LUẬN VĂN: Đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá ở Công ty TNHH Thiết kế & Thương mại Phát Gia

Chia sẻ: intel1212

Để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn năng động, sáng tạo, đổi mới và thích ứng với nhu cầu phát sinh trên thị trường khi các doanh nghiệp cạnh tranh để tìm chỗ đứng trên thị trường thì thông tin về thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và kết quả tiêu thụ có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Từ việc xem xét thông tin ra các yếu tố bất hợp lý...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá ở Công ty TNHH Thiết kế & Thương mại Phát Gia

LUẬN VĂN:




Đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá ở

Công ty TNHH Thiết kế &

Thương mại Phát Gia
Lời mở đầu




Để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, đòi
hỏi các doanh nghiệp phải luôn năng động, sáng tạo, đổi mới và thích ứng với nhu cầu
phát sinh trên thị trường khi các doanh nghiệp cạnh tranh để tìm chỗ đứng trên thị trường
thì thông tin về thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và kết quả tiêu thụ có vai trò đặc biệt
quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Từ việc xem xét
thông tin ra các yếu tố bất hợp lý trong việc sử dụng tài sản, vốn, vật tư, do đó có thể đưa
ra các quyết định đứng đắn nhằm tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất trong
tương lai. Vì vậy, hơn bao giờ hết họ phải nắm chắc thông tin một cách chính xác về
thành phẩm, tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả tiêu thụ.
Mỗi doanh nghiệp có đặc điểm sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ, trình độ
quản lý khác nhau. Dẫn tới phương pháp quản lý điều hành giữa các lĩnh vực, bộ phận của
mỗi doanh nghiệp khác nhau.Tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và xác định lĩnh vực kinh doanh
cũng khác nhau tuỳ thuộc vào từng điều kiện, và hoàn cảnh của các doanh nghiệp .
Đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm hàng hoá và xác định kết quả tiêu thụ đúng, đủ, chính xác,
kịp thời sẽ giúp công tác chi phí, kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý và đưa ra những giải pháp
nhằm cải thiện thúc đẩy khả năng tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong quá trình hoạt động
kinh doanh của công ty, cung cấp thông tin cho quản lý, từ đó phấn đấu nâng cao khả năng
thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hàng hoá ngày càng nhiều, đảm bảo được lợi nhuận tối đa.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hàng hoá.
Đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá ở Công ty TNHH Thiết kế & Thương mại Phát Gia. Vận
dụng lý luận đã học và nghiên cứu từ các thầy, cô trong khoa quản trị kinh doanh và
trong trường ĐHKT Quốc Dân Hà Nội, kết hợp với việc thực tế thu nhận thông qua quá
trình tìm hiểu và nghiên cứu thực tế từ những hoạt động kinh doanh tại Công ty TNHH
Thiết kế & Thương mại Phát Gia. Em đã chọn chuyên đề: “Đẩy mạnh tiêu thụ hàng
hoá ở Công ty TNHH Thiết kế & Thương mại Phát Gia” cho chuyên đề của mình.
Chuyên đề gồm 3 phần:
- Phần I: Tiêu thụ sản phẩm - nhân tố quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các
doanh nghiệp trong cơ chế thị trường
- Phần II: Phẩm tại công ty TNHH thiết kế và Thực trạng tình hình tiêu thụ sản thương
mại Phát Gia.
- Phần III: Một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động tiêu thụ sản phẩm của
Công ty TNHH và Thiết kế Thương mại Phát Gia.
Phần I
TIÊU THỤ SẢN PHẨM - NHÂN TỐ QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI SỰ TỒN TẠI VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG


I. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÁC NHÂN TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ CỦA DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm
Nghĩa hẹp, tiêu thụ là quá trình chuyển giao hàng hoá cho khách hàng và nhận tiền
từ họ. Theo đó người có cầu tìm người có cung hàng hoá tương ứng hoặc người có cung
hàng hoá tìm người có cầu hàng hoá. Hai bên thương lượng và thoả thuận về điều kiện
mua và bán. Khi hai bên thống nhất người bán trao hàng và người mua trả tiền. Quá
trình mua bán hàng hoá kết thúc tại đó.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, hoạt động tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp
được hiểu theo nghĩa rộng. Đó là quá trình tự tìm hiểu nhu cầu của khách hàng trên thị
trường, tổ chức mạng lưới tiêu thụ, xúc tiến bán hàng với một loại hoạt động hỗ trợ, tới
thực hiện các hoạt động sau bán hàng.
Hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
- Tăng thị phần của doanh nghiệp, tạo cho phạm vi quy mô thị trường hàng hoá của
doanh nghiệp không ngừng được mở rộng.
- Tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây có thể coi là yêu cầu về mặt
kinh tế và biểu hiện về mặt lượng kết quả hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp.
- Tăng tài sản tiêu thụ của doanh nghiệp. Đó chính là tăng uy tín của doanh nghiệp
nhờ tăng thêm niềm tin đích thực của người tiêu dùng sản phẩm doanh nghiệp sản xuất
ra. Xét về lâu dài chính tài sản vô hình sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của
doanh nghiệp.
- Phục vụ khách hàng, góp phần thoả mãn các nhu cầu kinh tế xã hội của doanh
nghiệp và khẳng định vị trí của doanh nghiệp như là một tế bào của hệ thống kinh tế
quốc dân.
2. Vai trò và tầm quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
- Tiêu thụ hàng hoá giúp doanh nghiệp kết thúc một vòng luân chuyển đồng vốn
hoạt động sản xuất kinh doanh: T-H-H’,T’. Trong công thức trên, hoạt động tiêu thụ giúp
doanh nghiệp chuyển hoá vốn dưới dạng các sản phẩm hàng hoá do doanh nghiệp sản
xuất ra (H’) thành tiền và các dạng khác của tiền (H).
- Tiêu thụ hàng hoá giúp cho doanh nghiệp tạo ra doanh thu đối với sản phẩm của
mình. Đồng thời doanh nghiệp cũng tạo ra được lợi nhuận từ khoản doanh thu đó. Doanh
nghiệp càng thu được nhiều lợi nhuận thì nguồn vốn của doanh nghiệp không được tăng
lên, khả năng mở rộng của doanh nghiệp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu ngày càng tăng.
Doanh nghiệp có nhiều điều kiện không những chỉ đứng vững mà còn phát triển.
- Tiêu thụ giúp doanh nghiệp khẳng định được vị thế và uy tín của mình đối với
đông đảo người tiêu dùng thông qua những sản phẩm được đưa vào thị trường nhằm đáp
ứng một nhu cầu nào đó của người tiêu dùng.
- Tiêu thụ hàng hoá giúp doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá trong quá trình sản
xuất. Trong sản xuất doanh nghiệp luôn luôn gặp mâu thuẫn giữa chất lượng mẫu mã sản
phẩm với giá thành của sản phẩm. Chất lượng của hàng hoá phải cao, hình thức mẫu mã
phải đẹp song giá bán phải rẻ. Đây là mâu thuẫn mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng
gặp phải trong quá trình sản xuất. Khi sản phẩm được tiêu thụ, có nghĩa đã chấp nhận
mối tương quan chất lượng mẫu mã và giá cả. Và khi đó mâu thuẫn trên đã được giải
quyết.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hoạt động của doanh nghiệp
Như ta đã biết, để có thể đưa một sản phẩm vào thị trường, các doanh nghiệp không
chỉ mua hàng hoá rồi bán ngay chính hàng hoá đó để kiếm lợi như các doanh nghiệp
thương mại thuần tuý, mà các doanh nghiệp mua các hàng hoá, chế biến chúng, sau đó
mới bán cán sản phẩm đã qua chế biến. Như vậy, hoạt động tiêu thụ của doanh nghiệp
không chỉ chịu ảnh hưởng của hoạt động mua, mà còn chịu ảnh hưởng của quá trình sản
xuất của chính doanh nghiệp và các hoạt động khác.
3.1. Yếu tố thị trường
Có thể nói rằng đây là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình tiêu thụ sản phẩm
của các doanh nghiệp. Việc tìm hiểu chính xác nhu cầu thị trường sẽ xác định nhu cầu thị
trường cần khối lượng là bao nhiêu, chất lượng như thế nào, màu sắc, hình dáng, kích
thước… Đâu là thị trường và khách hàng của doanh nghiệp. Từ nhu cầu về hàng hoá đã
được xác định ở ở hoạt động này, các doanh nghiệp lên kế hoạch và sản xuất. Do các sản
phẩm sản xuất xuất phát từ nhu cầu thực tế của thị trường nên việc tiêu thụ sản phẩm
cũng là tương đối dễ dàng.
Để tìm hiểu được chính xác nhu cầu của thị trường doanh nghiệp cần tìm hiểu
những vấn đề sau:
+ Thị hiếu thói quen của người tiêu dùng.
+ Thu nhập.
+ Số tiền mà người tiêu dùng sẵn sàng trả cho sản phẩm và dịch đó trên tổng thu
nhập.
+ Văn hoá tiêu dùng.
3.2. Yếu tố đầu vào
* Vốn: Vốn điều lệ và vốn tự do của doanh nghiệp. Liệu sô vốn của doanh nghiệp
có trong tay có đủ để sử dụng khi cần không, để không phả nói rằng “Cái khó bó cái
khôn”. Thường thì vốn chính là cái “Cần câu” để người câu “kiếm sống” nhất là đối với
hoàn cảnh hiện nay của nước ta – nền kinh tế thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Có vô số
kẻ mua người bán, có thể nói rằng “Mật ít, ruồi nhiều” nên vốn cũng là cái rất cần thiết
cho doanh nghiệp.
* Lao động và chất lượng của lao động: Lao động trong một doanh nghiệp bao
gồm cả lao động quản lý và lao động giản đơn.
Điều này thể hiện rõ trong cơ cấu tổ chức bộ máy lao động của doanh nghiệp, việc
tổ chức, sắp xếp cơ cấu bộ máy quản lý hợp lý, linh hoạt có năng lực là yếu tố giường
cột cho sự chuyển tải công việc trong doanh nghiệp.
Bộ phận lao động quản lý mà linh hoạt, sáng tạo và đầy tài năng sẽ chỉ huy hướng
dẫn, tổ chức, lãnh đạo đội ngũ lao động giản đơn hoạt động một cách nhanh chóng
kịp thời, sáng tạo, tiết kiệm và hiệu quả. Như vậy rất có ưu thế trong cạnh tranh và
thúc đẩy tiêu thụ hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả.
Phần II
PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH THIẾT KẾ VÀ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH TIÊU
THỤ SẢN THƯƠNG MẠI PHÁT GIA
I. MỘT SỐ KHÁI QUÁT VỀ C.TY TNHH THIẾT KẾ & THƯƠNG MẠI PHÁT
GIA
1. Lịch sử ra đời và phát triển
Công ty Phát Gia là Công ty Thiết kế & Thương mại hoạt động theo mô hình Công
ty TNHH, được thành lập từ ngày 01/01/2004 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà
Nội cấp giấy phép thành lập.
- Các giai đoạn phát triển: Ban đầu trụ sở chính củ Công ty đặt tại 650 đường Láng
- Đống Đa – Hà Nội. Qua 2 năm hoạt động do điều kiện không thuận lợi cho hoạt động
kinh doanh và giao dịch, nên lãnh đạo Công ty đã quyết định chuyển địa điểm Công ty
tới địa chỉ: 958 đường Láng - Đống Đa – Hà Nội vào ngày 05/12/2006.
- Tuy nhiên từ khi thành lập đến nay ngành nghề kinh doanh chính của Công ty là:
+ Thiết kế tổng mặt bằng, kiến trúc nội thất, ngoại thất đối với công trình xây dựng
dân dụng, công nghiệp.
+ Trang trí nội, ngoại thất.
+ Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hoá.
Thời gian hoạt động kinh doanh là 03 năm kể từ khi Công ty có giấy phép hoạt
động kinh doanh. Do Sở Kế hoạch & Đầu tư Hà Nội cấp.
2. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật chủ yếu của doanh nghiệp
2.1. Về sản phẩm
Là một doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, mới thành lập, công ty TNHH thiết
kế & thương mại Phat Gia chuyên nhận thiết kế và cung cấp thị tr ường các sản phẩm nội
thất và ngoại thất được là từ mây, tre, gỗ và khung nhôm, thép để trang trí trong các công
ty, các khu trung cư, và các gia đình. Ngoài ra công ty còn kinh doanh các mặt hàng
khác bao gồm:
- Đồ nội thất, ngoại thất.(Đa số nhập từ Đài Loan).
- Đồ điện CLIPSAL (CLIPSAL là một hãng sản xuất đồ điện nổi tiếng trên thế giới
có trụ sở chính ở Sydney - Australia).
- Dây điện và cáp quang (Nhập từ Nam Triều Tiên, Anh, Italy).
- Hàng văn phòng phẩm.
- Hàng đồ điện (AC,ABB...).
*Một số hàng nội thất của công ty:
+Nội thất dung trong gia đình:




(Nội thất:Tủ)




(Nội thất: Cầu thang)




(Nội thất: Bàn ghế)
(Giường ngủ)
+Nội thất dùng trong khách san:




(Nội thất: Giường ngủ)


+Nội thất văn phòng:




(Nội thất: Phòng họp)
+ Ngoại thất:




*Khung cửa:
*Cửa cổng:




*Ban công:
*Hàng rào:




*Phụ kiện – Hoa văn:




+Ngoài ra:




(Nội thất mỹ nghệ: Tượng đá)




2.2. Về khách hàng và thị trường tiêu thụ
Cho đến nay Công ty Thiết kế và trang trí nội thất, ngoại thất cho nhiều văn phòng
của các Công ty, các khu vực nhà chung cư và hộ gia đình, đồng thời Công ty cũng đang
phân phối sản phẩm cho gần 100 cửa hàng đại lý trên khắp cả nước. Tập trung chủ yếu ở
Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, đây là thị trường tương đối rộng lớn và ổn định.
Với dân số 80 triệu dân, nước ta là một thị trường đầy tiềm năng của các nhu cầu về
thiết kế và trang trí và bao gồm các mặt hàng khác. Trong những năm gần đây, nền kinh tế
nước ta tăng trưởng với tốc độ rất cao và ổn định, thu nhập của dân cư tăng nhanh đời sống
người dân đang ngày càng được nâng cao và ổn định làm cho nhu cầu về thiết kế và trang trí
nội, ngoại thất và các loại sản phẩm và hàng hoá tăng nhanh nhất là chất lượng các dịch vụ
và sản phẩm giữa thành thị và nông thôn có nhu cầu khác nhau giữa lượng cầu và chất
lượng, ở thành thị phần lớn là những người có thu nhập cao, họ quan tâm đến hàng hoá và
dịch vụ chất lượng cao, ít quan tâm đến giá cả. Ngược lại ở nông thôn phần lớn là những
người có thu nhập thấp họ cần những hàng hoá và dịch vụ phù hợp với mức thu nhập của
họ.
Để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh ngày càng mãnh liệt, đòi hỏi cá
doanh nghiệp phải luôn năng động, sáng tạo, đổi mới và thích ứng với những nhu cầu
của các nhóm khách hàng và các đoạn thị trường khác nhau về mẫu mã, chất lượng, giá
cả. Doanh nghiệp cần phải tìm ra những ph ương hướng để đáp ứng hàng hoá ngày càng
tốt hơn với những đối tượng khách hàng trên.
Để nắm bắt và hiểu rõ nhu cầu của các đối tượng khách hàng, có thể phân loại như
sau:
+ Nhóm khách hàng có nhu cầu mua sắm nội, ngoại thất trong gia đình: Với đời
sống của người dân nước ta ngày nay đang khá lên, thì khả năng mua sắm nội, ngoại thất
để trang trí cho gia đình, không phải là khó khăn nữa, vấn đề ở chỗ các doanh nghiệp
cung ứng cho họ những sản phẩm (hàng hoá) về mẫu mã, giá cả, chất lượng có phù hợp
với nhu cầu thị trường hay không? phù hợp với thu nhập hay không?
+ Nhóm khách hàng có nhu cầu về ngoại thất trang trí cho văn phòng Công ty: Cần
phải cung ứng cho các đối tượng khách hàng những sản phẩm nội, ngoại thất để trang trí
phù hợp với các phòng trong các công ty như cho phòng lãnh đạo, phòng họp…
+ Nhóm khách hàng có nhu cầu về nội, ngoại thất trang trí cho các nhà hàng, khách
sạn. Cần chú ý về kiểu cách đối với các đồ nội, ngoại thất trang trí phòng ăn, phòng ngủ,
cầu thang, ban công, phải có nhiều mẫu mã, nhiều chủng loại.
+ Nhóm khách hàng về nội, ngoại thất xây dựng: sản phẩm cần cung ứng nh ư: cửa,
cửa sổ, cầu thang, ván sàn…
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH
Thiết kế & Thương mại Phát Gia.
3.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty.
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty Phát Gia.

Giám đốc



Phòng Giám Phòng Giám
đốc đốc kinh
doanh
điều hành


Phòng tổ chức Bộ phận Bộ phận Bộ phận
Phòng
hành chính xuất, thị thiết kế
tài vụ
điều hành nhập trường và lắp
*
Chức năng của từng bộ phận
- Đứng đầu công ty là Giám đốc: Là người lãnh đạo cao nhất trong Công ty và là
người đại diện chô Công ty theo đúng quyền hạn, chức năng đã được giao và chịu trách
nhiệm trước pháp luật về mọi mặt hoạt động của Công ty.
- Phòng Giám đốc điều hành: Là người giúp việc cho Giám đốc, điều hành quản lý
một số lĩnh vực hoạt động của công ty theo sự phân công, uỷ quyền của giám đốc, chịu
trách nhiệm trước pháp luật và giám đốc về nhiệm vụ được giao.
- Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc tổ chức việc cung ứng
và quản lý vật tư, tổ chức và quản lý và tiêu thụ sản phẩm. Làm công tác thị trường
nghiên cứu tìm hiểu lắng nghe ý kiến phản ánh của khách hàng về mẫu mã chất lượng
sản phẩm nhu cầu của khách hàng, kịp thời báo cáo với Giám đốc để cùng nghiên cứu
đưa ra những chiến lược và giải pháp có hiệu quả cũng như tăng thị phần cho Công ty
trên thị trường.
Ngoài ra phòng kinh doanh còn có nhiệm vụ thúc đẩy tăng nhanh các hợp đồng
kinh tế và đôn đốc thực hiện các hợp đồng kinh tế đã ký kết. Theo dõi việc thanh quyết
toán công nợ, đồng thời tham mưu cho Giám đốc và cung cấp thông tin đầy đủ về tình
hình hoạt động kinh doanh.
- Bộ phận xuất nhập: tham mưu giúp việc cho phó Giám đốc và Giám đốc Công ty
trong việc quản lý, điều hành và thực hiện công tác kinh doanh xuất nhập hợp tác kinh
doanh và đầu tư, liên doanh liên kết khai thác thị trường trong và ngoài nước.
- Bộ phận kế toán: Tham mưu, giúp việc Giám đốc, Công ty trong công tác tài
chính, kế toán, thống kê, thực hiện vai trò kiểm soát viên kinh tế tài chính tại Công ty.
- Phòng tổ chức hành chính: Là phòng tham mưu cho lãnh đạo (Giám đốc) Công ty,
tổ chức triển khai thực hiện các công tác về tổ chức hoạt động kinh doanh, nhân sự, hành
chính và thực hiện chính sách đối với người lao động.
* Nhiệm vụ
+ Tham mưu cho lãnh đạo Công ty về công tác sắp xếp tổ chức bộ máy quản trị,
công tác cán bộ, công tác quản lý lao động.
+ Tổ chức thực hiện các chế độ tiền lương, tiền thưởng và nâng bậc lương hàng
năm cho người lao động.
+ Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch nâng cao trình độ nghiệp vụ tay nghề
cho người lao động.
Sơ đồ 2: Tổ chức bộ máy kế toán trong Công ty

Trưởng phòng kế
toán



Kế toán Kế toán Kế toán Kế toán Thủ quỹ
tổng TSCĐ tiền tiền

* Nhiệm vụ của từng nhân viên kế toán
- Trưởng phòng kế toán: Là người tổ chức, chỉ đạo toàn bộ công tác kế toán, thống
kê của toàn bộ đơn vị, đồng thời còn thực hiện cả chức năng kiểm soát các hoạt động
kinh tế tài chính của doanh nghiệp.
Ngoài ra kế toán trưởng còn đảm nhiệm tổ chức và chỉ đạo công tác tài chính.
Trưởng phòng kế toán chịu trách nhiệm trực tiếp trước cấp trên về các công tác
thuộc phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của kế toán trưởng, tổ chức bộ máy kế toán
thống kê, tổ chức phản ánh đầy đủ kịp thời đầy đủ và đúng hạn các báo cáo kế toán
thống kê theo quy định.
Trưởng phòng kế toán có các quyền hạn: phân công chỉ đạo trực tiếp tất cả nhân
viên kế toán và kiểm tra các loại báo cáo kế toán – thống kế cũng như các hoạt động của
kế toán trưởng mới có giá trị pháp lý, kế toán trưởng có quyền từ chối không thực hiện
những mệnh lệnh vi phạm luật pháp. Đồng thời phải báo cáo kịp thời những hành động
sai trái của thành viên trong đơn vị cho các cấp có thẩm quyền.
- Kế toán tổng hợp: Phụ trách về tất cả các mảng kế toán chung của Công ty, xem
xét và tổng hợp về tình hình kế toán trong Công ty. Cuối kỳ hạch toán và xem xét các
nghiệp vụ kế toán nhận từ các kế toán viên khác, chịu trách nhiệm trước phụ trách phòng
kế toán, có nhiệm vụ phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời các số liệu cần thiết của Công
ty trong mỗi kỳ.
Kế toán TSCĐ: phụ trách mảng kế toán tài sản cố định. Chịu trách nhiệm trước kế
toán trưởng về các công tác được giao có nhiệm vụ:
+ Mở sổ kế toán ghi chép, phản ánh đầy đủ chính xác, kịp thời và chung thực các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị theo đúng quy định.
+ Giám sát về kiểm tra các hoạt động tài chính, phát hiệu và ngăn ngừa các trường
hợp vi phạm pháp luật, chính sách và chế độ tài chính.
+ Quản lý tài sản cố định, đăng ký và tính khấu hao cơ bản hàng tháng, hàng quý
phân bổ theo chế độ hiện hành.
+ Tổng hợp xác định kết quả kinh doanh phân phối lợi nhuận và trích lập theo quy
định.
+ Thực hiện đầy đủ kịp thời chế độ báo cáo tài chính, tình hình thực hiện kế hoạch
tài chính, thuế và các báo cáo khác theo yêu cầu quản lý đúng quy định và kịp thời gian
cho các cơ quan cấp trên.
+ Kế toán tiền lương: Phụ trách mảng kế toán tiền lương, thuế, bảo bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, chịu trách nhiệm trước kế toán trưởng về công
tác được giao, có nhiệm vụ tính toán lương và các khoản trích lương đúng quy định.
+ Kế toán tiền mặt: Chịu trách nhiệm về thu chi tiền mặt.
- Thủ quỹ: Quản lý tiền mặt theo nghiệp vụ thu chi, có nhiệm vụ quản lý bảo đảm
bí mật an toàn tuyệt đối qũy tiền mặt các loại giấy tờ có giá trị như tiền, kim khí…
3.2. Nguồn nhân lực
Bảng 1: Tình hình lao động của Công ty
Năm 2005 Năm 2006
Chỉ tiêu So sánh
Số lượng Cơ cấu Số lượng Cơ cấu
(Người) (%) (Người) (%)
Đại học 14 46,67 17 48,57 121
Cao đẳng 8 26,67 9 25,71 112,5
Trung cấp 5 16,67 6 17,14 120
Phổ thông 3 10 3 8,57 1
Tổng số 30 100 35 100 117
(Nguồn: Phòng kế toán Công ty)
Qua bảng 1 cho thấy, trong năm 2006 về mặt số lượng lao động của Công ty tăng
17% so với năm 2005 nên đã tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động. Nhìn chung
về cơ cấu lao động của Công ty tăng. Đặc biệt, qua bảng số liệu cho thấy số người có
trình độ chuyên môn chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng số lao động và có xu hướng tăng lên;
điều này chứng tỏ Công ty đang mở rộng quy mô và cơ cấu lao động nhằm đáp ứng cho
các nhu cầu cần thiết của Công ty.
* Chính sách đào tạo nguồn nhân lực
Trong những năm gần đây, Công ty có chủ trương tương đối mới đội ngũ cán bộ
quản lý trong toàn Công ty. Ngoài ra, cán bộ công nhân viên có chí hướng đều được ưu
tiên đào tạo.
- Với công nhân được đào tạo thêm tay nghề hàng quý, hàng năm để nâng cao tay
nghề cho họ.
* Phân bổ nguồn nhân lực
Việc phân bổ nguồn nhân lực do phòng tổ chức cán bộ sắp xếp theo yêu cầu công
việc mà phòng kế hoạch đã đề ra cả về sốlượng và chất lượng lao động.
Phòng tổ chức căn cứ vào đó để phân bổ. Hiện nay, Công ty đang phân bổ sắp xếp
theo phòng, ban. Chi nhánh công tác cụ thể cho từng hoạt động của Công ty cho phù
hợp.
3.3. Về điều kiện lao động
- Như chúng ra đã biết lực lượng lao động đóng vai trò rất quan trọng trong quá
trình tạo giá trị tăng thêm hay lợi nhuận cuối cùng của Công ty. Vì vậy Công ty luôn
quan tâm đến cán bộ công nhân viên bằng các biện pháp nâng cao trình độ và nghiệp vụ
chuyên môn, xây dựng một không gian làm việc thoải mái nhất cho người lao động.
Ngoài ra Công ty luôn có các chế độ khen thưởng thoả đáng hàng năm cho cán bộ công
nhân viên chức trong Công ty. Nhìn chung mối quan hệ tương đồng giữa các bộ phận
trong Công ty là hài hoà, hoà đồng, hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong công việc.
* Chế độ khen thưởng và kỷ luật cho người lao động
Hầu hết các Công ty đều có những hình thức khen thưởng hay kỷ luật riêng theo
quy định của từng Công ty. Trong lao động ngoài những biện pháp hành chính mang tính
bắt buộc, người lao động phải tuân theo những nội quy lao động.
Về chế độ khen thưởng tại Công ty Phát Gia. Ngoài việc căn cứ vào doanh thu, lợi
nhuận còn có hình thức thưởng cho những cá nhân có sáng kiến thúc đẩy sự phát triển
của Công ty. Nâng cao năng suất lao động. Điều này có tác dụng khích lệ người lao động
hăng hái, nhiệt tình hơn.
Ngoài những quy định của Nhà nước ban hành quy chế về lao động. Lãnh đạo
Công ty còn đưa ra một số quy định về chấn chỉnh, tự giác chấp hành những quy định và
có ý thức trách nhiệm đối với công việc được giao.
Nội quy các quy định bao gồm:
- Quy định về phạm quy trách nhiệm.
- Kỷ luật lao động.
- Kỷ luật quản lý tài chính, tài sản.
- Điều khoản thi hành.
- Cần áp dụng một số chính sách khen thưởng, kiểm tra.
Để khuyến khích người lao động làm việc với hết khả năng và lòng nhiệt tình.
Công ty cần có hình thức khen thưởng căn cứ vào mức độ hoàn thành tốt công việc đề ra.
Nếu người lao động đi làm đều đặn, đúng giờ, không nghỉ ngày nào theo quy định, chấp
hành tốt nội quy và không để xảy ra sai sót nào thì hàng tháng, hàng quý sẽ được hưởng
thêm những khoản tiền thưởng theo phần trăm lương hoặc theo trình độ.
Con người là yếu tố vô cùng quan trọng trong xã hội nói chung và trong từng doanh
nghiệp nói riêng. Con người luôn luôn vận động. Có trình độ, yếu tố tâm lý, tinh thần
trách nhiệm của từng người tham gia vào quá trình ttạo ra sản phẩm có ảnh hưởng rất lớn
đến chất lượng, chất lượng sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp được hoàn thành chịu
sự chi phối của mọi khâu trong giây chuyền sản xuất. Do đó muốn có sản phẩm có chất
lượng cao phải có biện pháp quản lý hết sức chặt chẽ, cụ thể ở mọi khâo trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
3.4. Tình hình tài sản, nguồn vốn của Công ty qua 3 năm
Bảng 2: Tình hình tài sản, nguồn vốn của Công ty qua 3 năm
Năm
2004 2005 2006 So sánh (%)
Chỉ tiêu
A. Tài sản
I. TSCĐ & ĐTNH 526.652.320 456.725.813 506.425.104 86,73 110,88
II. TSCĐ & ĐTNH 294.226.490 428.917.422 490.116.902 145,8 114,27
Tổng tài sản 820.878.810 885.643.253 996.542.030 107,89 112,5
B. Nguồn vốn
I. Nợ phải trả 300.562.430 312.563.451 292.504.290 103,99 93,58
II. Nguồn vốn CSH 520.316.380 573.079.802 704.037.732 110,14 122,85
Tổng nguồn vốn 820.878.810 885.643.253 996.542.003 107,89 112,5
(Nguồn:Phòng kế toán công ty)
Qua bảng số liệu cho thấy Công ty liên tục tăng nguồn vốn kinh doanh qua các
năm, năm 2005 tăng 7,89% so với năm 2004 và năm 2006 là 12,5% qua đó cho thấy tình
hình kinh doanh của Công ty đang phát triển bên cạnh đó. TSCĐ tăng đều qua các năm
2005/2004 là 45,78%, 2006/2005 là 14,27%. Cho thấy Công ty đã đầu tư mua sắm thêm
máy móc trang thiết bị để phục vụ cho quá trình kinh doanh và tỷ lệ nợ phải trả giảm, cụ
thể: 2006 giảm tỷ lệ nợ phải trả xuống còn 60,42%. Cho thấy khả năng chiếm dụng vốn
của Công ty giảm cần phải có các biện pháp nâng cao uy tín của Công ty.
3.5. Nguồn cung ứng hàng hoá.
Do đặc điểm là một Công ty Tiết kế & Thương mại nên Công ty không có vật tư mà
chỉ có hàng hoá và những chuyên gia thiết kế với nghề nghiệp vững vàng.
Ban đầu thành lập Công ty chỉ chuyên kinh doanh thiết kế, thi công các công trình
xây dựng, về sau trong quá trình phát triển Công ty đã phát triển thêm về lĩnh vực in ấn
và các dịch vụ về in, đại lý, vận tải và mua bán hàng hoá, đa dạng hoá một số loại sản
phẩm khác như:
+ Buôn bán hàng nông lâm sản.
+ Đồ điện.
+ Đồ nội thất, ngoại thất.
Các hàng hoá của Công ty chủ yếu là các hàng hoá chuyên dụng, dễ bảo quản nên
Công ty không để tồn kho với số lượng lớn. Trong các giai đoạn, thời điểm khác nhau,
thì số lượng hàng hoá nhập về Công ty khác nhau. Các loại hàng hoá này được nhập từ
nước ngoài và một số hàng nhập trong nước có sẵn. Đối với hàng hoá nhập từ nước
ngoài như: Đồ nội thất, đồ điện…Công ty phải qua khâu trung gian và chịu khá nhiều
biến động ở thị trường nước ngoài.
Đối với hàng hoá trong nước thì Công ty nhập trực tiếp từ người sản xuất và ký hợp
đồng lâu dài với họ. Nguyên liệu trong nước có tính ổn định cao hơn hàng nhập ngoại.
Hàng hoá của Công ty nhập về thường được xuất ngay trong tháng nên hàng tồn
kho không đáng kể.
Với tình hình kinh doanh như vậy. Công ty đã giảm được nhiều chi phí bảo quản,
vận chuyển.
Do tất cả các đặc điểm trên về hàng hoá và cách thức quản lý hàng hoá nên tốc độ
quay vòng lưu động của Công ty luôn được đảm bảo.


3.6. Môi trường kinh doanh
Trong những năm qua do nắm bắt được thị trường, thị hiếu của khách hàng và do
đặc điểm của nền kinh tế thị trường trong xu thế hội nhập, đời sống kinh tế và tinh thần
của người dân ngày càng phát triển và nâng cao, nó đã thúc đẩy sức mua, sắm, tiêu dùng
của các chủ thể nền kinh tế cũng như sự cần thiết về thiết kế và trang trí nhà cửa và khu
vực chung cư và các Công ty ngày càng lớn. Công ty đã tạo ra cho mình một thị phần
đáng kể, cũng như một chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Với đội ngũ nhân viên giỏi
chuyên môn hăng hái, nhiệt tình hết mình về sự phát triển của Công ty.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, cũng như phần lớn
các doanh nghiệp khác Công ty cũng gặp phải những khó khăn nhất định và do môi
trường kinh doanh ở nước ta tuy đã được cải thiện song vẫn còn nhiều bất cập đó là rào
cản cho sự phát triển của các lĩnh vực thuộc kinh tế tư nhân.
Nhưng với sự nỗ lực và đoàn kết nhất trí cao của tập thể cán bộ công nhân viên
Công ty đã và sẽ vượt qua được những khó khăn tạm thời để trở thành một đơn vị kinh
doanh thành đạt trong lĩnh vực kinh doanh thiết kế và thương mại.
3.7. Đối thủ cạnh tranh
Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường thì cạnh tranh là quy luật tất yếu. Để
tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp không thể né tránh cạnh tranh, mà phải chấp nhận
để rồi cạnh tranh thắng lợi. Trong lĩnh vực thương mại, sự gia nhập thị trường của các
doanh nghiệp mới không mấy khó khăn. Nên các Công ty phải đối đầu với rất nhiều đối
thủ cạnh tranh, các thị trường về các loại hàng hoá và dịch vụ khác cũng đang khá hấp
dẫn, đặc biệt là thị trường dịch vụ, thiết kế và trang trí. Trong thời gian gần đây thì lĩnh
vực này đang được coi là tiềm năng phát triển điều này đòi hỏi Công ty phải nỗ lực vươn
lên bằng chính sức lực của mình.
Hiện Công ty đang cung cấp dịch vụ thiết kế và thương mại với đội ngũ cán bộ
công nhân viên có trình độ và chuyên môn giỏi, có những hướng đi đúng đắn Công ty sẽ
tìm được chỗ đứng vững chắc trên thị trường Việt Nam lớn mạnh.
Có thể nói tình hình cạnh tranh trên thị trường kinh doanh thương mại hiện nay khá
quyết liệt. Nền kinh tế thị trường với sự tham gia vào lĩnh vực kinh doanh của các thành
phần kinh tế đã xuất hiện khá nhiều doanh nghiệp đồng kinh doanh thương mại với cùng
chủng loại mặt hàng. Các doanh nghiệp này được thành lập từ tất cả các thành phần kinh
tế dưới các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Ngoài ra trên thị tr ường thương mại hiện
nay có rất nhiều mặt hàng nội, ngoại thất được nhập từ nước ngoài khác nhau vì vậy
Công ty Phát Gia không những phải cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh ở trong nước
mà còn phải cạnh tranh với các loại mặt hàng nhập ngoại.
Thực tiễn cho thấy trong môi trường cạnh tranh. Nừu Công ty thường xuyên đổi
mới mặt hàng nâng cao chất lượng kiểu dáng, giá thành sản phẩm thì chắc chắn sẽ cạnh
tranh được với các doanh nghiệp thương mại khác. Vậy bài toán đặt ra cho Công ty
TNHH Thiết kế &Thương mại Phát Gia là phải biết tận dụng lợi thế so sánh để nâng cao
ưu thế và vị thế của mình.
4. Nội dung của hợp đồng maketting thúc đẩy tiêu thụ hàng hoá
4.1. Thị trường sản phẩm hàng hoá
4.1.1. Khái niệm
Thị trường bao gồm tất cả các khách hàng đang tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay
mong muốn cụ thể. Sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thoả mãn nhu cầu và
mong muốn đó.
Như vậy, theo quan niệm này quy mô thị trường sẽ tùy thuộc vào số người có nhu
cầu và mong muốn, vào lượng thu nhập, lượng tiền vốn mà họ sẵn sàng bỏ ra để mua
sắm hàng hoá thoả mãn nhu cầu mong muốn đó.
4.1.2. Vai trò của thị trường
- Thị trường là chiếc cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng nó là mục tiêu của quá trình
thúc đẩy tiêu thụ. Để thúc đẩy tiêu thụ phải có chi phí, chi phí lưu thông và thị trường
chính là mối kiểm nghiệm những chi phí này.
- Thị trường là nơi thể hiện các quan hệ tiền tệ. Do đó thị trường còn được coi là
môi trường kinh doanh. Thị trường là khách quan và từng cơ sở kinh doanh không thể
hiện thay đổi thị trường.
- Trong quản lý kinh tế thị trường có vai trò quan trọng thị trường là cơ sở quan
trọng của việc xác định phương hướng thúc đẩy tiêu thụ là căn cứ để lật mục tiêu. Là
công cụ bổ xung cho các công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế Nhà nước.




Sơ đồ 3: Vai trò của thị trường trong quản lý kinh tế.

Quản lý kinh tế




Cơ ch ế kế Thị trường có Cơ ch ế th ị
hoạch điều tiết trường




Cung
Người sản Người tiêu
Giá
Cầu dùng
xuất



Các quan hệ kinh tế
4.2. Chức năng của thị trường
* Chức năng thừa nhận: Thị trường thừa nhận chính sự chấp nhận của người mua
đối với hàng hoá dịch vụ của cơ sở sản xuất kinh doanh.
Thị trường thừa nhận: Tổng khối lượng hàng hoá bán ra thị trường, cơ cấu cung và
cầu, quan hệ cung cầu đối với từng hàng hoá, thừa nhận giá trị sử dụng và giá trị của
hàng hoá, thừa nhận các hoạt động mua và bán.
* Chức năng thực hiện: Thị trường hành vi trao đổi hàng hoá, thực hiện tổng số
cung và tổng số cầu, thực hiện cân bằng cung cầu từng thứ sản phẩm hàng hoá, thực hiện
giá trị, thực hiện việc trao đổi giá trị… Thông qua chức năng thực hiện của thị trường,
các hàng hoá thành nên giá trị trao đổi của mình.
* Chức năng điều tiết, kích thích: Trị trường là npi chứa đựng cung và cầu, quan hệ
cung cầu quyết định lợi nhuậmn của doanh nghiệp. Do vậy thị trường là mục tiêu tạo ra
động lực để điều tiết và kích thích cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.
* Chức năng thông tin: Trên thị trường chứa đựng toàn bộ hệ thông tin kinh tế:
Tổng số cung và tổng số cầu, quan hệ cung cầu đối với từng loại hàng hoá, giá cả thị
trường, các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường, đến mua và bán, chất lượng sản phẩm, các
loại thông tin khác… Vì vậy thông tin thị trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với
quản lý kinh tế, nhiều khi nó quyết định cả quá trình sản xuất.
4.2.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường sản phẩm hàng hoá
* Nhóm nhân tố khó kiểm soát mang tính khách quan.
+ Điều kiện hoàn cảnh kinh tế, chính trị xã hội, tâm sinh lý con người các phong
tục tập quán lễ giáo.
+ Nhóm các yếu tố tự nhiên: Thời tiết, khí hậu, môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến
thị trường sản phẩm hàng hoá.
+ Nhóm nhân tố chủ quan có thể kiểm soát.
+ Các chính sách kinh tế vĩ mô và vi mô.
+ Các nhân tố thuộc quản lý vĩ mô: Là các chủ trương chính sách của Nhà nước…
tác động vào thị trường, sự can thiệp có chủ định của Nhà nước (thuế, trợ giá, bảo hiểm).
Các biện pháp đó đều tác động trực tiếp đến cung cầu và do vậy tác động trực tiếp đến
giá cả.
Sơ đồ 4: Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường sản phẩm hàng hoá
- Tự nhiên - Các chính sách KT
MôI - Tâm sinh lý Thị trường - Bảo hiểm
Nhà nước
trường - Phong tục tập quán SPHH - Thuế
- Các chính sách XH khác - Dự trữ




Chiến lược Chiến lược Chiến lược Chiến lược Chiến lược
kinh tế SP mới giá cả phân phối yểm trợ


Các doanh nghiệp




4.2.2. Nghiên cứu chiến lược sản phẩm
Chiến lược sản phẩm có vị trí cực kỳ quan trọng trong hoạt động cảu doanh nghiệp,
đồng thời là vĩ khí sắc bén nhất trong cạnh tranh trên thị trường. Việc xác định đúng đắn
chính sách sản phẩm có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Ta thấy sản phẩm hàng hoá là tất cả những gì có thể thoả mãn được nhu cầu
mong muốn và được đem ra trao đổi trên thị trường với mục đích thu hút chú ý mua, sử
dụng hay tiêu dùng. Do vậy doanh nghiệp cần lưu ý.
- Toàn bộ sản phẩm đang có của doanh nghiệp được thị trường chấp nhận đến mức
độ nào?
- Nên đầu tư sản xuất sản phẩm như thế nào?
Doanh nghiệp nên nghiên cứu sản phẩm mà mình tạo ra. Sản phẩm của doanh
nghiệp chỉ phù hợp với thị hiếu tiêu dùng khi doanh nghiệp có một chiến lược sản phẩm
đúng đắn và khi các chính sách khác như giá cả, quảng cáo, phân phối mới đem lại hiệu
quả cao cho doanh nghiệp.
Để thoả mãn tối đa nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng, thì chất lượng sản
phẩm đặt trong mối quan hệ giữa hai quá trình.
- Hoàn thiện về thông số kỹ thuật, đảm bảo chất lượng sản phẩm phải phù hợp với
mong muốn và khả năng thu nhập (khả năng thanh toán) của người mua. Vì thế doanh
nghiệp phải chú ý hoàn thiện sản phẩm.
Với cấu trúc kỹ thuật của sản phẩm hoàn thiện, sự bền vững và an toàn của sản phẩm
nâng cao tính thẩm mỹ của sản phẩm bất cứ sản phẩm nào cũng tuân theo tiêu chuẩn cái
đẹp. Thường xuyên thay đổi vật liệu có ưu thế hơn so với vật liệu cũ để chế tạo ra sản
phẩm mới đảm bảo tính thuận lợi, hiệu quả trong việc sử dụng sản phẩm, đảm bảo phù
hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Sản xuất sản phẩm mới, sự cải tiến đổi mới sản phẩm. Vì
vậy việc nghiên cứu mặt hàng mới khi mặt hàng cũ có chiều hướng suy thoái là điều kiện
cần thiết. Chu kỳ sống của sản phẩm có nhiều giai đoạn tương ứng với mỗi giai đoạn này
cần có những Marketting phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp. Việc nghiên cứu chu kỳ
sống của sản phẩm giúp cho nhà kinh doanh thiết lập kế hoạch Marketting một cách phù
hợp và thích ứng với các diễn biến của thị trường.


Sơ đồ 5: Các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm
Mức Giai đoạn Giai đoạn Giai đoạn Giai đoạn
tiêu giới thiệu phát triển chín muồi suy thoái
thụ
hay lợi
nhuận Mức tiêu thụ




Lợi nhuận




Thời gian
- Giai đoạn giới thiệu sản phẩm là giai đoạn đặt trọng tâm vào chất lượng sản
phẩm, chính sách thông tin lợi nhuận trong kỳ này thường là thấp vì lượng hàng hoá bán
ra ít.
- Giai đoạn phát triển sản phẩm thì lợi nhuận trong giai đoạn này tăng lên vì hàng
hoá bánra nhanh, chi phí khuyến mại được chia đều cho một lượng lớn sản phẩm, cho
nên mục tiêu Marketting trong giai đoạn này là phải cố gắng chiếm được thị phần tối đa
tập trung vào thâm nhập và mở rộng thị trường mới.
- Giai đoạn chín muồi, khối lượng hàng hoá tiêu thụ đạt đến cao nhất sau đó ngừng
lại và giảm dần, lợi nhuận giảm xuống, hàng hoá bắt đầu có hiện tượng ứ đọng ở các
kênh lưu thông, ở giai đoạn này doanh nghiệp phải có ý tưởng về sản phẩm mới hay cải
tiến sản phẩm.
- Cuối cùng là giai đoạn suy thoái, lúc này doanh nghiệp phải giảm chi phí tối đa,
tiêu thụ nhanh hoặc rút khỏi thị trường khi sản phẩm không còn thích ứng nữa, hạ giá
theo đối thủ cạnh tranh.
4.2.3. Nghiên cứu chiến lược giá
4.2.3.1. Tính toán giá xuất phát từ chi phí đảm bảo lợi nhuận mục tiêu
Trước tiên giá bán phải được hình thành trên cơ sở cơ cấu chi phí sản xuất sản
phẩm. Đối với doanh nghiệp, giá bán phải bù đắp các chi phí đã bỏ ra và có lãi. Các chi
phí này bao gồm các chi phí phát sinh trong sản xuất sản phẩm, bao bì, đóng gói, chi phí
bán hàng, phân phối, các chi phí hỗ trợ Marketting.
Mặt khác, chi phí sản xuất phụ thuộc vào một phần giá bán, bởi vì giá bán còn ảnh
hưởng đến khối lượng bán, khối lượng bán lại có ảnh hưởng đến chi phí sản xuất đơn vị
sản phẩm. Do đó quan hệ “Chi phí – giá bán” không chỉ là quan hệ một chiều mà là quan
hệ biện chứng.
Định giá bán xuất phát từ chi phí được tính bằng công thức sau đây.
G = Z + m.
Trong đó:
G: Là giá bán đơn vị sản phẩm (đồng)
Z: Là giá thành toàn đơn vị sản phẩm (đồng)
M:Là lợi nhuận mục tiêu.


4.2.3.2. Tính giá trên cơ sở phân tích hoà vốn.
Việc phân tích hoà vốn chp phép xác định mức doanh số cần thiết tương ứng với
hoàn cảnh chi phí nhất định để có bù đắp được những chi phí đã bỏ ra và đạt hoà vốn,
nghĩa là cân bằng giữa thu và chi.
Xác định hoà vốn chính xác là xác định khối lượng hàng hoá cần thiết bán ra thị
trường để doanh số bán ra đủ bù đắp toàn bộ chi phí kinh doanh với giá cả thị trường đã
xác định hay dự kiến. Phương pháp chung để xác định điểm hoà vốn là dựa trên cơ sở
của việc phân tích doanh thu và chi phí chung của doanh nghiệp.
Ta có công thức:
FC
Q=
P – AVC
Trong đó:
Q: Là số sản phẩm sản xuất tiêu thụ để hoà vốn
FC: Là tổng chi phí cố định
P: Là giá bán đơn vị sản phẩm
AVC: Là chi phí biến đổi/một đơn vị sản phẩm.

4.2.3.3. Xác định giá cả trên cơ sở cảm nhận được giá trị của hàng hoá.
Hiện nay các Công ty và các doanh nghiệp nổi tiếng đã áp dụng phương pháp tính
giá thuế xuất phát từ giá trị cảm nhận được của giá trị hàng hoá của mình. Họ xem yếu tố
cơ bản để hình thành giá không phải là chi phí của sản xuất mà là sự chấp nhận được của
người mua. Đã hình thành trong ý thức người tiêu dùng những ý niệm về giá trị của hàng
hoá.
Ở các khung cảnh khác nhau, giá của một sản phẩm sẽ khác nhau tuỳ theo khả năng
cảm nhận được của người mua.
4.2.3.4. Xác định giá trên cơ sở giá hiện hành
Khi định giá dựa vào mức giá hiện hành, doanh nghiệp thường dựa vào giá của các
đối thủ cạnh tranh, ít quan tâm hơn đến các chỉ tiêu chi phí hay nhu cầu. Giá hàng hoá
của doanh nghiệp có thể cao hay thấp hơn giá của đối thủ cạnh tranh tuỳ thuộc vào chất
lượng sản phẩm của doanh nghiệp so với chất lượng sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.
4.3. Nghiên cứu chiến lược phân phối sản phẩm.
Mục đích và nhiệm vụ của việc phân phối sản phẩm.
- Cung cấp sản phẩm (đảm bảo chất lượng) đáp ứng nhu cầu thị trường mục tiêu
đúng lúc, đúng địa điểm và mang tính kinh tế cao.
- Cung cấp các dịch vụ thuận tiện kèm theo sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu
dùng của khách hàng.
- Đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của khách hàng đối với sản phẩm của doanh
nghiệp, để làm được điều đó mỗi doanh nghiệp phải xác định cho mình kênh phân phối
hợp lý dựa vào các tính chất và vị trí của hàng hoá đó trên thị trường. Ngoài ra doanh
nghiệp còn phải dựa vào các phần tử trung gian với các chiến lược trung gian của doanh
nghiệp. Phân phối qua trung gian sẽ hiệu quả và kế hoạch hơn nhờ giảm được các mối
quan hệ giữa nhà sản xuất với từng cá nhân khách hàng. Vì vậy việc tồn tại các trung
gian phân phối là một điều cần thiết.
Các yếu tố cấu thành kênh phân phối trong Marketting bao gồm các phần tử trung
gian nguồn cung ứng, người tiêu dùng các hoạt động quảng cáo yểm trợ. Mỗi luồng lá 1
luồng mắt xích tạo nên luồng phân phối hàng hoá của doanh nghiệp.
+ Xác định chiều dài kênh (trực tiếp hay gián tiếp).
+ Xác định kiểu kênh khác nhau sẽ được sử dụng.
+ Xác định các thành viên của kênh.
+ Xác định chiều rộng của kênh (số lượng trung gian ở mỗi cấp của kênh).
Trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ xác định cho mình kênh phân phối tổng quát theo sơ
đồ sau:
Kênh phân phối sản phẩm tổng quát trong hoạt động marketting



Các phần tử Người tiêu
Người sản trung gian dùng
xuất cuối cùng


4.3.1 Nghiên cứu các hoạt động xúc tiến yểm trợ thúc đẩy tiêu thụ.
Chiến lược thúc tiến yểm trợ bao gồm:
- Quảng cáo: Bao gồm các hoạt động giới thiệu và truyển đi các thông tin về sản phẩm,
về hình ảnh của doanh nghiệp, nhằm kích thích khách hàng, dịch vụ, nâng cao uy tín cho
doanh nghiệp và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.
- Kích thích tiêu thụ là những biện pháp tức thời nhằm khuyến khích mua hoặc bán trong
dịch vụ như phổ biến và doi moi da dang hoa san pham hang hoa, triết khấu và ưu đãi...
- Tuyên truyền: Nhằm đưa thông tin về khả năng vị thế của doanh nghiệp đến khách
hàng tuyên truyền về các tính năng ưu việt của sản phẩm đối với mọi người.
- Xúc tiến bán hàng: Bao gồm các hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện trong
phạm vi không gian và thời gian nhất định, để nhằm thu hút người mua, người bán ví dụ
như: các hoạt động trình bày triển lãm tham gia hội trợ, tài trợ các hoạt động văn hoá thể
thao...
- Dịch vụ sau bán hàng: Thể hiện mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng,
qua đó giúp doanh nghiệp phản ứng và có nhưng giải pháp thích hợp với thị trường,
khách hàng
Các hoạt động như: Hướng dẫn khách hàng sử dụng sản phẩm, bảo hành sản
phẩm ...
II. Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của công ty.
1. Tình hình tiêu thụ
Do doanh nghiệp là công ty tiêu thụ nên không sản xuất ra sản phẩm mà chỉ nhập
của các đối tác rồi phân phối cho các đại lý tiêu thụ.
Bảng 3: Tình hình xuất nhập hàng hóa (Mặt hàng nội thất, ngoại thất)
2005 2006
Tên hàng
Nhập Xuất Tồn Nhập Xuất Tồn
1. Bàn ghế (bộ) 300 210 90 360 400 50
2. Tủ (chiếc) 250 130 120 300 380 40
3. Giường (chiếc) 200 140 60 260 290 30
4. Cửa (chiếc) 180 100 80 200 200 80
Tổng số 930 580 350 1120 1270 200


(Nguồn: Phòng kế toán công ty)
Qua bảng số liệu cho thấy số lượng hàng hóa nhập của năm 2006 tăng 20,04% so
với năm 2005 nguyên nhân là do năm 2006 tiêu thụ lớn hơn năm 2005 2,2 lần cũng
chính là lí do làm cho chi phí bảo quản và lưu kho của công ty giảm so với năm trước.
Tình hình tiêu thụ của công ty trong năm 2006 tương đối khả quan, công ty cần có kế
hoạch Marketting tốt hơn trong năm tới để duy trì và đẩy mạnh sức tiêu thụ hàng hóa và
thu lại lợi nhuận tối đa cho công ty.
2. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty
Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty Thiết Kế và Th ương Mại Phát Gia được
thể hiện qua các năm như sau:
Bảng 4: Bảng kết quả hoạt động kinh doanh (2004 - 2006)
(Đơn vị: 1000 vnđ)
So sánh (lần)
STT Chỉ tiêu 2004 2005 2006
05/04 06/05
1 Tổng doanh thu 833.725 2.254.015 3.924.000 2,55 1.74
2 Các khoản giảm trừ 1.456 2.500 3.520 1,70 1.40
3 Doanh thu thuần 882.269 2.251.515 3.920.480
4 Giá vốn hàng bán 748.500 2.052.425 3.593.878 2,74 1.75
5 Lãi gộp 133.769 199.090 326.602 1,49 1.64
6 Chi phí bán hàng 46.870 76.185 146.500 1,60 1.92
7 Chi phí khác 10.125 25.610 44.576
8 Lợi nhuận KD thuần 76.774 97.295 135.526 1,27 1.39
9 Thu nhập HĐTC 10.810 15.800 20.419
10 Lợi nhuận HĐTC 0 0 0
11 Thu nhập bất thường 200 3.825 4.725
12 Chi phí bất thường 100 180 300
13 LN bất thường 100 180 100
14 LN trước thuế 87.787 116.920 160.470
15 Thuế TNDN 28.091 37.414 51.350
16 LN sau thuế 59.693 79.506 109.120 1.33 1.37
(Nguồn: Phòng kế toán công ty)
Nhận xét: Qua bảng số liệu trên ta thấy:
Năm 2004 doanh thu đạt 833.725 (nghìn vnđ) và chỉ sau 01 năm doanh thu đạt gấp
2,55 lần tương ứng 2.254.015 (nghìn vnđ) so với năm 2004 mức tăng trưởng qua các
năm tiếp theo năm 2006 so với năm 2005 là 1,74 lần. Như vậy qua một số chỉ tiêu về
doanh thu, lợi nhuận cho thấy chiều hướng kinh doanh của công ty đang rất tốt. Để đạt
được điều đó công ty đã có rất nhiều cố gắng và nỗ lực của toàn thể nhân viên công ty
như: Tìm kiếm thị trường mở rộng hệ thống đại lý phân phối sản phẩm đáp ứng tốt nhu
cầu khách hàng làm cho doanh thu tăng cao qua các năm cụ thể về số tương đối năm
2005 tăng 155% lần so với năm 2004 và năm 2006 tăng 74% so với năm 2005. Có thể
nói đây là tỉ lệ tăng trưởng khá cao đối với một doanh nghiệp mới thành lập. Tất cả
những kết quả hoạt động kinh doanh đạt được là do công ty đã vận dụng tốt các yếu tố
về thị trường, các chiến dịch Marketting và hơn hết chính là sự làm việc nghiêm túc của
tập thể cán bộ công nhân nói chung và của toàn công ty nói riêng. Công ty cần duy trì
khả năng phát triển hiện có và cần có các kế hoạch phát triển chiến lược dài hạn hiệu quả
hơn trong các năm tới.
Về lợi nhuận: Hàng năm công ty làm ăn đều phát sinh lãi và lợi nhuận tăng đều qua
các năm.
- Lợi nhuận đạt 79.506 (nghìn vnđ) năm 2005 tăng 33% so với năm 2004.
- Lợi nhuận đạt 109.120 (nghìn vnđ) năm 2006 tăng 37% so với năm 2005.
Về giá vốn hàng bán: So với tổng doanh thu thì tỷ trọng giá vốn hàng bán tương đối
cao nhưng đó cũng là điều hợp lý so với lĩnh vực kinh doanh của công ty.
Trong những năm qua hòa vào xu thế phát triển chung của đất nước công ty đã có
những bước phát triển đáng khích lệ. Công ty đã nắm bắt tốt nhu cầu của thị trường,
năng động linh hoạt trong kinh doanh làm ăn một cách có hiệu quả mang lại thu nhập
cho công ty cũng như các thành viên trong công ty, ngoài ra công ty còn đóng góp một
phần vào ngân sách Nhà nước cụ thể là:
- Năm 2004 thuế thu nhập doanh nghiệp nộp cho ngân sách là 28.091 (nghìn vnđ).
- Năm 2005 là: 37.414 (nghìn vnđ).
- Năm 2006 là: 51.350 (nghìn vnđ).




Kết quả kinh doanh của công ty được thể hiện rõ hơn qua biểu đồ dưới đây:
Doanh thu chi phí
4000
3500
3000
2500
Doanh thu
2000
Chi phÝ
1500
1000
500
0 Năm
2004 2005 2006
Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2006, phương hướng năm
2007
Trong năm 2006, tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty đặt trong bối cảnh khó
khăn chung của nền kinh tế thị trường trong sự cạnh tranh rất quyết liệt đối với ngành
nội thất ngoại thất sản xuất trong nước và mặt hàng chốn lậu thuế, còn tiếp tục chịu ảnh
hưởng do những biến động tình hình kinh tế của khu vực, các điều kiện về thời tiết mưa
bão kéo dài gây lũ lụt ở Miền Trung.... Đã ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động tiêu thụ sản
phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Kết quả sản xuất kinh doanh - tài chính năm 2006
1. Thực hiện các chỉ tiêu:
% so sánh
Kế Thực
ST So với So với
Chỉ tiêu ĐVT hoạch hiện
T KH TH
2006 2006
2006 2005
1 Giá trị tổng sản lượng Ng.đồn 104,33 113,07
100.523 104.873
g
2 - Doanh thu (có thuế) Ng.đồn 129.583
123.926 104,5 109,91
- DT (Chưa có thuế) g 117.803
3 Lợi nhuận phát sinh Ng.đồn 142,43 249,6
1.230 1.752
g
4 - Các khoản nộp ngân sách (phải TH) Ng.đồn 7.245 118,58 85,96
6.110
- Các khoản nộp ngân sách (đã TH) g 8.645 141,49 102,57
5 Sản lượng sản phẩm chủ yếu: Đồ Ng.đồn
4.570 4.715 103,17 105,57
nội thất ngoại thất các loại g
6 Tổng mức đầu tư XDCB Ng.đồn
6.300 1.264
g
7 Thu nhập bình quân CBCNV 1000đ/t 106 112,5
850 900
háng
3. Hoạt động tài chính năm 2006
a. Tổng số vốn kinh doanh thực hiện năm 2006: 22.573 triệu
- So với kế hoạch đạt: 100,22%
- So với thực hiện năm 2005 đạt: 101,26%.
Trong đó:
+ Vốn vay cấp đến cuối năm 2006: 8.023 ng.d
+ Vốn tự có bổ sung: 14.950 ngh.d
b. Tổng số giá trị tài sản hiện có (Theo sổ sách và kiểm kê): 49.208 ngh.d.
c. Sử dụng các nguồn lực do nhà nước giao, đảm bảo và phát triển vốn 100%.
d. Lợi nhuận phát sinh: Thực hiện năm 2006 trên 1 tỷ 752 ngh.d.
e. Các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước:
- Thực hiện năm 2006 là: 7245 ngh.d
- So với kế hoạch năm 2006 đạt: 118,58%
- So với thực hiện năm 2005 đạt: 85,86%
Nguyên nhân chủ yếu là do giảm thuế nhập khẩu vật tư hang hoa thay bằng nguồn
vốn khai thác trong nước.
f. Thực hiện thu - chi các loại vốn quỹ khác: chấp hành đúng chế độ quy định, chi
trả tiền lương, tiền thưởng kịp thời và đầy đủ.
Công tác quản lý chuyên môn nghiệp vụ được cải tiến và có những tiến bộ đáng kể.
Đưa công tác kế toán thực hiện 100% trên máy vin tính đạt hiệu quả cao, hệ thống báo
cáo được thiết lập đầy đủ.
III. Một số đánh giá về tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty trong thời gian qua.
1. Một số kết quả đạt được.
Phát Gia là một doanh nghiệp kinh doanh nội thật ngoại thất có tiếng trên thị trường
Việt Nam đã từng bước ổn định và phát triển.
Máy móc thiết bị được cải tiến, sản phẩm chất lượng ngày một cao, chủng loại
phong phú. Hiện nay sản phẩm của Công ty đã đi vào tâm trí của người tiêu dùng trong
cả nước. Thậm trí có những sản phẩm là món không thể thiếu trong trang trí nội thất của
gia đình.
Trình độ tay nghề của lãnh đạo và công nhân trong công ty ngày càng được củng cố
và nâng cao. Công nghệ và năng lực công nghệ ngày càng được đầu tư về chiều sâu. sản
phẩm mới ngày càng phát triển đem lại công ăn việc làm và tăng thu nhập cho cán bộ
công nhân viên trong Công ty - góp phần giả quyết thất nghiệp, đồng thời làm phong phú
thêm cho thị trường Đồ gỗ Việt Nam.
* Ưu điểm:
Trong thời gian qua, hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty đã đạt được một số
ưu điểm sau:
Công ty đã áp dụng nhiều hình thức thanh toán linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi
cho người mua như:
- Thanh toán ngay
- Thanh toán sau
- Thanh toán bằng tiền mặt
- Thanh toán bằng chuyển khoản
- Thanh toán bằng điện chuyển khoản.
Việc linh hoạt trong thanh toán đã giúp cho các đại lý có số lượng vốn không nhiều
hoặc đang khó khăn về vốn có thể lấy được hàng, để từ đó đáp ứng nhanh nhất được nhu
cầu của người tiêu dùng. Ngoài ra các đại lý của Công ty thuộc nhiều thành phần kinh tế
khác nhau nên việc thanh toán cũng khác nhau. Do vậy mà việc tiêu thụ trở nên nhanh
chóng và dễ dàng hơn.
Tuy nhiên, Công ty cũng cần phải theo dõi sát các đại lý để tránh tình trạng chiếm
dụng vốn quá lâu, đọng vốn quá nhiều, nhất là tránh tình trạng không trả nợ được của
khách hàng sẽ gây khó khăn về vốn cho Công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình.
Để khuyến khích sức mua - Công ty đã sử dụng biện pháp chiết khấu lũy tiến đối
với các đại lý của mình (tỷ lệ chiết khấu tỷ lệ thuận với số lượng mnua. Ngoài ra Công ty
còn thường xuyên tổ chức các cuộc khuyến mại nhằm hướng người tiêu dùng vào một số
loại sản phẩm nào đó. Tuy nhiên Công ty mới chỉ khuyến mại đến các đại lý cấp 1 và
khuyến mại đối với một số sản phẩm khó tiêu thụ mà thôi, chứ chưa có các hình thức
khuyến mại rộng rãi đến tận tay người tiêu dùng.
Thông qua hoạt động tiêu thụ sản phẩm, công ty thường xuyên thu thập những
thông tin phản hồi từ phía thị trường người tiêu dùng để chất lượng và mẫu mã sản phẩm
của mình. Từ đó Công ty đưa ra những biện pháp hỗ trợ thích đáng đối với các đại lý của
mình, do vậy mà Công ty đã tạo được mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Công ty và các
đại lý. Điều này rất có lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Ngoài ra Công ty còn
tham gia các kỳ hội chợ giới thiệu các sản phẩm của mình, tổ chức các cuộc hội nghị
khách hàng, Quảng cáo sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng như ti vi, báo,
tạp chí...
Chính nhờ những ưu điểm này mà Công ty luôn luôn vượt mức kế hoạch được giao.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm tốt đã đạt được, Công ty cũng không thể tránh
khỏi một số những nhược điểm sau: đó là những tồn tại cần giải quyết.
2. Các tồn tại
2.1. Về sản phẩm
Mặc dù sản phẩm của Công ty trong những năm qua đã được cải tiến và nâng cấp
đa dạng hoá sản phẩm hàng hoá nhưng mẫu mã hàng hoá vẫn còn rất ít, chưa có thương
hiệu độc quyền, khách hàng biết tới công ty là nhà cung ứng sản phẩm hàng hoá nội
ngoại thất chưa nhiều.Vì thế nên thị phần của công ty trên thị tr ường vẫn ở mức rất nhỏ.
Trong khi trên thị trường các sản phẩm Đồ gỗ có rất nhiều loại gây được sự ưu thích của
người tiêu dùng, nhất là loại Đồ gỗ bên trong có nhiều ngăn đựng, vậy mà Công ty Phát
Gia ít loại như vậy, còn bàn ghế thì hầu như chỉ có một loại thông thường cổ điển cùng
một loại khối lượng như nhau, như vậy sẽ làm giảm sức cạnh tranh của loại sản phẩm
này, kéo theo giảm sức cạnh tranh của toàn Công ty đối với thị trường người tiêu dùng.
2.2. Về máy móc thiết bị
Mắc dù trang thiết bị máy móc của Công ty đã được đầu tư đổi mới, nhưng
thực sự chưa đồng đều, vẫn còn một số cũ nát, lạc hậu và sử dụng chưa hết công suất.
Chẳng hạn như nhiều khi nhịp độ sản xuất đang cần kíp thì máy hỏng, thêm vào đó là
trình độ hiểu biết về máy móc hiện đại của kỹ sư cơ khílại chưa đáp ứng nổi, thiết bị, phụ
tùng thay thế của máy móc hầu như không có mà toàn là phụ thuộc vào bên bán, bên
nước ngoài. Đây cũng là một trở ngại lớn đối với Công ty trong việc nâng cao chất
lượng, mẫu mã sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường người tiêu
dùng.


2.3. Về nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu để sản xuất chính của Công ty là Đồ gỗ mà là thứ nhập ngoại,
nhiều khi vào thời điểm khan hiếm Đồ gỗ đã ít mà giá cả lại cao, có những khi mua phải
những lô hàng kém phẩm chất, việc sử lý vất vả vô cùng.
Tất cả những điều đó ảnh hưởng đến chất lượng và giá thành sản phẩm. Và còn
hơn thế nữa ngay cả mẫu mã và phong cách là những nhân tố quan trọng gây hấp dẫn
nhất đối với thị hiếu khách hàng thì cũng phải nhập ngoại gây nhiều cản trở cho tiến độ
sản xuất do vận chuyển quá xa. Vì thế mà ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động tiêu thụ
sản phẩm của Công ty.
2.4. Về nghiên cứu nhu cầu thị trường
Việc tổ chức, củng cố điều tra nghiên cứu thị trường còn hạn chế, sử lý các
thông tin và đưa ra các giải pháp còn chậm chạp.
Hệ thống cửa hàng giới thiệu sản phẩm còn quá ít. Hiện tại ở Hà Nội Công ty
chỉ có hai cửa hàng giới thiệu sản phẩm: một đặt tại cổng Công ty, một đặt tại đường
Minh Khai gần trụ sở của Công ty. Như vậy chỉ có những khách hàng ở gần trụ sở của
Công ty có thể mua trực tiếp sản phẩm của Công ty, còn những người khác phải thông
qua đại lý hoặc những người bán lẻ. Mà phần đông người tiêu dùng Việt Nam muốn mua
trực tiếp từ Công ty, như vậy sẽ yên tâm hơn về chất lượng và giá của của sản phẩm của
Công ty.
Bên cạnh đó hệ thống đại lý cũng chưa mạnh, việc mở đại lý không được dựa trên
những điều tra về nhu cầu thị trường, nơi sẽ đặt đại lý mà chỉ do ở vùng đó chưa có đại
lý của Công ty mà thôi. Đơn cử một ví dụ: Đại lý ở khu vực phía Nam tiêu thụ được số
sản phẩm rất ít
3. Thành tích chính về tiêu thụ sản phẩm của Công ty về.
3.1. Về doanh thu:
Trong ba năm vừa qua thành tựu đáng kể nhất Công ty đã đạt được là sản lượng
bán ra và doanh thu bán hàng đã tăng lên qua các năm mặc dù có sự cạnh tranh gay gắt.
Để có được thành công này, nguyên nhân thứ nhất cần kể đến là công lao của các cán bộ
công nhân viên trong Công ty. Họ đã nỗ lực hết mình trong công việc, cán bộ công nhân
viên đã giữ gìn uy tín của cửa hàng bằng sự trung thực trong quan hệ với khách hàng.
Chúng ta đều biết hiện tượng một số nơi khi bán nội thất thường cấy ghép các loại gỗ tạp
xen lẫn gỗ tốt mà giá bán vẫn giữ nguyên, lừa dối khách hàng nhằm kiếm lợi bất chính,
những hiện tượng này không tồn tại ở Công ty. Khách hàng khi mua sản phẩm của Công
ty có thể yên tâm về chất lượng sản phẩm. Việc giữ gìn uy tín còn biểu hiện ở trình độ
dịch vụ mà Công ty cung cấp cho khách hàng luôn ở mức độ chất lượng tốt. Việc sửa
chữa bảo hành được các nhân viên tiến hành nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao,
ngoài ra họ còn tư vấn cho khách hàng về kiểu dáng hình thức phù hợp với nhu cầu của
người sử dụng hiệu quả nhất.
- Để phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn, cán bộ công nhân viên trong Công ty
luôn trau dồi kiến thức, kỹ năng bán hàng, các nghiệp vụ chuyên môn. Họ có thể học các
lớp do Công ty thường xuyên tổ chức hay đi học ở ngoài đều được khuyến khích.
Nguyên nhân thứ hai góp phần vào thành công đáng kể trên là nhờ Công ty đã
biết khai thác và sử dụng thế mạnh vốn có của mình là có trình độ kỹ thuật cao trong lắp
đặt thi công các dự án nội thất trong các toà nhà lớn. Đây là một thế mạnh mà các đại lý
nhỏ khác thường không len chân vào được, nhờ vậy mà Công ty đã có một sản lượng
khá lớn được bán cho khách hàng đòi hỏi việc lắp đặt các dự án nội thất phức tạp. Những
Khách hàng này về sau thường trở thành khách hàng truyền thống của Công ty.
3.2. Về lợi nhuận:
Trong những năm vừa qua lợi nhuận của Công ty đã không ngừng tăng lên qua
các năm đặc biệt vào năm 2006. Có được điểm này là nhờ thay đổi chính sách quản lý
của Công ty và các bộ công nhân viên đã có ý thức tự giác trong nâng cao năng suất lao
động, tiến hành quản lý chi phí tốt hơn, chú ý tiết kiệm chi phí khi không cần thiết.
Những nỗ lực đồng thời như vậy mà Công ty đã có thay đổi khả quan trong việc tạo ra
lợi nhuận.
3.3. Thành tựu về việc giữ vững thị phần:
Thành tựu của Công ty còn được đánh dấu bằng việc duy trì thị phần ở những khu
vực có mức cạnh tranh cao. Dịch vụ chăm sóc, phục vụ Khách hàng ở Công ty thể hiện
sự nỗ lực tuyệt vời trong duy trì Khách hàng truyền thống thể hiện ở mức độ mất Khách
hàng truyền thống là cực kỳ thấp so với các Công ty, đại lý khác thể hiện ở việc những
Khách hàng mới có triển vọng bán hàng lâu dài. Chính điều này đã tạo nên nền tảng
vững chắc cho một tương lai lâu dài hơn, khi mà chắc chắn trong thời gian sắp tới mức
độ cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn.
+ Chúng ta cũng cần thừa nhận một điều là những thành tựu khả quan của Công
ty trong thời gian vừa qua không thể không kể đến vai trò to lớn của lãnh đạo Công ty
cũng như những cố gắng nỗ lực của phòng bán hàng và phòng ban liên quan. Lãnh đạo
Công ty đã đặc biệt quan tâm bằng việc theo dõi sát sao các kết quả hoạt động của Công
ty để từ đó có những điều chỉnh cần thiết trong quản lý tạo bước chuyển biến trong Công
ty trong thời gian qua. Trong đó, việc thay đổi các hình thức quản lý từ tính tương bằng
sản lượng sang khoán thu nhập được coi là bước đột phá trong tư duy quản lý của lãnh
đạo Công ty. Việc làm kịp thời này đã khôi phục lòng tin của cán bộ công nhân viên với
lãnh đạo Công ty, tạo ra sự thay đổi sâu sắc trong suy nghĩ cũng như hành động của nhân
viên.
+ Vai trò lãnh đạo của Công ty đã đựơc khẳng định song vai trò của người lãnh
trách nhiệm mà ở đây phòng bán hàng quản lý trực tiếp của Công ty cũng cần
thiết hơn bao giờ hết. Trong thời gian qua Công ty đã khẳng định mình có những
bộ phận chức năng có vai trò không thể thay thế trong quản lý khối cửa hàng cũng
như các kênh khác trên địa bàn Hà nội.
+ Việc quản lý cũng đang ngày càng cải tiến cho thông thoáng, đơn giản, giúp cho
Công ty nhanh nhạy trong hoạt động bán hàng. Trưởng phòng luôn có những cuộc
kiểm tra báo trước cũng như đột xuất để xem xét tình hình hoạt động của cửa
hàng có đi đúng hướng hay không để kịp thời chấn chỉnh phối hợp các phòng ban
trong việc đào tạo lại nhân viên để góp phần nâng cao tay nghề cho cán bộ công
nhân viên.
Trên đây chún ta đã tóm lược lại một số thành tựu chủ yếu mà Công ty đã
đạt được trong ba năm vừa qua, cũng như những nguyên nhân dẫn đến
thành công trên. Trong đó nổi bật lên vai trò của cán bộ công nhân viên
trong nỗ lực bán hàng đảm bảo dịch vụ, nâng cao năng suất lao động, tiết
kiệm chi phí để có lợi nhuận khả quan. Có vai trò lãnh đạo của Công ty
trong sáng suốt thay đổi cách thức quản lý. Có vai trò của phòng bán hàng
với tư cách vừa là người quản lý trực tiếp khối cửa hàng, vừa là người trợ
giúp cho hoạt động của Công ty để có được những thành tựu kể trên trong
thời gian qua…
4. Những tồn tại và nguyên nhân chủ yếu.
4.1. Chưa xây dựng được chiến lược dài hạn:
Tồn tại đầu tiên không cứ ở Công ty TNHH thương mại và thiết kế Phát Gia. Mà
nó còn xảy ra ở rất nhiều Công ty khác, đó là chưa có chiến lược dài hạn. Việc không có
chiến lược dài hạn ảnh hưởng đến hoạt động lâu dài của Công ty, có thể dẫn đến tình
trạng bị động trong hoạt động kinh doanh, nhất là trong hoàn cảnh các doanh nghiệp
đang gắng sức cạnh tranh thì việc có một chiến lược dài hạn càng trở nên cần thiết hơn
bao giờ hết. Thực ra Công ty cũng có chiến lược nhưng chỉ là những kế hoạch đầu tư cơ
sở vật chất kỹ thuật còn một chiến lược tổng hợp thì vẫn chưa xây dựng được.
Một hậu quả của việc chưa xây dựng được một chiến lược có thể thể hiện trong
việc bố trí mạng lưới cửa hàng. Có nơi tập trung quá nhiều cửa hàng, điều này có thể dẫn
đến các cửa hàng cạnh tranh nhau, kìm hãm sự phát triển của nhau lại, không khai thác
được tối đa nhu cầu của thị trường. Có nơi lại tập trung quá ít cửa hàng, làm cho các cửa
hàng không phối hợp được với nhau để tạo sức mạnh tổng hợp chống lại sự cạnh tranh
của các hãng khác. Có địa bàn như quận Thanh xuân, Cầu giấy và một số quận khác
không có cửa hàng kinh doanh nào đã bỏ ngỏ khu vực thị trường này. Qua thực tế này
chúng ta thấy việc không xây dựng chiến lược thị trường có tác hại to lớn như thế nào,
nhất là với quá trình đô thị hoá như hiện nay, các trung cư, đô thị mới liên tục mọc lên,
nếu Công ty không có chiến lược để tiếp cận các khu vực thị trường mới liên tục xuất
hiện, chỉ giữ lấy những khu vực thị trường quen thuộc thì sẽ để các hãng khác năng động
hơn đánh bại, chiếm lĩnh thị phần. Trong thực tế chúng ta có thể di chuyển những cửa
hàng có sản lượng qúa thấp ở khu vực có mật độ cửa hàng cao sang khu vực tiềm năng.
Để tiến hành việc này việc phòng bán hàng cần xác định lại khu vực thị trường mới đầu
tư các cán bộ có năng lực, cơ sở kỹ thuật tốt để tạo sức mạnh ban đầu để cạnh tranh với
các hãng đã có mặt trên khu vực thị trường này.
4.2. Việc đầu tư trang thiết bị cho cửa hàng còn chưa đầy đủ:
Tồn tại thứ hai cần kể đến là trang bị phương tiện cho khối cửa hàng vẫn chưa đầy
đủ. Hiện tượng các mặt hàng trùng lặp về chủng loại và mẫu mã giữa các cửa hàng vẫn
còn xảy ra rất nhiều. Thực tế này đã ảnh hưởng đến chất lượng dịnh vụ các cửa hàng như
thời gian sửa chữa bảo dưỡng sẽ bị chậm trễ, chất lượng công việc sẽ không đựơc như ý
muốn, có thể xảy ra những lỗi kỹ thuật. Một số cửa hàng cũng chưa được trang bị máy
tính dẫn đến việc quản lý Khách hàng chủ yếu dựa trên giấy tờ, gây ra những chậm trễ,
ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa cửa hàng và Khách hàng, làm giảm giá trị phục vụ cho
Khách hàng, việc chưa trang bị máy tính cũng như điều kiện làm việc đầy đủ tiện nghi
đã khiến sự liên hệ giữa các cửa hàng với phòng bán hàng, cửa hàng với kho chậm trễ
ảnh hưởng đến khả năng cung ứng hàng hóa của kho cho cửa hàng kịp thời. Những tồn
tại này đang gây cản trở không nhỏ cho việc nâng cao chất lượng phục vụ của cửa hàng
trong việc quản lý lãnh đạo với khối cửa hàng của Công ty.
4.3 Sự phối hợp giữa các cửa hàng với các Công ty còn kém hiệu quả.
Tồn tại thứ ba là sự hỗ trợ cho nhau giữa các cửa hàng vẫn chưa được nhuần
nhuyễn. Tại sao chúng ta lại phải quan tâm đến vấn đề này ? Bởi vì bán nội thất là loại
hình dịch vụ có nhu cầu không lường trước được. ở một cửa hàng vào một thời điểm nào
đó có thể có những nhu cầu mua rất lớn đòi hỏi huy động hết nhân viên cũng không phục
vụ kịp, nhưng ở một cửa hàng khác trên cùng một địa bàn cũng vào thời điểm ấy có thể
có những nhân viên đang nhàn rỗi vì không có Khách hàng có nhu cầu mua bán nội thất.
Xuất phát từ thực tế đó chúng ta thấy sự hỗ trợ cho nhau giữa các cửa hàng là vô cùng
cần thiết để đảm bảo mức độ dịch vụ cho khối hàng, cho Khách hàng nhưng hiện nay
việc phối hợp này chỉ diễn ra lẻ tẻ chỉ dựa trên sự quen biết giữa các cửa hàng với nhau
mà chưa có văn bản pháp luật nào quy định sự phối hợp này cũng như chưa có sự nhiệt
tình, tự giác giữa các nhân viên của các cửa hàng với nhau. Điều đó đã ảnh hưởng đến
trình độ dịch vụ của từng cửa hàng nói riêng cũng như Công ty nói chung.
Ngoài ra, còn có một số tồn tại nhỏ khác như hiện tượng đóng cửa hàng sớm, bỏ
giờ trực làm việc riêng vẫn còn xảy ra một số cửa hàng vẫn ch ưa đảm bảo văn minh
thương nghiệp, vệ sinh công nghiệp những tồn tại này tuy nhỏ song cần chấn chỉnh ngay
để tạo hình ảnh tốt đẹp về cửa hàng với tâm trí người tiêu dùng.
5. Các hoạt động khác của công ty
Ngoài các hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận cho công ty là người lao động,
công ty còn tổ chức các hoạt động khác như các hoạt động đoàn, thể dục thể thao đã
mang lại tinh thần và sức khỏe cũng như nâng cao văn hóa doanh nghiệp ngày càng tốt
hơn.




Phần III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM
CỦA CÔNG TY TNHH VÀ THIẾT KẾ THƯƠNG MẠI PHÁT GIA.
Trong bất kỳ lĩnh vực sản xuất kinh doanh nào, việc đưa ra những biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả là một việc làm hết sức cần thiết và không phải là đơn giản. Để
đưa ra được những biện pháp thiết thực chúng ta phải xem xét Công ty trong mối quan
hệ tổng hoà. Cân đối tốt giữa việc thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao và hiệu quả quản lý
kinh tế. Do vậy trong phần này em xin đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động
hiệu quả tiêu thụ sản phẩm tại Công ty TNHH và Thiết kế Thương mại Phát Gia như
sau:
I. Phương hướng phát triển của Công ty TNHH và Thiết kế Thương mại Phát Gia
trong những năm tới.
1.1. Mục tiêu sản xuất kinh doanh của Công ty
- Duy trì thị phần của Công ty ở mức độ 20% – 22 %
- Tỷ lệ nhập khẩu và nội địa: tập trung khai thác tối đa nguồn hàng nội địa nhập khẩu
khối lượng hàng hoá thiếu hụt. Nguồn hàng nhập khẩu chủ yếu từ các nước trong khu
vực như : Thái lan, Singapo, Đài loan…
- Doanh số bán: Tăng trưởng ít nhất theo tốc độ tăng trưởng của thị trường
- Nâng cao tính chủ động của người lao động trong sản xuất kinh doanh thông qua cơ
chế khuyến khích, thực hiện cổ phần hoá, xây dựng văn hoá doanh nghiệp theo hướng
năng suất hiệu quả, năng động sáng tạo, đoàn kết theo hướng doanh nghiệp là công cụ để
người lao động sáng tạo ra các giá trị trong xã hội.
Mạng lưới phân phối đa dạng linh hoạt, lấy khách hàng là trung tâm tập trung
phát triển mạng lưới phân phối hàng hoá của Công ty, mở rộng mạng lưới kênh phân
phối ngoài luồng theo hướng linh hoạt và tạo thị trường năng động cho Công ty TNHH
và Thiết kế Thương mại Phát Gia.
- Tạo niềm tin thị trường với các sản phẩm thiết kế nội ngoại thất nói chung và các sản
phẩm thương mại khác nói riêng.
1.2 Phương hướng, mục tiêu kế hoạch trong những năm tới (2006 -2008)
- Tăng tổng giá trị lợi nhuận, tăng ty suất lợi nhuận trên vốn, tăng sức cạnh tranh, tăng
thị phần nâng cao hiệu quả lao động.
- Tiếp tục phát triển thế mạnh vốn có về hệ thống phân phối được hình thành trong cả
nước, hệ thống kho cảng đầu mối tương đối hoàn chỉnh, tăng cường hoạt động quảng cáo
áp dụng các hình thức hỗ trợ khuyến khích người tiêu dùng cảm thấy có lợi tạo nên sự
hấp dẫn khác biệt với đại lý phân phối và người tiêu dùng để tăng thị phần tương xứng
với tiềm năng của Công ty TNHH và Thiết kế Thương mại Phát Gia. Trong lĩnh vực
kinh doanh nội ngoại thất.
- Tiếp tục tiết kiệm, giảm chi phí sản xuất kinh doanh.
- Hoàn thiện cơ chế khoán chi phí, khoán tiền lương từ Công ty đến cửa hàng kinh doanh
từng phương tiện vận tải…
- Mở rộng tăng sức chứa các kho đầu mối:
+ Tập trung mở rộng tăng sức chứa cho các kho
+ Tạo nên các cơ sở hạ tầng bền vững xác lập vị thế ổn định đối với lĩnh vực cung cấp
hàng hoá khi cần thiết.
- Đầu tư phát triển các hình thức dịch vụ mới như lắp đặt hệ thống mạng lưới đại lý cho
các khu vực trung cư.
- Rà soát để giảm mức công nợ lấy yêu cầu an toàn tài chính, hiệu quả kinh doanh để xác
định mức dư nợ.
- Đào tạo kiến thức chính trị, chuyên môn ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ công nhân viên
trong Công ty.
Các chỉ tiêu kế hoạch năm (2006 -2009) của Công ty TNHH và Thiết kế Thương mại
Phát Gia.:
Bảng 10: Dự kiến các chỉ tiêu kế hoạch năm (2006 - 2009) của Công ty TNHH
và Thiết kế Thương mại Phát Gia.
Stt Chỉ tiêu ĐVT Kế hoạch Kế hoạch Kế hoạch
2006 2007 2008
1 Sản lượng xuất bán Cái 105.000 112.000 118.000
2 Doanh số 1000đ 560.600 570.000 585.100
3 Nộp ngân sách nhà nước 1000đ 45.000 45.500 46.000
4 Lợi nhuận trước thuế 1000đ 16.500 16.900 17.200
5 Lương bình quân đ/tháng 2.500.000 2.600.000 2.700.000
2. Biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm.
2.1. Giá cả sản phẩm:
Giá cả là một trong những công cụ thiết yếu quyết định đến khối lượng tiêu thụ
sản phẩm của Công ty. Chính sách giá là công cụ có hiệu quả nhất để làm tăng khả năng
cạnh tranh của sản phẩm, giải phóng nhanh lượng hàng tồn đọng. Bên cạnh chính sách
chất lượng thì giá cả là mối quan tâm hàng đầu của Khách hàng. Nếu hai doanh nghiệp
cùng bán một loại sản phẩm có chất lượng như nhau thì doanh nghiệp nào có giá cả thấp
hơn sẽ tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn. Do đó, chính sách giá cả cũng là một vấn đề
phức tạp bởi chính sách giá cả hợp lý là một chính sách thoả mãn được Khách hàng
nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo cho doanh nghiệp kinh doanh có lãi. Dựa vào giá
thành sản phẩm và giá cả của đối thủ cạnh tranh cũng như dựa vào mức cung cầu trên thị
trường mà Công ty đã xây dựng được một chính sách giá cả hợp lý. Nhờ vậy mà sản
lượng tiêu thụ của các sản phẩm nội thất cũng tăng lên. Tuy nhiên, để góp phần hoàn
thiện chính sách giá cả đảm bảo cho công việc tăng sản lượng tiêu thụ sản phẩm trong
các năm tới đây Công ty cần thực hiện các biện pháp là cải tiến các hoạt động để giảm
giá đồng thời tăng cường đảm bảo chất lượng dịch vụ cho khách hàng cũng như giáo dục
phổ biến thông tin để khách hàng nhận biết ra đâu là nhà cung ứng tốt nhất cho mình.
Bên cạnh đó, Công ty cũng có thể giảm giá bán bằng cách hạ thấp chi phí nguyên vật tu.
Để thực hiện đựoc điều này Công ty cần tổ chức tốt công tác vận chuyển, giảm chi phí
bảo quản dự trữ… có như vậy Công ty mới có thể thu hút được Khách hàng về phía
mình từ đó thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm làm cho sản phẩm của Công ty ngày càng
tăng lên trong năm tới.
2.2. Biện pháp đối với đối thủ cạnh tranh:
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh được xác định là động lực thúc đẩy sự phát
triển với nguyên tắc hoàn thiện hơn, thoả mãn nhu cầu tốt hơn và hiệu quả hơn sẽ thắng,
tồn tại và phát triển. Để có được vị trí số 1 của mình về thị phần và đảm bảo việc tăng thị
phần trong những năm tới Công ty có thể thực hiện một số biện pháp sau:
- Không ngừng nghiên cứu cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng và đa dạng hoá
sản phẩm để sản phẩm của Công ty có lợi thế hơn sản phẩm của đối thủ cạnh
tranh đồng thời hoàn thiện các hoạt động dịch vụ…
- Phát huy các thế mạnh của mình trên các thị trường mục tiêu chẳng hạn như: cơ
sở vật chất sẵn có (gồm các kho dung tích lớn nhất, có cấp độ tự động cao nhất
được từ Mỹ, Nhật) hay nguồn nhân lực (với đội ngũ nhân viên tốt nghiệp đại học
chiếm tỷ lệ cao, đội ngũ kỹ sư cán bộ kỹ thuật được đào tạo chuyên nghiệp). Từ
đó Công ty sẽ đảm bảo được sự thống lĩnh trên thị trường so với đối thủ cạnh
tranh khác.
- Phải thường xuyên tìm cách làm chó sự xâm nhập của các đối thủ cạnh tranh và
thị trường của mình trở nên khó khăn. Hơn nữa, Công ty có thể tận dụng các hàng
rào do Nhà nước tạo ra để ngăn cản đối thủ cạnh tranh như : Hệ thống luật của
Nhà nước, sự ưu đãi…
2.3. Đào tạo nguồn nhân lực:
Có thể nói yếu tố tạo nên thành công của một cong ty khởi nguồn và kết thúc là
yếu tố con người của Công ty đó. Trong đó người lao động các nhân viên có nhiệm vụ
tiếp xúc với Khách hàng là trận tuyến quan trọng nhất và trong các quan niệm quản trị
hiện đại ngày nay các cấp quản trị chỉ có vai trò là người tiếp xúc hỗ trợ cho trận tuyến
đầu này chứ không phải là điều hành chỉ đạo ra lệnh cho nhân viên. Nói như vậy, để thấy
được tầm quan trọng của nhân viên tiếp xúc với Khách hàng đó có thể là nhân viên bán
hàng, nhân viên sửa chữa, lắp đặt, bảo dưỡng thiết bị hệ thống. Trong những năm qua
Công ty đã rất quan tâm đến lực lượng lao động này. Bằng chứng là Công ty luôn có các
chương trình đào tạo và huấn luyện dành cho nhân viên tại văn phòng Công ty. Trong
thời gian học, nhân viên được hưởng lương tối thiểu. Các chương trình học cũng khá đa
dàng từ việc hướng dẫn các quy định, thể chế mới, đào tạo nâng bậc lương, huấn luyện
trình độ sửa chữa, lắp đặt thiết bị… Nhờ vậy các nhân viên đã được trang bị đầy đủ kiến
thức cho công việc của mình góp phần đẩy mạnh khối tiêu thụ sản phẩm của khối cửa
hàng. Tuy nhiên, những năm tới để có một lực lượng lao động dồi dào hơn nữa được đào
tạo liên tục và nhiều hơn nữa đồng thời để tạo ra được bước phát triển nhanh và mạnh,
Công ty cần cải tiến công tác đào tạo và huấn luyện sao cho ngày càng đa dạng phong
phú, tiếp cận các trình độ đào tạo tiên tiến, sử dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao trình
độ của đối tượng cán bộ đào tạo cho phù hợp với tình hình mới. Có như thế mới tạo
được bước chuyển biến mới trong trình độ nhân viên cũng như thành tích tiêu thụ của
Công ty.
2.4 Tăng cường điều tra nghiên cứu thị trường
Phương hướng phát triển thị trường trong những năm tới
I Thị trường truyền thống
Tên thị Sản lượng Sản lượng tiêu thụ Tới
trường
tiêu thụ hiện tại 2004 2005 2006
(cái) (cái) (cái) (cái)
Hà nội 20.900 22.000 24.100 26.500
Hải phòng 19.700 21.100 21.900 23.000
Đà nẵng 19.350 20.000 21.000 22.500
TP HCM 20.500 21.700 23.000 24.600
II Thị trường truyền mới
Tên thị trường Sản lượng tiêu thụ Tới
2004 2005 2006
(cái) (cái) (cái)
Đắc lắc 5.700 5.850 6.500
Gia Lai 5.000 5.500 6.100
Kontum 5.800 5.950 6.700


Ngày nay bất cứ một doanh nghiệp nào cũng đều phải gắn hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình tới thị trường do đó các doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường.
Nghiên cứu thị trường là việc làm cần thiết đầu tiên đối với một doanh nghiệp khi bắt
đầu kinh doanh là khâu đầu tiên của công tác tiêu thụ sản phẩm. Điều tra nghiên cứu thị
trường giúp ta nắm được nhu cầu, thị hiếu luôn thay đổi của Khách hàng, để từ đó có thể
cái tiến mẫu mã, sản phẩm, cũng có thể sản xuất ra những sản phẩm mới phù hợp với
nhu cầu phong phú đa dạng của Khách hàng. Nói chung nếu Doanh nghiệp muốn tồn tại
và phát triển thì nhất thiết phải thực hiện công tác nghiên cứu thị trường đã đươc Công ty
chú ý Song còn chưa đủ và chưa sâu, việc nắm bắt thông tin về thị trường còn sơ sài,
chưa chính xác nên chưa đặt ra các dự báo mang tính đón đầu của nghiên cứu thị trường.
Việc nghiên cứu thị trường người, người bán và các đối thủ cạnh tranh nhiều mặt còn
chưa đề cập tới. Vì vậy để công tác điểu tra nghiên cứu thị trường đạt kết quả cao Công
ty cần thu thập thông tin xung quanh các nội dung sau:
+ Đối với thị trường người mua Công ty cần nắm bắt những thông tin sau:
Ngoài Công ty ra Khách hàng của Công ty còn mua hàng của ai với số
lượng bao nhiêu. Cần biết vì sao Khách hàng mua hàng của Công ty và vì
sao Khách hàng mua hàng của Công ty khác.
Công ty cần nắm vững các chính sách kinh tế xã hội của nhà nước đặc biệt
là chính sách cơ sở hạ tầng vì nó liên quan đến nhu cầu của Khách hàng về
sản phẩm của Công ty
+ Đối với thị trường người bán:
Trong điều kiện không được ép giá tự do lựa chọn bạn hàng mua bán, việc
lựa chọn thị trường người bán là việc làm cần thiết của Công ty và những
thông tin quan trọng về thị trường người bán cũng có thể giúp Công ty
trong việc vận chuyển đổi các phương thức kinh doanh.
+ Đối với các đối thủ cạnh tranh:
Việc nắm bắt thông tin về các đối thủ cạnh tranh có vai trò rất quan trọng
trong Doanh nghiệp. Hiện nay vì nó quyết định sự thành bại của mỗi
Doanh nghiệp. Các thông tin này phải cụ thể kịp thời chính xác. Trước đây
Công ty mới chỉ nắm bắt được một số thông tin như : Số lượng các đối thủ
có mặt hàng cạnh tranh với Công ty, tình hình tài chính và khối lượng bán
của họ. Công ty cần nắm bắt thêm các thông tin về giá cả, chính sách phân
phối, xúc tiến chế độ hoa hồng trả cho các đại lý, cửa hàng, các chương
trình khuyến mại để việc tiêu thụ sản phẩm được tốt hơn.
+ Công ty cần tuyển chọn một đội ngũ nhân viên điều tra nghiên cứu thị
trường có trình độ nhanh nhạy, sáng tạo. Phải nắm vững các nghiệp vụ
kinh doanh, thu thập, phân tích tổng hợp thông tin. Bên cạnh đó Công ty
cần phải quan hệ chặt trẽ với các cơ quan thông tin thị trường, tìm hiểu
thông tin thị trường qua các sách báo hoặc tìm hiểu trực tiếp người tiêu
dùng như: Điện thoai, máy tính, máy Fax…
2.5. Chất lượng sản phẩm và dịch vụ:
Chất lượng sản phẩm là yếu tố hàng đầu để quyết định khả năng cạnh tranh của
Doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm được đánh giá chuẩn xác nhất sự lựa chọn của
người tiêu dùng. Nếu chất lượng sản phẩm đảm bảo sẽ làm tăng uy tín. Danh tiếng của
Công ty trên thị trường, góp phần tích cực vào hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
Trong nền kinh tế ngày càng phát triển thu nhập của người dân cao thì người tiêu dùng
sẽ có xu hướng dùng những sản phẩm có chất lượng cao dù giá thành có cao.
Mặt hàng có đặc điểm so với các hàng hoá tiêu dùng bao gói khác. Khi cung cấp
cho Khách hàng ngoài bàn ghế và các phụ kiện nội thất khác bán cho Khách hàng lần
đầu và các lần về sau chỉ cần gọi điện. Do vậy nó không đòi hỏi cầu kỳ lắm về hình thức
bao bì. Tuy nhiên khi giao sản phẩm cho Khách hàng cũng cần luôn giữ sạch sẽ không
bụi bặm nước sơn, hình thức của sản phẩm không bị lỗi hỏng hóc đây cũng là việc thể
hiện được chất lượng và giá cả khác biệt của Công ty. Nhưng hiện nay nhiều cửa hàng
vẫn chưa chú ý lắm đến hình thức các sản phẩm các mặt hàng của mình để bụi bẩn bám
đầy chất lượng thì không đảm bảo lỗi kỹ thuật. Điều này có thể gây cảm quan bên ngoài
không tốt cho Khách hàng về chất lượng sản phẩm làm cho Khách hàng nghi ngờ chất
lượng nội thất bên trong không tốt, không đầy đủ. Những việc này có thể gây cản trở đến
việc tiêu thụ sản phẩm, nhất là khi những Khách hàng này có ý định sẽ mua sản phẩm
của Công ty thì khi nhìn thấy những biểu hiện bên trên sẽ mất cảm tình, và sẽ lựa chọn
cung cấp của hãng khác có mẫu mã hình thức đẹp hơn, sạch sẽ hơn bắt mắt hơn mà chưa
tính đến chất lượng bên trong của sản phẩm cũng là một điều dẫn tới sự lựa chọn quyết
định mua sản phẩm của Công ty.
Để hàng hoá sản phẩm giữ được chất lượng. Tạo uy tín Công ty nôi thất Phát Gia
nên thường xuyên tiến hành kiểm tra về sản phẩm của mình để có thể kịp thời sơn sửa,
tiến hành kiểm soát chặt trẽ phát hiện sớm những lỗi của sản phẩm, phát hiện sớm những
nơi không chú ý bảo quản giữ gìn sản phẩm để có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, không
để đến khi xẩy ra mới xử l ý. Công ty có thể phát động phong trào giữ gìn sản phẩm
hàng hoá trong khi vận chuyển. Nếu làm tốt sẽ có khen thưởng.
2.6. Dịch vụ trong và sau bán hàng:
Hiện nay, các dịch vụ trong lĩnh vực nội thất, ngoại thất chất lượng dịch vụ không
có sự cách biệt lớn.
Để thực hiện có kết quả Công ty cần có hệ thống theo dõi kết quả thực hiện hoạt
động bán hàng và xác lập các đường dây thông tin để giảI quyết các vấn đề khiếu nại,
góp ý của khách hàng, kịp thời động viên khen thưởng những cá nhân đạt thành tích tốt
trong thực hiện các tiêu chuẩn mà hoạt động bán hàng đề ra. Công ty cần lắng nghe
phản hồi của nhân viên để điều chỉnh công tác quản lý cho phù hợp. Bởi vì muốn thoả
mãn khách hàng phải thoả mãn nhân viên của Công ty như vậy mới đảm bảo rằng mọi
nhân viên đều nỗ lực vì khách hàng và vì Công ty.
Công ty có thể làm theo một số gợi ý sau đây để nâng cao chất lượng của sản phẩm hàng
hoá:
- Công ty nên thiết lập một quỹ khách hàng, nếu khách hàng phàn nàn và có chứng
cứ xác đáng về chất lượng sản phẩm thì sẽ được đền bằng tiền. Còn nếu trong
tháng Công ty không có lời phàn nàn nào của khách hàng các nhân viên sẽ được
thưởng.
- Cung cấp các tiêu chuẩn dịch vụ cho khách hàng để khách hàng đánh giá chất
lượng của dịch vụ do Công ty cung cấp
- Mỗi đại lý nên bố trí các tiêu chuẩn dịch vụ để mọi nhân viên nhìn thấy hàng ngày
nhằm những nội dung đó đi vào ý thức tự giác của nhân viên.
- Việc giao hàng đúng thời gian là một trong những tiêu chuẩn quan trọng. Công ty
có thể thiết lập một hệ thống các đại lý trong một tỉnh để có thể phối hợp với nhau
tức là nhân viên của các đại lý này có giao hàng thay cho nhân viên của đại lý
khác khi nhân viên đó bận giao hàng cho khách hàng khác. nếu thực hiện tốt việc
nay, có thể chỉ với một số ít nhân viên vẫn thực hiện tốt khách hàng vừa tiết kiệm
được chi phí trả lương do tiết kiệm lao động, vừa tăng năng suất lao động, tăng
chất lượng dịch vụ cho khách hàng. Để tổ chức tốt việc này Công ty có thể làm thí
điểm ở một số đại lý nào đó để có kinh nghiệm, sau đó nhân rộng ra bằng văn bản
chính thức và huấn luyện nhân viên sao cho thực hiện bài bản. Nếu triển khai
được việc kết hợp khác như : chiến dịch khuyến mại, nghiên cứu thị trường ở một
số khu vực khác.
- Việc tăng thêm các hình thức phục vụ cũng cần đựơc tiến hành để theo sát chiến
lược của Công ty. Tiến hành đầu tư mua sắm các phương tiện vận tải, hệ thống
thông tin nhằm tăng cường hỗ trợ cho công tác bán hàng.
2.7. Chính sách quản cáo và xúc tiến bán hàng.
Hoạt động quảng cáo, xúc tiến bán hàng là một trong những hoạt động rất cần
thiết cho sự bán hàng của Công ty, làm tốt được điều này mới giữ đựơc khách hàng
truyền thống và thu hút được khách hàng tiềm năng. Quảng cáo là một công cụ đắc lực
giúp cho việc tiêu thụ sản phẩm của Công ty ngày càng tăng. Đây là một vũ khí cạnh
tranh sắc bén. Quảng cáo dễ nghe dễ hiểu sẽ thu hút được sự chú ý của người tiêu dùng,
quảng cáo để khách hàng mua sản phẩm cho mình. Do vậy vấn đề đặt ra là phải hoàn
chỉnh về nội dung và hình thức quảng cáo. Quảng cáo ngoài việc giới thiệu về hình ảnh
sản phẩm của Công ty, địa chỉ liện hệ còn cần đến khuyếch trương được ưu điểm nổi bật
và tính năng hoàn hảo của sản phẩm như: chất lượng, giá cả, phương thức phân phối...tạo
sự khác biệt giữa sản phẩm của doanh nghiệp với sản phẩm đồng dạng trên thị trường để
người tiêu dùng phân biệt và lựa chọn khi mua. Khách hàng là trung tâm của bất cứ một
doanh nghiệp nào là đối tượng mà doanh nghiệp hướng tới và tìm mọi cách thoả mãn
nhu cầu của họ, từ đó mang lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Tuy nhiên công ty vẫn
chưa có một đội ngũ làm chuyên môn làm nhiệm vụ thu thập các thông tin phản hồi từ
phía khách hàng về chất lượng sản phẩm, mẫu mã, chủng loại mặt hàng, thái độ, tinh
thần phục vụ... Do đó công tác quảng cáo tiếp thị còn nhiều bất cập và cho đến nay công
ty vẫn chưa triển khai được các biện pháp đột phá nhằm tăng thị phần cho mình. Điều
này đã ảnh hưởng xấu đến kết quả tiêu thụ của công ty. Trong những năm tới để có thể
tăng được sản lượng tiêu thụ công ty cần xây dựng kế hoạch quảng cáo chu đáo, xác định
thông điệp quản cáo rõ ràng để làm nổi bật hình ảnh về sản phẩm của công ty và đặc biệt
khi chất lượng được cải thiện thì phải nhấn mạnh được những điểm nổi bật của sản phẩm
quảng cáo. Để thực hiện được điều này, phòng bán hàng nên có những nhân viên chuyên
trách về hoạt động quảng cáo. Trong thời gian tới, để tăng sản lượng tiêu thụ Công ty
cần tiến hành tổ chức quảng cáo bằng nhiều hình thức để thu hút được nhiều khách hàng
về phía mình. Có thể tổ chức làm công tác từ thiện gây cảm tình đối với người sử dụng.
Tổ chức triển lãm những mặt hàng, phụ kiện của công ty, thiết bị lắp đặt nâng cao sự
hiểu biết về tính năng tác dụng và độ an toàn, tính ưu việt của nó làm cho người sử dụng
yên tâm khi sử dụng sản phẩm của công ty.
Tổ chức lại trang thiết bị ở cửa hàng và làm nổi bật biểu tượng gây sự chú ý của
khách hàng ở tại cửa hàng.
Qua việc phân tích thực trạng tiêu thụ sản phẩm chúng ta thấy việc quảng cáo của
công ty còn sơ sài chưa gợi đựơc sự chú ý của khách hàng, việc thị phần của công ty
giam cũng có sự đóng góp của bộ phận quảng cáo.
II Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của năm 2006 so với kế hoạch đề ra
1. Thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu về giá trị sản lượng:
- Hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu đăng ký kế hoạch kinh doanh năm 2005 theo
nhiệm vụ của Công ty đề ra.
- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng so với thực hiện năm 2005 về giá trị tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá là 13.07 %, doanh thu 10 %.
- Các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước, lợi nhuận thực hiện đều tăng so với kế
hoạch từ 18 – 28 %. Trong đó phải kể đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, năm
2006 là năm đạt kết quả cao trên 250 % so với thực hiện năm 2005
- Về lượng sản phẩm chủ yếu:
Với mục tiêu khai thác thế mạnh truyền thống của Công ty về khả năng cung ứng các
mặt hàng nội thất ngoại thất đa dạng các hình thức mẫu mã phù hợp với phong tục
tập quán cung như trào lưu của thi trường ngày nay. Năm qua, Công ty đã tập trung
mọi nỗ lực, cố gắng nghiên cứu thị trường nhằm đa dạng hoá sản phẩm hàng hoá
cũng như chất lượng của những hàng hoá mà công ty đã nhập về, với nhiều chủng
loại mặt hàng. Các sản phẩm đều đựơc tiêu thụ mạnh trong năm qua.
Theo kết quả, năm 2006, có nhiều khó khăn mặc dù có sự điều chỉnh giữa các
chủng loại sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu thị trường, nhưng Công ty đã huy động
tối đa năng lực để đáp ứng cho khách hàng.
2. Tiêu thụ sản phẩm.
Cùng với sự phát triển đi lên của Công ty, hoạt động tiêu thụ sản phẩm, thị
trường, công tác tiếp thị, nghiệp vụ Marketting ngày càng được đẩy mạnh và có
hiệu quả. Năm Công ty đã chú trọng tăng cường thêm đội ngũ tiếp thị, bồi dưỡng
kiến thức về nghiệp vụ và từng bước nâng cao chất lượng công tác đáp ứng với
nhu cầu nhiệm vụ mới.
Duy trì và phát triển các thị trường hiện có cả về chiều rộng và chiều sâu,
từng bước mở rộng thêm thị trường mới ở các tỉnh ỏ miền Bắc, miền Trung, vùng
sâu, vùng xa. Đặc biệt trong năm đã mở văn phòng đại diện ở TP HCM triển khai
hoạt động từ tháng 11 năm 2006 đã thu được một số kết quả, bước đầu thiết lập
mạng lưới đại lý mới ở TP HCM, tiếp tục mở rộng các vùng lân cận. Tích cực tìm
hướng xuất khẩu hàng hoá nội thất ngoại thất mà công ty đã nhập của các doanh
nghiệp sản xuất trong nước ra nước ngoài, bước đầu Công ty đã thử nghiệm một
số bạn hàng để xuất khẩu sang các nước láng giềng như: Trung Quốc, Lào...
Ngay từ đầu năm, Công ty đã tổ chức các cuộc hội nghị khách hàng, tăng
cường hơn mối quan hệ mật thiết gắn bó với bạn hàng. Triển khai thực hiện các
chính sách, chế độ về tiêu thụ phù hợp với từng khu vực, từng thời kỳ, nhằm
khuyến khích khách hàng tiêu thụ sản phẩm của Công ty, tạo sự phối hợp đồng bộ
tương hỗ giữa các chính sách: Giá bán triết khấu, khuyến mại, hỗ trợ vận chuyển.
Triển khai thực hiện có hiệu quả các mặt công tác về hoạt động của Công ty giới
thiệu sản phẩm, tham gia các kỳ hội trợ triển lãm, các hoạt động thông tin quản
cáo, và phục vụ đảm bảo an toàn tiền hàng. Do đó mà công tác tiêu thụ sản phẩm
tăng 10 % so với năm 2005
* Một số chỉ tiêu về lao động tiền lương, việc làm và thu nhập của CNV năm
2006.
- Lao động bình quân trong năm: 35 người
- Ngày công lao động bình quân: 24,7 công
- Số người giải quyết chế độ: 5 người
- Số cán bộ được bổ nhiệm 5 người
- Cán bộ công nhân viên được nâng bậc lương 30 người
- Thu nhập bình quân CB CNV: Trên 900.000 đ/ người/ tháng
* Giải quyết các yêu cầu chủ yếu về quản lý hoạt động kinh doanh, đời sống của
nhưng thành viên trong công ty. Công tác chỉ đạo, điều hành hoạt đông kinh doanh: Sau
đại hội CNVC đầu năm, Công ty đã triển khai ngay một số chuyên đề, tiếp tục đổi mới
thêm một bước về quản lý, trong đó công tác tìm hiểu và nghiên cứu thị trường cả cung
và ứng là then chốt. Các phòng ban chuyên môn đã thực hiện chức năng tham mưu cho
lãnh đạo Công ty về định hướng phát triển sản xuất kinh doanh, các chiến lược, sách
lược về sản phẩm hàng hoá, phương hướng đầu tư, kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, kế hoạch
tác nghiệp từng tháng, quý, dự đoán về thị trường, khả năng cung ứng hiện có làm cơ sở
cho việc triển khai, điều hành nhập kho hàng hoá theo sát các yêu cầu về tiêu thụ sản
phẩm
Giải quyết kịp thời những phát sinh trong quá trình cung ứng, về phương tiện vận tải, hệ
thống thông tin, hạn chế tối đa giờ chết trong công việc, tìm hướng nâng cao được hiệu
quả trong công việc, cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty.
III. Các biện pháp chủ yếu phấn đấu thực hiện để đạt đựơc mục tiêu tăng trưởng về
hiệu quả kinh doanh năm 2007 từ 7 – 10 % so với năm 2006, CBCNV của toàn công
ty cần phấn đấu thực hiện các biện pháp chủ yếu sau:
1. Tăng cường công tác tiếp thị, Marketting nhằm giữ vững và phát triển thị trường
cả về bề rộng và bề sâu. Từng bước tiếp cận tìm bạn hàng khắp các tỉnh trong cả
nước, va nếu có thể cố gắng xem xét cung ưng hàng sang các nước lân cận để
tăng thị trường cung ứng sản phẩm hàng hoá. Trước hết là cung ứng sang các tỉnh
thành lân cận. Hoàn thiện hệ thống chế độ, chính sách về tiêu thụ sản phẩm hàng
hoá, đảm bảo tính linh hoạt kịp thời, tiết kiệm chi phí tối đa, phù hợp với diễn
biến của thị trường, tăng cường mối quan hệ gắn bó với các đại lý để thúc đẩy
hoạt động tiêu thụ của Công ty. Có phương hướng quản lý và sử dụng các phương
tiện có hiệu quả hơn, tiến tới thực hiện phương án khoán xe cho lái xe để tăng
cường trách nhiệm bảo quản và sử dụng xe.
2. Khai thác thêm các nguồn cung ứng từ các doang nghiệp sản xuất nội ngoại thất
trong nước và khu vực để nâng cao khả năng đa dạng hoá các loại sản phẩm hàng
hoá, cũng như khả năng cạnh tranh về giá đối với các đối thủ khác trong
ngành.Đó là cơ sở để tạo điều kiện cho việc chọn lựa tốt hơn về chất lượng và giá
cả, giảm hợp lý chi phí đầu vào, góp phần tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh
kinh doanh của công ty. Thực hiện tốt phương châm khai thác tận gốc, giao hàng
tại kho công ty, tiết kiệm tối đa chi phí tiếp nhận, vận chuyển, bảo đảm an toàn
tiền hàng, tránh các rủi ro có thể xảy ra. Phát huy kết quả đã đạt được của năm
trước và nâng cao hơn nữa kỹ năng và hiệu quả của công tác xuất nhập khẩu trực
tiếp.
3. Tăng cường công tác chỉ đạo điều hành hoạt động kinh doanh từ khi nhập hàng
hoá từ phía nhà sản xuất cho đến khi cung ứng cho khách hàng, chú ý việc phối
hợp giữa các bộ phận, các thành viên của công ty trong việc giải quyết các nhu
cầu của khách hàng, đảm bảo xử lý linh hoạt kịp thời.
4. Thực hiện triệt để tiết kiệm trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh, công
tác phấn đấu, giảm tối đa các loại chi phí phát sinh trong các khâu, các linh vực
hoạt động của công ty trên cơ sở rà soát, chỉnh lý các định mức kinh tế – kỹ thuật
tiên tiến và đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng KHKT, đổi mới quy trình
bán hàng hợp lý, phù hợp với thực trạng ngày nay, phát huy sáng kiến, cải tiến
những cái cũ.
5. Phát huy thành tích công tác quản lý, điều hành của những năm trước, tiếp tục cải
thiện, đổi mới trong năm 2007 và những năm tiếp theo, giữ vững uy tín và nâng
cao khả năng cung ứng các mặt hàng đảm bảo về chất lượng và đa dạng hoá các
sản phẩm, cải tiến mặt hàng đa dạng nhằm tăng cường sức cạnh tranh của Công ty
trên thị trường.
6. Triển khai các kế hoạch đầu tư, đôn đốc thực hiện chương trình công tác thúc đẩy
tiêu thụ đã đề ra như: Về cập nhật thông tin trên thị trường, từ phía các đối tượng
khách hàng, cũng như từ phía các nhà cung ứng. Chương trình khuyến mại sau
bán và áp dụng những ưu đãi đối với những khách hàng có nhu cầu về mặt hàng
của công ty thường xuyên va với số lượng lớn.
KẾT LUẬN


Tiêu thụ sản phẩm hàng hoá là công cụ cuối cùng của quá trình sản xuất kinh
doanh, là một lĩnh vực rất quan trọng không những chỉ riêng doanh nghiệp sản xuất mà
còn đối với cả doanh nghiệp thương mại nó có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của
bất cứ một tổ chức kinh tế nào. Đây là lĩnh vực có ý nghĩa quyết định cho sự thành bại
của các doanh nghiệp.
Đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá sản phẩm và nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm
hàng hoá không phải là đề tài nghiên cứu mới mẻ nhưng không bao giờ cũ đối với các
doanh nghiệp tham gia kinh doanh thương mại bởi nó đóng vai trò quyết định sự thành
bại của doanh nghiệp. Không phải là ngoại lệ, để đạt được mục tiêu trên Công ty TNHH
Thiết kế và Thương mại Phát Gia đã và đang phấn đấu nhằm nâng cao số lượng tiêu thụ
sản phẩm, thực hiện doanh thu tiêu thụ ngày càng cao chi phí ngày càng giảm, tăng lợi
nhuận, hoàn thành trách nhiệm và nghĩa vụ của nhà nước mà cụ thể là đối với Công ty
TNHH Thiết kế và Thương mại Phát Gia.
Danh mục tài liệu tham khảo


1. Giáo trình quản trị kinh doanh
Chủ biên GS.TS. Nguyễn Thành Độ – TS.Nguyễn Ngọc Huyền
2. Giáo trình Marketting căn bản
Phillip Kotler – Nxb Thống kê 1999
3. Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh
Chủ biên PGS.TS. Phạm Thị Gái
4. Quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chủ biên PGS.TS. Đồng Xuân Ninh – TS. Vũ Kim Dũng
5. Các tài liệu của Công ty TNHH Thiết Kế và Thương mại Phát Gia
Bao gồm:
- Bản báo cáo kết quả kinh doanh
- Bản cân đối kế toán
...
6. Đánh giá và tiêu thụ sản phẩm
Lê Thụ – Nxb thống kê 1998
7. Chiến lược thị trường
JoinShaw – Nxb Thế giới

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản