Luận văn đề tài: Chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: inside33

Gắn liền với công cuộc đổi mới và mở cửa ở nước ta, có nhiều yêu cầu phải mở giải quyết cùng một lúc: Vừa ổn định, vừa phát triển kinh tế trong nước, vừa mở rộng giao lưu quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài ...Nhu cầu mở rộng lượng tiền cung ứng (Cầu về tiền) ngày càng lớn, dẫn đến sự xác lập quan hệ cung - cầu mới về tiền trong khi đó vẫn phải tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ, tạo...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn đề tài: Chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay

LUẬN VĂN:




Chính sách tiền tệ ở Việt Nam
hiện nay
Lời mở đầu



Gắn liền với công cuộc đổi mới và mở cửa ở nước ta, có nhiều yêu cầu phải mở
giải quyết cùng một lúc: Vừa ổn định, vừa phát triển kinh tế trong nước, vừa mở rộng
giao lưu quan hệ quốc tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài ...Nhu cầu mở rộng lượng tiền
cung ứng (Cầu về tiền) ngày càng lớn, dẫn đến sự xác lập quan hệ cung - cầu mới về
tiền trong khi đó vẫn phải tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn định tiền tệ,
tạo lập nền tảng cho sự phát triển chung.

Ngày nay không ai còn có thể phủ nhận bằng việc điều chỉnh tiền tệ cho phù
hợp với nhu cầu của nền kinh tế là một trong những vấn đề thiết yếu mà tổ chức của
các hệ thống tiền tệ phải tuân thủ và chính sách tiền tệ phải theo đuổi.

Xét về toàn cảnh thị trường tài chính thế giới trong những năm qua thì bức tranh
thị trường tài chính khá sáng sủa, các khoảng tối đã bị thu hẹp và nhường chỗ cho
những khoảng sáng. Thế giới đã từng chứng kiến sự hồi phục nhanh chóng của các nền
kinh tế từ châu á, châu Âu và Mỹ sau những tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ châu á diễn ra giữa năm 1997 chắc chắn còn là nỗi ám ảnh đối với nhiều
người.

Bước vào thế kỷ mới, năm 2000, năm bản lề của sự phát triển và hưng thịnh,
Việt Nam - con rồng châu á xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
Vì vậy việc lựa chọn giải pháp nào để xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ quốc
gia có hiệu quả nhất vẫn còn là một ẩn số phức tạp và nhiều bất cập.

Qua quá trình học tập môn học, được sự hướng dẫn của các thầy cô giáo ở bộ
môn Tiền tệ - Tín dụng, em xin mạnh dạn trình bày tiểu luận môn học Lý thuyết tiền tệ
với đề tài: “Chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay”.

Tiểu luận gồm 3 phần:

Phần I : Lý thuyết chung về chính sách tiền tệ.

Phần II: Thực trạng chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay.
Phần III: Những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiền tệ trong giai đoạn
hiện nay.



Phần I

Lý thuyết chung về chính sách tiền tệ



I. Những lý luận cơ bản về chính sách tiền tệ

1. Chính sách tiền tệ và vai trò của nó.

Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của
Nhà nước, nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền, góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân với
các nội dung sau:

Một là, Nhà nước thống nhất quản lý mọi hoạt động Ngân hàng.

Hai là, có biện pháp để động viên các nguồn lực trong nước là chính tranh thủ
tối đa nguồn lực ngoài nước, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế.

Ba là, bảo đảm vai trò chủ đạo và chủ lực của các tín dụng Nhà nước trong lĩnh
vực tiền tệ và hoạt động Ngân hàn.

Bốn là, giữ vững định hướng XHCN, chủ quyền quốc gia, mở rộng hợp tác và
hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động Ngân hàng.

Năm là, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần công nghiệp
hóa hiện đại hoá đất nước.

Đây là chính sách lớn, mang tính định hướng cho hoạt động của hệ thống Ngân
hàng nói chung và trong lĩnh vực tiền tệ nói riêng. Chính sách tiền tệ có vai trò quan
trọng trong nền kinh tế thị trường. Nó là đòn bảy kinh tế lớn nhất trong hệ thống đòn
bảy kinh tế được sử dụng thường xuyên và linh hoạt nhất đối với mọi thành phần kinh
tế. Không sử dụng và không thực hiện đúng chính sách, chắc chắn sẽ làm cho quá trình
phát triển kinh tế gặp nhiều khó khăn hay vấp phải nguy cơ không lường trước được.
Do đó điều tiết vĩ mô cho đến nền kinh tế mỗi quốc gia.
Để chuẩn bị bước vào thế kỷ 21, thế kỷ hội nhập quốc tế và bùng nổ của khoa
học công nghệ, việc xây dựng chiến lựợc phát triển đã trở thành một vấn đề quan trọng
đối với mỗi quôc gia. Cho đến nay đã hoàn thành việc xây dựng cho mình một chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội chặng đường đầu tiên của thế kỷ mới. Với Việt Nam
hiện nay, vấn đề này đang được Đảng và Nhà nước coi là một nhiệm vụ to lớn củ cả
các ngành, các cấp, trong đó xây dựng chiến lược tài chính thực hiện chính sách tiền tệ
được đặc biệt coi trọng bởi tài chính luôn là một lĩnh vực bao trùm, chi phối mọi mặt,
mọi phương diện của đời sống xã hội trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy thách thức và
trở ngại với công cuộc CNH - HĐH đất nước thì vai trò chính sách tiền tệ càng trở nên
quan trọng bức thiết hơn bao giờ hết.

Cụ thể hơn, chính sách tiền tệ có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều tiết
khối lượng tiền lưu thông trong toàn bộ nền kinh tế. Thông qua chính sách tiền tệ
NHTW có thể kiểm soát được hệ thống tiền tệ để từ đó kiềm chế và đẩy lùi lạm phát,
ổn định sức mua của đồng tiền và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mặt khác chính sách
tiền tệ còn là công cụ để kiểm soát toàn bộ hệ thống các NHTM và các tổ chức tín
dụng.

2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ

Về cơ bản

6 mục tiêu cơ bản được những người của Dự trữ liên bang nêu lên thường
xuyên khi họ bàn luận đến đối tuợng chính sách tiền tệ là :

1. Công ăn việc làm cao

2.Tăng trưởng kinh tế.

3. ổn định giá cả

4. ổn định lãi suất

5. ổn định thị trường tài chính

6. ổn định thị trường ngoại hối

2.1. Về việc tạo công ăn việc làm

Việc làm cao là một mục tiêu có giá trị từ hai lý do chính :
- Trường hợp ngược lại, thất nghiệp cao, gây nên nhiều sự đau khổ cho con
người, các gia đình bị khốn cùng về tài chính.

- Khi thất nghiêph lên cao, thì nền kinh tế không những có những người lao
động ngồi không mà còn những nguồn tài nguyên để không(Xí nghiệp đóng cửa, thiết
bị không hoạt động, sản xuất ngưng trệ) đưa đến kết quả hoạt động giảm đi (GDP thấp
xuống).

Mục tiêu của việc làm cao do đó sẽ không phải là một mức số không thất
nghiệp, mà là một mức trên số không phù hợp với việc làm đầy đủ, mà tại mức này cầu
của lao động ngang bằng cung của lao động. Các nhà Kinh tế gọi mức thất nghiệp đó
là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.

Việc làm nhiều hay ít, tăng hay giảm chủ yếu phụ thuộc vào tình hình tăng
trưởng kinh tế. Tình hình đó đặt ra cho NHTW trách nhiệm là phải vận dụng các công
cụ của mình góp phần tăng cưòng mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh đồng thời phải
tham gia tích cực vào sự taưng trưởng liên tục và ổn định khống chế tỷ lệ thất nghiệp
không vượt quá mức tăng thất nghiệp tự nhiên.

2.2. Về việc tăng trưởng kinh tế :

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế quan hệ chặt chẽ với mục tiêu việc làm cao. Các
Chính sách có thể đặc biệt nhằm vào việc khuyến khích tăng trưởng kinh tế bằng cách
khuyến khích trực tiếp các hãng đầu tư hoặc quần chúng nhân dân tiết kiệm để có thêm
nhiều vốn cho các hãng đưa vào đầu tư.

Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu hàng đầu và quan trong nhất của chính sách tiền
tệ. Với tư cách là trung tâm tiền tệ tín ụng và thanh toán trong nền kinh tế quốc dân.
NHTW có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu này. Ngân hàng nhà nước
Việt Nam cần Bằng mọi phương thức để có thể huy động được hầu hết các nguồn vốn
nhàn rổi trong nước và nước ngoài để phuc vụ cho mục tiêu này. Mục tiêu từ năm 2000
trở đi tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm phải đạt từ 9- 10% đó là múc tăng trưởng
cao, nó đòi hỏi phải gia tăng đầu tư hàng năm hàng chục tỷ USD.

2.3. Về ổn định giá cả
Hơn hai thập kỷ qua công chúng và các nhà kinh tế chuyên nghiệp Mỹ càng
hiểu rõ hơn cái giá phải trả về khinh tế và xã hội của lạm phát gay nên. Họ đã quan tâm
nhiều hơn đến một mức giá ổn định. ặn định giá cả là điều ai cũng mong muốn bởi vì
mức giá cả tăng lên (lạm phát) gây nên tình trạng bấp bênh trong nền kinh tế. Vì vậy,
NHTW phải góp phần duỳ trì tăng trưởng liên tục nhưng ổn định triệt tiêu nghững
nhân tố gây nên sự tăng nhu cầu giả tạo để tăng chi phí lên cao. Trong cuộc đấu tranh
này, lãi suất và cung ứng tiền tệ là hai thứ vũ khí lợi hại, luôn nắm bắt và theo dõi được
thực tế diễn biến của quá tình thực hiện mục tiêu để từ đó có những giải pháp, điều
chỉnh phù hợp.

2.4.Về ổn định xã hội.

Mong muốn có một sự ổn định lãi suất vì những biết động của lãi suất làm cho
nền kinh tế bấp bênh và khó lập kế hoạch cho tương lai. Vì vậy, ổn định lãi suất chính
là thực hiện lãi suất tín dụng cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh tế quốc
dân thông qua nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, dựa trên các quỹ cho vay được tạo lập từ
các nguồn tiền gửi của xã hội và với một hệ thống lãi suất mềm dẻo phải linh hoạt, phù
hợp với sự vận động của cơ chế thị trường.

2.5. Về ổn định thị trường tài chính.

Một lý do rõ ràng của việc thành lập hệ thống dự trữ liên bang là hệ thống đó có
thể thúc đẩy một hệ thống tài chính ổn định. Việc ổn định thị trường tài chính cũng
được thúc đẩy bởi sự ổn định lãi suất bởi vì biến động trong lãi suất gay nên sự lưỡng
lự lớn cho các tổ chức tài chính. Trong những năm gần đây những biến động mạnh của
lãi suất là một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng đối với các hiệp hội tiết kiệm và cho vay
đã gặp khó khăn về tài chính như chúng ta đã biết.

2.6. Về ổn định thị trường ngoại hối

Nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền nội địa NHTW thưc hiên các
nhiệm vụ giao dịch về tài chính và tiền tệ đối ngoại qua các phương diện:Quản lý
ngoại hối, lập và theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế, th ưch hiện các
nghiệp vụ hối đoái tổ chức và điều tiết thị trường hối đoái trong nước. Xây dựng và
thống nhất quản lý dự trữ ngoại hối, tiến hành kinh doanh ngoại hối trên thị trường
quốc tế. Cần lập mối quan hệ với NHTW khác với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế
nhằm tìm kiếm nguồn tài trợ (vay nợ) nước ngoài và có điều kiện ưu đãi khuyến khích
đầu tưu nuớc ngoài và thu hút kiều hối.

*Các mục tiêu trung gian

Trong cơ chế thị trường, NHTW phải xác định các mục tiêu trung gian của
chính sách tiền tệ, nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng của chính sách này. Bởi lẽ NHTW
sử dụng các mục tiêu trung gian đẻ có thể xét đoán nhanh chóng tình hình thưch hiện
các hoạt động của mình phục vụ cho các mục tiêu cuối cùng hơn là chờ cho đến khi
nhìn thấy được kết quả cuối cùng của các mục tiêu đó. Các mục tiêu trung gian cảu
chiónh sách tiền tệ mà NHTW sử dụng là các khối tiền tệ M1,M2,M3 và lãi suất.

Đây là những mục tiêu mang tính định luợng, chúng có thể đo lường, kiểm soát
được và có thể dự đoán tác động của chúng đối với việc thực hiện cac mục tiêu cuối
cùng của chính sach tiền tệ.

Bằng việc tăng, giảm các khối tiền tệ, NHTW góp phần tác động đến tăng, giảm
tổng cung và tổng cầu của tiền tệ. Đồng thời, NHTW cũng có thể sử dụng công cụ lãi
suất để tác động đến sự tăng giảm khối lưọng tiền tệ từ đó mà tác động đến tổng cung
và tổng cầu xã hội. Tuy nhiên thực tiễn thi hành chính sách tiền tệ ở nhiều nuớc cho
phép người ta thiên về hướng lụa chọn các khối lượng tiền tệ làm mục tiêu trung gian
hơn là lựa chọn lãi suất.

Trong các khối tiền tệ, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước, NHTW có thể
lựa chọn M1, M2 hoặc M3 làm mục tiêu trung gian ưu tiên

3. Nội dung chính sách tiền tệ

Trong cơ chế kinh tế thị trường, chính sách tiền tệ bào gồm ba thành phần cơ
bản gắn liền với ba kênh dẫn nhập tiền vào lưu thông là:

+ Chính sách tín dụng

+ Chính sách ngoại hối

+ Chính sách đối với ngân sách nhà nước

3.1. Chính sách tín dụng
Thực chất chính sách tín dụng là cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh
tế, thông qua các nghiệp vụ tín dụng ngan hàng, dựa trên các quỹ cho vay đựoc tạo lập
từ các nguồn tiền gửi của xã hội và một hệ thống lãi suất mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp
với sự vận động của cơ chế thị trường.

3.2. Chính sách ngoại hối.

Nhằm đảm bảo việc sử dụng hiệu quả ccá tài sản có giá trị thanh toán đối ngoại
phục vụ cho việc ổn định tiền tệ, thúc đảy tăng trưởng kinh tế bền vững và gia tăng
việc làm trong xã hội, bảo đảm chủ quyền tiền tệ của đất nứoc.

3.3. Chính sách đối với ngân sách nhà nước

Nhằm đảm bảo phương tiện thanh toán cho chính phủ trong trường hơph nmhân
sách nhà nước bị thiếu hụt.

Phương thức cung ứng tối ưu là NHTW cho ngân sách nhà nước vay theo kỳ
hạn nhất định. Đần và tiến tới loại bỏ hoàn toàn phát hành tiền tệ để bù đắp thiếu hụt
ngân sách.

3.3.1. Trường hợp ngân sách thâm hụt

Chênh lệch giữa thu và chi ngân sách sẽ có tác động khác nhau ddeens nền kinh
tế tuỳ cách tài trợ số chênh lêch ấy có bốn cách đẻ tài trợ thâm hụt ngân sách

Một là vay dân cư

Hai là vay hệ thống tín dụng và thị trường tài chính trong nước

Ba là vay NHTW

Bốn là vay nước ngoài

Vay của NHTW và vay của nước ngoài (bằng ngoại tệ) sẽ làm tăng mạnh khối
tiền tệ, gây áp lực tiềm tàng về sau. Vay của dân cư và của cac NHTM trong nước
nguy cơ làm tăng khối lượng tiền tệ nhẹ hơn. áp lực lạm phát tại các nước đang phát
triển mạnh hơn các nước có thu nhạp cao là do các n ước này chủ yếu sử dụng biện
pháp vay NHTW bằng cách phát hành tiền trực tiếp và vay nợ nước ngoài .

3.3.2. Trường hợp ngân sách cân bằng
Khi chính phủ thu thuế tức là đã lấy ra khỉ lưu thông một lưọng tiền và chi trở
lại số tiền ấy vào bộ máy kinh tế. khối tiền tệ không thay đổi vì nó được tăng giảm một
ngạch số như nhau. Tuy nhiên, nó có thể thay đổi kết cấu giữa tiêu dùng và tiết kiệm,
chẳng hạn nếu tầng lớp chịu thuế không giảm tiêu thụ mà giảm tiết kiệm. Trong khi đó,
chính phủ phải dùng số thuế thu được một phần trợ cấp cho những người có thu nhập
thấp thì số tiêu thụ chung lại gia tăng, số đầu tư giảm và kết quả là có thể làm tăng vật
giá. Nếu nhà nước dùng số chi ngân sách để đầu tư thì đầu tư nhà nước tăng lên, đầu tư
chung không đổi. Lưu ý hai trường hợp :

Thứ nhất : Nếu chính sách tiền tệ chống lạm phát, ngân sách thăng bằng vẫn có
thể tác dụng ngược với chính sách tiền tệ nhằm chống suy thoái.

Thứ hai: Trường hợp chính sách tiền tệ nằm chống suy thoái ngân sách thăng
bằng vẫn có thể chuyển dịch thu nhập tiền tệ theo hướng góp phần chống suy thoái
bằng cách làm tăng mức tiêu thụ.

3.3.3. Trường hợp ngân sách thặng dư:

Đây là trường hợp rất quý và nó là ước mơ chung của mọi quốc gia vì nó rút bới
tiền tệ dư thừa, tác đọng có lợi cho mối tương quan giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ.

4. Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ

Xét cho cùng, NHTW có thể thục thinhai loại chính sách tiền tệ phù hợp với tình
hình thực hiện cuỉa nền kinh tế đó là:

- Chính sách nới lỏng tiền tệ

- Chính sách thắt chặt tiền tệ

Chính sách nới lỏng tiền tệ là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế nhằm
khuyến khích đầu tư phát triiển kinh tế tạo công ăn việc làm.

Chính sách thắt chặt tiền tệ là việc giảm cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế, nhằm
hạn chế đầu tư, nganư chặn sự phát triển quá đà của nền kinh tế kiềm chế lạm phát.

Để thực hiện hai chính sách tiền tệ này, NHTW có thể sử dụng hàng loạt các
công cụ tiền tệ nằm trong tay của mình, đố là các công cụ trực tiếp, các công cụ gián
tiếp.
4.1.Các công cụ trực tiếp

Gọi là các công cụ trực tiếp vì thông qua chúng, NHTW có thể tác đọng trực
tiếp đến cung cầu tiền tệ, mà không cần phải thông qua công cụ khác.

4.1.1. ấn định khung lãi suất tiền gửi và chon vay

NHTW có thể quy định khung lãi suất tiền gửi và buộc các ngân hành kinh
doanh phải thi hành.

Nếu lãi suất quy định cao sẽ thu hút đựơc tiền gửi làm tăng nguồn vốn cho vay.
Nếu lãi suất thấp, sẽ làm giảm tiền gửi, giảm khả năng mở rông kinh doanh tín dụng.
Song biện pháp này sẽ làm cho NHTM mất tính chủ động, linh hoạt trong kinh doanh.
Mặt khác nó dễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở ngân hàng, nhưng lại thiếu vốn đầu tư,
hoặc khuyến khích dân cư vào dự trữ vàng, ngoại tệ, bất động sản, trong khi ngân hàng
bị hụt hẫng về tiền mặt, cũng như nguồn vốn cho vay.

NHTW có thể quy định khung lãi suất cho vay buộc ngân hàng khinh doanh
chấp hành.

Khi muốn tăng khối lượng cho vay, NHTW giảm mức lãi suất để kích thích các
nhà đầu tư vay vốn. Khi vần hạn chế đầu tư. NHTW ấn định với lãi suất cao.

Biện pháp này có ưu điểm là giúp ngân hàng lựa chọn dự án kinh tế tối ưu để
cho vay, loại những dự án kém hiệu quả.

Việc ấn định các cung lãi suất tiền gửi và cho vay nhìn chung ngày càng được
áp dụng ởi các nước theo cơ chế thị trường, lãi xuất rất nhậy cảm với đầu tư, nó phải
vận động theo quy luật cung cầu vốn trên thị trường.

4.1.2. ấn định mức tín dụng

Đây là một biện pháp mạnh, có hiệu lực đáng kể. Thực chất biện pháp này cho
phép NHTW ấn định trước khối lượng tín dụng phải cung cấp cho nền kinh tế trong
một thời gian nhất định và sau đó tìm con đường để đưa nó vào nền kinh tế.

Song trong nền kinh tế thị trường, cung cầu tín dụng biến động không ngừng,
biện pháp này chỉ được áp dụng một cách hạn chế khi tình huống yêu cầu.

4.1.3. Phát hành tiền trực tiếp cho ngân sách và cho đầu tư
Trong điều kiện ngân sách bị thiếu hụt, NHTW phải phát hành tiền để bù đắp sự
thiếu hụt đó. Rõ ràng biện pháp này làm gia tăng luợng tiền trong lưu thông, trong khi
lượng hàng hoá không tăng hoặc tăng không kịp. Hởu quả là gia tăng lạm phát. Nó
được nhanh chóng loại trừ trong điều kiện kinh tế thị trường bình thường.

Phát hành trực tiếp cho đầu tư có thể qua ngân sách nhà nước hoặc qua con
đường tín dụng ngân hàng (biện pháp này gọi là biện pháp cho sản xuất hay gọi ;à biện
phát lạm phát lành mạnh) biện phápnày cần thiết trong điều kện nền kinh tế suy thoái,
dư thừa tiềm năng kinh tế. Nó sẽ mang lại hiệu quả tích cực, khơi dậy các tiềm năng về
tài nguyên và con người.

4.1.4. Phát hành trái phiếu Nhà nước để giảm lượng tiền trong lưu thông

Trong điều kiện không thể áp dụng các biện pháp khác chính phủ có thể phát
hành một loạt trái phiếu nhất định để thu hút khối lượng tiền trong lưu thông. Việc
phân bổ trái phiếu mang tính bắt buộc

4.2. Các công cụ gián tiếp

Là những công cụ mà tác dụng của nó được coi là kinh tế thị trường

4.2.1. Dự trữ bắt buộc

Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các NHTM đưc và dự trữ theo luật định.
Phần dự trữ này được gửi vào tài khoản chuyên dùng của NHTM và đẻ lại quỹ của
mình với mục đích góp phần bảo đảm khả năng thanh toán của NHTM và làm phương
tiện kiểm soát khối lưọng tín dụng của ngân hàng này.

Khi tăng tỷ lệ dự trữ sẽ góp phần giảm khả năg cho vay và đầu tư của NHTM,
từ đó giảm lượng tiền trong lưu thông, góp phần làm giảm cầu iền để cân bằng với
sự giảm cung xã hội. trong trường hợp giảm tỷ lệ giự trữ bắt buộc, khả năng mở rông
cho vay của NHTM sẽ tăng lên, dẫn đến sự gia tăng lượng tiền trong lưu thông, góp
phần tăng cung xã hội để cân đối tăng cầu về tiền.

4.2.2. Lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn

Tái cấp vốn là cách để NHTM đua tiền ra lưu thông đồng thời khống chế và số
lượng và khối lượng tín dụng của ngan hàng trung gian. Qua việc cấp tín dụng, NHTW
đã tạo cơ sở đầu tiên thúc đảy toàn bộ hệ thống các ngân hàng trung gian tạo ra tiền,
cũng như khai thông được thanh toán cho họ.

Khi một ngân hàng trung gian, bằng nguồn vốn đi vay hoặc huy động được, cấp
ra một khoản tín dụng và lập tức biến thành tiền gửi tại nhân hàng đó hoặc tại ngân
hàng liên đới. Họ nhanh chóng có nhu cầu tiền trung ương để :

Đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng

Thanh toán bằng tiền mặt hay chuyểnm khoản cho các ngân hàng khác.

Mua ngoại tệ trên thị trường hối đoái hoặc của NHTƯ

Các ngân hàng trung gian tìm đến NHTW xin cấp vốn bằng cách xin tái chiết
khấu trước đó.

Tái cấp vốn là đầu mối phát sinh tiền trung ương, tăng khối lượng tiền tệ nên
NHTW giải quyết rất thận trọng trên cơ sở :

Chỉ tiêu tín dụng trong nền kinh tế nằm trong khối lượng tiền tệ cung ứng thêm
hàng kỳ kế hoạch.

Hạn mức tín dụng đã phân phố cho từng NHTM theo mức dư nợ tín dụng thực
tế hoặc theo vốn tự có cuả NHTM đó nhưng chưa dùng tới.

Tỷ lệ tiền mặt và tiền ghi sổ đã hình thành trong nền kinh tế. Tuy nhiên trong số
tiền trung ương được tái cấp vốn. NHTM sử dụng bao nhiêu tiền mặt cũng được.

Điều kiện để NHTW tái cấp vốn là :

Còn hạn mức tín dụng (tái cấp vốn) dành cho NHTM đó :

Các khoản tín dụng đem tái chiết khấu có lành mạnh và đảm bảo hối nợ hay
không.

Tuỳ theo yêu cầu khuyến khích hay mở rộng tín dụng tái cấp vốn bình th ường
hay mang ý nghĩa phạt mà lãi xuất tái chiết khấu có thể bằng, thấp hơn hoặc cao hơn
mức lãi suất khoản tín dụng mà mà NHTM đã cho khách hàng mình vay.

Qua công cụ tái cấp vốn, NHTM là ngưòi cho vay sau cùng, kiểm tra chất lượng
hoạt động tín dụng của NHTM, tiền ra lưu thông đã được khống chế để kiềm chế lạm
phát hoặc kích thích tăng trưởng kinh tế. tái cấp vốn được coi là hình thức phát hành
tiền lành mạnh vì nó dựa trên thương phiếu tượng trưng cho những món nợ về thương
mại và đằng sau nó có vật tư hàng hoá.

Nghiệp vụ và biện pháp tác động qua cho vay tái chiết khấu của NHTW rất
phong phú.

Bằng cách kiểm soát tín dụng chọn lọc. NHTM tác động vào cơ cấu tín dụng
của các ngân hàng trung gian (Hạn chế tín dụng vào các ngành Nhà nước không muốn
phát triển, ưu đãi những nghành và những vùng cần ưu tiên).

Tỷ lệ giá trị chiết khấu hoặc tái chiết khấu trên thương phiếu có thể thấp hay cao
tuỳ theo ý muốn mở rộng hay thu hẹp khối tiền tệ (50- 100%) làm như vậy NHTW
gián tiếp thúc đảy các doanh nghiệp giải phóng tồn kho, không giữ lại chỗ giá lên.

Kiểm soát tín dụng tiêu thụ. Trong nghiệp vụ bán hàng tiêu dùng đắt tiền hay
mua nhà trả góp. NHTW thường can thiệp bằng cách quy định mức trả tiền ngày cao
hay thấp, nớ rộng hay rút ngắn thời hạn thiếu chịu, nhằm khuyến khích hay hạn chế
nghiệp vụ này.

4.2.3. Nghiệm vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua bán các giấy tờ có giá ngắn hạn do
ngân hàng nhà nước thực hiện trên thị trường tiền tệ nhằm thuẹc hiện chính sách tiền tệ
quốc gia.

ở nhiều nước kinh tế phát triển, nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò quan trọng
làm thay đổi cơ số tiền tệ, chi phối những thay đổi trong cung ứng tiền tệ. Khi NHTW
quyết định mau một loại giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệ sẽ làm tăng cung ứng tiền
tệ. Ngược lại,khi NHTW bán một lưọng chứng khoán trên thị trường tiền tệ sẽ làm
giảm bớt cung ứng tiền tệ. bằng việc mua bán các loại giấy tờ có giá, nhờ chủ động
quy định mức gia phù hợp, NHTW đã tác động đến nguồn vốn các NHTM và do đó tác
động đến khả năng tín dụng của NHTM đối với nền kinh tế. Công cụ thị trưòng mở có
ưu đỉểm là nó trực tiếp tác động ngay đến dự trữ của các ngân hàng kinh doanh và
buộc các ngân hàng này phải gia tăng tín dụng hoặc giảm bớt tín dụng đối với nền kinh
tế. NHTW các nước thường tiến hành phần lớn các nghiệp vụ thị trường mở theo yêu
cầu điều chỉnh cung cầu tiền tệ, đặc biệt khi không thể thực hiện được với công cụ tái
chiết khấu.

Muốn sử dụng tốt công cụ trên phải có sự phát triển cao của cơ chế thanh toán
không dùng tiền mặt. Ttrong diều kiện đó tiền trong lưu thông hầu hết là một tài khoản
ngân hàng. Vì vậy, công cụ này rất bphù hợp đối với nước có nền kinh tế phát triển, có
thị trường tài chính hoàn chỉnh. Còn ở Việt Nam hiện nay, thị trường mở chưa thực sự
trở thành công cụ đóng vai trò quan trọng để NHNN điều tiết mức cung ứng tiền tệ.
Phần II:

Thực trạng chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay.



I. Một số thành tựu đạt được, tồn tại và nguyên nhân.

1. Những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua.

Bước sang những năm đầu của thế kỷ 21 chúng ta đã thực hiện song kế hoạch 5
năm lần thứ 6 là những năm có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu
của chiến lược ổn địng và phát triển kinh tế xã hội 1991- 2000 do đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ 7 và thứ 8 đã đề ra.

Thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kế hoạch năm 2000 sẽ tạo tiền đề cho việc
triển khai thực hiện kée hoạch 5 năm 2001- 2005 và chiến lược phát triển kinh tế xã
hội 10 năm 2001- 2010.

Để thực hiện những kế hoạch đó chúng ta cần có một cách nhìn nhận, phân tích,
đánh giá những bài học thực thi chính sách tiền tệ của nước ta trong thời gian qua. Cho
đến nay, chính sách tiền tệ ở nước ta chưa đạt đến độ hoàn thiện và tương xứng với
những đòi hỏi mà nền kinh tế đặt ra. Nhưng một cách khách quan và công bằng có đủ
cơ sở để thừa nhận sự đóng góp của chính sách tiền tệ và thành tựu to lớn của những
năm đầu của công cuộc đổi mới mà đất nước ta trải qua đầy khó khăn.

Đánh giá một cách nghiêm túc toàn bộ tiến trình thực thi chính sách tiền tệ ở
Việt Nam, trên hai phương diện đạt được và chưa đạt được, chính là cách tốt nhất để
có được một chính sách tiền tệ đủ sức vượt qua những thách thức và trở ngại mà nền
kinh tế đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nứơc.

1.1. Một số thành tựu đã đạt được trong thời gian qua:

1. a. Đã tiếp cận, vận dụng những quy luật và nguyên tắc kinh tế thị trường và
xác lập, tổ chức vận hành chính sách tiền tệ, chính sách tiền tệ đã trở thành công cụ
không thể thiếu trong điều hành kinh tế vĩ mô, vai trò như tác dụng của nó đến nền
kinh tế càng rõ nét và mạnh mẽ. Nếu như trước đây chính sách tiền tệ chỉ là tên gọi
chứ chưa có, thì nay chính sách tiền tệ đã được xác định rõ nội dung, mục tiêu, nhiệm
vụ trong mỗi một giai đoạn, trong từng năm tiến hành cải cách đất nước. Tuy nền kinh
tế nước ta chưa thực sự là nền kinh tế thị trường, nhưng chúng ta đã tìm ra một chính
sách tiền tệ phù hợp thích ứng với điều kiện đất nước. điều đó thể hiện ở những chỉ
tiểu vĩ mô khả quan mà Việt Nam đã đạt được trong suốt thời gian qua. Các nguyên lý
cơ bản dần được quán triệt, đồng thời có những sáng tạo thích nghi với điều kiện thực
tế cụ thể.

1. b. Đã xây dựng được một moi trường pháp lý: Nhận thức rõ được vai trò tiền
tệ và động lực của môi trường pháp lý trong sự nghiệp đổi mới chính sách tiền tệ’ hệ
thống tiện tệ- tín dụng- ngân hàng, trải qua nhiều thử nghiệm tìm tòi và nắm bắt tín
hiệu thực tế, chúng ta đã bước đầu xác lập được những nhân tố cơ bản của môi trường
pháp lí. Từ việc ra đời hai pháp lệnh ngân hàng với tư cách là văn bản luật đầ tiên
nhằm điều chỉnh các quan hệ quản lí, kinh doanh tiền tệ,tín dụng, ngân hàng đến nay
đã có các luật NHNN và luật các tổ chức tín dụng đã được quốc hội thông qua và bắt
đầu có hiệu lực từ 1/10/1998. Những năm gần đây, việc đưa 2 luật này vào áp dụng
trong thực tế đã được chú trọng hết sức nhằm tạo ra một hành lang pháp lí mới thông
thoáng và hiệu quả.

1. c. Hoạt động tiền tệ ngân hàng có nhiều thành tựu đáng khích lệ.

Mặc dù việc hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực và ngăn chặn sự lan truyền của
khủng hoảng kinh tế tài chính châu á đối với nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là
tích cực. Thực tế các nước chịu sự tấn công mạnh nhất của cuộc khủng hoảng nh ư
Indonêxia, Hàn quốc... đậm nét trong khi đó các nước nằm ngoài tầm của cuộc khủng
hoảng như Việt Nam. Đối phó với sức ép đó và thực hiện việc lành mạnh hoá hệ thống
ngân hàng trong bối cảnh hội nhập hàng loạt các giải pháp tiền tệ tín dụng đã được ban
hành.

Hệ thống ngân hàng hai cấp ngày nay đang đi vào nề nếp, NHTW đã thực sự trở
thành người cho vay cuối cùng, hệ thống ngân hàng thương mại rộng khắp và hoạt
động dưới sự chỉ đạo của NHTW Việc tự chủ kinh doanh và việc xoá sự bao cấp của
nhà nước khiến cho các ngân hàng càng ngày cangf phải tích cực giảm thiểu chi phí
hoạt động, nhằm kinh doanh có hiệu quả nhất. Các ngân hàng đã nâng cấp nhiều về
trang 5thiết bị, đã đưa dược công nghệ tiên tiến vào quản lí ngân hàng, trang bị hàng
loạt các máy vi tính từ NHTW đến các chi nhánh NHNN địa phương bằng hệ thống
thanh toán qua mạng vi tính đã thu hút được kết quả khả quan. Đây có thể coi là mmột
bước chuyển về chất lượng trong điều hành hoạt động tiền tệ, ngân hàng. Một vài con
số đáng được ghi nhận:

Cho đến hết tháng 6/1999, huy động vốn của hệ thống ngân hàng tăng 9,3% so
với đầu kì. Ngân hàng ngoại thương đạt 34% đối với đồng nội tệ và 10,6% đối với
đồng ngoại tệ. Tổng dư nợ nền kinh tế tăng 6% trong đó tín dụng trung và dài hạn
chiếm trên 40% tổng dư nợ và đạt 45,8% trên địa bàn Hà Nội. phải khẳng định rằng
những kết quả đó là rất đáng khích lệ, bởi vì, các lợi thế có được như sự ổn định tương
đối của nền kinh tế- chính trị- xã hội, chi phí vốn thấp và tăng trưởng kinh tế tương đối
cao. Do phương hướng điều hành một chính sách tiền tệ lỏng đã được dặt ra ngay từ
đầu năm.

2. Những kết quả đạt được do sự xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ đúng
hướng phù hợp với diễn biến của nền kinh tế

2.1. Về chính sách lãi suất và các công cụ bổ trợ

Do vốn vay chiếm tới 80- 90% tổng số vốn sản suất nên việc giảm lãi suất đã
được đặt ra nhằm giảm chi phí hoạt động của nênf sản xuất. Tuy nhiên, do hệ thống
nhân hàng cũng ở tình trạng rất khó khăn nên lúc đầu việc hạ lãi suất chỉ áp dụng đối
với các ngân hàng mậu dịch quốc doanh (Chỉ thị 1/1999/CT- NHNN 29/1/1999 quy
định trần lãi suất tín dụng của các ngân hàng mậu dịch quốc doanh pá dụng đối với
khách hàng khu vực thành thị sẽ giảm từ 1,2 xuống 1,1%/tháng đối với tín dụng ngắn
hạn, từ 1,25 xuống 1,15/ tháng đối với tín dụng trung và dài hạn). NHNN đã tiến hành
giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc(Quyết đinh số 52/1999/QĐ- NHNN ngày 10/2/1999) Việc
giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đựoc coi là bứoc đệm cho việc hạ lãi suất đồng loạt vào
31/5/1999.

Trong suốt thời gian qua, lãi suất đã thực sự là một công cụ điều hành chính
sách tiền tệ đắc lực. Đặc điểm sử dụng lãi suất NHNN mang tính trực tiếp theo yêu cầu
tăng cường vốn đầu tư phát triển kinh tế và thực hiện một số chính sách xã hội. Cho
đến nay, ta đã thực thi và hoàn thiện dần cơ chế lãi suất riêng và đang đang trên con
đường tiến tới tự hoá lãi suất. Từ đầu tiên các tổ chức tín dụng được tự do ấn định lãi
suất kinh doanh tứ tụ do hoá lãi suất trong phạm cho phép do NHNN công bố vào
1/1/1996 với chênh lệch lãi suất cho vay. Luật NHNN có hiệu lọc tù 1/10/1998 tại điều
18 quy định :” NHNN công bố lãi suất cơ bản và lãi suất tái cấp vốn “ và tại điều 19
ghi rõ “Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNN công bố để các tổ chức tín dụng ấn định
lãi suất kinh doanh “. Những thanh công trên đây là kết quả của một quáy trình từ điều
chỉnh lãi suất một cách tình thế sang một cách chiến lược có tính lâu dài cho cơ chế lãi
suất.

Việc vận dụng những công cụ trực tiếp của chính sách tiền tệ. Tuy nhiên điều
đó là hoàn toàon phù hợp với điều kiện nền kinh tế nước ta đi lên từ một xuất phát
điểm tương đối thấp. Việc xây dựng nền móng và tiến dần lên sử dụng các công cụ
gián tiếp cũng đựoc chú trọng và đạt nhiều thành tích đáng kể. Công cụ lãi suất đã nói
trên cũng đã tiếp cận dần với lãi suất thị trường. Tỷ giá hối đoái cũng linh hoạt và phản
ánh đựoc cung cầu vốn trên thị trường. Công cụ dự trữ bắt buộc đã được áp dụng chặt
chẽ hơn và có quyết định xử phạt rõ ràng. Lãi suất tái chiết khấu cũng đã được nghiên
cứu áp dụng sao cho nó trở thành công cụ chính thay cho lãi suất tín dụng hiện nay.
Công cụ nthị trường mở đã bắt đùa triển khai và thử nghiệm, đồng thời chúng ta cũng
tạo ra được một số công cụ để sử dụng nghiệp vụ thị trường mở.

2.2.Về tỷ giá

Bước vào thời kỳ đổi mới, trong những năm đầu,nhà nước vẫn duy trì chính
sách 2 tỷ - Tỷ giá do nhà nước quy định và tỷ giá thị trường tự do. Tỷ giá nhà nước
thường thấp hơn so với thị trường tự do. Với sự duy trì hai tỷ giá cùng với sự khan
hiếm ngoại tệ mạnh, nạn đầu cơ ngoại tệ nâng tỷ giá đã gia tăng. Nhà nước vưa không
điều hành được tỷ giá vừa không dự trữ được ngoại tệ. Việc ấn định tỷ giá gần với tỷ
giá thị trường có ý nghĩa quan trọng và còn mang tính chiến lược về kinh tế.

Do đồng tiền của các các nước châu á có xu hưóng ổn định ở mức giá trị thấp
hơn so với các ngoại tệ mạnh, nên sức cạnh tranh yếu kém của hàng hoá Việt Nam một
phần cũng xuất phát từ chế độ tỷ giá VND. Cùng với các bài học rút ra từ việc điều
hành tỷ giá của các nước khủng hoảng,sự ra đời của luật ngân hàng,vấn đề quản lý
ngoại hối đựoc thực hiện nghiêm minh và đặc biệt là sự cã thiện trong việc kiềm chế
lạm phát thời gian qua. Thị trường hoá chế độ tỷ giá đã được đặt ra. Quyết định
64/QĐ- NHNN ngày 25/2/1999 qui định:”NHNN công bố tỷ giá giao dịch bình quân
hàng ngày trên cơ sở tỷ giá thực tế bình quân hình thành ở thị trường ngoại tệ liên ngân
hàng của ngày giao dịch gần nhất”.

Trên thị trường, tỷ giá có tâưng chút ít vào 2 ngày sau khi quyết định 64 được
công bố, tới khoảng 14.150VND/USD ngày 26/2/1999. Nhưng sau dố tỷ giá đã giảm
xuống và ổn định ở mức 13. 950VND/USD. Như vậy, cơ sở pháp lý cho việc điều tiết
tỷ giá của NHNN trên cơ sở thị trường đã được xác lập, góp phần tạo thế ổn định cho
sản xuất trong nước và khuyến khích xuất khẩu. Sự ổn định của tỷ giá sau khi điều
chỉnh cơ chế điều hành tỷ giá phần nào phản ánh sự thành công của hoạt quản lý tiền
tệ- ngân hàng.

2.3. Thị trường tín dụng

Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng ngân hàng đã được cải thiên theo
hướng thị trường, nhưng thực tế sự nôn nóng trong việc vực dậy nền kinh tế đã mở
rộng hoạt tín dụng bao cấp đối với hầu hết các khu vực kinh tế.

Với qui chế 324, cơ chế cải thiện từng bước. Tính hiệu quả đã được đề cao
trong các quyết định tín dụng ; thời hạn tín dụng được điều chỉnh theo chu kì sản xuất,
kinh doanh, đối tượng vay tín dụng được mở rộng... Song hoạt động tín dụng thực tế
vẫn bế tắc. Cho đến 31/3/1999, tăng trưởng tín dụng và lãi suất thực tế mà ngân hàng
cơ sở cho vay đã giảm mạnh. Trước thưcj trạng đó, cùng với việc đẩy mạnh thực hiện
CNH- HĐH_nông nghiệp - nông thôn cấp tín dụng không cần thế chấp đã được mở
rộng theo quyết định 67/QĐ- TTg ngày 31/3/1999 và quyết định 148/QĐ- TTg ngày
7/7/1999 đã cụ thể hoá vấn đề này với nội dung cụ thể là các hộ nông dân dược vay
không cần thế chấp tới 10 triệu VND. Kết quả khảo sát cho thấy trong 3 tháng 4,5,6 d ư
nợ cho vay phục vụ phát triẻn nông nghiệp- nông thôn đã tăng mạnh tăng 7%, NHCT
tăng 8% và NHNT tăng 25%.

2.4.Về thị trường tài chính thứ cấp

Quyết định số 140/QĐ- NHNN 14 ngày 19/4/1999 (có hiệu lực sau 15 ngày) về
việc mua bán nợ giửa các tài chính tín dụng cũng là một tư tươngr hoàn toàn mới
tri\ong việc điều hành hoạt động tiền tệ và ngân hàng. Thực chất của qui chế này là tạo
môi trường pháp lý cho việc hình thành thị trường thứ cấp các tài sản của hệ thống tài
chính tín dụng. Mặc dù thời gian hoạt động chưa nhiều để có thể đánh giá được hoạt
động mua, bán nợ giữa các tài chính tín dụng, nhưng có thể khẳng định được sự tồn tại
cũng như những tác động tích cực của cơ chế này.

Thứ nhất, đối với thị trường tài chính sự ra đồi của các thị trường thứ cấp là một
tất yếu và sẽ có tác dụng tích cực đối với thị trường sơ cấp.

Thứ hai, trong điều kiện việc tạo các nguồn vốn trung và dài hạn trong nền kinh
tế tương đối hạn chế, ma fnhu cầu vốn trung và dài hạn rất lớn, thì việc hình thànhg thị
trường thứ cấp là các tái sản có của hệ thống tài chính tín dụng sẽ xó tác dụng tích cực
trong việc chuyển đổi thời hạn giữa các nguồn vốn ngắn hạn sang các khoản tín dụng
trung- dài hạn.

Bên cạnh đó,việc thiết lập môi trường pháp lý cho thị trường thứ cấp các tài sản
có của hệ thống các trung gian tài chính còn có tác dụng tích cực đối với việc tối đa
hoá hiệu suất sử dụng vốn, qua đó góp phần giảm lãi suất tín dụng và tạo điều kiện cho
NHNN thực hiện chức năng người cho vay cuối cùng hiệu quả hơn.

2.5. Kiềm chế lạm phát ổn định tương đối sức mua của đồng tiền Việt Nam

Cho đến nay, không ai có thể phủ nhạn được những thành quả trong việc kiềm
chế lạm phát của chính phủ Việt Nam trong thời gian vừa qua mà trong đó chính sách
tiền tệ có một vị rí vô cùng quan trọng trong việc kiềm chế lạm phát đó.

Trong những năm cuối thập kỷ 80,lạm phát ở Việt Nam ở mức rất cao, còn nền
kinh tế tăng tương đối chậm. Nhưng từ đầu thập niên 90 cho đến nay với việc đổi mới
mạnh mẽ hoạt động nngân hàng và thực hiện thành công chính sách tiền tệ nên lam
phát đã đựoc giảm thấp và kiềm chế. Năm 1994 lạm phát 14.4%, 1995 12,7%, 1996
lạm phát 4,5% 1997 là 3,6%.. Trong khi đó nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định
:Năm 1994 là 8,8%, 1995 là 9,5%, 1997 là 9% tháng 6/1998 là 6,64%.

Điều đó cho thấy nứoc ta với điểm xuất phát năm sau cao hơn năm trước, nhịp
độ tăng trưởng chẳng những không lùi mà vẫn tiếp tục tăng khá cao, đồng thời tỷ lệ
lạm phát đựoc kéo xuống. Điều đó khẳng định rằng chính sách tiền tệ của chúng ta là
phù hợp và có hiệu quả.
Ngược lại, với xu nhướng giảm lạm phát là sự gia tăng nhanh chóng của khôíu
lưọng huy đọng tiết kiệm và khôí lượng cho vay so năm 1995 với năm 1991 số dư tiền
gửi tiết kiệm tăng khoảng 3 lần, khối lượng cho vay tăng hơn 4 lần tổng dư nợ đầu tư
cho nền kinh tế tăng hơn 50%. Một dấu hiệu đáng khích lệ không kém là cơ cấu tiền
vay, tiền gửi ngân hàng dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng nguồn dài hạn. Còn có
thể kể ra những đóng góp khác của chính sách tiền tệ trong việctạo lập môi trưòng kinh
doanh bình đẳng, thúc đảy tăng trưởng xuất khẩu, xoá đói giảm nghèo...

Tuy vậy, cần làm rõ cốt lõi của tấ cả các thành tưuđạt được. Diểm mấu chốt
năm trong sự phù hờp của hướng tiếp cận đén chính sách tiền tệ với logic của tiến trình
đổi mới.

Có 3 đặc trung chính thể hiện sự phù hợp đó :

Một là, chính sách tiền tệ quán triệt di theo đưòng lối chuyển sang kinh tế thị
trường mởi cửa.

Hai là, nỗ lực để chính sách tiền tệ thực sự trở thành công cụ điều hành kinh tế
vĩ mô hưu hiệu trong tay nhà nứoc.

Ba là, Sự đồng hướng và phùi hợp của chính sách tiền tệ với tất cả các chiónh
sách kinh tế vĩ mô khác được áp dụng trong quá trình đổi mới.

ở những mức độ khác nhau, cả ba đặc trung này đều chứa đựng trong từng giải
pháp tiền tệ đẫ nói trên. Tổ hợp chống lại đó là lời giải thích đầy đủ hơn cả về thành
công của chính sách tiền tệ của toàn bộ quá trình chuyển đổi nền kinh tế nhìn từ gốc đọ
chính sách tiền tệ. Với cách tiếp cận đó, chính sách tiền tệ đã góp phần to lớn vào việc
thực hiện hai mục tiêu khôi phục ổn định và thúc đảy tăng trưởng kinh tế.

II. Tồn tại và nguyên nhân

Trong quá trình thực nthi chính sách tiền tệ thời gian qua, chúng ta đã đạt được
nhữn thành tựu đáng kể, nhưng mặc dù vậy cũng không tránh khỏi những bộc lộ yếu
kém. Có thể tóm tắt những mặt tồn tại, hạn chế chính sách tiền tệ ở nước ta trong thời
gain qua như sau :

Việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam mới ở thời điểm
“sơ khai”, “xuất phát “. Thông thường NHNN dựa vào những tín hiệu của nền kinh tế
để xá định lượng tiền cung ứng trình chính phủ phê duyệt, bổ sung, điều chỉnh. Vẫn
mang nặng “đối phó “ trứoc mắt mà còn chưa có được tính chiến lựoc lâu dài nên dễ bị
động hiệu quả và độ tin cậy thấp.

Việc thực thi các công cụ chính sách còn nhiều mặt hạn chế :

+ Hạn mức tín dụng NHNN có quy định cho các NHTM nhưng tốc độ tăng dư
nợ chậm. Do đó, ý nghã thực của công cụ này trước thực tế hiện nay chưa được phát
huy tác dụng.

+ Nghiệp vụ thị trường mở mới ở dai đoạn thí điểm dự báo vốn khả dụng.

+ Công cụ lãi suúat được sử dụng thường xuyên, linh hoạt hơn đẫ theo tín hiệu
thị trường để điều chỉnh. Tuy niên, có lúc lãi suất thay đổi còn chậm so với thục tê,
đồng thời có thời kỳ lại liên tục điều chỉnh gây khó khăn cho người gửi cũng như
người vay, dễ hoang mang thiếu ổn định về tâm lý.. Việc tính toán điều chjỉnh lãi sút
mới chỉ dựa vào hiệu ứng về hình thức biểu hiện của chỉ số giá cả tăng, giảm (nặng về
quan điểm “trọng tiền”. Chỉ số lạm phát bằng chỉ số giá cả bình quân băng lãi suất
tăng). Trong khi còn nhiều yếu tố tác đọng khác làm cho giá cả biến động nhưng chau
đựoc phân tích một cách sâu sắc và chuă lượng hoá được thành các tiêu chis cụ thể đẻ
xử lý tổng thể. Chẳng hạn, nếu sức mau của dân giảm (do nhiều nguyên nhân khác
nhau) sẽ dẫn đến gia cả giảm (nhìn theo góc độ cung cầu) hoặc ngược lại. Trong
trưòng hợp này, nếu không phân tích đày đủ, tìm hiểu kỹ nguyên nhân dẫn đén sức
mua giảm của dân cua, mà dừng mức cảm nhân, dự đoán đẻ quyết định việc thay đổi
laic suúat giảm thì chua đủ độ tin cậy đảm bảo tính xác thực, khách quan của sự biến
động đó. Rất có thể bất lợi khi điều chỉnh.

Mặt khác, yếu tố tâm lý, sở thích của người dân trong từng điều kiện cụ thể
cũng tác động đến quan hệ cung cầu(có những tác động “giả”). Vởy điều cần phải làm
là tìm tín hiệu thực và phải lượng hoá các yếu tố tác động cụ thể.

+ Công cụ tỷ giá lâu nay NHNN sử dụng để điều chỉnh tăng giảm biên độ quan
hệ tỷ giá giữa đồng Viêtj Nam và ngoại tệ. Như chúng ta đã biết, lý thuyết xác định tỷ
giá căn cứ vào giá cả bình quân của một số loại hàng hoá chủ yếu mỗi nước. Có nghĩa,
khi giá cả bình quân của mỗi nước thay đổi sẽ ảnh hưởng đến quan hệ tỷ giá. Đối với
Việt Nam, việc xác định tỷ giá chủ yếu vẫn dựa vào hiện tượng giá cả biến động và dự
đoán những tác động để xác định và điều chỉnh. Việc đưa ra những cơ sở, tiêu thức và
một phương pháp tính toán cụ thể cho từng yếu tố tác động(đo bằng lượng giá trị) vẫn
đang là những vấn đề trăn trở.

Chưa có biện pháp hữu hiệu tập trung các nguồn lực thúc đẩy CNH- HĐH.

Thị trường tiền tệ chưa phát triển. Hoạt động ngân hàng có nhiều biểu hiện chưa
lành mạnh (Qui định, qui chế chưa được chấp hành nghiêm chỉnh.. )

Chính sách tiền tệ và chính sách tài chính quốc gia chưa thực sự ăn khớp với
nhau. Chúng ta tìm hiểu sâu hơn về khía cạnh cụ thể sau.

1. Những tồn tại trong cơ chế lãi suất hiện hành

Tháng 6/1992 đã được NHNN coi là một mốc quan trọng, đánh dấu sự chuyển
giai đoạn từ chính lãi suất lãi suất thực dương, chấm dứt khâu cuối cùng của sự bao
cấp qua tín dụng,bắt đầu chính sách lãi suất tín dụng hạot động theo cơ chế thị trường,
nhưng thực tế hoạt lại hoàn khác.

NHNN còn can thiệp quá sâu vào việc ấn định các mức lãi suất của NHTM, vẫn
còn qui định nhiều mức lãi suất khống chế khác nhau. Bắt đầu là khung lãi suất rời bây
giờ là trần lãi suấtvà chênh lệch lãi suất. Cho đến nay, hầu như NHTM ở nước ta chưa
tạo được nhiều nguồn vốn dài hạn, thể hiện ở lãi suất ngân hàng còn mang nặng t ư duy
kinh tế thời bao cấp, người gửi tiền dài hạn muốn lãi suất cao người vay vốn dài hạn
đòi lãi suất thấp.

Mức lãi suất trong cả nước chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế thị
trường. Hiện nay việc qui định mức lãi suất thống nhất chưa tạo được sự mềm dẻo linh
hoạt theo yêu cầu thị trường từng vùng, khu vực. Cũng như thị trường hàng hoá trong
thị trường vốn, mức cung cầu về vốn ở mỗi vùng, mỗi khu vực khác nhau thì đòi hỏi
giá cả của vốn tiền tệ cũng khác nhau. Vì vậy, nếu qui định một mức giá cả thống nhất
sẽ dẫn đến tình trạng sử dụng công cụ lãi suất kém linh hoạt.

Còn có sự chênh lệch lớn giữa lãi suất tín phiếu kho bạc cà lãi suất tiền gửi tiết
kiệm của ngân hàng nên nhiều khi ảnh hưởng lớn đến hoạt đọng nguồn vốn của ngân
hàng. Ta biết rằng, tín phiếu kho bạc là một cơ quan thuộc bộ máy quản lý tài chính
nhà nước (kho bạc nhà nước) thay mặt chính phủ phát hành nhằm huy động tiền mặt
trong xã hội theo yêu cầu cân đối ngân sách nhà nươcs twngf thời kì,việc vay này
không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời, bởi vậy, thường có mức lãi suất cao hơn
lãi suất tiền gửi ngân hàng. Vì vậy, tín phiếu kho bạc đã thu hút được người cho vay
(mua) hơn là gửi tiền vào ngân hàng, làm cho nhân hàng khó khăn vì giảm phần nào
vốn huy động, làm ảnh hưởng đến qui mô tín dụng đã được định trước theo ké hoạch,
ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch tài chính và nghĩa vụ với NHNN và sâu hơn
nữa là phá vx sự kiến thiết mặt bằng lãi suất tín dụng. Có thể nó,do sự nghèo nàn về
chủng loại các sản phẩm đầu tư tài chính đã dẫn đến tình trạng, tiền gửi tiết kiệm ngân
hàng vẫn tăng trong khi lãi suất huu động liên tục giảm xuống. Đứng trước tình trạng
này, hệ thống ngân hàng cho rằng nhà nước cần phải thực hiện chính sáh bội chi ngân
sách ca0 hơn. Trong đó ngân sách nhà nước chỉ cấp một phần vốn cho các công trình
lớn,phần còn lại để chủu công trình tìm kiếm nguồn vốn từ bên ngoài (vay các ngân
hàng thương mại).

Việc xử lí mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái bằng việc tâưng nhẹ dần
lãi suất cho vay bằng VND và điều chỉnh lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ trong năm
1988 là kịp thời, góp phần điều hoà thị trường nội, ngoại tệ hạn chế chuyển đổi từ
VND sang ngoại tệ.

Tuy nhiên, việc tăng nhẹ trần lãi suất cho vay bằng VND sẽ gây thêm khó khăn
cho sản xuất kinh doanh trong nước, nhất là khi nền kinh tế đang ở tình trạng suy thoái.
Mặt khác, lãi suất tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức kinh tế tại các tổ chức tín dụng
giảm từ 1- 15%/năm nhưng tỷ giá lại điều chỉnh tăng 15%(theo tỷ giá chính thức) tăng
135 (theo tỷ giá giao dịch trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng). Hơn nữa, lãi suất
tổng tiền vay ngoại tệ giảm nhưng tỷ giá hối đói tăng làm hạn chế nhu cầu vay bằng
ngoaị tệ của các doanh nghiệp muốn phát triển sản xuất kinh doanh dẫn tới tình trạng
nền kinh tế thiếu vốn.
2. Tỷ lệ tín dụng chung, dài hạn tăng và không tuơng xứng với tốc độ tăng nguồn
vốn huy động của các loại vốn này

Trong vòng quay kinh tế thị trưòng, nhu cầu vốn là rất cao, thì nguồn vốn đầu tư
từ ngân sách hàng năm cho đàu tư còn rất hạn hẹp, vốn tự có của các doanh ngiệp rất
nhỏ, do vậy các doanh ngiệp khi vần vốn cho sán suất kinh doanh đều trrong chờ vào
nguồn vốn chung và dài hạn của hệ thống ngân hàng. Trong khi đó nguồn vốn chủ yếu
của các NHTM là nguồn vốn ngắn hạn (chiếm tới 90%) nên NHTM không đáp ứng
được nu cầu vốn trung và dài hạn. Tình trạng này chưa có giải pháp tối ưu, mới chỉ có
giải pháp tình thế là nghành ngân hành cho phép “ Trích 20% tổng nguồn vốn ngắn
hạn sang cho vay trung và dài hạn”, còn doanh nghiệp thì “lấy ngăn nuôi dài “. Sỡ dic
tình trang trên tồn tại là vì :

Thứ nhất, yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến huy động vốn trung và dài hạn của
ngân hàng là thị trường chứng khoán ở nước ta hiện nay ởo dao đạn sơ khai,các sản
phẩm trrên thị trường tìn tệ chưa nhiều, hoạt động đơn giản, thuần tuý. Mặt khác hệ
thống pháp luật còn thiếu những quy định toàn diện trong việc điều chỉnh các hoạt
đôngj, tiếp theo kà những hạn chế của chính ngành ngân hàng trong mọi hoạt đọng,
chu chuyển nguồn vốn của các doanh nghiệp.

Thư hai, hiện nay những người có tiền nhãn rỗi chưa dùng hết thì chưa tìm kiếm
được những địa chỉ tin cậy, bản thân từng ngân hàng chưa khăng định được những
khoản tiền dai hạn thì lợi ích của người gửi tiền đựoc đảm bảo lâu dài như thế nào, lợi
nhuận bao nhiêu..

Thứ ba, các ngân hàng còn thiếu các công cụ huy đọng vốn dài hạn và thiếu thị
truờng thứ cấp để luân chuyẻen và tạo thành tính thanh khoản dễ dàng của các công cụ
này.
3. Tái cấp vốn và việc kiểm soát lượng tiền cung ứng

Thực hiên mục tiêu của chính sách tiền tệ. NHNN đã sử dụng nghiệp vụ tái cấp
vốn như là công cụ để điều tiết việc mở rộng hay thu hẹp tổng khối luợng tiền hay tổng
phương tiên thanh toán trong nền kinh tế. Từ tổng khối lưọng tiền cung ứng đựoc phép
tăng lên hàng năm NHNN kiểm soát chặt chẽ khối lưọng tín dụng tương ứng cho các
NHTM qua nghiệp vụ tái cấp vốn. Tuy nhiên, do trong nền kinh tế chưa lưu thông hối
phiếu và thương phiế nên NHNN chưa có điều kiện thực hiện tái cấp vốn qua tái chiết
khấu các kỳ phiếu thương mại, cũng như chưa tái cấp vốn qua các thế chấp bằng
những chứng từ có giá. Trên tầm vĩ mô NHNN vẫn chua kiểm soát đượ toàn bộ các
kênh tín dụng nằm ngoài ngân hàng, như khối lưọng tín dụng của tổng cục đầu tư và hệ
thống kho bạc. Đay là một mảng của tổng phương tiện thanh toán cần nằm trong sự
kiểm soát của NHNN.

4. Những tồn tại trong quy chế dự trữ bắt buộc

Từ năm 1991, dự trữ bắt buộc được áp dụng như một công cụ chủ yếu để điều
hành chính sách tiền tệ theo pháp lệnh ngân hàng, tỷ lệ dự trũ bắt buộc có thể ở mức 10
- 35% tổng nguồn vốn huy động của cá NHTM. Song xét hoàn cảnh thực tế, tiềm lực
của các NHTM Việt Nam còn nhỏ bé và mức lạm phát đã đuợc kiềm chế cho NHNN
Việt Nam quyéet định dự trữ bắt buộc ở mức 10%. Tỷ lệ này từ năm 1991 tới nay,
nhưng kỷ luật chấp hành của các NHTM chưa nghiêm nên tác dụng của các công cụ
này kém hiệu quả.

5. Những tồn tại trong tổng nguồn vốn huy động và mức dư nợ cho vay trong nền
kinh tế bị tăng chậm

Năm 1998, như đã biết tổng nguồn vốn huy đọng qua hệ thống ngân hàng có
hướng tăng chậm lại. Nếu như năm 1997 huy đọng vốn tăng 31,5% (qua hệ thống ngân
hàng) thì năm 1998 chỉ còn 25%, 3 tháng đầu năm 1999 chỉ còn 4,16% so với đầu năm
(Quý I năm 98 tăng 5,9%). Thực trạng của nền kinh tế xã hội nước ta nhất là sự tác
động của cuộc khủng khoảng tài chính tiền tệ khu vực, đã làm cho nhu cầu và khả
năng hấp thụ vốn của nền kinh tế bị suy giảm nghiêm trọng. Thị trường tiêu thụ sản
phẩm thu hẹp cũng khiến tốc đọ chu chuyển vốn trong nền kinh tế bị chậm lại, hiệu
quả kinh doanh và các nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng. Tất cả
những điều này đã dẫn đến dư nợ cho vay của các tố chức tín dụng cũng có xu hưóng
tăng chậm lại. Năm 1997 dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng tăng 27,2%. Năm
1998 là 19% quý I năm 1999 là 0,8%
Phần III

Những giải pháp nhằm hoàn thiện

chính sách tiền tệ trong giai đoạn hiện nay



I. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đến kinh tế thế giới và Việt
Nam

Đó là cơn bão (Khủng hoảng tài chính - Tiền tệ bùng nổ tại châu á chắc hẳn mọi
người còn nhớ. Tại Thái Lan vào 2/7//1997 sau đó tràn qua các nước Philipin,
Maliaxia, Indonxia,Hàn quốc, Nhật bản.. Và gần như tàon khu vực đều bị ảnh hưỏng
nặng nề. Nguyên nhân cơn bão đã đựoc các nhà kinh tế phân tích, nghiên cứu gần bốn
năm qua. Xin nêu lên các nguyên nhân cơ bản như :Nền kinh tế phát triển với tốc độ
rất cao vượt quá khả năg nội tại của nền kinh tế, Chính sách đầu tư bất hợp lý và không
hiệu quả, chất lượng kém, nợ quá hạn tăng nhanh, hệ thống ngân hàng tư nhân kém
hiệu quả, vai trò quản lý kinh tế của chính phủ yếu, tình trạng tham nhũng bê bối gia
tăng, thi hành chính sách tự do hoá thị trương tài chính, đồng tiền gần như buộc chặt
với đồng USD 13 năm không đổi, Cán cân thương mại từ nhập siêu cán cân vãng lai
thâm hụt ở tỷ lệ cao. Ví dụ như :Năm 1996 ở Thái Lan là 9,1% GDP, Indinonexia là
3,5% GDP Malaixia là 8,6% GDP. Nợ nước ngoài quá lớn (Hàn quốc 153 tỷ USD
Indonexia 133,3tỷ USD, Thái lan 92,9tỷ USD, Philippin 39,4 tỷ USD, Malaisia 28,9 tỷ
USD).

Dự trữ ngoại tệ thấp Indonexia 19,3 tỷ USD, Thái lan 28tỷ USD Philippin 8,3tỷ
USD Maláiia 21,1tỷ USD)dân chúng không tin tưởng ở chính phủ, dễ bị hoảng loạn, bị
các nhà đầu cơ chứng khoán tấn công (Geogre Soros vào tháng năm 1997).

Tác động của cuộc khủng khoảng tài chính tiền tệ đến kinh tế Việt Nam.

Việt Nam nằm trong khu vực xảy ra cơn bão tiền tệ, vả lại có những nguyên
nhân dẫn đến căn bệnh khủng hoảng tài chính điều có tại Việt Nam.

Nền kinh tế phát triển cao, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, hiệu quả kinh tế kém,
năng suất lao động thấp đặc biệt là trong doanh nghiệp nhà có khoảng 63% doanh
nghiệp nhà nước hoạt nđộng không có hiệu quả, trong đó có 35% doanh nghiệp nhà
nước thua lỗ.

Đầu tư quá nhiều vào lĩnh vực bất động sản (khách sạn nhà hàng, văn phòng
cho thuê,đất đai.. ) đến nay đã có dầu hiệu cung vượt cầu.

Hệ thống ngân hàng yếukém, chất lượng tín dụng yếu kém, nợ quá hạn cao
(năm 1997 tại các ngân hàng tại các ngân hàng ở thành phố Hồ Chí Minh là 19,3%, cả
nước khoảng 10%) Ngân sách nhà nước bội chi ở cấp độ cao năm 1997 là 3,5% GDP
tăng gấp 3 lần so với năm 1996 (1,2% GDP).

Cán cân thương mại nhập siêu với mức gia tăng năm 1994 là 1771,8 triệu USD,
năm 1995 là 2706,5 triệu USD, năm 1996 là 3859,3 triệu USD, năm 1997 là 2370 triệu
USD, làm cho cán cân vãng lai thâm hụt ở tỷ lệ lớn, năm 1996 là 11,2% GDP, năm
1997 là 5,5% GDP. Nợ nước ngoài trên 8 tỷ USD. Dự trữ ngoại tệ thấp: năm 1995là
1798 triệ USD, năm 1997 là 2260 triệu USD tương đương 10 lần xuất khẩu.

Tỷ giá hối đoái được giữ gần như cố định với USD trong 3 năm 1994- 1995-
1996 với tỷ giá 11000VND/USD, trong khi USD liên tục tăng giá so với ngoại tệ khác
trên thị trường quốc tế.

Tuy nhiên, do Việt Nam chưa có thị trường chứng khoán thứ cấp đồng tiền VN
chưa được tự do chuyển đổi, chính sách quản lý ngoại hối khá chặt chẽ, đầu tư nước
ngoài chủ yếu là đầu tư trưc tiếp (FDI) cho nên họ không thể rút vốn ồ ạt như ở Thái
Lan. Từ đó ảnh hưởng của “cơn bão tiền tệ” đến kinh tế tài chính Việt Nam sẽ không
lớn, nếu có biện pháp đề phòng và đối phó thích hợp.

Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của Việt Nam

1990 1991 1992 1993 199 1995 1996 1997
4
Tăng trưỏng GDP(%) 4,9 6,0 8,6 8,1 8,8 9,5 9,4 9,0
Lạm phát (% CPI) 60,0 67,5 17,6 5,2 14,4 12,7 4,5 4,0
Tăng trưởng cung tiền 32,4 78,7 33,7 19,0 21,3 30,2 28,0 -
M2(%)
Thâm hụt ngân sách - 8,8 - 4,4 - 7,6 - 4,9 - 4,1 - 0,4 -
(%)
Tiết kiệm trong nước 6,1 16,5 20,2 16,0 16,9 17,1 17,7 18,0
(%)
Tài khoản vãng lai - 5,6 - 1,9 - 0,7 - 8,3 - 6,9 - 9,8 - 16,2 - 8,6
(%GDP)
Dự trữ ngoại tệ (triệu 24 27 465 404 876 1376 1921 2300
USD)
Nợ dài hạn nước ngoài 14,6 15,3 17,7 17,7 19,6 11,32 10,95 10,14
(%GDP)
Đáp ứng số tháng nhập 0,2 0,2 2,2 1,4 2,1 2,2 2,1 3,2
khẩu
Nguồn :APEG, The Finacia Times. 1998 và Báo cáo thường niên 1997 NHNN 1997
Ngân hàng Nhà nước

Sản xuất trong nước vốn đã khó khăn, nay bị hàng ngoại tràn vào do gia rẻ, từ
đó gay ra tình trạng đình đốn trong sản xuất, khả năng thanh toán nợ ngân hàng giảm
sút. Đầu tư trực tiếp nước ngoài , yếu tố quan trọng trong nền kinh yế Việt Nam cũng
bị chững lại. Năm 1997 tổng vốn đầu tư đã cấp giấy phép cho các dự án FDI là 5,5 tỷ
USD trong khi đó năm1996 là 9,2 tỷ USD, năm tháng đầu năm 1998 có 93 dự án
ddược cấp giấy phép với vốn đầu tư đăng ký là 1151 tỷ USD. Kể từ khi có luật đầu tư
nước ngoài (1987- 6/1988) vào Việt Nam đã cấp giáy phép với vốn đăng ký là 32,3 tỷ
USD cho 2437 dự án.

Điểm đáng lưu ý là 70% đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian qua là
các nước châu á: Malaixia, Thai lan,singapore, Nhật bản, Hàn quốc..

Đối với nhiều người, cuộc khủng hoảng châu á là một minh chứng cho rằng các
nguồn vốn luôn có tính mất ổn định vì vậy mang lại những hậu quả xấu cho chính nền
kinh tế châu á. Những luồng vốn luôn thay đổi làm cho chính sách sách kinh tế vĩ mô
của các nền kinh tế nhỏ mới nổi trở nên hết sức phức tạp. Nguyên nhân sâu xa của sự
sụp đổ hệ thống tài chính ở châu á chính là do sự kiểm soát vốn. Nhưng việc kiểm tra,
giám sát các luồng chu chuyển vốn bản thân nó không thể chữa trị cho những nội tại
yếu kém trong nền kinh tế châu á. Và vì vậy hiệu quả của các biện pháp kiểm soáy vốn
để bảo vệ nền kinh tế cũng là hết sức mong manh. cụ thẻ ở Việt Nam năm 1998 nhà
nước bố trí kế hoạch xây dựng cơ bản tập trung với tổng mức vốn đầu tư là 14028,3 tỷ
đồng (vốn trong nước: 8088,3 try đồng, vốn ngoài nước 5940,4 tỷ đồng), trong đó:

Các công trình dự án cho các hộ, nghành T Ư quản lý là:929,4 tỷ đồng (vốn
trong nước 4781,4 try đồng, vốn ngoài nước 4510 tỷ đồng).

Các công trình do địa phương quản lý là 4730 tỷ đồng. Về mặt hình thức, giá tfị
khối lượng thực hiện là vượt kế hoạch nhà nước giao (đầu năm và bổ sung trong năm).
Xong thực chất giá trị khối lượng trong năm kế hoạch không đạt. Những con số dưới
đây minh chứng cho điều đó.

Giá trị khối lượng thực hiện 15417,5 tỷ đòng bằng 109,9% so với kế hoạch. Giá
trị khối lượng trong kế hoạch chỉ thực hiện được 12449,4 tỷ đồng bằng 88,03% kế
hoạch được giao. Một vai con số trong bảng cho ta nhìn nhận bản chất của vấn đề này.

Giá trị khối lượng thực hiện và vốn cấp thanh toán


đơn vị : Tỷ đồng


Giá trị khối lượng thực hiện Luỹ kế cấp vốn từ đầu
đến 31/12/1998 năm KH đến 31/1/99
Tổng số Trong KH
Tổng số : 15417,5 12349,4 12275,96
- Vốn trong nước 10804,2 7736,0 7662,6
- Vốn ngoài nước 4613,3 4613,4 4613,4
Trung ương quản lý 9157,7 8013,2 8002,1
- Vốn trong nước 5656,9 4512,4 4501,3
- Vốn ngoài nước 3500,8 3500,8 3500,8
Địa phương quản lý 6259,8 4336,2 4373,8
- Vốn trong nước 5147,2 3223,6 3161,2
- Vốn ngoài nước 1112,6 1112,6 112,6
Những đặc trưng cơ bản của nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế xã hội giai
đoạn 1991- 1998

Trong 5 năm (1991- 1995) vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội là:193,537 tỷ đồng
(tính theo giá trị hiện hành) tương đương 18,6 tỷ USD. Trong đó, vốn đầu tư trong
nước là 137,305 tỷ đồng chiếp 29%. Vốn đầu tư trong nước thuộc khu vực nhà nước
70,011 tỷ đồng (bao gồm vốn NSNN, tín dụng nhà nước, doanh nghiệp nhà nước ầu
tư) chiếm 36,1% bình quân hàng năm tăng 16%. Khu vực ngoài nhà nước đã đầu tư
67,294 tỷ đồng, chiếm 37,7% so với đầu tư trong nước.

Trong 3 năm (1996- 1998) tổng mức vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện là
253,614 tỷ đồng tương đương khoảng 21 tỷ USD. So với mục tiêu huy động vốn đầu
tư toàn xã hội của kế hoạch 5 năm 1996- 2000 là 42 tỷ USD thì 3 năm 1996- 1998 đã
thực hiên được khoảng 48- 50%.

Nguồn vốn đầu tư huy động toàn xã hội ngày càng tăng so với GDP. Năm 1989
chỉ đạt :8- 9% GDP thì năm 1991 đạt 15,22 năm 1993 đạt 21%, năm 1995 đạt 26,3%
năm 1996 đạt 26,9% năm 1997 đạt 27,5%, năm 1998

Vốn đầu tư hiện toàn xã hội 1996 - 1998

Tổng 3 năm
1996 1997 1998
96 - 98
Nguồn vốn
huy động Tỷ
% Tỷ đồng % Tỷ đồng % Tỷ đồng %
đồng


Tổng vốn đầu 77814 100 90800 100 85000 100 253614 100
tư 30614 39,4 3800 41,9 3900 45,9 107614 42,43
Vốn nhà nước 21773 28,0 22000 24,2 20000 23,5 63733 25,19
Vốn ngoài QD 15000 20,1 14734 16,2 13500 15,9 43843 17,28
Vốn dân cư 26400 33,9 30800 33,9 26000 30,06 83200 32,80
Vốn FDI - 3,04 - 3. 49 - 3,6 -
Hệ số ICOR
II. Những định hướng cơ bản xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ ở nước ta
trong thời gian tới.

Nền kinh tế Việt Nam trải qua bao nhiêu giai đoạn thăng trầm nhưng cho đến
nay đã đạt được nhiều kết quả đáng mừng. Việc đánh giá thực trạng nền kinh tế từ đó
suy đoán sự vận động của nó trong tương lai là hết sưcs cần thiết cho việc hoạch định
bất cứ một chính sáh kinh tế nào.

Nhìn chung, có thể thấy nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn còn phải đối mặt
với nhiều khó khăn, bất cập hơn cơ chế thị trường vẫn đang trong quá trình thiết lập,
quản lý nhà nước vẫn còn kém hiệu lực, hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước
chưa đạt hiệu quả cao.. trong những năm tới, các cân đối vĩ mô có nhiều khó khăn hơn,
đặc biệt là cân đối ngân sách, cán cân thanh toán quốc tế, lạm phát, áp lực về lao động
và việc làm lớn, cuộc khủng hoảng tài chính khu vực còn ảnh hưởng nhiều, thêm vào
đó lại ảnh hưởng của thiên tai mà chúng ta vẫn chưa khắc phục hết (5/11/1999). Tuy
nhiên, những thuận lợi có thể nhìn thấy trước sự ổn định chính trị xã hội. Sự lớn mạnh
của thế và lực nền kinh tế Việt Nam qua nhiều năm đổi mới, quan hệ kinh tế đối ngoại
còn nhiều cơ hội để tăng thêm tiềm lực kinh tế thông qua hoạt động thương mại, đầu
tư, góp phần hỗ trợ cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đồng thời các chính sách đã
triển khai trong những năm trước sẽ phát huy tác dụng tốt. Như vậy, giai đoạn tới nền
kinh tế Việt Nam còn phảu đối đầu với rất nhiều khó khăn và việc giữ vững mức tăng
trưởng và phát triẻn là rát khó, đòi hỏi sự hoàn thiện dần của tất cả ccá chính sách kinh
tế, trong đó có chính sách tiền tệ, một công cụ hữu hiệu tạo nên một phần những thành
công trong giai đoạn qua và sẽ là công cụ đắc lực trong giai đoạn tới.

1. Điều hành cung ứng tiền tệ

Ngân hàng nnhà nước cần tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, trong
đó kiẻm soát khối lượng tiềh cung ứng,vừa đáp ứng đầy đư yêu cầu phương tiện thanh
toáncủa nền kinh tế theo tín hiệu thị trường, vừa kịp thơqì có các biện pháp để thu hút
tiền mặt về, giảm bvớt sức ép lạm phát khối lượng tiền tệ tăng thêm chỉ là một chỉ tiêu
có định hướngNHTU phaỉ theo dõi diễn biến của hoạt động kinh tế, của sự biến đổi
lượngđộng giá cả và tỷ giá hối đoái dể điều chỉnh kịp thờiviệc cung ứng tiền sao cho
việc tăng giảm khối lượng tiền tệ không ảnh hưởng đến giá cả thị trường và làm tắc
nghẽn lưu thông. Việc điều chỉnh này phải thực hện thông qua các nhu cầu đối ứng tạo
ra trong lĩnh vực tạo tiền bằng các chính sách tín dụng về ngoại hối. Tong quá trìng
điều hành, căn cứ vào tín hiệu của thị trường NHNN cần điều hoà khối lượng tiền cung
ứng vào các mục tiêu cho thích hợp và phương thức cung ứng tiền thông qua các kênh:

- Mua ngoại tệ cho quĩ dự trữ

- Cấp tín dungj cho NHTM thông qua chương trình tín dụng của nhà nước, vốn
cho ngân hàng phục vụ người nghèo.

- Cho vay tái cấp vốn, tái chiết khấu.

- Cấp đủ vốn điều lệ cho doanh nghiệp nhà nước.

- Tăng vốn điều lệ cho NHTM quốc doanh

- Nhiệp vụ thị trường mở.

2. Chính sách quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá

2.1. Chính sách quản lý ngoại hối

Để triệt thoái hiện tượng găm giữ, đầu cơ, đào hối ngoại tệ và tập trung hơn nữa
lượng ngoại tệ vao sự quản lý của nhà nước. Nghị định 63/NĐ- CP(17/8/1998)về quản
lý ngoại hối trong tình hình mới và ngày 12/9/1998 chín phủ đã ban hành quyết định số
173/QĐ- TTg và nghĩa vụ bán và quyền mua ngoại tệ của người cư trú là tổ chức trên
cơ sở tỷ lệ kết hối bát buộc 80% số ngoại tệ từ tài khoản vãng lai. Chính sách quản lý
ngoại hối phải hướng tới mục tiêu chủ yếu là bảo vệ đồng tiền Việt Nam, tạo tiền đề
cho tương lai có một đồng tiền Việt Nam chuyển đổi. Chính sách quản kýa ngoại hối
cần được kết hợp chặt chẽ với chính sách nhoạI thương để có kết quả bội thu trong cán
cân thương mại, ổn định tỷ giá hối đoái tăng dự trữ ngoại tệ.

Cán cân thanh toán quốc tế phải được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô.
NHNN phải phân tích điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế để đảm bảo cân bằng hợp
lý trong giao dịch đối ngoại.

2.2. Điều hành tỷ giá
Chính sách tỷ giá là một bộ phận của chính sách tiên tệ và có nhiệm vụ đảm bảo
ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát góp phần tăng trưởng kinh tế ở mức độ cao, bền
vững. với tư cách là một chính sách tỷ giá phải hướng vào thực hiện những mục tiêu có
tính đặc thù của mình:

- ổn định tỷ giá dựa trên mối tương quan cung cầu trên thị trường dể khuyến
khích xuất khẩu,cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại tệ.

- Từng bước nâng cao uy tín đồng tiền Việt Nam: đồng thời tào ra các điều kiện
cần thiết để đồng tiền Việt Nam trở thành đồng vtiền chuyển đổi.

- Phối hợp chặt chẽ với chính sách quản lý ngoại hối để khắc phục tình trạng đô
la hoá trong nền kinh tế. Chính sách tỷ giá phải hướng vào xử lý và điều hành tỷ giá
theo đuúng bản chất vốn có của nó- là một cơ chế thị trường.

Chính sách tỷ giá phải hỗ trợ tốt nhất cho chính sách xuất khẩu để cải thiện cán
cân thanh toán tăng dự trữ ngoại tệ.

Chính sách tỷ giá không được tách rời sự quản lý của nhà nước. Lựa chọn chế
độ tỷ giá thả nổi có sự điều ttiết của nhà nước.

Đổi mới cơ chế điều hành tỷ giá theo hướng tự do hoá dần. NHNN nên mở rộng
biên độ giao dịch từ từ đồng thời cân phải điều chỉnh tăng dần tỷ giá chính thức. Có
như vậy mới tránh được sự xáo trộn thị trường và kiềm chế tỷ giá thị trường tự do để tỷ
giá chính thức ở mức chênh lệch khá xa so với tỷ giá giao dịch của NHTM và tỷ giá thị
trường tự do là không hợp lý.

Khi nâng cao dự trữ ngoại tệ của nàh nứoc tương xứng nhịp độ tăng kim ngạch
xuất khẩu và khối lượng ngoại tệ đang có trên thị trường ở nước ta. Tập trung dự trũ
ngoại tệ vào một đầu mối trung tâm làNHNN.

Chuẩn xá hoá các chỉ số kinh tế vĩ mô như lạm phát lãi suất thực trạng cán cân
thanh toán, nợ nước ngoài để giúp cho nhà nước lựa chọn phương án điều chỉnh tỷ giá
có hiệu quả hơn.

Phải tạo thêm nhiều phương tiện chuyển giá trị làm phương tiện lưu thông,
thanh toán giảm bới áp lực nhu cầu tiền mặt trong lưu thông.
Cải cách hệ thống thanh toán, khuyến khích người dân mở tài khoản séc cá nhân
và thanh toán qua hệ thống ngân hàng. Củng cố và phát triển thị trường ngoại tệ liên
ngân hàng, một cơ sở hạ tầng rất quan trọng để NHNN can thiệp và điều chỉnh tỷ giá.

Xử lý tốt mối quan hệ tỷ giá và lãi suất bởi tỷ giá có xu hướng giảm thì người ta
quan tâm đến laĩ suất và ngược lại.

3. Chính sách huy động vốn và tín dụng

3.1. Về huy động vốn

Theo định hướng của đảng và nhà nước về tăng cường huy động vốn thúc đẩy
tích luỹ nội bộ nền kinh tế khuyến khích tiết kiệm, đặc biệt là các hình thức và biệ
pháp huy động vốn ngắn hạn, vốn trung và dàI hạn để đạt được mục tiêu đua tiền gửu
vào hệ thống ngân hàng trên GDP hàng năm taưng 30%, góp phần thúc đẩy công cuộc
CNH- HĐH đất nước, tác động vào quá trình chuyển dịc cơ cấu kinh tế giữa các
ngành, cacá thành phần. Để thưc hiện mục tiêu đó, một số biện pháp nhằm hoàn thiện
và cải tiến hình thức huy động vốn.

Bằng các hình thức huy động tiết kiệm phong phú với lãi suất cao như hiện nay,
hệ thống ngân ngàng đã thu hút được phần lớn số tiền nhàn rỗi trong dân cư.

Đẩy mạnh việc thanh toán không dùng tiền mặt trong nề kinh tế nói chung và
mở rộng dần việc đó trong khu vực dân cư nói riêng, sẽ cho phép thun hut s, tận dụng
đựoc số tiền nhàn rỗi này. Mở rộng các hình thức áp dụng máy tự động thanh toán và
rú tiền tự động (ATM) đẩy mạnh việc sử dungj thẻ thanh toán.

Việc hình thành và phát triển một thị trường vốn hấp dẫn sôi động, trở nên cấp
thiết nhằm tạo ra nhiều hình thức đầu tư vốn phong phú, đa dạng, thủ tục thuận lợi mua
bán, chuyến nhượng nợi dưói hình thức trao đỏi các loại giấy tờ có giá dễ dàng cho
nhân dân, các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia cũng như việc tạo điều kiện về
chế độ, thủ tục phục vụ ngueoeì gửi, thuận tiện, dễ dàng, rút ngắc thời dan cho mỗi
khách hàng.

Đối với các tín phiếu,trái phiếu NHTM, nghiên cưu các hình chiết khấu, chuyển
nhượng tạo điều kiện thứ cấp cho các giấy tờ này lưu thông dề dàng có ngiã là mở rộng
kênh huy động vốn dồi dào tiềm năng và thu hút các ngồn vốn khác (phá hầnh trái
phiếu ra thọ trường quốc tế). Thực chất là nhanh chóng hình thành thị trường chứmg
lhón.

NHNN phối hợp với các bộ nghành liên quan tiếp tục hoàn thiện quy chế quỹ
bảo toàn tiền gửi và nhanh chóng đưa nội dung này trong luật các tổ chức tín dụng vào
thực tế.

3.2. Về tín dụng đối với nền kinh tế

Nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng là mối quan tâm bức xúa không chỉ
riêng ngành ngân hàng. Quyết định 324/1998/QĐ- NHNN1 (30/9/1998) của Thống đốc
NHNN Việt Nam về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách
hàng có quy định về phương thức cho vay từng lần và phương thức cho vay theo hạn
mức tín dụng. hai ngân hàng công thương Việt Nam và ngoại thương Việt Nam đã có
văn bản thi hành quyết định này và đều quy định chỉ dùng phương thức cho vay theo
hạn mức tín dụng cho cá doanh ngiiẹep có tín nhiệm cao và có vòng quay vốn nhanh.

Việc điều chỉnh lãi suất hợp lý có ý ngiã tuơng quan với tỷ giá và lãi xuất sao
đảm bảo quyền lợi cho người gửi.

Việc quy định thế chấp và mức độ thế chấp tuỳ thộc tín nhiệm của người vay là
chính, không cứng nhắc về mức và phân biệt đối tưọng, thành phần kinh tế. Cần tăng
cường khả năng phát mai nhanh để thu hồi vốn. Và coi trọng hiệu quả cho vay lấy đó
làm tiêu chuẩn hàng đầu để mở rộng đối tượng vay vốn và khuyến khích đầu tư phát
triển.

Chú trọng hỗ trợ cho vay các dự án, các đơn vị làm hàng xuất khẩu, đưa vốn
đúng lúc và tình hình giá cả trong nước và quốc tế. Cần xử lý nhanh các tài sản thế
chấp, nhất là bất động sản có gắn quyền sử dụng đất của cá doanh nghiệp phá sản theo
chỉ đạo của chính phủ.

Đẩy mạnh việc chấn chỉnh, củng cố hẹ thống ngân hàng trong việc quản lý kiểm
soát, thẩm định cho vay và sử dụng vốn, cũng như nâng cao năng lực, trách nhiệm của
các tổ chứ, cá nhân trong hoạt động ngân hàng.

Xác định rõ mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền, duy trì sự phát triển kinh tế xã hội.

4. Điều hành chính sách tiền tệ với công cụ quản lý
4.1.Dự trữ bắt buộc

Thông qua việc thực hiện chế đọ dự trữ bắt buộc NHNN điều hành tổng phương
tiện thanh toán qua cơ chế tác động đén khối lượng và giá tín dụng của các NHTM.
Muốn công cụ này trở nên có hiệu quả hơn thì trước mắt phải hoàn thiệ từng bứoc cá
văn bản pháp lý trong lĩnh vực này, linh hoạt điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho phù
hợp với tình hình thực tế (hiện nay là 6%). NHNN có thể hoàn lại số tiền lãi mà
NHTM phải trả cho khách hàng có tiền gtửi để đảm bảo cho NHTM kinh doanh có lãi.
Cần thồng nhất một tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho cá loại tiền gửi có kỳ hạn vf không có kỳ
hạn.

Thống nhất nhập số tiền dự trữ bắt buộc vào một tài khoản tiền gửi không kỳ
hạn và quản lý theo hạn mức ;thưch hiện việc truy đổi hay hoàn lại tiền lãi số tiền lãi,
số tiền hụt mức hay vựot mức dự trũ, xử phạt ngiêm ngặt đối với các trường hợp vi
phạm.

4.2. Chính sách lãi suất

Đây là công cụ đã sử dụng hiêum quả trong suốt những năm qua, và chắc chắn
sẽ là công cụ thiết yếu trong những năm tới. bởi chính lãi suất là chính sách quan trọng
hàng đầu trong điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam hiện nay.

NHNN vẫn thực hiện vai trò kiểm soát và định hướng mức lãi suất cho vay của
hệ thống NHTM dưói hinhf thức quy định mức lãi suất trần cho vay tối đa của cá tổ
chức tín dụng đối với nền kinh tế.

Những năm tới cần áp dụng lãi suất trực tiếp, vừa áp dụng lãi suất gián tiếp,
nhưng áp dụng lãi suất trực tiếp là chủ yếu thông qua việc xác định và công bố lãi suất
trần (lãi suất sàn) là lãi suất cơ bản đi đôi với lãi suất tái cấp vốn (đang ở giai đoạn
đầu).

Vì sự cạnh tranh lành mạnh và an toàn hệ thống, chúng ta cần chuyển sang cơ
chế khống chế lãi suất tiền gửi tối đa làm lãi suất cơ bản theo thông lệ quốc tế.

Điều chỉnh lãi suất phải nhạy bén, mang tính thời cuộc, phù hợp với biến động
của thị trường theo quan hệ cung cầu về vốn, theo mức đọ lạm phát được khống chế
theo sát các mục tiêu của tài chính tiền tệ.
Thị trường nội tệ liên ngân hàng cần được củng cố và hoàn thiện để ngày càng
phát triển và ngày càng hoạt động hiệu quả trên thị truờng tiền tệ.

4.3. Nghiệp vụ thị trường mở

Nghiệp vụ thị trường mở được coi là công cụ qua trọng bậc nhất trong điều
hành chính sách tiền tệ.

ở Việt Nam hiện nay, thị trường mở chưa thực sự trở thành công cụ đóng vai trò
để NHNN điều tiết mức cung ứng tiền tệ. Vì vậy đeer sớm có thế đưa nghiệp vụ thị
trường mở vào hoạt động, xin kiến nghị một số giải pháp cơ bản sau :

Chúng ta cần hoàn thiện cơ chế tổ chức, điều kiện công nghệ. Cụ thể NHNN và
các bộ máy cần, các chuyên gia tà chính tiền tệ giỏi chuyên môn theo dõi, phân tích
đánh gia tình hình diễn biến tiền tệ, lạm phát ... Để đưa ra những quyết định và thiệp
vào thị trường một cách kịp thời, cũng như phát triển công nghệ ngân hàng nhằm nắm
bắt thông tin một cách nhanh chóng.

Ban hành quy chế về hoạt động của thị trường mở và hình thành cơ chế can
thiệp linh hoạt, kịp thời NHNN trên thị trường mở.

NHNN cần quy định các công cụ được mua bán trên thị trường mở nghiã là phải
quy định rõ các loại chứng khoán được phép lưu hành như tín phiếu kh bạc, tín phiếu
NHNN. NHNN cần quy định cụ thể phạm vi đối tượng tham gia thị trường mở: Gồm
NHNN và các chủ thể kinh tế khác trong xã hội. Ngoài ra NHNN cần thực hiện linh
hoạt cơ chế mua bán tại thị trường mở. Ban thị trường mở phải nghiên cứu, xác định
lãi suất phát hành và lãi suất đó sẽ là lãi suất thấp tại thị trường tiền tệ, nhằm giảm lãi
suất thị trường theo mục tiêu đã định, ngược lại khi vẫn tăng lãi suất thị trường hoặc
khống chế thị trường tiền tệ trong lưu thông, NHNN đặt mua lại các tín phiếu trên thị
trường mở với lãi suất ấn định cao, mức lãi suất đó sẽ tác động đến lãi suất thị trường
nói chung đồng thời giúp NHNN nhanh chóng thu hẹp khối tiền tệ ngoại lưu thông như
định.

Các biện pháp liên quan khác:

Việc phát hành tín phiếu kho bạc phải tập trung vào một đầu mối thông qua
NHNN làm đại lý.
NHNN cần sớm nghiên cứu cơ chế để có thể thực hiện phát hành tín phiếu
Ngân hàng Nhà nước.

NHNN cũng cần xem xét để có thế sớm cho phép một số NHTM được phát
hành các loại chứng chỉ tiền gửi, góp phần cung cấp hàng hoá cho thị trường tiền tệ.

NHNN cần tiếp tục củng cố, hoàn thiẹn thi trường tiền tệ liên ngân hàng hoạt
động thực sự sôi nổi, lành mạnh và thực hiện đúng vai trò người cho vay cuối cùng.

Thực hiện các biện pháp cần thiết, đồng bộ từ chính phủ, uỷ ban chứng khoán
nhà nước đến các ngành các cấp để sớm đưa thị trường chứng khoán vào hoạt động.

5. Các giải pháp hỗ trợ cho chính sách tiền tệ

5.1. Cải thiện hệ thống ngân hàng

Cho đến nay, mặc dù hệ thống ngân hàng đẫ có những đổi mới đáng kể song
vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi đặt ra cho nó. Tiến tới hoàn thiện hệ thống ngân
hàng những vấn đề cần giải quyết như:

Phải tạo lập sự hoạt động toàn diện của ngân hàng hiện đại trong khâu thanh
toán và trong các dịch vụ ngân hàng khác, phát triển mạnh các nghiệp vụ ngân hàng.
Đối với các ngân hàng thương mại cần tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng mạng lưới
chi nhánh từ đô thị tới nông thôn.

Xây dưng cơ sở kỹ thuật hiện đại hoá để hoà nhập với quốc tế và, kế toán, thông
tin và điều hành.

Đi lên từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung lạc hậu, chúng ta đã không có
kinh nghiệm thực tế trong hoạch định chính sách tiền tệ. Vì vậy, cần phải coi trọng
việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, xây dựng đội ngũ chuyên môn giỏi, đồng thời giáo dục
đạo đức đối với cán bộ làm công tác ngân hàng, Bởi con người là nhân tố hàng đầu
quyết địng đến sự thành bại của bất kỳ một chính sách nào.

Nội dung hoạt động của ngân hàng này càng đa dạng, phức tạp và tinh vi, đòi
hỏi phải có một mô hình tổ chức và bộ máy vận hành hợp mới đem lại hiệu quả. Cần
phát triển hơn nữa các NHTM, các công ty con của nó và các định chế tài chính phi
ngân hàng, tạo thành những ngân hàng lớn với xu thế phát triển chung của ngân hàng.
Nâng cao hơn nữa năng lực và hiệu quả công tác thanh tra, kiểm soát ngân
hàng, nhất là năng lực kiểm tra kiểm soát nội lực để kịp thời kiểm soát và phát hiện xử
lý cá vi phạm chế độ trong hoạt động ngân hàng.

5.2. Hoàn thiện khung pháp lý

Tiếp tục thi hành, tạo ra cơ chế đồng bộ cho hoạt động ngân hàng trên cơ sở
nguyên tắc thị trường và vai trò quản lý của nhà nước cũng như của NHNN. Cụ thể là
điều chỉnh và hoàn thiện các dự thảo, các văn bản nghị định, quy chế thuộc thẩn
quiyền ban hành của chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ nhằm triển khai 2 luật ngân
hàng, bổ sung cho phù hợp với thực tế, tạo ra một môi trưòng pháp lý thống nhất, tạo
điều kiện cho công cụ của chính sách tiền tệ phát huy có hiệu quả.

5.3. Phát triển thị trường tài chính

Tăng tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước:

Cần phát hành cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần và tất cả cá công ty tài
chính cổ phần, tăng vốn điều lệ và phát tiển loại hình doanh nghiệp này trong nền kinh
tế. Đẩy mạnh phát hành trái phiếu công trình, nhất là công trình quan trọng của nhà
nước như điện nước, giao thông dầu khí.. huy động vốn đầu tư và nhu cầu khác của
nền kinh tế. Thành lập các công ty chứng khoán thuộc các NHTM và cá tổ chức tín
dụng. Hoàn thiện tín dụng chứng khoán sớm đưa vào thực hiện.

6. Phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ với chính sách kinh tế vĩ mô khác.

Việc xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ cần phải đặt trong tổng nền kinh
tế, trong sự hài hoà với các chính sách kinh tế khác. Mọi sự khập khiễng, khôn g đồng
bộ từ khâu soạn thảo, ban hành chính sách.. điều có sự làm hạn chế hay làm triệt tiêu
tác dụng của các chính sách khác. Vì vậy, hoàn thiện chính sách tiền tệ có nghĩa là
hoàn thiện cơ chế điều hành, công cụ điều hành.. của chính sách tiền tệ để chính sách
này trở nên có hiệu quả hơn, có nghĩa là xây xựng chính sách tiền tệ trong một thể
thống nhất, thực hiện mục tiêu chung của nền kinh tế, hợp lý và hỗ trợ lẫn nhau.

Đối với chính sách tài chính có mối tương quan đặc biệt với nhau, bởi hai chính
sách này vừa có tính đồng nhất vừa có tư cách khác biệt với tư cách là hai chính sách
độc lập nhưng phải có sự bổ sung và hỗ trợ cho nhau là rất cần thiết.
Chính vì vậy, việc phối hợp, đồng bộ với chính sách tiền tệ với chính sách kinh
tế vĩ mô khác là hết sức quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong việc thúc đẩy tăng
trưởng nền kinh tế tiến tới xây dựng một đất nước Việt Nam giầu mạnh - con rồng
châu á trong thế kỷ 21 này.
Kết luận



Qua quá trình nghiên cứu chính sách tiền tệ quốc gia nói riêng và chính sách
kinh tế vĩ mô nói chung, chúng ta đã thấy rõ được vai trò và ý nghĩa của nó trong nền
kinh tế bởi chính sách tiền tệ là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô của nhà nước. Nên
vị trí của chính sách tiền tệ trở nên hết sức quan trọng.

Hoạch định một chính sách tiền tệ đòi hỏi cả một quá trình, sự linh hoạt và sự
thống nhất trong sự áp dụng trên thực tiễn trước bối cảnh kinh tế quốc tế hiện nay.

Bằng sự nỗ lực hiện tại và trong trong tuơng lai, sự kế thừa và phát huy những
thành tựu của chính sách tiền tệ, chắc chắn chính sách tiền tệ của Việt Nam sẽ đóng
góp vai trò quan trọng trong việc xây dựng một đất nước Việt Nam giầu mạnh, giai
đoạn 2001- 2010 mà đảng nhà nước đã đề ra. Từ đó chính sách tiền tệ khắc phục được
những yếu kém bất cập trong điều kiện nền kinh tế vĩ mô, tầng bước nâng cao vai trò
điều tiết nền kinh tế nhằm nhằn đưa nền kinh tế đi đúng hướng, sánh vai với bè bạn
quốc tế ./.
Danh mục tài liệu tham khảo




1. Giáo trình lý thuyết tiền tệ - Trường đại học Tài chính Kế toán Hà Nội, NXB Tài
chính, năm 1998.

2. Kinh tế học - David begg.

3. Thị trường vốn, Học viện Ngân hàng.

4. Đổi mới chính sách tiền tệ và kiểm soát ở Việt Nam.

5. Ngân hàng Việt Nam quá trình xây xựng và phát triển, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội 1996.

6. Tạp chí Tài chính số 8, 9, 10/1999, 1/2000.

7. Tạp chí Tài chính Ngân hàng, số 12, 18, 19/1998; số 7, 8/1999.



Mục lục


Lời mở đầu ........................................................................................................ 1
Phần I: Lý thuyết chung về chính sách tiền tệ................................................. 3
I. Những lý luận cơ bản về chính sách tiền tệ .............................................. 3
1. Chính sách tiền tệ và vai trò của nó......................................................... 3
2. Mục tiêu của chính sách tiền tệ ............................................................... 4
3. Nội dung chính sách tiền tệ..................................................................... 7
4. Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ................................................. 9
Phần II: Thực trạng chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay. ...................... 15
I. Một số thành tựu đạt được, tồn tại và nguyên nhân. ............................. 15
1. Những thành tựu đã đạt được trong thời gian qua. ................................ 15
2. Những kết quả đạt được do sự xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ đúng
hướng phù hợp với diễn biến của nền kinh tế ....................................... 17
II. Tồn tại và nguyên nhân ......................................................................... 21
1. Những tồn tại trong cơ chế lãi suất hiện hành ....................................... 23
2. Tỷ lệ tín dụng chung, dài hạn tăng và không tuơng xứng với tốc độ tăng nguồn
vốn huy động của các loại vốn này ....................................................... 24
3. Tái cấp vốn và việc kiểm soát lượng tiền cung ứng .............................. 25
4. Những tồn tại trong quy chế dự trữ bắt buộc ......................................... 26
5. Những tồn tại trong tổng nguồn vốn huy động và mức dư nợ cho vay trong nền
kinh tế bị tăng chậm ............................................................................. 26
Phần III : Những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tiền tệ trong giai đoạn
hiện nay ........................................................................................................... 27
I. Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đến kinh tế thế giới và Việt
Nam ....................................................................................................... 27
II. Những định hướng cơ bản xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ ở nước
ta trong thời gian tới. ........................................................................... 32
1. Điều hành cung ứng tiền tệ ................................................................... 32
2. Chính sách quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá ................................. 33
3. Chính sách huy động vốn và tín dụng ................................................... 35
4. Điều hành chính sách tiền tệ với công cụ quản lý.................................. 36
5. Các giải pháp hỗ trợ cho chính sách tiền tệ ........................................... 39
6. Phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ với chính sách kinh tế vĩ mô khác.
............................................................................................................. 40
Kết kuận .......................................................................................................... 42
Danh mục tài liệu tham khảo ......................................................................... 43

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản