáo. Đặc biệt, dùng những tín đồ thuộc diện
gia đình chính sách để đấu tranh với chính quyền sở tại đòi hỏi những yêu sách vô lý...
Những vụ việc nêu trên có sự đan xen giữa lợi ích kinh tế với nhu cầu tín ngưỡng, có
những việc mang màu sắc chính trị rõ rệt. tại Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ XVI,
có nêu: "Trên địa bàn tỉnh ta, các loại đối tượng chống đối triệt để lợi dụng vấn đề "dân
chủ", "nhân quyền" có những hoạt động phá hoại có tính chất quyết liệt hơn, nhất là trên
lĩnh vực an ninh tư tưởng - văn hóa, tôn giáo và dân tộc" [11, tr. 10].

Do vậy, Đảng bộ tỉnh đưa ra mục đích, yêu cầu đối với công tác vận động tín đồ
các tôn giáo hiện nay là cần phải tiếp tục quán triệt trong các tổ chức Đảng, đoàn thể,
các cơ quan nhà nước và trong nhân dân về quan điểm, chủ trương của Đảng ta đối với
tôn giáo. Để từ đó mà có cơ sở nhận thức được âm mưu "Diễn biến hòa bình" của kẻ
địch dựa vào tôn giáo và dân tộc nhằm gây mất ổn định tình hình ở địa phương. Làm tốt
công tác vận động tín đồ các tôn giáo thì đòi hỏi chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể
phải phối hợp đồng bộ để tập trung phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện xóa đói
giảm nghèo, nâng cao đời sống kinh tế cho đồng bào các tôn giáo hiện nay thông qua
các chương trình, dự án quốc gia đã có ở địa phương (ưu tiên cho vùng núi và hải đảo),
công tác vận động tín độ các tôn giáo được Đảng bộ tỉnh xem là một trong những công
tác trọng tâm cần phải tập trung của hệ thống chính trị cùng tham gia, xây dựng cho
được lực lượng cốt cán trong đoàn viên, hội viên ở từng ngành thật tin tưởng và vững
chắc; đồng thời phải có kế hoạch bồi dưỡng lực lượng cốt cán về chính trị và nghiệp vụ
để làm cơ sở cho các phong trào hành động cách mạng ở địa phương như quần chúng
bảo vệ an ninh Tổ quốc, phong trào toàn dân tham gia xây dựng nếp sống văn hóa ở khu
dân cư... Thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội mà vận động bà
con tín đồ thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân của mình.

Để hiểu thực trạng công tác vận động tín đồ các tôn giáo ở Quảng Ngãi cần tìm
hiểu thêm về những thành tựu mà Đảng bộ địa phương lãnh đạo hệ thống chính trị triển
khai thực hiện trong thời gian vừa qua.

2.1.1. Những thành tựu đạt được

Thời kỳ đấu tranh chống Mỹ - Ngụy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng tỉnh Quảng
Ngãi đã từng là ngọn cờ hiệu triệu các lực lượng quần chúng cách mạng và yêu nước
của địa phương, trong đó có quần chúng tín đồ các tôn giáo vào trận tuyến đánh giặc
cứu nước dưới nhiều hình thức khác nhau (đấu tranh hợp pháp và không hợp pháp) thu
được những kết quả to lớn, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của quê hương và
đất nước. Kế thừa và phát huy những bài học quí báu trong công tác vận động tín đồ các
tôn giáo ở địa phương. Sau ngày đất nước thống nhất, Mặt trận và các đoàn thể quần
chúng vẫn tiếp tục duy trì và phát triển công tác vận động tín đồ các tôn giáo trong điều
kiện mới, vận động bà con các tôn giáo cùng nhau đoàn kết tái thiết và xây dựng quê
hương, đất nước. Thời gian này đã có một vài vụ việc xảy ra tại nơi thờ tự của một vài
tôn giáo do bọn phản động đội lốt trong các tôn giáo cầm đầu đã bị nhân dân phát hiện,
báo cáo cho chính quyền kịp thời ngăn chặn và phá tan âm mưu đen tối của chúng ngay
từ trong trứng nước. Sự kiện này, một lần nữa nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng
cho cán bộ, nhân dân địa phương đối với các phần tử đội lốt trong các tôn giáo. Do vậy,
có thể nói rằng thành tựu đầu tiên của công tác vận động tín đồ các tôn giáo ở tỉnh
Quảng Ngãi là vấn đề nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác tôn giáo
trong toàn Đảng bộ. Nhận thức về vấn đề này được biểu hiện sinh động ở một số công
việc sau:
Đứng về mặt tổ chức bộ máy lãnh đạo và quản lý đối với công tác tôn giáo ở địa
phương thì ngoài sự giúp đỡ của các cơ quan chuyên môn của Trung ương, trực tiếp hoặc
gián tiếp, Tỉnh ủy Quảng Ngãi cũng đưa ra những chủ trương, đường lối thích hợp giúp cho
công tác vận động quần chúng tín đồ có nội dung thiết thực, phù hợp với điều kiện mới.
Ngay từ những ngày đầu của sự phát triển rầm rộ đạo Tin lành ở vùng đồng bào dân tộc,
Tỉnh ủy đã ra Nghị quyết 02/TU(khóa XIV) về "phát triển kinh tế miền núi, Trung du. Tiếp
đó là Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh (khóa XV) có đưa ra 8 chương trình phát triển
kinh tế của tỉnh nhằm đẩy mạnh hơn nữa tốc độ phát triển kinh tế ở từng khu vực, địa
phương khác nhau để tháo gỡ khó khăn, ổn định cuộc sống cho nhân dân. Đặc biệt, với
Nghị quyết 10-NQ/TU (khóa XV) về xóa đói giảm nghèo đã đem lại một bước phát triển
mới trong đời sống nhân dân. Theo đánh giá bước đầu của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh thì
"tỷ lệ hộ khá, giàu là 12,54%; tỷ lệ hộ trung bình là 65,37%, tỷ lệ hộ nghèo là 21,08%" [11,
tr.10]. Riêng đối với miền núi trong vòng 10 năm trở lại đây Trung ương và tỉnh đã đầu tư
hàng trăm tỷ đồng cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở miền núi.

Về hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể quần chúng đề ra những nội dung hoạt
động phong phú, hấp dẫn lôi kéo được đông đảo đồng bào có đạo tham gia các phong
trào giúp nhau làm kinh tế, tổ chức Hội làm vườn, xây dựng mô hình nông dân sản xuất
giỏi của các cấp hội nông dân Việt Nam. Tỉnh thật sự đã tạo ra sự cuốn hút của mọi
người, liên tục tổ chức những phong trào thi đua yêu nước, những cuộc vận động mang
ý nghĩa thiết thực của Hội Liên hiệp Phụ nữ như sinh đẻ có kế hoạch của ủy ban Mặt
trận Tổ quốc khi thực hiện quyền làm chủ của nhân dân thông qua "quy chế dân chủ ở
cơ sở" và cuộc vận động "toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư".
Cũng thông qua các cuộc vận động mà tập trung phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội,
xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí; củng cố, kiện toàn tổ chức Đảng, Mặt trận, đoàn
thể, hội quần chúng ngày càng vững mạnh. Nhờ có bước đi phù hợp mà các đoàn thể
quần chúng ở nông thôn sau một thời gian không sinh hoạt nay đã từng bước phục hồi
"tỷ lệ 58% cơ sở hội hoạt động tốt của Hội Liên hiệp Phụ nữ; tỷ lệ 51% cơ sở hội hoạt
động tốt của Hội nông dân Việt Nam và 23% cơ sở hội hoạt động tốt của hội Liên hiệp
thanh niên là những con số mang tín hiệu đáng mừng" (Trích Báo cáo giao ban của ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Ngãi, tháng 1/2001). Năm 1995 Ban đại
diện Hội người cao tuổi của tỉnh chính thức ra đời và đi vào hoạt động - Hội người cao
tuổi góp phần làm hòa giải khu dân cư, tác động lớn đến đội ngũ "già làng, trưởng bản"
trong việc giáo dục thế hệ trẻ, giữ gìn truyền thống văn hóa gia đình và dân tộc. Có thể
nói rằng, cùng với hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước thì hoạt động
của Mặt trận, các đoàn thể đã góp phần đáng kể tạo thành một lực lượng chính trị vững
mạnh ở địa phương đem lại những thành tựu lớn trong công tác vận động tín đồ các tôn
giáo ở tỉnh.

Về phía hoạt động của chính quyền, việc bố trí cán bộ làm công tác tôn giáo ở
cấp xã, phường (có đồng bào tín đồ các tôn giáo sinh sống) thì chủ trương chung là:
Đảng ủy xã, phường phân công một đồng chí ủy viên có kinh nghiệm trong công tác tôn
giáo trực tiếp theo dõi và chỉ đạo hoạt động tôn giáo ở địa phương.

Đối với cấp huyện, thị đến nay đã có 2/13 huyện, thị trong toàn tỉnh có cán bộ
chuyên trách về công tác tôn giáo và thành lập Ban tôn giáo cấp huyện, thị. Huyện Bình
Sơn và thị xã Quảng Ngãi là hai đơn vị thành lập Ban tôn giáo có cán bộ chuyên trách,
lãnh đạo Ban tôn giáo ở hai đơn vị trên do đồng chí Phó chủ tịch ủy ban nhân dân
huyện, thị làm trưởng ban kiêm nhiệm. Các huyện còn lại, việc quản lý tôn giáo trên địa
bàn do lãnh đạo huyện ủy hoặc cơ quan đoàn thể kiêm nhiệm theo dõi công việc.

Năm 1994, Ban tôn giáo cấp tỉnh được thành lập, giúp cho Thường trực ủy ban
nhân dân tỉnh trong việc quản lý công tác tôn giáo trên địa bàn. Hoạt động của công tác
tôn giáo trong tỉnh thường xuyên có sự phối hợp của các ngành hữu quan từ tỉnh xuống
cơ sở một cách đồng bộ, giúp cho cơ sở tự tin hơn trong việc giải quyết những vụ việc
cụ thể phát sinh trong quá trình quản lý công tác tôn giáo.

Đặc biệt, trong những năm gần đây, nhất là từ khi thực thi thông báo 184/TB-
TW ngày 30/11/1998 của Thường vụ Bộ Chính trị về chủ trương công tác đối với đạo
Tin lành trong tình hình mới. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ngãi ra Quyết định số
899/QĐ-TU "Về việc thành lập Ban chỉ đạo công tác tôn giáo của Tỉnh ủy". Ban chỉ đạo
ra đời giúp cấp ủy địa phương trong việc chỉ đạo công tác tôn giáo nói chung, công tác
đối với đạo Tin lành nói riêng. Đồng thời các cấp huyện, thị cũng đồng loạt thành lập
Ban chỉ đạo công tác tôn giáo của huyện. Trên cơ sở đó, lập kế hoạch tăng cường công
tác cơ sở để tuyên truyền, vận động bà con tín đồ các tôn giáo hiểu về đường lối, chính
sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Qua đó, nâng cao tinh thần cảnh giác cho bà
con tín đồ với những kẻ xấu để bảo vệ sự trong sạch và tính thiêng liêng của đức tin tôn
giáo.

Nhìn lại quá trình thực hiện công tác tôn giáo trong thời gian qua thấy rằng,
Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi đã tích cực xây dựng được bộ khung cán bộ làm công tác tôn
giáo từ huyện, tỉnh, xuống cơ sở đáp ứng yêu cầu công việc, đa số cán bộ, đảng viên
làm công tác tôn giáo có cách nhìn đúng đắn, không hẹp hòi, định kiến với hoạt động
tôn giáo của bà con tín đồ các tôn giáo; biết dựa vào lực lượng quần chúng có uy tín
như: lực lượng cốt cán trong tôn giáo, già làng... để đấu tranh, thuyết phục, cảm hóa
đồng bào tín đồ các tôn giáo đoàn kết xây dựng quê hương đất nước.

Việc đưa chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta sâu rộng trong
cán bộ và nhân dân, nhất là quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo để họ hiểu và thực
hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình theo đúng qui định của luật pháp đã
được Đảng bộ địa phương và các ngành chuyên môn thường xuyên quán triệt, tuyên
truyền dưới nhiều hình thức khác nhau: Mở lớp tập huấn cho cán bộ, dùng hệ thống
thông tin đại chúng, tuyên truyền miệng trực tiếp cho các đối tượng... Bước vào thời kỳ
đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, đưa đất nước tiến bước đi lên, thì các thế lực
lợi dụng tôn giáo cho rằng thời kỳ im lặng, nằm chờ đã qua, bọn chúng tích cực hoạt
động tuyên truyền, kích động những phần tử cực đoan trong các tôn giáo; mua chuộc,
lôi kéo tín đồ đưa ra những yêu sách đòi lại đất đai, nơi thờ tự mà trước đây những chức
sắc tôn giáo đã hiến cho địa phương. Những hoạt động đó đã gây xáo trộn tình hình an
ninh chính trị - xã hội, làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế và đời sống của cán bộ,
nhân dân địa phương. Vì vậy, công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương, chính sách về
tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta cho các đối tượng phải được kịp thời và theo sát tình
hình để mọi người hiểu và thực hiện. Việc tiếp nhận thông tin không chỉ được xem là
nghĩa vụ mà còn là quyền lợi của mọi công dân, nhất là công dân có tín ngưỡng tôn
giáo. Sự xuất hiện các hiện tượng tôn giáo mới, sự nhập cuộc theo xu thế thế tục hóa
của các tôn giáo làm cho nhiều đối tượng trong xã hội ngỡ ngàng, hoài nghi về đời sống
tâm linh của chính mình cũng như của một bộ phận nhân dân trong xã hội. Để có được
tiếng nói chung của mọi công dân trong xã hội đối với chính sách tôn giáo của Đảng ta
không phải là chuyện dễ dàng; làm thế nào để cho chức sắc, tín đồ các tôn giáo có được
thái độ chân thành, cởi mở và thông suốt đối với đường lối, chủ trương của Đảng mà
không qua công tác tuyên truyền, vận động. Hiện nay, bốn tôn giáo lớn ở tỉnh Quảng
Ngãi đều có quan hệ với tôn giáo hải ngoại. Những người lợi dụng tôn giáo để chống
chế độ XHCN (tôn giáo hải ngoại) thường xuyên phát tán những tài liệu tuyên truyền,
xuyên tạc đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, gây chia rẽ nội bộ
các tôn giáo, làm mất đoàn kết trong nhân dân có đạo thì việc vận động tín đồ, chức sắc
các tôn giáo phải được quan tâm hơn bao giờ hết. Các đoàn thể quần chúng tiếp cận các
đối tượng trong giới để tuyên truyền, vận động thực hiện các chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta về tự do tôn giáo và tự do không tôn giáo, về chính sách đại đoàn kết
dân tộc, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng chống lại các âm mưu, thủ đoạn lừa bịp,
lôi kéo, dụ dỗ của bọn xấu lợi dụng tôn giáo. Thông qua công tác tuyên truyền mà phát
hiện những vấn đề nảy sinh trong công tác tôn giáo, kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính
quyền và Mặt trận Tổ quốc địa phương để có kế hoạch đấu tranh, giải quyết kịp thời, vận
động tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt đường hướng hành đạo do các tổ chức giáo hội
hợp pháp đề ra: "Sống phúc âm trong lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng
bào"; "Nước vinh đạo sáng"... Kết quả của công tác tuyên truyền, giác ngộ quần chúng
tín đồ tôn giáo được thể hiện rõ nét trong từng hành động cách mạng cụ thể của bà con
tín đồ tôn giáo như việc: Các cháu học sinh thu nộp những tài liệu truyền đạo dạng tờ rơi
cho chính quyền; tín đồ đạo Phật đã phát hiện và báo cáo cho Ban Tôn giáo tỉnh biết về
hoạt động tụ họp trái phép của tổ chức Gia đình phật tử Nguyễn Châu tại Chùa Phú Sơn
thuộc xã Tam Mỹ, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam vào ngày 5/7/2000. Cuộc họp
trái phép này tập hợp các huynh trưởng gia đình phật tử thuộc miền Vạn Hạnh (từ tỉnh
Quảng Trị đến tỉnh Quảng Ngãi) do Thích Thái Hòa ở Huế vào tỉnh Quảng Nam chủ trì
cuộc họp. Ban Tôn giáo tỉnh Quảng Ngãi nhận được tin báo này đã kịp thời cung cấp
cho Ban Tôn giáo tỉnh Quảng Nam có biện pháp ngăn chặn cuộc họp bất hợp pháp nêu
trên của nhóm phật tử cực đoan.

Thành tựu trong công tác vận động tín đồ các tôn giáo ở Quảng Ngãi còn được
thể hiện ở việc tạo điều kiện thuận lợi để sinh hoạt tôn giáo được duy trì bình thường.
Tín đồ và chức sắc tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, chấp hành tốt các qui
định trong chính sách tôn giáo của Nhà nước. Các ngày lễ, các ngày kỷ niệm trong năm
của các tôn giáo được tổ chức đều đặn và tuân thủ theo hướng dẫn của Giáo hội. Thực
hiện trang nghiêm, phấn khởi, an toàn và thuần túy tôn giáo. Các cơ sở thờ tự như chùa
chiền, thánh thất, nhà thờ... bị hư hỏng đã được chính quyền cho phép tu sửa khang
trang, sạch đẹp hơn, các tranh tượng, kinh bổn, đồ lễ phục vụ việc đạo được phép lưu
hành; các hoạt động từ thiện theo hướng "tốt đời, đẹp đạo" được chính quyền, Mặt trận
và các đoàn thể khuyến khích. Đặc biệt, việc giải quyết những mâu thuẫn nội bộ trong
các tôn giáo giúp cho tín đồ phân biệt được đâu là chính đạo và đâu là tà đạo trong đời
sống tôn giáo muôn màu, muôn vẻ hiện nay. Mặt trận tỉnh cũng vận động chức sắc, tín
đồ các tôn giáo tham gia ứng cử vào các cơ quan quyền lực ở địa phương. Linh mục
Nguyễn Thế Thiệp và nữ tu Thích Nhất Nguyệt được giới thiệu ứng cử Hội đồng nhân
dân tỉnh. Những việc làm trên đã đem lại cho tín đồ các tôn giáo một ấn tượng tốt lành
trong việc đạo, an tâm và tin tưởng vào chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và
Nhà nước, từng bước xóa bỏ những mặc cảm, những thành kiến do lịch sử để lại trong
đồng bào tín đồ các tôn giáo đối với chế độ cách mạng.

Thành tựu của công tác vận động quần chúng tín đồ các tôn giáo trên địa bàn
tỉnh trong thời gian qua là sự kết tinh của tất cả hoạt động của các ngành hữu quan trong
hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương. Mặc dù đây đó trên địa
bàn tỉnh có xảy ra những vụ việc phức tạp có nguy cơ chuyển biến thành "điểm nóng"
về tôn giáo như sự kiện ở xã Bình Chương và xã Bình Hải thuộc huyện Bình Sơn; sự
kiện ở xã Phổ Thạnh thuộc huyện Đức Phổ; sự kiện ở thị trấn Sông Vệ thuộc huyện Tư
Nghĩa... Tất cả đã được giải quyết kịp thời chính là nhờ sự nhận thức đúng đắn của cán
bộ, đảng viên và nhân dân địa phương đối với công tác tôn giáo. Không nên nôn nóng
mà phải bình tĩnh, kiên trì thuyết phục, giáo dục quần chúng tín đồ, qua đó bóc tách yếu
tố chính trị trong các vụ việc tôn giáo, làm cho quần chúng hiểu rõ, đồng tình, ủng hộ
với việc xử lý của Nhà nước đối với các phần tử cực đoan, quá kích lợi dụng tôn giáo
làm sai trái, gây rối an ninh, trật tự xã hội ở địa bàn. ở tỉnh Quảng Ngãi có nổi lên hoạt
động chống phá thường xuyên của Huyền Quang và phe nhóm trong "Phật giáo thống
nhất" (của chế độ Sài Gòn) mà bọn phản động quốc tế ví Huyền Quang là "con cá kình
mắc cạn", nghĩa là Huyền Quang sống ở đất Quảng Ngãi như con cá kình ở trên cạn,
không còn điều kiện để vẫy vùng. Việc chuyển dời chỗ ở cho Huyền Quang từ chùa Hội
Phước (thị xã Quảng Ngãi) đến chùa Quang phước (huyện Nghĩa Hành) không gây nên
dự luận xã hội, cũng chứng tỏ công tác vận động quần chúng tín đồ phật tử đạt hiệu quả
cao. Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đánh giá: "Công tác
tôn giáo được các cấp ủy Đảng, chính quyền tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo. Đồng bào có
đạo an tâm tư tưởng, tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo từ thiện, giữ gìn an ninh
trật tự, phòng chống tệ nạn xã hội, xóa đói giảm nghèo..." [11, tr. 13]. Nhận định trên
đây được xem như một kết luận khái quát về thành tựu của công tác vận động tín đồ các
tôn giáo của tỉnh nhà.

2.1.2. Những thiếu sót, tồn tại

Công tác tôn giáo là công tác lâu dài vì tôn giáo còn tồn tại lâu dài. Việc vận
động quần chúng, nhất là quần chúng tín đồ tôn giáo phải uyển chuyển, theo kịp tình
hình của đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương. Do đó, nhìn nhận đúng thực trạng
khách quan, nhận rõ những thiếu sót tồn tại cần khắc phục trong công tác vận động tín
đồ các tôn giáo ở địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hiện nay là rất cần thiết.

Trong những năm gần đây, các ngành chức năng ở tỉnh đã mở nhiều lớp bồi
dưỡng, tập huấn về công tác tôn giáo cho cán bộ, đảng viên làm công tác tôn giáo ở các
cấp, nhưng thực chất của nội dung bồi dưỡng, tập huấn chỉ dừng lại ở giới hạn của
những lý thuyết về lý luận kinh điển, về nghiệp vụ quản lý nhà nước, về công tác vận
động tín đồ, chức sắc một cách chung chung chưa đi sâu phù hợp với đặc điểm của từng
tôn giáo. Hay nói cách khác là chưa có chương trình, nội dung tập huấn, bồi dưỡng về
đời sống đạo của các tôn giáo nên một số cán bộ làm công tác tôn giáo ở các cấp (nhất
là cấp cơ sở) thiếu am hiểu những tri thức cần thiết đối với từng tôn giáo. Người cán bộ
làm công tác vận động tín đồ tôn giáo cần nắm vững hai yếu tố để khai thác: Đường
hướng hoạt động của từng tôn giáo và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước hiện hành.
Bởi lẽ tín đồ các tôn giáo là một công dân có đức tin tôn giáo; hoặc vừa là người phật
tử, vừa là một công dân. Vấn đề này một số cán bộ của ta hiện nay chưa đủ điều kiện về
tri thức để khai thác triệt để trong quá trình vận động đồng bào tín đồ nhằm tìm được cái
đồng nhất để khích lệ, phát huy và tìm cái dị biệt để khắc phục. Có như vậy mới có thể
cảm thông được họ, qua đó mà phân biệt được đâu là hoạt động tín ngưỡng, đâu là hoạt
động chính trị. Vì toan tính chính trị thường được ngụy trang bởi khẩu khí tín ngưỡng. Do
đó, muốn nâng cao hiệu quả của công tác vận động tín đồ các tôn giáo ở địa phương cần
thiết phải bổ sung thêm nội dung tập huấn, bồi dưỡng cho cán bộ làm công tác tôn giáo,
trang bị cho đội ngũ cán bộ có hiểu biết cần thiết về đời sống đạo của các tôn giáo.

Hơn nữa, mấy năm gần đây rộ lên khá sôi nổi hiện tượng xây dựng chùa chiền,
cơi nới khuôn viên nơi thờ tự ở tỉnh Quảng Ngãi thường lặp đi lặp lại như một cái "lệ"
xấu: " Xin không cho, làm chui thì lơ, xin ít làm nhiều" (trích Báo cáo tổng kết công tác
tôn giáo năm 1998, 1999 của Ban tôn giáo tỉnh Quảng Ngãi). Vấn đề này được Ban Tôn
giáo tỉnh đánh giá là tồn tại kéo dài và được ghi trong các báo cáo thường niên (1998 -
1999). Tồn tại này không phải do chính quyền của ta yếu về mặt quản lý hoặc buông
lỏng quản lý mà chính là chưa nắm được tâm lý, tình cảm của đời sống tôn giáo. Biết
rằng các tôn giáo đều tìm cách để vượt ra khỏi tầm kiểm soát của chính quyền, phô
trương về hình thức, củng cố đức tin, ngày càng thu hút đông đảo bà con tín đồ. Do đó,
cần phải tìm hiểu kỹ để khắc phục, xin lưu ý rằng vấn để đó chưa phải là vấn đề không
bình thường, nên chăng cần phải tỉnh táo xem xét và giải quyết hợp tình, hợp lý. Chỉ có
biện pháp là thực hiện giám sát hàng ngày sau khi cho phép các tôn giáo xây dựng công
trình, để điều chỉnh kịp thời. Việc giám sát phải được dựa trên danh nghĩa đi thăm cơ sở
tôn giáo nhân dịp xây dựng công trình (việc làm này rất khéo léo và tế nhị).

Tồn tại thường trực của công tác vận động tín đồ các tôn giáo ở Quảng Ngãi đó
là việc xây dựng lực lượng cốt cán trong tôn giáo, nhất là trong tín đồ đạo Công giáo và
đạo Tin lành. Lực lượng đoàn viên, hội viên trong tín đồ tôn giáo còn quá mỏng đã làm
hạn chế việc tuyên truyền trong đồng bào có đạo. Hơn nữa, vấn đề đãi ngộ vật chất cho
lực lượng cốt cán chưa tương xứng chỉ dùng tặng phẩm nhân các ngày lễ của tôn giáo
để động viên sẽ không khích lệ được họ, một khi lực lượng cốt cán bị đối tượng xấu
mua chuộc. Mặc dù lực lượng cốt cán trong tín đồ các tôn giáo được quan tâm xây dựng
rất sớm, nhưng vấn đề này dễ trở thành con dao hai lưỡi. Do vậy, sử dụng lực lượng này
cần phải thận trọng, thẩm tra chính xác và kịp thời những thông tin mà họ cung cấp. Vì
rằng có những vụ việc do gắn với lợi ích cá nhân, hoặc gắn với lợi ích của cộng đồng
tôn giáo mà họ không phản ánh hoặc phản ánh không kịp thời, kém giá trị. Việc phát
triển đảng viên có đạo ở địa bàn tỉnh Quảng Ngãi hiện nay là vấn đề còn đang bỏ ngỏ,
hạn chế tới việc xây dựng lực lượng cốt cán ở vùng đồng bào có đạo.

Tồn tại đáng lưu ý làm giảm sút hiệu lực của công tác tôn giáo là sự không
đồng bộ trong việc giải quyết những vụ việc liên quan đến tôn giáo ở các ngành, các cấp
trong bộ máy Nhà nước. Có thể lấy ví dụ cụ thể về vụ việc tranh chấp đất đai của đồng
bào giáo dân ở thôn Phước Thiện xã Bình Hải huyện Bình Sơn làm minh họa điển hình
cho sự không đồng bộ, đã để lại hậu quả như thế nào? Vụ tranh chấp này kéo dài từ năm
1996 mãi đến năm 1998 thì nổ ra cuộc tranh chấp có khá đông tín đồ đạo Công giáo trực
tiếp tham gia để đòi lại 6.000 m2 đất mà kẻ cầm đầu vụ việc kích động bà con tín đồ làm
đơn, đòi Nhà nước địa phương trả lại khu đất thánh để làm trường học dạy cho con em
giáo dân khỏi tốn tiền, phần còn lại làm trạm xá chữa bệnh cho bà con giáo dân. Vì lý lẽ
của vấn đề không hợp lý và việc đòi lại 6.000m2 đất như trên ảnh hưởng đến cuộc sống
bình an của 13 hộ nhân dân địa phương nên chính quyền địa phương (xã và huyện) kiên
quyết bác bỏ những đòi hỏi vô lý ấy. Nhưng sự việc không dừng lại ở đó là bởi có sự sơ
hở (không đồng bộ) của cơ quan cấp tỉnh, cụ thể là ngày 31/8/1998 khi có giấy báo tin số
84 của Thanh tra Sở địa chính tỉnh Quảng Ngãi với nội dung ghi rõ: Việc khiếu nại đòi
6.000m2 đất của giáo dân thôn Phước Thiện là có nguồn gốc. Vì vậy, ông chủ tịch ủy
ban nhân dân xã Bình Hải thông báo cho 13 hộ dân ở trong khu vực giữ nguyên hiện
trạng, không được nâng cấp nhà chờ các cơ quan chức năng tuần tự giải quyết theo luật
định. Từ nội dung giấy báo tin này, kẻ cầm đầu vận động giáo dân tiếp tục tranh chấp
một cách kiên quyết và mạnh mẽ hơn "thà chết vì Chúa giành cho được đất" và kết quả
là gây ra xô xát giữa bà con giáo dân với bà con 13 hộ (có nhà hư hỏng cần phải làm lại
để cư trú trong mùa mưa đến) khiến cho một phụ nữ mang thai 6 tháng bị trọng thương
phải cấp cứu tại bệnh viện tỉnh; để lại sự mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân về sau này.

Chỉ nêu lên một ví dụ cụ thể để thấy sự không đồng bộ trong cách giải quyết
những vấn đề liên quan đến tôn giáo là rất nghiêm trọng, hậu quả xảy ra không thể
lường trước được. ở các xã thuộc vùng dân tộc ít người, do hạn chế về trình độ và năng
lực nên vấn đề giải quyết vụ việc không đồng bộ, cần phải nhanh chóng khắc phục để
nâng cao hiệu lực và uy tín trong việc vận động tín đồ các tôn giáo ở địa phương. Ngoài
ra, cấp ủy Đảng và chính quyền ở một số nơi vẫn còn tư tưởng xem nhẹ công tác vận
động quần chúng tín đồ các tôn giáo; việc quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về
công tác tôn giáo chỉ ở bộ phận chủ chốt của các ban, ngành và đoàn thể, chưa quán triệt
sâu rộng trong nhân dân một cách thường xuyên và liên tục để người dân giác ngộ. Vì
rằng, bọn chống Cộng trước đây thường tuyên truyền "cộng sản chặt nấc thang tinh thần
giữa dân chúa với thiên đường". Do vậy, cần phải quan tâm sâu sát đến từng cụm dân
cư của từng tôn giáo để tuyên truyền đường lối, chính sách về tôn giáo của Đảng, Nhà
nước ta. Công tác tuyên truyền, vận động quần chúng tín đồ lâu nay còn làm một chiều;
chưa lắng nghe ý kiến hợp lý, nguyện vọng chính đáng của quần chúng tín đồ để có
những bổ sung, sửa đổi chính sách cho phù hợp. Đã qua rồi những nhận thức cho rằng
đảng viên gần gũi với tín đồ tôn giáo là đảng viên lạc hậu. Ngược lại, đảng viên, cán bộ
ngày nay phải có bản lĩnh nhưng phải hiểu được dân tâm dân tình, dân sinh, dân ý mới
được dân mến yêu, quí trọng và tin theo; đó là tiêu chuẩn của cán bộ, đảng viên làm
công tác vận động quần chúng tín đồ tôn giáo trong tình hình hiện nay mà thời gian qua
chưa được quan tâm bồi dưỡng đội ngũ cán bộ này.

Ngoài ra, việc đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội chúng ta đã làm thay đổi được
bộ mặt của nông thôn, nhất là nông thôn miền núi; tuy nhiên đồng bào miền núi vẫn
chưa cảm nhận được những thành quả mà Đảng và Nhà nước ta đầu tư chăm lo cho
đồng bào miền núi. Đây là một thiếu sót trong quá trình vận động, tuyên truyền đồng
bào cần phải làm rõ, để đồng bào thấy được tính ưu việt của chế độ xã hội mà tin tưởng,
an tâm; đồng thời giúp cho đồng bào cảnh giác với âm mưu tuyên truyền xuyên tạc của
kẻ địch đối với công cuộc tái thiết, xây dựng và phát triển xã hội hiện nay của Đảng và
Nhà nước ta.

Hơn nữa, phương pháp tuyên truyền, vận động, thuyết phục quần chúng có đạo
của cán bộ, đảng viên có khi chưa thích hợp; trong chừng mực nào đó, công tác vận
động quần chúng của hệ thống chính trị làm không được thường xuyên, mang tính đối
phó và dựa trên lý lẽ của người quản lý, chưa đi vào lòng người. Đó cũng là những tồn
tại cần lưu ý khắc phục trong công tác vận động quần chúng tín đồ các tôn giáo ở tỉnh.

2.1.3. Nguyên nhân của thực trạng

Mặc dù những năm qua trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều vụ việc nảy
sinh mang tính cục bộ của bà con tín đồ các tôn giáo, do bọn xấu xúi giục làm áp lực
đấu tranh với chính quyền sở tại. Những phần tử cực đoan, quá khích nằm trong các tôn
giáo ở Quảng Ngãi vẫn chưa từ bỏ ý đồ tập hợp quần chúng có đạo, tìm đủ mọi cách
gây xung đột, tranh chấp giữa đồng bào có đạo với chính quyền nhằm gây tiếng vang về
chính trị, tôn giáo để từ đó xuyên tạc chế độ: Bọn Trương Văn Hành, Bùi Giới, Bùi Tôn
trong đạo Công giáo; Lê Văn Đoàn, Đinh Nhít trong đạo Tin lành; Huyền Quang, Thích
Nữ Hạnh Toàn trong Phật giáo; Nguyễn Quang Trung trong đạo Cao đài... Những phần
tử cực đoan này hầu hết có quan hệ với bọn phản động đội lốt tôn giáo ở nước ngoài,
nên thường xuyên tỏ thái độ phản ứng, khống chế, chi phối tổ chức giáo hội chân chính
của các tôn giáo hiện hành. Chúng dùng thần quyền, giáo lý, vật chất để lôi kéo, phát
triển tín đồ. Mặc dù bọn chúng có tích cực hoạt động như thế nào, tình hình tôn giáo
vẫn cơ bản đảm bảo hoạt động bình thường; các ngày lễ trọng của tôn giáo được duy trì
tổ chức thường xuyên, các cơ sở thờ tự được tu tạo, sửa chữa đáp ứng nhu cầu cho sinh
hoạt đạo. Những vụ việc nảy sinh mang tính cục bộ ở từng địa phương không thể lan tỏa
gây tiếng vang trong tỉnh hoặc gây tiếng vang trong khu vực như mong muốn của
chúng. Một số chức sắc, tín đồ trước đây là những phần tử bất mãn, có thành kiến chính
trị với chính quyền cách mạng như Thích Giải Thông, Bùi Giới, Thích Giải An... liên
tục kích động quần chúng tín đồ viết đơn xin lại đất đai, nơi thờ tự; tổ chức truyền đạo
trái phép; vận động quyên góp tài chính của tín đồ trong và ngoài nước để cơi nới, lén
lút xây dựng nơi thờ tự trái phép, tạo ra nguyên cớ nhằm mục đích nhen nhóm những
"điểm nóng" về tôn giáo nhưng đã bị thất bại. Đó là do việc vận dụng đúng đắn đường
lối, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước vào công tác vận động quần chúng tín đồ
các tôn giáo ở địa phương trong tình hình mới; là do biết tranh thủ kịp thời sự chỉ đạo
của các ngành hữu quan ở Trung ương; và còn là sự phối hợp hành động của các ngành,
các cấp ở địa phương đối với công tác vận động quần chúng tín đồ các tôn giáo. Đứng
về phía quần chúng nhân dân có đạo thì việc giác ngộ chính trị của bà con các tôn giáo,
phân biệt được giữa tôn giáo, tín ngưỡng và lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để thực hiện
mục tiêu chính trị và kinh tế của các phần tử cực đoan, quá khích trong các tôn giáo
cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần tạo nên những thành tựu của
công tác vận động tín đồ các tôn giáo ở địa phương.

Những thiếu sót, tồn tại của thực trạng tình hình đã nêu ở phần trên chính là do
tác động khách quan của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội chi phối. Các phần tử đội
lốt trong các tôn giáo ngày càng mở rộng mối quan hệ trong và ngoài nước một cách
tinh vi, kín đáo để che mắt chính quyền và che mắt quần chúng có đạo. Riêng đối với
đạo Công giáo ở Quảng Ngãi, ngoài việc chịu sự chỉ đạo về đường hướng hoạt động của
Rôma; nhận các ấn phẩm, tài liệu kinh sách... thông qua Việt kiều hồi hương, thăm quê,
khách du lịch tham quan. Từ năm 1992 đến nay đã nhận viện trợ của Công giáo nước
ngoài trên 15.000 USD dùng trong việc đạo.

Đối với đạo Phật ở Quảng Ngãi có tạp chí Quê mẹ (của Võ Văn ái), tạp chí
Thông luận (của Võ Thuận Hảo) liên tục tung vào kích động chức sắc và tín đồ đi
ngược lại với đường hướng hành đạo của giáo hội Phật giáo Việt Nam, làm sai chủ
trương, chính sách của Đảng trong lĩnh vực tôn giáo.

Bọn có mưu đồ chính trị phản động dùng vật chất để mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo
người vào đạo. Đối với đạo Tin lành, người đăng ký vào đạo được nhận 200.000 đ (theo
báo cáo tình hình tôn giáo của Đảng ủy xã Bình Hải, huyện Bình Sơn năm 1999).
Chúng còn triệt để lợi dụng các đợt cứu trợ nhân đạo, từ thiện để gây thanh thế trong
quần chúng nhân dân có đạo. Khi nhân dân bị thiên tai, bão lụt hoặc mất mùa... nhiều
đoàn cứu trợ của tôn giáo ở các địa phương đến tham gia công tác từ thiện xã hội rất kịp
thời (chủ yếu từ thành phố Hồ Chí Minh), nhưng sau đó với mục đích và động cơ rất rõ
ràng là củng cố vị thế của Giáo hội, phát triển tín đồ nhằm xây dựng lực lượng đối trọng
với chính quyền. Trong khi đó những cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị của
Đảng, khi tiếp xúc với dân còn vấp phải nhược điểm quan liêu, không sâu sát nhân dân;
ngay cả trong việc thực hiện công tác cứu trợ nhân đạo vẫn còn những việc phiền phức,
làm giảm nghĩa tình, chia sẻ cảm thông trước cảnh ngộ hoạn nạn của nhân dân. Hơn
nữa, hiện nay tỷ lệ hộ nghèo trong dân cư vẫn còn chiếm tỷ lệ 21,8% [11, tr. 10] thì việc
tranh chấp quần chúng giữa tổ chức tôn giáo với các đoàn thể quần chúng ở địa phương
nếu có đặt ra, thì e rằng phần khó khăn sẽ thuộc về các tổ chức đoàn thể quần chúng.
Chúng ta biết rằng tôn giáo thuộc về lĩnh vực tinh thần nhưng hoạt động tôn giáo luôn
biết sử dụng yếu tố kinh tế vật chất. Các tổ chức NGO xâm nhập vào nước ta cũng sử
dụng kinh tế làm đòn bẩy cho các mục tiêu chính trị - tôn giáo - xã hội; những năm gần
đây, khẩu hiệu tuyên truyền của đạo Tin lành đối với đồng bào dân tộc ít người ở Quảng
Ngãi không gì khác ngoài sự lừa gạt về kinh tế: Theo đạo Chúa thì sẽ được giàu có như
nước Mỹ và phương Tây...; còn các tôn giáo khác cũng đang tìm cách xâm nhập vào
những lĩnh vực kinh tế, xã hội, giáo dục, từ thiện để hoạt động. Do vậy, công tác vận
động bà con tín đồ phải dựa vào những phong trào mang nội dung kinh tế, phát triển và
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, đó là vấn đề quan trọng hiện nay
cần phải lưu tâm. Bởi lẽ, hoạt động của các tôn giáo trên địa bàn tỉnh hiện nay đều mang
tính thực dụng, nhưng nó không biểu hiện rõ nét tính thực dụng mà chỉ thấp thoáng ẩn
hiện với nhiều dáng vẻ khác nhau khó phân biệt đâu là tôn giáo, tin ngưỡng chân chính,
đâu là chính trị phản động và đâu là thực dụng, trục lợi về kinh tế. Ngoài ra, việc thực
hiện xã hội hóa những vấn đề như giáo dục mầm non, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân,
cứu giúp người khó khăn cơ nhỡ thực hiện từ thiện xã hội v.v... các tổ chức tôn giáo
thực hiện hiệu quả, đi vào lòng người. Vì vậy, sự kém hấp dẫn trong hoạt động của đoàn
thể quần chúng hiện nay cũng là một nguyên nhân của sự yếu kém trong công tác vận
động tín đồ các tôn giáo. Trong các nguyên nhân kể trên còn có nguyên nhân chủ quan
rất quan trọng, đó là "cán bộ chưa thực sự "3 cùng", ngại va chạm, trong khí đó số
người truyền đạo lại kiên trì bám dân để vận động quần chúng vào đạo.

Tóm lại, thực trạng của công tác vận động tín đồ các tôn giáo đều có nguyên
nhân khách quan và chủ quan của nó. Thành tựu đạt được vẫn là cơ bản, tạo đà, động
viên cho các cơ quan chức năng phát huy hiệu lực trong những giai đoạn tiếp theo. Tuy
vậy, cần lưu ý đến chính sách đãi ngộ vật chất thỏa đáng chăm lo cho đào tạo cán bộ làm
công tác vận động tôn giáo nói chung và các hoạt động liên quan đến công tác này. Đồng
thời cần phải thấy những thiếu sót, tồn tại nhằm tập trung giải quyết dứt điểm, không nên
để kéo dài làm ảnh hưởng đến sự phát triển của phong trào. Đảng bộ tỉnh đã có quan
điểm đúng đắn, "rất coi trọng việc xây dựng lực lượng cốt cán trong quần chúng tín đồ,
xem đó là công tác chiến lược lâu dài, là trách nhiệm của các đoàn thể dưới sự chỉ đạo của
các cấp ủy đảng, tạo thành lực lượng chính trị vững vàng" [3, tr. 6]. Nhưng trong thực tế
hiện nay, lực lượng cốt cán trong các tôn giáo của các tổ chức Mặt trận và đoàn thể vẫn
còn những điều băn khoăn, trăn trở và thường không được ổn định. Khắc phục những
thiếu sót như trên, đòi hỏi phải có một sự đồng bộ, thống nhất về quan điểm chỉ đạo của
Đảng bộ địa phương đối với các cơ quan thuộc hệ thống chính trị của Đảng.

2.2. Phương hướng và giải pháp cho công tác vận động tín đồ các tôn giáo ở
địa phương

Phải chăng thực chất của công tác vận động tín đồ các tôn giáo ở địa phương là
công tác xây dựng trận địa lòng dân. Với tỷ lệ 8% [6, tr. 5] trong tổng dân số của toàn
tỉnh, bà con tín đồ cũng đã đóng góp vai trò không nhỏ trong quá trình chiến đấu bảo vệ
quê hương, đất nước, cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay. Vậy
phương hướng và giải pháp cho công tác vận động tín đồ các tôn giáo là tìm cho được
sự đồng thuận để phát huy, tạo điều kiện cho bà con tín đồ mãi mãi gắn bó và bảo vệ lợi
ích của dân tộc trong sự nghiệp cách mạng chung hiện nay. Bên cạnh đó, từng bước
khắc phục những khác biệt của bà con tín đồ, thức tỉnh họ đi vào con đường chính đạo,
cảnh giác với mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo của kẻ địch; đồng thời, giáo dục tín đồ
(những người thật sự tín ngưỡng) thực hiện "tốt đời đẹp đạo", bài trừ mê tín dị đoan,
nâng cao ý thức chấp hành và thực hiện chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà
nước ở địa phương.

2.2.1. Một vài dự báo về tình hình tôn giáo ở Việt Nam và tỉnh Quảng Ngãi

Sau khi Liên Xô và vác nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa sụp đổ, các chính
khách chính trị của chủ nghĩa tư bản cho rằng thời kỳ chiến tranh lạnh đã kết thúc -
những tưởng nhân loại được chung sống trong cảnh thái bình, cực lạc. Nhưng sự phát
triển của lịch sự xã hội đương đại còn ghi nhận thời kỳ chuyển tiếp của chiến tranh lạnh
là thời kỳ hậu chiến tranh lạnh hay còn có cách gọi khác là thời kỳ hòa bình nóng. Các
nhà nghiên cứu lịch sử thế giới đương đại kết luận rằng: Nếu như trước đây trong "chiến
tranh lạnh" trung bình trên thế giới mỗi năm có 4,3 cuộc chiến tranh thì đến thời kỳ
"hòa bình nóng" trung bình trên thế giới mỗi năm có đến 13 cuộc chiến tranh! Thời kỳ
"hòa bình nòng" còn gọi là thời kỳ: hòa bình, độc lập và phát triển. Mà đặc điểm chính
của "hòa bình nóng" là tùy thuộc lẫn nhau một cách phổ biến trong mọi ph ương diện
của đời sống xã hội đối với tất cả các quốc gia, dân tộc trên toàn cầu, được gọi là xu thế
"toàn cầu hóa".

Riêng trong lĩnh vực tôn giáo, hiện nay đang có sự phân rã về hệ tư tưởng tư
sản nên dẫn đến sự phân hóa các tôn giáo đã có và đa dạng hóa các tôn giáo hiện có.
Cũng trong tình hình này, chủ nghĩa đế quốc đưa ra vấn đề nhân quyền, trong đó có tôn
giáo, với danh nghĩa bảo vệ quyền lợi của con người cho toàn nhân loại trên trái đất.
Nhưng thực chất chỉ là sự áp đặt giá trị của một kiểu "sen đầm quốc tế" ở một dạng thức
mới nhằm thống trị, chi phối các quốc gia, dân tộc khác. Đạo luật HR 2431 với tên gọi
"tự do tôn giáo quốc tế" của Mỹ đã nói lên mưu đồ muốn áp đặt và can thiệp vào nội bội
các quốc gia khác.

Hầu như ở khắp các châu lục, trong mấy năm gần đây, tôn giáo ngày càng gia
tăng hoạt động và tôn giáo gia nhập vào hoạt động chính trị rất rõ nét. Tháng 11/1995,
Thủ tướng Lý Bằng (Trung Quốc) nói:
Đa nguyên là cùng tồn tại hòa bình, trước hết là ổn định. Tín
ngưỡng, tôn giáo chỉ có thể dựa vào phương thức cạnh tranh tương hỗ hòa
bình, cùng tồn tại, phát huy ảnh hưởng đối với dân chúng dựa vào thủ đoạn
đối thoại hiệp thương mới giải quyết được tranh chấp, xung đột; còn tăng
cường cưỡng chế, áp bức sẽ dẫn đến phản kháng; bạo lực khủng bố có thể
dẫn đến đổ máu, bạo loạn, thậm chí là chiến tranh! [69, tr. 867].

Không còn nghi ngờ gì nữa, thực chất của chiến lược "Diễn biến hòa bình"
chính là dựa vào ngọn cờ tôn giáo và dân tộc làm ngòi nổ để lật đổ chế độ xã hội của
đối phương mà Mỹ đã và đang áp dụng.

ở Việt Nam thời kỳ mở cửa, hội nhập với thế giới, hoạt động tôn giáo cũng muôn
hình muôn vẻ: tôn giáo cũ được khôi phục một cách rầm rộ, tôn giáo mới nảy sinh mang
nhiều đặc tính "lành ít dữ nhiều". Và có ai dám khẳng định bức tranh về tổng quát tôn
giáo Việt Nam là thuần túy về tôn giáo, không mang màu sắc chính trị! Các tôn giáo lớn
ở Việt Nam có quan hệ với tôn giáo hải ngoại đã đành, nhưng những tôn giáo mới xuất
hiện cũng muốn dựa vào sự tác động của quốc tế thì thật là vấn đề đáng suy nghĩ!

Trong những năm đầu của công cuộc hợp tác quốc tế, cán bộ nhân dân ta chưa
quen, còn ngỡ ngàng, nên ít nhiều còn vấp phải sai lầm, lúng túng trong cách giải quyết
những vấn đề xã hội (trong đó có tôn giáo). Nhưng gần đây, cán bộ, nhân dân ta đã có
khá nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong công tác tôn giáo, nên vấn đề bóc tách, phân biệt
tính chính trị và tín ngưỡng trong hoạt động tôn giáo cũng ngày càng nhận thức rõ hơn.

Dự báo của tình hình tôn giáo trong thời gian tới là: Do tác động của môi
trường quốc tế, nhất là dựa vào đạo luật HR 2431- đạo luật vô lý của Mỹ; dựa vào sự hà
hơi tiếp sức bằng phương tiện vật chất của bọn phản động trong cái gọi là tổ chức Tôn
giáo hải ngoại đem lại cho bọn cực đoan, quá kích đội lốt trong các tôn giáo một ảo
tưởng để hy vọng thành công trong hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân
dân ta. Khả năng về sự chai lì, ngoan cố của bọn này ngày càng gia tăng trong các hoạt
động lén lút để khôi phục các tổ chức tôn giáo cũ làm đối trọng, đấu tranh với giáo hội
chân chính của các tôn giáo hiện có; Đồng thời lôi kéo, dụ dỗ tín đồ các tôn giáo làm
đối trọng với chính quyền địa phương. Mặt khác, do điều kiện của công nghiệp hóa nên
đạo Tin lành và một số tôn giáo " lạ" sẽ có thể xâm nhập vào ở nơi nào mà đời sống về
dân sinh và dân trí còn lạc hậu và thấp kém.

Dự báo bức tranh tôn giáo ở Quảng Ngãi trong thời gian tới cũng không ngoài
tình hình chung của cả nước. Song do điều kiện đặc thù của địa phương, dự báo của tình
hình tôn giáo ở Quảng Ngãi có những điểm đáng lưu ý:

- Là một tỉnh có truyền thống cách mạng nhưng là tỉnh thuộc diện nghèo, khó
của đất nước. Do vậy, các thế lực phản động, nhất là phản động lưu vong trong các tôn
giáo luôn tìm cách xâm nhập để móc nối, xây dựng cơ sở càng ngày càng tích cực hơn,
bởi hai lẽ sau đây:

Trước hết, Quảng Ngãi là đất "dụng võ" của Lê Quang Sách trước đây trong tổ
chức tôn giáo Cao đài, nay Lê Quang Sách là "đầu sỏ" của cái gọi là Cao đài hải ngoại,
có cơ sở tại Mỹ. Hoặc sự có mặt của Huyền Quang hiện nay, một nhân vật chống đối,
cực đoan đang cư trú tại chùa Quang Phước (huyện Nghĩa hành), là nhân vật trung tâm,
chỉ đạo hoạt động lén lút của phe nhóm "Phật giáo ấn Quang" (Phật giáo thống nhất
trước đây) ở các tỉnh phía Nam. Đồng thời Huyền Quang có mối liên hệ thường xuyên
với bọn phản động tôn giáo lưu vong. Những "dây mơ, rễ má" kể trên là đầu mối cho sự
xâm nhập của các tổ chức tôn giáo hoạt động trái phép. Những động - tĩnh của tình hình
tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi sẽ được dư luận quốc tế theo dõi một cách thường xuyên
qua các "kênh" này. Thứ hai, chúng ta biết rằng địa phương nào trước đây là căn cứ
cách mạng, là cái nôi trong chiến tranh thì trong hòa bình, xây dựng, địa phương đó rất
khó khăn trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng theo qui luật thì nơi nào có khó
khăn, nơi đó các thế lực phản động nhảy vào nhập cuộc, ở đây là hoạt động tôn giáo trái
phép.

- Do bị kích động của bọn phản động lưu vong, một vài tôn giáo muốn gây
thanh thế cho mình hoặc hợp pháp hoặc không hợp pháp. Nên việc tồn đọng những vấn
đề về tranh chấp đất đai, cơ sở thờ tự của tôn giáo chưa được giải quyết dứt điểm thì
sớm hay muộn cũng sẽ là nguyên cớ cho những sự kiện tôn giáo nảy sinh.
- Việc phát triển đạo ngày càng phức tạp hơn, nhất là ở khu vực các huyện miền
núi của tỉnh đang đặt trước chính quyền sở tại một thách thức lớn là làm thế nào để ngăn
chặn sự lan tỏa ngày càng rộng lớn này, một khi cán bộ cơ sở phải chung sống trong
mối quan hệ họ hàng, huyết thống; mà họ hàng, huyết thống nay trở thành một tín đồ
sùng đạo. Ngay cả vợ, con của cán bộ được đội ngũ truyền giáo xem là đối tượng cần
tranh thủ trước tiên, nếu không tranh thủ được thì cô lập, phân hóa trong đời sống cộng
đồng. Đó là thách thức lớn đối với cán bộ đảng viên cơ sở (vùng đồng bào dân tộc) cần
phải nhìn nhận một cách đúng đắn để giữ được cán bộ cơ sở, để có biện pháp ngăn chặn
sự phát triển đạo một cách bất hợp pháp hiện nay.

Ngoài ra, cần phải chú ý đến lực lượng học sinh con em dân tộc hiện đang theo
học ở các trường nội trú của huyện và của tỉnh. Đối tượng này được bọn truyền giáo phi
pháp luôn để tâm mua chuộc, nếu như ta mất cảnh giác để bọn xấu nắm lấy lực lượng
học sinh này thì cũng đồng nghĩa với việc phá sản một chính sách quan trọng trong
chiến lược xây dựng cán bộ vùng dân tộc.

2.2.2. Những phương hướng chung

Một là, tiếp tục tuyên truyền, phổ biến và quán triệt một cách đầy đủ, sâu rộng
hơn nữa các quan điểm, chủ trương, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước
ta được thể hiện trong Chỉ thị 37 và Thông báo 145 của Bộ Chính trị cho cán bộ, đảng
viên và nhân dân (chú trọng tuyên truyền trong quần chúng tôn giáo), làm thế nào để
cho tất thẩy mọi người hiểu về Đảng ta ngày một đầy đủ hơn. Trước sau như một Đảng
ta luôn thể hiện quan điểm tôn trọng tự do tín ngưỡng và dự do không tín ngưỡng của
mọi công dân. Thực tế chủ nghĩa xã hội chẳng những không kỳ thị tôn giáo, không đàn
áp tôn giáo mà còn tạo điều kiện, giúp đỡ tôn giáo hoạt động bình thường. Phải làm sao
cho mọi người nhận thức đúng về bản chất của chế độ chính trị của Đảng Cộng sản Việt
Nam. Có nhận thức đúng quan điểm của Đảng mới đánh bại được những luận điệu
tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch. Đồng thời, giải quyết tốt các
chính sách, nguyện vọng chính đáng của đồng bào tôn giáo mà lâu nay chưa thực hiện
được, nhằm đảm bảo sinh hoạt bình thường, thỏa mãn nhu cầu tôn giáo của quần chúng
tín đồ, và:

Một khi tín đồ thỏa mãn được nhu cầu tôn giáo của bản thân, họ sẽ là
người bảo vệ tính trong sạch của điều mình coi là thiêng liêng, là thân thương;
sẽ chống lại những kẻ xấu lợi dụng, làm nhơ bẩn niềm tin bằng bất cứ phương
tiện nào: Chính trị, kinh tế, đạo đức... Đó là điều chắc chắn, không khác gì họ
cảm thấy cần bảo vệ Tổ quốc - Đất mẹ, khí thiêng của non sông, chống lại
những kẻ xâm phạm đến quê cha, đất tổ, đến mái ấm gia đình [79, tr. 6].

Hai là, đẩy mạnh việc phối hợp công tác một cách thường xuyên và chặt chẽ
giữa các ngành hữu quan, giữa các cấp chính quyền trong việc quản lý những hoạt động
tôn giáo trên địa bàn, dựa trên cơ sở nhất quán quan điểm chỉ đạo chung của Đảng bộ
địa phương. Tuyệt đối tránh trường hợp "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược"; xã, phường
đã xử lý sự việc êm đẹp thì huyện, thị hoặc tỉnh lại phủ định việc xử lý của cấp xã,
phường; hoặc giải quyết vụ việc không đúng với thẩm quyền theo luật định... làm ảnh
hưởng xấu đến tình hình. Quản lý các hoạt động tôn giáo phải theo phương châm gần
gũi, tiếp xúc để kịp thời xử lý, uốn nắn; không để trường hợp "ngựa ra khỏi chuồng mới
đóng cổng", đặt trước cơ quan quản lý những công việc đã rồi. Bởi lẽ tài sản, vật tư, cơ
sở thờ tự tôn giáo (kể cả con người hoạt động tôn giáo) là tài sản chung của cộng đồng
tôn giáo - Nên một khi đã xây dựng hoàn chỉnh dù sai với qui định xin phép vẫn khó có
khả năng khắc phục vì tôn giáo thường dựa vào tính tập thể, không qui trách nhiệm cá
nhân.

Ba là, xây dựng bản lĩnh người cán bộ vận động quần chúng tín đồ phải biết
kiên trì, nhẫn nại, trung thực, khiêm tốn, cởi mở nhưng không theo đuôi quần chúng,
không mị dân. Đây là những đức tính phù hợp với đạo đức của các tôn giáo được qui
định trong các giáo lý, giáo luật tôn giáo.

Người cán bộ, đảng viên làm công tác vận động tín đồ các tôn giáo phải là người cán
bộ, đảng viên biết nêu gương sáng. Bởi lẽ Bác Hồ thường dạy: "Một tấm gương sống có
giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền" [59, tr. 74]. Bản lĩnh của người cán bộ quần
chúng nêu trên chúng ta đã có trong thời kỳ chiến tranh, nhưng giai đoạn ngày nay cần
phải tiếp tục phát huy và phát triển bản lĩnh ấy, trên cơ sở thực hiện khuyến khích bằng
lợi ích vật chất đối với cán bộ quần chúng, nhất là cán bộ quần chúng làm công tác vận
động tín đồ các tôn giáo.

2.2.3. Những biện pháp cần thực thi

Dựa vào đặc điểm, tình hình cụ thể của bà con tín đồ các tôn giáo để đưa ra
những biện pháp khả thi trong công tác vận động tín đồ các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi
hiện nay là việc làm cần thiết. Ngoài những biện pháp chung của cả nước, ở từng địa
phương có những biện pháp riêng, không nơi nào giống nơi nào. Qua nghiên cứu thực
tế, bước đầu nên thực hiện những biện pháp sau đây:

- Phải tích cực đổi mới công tác vận động tín đồ các tôn giáo, lấy nội dung kinh tế
- xã hội để tập hợp quần chúng. Làm được vấn đề này có nghĩa là chúng ta đã đem được
những vấn đề thiết thân trong đời sống hàng ngày của mọi người vào trung tâm của mọi
công việc. Durant cắt nghĩa về sự tồn tại của tôn giáo là: "Hễ còn cảnh khốn khổ là còn
thần linh" [26, tr. 75]. Dù nhận định nêu trên chỉ phản ánh một khía cạnh trong muôn
nghìn khía cạnh của người tín đồ. Song sự thật của việc truyền đạo ngày nay của hầu hết
các tôn giáo ở tỉnh Quảng Ngãi đều dựa vào kinh tế để mê hoặc, quyến rũ. Nội dung
kinh tế - văn hóa- xã hội là cốt lõi của mọi vấn đề; thực hiện được biện pháp này trong
công tác vận động quần chúng tín đồ cũng giống như chúng ta khơi dậy một nguồn động
lực mới rất quan trọng đó là mắt khâu về lợi ích. Mà mắt khâu về lợi ích ở bất cứ thời đại
nào cũng vẫn là trung tâm, làm hấp dẫn mọi hoạt động của con người, dù là con người
có tín ngưỡng.

- Phát huy vai trò của "già làng", người có uy tín trong cộng đồng gia đình
chính sách (gia đình liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng) trong các tôn giáo để vận động
bà con tín đồ. Biện pháp tổ chức Hội nghị già làng để bảo ban con cháu, để giáo dục
truyền thống văn hóa và cách mạng của dân tộc cho thế hệ trẻ... đã được Đảng bộ địa
phương quan tâm triển khai đúng lúc, đem lại hiệu quả tốt. Nhưng làm thế nào để duy
trì lực lượng già làng (ở vùng đồng bào dân tộc) cũng như Hội người cao tuổi, trong
thời buổi có nhiều biến động về đạo đức, về lối sống. Liệu bề những bậc cao niên không
nắm được kinh tế có còn dẫn dắt nổi lớp trẻ đi theo chí hướng của mình! Trong khi đó,
đạo đức các tôn giáo nêu cao sự cung kính người già, xem đó như là một qui tắc bắt
buộc. Đó là vấn đề cần phải cọ xát trước khi thực hiện biện pháp này. Mặt khác, qua hai
cuộc kháng chiến có nhiều gia đình thuộc diện chính sách, "đền ơn đáp nghĩa" là tín đồ
của các tôn giáo, có những cống hiến đáng trân trọng cho sự nghiệp cách mạng của
nhân dân. Nhưng hiện nay những gia đình tín đồ thuộc diện đền ơn đáp nghĩa được bọn
cực đoan, quá kkích trong các tôn giáo sử dụng làm "tiên phong" trong các sự việc tranh
chấp giữa tôn giáo với chính quyền địa phương. Vậy nên, cần phải chăm lo bồi dưỡng,
động viên vai trò gương mẫu của những gia đình đối tượng chính sách đứng về phía
nhân dân để vận động bà con tín đồ thực hiện đường lối chính sách tôn giáo của Đảng
và Nhà nước.

- Khơi dậy nét đẹp truyền thống trong dòng tộc vừa tiếp thu nét đẹp của sinh
hoạt văn hóa mới, nhất là trong lớp trẻ vừa bảo lưu tục thờ cúng tổ tiên, giữ ổn định đời
sống văn hóa cộng đồng dân cư. Biện pháp này được xem là chiếc phanh nhằm hãm tốc
độ truyền đạo Kitô (Công giáo, Tin lành) và các loại tôn giáo lạ vào khu dân c ư. Hiện
nay, phong trào viết gia phả cho dòng họ, xây dựng nhà thờ từ đường cho dòng họ đang
được đề cập với một nhận thức tiến bộ. Song chưa được thực hiện đều khắp, vì việc xây
dựng nhà thờ từ đường cho dòng họ đụng đến Luật đất đai và các thủ tục liên quan đến
chính quyền sở tại. Do đó, để biện pháp này được thực hiện trọn vẹn, nơi có điều kiện
Nhà nước nên cho phép xây dựng nhà thờ từ đường của dòng họ để bảo lưu, gìn giữ
truyền thống của gia đình, dòng họ. Nếu cho rằng tục thờ - cúng tổ tiên là văn hóa bản
địa, thiết nghĩ cần phải tạo điều kiện để khơi dậy, nhằm bảo lưu bản sắc văn hóa dân
tộc.

- Nên đặt vấn đề tuyên truyền, khuếch trương những việc làm tốt của các tôn
giáo trên hệ thống truyền thông đại chúng ở địa phương, nhất là đài truyền hình địa
phương cần phải đưa tin, phóng sự tuyên dương những việc tốt, người tốt của các tôn
giáo để khích lệ tín đồ làm nhiều điều tốt cho xã hội. Chúng ta biết rằng một trong
những đức tính của tín đồ các tôn giáo là việc phục thiện, là lòng vị tha, bác ái. Khuyến
khích được những mặt tích cực sẽ tạo được những cái tương đồng cũng là tỏ rõ sự tôn
trọng cái tốt trong quá trình thực hiện đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo và qua đó
cũng hạn chế được những dị biệt trong mối quan hệ xã hội.

- Việc thường xuyên mở những cuộc vận động mang tính xã hội như: Thực hiện
xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa mới; xóa mù, nâng cao dân trí, kế hoạch hóa
gia đình, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật; cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc
sống ở khu dân cư... thông qua đó mà tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta đến tận người dân; đồng thời qua phong trào mà chọn lựa cốt cán cho tổ chức,
đơn vị của mình.

- Như đổi mới nội dung và phương thức sinh hoạt phù hợp, những năm gần đây,
Mặt trận và các đoàn thể quần chúng ở khu vực nông thôn của tỉnh Quảng Ngãi đã có
bước phát triển đáng mừng. Để kích thích cho phong trào thi đua yêu nước cũng như để
đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả của công tác vận động bà con tín đồ các tôn giáo, nên chăng
Mặt trận và các đoàn thể quần chúng ở cơ sở cần xây dựng trong tín đồ của từng tôn
giaó những tổ chức đoàn thể của mình.

Ví dụ: Đối với Hội liên hiệp thanh nniên có chi hội thanh niên Công giáo; chi
hội thanh niên Phật giáo ... Đối với Hội liên hiệp Phụ nữ có chi hội phụ nữ Công giáo;
chi hội phụ nữ Cao đài... Dựa vào những tổ chức quần chúng này mà liên tục phát động
phong trào thi đua phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Bởi vì tín đồ của tôn giáo
nào cũng muốn tổ chức của tôn giáo mình tiến bộ hơn, xuất sắc hơn, thành công hơn so
với hoạt động của các tôn giáo khác ở cùng một địa bàn dân cư. Khai thác đặc điểm tâm
lý này để kích thích sự tranh đua lành mạnh giữa các cộng đồng, tổ chức tôn giáo ở địa
phương. Đồng thời thông qua các tổ chức quần chúng có tính chất cộng đồng tôn giáo
này mà chọn lọc, xây dựng lực lượng cốt cán cho ngành mình. Thực hiện được biện
pháp này có thể giải quyết được sự bế tắc lâu nay đối với việc xây dựng lực lượng cốt
cán trong tín đồ các tôn giáo ở địa phương.

Những biện pháp nêu trên, chung quy lại cũng không ngoài sự quan tâm của
Đảng, Nhà nước chăm lo từng bước nâng cao đời sống của bà con tín đồ các tôn giáo.
Vì rằng: "Ta phải quan tâm đến đời sống của quần chúng thì quần chúng sẽ theo ta. Ta
được lòng dân thì không sợ gì cá. Nếu không được lòng dân thì ta không thể làm tốt
công tác" [61, tr. 65].
Kết Luận



Dưới góc độ của người tín đồ chân chính, bà con nhân dân có đạo dù ở đâu trên
đất nước Việt Nam này cũng đều có chung một đặc điểm là yêu quê hương, đất nước;
tôn trọng phẩm giá của con người nên họ biết quí mến đến sự ổn định và phát triển của
đất nước. Hòa quyện đường hướng hành đạo cùng với sự phát triển của đất nước "Đạo
pháp - dân tộc - xã hội chủ nghĩa"; "nước vinh, đạo sáng"... là dấu hiệu tốt lành của các
tôn giáo, tạo điều kiện cho người tín đồ chân chính có mục tiêu phấn đấu trong cuộc
sống đời thường. Tuy nhiên, do trải qua cuộc sống trong các chế độ xã hội khác nhau,
tín đồ các tôn giáo ở Quảng Ngãi ít nhiều cũng bị chi phối bởi những luận điệu tuyên
truyền xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực chính trị - xã hội trước đây. Vì vậy,
việc thực hiện công tác vận động tín đồ các tôn giáo trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trước
hết cần phải giải tỏa những luận điệu tuyên truyền mang tính tâm lý chiến của ngụy
quyền Sài Gòn. Điều cần phải khẳng định với quần chúng tín đồ rằng: Chủ nghĩa xã hội
không chủ trương tiêu diệt tôn giáo mà giữa chủ nghĩa xã hội và tôn giáo còn có nhiều
điều phù hợp. Chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa vô thần khoa học khác với chủ nghĩa vô
thần tầm thường của giai cấp tư sản đang lên chống lại chủ nghĩa thần quyền tôn giáo ở
thời kỳ trung - cận đại. Song, chủ nghĩa xã hội kịch liệt lên án bọn lợi dụng tôn giáo làm
những điều ác, điều phi pháp, gieo rắc những đau thương, khổ nhục trong đời sống con
người. Bọn dựa vào tôn giáo để hoạt động chính trị, làm vẫy bùn, nhơ nhớp biến dạng
hình ảnh vốn rất thiêng liêng của tôn giáo.

Trong bối cảnh đất nước, quê hương thực hiện công cuộc đổi mới, hợp tác quốc
tế để phát triển thì nhiều vấn đề về kinh tế - chính trị - xã hội nảy sinh phức tạp, trong
đó có hoạt động của các thế lực phản động quốc tế đội lốt tôn giáo nhằm thực hiện
chiến lược "Diễn biến hòa bình". Lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bọn phản động
lưu vong dùng vật chất để cám dỗ, lôi kéo những tín đồ nhẹ dạ cả tin vào âm mưu gây
rối của chúng, làm cho tình hình chính trị - xã hội ở địa phương mất ổn định. Từ những
vụ việc nhỏ nhặt trong cuộc sống đời thường của bà con nhân dân có đạo, bọn chúng tô
vẽ thánh những vấn đề mang tính thiêng liêng để lừa gạt, mê muội tín đồ làm đối tượng
với chính quyền: Tranh giành đất cho Chúa; nằm mộng thấy Quan Âm hiện về... Những
" chiêu" lừa đảo này cũng tạo ra được một vài sự kiện về tôn giáo, nhưng không thể
đứng vững được trước sự đấu tranh đúng đắn của quần chúng nhân dân địa phương.

Qua thời gian hơn mười năm thực hiện chính sách tôn giáo trong thời kỳ đổi
mới, cán bộ và nhân dân địa phương đã có được những bài học kinh nghiệm quí giá:
Qua rồi tác phong nóng vội và lúng túng trong việc giải quyết những vấn đề thuộc lĩnh
vực tôn giáo; nhận thức của cán bộ và nhân dân trong lĩnh vực tôn giáo đã có nhiều tiến
bộ, phù hợp với diễn trình phát triển tôn giáo đương đại; phân biệt được tính chính trị và
tín ngưỡng trong vấn đề tôn giáo; thực hiện tốt chủ trương của Đảng về công tác tôn
giáo với tinh thần cởi mở, chân thành nhằm thực hiện mục tiêu chung của chủ nghĩa xã
hội là quan tâm đến đời sống muôn mặt của tất cả mọi người. Thành tựu đạt được trong
những qua của công tác vận động tín đồ các tôn giáo trên địa bàn tỉnh là đáng khích lệ.
Nhưng không vì thế mà chủ quan để đi đến mất cảnh giác, bỏ trống trận địa. Ngược lại,
công tác vận động quần chúng tín đồ các tôn giáo là công tác lâu dài, là công tác mang
tính chiến lược. Do vậy cần phải đầu tư thỏa đáng cho công tác này về mọi phương
diện: đào tạo cán bộ, trang thiết bị vật chất cần thiết...

Tóm lại, công tác vận động tín đồ các tôn giáo cũng chính là công tác xây dựng
chiến lược lòng dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta xem là mục tiêu hàng đầu.
Nhận thức đúng đắn vấn đề này trong tình hình ngày nay là điều kiện cơ bản tạo cho sự
nghiệp cách mạng thành công vững chắc.
danh mục Tài liệu tham khảo



Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (2000), Dự thảo báo cáo chính trị của
1.
BCH Đảng bộ tỉnh K.XV tại ĐHĐB Đảng bộ tỉnh lần XVI, tỉnh Quảng Ngãi.

Ban Chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 24.TW (1996), Báo cáo tổng kết việc thực hiện
2.
Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa VI) về tăng cường công tác
tôn giáo trong tình hình mới. Phương hướng công tác tôn giáo trong thời kỳ
mới, tỉnh Quảng Ngãi.

Ban Chỉ đạo Tỉnh ủy Quảng Ngãi (1999), Báo cáo tình hình Tin lành ở năm huyện
3.
miền núi tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Ngãi.

Ban Dân vận Trung ương (1995), Tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
4.
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Ban Dân vận Trung ương (30/6/1996), Báo cáo kết quả bước đầu về tổ chức hoạt
5.
động Mặt trận và các đoàn thể các cơ sở vùng tín đồ tôn giáo, Hà Nội.

Ban Dân vận Tỉnh ủy Quảng Ngãi (1999), Báo cáo tổng kết công tác dân vận năm
6.
1999, tỉnh Quảng Ngãi.

Ban Dân vận Tỉnh ủy Quảng Ngãi (2000), Hướng dẫn triển khai thực hiện thông
7.
báo 255 - TB/TW của Thường vụ Bộ Chính trị về chủ trương đối với đạo Tin
lành trong tình hình mới (tại huyện điểm Sơn Hà), tỉnh Quảng Ngãi.

Ban Dân vận Tỉnh Quảng Ngãi (2000), Báo cáo kết quả Hội nghị triển khai thông
8.
báo 255-TB/TW của Bộ Chính trị, tỉnh Quảng Ngãi.

Ban Dân vận Tỉnh ủy Quảng Ngãi (2000), Báo cáo đánh giá thực hiện thông báo
9.
184-TB/TW ngày 30/11/1998 của Thường vụ Bộ Chính trị về chủ trương
công tác đối với đạo Tin lành trong tình hình mới, tỉnh Quảng Ngãi.
10. Ban Tôn giáo của Chính phủ (1997), Tổng kết thực hiện Nghị định 69/HĐBT của
Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định về các hoạt động tôn giáo,
Hà Nội.

11. Ban Tôn giáo của Chính phủ (2000), Các văn bản pháp luật quan hệ đến tín
ngưỡng, tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.

12. Ban Tôn giáo tỉnh Quảng Ngãi (1996), Các hệ phái Cao Đài ở Quảng Ngãi, Tài
liệu lưu hành nội bộ, tỉnh Quảng Ngãi.

13. Ban Tôn giáo tỉnh Quảng Ngãi (2000), Cơ sở thờ tự của đạo Tin lành và thực
trạng hiện nay, tỉnh Quảng Ngãi.

14. Ban Tôn giáo tỉnh Quảng Ngãi (2000), Đề xuất giải quyết tranh chấp đất, cơ sở
thờ tự của đạo Công giáo, tỉnh Quảng Ngãi.

15. Bộ Chính trị (1990), Nghị quyết 24-NQ/TW về tăng cường công tác tôn giáo trong
tình hình mới, Hà Nội.

16. Bộ Chính trị (1998), Chỉ thị về công tác tôn giáo trong tình hình mới, chỉ thị số
37-CT/TW, Hà Nội.

17. Bộ Chính trị (1998), Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tăng cường lãnh đạo
công tác tôn giáo trong tình hình mới, thông báo số 145-TB/TW, Hà Nội.

18. Bộ Chính trị (1999), Thông báo kết luận của Bộ Chính trị về chủ trương đối với
đạo Tin lành trong tình hình mới, Thông báo số 255-TB/TW, Hà Nội.

19. Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Quảng Ngãi (1999), Về hoạt động đạo Tin lành ở
huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

20. Lê Cung (1998), "Chính sách của chính quyền NĐD đối với Phật giáo miền Nam
trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng", Nghiên cứu lịch sử, (3), tr. 14-21.

21. Lê Cung (1999), "Chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với phật giáo
miền Nam trên lĩnh vực kinh tế - xã hội và văn hóa - giáo dục", Nghiên cứu
lịch sử, (3), tr. 10-19.
22. Lê Cung (1999), "Chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với phật giáo
miền Nam trên lĩnh vực kinh tế - xã hội và văn hóa - giáo dục" (tiếp theo và
hết), Nghiên cứu lịch sử, (4), tr. 31-40.

23. Cục Thống kê Quảng Ngãi (1999), Niên giám thống kê, tỉnh Quảng Ngãi.

24. Cục Thống kê Quảng Ngãi (2000), Quảng Ngãi: Tiềm năng và động thái kinh tế
1990 - 1999, tỉnh Quảng Ngãi.

25. Nguyễn Chính (1990), Vấn đề tín đồ của một tôn giáo, Lưu hành nội bộ, Hà Nội.

26. Will & Ariel Durant (1968), Bài học của lịch sử, (Nguyễn Hiến Lê và Trần Lương
Ngọc dịch), Nxb Lá Bối, Paris.

27. Phạm Thế Duyệt (2000), Quán triệt chủ trương của Bộ Chính trị đối với đạo Tin
lành trong thời kỳ mới, Hà Nội.

28. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VI, Nxb
Sự thật, Hà Nội.

29. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.

30. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương
(khóa VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

31. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương
(khóa VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

32. Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của hệ tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến
Cách mạng 8/1945, tập I, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.

33. Mai Thanh Hải (2000), Tôn giáo thế giới và Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội.

34. Ngô Khắc Hiệp (1995), Thực trạng nguyên nhân sự chuyển biến của tôn giáo và
đổi mới công tác tôn giáo hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
35. Lê Kim Hoàng (1998), Đảng bộ cơ sở Đồng Tháp thực hiện chính sách tôn giáo
(1975 - 1996), Luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng (5.08.03), Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

36. Hồ Trọng Hoài (1998), "Tìm hiểu sự nhìn nhận của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn
giáo", Nghiên cứu lý luận, (7), tr. 34-36.

37. Nguyễn Hồng (1959), Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam (quyển I), Nxb Hiện tại, Sài Gòn.

38. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1996), Tôn giáo tín ngưỡng hiện nay -
mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp thiết: tài liệu tham khảo phục vụ lãnh
đạo nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Trung tâm thông tin tư liệu (thông tin
chuyên đề), Hà Nội.

39. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu tín ngưỡng và
Tôn giáo (1997), Trích tác phẩm Các Mác - Ph.Ăngghen - Lênin và Hồ Chí Minh
về bản chất, nguồn gốc, vai trò của những nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo
(tham khảo nội bộ), Hà Nội.

40. Đỗ Quang Hưng (1990), Một số vấn đề về lịch sử Thiên chúa giáo ở Việt Nam, Nxb
Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Khoa lịch sử, Hà Nội.

41. Mạnh Xuân Kiên (1971), Vai trò Chính trị của đạo Cao Đài, Nxb Học viện quốc
gia Hành chính, Sài Gòn.

42. Nguyễn Ngọc Kim (1999), "Mấy suy nghĩ về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Quốc phòng toàn
dân, (9), tr. 27-30.

43. Nguyễn Ngọc Kim (2000), "Mấy suy nghĩ về bộ đội làm công tác dân vận ở vùng
đồng bào có đạo", Quốc phòng toàn dân, (8), tr. 53-55.

44. Nguyễn Lang (1996), Việt Nam Phật giáo sử luận, (tập I), (tập II), Nguyễn Huệ
Chi giới thiệu, Nxb Văn học, Hà Nội.
45. Đinh Văn Liên (1991), "Về sự phân bố các vùng dân cư tôn giáo ở Nam bộ",
Nghiên cứu lịch sử, (6), tr. 1-10.

46. Phan Thanh Long (Chủ nhiệm đề tài) (1996), Đổi mới công tác vận động quần
chúng có đạo của Bộ đội biên phòng ở khu vực biển đảo tỉnh Quảng Ngãi,
Bộ Chỉ huy biên phòng tỉnh Quảng Ngãi.

47. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, Matxcơva.

48. V.I.Lênin (1979), Toàn tập, tập 17, Nxb Tiến bộ, Matxcơva.

49. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 26, Nxb Tiến bộ, Matxcơva.

50. Nguyễn Đức Lữ (1995), Tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam sau 10 năm của sự
nghiệp đổi mới: Tổng luận phân tích, Nxb Trung tâm thông tin khoa học
công nghệ và công nghệ quốc gia, Hà Nội.

51. Nguyễn Đức Lữ (2000), "Giải quyết đúng đắn vấn đề tôn giáo nhằm đảm bảo ổn
định chính trị - xã hội", Nghiên cứu lý luận, (3), tr. 32-34.

52. Nguyễn Đức Lữ (2000), Mấy suy nghĩ bước đầu về công tác xây dựng lực lượng
cốt cán trong vùng đồng bào có đạo, Tham luận Hội nghị Ban dân vận Trung
ương, Hà Nội.

53. C. Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

54. C. Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

55. C. Mác - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

56. C. Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 18, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

57. C. Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

58. C. Mác - Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

59. Hồ Chí Minh (1981), Toàn tập, tập 4, Nxb Sự thật, Hà Nội.

60. Hồ Chí Minh (1985), Toàn tập, tập 5, Nxb Sự thật, Hà Nội.

61. Hồ Chí Minh (1985), Toàn tập, tập 6, Nxb Sự thật, Hà Nội.
62. Hồ Chí Minh (1983), Toàn tập, tập 10, Nxb Sự thật, Hà Nội.

63. Đậu Tuấn Nam (1998), "Hồ Chí Minh với vấn đề toàn kết nhân dân, không phân
biệt tôn giáo", Nghiên cứu lý luận, (5), tr. 16-17.

64. Trần Chung Ngọc (1999), Công giáo chính sử - khảo luận qua các tư liệu, Nxb
Giao điểm, Paris.

65. Văn Tân (Chủ biên) (1994), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

66. Nguyễn Văn Tân (1998), Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Văn
hóa thông tin, Hà Nội.

67. Thích Thiện Tâm (1999), Tìm hiểu tôn giáo của đạo Phật, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, TP. Hồ Chí Minh.

68. Nguyễn Kiên Tâm (2000), Công tác vận động xây dựng cốt cán trong vùng đồng
bào công giáo - vấn đề đang đặt ra, Tham luận Hội nghị Ban dân vận Trung
ương, Hà Nội.

69. Cát Văn Thành, Nguyên Hạnh, Dương Minh Đạo (1998), Dự báo thế kỷ 21, Nxb
Thống kê, Hà Nội.

70. Nguyễn Tài Thư (1986), ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con
người Việt Nam hiện nay, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh.

71. Trần Tam Tĩnh (1988), Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.

72. Tỉnh ủy Quảng Ngãi (1997), Báo cáo tổng kết Nghị quyết 24/TW ngày 16/11/1990
của Bộ Chính trị về "Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới",
Báo cáo số 11-BC/TU, Quảng Ngãi.

73. Thông tin khoa học xã hội, chuyên đề (1997), Tôn giáo và đời sống hiện đại, tập 1
và tập 2, Hà Nội.

74. Thông tin Khoa học xã hội, chuyên đề (1998), Tôn giáo và đời sống hiện thực, tập
3, Hà Nội.
75. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Nghiên cứu Tôn giáo
(1996), Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, Sách tham khảo, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.

76. ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2000), Một số vấn đề về tôn giáo
và công tác tôn giáo của Mặt trận, (Lưu hành nội bộ), Hà Nội.

77. ủy ban đoàn kết Công giáo yêu nước Việt Nam (1986), Filel và tôn giáo: Những
cuộc trao đổi với linh mục Frelbetto, TP. Hồ Chí Minh.

78. Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Duy Hinh, Đặng Thế Đại (1995), Bước đầu tìm hiểu
đạo Cao Đài, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

79. Đặng Nghiêm Vạn (1999), "Đối diện với xu hướng tôn giáo hiện nay", kỷ yếu hội
thảo khoa học Tác động của tôn giáo đối với tình hình an ninh trật tự, tổng
cục An ninh - Viện Nghiên cứu chiến lược và khoa học công an, tr. 1-8.

80. Đặng Nghiêm Vạn (1999), Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến tôn
giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam. Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
ta, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Hà Nội.

81. Đặng Nghiêm Vạn (2000), Vấn đề xây dựng lực lượng cốt cán trong vùng đồng
bào theo đạo công giáo, Tham luận tại Hội nghị Ban dân vận Trung ương,
Hà Nội.

82. Viện Nghiên cứu Tôn giáo (1994), Về Tôn giáo, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội.

83. Viện tư tưởng Hồ Chí Minh (1995), Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.

84. Nguyễn Hữu Vui (chủ biên) (1990), Chủ nghĩa vô thần Khoa học, Nxb trẻ, tủ sách
Đại học Tổng hợp Hà Nội, Hà Nội.
85. Từ Tân Vũ (Chủ nhiệm đề tài) (1995), Vấn đề tôn giáo và đổi mới công tác tôn
giáo trong tình hình hiện nay ở tỉnh Quảng Ngãi, Đề tài nghiên cứu khoa
học, tỉnh Quảng Ngãi.

86. Hoành Tâm Xuyên (chủ biên) (1999), Mười tôn giáo lớn trên thế giới, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản