Luận văn đề tài:Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: dellvietnam

Nhân loại đang sống trong những năm đầu của thế kỷ 21, thế kỷ của sự bùng nổ về thông tin khoa học và kỹ thuật hiện đại, tiên tiến nhất từ trước đến nay. Những thành tựu mà nhân loại đã đạt được trong những năm gần đây đã làm thay đổi cuộc sống của nhiều dân tộc trên thế giới. Việt Nam là một quốc gia thuộc các nước đang phát triển về mặt kinh tế, lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh kéo dài. Song, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn đề tài:Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam hiện nay

LUẬN VĂN:


Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
cho sinh viên Việt Nam hiện nay
mở đầu



1. Tính cấp thiết của đề tài

nhân loại đang sống trong những năm đầu của thế kỷ 21, thế kỷ của sự bùng nổ
về thông tin khoa học và kỹ thuật hiện đại, tiên tiến nhất từ trước đến nay. Những thành
tựu mà nhân loại đã đạt được trong những năm gần đây đã làm thay đổi cuộc sống của
nhiều dân tộc trên thế giới.

Việt Nam là một quốc gia thuộc các nước đang phát triển về mặt kinh tế, lại trải
qua nhiều cuộc chiến tranh kéo dài. Song, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học -
công nghệ hiện đại, Việt Nam cũng đang từng ngày từng giờ thay đổi diện mạo của mình.

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta chủ trương
phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau gần 20 năm đổi
mới, đất nước ta đã thu được những thành tựu đáng tự hào. Về cơ bản, chúng ta đã thoát
ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và đã có sự tăng trưởng về kinh tế, phá được
thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ đối ngoại, tình hình kinh tế chính trị cơ bản là ổn
định, quốc phòng an ninh được tăng cường, thế và lực ngày càng được củng cố và phát
triển.

Kinh tế thị trường đã đem lại cho ta những điều "kỳ diệu" trong sự phát triển
kinh tế - xã hội, tuy nhiên nó cũng là mảnh đất màu mỡ nảy sinh lối sống ích kỷ, vụ lợi,
những thói hư tật xấu, những tệ nạn xã hội đã và đang từng ngày, từng giờ làm băng hoại
những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, phá vỡ nhiều nét đẹp của văn hóa truyền
thống. Mặt trái của cơ chế thị trường đã tạo ra một bộ phận không nhỏ lớp người trong xã
hội nói chung, một bộ phận thanh niên, sinh viên nói riêng có lối sống chạy theo đồng
tiền, buông thả, quay lưng với văn hóa, với truyền thống dân tộc.

Từ thực tế đó, Đảng ta đặt ra yêu cầu phải gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ
đạo đức và công bằng xã hội, vừa phát triển kinh tế thị tr ường, đồng thời phải bảo tồn
và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Tại Hội
nghị Trung ương lần thứ tư khóa VII, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã khẳng định:
Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha hóa. Đi vào
kinh tế thị trường, hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị truyền thống sẽ làm
mất đi bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của người khác,
của dân tộc khác.

Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về "Một số định hướng lớn trong công tác tư
tưởng hiện nay" tiếp tục khẳng định: Sự phát triển của một dân tộc phải vươn tới cái mới
tạo ra cái mới, nhưng lại không thể tách rời khỏi cội nguồn. Phát triển phải dựa trên cội
nguồn, bằng cách phát huy cội nguồn, trở về cội nguồn, giữ được cội nguồn. Cội nguồn
đó của mỗi dân tộc là văn hóa (cốt lõi là những giá trị luân lý đạo đức).

Thực tiễn chứng tỏ rằng, tương lai của mỗi dân tộc phụ thuộc một phần rất lớn
vào thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng. Liệu chúng ta có thể giữ vững định hướng
xã hội chủ nghĩa khi thanh niên bị phai nhạt lý tưởng, thiếu ý thức giữ gìn những giá trị
truyền thống dân tộc? Trong những điều kiện mới của đất nước, chúng ta đã chuẩn bị "hành
trang" gì cho họ? Điều tiên quyết và không thể thiếu đó là "truyền thống dân tộc", những
truyền thống đáng tự hào của lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước đã giúp
chúng ta "hội nhập" mà không bị "hòa tan", phát triển mà không bị "mất gốc", trọng
truyền thống mà không bảo thủ, tất cả những điều đó đã và đang giúp cho thanh niên Việt
Nam nói chung - sinh viên Việt Nam nói riêng nâng cao hơn nữa bản lĩnh của mình, đứng
vững trước mọi thử thách khắc nghiệt của cuộc sống hiện đại.

Với ý nghĩa đó, vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là vấn đề hết
sức cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Đó cũng là lý do để tác giả của luận văn chọn: "
Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam hiện nay (qua
thực tế một số trường đại học và cao đẳng ở thành phố Hà Nội)" làm đề tài nghiên cứu.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Xung quanh vấn đề đạo đức truyền thống những năm gần đây đã có nhiều công
trình nghiên cứu ở dưới các góc độ khác nhau, một số bài viết đã đề cập đến khía cạnh
này hay khía cạnh khác của vấn đề, cụ thể như: "Giá trị tinh thần truyền thống Việt Nam"
do Trần Văn Giàu chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1980; "Biện chứng của truyền
thống" của Hà Văn Tấn, Tạp chí Cộng sản, số 3-1981; "Về truyền thống dân tộc" của
Trần Quốc Vượng, Tạp chí Cộng sản, số 3-1981; "Cái truyền thống và cái hiện đại trong
sự nghiệp xây dựng con người mới ở nước ta" của Đỗ Huy, Tạp chí Thông tin Khoa học
xã hội, số 5-1986; "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, một nhu cầu phát triển
của xã hội hiện đại" của Lương Quỳnh Khuê, Tạp chí Triết học, số 4-1992; "Tìm hiểu
định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường" do Thái
Duy Tuyên chủ biên, Hà Nội, 1994; "Giá trị - định hướng giá trị nhân cách và giáo dục
giá trị" do Nguyễn Quang Uẩn chủ biên, tháng 4-1995; "Đặc điểm lối sống sinh viên hiện
nay và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên", Đề tài nghiên
cứu khoa học, mã số B94-38-32 do Mạc Văn Trang chủ biên (Viện nghiên cứu phát triển
giáo dục - Bộ Giáo dục và Đào tạo), 1995; "Sự biến đổi định hướng giá trị của thanh niên
Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường" của Thái Duy Tuyên, Tạp chí Triết học, số
5-1995; "Quan hệ kinh tế và đạo đức trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay"
của Nguyễn Thế Kiệt, Tạp chí Triết học, 6-1996; "Sự tác động hai mặt của cơ chế thị
trường đối với đạo đức người cán bộ quản lý" của Nguyễn Tĩnh Gia, Tạp chí Nghiên cứu
lý luận, 2-1997; "Định hướng xã hội chủ nghĩa về các quan hệ đạo đức trong cơ chế thị
trường ở nước ta hiện nay" của Đỗ Huy, Tạp chí Triết học, số 5, 1998; "Tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh và vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức trong

nền kinh tế thị trường" của Hoàng Trung, Tạp chí Triết học, số 5, 1998; "Vấn đề khai
thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển" của Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí
Triết học, số 2, 1998; "Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh
viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay", Luận án tiến sĩ Triết học của Trần Sĩ Phán, 1999;
"Vì sao Hồ Chí Minh lại đặc biệt chú trọng đến vấn đề đạo đức?" của Hoàng Trung, Tạp chí
Triết học, số 4, 2000; "Tình cảm đạo đức và giáo dục tình cảm đạo đức trong điều kiện hiện
nay" của Nguyễn Văn Phúc, Tạp chí Triết học, số 6, 2000; "Kế thừa và đổi mới các giá trị
đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện
nay", Luận án tiến sĩ Triết học của Nguyễn Văn Lý, 2000; "Giá trị đạo đức và sự biểu hiện
của nó trong đời sống xã hội" của Mai Xuân Lợi, Tạp chí Triết học, số 3, 2001; "Lý tưởng
đạo đức và việc giáo dục lý tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay" của
Đoàn Văn Khiêm, Tạp chí Triết học, số 2, 2001; "Kết hợp chặt chẽ giáo dục lý luận với
xây dựng đạo đức mới của người cán bộ lãnh đạo quản lý" của Nguyễn Ngọc Long, Tạp
chí Lý luận chính trị, số 4, 2001; "Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và cái phổ biến
toàn nhân loại của đạo đức trong nền kinh tế thị trường" của Trần Nguyên Việt, Tạp chí
Triết học, số 5, 2002; "Kế thừa tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới ở
Việt Nam hiện nay" của Lê Sĩ Thắng, Tạp chí Triết học, số 5, 2002; "Một số biểu hiện
của sự biến đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay và giải
pháp khắc phục" của Nguyễn Đình Tường, Tạp chí Triết học, số 6, 2002; "Khoa học
công nghệ và đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường" của Nguyễn Đình Hòa, Tạp chí
Triết học, số 6, 2002; "Từ "cái thiện" truyền thống đến "cái thiện" trong cơ chế thị
trường ở Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Hùng Hậu, Tạp chí Triết học, số 8, 2002;
"Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức cho thanh
niên Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ Triết học của Lê Thị Hoài Thanh, 2002; "Tiêu
chuẩn đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay" của Trần Văn Phòng, Tạp
chí Lý luận chính trị, số 5, 2003 v.v...

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết trên đều có ý nghĩa to lớn đối với
việc kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống hiện nay ở nước ta. Tuy
nhiên, những công trình này chưa đề cập một cách trực tiếp đến việc giáo dục giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1. Mục đích của luận văn

Trên cơ sở phân tích thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho
sinh viên các trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội và nguyên nhân của nó, từ đó đưa ra
phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn

- Hệ thống hóa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, từ đó xác định tầm
quan trọng và yêu cầu của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.

- Phân tích thực trạng việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên các
trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội hiện nay và nguyên nhân của nó.

- Đề xuất phuơng hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay (qua thực tế thành phố Hà Nội).

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giáo dục giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc cho sinh viên hiện nay.

- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là vấn đề giáo dục đạo
đức truyền thống cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận

Thực hiện bản luận văn này tác giả dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống. Ngoài ra, tác giả luận văn có
tham khảo, kế thừa các thành tựu của các công trình nghiên cứu đã được công bố có liên
quan đến đề tài.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Tác giả luận văn sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp quy
nạp và diễn dịch, điều tra xã hội học... nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà đề tài
đặt ra.
6. Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn

- Góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng và yêu cầu của việc giáo dục những giá
trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

- Trên cơ sở khái quát thực trạng công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội, bước đầu đề xuất những giải
pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
cho sinh viên Việt Nam trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa.

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu, giảng dạy và học tập môn "Đạo đức học" ở các trường đại học và cao đẳng. Đồng thời,
nó cũng góp phần nhất định vào việc nhận thức rõ vai trò của việc giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống cho tầng lớp sinh viên trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, tác giả luận văn
cố gắng lượng hóa nội dung các giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc, làm cho
đạo đức truyền thống dân tộc mãi mãi là những chuẩn mực đạo đức mà mỗi con người
Việt Nam luôn hướng tới.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1

Tầm quan trọng và yêu cầu của việc giáo dục
giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
cho sinh viên Việt Nam hiện nay



1.1. Tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc
cho sinh viên Việt Nam hiện nay

1.1.1. Giá trị và giá trị đạo đức truyền thống

Thuật ngữ "giá trị" ra đời cùng với sự ra đời của triết học. Nói cách khác, ngay từ
đầu, gắn với triết học đã có những hiểu biết về giá trị và giá trị học. Trước thế kỷ XIX, những
kiến thức về giá trị học đã gắn liền với những tri thức triết học. Sau này, khi khoa học có sự
phân ngành, thì giá trị học tách ra thành một môn khoa học độc lập và thuật ngữ giá trị được
dùng để chỉ một khái niệm khoa học.

Khái niệm "giá trị" trở thành trung tâm của giá trị học, nó được sử dụng trong các
lĩnh vực như: triết học, xã hội học, tâm lý học, đạo đức học, kinh tế học... Trong lĩnh vực
kinh tế học, "giá trị" chỉ sức mạnh của vật này khống chế lại vật khác khi trao đổi với
nhau, để bộc lộ giá trị thì vật phẩm được làm ra đó phải có ích cho cuộc sống con người
và đáp ứng được nhu cầu của con người. Chính vì lẽ đó trong kinh tế, giá trị là yếu tố
hàng đầu. C.Mác viết: "Lao động có một sức sản xuất đặc biệt, hoạt động là một lao động
được nhân lên cấp số nhân, hay là một khoảng thời gian như nhau, nó tạo ra giá trị cao
hơn so với một lao động giá trị trung bình cùng loại" [40, tr. 104-105].

Trong triết học, chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi giá trị là hiện tượng của ý thức,
là biểu tượng của thái độ chủ quan của con người đối với khách thể mà người đó đang
đánh giá.

Chủ nghĩa Mác - Lênin nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử của giá trị, đồng
thời khẳng định giá trị có thể nhận thức được và giá trị có tính thực tiễn. Tất cả mọi cái
gọi là giá trị đều có nguồn gốc xuất phát từ chính cuộc sống lao động thực tiễn của con
người. Do vậy, có thể nói, chỉ trong xã hội loài người mới có cái gọi là giá trị. Và chính
"con người là giá trị cao nhất của mọi giá trị là thước đo của mọi giá trị. Đầu tư vào con
người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển người kinh tế - xã hội" [66, tr. 11]

Trong hoạt động thực tiễn, giá trị của một sự vật hiện tượng đều được xác định
bởi sự đánh giá của con người. Sự đánh giá đó nằm trong quy luật của sự vận động và
phát triển tiến lên trong thế giới, nó phục vụ ngày càng tốt hơn cho cuộc sống con người,
cho lợi ích và tiến bộ xã hội. Có thể nói, "mọi giá trị đều thể hiện mối quan hệ giữa người
với vật; chỉ khi nào sự vật khách quan có ích với con người thì mới là giá trị" [38, tr. 32]
và "nói đến giá trị là nói đến cái có ích, có lợi cho nhân dân, cho dân tộc, cho sự phát
triển của xã hội, nói đến những gì có thể thỏa mãn được nhu cầu và lợi ích của con người
trong lịch sử" [67, tr. 136].

Trong cuốn Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển có
viết như sau: "Nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa
là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp, là nói
đến cái có khả năng thôi thúc con người hành động và vươn tới" [2, tr. 16].

Trong cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư Xô viết định nghĩa:

Giá trị là sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thế
giới xung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm của toàn bộ xã hội nói
chung. Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên,
mà là bởi tính chất cuốn hút (lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạt
động sống của con người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ
xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểu
hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế và
mục đích [63, tr. 1462].

Qua các khái niệm, các quan điểm về giá trị trên đây, có thể khái quát lại như
sau:
Thứ nhất, giá trị là tất cả những cái gì mang ý nghĩa tích cực, gắn với cái đúng,
cái tốt, cái đẹp, được con người thừa nhận và xem nó là nhu cầu hoặc có một vị trí quan
trọng trong đời sống của mình, là những thành tựu góp phần vào sự phát triển của xã hội.

Thứ hai, giá trị không phải là một cái gì nhất thành bất biến mà nó luôn vận động
biến đổi theo thời gian và không gian sao cho phù hợp trong từng thời điểm nhất định.
Chính vì vậy, trên thực tế không phải những cái gì đã có giá trị trong quá khứ đều giữ
nguyên giá trị đối với hiện tại. Điều đó cho thấy giá trị mang tính lịch sử khách quan, sự
ra đời tồn tại hay mất đi của một giá trị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con người
mà do yêu cầu của từng thời đại nhất định trong lịch sử.

Thứ ba, giá trị đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, giá trị
giúp con người điều chỉnh hành vi của mình trong cuộc sống, giá trị giúp con người định
hướng và xác định mục đích cho hành động của mình, là động cơ thúc đẩy hoạt động của
con người.

Trên thực tế đã có rất nhiều cách phân loại giá trị. Dựa vào tiêu chí mục đích
phục vụ cho nhu cầu của con người, người ta chia ra làm hai loại giá trị: Giá trị vật chất
và giá trị tinh thần.

Giá trị vật chất thể hiện rõ nét trong đời sống kinh tế, nó quyết định sự tồn tại và
phát triển của xã hội loài người. Giá trị tinh thần là những phẩm chất đặc biệt về trí tuệ,
tình cảm, ý chí, nó được thể hiện trên các lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, văn hóa, nghệ
thuật, phong tục tập quán... Những phẩm chất đó ăn sâu, bám rễ vào trong đời sống tinh
thần và chúng trở thành các chuẩn mực để con người đánh giá phân biệt cái đúng, cái sai,
cái xấu, cái đẹp trong đời sống hàng ngày, trong quan hệ giữa con người với con người,
con người với xã hội.

Giá trị đạo đức là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của đời sống xã hội và
được con người lựa chọn, nhằm điều chỉnh và đánh giá hành vi ứng xử giữa con người
với con người, con người với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi
truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Giá trị đạo đức biến đổi theo sự biến đổi
của đời sống xã hội.
Về khái niệm truyền thống, trong lịch sử đã từng tồn tại nhiều quan điểm khác
nhau về vấn đề "truyền thống". Theo Từ điển Bách khoa Triết học của Liên Xô, "truyền
thống" có nguồn gốc từ tiếng Latinh là traditio - sự chuyển giao, lưu truyền lại - đó là các
giá trị tinh hoa văn hóa được lưu truyền từ những thế hệ trước và nó được gìn giữ ở các
xã hội, giai cấp hay nhóm xã hội nhất định. Trong cuốn Giá trị truyền thống trước những
thách thức của toàn cầu hóa có đoạn viết: "Từ đây, cái được gọi là truyền thống chỉ khi
nào nó trở thành một bộ phận thiết yếu của cuộc sống chúng ta và chỉ khi nào nó bảo tồn
cuộc sống chúng ta và chỉ khi nào nó có khả năng phát triển cuộc sống của chúng ta" [3,
tr. 23].

Truyền thống của một cộng đồng dân tộc bao gồm những đức tính, thói quen, những
phong tục tập quán xã hội của các thế hệ nối tiếp nhau, nó mang các đặc trưng: cộng đồng,
bình ổn, lưu truyền. "Nói đến truyền thống là nói đến phức hợp những tư tưởng, tình cảm,
tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí... của một cộng đồng
người đã hình thành trong lịch sử, đã trở nên ổn định và được truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác" [3, tr. 16-19].

Dưới góc độ khoa học, truyền thống được hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất,
truyền thống đó là những giá trị tốt đẹp, được lưu truyền từ đời này qua đời khác, nó
đứng vững được trong thời gian và có thể đương đầu với những biến động của lịch sử.
Hơn nữa, những giá trị ấy có khả năng tạo ra sức mạnh, sản sinh ra các giá trị mới, đem
lại lợi ích cho con người.

Tuy nhiên, trong đó cũng có những cái mà chúng ta vẫn gọi là "truyền thống"
nhưng không đem lại lợi ích cho con người, nhiều khi nó kìm hãm sự phát triển đây là
nghĩa thứ hai, nghĩa tiêu cực của phạm trù này. Trong cuốn Ngày mười tám tháng Sương
mù của Louis Bonaparte, C.Mác viết rằng: "Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết đè
nặng như quả núi lên đầu óc những người đang sống". Còn Hồ Chí Minh, trong bài "Đạo
đức cách mạng" (tháng 12-1958) cũng đã viết: "Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng
là kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ. Chúng ta lại không thể trấn áp
nó, mà phải cải tạo nó rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài"
Hiểu theo nghĩa thứ nhất, truyền thống trở thành một bộ phận thiết yếu của đời
sống con người. Nó góp phần duy trì, bảo vệ và phát triển cuộc sống của chúng ta. Tóm lại,
sự nhận thức truyền thống không tách rời nhận thức các giá trị.

Giá trị đạo đức truyền thống là một thành tố cấu thành của hệ giá trị tinh thần
của dân tộc Việt Nam, nó là nhân lõi, là sức sống bên trong của dân tộc. Giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa của dân tộc được xác định là những
chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử giữa con người với con
người, giữa con người với tự nhiên (mà ngày nay ta gọi là giá trị đạo đức sinh thái). Đặc
điểm cơ bản của truyền thống nói chung, giá trị đạo đức truyền thống nói riêng là sự kế
thừa. Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã rèn luyện và tạo
nên những thế hệ người Việt Nam giàu lòng yêu nước, yêu thương con người, cần cù,
thông minh, sáng tạo, chịu thương, chịu khó... Những đức tính đó đã trở thành những giá
trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, mà hàng ngàn đời nay chúng ta vẫn nâng niu
quý trọng.

Nói đến giá trị truyền thống của một cộng đồng dân tộc, chính là nói đến truyền
thống tốt đẹp của cộng đồng dân tộc đó. Nó chính là những giá trị bình ổn, tốt đẹp, có
thể lưu truyền từ đời này qua đời khác, là những cái cần được giữ gìn phát huy phát triển
cho phù hợp với xã hội hiện tại.

Trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam, giá trị đạo đức truyền thống là
một bộ phận thiết yếu, nổi lên hàng đầu, tạo nên cốt lõi của hệ giá trị tinh thần đó. Chính
vì vậy, khi nói đến những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc ta, là nói đến những phẩm
chất tốt đẹp, quý báu đã được hình thành và bảo lưu trong suốt chiều dài lịch sử của dân
tộc Việt Nam. Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta được cô đúc, được thử thách và
tái tạo qua nhiều thế hệ khác nhau, theo những bước thăng trầm của lịch sử, nó chứa
đựng một tiềm năng hết sức to lớn và bền vững, nó chính là sức mạnh vốn có của dân tộc
Việt Nam, giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển. Giá trị đạo đức truyền thống
của dân tộc ta do chính cộng đồng người Việt Nam tạo lập trong quá trình dựng n ước và
giữ nước, với tất cả những điều kiện lịch sử đặc thù riêng vốn có, đã tạo nên một bản sắc
hết sức độc đáo.

1.1.2. Nội dung cơ bản của một số giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt
Nam

Những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành, lắng
đọng và phát triển qua hàng mấy nghìn năm lao động sáng tạo, chiến đấu kiên cường của
cả dân tộc. Là kết quả của sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố chủ quan và yếu tố
khách quan.

Việt Nam là một quốc gia nằm giữa Đông Nam á, với địa hình chạy dài theo bờ
biển và tiếp nối giữa ba vùng: miền núi, đồng bằng, bờ biển. Khí hậu nhiệt đới gió mùa
nóng ẩm và mưa nhiều, giàu tài nguyên thiên nhiên, tạo điều kiện thuận lợi và cũng
không ít khó khăn cho nghề trồng lúa nước.

Về mặt lịch sử, Việt Nam là một quốc gia nhỏ hẹp lại phải trải qua rất nhiều cuộc
đấu tranh chống ách đô hộ, chống kẻ thù từ bên ngoài mà thường là những kẻ thù hùng
mạnh hơn ta gấp bội phần. Vì lẽ đó người dân Việt Nam luôn luôn tập hợp lại thành một
khối đại đoàn kết, đấu tranh chống giặc ngoại xâm và mở mang bờ cõi.

Chính trong quá trình ấy, văn hóa Việt Nam đã có dịp giao lưu với văn hóa bên
ngoài, trong đó văn hóa phương Đông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền văn hóa tín
ngưỡng và tôn giáo của dân tộc Việt Nam. Đặc biệt là tư tưởng Phật giáo, Nho giáo, Đạo
giáo xâm nhập vào Việt Nam từ rất lâu và đã đi sâu vào đời sống tín ngưỡng người dân
Việt Nam.

Phật giáo truyền bá tư tưởng từ bi hỷ xả, cứu khổ cứu nạn, yêu thương chúng
sinh. Phật giáo cho rằng, có một thế giới vĩnh hằng, tồn tại tích cực siêu việt, đó là cõi
"niết bàn", nhưng muốn đến được nơi cực lạc đó thì con người phải sống từ bi, ăn hiền, ở
lành, xa lánh mọi ham muốn vật chất, mọi thú vui hưởng lạc, sống không tranh giành,
yêu thương nhau. Đương nhiên, tư tưởng này vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực,
nhưng ít nhiều nó cũng ảnh hưởng đến những truyền thống vốn có của ta, làm sâu đậm
thêm truyền thống nhân ái yêu thương con người của dân tộc Việt Nam.

Đạo Nho là một hệ thống quan điểm về thế giới, về xã hội và về con người, là
một học thuyết chính trị - đạo đức - xã hội (mà Khổng Tử là người khởi xướng) đã ảnh
hưởng mạnh mẽ tới đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam. Những nội dung tư tưởng của
Nho giáo như: Nhân; lễ; chính danh; tam cương; ngũ thường... cũng dần thấm sâu vào
đời sống, trở thành lối sống, cách ứng xử ở đời của người Việt Nam và được Việt hóa.

Đạo gia của Lão Tử cũng góp phần làm phong phú thêm cho truyền thống vốn có
của dân tộc ta, nó góp phần làm mạnh mẽ thêm tinh thần đoàn kết thân ái, gắn bó và tinh
thần chống áp bức, đô hộ khi có thời cơ.

Văn hóa Việt Nam không chỉ giao lưu với văn hóa phương Đông mà còn có sự
giao lưu với văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp. Tuy nhiên, khi các trào lưu
văn hóa, tôn giáo đó du nhập vào Việt Nam đã được nhân dân Việt Nam kế thừa có chọn
lọc để hình thành nên những nét riêng đặc trưng cho mình, nhưng cái riêng đó nó vẫn
luôn ẩn chứa cái chung tạo nên sự tương đồng trong việc hình thành nên các giá trị đạo
đức của các dân tộc khác trên thế giới.

Cho đến nay, văn hóa Việt Nam tuy có nhiều thay đổi trên nhiều phương diện
nhưng vẫn giữ được cốt cách, bản sắc văn hóa riêng của mình, hội nhập mà không hòa
tan, không đánh mất mình và vẫn giữ được những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp
quý báu của dân tộc. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban chấp hành Trung ương Đảng
(khóa VIII) "Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc", đã khẳng định:

Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền
vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh
dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn; lòng tự tôn, tự cường
dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc;
lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý; đức tính cần cù sáng tạo
trong lao động; là đức hy sinh cao thượng tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc
của nhân dân; là sự tế nhị trong cư xử, tính giản dị trong lối sống [10, tr. 10-
11].

Xung quanh việc xác định các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam, đã có
rất nhiều quan điểm của các học giả, các nhà khoa học bàn về vấn đề này.

Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt
Nam bao gồm: lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù và sáng tạo; trong
đó yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc [25, tr. 74-
86].

Giáo sư Trần Văn Giàu nói về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc ta với bảy nội
dung như sau: "Yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa"
[22, tr. 108].

Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về một số định hướng lớn trong công tác tư
tưởng hiện nay chỉ rõ: "Những giá trị văn hóa truyền thống vững bền của dân tộc Việt
Nam là lòng yêu nước nồng nàn, ý thức cộng đồng sâu sắc, đạo lý "thương người như thể
thương thân", đức tính cần cù, vượt khó sáng tạo trong lao động..." [15, tr. 19].

Trong chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước: "Con người Việt Nam -
mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội" (KX-07) đã khẳng định: Cốt lõi của
các giá trị truyền thống là đạo đức, phẩm chất nhân cách con người Việt Nam bao gồm: tinh
thần yêu nước, vì nghĩa, lòng thương người...

Tuy còn có sự khác biệt nào đó trong việc sắp xếp thang giá trị đạo đức. Nhưng
nhìn chung, các quan điểm các ý kiến đều thống nhất cao độ ở một điểm coi chủ nghĩa
yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc
Việt Nam. Nó là "sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại"
[20, tr. 100], là "tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị" [22, tr. 94], là "động
lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ
thống giá trị đạo đức của dân tộc ta" [48, tr. 74].
Tất cả mọi dân tộc trên thế giới đều có tình cảm yêu quê hương đất nước mình.
Nhưng đối với dân tộc Việt Nam, tình yêu quê h ương đất nước là một thứ tình cảm hết
sức thiêng liêng, nó xuất phát từ ý thức cộng đồng gắn bó keo sơn. Mỗi người dân Việt
Nam, đều đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết, khi có giặc ngoại xâm, sẵn sàng hy sinh
thân mình, lúc hòa bình biết chăm lo xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước. Lòng yêu
nước của dân tộc ta đã trở thành triết lý sống, triết lý nhân sinh, trở thành chủ nghĩa yêu
nước. GS. Trần Văn Giàu có viết: "Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm của bản thân lịch
sử Việt Nam được bắt đầu từ tình cảm tự nhiên của mỗi người đối với quê hương mình
tiến lên thành lý tưởng và hệ thống tư tưởng làm chủ của nhận thức đúng sai, tốt xấu,
nên chăng và chỉ đạo rất nhiều phương lược xây dựng và bảo vệ nước nhà" [21, tr. 7].

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam ngay từ đầu đã gắn bó con
người với thiên nhiên, với quê hương xứ sở của mình, chính vì vậy truyền thống yêu
nước của dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ tình yêu đối với quê hương làng xóm, yêu cây
đa, bến nước, sân đình, nơi có ông bà, cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái, bạn bè, bà
con hàng xóm, nơi có mồ mả tổ tiên. Nơi con người hàng ngày vất vả chiến đấu với thiên
nhiên để duy trì và xây dựng cuộc sống.

Lịch sử của dân tộc Việt Nam gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại xâm. Vì vậy,
yêu nước trước hết là tinh thần chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Cho dù ở
hoàn cảnh nào, nhân dân Việt Nam vẫn luôn kiên cường bất khuất, "thà hy sinh tất cả chứ
nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", già trẻ gái trai nhất tề
đứng lên đánh giặc, "còn cái lai quần cũng đánh". Chính vì vậy mà trải qua hơn một ngàn
năm Bắc thuộc, ông cha ta vẫn bám trụ đến cùng, giữ đất, giữ làng, gắn bó với mồ mả tổ
tiên, giữ vững nơi chôn rau, cắt rốn của mình. Kiên quyết chống lại chính sách đô hộ của
ngoại bang, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào tinh thần yêu
nước của dân tộc Việt Nam không hề giảm sút mà nó luôn luôn được hun đúc, âm ỉ cháy
trong lòng mỗi người dân nước Việt.

Tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam thể hiện ngay từ thuở vua Hùng dựng
nên nước Văn Lang cho đến thời đại Hồ Chí Minh. Với hơn 1000 năm đấu tranh giành
độc lập từ 197 (TCN) đến 938 (SCN), đầu tiên là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, cho đến
cuộc khởi nghĩa của Ngô Quyền đánh quân Nam Hán với chiến thắng giòn giã, đã mở ra một
thời kỳ mới cho lịch sử dân tộc. Từ 938 - 1789 dân tộc ta liên tiếp đánh tan quân xâm lược
Tống, Nguyên, Minh, Thanh... Đến thời kỳ chiến tranh giải phóng dân tộc: từ giữa thế kỷ
XIX đến năm 1975, chúng ta đã đánh thắng cả hai tên đế quốc to: Pháp, Mỹ. Với chiến
dịch Hồ Chí Minh lịch sử, chúng ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước,
giang sơn thu về một mối, nước nhà hoàn toàn độc lập. Tại Đại hội lần thứ II của Đảng Lao
động Việt Nam (11-2-1951), Bác Hồ nói: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một
truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy
lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy
hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước.

Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành, được thử thách và
được khẳng định qua bao thăng trầm của lịch sử, nó đã được bổ sung và phát triển qua
từng thời kỳ, nó là một trong những giá trị truyền thống cao quý và bền vững nhất của
dân tộc ta. Ngày nay, truyền thống yêu nước của nhân dân Việt Nam thể hiện tron g xây
dựng đất nước, trước hết là chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn
hóa... Thể hiện ở sự nhất trí, tin tưởng vào đường lối đổi mới của Đảng, vào khả năng,
sức mạnh tự lực tự cường của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây
dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Có thể nói rằng, dưới thời đại Hồ Chí Minh,
truyền thống yêu nước được phát huy lên tầm cao mới thành lý t ưởng: sống, chiến đấu,
lao động, học tập vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân...

Cùng với chủ nghĩa yêu nước, Truyền thống nhân ái - yêu thương con người là
một trong những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, truyền thống ấy có nguồn
gốc sâu xa từ trong sinh hoạt công xã nông thôn, được củng cố và phát triển qua quá trình
chung lưng, đấu cật khai phá giang sơn, giữ gìn đất nước. Tấm lòng nhân nghĩa, nhân ái
đó chính là cơ sở cho cách xử thế ở đời của người Việt Nam, là triết lý sống của dân tộc
Việt Nam. Hết lòng vì nghĩa cả, giúp đỡ nhau trong hoạn nạn, khó khăn mà không hề tính
toán, lên án mạnh mẽ những kẻ tàn ác "táng tận lương tâm", "phụ tình bạc nghĩa".
Từ trong sâu lắng của lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn luôn gắn tình yêu quê
hương đất nước với lòng nhân ái - yêu thương con người. Do vậy, người Việt Nam luôn
xả thân vì đất nước, con người yêu nước và con người yêu dân gắn bó chặt chẽ với nhau.
Trong suốt trường kỳ lịch sử, dân tộc ta luôn luôn đứng trước nguy cơ bị xâm lược và bị
đồng hóa, hơn ai hết, chúng ta hiểu rất rõ quyền sống của mình gắn với vận mệnh của Tổ
quốc và dân tộc.

Lòng nhân ái nhân nghĩa của người Việt Nam còn thể hiện ở lòng vị tha cao
thượng, không cố chấp đối với những người lầm đường lạc lối, nhưng biết lập công
chuộc tội, trở về với chính nghĩa. Chính tư tưởng "lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, lấy
chí nhân để thay cường bạo" trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là sự thể hiện đỉnh
cao của lòng nhân ái đó. Người Việt Nam lấy tình yêu thương làm cách xử thế ở đời, đối
với kẻ thù thậm chí còn mở đường hiếu sinh khi thua trận, Vua Quang Trung sau khi
đánh bại quân Thanh còn cấp lương thảo và phương tiện cho đám tàn quân về nước.

Hồ Chủ tịch là hiện thân của lòng nhân ái, nhân nghĩa. Xuất phát từ lòng thương
yêu con người - người lao động, yêu quê hương đất nước, Bác đã bôn ba tìm đường cứu
nước, giải phóng dân tộc. Cả cuộc đời mình, Bác hy sinh cho độc lập dân tộc và hạnh
phúc của nhân dân. Đúng như nhà thơ Tố Hữu viết: "Bác ơi tim Bác mênh mông thế, ôm cả
non sông mọi kiếp người". Lòng nhân ái của Người đã trở thành sức mạnh, nó đã thấm sâu
vào chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta, có tác dụng cảm hóa hàng
vạn con người lầm đường lạc lối, theo kẻ thù chống lại nhân dân. Bác xem họ như là
những đứa con "lạc bầy" cần được cưu mang. Bác nói: Giống như bàn tay cũng có ngón
dài ngón ngắn, nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy chục triệu người, có
người thế này, người thế khác, nhưng tất cả đều là dòng dõi tổ tiên ta, đều là người Việt
Nam, nên cần phải khoan dung đại lượng. Hàng năm, Đảng và Nhà nước thường có những
đợt giảm án cho các phạm nhân cải tạo tốt, điều đó thể hiện lòng nhân ái của Đảng và Nhà
nước ta.

Ngày nay, truyền thống đó được thể hiện trong đường lối đối ngoại của Đảng:
"Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa
bình, độc lập và phát triển". Lòng nhân ái của người Việt Nam cũng là lòng yêu chuộng
hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Trong quan hệ với các nước láng giềng, nhân
dân ta bao giờ cũng trọng tình hòa hiếu, cố gắng tránh xảy ra những xung đột.

Trong đường lối đối nội, Đảng ta đã khơi dậy các phong trào "uống nước nhớ
nguồn", "đền ơn đáp nghĩa", chăm sóc bà mẹ Việt Nam anh hùng, các gia đình thương
binh liệt sĩ, giúp đỡ những người già cả neo đơn không nơi nương tựa. Phát động phong
trào xóa đói giảm nghèo, trợ giúp các dân tộc vùng sâu vùng xa, rút ngắn khoảng cách
thành thị - nông thôn miền xuôi - miền ngược... Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Đảng ta đã khẳng định: Người Việt Nam vốn có lòng yêu nước thiết tha, có tinh thần dân
chủ, bình đẳng trong quan hệ giữa người với người. "Thương nước - thương nhà, thương
người - thương mình" là truyền thống đậm đà của nhân dân ta. Nhờ có tinh thần yêu nước
và dân chủ ấy mà trong suốt quá trình lịch sử bốn ngàn năm, dân tộc ta đã làm nên những
chiến công oanh liệt. Từ ngày có Đảng, dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, truyền thống yêu nước và dân chủ của nhân dân ta được nâng lên một trình độ mới
và phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Truyền thống nhân nghĩa nhân ái là một trong những truyền thống tốt đẹp của
dân tộc ta. Nó là cái gốc của đạo đức, truyền thống này chính là nguồn gốc sâu xa nhất,
bền chặt nhất của chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, chủ nghĩa nhân đạo hiện thực chứ không
phải chủ nghĩa nhân đạo chung chung trừu tượng phi hiện thực, phi lịch sử, phi giai cấp
của các giáo lý tôn giáo hay theo cách hiểu của Phoiơbắc.

Truyền thống cần cù, tiết kiệm, thông minh, sáng tạo là một giá trị đạo đức có từ
bao đời của dân tộc Việt Nam. Nó được hình thành và phát triển trong điều kiện, hoàn
cảnh tự nhiên xã hội không ít những khó khăn khắc nghiệt ngay từ những buổi đầu dựng
nước và giữ nước.

Về tự nhiên: liên tục xảy ra bão lụt hạn hán, về xã hội: liên tục chiến tranh chống
giặc ngoại xâm. Nhưng, trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc, những người dân Việt
Nam vẫn kiên trì bám đất, bám làng, vừa sản xuất vừa đánh giặc để tồn tại và bảo vệ đất
nước. Sống trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ như vậy, nhưng nhờ có đức tính cần cù và
tiết kiệm, mà nhân dân ta đã vượt qua, để từng bước tự khẳng định mình trên con đường
phát triển của dân tộc.

Để có bát cơm thơm dẻo, người nông dân đã phải một nắng hai sương "bán mặt
cho đất bán lưng cho trời", hình ảnh người nông dân trong những câu ca dao dân ca Việt
Nam còn đó: "Trên đồng cạn dưới đồng sâu, chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa". Ông cha
ta thường dạy con cháu phải biết quý trọng thành quả lao động của con người: "Ai ơi
bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần".

Truyền thống cần cù của người Việt Nam luôn gắn với tiết kiệm, vì vậy cần mà
không kiệm thì khác nào: "Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống". Nên ông cha ta
thường nhắc nhở con cháu rằng: "Được mùa chớ phụ ngô khoai. Đến khi thất bát lấy ai
bạn cùng". Hồ Chủ tịch đã nêu rõ: con người phải có bốn đức tính: Cần, kiệm, liêm,
chính, so sánh với bốn mùa của trời, bốn phương của đất, nếu thiếu một đức thì không
thành người:

Trời có bốn mùa: Xuân - hạ - thu - đông;

Đất có bốn phương: Đông - Tây - Nam - Bắc;

Người có bốn đức: Cần - kiệm - liêm - chính.

Thiếu một mùa thì không thành trời;

Thiếu một hướng thì không thành đất;

Thiếu một đức thì không thành người [47, tr. 631].

Người cho rằng, cần, kiệm, liêm, chính là thước đo văn minh của một dân tộc
giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ, cần, kiệm, liêm,
chính là nền tảng, là cốt lõi của đạo đức xã hội mới.

Ngày nay, cần cù sáng tạo được biểu hiện càng rõ nét trong lao động sản xuất,
trong khoa học- kỹ thuật, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các phong trào thi đua rộng
rãi và thường xuyên trên mọi lĩnh vực: ở biên cương, nơi đồng ruộng, trong nhà máy xí
nghiệp, trong nhà trường...
Đặc biệt trong quá trình đổi mới đất nước, với mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh", hơn bao giờ hết truyền thống cần cù sáng tạo càng
được phát huy cao độ.

Truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam cũng hòa vào dòng chảy của chủ
nghĩa yêu nước và trở thành biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước. Đây là nhân tố tinh thần
hợp thành động lực thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sử dân tộc.

Đoàn kết là sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng dân tộc trong việc xây dựng và
bảo vệ tổ quốc, đoàn kết là điều kiện tất yếu để bảo tồn dân tộc, nhất là khi đất nước có
giặc ngoại xâm. Từ cách lý giải sự ra đời của dân tộc Việt Nam trong truyền thuyết
"Trăm trứng nở trăm con". Đây chính là sự khẳng định truyền thống đoàn kết anh em
giữa các dân tộc.

Cách dùng từ "đồng bào"- một từ Hán, nhưng chỉ có người Việt Nam sử dụng để
chỉ mối thâm tình "gà cùng một mẹ", cho đến lịch sử hình thành của một dân tộc Việt
Nam: theo lời gọi của tiếng trống Hùng Vương mà mười lăm bộ lạc hợp thành một quốc
gia Văn Lang thống nhất.

Thấy rõ vai trò của yếu tố đoàn kết, cha ông ta luôn có ý thức chống chính sách
chia rẽ của các thế lực ngoại bang và xu h ướng cát cứ của các thế lực phong kiến. Từ
chính sách "dùng người Việt đánh người Việt" của bọn phong kiến phương Bắc đến
chính sách "chia để trị" của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ đều lần lượt bị thất bại trước
tinh thần đoàn kết của nhân dân ta.

ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết đã trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc,
một động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng nh ư trong sự nghiệp
cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Xưa Nguyễn Trãi nói: "Chèo thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân" để chỉ sức
mạnh đoàn kết của nhân dân. Dân là gốc, là nền tảng của sự tồn tại và phát triển. Lúc sinh
thời Bác Hồ từng nói: Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng
xong. Và: "Việc gì khó cho mấy, quyết tâm làm thì làm chắc được, ít người làm không
nổi, nhiều người đồng tâm hiệp lực mà làm thì phải nổi" [46, tr. 258]. Người còn khẳng
định: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công". Trước
lúc đi xa, Người còn căn dặn các cán bộ, đảng viên: "Đoàn kết là một truyền thống cực
kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải
giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình" (Di chúc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969).

Truyền thống giáo dục - hiếu học của người Việt Nam được hình thành từ nhiều
thế hệ. Là người Việt Nam ngay từ thuở ấu thơ đã được sống trong lời ru của mẹ:

"Qua sông phải bắc cầu Kiều,

Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy".

Câu hát ru đó đã thể hiện truyền thống "Tôn sư trọng giáo" của người Việt Nam.

Truyền thống "Tôn sư trọng giáo" là một nội dung trong học thuyết của Khổng
Tử, khi vào Việt Nam đã trở thành một nội dung đạo lý của người Việt Nam. Học trò
Việt Nam luôn ghi nhớ: "Cơm cha, áo mẹ, nghĩa thầy", "Mồng một tết cha, mồng hai tết
mẹ, mồng ba tết thầy".

"Không thầy đố mày làm nên", đó là một triết lý sống của người Việt Nam. Là
cây phải có gốc, là sông phải có nguồn, để trở thành một con người đúng nghĩa phải có
thầy. Nhớ công ơn thầy vừa là đạo lý, vừa là nét đẹp truyền thống uống nước nhớ nguồn,
tôn sư trọng đạo của người Việt Nam.

Hiếu học là một truyền thống trong giáo dục của người Việt Nam từ xưa đến nay.
Có thể nói, ngay từ xa xưa con người đã sớm nhận thức được học hành không chỉ là
quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân. Chính vì vậy, người xưa thường nói:
"Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo" (Viên ngọc không mài dũa thì
không thành đồ dùng được, con người không học thì không biết đạo) và: "Hiếu nhân, bất
hiếu học kỳ tế dã ngu" (Kể cả những người mong muốn làm điều nhân đức chí thiện
nhưng không học thì cũng bị sự ngu dốt che lấp đi).
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục, với truyền thống hiếu học, tôn
trọng hiền tài, nên ngay từ xưa, ông cha ta đã biết chăm sóc, bồi dưỡng nhân tài cho đất
nước. Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) là kiểu trường đại học quốc lập đầu tiên ở
Việt Nam được thành lập, để đào tạo nhân tài. Trong bia tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, hiệu
Đại Bảo thứ ba năm 1442 ở Văn Miếu (Hà Nội) còn ghi: Hiền tài là nguyên khí của Nhà
nước, nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước yếu và
suy, cho nên các đấng thánh đế minh vương không ai không chăm lo việc gây dựng nhân
tài, bồi đắp nguyên khí.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới
- luôn luôn quan tâm và coi trọng giáo dục. Cả cuộc đời và sự nghiệp của Người cũng chỉ
phấn đấu cho một mục đích tối cao là làm sao để "ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng
được học hành". Bác đã đặt hy vọng vào lớp trẻ mai sau, Bác nói: "Non sông ta có trở
nên tươi đẹp hay không, dân tộc ta có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường
quốc, năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em"
(Thư gửi học sinh cả nước, tháng 9/1945).

Cách mạng tháng Tám thành công, dân tộc ta bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ
nguyên độc lập tự do. Mọi công dân đều có điều kiện bình đẳng để thực hiện quyền lợi và
nghĩa vụ học tập. Mọi tầng lớp người Việt Nam đã hăng hái tham gia chiến đấu và học
tập theo lời kêu gọi của Đảng của Bác Hồ. Tháng 10-1945, Chính phủ thành lập "Hội
đồng cố vấn học chính" để nghiên cứu chương trình cải cách giáo dục. Từ đó, ngành giáo
dục nói chung, giáo dục đào tạo đại học, cao đẳng nói riêng, của đất nước ta ngày càng
phát triển.

Trong văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã
nhấn mạnh:

Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc
biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, cũng như
cán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lực chuyên
môn, nghiệp vụ. Ưu tiên xây dựng các trường sư phạm. Phát huy truyền thống
"Tôn sư trọng đạo", sử dụng giáo viên đúng năng lực, đãi ngộ theo tài năng và
cống hiến với tinh thần ưu đãi và tôn vinh nghề dạy học [8, tr. 13].

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta ý thức một cách đầy đủ chủ trương
"giáo dục là quốc sách hàng đầu", là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con
người. Việc phát huy truyền thống hiếu học, tôn trọng người hiền tài càng trở nên có ý
nghĩa, tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, tôn trọng sáng tạo trên cơ sở, nền tảng đạo
đức trong sáng. Trong những giải pháp lớn xây dựng và phát triển văn hóa Đảng ta nêu
rõ: "Quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức và lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ. Có chính
sách trọng dụng người tài" [10, tr. 81-82].

Trong những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ giáo viên và các cán bộ
quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt,
trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao. Đội ngũ này về cơ bản đã đáp ứng được yêu
cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào thắng lợi của sự
nghiệp cách mạng của đất nước.

1.1.3. Sinh viên - tầng lớp xã hội đặc thù

"Sinh viên" là thuật ngữ dùng để chỉ những người đang học tập ở các trường đại
học và cao đẳng. ở một số nước, nội hàm của khái niệm sinh viên được mở rộng hơn.
Chẳng hạn, ở nước Pháp thuật ngữ "sinh viên" không chỉ dùng để gọi những người đang
học trong các trường đại học và cao đẳng, mà còn dùng cho cả những người đang học
trong các trường trung học và các trường dạy nghề.

Sinh viên Việt Nam trong những năm gần đây không ngừng tăng lên cả về số
lượng lẫn chất lượng, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu xã hội. Nếu như năm học 1997-1998 cả
nước có 126 trường cao đẳng và đại học (không kể các trường thuộc khối an ninh quốc
phòng), thì đến năm học 2002-2003, số lượng các trường đại học đã lên tới 202 trường.
Năm học 1997-1998, cả nước có 671.120 sinh viên, đến năm học 2002-2003 đã lên tới
1.020.667 người. Sinh viên nước ta hiện nay chiếm 0,96% dân số và chiếm tới 4% lực
lượng thanh niên, đạt 188 sinh viên trên một vạn dân. Số sinh viên trong các trường ngoài
công lập ngày càng tăng (chiếm 11%) [61, tr. 10].

Nói đến sinh viên là nói đến đội ngũ trí thức trong tương lai, là lực lượng trẻ, có
học thức, nhạy cảm với cái mới, năng động và sáng tạo, ham học hỏi, là những chủ nhân
tương lai của đất nước. Là tầng lớp xã hội được gia đình, nhà trường, xã hội hết sức quan
tâm, chăm sóc. Trong cuộc sống xã hội, sinh viên giữ nhiều vị trí: là sinh viên, là người
con, người anh, người chị, người em, người bạn... Tuy vậy, về vị trí thực trong xã hội
chưa được xác định, bởi vì họ chưa có nghề nghiệp ổn định, mà hoạt động chính của họ
là học tập và bước đầu tham gia vào nghiên cứu khoa học, tham gia vào các hoạt động
xã hội.

Trong sự phát triển đất nước, sinh viên giữ một vị trí quan trọng, sau khi rời ghế nhà
trường họ có thể sẽ giữ những vai trò, những trọng trách ở nhiều lĩnh vực khác nhau
trong xã hội. Họ có thể sẽ là những nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà khoa học, là kỹ s ư,
bác sĩ, nghệ sĩ, hay nhà doanh nghiệp v.v... Lúc đó họ đã có một vị trí đích thực và đóng
một vai trò quan trọng trong sự phát triển xã hội.

Tại Đại hội sinh viên toàn quốc lần thứ V, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã
khẳng định: "Sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội có thành công hay
không, đất nước ta bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay
không, chủ yếu do thế hệ thanh niên hiện nay quyết định, trong đó sinh viên là một bộ
phận có vai trò hết sức quan trọng".

Thật vậy, sinh viên là nguồn dự trữ, là tài sản quý báu của quốc gia. Ngay từ khi
đất nước còn chiến tranh, đội ngũ sinh viên đã từng gắn bó và có những đóng góp to lớn
vào sự nghiệp cách mạng và thắng lợi của dân tộc. Ngày nay, trong công cuộc xây dựng
và phát triển đất nước, đội ngũ sinh viên Việt Nam càng nêu cao vai trò, trách nhiệm của
mình trước nhân dân, trước dân tộc.

Theo các kết quả điều tra xã hội học gần đây của Viện Nghiên cứu Thanh niên,
Trung tâm Nghiên cứu dư luận xã hội - Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương cho thấy,
nhận thức về các vấn đề xã hội của thanh niên, sinh viên hiện nay ngày càng được mở
rộng, phong phú, đa dạng và sâu sắc hơn. Họ không chỉ chú ý đến việc nâng cao trình độ
khoa học - công nghệ... mà còn có ý thức nâng cao sự hiểu biết của mình về lịch sử,
truyền thống văn hóa dân tộc, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và kiến thức
về pháp luật, về quyền và nghĩa vụ của công dân trong quá trình xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Kết quả thăm dò dư luận 1.265 sinh viên của Trung tâm Nghiên cứu dư luận xã
hội - Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương trong quý I năm 2003 cho thấy, nhiều sinh viên
đã xác định nhận thức về chính trị - xã hội là một trong những khuôn mẫu để phấn đấu
noi theo. 51,5% sinh viên tham gia đợt khảo sát này nhận thức rõ về sự cần thiết có sự
hiểu biết về lịch sử dân tộc; hơn 40% mong muốn có nhiều hiểu biết về tư tưởng Hồ Chí
Minh và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; 36% muốn có nhiều hiểu biết về chủ nghĩa Mác
- Lênin... Cuộc thi Olympic các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh năm
2001 trong các trường đại học, cao đẳng tại thành phố Hồ Chí Minh có gần 2.000 lượt
sinh viên tham gia cổ vũ. Các cuộc thi "tự bạch" nhân ngày sinh Các Mác, thi lý luận
chính trị về lòng yêu nước, về lý tưởng của thanh niên là phấn đấu vì độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội [61, tr. 23-24].

Tóm lại, nói đến sinh viên là nói đến tầng lớp trí thức trẻ trong tương lai, có
trình độ, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, là những người có lòng nhiệt tình và
cũng rất nhạy cảm trong cuộc sống. Đây là nét nổi bật có ở tầng lớp sinh viên. Những
ước mơ, những hoài bão lớn là động lực chắp cánh cho những người sinh viên thời nay
bay cao bay xa. Với lòng nhiệt tình, tính hăng say, không chịu lùi bước trước những khó
khăn thử thách của cuộc đời, đại bộ phận sinh viên có chí tiến thủ, vươn lên trong học
tập. Bên cạnh những ưu điểm đó, trong đội ngũ sinh viên cũng còn tồn tại một số hạn chế
như: tính bồng bột, muốn tự khẳng định mình trong khi bản thân chưa có đủ điều kiện, và
khi thất bại thì dễ nản chí và trượt dài. Do vậy, hiểu rõ đặc điểm tâm - sinh lý lứa tuổi
sinh viên là một vấn đề hết sức quan trọng, để có phương pháp giáo dục, vận động sinh
viên một cách khoa học, thiết thực, phù hợp.
1.1.4. Tính tất yếu, sự cần thiết phải giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
dân tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay

Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường dựa trên sự phân công lao động xã
hội có sự phân chia về lợi ích giữa các chủ thể kinh tế với nhau. Yêu cầu khách quan của
sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là quá trình toàn cầu hóa đời sống kinh tế hiện nay,
việc xây dựng nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan. Từ khi đất nước ta
chuyển sang cơ chế thị trường, thực tiễn cho thấy sức sản xuất được giải phóng, năng
suất lao động ngày một tăng, tạo tiền đề vật chất nâng cao đời sống của nhân dân. Kích
thích tiềm năng sáng tạo của con người, hình thành nên các cá nhân độc lập, phát triển tự
chủ cá nhân, con người năng động hơn, luôn vươn lên để tự khẳng định mình. Trong Văn
kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã nhận định về kinh tế
thị trường như sau:

Về vấn đề này, Bộ Chính trị cho rằng: từ ngày đổi mới tới nay, trong
nhiều nghị quyết của Trung ương, Đảng ta luôn nhận định thị trường là sản
phẩm của nhân loại, không chỉ riêng có của chủ nghĩa t ư bản, do đó Đảng chủ
trương xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong thực tiễn, phương hướng phát triển kinh tế đó đã mang lại nhiều thành
tựu; về mặt văn hóa, trong Dự thảo Nghị quyết đã khẳng định "những tác động
tích cực to lớn" của nó [10, tr. 29].

Tổng kết thực tiễn quá trình thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: "Cơ chế thị
trường đã phát huy tác dụng tích cực to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Nó chẳng
những không đối lập mà còn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và
phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa" [7, tr. 26].

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong những năm qua, chúng ta cũng đang
phải đối mặt với một thực tế đáng buồn, đó là sự xuống cấp về mặt đạo đức hiện nay
trong đời sống xã hội. Những hiện tượng băng hoại về đạo đức đang là nỗi nhức nhối của
xã hội chúng ta. Vấn đề đạo đức xã hội, đạo đức cá nhân đang diễn ra hết sức phức tạp,
đang có sự đấu tranh giữa cái mới, cái tiến bộ, cái thiện, với cái cũ, cái lạc hậu, cái ác;
giữa chủ nghĩa vị tha với chủ nghĩa vị kỷ, giữa lối sống trung thực với thói dối trá chạy
theo đồng tiền... Dẫn đến tình trạng trong gia đình con cái bất hiếu với cha mẹ, anh chị
em quay lưng lại với nhau... Đây là một tình trạng đảo lộn về các chuẩn mực đạo đức
truyền thống dân tộc, làm hoen ố những giá trị đạo đức truyền thống mà ông cha ta đã đổ
biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả máu xương để tạo dựng nên.

Vấn đề tác động của cơ chế thị trường đối với đạo đức đã có nhiều cách lý giải
khác nhau. Có quan điểm cho rằng, kinh tế thị trường và đạo đức là bài xích lẫn nhau,
kinh tế thị trường càng phát triển thì đạo đức càng suy thoái. Có quan điểm lại cho rằng,
kinh tế thị trường tạo khả năng đẩy nhanh sự tiến bộ trong mọi lĩnh vực của đời sống, nó
sẽ nâng cao trình độ luân lý và đạo đức xã hội. Cuộc sống chứng tỏ rằng kinh tế thị
trường đã tác động đến đạo đức theo cả hai hướng: cả tích cực, lẫn tiêu cực. Trong văn
kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, với thái độ khách quan
và khoa học, Đảng ta khẳng định:

Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, nhất thiết phải thấy mặt trái của cơ
chế thị trường. Chúng ta không quy mọi xấu xa đều do cơ chế thị trường,
nhưng không thể không thấy rằng về khách quan mà nói kinh tế thị trường với
sức mạnh tự phát ghê gớm của nó đã khuyến khích chủ nghĩa cá nhân, lối sống
thực dụng, làm cho người ta chỉ chú ý tới lợi ích vật chất mà coi nhẹ giá trị
tinh thần, chỉ chú ý lợi ích cá nhân mà coi nhẹ lợi ích cộng đồng, chỉ chú ý tới
lợi ích trước mắt mà coi nhẹ lợi ích lâu dài, cơ bản... [10, tr. 30].

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
sinh viên có đủ điều kiện để bộc lộ hết khả năng vốn có của mình, đồng thời đây cũng là
một thách thức lớn đối với sinh viên hiện nay, vì kinh tế thị trường không giống như
trong nhà trường, mà nó là sự cạnh tranh khốc liệt có khi là sự thất bại, thất nghiệp và tệ
nạn xã hội. Cạnh tranh là quy luật tất yếu của cơ chế thị trường, có cạnh tranh tích cực
làm lành mạnh hóa hoạt động của con người, có cạnh tranh khốc liệt theo kiểu "luật
rừng", "cá lớn nuốt cá bé" gây hậu quả xấu cho sản xuất và đời sống nhân dân, làm biến
dạng mối quan hệ giữa người với người. Trong gia đình, hiện tượng con cái hắt hủi cha
mẹ vì lợi ích kinh tế. ở nhà trường, trò khinh thầy, đi ngược lại truyền thống "tôn sư trọng
giáo". Ngoài xã hội, quan hệ giữa người với người theo kiểu "đèn nhà ai nấy rạng", "cháy
nhà hàng xóm bình chân như vại"... Là một tầng lớp xã hội đặc thù, do đó sinh viên cũng
chịu tác động từ hai phía của kinh tế thị trường.

Trong tình hình thế giới hiện nay, kẻ thù vẫn chưa từ bỏ âm mưu thôn tính và
phá hoại chúng ta. Với "diễn biến hòa bình", kẻ thù tấn công chúng ta chủ yếu trên các
lĩnh vực văn hóa để làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp của Đảng, làm
băng hoại đạo đức, lối sống của nhân dân. Đối tượng trực tiếp của chúng là lớp trẻ,
trong đó có sinh viên - những người chủ nhân tương lai của đất nước. Dựa trên đặc
điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên, lợi dụng những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật hiện
đại - nhất là dịch vụ mạng, sách báo, phim ảnh. Kẻ thù dùng đủ mọi thủ đoạn hòng lôi
kéo sinh viên xa rời cội nguồn, sống quay lưng lại với chế độ, với nhân dân, với dân
tộc, khuyến khích sinh viên tìm đến sự hưởng thụ mà không thiết nghĩ đến tương lai...
Về phần mình, có không ít sinh viên ch ưa tự ý thức được vai trò, vị trí của họ trong sự
nghiệp cách mạng của dân tộc. Sống ỷ lại bố mẹ, không chịu phấn đấu rèn luyện. Trong
học tập còn có hiện tượng thiếu trung thực như: chạy điểm, chạy bằng, thờ ơ với các
sinh hoạt đoàn thể. Vì ngại khó, ngại khổ, nên có tính toán thực dụng trong việc chọn
ngành nghề. Một số thích lối sống hưởng thụ đua đòi, ăn chơi, sống buông thả, dẫn đến
vi phạm pháp luật và các chuẩn mực xã hội. Đây đó còn xảy ra hiện tượng sinh viên,
giết người, cướp của, tự tử..., con số nghiện hút trong sinh viên cũng không phải là ít.
Theo báo cáo của đề tài cấp bộ, mã số B2001-36-28, tháng 10/2003, của ThS. Đỗ Kim
Thanh (chủ nhiệm đề tài), cho thấy: trên địa bàn Hà Nội năm 2003 có khoảng gần 1.000
sinh viên nghiện ma túy.

Từ thực trạng đó, việc giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên trong
giai đoạn hiện nay, là một việc làm cần thiết và hết sức cấp bách. Có như vậy, mới góp
phần giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn được bản sắc văn hóa và các
giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta. Mặt khác, tính tất yếu và sự cần thiết phải
giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay, cũng là
một đảm bảo cho thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

- Sinh viên với sự hiểu biết của họ về các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc.

Đại đa số sinh viên ngày nay là những người sống có lý tưởng, có ước mơ và
hoài bão lớn lao. Họ sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn thử thách trong cuộc sống hàng
ngày để thực hiện ước mơ của mình vì ngày mai lập thân, lập nghiệp. Phần lớn sinh viên
nhận thức rõ được vai trò trách nhiệm của mình trong học tập, trong cuộc sống, cố gắng
phấn đấu rèn luyện để trở thành một trí thức trẻ tương lai, có đầy đủ các phẩm chất, năng
lực, và bản lĩnh chính trị với trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, góp phần vào sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Định hướng giá trị về cuộc sống của thanh niên sinh viên hiện nay là: có kiến
thức, có ý chí tự lập, coi trọng giá trị đạo đức, sống có mục đích... Kết quả nghiên cứu
gần 1.000 sinh viên đại diện cho các trường đại học, cao đẳng ba miền Bắc, Trung, Nam
về tình hình tư tưởng thanh niên Việt Nam cho thấy, định hướng giá trị của thanh niên
sinh viên trong cuộc khảo sát này là:

- Có kiến thức: 639/821 = 77,8%

- ý chí tự lập: 567/821 = 69,1%

- Có lòng yêu nước: 505/821 = 58,5%

- Coi trọng giá trị đạo đức: 480/821 = 58,5%

- Có tín nhiệm: 440/821 = 53,6%

- Có bằng cấp: 52,9%

- Sống tiết kiệm: 399/8221 = 43,6%

- Có việc làm: 358/821 = 43,6% [61, tr. 47-48].
Đánh giá về định hướng giá trị của sinh viên cũng được thể hiện rõ nét qua kết
quả thăm dò dư luận với sự tham gia của 1.265 sinh viên của 18 tỉnh thành phố trong cả
nước do Trung tâm Nghiên cứu dư luận xã hội - Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương tiến
hành năm 2003 với chủ đề "Hình mẫu sinh viên phấn đấu noi theo" như sau:

- Có ý chí tự lập: 77,4%

- Học giỏi đều các môn: 70,7%

- Sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì tập thể, bạn bè: 69,1%

- Giỏi ngoại ngữ: 63,2%

- Có hiểu biết về tin học: 59,8%

- Có chí hướng phấn đấu trở thành đoàn viên, đảng viên: 58,4%

- Tích cực tham gia hoạt động xã hội và các phong trào: 55,3%

- Coi trọng đạo lý, bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam: 54,6%

- Nhanh nhạy trong việc tiếp thu những giá trị văn hóa
tiên tiến của thế giới: 49,3%

- Học giỏi các môn mà mình cho là cần thiết: 34%

- Biết cách ăn mặc trang điểm đúng mốt: 15,8% [61, tr. 48-49].

Cuộc sống ngày càng phát triển, tính tích cực xã hội của sinh viên ngày càng được
phát huy. Mặc dù sinh viên đến trường với nhiệm vụ chính là học tập và rèn luyện, bên
cạnh nhiệm vụ đó, họ còn tham gia tích cực vào các hoạt động mang tính xã hội cao, như:
hiến máu nhân đạo, ngày thứ bảy tình nguyện, phòng chống tệ nạn xã hội, xóa đói giảm
nghèo, giúp đỡ những gia đình thương binh liệt sĩ, những người già cả cô đơn không nơi
nương tựa, chăm sóc các bà mẹ Việt Nam anh hùng, vệ sinh môi trường... Đặc biệt, tại
Seagames 22 vừa qua, hình ảnh người sinh viên áo xanh tình nguyện viên trên đường phố
Hà Nội không chỉ khắc sâu trong tâm trí người dân Việt Nam mà cả bạn bè trên thế giới.
Những hoạt động này đang ngày càng trở nên thường xuyên hơn và không thể
thiếu trong đời sống sinh viên, khơi dậy tính tích cực xã hội của họ, góp phần to lớn trong
việc hoàn thiện nhân cách sinh viên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

- Kế thừa là quy luật phát triển của ý thức xã hội nói chung, ý thức đạo đức nói
riêng.

Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử của sự kế tiếp các phương thức
sản xuất khác nhau. Cho đến nay, xã hội loài người đã trải qua năm hình thái kinh tế - xã
hội, tương ứng với nó có năm dạng hình thái ý thức đạo đức khác nhau. Mỗi hình thái ý
thức đạo đức ra đời thường kế thừa những nhân tố đạo đức tích cực của các hình thái ý
thức đạo đức trước đó. Đây là vấn đề có tính quy luật trong sự phát triển của đời sống đạo
đức xã hội. Chẳng hạn, những giá trị phổ quát toàn nhân loại như: con người sống phải
biết yêu thương nhau, giúp đỡ nhau, vị tha, bao dung, sống đầy tình nhân ái, phê phán
những thói hư tật xấu... tất cả những giá trị đó được lưu truyền từ đời này sang đời khác,
và thậm chí từ dân tộc này sang dân tộc khác. Ngoài ra, có một số các phạm trù đạo đức
học được hình thành ngay từ thời cổ đại như: hạnh phúc, lương tâm, nghĩa vụ... nó vẫn tồn
tại cho đến ngày nay, mà chúng ta vẫn thường gọi những phạm trù này là những phạm trù
đạo đức truyền thống. Tuy nhiên, nội dung của các phạm trù đó có thay đổi ít nhiều, nó
phản ánh đời sống xã hội đang vận động và phù hợp với quá trình vận động đó.

Kế thừa là quá trình phát triển của ý thức xã hội nói chung của đạo đức nói
riêng, kế thừa là nhân tố, là vòng khâu của sự phát triển, là cái cầu nối giữa cái cũ và cái
mới. Tính kế thừa của đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, vào tính giai cấp,
tính dân tộc. Kế thừa trong sự phát triển của đạo đức không thể tồn tại một cách biệt lập
tách rời các hình thái ý thức xã hội khác như: pháp luật, triết học, tôn giáo, nghệ thuật...
Bên cạnh đó, sự phát triển của đạo đức còn phụ thuộc vào sự giao lưu với văn hóa bên
ngoài, qua đó mà làm cho bản thân nó trở nên phong phú, đa dạng hơn trong sự phát
triển. Chẳng hạn, trong xã hội tư bản chủ nghĩa người ta đã nêu ra những chuẩn mực về
"tự do, bình đẳng, bác ái" nhưng mới chỉ là hình thức, vì lợi ích giai cấp của giai cấp t ư
sản, vì điều kiện kinh tế - xã hội chưa đủ để thực hiện những tư tưởng, chuẩn mực đạo
đức đó. Dưới chủ nghĩa xã hội những giá trị đạo đức này cần kế thừa, phát triển và biến
nó thành hiện thực trong đời sống xã hội.

- Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc giúp cho sinh viên chuyển các
quan niệm đạo đức từ tự phát sang tự giác.

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nó ra đời từ tồn tại xã hội, chịu sự chi
phối của tồn tại xã hội. Quá trình hình thành và phát triển của đạo đức bởi hai con đường,
đó là: tự phát và tự giác. Ngay từ khi con người còn đang sống trong xã hội cộng sản
nguyên thủy, mặc dù con người chưa đạt tới trình độ hiểu biết về đạo đức, hay được
hưởng một nền giáo dục về đạo đức. Nhưng có thể nói, những quan điểm về đạo đức thời
đó đã bắt đầu manh nha. Bằng trực quan, cảm tính, kinh nghiệm, người nguyên thủy cũng
đã nhận biết rằng: phải biết dựa vào nhau để duy trì sự tồn tại của mình, biết hợp tác với
nhau và bình đẳng về lợi ích cũng như lao động, họ bảo nhau rằng "không được đàn áp
nhau, không được lấy phần của người khác" - đó là điều thiện.

Cuộc sống luôn luôn vận động, biến đổi, càng ngày các mối quan hệ giữa con
người với con người, con người với xã hội, con người với tự nhiên càng trở nên phức tạp,
phong phú hơn như chính đời sống hiện thực của nó. Con người cần có những quy tắc,
những chuẩn mực đạo đức nhất định để điều chỉnh các mối quan hệ. Lúc này con người
cần được giáo dục về đạo đức -
quá trình hình thành và phát triển đạo đức thông qua giáo dục là một quá trình tự giác.

Giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên hiện nay là nâng cao
nhận thức về đạo đức cho họ. Giúp họ chuyển các ý niệm, quan điểm đạo đức từ tự phát
thành tự giác, từ thụ động sang chủ động, không ngừng nâng cao trình độ nhận thức về
đạo đức từ thấp đến cao, từ trình độ nhận thức thông thường lên trình độ nhận thức khoa
học. Nhận thức thông thường hình thành dần dần do ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện
sống hàng ngày, còn nhận thức khoa học phản ánh các giá trị đạo đức một cách tổng hợp,
khái quát; phản ánh tất cả các giá trị đạo đức của quá khứ, hiện tại và tương lai. Những tri
thức về đạo đức giúp họ hiểu biết về những chuẩn mực, những nguyên tắc, quy tắc đạo
đức, cái quy định mọi hành vi ứng xử của họ với những người xung quanh, với cộng đồng.
Nếu thiếu những tri thức này sinh viên sẽ không nhận thức được đâu là cái tốt đâu là cái
xấu, đâu là cái thiện đâu là cái ác... và hành động của họ sẽ dễ dẫn đến sai lầm, bởi lẽ
người ta chỉ hành động đúng trong chừng mực người ta hiểu biết chính xác. Giáo dục đạo
đức cho sinh viên là giúp cho sinh viên chuyển những hiểu biết về những nguyên tắc, quy
tắc, chuẩn mực xã hội, để họ tự nguyện điều chỉnh hành vi của mình trong cuộc sống.

Tuy nhiên, trong thực tế có không ít trường hợp người ta biết phân biệt đâu là cái
thiện cái ác; đâu là cái đẹp cái xấu, nhưng họ vẫn có thể vi phạm đạo đức. Do vậy, giáo
dục những giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên phải gắn nó với niềm tin đạo đức,
tình cảm đạo đức - một trong những yếu tố quyết định hành vi đạo đức của con người, để
giúp cho họ chuyển các quan niệm đạo đức từ tự phát sang tự giác, giúp cho sinh viên
hiểu rõ mục đích và việc làm của mình là đúng hay sai, có phù hợp với những chuẩn mực
đạo đức của dân tộc mình hay không, là một việc làm hết sức cần thiết. Mỗi sinh viên đều
được hưởng một nền giáo dục ngay từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, từ
trong gia đình và ngoài xã hội, mức độ tiếp thu của họ thường không giống nhau, sự hiểu
biết của họ về những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc cũng không phải như nhau.
Người thì cho những chuẩn mực, những giá trị đạo đức truyền thống này là lỗi thời là lạc
hậu là không phù hợp với hiện tại, số khác thì ngược lại. Có người thì cho rằng, những
giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc chỉ đúng với trước đây, còn hiện nay thì không
phù hợp, không còn có tác dụng đối với xã hội hiện tại... Do vậy sinh viên có tự giác
nhận thức được những chuẩn mực, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc hay
không? Một phần do sự giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội, một phần do chính bản
thân sinh viên nhận thức. Yếu tố tự nhận thức của chủ thể đạo đức đóng vai trò hết sức
quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của mình trong các mối quan hệ xã hội.

1.2. Yêu cầu của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh
viên Việt Nam hiện nay

1.2.1. Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên phải chú ý tới đặc
điểm tâm - sinh lý lứa tuổi
Giáo dục đạo đức là hoạt động chung tác động đến nhiều đối tượng: học sinh,
sinh viên, cán bộ... và ngay chính bản thân những nhà giáo dục. C.Mác viết:

Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con người là sản phẩm của
những hoàn cảnh và của giáo dục, rằng do đó con người đã biến đổi là sản
phẩm của những hoàn cảnh khác và của một nền giáo dục đã thay đổi, - cái
học thuyết ấy quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và
bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục [41, tr. 10].

Sinh viên Việt Nam hiện nay phần lớn có độ tuổi trung bình từ 19 tuổi đến 23
tuổi, đây là giai đoạn hai của lứa tuổi thanh niên, và là giai đoạn con người có sự trưởng
thành về mặt sinh học cũng như mặt xã hội.

Về mặt sinh học, giai đoạn này bộ não con người phát triển khá hoàn thiện. Các
nhà chuyên môn cho rằng, trọng lượng của bộ não người lúc này đã đạt tới mức tối đa
trọng lượng não của người bình thường (khoảng 1.400gam) và chứa khoảng 14-16 tỷ
nơron thần kinh. So với lứa tuổi thiếu niên, lúc này nơron thần kinh của sinh viên có khả
năng dẫn truyền luồng thông tin tốt hơn (nhanh hơn, chính xác hơn, sức chịu đựng cao
hơn).

Về mặt xã hội, ở giai đoạn này sinh viên đã biết suy nghĩ đến tương lai của mình,
của dân tộc và họ đã có ý thức về trách nhiệm và nghĩa vụ công dân. Họ đã có những trăn
trở trước những khó khăn của đất nước, họ đã có những hoài bão và ước mơ làm một việc
gì đó để có thể góp phần làm thay đổi vận mệnh của Tổ quốc, với ý chí "dời non lấp
biển" và tinh thần xả thân vì nghĩa.

Sinh viên hiện nay ngày càng tỏ rõ vai trò của mình trong xã hội. Càng ngày
chúng ta càng thấy sinh viên năng động hơn, hăng hái và tích cực, táo bạo hơn trong cuộc
sống. Họ hăng hái tham gia vào các hoạt động xã hội và góp phần đáng kể trong đời sống
xã hội cũng như trong sự phát triển của bản thân.

Tuy vậy, nhìn vào mặt trái của sinh viên chúng ta thấy cũng còn nhiều điều đáng
quan tâm, suy nghĩ. Đó là những biểu hiện của lối sống hưởng thụ, lười biếng, chuộng
hình thức, coi thường những người xung quanh kể cả pháp luật, dẫn đến sa đà vào những
tệ nạn xã hội, thậm chí tham gia vào những vụ giết người cướp của, mại dâm, ma túy,
rượu chè, cờ bạc... Tất cả những cái
đó ảnh hưởng rất lớn tới quá trình hình thành và phát triển nhân cách của
sinh viên.

Từ khi còn ngồi trên ghế trường tiểu học, trường phổ thông, học sinh đã được
nhà trường, gia đình và xã hội giáo dục các chuẩn mực đạo đức truyền thống dân tộc. Tuy
nhiên, sự giáo dục này chỉ phù hợp với lứa tuổi học sinh, bước vào trường đại học và cao
đẳng, sinh viên đã có nhiều thay đổi. Do đó, trong các trường đại học và cao đẳng cần có
những phương pháp giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên mới hơn,
hấp dẫn hơn, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi của họ. Làm sao khắc phục được những
mặt hạn chế và khơi dậy những mặt tích cực của sinh viên, giúp họ củng cố niềm tin và
tự ý thức được hành vi trách nhiệm của mình đối với xã hội với cộng đồng.

Trong nhiều năm qua, công tác giáo dục đạo đức trong các trường đại học và cao
đẳng chưa được quan tâm một cách đúng mức. Môn đạo đức còn bị coi nhẹ. Gần đây tình
trạng đó đã từng bước được khắc phục, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng yêu cầu tình hình
hiện tại. Do đó, cần có sự bổ sung tích cực vào chương trình giáo dục lý luận chính trị bộ
môn khoa học này, cần tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh bổ ích, vì dư luận xã hội
lành mạnh sẽ có tác dụng to lớn trong việc điều chỉnh hành vi của con người sao cho phù
hợp với lợi ích của cộng đồng. Đồng thời, dư luận cũng lên án mạnh mẽ những thói hư
tật xấu những hành vi tàn ác vô lương tâm và nêu các tấm gương đạo đức để sinh viên
học tập noi theo.

Ngoài ra, có thể áp dụng các hình thức sân khấu hóa hoạt động giáo dục truyền
thống, tạo ra các sân chơi lành mạnh bổ ích cho sinh viên để sinh viên vừa học mà chơi,
chơi mà học, để giúp cho họ hướng tới những ước mơ, hoài bão, lớn lao.

1.2.2. Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam
hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ của cuộc chạy đua "ai thắng ai" trên
bình diện "chất xám". Tương lai của mỗi dân tộc phụ thuộc một phần rất lớn vào thế hệ
trẻ, trong đó có sinh viên - những trí thức tương lai, những chủ nhân mai sau của đất
nước. Cuộc sống luôn luôn chứng tỏ rằng, trí tuệ là nguồn tài nguyên quý giá của mỗi
quốc gia, dân tộc, một phần tài nguyên đó đang nằm trong mỗi một sinh viên. Việc phát
huy năng lực sáng tạo của sinh viên, khơi dậy tiềm năng trí tuệ to lớn ở họ có ý nghĩ vô
cùng to lớn đối với tương lai dân tộc.

Để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao, phù hợp với cơ cấu kinh tế
- xã hội của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và hợp
tác bình đẳng trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, đòi hỏi chúng ta một mặt phải tạo
mọi điều kiện để sinh viên phát huy hết tài năng sẵn có của mình, mặt khác phải tăng
cường có hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng nhân sinh quan, phát
huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc vì sự phồn vinh của Tổ quốc
và hạnh phúc của bản thân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã
hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa". Giáo dục cho học sinh, sinh viên lòng
yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tư duy sáng tạo và
năng lực thực hành giỏi, có chí học tập, rèn luyện để lập thân, lập nghiệp, vững vàng tiếp
bước các thế hệ đi trước, góp phần đưa đất nước đến hưng thịnh, phú cường [5, tr. 11].
Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Hội sinh viên Việt Nam lần thứ VII đã nêu rõ:

Đảng ta luôn xác định sự nghiệp đổi mới đất nước, xây dựng chủ nghĩa
xã hội có thành công hay không, đất nước trong thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng
trong cộng đồng thế giới hay không chủ yếu là do thế hệ trẻ hiện nay quyết
định, trong đó sinh viên là lực lượng có vai trò quan trọng. Chính vì vậy, sinh
viên Việt Nam, bộ phận trí tuệ và ưu tú trong thanh niên, là nơi kết tinh nhiều
tài năng sáng tạo, là nguồn lao động có học vấn cao, có chuyên môn sâu ngày
càng được xã hội quan tâm và coi trọng [62, tr. 33].

Trong điều kiện hiện nay, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội. Do đó, nếu tầng lớp thanh niên nói chung, sinh viên nói riêng, được
giáo dục tốt thì sẽ đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.

Sinh viên hiện nay nhìn chung có trình độ học vấn cao, hiểu biết rộng, nhiều tài
năng trẻ xuất hiện trong hàng ngũ sinh viên. Điều kiện kinh tế - xã hội lại có nhiều thuận
lợi tạo cho sinh viên có nhiều cơ hội để phát triển, họ có thể nắm bắt những cái mới, tiếp
thu trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến có khả năng hội nhập cao. Đây sẽ là nguồn nhân
lực có trình độ cao phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong
văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Hội sinh viên Việt Nam lần thứ VII khẳng định:

Đứng trước yêu cầu ngày càng cao của chất lượng nguồn lao động
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từ nhận thức đúng
đắn về rèn luyện phẩm chất đạo đức, vai trò của học vấn, kiến thức chuyên
môn, khả năng thực hành, kỹ năng công tác nên đại bộ phận sinh viên chủ
động tích cực học tập, tham gia nghiên cứu khoa học, sáng tạo, nỗ lực rèn
luyện. Ngoài việc học tập những chuyên ngành chính, nhiều sinh viên còn
phấn đấu học thêm ngoại ngữ, tin học và các môn bổ trợ khác... Đa số sinh
viên có lối sống lành mạnh, đạo đức trong sáng, giữ được bản sắc văn hóa dân
tộc, đoàn kết, tương thân tương ái, không để kẻ xấu lợi dụng, kích động gây
mất ổn định chính trị, xã hội... [62, tr. 10].

Cùng với việc khuyến khích sự tiếp nhận những tác động tích cực từ bên ngoài,
chúng ta phải giúp sinh viên hạn chế những những ảnh hưởng tiêu cực và những hiện
tượng lệch lạc trong định hướng các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc như: bệnh sùng
ngoại, bài xích nội, phủ nhận những truyền thống vốn có tốt đẹp của dân tộc. Từ đó dẫn
đến xem thường giá trị dân tộc, xem thường lợi ích người khác, lợi ích cộng đồng. Chính
vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích
trăm năm thì phải trồng người". Theo Bác, trong giáo dục phải chú ý đào tạo thế hệ trẻ
thành những người vừa "hồng" vừa "chuyên" (có cả đức lẫn tài): "Đoàn viên và thanh
niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí
tiến thủ. Đảng cần chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những
người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa hồng, vừa chuyên" [48, tr. 510].

"Hồng" là biết sống vì mọi người, vì tương lai của gia đình và đất nước vì lý
tưởng cộng sản chủ nghĩa, "chuyên" là có trình độ chuyên môn giỏi, nắm vững được
những tri thức khoa học tiên tiến... Có nghĩa là tài phải đi đôi với đức, vì đạo đức là nền
tảng của nhân cách, chúng ta phải giáo dục cho sinh viên ý thức được rằng, sau khi ra
trường nếu có giữ chức vụ gì, ở cương vị nào cũng cần phải có đạo đức, nhất là trong
kinh doanh, nếu không có cái tâm cái đức mà chỉ có tài không thì sẽ khó thành công, có
đức mà không có tài thì không có đủ năng lực để điều hành công việc, có tài mà không có
đức dẫn tới hỏng việc, có hại cho cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: có tài mà
không có đức ví như một anh kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng
những không làm được gì cho lợi ích xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Có đức mà
không có tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không có lợi gì cho loài người
[48, tr. 172]. Trong cơ chế thị trường rất cần có đạo đức, chữ tâm, chữ tín được đề cao,
"làm giàu chính đáng", "cạnh tranh lành mạnh", giàu sang phải hợp với đạo lý... Có như
vậy giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên mới đáp ứng được yêu
cầu của sự nghiệp công nghiệp, hóa hiện đại hóa.

1.2.3. Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên cần chống thái đ ộ
"hoài cổ", "phục cổ"

Phủ định biện chứng đòi hỏi chúng ta phải có thái độ khách quan trong sự kế
thừa. Những tiền đề của cái mới được hình thành từ trong lòng cái cũ, sự ra đời và phát
triển của cái mới là quá trình lọc bỏ, kế thừa, giữ lại những nhân tố hợp lý của cái cũ và
phát triển, bổ sung hoàn thiện để tạo ra cái mới - cái tiến bộ, tích cực, ưu việt hơn - với ý
nghĩa đó kế thừa trong phủ định biện chứng không có nghĩa là sự kế thừa "nguyên xi" không
chọn lọc, không loại trừ những yếu tố gây trở ngại cho sự hình thành cái mới. Kế thừa cái cũ
nhưng phát triển cái cũ trong hoàn cảnh lịch sử mới là đòi hỏi khách quan của phủ định biện
chứng. Những tư tưởng phủ định sạch trơn, "hư vô chủ nghĩa" hay thái độ hoài cổ phục cổ
không chú đến tính lịch sử - cụ thể... đều xa lạ với tính kế thừa của phủ định biện chứng,
chỉ mang lại những mất mát, tổn thất cho cuộc sống mà thôi.

Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc đòi hỏi phải có sự
tiếp cận có chọn lọc các giá trị nhân văn mà loài người tiến bộ đang hướng tới. Để sinh
viên phân biệt được đâu là cái mới, cái lạ, và đâu là những giá trị cần được bổ sung và
phát triển, là một việc làm hết sức cần thiết, tránh thái độ hoài cổ, phục cổ trong giáo dục
những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên. Bởi trên thực tế có rất nhiều
quan niệm mang tính chất siêu hình cho rằng, tất cả những gì là giá trị truyền thống của
dân tộc đã có là vĩnh hằng là bất biến, mọi giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc đã có
từ trước thế nào nay vẫn cứ để như vậy không cần bổ sung không cần phát triển trong
thời đại ngày nay. Trong khi cuộc sống luôn vận động và biến đổi từng ngày từng giờ, do
vậy những giá trị truyền thống của dân tộc ngoài phần nhân lõi bất biến thì phần phát
triển cũng cần được bổ sung cho phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Chẳng hạn, truyền thống
yêu nước của dân tộc Việt Nam ngày nay đã được bổ sung và phát triển trên một hình
thức mới, phù hợp với yêu cầu hiện đại. Trước kia yêu nước là lấy độc lập dân tộc làm
giới hạn cao nhất cho mình, còn ngày nay yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội, gắn độc lập
dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Yêu nước đối với sinh viên ngày nay là phải học thật giỏi
để có đủ điều kiện góp phần xây dựng đất nước. Nếu ông cha ta trước đây đã rửa được
nỗi nhục mất nước, thì ngày nay chúng ta phải đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc
hậu, vươn lên tiến kịp các nước tiến tiến trên thế giới và các nước trong khu vực; lấy
công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, nỗ lực phấn đấu thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ
văn minh. Yêu nước ngày nay còn phải biết "khép lại quá khứ", bắt tay giao lưu với tất cả
các nước trên thế giới để tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, để làm phong
phú thêm những truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Tiểu kết chương 1

Những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam được cô đúc lên trong
suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của đất nước. Nó gắn liền với những thăng
trầm của lịch sử nước nhà, nó là cái thể hiện bản chất nhất, đặc trưng nhất, cốt lõi văn
hóa, bản sắc dân tộc Việt Nam. Những giá trị đạo đức của dân tộc ta là một dòng chảy
liên tục, tồn tại và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước. Hiện nay,
những giá trị tốt đẹp đó vẫn còn tồn tại và ngày càng phát triển trong điều kiện lịch sử
mới.

Giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc là giúp cho sinh viên nhận thức, hiểu biết
về giá trị truyền thống dân tộc, qua đó có ý thức giữ gìn và phát triển nó trong cuộc sống
hiện đại, giúp cho sinh viên ngày càng nêu cao tinh thần dân tộc, từ đó chuyển hóa những
kiến thức, những hiểu biết về các giá trị đạo đức truyền thống thành thực tiễn đạo đức.

Hiện nay, văn hóa Việt Nam có sự tiếp xúc giao lưu với nhiều nền văn hóa trên
thế giới, bên cạnh những giá trị văn hóa cần được tiếp thu, góp phần làm phong phú thêm
nền văn hóa Việt Nam, cũng có không ít quan điểm, tư tưởng thể hiện trong các văn hóa
phẩm trái với thuần phong mỹ tục Việt Nam đang được phổ biến, lan truyền trên nhiều
phương tiện thông tin đại chúng. Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với thực tế đầy
khó khăn, phức tạp này. Hơn ai hết, sinh viên Việt Nam là những người đang chịu sự tác
động mạnh mẽ của các "luồng" văn hóa ngoại lai đó. Vì vậy, vấn đề giáo dục giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc cho tầng lớp sinh viên hiện nay là một việc làm hết sức cấp
bách, nó có vai trò cực kỳ to lớn đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đối với sự
thành công và phát triển nhân cách hoàn chỉnh của sinh viên Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
Chương 2

giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở
Hà Nội hiện nay -
Thực trạng và nguyên nhân



2.1. Thực trạng việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên các
trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội hiện nay

2.1.1. Sinh viên Hà Nội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Hà Nội hiện có khoảng 50 trường đại học - cao đẳng, có tổ chức đoàn trực thuộc
Thành đoàn Hà Nội với khoảng gần 20 vạn đoàn viên - sinh viên. Theo báo cáo tổng kết
của Hội sinh viên Việt Nam - Ban Chấp hành thành phố Hà Nội, từ 2000 - 2004 cho thấy:
đại bộ phận sinh viên Hà Nội đều có ý thức chính trị vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào
sự lãnh đạo của Đảng, tin vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, có tinh
thần cảnh giác cao trước âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, hình ảnh
những người sinh viên ngày càng được khẳng định, được các cấp, các ngành ghi nhận, được
dư luận xã hội đánh giá tốt.

Hiện nay, đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước nói chung, của Thủ đô
Hà Nội nói riêng, đang ngày càng ổn định và phát triển. Sự thành công của Đại hội Đảng
bộ thành phố Hà Nội lần thứ XIII, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã tạo nên không
khí phấn khởi, tin tưởng, củng cố vững chắc niềm tin của các tầng lớp nhân dân cả nước
(trong đó có sinh viên Hà Nội) vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Những thành tựu của đất nước, của Thủ đô, đã có ảnh hưởng
tích cực tới công tác Đoàn và phong trào đoàn thanh niên khối trường học. Tình hình an
ninh chính trị, an toàn xã hội tiếp tục được ổn định. Kinh tế thành phố tăng trưởng, những
vấn đề bức xúc như: xóa đói giảm nghèo, các tệ nạn xã hội... được tập trung giải quyết.
Tuổi trẻ học đường Thủ đô bằng những hoạt động thông qua các phong trào thanh niên
tình nguyện, đã góp phần không nhỏ vào phong trào thanh niên của thành phố Hà Nội.
Sống trong môi trường thông tin đa chiều, dưới áp lực cạnh tranh và hội nhập
quốc tế, sinh viên Hà Nội nhận thức rõ hơn về tình hình nhiệm vụ của đất nước trong giai
đoạn hiện nay. Là lớp người nhạy bén trước những sự kiện trong nước và quốc tế, nên tư
tưởng, đạo đức, lối sống của họ cũng có những chuyển biến nhất định. Hầu hết, sinh viên
Hà Nội có thái độ và nhận thức chính trị được nâng cao theo hướng tích cực. Số đông
sinh viên có mong muốn được đứng trong hàng ngũ của Đảng, tính tích cực chính trị - xã
hội, tinh thần tình nguyện xung kích của sinh viên được nâng cao. Màu áo xanh thanh
niên, sinh viên tình nguyện, đã trở nên thân thương và rất quen thuộc với những người
dân Hà Nội. Các công tác hội và các phong trào sinh viên Hà Nội ngày càng phát triển
mạnh mẽ. Phong trào "Thanh niên tình nguyện" đã có sức lan tỏa, ảnh hưởng tích cực tới
đời sống xã hội, tạo động lực quan trọng thúc đẩy tinh thần tình nguyện của sinh viên
trong học tập, rèn luyện. Các hoạt động của Hội sinh viên ngày càng thu hút đông đảo
sinh viên đến với Hội, và tích cực tham gia các hoạt động của đoàn, Hội sinh viên tổ
chức.

Trong năm học 2000 - 2001, công tác giáo dục chính trị tư tưởng của tuổi trẻ học
đường Thủ đô diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng, phong phú như: tổ chức diễn đàn,
hội thảo tuyên truyền, học tập 5 bài lý luận chính trị cho sinh viên, tìm hiểu lịch sử Thăng
Long - Hà Nội, truyền thống Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, truyền thống Hội
sinh viên Việt Nam, tổ chức học tập quán triệt nghị quyết của Đảng, Đoàn, Hội sinh viên,
pháp luật của Nhà nước... Kết quả, đã tổ chức phát thanh tuyên truyền được 5.643 buổi,
xây dựng 154 panô, áp phích tuyên truyền, tổ chức 377 buổi hội thảo, diễn đàn với
128.500 sinh viên tham gia; các cuộc thi tìm hiểu "Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, đất
nước phồn vinh tiến vào thế kỷ 21", "Tìm hiểu Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ thành
phố Hà Nội"... đã có 110.890 lượt sinh viên, hội viên tham gia. Riêng đợt hoạt động kỷ
niệm "990 năm Thăng Long - Hà Nội" đã có trên 500 buổi tọa đàm về chủ đề "Xây dựng
thế hệ trẻ Thủ đô văn minh, thanh lịch, hiện đại". Trong đó Hội sinh viên các trường Đại
học Kinh tế quốc dân, Đại học Nông nghiệp I, Đại học Mỏ địa chất, Đại học Sư phạm Hà
Nội II... là những tấm gương tiêu biểu [23, tr. 2].
Trong năm học 2001 - 2002, chiến dịch Mùa hè tình nguyện 2001 - 2002 đã đạt
được những kết quả đáng khích lệ, những kết quả đó đã góp phần tạo nên không khí phấn
khởi, thi đua thực hiện chương trình "Tuổi trẻ học đường Thủ đô tiến bước dưới cờ Đảng
thi đua học tập - rèn luyện, lập công xuất sắc trong phong trào thanh niên tình nguyện".

Trong năm học này, sinh viên Thủ đô tiếp tục phát huy vai trò của mình, tham
gia hưởng ứng tích cực vào các phong trào của Đoàn, của Hội sinh viên tổ chức. Công tác
tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng ở các trường vẫn được duy trì, đợt sinh hoạt
chính trị "Tuổi trẻ Việt Nam tiến bước dưới cờ Đảng", các hình thức thi tìm hiểu về nghị
quyết của Đảng của Đoàn, của Hội... được sinh viên tích cực hưởng ứng. Phong trào học
tập trong sinh viên cũng diễn ra hết sức sôi nổi, có hàng ngàn tấm gương vượt khó vươn
lên trong học tập, say mê nghiên cứu khoa học, 4.609 đề tài nghiên cứu khoa học của
5.489 sinh viên các trường đại học và cao đẳng được nghiệm thu đánh giá; 5.504 sinh
viên tham gia 319 cuộc thi Ôlimpic các môn học. Công tác tình nguyện xây dựng môi
trường văn hóa, phòng chống tệ nạn xã hội, ma túy của sinh viên cũng thu được nhiều kết
quả tốt đẹp. Đã có 5.879 cán bộ Đoàn - Hội sinh viên của các trường được tập huấn, giới
thiệu về sinh hoạt tại địa bàn dân cư, tổ chức cho hơn 10.000 lượt đoàn viên - thanh niên
với 16.178 ngày tham gia tổng vệ sinh, giữ gìn làm đẹp cảnh quan môi trường... Hoạt
động chung sức cùng cộng đồng thăm hỏi Bà mẹ Việt Nam anh hùng, chăm sóc giúp đỡ
và dạy học cho 96 trẻ em lang thang, cơ nhỡ. Có hơn 8.000 lượt đoàn viên, sinh viên
đăng ký tham gia hiến máu nhân đạo trong đó có 5.000 lượt học sinh - sinh viên trực tiếp
hiến máu nhân đạo cứu người. Trong kỳ thi tuyển sinh năm học 2002, đã có 1.980 đội,
nhóm với hơn 10.000 thanh niên, sinh viên tình nguyện tham gia phục vụ kỳ thi tuyển
sinh cả hai đợt [23, tr. 2-3; 5].

Năm học 2002 - 2003 diễn ra trong không khí sôi nổi của tuổi trẻ học đường, các
phong trào của sinh viên Hà Nội ngày càng ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng những người
dân Thủ đô nói riêng, cả nước nói chung. Sinh viên trên địa bàn Hà Nội đã tham gia 596
buổi học tập nghị quyết của Đảng, của Đoàn, của nhà trường với 126.498 sinh viên tham
gia. Có 37.279 lượt đoàn viên, sinh viên tham gia các cuộc thi tìm hiểu truyền thống do
các cơ quan Trung ương, thành phố, ngành và các nhà trường tổ chức, có trên 50.000 lượt
đoàn viên, sinh viên tham gia cuộc thi tìm hiểu về Nghị quyết Đại hội Đoàn thành phố
lần thứ XII, Đại hội toàn quốc lần thứ VIII. Gần 2.000 lượt đoàn viên thanh niên, sinh
viên trực tiếp tham gia tặng quà, giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao với học viên
của các trung tâm, có 847 chương trình phát thanh tuyên truyền về phong trào thanh niên
tình nguyện, phòng chống tệ nạn xã hội, ma túy, các hoạt động về dân số sức khỏe môi
trường...

Phong trào tình nguyện của năm học này, Đoàn thanh niên các trường đại học -
cao đẳng đã gắn phong trào thi đua với thực hiện chương trình công tác năm học. Sinh
viên Thủ đô đã thi đua tình nguyện phấn đấu vươn lên trong học tập, sáng tạo, tham gia
nghiên cứu khoa học. Kết quả năm học này đã có 3.460 đề tài nghiên cứu khoa học sinh
viên với 9.271 sinh viên tham gia;
83 đợt tổ chức thi sinh viên giỏi, Ôlimpic các môn học với 3.928 sinh viên tham gia và đã có
1.116 giải thưởng cấp trường, 270 giải thưởng cấp bộ, 128 câu lạc bộ chuyên ngành được
Đoàn thanh niên các trường tham mưu với lãnh đạo nhà trường đầu tư về cơ sở vật chất,
nội dung và hình thức hoạt động thu hút 16.466 đoàn viên, sinh viên tham gia. Các phong
trào tình nguyện xây dựng môi trường văn hóa, phòng chống tệ nạn xã hội, ma túy,
phong trào tình nguyện chung sức cùng cộng đồng, các công tác tổ chức đoàn, tham gia
xây dựng Đảng... đều được sinh viên Hà Nội nhiệt tình hưởng ứng, kết quả đã tổ chức
cho 4.392 đoàn viên tìm hiểu về Đảng, giới thiệu cho Đảng kết nạp được 316 đoàn viên
ưu tú vào Đảng [23, tr. 1; 3].

Năm học 2003 - 2004 với nội dung công tác là: "Sinh viên Thủ đô thi đua học
tập, rèn luyện, xung kích, tình nguyện xây dựng Thủ đô, bảo vệ Tổ quốc, chào mừng Đại
hội Hội sinh viên thành phố Hà Nội lần thứ IV, Đại hội Hội Sinh viên Việt Nam lần thứ
VII" được sinh viên nhiệt tình hưởng ứng và đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp.

Với chương trình "Xây dựng hình ảnh người sinh viên Thủ đô ngàn năm văn
hiến", Hội sinh viên các trường đã chủ động phối hợp với đoàn thanh niên, phòng, ban,
khoa trong nhà trường tổ chức học tập nghị quyết của Đảng, của Hội, tổ chức các hình
thức học tập, tìm hiểu về Nghị quyết Đại hội Hội sinh viên thành phố Hà Nội lần thứ IV,
Đại hội Hội sinh viên Việt Nam lần thứ VII, thi tìm hiểu về chiến thắng lịch sử Điện Biên
Phủ, kỷ niệm 54 năm ngày truyền thống học sinh - sinh viên Việt Nam - ngày truyền
thống Hội sinh viên Việt Nam với nhiều hình thức phong phú, đa dạng như: tổ chức phát
thanh tuyên truyền, panô, băng rôn, khẩu hiệu, tổ chức mít tinh, gặp mặt, giao lưu, tôn
vinh biểu dương những hội viên, sinh viên có thành tích tốt. Kết quả, có hơn 130.000 sinh
viên được học tập, tìm hiểu Nghị quyết Đại hội Hội sinh viên thành phố Hà Nội lần thứ IV,
Đại hội Hội sinh viên Việt Nam lần thứ VII; hơn 49.000 sinh viên tham gia cuộc thi tìm
hiểu về tư tưởng Hồ Chí Minh, 59.206 bài dự thi tìm hiểu "Âm vang Điện Biên" năm học
2003 - 2004; các cơ sở và thành phố đã bình xét giới thiệu 31 sinh viên nhận giải thưởng
"Sao tháng Giêng" do Trung ương Hội sinh viên trao tặng nhân dịp 9/1. Tuyên dương khen
thưởng 4.605 hội viên, sinh viên có thành tích xuất sắc trong học tập. Các phong trào thi đua
phấn đấu vươn lên trong học tập, tiến quân vào các lĩnh vực khoa học công nghệ, các hoạt
động tình nguyện xây dựng giảng đường, ký túc xá, nhà trọ và địa bàn dân cư; tích cực
phòng chống tệ nạn xã hội, ma túy, tình nguyện chung sức cùng cộng đồng, công tác xây
dựng Đoàn, Đảng... đều được sinh viên Thủ đô phát huy mạnh mẽ và gặt hái nhiều thành
tích, kết quả có hơn 2.000 đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên, với gần 5.000 sinh viên
tham gia, phối hợp gần 400 buổi tọa đàm về nâng cao chất lượng học tập của sinh viên.
Vận động hơn 7.800 lượt hội viên, sinh viên tham gia hiến máu nhân đạo, trong đó có
5.000 lượt học sinh, sinh viên trực tiếp hiến được 5.467 đơn vị máu... [23, tr. 5].

Trên đây là những kết quả chung của các hoạt động các phong trào Đoàn và công
tác sinh viên trên địa bàn thành phố. Sau đây là công tác giáo dục, các phong trào hoạt
động của sinh viên, các công tác quản lý sinh viên ở một số trường đại học và cao đẳng ở
Hà Nội (theo báo cáo tham luận tại Hội nghị công tác sinh viên của Bộ Giáo dục và Đào
tạo năm 2003) ta thấy thực trạng việc giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên ở một
số trường có những mặt mạnh sau:

- Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội:
Giai đoạn 1998 - 2002, mặc dù nhà trường gặp phải những khó khăn khách quan
và chủ quan trong công tác quản lý sinh viên, đặc biệt là sinh viên ngoại trú. Nhưng
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Đại học Quốc gia Hà Nội đã có những
đóng góp tích cực vào công tác quản lý sinh viên ngoại trú, và đã đạt được một số thành
tích đáng kể, từng bước ổn định tình hình xã hội nói chung và tình hình nhà tr ường nói
riêng. Các hoạt động của các tổ chức đoàn thể như Đoàn thanh niên và Hội sinh viên nhà
trường luôn được gắn liền với các hoạt động chuyên môn. Bên cạnh đó là đội ngũ cán bộ,
giáo viên, cán bộ lớp, đoàn viên, hội viên luôn thể hiện vai trò của mình là lực lượng
nòng cốt của nhà trường. Việc giáo dục chuyên môn với các hoạt động khác góp phần
tích cực vào công tác quản lý sinh viên.

Nhà trường đã chỉ đạo các phòng chức năng, các đoàn thể và các đơn vị quản lý
sinh viên bằng những việc làm cụ thể như việc thực hiện nội quy, quy chế, các phong trào
văn nghệ, thể dục thể thao, diễn đàn, nói chuyện chuyên đề về phòng chống ma túy và các
tệ nạn xã hội. Nhà trường đã tổ chức cuộc thi tìm hiểu về Luật phòng chống ma túy vào
tháng 10/2001 và đã thu được gần 2000 bài thi có chất lượng.

Mặc dù sinh viên của trường có gần 80% số sinh viên cư trú trên nhiều địa bàn
khác nhau, nhưng đã không có vụ việc nào xảy ra ở địa phương. Kết quả bình xét khen
thưởng, học bổng như sau:

Năm học 1999 - 2000: Toàn trường có 327 sinh viên được khen thưởng

Năm học 2000 - 2001: Toàn trường có 280 sinh viên được khen thưởng

Năm học 2001 - 2002: Toàn trường có 573 sinh viên được khen thưởng.

Trong đó có 8 sinh viên được Bộ Giáo dục và Đào tạo khen thưởng về thành tích
nghiên cứu khoa học; 128 sinh viên là gương mặt tiêu biểu của Đại học Quốc gia Hà Nội;
143 sinh viên được khen thưởng cấp trường và 312 sinh viên được Đoàn các cấp khen
thưởng.

- Trường Đại học Văn hóa:
Là một trường đại học có bề dầy truyền thống với 44 năm xây dựng và trưởng
thành. Cũng như các trường đại học và cao đẳng khác, phần lớn sinh viên của trường có
nhận thức chính trị đúng đắn, có ý chí vươn lên rèn luyện và học tập, có lối sống đạo đức
trong sáng, sống có lý tưởng, có hoài bão và ước mơ. Để xây dựng con người Việt Nam
phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tâm hồn, trong sáng về
đạo đức như Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương khóa VII đã đề ra, nhà trường
đã triển khai một cách toàn diện và bao quát các mặt hoạt động sau: Giáo dục chính trị tư
tưởng, giáo dục lý tưởng cách mạng, truyền thống yêu nước, ý thức trách nhiệm công
dân. Tổ chức các phong trào và hoạt động nhằm động viên, hỗ trợ sinh viên tích cực học
tập, nghiên cứu khoa học, phát triển tài năng. Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của
sinh viên, đẩy mạnh các hoạt động văn hóa - văn nghệ - thể thao và công tác xã hội trong
sinh viên, tích cực phòng chống tệ nạn xã hội. Tất cả những điều đó đã tạo dựng được
môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh, đó là môi trường có nhiều hoạt động giáo dục
chính trị tư tưởng phong phú nhằm giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên; đó
là môi trường sư phạm có kỷ cương, nề nếp trong học tập, trên giảng đường và có nếp
sống văn minh ở ký túc xá. Môi trường văn hóa của nhà trường là môi trường luôn sôi
động những hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao của sinh viên toàn trường; môi
trường văn hóa của nhà trường là môi trường mà ở đó sinh viên có cơ hội tham gia các
hoạt động chung của tuổi trẻ và cống hiến sức mình cho sự nghiệp chung của đất nước.

- Trường Cao đẳng sư phạm thể dục Trung ương I:

Mục tiêu của trường là đào tạo đội ngũ giáo viên làm công tác giáo dục thể chất ở
các cấp học phổ thông, có nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt, giỏi về chuyên môn nghiệp
vụ, sẵn sàng nhận hoàn thành nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Với
số lượng sinh viên nội trú khoảng gần 2000, là trường có sinh viên nội trú đông nhất so
với các trường cao đẳng và đại học ở Hà Nội. ở trên một địa bàn là vùng giáp ranh các
xã, huyện, địa bàn dân cư là công giáo, là điểm nóng rất phức tạp về an ninh. Nhưng dưới
sự lãnh đạo của Đảng ủy, Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm sinh viên đã đề ra nhiều biện
pháp giáo dục và quản lý phù hợp nên đã mang lại hiệu quả thiết thực, đáp ứng được yêu
cầu của quá trình đào tạo. Việc giáo dục quản lý sinh viên tốt không chỉ tạo thuận lợi cho
việc trang bị những tri thức, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ mà còn là môi trường rèn
luyện những phẩm chất đạo đức, nhân cách và tác phong sự phạm cần thiết cho sinh viên.
Trong năm 1998 - 2002 các hoạt động của sinh viên trong nhà trường được triển khai tích
cực chẳng hạn như: "Thi giọng hát hay 97", "Tìm hiểu truyền thống 25 năm Hà Nội -
Điện Biên Phủ trên không"... Công tác phát triển Đảng trong sinh viên cũng được Đảng
ủy quan tâm.

Năm 1998 - 1999 đã mở được 2 lớp tìm hiểu về Đảng với 300 sinh viên tham gia
hoạt động và kết nạp được 6 đảng viên.

Năm 1999 - 2000 mở 2 lớp tìm hiểu về Đảng với 350 sinh viên tham gia hoạt
động và kết nạp được 8 đảng viên.

Năm 2001 - 2002 mở 2 lớp tìm hiểu về Đảng với 350 sinh viên tham gia hoạt
động và kết nạp được 7 đảng viên.

Công tác phòng, chống tệ nạn xã hội của trường cũng được Ban giám hiệu nhà
trường và Ban chủ nhiệm sinh viên tổ chức triển khai tốt. Từ năm 1999 - 2002 nhà trường
chưa phát hiện đối tượng nào vi phạm tệ nạn xã hội như nghiện hút, mại dâm (có nghi
ngờ 5 sinh viên nhưng khi thử ở Viện 103 thì kết quả là âm tính). Nhà trường đã phối hợp
với với địa phương, Công an, Huyện đoàn Chương Mỹ tổ chức ra quân tuyên truyền bằng
khẩu hiệu, panô, áp phích, xem băng hình, phát thanh định kỳ. Thi tiểu phẩm hài kịch
nhằm nói lên tác hại của mại dâm, ma túy và căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS.

Với truyền thống tốt đẹp về nhân cách, phẩm chất, lối sống, tác phong sư phạm
của sinh viên nhà trường, ý thức xây dựng tập thể, tình thày trò, bạn bè luôn được củng
cố. Kết quả thu được qua giáo dục và quản lý sinh viên của trường như sau:

- Năm học 1998 - 1999, 2001 - 2001, trường được tỉnh Hà Tây chọn làm điển hình
về an ninh trật tự, an toàn xã hội và phòng chống các tệ nạn xã hội.

- Thành đoàn Hà Nội nhiều năm liền tặng cờ thưởng đơn vị xuất sắc cho Đoàn
thanh niên của trường.
- Năm 2000 - 2001, được Trung ương Đoàn tặng thưởng bằng khen về phong
trào thanh niên tình nguyện và được nhiều trường đến tham quan học tập kinh nghiệm
công tác quản lý sinh viên.

Phân viện Báo chí và Tuyên truyền:

Là một trường đại học trong hệ thống trường Đảng, có chức năng đào tạo cán bộ
báo chí, xuất bản, tuyên truyền của Đảng, đào tạo giảng viên bậc đại học các chuyên
ngành lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài việc trang bị cho sinh viên
những kiến thức về chuyên môn, nhà trường chỉ đạo và phối hợp với các đoàn thể của
nhà trường, của thành phố, hướng sinh viên tham gia vào các phong trào hoạt động mang
ý nghĩa giáo dục và rèn luyện đạo đức truyền thống dân tộc nói chung, đạo đức sinh viên
nói riêng. Sinh viên toàn Phân viện trong những năm qua ngoài nhiệm vụ học tập, còn tổ
chức nhiều hoạt động xã hội, góp phần tôn vinh vai trò người sinh viên Việt Nam trong
sự nghiệp đổi mới đất nước.

Trong năm năm trở lại đây, số lượng sinh viên của Phân viện Báo chí và Tuyên
truyền được kết nạp vào Đảng khá nhiều, cụ thể:

Năm 2000: 117 sinh viên được kết nạp Đảng

Năm 2001: 133 sinh viên được kết nạp Đảng

Năm 2002: 165 sinh viên được kết nạp Đảng

Năm 2003: 108 sinh viên được kết nạp Đảng

Năm 2004 (6 tháng đầu năm): 66 sinh viên được kết nạp Đảng

Sinh viên là lực lượng chính trị - xã hội quan trọng, là bộ phận ưu tú của thanh
niên Việt Nam, có vai trò và trách nhiệm to lớn thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặc dù chịu sự tác động từ mặt trái của kinh tế thị
trường, nhìn chung đa số sinh viên vẫn coi trọng và giữ gìn, bảo tồn những giá trị văn hóa
nói chung, giá trị đạo đức nói riêng.
Bảng 2.1: Những giá trị và định hướng giá trị
của sinh viên Phân viện Báo chí và Tuyên truyền

Tỷ lệ % so với tổng số

Hoàn
Rất Tương Không
Quan toàn
TT Giá trị xã hội quan đối quan quan
trọng không
trọng trọng trọng
QT

1 Sống hòa bình 68 32 0 0 0

2 Sống trong tự do 60 28 6 6 0

3 Sống có sức khỏe 60 18 16 6 0

4 Sống có việc làm phù 44 40 16 0 0
hợp
5 28 36 12 4 0
Có học vấn cao
6 52 40 4 4 0
Gia đình hạnh phúc
7 52 24 12 12 0
An ninh được đảm bảo
8 44 36 8 12 0
Niềm tin vào cuộc sống
9 42 34 7 17 0
Sống có mục đích lý
10 56 32 12 0 0
tưởng
11 42 38 15 5 0
Sống có tình nghĩa
12 44 40 6 10 0
Sống có lòng tự trọng
13 32 40 28 0 0
Tinh thần tự lập
14 24 52 24 0 0
25 Cái đẹp và cái thiện 32 32 36 0 0

26 Cuộc sống giàu sang 56 16 28 0 0

Có tinh thần sáng tạo

Có tình bạn tốt


Nhìn chung, trong những năm qua, các trường cao đẳng và các trường đại học ở
thành phố đã phối hợp với Trung ương Hội sinh viên, đã nắm bắt kịp thời các chủ trương
chính sách của Đảng, Nhà nước, của Trung ương Đoàn, Trung ương Hội sinh viên, Hội
sinh viên thành phố Hà Nội, bám sát chương trình năm học, sáng tạo trong việc triển khai
tổ chức thực hiện. Vì vậy, ngoài việc giáo dục kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho sinh
viên, các trường còn quan tâm đến các hoạt động khác nhằm bảo vệ và phát huy những
giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc nói chung, giá trị đạo đức nói riêng trong sinh
viên. Sinh viên Hà Nội từng bước khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hình ảnh người sinh viên Việt Nam nói
chung, sinh viên Thủ đô nói riêng ngày càng trở nên quen thuộc trong đời sống cộng
đồng.

Bên cạnh những thành tích to lớn cần được khẳng định ở trên, dưới tác động của
kinh tế thị trường cộng với sự quyết tâm rèn luyện, ý chí vươn lên chưa cao ở một bộ
phận sinh viên... đang là những trở ngại lớn đối với phong trào học tập và rèn luyện của
sinh viên. Về cơ sở vật chất, điều kiện để sinh hoạt, học tập của sinh viên ở các tr ường
hầu như chưa được đáp ứng đầy đủ. Mặc dù các trường đại học và cao đẳng ở thành phố
Hà Nội đã được sự quan tâm của các cấp, các ngành, đã đầu tư và nâng cấp trường học,
các khu nội trú cho sinh viên. Nhưng với số lượng sinh viên trên địa bàn thành phố như
hiện nay, thì ký túc xá vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của họ, nhiều sinh viên
phải đi thuê nhà trọ để ở. Ví dụ, ở Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Đại học
Quốc gia Hà Nội, còn chưa giải quyết được vấn đề chỗ ở cho sinh viên, nên hầu hết sinh
viên phải thuê nhà trọ trong dân, trong khi đó số lượng tuyển sinh ngày một tăng, ký túc
xá không thuộc nhà trường mà do Đại học Quốc gia Hà Nội quản lý, số sinh viên của
trường được ở trong ký túc xá của Đại học Quốc gia Hà Nội chỉ khoảng 20% và chủ yếu
dành cho các diện chính sách, số còn lại phải thuê trọ nhà dân và làng sinh viên Hacinco
(theo báo cáo tham luận về công tác sinh viên 2004).

Thực tế đó ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý sinh viên và ít nhiều có tác
động đến đời sống sinh viên. Bên cạnh những mặt mạnh mà sinh viên Thủ đô đạt được
trong những năm qua, không thể không thừa nhận rằng, còn có một bộ phận sinh viên Hà
Nội mắc vào những tệ nạn xã hội, đi ngược lại thuần phong mỹ tục, vi phạm chuẩn mực
đạo đức lối sống. Nguyên nhân này một phần do các tệ nạn xã hội xâm nhập vào nhà
trường mà chúng ta không kiểm soát được hết, nhất là sinh viên ngoại trú. Hiện tượng
sinh viên tham gia đánh bạc, chơi đề, có chiều hướng gia tăng; tệ nạn ma túy trong sinh
viên tuy có giảm, nhưng chưa ổn định và còn có thể diễn biến phức tạp do tác động của
tội phạm ma túy ngoài xã hội. Trong những năm gần đây, một số ít sinh viên tham gia
làm bằng giả, giấy tờ giả, thi thuê. Trong kỳ thi tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2003 ở
địa bàn Hà Nội, công an đã bắt giữ 13 đối tượng (trong đó có sinh viên) tham gia làm hồ
sơ giả, tổ chức thi thuê, thu 582 loại giấy tờ, tài liệu giả và 252 chế bản các mẫu con dấu
và chữ ký của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tình hình phạm pháp hình sự liên quan
tới sinh viên Hà Nội vẫn còn, đây đó còn xảy ra các vụ việc nghiêm trọng như: giết
người, giết người cướp của, cưỡng đoạt tài sản, cố ý gây thương tích, tham gia đua hoặc
cổ vũ đua xe trái phép, gây rối trật tự công cộng... [23, tr. 1-5].

Học tập là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu đối với sinh viên, việc học tập không
chỉ là vấn đề tương lai đối với mỗi sinh viên, mà còn là tiêu chuẩn để xem xét và đánh giá
đạo đức đối với họ. Từ việc nhận thức đúng đắn và tự giác trong học tập giúp sinh viên
có ý thức hơn trong học tập. Các số liệu thống kê trên cho thấy, số sinh viên vi phạm
pháp luật tuy không nhiều, nhưng số sinh viên vi phạm quy chế là rất đáng kể, thể hiện ý
thức và thái độ học tập, rèn luyện của một bộ phận sinh viên yếu kém (trong đó có sinh
viên Thủ đô) trong học tập và rèn luyện.
Theo kết quả điều tra xã hội học của đề tài thì chính sinh viên Phân viện Báo chí
và Tuyên truyền đánh giá về những biểu hiện tiêu cực rơi vào sinh viên hiện nay như sau:

Bảng 2.2.: Sinh viên Phân viện Báo chí và Tuyên truyền đánh giá
về những biểu hiện tiêu cực trong sinh viên

Tỷ lệ % so với tổng số

TT Phẩm chất đạo đức Có Không

1 Đi học muộn không lý do hoặc bỏ học 92 8

2 Nghiện hút 0,2 99,8

3 Cờ bạc, rượu chè, cắm quán 64 36

4 Đua xe máy trái phép 8 92

5 Có thái độ gian lận trong học hành, thi cử 69 31

6 Văng tục, có hành vi thiếu văn hóa 38 62

7 Thiếu tôn trọng thầy cô 8 92

8 Vi phạm pháp luật 23 77

Như vậy, hiện tượng tiêu cực trong sinh viên vẫn còn, những phẩm chất, chuẩn
mực đạo đức của người sinh viên vẫn còn vi phạm. Như đi học muộn hoặc bỏ học không
có lý do, có thái độ gian lận trong thi cử, cờ bạc, rượu chè, cắm quán... Trong sinh viên
đây đó còn một số ít có những biểu hiện đi ngược lại các giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc.

Tóm lại, bên cạnh những mặt yếu kém, tiêu cực khó tránh khỏi, nhìn chung đa số
sinh viên Hà Nội những năm qua luôn luôn cố gắng trong học tập, không ngừng phấn đấu
vươn lên trong cuộc sống, ra sức gìn giữ và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống
được cha ông ta tạo dựng nên trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ
nước.
2.1.2. Mặt ưu điểm của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống

Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống là một trong những nội dung cơ bản của
giáo dục ở bậc đại học, cao đẳng của cả nước nói chung, thành phố Hà Nội nói riêng.
Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc cho toàn dân, đặc biệt là đối với sinh viên - một tầng lớp trí thức trẻ trong tương lai
của đất nước. Điều đó đã tạo rất nhiều thuận lợi cho cho việc giáo dục đạo đức truyền
thống dân tộc cho sinh viên. Trong xã hội, không khí dân chủ được mở ra, những tư
tưởng cũ kỹ giáo điều đã dần được loại bỏ, thay vào đó là một chân trời nhận thức rộng
lớn cho thế hệ trẻ. Chính sách mở cửa và sự tràn ngập các kênh thông tin cùng với chính
sách kinh tế thị trường, khuyến khích mọi người hăng hái vươn lên thi đua làm giàu bằng
lao động chân chính, tạo nên môi trường kinh tế - xã hội cho phép tuổi trẻ có thể vươn
lên để khẳng định mình.

Trong tất cả các kỳ đại hội, Đảng ta luôn luôn quan tâm đến việc giáo dục truyền
thống dân tộc cho thế hệ trẻ, xem đó là nhiệm vụ chiến lược có tính chất sống còn của đất
nước. Đảng ta đã có Chỉ thị 34 về việc phát triển đảng viên trong trường học. Hội nghị Trung
ương 5 (khóa VIII) Đảng ta khẳng định:

Đội ngũ trí thức Việt Nam giàu lòng yêu nước, đại bộ phận xuất thân từ
nhân dân lao động, là tinh hoa của nền văn hóa nước nhà được Đảng, Nhà nước
và nhân dân tôn trọng, tạo mọi điều kiện để cho anh chị em phát huy trí tuệ, tài
năng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân và chủ nghĩa xã hội, giữa vai trò cực
kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa [10, tr. 12].

Những thành tựu mà chúng ta thu được trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa chính là
chỗ: "Nhiều nét mới trong giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức từng bước được hình
thành. Tính năng động và tính tích cực công dân được phát huy, sở trường và năng lực cá
nhân được khuyến khích. Không khí dân chủ trong xã hội tăng lên. Thế hệ trẻ tiếp thụ
nhanh những kiến thức mới và có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc". Tại Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định: "Về giáo dục và đào tạo: tiếp tục
nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ
thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện "chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội
hóa". Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng
lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề" [12, tr. 35].

Quán triệt tinh thần đó, các trường đại học và cao đẳng ở thành phố Hà Nội đã
triển khai công tác này một cách tích cực. Thực tiễn cho thấy, hiện nay, cùng với những
thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới mà đất nước ta đã đạt trong những năm qua,
đặc biệt là 5 năm gần đây, đội ngũ thanh niên sinh viên, những người chủ nhân tương lai
của đất nước, đã có sự trưởng thành đáng kể cả về chất và lượng. Hệ thống các trường đại
học và cao đẳng ở Hà Nội đã có những bước phát triển mạnh mẽ về quy mô, đa dạng hóa
các loại hình đào tạo; cơ hội học tập và phát triển của sinh viên ngày càng nhiều, do đó số
lượng sinh viên cũng tăng nhanh đáng kể.

Công tác giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên trong
giai đoạn hiện nay có sự đóng góp của các chủ thể giáo dục. Các nhà trường, gia đình và
các cơ quan, các tổ chức đoàn thể... đã có những phương pháp, mô hình giáo dục giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc mang lại hiệu quả cao. Những phong trào như: "Tuổi trẻ
giữ nước", "Thanh niên lập nghiệp" do Đoàn thanh niên phát động được triển khai rộng
khắp, đã được sự hưởng ứng nhiệt tình của sinh viên, thanh niên cả nước. Qua đó, nhiều
sinh viên thanh niên đã ra sức phấn đấu và vươn lên để lập thân, lập nghiệp. Những hoạt
động giáo dục, tuyên truyền về những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, truyền
thống cách mạng của Đảng của Đoàn được triển khai và đã đem lại hiệu quả. Những loại
hình tuyên truyền như: Tìm hiểu về truyền thống, về nguồn, gặp mặt truyền thống... Bên
cạnh đó còn có những phong trào hành động của thanh niên mang ý nghĩa giáo dục
truyền thống sâu sắc như: giúp đỡ và chăm sóc các bà mẹ Việt Nam anh hùng, các gia
đình có công với cách mạng gặp cảnh neo đơn, những người già cả ốm đau không nơi
nương tựa, các phong trào đền ơn đáp nghĩa, hiến máu nhân đạo, ngày thứ 7 tình nguyện,
ngày chủ nhật xanh... thể hiện truyền thống uống n ước nhớ nguồn, một truyền thống tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam (xem phụ lục 2: Số liệu công tác Hội và phong trào sinh viên
Hà Nội năm học 2003 - 2004).
Hưởng ứng 6 chương trình hành động của sinh viên Việt Nam giai đoạn 1998 -
2003 gồm: Giáo dục và rèn luyện sinh viên; sinh viên học tập, nghiên cứu khoa học công
nghệ và phát triển tài năng; sinh viên tích cực rèn luyện thể lực, xây dựng đời sống văn
hóa tinh thần phong phú, lành mạnh; sinh viên tham gia xây dựng môi trường giáo dục,
tích cực phòng chống tệ nạn xã hội; sinh viên chung sức cùng cộng đồng và xây dựng
Hội sinh viên Việt Nam. Hội sinh viên Hà Nội đã triển khai một cách tích cực và có hiệu
quả khẩu hiệu: "Sinh viên Việt Nam rèn đức, luyện tài vì tương lai tươi sáng"... Nhìn
chung, thanh niên, sinh viên đã tin tưởng, ủng hộ và hăng hái tham gia vào sự nghiệp đổi
mới của đất nước, họ đã biến niềm tin ấy vào chính hoạt động thực tiễn của mình, mong
muốn được cống hiến đóng góp hết sức mình vào sự nghiệp cách mạng của đất nước.
Trong mỗi sinh viên lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, ý chí quyết tâm đẩy lùi đói nghèo, tụt
hậu, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh tiến bộ cũng
được nâng cao hơn. Trong điều kiện mở cửa của đất nước như hiện nay, được giao lưu
với nhiều luồng văn hóa, nghệ thuật từ bên ngoài, nhưng đa số sinh viên Việt Nam vẫn
giữ gìn được lối sống giản dị lành mạnh, không để kẻ xấu kích động lợi dụng gây mất ổn
định chính trị - xã hội. Đó chính là những thành công, những ưu điểm của công tác giáo
dục nói chung, công tác giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam nói riêng
trong những năm qua.

2.1.3. Mặt hạn chế của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống

Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đã khái
quát lên bức tranh về thực trạng những yếu kém trong đời sống văn hóa tinh thần và đạo
đức lối sống, của hoạt động giáo dục, trong đó có giáo dục đạo đức của xã hội ta trong
thời gian qua như sau:

Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy
theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ... đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của
dân tộc. Không ít trường hợp vì đồng tiền và danh dự mà chà đạp lên tình nghĩa
gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp. Buôn lậu và tham nhũng phát
triển. Ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác gia tăng. Nạn mê tín dị đoan khá
phổ biến. Nhiều hủ tục cũ và mới lan tràn, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ
hội...

... Nhiều biểu hiện tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo làm cho
xã hội lo lắng như sự suy thoái đạo lý trong quan hệ thầy trò, bè bạn, môi
trường sư phạm xuống cấp; lối sống thiếu lý tưởng, hoài bão, ăn chơi, nghiện
ma túy... ở một bộ phận học sinh, sinh viên; việc coi nhẹ giáo dục đạo đức,
thẩm mỹ và các bộ môn chính trị, khoa học xã hội và nhân văn [10, tr. 46-47].

Xem xét và đánh giá một cách toàn diện, trong những năm đổi mới vừa qua
ngoài những thành tích đã đạt được trong công tác giáo dục truyền thống cho sinh viên, ở
một góc nhìn khác chúng ta không thể không thừa nhận những hạn chế, thiếu sót nhất
định, cụ thể:

Thứ nhất: trong nhận thức chúng ta đôi khi chưa thấy hết tính cấp thiết, tầm quan
trọng của công tác giáo dục giá trị truyền thống, còn xem nhẹ công tác giáo dục văn hóa,
đạo đức, lối sống mà chỉ quan tâm chú trọng vào phát triển kinh tế, tạo ra sự phát triển
thiếu đồng bộ. Mặc dù quan điểm của Đảng về công tác giáo dục sinh viên hoàn toàn
đúng đắn, nhưng còn dừng lại ở cái chung, chưa có những định hướng cụ thể, rõ ràng trong
giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ. Trong những năm gần đây, chúng ta đã tập trung nâng cao
chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục đại học, nhìn chung kết quả đạt được chưa tương xứng
với lòng mong mỏi của chúng ta. Một số nội dung chương trình, nhất là nội dung giáo dục
truyền thống dân tộc còn bị coi nhẹ, chúng ta chưa đưa vào chương trình bộ môn Đạo đức
học với tư cách là một môn học bắt buộc trong các trường đại học và cao đẳng. ở một số
trường đã giảng dạy bộ môn này nhìn chung chưa có sự đổi mới, không phù hợp với cuộc
sống hiện tại, chưa sát với thực tế, nhất là những nội dung phản ánh yêu cầu cấp bách c ủa
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, còn chung chung, xơ cứng, thiếu sức thuyết
phục. Gần chúng ta, Bộ Tuyên truyền của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Bộ
Giáo dục Trung Quốc đã phối hợp ban hành "Đề cương đức dục trong các trường đại học
nói chung của Trung Quốc" và cho xuất bản cuốn "Tu dưỡng đạo đức tư tưởng" (dày hơn
600 trang) dùng làm giáo trình để giảng dạy cho sinh viên các trường đại học trên lãnh
thổ Trung Quốc từ năm 1995 trở lại đây.

Thứ hai: Khi đất nước chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ
chế thị trường, chúng ta không lường hết được cả tác động tích cực, lẫn tác động tiêu cực
của nền kinh tế thị trường, và mở rộng giao lưu quốc tế đến sự phát triển đạo đức. Thang
giá trị xã hội ở ta có những bước chuyển dịch, thay đổi, thậm chí có "sự đảo lộn" một
cách nhanh chóng, nhiều giá trị trước thời kỳ đổi mới được đề cao, nay lại bị hạ thấp (và
ngược lại), theo đó, sự nhìn nhận đánh giá và định hướng về các giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc trong sinh viên cũng có những biến đổi nhanh chóng. Có rất nhiều sinh viên
ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đã suy nghĩ cho tương lai của mình theo
hướng: có việc làm ổn định ở lại thành phố Hà Nội, thu nhập cao, nhàn hạ... và trong
cuộc sống hàng ngày đã bộc lộ rõ tính ích kỷ, thích hưởng thụ...

Đánh giá tình hình sinh viên giai đoạn 1998 - 2003, Trung ương Hội sinh viên
Việt Nam cho rằng:

1. Còn có một bộ phận sinh viên còn mơ hồ về lý tưởng cách mạng,
ngại tham gia các hoạt động của tập thể, ý chí phấn đấu
chưa cao.

2. Một số sinh viên vẫn còn lười học, có một số vi phạm nội quy, quy
chế, thiếu trung thực trong học tập, gian lận trong thi cử. Hiện t ượng mua bán
điểm còn ngấm ngầm xảy ra ở một số trường. Vẫn còn có những sinh viên chỉ
hưởng thụ, không nghĩ đến nghĩa vụ và trách nhiệm cống hiến, chưa tích cực
học tập và rèn luyện, ý thức chuẩn bị cho ngày mai lập nghiệp chưa cao.

3. Trong sinh viên còn có biểu hiện lối sống thực dụng, đua đòi ăn
diện, xa hoa quá mức sống cho phép. Trong mối quan hệ tình bạn, tình yêu, có
xu hướng thực dụng, thiếu trách nhiệm với nhau, xa lạ với đạo đức của người
Việt Nam. Tệ nạn xã hội nhất là ma túy, cờ bạc trong sinh viên tuy có giảm
nhưng chưa triệt để. Những hiện tượng này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng
học tập và kết quả rèn luyện của sinh viên [61, tr. 70-71].
Sinh viên thành phố Hà Nội cũng không nằm ngoài thực trạng chung đó.

Thứ ba: Vấn đề môi trường giáo dục: Đảng và Nhà nước luôn luôn mong muốn
nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác trong giáo dục truyền thống dân tộc cho lớp trẻ
hiện nay, để tạo ra một lớp người vừa khỏe mạnh về tâm hồn vừa cường tráng về thể
chất, đặc biệt là những người biết giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống quý báu
của ông cha ta ngàn đời đã có công gìn giữ và phát huy. Việc Thành ủy, Hội đồng nhân
dân, ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tổ chức tuyên dương và ghi vào sổ vàng truyền
thống ở Văn Miếu Hà Nội 101 sinh viên thủ khoa, đại diện cho hơn 20 vạn sinh viên học
trong 47 trường đại học và cao đẳng ở Hà Nội năm học 2002 - 2003 là một bằng chứng
sống động. Bên cạnh những cố gắng vượt bậc nhằm tạo môi trường giáo dục trong sạch,
lành mạnh, trên thực tế môi trường giáo dục của chúng ta đang bị ô nhiễm. Trên địa bàn
Hà Nội, mấy năm gần đây, một số trường đại học đã có những sai phạm, ảnh hưởng xấu
đến công tác giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng. Chẳng hạn: Vụ sai phạm
nghiêm trọng ở "Trường Đại học quốc tế Châu á" (năm 2002). Vụ sai phạm ở "Trường
Đại học dân lập Đông Đô" (năm 2001 - 2002). Vụ một số cán bộ, giảng viên ở một
trường đại học (ĐHTM) có biểu hiện tiêu cực trong kỳ thi tuyển sinh (ngày 4, 5-7-2002)
v.v...

Mặt trái của cơ chế thị trường, các tệ nạn xã hội, văn hóa phẩm không lành mạnh
tràn ngập, cộng với lối sống buông thả thực dụng chạy theo đồng tiền, sống lạnh lùng
sòng phẳng trả tiền ngay... đang ngày càng làm xói mòn các chuẩn mực đạo đức của dân
tộc, những yếu tố đó đang hàng ngày hàng giờ tác động tới lớp trẻ ngày nay. Hơn bao giờ
hết, chúng ta phải quán triệt một cách sâu sắc luận điểm của C.Mác và Ph. Ăngghen về
sự thống nhất biện chứng giữa con người và hoàn cảnh: con người tạo ra hoàn cảnh đến
mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy.

Đối với một số trường, đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý chuyên trách còn thiếu
về số lượng và yếu về năng lực, trình độ. Chưa toàn tâm, toàn ý với công việc của mình,
chưa kể có một số cán bộ giảng dạy còn có sự suy thoái về đạo đức lối sống, ảnh hưởng
không nhỏ đến việc rèn luyện phẩm chất đạo đức của sinh viên.
Trong gia đình, vấn đề giáo dục truyền thống cũng chưa được quan tâm đúng
mức. Gia đình là một môi trường hết sức quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới tư tưởng, đạo
đức, lối sống, nhân cách của các em. Một đứa trẻ ngay từ khi mới sinh ra đã chứa đựng
trong cơ thể nó những yếu tố cần thiết để phát triển thành người, thành nhân cách. Cha
mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái thành người với đúng nghĩa của nó. Tất cả mọi lời
nói, cử chỉ, việc làm của cha mẹ và những người trong gia đình đều có ảnh hưởng lớn tới
đứa trẻ, lối sống gia đình nề nếp sinh hoạt giao tiếp... của gia đình đều tác động vào đứa
bé. Ông bà ta thường khuyên "dạy con từ thuở còn thơ" là thế. Sau này, khi các em đã
được ngồi trên ghế trường đại học, công việc giáo dục đạo đức truyền thống cho các em
càng cần được quan tâm chú trọng hơn, vì ở tuổi này các em có sự thay đổi về tâm sinh
lý, rất nhạy cảm với những vấn đề trong cuộc sống. Nhưng hiện nay, một số các bậc cha
mẹ mải lo làm kinh tế đẩy trách nhiệm giáo dục hoàn toàn cho nhà trường. Chưa có sự
phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức, lối sống đối với
sinh viên, có nhiều gia đình do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhưng cũng có nhiều gia đình
bị cuốn hút bởi lợi nhuận nên đã ít dành thời gian chăm sóc con cái về mặt tinh thần. Họ
chỉ biết tạo dựng cho con cái một cuộc sống đầy đủ về vật chất, chứ không nghĩ đến giáo
dục con cái những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Có những gia đình con cái hư hỏng,
thậm chí đã bỏ học mà không hề hay biết, có gia đình đến lúc con cái bị đưa ra vành
móng ngựa bấy giờ mới hay, và ân hận thì đã quá muộn. Bên cạnh đó ở một số gia đình
có những xung đột bất hòa giữa cha và mẹ dẫn đến ly hôn, làm cho đứa trẻ bị thiếu cha
hoặc thiếu mẹ. Trong hoàn cảnh như thế, có ảnh hưởng lớn tới tâm lý cũng như việc học
hành của các em, sự phát triển nhân cách của các em chắc chắn sẽ bất bình thường. Trong
điều kiện đó thì việc giáo dục đạo đức cho các em trở nên hết sức khó khăn.

Mặc dù chúng ta đã có những hoạt động của các đoàn thể, các hội, nhưng trong
công tác vận động, giáo dục thanh niên, sinh viên chúng ta chưa thực sự coi trọng việc
giáo dục các giá trị truyền thống của dân tộc, nội dung giáo dục truyền thống còn chung
chung, chưa cụ thể. Do đó, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng những yêu cầu bức xúc do
cuộc sống đặt ra, chẳng hạn, yêu nước ngày nay là gì? Yêu nước ngày nay là gắn với yêu
chủ nghĩa xã hội, yêu chủ nghĩa xã hội phải thể hiện bằng những hành động cụ thể thiết
thực để đóng góp vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không lùi bước trước bất kỳ khó
khăn nào, luôn luôn nỗ lực vươn lên trong cuộc sống. Thế nhưng, trên thực tế thì có rất
nhiều sinh viên luôn lẩn tránh trách nhiệm, nghĩa vụ của mình đối với Tổ quốc, phai nhạt
lý tưởng, thờ ơ với thời cuộc, chỉ đi tìm cho mình một cuộc sống hưởng thụ, an nhàn.
Hàng năm số sinh viên ra trường rất nhiều, nhưng hầu hết không chịu tới các vùng sâu
vùng xa công tác, có những sinh viên ở nông thôn đã từ chối trở về phục vụ quê hương
nơi chôn rau cắt rốn của mình.

Thứ tư: Việc chúng ta phải chứng kiến những hiện tượng vi phạm luật pháp, vi
phạm những chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc là những sinh viên còn ngồi
trên ghế trường đại học, cao đẳng đã gây nên sự bất bình trong xã hội, làm giảm sút niềm
tin của mọi người đối với thế hệ mai sau. Truyền thống hiếu học, tôn sư trọng giáo muôn
đời của dân tộc ta hoàn toàn xa lạ với hiện tượng sinh viên trở thành "tướng cướp"; sinh
viên "tống tiền"; sinh viên "thi kèm đại học"; thậm chí cả sinh viên giết thầy giáo cũ của
mình, cùng với các tệ nạn xã hội khác (ma túy, mại dâm, cờ bạc...).

Những nét đẹp truyền thống như kính già yêu trẻ, tôn sư trọng giáo, nhân ái, vị
tha, khoan dung, đại lượng... chưa phát huy hết tác dụng của mình trong cuộc sống hiện
đại, chưa được khai thác thành hệ thống trong nội dung giáo dục đạo đức truyền thống
cho thế hệ trẻ hôm nay. Do vậy, những tấm "gương xấu" trong xã hội đã ảnh hưởng rất lớn
vào tâm hồn trong sáng của tầng lớp sinh viên, thanh niên. Như vậy rất dễ đẩy họ lao vào
con đường tội lỗi.

Chúng ta ngày nay đang phấn đấu cho một xã hội công bằng, văn minh tiến bộ.
"Công bằng" cũng là truyền thống ngàn đời của ông cha ta, nay được Đảng và nhà nước
coi trọng, coi đó là mục tiêu lâu dài, thể hiện tính ưu việt của xã hội xã hội chủ nghĩa. Để
thực sự có một xã hội công bằng quả là không đơn giản, đây là một việc làm hết sức khó
khăn và phức tạp. Trên thực tế có những sinh viên tốt, thật thà, chăm học thì luôn chịu
thiệt thòi, bởi bên cạnh đó có nhiều sinh viên ham chơi lười học nhưng gian lận, thiếu
trung thực trong học tập, thi cử vẫn ngang nhiên hưởng kết quả như những sinh viên học
bằng chính sức lực của mình, có khi kết quả cuối cùng còn cao hơn những sinh viên
chăm chỉ học tập. Đó là những điều trái với truyền thống cần cù hiếu học của dân tộc ta,
vậy mà có em còn xem đó là những chuyện bình thường, không hề thấy hổ thẹn. Như vậy
những người đó thật khó có đủ chữ "tín" để chấp nhận cạnh tranh trong kinh tế thị
trường, khó có thể trở thành những người đủ khả năng đấu tranh chống lại hiện tượng
tham nhũng, mà Đảng ta đang coi đó là "quốc nạn".

Phương pháp giáo dục truyền thống cho sinh viên còn mang tính thuyết giáo,
giảng giải một chiều, áp đặt, chưa coi "học sinh là trung tâm, giáo viên là chủ đạo" của
quá trình giáo dục, do vậy chưa kích thích tính tích cực hoạt động của sinh viên trong học
tập. Chưa có các hình thức hoạt động thực tiễn phong phú, để tạo ra môi trường giáo dục
đạo đức lành mạnh giúp sinh viên phát huy vai trò của mình trong quan hệ với con người,
với xã hội. Phương pháp giáo dục truyền thống của nhà trường còn chưa kích thích được
sự say mê, hứng thú của người học nên khó giúp các em "biến quá trình giáo dục" thành
quá trình "tự giáo dục". Do vậy, trong ý thức của nhiều sinh viên có tâm lý tiêu cực, ỷ lại,
thụ động đối với việc tiếp thu kiến thức và tinh thần tự rèn luyện. Chưa nhận thức được
rằng học trước hết là cho chính bản thân mình, học để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong điều kiện bùng nổ thông tin như hiện nay, chúng ta chưa có đủ điều kiện
để cập nhật những thông tin mới của đời sống xã hội, chưa đáp ứng được nhu cầu ham
học hỏi của sinh viên. Về phương tiện, điều kiện để phục vụ cho các hoạt động giáo dục
truyền thống cho sinh viên trong các trường còn lạc hậu, thiếu thốn, chưa đáp ứng so với
trình độ nhận thức của sinh viên, hoặc có nhưng chất lượng kém, gây khó khăn trong việc
học tập và nghiên cứu của sinh viên.

2.2. Nguyên nhân của thực trạng trên

2.2.1 Nguyên nhân của thành tựu

Sau gần 20 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành công to lớn trên
nhiều lĩnh vực trong đó có công tác giáo dục. Đó là kết quả của đường lối giáo dục - đào
tạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, của chính sách đổi mới, trực tiếp là đổi mới trong
giáo dục và đào tạo. Đảng ta đã nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của giáo dục trong sự
phát triển đất nước. Nhà nước đã có những cố gắng lớn trong việc đầu tư cho giáo dục,
cùng với sự nỗ lực vượt bậc của toàn ngành giáo dục, của các nhà trường, của học sinh
sinh viên, trong đó có phần đóng góp không nhỏ từ phía gia đình và xã hội.

Bảng 2.3: Tỷ trọng đầu tư cho giáo dục trong tổng chi ngân sách nhà nước

Năm Tỷ lệ ngân sách %

1990 8,90

1991 8,89

1992 9,23

1993 7,62

1994 9,82

1995 10,45

1996 1140

1997 10,28

1998 13,60

1999 14,00

2000 15,00

2001 15,00

2002 15,60

6/2003 16,40

Nguồn: Vụ Kế hoạch - Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo

ở các trường đại học và cao đẳng, đảng ủy, ban giám hiệu các trường coi công tác
giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho sinh viên là một trong những nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu. Nội dung sách giáo khoa các bộ môn khoa học Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh sau nhiều lần chỉnh lý, cải tiến nhìn chung phù hợp với đối tượng,
bảo đảm tính khoa học cao, tạo nên sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giảm bớt sự
căng thẳng không cần thiết trong học tập. Thông qua việc học tập các bộ môn khoa học
này, sinh viên ý thức ngày càng đầy đủ hơn về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc. Bên
cạnh việc trang bị những tri thức lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh một cách có
hệ thống, các nhà trường thường xuyên tổ chức những buổi nghe báo cáo tình hình thời
sự trong nước và quốc tế, các chuyên đề về văn hóa, kinh tế, xã hội, báo cáo nghị quyết
của Đảng... Giúp cho sinh viên có sự hiểu biết nhất định về tình hình chính trị, xã hội
trong và ngoài nước.

Các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân đã có những nhận thức sâu
sắc hơn về vai trò giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc, đã khắc phục nhiều khó khăn,
tích cực tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Truyền thống hiếu học của dân tộc ta cũng là một trong những nguyên nhân góp
phần quan trọng trong giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên khơi dậy tinh
thần hăng say học tập, nghiên cứu khoa học của sinh viên. Ngày nay, nhu cầu học tập của
sinh viên không ngừng tăng lên. Bên cạnh đó nhân dân đã đóng góp rất nhiều công, của
xây dựng trường lớp và chăm lo sự nghiệp giáo dục.

Một vấn đề hết sức quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng của vấn đề giáo dục giá
trị đạo đức, tư tưởng lối sống cho sinh viên trong thời gian qua, đó là vai trò của người
thầy tác động đến nhân cách của sinh viên. Có rất nhiều tấm gương nhà giáo ưu tú, các
thầy cô giáo đã tác động không nhỏ đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách cho
sinh viên. Có nhiều thầy cô giáo trong các trường đại học và cao đẳng, có tâm huyết, gắn
bó với nghề, ngoài việc truyền thụ kiến thức các thầy cô đặc biệt quan tâm đến việc giáo
dục, rèn luyện giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên.
Công việc giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên có phần đóng góp không
nhỏ của các địa phương; các buổi sinh hoạt văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao được
thường xuyên duy trì đã góp phần đẩy lùi các tệ nạn xã hội trong sinh viên.

Về phía sinh viên, họ nhận thức một cách sâu sắc rằng mọi sự phát triển đều phải
dựa trên một nền tảng nhất định. Quá khứ, hiện tại và tương lai luôn nằm trong cùng một
dòng chảy của sự phát triển, trở về với quá khứ với truyền thống là để phát triển tương
lai. Do đó, việc tìm hiểu, học tập các giá trị truyền thống, trong đó có giá trị đạo đức trở
thành nghĩa vụ đạo đức đối với họ.

Ngày nay, hầu hết sinh viên trong các nhà trường đều có sự quan tâm lo lắng đến
kết quả học tập của chính mình. Số sinh viên đạt kết quả cao trong học tập ngày càng nhiều
hơn, sinh viên ngày càng tự giác thực hiện các nội quy nề nếp của nhà trường. Tình trạng bỏ
học và vi phạm nội quy, quy chế trong học tập ngày càng giảm. Sinh viên đã có những
hiểu biết và những việc làm cụ thể chứng tỏ vị trí vai trò của mình trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội.

Về mặt đạo đức, tư tưởng, lối sống, của sinh viên trong mấy năm gần đây có
nhiều chuyển biến rõ rệt. Hầu hết sinh viên đều có lòng tin vào tương lai tươi sáng của
dân tộc, vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Số đông sinh viên có hoài bão
lập thân lập nghiệp. Trong mỗi sinh viên, lòng yêu nước tự tôn dân tộc ngày một nâng
cao, tinh thần quyết tâm đẩy lùi đói nghèo lạc hậu, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bộ. Thái độ và ý thức chính trị của sinh viên không
ngừng được nâng cao, sinh viên ngày nay đã quan tâm hơn đến tình hình kinh tế - chính
trị - xã hội, có sự suy nghĩ trước những biến động của lịch sử... Nhìn chung, đại đa số
sinh viên có lối sống lành mạnh, năng động, tích cực, vượt khó, vượt khổ vươn lên.
Trong các nhà trường, nhiều sinh viên hăng hái thi đua phấn đấu để được đứng trong
hàng ngũ của Đảng, có tinh thần phấn đấu trong học tập để đạt được những thành tích
cao. Bên cạnh việc học tốt những kiến thức chuyên môn, sinh viên đã cố gắng rèn luyện
những phẩm chất đạo đức trong sáng, do vậy trong bối cảnh đất nước mở cửa như hiện
nay, được giao lưu với nhiều luồng văn hóa, nghệ thuật với bên ngoài, nhưng đa số sinh
viên vẫn giữ được phong cách lối sống lành mạnh, giữ gìn những giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc. Tích cực hưởng ứng và tham gia vào các phong trào, các hoạt động từ
thiện mang tính nhân văn với đạo lý uống nước nhớ nguồn. Trong văn kiện Hội nghị lần
thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII Đảng ta đã nhận định: Nhiều nét mới
trong giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức từng bước hình thành. Tính năng động và
tính tích cực công dân được phát huy, sở trường và năng lực cá nhân được khuyến khích.
Không khí dân chủ trong xã hội ngày một tăng lên. Thế hệ trẻ tiếp thụ nhanh những kiến
thức mới và có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2.2.2. Nguyên nhân của mặt hạn chế, yếu kém

Quá trình chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị
trường đã làm thay đổi toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam. Bên cạnh mặt tích cực
cần được khẳng định, cơ chế thị trường cũng có mặt trái, tác động tiêu cực đến đời sống
xã hội nói chung, sinh viên nói riêng. Không ít sinh viên khi ngồi trên ghế nhà trường
được giáo dục đầy đủ, thấm nhuần lý tưởng cách mạng, hiểu rõ vai trò và trách nhiệm của
mình trong công cuộc đổi mới đất nước, nhưng khi bước vào cuộc sống họ đã không đủ
sức đề kháng đối với vòng xoáy của đồng tiền, đã gục ngã trước sự cám dỗ của "sức
mạnh vật chất". Và cũng chính sự cạnh tranh gay gắt trong thương trường, đã làm cho kẻ
thì gục ngã, người thì thành công, dẫn đến tình trạng phân hóa giàu - nghèo ngày càng
tăng trong xã hội. Những chuẩn mực đạo đức trong cơ chế thị trường như: "làm giàu
chính đáng", "cạnh tranh lành mạnh" được thay vào đó là nguyên tắc sống theo kiểu "cá
lớn nuốt cá bé" "tiền trao cháo múc" lạnh lùng, sòng phẳng theo kiểu trả tiền ngay không
tình không nghĩa. Những cá nhân đó đã làm phai nhạt đi những tính cách, những quan hệ
truyền thống tốt đẹp của dân tộc như: tình nhân ái yêu thương con người, lòng khoan
dung độ lượng, tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ nhau trong lúc hoạn nạn khó khăn
với tinh thần "lá lành đùm lá rách"; " thương người như thể thương thân"; "một miếng khi
đói bằng một gói khi no"; "một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ", hàng xóm "tối lửa tắt đèn có
nhau"..., những biến đổi to lớn đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến lối sống tình cảm của con
người nói chung, sinh viên nói riêng.
Chủ trương mở cửa, giao lưu, hội nhập với các nước trên thế giới và trong khu
vực đã giúp cho thanh niên sinh viên ngày nay được tiếp xúc, tiếp thu nhiều giá trị văn
hóa mới từ nhiều nền văn hóa khác nhau để làm phong phú thêm cho nền văn hóa nước
nhà. Những làn gió mới đó không chỉ đem lại cho chúng ta gió mát, mà còn có cả "gió
độc", trong khi lớp trẻ hiện nay là những người năng động nhạy bén, nhưng dễ bị kích
động, dễ bị lôi kéo bởi những cái "mới" cái "lạ" đó nhiều khi dẫn tới tình trạng vi phạm
đạo lý, truyền thống dân tộc.

Mặt khác, âm mưu "diễn biến hòa bình" của kẻ thù đang có tác động tiêu cực đến
một bộ phận nhân dân, cán bộ, đảng viên, ngăn cản sự nghiệp đổi mới của chúng ta. Đối
với sinh viên, mục tiêu của chúng hòng làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời truyền
thống dân tộc, chúng lợi dụng những thanh niên, sinh viên xấu để kích động, gây rối trật
tự xã hội. Lợi dụng những sơ hở trong công tác quản lý của Nhà nước ta, chúng đã tung
vào nước ta những văn hóa phẩm độc hại, truyền bá những tư tưởng tự do và lối sống
theo kiểu phương Tây... để xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành quả
cách mạng và quá khứ hào hùng của dân tộc ta. Với những thủ đoạn xảo quyệt, chúng
hòng làm cho thế hệ trẻ Việt Nam bị lẫn lộn, không phân biệt được phải, trái, đúng, sai,
đâu là bạn, đâu là thù, tạo nên một lớp người phi chính trị, sống mờ nhạt không có lý
tưởng, thiếu hoài bão và ước mơ.

Ngoài những nguyên nhân trên, phải kể đến một nguyên nhân khác, đó là do sự
quản lý của nhà nước còn chưa chặt chẽ, có chiều hướng hữu khuynh trên lĩnh vực văn
hóa tư tưởng. Công tác đấu tranh ngăn chặn các tệ nạn tiêu cực trong xã hội chưa cao,
môi trường xã hội nhìn chung còn ô nhiễm. Tất cả đó tạo điều kiện thuận lợi cho các thế
lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng lôi kéo tầng lớp trẻ trong đó có sinh viên. Bên cạnh đó,
việc quan tâm đầu tư cho những hoạt động mang ý nghĩa giáo dục những giá trị truyền
thống dân tộc còn chưa thỏa đáng, nếu không muốn nói là nhiều lúc còn bị xem nhẹ.

Các chủ thể giáo dục, các đoàn thể, các hội trong công việc của mình còn chưa
toàn tâm toàn ý, thậm chí trong giáo dục truyền thống còn giữ các quan niệm cũ, không
còn phù hợp với điều kiện hiện nay, không chịu đổi mới các phương thức hoạt động cho
phù hợp trong khi thực tế đang thay đổi từng ngày từng giờ, dẫn đến hiệu quả giáo dục
kém. Có những chủ thể không chịu lắng nghe ý kiến, nguyện vọng tâm tư của lớp trẻ,
luôn áp đặt những suy nghĩ những ý kiến của mình cho họ mà không cần biết họ có chấp
nhận và tiếp thu hay không.

Đối với các tổ chức Hội sinh viên, công tác cán bộ ở một số nơi còn lúng túng,
thụ động, chưa được quan tâm đúng mức; cán bộ Hội đa phần là sinh viên luân chuyển
nhanh lại không thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng. Mặt khác, việc tập huấn cán bộ
ở một số nơi còn mang tính hình thức, thiếu chiều sâu nên cán bộ Hội hạn chế về năng
lực chỉ đạo, kỹ năng tổ chức. Công tác chỉ đạo của các cấp Hội đặc biệt là cấp cơ sở còn
yếu, đôi khi còn chưa kịp thời và thiếu nhạy bén sáng tạo. Công tác kiểm tra còn ch ưa
được chú trọng, công tác nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm, phát huy sáng kiến trong hoạt
động còn chưa được thực hiện thường xuyên. Một số nơi, vai trò nòng cốt chính trị của tổ
chức Đoàn đối với tổ chức Hội còn hạn chế, nhất là trong công tác cán bộ, trong việc phát
huy vai trò, sự chủ động, sáng tạo của tổ chức Hội sinh viên. Đối với hội viên, sinh viên
còn có một bộ phận thờ ơ với tổ chức, ít tham gia các hoạt động tập thể. Mặt khác, việc
phát huy vai trò tự nguyện, tự giác, ý thức trách nhiệm của sinh viên đối với công tác
Hội, phong trào do Hội chưa cao.

Một nguyên nhân hết sức quan trọng khác là từ chính sinh viên - với tư cách là
đối tượng được giáo dục. Bên cạnh những mặt tích cực, trong một bộ phận sinh viên tỏ ra
thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức. Không biết tôn trọng quá khứ lịch sử
hào hùng của dân tộc, xem nhẹ những giá trị nhân văn cao cả được ông cha ta tạo lập,
vun đắp bởi bao thế hệ. Nhiều sinh viên tỏ thái độ thờ ơ, lạnh nhạt trong các giờ học các
bộ môn lý luận Mác - Lênin hay trong các giờ sinh hoạt có tính chất thực tiễn chính trị -
xã hội. Với những sinh viên này, cần phải có phương pháp giáo dục đạo đức truyền thống
riêng, phù hợp; vừa giáo dục, thuyết phục, vừa có những biện pháp khác buộc họ phải
hòa nhập với tập thể lớp, khoa, trường.

Ngày nay, sinh viên được sống trong một đất nước hoàn toàn độc lập, tự do, có
đầy đủ điều kiện để phát triển hết tài năng vốn có của mình. Họ không phải trải qua chiến
tranh và gian khổ, nên chưa thấy hết những giá trị của cuộc sống hiện tại mà các thế hệ đi
trước đã phải đổ biết bao xương máu mới có được. Họ chỉ biết tận hưởng những thành
quả của ông cha như hít thở không khí và thừa hưởng ánh sáng của tự nhiên vậy. Từ cách
nhìn lệch lạc đã làm cho cuộc sống của một số sinh viên trở nên hẹp hòi, ích kỷ, luôn dựa
vào người khác, đến khi gặp phải khó khăn thì ngay lập tức tỏ ra bi quan chán nản, tìm
cách đả kích, giễu cợt những giá trị đạo đức truyền thống dân tộc mà họ cho là đã lỗi
thời, lạc hậu không còn giá trị đối với cuộc sống hiện tại. Bên cạnh đó, còn có một số
sinh viên khác có lối sống thực dụng, đua đòi ăn chơi, không quan tâm đến tình hình xã
hội, thậm chí một số sinh viên còn lười học, vi phạm nội quy quy chế học tập, sa vào các
tệ nạn xã hội.

Trong khi tập trung vào phát triển kinh tế, chúng ta chưa lường hết được những
tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường ảnh hưởng đến lớp trẻ hiện nay. Do vậy, trên
thực tế luôn luôn xẩy ra những hiện tượng vi phạm đạo đức, lối sống trong đó có sinh
viên. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế - xã hội là sự xuống cấp trầm trọng về đạo đức
trong một bộ phận dân cư. Nếu tình trạng này không được ngăn chặn sẽ dẫn đến những
hậu quả khôn lường cho xã hội.

Tiểu kết chương 2

Sinh viên hiện nay đại đa số đều có ý thức chính trị vững vàng, tuyệt đối tin
tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, tin vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Hăng hái tham gia các phong trào do nhà trường và các đoàn thể, Hội
sinh viên Thành phố tổ chức. Kết quả của những phong trào ấy đã góp phần tích cực đối
với đời sống xã hội, khẳng định rõ vị trí vai trò người sinh viên Việt Nam nói chung, sinh
viên Thủ đô nói riêng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Việc giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên ở các trường đại học và cao
đẳng ở Hà Nội những năm gần đây đã đạt được nhiều thành tích đáng tự hào. Có được
những thành công đó trước hết là do Đảng và Nhà nước đã quan tâm chú ý và đầu tư
đúng hướng cho giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc nói riêng.
Bên cạnh đó, nhờ có sự nỗ lực cố gắng của những cán bộ ngành giáo dục và do chính bản
thân sinh viên đã có sự phấn đấu rèn luyện, ý thức việc học tập là nhiệm vụ, tự giác trau
dồi đạo đức, lối sống, có tinh thần gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống dân tộc
trong điều kiện lịch sử mới.

Tuy nhiên, còn một số ít sinh viên chưa ý thức được nghĩa vụ, trách nhiệm của
mình đối với tổ quốc, còn có những biểu hiện ham chơi, lười biếng, vi phạm những
chuẩn mực đạo đức nói chung, đạo đức sinh viên nói riêng. Những hạn chế đó trong sinh
viên một phần do ảnh hưởng của cơ chế thị trường, một phần do gia đình, nhà trường, xã
hội (chủ yếu là các đoàn thể, hiệp hội), chưa có sự phối hợp chặt chẽ, còn nhiều hạn chế
trong công tác giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên. Cái quyết định hơn
là do chính bản thân một số sinh viên chưa tự giác phấn đấu, rèn luyện tu dưỡng đạo đức
lối sống, dẫn đến những hành động tiêu cực gây hậu quả xấu cho bản thân, gia đình và
toàn xã hội, gây khó khăn đối với quá trình giáo dục nói chung giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc nói riêng. Để khắc phục tình trạng trên chúng ta cần phải có những
phương hướng và giải pháp khả thi để không ngừng nâng cao chất lượng công tác giáo
dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Chương 3

phương hướng và Một số giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên
Việt Nam hiện nay



3.1. phương hướng chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay

3.1.1. Quán triệt quan điểm của Đảng, đổi mới nhận thức đối với việc giáo
dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên

Đảng ta luôn luôn xác định: con người là vốn quý nhất, chăm lo cho hạnh phúc
của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta. Để đạt được mục tiêu đó,
cùng với việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất cho nhân dân, Đảng và Nhà nước
ta hết sức coi trọng việc xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc của chế độ xã hội mới.
Thực tiễn chứng tỏ rằng, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần có mối quan hệ
biện chứng với nhau. Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội,
phát triển phải gắn với cội nguồn, với việc kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức
truyền thống và bản sắc dân tộc, nếu không sẽ lâm vào nguy cơ tha hóa, đánh mất bản
thân mình.

Chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người trong sự nghiệp đổi mới đất
nước, Đảng ta coi thanh niên - trong đó có sinh viên - giữ vị trí trung tâm, lực lượng có ý
nghĩa quyết định đối với tương lai và vận mệnh của nước nhà.

Tại Đại hội lần thứ V Hội sinh viên Việt Nam, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười có
nói: Mục tiêu đào tạo của các trường là hình thành trong mỗi sinh viên nhân cách, phẩm
chất và năng lực công dân, tôn trọng pháp luật; đào tạo những người lao động tự chủ, có
ý chí tiến thủ, giàu lòng nhân ái, sống lành mạnh, có óc sáng tạo, có trình độ và nắm vững
những kiến thức cơ bản, đồng thời tiếp cận những thành tựu mới về văn hóa, khoa học,
công nghệ, quản lý của thế giới ngày nay, vừa hiểu biết sâu sắc về quê h ương, đất nước,
về truyền thống và bản sắc của dân tộc; có sức khỏe, có khả năng đóng góp hữu hiệu vào
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tinh thần đó tiếp tục được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
(tháng 4/2001) của Đảng: Bồi dưỡng thế hệ trẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia
đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp
luật, tinh thần hiếu học, chí tiến thủ lập nghiệp. Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng
đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, không cam chịu nghèo hèn quyết tâm vươn lên
trong cuộc sống.

Gần đây, trong bài phát biểu kết luận Hội nghị triển khai công tác tư tưởng - văn
hóa toàn quốc năm 2004, đồng chí Nguyễn Khoa Điềm đã thẳng thắn chỉ ra những tồn
tại, yếu kém trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nói chung, đạo đức nói riêng. Bài
kết luận có đoạn viết: Tất nhiên, Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương không quên vấn đề
giáo dục lý tưởng nhưng chúng ta chưa đặt vấn đề giáo dục lý tưởng với độ sâu cần thiết
nên xã hội đã xuất hiện hiện tượng phai nhạt lý tưởng. Ví dụ, trong lĩnh vực giáo dục, ta
đều nói chất lượng học tập của học sinh hiện giờ đang giảm sút; các nhà giáo đang tìm tòi
cách cải tiến chất lượng sách giáo khoa, nâng cao chất lượng giáo viên, cải tiến chế độ thi
cử, hy vọng thông qua đó nâng cao chất lượng giáo dục. Điều đó là cần thiết nhưng tôi
cảm thấy cái gốc của giáo dục vẫn là vấn đề lý tưởng của thanh niên, học sinh. Nếu lý
tưởng đúng, sôi sục thì xã hội chúng ta với phương tiện hiện đại cũng có thể đáp ứng cho
nhiều thanh niên, sinh viên học giỏi. Bây giờ máy vi tính nhiều, sách vở nhiều, muốn học
giỏi ngoại ngữ không thiếu phương tiện nhưng tại sao chất lượng giáo dục sa sút? Chất
lượng sa sút bởi vì vấn đề chí hướng chưa sáng tỏ trong các em. Phải đặt trở lại vấn đề
giáo dục lý tưởng cho các em. Nếu các em quyết tâm học vì dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh đem lại niềm vui cho xã hội và gia đình thì các em sẽ học
giỏi. Bằng không dù đưa cho các em một chương trình tốt nhất thì các em vẫn không đủ
tâm hồn và ý chí để tiếp nhận một chương trình do người lớn chuẩn bị. Giáo dục lý tưởng
cách mạng, nuôi dưỡng cho các em một lẽ sống cao đẹp vẫn là điều trước tiên khi bàn về
nâng cao chất lượng giáo dục.
Muốn thực hiện thắng lợi mục tiêu giáo dục - đào tạo trong giai đoạn mới, Đảng
ta coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bối dưỡng nhân tài. Giáo dục đào tạo chính là cơ sở để phát huy nguồn lực con người,
mặt bằng dân trí có cao thì mới có khả năng lựa chọn đào tạo được một đội ngũ lao động
lành nghề, những cán bộ khoa học có trình độ tay nghề cao. Đảng xác định nhiệm vụ và
mục đích cơ bản của giáo dục Việt Nam là: Nhằm xây dựng những con người và thế hệ
thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng,
có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa
văn hóa nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức
cộng đồng và tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại,
có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức
và kỷ luật; có sức khỏe, là những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ngoài việc trang bị cho sinh viên những kiến thức về khoa học và công nghệ,
Đảng ta còn chú trọng giáo dục lý tưởng đạo đức cách mạng cho họ, để họ trở thành
những con người vừa "hồng", vừa "chuyên", vừa có đức, vừa có tài, đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII có đoạn
viết: "Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng và phát triển sáng
tạo ngày càng tỏ rõ giá trị vững bền làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động
của Đảng và của cách mạng nước ta, nhân tố hàng đầu bảo đảm cho đời sống tinh thần xã
hội phát triển đúng hướng" [10, tr. 42]. Với ý nghĩa đó, việc tăng cường giáo dục chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung nhân văn và bản sắc văn hóa dân
tộc... đẩy mạnh giáo dục pháp luật, đạo đức, lối sống cho sinh viên là một nhiệm vụ vô
cùng quan trọng và cấp thiết, góp phần to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu
phát triển giáo dục ở ta hiện nay là: thực hiện giáo dục toàn diện đức dục, trí dục, thể dục,
mỹ dục ở bậc đại học. Nghị quyết "Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến
tiến đậm đà bản sắc dân tộc" của Đảng ta đã khẳng định: "Tư tưởng, đạo đức, lối sống là
những lĩnh vực then chốt của văn hóa" và đặt ra cho ngành giáo dục và đào tạo nhiệm vụ
phải coi trọng giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cho học sinh, sinh viên. Bản sắc đó bao
gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được
vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu
nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng nhân
ái, khoan dung trọng nghĩa tình đạo lý. Đó là đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động,
giản dị trong lối sống, tế nhị trong ứng xử...

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, sinh viên cần có những phẩm chất đạo
đức mới theo mục tiêu chung mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa VIII đề ra, đó là:

- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với
thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân chủ và tiến bộ xã hội.

- Có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung.

- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa,
tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môi
trường sinh thái.

- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, năng suất
cao vì lợi ích của bản thân, gia đình tập thể và xã hội.

- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm
mỹ và thể lực.

Quán triệt quan điểm của Đảng, đổi mới nhận thức và hành động đối với việc
giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên là một trong những phương
hướng hết sức cơ bản trong giai đoạn hiện nay.

3.1.2. Kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống với hiện đại trong giáo dục giá trị
đạo đức truyền thống cho sinh viên
Lịch sử nhân loại cho thấy, bất cứ dân tộc nào biết kết hợp chặt chẽ các giá trị
truyền thống với các giá trị hiện đại, biết chắt lọc những tinh hoa văn hóa của nhân loại,
với việc sử dụng những giá trị vốn có để làm giàu thêm những giá trị của mình, làm cho
nó phù hợp với tình hình thực tiễn thì dân tộc đó sẽ đứng vững, sẽ phát triển trước mọi
thử thách khắc nghiệt của cuộc sống.

Nội dung của truyền thống là cái được kế thừa, trở thành một bộ phận cần thiết
đối với cuộc sống. Truyền thống và hiện đại luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau,
truyền thống là tiền đề, là nền tảng của hiện đại, và hiện đại là sự kế thừa, sự nối tiếp của
truyền thống. Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam được hình thành qua bao thăng trầm của
lịch sử nước nhà, trải qua bao đời, bao thế hệ, những truyền thống quý báu ấy đã ăn sâu
vào tiềm thức mỗi con người Việt Nam và nó được bồi đắp lên mãi mãi, nó trở thành sức
mạnh nội sinh để người dân Việt Nam chiến thắng biết bao nhiêu kẻ thù xâm lược.

Dân tộc Việt Nam đã có bề dày lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.
Đó là lịch sử vừa hào hùng vừa có đau thương, mất mát. Quá trình đó đã rèn luyện, đào
tạo nên những thế hệ người Việt Nam kế tiếp nhau với tinh thần yêu nước quật cường, đã
làm cho đất nước không ngừng phát triển bền vững, với những giá trị truyền thống dân
tộc hết sức quý báu, những truyền thống ấy không ngừng được giữ gìn và tô thắm thêm
giá trị và ý nghĩa của nó trong tiến trình lịch sử. Thực tế cho thấy, những giá trị truyền
thống dân tộc nếu không biết gìn giữ và phát huy trong những điều kiện mới, hoàn cảnh
mới, thì nó sẽ bị mai một, làm ảnh hưởng tới sự phát triển của dân tộc, nó sẽ gây cản trở,
tạo xung đột giữa sức nặng uy lực của truyền thống với yêu cầu đổi mới, vươn lên của
cuộc sống hiện tại. Những giá trị truyền thống dân tộc như: tinh thần yêu nước, lòng nhân
nghĩa nhân ái, tinh thần đoàn kết gắn bó keo sơn, đức tính cần cù tiết kiệm, sáng tạo trong
lao động, tư duy linh hoạt, uyển chuyển "dĩ bất biến, ứng vạn biến" luôn luôn được đổi
mới, bổ sung cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử mới.

Truyền thống yêu nước là một truyền thống đặc trưng nhất, căn bản nhất, là sợi
chỉ đỏ xuyên suốt sự biến đổi hệ giá trị của dân tộc Việt Nam. Cho dù hệ giá trị có chịu
sự chi phối của điều kiện kinh tế - xã hội như thế nào chăng nữa nó vẫn xoay quanh cái
trục tinh thần yêu nước đó. Ngày nay, tinh thần yêu nước là gắn độc lập dân tộc với chủ
nghĩa xã hội, yêu nước phải yêu chủ nghĩa xã hội gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trước
yêu cầu mới của thực tiễn hiện nay, phải chuyển hóa chủ nghĩa yêu n ước trước đây thành
ý chí vươn lên làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội, quyết tâm thực hiện mục tiêu:
"Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh". Phải chuyển từ ý chí
không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ trước đây thành ý chí không chịu nghèo đói,
ngu dốt, lạc hậu, lệ thuộc. Nếu như trước đây yêu nước là phải cứu nước, phải chiến
thắng giặc ngoại xâm, thì nay yêu nước phải kiên quyết chống tham nhũng, buôn lậu, ma
túy, và các tệ nạn xã hội khác - những vấn nạn đã và đang từng ngày làm băng hoại các
giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Yêu nước ngày nay còn phải biết tự hào dân tộc,
vì niềm tự hào này đã giúp chúng ta chiến thắng mọi kẻ thù, vượt qua mọi khó khăn thử
thách. Thế hệ trẻ ngày nay cần gắn tự hào dân tộc với ý thức tự lực, tự cường, ý thức
vươn lên bằng chính sức lực của mình, không ảo tưởng, chủ quan, luôn hướng tới mục
tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa. Một trong những giải pháp lớn xây dựng và phát triển
văn hóa của Đảng ta trong văn kiện Hội nghị lần thứ năm ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII nêu rõ: Giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải gắn chặt với phong trào thi
đua yêu nước và giáo dục về chủ nghĩa xã hội, về nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, đưa đất nước thoát nghèo nàn lạc hậu; làm cho mọi người thấm nhuần truyền thống
lịch sử và cách mạng của dân tộc, đóng góp xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Lòng nhân ái của ta trước đây mới chỉ là sự giúp đỡ chia sẻ với nhau trong lúc
khó khăn hoạn nạn "tắt lửa, tối đèn". Trong điều kiện hiện nay, nhân ái ngoài những cái
đó, còn phải tạo mọi điều kiện phát huy năng lực cá nhân, con người phải được coi là
động lực và mục tiêu của sự phát triển. Nhân ái ngày nay vẫn tiếp tục mở rộng trên phạm
vi toàn thế giới để cùng các dân tộc khác giải quyết các vấn đề mang tính toàn cầu như:
bảo vệ thiên nhiên, môi trường, chống chiến tranh, chống bệnh tật hiểm nghèo...

Truyền thống cần cù tiết kiệm trước đây của ta nay vẫn được phát huy và luôn
gắn cần cù tiết kiệm với trình độ khoa học, với sáng tạo, có kỷ luật cao trong lao động.
Có như vậy, mới thực hiện "đi tắt, đón đầu" biến nước ta thành một nước công nghiệp
hiện đại.

Truyền thống đoàn kết, gắn bó cộng đồng của ta nay cần được thực hiện trên tinh
thần bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, làm giàu chính đáng, tạo mọi cơ hội cho tất cả mọi
người cùng vươn lên, tạo dựng cuộc sống hạnh phúc, ấm no. Đoàn kết trong nước, đoàn
kết dân tộc ngày càng được nâng cao và bổ sung lên một tầm cao mới.

Truyền thống và hiện đại là một sự thống nhất biện chứng, thống nhất trong mâu
thuẫn, bao hàm mâu thuẫn. Có những giá trị truyền thống tiếp tục được bảo tồn, phát huy
trong điều kiện, hoàn cảnh mới, có tác dụng to lớn trong sự phát triển đời sống tinh thần
xã hội, ngược lại cũng có những truyền thống không còn thích ứng với xã hội hiện đại; có
những phẩm chất, chuẩn mực đạo đức vốn được coi trọng trong quá khứ đến nay nó đã
không còn phù hợp với điều kiện mới. Chẳng hạn, các quan hệ trong xã hội phong kiến
chủ yếu thực hiện thông qua các mối quan hệ tình cảm, mang tính huyết thống, làng xã,
đẳng cấp... hơn là theo các nguyên tắc pháp luật và theo kỷ cương của nhà nước. Ngoài
ra, còn có sự xung đột giữa các thế hệ, thế hệ sau với thế hệ trước, thế hệ già với thế hệ
trẻ. Các thế hệ này thường có sự bất đồng trong các quan niệm, cách ứng xử, nguyện
vọng, sở thích, thị hiếu, tác phong... Thế hệ già thường mong muốn sự ổn định, không
thích có những biến động lớn, và luôn muốn bảo vệ, giữ gìn những giá trị truyền thống,
do vậy thường chậm thích nghi với các yếu tố của xã hội hiện đại. Thế hệ trẻ ngày nay
sống trong thế giới với sự bùng nổ về thông tin và khoa học kỹ thuật hiện đại cùng với
những biến động lớn về chính trị - xã hội, có sự giao lưu với các nền văn hoá khác nhau,
mà các sản phẩm của "nền văn minh hiện đại" thường có tính hai mặt, vừa có cái tốt vừa
có cái xấu. Điều đó có ảnh hưởng rất lớn tới tâm sinh lý, tư tưởng, tình cảm của lớp trẻ
ngày nay (trong đó có sinh viên), nếu không có sự định hướng rõ ràng họ rất dễ bị chệch
hướng. Chính vì lẽ đó, trong công tác giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt
Nam hiện nay là phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Trong giáo dục đạo đức mối
quan hệ này được thể hiện rõ rệt cả ở nội dung và hình thức giáo dục, tránh thái độ cực
đoan, hoài cổ, phục cổ, hay đón nhận một cách không có chọn lọc, thiếu cân nhắc những
giá trị văn hóa ngoại lai, đón nhận những giá trị lai căng.

Ngày nay, chúng ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế với tốc độ cao, cường độ mạnh, điều này đặt ra cho
chúng ta nhiều thời cơ, vận hội mới, nhưng cũng nhiều thách thức, khó khăn. Cách mạng
khoa học - công nghệ đang tạo ra sự phát triển nhanh chóng của thế giới hiện đại, trong
đó những thành tựu vĩ đại của công nghệ thông tin là không thể không thừa nhận, nó
đang trở thành nguồn tài nguyên quan trọng của xã hội, nó làm thay đổi sâu sắc tới bộ
mặt kinh tế văn hóa của nhiều quốc gia. Tạo điều kiện cho các nước trao đổi thông tin
nhanh hơn chính xác hơn, làm cho các nước xích lại gần nhau hơn, từ đó cập nhật nắm
bắt thông tin, tri thức khoa học kỹ thuật mới một cách nhanh chóng... điều đó đòi hỏi
chúng ta hơn lúc nào hết phải biết kết hợp một cách nhuần nhuyễn những giá trị truyền
thống dân tộc - nhất là những giá trị đạo đức mới với những giá trị của nền văn hóa, văn
minh tiên tiến, hiện đại, coi đó là nguồn lực nội sinh của sự phát triển. Hơn ai hết, thanh
niên Việt Nam nói chung, sinh viên nói riêng cần được định hướng trong việc tiếp thu các
giá trị nhân loại phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa, để thực hiện tốt yêu cầu này
cần phải làm tốt các nhiệm vụ sau:

- Một là, nâng cao trình độ mọi mặt cho thế hệ trẻ (trong đó có sinh viên) đặc biệt
là trình độ học vấn, giúp họ am hiểu và nắm vững truyền thống đạo đức và văn hóa của
dân tộc, từ đó hình thành niềm tin khoa học và lòng tự hào về lịch sử hào hùng của dân
tộc, tự tin bước vào hội nhập mà không bị "hòa tan" trước văn hóa ngoại lai.

- Hai là, nâng cao tinh thần cảnh giác trước mọi âm mưu "diễn biến hòa bình"
trên mặt trận văn hóa - tư tưởng của các thế lực thù địch. Vì thanh niên, đặc biệt là sinh
viên là một trong những đối tượng được "ưu tiên" của chiến lược này.

- Ba là, chú trọng và tăng cường có hiệu quả công tác giáo dục thể chất, không
ngừng nâng cao thể lực cho sinh viên. Đối với mỗi sinh viên, cũng như toàn xã hội, sức
khỏe là vốn quý nhất, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Bốn là, trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế như hiện nay, định
hướng giá trị (trong đó có giá trị đạo đức) cho sinh viên giữ một vai trò hết sức quan
trọng. Điều này sẽ giúp cho sinh viên biết kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp của
dân tộc trong hoàn cảnh lịch sử mới, đồng thời biết tiếp thu (có chọn lọc) tinh hoa văn
hóa nhân loại để làm phong phú thêm giá trị truyền thống dân tộc.

Tóm lại, trong điều kiện mở cửa, hội nhập như hiện nay, để có thể tồn tại và phát
triển, tất yếu chúng ta phải kết hợp được các giá trị đạo đức truyền thống với các giá trị
đạo đức hiện đại, phải nâng được các giá trị đạo đức truyền thống lên một tầm cao mới.
Kết hợp chặt chẽ tính truyền thống với tính hiện đại là một phương hướng nhằm nâng cao
hiệu quả giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam.

3.1.3. Xây dựng môi trường kinh tế - xã hội trong sạch, lành mạnh tác động
tích cực đến việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay

Để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên, chúng ta cần
phải xây dựng một môi trường kinh tế - xã hội trong sạch, lành mạnh, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc hình thành những chuẩn mực đạo đức mới trong sinh viên. Bởi lẽ, môi
trường sống, điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất lớn tới nhận thức, lối sống, tình
cảm, sự hình thành nhân cách của con người. Trong "Hệ tư tưởng Đức", C. Mác và
Ph.Ăngghen đã viết: "Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra
con người đến mức ấy".

Môi trường kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội có quan
hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của
con người.

Một môi trường kinh tế - xã hội được coi là trong sạch, lành mạnh khi ở đó sự
phát triển và tăng trưởng của kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các mặt đời
sống xã hội và ngược lại, chính sự phát triển các mặt đời sống xã hội tạo động lực và
định hướng cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế.
Cuộc sống chứng tỏ rằng, nếu tạo dựng được một môi trường kinh tế - xã hội
trong sạch lành mạnh, sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc chuyển tải những nội dung
giáo dục đạo đức truyền thống tới tầng lớp sinh viên. Đây chính là điều kiện để sinh viên
vươn lên làm chủ bản thân và xã hội. Để đáp ứng điều đó, Đảng và Nhà nước ta chủ
trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để đạt được mục
tiêu đó, đòi hỏi chúng ta phải tạo nên những tiền đề và điều kiện để vừa tăng trưởng kinh
tế vừa giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Cần có những phương hướng và những chính sách
phù hợp trong xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước phấn đấu để tăng trưởng kinh tế đi
đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Các chính sách kinh tế và chính sách xã hội thống
nhất với nhau, sự phát triển kinh tế là tiền đề cho sự phát triển văn hóa, đạo đức. Đến lượt
mình, chính trình độ phát triển cao về văn hóa, đạo đức lại góp phần to lớn thúc đẩy sản
xuất phát triển.

Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa trên
cơ sở từng bước thiết lập quan hệ sản xuất mới từ thấp đến cao với sự đa dạng về các
hình thức sở hữu, trong đó, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế hợp tác phải trở thành nền
tảng của nền kinh tế quốc dân, là một đảm bảo kinh tế vững chắc cho sự phát triển đất
nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, là tiền đề, là điều kiện vật chất để giáo dục giá trị
đạo đức truyền thống cho sinh viên. Chính trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị
trường, nhiều giá trị, chuẩn mực đạo đức truyền thống mới có điều kiện nhìn nhận một
cách khách quan và khoa học hơn và cũng có nhiều cơ hội phát triển hơn. Với sinh viên,
đây cũng là lúc mà nhà trường và xã hội tạo mọi điều kiện tốt nhất trong khả năng để sinh
viên học tập, kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống dân tộc một cách có hiệu
quả.

Tạo dựng được môi trường kinh tế mới không thì chưa đủ để phát huy những giá
trị truyền thống của dân tộc, đi đôi với nó còn phải tạo lập một môi trường văn hóa - xã
hội lành mạnh. Những phong tục tập quán của ta có thường là những giá trị tốt đẹp, tuy
nhiên cũng có thể là những yếu tố lạc hậu, tiêu cực, nó còn tồn tại trong xã hội ngày nay
như một tàn dư và chắc chắn rằng nó sẽ dần bị loại bỏ. Những giá trị tốt đẹp phù hợp với
thuần phong mỹ tục của dân tộc chính là các điểm tựa tinh thần, có tác dụng to lớn trong
giáo dục đạo đức đối với mọi đối tượng đặc biệt là sinh viên. Ngược lại, những hủ tục lạc
hậu chính là vật cản, nó níu kéo, kìm hãm sự phát triển của đạo đức con người, đạo đức
xã hội.

Vì vậy, việc duy trì, phát triển các phong tục tập quán tốt, cải tạo các tập tục lạc
hậu là vấn đề hết sức quan trọng trong công cuộc đổi mới, có ảnh hưởng sâu sắc đến chất
lượng giáo dục đạo đức truyền dân tộc. Ví dụ: trong việc cưới hỏi cần tránh những thủ
tục rườm rà gây tốn kém, thực hiện hôn nhân theo đúng quy định của luật pháp. Trong
gia đình cần gìn giữ các truyền thống tốt đẹp như yêu kính ông bà cha mẹ, thờ phụng tổ
tiên, vợ chồng có ý thức xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững... Ngoài xã hội vận động
sâu rộng hơn nữa những phong trào, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc như:
"Nhường cơm sẻ áo", "Uống nước nhớ nguồn", " Đền ơn đáp nghĩa" "Hiến máu nhân đạo".
Đặc biệt đối với thanh niên, sinh viên, phải tạo điều kiện để đoàn viên, thanh niên, sinh
viên tham gia vào các phong trào của Trung ương đoàn tổ chức. Phát triển mạnh mẽ
phong trào thanh niên sinh viên thi đua học tập, nghiên cứu khoa học, phát triển tài năng,
thúc đẩy các phong trào của đoàn viên thanh niên sinh viên để tạo môi trường thuận lợi
cho các phong trào của sinh viên. Đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động giáo dục lý tưởng
cách mạng xã hội chủ nghĩa, lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, bản lĩnh chính trị
cho người đoàn viên, hội viên làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
thấm sâu vào trong đời sống tinh thần của sinh viên.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, xây dựng môi trường kinh tế - xã hội trong
sạch lành mạnh là tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát huy các giá trị đạo đức truyền
thống trong giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam hiện nay.

3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo
đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay
3.2.1. Đưa môn "Đạo đức học" trở thành môn học bắt buộc trong trường
đại học và cao đẳng

Nhiều năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quan tâm đến công tác giáo dục đạo
đức cho sinh viên, nhiều lần Bộ đã tổ chức biên soạn giáo trình và tài liệu tham khảo
phục vụ môn học; tổ chức các cuộc hội thảo (ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh) bàn về việc nâng cao chất lượng dạy và học môn "Đạo đức học". Tuy nhiên, vì
những lý do khác nhau, môn học này cho đến nay vẫn chưa được triển khai một cách
đồng loạt ở các trường đại học và cao đẳng với tư cách là một môn học bắt buộc, thuộc
"phần cứng" chứ không phải là môn học "tự chọn". Nhiều trường không dạy bộ môn này,
một số trường chỉ dạy cho một số ngành thuộc khoa học xã hội và nhân văn.

Về nội dung, chương trình nhìn chung còn nghèo nàn nhiều khi xa rời thực tế,
thiếu cập nhật. Giáo viên dạy bộ môn đạo đức học phần lớn chưa được đào tạo chuyên
sâu, chủ yếu là do các giáo viên giảng dạy triết học đảm nhiệm, vì vậy, chất lượng và
hiệu quả thấp. Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã chỉ ra:
"Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức và nhân cách cũng như việc giảng dạy các
môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ bị xem nhẹ. Hiệu
quả giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin bị hạn chế" [8, tr. 26].

Để khắc phục tình trạng trên, theo chúng tôi, ngay từ bây giờ các trường đại học và
cao đẳng ở nước ta cần phải đưa bộ môn Đạo đức học trở thành một môn học bắt buộc, với
nội dung chương trình đầy đủ phong phú và phù hợp với thực tế, chúng ta cần thực hiện
nghiêm túc Quyết định số 1226/GD-ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định
một số vấn đề về dạy và học các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ở các
trường đại học và cao đẳng, ra ngày 06/4/1995, ở mục 5 có ghi: "Nội dung giáo dục đạo đức
trong tất cả các loại hình trường với tư cách là môn bắt buộc".

Thực tế cho thấy rằng, để trở thành con người có đạo đức không nhất thiết phải
nghiên cứu, học tập môn Đạo đức học. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, nhân loại không
hề biết moralis hay ethicos là gì nhưng người ta vẫn sống một cách "rất có đạo đức", cũng
giống như: "Từ lâu người ta suy nghĩ một cách biện chứng trước khi biết biện chứng là gì,
cũng như từ lâu người ta đã nói theo văn xuôi trước khi có danh từ văn xuôi" (Ph. Ăngghen).
Thế nhưng để trở thành con người thực sự có đạo đức dựa trên một niềm tin khoa học,
một tình cảm mãnh liệt được soi sáng bởi lý tưởng đạo đức cao cả... không có con đường
nào tốt hơn là nghiên cứu "Đạo đức học" và các khoa học liên ngành. Do đó, việc đưa
môn đạo đức học trở thành môn học bắt buộc vào trong các trường đại học và cao đẳng là
một việc làm cần thiết. Sự cần thiết ấy thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất: Việc giảng dạy môn Đạo đức học ở bậc giáo dục đại học nhằm nâng
cao trình độ nhận thức cho sinh viên, từ nhận thức cảm tính lên nhận thức lý tính, trang bị
cho sinh viên một cách có hệ thống lý luận đạo đức (đạo đức học) với những khái niệm,
phạm trù, quy luật. Giúp cho sinh viên nhận thức được bản chất của vấn đề, đi sâu tìm
hiểu quy luật vận động và phát triển của đời sống đạo đức. Thấy được ý nghĩa, vai trò của
đạo đức trong đời sống xã hội... từ sự hiểu biết, nhận thức một cách đúng đắn các nguyên
lý đạo đức học giúp sinh viên biến sự nhận thức đó (tức biến ý thức đạo đức) thành hành
động, thành thực tiễn đạo đức.

Để biến quá trình nhận thức từ cảm tính lên lý tính, không có con đường nào tốt hơn
và nhanh chóng hơn bằng con đường giáo dục. Về bản chất, giáo dục đạo đức là giáo dục
khả năng tự giáo dục, tự rèn luyện, tự phấn đấu vươn lên của đối tượng giáo dục, qua đó
giúp họ nhận thức một cách đúng đắn những giá trị đạo đức, xây dựng và củng cố ý thức,
tình cảm, niềm tin, lý tưởng... đạo đức, biến chúng thành thói quen, thành hành vi văn
minh trong cuộc sống, phù hợp với những chuẩn mực đạo đức xã hội.

Để công tác giáo dục mang lại hiệu quả cao, cùng với việc nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên (vấn đề có ý nghĩa quyết định) cần phải tổ chức biên soạn tài liệu, giáo
trình, giáo khoa phục vụ công tác giảng dạy môn "đạo đức học". Tăng cường và đa dạng
hóa các hình thức hoạt động có ý nghĩa chính trị xã hội để thu hút sinh viên tham gia,
kích thích tính tích cực xã hội ở họ, đồng thời đó cũng là giải pháp tốt nhất để thực hiện
phương châm giáo dục: lý luận kết hợp với thực tiễn, học đi đôi với hành.

Thứ hai: Đưa môn Đạo đức học trở thành môn học bắt buộc trong trường đại học
và cao đẳng là quán triệt một cách sâu sắc các quan điểm của Đảng ta đối với công tác
giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong nhà trường. Những năm gần đây,
Đảng ta rất chú trọng đến công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên ở các nhà trường. Hội
nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương (khóa VII, tháng giêng 1993) chỉ rõ: Chú trọng
giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nội dung nhân văn và bản sắc
văn hóa dân tộc... đẩy mạnh giáo dục pháp luật, đạo đức, lối sống cho sinh viên. Hội nghị
lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII, tháng 12/1996) xác định nhiệm vụ và
mục tiêu giáo dục ở nước ta hiện nay là: thực hiện giáo dục toàn diện đức dục, trí dục, thể
dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học. Hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách
cho học sinh, sinh viên. Vì lẽ đó, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
tháng 7/1998 cũng đã khẳng định: tư tưởng, đạo đức, lối sống là những lĩnh vực then chốt
của văn hóa.

Kết luận của Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
ngày 5-7-2004 về vấn đề thực hiện tốt 10 nhiệm vụ văn hóa do Nghị quyết Trung ương
năm (khóa VIII) đề ra, trong đó nhiệm vụ thứ nhất là: "Đẩy mạnh giáo dục xã hội chủ
nghĩa, bồi dưỡng lòng yêu nước, tạo sự chuyển biến rõ rệt về bản lĩnh chính trị, đạo đức,
lối sống, năng lực trí tuệ của con người Việt Nam, đủ sức thực hiện thành công sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" [1, tr. 60].

Hội nghị cho đây là một nhiệm vụ trọng yếu nhất của sự nghiệp văn hóa, vì vậy,
trách nhiệm của ngành giáo dục và đào tạo là, ngoài việc trang bị cho học sinh nói chung,
sinh viên nói riêng những kiến thức cơ bản của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, thì
việc giáo dục đạo đức lối sống cho sinh viên là hết sức quan trọng. Làm thế nào để đào
tạo được cho đất nước những con người có đạo đức, có ý thức trách nhiệm của một công
dân, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, vừa có tri thức vừa có đạo đức để có đủ sức
góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Để cho "Đạo đức học" thực sự trở thành một môn học góp phần tích cực trong
việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên, đòi hỏi phải có đội ngũ giáo viên
vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa có năng lực chuyên môn chuyên sâu và trình độ sư
phạm cao, đảm nhiệm công tác giảng dạy môn Đạo đức học. Tuy nhiên, cho đến nay, hầu
hết giáo viên giảng dạy môn Đạo đức học ở một số trường đại học và cao đẳng không
được đào tạo chuyên sâu, do đó chất lượng và hiệu quả giảng dạy môn học này nhìn
chung thấp, chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ môn học. Chúng tôi cho rằng, trong
điều kiện hiện nay, khi chưa tổ chức được các lớp đào tạo tập trung, Bộ Giáo dục và Đào
tạo có thể học tập kinh nghiệm bồi dưỡng các chuyên gia đạo đức học cho giáo viên
giảng dạy môn học này của khoa Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Qua các đợt tập huấn chuyên ngành, nhất định trình độ của giáo viên sẽ được nâng lên,
đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ giảng dạy môn Đạo đức học.

Giáo dục đạo đức cho lớp trẻ nói chung, cho tầng lớp sinh viên nói riêng, là một vấn
đề mang tính cấp thiết và lâu dài, để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, phát triển
toàn diện, đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ngoài việc giáo dục
trong gia đình, ngoài xã hội thì nhà trường đóng vai trò hết sức quan trọng, nhà trường
không phải chỉ là nơi các em học tập những tri thức, kiến thức, mà còn là nơi các em
được tham gia vào những hoạt động có ý nghĩa thiết thực khác như: lao động, vệ sinh, sinh
hoạt đoàn thể, giao lưu văn hóa... những hoạt động này đã giúp cho các em hiểu thêm những
giá trị đạo đức truyền thống dân tộc, rèn luyện ý thức tập thể, tính cộng đồng nhân văn.

3.2.2. Phát huy tính tự giác và tính chủ động học tập, rèn luyện các giá trị
đạo đức truyền thống của sinh viên

Con người với tư cách là chủ thể của quá trình nhận thức, quá trình cải tạo thế
giới, là chủ thể của mọi quan hệ xã hội, thông qua hoạt động giáo dục (trong đó có mặt
thứ hai của giáo dục là tự giáo dục) con người có khả năng tự biến đổi nhân cách của
mình một cách có ý thức. Sinh viên là những người được giáo dục bởi nhà trường, gia
đình và xã hội. Cùng với quá trình được giáo dục đó thì tự giáo dục là một quá trình sinh
viên tự hoàn thiện nhân cách của mình, sao cho phù hợp với yêu cầu của cuộc sống. Để
đáp ứng những đòi hỏi, yêu cầu ngày càng cao của cuộc sống, của xã hội, của thị trường
sức lao động, đòi hỏi sinh viên phải phát huy cao độ tính tự giác và tính chủ động, sáng
tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học, trong việc giữ gìn truyền thống.
Sinh viên với những nét đặc thù về tâm sinh lý lứa tuổi, với một trình độ nhận
thức và năng lực tư duy nhất định, quá trình giáo dục và tự giáo dục sẽ giúp cho sinh viên
không chỉ nắm vững những kiến thức cơ bản, mà còn nắm vững những tri thức đạo đức
đã được nhà trường trang bị, cùng với giao tiếp xã hội, sinh viên sẽ chuyển những kiến
thức được học đó thành niềm tin cá nhân, thành những tình cảm đạo đức và được thể hiện
ngay trong hành vi ứng xử hàng ngày của sinh viên.

Đạo đức là nội dung cơ bản thể hiện văn hóa của con người - văn hóa đạo đức, là
mặt giá trị của con người, nó hướng con người vươn tới những giá trị đích thực của cuộc
sống. Đạo đức ở mỗi con người không phải tự nhiên mà có đó là kết quả của cả quá trình
phấn đấu, rèn luyện vô cùng khó khăn gian khổ. Người có đạo đức phải là người được
giáo dục, qua giáo dục và tự giáo dục. Thông qua hoạt động và giao lưu, con người hiểu
rõ hơn về vai trò của lương tâm, nghĩa vụ, ý thức danh dự và các phẩm chất đạo đức cần
thiết của cá nhân đối với đời sống cộng đồng.

Cùng với quá trình giáo dục là quá trình tự giáo dục, quá trình tự giáo dục là một
quá trình "tự thân vận động", đòi hỏi phải có một nghị lực, một ý chí và quyết tâm cao để
chiến thắng chính bản thân mình. Nếu không tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức thường
xuyên thì rất dễ bị gục ngã trước những cám dỗ của đồng tiền và tâm lý hưởng thụ. Do
vậy, tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức không phải là một công việc dễ dàng và đơn giản
Hồ Chủ tịch đã để lại cho chúng ta một kiệt tác về tinh thần tự rèn luyện:

Gạo đem vào giã bao đau đớn

Gạo giã xong rồi trắng tựa bông

Sống ở trên đời người cũng vậy

Gian nan rèn luyện mới thành công.

Đạo đức không phải là cái gì sẵn có, mà nó được củng cố phát triển chủ yếu do
sự đấu tranh rèn luyện hàng ngày, tu dưỡng rèn luyện đạo đức cũng giống như "ngọc
càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong". Trên thực tế có nhiều sinh viên được
giáo dục đạo đức và đã hiểu rất rõ các phạm trù, nguyên tắc đạo đức nhưng khi ra trường
công tác thì lại hành động tỏ ra không có đạo đức, hoặc vi phạm đạo đức.

Việc phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, vai trò tự giáo dục, tự rèn luyện các
giá trị đạo đức truyền thống của sinh viên là một trong những nội dung hiện đại hóa
phương pháp giáo dục: Lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên là chủ đạo, là hoàn toàn
phù hợp với nguyên lý "tự thân vận động" của triết học. Với ý nghĩa đó, hơn bao giờ hết,
chúng ta phải tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất giúp cho sinh viên có cơ hội để thể hiện
mình, để tự mình vươn lên trong cuộc sống. Tính tự giác, tính chủ động, vai trò tự giáo
dục, tự rèn luyện các giá trị đạo đức truyền thống của sinh viên là con đường tất yếu đối
với sự phát triển, hoàn thiện nhân cách của sinh viên ngày nay.

3.2.3. Kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội trong việc giáo dục
giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên

Để không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục nói chung,
giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc nói riêng, một trong những giải pháp cơ bản
không thể thiếu, đó là kết hợp giáo dục của gia đình, của nhà trường, và của xã hội thành
một quá trình thống nhất, liên tục và hoàn chỉnh, sự kết hợp này, sẽ tạo ra một sự thống
nhất trong tư tưởng và hành động đối với việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho
sinh viên. Hồ Chủ tịch đã từng nhắc nhở chúng ta rằng: Giáo dục trong nhà trường chỉ là
một phần, cần có sự giáo dục ngoài xã hội và của gia đình để giúp việc giáo dục trong
nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo
dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không bao giờ được như mong muốn.
Trong văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Đảng ta chỉ
rõ: "Gìn giữ và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao vai trò
gương mẫu của các bậc cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình văn hóa. Xây dựng mối
quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội" [10, tr. 60].

Trong những năm gần đây, phương hướng này về cơ bản đã được thực hiện,
góp phần quan trọng trong việc giáo dục đạo đức lối sống cho sinh viên. Tuy nhiên, so
với yêu cầu phát triển xã hội, với mục tiêu xây dựng con người mới theo tinh thần của
"Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam":
là con người có ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe và
lao động giỏi; sống có văn hóa và tình nghĩa; giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế
chân chính... thì chúng ta còn nhiều việc phải làm. Trong văn kiện Hội nghị Ban Chấp
hành Trung ương lần thứ hai khóa VIII có viết: "Gia đình và các tập thể, cộng đồng xã
hội chưa phát huy vai trò quan trọng trong giáo dục, chưa phối hợp chặt chẽ với nhà
trường giáo dục thế hệ trẻ, nhất là về chính trị, đạo đức, đấu tranh ngăn chặn các tệ nạn
xã hội và văn hóa phẩm đồi trụy" [8, tr. 21]. Chính vì vậy, việc kết hợp giữa gia đình
nhà trường và xã hội là vấn đề then chốt, là một việc làm hết sức cần thiết trong việc
giáo dục đạo đức, tư tưởng, lối sống, cho sinh viên.

Gia đình là tế bào của xã hội, là chiếc nôi thân yêu để nuôi dưỡng cả cuộc đời
mỗi con người, là một môi trường hết sức quan trọng để giáo dục đạo đức lối sống cho
con người. Nuôi dạy con cái thành người là một ước mơ mà các bậc cha mẹ luôn luôn
vươn tới, bằng nhiều hình thức khác nhau, các bậc ông bà cha mẹ trong mỗi gia đình đều
cố gắng giáo dục con cháu mình trở thành những người con biết kính trên nhường dưới,
hiếu thảo với cha mẹ, kính trọng ông bà, coi trọng việc thờ phụng tổ tiên...

Bên cạnh đại bộ phận các gia đình làm tốt nghĩa vụ giáo dục của mình đối với
con cái, cũng còn không ít gia đình vì các lý do khác nhau, đã không quan tâm đúng mức
đến công việc này, dẫn đến tình trạng con cái hư hỏng, thậm chí phạm pháp. Điều đáng
buồn là tình trạng giáo dục trong nhiều gia đình còn bị buông lỏng, từ đó xuất hiện "bụi
nhà". Quan hệ trong gia đình cũng bị băng hoại bởi sức mạnh của đồng tiền, vì nó mà
người ta có thể để người thân của mình bán rẻ nhân phẩm, tiếp tay cho các tệ nạn xã hội,
vì nó mà con cái sẵn sàng giết cha mẹ, anh chị em quay lưng lại với nhau, vợ chồng chia
lìa... Có thể nói, sự sút kém vai trò và hiệu quả của giáo dục gia đình, là một trong những
lý do chủ yếu dẫn đến nhiều hiện tượng sinh viên thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, thậm chí
phạm pháp, nhiều trường hợp sinh viên phải bị truy tố trước pháp luật.

Đứng trước thực trạng đó, đòi hỏi mỗi gia đình phải có sự quan tâm đúng mực
đối với việc giáo dục con cái. Ngoài việc chăm lo giáo dục cho con cái về mặt trí tuệ, cần
phải bồi dưỡng mặt đạo đức nhân cách, kết hợp những phương pháp giáo dục truyền
thống với hiện đại sao cho phù hợp với hoàn cảnh mới, làm sao mỗi gia đình phải là nơi
lưu truyền và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác, tăng
cường hơn nữa việc xây dựng "nếp sống văn minh" "gia đình văn hóa" phấn đấu 80% gia
đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa như tinh thần văn kiện Đại hội IX đã đề ra.

Gia đình cần có sự kết hợp chặt chẽ với nhà trường, vì nhà trường là nơi trang bị
cho các em những kiến thức cơ bản, chính thống, là nơi chiếm rất nhiều thời gian đối với
các em khi còn đi học. Do vậy, một môi trường giáo dục hợp lý sẽ đem lại hiệu quả cao
trong giáo dục nói chung, giáo dục đạo đức nói riêng. Trong nhà trường ngoài những kiến
thức cơ bản, các em còn được học bộ môn đạo đức học, do vậy, cần phải kết hợp giáo
dục những giá trị đạo đức truyền thống với những giá trị đạo đức phổ quát của nhân loại
và của thời đại, kết hợp học và hành trong giáo dục, thông qua đó giúp cho sinh viên
thấm nhuần những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, rèn luyện ý thức tập thể, tính
cộng đồng. Các thầy cô giáo trong nhà trường phải luôn nêu cao tấm gương sáng về nhân
cách cho sinh viên học tập noi theo.

Xã hội giữ vai trò hết sức to lớn trong việc hình thành và hoàn thiện các phẩm
chất đạo đức, lối sống của sinh viên, xã hội là một môi trường rộng lớn, mà ở đó có các
cá nhân, có các mối quan hệ giao tiếp với nhau trong học tập và sinh hoạt, đó là nơi thể
hiện khả năng của mỗi con người. Do vậy, đối với xã hội, trực tiếp là nhà nước, cần có
những định hướng toàn diện về mặt kinh tế tư tưởng đạo đức, pháp luật, hệ thống chính
sách, chế độ đãi ngộ được thực hiện qua nhà nước, qua mạng lưới tuyên truyền, thông tin
đại chúng, qua dư luận và các công tác xã hội... xây dựng một môi trường lành mạnh, để
có tác động tích cực đến sự hình thành phát triển nhân cách sinh viên.

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả của sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường, xã
hội trong công tác giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên, trước mắt chúng ta cần
giải quyết tốt một số điểm sau đây:

Thứ nhất: Trong giáo dục đạo đức cho sinh viên, giữa gia đình và nhà trường
phải có sự thống nhất về quan điểm, nội dung, phương pháp, tránh tình trạng phân tán,
biệt lập. Gia đình phải luôn luôn nắm bắt được những thông tin từ phía nhà trường, có
những hiểu biết nhất định về phía nhà trường để không cản trở con em khi tham gia vào
các phong trào có tính chất thực hành chính trị - xã hội, do Đoàn thanh niên, Hội sinh
viên tổ chức.

Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp, sang nền
kinh tế thị trường, đã và đang tác động mạnh mẽ đến nhiều mặt của đời sống xã hội, dẫn
đến sự chuyển biến lớn trên mọi lĩnh vực của cuộc sống, trong đó có lĩnh vực đạo đức.
Điều đó đã làm cho các thang giá trị cũng có sự biến đổi, và có những ảnh hưởng trực
tiếp đến đời sống đạo đức của sinh viên. Hiện nay các quan niệm về đạo đức trong xã hội
còn có sự xung đột giữa các thế hệ. Có những bậc phụ huynh vẫn giáo dục con mình theo
một khuôn mẫu kiểu gia trưởng phong kiến, điều đó không những không còn phù hợp với
xã hội hiện đại mà còn gây cản trở tới sự phát triển của tầng lớp tri thức trẻ hiện nay. Đã
có những diễn đàn để cho học sinh, sinh viên bầy tỏ tâm trạng của mình, mong rằng qua
những tiếng nói đó của các em các, bậc cha mẹ sẽ có cách nhìn nhận mới về các em và
cũng có cách thức giáo dục đạt hiệu quả hơn, phối hợp chặt chẽ với nhà trường để giúp
các em vươn lên trong cuộc sống, đạt kết quả cao trong học tập và tự khẳng định mình.

Thứ hai: Gia đình, nhà trường, xã hội phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc
kết hợp giáo dục đạo đức cho sinh viên. Đây là một vấn đề có tính chất quyết định sự
thành công, hay không thành công của việc giáo dục đạo đức cho sinh viên. Nếu gia đình,
nhà trường, xã hội, không có sự phối hợp chặt chẽ trong việc giáo dục đạo đức, lối sống,
chính trị - tư tưởng, không có kỷ luật nghiêm minh, thì ở đó sẽ có rất nhiều sinh viên vi
phạm kỷ luật, thậm chí sa vào con đường phạm tội. Do vậy, vai trò của các cấp lãnh đạo
của Đảng, từ cơ quan bộ đến các trường đại học và cao đẳng phải hết sức nêu cao vai trò
trách nhiệm của mình, luôn quan tâm đến công tác giáo dục đạo đức tư tưởng lối sống
cho sinh viên, quan tâm đến nguyện vọng cũng như quyền lợi của sinh viên, phối hợp
chặt chẽ với chính quyền địa phương để nâng cao hiệu quả trong công tác này. Nhà
trường là nơi đào tạo con người không chỉ về mặt kiến thức, mà còn giáo dục họ cả về
mặt đạo đức. Vì lẽ đó, nhà trường cần phải giữ nề nếp kỷ cương trong học đường, tạo
môi trường trong sạch, lành mạnh giúp sinh viên nhận thức được những giá trị đạo đức
nào là cần thiết, là có ý nghĩa đối với bản thân mình và xã hội; làm cho họ nhận thức
được những giá trị truyền thống, như lòng nhân ái, tinh thần yêu nước, đức tính cần cù,
chịu khó, lạc quan, vị tha, trung thực... Giáo dục đạo đức trong nhà trường còn làm cho
sinh viên biết trân trọng, yêu quý, cố gắng lĩnh hội và thực hiện các giá trị đạo đức đích
thực, không chấp nhận những gì là phản giá trị, có tinh thần đấu tranh bảo vệ và phát
triển những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Đối với các sinh viên sống trong ký
túc xá nhà trường phải có sự quan tâm đặc biệt. Các bộ phận làm công tác quản lý sinh
viên phải có sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quần chúng, chủ yếu là Đoàn thanh
niên cộng sản Hồ Chí Minh, để quản lý sinh hoạt, học tập, vui chơi của sinh viên. Phối
hợp với công an phường nơi trường đóng để quản lý về mặt hộ khẩu và an ninh xã hội.
Mặt khác còn phải phối hợp với các lực lượng bảo vệ của trường để giữ gìn trật tự và bảo
vệ tài sản cho sinh viên.

Đối với những sinh viên tự thuê nhà trọ để ở bên ngoài cũng cần phải có sự quan
tâm của chính quyền địa phương và các chủ hộ có nhà cho thuê để quản lý các em. Còn
những sinh viên sống ở gia đình mình hay nhà họ hàng cũng cần có sự quản lý chặt chẽ,
có như vậy mới ngăn chặn được những hiện tượng tiêu cực xảy ra với sinh viên.

Thứ ba: Sinh viên ngày nay được sống trong môi trường văn hóa phong phú, đa
dạng, được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin trong nước và quốc tế, được học hỏi và
giao lưu với nhiều nền văn hóa khác nhau. Điều đó có tác động to lớn đến đời sống văn
hóa tinh thần và lối sống của sinh viên, họ là những người hết sức nhạy cảm với những
vấn đề sinh hoạt văn hóa, đời sống chính trị, văn hóa tinh thần. Do vậy, nhà trường, trước
hết là Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên Việt Nam, cần phối hợp với
chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, các đơn vị vũ trang nhân
dân ở các địa phương để tổ chức các hoạt động văn hóa vui chơi giải trí, thể dục thể thao
rèn luyện thể chất, tham gia vào các hoạt động xã hội, mở các lớp học tình thương... để
sinh viên tham gia. Đây là những hoạt động hết sức bổ ích, giúp sinh viên tự rèn luyện
nâng cao sức khỏe và ý thức nghĩa vụ của mình đối với cộng đồng. Sinh viên là nhóm xã
hội có trình độ học vấn cao trong độ tuổi thanh niên, hiểu biết rộng nhu cầu hưởng thụ
văn hóa cũng cao. Lao động trí tuệ của họ luôn gây cảm giác mệt mỏi, căng thẳng vì thế
nên tạo cho sinh viên những phút giây nghỉ ngơi thư giãn bằng các hoạt động thể thao vui
chơi giải trí

Tóm lại, kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo
đức cho sinh viên là một giải pháp hết sức căn bản, là một nguyên tắc cơ bản của giáo
dục đạo đức xã hội chủ nghĩa, tạo mọi thuận lợi cho việc giáo dục những giá trị đạo đức
truyền thống dân tộc, đồng thời đẩy mạnh công tác đấu tranh chống lại những tư tưởng
bảo thủ, những phong tục tập quán lạc hậu ngăn cản sự phát triển của xã hội, góp phần
mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại.

Mặc dù công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên là của toàn xã hội, nhưng nhà
trường giữ vai trò định hướng, tổ chức, kiểm tra đánh giá. Gia đình phối hợp với nhà
trường để tạo điều kiện cũng như giám sát các em ngoài thời gian học tập trên lớp, xã hội
cùng với nhà trường và gia đình thành một quá trình thống nhất liên tục và hoàn chỉnh, có
vậy hiệu quả giáo dục mới cao.

3.2.4. Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên thông qua các
hình thức sinh hoạt mang ý nghĩa chính trị - xã hội - thực tiễn

Thực hiện phương châm: Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu
khoa học, lý luận gắn với thực tế, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và
xã hội, trong công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên, ngoài những
giờ lên lớp môn "Đạo đức học" và các bộ môn khoa học Mác - Lênin, nhà trường, Đoàn
Thanh niên, Hội sinh viên... cần tổ chức nhiều hình thức hoạt động mang ý nghĩa chính
trị - xã hội - thực tiễn nhằm giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên. Điều này
hoàn toàn phù hợp với phương pháp giáo dục hiện đại là phương pháp kết hợp, sử dụng
nhiều phương pháp giáo dục cho những đối tượng và môn học khác nhau. Đối với môn
"Đạo đức học" chúng ta vừa kết hợp phương pháp thuyết giảng, phương pháp động não,
phương pháp thảo luận nhóm v.v... với phương pháp thực hành, phương pháp đi thực tế,
phương pháp bài tập thực địa v.v...
Trên thực tế, những năm gần đây Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,
Trung ương Hội sinh viên Việt Nam cũng như Hội sinh viên ở các thành phố, ở các
trường đại học và cao đẳng đã tổ chức nhiều hình thức hoạt động mang tính giáo dục giá
trị đạo đức truyền thống cao, thu hút đông đảo sinh viên tham gia, nhưng so với yêu cầu
và khả năng vốn có của sinh viên, các hình thức hoạt động này cần được triển khai một
cách rộng khắp và đa dạng, phong phú, hợp với lứa tuổi sinh viên hơn nữa. Các phong
trào như: "Tuổi trẻ giữ nước", "Thanh niên lập nghiệp", "Sinh viên Việt Nam rèn đức,
luyện tài vì tương lai tương sáng"; phong trào giúp đỡ và chăm sóc bà mẹ Việt Nam anh
hùng, các gia đình có công với cách mạng gặp hoàn cảnh neo đơn, những người già cả
ốm đau không nơi nương tựa, ngày thứ bảy tình nguyện. Riêng ở Hà Nội, các chương
trình "Xây dựng hình ảnh người sinh viên Thủ đô ngàn năm văn hiến"; "Tuổi trẻ học
đường Thủ đô tiến bước dưới cờ Đảng thi đua học tập - rèn luyện, lập công xuất sắc trong
phong trào Thanh niên tình nguyện"; các cuộc thi "Tìm hiểu truyền thống 25 năm Hà Nội
- Điện Biên Phủ trên không" hoặc "Tìm hiểu Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ thành
phố Hà Nội" v.v... đã tạo ra những "sân chơi" bổ ích cho sinh viên. Đây là dịp để sinh
viên có cơ hội thể hiện tính tích cực xã hội của mình, phát huy cao độ năng lực tự chủ,
tính độc lập sáng tạo trong hoạt động, gắn "học với hành, lý luận với thực tiễn"; biến ý
thức đạo đức thành thực tiễn đạo đức; không ngừng nâng cao tình cảm đạo đức cách
mạng cho mỗi sinh viên. Chính thông qua môi trường sinh hoạt tập thể giúp cho sinh viên
tự vươn lên để hoàn thiện bản thân mình. Hơn 150 năm trước, trong "Hệ tư tưởng Đức",
C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: "Chỉ có trong cộng đồng cá nhân mới có được những
phương diện để có thể phát triển toàn diện những năng khiếu của mình và do đó, chỉ có
trong cộng đồng mới có tự do cá nhân" [42, tr. 108].

Tiêu chuẩn hàng đầu của hành vi đạo đức là phải gắn lời nói với việc làm; hiểu
biết với hành động. Mọi sự tách rời giữa lý luận với thực tiễn, lời nói với việc làm đều
đáng phê phán, có thể nói: "Nhà giáo dục lớn nhất vẫn là thực tiễn, nhà trường lớn nhất
vẫn là cuộc đời. Không có gì làm mất uy tín của giáo dục - nhất là giáo dục đạo đức - hơn
là sự tách rời giữa lời nói với việc làm, giữa lý luận và thực tiễn" [42, tr. 109]. Với ý
nghĩa đó, việc tổ chức một cách hợp lý, có kế hoạch các ch ương trình, các phong trào
hoạt động nhằm giáo dục đạo đức cho sinh viên là việc làm hết sức cần thiết và có ý
nghĩa to lớn trong điều kiện hiện nay.

Để công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên qua các hình
thức hoạt động mang ý nghĩa chính trị - xã hội - thực tiễn đạt hiệu quả cao, các trường và
Đoàn thanh niên, Hội sinh viên cần chú ý giải quyết tốt các vấn đề sau đây.

Thứ nhất, tăng cường sự đoàn kết trong sinh viên, tạo ra sự thống nhất cao độ
trong tư tưởng và hành động - đặc biệt là vấn đề tư tưởng phải thông suốt, mọi người tự
giác, tích cực tham gia các hoạt động do Đoàn và Hội sinh viên phát động. Tư tưởng có
thông suốt, lòng nhiệt tình có được khơi dậy ở mọi người thì công việc mới thành công.
Trên thực tế, nhiều sinh viên vẫn tỏ ra chưa thực sự quan tâm đến các hình thức hoạt
động ngoại khóa, một số rất ngại tham gia các phong trào. Số khác với những lý do nào
đó đã tham gia một cách "miễn cưỡng", chính vì thế, các phong trào này chưa thực sự trở
thành phong trào quần chúng rộng rãi đối với tất cả sinh viên.

Thứ hai, cần phải nêu gương người tốt việc tốt, sáng kiến hay trong phong trào
sinh viên, điều này có tác dụng tích cực và ý nghĩa to lớn trong việc cổ vũ, động viên
những sinh viên ưu tú trong các phong trào hoạt động do Đoàn và Hội tổ chức: Chính
những cá nhân điển hình tiên tiến xuất hiện trong các phong trào là những tấm gương cho
mọi người học tập. Bởi lẽ, con người ta sinh ra như C.Mác nói - không phải có sẵn chiếc
gương soi trong tay, do đó, "người ta lúc đầu phải nhìn vào người khác, như nhìn vào một
cái gương mới nhận thấy mình được".

Thứ ba, việc tổ chức các hình thức hoạt động phải hợp lý cả về thời điểm và độ
dài thời gian, tránh tổ chức quá nhiều các hình thức hoạt động ảnh hưởng đến thời gian
học tập và sinh hoạt của sinh viên. Trong một xã hội "đầy ắp" thông tin như hiện nay, vấn
đề thời gian càng trở nên "vàng ngọc". So với các thế hệ sinh viên trước đây, sinh viên
ngày nay có nhiều cơ hội học tập hơn, điều kiện học tập cũng tốt hơn... do đó họ cũng cần
có nhiều thời gian hơn cho việc học bài, đến thư viện đọc sách, tham gia các đề tài khoa
học. Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, các phong trào... cần phải tính toán
kỹ lưỡng, tránh hình thức, gây lãng phí thời gian, ảnh hưởng không tốt đến kế hoạch học
tập của sinh viên.

Thứ tư, việc tổ chức các hình thức hoạt động này luôn luôn phải chú ý đến đặc
điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên, không quá "nặng nề" "khô cứng", nhưng cũng không
nên quá "hời hợt" thiếu sâu sắc, chỉ lấy "vui" làm chính. ở đây tính định hướng tư tưởng
phải được đặt lên hàng đầu. Chúng ta biết rằng, nhân cách sinh viên là nhân cách chưa
phát triển hoàn chỉnh, chưa được định hình một cách rõ nét, mọi sự lệch lạc trong giáo
dục, dù là chính khóa hay ngoại khóa đều ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành và
phát triển nhân cách ở sinh viên.

Sự đa dạng về hình thức, sự phong phú về nội dung, sự sâu sắc về ý nghĩa tư
tưởng và giáo dục phải được coi là mục tiêu hàng đầu của các hình thức hoạt động này.
Có như vậy chúng ta mới đáp ứng được những yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của sinh
viên, đồng thời chúng ta mới đạt được mục tiêu giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho
sinh viên qua các hình thức hoạt động xã hội đó.

Coi trọng thực hành và ứng dụng thực tế, gắn tri thức đạo đức với thực tiễn đạo
đức, mọi hiểu biết đạo đức được thể hiện qua hành vi đạo đức... đó là sự đánh giá đúng
đắn nhất kết quả giáo dục đạo đức cho sinh viên. Cách chúng ta hơn 2000 năm Arisitốt
(384 - 322) đã từng nói: Chúng ta bàn về đạo đức không phải để biết đức hạnh là gì mà
là để trở thành con người có đức hạnh.

Tiểu kết chương 3

Để nâng cao chất lượng công tác giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc cho sinh viên trong các trường đại học và cao đẳng hiện nay, trước hết cần quán triệt
sâu sắc các quan điểm của Đảng, đổi mới nhận thức đối với công tác giáo dục đạo đức
cho sinh viên trong toàn xã hội. Trong nhiều kỳ Đại hội, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
Đảng ta luôn quan tâm và xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, ngành giáo dục nói
chung, các trường đại học và cao đẳng nói riêng, cần hết sức chú trọng hướng giáo dục
đạo đức truyền thống theo quan điểm của Đảng đặc biệt phải có những nhận thức phù
hợp với yêu cầu thực tiễn, để đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Kinh tế thị trường một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tinh thần đạo
đức của mọi người, mặt khác dưới tác động tiêu cực từ mặt trái của nó, kinh tế thị trường
sẽ cản trở sự phát triển tinh thần đạo đức của con người. Truyền thống và hiện đại là
những yếu tố luôn có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là trong lĩnh
vực văn hóa tinh thần. Truyền thống và hiện đại luôn có mối quan hệ biện chứng với
nhau, thúc đẩy lẫn nhau, truyền thống là tiền đề là nền tảng của hiện đại, và hiện đại là sự
kế thừa là sự tiếp nối của truyền thống. Vì vậy, cần kết hợp biện chứng tính truyền thống
và tính hiện đại trong giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên, giúp sinh viên thấy
được giữa quá khứ, hiện tại và tương lai là một dòng chảy lịch sử không có sự tách rời.
Không được coi thường quá khứ, phải biết trân trọng quá khứ, vì hiện tại muốn phát
triển, vươn lên phải dựa trên nền tảng của quá khứ.

Hiện nay môi trường giáo dục ở ta còn có nhiều bất cập, điều quan trọng trong
giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên hiện nay là phải tạo ra một môi
trường kinh tế xã hội trong sạch, lành mạnh tác động tích cực đến việc giáo dục giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên.

Để thực hiện những phương hướng trên đây, cần có những giải pháp tích cực
như: Đưa môn đạo đức học trở thành môn học bắt buộc vào các trường đại học và cao
đẳng; phát huy cao độ tính tự giác và tính chủ động, vai trò tự giáo dục, tự rèn luyện các
giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên, coi đó là một giải pháp quan trọng, có
ý nghĩa quyết định, thể hiện trình độ cao của sự phát triển nhân cách. Bên cạnh đó cần
phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức truyền
thống, đó như là một nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nói chung của
giáo dục đạo đức truyền thống nói riêng. Giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh
viên không phải của riêng ai, mà là nhiệm vụ của gia đình, nhà trường và xã hội. Có như
vậy chúng ta mới tạo ra được những nhân cách sinh viên phát triển toàn diện có khả năng
cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Kết luận



Dân tộc Việt Nam có bề dày lịch sử hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước.
Với điều kiện thiên nhiên vừa thuận lợi vừa khó khăn, lại luôn phải đương đầu với các
cuộc chiến tranh xâm lược triền miên. Chính quá trình gian khổ đó đã hun đúc cho con
người Việt Nam nhiều truyền thống vô cùng tốt đẹp và được các thế hệ người Việt Nam
kế tiếp nhau gìn giữ, phát huy, vì vậy nó trở nên trường tồn cùng lịch sử. Nhờ có những
truyền thống quý báu ấy, dân tộc Việt Nam đã đứng vững trước mọi phong ba bão táp
của lịch sử. Ngày nay, các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc vẫn tiếp tục khẳng định vị
trí là cơ sở, nền tảng trong việc xây dựng nền đạo đức mới, cuộc sống mới.

Để có được nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, bên cạnh việc thường xuyên tạo mọi điều kiện, cơ hội tốt nhất để
nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật, nắm bắt công nghệ mới - tiên tiến, hiện đại, cần
phải quan tâm đúng mức đến công tác giáo dục đào tạo nói chung, công tác giáo dục đạo
đức, tư tưởng, lối sống cho sinh viên nói riêng. Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa sẽ
phát triển như thế nào, có vị thế trên trường quốc tế ra sao, nền văn hóa truyền thống của
ta sẽ được kế thừa bổ sung và phát triển như thế nào, phụ thuộc rất nhiều vào lớp trẻ hiện
nay, trong đó có sinh viên.

Từ khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong mọi lĩnh vực của
cuộc sống, quá trình chuyển đổi kinh tế đó đã từng bước tạo ra cơ sở vật chất - kỹ thuật
cho việc phát huy tính tích cực, năng động của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có sinh
viên. Bên cạnh mặt tích cực, nền kinh tế thị trường cũng bộc lộ nhiều khuyết tật mâu
thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội.

Chính từ thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải giáo dục những giá trị đạo
đức truyền thống của dân tộc cho tầng lớp sinh viên hiện nay, tạo ra cho đất nước những
con người vừa có năng lực vừa có phẩm chất đạo đức, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội,
hăng say nhiệt tình, năng động, sáng tạo, biết trân trọng, giữ gìn và phát huy những giá trị
đạo đức truyền thống tốt đẹp vốn có của dân tộc trong điều kiện lịch sử mới.

Cũng như sinh viên cả nước, sinh viên Hà Nội hiện nay vẫn tiếp tục giữ gìn và
phát huy những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam bằng những hoạt động
học tập, rèn luyện, và tham gia các phong trào mang ý nghĩa giáo dục đạo đức truyền
thống. Bên cạnh thành tựu và thuận lợi mà chúng ta có được cũng còn nhiều bất cập, khó
khăn trong vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho tầng lớp sinh viên
trong các trường đại học và cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội - trung tâm văn hóa,
kinh tế, chính trị của cả nước. Vì vậy, để giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc cho sinh viên hiện nay đạt kết quả tốt hơn nữa chúng tôi xin đề xuất ba nhóm phương
hướng và ba nhóm giải pháp sau:

- Về phương hướng:

Một là: Quán triệt quan điểm của Đảng, đổi mới nhận thức đối với việc giáo dục
giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên.

Hai là: Kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống với hiện đại trong giáo dục giá trị đạo
đức truyền thống cho sinh viên.

Ba là: Xây dựng môi trường kinh tế - xã hội trong sạch, lành mạnh tác động tích
cực đến việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.

- Về giải pháp:

Một là: Đưa môn Đạo đức học trở thành môn học bắt buộc trong trường đại học
và cao đẳng

Hai là: Phát huy cao độ tính tự giác và tính chủ động, vai trò tự giáo dục, tự rèn
luyện các giá trị đạo đức truyền thống của sinh viên.

Ba là: Kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, xã hội trong việc giáo dục giá
trị đạo đức truyền thống cho sinh viên.
Những giải phương hướng và giải pháp trên cần phải được triển khai một cách
đồng bộ, có hiệu quả nhằm phát huy tốt nhất các giá trị đạo đức truyền thống trong việc
giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Việt Nam hiện nay.
danh mục tài liệu tham khảo



1. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2004), Tài liệu nghiên cứu kết luận Hội nghị
lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.

2. Nguyễn Trọng Chuẩn (1998), "Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu
phát triển", Triết học, (2), tr. 16-19.

3. Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Huyên (2002), Giá trị truyền thống trước những
thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.

4. Lê Duẩn (1976), Cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành
Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành
Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần hai) Ban Chấp
hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành
Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết của Bộ Chính trị về một số định hướng
lớn trong công tác tư tưởng hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

16. Nguyễn Khoa Điềm (2004), Bài phát biểu kết luận hội nghị triển khai công tác Tư tưởng
- Văn hóa toàn quốc năm 2004, Đà Nẵng, ngày 19 - 21/2.

17. Phạm Văn Đồng (1989), Hồ Chủ tịch, tinh hoa của dân tộc, lương tâm của thời đại,
Nxb Sự thật, Hà Nội.

18. Phạm Văn Đồng (1995), Văn hóa và đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

19. Nguyễn Tĩnh Gia (1997), "Sự tác động hai mặt của cơ chế thị trường đối với đạo đức
người cán bộ quản lý", Nghiên cứu lý luận, (2), tr. 24-31.

20. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.

21. Trần Văn Giàu (1983), Trong dòng chủ lưu của văn hóa Việt Nam: tư tưởng yêu
nước, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.

22. Trần Văn Giàu (1993), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh.

23. Hội sinh viên Việt Nam (2001), Báo cáo tổng kết công tác Hội và phong trào sinh
viên Hà Nội năm học 2000 - 2001; 2002 -2003; 2003 - 2004, Hà Nội.

24. Nguyễn Khánh (1995), "Một số vấn đề về phát triển xã hội ở nước ta hiện nay",
Thông tin công tác tư tưởng, tr. 1-6.
25. Vũ Khiêu (1974) Đạo đức mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

26. Vũ Khiêu (1993), Mấy vấn đề về văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện nay, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội.

27. Vũ Khiêu (chủ biên) (1993), Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, truyền thống dân tộc
và nhân loại, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

28. Trần Hậu Kiêm (chủ biên) (1997), Giáo trình đạo đức học, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.

29. Nguyễn Thế Kiệt (chủ biên) (2001), ảnh hưởng của đạo đức phong kiến trong cán bộ
lãnh đạo quản lý của Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

30. Nguyễn Thế Kiệt (chủ biên) (2003), Đạo đức người cán bộ lãnh đạo chính trị trong
điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và xu hướng biến
động, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Hà Nội.

31. La Quốc Kiệt (chủ biên) (2003), Tu dưỡng đạo đức tư tưởng, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.

32. Phan Huy Lê và Vũ Minh Giang (1994), Các giá trị truyền thống con người Việt
Nam hiện nay, Đề tài KX-07-02, Hà Nội.

33. Phan Huy Lê (1995), Truyền thống dân tộc trong công cuộc đổi mới và hiện đại hóa
đất nước Việt Nam, Đề tài KX-07-02, Hà Nội.

34. Phan Huy Lê (1996), "Truyền thống và hiện đại: vài suy nghĩ và đề xuất", Tạp chí
Cộng sản, (18), tr. 30-32.

35. Nguyễn Ngọc Long (1987), "Quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và đạo
đức trong việc đổi mới tư duy", Nghiên cứu lý luận, (1+2), tr. 105-114.

36. Nguyễn Ngọc Long (1990), "Tinh thần cách mạng và đạo đức Bác Hồ - ánh sáng soi
đường cho sự nghiệp đổi mới", Nghiên cứu lý luận, (3), tr. 5-10.

37. Nguyễn Ngọc Long (chủ biên) (2001), Giáo trình đạo đức học, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
38. Trường Lưu (1999), Văn hóa - một số vấn đề lý luận, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.

39. Nguyễn Văn Lý (2000), Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong
quá trình chuyển sang cơ chế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ
Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

40. C.Mác (1978), Tư bản, tập I, quyển I, phần I, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.

41. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 2, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội.

42. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội.

43. C. Mác và Ph. Ănghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội.

44. C. Mác và Ph. Ănghen (1995), Toàn tập, tập 22, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội.

45. Hồ Chí Minh (1976), Về đạo đức cách mạng, Nxb Sự thật, Hà Nội.

46. Hồ Chí Minh (1980), Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội.

47. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

48. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

49. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

50. Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên) (1999), Sự thay đổi giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị
trường với việc xây dựng đạo đức mới cho đội ngũ cán bộ quản lý ở nước ta
hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

51. Trần Sĩ Phán (1998), Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

52. Trần Văn Phòng (1997), Đạo đức cán bộ quản lý nước ta hiện nay - thực trạng và
giải pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Hà Nội.

53. Văn Quân (1995), Về các giá trị dân tộc, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
54. Trần Hồng Quân (1996), "Về vai trò của giáo viên và vị trí của hệ thống s ư phạm",
Nghiên cứu giáo dục, (3), tr. 1-3.

55. Hà Văn Tấn (1981), "Biện chứng của truyền thống", Tạp chí Cộng sản, (3), tr. 50-54.

56. Tống Ngọc Thanh (1997), "Các chỉ thị và nghị định cần đến với học sinh, sinh viên",
Chuyên đề sinh viên, (3), tr. 19.

57. Lê Thị Hoài Thanh (2002), Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong
giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Triết học,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

58. Lê Sĩ Thắng (2002), "Kế thừa tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi
mới ở Việt Nam hiện nay", Triết học, (5), tr. 15-19.

59. Mạc Văn Trang (chủ biên) (1995), Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay và những
phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên, Đề tài nghiên cứu
khoa học (mã số B94 - 38 - 32), Bộ Giáo dục và Đào tạo.

60. Hoàng Trung (2000), "Vì sao Hồ Chí Minh lại đặc biệt chú trọng đến vấn đề đạo
đức?", Triết học, (4), tr. 19-21.

61. Trung ương Hội sinh viên Việt Nam (2003), Tổng quan tình hình sinh viên, công tác
Hội và phong trào sinh viên nhiệm kỳ VI (1998 - 2003) Nxb Thanh niên, Hà Nội.

62. Trung ương Hội sinh viên Việt Nam (2003), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc,
Hội sinh viên Việt Nam lần thứ VII (tháng 12- 2003),
Nxb Thanh niên, Hà Nội.

63. Từ điển bách khoa toàn thư Xô viết (Thế Hùng dịch).

64. Thái Duy Tuyên (chủ biên) (1994), Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt
Nam trong điều kiện kinh tế thị trường, Hà Nội.

65. Thái Duy Tuyên (1995), "Sự biến đổi định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam
trong điều kiện kinh tế thị trường", Triết học, (1), tr. 36-39.
66. Nguyễn Quang Uẩn - Nguyễn Thạc - Mạc Văn Trang (1995), Giá trị - định hướng
giá trị nhân cách và giáo dục giá trị, Hà Nội.

67. Viện Mác - Lênin, Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học (1993), Về giá trị văn hóa tinh
thần Việt Nam, Tập 1, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội.

68. Viện Mác - Lênin, Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học (1993), Về giá trị văn hóa tinh
thần Việt Nam, Tập 2, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội.

69. Trần Quốc Vượng (1981), "Về truyền thống dân tộc", Tạp chí Cộng sản, (2), tr. 28-33.

70. Phạm Viết Vượng (1996), Giáo dục học đại cương, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội.
Mục lục


T
rang

1
Më ®Çu

8
Chương 1: Tầm quan trọng và yêu cầu của việc giáo dục giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt
Nam hiện nay

1.1. Tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân 8
tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay

1.2. Yêu cầu của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho 37
sinh viên Việt Nam hiện nay

45
Chương 2: Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên
các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội hiện nay -
thực trạng và nguyên nhân

2.1. Thực trạng việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên 45
các trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội hiện nay

2.2. Nguyên nhân của thực trạng trên 68

77
Chương 3: phương hướng và Một số giải pháp chủ yếu nhằm
nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền
thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay

3.1. Phương hướng chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo 77
đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay

3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị 89
đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên Việt Nam hiện nay

107
Kết luận
110
Danh mục tài liệu tham khảo

116
Phô lôc

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản