Luận văn đề tài : Nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Sơn Tây

Chia sẻ: anhnam1

Nâng cao chất lượng tín dụng, tình hình tài chính của NHTM được cải thiện, tạo ra những thế mạnh trong quá trình cạnh tranh, giúp cho NH tránh và hạn chế được những rủi ro, những tổn thất to lớn có thể xảy ra, góp phần làm lành mạnh hoá các quan hệ tín dụng..

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn đề tài : Nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng đầu tư và phát triển Sơn Tây

Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân









LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP



NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ
VÀ PHÁT TRIỂN SƠN TÂY




Giáo viên hướng dẫn : Pgs Ts Trần Đăng Khâm

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Trung Hiếu









SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 1
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

MỤC LỤC
Lời cam đoan: .............................................................................................. 1
Danh mục các bảng, biểu đồ:........................................................................ 2
Danh mục các từ viết tắt:.............................................................................. 3
Lời nói đầu:.................................................................................................. 4
CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI
VỚI DNV&N............................................................................................... 7
1.1. Hoạt động tín dụng đối với DNV&N của NHTM ............................... 7
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của của DN vừa và nhỏ...................... 7
1.1.1.1 Khái niệm DNV&N ....................................................................... 7
1.1.1.2. Vai trò, đặc điểm của DNV&N ....................................................... 7
1.1.2. Hoạt động tín dụng của NHTM .......................................................... 12
1.2. Chất lượng tín dụng đối với DNV&N của NHTM.............................. 18
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng............................................................ 18
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của NHTM ....................... 20
1.2.2.1. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu......................................................................... 20
1.2.2.2. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn......................................................... 24
1.2.2.3. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng ...................................................... 24
1.2.2.4. Chỉ tiêu lợi nhuận ............................................................................ 25
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng đối với DNV&N ....... 26
1.3.1. Các nhân tố chủ quan.......................................................................... 26
1.3.2. Nhân tố khách quan ............................................................................ 29
1.3.3. Những nhân tố khác............................................................................ 30
CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA BIDV CN SƠN TÂY ................. 33
2.1. Khái quát về BIDV CN Sơn Tây ........................................................ 33
2.1.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển cuả BIDV CN Sơn Tây..... 35
2.1.2. Cơ cấu tổ chức – nhân sự.................................................................... 35
2.1.3. Kết quả kinh doanh chủ yếu ............................................................... 37



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 2
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DNv&N của NH DT&PT Sơn Tây
........................................................................................................... 39
2.2.1. Hoạt động tín dụng đối với DNV&N của BIDV CN Sơn Tây ............ 39
2.2.1.1. Các hình thức cho vay ..................................................................... 39
2.2.1.2. Các hình thức đảm bảo áp dụng ...................................................... 41
2.2.2. Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
BIDV CN Sơn Tây....................................................................................... 43
2.2.3. Các chỉ tiêu về số lượng DNV&N có quan hệ với BIDV CN Sơn Tây.48
2.3. Hạn chế và nguyên nhân .................................................................... 52
2.3.1. Hạn chế .............................................................................................. 52
2.3.2. Nguyên nhân ...................................................................................... 52
2.3.2.1. Nguyên nhân khách quan................................................................. 52
2.3.2.2. Nguyên nhân chủ quan .................................................................... 53
CHƯƠNG III:
CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI BIDV CN SƠN TÂY.................... 55
3.1. Định hướng của BIDV CN Sơn Tây trong việc nâng cao chất lượng
tín dụng .......................................................................................... 55
3.1.1. Định hướng chung.............................................................................. 55
3.1.2. Định hướng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNV&N ..... 56
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với DNV&N tại
BIDV CN Sơn Tây ............................................................................. 57
3.2.1 Mở rộng và duy trì, thiết lập mối quan hệ lâu dài đối với các khách hàng
truyền thống ....................................................................................... 57
3.2.2 Giảm thiểu phát sinh nợ xấu ............................................................... 59
3.2.3 Phát huy nhân tố con người vì sự phát triển của NH ........................... 62
3.4 Một số kiến nghị.................................................................................. 63
3.4.1 Kiến nghị đối với Nhà nước................................................................ 64
3.4.2 Kiến nghị với NH Nhà nước............................................................... 65



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 3
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

3.4.3 Kiến nghị với Chính quyền địa phương .............................................. 65
3.4.4 Kiến nghị với BIDV .......................................................................... 66
3.4.5 Đề xuất với BIDV CN Sơn Tây .......................................................... 67
KẾT LUẬN................................................................................................ . 70
Danh mục tài liệu tham khảo 71




SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 4
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

LỜI CAM ĐOAN


Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Tôi đã xây dựng
chuyên đề này trên cơ sở những số liệu trung thực có nguồn gốc rõ ràng, được
lấy từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Sơn Tây./.




DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 5
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân



Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Sơn Tây

Bảng 01 Tình hình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ

Bảng 02 Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn

Bảng 03 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo quy mô doanh nghiệp

Bảng 04 Số lượng DNV&N có quan hệ vay vốn

Biểu đồ 01 Tỷ trọng về số lượng DNV&N với tổng số DN có quan hệ vay vốn

Biểu đồ 02 Tốc độ tăng trưởng số lượng DNV&N




SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 6
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


NH Ngân hàng
NHTM Ngân hàng Thương mại
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
CN Chi Nhánh
TW Trung ương
DNV&N Doanh nghiệp vừa và nhỏ
DN Doanh nghiệp
DA Dự án




SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 7
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

LỜI NÓI ĐẦU
Tín dụng là chức năng quan trọng nhất của các tổ chức trung gian tài
chính là dịch vụ sinh lời chủ yếu, đồng thời cũng là lĩnh vực chưa đựng nhiều
rủi ro nhất của các NHTM và các định chế tài chính khác.
Trong bối cảnh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá ngày
càng tăng, hoạt động tín dụng cần phải được phát triển sao cho phù hợp nhằm
đáp ứng được những nhu cầu ngày càng tăng trong xã hội. Nhưng vấn đề là
phải đảm bảo chất lượng tín dụng như thế nào để NHTM hoạt động an toàn,
hiệu quả và phát triển bền vững.
Nâng cao chất lượng tín dụng sẽ tạo điều kiện cho NHTM làm tốt chức
năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế và sẽ là cầu nối giữa phần tiết kiệm
và đầu tư. Từ đó góp phần điều hoà nguồn vốn trong xã hội, phân bố các nguồn
vốn cho đầu tư một cách hợp lý, giảm lãng phí ở những nơi thừa vốn trong xã
hội, giảm khó khăn ở những nơi thiếu vốn, tạo quan hệ tốt giữa cung và cầu
vốn, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền tệ.
Như chúng ta đã biết, tín dụng cũng là một trong những công cụ để Đảng
và Nhà nước thực hiện các chủ trương chính sách về phát triển kinh tế. Do vậy,
chất lượng tín dụng sẽ góp phần làm tăng hiệu quả sản xuất xã hội, giúp đầu tư
đúng hướng để khai thác khả năng tiềm tàng về tài nguyên lao động, đảm bảo
cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển cân đối giữa các ngành nghề, các
khu vực trong cả nước. Ngoài ra, tín dụng có chất lượng còn góp phần kiềm
chế lạm phát, ổn định tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Tín dụng có chất lượng sẽ góp phần tăng chất lượng sản xuất kinh doanh
và tạo một thị trường tài chính lành mạnh. Chất lượng tín dụng được đảm bảo
cũng có nghĩa là NH đang trên đà phát triển tốt, nhờ vậy mà có điều kiện đáp
ứng yêu cầu về vốn cho sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Trong điều kiện nền kinh tế mở kéo theo sự cạnh tranh gay gắt của các tổ
chức tín dụng trên thị trường, nếu NHTM nâng cao được chất lượng tín dụng
thì cũng chính là đã tạo được lòng tin ở khách hàng của mình. Trong nền kinh



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 8
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

tế thị trường, khách hàng được coi là “thượng đế” nên họ có quyền lựa chọn
bất kỳ một NH nào đó làm đối tác. Hay nói cách khác, khách hàng tìm đến NH
nào mà ở đó thực sự tạo điều kiện và giúp đỡ họ thực hiện việc kinh doanh đạt
hiệu quả thông qua quan hệ tín dụng và các dịch vụ khác. Hơn nữa, về phía NH
sẽ có cơ hội tăng số lượng khách hàng, thu hút được thêm nhiều nguồn vốn, tạo
điều kiện mở rộng tín dụng.
Nâng cao chất lượng tín dụng, tình hình tài chính của NHTM được cải
thiện, tạo ra những thế mạnh trong quá trình cạnh tranh, giúp cho NH tránh và
hạn chế được những rủi ro, những tổn thất to lớn có thể xảy ra, góp phần làm
lành mạnh hoá các quan hệ tín dụng và tạo điều kiện để mở rộng các quan hệ
tín dụng. Chất lượng tín dụng quyết định cho sự tồn tại và phát triển của từng
NHTM nói riêng và toàn bộ hệ thống NH nói chung.
Qua những vấn đề được phân tích ở trên ta thấy rõ sự cần thiết khách
quan của việc củng cố tăng cường nâng cao chất lượng tín dụng của các
NHTM.
Từ thực tế ở Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Sơn Tây, và sau
thời gian học tập nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận, tôi chọn đề tài:
"Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Ngân hàng Đầu và Phát triển Sơn Tây" để làm chuyên đề nghiên cứu
của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương I: Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng đối với Doanh
nghiệp vừa và nhỏ
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp
vừa và nhỏ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Sơn Tây
Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Sơn Tây
Thông qua việc phân tích thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 9
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

đối với thành phần kinh tế này tại BIDV CN Sơn Tây. Từ đó, tôi mong muốn
góp một phần nhỏ bé của bản thân mình vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả
trong hoạt động tín dụng, phòng ngừa và hạn chế những rủi ro do nguyên nhân
chủ quan. Xét về khía cạnh nào đó, tôi hy vọng BIDV CN Sơn Tây nói riêng
và hệ thống NH nói chung luôn luôn phát triển an toàn, hiệu quả và bền vững,
góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước theo định
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là doanh nghiệp vừa và nhỏ
tại BIDV CN Sơn Tây, thời gian trong phạm vi 03 năm, từ năm 2006 đến
30/6/2008.
Do khả năng và trình độ của bản thân có hạn, nên chắc rằng đề tài này sẽ
không thể tránh khỏi có những khiếm khuyết nhất định, vì thế tôi rất mong
muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và đặc biệt là các
thầy, cô trong bộ môn hướng dẫn để đề tài được hoàn chỉnh, mang tính thực
tiễn và khả thi cao hơn./.




SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 10
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

CHƯƠNG I

CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1. Hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng
thương mại

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của của Doanh nghiệp Vừa và nhỏ

1.1.1.2 Khái niệm Doanh nghiệp Vừa và nhỏ

DNV&N là những DN có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay
doanh thu. DNV&N có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là
DN siêu nhỏ (micro), DN nhỏ và DN vừa. Theo tiêu chí của Nhóm NH Thế
giới, DN siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số
lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao
động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định DN nhỏ và vừa ở
nước mình. Ở , không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các DN có số vốn đăng
ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm dưới 300
người được coi là Doanh nghiệp Vừa và nhỏ (không có tiêu chí xác định cụ thể
đâu là DN siêu nhỏ, đâu là nhỏ, và đâu là vừa).

1.1.1.2. Vai trò, đặc điểm của Doanh nghiệp Vừa và nhỏ

Trong nền kinh tế, chúng ta thường nói tới "Doanh nghiệp" và được
chúng ta hiểu một cách thông thường là những đơn vị kinh tế được thành lập
bởi một cá nhân hay bởi các tổ chức, được nhà nước cho hoạt động nhằm thực
hiện hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực nhất định vì mục đích công
ích hay lợi nhuận. Sự vận động của nền kinh tế nhất thiết phải có một yếu tố
quan trọng đó là DN, không có hoạt động của các DN thì nền kinh tế không thể
lưu thông và hoạt động.
DNV&N có vai trò lớn trong sự tăng trưởng kinh tế của rất nhiều quốc
gia, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Trong bối cảnh đang chuyển


SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 11
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới,
DNV&N đã và đang đóng vai trò quan trọng về nhiều mặt: Đảm bảo nền tảng
ổn định và bền vững của nền kinh tế; huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư
phát triển; đáp ứng một cách linh hoạt nhu cầu của các ngành kinh tế quốc dân;
cải thiện thu nhập và giải quyết việc làm cho một bộ phận đông đảo dân cư;
góp phần xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống và thu hẹp khoảng cách
phát triển giữa các vùng đất nước.
Các hoạt động của các DNV&N đã và đang góp một phần không nhỏ
vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Các DN này đã tạo ra một mạng
lưới liên kết giữa các thành phần kinh tế với nhau, thúc đẩy và lưu thông các
nguồn lực sẵn có trong xã hội như: vốn, nhân lực...
Rõ ràng sự thành công của những cải cách trước đây trong thập niên 80
phần lớn nhờ vào sự đáp ứng mạnh mẽ từ phía cung của các hộ gia đình nông
nghiệp: việc bãi bỏ hình thức nông nghiệp tập thể đã nhanh chóng biến từ chỗ
thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới. Trong
những năm gần đây, các DNV&N một lần nữa lại trở thành trung tâm của
những tranh luận về phát triển. Lần này, sự thảo luận chủ yếu liên quan đến vấn
đề tạo việc làm.
Vai trò của các DNV&N gần đây cũng đã được nhấn mạnh trong cộng
đồng các nhà tài trợ. Cùng với vai trò tạo việc làm của mình, có thể nói các
DNV&N cũng là nhân tố chính trong việc giảm nghèo, đặc biệt là tại khu vực
nông thôn. Với việc giảm nghèo là mục tiêu phát triển chính yếu hiện được ưu
tiên của cộng đồng các nhà tài trợ, đang nhận được nhiều sự khích lệ trong
chính sách thúc đẩy sự phát triển DNVVN của mình.
Các DN trong quá trình hoạt động và sản xuất của mình đã cung cấp
hàng hoá, tạo ra sự lưu thông hàng hoá trong thị trường. Tuy nhiên để đảm bảo
hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả thì các DN phải có một
chiến lược phát triển cụ thể trong quá trình kinh doanh của mình. Ở các
DNV&N chủ yếu tập trung vào các ngành thương mại, sửa chữa thủ công



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 12
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

nghiệp (chiếm 40,6% DN của cả nước), tiếp đến là các ngành chế biến
(20,9%), xây dựng (13,2%) và các ngành còn lại như kinh doanh bất động sản,
tư vấn, khách sạn, nhà hàng (25,3%).
Có nhiều loại hình DN khác nhau, nếu phân loại DN theo hình thức sở
hữu thì có DN tư nhân, DN nhà nước, DN liên doanh, DN cổ phần… Nếu phân
loại theo quy mô nguồn vốn thì có DN lớn và DNV&N. Trong đề tài này, tôi
muốn đề cập đến DNV&N vì đây là một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong hệ
thống các DN và đây cũng là những DN đóng góp một vai trò không nhỏ trong
nền kinh tế. Nếu chúng ta có một định hướng đúng đắn đối với các DNV&N
thì sẽ có một sự thúc đẩy phát triển kinh tế to lớn, từ đó làm điểm tựa vững
chắc để đưa đất nước phát triển.
Hiện nay, các DNV&N tập trung chủ yếu ở thành thị ,chủ yếu ở các
thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng ... và
các tỉnh thuộc khu vức đồng bằng bắc bộ.
Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, số lượng DNV&N ngày
càng tăng mạnh. Như tên gọi của mình, DNV&N mang những đặc điểm riêng
rất khác biệt so với các DN lớn trên thị trường. DNV&N mang nhưng đặc
trưng cơ bản sau:

* Các DNV&N chiếm số lượng lớn trên thị trường, và tốc độ gia tăng cao

Theo luật DN quy định, việc thành lập DNV&N yêu cầu số vốn thành lập nhỏ,
vì vậy số lượng DNV&N chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Với ưu
điểm là vốn điều lệ thấp, điều này đã tạo một động lực to lớn cho các tổ chức
kinh tế tư nhân đứng ra thành lập DN của mình. Mặt khác, từ trước đó đã tồn
tại không ít các DN nhà nước có quy mô vốn nhỏ, lao động ít như các hợp tác
xã, các DN nhà nước mới thành lập hoặc được tách ra…Với đặc điểm là vốn
pháp định nhỏ như vậy, số lượng các DNV&N đã chiếm phần lớn về số lượng
trong nền kinh tế và có tốc độ gia tăng cao.




SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 13
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

* Các DNV&N có quy mô vốn nhỏ, lao động ít

Mặc dù tăng nhanh về số lượng nhưng nếu xét về quy mô vốn của các
DNV&N trong những năm gần đây thì lại rất thấp, mới ở mức trung bình trên 2
tỷ đồng/DN. Theo quy định của Luật DN, DNV&N là các DN có số vốn pháp
định không vượt quá 10 tỷ, có số lao động không vượt quá 300 lao động. Với
số vốn nhỏ như vậy, các DN gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị trường,
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nhất là khó khăn trong việc cạnh
tranh với các DN lớn sản xuất cùng một loại sản phẩm trong thị trường. Nhất là
khi nền kinh tế có biến động lớn, ví dụ biến động về đầu vào, DNV&N khó có
khả năng chống đỡ và dễ dẫn đến bị phá sản. Đồng thời, với số lao động ít, các
DNV&N sẽ gặp nhiều cản trở trong quá trình sản xuất kinh doanh và mở rộng
sản xuất kinh doanh. Nhất là với tình trạng ít lao động, DNV&N sẽ khó có
được các lao động với tay nghề cao. Với số lao động ít như vậy, sẽ khó mở các
lớp đào tạo nâng cao tay nghề nghiệp vụ cho các nhân viên. Mặt khác đa số
người lao động, nhất là người lao động có tay nghề nghiệp vụ, trình độ chuyên
môn giỏi, khi tìm kiếm việc làm đều có xu hướng muốn vào các DN lớn trên
thị trường, điều này khiến các DNV&N gặp khó khăn trong quá trình tuyển
dụng lao động và phải đầu tư nhiều hơn cho công tác marketing tuyển dụng lao
động.

* Đa số các DNV&N là các DN ngoài quốc doanh

Các DNV&N chủ yếu là các DN tư nhân (chiếm khoảng 80%) do đặc
điểm về quy mô vốn và số lượng lao động nhỏ. Điều này tạo khó khăn cho việc
quản lý các DNV&N. Nhất là đối với các DN tư nhân hoạt động linh hoạt
nhưng kém hiệu quả. Các DN tư nhân thường khi thành lập và trong quá trình
hoạt động chưa có một tầm nhìn chiến lược hoạt động cho DN của mình. Và
trong khi vận hành sản xuất kinh doanh, khi că một biến cố xảy ra thì không có
kinh nghiệm chống đỡ hoặc không đủ khả năng chống đỡ, dẫn đến thua lỗ hoặc
nặng hơn là phá sản. Việc quản lý các DN tư nhân cũng rất khó khăn. Nhiều
DN còn cố tình làm ăn phi pháp, cố tình trốn thuế và không thực hiện đúng chế

SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 14
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

độ kế toán thống kê. Để quản lý tốt các DNV&N, đòi hỏi một sự theo dõi sát
sao và thực sự có hiệu quả. Như vậy có thể mới kiểm soát được hoạt động của
loại hình DN này.

* Kinh nghiệm hoạt động còn chưa nhiều

Không kể các DN nhà nước vừa và nhỏ đã thành lập lâu đời và hoạt
động ổn định, đa số các DNV&N đều là các DN tư nhân được thành lập trong
hoặc sau thời kỳ mở cửa nền kinh tế hoặc là các DN Nhà nước vừa được tách
ra. Với những DNV&N thành lập khá lâu mà hoạt động sản xuất kinh doanh
tốt, có hiệu quả, họ sẽ dần dần mở rộng nguồn vốn của mình và đứng vào hàng
ngũ những DN lớn. Như vậy, kinh nghiệm hoạt động của loại hình DN này
chưa nhiều. Với số vốn ít và bề dày kinh nghiệm hạn chế, các DNV&N gặp
khó khăn trong việc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, chống đỡ với
những thay đổi trong quá trình hoạt động của mình.

* Trình độ công nghệ và phương pháp quản lý lạc hậu

Đây là vấn đề nổi cộm đối với tổng thể các DN của nước ta do đặc điểm
nền kinh tế chưa thực sự phát triển. Ở DN hiện nay, một thực trạng phổ biến
trong các DNV&N là hệ thống máy móc, thiết bị lạc hậu, khoảng 10-15 năm
trong ngành điện tử, 15 năm đối với ngành cơ khí, 70% công nghệ ngành dệt
may đã sử dụng được 15 năm. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm
của chỉ ở mức 5-7% so với 20% của thế giới. Công nghệ lạc hậu làm tăng chi
phí tiêu hao 1,5 lần so với định mức tiêu chuẩn của thế giới. Thực trạng này
dẫn đến tăng chi phí đầu vào, cao hơn từ 30 - 50% so với các nước ASEAN,
đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá thành cao và năng suất thấp.
Nhiều DNV&N rất yếu kém trong tiếp cận thông tin và các dịch vụ hỗ
trợ kinh doanh. Một phần là do chất lượng nguồn nhân lực thấp, hạn chế về
trình độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ của giám đốc và đội ngũ quản lý DN,
một phần là do đầu tư cho hệ thống thông tin thấp, chưa có phương tiện kỹ
thuật nên chưa theo kịp diễn biến của thị trường.



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 15
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

Vì thế, nhiều quyết định kinh doanh được đưa ra chỉ dựa vào kinh
nghiệm và phán đoán cảm tính, đây là điểm yếu nhất các DNV&N của trước
áp lực cạnh tranh quốc tế.

* Các DNV&N hoạt động linh hoạt, năng động

Trong nền kinh tế, các DNV&N là những thành phần hoạt động linh hoạt
nhất. Với mỗi thay đổi nhỏ nhất của nền kinh tế, các DNV&N đều chịu tác
động và phải điều chỉnh hoạt động của mình để phù hợp với mỗi biến đổi đó.
Với tính năng động như vậy, các DNV&N đã đạt được hiệu quả trong hoạt
động của mình và đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế. Sự đa dạng về loại
hình hoạt động, phương thức quản lý, sản phẩm của các DNV&N giúp cho họ
đứng vững được trong thị trường.

1.1.2. Hoạt động tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân
hàng thương mại

Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả đi vay và cho vay. Tuy nhiên tín
dụng khi gắn với chủ thể là NH thì tín dụng NH nghĩa là NH cho vay.
Tín dụng được xem xét là một chức năng cơ bản của NH, vì vậy trên cở
sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của NH thì tín dụng có thể dược hiểu như
sau :
Tín dụng là một quan hệ về tài sản (tiền hoặc tài sản) giữa bên cho vay
(Ngân hàng) và bên đi vay (Doanh nghiệp Vừa và nhỏ), trong đó bên cho vay
chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo
thoả thuận, đồng thời bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc
và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của NH, chiếm tỷ trọng cao nhất
trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất. Ở các nước trên thế giới thì hoạt
động tín dụng chiếm 50-60% lợi nhuận, còn ở thì chiếm tới 60-70%. Song
song với hoạt động huy động vốn, tín dụng tạo ra nguồn lợi nhuận chính duy trì
hoạt động của NH. Hoạt động tín dụng NH được dựa trên quyết định của thống



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 16
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

đốc NH nhà nước số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 về
việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với DN. Theo đó quan
hệ tín dụng giữa Doanh nghiệp và NH có thể hiểu như sau:
- Doanh nghiệp phải cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi với thời gian xác định.
Các khoản tín dụng của NH chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của
DN cùng khách hàng và các khoản vay mượn khác. Bản thân NH cũng có
trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho các khoản mượn nói trên. NH thu lợi
nhuận là nhờ thu chênh lệch lãi suất cho vay và đi vay, đồng thời sử dụng
vốn vay để thực hiện hoạt động khác như đầu tư, tài trợ… Như vậy, để duy
trì sự tồn tại và phát triển của mình, NH phải yêu cầu DN thực hiện đúng
cam kết này.
- Doanh nghiệp phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoả thuận
với NH, không trái với quy định của pháp luật và các quy định khác của NH
cấp trên. Luật pháp quy định phạm vi hoạt động cho các NH, và mỗi NH
đều có mục đích và phạm vi hoạt động riêng. Do vậy, khi cho cấp tín dụng
trong phạm vi hoạt động của mình, NH yêu cầu DN phải sử dụng vốn đúng
mục đích như đã thoả thuận với NH.
- NH tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả. Phương án hoạt động của DN
đảm bảo khả năng thu hồi vốn và lãi của NH. Mặt khác, để đảm bảo đòi
được nợ, các NH thường yêu cầu tài sản đảm bảo với mỗi khoản vay.

Các hoạt động tín dụng đối với DNV&N của Ngân hàng thương mại

Hoạt động tín dụng NH được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.
NH tiến hành phân loại tín dụng để dễ quản lý các khoản tín dụng và nhằm đa
dạng hoá tín dụng nhằm thoả mãn nhu cầu của DN. Phân loại tín dụng để NH
quyết định lãi suất cho vay, cũng như loại hình cho vay thích hợp với mỗi loại
tín dụng khác nhau.
Việc xác định phương thức cho vay có một ý nghĩa rất quan trọng của
quá trình cấp tín dụng choĐNN. Nếu xác định đúng phương thức cho vay cho
từng DN từ đú sẽ tạo ra yếu tố tích cực giúp cho DN thuận lợi trong quá trình


SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 17
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

giao dịch và chủ động về tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh và thuận
lợi để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh, khuyến khích được DN về
quan hệ vay vốn với NH, Ngân hàng chủ động trong việc cân đối giữa nguồn
vốn và sử dụng vốn. Nếu xác định sai phương thức cho vay sẽ dẫn đến NH
không kiểm soát chặt chẽ được số vốn cho vay làm tăng rủi ro tín dụng, không
khuyến khích được DN vay vốn.

Hiện nay các NH thường áp dụng các phương thức cho vay sau

* Cho vay thấu chi

Cho vay thấu chi là nghiệp vu cho vay qua đó NH cho phép người vay
được chi trội tren số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất
định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức
thấu chi.
Để được thấu chi, DN làm đơn xin NH hạn mức thấu chi và thời gian
thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho NH ). Trong quá trình hoạt động, DN
có thể ký séc, lập uỷ nhiệm chi, mua thẻ… vượt số dư tiền gửi để chi trả (song
trong hạn mức thấu chi). Khi DN có tiền nhập về tài khoản tiền gửi, NH sẽ thu
nợ gốc và lãi. Số lãi mà DN phải trả là :

Số lãi phải trả = Lãi suất thấu chi x Thời gian thấu chi x Số tiền thấu chi.

Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử
dụng hình thức này. Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của DN không phù hợp
về thời gian và quy mô. Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào
dự đoán ngân quỹ song không chính xác. Do vậy, hình thức cho vay này tạo
điều kiện thuận lợi cho DN trong quá trình thanh toán, chủ động, kịp thời.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản,
phần lớn là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả DN lẫn cá nhân vài ngày
trong tháng, vài tháng trong năm, dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp,
mua hàng… Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với DN có độ tin cậy
cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.


SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 18
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

* Cho vay trực tiếp từng lần

Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của
NH đối với các DN không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện
để được cấp hạn mức thấu chi. Một số DN sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng
thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc
biệt mới vay NH, tức là vốn từ NH chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định
của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay, DN phải làm đơn và trình NH phương án sử dụng vốn vay.
NH sẽ phân tích DN và ký hợp đồng cho vay, xác định mức cho vay, thời hạn
giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay
được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau.

Nhu cầu vay Chi phí cần thiết cho SXKD - Vốn tự có -
=
Ngân hàng Vốn khác


Trong đó:

Chi phí cần thiết Giá trị hợp đồng - Khấu hao cơ bản -
=
Cho SXKD Thuế - Lợi nhuận định mức cho SXKD

Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo:


Mức cho vay= (Giá trị tài sản đảm bảo x Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản
đảm bảo).

Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, NH sẽ thu gốc và lãi. Trong quá
trình DN sử dụng tiền vay, NH sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng,
nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, NH sẽ thu nợ trước hạn, hoặc chuyển
nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi.
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. NH có thể kiểm soát
từng món vay tách biệt. Tiền cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo.




SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 19
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

* Cho vay theo hạn mức

Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó NH thoả thuận cấp cho DN hạn mức
tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối
đa tại thời điểm tính.
Mỗi lần vay, DN chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các
chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi
kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, NH sẽ phát tiền cho DN.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những DN vay mượn thường
xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong nghiệp vụ này, NH không ấn định trước ngày trả nợ. Khi DN có thu
nhập, NH sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho DN. Tuy nhiên,
do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên NH khó kiểm
soát hiệu quả sử dụng từng lần vay. NH chỉ có thể phát hiện vấn đề khi DN nộp
báo cáo tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.

* Cho vay luân chuyển

Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của
hàng hoá. DN khi mua hàng có thể thiếu vốn. NH có thể cho vay để mua hàng
và sẽ thu nợ khi DN bán hàng. Đầu năm hoặc đầu quý, người vay phải làm đơn
xin vay luân chuyển. NH và DN thoả thuận với nhau về phương thức vay, hạn
mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hoá và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín
dụng có thể được thoả thuận trong 1năm hoặc vài năm. Đây không phải là thời
hạn hoàn trả mà là thời hạn NH xem xét lại mối quan hệ giữa NH và DN cũng
như tình hình tài chính của DN.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển hàng hoá nên cả NH và DN đều phải
nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá để dự đoán dòng ngân quỹ trong
thời gian tới.
Khi vay, DN chỉ cần gửi đến NH các chứng từ hoá đơn nhập hàng và số
tiền cần vay. NH cho vay và trả tiền cho người bán. Theo hình thức này, giá trị
hàng hoá mua vào (có hoá đơn, hợp pháp, hợp lệ, đúng đối tượng) đều là đối

SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 20
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

tượng được NH cho vay; thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho NH.
Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo khối lượng và chất lượng
quan hệ nợ nần của người vay. Các khoản phải thu và cả hàng hoá trong kho
trở thành vật đảm bảo cho khoản cho vay. Cho vay luân chuyển thường được
áp dụng đối với các DN thương nghiệp hoặc DN sản xuất có chu kỳ tiêu thụ
ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với NH.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho DN. Thủ tục cho vay chỉ cần
thực hiện 1 lần cho nhiều lần vay. DN được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời , vì
vậy việc thanh toán cho người cung ứng sẽ nhanh gọn.
Nếu DN gặp khó khăn trong tiêu thụ thì NH sẽ gặp khó khăn trong việc
thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng.

* Cho vay trả góp

Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó NH cho phép DN trả gốc
làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã theo thoả thuận. Cho vay trả góp
thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản
cố định và tài sản lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp
với khả năng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế cuả DA, hoặc
từ thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng).
NH thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mức
nhất định. NH sẽ thanh toán cho ngưòi bán lẻ về số hàng hoá mà DN đã mua
trả góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận tiền ngay sau khi bán hàng từ phía NH và
làm đại lý thu tiền cho NH, hoặc DN trả trực tiếp cho NH. Đây là hình thức tín
dụng tài trợ người mua (qua đó đến người bán) nhằm khuyến khích tiêu thụ
hàng hoá.
Cho vay trả góp rủi ro cao do DN thường thế chấp bằng hàng hoá mua
trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Nếu
người vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ của NH
cũng bị ảnh hưởng. Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp thường là lãi
suất cao nhất trong khung lãi suất cho vay của NH.


SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 21
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

* Cho vay gián tiếp

Phần lớn cho vay của NH là cho vay trực tiếp. Bên cạnh đó NH cũng
phát triển các hình thức cho vay gián tiếp. Đây là hình thức cho vay thông qua
các tổ chức trung gian.
NH cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhóm sản xuất, Hội Nông
dân, Hội Cựu chiến binh, Hội phụ nữ…Các tổ chức này thường liên kết các
thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ
quyền lợi cho mỗi thành viên. Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói
giảm nghèo luôn được các tổ chức này rất quan tâm.
NH có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức
trung gian, như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra
bảo đảm cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho
một thành viên vay. Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc
không đủ tài sản thế chấp.
NH cũng có thể cho vay thông quá người bán lẻ các sản phẩm đầu vào
của quá trình sản xuất. Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử
dụng tiền sai mục đích.
Cho vay gián tiếp thường được áp dụng đối với thị trường có nhiều món
vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa NH. Trong trường hợp như vậy, cho vay
qua trung gian có thể tiết kiệm chi phí cho vay.
Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của NH. Tuy
nhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của
mình, để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác
cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng
hoặc với giá đắt cho người vay vốn.

1.2. Chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng
thương mại

1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 22
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

Đối với các NHTM, cái được biểu hiện ra bên ngoài vừa cụ thể, vừa trừu
tượng của hoạt động tín dụng chính là chất lượng tín dụng. Chỉ khi chất lượng
tín dụng tốt tức là NH có nhiều khách hàng, uy tín NH được nâng cao tạo điều
kiện thúc đẩy cho NH phát triển.
Chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng phù
hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của NH.
Như vậy khi xem xét chất lượng tín dụng của NH nói chung và đối với
DNV&N nói riêng, cần tính đến ba nhân tố là NHTM, khách hàng, và nền kinh
tế.

Thứ nhất: Chất lượng hoạt động tín dụng xét từ giác độ NHTM

Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải
phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân NH và phải
đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng
hạn và có lãi. Chất lượng hoạt động tín dụng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận
hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo
đúng quy định và hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn hạn,trung và
dài hạn trong nền kinh tế.

Thứ hai: Chất lượng hoạt động xét từ giác độ khách hàng

Thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự am hiểu khách hàng sẽ
làm cho NH hiểu rõ nhu cầu tín dụng của NH, đảm bảo thoả mãn nhu cầu hợp
lý về vốn cho họ. Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, chất lượng là yêu cầu
hàng đầu, vì vậy chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của khách
hàng, lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản không phiền hà, thu hút được khách
hàng nhưng vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín dụng phù hợp
với tốc độ phát triển của xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của NH, góp
phần làm lành mạnh tài chính khách hàng.

Thứ ba: Chất lượng tín dụng xét từ giác độ nền kinh tế

Hoạt động tín dung trong những năm gần đây phản ánh rõ nét sự năng


SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 23
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới. Nhiều khái niệm mới với
những nội dung mới để đạt được sự thống nhất, về nhận thức và tạo điều kiện
nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động,
tăng thêm sản phẩm cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác khả
năng tiềm ẩn trong nền kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nước,
tranh thủ vay vốn nước ngoài có lợi cho nền kinh tế phát triển.

Từ những điều trên, ta có thể rút ra:

- Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích
nghi của NHTM và sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức
mạnh một NH trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.
- Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được
khách hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn của vốn tín dụng,
chi phí tổng thể về sản xuất, chi phí nghiệp vụ…
- Chất lượng tín dụng không tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quy
trình kết hợp hoạt động giữa con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với
nhau vì một mục đích chung, do đó để đạt được chất lượng tín dụng cần có sự
quản lý.
Quản lý chất lượng về cơ bản là những hoạt động và kỹ thuật được sử
dụng nhằm đạt được chất lượng tốt.

1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương
mại

Có nhiều chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng TDNH, trong đó có các
chỉ tiêu cơ bản sau:

1.2.2.1. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của NHTM ở
một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Chỉ tiêu
này được tính theo công thức (1.1) dưới đây:


SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 24
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân



Tỷ lệ nợ xấu Nợ xấu
= x 100% ≤ 5%
Tổng dư nợ (1.1) (1.1)

* Khái niệm nợ xấu:

Nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu nợ quá hạn thì chưa đánh giá chính xác về chất lượng
tín dụng của các NH. Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày
22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước “ V/v Ban hành quy định về
phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt
động NH của TCTD” đã đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng của các
TCTD. Theo Quyết định 493 thì nợ xấu là nợ thuộc nhóm 3,4,5 theo cách phân
loại nợ dưới đây.
Chỉ tiêu này phản ánh nợ xấu của một NH, tỷ lệ này càng thấp càng tốt. Thực
tế, rủi ro trong kinh doanh là không tránh khỏi, nên NH thường chấp nhận một
tỷ lệ nhất định được coi là giới hạn an toàn. Mức giới hạn này ở mỗi nước là
khác nhau, riêng ở hiện nay chấp nhận tỷ lệ là 5%.

* Cách phân loại nợ

Theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 (có hiệu lực
ngày 17/03/2005) của Thống đốc NHNN VN về việc sửa đổi, bổ sung một số
điều của quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng ban hành kèm theo
Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001. Trong đó điều chỉnh
kỳ hạn nợ là việc NH chấp thuận thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vay
trong phạm vi thời hạn cho vay đã thoả thuận tại HĐTD; gia hạn nợ vay là việc
NH chấp thuận kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ gốc và/hoặc lãi vay
vượt quá thời hạn cho vay đã thoả thuận trong HĐTD và chất lượng tín dụng
được thể hiện là tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ.
Việc phân loại nợ quá hạn theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN đã
có nhiều thay đổi nhưng việc phân loại nợ quá hạn vẫn còn dựa vào tiêu chí




SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 25
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

thời gian quá hạn của khoản vay chứ chưa tính đến tiêu chí rủi ro của khoản
vay nên chưa phản ảnh chính xác chất lượng của hoạt động tín dụng.
Theo Quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước “V/v Ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và
sử dụngdự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NH của tổ chức tín
dụng” và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước “V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phân
loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động
NH của tổ chức tín dụng ban hành theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN
ngày 22/04/2005” thì dư nợ của các tổ chức tín dụng được chia làm 05 nhóm,
cụ thể:

Nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu
hồi đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn; Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ
chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và
thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại; Các khoản nợ của DN trả đầy
đủ nợ gốc và lãi theo kỳ hạn đã được cơ cấu lại tối thiểu trong vòng 01 năm đối
với các khoản nợ trung và dài hạn, 03 tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn và
các kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng
hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại thì phân loại vào nợ nhóm 1. Trường hợp
một DN có nợ cơ cấu lại bao gồm nợ ngắn hạn và nợ trung, dài hạn thì chỉ xem
xét đưa vào nợ nhóm 01 khi DN đã trả đầy đủ (nợ ngắn hạn và nợ trung, dài
hạn) cả gốc và lãi số nợ đã được cơ cấu lại trong thời gian quy định trên, đồng
thời các kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi
đúng hạn đã được cơ cấu lại..

Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm

Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Các khoản nợ điều chỉnh
kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là DN, tổ chức thì tổ chức tín dụng



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 26
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi
đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu).


Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm

Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại
có thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu
phân loại vào nhóm 2; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng
không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.

Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm

Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn
trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.

Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm

Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn
trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại
lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ
lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ
khoanh, nợ chờ xử lý.
Các khoản nợ nếu có đủ cơ sở để đánh giá là khả năng trả nợ của của
khách hàng bị suy giảm thì phải phải tính một cách chính xác, minh bạch để
phân loại nợ vào các nhóm nợ phù hợp với mức độ rủi ro, cụ thể:
Nhóm 2: Các khoản nợ tổn thất tối đa 5% giá trị nợ gốc.
Nhóm 3: Các khoản nợ tổn thất từ trên 5%-20 % giá trị nợ gốc.
Nhóm 4: Các khoản nợ tổn thất từ trên 20% - 50% giá trị nợ gốc.
Nhóm 5: Các khoản nợ tổn thất trên 50% giá trị nợ gốc.
Việc phân loại nợ theo Quyết định 493và quyết định 18 của Ngân hàng
Nhà nước vừa dựa vào tiêu chí thời gian quá hạn của khoản vay, vừa dựa vào


SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 27
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

tiêu chí rủi ro của khoản vay đã làm cho các NH phải đánh giá lại thực sự các
khoản nợ đã cho khách hàng vay và có thể đánh giá chính xác hơn về chất
lượng tín dụng của mình.

1.2.2.2. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn

Chỉ tiêu này được tính theo công thức (1.2) dưới đây:

Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn = (1.2)
Tổng vốn huy động


Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích so sánh khả năng cho vay của NH
với khả năng huy động vốn, đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy
động. Thông thường theo cách nhìn của nhiều người, chỉ tiêu này càng lớn
chứng tỏ NH sử dụng nhiều vốn huy động và hoạt động của NH sẽ hiệu quả
hơn, điều này sẽ không đúng. Vậy tỷ lệ này lớn tốt hay nhỏ tốt? Chúng ta chưa
thể khẳng định được, bởi nếu tiền gửi ít hơn tiền cho vay thì NH phải tìm kiếm
nguồn vốn có chi phí cao hơn, còn nếu tiền gửi nhiều hơn tiền cho vay thì NH
sẽ rơi vào tình trạng thừa vốn. Do đó, chỉ tiêu này chỉ mang tính tương đối giúp
chúng ta so sánh khả năng cho vay và huy động vốn của một NH.

1.2.2.3. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

Được xác định bằng doanh số thu nợ trên dư nợ bình quân của một
NHTM trong thời gian nhất định, thường là một năm.
Chỉ tiêu này được tính theo công thức (1.3):

Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng = (1.3)
Dư nợ bình quân


Đây là chỉ tiêu phản ánh số vòng chu chuyển của vốn vay (thường là 1
năm). Chỉ tiêu này càng tăng thì tính tổ chức, quản lý tín dụng càng tốt, chất
lượng cho vay càng cao. Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ phản ánh một cách tương
đối, vì nếu một NHTM này cho vay các DN sản xuất chiếm tỷ trọng lớn dư nợ,


SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 28
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

thì chỉ tiêu này thấp hơn NHTM khác cho vay các DN thương mại. Như vậy,
không vì thế mà chất lượng cho vay của NHTM này kém hơn. Từ thực tế trên,
để có nét tương đối chính xác về chất lượng tín dụng thì các tiêu thức tính toán
phải thống nhất, vòng quay tín dụng phải tính toán cho từng loại vay, thời hạn
vay và từng đối tượng vay cụ thể.

1.2.2.4. Chỉ tiêu lợi nhuận

Chỉ tiêu này được tính theo công thức (1.4) dưới đây:

Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
Lợi nhuận = (1.4)
Tổng dư nợ tín dụng


Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của NHTM chiếm từ 70%-85% tổng lợi
nhuận của NHTM. Nếu lợi nhuận của một NH nào đó tăng lên hàng năm, điều
đó chứng tỏ chất lượng tín dụng được nâng lên. Chỉ tiêu này phản ánh khả
năng sinh lời của tín dụng. Lợi nhuận ở đây phản ánh chênh lệch giữa chi phí
đầu vào (lãi suất huy động) và thu lãi đầu ra. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng
sinh lời của vốn tín dụng , một khoản tín dụng ngắn hạn hay dài hạn không thể
xem là có chất lượng cao nếu nó không đem lại lợi nhuận cho NH. Chỉ tiêu này
cao chứng tỏ các khoản cho vay của NH sinh lời và ngược lại chỉ tiêu này thấp
chứng tỏ các khoản vay không sinh lời, đồng nghĩa với chất lượng tín dụng
chưa tốt. Đánh giá chất lượng khoản tín dụng trên cơ sở căn cứ vào lợi nhuận
thu được của các NHTM, đây cũng là chỉ tiêu tương đối vì nó phụ thuộc vào
nhiều yếu tố như: chính sách lãi suất, chính sách khách hàng v.v. Thông thường
trong hoạt động NH, nếu chấtlượng tín dụng NHTM tốt, tỷ lệ nợ xấu thấp thì
lợi nhuận từ hoạt động tín dụng sẽ cao hơn khi cùng một mức dư nợ so với các
NH khác.




SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 29
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp
Vừa và nhỏ

Như ta đã biết, chất lượng tín dụng là chỉ tiêu để đánh giá tình hình hoạt
động tín dụng của một NH và có ý nghĩa lớn đến sự tồn tại và phát triển của
NH. Chất lượng tín dụng được thể hiện ở sự thoả mãn nhu cầu vay vốn của
khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời
đảm bảo sự tồn tại và phát triển của NH. Để có thể thực hiện được mục tiêu
hoạt động của mình là tìm kiếm lợi nhuận dựa trên chức năng nhiệm vụ của
NH, cụ thể ở đây là hoạt động tín dụng, mỗi NH phải làm sao để nâng cao
được chất lượng tín dụng. Để thực hiện được điều này ta cần nghiên cứu tác
động của các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động tín dụng, đó là 3 nhóm nhân tố
sau đây:

1.3.1. Các nhân tố chủ quan

Đối với NHTM: chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới
hạn tín dụng phải phù hợp khả năng thực lực của bản thân NH và đảm bảo
được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
Bao gồm các nhân tố như: Chính sách tín dụng, công tác tổ chức, chất
lượng cán bộ, quy mô vốn của NH, thông tin tín dụng, quy trình nghiệp vụ tín
dụng...

* Chính sách tín dụng

Chính sách tín dụng là một hệ thống biện pháp có liên quan đến việc
khuyếch trương tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt được mục tiêu đã hoạch
định của NHTM đó.
Do đó, việc hoạch định chính sách tín dụng có ý nghĩa quyết định đến sự
thành công hay thất bại của mỗi NH. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu
hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng
dựa trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ chấp hành đúng luật pháp và đường lối
của NH nhà nước, đảm bảo công bằng xã hội. Bất kỳ một NH nào muốn nâng


SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 30
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

cao hiệu quả hoạt động của mình thì phải có chính sách tín dụng phù hợp với
điều kiện cụ thể của NH.
Hoạt động tín dụng trong nền kinh tế thị trường chứa đựng nhiều rủi ro.
Khi NH gặp những rủi ro thì có thể đi đến phá sản hoặc bị thiệt hại lớn, mất uy
tín với khách hàng và cơ quan quản lý Nhà nước. Vì vậy khi hoạch định chính
sách tín dụng, các nhà hoạch định luôn coi trọng việc đảm bảo mục tiêu phải
đạt được, nên ta có thể nói rằng: Chất lượng tín dụng của một NH có tốt hay
không còn phụ thuộc vào việc xây dựng một chính sách tín dụng NH có đúng
đắn, phù hợp không.

* Công tác tổ chức NH

Để tạo điều kiện cho việc quản lý có hiệu quả các nguồn vốn tín dụng thì
cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các phòng ban, có sự thống nhất đoàn kết
từ trên xuống, từ ban lãnh đạo đến cán bộ công nhân viên. Điều đó có ý nghĩa
là công tác tổ chức NH được thực hiện tốt chính là cơ sở tiến hành các nghiệp
vụ tín dụng lành mạnh. Hơn nữa thực hiện tốt công tác này, NH đã làm cho
guồng máy của mình hoạt động một cách uyển chuyển linh hoạt. Chính vì vậy,
trong quá trình hoạt động NH nên luôn chú trọng công tác này để ngày càng
phát triển và hoàn thiện hơn.

* Thông tin tín dụng

Cho vay không phải là một vấn đề đơn giản. Trên thực tế không phải DN
nào cũng sử dụng vốn vay có hiệu quả và đúng mục đích. Đó là chưa nói tới
những kẻ mạo danh, mạo nhận là DN để cho vay trái phép, chiếm dụng vốn bất
hợp pháp, gây rủi ro và tổn thất cho NH. Vì vậy, hoạt động tín dụng muốn đạt
hiệu quả cao, an toàn cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ cho công
tác này. Nắm bắt kịp thời và chính xác luồng thông tin là điều kiện để xem xét,
phân tích, nhằm tìm ra cơ hội tốt nhất trong kinh doanh cũng như đề phòng
những rủi ro có thể xẩy ra trong các hoạt động của NH.




SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 31
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

* Chất lượng đào tạo cán bộ NH

Chất lượng cán bộ là "cơ sở vật chất" để thực hiện những kế hoạch kinh
doanh trong cơ chế thị trường thường xuyên thay đổi và có nhiều biến động
như hiện nay. Do vậy trong quá trình tuyển chọn cán bộ NH cần phải ưu đãi
những người có tư cách đạo đức tốt, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, năng động
sáng tạo. Trong quá trình hoạt động thường xuyên tiến hành đào tạo và đào tạo
lại cán bộ để nâng cao chất lượng cán bộ, đảm bảo quá trình thực thi nhiệm vụ
được nhanh chóng, chính xác, linh hoạt trong xử lý những sai sót có thể xẩy ra.
Một NH có đội ngũ cán bộ được đào tạo với chất lượng, trình độ chuyên
môn giỏi thì việc quản lý thực hiện các nghiệp vụ tín dụng NH nói riêng và các
nghiệp vụ NH nói chung sẽ trở nên quy củ, có hệ thống và đạt hiệu quả cao
hơn. Ngoài ra, nó còn giúp cho NH tránh được các rủi ro có thể xẩy ra.

* Những vấn đề thuộc về kiểm tra, thanh tra, kiểm soát

Mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, tăng cường cho vay mà không tính
đến rủi ro, bất chắc có thể xẩy ra thì sẽ dễ dàng dẫn đến sự sụp đổ giải thể của
mỗi NH.
Một trong những hoạt động có mục đích cho NH tránh được những rủi
ro đó là công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát. Công tác này không chỉ
được thực hiện đối với khách hàng (như kiểm tra trước, trong và sau khi cho
vay) mà còn được thực hiện đối với bản thân NH (như quy trình thực hiện
cho vay, quá trình quản lý vốn vay, loại trừ cán bộ mất phẩm chất có hiện
tượng tham ô, tham nhũng gây thất thoát tài sản làm mất uy tín của NH đối
với khách hàng.
Nâng cao chất lượng tín dụng cũng đồng thời là NH phải kịp phát hiện
và ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật có ảnh hưởng đến hoạt động
của NH. Muốn vậy, việc đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực trình độ và trách
nhiệm thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát là một vấn đề mà không
NH nào coi nhẹ.



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 32
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

1.3.2. Nhân tố khách quan

Đối với khách hàng: do nhu cầu vay vốn tín dụng của khách hàng là để
đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh nên chất lượng tín dụng được
đánh giá theo tính chất phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với mức
lãi suất và kỳ hạn hợp lý. Thêm vào đó là thủ tục vay đơn giản, thuận lợi, thu
hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc tín dụng.
Khách hàng vừa là đại diện cho bên cung ứng vốn tín dụng, vừa là đại
diện cho bên cầu vốn tín dụng. Với tư cách là người cung ứng vốn tín dụng, họ
mong muốn nhận được từ NH một khoản lãi vay từ tiền gửi hay các dịch vụ
thanh toán tiện lợi, do đó sự tín nhiệm của NH đối với khách hàng sẽ tăng thêm
tính ổn định của nguồn vốn huy động. Với tư cách là người vay, họ mong
muốn được đáp ứng đầy đủ vốn phù hợp với yêu cầu kinh doanh có thời hạn
vay và lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản nhanh chóng.

* Yếu tố con người

Nhân tố con người: bao gồm đạo đức của khách hàng, mục tiêu kinh
doanh, nhiệm vụ, động cơ của người vay...
Những thông tin sai trái về người vay là một dấu hiệu nguy hiểm ảnh
hưởng đến chất lượng tín dụng, ảnh hưởng đến hiệu quả của người vay.
Một nhân tố khác không kém phần quan trọng là tính quyết tâm trong
kinh doanh của khách hàng. Một người vay có tính quyết tâm cao sẽ là một
điều kiện giúp cho phương án kinh doanh có thể thắng lợi từ đó có nguồn trả
nợ cho NH đúng hạn và đầy đủ, chất lượng tín dụng của NH sẽ được đảm bảo
và uy tín của NH được nâng cao.
Năng lực quản lý kinh doanh của khách hàng cũng là một dấu hiệu cho
khả năng đảm bảo chất lượng tín dụng của NH. Một nhà quản trị kinh doanh
tốt là một người quản lý tốt đồng tiền vào ra của DN, kiểm soát được các chi
phí, nhận biết các cơ hội kiếm lời và đưa ra các quyết định kinh doanh chính
xác, từ đó kiếm được lợi nhuận, có nguồn để trả nợ cho NH.



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 33
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

* Uy tín và khả năng tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng

NH sẽ chỉ đồng ý cho vay nếu khách hàng chứng tỏ được khả năng tài
chính và khả năng trả nợ của mình đối với NH. Ngân hàng không dám mạo
hiểm cho vay đối với khách hàng nào mà uy tín bị giảm sút, khả năng tài chính
đang có vấn đề. Vì vậy tài sản đảm bảo là một đòi hỏi của NH để đáp ứng cho
nguồn trả nợ thứ hai bổ sung cho món vay. Giá trị tài sản ảnh hưởng trực tiếp
đến số tiền mà khách hàng được vay, vì NH căn cứ vào giá trị tài sản đảm bảo
để xác định số tiền cho vay tối đa chỉ được 70% giá trị tài sản đảm bảo (nếu
như không có quy định khác).

* Tính khả thi của dự án vay vốn

Khi DA có khả thi thì các cán bộ sẽ dựa vào đó để quyết định cho vay,
quy mô tín dụng sẽ được mở rộng. Đây còn là yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng
món vay, ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của NH.
Mặt khác, nếu DN sử dụng vốn vay sai mục đích hoặc sử dụng vốn vay
ngắn hạn cho đầu tư sản xuất cố định hoặc kinh doanh bất động sản thì sẽ
không thu hồi kịp vốn để hoàn trả đúng hạn, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động
tín dụng.

1.3.3. Những nhân tố khác

* Môi trường kinh tế

Để NH có thể huy động được nhiều vốn mở rộng hoạt động tín dụng
phục vụ cho việc phát triển kinh tế thì cần có một nền kinh tế ổn định. Một nền
kinh tế phát triển ổn định, sẽ giúp cho NH mở rộng quy mô hoạt động của
mình, làm giá cả luôn giữ ở mức ổn định, tránh được tình trạng lạm phát hoặc
giảm phát...
NH sẽ khó tránh khỏi rủi ro nếu nền kinh tế không ổn định, chu kỳ kinh
tế có tác động không nhỏ đến hoạt động cho vay của NH. Trong thời kỳ nền
kinh tế thị trường bị suy thoái, sản xuất bị đình trệ, kinh doanh bị thu hẹp thì
nhu cầu vốn tín dụng giảm và nếu vốn tín dụng đã được thực hiện thì cũng khó


SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 34
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

có thể sử dụng có hiệu quả hay khó có thể trả nợ đúng hạn cho NH. Ngược lại,
thời kỳ nền kinh tế hưng thịnh SXKD được mở rộng dẫn đến nhu cầu về vốn
tăng, từ đó chất lượng tín dụng được nâng lên, giảm bớt rủi ro tín dụng. Như
vậy, chu kỳ kinh tế ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả của các khoản vốn tín dụng
NH.
Ngoài ra, các chính sách và sự điều tiết của các cơ quan có thẩm quyền ở
mỗi ngành, mỗi vùng đều có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

* Môi trường Xã hội - Chính trị

Khách hàng và NH thực hiện quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở tín nhiệm
giữa hai bên. Vì vậy sự tín nhiệm là cầu nối mỗi quan hệ giữa NH và khách
hàng. Uy tín của NH trên thị trường ngày càng cao thì sẽ thu hút được lượng
khách hàng ngày càng đông. Mối quan hệ xã hội thể hiện cụ thể giữa NH và
khách hàng là nhân tố không kém phần quan trọng quyết định tới quy mô,
phạm vi hoạt động của mỗi NH, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng.
Nhân tố chính trị cũng có ảnh hưởng khá nhiều tới hoạt động tín dụng.
Thật vậy, một quốc gia không có sự biến động về chính trị hay không xảy ra
chiến tranh là điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi các nhà
đầu tư nước ngoài không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn chú trọng tới an
toàn của vốn đầu tư. Tình hình kinh tế chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi
cho việc phát triển kinh tế đất nước. Riêng đối với NH, nó có ảnh hưởng tới
việc huy động, cho vay và đầu tư vốn của NH. Điều đó có ý nghĩa là nhân tố
này ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.

* Môi trường pháp lý

Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động NH nói chung
và chất lượng tín dụng nói riêng.
Pháp luật là bộ phận không thể thiếu được ở bất kỳ một nền kinh tế nào.
Không có pháp luật hoặc các chính sách ban hành không phù hợp sẽ khiến cho
nền kinh tế gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, nếu hệ thống pháp luật ban hành



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 35
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

không đầy đủ, không đồng bộ, các văn bản dưới luật còn nhiều mâu thuẫn
trong khi thực hiện và chưa thật phù hợp với các ban ngành, các đơn vị có liên
quan đến hoạt động tín dụng thì có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
Pháp luật sẽ tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh cho mọi hoạt động
SXKD của các DN thuộc mọi thành phần kinh tế tiến hành thuận tiện và đạt kết
quả cao. Nó còn là cơ sở pháp lý để giải quyết mối quan hệ giữa các thành
phần kinh tế. Các DN cũng như NH phải tuân thủ những quy định nghiêm
chỉnh của pháp luật thì hiệu quả và lợi ích sẽ được đảm bảo. Môi trường pháp
luật này luôn được điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện hơn để nó ngày càng phù
hợp hơn với sự phát triển chung của nền kinh tế, trong đó có hệ thống NH.

* Các nhân tố khác

Ngoài những nhân tố nêu trên, hiệu quả của công tác cho vay của NH
còn chịu ảnh hưởng nhiều của nhân tố chủ quan, khách quan khác như: Thái độ
phục vụ khách hàng, đạo đức xã hội, trang thiết bị phục vụ hoạt động hay
những yếu tố môi trường như thời tiết, bệnh dịch..., và các biện pháp trong bảo
vệ môi trường sinh thái.




SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 36
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN SƠN
TÂY


2.1. Khái quát về Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Sơn Tây

Thị xã Sơn Tây được công nhận là đô thị loại III ngày 30 tháng 5 năm
2006 và đã được thủ tướng chính phủ ký quyết định nâng cấp lên thành phố
Sơn Tây trực thuộc tỉnh Hà Tây ngày 2/8/2007.
Sơn Tây là một thành phố nằm ở phía Bắc thuộc tỉnh Hà Tây, địa giới
hành chính thành phố Sơn Tây: Đông giáp huyện Phúc Thọ; Tây giáp huyện Ba
Vì; Nam giáp huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây; Bắc giáp huyện Vĩnh Tường,
tỉnh Vĩnh Phúc, cách thành phố Hà Đông và thủ đô Hà Nội khoảng 45 km.
Diện tích tự nhiên 11.346,85 ha, dân số gần 200.000 người. Đơn vị hành chính
gồm 9 phường, 6 xã
Sơn Tây là thành phố trẻ có tiềm năng về du lịch đa dạng phong phú với
những lợi thế về địa hình và khí hậu, cảnh quan thiên nhiên và truyền thống
văn hoá lịch sử cách mạng lâu đời. Trên địa bàn tỉnh có 15 điểm du lịch hấp
dẫn du khách thập phương. Ngoài ra có Làng Văn Hoá các dân tộc , làng cổ
Đường Lâm, di tích Đền Và, thành cổ Sơn Tây, khu công nghệ cao Láng Hoà
Lạc, Đại học QG Hà Nội, làng nghề Thạch Thất, của thành phố có khu công
nghiệp Phú Thịnh, Thiên Mã, Thuần Nghệ v.v..
Đường giao thông thuận tiện có đường cao tốc Láng Hoà Lạc kéo dài đi
Sơn Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, có đường tránh 32, cầu Trung Hà đi lên Phú
Thọ và các tỉnh Tây Bắc… rất thuận tiện cho phát triển kin tế
Tuy nhiên Sơn Tây vẫn là một thành phố còn non trẻ và nghèo, kinh tế
phát triển còn chậm vì thế đã có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động của
ngành NH nói chung và BIDV CN Sơn Tây nói riêng.




SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 37
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

2.1.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển cuả Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Sơn Tây

Với mục đích tổ chức lại hệ thống NH cho phù hợp với tình hình đổi mới
nền kinh tế của đất nước từ cơ chế quản lý từ tập trung quan liệu, bao cấp sang
nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Thực hiện tinh thần Nghị
quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, ngày 26 tháng 3 năm
1994 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ) đã ban hành Nghị định số
53/HĐBT về tổ chức NH Nhà nước và cải tổ bộ máy NH. Theo Nghị định này
hệ thống NH được tổ chức thành hai cấp:
NH Nhà nước: Với chức năng hoạch định chiến lược thực hiện các chính
sách tiền tệ của NH và là NH của các NH.
Các tổ chức tín dụng: Với chức năng là kinh doanh tiền tệ-tín dụng và
dịch vụ NH, gồm: Các NH thương mại, NH Đầu tư phát triển, Công ty tài
chính và Quỹ tín dụng Nhân dân.
Sau quá trình hoạt động, để điều chỉnh hoạt động của ngành NH, ngày
23 tháng 5 năm 1990 Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
thông qua và ngày 24 tháng 5 năm 1990 Chủ tịch Hội đồng Nhà nước đã ký
Lệnh công bố hai Pháp lệnh: Pháp lệnh NH Nhà nước và Pháp lệnh NH, Hợp
tác xã tín dụng và Công ty tài chính, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10
năm 1990. Sau đó ngày 12 tháng 12 năm 1997, Quốc Hội nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa , khoá X, tại kỳ họp thứ 2, thông qua và ngày 26 tháng 12 năm
1997 và Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ký lệnh công bố Luật NH
Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
10 năm 1998. Đây là sự kiện đáng ghi nhớ trong lịch sử ra đời và phát triển của
ngành NH , hai Luật này đã góp phần tạo ra môi trường pháp lý vững chắc cho
hoạt động NH.
Ngân hàng Đầu tư và phát triển là ngân hàng thương mại nhà nước được
thành lập theo Quyết định số 117/TTg ngày 26/4/1957 của Thủ tướng Chính
phủ và được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký Quyết định số 287-QĐ/NH5


SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 38
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

ngày 21/9/1996 thành lập lại theo mô hình Tổng Công ty Nhà nước quy định
tại Quyết định số 90/TTg ngày 07/3/1994 theo ủy quyền của Thủ tướng Chính
phủ. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển được thực hiện hoạt động ngân hàng và
các hoạt động kinh doanh khác có liên quan phù hợp với quy định của pháp
luật, không ngừng nâng cao lợi nhuận của Ngân hàng và góp phần thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, nhất là trong
lĩnh vực đầu tư phát triển.
BIDV là một pháp nhân thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập được
Nhà nước cấp 100% vốn điều lệ và trực tiếp làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà
nước, có con dấu riêng và có bảng tổng kết tài sản, tự chủ về tài chính và chủ
động trong kinh doanh. Mọi hoạt động của BIDV thực hiện theo luật các tổ
chức tín dụng, pháp luật của Nhà nước và các quy định về tiền tệ, tín dụng,
thanh toán và quản lý ngoại hối của NH Nhà nước.
BIDV CN Sơn Tây tiền thân là Chi điếm của NH kiến thiết tỉnh Hà Sơn
Bình. Từ 1982 - 1992 sát nhập về Hà Nội là Chi điếm 06 của NH Đầu tư và
Xây dựng Hà Nội. Từ 1993 – 2006 là cấp 2 của NH Đầu tư và Phát triển tỉnh
Hà Tây. Từ 01/10/2006 được nâng cấp lên cấp I, trực thuộc NH Đầu tư và
Phát triển .

x

cấp I NH Đầu tư và Phát triển Sơn tây thành lập được gần 2 năm, hoạt
động kinh doanh của luôn phải cạnh tranh gay gắt với các TCTD và Quỹ tín
dụng Nhân dân trên địa bàn. Nhưng được sự quan tâm, chỉ đạo của NH Đầu tư
và Phát triển cũng như sự đồng tình ủng hộ của chính quyền địa phương, cùng
sự đoàn kết nhất trí của tập thể cán bộ công nhân viên. Ban lãnh đạo đã bám
sát định hướng phát triển kinh tế địa phương của ngành, chỉ tiêu kế hoạch TW
giao để chỉ đạo điều hành hoạt động của từng tháng, từng quý sát KH phân
khai nên kết quả năm sau cao hơn năm trước cụ thể:

* Về tổng tài sản



SV: Nguyễn Trung Hiếu Lớp Ngân Hàng 36 Khoa Ngân Hàng - Tài chính 39
Chuyên Đề Tốt Nghiệp Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân

Đến 31/3/2008 thực hiện: 516 tỷ đồng, tăng vượt bậc so với thời điểm
thành lập 30/9/2006 đạt 208%. So với định hướng sau 03 năm đạt 115%, so với
cuối năm 2007 tăng 11%.

* Về huy động vốn

Xác định nguồn vốn là một yếu tố quan trọng cho công việc mở rộng hoạt động
tín dụng đem lại lợi nhuận cho . Chính vì vậy ngay từ khi nâng cấp lên cấp I,
đã xin BIDV cho phép thành lập 01 phòng giao dịch ở cụm công nghiệp Bình
Phú – Thạch Thất, để mở rộng huy động vốn cho vay và phát triển dịch vụ
(được BIDV chấp thuận tháng 3/2007 phòng giao dịch Thạch Thất đã được
khai trương và đi vào hoạt động)
Tính đến 31/3/2008 đã thực hiện được: 384 tỷ đồng, không tính tiền gửi của
KBNN, tăng so với 30/9/2006 là 179% chiếm 20% thị phần huy động vốn trên
địa bàn thành phố Sơn Tây. Tuy nhiên trên địa bàn Hà Tây chỉ chiếm 3% nên
việc huy động vốn cũng hạn chế.

* Về tín dụng

Dư nợ đến 31/3/2008 đạt: 498 tỷ đồng tăng so với 30/9/2006 là 600%, so
với 31/12/2006 tăng 400%, so với 31/12/2007 tăng 124% chiếm 17% thị phần
trên địa bàn trú đóng. Tuy nhiên chỉ chiếm 4% thị phần tỉnh Hà Tây.

* Chỉ tiêu KHKD về chất lượng, cơ cấu tín dụng đến 31/3/2008

Nợ xấu: 0 – Không có nợ xấu (TW giao

Top Download Tài Chính - Ngân Hàng

Xem thêm »

Tài Liệu Tài Chính - Ngân Hàng Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản