LUẬN VĂN: Giao lưu quốc tế về văn hóa nghệ thuật ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới hiện nay

Chia sẻ: vascaravietnam

Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI- thế kỷ của nền kinh tế tri thức, một thế kỷ bùng nổ thông tin và hội nhập kinh tế quốc tế, vì vậy không một dân tộc nào có thể sống trong tình trạng phong bế về văn hóa. Đặc biệt, Việt Nam nằm trong khu vực giao thoa giữa các nền văn minh phương Đông và phương Tây, chịu sự tác động trực tiếp của các quan hệ quốc tế vừa phong phú, hấp dẫn, vừa gay gắt, phức tạp hiện nay. Trong quá khứ, Việt Nam bao giờ...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Giao lưu quốc tế về văn hóa nghệ thuật ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới hiện nay

LUẬN VĂN:


Giao lưu quốc tế về văn hóa nghệ thuật
ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời
kỳ đổi mới hiện nay
MỞ ĐẦU


1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI- thế kỷ của nền kinh tế tri thức, một thế kỷ bùng
nổ thông tin và hội nhập kinh tế quốc tế, vì vậy không một dân tộc nào có thể sống trong tình
trạng phong bế về văn hóa. Đặc biệt, Việt Nam nằm trong khu vực giao thoa giữa các nền
văn minh phương Đông và phương Tây, chịu sự tác động trực tiếp của các quan hệ quốc tế
vừa phong phú, hấp dẫn, vừa gay gắt, phức tạp hiện nay.
Trong quá khứ, Việt Nam bao giờ cũng sẵn sàng đón nhận những giá trị văn hóa từ bốn
phương. Chúng ta từng có khả năng hòa nhập quốc tế nhưng không đánh mất mình. Nhờ ở
tinh thần khoan dung và rộng mở, dân tộc ta đã tạo được một bộ lọc tinh vi, thu hút được
những gì tinh túy của các nền văn hóa khác mà không bị đồng hóa. Ngày nay, khi toàn cầu
hóa đang trở thành một xu thế khách quan, đặc biệt là về kinh tế và công nghệ thì nguy cơ
xói mòn bản sắc dân tộc là rất lớn.
Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố công nghiệp trẻ, đất rộng, người đông. Ngay
từ buổi sơ khai, Sài Gòn đã là địa bàn chiến lược quan trọng nhất của khu vực phía Nam, và
cũng từ rất sớm Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế,
văn hóa của cả vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ, là cửa ngõ và đầu mối giao lưu quốc tế.
Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc giao lưu văn hóa nghệ thuật ở trong và
ngoài nước. Tuy chỉ mới hơn 300 năm hình thành và phát triển, nhưng Thành phố Hồ Chí
Minh đã có một nền văn hóa nghệ thuật phong phú, đa dạng, mang đậm đặc trưng vùng đất
phương Nam. Có được điều này, một mặt nhờ vào bản lĩnh kiên cường, tinh thần phóng
khoáng, năng động, sáng tạo và khoan dung vốn có của con người nơi đây. Mặt khác, đó là
kết qủa tích cực của qúa trình giao lưu, tiếp biến và hội tụ những cái hay, cái đẹp, cái tiến bộ
của các nền văn hóa khác nhau để làm giàu thêm cho mình. Với vị trí địa lý thuận lợi cho
giao lưu quốc tế, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi giao nhau của các luồng văn hóa và chịu
ảnh hưởng sớm, sâu sắc văn hóa phương Tây cả về mặt tích cực và lạc hậu nhưng cuối cùng
vẫn không bị hoà tan, biến sắc; trái lại, vẫn giữ được bản sắc, bản lĩnh, làm nên một nền văn
hóa mang đậm nét đặc trưng của văn hóa nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong những năm đổi mới gần đây, do tác động của cơ chế thị trường và ảnh hưởng của
xu thế toàn cầu hóa, hoạt động văn hóa nghệ thuật ở đây đã có những bước chuyển biến rõ rệt.
Sự xâm nhập ồ ạt của các yếu tố ngoại sinh đã gây nên sự kích thích để văn hóa nghệ thuật của
Thành phố phát triển, tạo nên một nền văn hóa nghệ thuật đa dạng màu sắc, mới lạ, sôi động
và đầy hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của công chúng Thành
phố. Nhưng, sự mở cửa giao lưu, hội nhập không chỉ mang đến những mặt tích cực, thuận
lợi, mà còn gây nên không ít những trở ngại trên bước đường phát triển của nền văn hóa dân
tộc. Đó là, nguy cơ “lai căng”, "sùng ngoại",“ phương Tây hóa”, đánh mất bản sắc dân tộc, coi
thường và làm đứt gẫy truyền thống dân tộc. Các loại hình nghệ thuật truyền thống như hát
bội, cải lương, đờn ca tài tử...một thời đã được xem là "quốc hồn, quốc tuý", là đặc trưng của
người dân sông nước phương Nam đang ngày càng phai nhạt. Phải làm sao giữ được bản sắc
văn hóa dân tộc lại vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại mà không bị lai căng, không bị mất
gốc là vấn đề đặt ra hết sức bức thiết.
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định: giao lưu văn hóa nghệ thuật là một trong những
hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển văn hóa dân tộc. Trong quá
trình xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc đẩy mạnh
giao lưu văn hóa nghệ thuật đúng hướng sẽ góp phần to lớn vào việc khẳng định bản sắc và
bản lĩnh dân tộc, đồng thời là cơ hội và điều kiện để chúng ta đổi mới và năng cao tính hiện
đại và tính quốc tế của văn hóa nghệ thuật Việt Nam nói chung và văn hóa nghệ thuật Thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Với ý nghĩa đó, tác giả luận văn chọn đề tài: “Giao lưu quốc tế về văn hóa nghệ thuật
ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới hiện nay (Qua khảo sát lĩnh vực nghệ
thuật biểu diễn)” để thực hiện luận văn thạc sĩ của mình, với mong muốn góp phần làm rõ
những vấn đề đã nêu ở trên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề giao lưu, kế thừa và tiếp biến văn hóa nói chung và văn hóa nghệ thuật nói
riêng đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu.
Có thể nêu lên một số chuyên khảo tiêu biểu sau: Giao lưu văn hóa đối với sự phát
triển văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay của PGS,TS Phạm Duy Đức, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1996; Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với
tinh hoa nhân loại của Phạm Minh Hạc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,1996; Văn học đổi
mới và giao lưu văn hóa của Phan Cự Đệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Giao lưu
văn hóa người Việt ở Bắc Bộ của tác giả Đỗ Lai Thuý (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ),
1998; 23 năm cuối của 300 năm Văn hóa nghệ thuật Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh của
tác giả Trần Trọng Đăng Đàn, Nxb Văn nghệ, Sở Văn hóa - Thông tin Thành phố Hồ Chí
Minh,1998.
Ngoài ra, còn có một số bài đăng trên các Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Diễn đàn văn
nghệ Việt Nam hay Báo Văn hóa như: Giao lưu văn hóa đối ngoại với việc giữ gìn bản
sắc dân tộc và hội nhập thế giới của tác giả Phạm Xuân Sinh, Báo Văn hóa chủ nhật, số
ra ngày 24-27/12/2004; “Văn hóa nhân loại như một bầu trời đầy sao mà vì sao nào
cũng lấp lánh” của Tiến sĩ Phạm Quang Nghị - Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, Báo
Văn hóa, số ra ngày 21-23/12/2004; Sẽ có nhiều đoàn nghệ thuật của Việt Nam ra nước
ngoài biểu diễn (Chu Thu Hằng), Báo Văn hóa, số ra ngày 10-12/2/2004; Mỗi quốc gia
cần đưa ra các biện pháp phát triển văn hóa của tác giả Chu Thu Hằng, Báo Văn hóa, số
ra ngày 21-23/9/2004. Về lĩnh vực nghệ thuật có: Sân khấu Việt Nam với sân khấu Đông
Nam Á - một cuộc hội nhập có ý nghĩa tất yếu lịch sử của tác giả Trần Bảng, Tạp chí Văn
hóa nghệ thuật, số 2/1997; Tuồng trong mối quan hệ diễn xuất Đông Nam Á của tác giả
Phan Ngọc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 11/1996; Thị hiếu đại chúng và ca khúc thịnh
hành tại Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Thị Minh Châu, Tạp chí Diễn đàn văn
nghệ Việt Nam, số 3/2003…
Như vậy, vấn đề giao lưu văn hóa nghệ thuật đã được rất nhiều nhà khoa học và
nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một luận văn hay một luận án
khoa học nào nghiên cứu về vấn đề giao lưu văn hóa nghệ thuật ở Thành phố Hồ Chí
Minh, nhất là trong giai đoạn đổi mới hiện nay. Trên cơ sở tiếp nhận những kết quả của
các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả luận văn sẽ cố gắng đi sâu tìm hiểu vấn đề giao lưu
văn hóa nghệ thuật ở Thành phố Hồ Chí Minh, để từ thực trạng đó tìm ra giải pháp cho
lĩnh vực này.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích: Trên cơ sở nhận diện rõ hơn về lý luận giao lưu văn hóa và thực trạng
giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay,
luận văn đề ra những phương hướng, giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả giao lưu
văn hóa nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nhận thức toàn diện và sâu sắc hơn về giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn.
- Khảo sát, đánh giá quá trình giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ
Chí Minh trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
- Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và hiệu qủa của giao lưu văn hóa
nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Quá trình giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu: Giao lưu văn hóa là một lĩnh vực rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực
khác nhau. Luận văn chỉ hạn định trong giao lưu quốc tế về văn hóa nghệ thuật, đặc biệt
trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, bao gồm: Ca-múa-nhạc, Sân khấu (Sân khấu truyền
thống, Sân khấu kịch nói).
Thời gian nghiên cứu: Từ những năm 90 trở lại đây trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và dựa vào các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được thể hiện qua các
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc, các Nghị quyết Hội nghị Trung ương và đặc biệt là Kết
luận hội nghị lần thứ mười Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX để định hướng tư
tưởng cho việc thực thi đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic và lịch
sử. Đồng thời sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học,
phỏng vấn, so sánh để sáng tỏ mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn góp phần nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn về thực trạng giao lưu văn hóa
nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay. Từ đó đề ra
phương hướng, giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa nghệ thuật hướng vào
mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với các đặc trưng
dân tộc, hiện đại và nhân văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người làm công việc nghiên cứu văn
hóa. Đồng thời là nguồn tài liệu thiết thực cho Bộ Văn hóa- Thông tin, đặc biệt là Sở văn
hóa-Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh tham khảo, vân dụng vào quá trình thực thi, quản lý
vấn đề giao lưu văn hóa nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3
chương, 9 tiết.
Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIAO LƯU
VĂN HÓA NGHỆ THUẬT


1.1. KHÁI NIỆM VÀ CƠ CẤU CỦA VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VÀ VĂN HÓA
NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN
1.1.1. Văn hóa nghệ thuật
Khái niệm văn hóa nghệ thuật đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Để làm rõ khái
niệm này, chúng ta buộc phải xác định khái niệm văn hóa và khái niệm nghệ thuật như là
một tiền đề xuất phát.
Về khái niệm văn hóa, cho đến nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Mặc dù vậy, các định nghĩa về văn hóa đều thống nhất chung ở một điểm chủ yếu là nhấn
mạnh đến sự sáng tạo vươn tới các giá trị nhân văn của văn hóa. Như vậy, bản chất cốt lõi
và cơ bản của văn hóa là sự sáng tạo vươn tới các giá trị nhân văn của con người qua
trường kỳ lịch sử. Hồ Chí Minh ngay từ năm 1943 đã nêu ra định nghĩa hết sức đúng đắn
là:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa
là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài
người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự
sinh tồn [54, tr.431].
Trong định nghĩa này, Hồ Chí Minh đã xác định văn hóa bao gồm những thành quả
của sự sáng tạo cả về phương diện vật chất và tinh thần nhằm đáp ứng cho sự tồn tại và phát
triển của loài người. Và điều đặc biệt ở đây là Người cho rằng văn hóa không chỉ là sự sáng
tạo mà còn là phương thức sử dụng sự sáng tạo đó. Điều này có ý nghĩa to lớn đối với việc
xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, chúng ta không chỉ chăm lo tạo
ra nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp mà cần phải chú ý tới cả "phương thức sử dụng"cho hợp
tình, hợp lý, mang tính nhân văn cao đẹp nữa.
Cũng trong định nghĩa này, Hồ Chí Minh đã xác định nghệ thuật như một bộ phận của văn
hóa góp phần vào đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội loài người.
Gần đây, đứng trước sự tiến công mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, vấn đề giữ gìn, bảo
vệ và phát huy các giá trị văn hóa của các dân tộc, các quốc gia đang gặp phải những thách
thức to lớn, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và các dân tộc thiểu số. Vì vậy, UNESCO
đã nêu ra định nghĩa về văn hóa trên cơ sở nhấn mạnh đến nội dung này nhằm thức tỉnh tinh
thần trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc chống xu thế nhất thể hóa văn hóa, hướng
tới tôn trọng và bảo vệ những giá trị văn hóa độc đáo của các quốc gia, các dân tộc:
Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật
chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm
người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống,
những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và
những tín ngưỡng [46, tr.23].
Như vậy, văn hóa bao gồm cả lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần thể hiện
năng lực sáng tạo độc đáo, riêng biệt của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trong qúa trình vận
động và phát triển của mình. Lĩnh vực nghệ thuật là một phần trọng yếu của văn hóa tinh
thần, phản ánh khát vọng sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật theo quy luật của cái đẹp. Ở
đây cần làm rõ khái niệm nghệ thuật.
Theo nghĩa rộng: nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là một loại hoạt
động tinh thần - thực tiễn của con người nhằm sáng tạo hiện thực theo quy luật của cái đẹp
được biểu hiện dưới dạng hình tượng nghệ thuật để đáp ứng những nhu cầu và khát vọng
của con người vươn tới những giá trị Chân- Thiện -Mỹ.
Theo nghĩa hẹp: Loại nghệ thuật thuần nhất (chữ thuần nhất nhằm nói tới sự thống
nhất chặt chẽ và hài hòa giữa phương tiện và mục đích, giữa nội dung và hình thức trong
hoạt động này -chữ dùng của nhà khoa học, TS Lâm Vinh): là hình thức sáng tạo đặc
biệt, được tạo nên bởi người nghệ sĩ có cá tính độc đáo, có tâm hồn giàu cảm xúc, có tài
năng sáng tạo. Nghệ thuật ở đây là tiếng nói tình cảm, tư tưởng của con người gửi đến
con người nhằm tạo nên sự đồng tình, kêu gọi, tác động, định hướng cho con người đi
vào chiêm ngưỡng, chọn lựa những kinh nghiệm sống và kinh nghiệm tình cảm, thông
qua sự biểu hiện cảm tính, sinh động đơn nghĩa và đa nghĩa, tả thực và ước lệ, miêu tả và
biểu hiện, tạo nên bởi tưởng tượng và hư cấu, đó là hình tượng.
Nói tóm lại, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, là hoạt động tinh thần thực tiễn
của con người, nó hướng theo quy luật cái đẹp ở trình độ cao, nhằm phục vụ cho con người
một đời sống tinh thần phong phú, đáp ứng những nhu cầu khát vọng của con người đạt tới
Chân - Thiện - Mỹ.
Vậy, văn hóa nghệ thuật là gì? Cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi khác nhau
nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở bốn điểm cơ bản sau:
- Văn hóa nghệ thuật là một trong những bộ phận nhạy cảm của văn hóa tinh thần, là
thành tố trọng yếu của văn hóa thẩm mỹ. Văn hóa nghệ thuật vận hành theo những quy luật
chung của văn hóa tinh thần và văn hóa thẩm mỹ, đồng thời nó vận động theo quy luật bên
trong của chính mình.
- Văn hóa nghệ thuật chịu sự quy định của đời sống kinh tế, chính trị , xã hội, vừa có
tính độc lập tương đối, và có tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với đời sống xã hội.
- Văn hóa nghệ thuật đảm nhiệm một tổ hợp các chức năng xã hội nhất định như: chức
năng nhận thức, chức năng giáo dục, chức năng thẩm mỹ, chức năng giải trí, chức năng dự
báo…Không nên tuyệt đối hóa một chức năng nào đó để dẫn đến phủ nhận các chức năng
khác.
- Văn hóa nghệ thuật hiện nay có các tính chất cơ bản là tính giai cấp, tính dân tộc và
tính nhân loại. Ngoài ra giới nghiên cứu còn bàn tới tính nhân dân và tính quốc tế của nó.
Như vậy, văn hóa nghệ thuật là một bộ phận của văn hóa thẩm mỹ, văn hóa thẩm mỹ là
một thành tố của văn hóa tinh thần. Có thể tán thành định nghĩa sau đây:
Văn hóa nghệ thuật là sự phát triển những năng lực nghệ thuật của cá nhân và
cộng đồng (nghệ sĩ, công chúng, giai cấp, dân tộc, nhân loại) thể hiện trong hoạt
động nghệ thuật nhằm sáng tạo, lưu truyền và thụ cảm các giá trị nghệ thuật. Hoạt
động này bao gồm quá trình sáng tạo, sản xuất, lưu giữ, bảo quản, truyền thông, phổ
biến, đánh giá và tiêu dùng các giá trị nghệ thuật cùng các cơ quan, các tổ chức, các
thiết chế bảo đảm cho quá trình hoạt động này [29, tr.8-9].
Với định nghĩa trên, văn hóa nghệ thuật đã được xem xét trên một bình diện tổng quát,
bao gồm cấu trúc, chức năng cũng như cơ chế hoạt động của nó, tạo nên một chỉnh thể hoạt
động trong đời sống thực tiễn xã hội.
Cơ cấu của văn hóa nghệ thuật bao gồm những thành tố chính sau:
- Đội ngũ nghệ sĩ sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật:
Đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật đóng vai trò quyết định nền văn
hóa nghệ thuật, nếu không có họ thì sẽ không có nền văn hóa nghệ thuật. Họ là những người
sáng tạo, vừa là những người biểu diễn tác phẩm nghệ thuật - nghĩa là đưa tác phẩm nghệ
thuật đến với công chúng, giúp công chúng tìm ra cái hay, cái đẹp, cái cao cả và cả những
cái xấu, cái bi, cái hài trong nghệ thuật và trong cuộc sống.
- Tác phẩm nghệ thuật:
Tác phẩm nghệ thuật là bức thông điệp mà người nghệ sĩ gửi gắm cho xã hội, thông
qua đó có thể hiểu được bộ mặt của xã hội. Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị là một tác
phẩm phải phản ánh cuộc sống, mang tính chân thật, thể hiện quan niệm sống, chứa đựng
tâm hồn dân tộc, bản sắc dân tộc. Tác phẩm nghệ thuật đó phải đạt đến chủ nghĩa nhân văn,
nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm nghệ thuật không phải là hình ảnh thụ động về thế giới mà là
một tấm gương kỳ diệu, biết gạn đục, khơi trong mọi diễn biến của cuộc sống. Những chất
liệu cao nhất của cuộc sống được lọc qua tâm hồn người nghệ sĩ, kết tinh trong tác phẩm.
Người nghệ sĩ với tư cách là chủ thể thẩm mỹ đã chuyển đối tượng thẩm mỹ vào trong tác phẩm
của mình và từ đó biến tác phẩm thành đối tượng thẩm mỹ cao hơn, tập trung hơn trước công
chúng nghệ thuật.
Như vậy, nói đến tác phẩm nghệ thuật là nói đến đối tượng thẩm mỹ và nói đến các giá
trị sáng tạo của nghệ sĩ. Đó là hai yếu tố cấu thành tác phẩm nghệ thuật.
- Công chúng nghệ thuật và sự hưởng thụ nghệ thuật.
Công chúng là những người đánh giá và thưởng thức nghệ thuật. Trong quá trình sáng
tác nghệ thuật thì người nghệ sĩ bao giờ cũng phải lắng nghe công chúng. Tác phẩm nghệ
thuật là con đẻ của người nghệ sĩ, nhưng sinh mệnh sống của nó lại phụ thuộc vào khả năng
nhận thức, đánh giá và sáng tạo của công chúng, nói gọn hơn là phụ thuộc vào trình độ thẩm
mỹ của công chúng.
Công chúng nghệ thuât đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống văn hóa nghệ
thuật. Bởi không có công chúng nghĩa là tác phẩm nghệ thuật sinh ra sẽ không có đối tượng
thưởng thức, tiêu dùng. Và như vậy, tác phẩm nghệ thuật sẽ không thể tồn tại, lưu truyền.
- Các cơ quan sản xuất, bảo quản, nhân bản, phổ biến tác phẩm (cơ chế hoạt động của
văn hóa nghệ thuật).
Chúng ta đều biết, một tác phẩm nghệ thuật ra đời nếu không có cơ quan sản xuất, bảo
quản, nhân bản và phổ biến với công chúng thì tác phẩm đó sẽ không thể đến được với công
chúng. Các hệ thống nhà bảo tàng, nhà hát, cung văn hóa, rạp chiếu phim, các cơ quan xuất
bản, các cơ quan truyền thông đại chúng như đài truyền thanh, truyền hình, báo chí…là
những yếu tố tạo nên nền văn hóa nghệ thuật. Nó đóng vai trò tích cực trong hoạt động của
văn hóa nghệ thuật.
- Các cơ quan quản lý lãnh đạo bảo đảm cho sự hình thành và phát triển các yếu tố kể
trên.
Đây là một thành tố hết sức cần thiết. Bản chất của văn hóa nghệ thuật có tính chất lan tỏa
rất nhanh, lại là một lĩnh vực rộng lớn và hết sức phức tạp. Chính vì thế vai trò của cơ quan
quản lý lãnh đạo trong lĩnh vực này là rất quan trọng.
Ngoài những thành tố kể trên, khi nói đến cơ cấu của văn hóa nghệ thuật không thể
không nói đến đội ngũ nghiên cứu lý luận và phê bình nghệ thuật cùng các tổ chức của họ
với nhiệm vụ hướng dẫn sự phát triển sáng tạo nghệ thuật, hình thành dư luận xã hội, góp
phần giáo dục và phát triển thị hiếu thẩm mỹ ở công chúng.
1.1.2. Văn hóa nghệ thuật biểu diễn
Xét ở góc độ khái quát nhất, nghệ thuật là hình thái ý thức xã hội đặc biệt, nghệ thuật
phản ảnh hiện thực bằng hình tượng sinh động cụ thể, gợi cảm nhằm thỏa mãn những nhu
cầu hiểu biết, khám phá và sáng tạo của con người. Nghệ thuật chân chính bao giờ cũng tạo
nên một sức mạnh to lớn. Sức mạnh đó được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau: nghệ thuật
ngôn từ, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật biểu diễn…
Nghệ thuật ngôn từ dùng ngôn ngữ để diễn đạt tình cảm, tư tưởng, tâm hồn của con
người theo qui luật của cái đẹp. Nghệ thuật tạo hình chủ yếu sử dụng hình khối đường nét và
các gam màu để thể hiện vật thể dưới dạng tác phẩm mỹ thuật, kiến trúc, điêu khắc, hội họa,
đồ thủ công mỹ nghệ. Nghệ thuật biểu diễn là lĩnh vực nghệ thuật được diễn xuất bằng hành
động, bằng cử chỉ của người nghệ sĩ.
Ở phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu vấn đề giao lưu văn hóa nghệ thuật
qua khảo sát nghệ thuật biểu diễn. Vậy nghệ thuật biểu diễn là gì và vai trò của nó ra sao
trong đời sống văn hóa hiện nay? Nếu đặt nghệ thuật biểu diễn trên bình diện của đời sống
văn hóa nghệ thuật thì nghệ thuật biểu diễn là một yếu tố, một bộ phận quan trọng của đời
sống văn hóa nghệ thuật, là hoạt động của người nghệ sĩ biểu diễn, gắn với tác phẩm nghệ
thuật, gắn với khán giả và cộng đồng chính trị, lãnh đạo và quản lý trên lĩnh vực này.
Từ những năm đầu của thế kỷ XX, trên thế giới đã nảy sinh hai quan niệm khác nhau
về nghệ thuật biểu diễn. Một bên là Coquelin (1841-1909), diễn viên nổi tiếng Pháp trong
cuốn Nghệ thuật diễn viên đã viết “Người diễn viên phải làm chủ được mình. Ngay cả trong
những lúc mà khán giả bị kích động bởi hành động của mình, tin rằng mình đang cuống quít
nhất thì mình phải trông thấy mình làm, tự đánh giá và chế ngự được mình, tóm lại, không
được rung động dù cái bóng của những cảm xúc đó một cách chân thực và mạnh mẽ nhất”
[66, tr.18]. Ông cho rằng người diễn viên trên sân khấu có hai cái tôi, “cái tôi diễn viên”
nghệ sĩ, và “cái tôi nhân vật”. Ông nói phải giữ cho “cái tôi diễn viên” nghệ sĩ phần hồn,
sự hiểu biết…và hãy chỉ cho “cái tôi nhân vật” phần thể xác.
Ngược lại Sepkin (1788-1863), diễn viên lỗi lạc Nga thì cho rằng, trong khi sáng tạo
hình tượng, diễn viên “phải bắt đầu từ chỗ tiêu diệt bản thân mình, cá tính mình, toàn bộ
những đặc điểm của mình mà phải biến thành nhân vật mà tác giả miêu tả” [19, tr.7].
Từ hai quan niệm về nghệ thuật biểu diễn như vậy, hình thành hai chủ trương nghệ
thuật mà người ta thường gọi là trường phái biểu hiện và trường phái thể nghiệm. Phái biểu
hiện đặc biệt chú trọng khai thác nội tâm nhân vật lúc đầu để tìm ra cách biểu hiện bên
ngoài cho chân xác, sau khi tìm hiểu được rồi thì đến khi diễn xuất, họ chỉ diễn cái bề ngoài,
tâm trí họ không xúc động nữa. Phái này rất chú ý trau dồi hình thể, nghiên cứu động tác
ngoại hình. Phái thể nghiệm trái lại, chỉ lo xúc động nội tâm, coi nhẹ động tác bên ngoài, coi
nhẹ hình thể trong sáng tạo. Hai phái này đã cố dùng lý luận và thực tiễn sáng tạo để chinh
phục đối phương, và bởi muốn dành phần toàn thắng nên cũng có lúc họ đi đến chỗ cực
đoan.
Nói tóm lại, nghệ thuật biểu diễn là hình thức nghệ thuật mang tính tổng hợp, tính tổng
thể rất cao, là sự sáng tạo lần thứ hai trên cơ sở gắn với thân thể, năng lực cảm thụ, trình
diễn của người nghệ sĩ. Khác với một số thành tố khác trong đời sống văn hóa nghệ thuật,
nghệ thuật biểu diễn được thể hiện thông qua hệ thống các phương tiện (sân khấu, âm thanh,
ánh sáng, trang phục, đạo cụ…) tập trung ở nhà hát, sân khấu, rạp xiếc, múa rối, nhà chiếu
phim, vũ trường…
Nghệ thuật biểu diễn có vai trò hết sức to lớn trong đời sống văn hóa nói chung và
trong nghệ thuật nói riêng. Đặc biệt trong xã hội hiện nay, khi đời sống vật chất của con
người ngày càng khá lên, nhu cầu thưởng thức nghệ thuật vì thế cũng tăng lên gấp bội, đòi
hỏi nhiều những tác phẩm nghệ thuật có giá trị để thỏa mãn đời sống tinh thần. Như trên đã
đề cập, trong cấu trúc của văn hóa nghệ thuật thì đội ngũ nghệ sĩ sáng tạo và biểu diễn nghệ
thuật đóng vai trò quyết định nền văn hóa nghệ thuật đó. Họ là những người đưa tác phẩm
nghệ thuật đến với công chúng, giúp công chúng tìm ra cái hay, cái đẹp, cái cao cả trong
cuộc sống. Nói cách khác, nghệ thuật biểu diễn là chiếc cầu nối giữa tác phẩm nghệ thuật
với công chúng, trực tiếp đưa các giá trị nghệ thuật đến với chủ thể thưởng thức nghệ thuật
một cách sinh động, cụ thể, truyền cảm.
Nghệ thuật biểu diễn là một loại hình nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu nghệ thuật
không thể thiếu được trong sinh hoạt văn hóa của con người. Nó góp phần chủ yếu trong
việc đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ nghệ thuật của con người mà không một hoạt động văn hóa
hay một hình thái ý thức nào có thể thay thế được.
Từ đó, chúng ta có thể thống nhất khái niệm văn hóa nghệ thuật biểu diễn như sau:
Văn hóa nghệ thuật biểu diễn là sự thể hiện năng lực nghệ thuật của con người trong
qúa trình sáng tạo, tổ chức và biểu diễn nghệ thuật nhằm tác động một cách trực tiếp, cảm
tính để tạo ra hiệu qủa thẩm mỹ cao trong công chúng tiếp nhận nghệ thuật này.
Nhìn nhận như vậy, văn hóa nghệ thuật biểu diễn là một hệ thống các hoạt động nhằm
thực hiện sự tác động có mục tiêu của chủ thể là đội ngũ nghệ sĩ tới công chúng thông qua
biểu diễn nghệ thuật để đạt cả lợi ích về vật chất và tinh thần. Các thành tố tạo nên hoạt
động của văn hóa nghệ thuật biểu diễn bao gồm: đội ngũ nghệ sĩ, tác phẩm nghệ thuật, nhà
tổ chức, cơ quan lãnh đạo, quản lý và công chúng. Chất lượng hoạt động của văn hóa nghệ
thuật biểu diễn liên quan đến sự phối hợp tổ chức có hiệu qủa các lực lượng này tạo thành
môi trường văn hóa nghệ thuật biểu diễn.
Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, ngành thông tin điện
tử đang xâm nhập vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội. Vì thế, văn hóa nghệ thuật cũng
trở nên vô cùng phong phú và đa dạng. Chúng ta có thể ngồi một nơi vẫn có thể tiếp cận
được với các nền văn minh trên thế giới bằng các kênh phát thanh, truyền hình, bằng mạng
Internet và các sản phẩm nghe nhìn khác. Thông tin điện tử đã trở thành một nhu cầu thiết
yếu của đời sống xã hội. Nó đã trở thành một phương thức sinh hoạt tinh thần phong phú
của người dân. Thế nhưng, thông tin điện tử vẫn không thể làm mờ đi vai trò của các nghệ sĩ
trên sân khấu. Nói cách khác, nghệ thuật biểu diễn vẫn tồn tại, vẫn phát triển và ngày càng
chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội. Phải chăng, nghệ thuật biểu diễn
luôn có một hình thức biểu đạt riêng, dễ đi vào lòng người hơn? Đến với nghệ thuật biểu
diễn, công chúng nghệ thuật được thưởng thức trực tiếp những giá trị nghệ thuật một cách
sinh động, cụ thể và truyền cảm bằng tài năng diễn xuất đầy màu sắc cảm tính, trực tiếp của
người nghệ sĩ trên sân khấu.

1.2. GIAO LƯU VĂN HÓA NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN
1.2.1. Giao lưu văn hóa
Khái niệm giao lưu văn hóa được dịch từ các thuật ngữ như: Cultural contacts (tiếp
xuc văn hóa), cultural exchanges, cultural change (trao đổi văn hóa), transculturation
(chuyển di văn hóa), interpénetration des civilisations (sự thâm nhập giữa các nền văn
minh)... Các thuật ngữ trên được dùng ở những nước khác nhau với những nội hàm ít
nhiều khác nhau nên chúng không có sự chặt chẽ của một thuật ngữ. Riêng thuật ngữ
acculturation là một nội hàm được xác định, hơn nữa nó có ý nghĩa thao tác trong việc
nghiên cứu [82, tr.10].
Thuật ngữ “acculturation” được dịch ở Việt Nam là “hỗn dung văn hóa”, “đan xen văn
hóa”, “thâu hóa văn hóa”, “giao thoa văn hóa”. Cách dịch được nhiều người sử dụng là
“tiếp biến văn hóa”(tiếp thu và biến cải (hoặc biến đổi) văn hóa). Gần đây nhất, nhà nghiên
cứu văn hóa Hữu Ngọc dịch là “tương tác văn hóa”. Các học giả Mỹ: R.Ritdiphin
(R.Redifield), R.Lintơn, M.Heccôvít (M.Herkovits) đã định nghĩa thuật ngữ này như sau:
“Dưới từ acculturation, ta hiểu là hiện tượng xảy ra khi những nhóm người có văn hóa khác
nhau, tiếp xúc lâu dài và trực tiếp, gây ra sự biến đổi mô thức (pattern) văn hóa ban đầu của
một hay cả hai nhóm” [76, tr.20].
Như vậy, theo quan niệm của các học giả Mỹ, đã nói đến tiếp biến văn hóa, tương tác
văn hóa là nói đến sự có mặt của ít nhất hai nhóm người có văn hóa khác nhau, là nói đến sự
tiếp xúc văn hóa lâu dài và quan hệ trực tiếp giữa hai bên. Trong đó, văn hóa của nhóm này ảnh
hưởng đến văn hóa của nhóm kia, hoặc có ảnh hưởng qua lại giữa hai nhóm để cùng biến đổi.
Hay nói cách khác, tiếp biến văn hóa là sự thay đổi mô thức văn hóa ban đầu; là quá trình tiếp
thu, biến cải, kế thừa các giá trị văn hóa ảnh hưởng từ bên ngoài kết hợp với bên trong, khai
thác một cách sáng tạo các giá trị ấy theo yêu cầu của thực tiễn cuộc sống hiện tại và chủ động
tạo ra sự thích nghi, hài hòa giữa các yếu tố văn hóa ngoại sinh với vốn văn hóa nội sinh của
dân tộc. Vấn đề này TS.Đỗ Lai Thúy đã đưa ra một số ví dụ để phân tích trong luận án tiến sĩ
của mình như: người Việt để răng trắng (thay đổi một quan niệm thẩm mỹ, thay đổi một quan hệ
giữa con người với tự nhiên); hoặc: khi tiếng Việt tiếp xúc với tiếng Pháp đã xảy ra hiện tượng
sao phỏng các hình thức ngữ pháp tiếng Pháp để có đủ khả năng diễn đạt một cách khúc chiết
theo tư duy lô gic. Vì thế, cú pháp tiếng Việt ngày nay gần với cú pháp tiếng Pháp. Tuy nhiên,
không phải tiếp xúc văn hóa nào cũng dẫn đến tiếp biến văn hóa, vì cũng có hiện tượng chối từ
văn hóa, nhưng chắc chắn rằng, có tiếp biến văn hóa là có tiếp xúc văn hóa.
Lâu nay, người ta thường dùng nhiều khái niệm giao lưu, hội nhập văn hóa. Vậy, khái niệm
giao lưu văn hóa có khác với những khái niệm trên không?
Giao lưu là sự liên hệ với nhau bằng sự tiếp xúc và sự trao đổi qua lại giữa những hoạt
động mà hai hay nhiều bên đều thấy cần thiết và có lợi cho mình. Giao lưu cũng có nghĩa
chia sẻ cho nhau hiểu biết và thông tin. “Liên hệ biện chứng giữa cho và nhận”- đó là giao
lưu. “Cho”tức là đưa ra, giới thiệu ra những giá trị của mình cho nước khác và “nhận” là
tiếp thu vào những giá trị từ ngoài có lợi cho ta, trong hoàn cảnh và điều kiện của ta. Nói
chung, giao lưu là “cho”và “nhận”- những cái cho - nhận hết sức phong phú, linh hoạt,
thường xuyên đổi mới và cũng tuân thủ theo những điều kiện nhất định. Nó tuỳ thuộc vào ta
có gì và cần gì; tuỳ thuộc vào các nước có gì, tình hữu nghị giữa các nước đó với nhau ra
sao. Do đó, giao lưu phải dựa trên những điều kiện và nguyên tắc nhất định.
Vậy giao lưu văn hóa là gì? Giao lưu văn hóa là khái niệm nói về một hiện tượng phổ
biến mang tính quy luật thường xuyên chi phối quá trình vận động, phát triển trong mọi nền
văn hóa dân tộc trên thế giới. Nó là hệ quả của sự tiếp xúc (contact) và là nguyên nhân, điều
kiện cho sự hội nhập (intégra-tion) của các nền văn hóa khác nhau khi có dịp gặp gỡ nhau
trong những điều kiện, hoàn cảnh nào đó.
Giao lưu văn hóa chính là quá trình trao đổi chất giữa các nền văn hóa với nhau. Mỗi
nền văn hóa dân tộc sẽ bị suy thoái nếu không có quá trình trao đổi chất này. Mà quá trình
này chính là sự tác động biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh của nền văn
hóa dân tộc (Cặp khái niệm này thường xuyên được nhắc đến, phân tích khi nghiên cứu vấn
đề giao lưu, hội nhập; nhất là giao lưu, hội nhập văn hóa). Yếu tố nội sinh là những yếu tố
vốn có, nội thuộc của một nền văn hóa, còn những yếu tố ngoại sinh là những yếu tố có
nguồn gốc từ nền văn hóa khác nhau giao lưu đã nhập vào nền văn hóa chủ thể. Trong hai
loại yếu tố này, thì yếu tố nội sinh thường có vai trò quan trọng hơn. Bởi yếu tố nội sinh là
chủ thể, yếu tố nội sinh làm nên thực chất của một nền văn hóa, còn yếu tố ngoại sinh chỉ là
một khách thể, bổ sung và làm cho nền văn hóa đó phong phú hơn, đa dạng hơn. Yếu tố nội
sinh còn quy định sự tiếp nhận yếu tố ngoại sinh nào và cách tiếp nhận nó. Tuy vậy, không
phải lúc nào và ở đâu yếu tố nội sinh cũng đóng vai trò chủ đạo. Trong xã hội hiện đại, xu
thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ thì yếu tố ngoại sinh cũng đóng
vai trò không kém phần quan trọng. Vì vậy, khi nghiên cứu sự vận động và phát triển nền
văn hóa dân tộc không thể coi nhẹ cả hai yếu tố kể trên. Bàn về vấn đề này, GS Vũ Khiêu
trong cuốn: “Mấy vấn đề văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện nay” đã nhấn mạnh:
Chỉ dựa vào nhân tố nội sinh và đóng cửa không tiếp nhận gì từ bên ngoài,
thì một con người dù lành mạnh, một dân tộc dù có truyền thống lâu đời cũng sẽ
dần dần suy yếu đi và không còn sinh khí nữa. Ngược lại, chỉ chú ý đến nhân tố
ngoại sinh không chuẩn bị đầy đủ những điều kiện nội sinh thì nhân tố ngoại sinh
dù hay đến đâu cũng sẽ bị bật ra ngoài. Đó là điểm rất quan trọng trong quan hệ
bên trong và bên ngoài [47, tr.175-176].
Như vậy, rõ ràng yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh có vai trò khác nhau trong giao
lưu văn hóa. Nhận thức một cách đầy đủ và khách quan về vai trò của các yếu tố này trong
giao lưu văn hóa là cơ sở để điều chỉnh mối quan hệ này nhằm thúc đẩy văn hóa dân tộc
phát triển.
Cái nội sinh trong sự vận động và phát triển của văn hóa nghệ thuật là cái tự phát sinh do
các nhân tố bên trong của văn hóa nghệ thuật dân tộc. Ngược lại, cái ngoại sinh là cái được
sinh ra do tác động từ bên ngoài vào trong mỗi nền văn hóa nghệ thuật dân tộc. Mọi sự biến đổi
của một nền văn hóa dân tộc đều do sự tác động qua lại giữa cái nội sinh và cái ngoại sinh. Nói
cách khác, yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh là nguyên nhân của sự phát triển cái mới, động
lực của mọi sự vận động và phát triển của nền văn hóa nghệ thuật dân tộc.
Cái nội sinh là cái tự bên trong sinh ra, lúc đầu nó còn là của cá nhân, dần dần nó
được cộng đồng thừa nhận và đến một lúc nào đó trở thành tài sản chung của cả dân tộc.
Cái ngoại sinh chính là cái từ bên ngoài sinh ra, cái ngoại nhập. Cái ngoại nhập này không
đứng im, mà phát sinh ảnh hưởng của nó, tác động qua lại với cái nội sinh tạo nên sự thay
đổi của văn hóa nghệ thuật. Nếu như cái nội sinh lúc đầu là của cá nhân, sau đó được cộng
đồng thừa nhận và thuộc về dân tộc thì cái ngoại sinh lại mang tính phổ quát của toàn nhân
loại, có ý nghĩa quốc tế. Tuy nhiên, cũng có những yếu tố ngoại sinh mang tính cục bộ, hạn
hẹp, thậm chí đi ngược lại lợi ích chung của nhân loại, của quốc tế. Một yếu tố ngoại sinh
khi gia nhập vào nội bộ một nền văn hóa nào đó, tức trở thành một yếu tố nội sinh thì nó vừa
là nó, đồng thời cũng không còn là nó nữa. Ví dụ: Đạo Phật Việt Nam vẫn là đạo Phật
nhưng lại mang tính chất Việt Nam. Khi vào Việt Nam, đạo Phật được chuyển hoá cho phù
hợp với phong tục, tập quán, tín ngưỡng của người dân Việt Nam. Sự chuyển hoá, tiếp biến
đó các nhà khoa học gọi là “độ khúc xạ”. Thuật ngữ này đã được sử dụng rất nhiều, nhất là
trong khi nghiên cứu giao lưu văn hóa. Sự khúc xạ này chính là sự “đụng độ”của các nền
văn hóa, làm bộc lộ tính chất cơ bản của mỗi nền văn hóa, đặc biệt là nền văn hóa chủ thể.
Nó bộc lộ cho người ta biết nền văn hóa chủ thể ấy hướng nội hay hướng ngoại, bảo thủ hay
khai phóng, nghĩa là tiếp thụ những yếu tố ngoại lai ở mức độ nào.
Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ; cùng với sự bùng nổ thông tin và sự liên kết chặt chẽ quan hệ mậu dịch,
giao lưu quốc tế trở thành một nhu cầu khách quan, một động lực của sự phát triển. Không
một dân tộc nào, không một quốc gia nào phát triển được nếu tự khép kín, biệt lập với thế
giới bên ngoài. Tất cả các dân tộc trên thế giới đều cố vươn mình lên để hội nhập với xu thế
chung, để khẳng định tính ưu việt của mình. Dĩ nhiên, trong quá trình giao lưu hội nhập
không chỉ có sự tham gia của kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật, mà văn hóa nghệ thuật
cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó.
Cái nội sinh của văn hóa nghệ thuật thể hiện ở toàn bộ các thành tố tạo nên nội lực,
tạo nên bộ gien di truyền bên trong của văn hóa nghệ thuật. Các thành tố đó bao gồm: đội
ngũ văn nghệ sĩ, tác phẩm nghệ thuật, công chúng nghệ thuật, môi trường chính trị xã hội...
Các thành tố này đều quan trọng, góp phần tạo nên một nền văn hóa nghệ thuật dân tộc -
nền văn hóa nghệ thuật có bản sắc riêng.
Còn cái ngoại sinh của văn hóa nghệ thuật dân tộc thể hiện ở toàn bộ sự tác động trực
tiếp hay gián tiếp của các thành tố văn hóa nghệ thuật từ bên ngoài nhập vào, gây ra sự tiếp
biến trong quá trình giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa các dân tộc khác nhau. Đó chính là
các hệ tư tưởng, các trào lưu và các trường phái nghệ thuật, các loại hình nghệ thuật và các
tác phẩm nghệ thuật, các phương pháp sáng tạo và các phương pháp nghiên cứu nghệ thuật,
các chất liệu nghệ thuật và kĩ thuật sáng tạo, các cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật, các tổ
chức, thiết chế và cơ chế hoạt động của văn hóa nghệ thuật, đặc biệt là các khuynh hướng
thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ… Những cái này tác động vào cái nội sinh vừa mang tính tất
nhiên, vừa mang tính ngẫu nhiên, luôn luôn vận động và biến đổi, tuỳ thuộc vào các quan hệ
kinh tế, chính trị, văn hóa ở từng quốc gia và từng thời kỳ nhất định. Các yếu tố ngoại sinh
vừa bao hàm các bộ phận tích cực làm động lực thúc đẩy cho quá trình đổi mới văn hóa
nghệ thuật dân tộc, vừa bao hàm các bộ phận tiêu cực, cản trở, kìm hãm sự phát triển của
văn hóa nghệ thuật dân tộc.
Trong văn hóa cũng có những yếu tố mà về nguyên tắc, không thể du nhập và truyền
bá được. Sự có mặt của một hiện tượng văn hóa ngoại lai, trong nhiều trường hợp, không
thể gọi là sự du nhập về văn hóa. Trong văn hóa, sự trao đổi, giao lưu, trong một chừng mực
nào đó, là để cho bản sắc dân tộc của văn hóa chứng tỏ được mình và thể hiện rõ giá trị đặc
biệt độc đáo của mình. Quá trình bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc, sáng tạo nên những giá trị mới và tiếp thu tinh hoa từ bên ngoài vào, quá trình tìm
hiểu, sáng tạo, khám phá, lựa chọn chính xác cái hay, cái đẹp, tạo nên những giá trị mới cho
văn hóa dân tộc là một quá trình đầy khó khăn. Nó đòi hỏi phải được chọn lựa kỹ càng,
nhưng lại phải có những quyết định dứt khoát, kịp thời. Rõ ràng, bản sắc dân tộc là cái
“chứng chỉ”, là cái để phân biệt nền văn hóa này với nền văn hóa khác. Nhưng điều đó
không đồng nghĩa với việc “bế quan toả cảng”khư khư giữ chặt lấy những gì đã có, coi đó
là một hệ thống hoàn thiện, khép kín, mà ngược lại, cần phải có sự “giao thoa”để tiếp nhận
tinh hoa của các nền văn hóa khác, làm cho nó trở nên phong phú và nhất là cần làm cho nó
trở thành của mình. Đó chính là thành công của việc giao lưu và hội nhập văn hóa.
Giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa các dân tộc đòi hỏi cả tiếng nói riêng và tiếng nói
chung của mỗi nền văn hóa nghệ thuật dân tộc. Điều đó được thể hiện ở cách cảm, cách
nghĩ, cách thể hiện hình tượng độc đáo riêng biệt của các cá nhân nghệ sĩ của mỗi nước. Và
chính nhờ sự độc đáo, đa dạng, phong phú, nhiều vẻ đó mà nền văn hóa nghệ thuật của các
dân tộc trên thế giới được làm giàu hơn lên. Cái nội sinh của nền văn hóa nghệ thuật dân
tộc lúc này chuyển hoá thành cái ngoại sinh đối với các nền văn hóa nghệ thuật khác và tạo
ra những ảnh hưởng lớn hay nhỏ tuỳ thuộc vào giá trị mà nó đạt được.
Quá trình vận động và phát triển của mối quan hệ giữa cái nội sinh và cái ngoại sinh
trong giao lưu văn hóa nghệ thuật diễn ra theo trình tự tiếp xúc, trao truyền, xung đột, lựa
chọn, tiếp nhận và đổi mới (tạo ra cái mới). Muốn quá trình giao lưu diễn ra có kết quả tốt
thì không thể không tuân theo trình tự này. Bởi nếu bỏ sót hoặc đốt cháy một trong những
giai đoạn trên thì có thể sẽ dẫn đến sai lầm. GS Hoàng Trinh đã đúng khi nói rằng: “… để
cho việc đổi mới văn hóa được thường xuyên thì việc thực hiện giao lưu văn hóa phải tiến
hành có hệ thống nhằm tránh mọi sự bảo thủ, lai căng… Việc giao lưu văn hóa phải trên cơ
sở của sự phát triển nền văn hóa dân tộc theo hướng phong phú và lành mạnh. Do sự phát
triển bên trong mà quy định sự tiếp thu bên ngoài chứ không thể ngược lại”.
Như vậy, bảo đảm mối quan hệ biện chứng giữa cái nội sinh và cái ngoại sinh trong
giao lưu quốc tế là một quá trình có tính quy luật để văn hóa nghệ thuật dân tộc vận dụng,
đổi mới và phát triển. Nếu không đảm bảo mối quan hệ biện chứng này thì sẽ dẫn đến tình
trạng hoặc là cái nội sinh bị cô lập mất động lực bên ngoài để phát triển; hoặc là bị cưỡng
bức phá vỡ bộ gien di truyền của văn hóa nghệ thuật, đánh mất bản sắc dân tộc của mình.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của một đất nước liên tục chống ngoại xâm, lịch sử của
một xã hội thuần nông, việc giao lưu với thế giới chưa năng động, chưa đa dạng và còn
chậm trễ so với nhiều nước. Tuy nhiên, trong lịch sử chúng ta đã có kinh nghiệm hội nhập
văn hóa mà không bị đồng hoá; trải qua ba lần tiếp biến văn hóa lớn, nhưng văn hóa Việt
Nam không những không bị hòa tan, biến sắc mà ngược lại, nó còn làm giàu thêm bản sắc
của mình, vì nó biết tiếp thu và cải hóa cái bên ngoài thành cái bên trong cho phù hợp với
cuội nguồn giá trị dân tộc. Vì lẽ đó mà trong giá trị truyền thống Việt Nam không chỉ có
thuần nhất giá trị Việt Nam. Ở đó, ta còn thấy cả các yếu tố Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo
và cả văn hóa châu Âu như văn hóa Pháp, văn hóa Nga... Nhưng tất cả các yếu tố đó đều
biến thành một bộ phận làm nên sức sống mạnh mẽ của văn hóa Việt Nam.
Xác định rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội”, cùng với chính trị và kinh tế, giao lưu văn hóa luôn luôn
là một trong ba cột trụ lớn của giao lưu, hợp tác quốc tế trong thời đại ngày nay. Đảng và Nhà
nước ta đã chú trọng tới việc mở rộng chính sách đối ngoại thông qua kênh giao lưu văn hóa,
góp phần từng bước nâng vị thế của Việt Nam lên tầm cao mới trên trường quốc tế. Kết luận
Hội nghị lần thứ mười Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã đánh giá:
… đã tạo nhiều phương thức, hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với
từng khu vực, từng nước, qua đó làm tốt hơn, có hiệu quả hơn nhiệm vụ giới thiệu
văn hóa, đất nước và con người Việt Nam với thế giới, tiếp thu có chọn lọc các
giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, tạo sự đồng cảm, hiểu biết
giữa dân tộc ta và các dân tộc trên thế giới.
Vị thế Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, con người và cuộc
sống văn hóa thời kỳ đổi mới được bạn bè hiểu biết rõ hơn, đúng hơn. Số lượng
đoàn vào, đoàn ra, giao lưu và trao đổi văn hóa tăng dần qua các năm [5, tr.32-
33].
Năm 2004 đã có tới 414 đoàn Việt Nam gồm 2.162 lượt người ra nước ngoài và đón
218 đoàn với 1.856 người nước ngoài vào Việt Nam [69, tr.5].
Những con số đó chứng tỏ trong những năm qua, hoạt động giao lưu quốc tế đã diễn
ra hết sức sôi nổi, nhộn nhịp, bắc thêm nhịp cầu hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân
Việt Nam và nhân dân các nước trên thế giới, đưa chính sách mở rộng đối ngoại trên lĩnh
vực văn hóa trở thành hiện thực. Sự hiện diện của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế bàn về
sự hợp tác, liên kết trong văn hóa và sự phát triển bền vững, khẳng định vai trò văn hóa
trong xây dựng đất nước như: Hội nghị “Mạng quốc tế về chính sách văn hóa toàn cầu” tổ
chức ở Thượng Hải, Trung Quốc; diễn đàn “Phát triển công nghiệp văn hóa” tổ chức ở
Hồng Kông; “Hội nghị thượng đỉnh các nước Á -Âu”; “Diễn đàn nhiếp ảnh trẻ Á -Âu”…đã
tạo nhiều cơ hội cho Việt Nam tiếp xúc, giao lưu học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế
giới và khu vực.
Rõ ràng, giao lưu, hợp tác quốc tế là điều kiện để chúng ta mở rộng và phát triển mọi
lĩnh vực trong cuộc sống, từ kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật và tất nhiên là cả văn hóa
nghệ thuật. Chỉ xét riêng về lĩnh vực văn hóa nghệ thuật cũng đã hết sức phong phú và đa
dạng. Bởi nghệ thuật là cả một thế giới các hoạt động thẩm mỹ của con người, thế giới của
các loại hình, loại thể. Nghiên cứu vấn đề giao lưu văn hóa nghệ thuật ở tất cả mọi loại
hình, loại thể là điều quá sức đối với một học viên cao học, vì vậy tác giả luận văn chỉ xin
tập trung vào một thể loại tương đối cụ thể, đó là thể loại nghệ thuật biểu diễn. Cụ thể là tập
trung nghiên cứu vấn đề giao lưu trên lĩnh vực ca- múa- nhạc, lĩnh vực sân khấu (sân khấu
kịch nói, sân khấu kịch hát truyền thống).
1.2.2. Giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn
Nếu như nghệ thuật ngôn từ dùng ngôn ngữ để diễn đạt tình cảm, tư tưởng, tâm hồn
của con người theo quy luật của cái đẹp, nghệ thuật tạo hình chủ yếu sử dụng hình khối,
đường nét và các gam màu để thể hiện vật thể dưới dạng tác phẩm mỹ thuật, kiến trúc, điêu
khắc, hội họa, đồ thủ công mỹ nghệ thì nghệ thuật biểu diễn là lĩnh vực nghệ thuật được diễn
xuất bằng hành động, bằng cử chỉ của người nghệ sĩ. Hay nói cách khác, văn hóa nghệ thuật
biểu diễn là sự thể hiện năng lực, tài năng biểu đạt tác phẩm nghệ thuật của người nghệ sĩ
qua hành động diễn xuất, năng lực cảm thụ, trình diễn của người nghệ sĩ. Trong lĩnh vực
này, sự học hỏi, tìm tòi, giao lưu là việc làm hết sức cần thiết. Giao lưu quốc tế về văn hóa
nghệ thuật biểu diễn từ lâu đã được quan tâm. Nó không chỉ học hỏi, tìm hiểu, giao lưu nghệ
thuật biểu diễn của các nghệ sĩ trên khắp thế giới mà còn giúp các đoàn nghệ thuật ở các
nước giới thiệu, quảng bá nền văn hóa nghệ thuật của họ. Đường lối mở rộng quan hệ đối
ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta đã tạo điều kiện thuận
lợi, tác động tích cực tới sự giao lưu văn hóa nói chung và nghệ thuật biểu diễn nói riêng ở
trong và ngoài nước. Trong những năm gần đây, việc cá nhân nghệ sĩ hay các đoàn nghệ
thuật đi lại biểu diễn ở cả hai miền Nam, Bắc là chuyện diễn ra hàng ngày. Hơn thế, nhiều
nghệ sĩ của nước ngoài đã đến Việt Nam biểu diễn, khán giả Việt Nam có cơ hội thưởng thức
nghệ thuật ngoại với nhiều loại hình phong phú, đa dạng. Các nghệ sĩ Việt Nam, bằng nhiều
con đường khác nhau, ra nước ngoài biểu diễn ngày càng nhiều. Trong năm 2003, đã có 397
lượt đoàn nghệ thuật của Việt Nam ra nước ngoài biểu diễn và có 188 đoàn nghệ thuật quốc
tế vào biểu diễn tại Việt Nam [38, tr.11]. Những con số này đã khẳng định tiềm năng to lớn
của nghệ thuật Việt Nam trong quá trình giao lưu hội nhập quốc tế. Việc các đoàn nghệ
thuật của Việt Nam ra nước ngoài biểu diễn hay các đoàn nghệ thuật quốc tế vào Việt Nam
biểu diễn theo lời mời của các cơ quan chức trách của cả hai bên là việc làm có ý nghĩa hết
sức quan trọng . Bởi qua đó, các nền văn hóa nghệ thuật của các nước được quảng bá, mối
quan hệ ngoại giao trên thế giới, trong khu vực ngày càng bền chặt và tốt đẹp. Trong thời
gian vừa qua, nhờ chính sách mở cửa của nhà nước ta, một số không ít các ca sĩ, nghệ sĩ ra
nước ngoài biểu diễn với tư cách cá nhân theo con đường du lịch. Đảng và Nhà nước ta đã
tạo điều kiện thuận lợi cho các nghệ sĩ, ca sĩ ra nước ngoài biểu diễn, cũng như các ca sĩ,
nghệ sĩ nước ngoài vào Việt Nam biểu diễn. Tuy nhiên, những hoạt động biểu diễn đó phải
có lợi cho cá nhân ca sĩ và phải có lợi cho đất nước. Ông Phạm Tiến Vân, Q.Vụ trưởng Vụ
Văn hoá - Thông tin (Bộ ngoại giao) cho biết:
Qua theo dõi và sàng lọc thông tin từ cộng đồng, bên cạnh những chương
trình nghệ thuật có chất lượng (phần lớn các đoàn nghệ thuật do Nhà nước cử đi)
tạo hiệu qủa tích cực trong việc vận động kiều bào hướng về tổ quốc, về nền văn
hóa dân tộc…cũng còn những tồn tại cần phải khắc phục. Nhiều ca sĩ trong nước
vốn đã quen “tự do”, tự do trong phát ngôn, tự do trong phong cách biểu diễn và
trang phục… khi ra nước ngoài còn “tự do” hơn nhiều. Thêm vào đó là sự
thương mại hóa nghệ thuật, đòi cátsê cao khiến kiều bào không chịu nổi [38,
tr.11].
Thiết nghĩ, đó là việc làm và những hành động thiếu tự trọng cần phải được khắc phục.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Văn hoá-Thông tin trong năm 2004 là
mở rộng hợp tác, giao lưu văn hóa với nước ngoài, trong đó có sự giao lưu và hợp tác trên
lĩnh vực nghệ thuật. Xuất phát từ nhu cầu thực tế và thực hiện nhiệm vụ trọng tâm về giao
lưu, hợp tác văn hóa quốc tế, vừa qua Cục Nghệ thuật biểu diễn phối hợp với Vụ Pháp chế
đã ban hành Quy chế hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp. Trong quy chế này đã
dành trọn chương IV cho vấn đề biểu diễn nghệ thuật và tổ chức nghệ thuật chuyên nghiệp
có yếu tố nước ngoài. Theo đó, điều kiện để đoàn nghệ thuật, diễn viên ra nước ngoài biểu
diễn và đoàn nghệ thuật, diễn viên của nước ngoài vào Việt Nam biểu diễn được quy định cụ
thể, đơn giản, thông thoáng về mặt thủ tục. Chẳng hạn, quy chế đã nói rõ, đối với đoàn nghệ
thuật, diễn viên Việt Nam ra biểu diễn ở nước ngoài cần có giấy mời của đối tác trong và
ngoài nước; đơn đề nghị kèm theo danh sách diễn viên và nội dung chương trình, vở diễn sẽ
biểu diễn ở nước ngoài; văn bản đại sứ quán, hoặc cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam về
tư cách pháp lý của đối tác nước ngoài; văn bản hợp đồng; hoặc thỏa thuận với đối tác
nước ngoài.
Với qui chế thông thoáng đó, thời gian vừa qua đã có nhiều đoàn nghệ thuật của Việt
Nam ra nước ngoài biểu diễn và nhiều đoàn nghệ thuật của nước ngoài sang biểu diễn tại
Việt Nam. Năm qua (2004), nghệ thuật biểu diễn đã gặt hái những thành quả to lớn với lời
mời tham gia nhiều hoạt động nghệ thuật quốc tế lớn như Đoàn Rối nước Thăng Long đi
diễn hơn một tháng tại Diễn đàn văn hóa toàn cầu ở Barcelona, Tây Ban Nha; Liên đoàn
Xiếc đi Pháp; Đoàn nghệ thuật Dân gian Việt Bắc đi biểu diễn nhân Hội nghị Thượng đỉnh
các nước sử dụng tiếng Pháp tại Bukina Faso; Đoàn Nghệ thuật Việt Nam đi dự Liên hoan
nghệ thuật truyền thống ở Washinh-tơn. Đoàn Nhà hát Nhạc Vũ kịch tham gia Liên hoan
nghệ thuật Châu Á ở Bắc Kinh-Trường Xuân; Nhà hát Nhạc nhẹ tham dự Liên hoan Mùa
xuân Bình Nhưỡng; Đoàn Rối nước Trung ương đi Athens (Hy Lạp), Anh, Slovenia, Croatia;
Đoàn Nhà hát kịch chèo, tuồng đi diễn 4 tháng tại 6 bang nước Mỹ; Nhà hát Tuổi trẻ và Nhà
hát Tuồng đi Liên hoan sân khấu quốc tế ở Ai Cập; các đoàn nghệ sĩ ở Thành phố Hồ Chí
Minh đi biểu diễn cho cộng đồng ở Canađa và Úc; nhà hát Ca Múa Nhạc đi Đức, Nga, Séc
và Hungary; Đoàn Dàn Nhạc giao hưởng Việt Nam gồm 90 người tham gia Liên hoan các
dàn nhạc Châu Á tại Tokyo…. Theo con số thống kê của Báo Văn hóa chủ nhật ra ngày 24-
27/12/2004 thì năm 2004 đã có hơn 100 đoàn nghệ thuật ra nước ngoài biểu diễn và hơn
1000 người thuộc tốp nghệ thuật tham gia các liên hoan quốc tế.
Với nội dung phong phú giàu bản sắc dân tộc, biết khai thác các chất liệu truyền
thống, các chương trình nghệ thuật của Việt Nam đã từng bước chiếm được cảm tình khán
giả ở nước ngoài. Bà Selima-Bộ trưởng Quốc vụ Khanh văn hóa Băngladesh, trong chuyến
thăm chính thức Việt Nam đã phát biểu: “Nhân dân Băngladesh còn nhớ mãi những nghệ sĩ
xinh đẹp với những chương trình biểu diễn nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam đã để lại nhiều
ấn tượng khó quên trong lòng khán giả”.
Ngoài ra, giao lưu văn hóa đã tạo điều kiện cho nhân dân ta tiếp cận với nhiều nền
nghệ thuật của thế giới. Mặc dầu còn gặp nhiều khó khăn về kinh phí, song hàng năm Bộ
Văn hoá-Thông tin đã mời nhiều đoàn nghệ thuật quốc tế đến Việt Nam giao lưu, dự các
cuộc liên hoan quốc tế về sân khấu, điện ảnh, âm nhạc. Chỉ tính riêng cuộc Liên hoan sân
khấu thể nghiệm quốc tế lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 11/ 2002 đã có gần
400 diễn viên thuộc 14 đơn vị nghệ thuật của Thụy Điển, Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt
Nam lần lượt trình diễn chương trình dự thi của mình trên sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội và
rạp xiếc Trung ương. Nhà hát Zen-nit (Thuỵ Điển) biểu diễn vỡ kịch “Cánh cửa mở”; Đoàn
kịch nói Quảng Đông (Trung Quốc) với vở “Áp giải”; Trung tâm biểu diễn sân khấu Hàn
Quốc với vở kịch “ Nghiệp chướng” đã để lại ấn tượng sâu đậm. Ngoài nghệ thuật sân
khấu, còn có các đoàn quốc tế đến trao đổi, giao lưu và biểu diễn âm nhạc như liên hoan
nhạc Jazz cổ điển, Jazz châu Âu, Mỹ, La Tinh… gồm các nhạc công nổi tiếng ở nhiều nước
trên thế giới: Đan Mạch, Italia, Hà Lan, Cộng hòa Séc, Tây Ban Nha…. Liên hoan nhạc
Jazz châu Âu lần thứ 4 tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 21/11 đến 4/12/2004
đã quy tụ 9 ban nhạc nổi tiếng của Thuỵ Sĩ, Áo, Bỉ, Hà Lan, Đức, Pháp, Thuỵ Điển, Đan
Mạch và Việt Nam.
Các đoàn nghệ thuật múa của bạn bè quốc tế đã sang Việt Nam biểu diễn, giao lưu
trong nhiều dịp liên hoan, kỉ niệm. Tiêu biểu là đoàn Nghệ thuật múa Hàn Quốc Kooksoo-
Hodilin đã từng đi diễn hơn 30 nước trên thế giới, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập quan
hệ ngoại giao Việt Nam - Hàn Quốc, đã ra mắt khán giả Việt Nam với những vũ điệu đắm
đuối và sôi động. Đoàn Nghệ thuật múa kiếm Thang ta - Ấn độ đã thể hiện một màn trình
diễn ly kỳ, đẹp mắt với các loại vũ khí như kiếm, giáo, dao găm nhưng rất mềm mại và uyển
chuyển, đẹp mắt, mang đậm bản sắc văn hóa Ấn độ.
Ở Việt Nam, Nhà hát Múa rối Thăng long cũng đã có nhiều tiết mục đặc sắc lưu diễn ở
nước ngoài. Đáng kể nhất là chương trình múa rối nước truyền thống với 16 tiết mục tiêu
biểu như: mục đồng chăn trâu thổi sáo, cáo bắt vợ, cấy cày, múa lân, múa tiên, đánh bắt
cá…đã được khán giả liên bang Nga đánh giá cao trong chuyến lưu diễn ở Matxcơva (năm
2002). Tham dự liên hoan quốc tế Athens (Hy Lạp), liên tiếp trong các năm 1999,2002, Ban
tổ chức liên hoan quốc tế Athens đều mời nghệ sĩ múa rối Thăng long sang biểu diễn. Các
buổi biểu diễn đều được đánh giá cao, gây tiếng vang trong người dân Hy Lạp.

1.3. VAI TRÒ CỦA GIAO LƯU VĂN HÓA NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN ĐỐI VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA DÂN TỘC
Kết quả của nhiều hội thảo quốc tế về văn hóa gần đây đã chỉ rõ: trong tình hình hiện
nay, sự hợp tác và giao lưu văn hóa giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới là vô
cùng quan trọng. Bởi ngoài sự hiểu biết và làm phong phú lẫn nhau, nó còn là sự liên kết để
vượt qua các thách thức của quá trình toàn cầu hóa và sự thay đổi khoa học, công nghệ
đang diễn ra rộng khắp. Có những ý kiến lo ngại cho sự khác biệt về văn hóa, văn minh có
thể là nguyên nhân dẫn đến hiểu lầm, xung đột, khủng bố, chủ nghĩa ly khai, bài ngoại và
thậm chí cả chiến tranh. Nhưng đa số ý kiến lại cho rằng, chúng ta cần phải tôn trọng tính
đa dạng của văn hóa và văn minh, phải coi đó là một nhu cầu khách quan giúp cho mọi quốc
gia, dân tộc quyền được lựa chọn con đường phát triển phù hợp với khả năng, truyền thống
và bản sắc của mình. Tính đa dạng của văn hóa đã trở thành đề tài cho nhiều cuộc hội thảo,
hội nghị. Gần đây nhất, Hội nghị bàn tròn “Dự thảo công ước về bảo vệ sự đa dạng các nội
dung văn hóa và biểu đạt nghệ thuật” do Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam tổ chức đã
diễn ra ở Hà Nội với rất nhiều ý kiến phát biểu của các giáo sư, tiến sĩ đầu ngành. Giáo sư
Vũ Khiêu cho rằng: “Tính đa dạng văn hóa đã từ lâu trở thành điều kiện tồn tại và phát
triển không chỉ của văn hóa mà còn của bản thân dân tộc. Việt Nam có 54 dân tộc anh em
cùng chung sống, có những nét riêng biệt về ngôn ngữ, phong tục, tập quán, sinh hoạt vật
chất… Trải qua hàng nghìn năm chung sống với nhau, những dân tộc và tộc người anh em
ấy đã không đánh mất bản sắc văn hóa mà còn phát huy tính đa dạng của mình. Bản sắc và
tính đa dạng ấy không tạo nên ở họ một hàng rào khép kín; ngược lại luôn luôn tự coi mình
như những thành viên trong máu thịt của cộng đồng Việt Nam”. Và giáo sư Vũ Khiêu tiếp
tục khẳng định: “Riêng về mặt giao lưu văn hóa, dân tộc Việt Nam đã gặp gỡ trao đổi với
rất nhiều nền văn minh trong khu vực và trên thế giới, đã tiếp thu được rất nhiều nhân tố tích
cực từ nước ngoài và không hề bị đồng hóa. Ngược lại sự giao lưu ấy đã góp phần làm cho
tính đa dạng của văn hóa Việt Nam ngày càng phong phú và bền vững” [37, tr.8-9].
Còn TS.Đặng Văn Bài, Cục trưởng cục Di sản văn hóa Việt Nam phát biểu: “Bảo vệ sự đa
dạng văn hóa là tạo nội lực để giao lưu với các đoàn văn hóa khác, tiếp nhận một cách khoan
dung các giá trị văn hóa, sáng tạo nên các giá trị văn hóa mới làm phong phú vốn văn hóa
của mỗi quốc gia” [37, tr.8-9].
Việc trau dồi luyện tập, siêng năng học hỏi những tinh hoa nghệ thuật biểu diễn để
chất lượng biểu diễn nghệ thuật ngày càng tiến bộ, theo kịp bạn bè quốc tế là việc làm luôn
luôn cần thiết. Số lượng đoàn ra, đoàn vào nói lên sự tiến bộ về mặt cơ chế quản lý và chính
sách thu hút hải ngoại về Việt Nam. Nhưng về mặt chất lượng nghệ thuật cần có sự đầu tư
thỏa đáng đối với đoàn nghệ thuật của Việt Nam đi biểu diễn nước ngoài. Theo ông Phạm
Tiến Vân, Q.Vụ trưởng Vụ Văn hóa - Thông tin (Bộ ngoại giao) cho biết:
Hiện tại Việt Nam có 2,7 triệu Việt kiều sống và làm việc tại nước ngoài …
Trình độ thưởng thức nghệ thuật của kiều bào ở nước ngoài rất cao, họ thường
xuyên tiếp xúc với các chương trình nghệ thuật mang đẳng cấp quốc tế và bản
thân các nghệ sĩ Việt Nam ở hải ngoại cũng rất tài năng. Muốn vận động được
kiều bào ở hải ngoại hướng về tổ quốc, yêu văn hóa Việt, phải đem đến cho họ
những chương trình nghệ thuật tốt, chất lượng cao, thể hiện được cái hay, cái
đẹp của văn hóa Việt trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế [38, tr.11].
Như vậy, tăng cường giao lưu, hội nhập sẽ góp phần làm đa dạng nền văn hóa của mỗi
dân tộc. Và chính sự đa dạng ấy đã góp phần làm nên nền văn hóa của mỗi dân tộc nói riêng
và nền văn hóa thế giới nói chung ngày càng phong phú, đa dạng, đa sắc, đa hương. Nói
như tiến sĩ Phạm Quang Nghị -Bộ trưởng Bộ Văn hoá-Thông tin trong bài phát biểu tại Hội
nghị khu vực khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về “Đối thoại giữa các nền văn hóa và văn
minh vì hoà bình và phát triển bền vững”:
Càng tăng cường hội nhập và giao lưu, người ta càng phát hiện thấy nhiều
giá trị đặc sắc phong phú, muôn hình, muôn vẻ trong nền văn hóa của mỗi quốc
gia, dân tộc trên thế giới. Giao lưu hội nhập không chỉ không xoá mờ những giá
trị khác biệt mà càng làm cho nó trở nên nổi bật, đặc sắc và phong phú hơn. Đó
vừa là nhận thức mới, vừa là thực tiễn mới. Đối với văn hóa, không thể nói nền
văn hóa này là ưu tú, nền văn hóa kia là không có giá trị. Văn hóa nhân loại
giống như một bầu trời đầy sao, nếu chúng ta chăm chú ngắm nhìn thì vì sao nào
cũng lấp lánh [61, tr.3].
Giao lưu văn hóa nghệ thuật được mở rộng như hiện nay là cơ hội để chúng ta mở
rộng tầm nhìn và hấp thụ những gì phù hợp với đất nước đang trên đà đổi mới, trong bối
cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhưng giao lưu không phải chỉ tiếp nhận mà còn đóng
góp cái gì là đặc sắc của ta vào cái đa sắc, đa thanh, đa diện, làm phong phú lẫn nhau giữa
các nền văn hóa thế giới. Đặc điểm dân tộc trở thành bản sắc mỗi nền văn hóa chính là
chiếc cầu giao lưu, là tự ý thức bảo vệ tinh hoa văn hóa nhân loại. Qua giao lưu người ta
tìm thấy những giá trị phổ biến mang ý nghĩa chung, thông qua cái đặc thù của mỗi nền văn
hóa dân tộc hay khu vực.
Giao lưu văn hóa có trọng điểm, trước hết là ưu tiên với các nền văn hóa trong khu
vực, với các nước có nền văn hóa tiêu biểu và với những quốc gia có điểm trội về văn hóa dù
là phương Tây hay phương Đông. Giao lưu dưới nhiều hình thức đa dạng, theo hướng dân
tộc, hiện đại và nhân văn. Văn hóa Việt Nam vốn có truyền thống nhạy cảm và tiếp thu
nhanh, thích ứng và dung hòa nhuần nhị, bản địa hóa và bản sắc hóa mọi yếu tố ngoại lai.
Đó là bản lĩnh dân tộc, tạo nên sức mạnh tinh thần khiến cho Việt Nam chiến thắng mọi kẻ
thù hung hãn, mọi đế quốc hùng mạnh, chẳng những không bị đồng hóa mà còn biết tiếp thu
những yếu tố phù hợp để phát triển. Trong bối cảnh quốc tế đang diễn ra phức tạp hiện nay,
giao lưu văn hóa phải hướng tới khẳng định bản sắc và bản lĩnh dân tộc, nâng cao vị thế của
văn hóa Việt Nam trong cộng đồng quốc tế, chống xu hướng lai căng và vọng ngoại.
Xác định văn hóa là động lực phát triển của xã hội và nhịp cầu mở rộng hợp tác giữa
Việt Nam và các nước, mấy năm gần đây, chúng ta đã không ngừng tăng cường các hoạt
động giao lưu văn hóa-thông tin đối ngoại bằng nhiều cách, nhiều chiều, nhiều mức độ, với
nhiều nước nhằm giới thiệu đất nước, con người, công cuộc đổi mới và nền văn hóa Việt
Nam. Đáng chú ý “Tuần văn hóa Việt Nam” đã được tổ chức thành công ở nhiều quốc gia
như Thụy Điển, Canađa, Nhật Bản, Bangladesh; các cuộc liên hoan “Khuôn mặt Việt Nam
- khuôn mặt Pháp ngữ” ở Cộng hoà Pháp; Liên hoan hình ảnh Châu Á ở Đan Mạch; Liên
hoan ca nhạc quốc tế dân tộc mùa hè ở Hunggary; Liên hoan dân ca quốc tế ở Trung quốc;
Liên hoan nhà hát kịch thế giới ở Bắc Kinh; Liên hoan múa ASEAN ở Malaisia; Liên hoan
múa rối quốc tế ở Thổ Nhĩ Kỳ…và sự hiện diện của các nghệ sĩ Việt Nam ở nhiều cuộc thi
quốc tế về văn hóa nghệ thuật đã được nhiều bạn bè quốc tế công nhận là năng động, giàu
tính sáng tạo dân tộc và trình độ nghệ thuật cao.
Sự kết hợp các loại hình nghệ thuật để mở rộng giao lưu văn hóa đối ngoại đã tạo ra
nhiều mối quan hệ tốt đẹp, tạo tiền đề cho nhiều chương trình, dự án mới phát triển. Từ các
cuộc đi thăm, làm việc, tham dự các hội thảo, hội nghị quốc tế và khu vực, chúng ta đã
khẳng định thêm sự đóng góp của Việt Nam trong quá trình làm đa dạng hóa các hoạt động
văn hóa nghệ thuật trên thế giới, khẳng định chính sách đối ngoại muốn làm bạn với tất cả
các nước trên cơ sở tôn trọng, độc lập, chủ quyền, hữu nghị, cùng có lợi của Đảng và Nhà
nước ta. Trong năm 2003, chúng ta đã ký kết hơn chục văn bản thỏa thuận hợp tác về văn
hóa thông tin với các nước, nâng tổng số quan hệ hợp tác về văn hóa đối ngoại lên gần 80
quốc gia ở các châu lục khác nhau. Chính vì những cơ sở pháp lý đó, chúng ta được biết đến
những nền văn hóa mới, nhiều hoạt động giao lưu văn hóa quốc tế đã được triển khai ở khu
vực châu Âu, châu Á, châu Mỹ La tinh…
Như vậy, giao lưu văn hóa nói chung và giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn nói
riêng đã tạo điều kiện học hỏi, tìm hiểu về truyền thống và thành tựu văn hóa nghệ thuật của
các nước và các vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới, mở ra nhiều mối quan hệ tốt đẹp, tạo
tiền đề cho nhiều chương trình, dự án mới phát triển. Đồng thời qua đó, các văn nghệ sĩ Việt
Nam có dịp để thể hiện tài năng, năng lực sáng tạo và thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc
mình trên thế giới. Đưa những nét đặc sắc, đậm đà bản sắc của dân tộc Việt Nam giới thiệu
với các nước, tạo cơ hội gần gũi, rút ngắn khoảng cách của Việt Nam với khu vực và thế
giới, góp phần làm đa dạng, phong phú hơn cho nền văn hóa nghệ thuật của Việt Nam và
bạn bè quốc tế.
Ngoài vai trò đối ngoại, giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn còn đóng vai trò hết sức
quan trọng và cần thiết trong việc giới thiệu, quảng bá và giáo dục, nâng cao thị hiếu thẩm
mỹ nghệ thuật cho nhân dân, đưa cái đẹp vào trong đời sống xã hội. Trong Bản thảo Kinh tế
-Triết học năm 1844 Mác đã chỉ ra rằng, dấu hiệu cơ bản để phân biệt hoạt động của con
vật với hoạt động của con người là ở chỗ con người biết nhào nặn hiện thực theo quy luật
cái đẹp. Trong lịch sử phát triển của con người, cái đẹp là khát vọng, là khả năng vươn tới,
khả năng làm chủ của con người. Và ở bất cứ lĩnh vực nào, con người cũng có khát vọng
vươn tới cái đẹp. Có thể nói, cái đẹp giữ vị trí trung tâm điều tiết cuộc sống, nó là nhu cầu
sống, nó đã “cứu rỗi” nhân loại thoát khỏi cái xấu. Không có nó thì không có văn hóa, hạnh
phúc, ước mơ. Vì thế, trong nghệ thuật, cái đẹp là linh hồn của nghệ thuật. Vì cái đẹp mà
nghệ thuật mới tồn tại. Không có cái đẹp thì nghệ thuật không có công chúng. Công chúng
đến với nghệ thuật để nghệ thuật mách bảo con đường chiếm lĩnh cái đẹp. Cảm xúc thẩm
mỹ, tức khả năng biết rung động trước cái đẹp, ở một mức độ nào đó, tạo nên phẩm chất đạo
đức của con người. Mácxim Goócki đã có lý khi nói rằng: Mỹ học là đạo đức học của tương
lai. Điều này, nhà tư tưởng lớn Biêlinxki của nước Nga thế kỷ XIX đã nói rõ:
Cảm xúc của cái đẹp là một điều kiện làm nên phẩm giá của con người.
Phải có nó con người mới có được trí tuệ, phải có nó, nhà bác học mới cất mình
lên bởi những tư tưởng tầm cỡ thế giới, mới hiểu được phẩm chất và các hiện
tượng trong tính thống nhất của chúng…. Phải có nó người ta mới có thể không
qụy ngã dưới sức nặng trĩu của cuộc đời và làm nên những chiến công…. Thiếu
nó, thiếu đi cái cảm xúc ấy thì không có thiên tài, không có tài năng, không có trí
thông minh mà chỉ còn lại cái thứ đầu óc tỉnh táo một cách ti tiện cần thiết cho
sinh hoạt thường ngày trong nhà, cho những tính toán nhỏ nhen ích kỷ [63, tr.9].
Văn hóa nghệ thuật biễu diễn là một bộ phận nhạy cảm của văn hóa nghệ thuật, là
thành tố trọng yếu của văn hóa thẩm mỹ. Văn hóa nghệ thuật biểu diễn giữ vai trò hết sức to
lớn trong việc giáo dục thẩm mỹ, hình thành nhân cách của con người. Văn hóa nghệ thuật
biểu diễn giúp cho con người biết rung động sâu sắc về tình cảm, trước những sự kiện,
những con người, những biến cố của lịch sử xã hội và tự nhiên; trước những điều lành và tội
ác, hèn hạ và cao cả, vui sướng và đau khổ, đẹp đẽ và xấu xa…Con người được trải nghiệm
qua những phút giây vui, buồn, sung sướng, lo âu, đau khổ, căm giận, ngưỡng mộ, yêu
thương... Những tác phẩm văn hóa nghệ thuật biểu diễn chân chính sẽ thức tỉnh lòng người,
sẽ làm cho cuộc sống có ý nghĩa hơn, sẽ giúp cho chúng ta ngày một tiến lên, hướng về phía
tuyệt mỹ chứ không phải lui dần vào chỗ tầm thường, thô thiển, nông cạn. Chính vì thế, giao
lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn sẽ giúp cho mọi người dân trên đất nước Việt Nam nói
riêng và trên thế giới nói chung được thưởng thức cái hay, cái đẹp, cái tinh túy của mỗi dân
tộc để từ đó đời sống tinh thần của con người ngày càng phong phú, đa dạng hơn.
Mở rộng giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn giúp cho đội ngũ văn nghệ sĩ, từ nghệ
sĩ sáng tác đến nghệ sĩ biễu diễn có điều kiện để trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp, học tập
và nâng cao nhận thức, mở rộng tầm nhìn để tiếp nhận những tinh hoa của nghệ thuật thế
giới, góp phần nâng cao trình độ nghệ thuật biểu diễn của dân tộc. Những cuộc tiếp xúc
trong giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn chính là cơ hội để những nhà chuyên môn đánh
giá nghiêm túc về thành tựu của bạn bè quốc tế, biết rõ được những mặt mạnh và yếu của
nghệ thuật biểu diễn dân tộc để phát huy và khắc phục.
Gần đây, các nhà nghiên cứu đề cập nhiều đến nhu cầu giải trí của văn hóa nghệ
thuật. Từ năm 1969, trong “Tủ sách Đại học sư phạm”do Nhà xuất bản giáo dục xuất bản
đã mở đầu như sau:
Kinh nghiệm bản thân mỗi người cho thấy rằng sau khi đã làm một việc mệt
nhọc, ta không muốn cầm đọc một cuốn sách giáo khoa chính trị kinh tế học, mà
muốn dự một cuộc hòa nhạc, xem một phòng triển lãm hội họa, hoặc có thể cầm
ngay lấy cuốn tiểu thuyết đọc liền không nghỉ. Có gì kỳ lạ hấp dẫn chúng ta trong
những tác phẩm nghệ thuật ấy? [23, tr.592].
Cách đặt vấn đề như vậy đã đề cập đến vấn đề nhu cầu giải trí của công chúng. Chúng
ta không thể không thừa nhận giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn giữ vị trí cần thiết trong
việc thỏa mãn nhu cầu giải trí. Nhất là trong đời sống hiện nay, con người chủ yếu là lao
động trí óc, căng thẳng, dồn nén, sức ép dễ chứng stress. Xã hội càng hiện đại, nhu cầu giải
trí càng trở nên phong phú, sinh động hơn, càng trở thành một nhu cầu to lớn và cấp thiết.
Thực chất, giải trí là một hình thức thay đổi tính chất lao động của con người nhằm giải tỏa
những mệt mỏi, ức chế và phục hồi sức khỏe, đưa cơ thể trở lại trạng thái mạnh khỏe toàn
diện cả về thể lực lẫn tinh thần. Giải trí cũng chính là cách nghỉ ngơi tích cực tác động chủ
yếu vào tinh thần của con người. Giải trí cũng chính là yêu cầu điều kiện để con người hiện
đại sử dụng thời gian rỗi một cách có hiệu quả.
Trong điều kiện mở cửa, đẩy mạnh giao lưu và hợp tác quốc tế, các hoạt động giao lưu
văn hóa nghệ thuật biểu diễn sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu tinh thần ngày càng cao của xã
hội, tạo nên các sinh hoạt văn hóa đa dạng, phong phú, nhất là của thanh thiếu niên. Đồng
thời nó góp phần vào củng cố và tăng cường tình hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc, làm
động lực thúc đẩy văn hóa nghệ thuật nói chung, văn hóa nghệ thuật biểu diễn nói riêng của
đất nước ta phát triển. Vì vậy, quan tâm và tạo điều kiện để giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu
diễn phát triển là một trong những nhiệm vụ bức thiết đặt ra để xây dựng nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Nhân loại đang bước sang thiên niên kỷ thứ 3, xu thế giao lưu, hội nhập, toàn cầu hoá
kinh tế đang diễn ra sôi động trên toàn thế giới. Hòa chung vào dòng chảy nhân loại, Việt
Nam đã và đang từng bước đi lên trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hóa, mở rộng
hợp tác quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ của nhân dân thế giới, kết hợp sức
mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại, ra sức thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội. Trên
con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, Đảng và nhân dân ta luôn xác định, kinh tế là trung
tâm, “văn hóa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển
kinh tế xã hội”. Văn hóa muốn thực hiện thành công nhiệm vụ của mình thì không thể không
giao lưu, tiếp biến với các nền văn hóa khác trên thế giới. Chính vì thế, đẩy mạnh giao lưu
văn hóa nói chung và giao lưu văn hóa nghệ thuật nói riêng với các nước trên thế giới luôn luôn
là một nhiệm vụ quan trọng, nhiệm vụ thiết yếu, nhất là trong giai đoạn hiện nay.
Văn kiện Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã nhấn mạnh:
“Làm tốt việc giới thiệu văn hóa, đất nước và con người Việt Nam với thế giới; tiếp thụ có chọn lọc
các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, phổ biến những kinh nghiệm tốt xây dựng và
phát triển văn hóa của các nước. Ngăn ngừa sự xâm nhập các sản phẩm văn hóa phản động, đồi
trụy” [24, tr.67].
Có thể nói, giao lưu văn hóa là một kênh thông tin chủ đạo nhằm giới thiệu hình ảnh,
đất nước, con người Việt Nam với bạn bè các nước trên thế giới. Nó giúp cho thế giới hiểu
chúng ta hơn, tăng cường sự hợp tác, tranh thủ thêm nhiều nguồn lực và kinh nghiệm trong
việc xây dựng xã hội mới. Qua giao lưu, nền văn hóa nghệ thuật phong phú, đa dạng, độc
đáo và đậm đà bản sắc dân tộc của chúng ta được bạn bè khắp năm châu biết đến. Từ đó,
tạo cho Việt Nam có một vị thế trên trường quốc tế. Đồng thời, thông qua giao lưu, chúng ta
có thể tiếp thu những giá trị văn hóa tốt đẹp từ ngoài vào, làm phong phú thêm đời sống tinh
thần của dân tộc, tạo điều kiện phát triển văn hóa dân tộc và ngăn chặn những ảnh hưởng
tiêu cực của những biểu hiện phản văn hóa, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, những
nét hay, nét đẹp của văn hóa nước nhà.
Giáo sư Đinh Gia Khánh trong cuốn “Mấy vấn đề văn hóa và phát triển ở Việt Nam
hiện nay” đã nhận xét rất đúng:
Một nền văn hóa khép kín và co lại trong một môi trường hạn hẹp thì sớm
hay muộn sẽ khô cằn rồi chết cứng. Một nền văn hóa cởi mở, tức là vận động
trong một môi trường ngày càng rộng hơn thì mới dồi dào sinh khí. Môi trường
tự nhiên, môi trường xã hội trong sự vận động tương tác với nhau quy định tính
chất của tiến trình văn hóa cũng như nội dung của văn hóa [29, tr.25-26].
Giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn là một trong những hoạt động có ý nghĩa to lớn
để thúc đẩy văn hóa nói chung, văn hóa nghệ thuật biểu diễn nói riêng phát triển. Trong quá
trình xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc đẩy mạnh
giao lưu văn hóa nghệ thuật một cách đúng hướng sẽ góp phần to lớn vào việc khẳng định bản
sắc và bản lĩnh dân tộc, đồng thời là cơ hội và điều kiện để chúng ta đổi mới và nâng cao tính
hiện đại và tính quốc tế của văn hóa nghệ thuật biểu diễn Việt Nam, đóng góp vào sự đa dạng và
thống nhất của nền văn hóa nghệ thuật biểu diễn thế giới.


Chương 2
THỰC TRẠNG GIAO LƯU VĂN HÓA NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI GIAN QUA


Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ, đất rộng, người đông. Tính đến nay,
với diện tích 2.390,3km2 và khoảng 6 triệu dân, Thành phố Hồ Chí Minh được xếp là
thành phố lớn nhất nước ta.
Ngay từ buổi sơ khai, Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh đã là địa bàn chiến lược
quan trọng nhất của khu vực phía Nam. Và cũng từ rất sớm, Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí
Minh đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả vùng Nam Trung Bộ và
Nam Bộ, là cửa ngõ đầu mối giao lưu quốc tế. Với vị trí địa lý, hướng Đông có cảng
quốc tế từ cửa biển Cần Giờ vào sông Sài Gòn, hướng Tây giáp biên giới với Cam Phu
Chia, có sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, là một trung tâm về giao dịch qua mạng (cửa
ngõ Intenét), Thành phố Hồ Chí Minh vô cùng thuận lợi trong việc giao l ưu, hội nhập về
mọi lĩnh vực với bạn bè quốc tế.
Từ thế kỷ XX, Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh đã được xem là một trong các tiêu
điểm điển hình của sự hội nhập và phát triển văn hóa - văn minh của dân tộc. Lịch sử
hơn 300 năm hình thành và phát triển của Nam Bộ nói chung và Sài Gòn nói riêng là
công trình văn hóa sáng tạo tuyệt mỹ của con người phương Nam, góp phần không nhỏ
vào kho tàng văn hóa dân tộc. Đời sống văn hóa nghệ thuật từ khi hình thành, phát triển
ở Thành phố Hồ Chí Minh không giống như các địa bàn khác trên cả nước, nó mang đặc
trưng riêng bởi lịch sử phát triển của vùng đất này. Nói về đặc điểm riêng của Sài Gòn -
Thành phố Hồ Chí Minh, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng đã có một nhận xét xác đáng, có
cơ sở khoa học và thực tiễn sâu sắc rằng:
Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh đương nhiên không thể so sánh được
với cái nôi của cả nước là Hà Nội- Thăng Long nằm trong lưu vực sông Hồng,
Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh cũng không thể so độ dày lịch sử với Huế.
Nhưng Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố đặc biệt. Chỉ với
300 năm mở cõi, thành phố đó đã trở thành một trung tâm kinh tế lớn nhất nước,
đồng thời cũng là trung tâm đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đời sống xã
hội, luôn có mặt trên tiền tuyến... [26, tr.25].

2.1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN GIAO LƯU VĂN HÓA NGHỆ
THUẬT BIỂU DIỄN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

2.1.1. Đặc điểm lịch sử - văn hóa của Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh

Khi nghiên cứu lịch sử văn hóa Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, các nhà khoa
học đều có chung nhận xét: Lịch sử văn hóa Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh tự nó đã
mang sẵn những phẩm chất của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam cộng với tinh
thần cách mạnh trong quá trình đấu tranh liên tục với các loại kẻ thù để tồn tại và chiến
thắng; tự nó đã hình thành những con người năng động, sáng tạo giàu ý thức cộng đồng
dân tộc được hình thành trong quá trình để chiến đấu và xây dựng Thành phố; tự nó đã
hình thành nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc được tiếp sức thêm bởi chủ nghĩa
Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Lịch sử văn hóa Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh tự nó đã có sức mạnh bắt nguồn từ cái
đà vươn lên không ngừng của dân tộc, được hun đúc từ nhiều nghìn năm trong lịch sử dân
tộc và được tôi luyện trong quá trình đấu tranh với các loại kẻ thù từ trong xã hội phong
kiến cho đến khi phải đương đầu với chủ nghĩa thực dân [10, tr.33-34].
Song, sẽ không thấy hết đặc điểm và tính chất của quá trình phát triển văn hóa Sài
Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, nếu không thấy hết sự tiếp xúc, giao lưu, hội tụ những
giá trị văn hóa phương Đông và chịu ảnh hưởng sớm nhất văn hóa phương Tây ở một
thành phố cửa ngõ phía Nam tổ quốc. Có thể nói, văn hóa Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí
Minh có được như hôm nay là kết quả tích cực của sự giao lưu, tiếp biến và hội tụ những
giá trị tinh hoa nhiều nền văn hóa khác nhau ở các dân tộc phương Đông và phương
Tây, nhất là văn hóa Trung Hoa, văn hóa Pháp và Mỹ. Là cửa ngõ phía Nam của tổ
quốc, có điều kiện tiếp xúc sớm và nhiều với văn hóa phương Tây, Sài Gòn - Thành phố
Hồ Chí Minh là nơi chịu ảnh hưởng sâu sắc nền văn hóa - văn minh phương Tây. Chúng
ta đều biết, văn hóa phương Tây vào Việt Nam với những mục đích khác nhau, trong đó
có mục đích áp đặt văn hóa nô dịch của thực dân. Trong thời kỳ bị thực dân Pháp rồi đế
quốc Mỹ chiếm đóng, văn hóa phương Tây (Pháp, Mỹ) có mang những thứ tư tưởng tệ
hại, xa lạ đã theo gót giày thực dân có mặt trước tiên ở Sài Gòn. Đó là một hiện hữu
không thể phủ nhận của lịch sử văn hóa Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh thế kỷ XX.
Nhưng, điều quan trọng là trong quá trình tiếp xúc, giao lưu đó, văn hóa Sài Gòn -
Thành phố Hồ Chí Minh không bị hòa tan, đồng hóa mà nó vẫn giữ được bản sắc, bản
lĩnh văn hóa Việt Nam, tiếp thu, hội tụ được những giá trị tinh hoa của văn hóa - văn
minh phương Tây để tồn tại và phát triển cùng với cả dân tộc vươn tới thế giới văn minh.
Sức mạnh của văn hóa nghệ thuật Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh có được như hôm
nay là sức mạnh của các giá trị truyền thống văn hóa phương Đông, đồng thời nó được
tiếp thêm các giá trị văn hóa của phương Tây, bằng nhiều con đường khác nhau trong đó
có con đường do chính kẻ thù tạo ra. Ý đồ của mọi kẻ thù khi đưa văn hóa vào Việt Nam
nói chung và vào Sài Gòn nói riêng đều muốn dùng nó để đồng hóa làm mất gốc văn hóa
dân tộc ta, làm cho người Việt Nam không còn nhớ cội nguồn của mình. Thứ văn hóa mà
chúng đưa vào nhằm làm nô dịch, làm biến đổi tâm hồn, phẩm chất con người Việt Nam.
Chúng tìm mọi cách để đưa thứ văn hóa độc hại vào trong nhà trường, trong công
xưởng, đào tạo những người làm thuê, những thông ngôn, thư ký…đều nhằm mục đích
phục vụ cho nền thống trị của chúng. Nhưng, với bản lĩnh kiên cường, với tinh thần
phóng khoáng, năng động, sáng tạo vốn có của con người Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí
Minh, ý đồ đen tối của kẻ thù đã không thể thực hiện được. Ngược lại, nhân dân Sài Gòn
- Thành phố Hồ Chí Minh đã biết gạn đục, khơi trong tìm ra được những cái hay, cái
đẹp, cái tiến bộ của văn hóa phương Tây mà tiếp thu, biến cải để trở thành vốn văn hóa
của dân tộc. Tất nhiên, đây không phải là đặc điểm riêng của con người Sài Gòn - Thành
phố Hồ Chí Minh, nhưng với con người ở đây, nó được biểu hiện tập trung hơn, dễ thấy
hơn, phổ biến hơn. Có lẽ, điều này có ảnh hưởng một phần bởi đặc trưng phẩm chất: tinh
thần nghĩa hiệp, phong cách phóng khoáng, ý thức nhân ái, khoan dung của người dân
Sài Gòn - Gia Định. Chính nhờ phong cách phóng khoáng trong cách nghĩ, tinh thần hợp
tác, đoàn kết, biết nhìn xa thấy rộng, dám nghĩ, dám làm, dám vươn tới phía trước chấp
nhận cái giá phải trả để nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu mà
đến hôm nay, Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành một thành phố phát triển
mạnh cả về văn hóa lẫn kinh tế. Nhờ tiếp xúc với văn hóa phương Tây, Việt Nam nói
chung và Sài Gòn nói riêng đã tạo ra tầng lớp trí thức mới mang tư tưởng hoài bão mới,
nhờ đó họ tìm đến văn hóa tiến bộ, mà chủ nghĩa Mác-Lênin là đỉnh cao của nền văn hóa
ấy. Là cửa ngõ giao lưu với văn hóa phương Tây đầu tiên, Sài Gòn đã chịu ảnh hưởng
sâu sắc văn hóa phương Tây trên nhiều phương diện, cả mặt tiến bộ và lạc hậu, nh ưng
cuối cùng nó vẫn giữ lại được những gì tiến bộ nhất, phù hợp với thời đại văn minh công
nghiệp.
Nhờ tiếp xúc với văn hóa phương Tây, Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh đã nhanh
chóng phát triển, đổi mới theo hướng tiếp cận với khoa học công nghệ tiên tiến, sớm
thích nghi với tư duy lý luận và nền văn minh công nghiệp hiện đại. Đó là mặt tích cực.
Nhưng không phải mặt tích cực ấy phát triển tự nhiên, thuận chiều mà không gặp bất cứ
trở ngại nào. Một cuộc đấu tranh mới không chỉ giữa giá trị văn hóa truyền thống với
các hệ tư tưởng cổ hủ, phong kiến mà với cả tư tưởng tư sản và các loại văn hóa đồi trụy,
lai căng, mất gốc, để hình thành những giá trị văn hóa mới, những nhân cách văn hóa
phù hợp với thời đại cách mạng vô sản. Nếu trong văn hóa truyền thống ở Sài Gòn đã
hình thành những nhân cách văn hóa có sự phóng khoáng trong sinh hoạt và giao tiếp,
sự cởi mở trong giao lưu, tiếp nhận cái mới, thì khi tiếp xúc với văn hóa phương Tây, nó
được chuyển hóa nhanh chóng thành tinh thần dân chủ, phong cách sáng tạo cái mới và
tư duy tôn trọng thực tế. Nhờ thế, tính dân tộc của văn hóa đã hiện đại hóa, con người
phát triển theo hướng hiện đại, văn minh theo đà phát triển của cách mạng khoa học và
công nghệ trên thế giới, theo đà phát triển kinh tế thị trường có xu hướng toàn cầu hóa
và tri thức hóa. Những ưu thế đó đã tạo cho con người Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí
Minh với bản chất vốn có của mình càng thêm phóng khoáng, năng động trong tư duy, dễ
tránh được những gì bảo thủ, gò bó, ngăn cản bước tiến của xã hội. Đó chính là những
nét văn hóa đáng quý của thời đại công nghiệp mà chúng ta đang hướng tới trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nói tóm lại, từ những đặc điểm lịch sử văn hóa của một thành phố phải đương đầu
lâu dài với chủ nghĩa thực dân, đế quốc, đến việc sớm tiếp cận và chịu ảnh hưởng sâu
sắc văn hóa, văn minh phương Tây, Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ biết giữ
gìn và phát huy một cách xuất sắc truyền thống chủ nghĩa yêu nước Việt Nam mà còn góp
phần quan trọng đưa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam lên một tầm cao mới xứng đáng với thời
đại cách mạng vô sản, đồng thời tạo cho con người thành phố những phẩm chất tiêu biểu,
thể hiện sức mạnh văn hóa Việt Nam. Từ những giá trị văn hóa tiêu biểu đó, Sài Gòn -
Thành phố Hồ Chí Minh đang đóng góp lớn cho cả nước trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
2.1.2. Xu thế toàn cầu hóa

Thế giới vận động theo quy luật khách quan và chịu sự tác động của những xu
hướng biến động chung trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Xu thế toàn cầu hóa,
khu vực hóa, xu thế hòa bình ổn định và phát triển, xu thế đấu tranh cho độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội là những xu thế chủ yếu trong giai đoạn hiện nay. Ngày nay,
khái niệm “toàn cầu hóa” được áp dụng trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh
tế, văn hóa, khoa học công nghệ đến quan hệ quốc tế. Khái niệm “toàn cầu hóa”cho thấy
một cách khái quát sự tiến triển của một hiện tượng toàn cầu chung và sự nhận thức của
con người về quá trình đó. Vậy toàn cầu hóa là gì? Định nghĩa về toàn cầu hóa cũng
giống như định nghĩa về văn hóa vậy; hiện nay có hàng trăm định nghĩa khác nhau, khó
mà đưa ra một định nghĩa cụ thể nào. Xét về phương diện văn hóa, chúng ta có thể đồng
ý với ý kiến sau:
Toàn cầu hóa là quá trình đấu tranh để xác lập những giá trị và chuẩn
mực trên phạm vi toàn cầu. Đây cũng là quá trình đấu tranh để tự khẳng định
các giá trị đặc thù của các nền văn hóa dân tộc. Quá trình toàn cầu hóa vừa
là quá trình phổ biến những giá trị chung trên phạm vi toàn cầu mang tính
nhất thể hóa, vừa là quá trình đa dạng hóa, quá trình tự khẳng định bản lĩnh
và bản sắc của các nền văn hóa [48, tr.89].
Toàn cầu hóa đã và đang tạo nên hai vấn đề mâu thuẫn. Một mặt, sự bùng nổ của
công nghệ thông tin, sự hợp tác kinh tế quốc tế, sự trao đổi văn hóa và du lịch đã thúc
đẩy các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau hơn, mở mang sự hiểu biết lẫn nhau về các
phương diện văn hóa và tri thức. Ngoài việc tiếp thu những giá trị văn hóa của dân tộc
khác, mỗi dân tộc có điều kiện suy ngẫm nhiều hơn về các giá trị của văn hóa dân tộc
mình. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi cuộc đấu tranh về ý thức hệ vẫn diễn ra một
cách gay gắt, khi một số cường quốc kinh tế và kỹ thuật đang muốn lợi dụng sức mạnh
của mình để áp đặt lối sống, tư tưởng của mình sang các nước khác, thì ý thức về dân tộc
và văn hóa dân tộc của các quốc gia cần phải được nâng cao. Mặt khác, bên cạnh đó là
tác động có sức mạnh ghê gớm về nguy cơ san bằng và đồng nhất hóa các chuẩn mực,
các hệ thống giá trị, đe doạ làm suy kiệt khả năng sáng tạo của các nền văn hóa - nhân
tố hết sức quan trọng đối với sự tồn tại lâu dài của toàn nhân loại. Hàng loạt văn hóa
phẩm mang tính độc hại đang được tung vào mọi quốc gia. Làm thế nào để trong quá
trình phương Tây hóa mạnh mẽ như hiện nay, chúng ta vẫn tiếp thu được nhiều tinh hoa
của nước ngoài cho chính mình mà không bị đồng nhất, hòa tan các hệ thống giá trị? Đó
là câu hỏi đặt ra cho mỗi người dân Việt Nam trong thời đại ngày nay. Nhân dân Việt
Nam nhận thức sâu sắc rằng, toàn cầu hóa là cơ hội lớn để văn hóa Việt Nam học hỏi và
phát huy các giá trị của mình. Việt Nam nhất thiết phải mở cửa, phải hội nhập để đón
những giá trị mới của nhân loại. Đó là lẽ sống còn của dân tộc. Nhưng mở cửa hội nhập
để phát triển, chứ không phải trở thành bóng mờ của nền văn hóa khác.
Có thể nêu ra một số thời cơ và thách thức lớn của xu thế toàn cầu hóa đối với nền
văn hóa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay như sau:
Về phương diện thời cơ: Chúng ta có điều kiện để được tiếp xúc, giao lưu với nhiều
nền văn hóa, văn minh nhân loại; trong đó có những quan hệ truyền thống và các quan
hệ khác được thiết lập. Chúng ta có nhiều thời cơ, điều kiện để tiếp thu một cách có chọn
lọc những tinh hoa của văn hóa, văn minh thế giới, làm phong phú thêm cho văn hóa Việt
Nam trên cơ sở giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Tranh thủ, tận dụng những thành tựu
của văn hóa, văn minh nhân loại để rút ngắn bước đi của chúng ta, rút ngắn khoảng
cách khá xa về mọi mặt với thế giới; tạo đà cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
Về phương diện thách thức: Đó là, toàn cầu hóa dẫn đến nguy cơ làm mất bản sắc
văn hóa dân tộc, coi thường văn hóa dân tộc, làm đứt gẫy truyền thống văn hóa dân tộc.
Toàn cầu hóa còn gây áp lực rất lớn đối với các nước đang phát triển. Đó là, chủ nghĩa
đế quốc trong văn hóa và âm mưu thực hiện “diễn biến hoà bình” để xóa bỏ định hướng
xã hội chủ nghĩa, gây mất ổn định về chính trị, tạo sự rối loạn trong văn hóa của các thế
lực phản động quốc tế. Những tiêu cực xã hội, những hoạt động phản văn hóa cũng có
khả năng lây nhiễm toàn cầu như ma tuý, cờ bạc, tham nhũng, hối lộ, maphia, xã hội
đen…
Những thời cơ và thách thức mới đặt ra đối với nền văn hóa trong xu thế toàn cầu
hóa cho thấy rằng chúng ta không thể đứng ngoài xu thế ấy. Chúng ta đón nhận những
thời cơ thuận lợi và cả những thách thức đặt ra đối với nền văn hóa nước nhà. Vấn đề là ở
chỗ, chúng ta phải có một “cơ thể khoẻ mạnh” để thắng mọi sự lây nhiễm của vi rút và bệnh
tật từ bên ngoài.
Là một thành phố công nghiệp trẻ, đạc biệt với vị trí đầu mối giao lưu quốc tế của
cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh đã tranh thủ được nhiều thời cơ và cũng gặp không ít
trở ngại trong quá trình toàn cầu hóa hiện nay. Trước hết, thử thách mà Thành phố Hồ
Chí Minh cần vượt qua chính là ở bản thân mình. Trước những tác động của kinh tế thị
trường, xu thế “thương mại hóa” trong văn hóa nghệ thuật diễn ra tràn lan. Cho nên, đòi
hỏi văn hóa nghệ thuật phải có bản lĩnh vững vàng trước mọi cám dỗ. Thử thách thứ hai
là phải đối mặt với nguy cơ bị hòa tan trước nhiều làn sóng văn hóa khác nhau trên thế
giới. Hiện nay có rất nhiều kênh để đến với người thưởng thức văn hóa nghệ thuật, có
những kênh thông tin nằm trong tầm quản lý, nhưng cũng có những kênh thông tin nằm
ngoài tầm kiểm soát. Vì thế, nhiều làn sóng văn hóa có thể tràn vào Việt Nam nói chung
và Thành phố Hồ Chí Minh một cách dễ dàng. Là một trong hai trung tâm kinh tế, văn
hóa - xã hội lớn nhất nước, Thành phố Hồ Chí Minh từ xưa đã là địa chỉ trọng tâm để
các lực lượng phản động tấn công vào. Ngày nay, với cơ chế mở, Việt Nam muốn làm
bạn với tất cả các nước trên thế giới, các lực lượng phản động lại càng có cơ hội để tìm
mọi cách tấn công. Ngoài ra, những tư tưởng cá nhân cực đoan, lối sống thực dụng, gấp
gáp, kích động bạo lực, tuyệt đối hóa đồng tiền…được ẩn trong những văn hóa phẩm độc
hại đã trở thành mối lo của toàn xã hội.
Rõ ràng, nhiệm vụ “Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp
thêm nền văn hóa Việt Nam, đấu tranh chống sự xâm nhập của các văn hóa độc hại, những
khuynh hướng sùng ngoại, lai căng, mất gốc” mà Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX đã đề ra cho
nền văn hóa nước nhà là một nhiệm vụ khó khăn và phức tạp. Chúng ta cần phải có những
phương hướng và giải pháp thích hợp trong việc thực hiện những nhiệm vụ này.
2.1.3. Về khoa học - công nghệ
Ngày nay, khoa học và công nghệ đã xâm nhập vào tất cả các ngõ ngách của đời
sống xã hội. Chúng ta không thể phủ nhận vai trò cực kỳ to lớn của nó đối với sự phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhưng sự phát triển khoa học công nghệ cũng có hai mặt
của nó: tác động tích cực và tác động tiêu cực. Chỉ tính riêng khía cạnh truyền thông đại
chúng, chúng ta cũng đủ thấy được điều này. Ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, truyền
thông đại chúng đã trở thành một bộ phận quan trọng của đời sống văn hóa xã hội toàn
thành phố. Nó đã trở thành một nhu cầu thiết yếu trong đời sống cá nhân và tất cả các
tầng lớp trong xã hội. Nó trở thành một phương thức sinh hoạt tinh thần phong phú của
người dân. Người dân Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay được phục vụ bởi một hệ thống
truyền thông khổng lồ, nếu chỉ tính bằng con đường chính thức, đã có thể thống kê được:
-Về kênh truyền hình tiếng Việt: tại Thành phố, người dân đã có thể sử dụng cùng
một lúc 10 kênh của VTV, HTV, ĐN, BD, TTV.
-Nếu dùng thêm cáp truyền hình thêm 8 kênh nữa.
-Nếu dùng anten parabol: 30 kênh
Theo số liệu điều tra xã hội học của Trung tâm nghiên cứu văn học -Viện khoa học
xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh trong Báo cáo tổng hợp các kết quả điều tra xã hội
học phục vụ cho đề tài khoa học: Một số vấn đề văn hóa cơ bản của Thành phố Hồ Chí
Minh trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (Năm 2000): Khi được hỏi bạn sử
dụng thời gian rỗi để làm gì? Có: 73% trả lời là để xem tivi, video. Và khi được hỏi, Nền
văn hóa hiện đại bị chi phối bởi các yếu tố nào thì kết qủa cho thấy như sau:
-Sự phát triển khoa học kỹ thuật, phương tiện nghe nhìn, thông tin: 54% (lứa tuổi từ
20-25 tuổi), 57% (từ 35-45 tuổi), 59% (từ 45 tuổi trở lên)
Như vậy, rõ ràng truyền thông đại chúng đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn
hóa nghệ thuật của người dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Khi nói về tác động của công nghệ thông tin đối với văn hóa nghệ thuật, chúng ta
không thể không nhắc đến một sản phẩm của công nghệ thông tin phục vụ cho nghe nhìn
hoàn hảo nhất và càng ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam, nhất là ở Thành phố Hồ
Chí Minh trong thời đại hiện nay, đó chính là: mạng Internet. Thế giới ngày nay có đến
400 triệu người truy cập Internet (Châu Phi 2,5 triệu; Bắc Mỹ 140 triệu; Châu Âu 90
triệu; Châu Á 100 triệu...) Ở Việt Nam từ năm 2002 đã có khoảng 175.000 số thuê bao.
Để truy cập vào Internet, người Việt Nam có thể qua các cổng
ISP:FPT,NETNAM,CINET,VITRANET,PHƯƠNGNAMNET. Thông tin có thể tìm thấy tức thì
qua các website thông qua âm thanh, hình ảnh (động và tĩnh). Chỉ tính riêng tại Thành phố Hồ
Chí Minh, từ các chủ thể ISP, ICP đã có 13 cổng vào Internet chủ yếu như: CINET,
SAIGONNET, PHƯƠNGNAMNET, FPT, VNN, NETNAM…với tổng cộng gần 70.000 thuê
bao, trong đó có những thuê bao dịch vụ (số thuê bao này có sức lan tỏa rộng lớn, đặc biệt
là trong thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên). Chỉ tính riêng trên địa bàn Quận 1 đã có
đến hơn 300 cửa hàng dịch vụ. Cùng với hơn 2500 cửa hàng cho thuê băng video, trên
100 ăngten parabol cho phép chuyển tải thông tin và hình ảnh trực tiếp từ vệ tinh các
nước vềThành phố … Tất cả phương tiện kỹ thuật phong phú và hiện đại ấy luôn luôn là
con dao hai lưỡi: nó giải quyết nhanh nhạy các nhu cầu về thông tin trong n ước vô cùng
cần thiết cho hội nhập, cho làm ăn buôn bán và giao lưu với bên ngoài …, nếu không có
nó đất nước sẽ tụt hậu. Nhưng mặt khác, lợi dụng các phương tiện truyền thông này và
với những ý đồ đen tối, các thế lực phản động đã chuyển tải những nội dung văn hóa độc
hại vào mọi tầng lớp nhân dân.
Cùng với Internet, phát thanh, truyền hình và các sản phẩm nghe nhìn khác đang
hàng ngày, hàng giờ tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của nhân dân thành phố.
Có thể nói, đó là một sức mạnh vô hình khổng lồ đang tác động vào việc hình thành nhân
cách, đạo đức, lối sống, ứng xử, cảm thụ …của nhân dân. Truyền thông đại chúng có
chức năng quan trọng là điều chỉnh các quan hệ xã hội, có chức năng giáo dục, hướng
cho con người noi theo. Truyền thông đại chúng là phương thức để xã hội tiếp nhận vốn
văn hóa của các cá nhân, đồng thời là phương thức để xã hội kế thừa văn hóa thế hệ
trước và lưu truyền văn hóa cho thế hệ sau.
Ngày nay, văn hóa nghệ thuật và đặc biệt là văn hóa nghệ thuật biểu diễn đã được
công nghệ kỹ thuật hiện đại hỗ trợ rất nhiều. Chỉ tính riêng những công nghệ chuyên
phục vụ cái nghe, cái nhìn cũng đủ thấy điều đó. Ví dụ: những công nghệ chuyên phục vụ
cái nghe ra đời từ mono chuyển sang stéréo (âm thanh nổi), rồi đến turbo (âm thanh
nén), âm thanh xoay chiều, âm thanh lan truyền (sản phẩm độc quyền của hãng âm thanh
Bóe của Mỹ: càng có vật cản, âm thanh càng xa). Với tiến bộ của công nghệ thông tin,
cái nhìn được đẩy đến giới hạn của cái thật và ảo.
Nói tóm lại, thực trạng giao lưu văn hóa nghệ thuật nói chung và giao lưu văn hóa
nghệ thuật biểu diễn nói riêng trong những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng
kể. Lực lượng làm tiếp biến văn hóa nghệ thuật trước hết phải kể đến “những người môi
giới”, “những người dẫn đường”. Họ là những văn nghệ sĩ, những dịch giả, những
người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy về văn hóa, nghệ thuật nước ngoài, các viện
nghiên cứu, các cơ quan xuất nhập khẩu…và không thể không nói đến vai trò của truyền
thông đại chúng. Có thể nói, hoạt động giới thiệu các tác phẩm đủ các loại hình nghệ
thuật của nước ngoài vào nước ta ngày một tăng, một phần không nhỏ là nhờ vào các cơ
quan truyền thông đại chúng. Các chương trình “ca nhạc quốc tế”, các buổi biểu diễn
nghệ thuật nổi tiếng ở nước ngoài chỉ cần tiếp sóng, nối mạng là người dân trên mọi
miền đất nước cũng có thể được thưởng thức. Từ đó, đời sống văn hóa tinh thần, trình độ
thưởng thức văn hóa nghệ thuật của nhân dân ngày môt nâng cao. Nhưng bên cạnh đó,
nguy cơ tiến công của“chủ nghĩa đế quốc văn hóa”đối với sự phát triển văn hóa nghệ
thuật của các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng. Cùng với sự mở rộng các quan hệ
kinh tế và thương mại, cùng với sự bùng nổ các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại,
trước những đợt sóng du lịch quốc tế và sự tăng cường mở rộng quan hệ văn hóa, giáo
dục…; sự bành trướng và độc quyền truyền bá văn hóa nghệ thuật từ các nước lớn đến
các nước khác theo con đường cưỡng bức từ bên ngoài cũng ngày càng nhiều hơn.

2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIAO LƯU VĂN HÓA NGHỆ THUẬT BIỂU
DIỄN
2.2.1. Lĩnh vực Ca - Múa - Nhạc
* Ca nhạc
Trong đời sống văn hóa, văn nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh từ sau ngày giải
phóng, ca nhạc chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng. Theo kết quả của các cuộc điều tra xã
hội học nghệ thuật gần đây, nếu như ở Hà Nội, Hải Phòng, ca nhạc là một bộ môn nghệ
thuật được công chúng ưa thích vào loại hai, sau điện ảnh, thì tại Thành phố Hồ Chí
Minh tình hình có khác: cứ 100 người được hỏi ý kiến thì có 74 người đã trả lời rằng ca
nhạc là một bộ môn văn nghệ mà họ ưa thích, trong lúc đó, số người nhận điện ảnh là
một trong những bộ môn nghệ thuật ưa thích chỉ chiếm 61,11% . Ở thành phố này, số
người ưa thích ca nhạc nhiều gấp đôi số người ưa thích kịch nói (49%).Cùng với cả một
mạng lưới sinh hoạt ca nhạc không chuyên trải khắp nội thành, có những thời kỳ, tại đây,
hàng đêm có hơn 50 điểm biểu diễn ca nhạc, thu hút hàng triệu lượt người xem.
Nếu như ở Hà nội nền âm nhạc có sức lay động lòng người bởi mang đậm dấu ấn
của một Thăng Long-Đông Đô- Hà Nội, một nền âm nhạc êm ả, sâu đậm và giầu chất
thơ như chính con người Hà thành thì Thành phố Hồ Chí Minh lại có một nền âm nhạc
sôi động, cuồng nhiệt, trẻ trung và luôn luôn mới mẻ. Quay về với quá khứ, hoạt động ca
nhạc Thành phố Hồ Chí Minh có một giai đoạn đã từng là lợi thế quan trọng nằm trong
tay bọn nắm giữ một guồng máy chiến tranh tâm lý khổng lồ để chống lại cách mạng,
làm cho sinh hoạt ca nhạc hoặc là nhằm mục đích phản động chính trị trực tiếp, hoặc
biến công chúng ca nhạc thành đối tượng để gây ảnh hưởng cho các thứ âm nhạc suy
đồi, trụy lạc, chuyển thói sùng bái văn minh vật chất đối với các đế quốc Âu Mỹ thành
thói sùng bái luôn cả văn hóa tinh thần. Mặc nhiên thừa nhận âm nhạc Âu Mỹ, coi
thường văn hóa dân tộc, đi vào thứ ca nhạc rên rỉ, kêu than, não nề, uỷ mị…Có thể nói,
thứ ca nhạc đồi trụy, phản động đó đã chiếm một vị trí không nhỏ trong người dân Thành
phố từ những năm tháng chiến tranh cho đến mãi sau này.
Ý thức được trách nhiệm của mình, thấy rõ được tầm quan trọng của sinh hoạt ca
nhạc tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngay từ sau ngày giải phóng và nhất là những năm đổi
mới, chúng ta đã nỗ lực hoạt động trên lĩnh vực này. Gần 20 năm đổi mới, nền ca nhạc
tại Thành phố đã đạt được những thành công đáng kể. Nhìn trên toàn cảnh, chúng ta đã
từng bước đẩy lùi các thứ ca nhạc phản động, đồi trụy để dần dần đưa ca nhạc tiến bộ,
yêu nước, cách mạng và XHCN vào quần chúng, mà trước hết là vào thanh niên. Chúng
ta tiến hành thành công từng bước trong việc xây dựng một nền ca nhạc có nội dung
XHCN và tính chất dân tộc. Nội dung sinh hoạt ca nhạc tại Thành phố Hồ Chí Minh một
mặt vẫn cắm rễ được vào truyền thống ca nhạc cách mạng, ca nhạc dân tộc. Mặt khác,
đã bắt mạch kịp thời vào nhịp sống hiện đại, có chú trọng đặc biệt vào việc khai thác
phát huy những tinh hoa trong kho tàng dân ca, kế thừa tiếp thu có chọn lọc, có phê
phán, có sáng tạo những di sản của nền ca nhạc dân tộc và của thế giới. Đã có một thời
gian ta lo sợ cho xu hướng nhạc ngoại lấn át gần như hoàn toàn nền ca nhạc Thành phố.
Đâu đâu cũng nghe những băng đĩa nhạc hải ngoại, những ca sĩ hải ngoại đã làm mưa
làm gió trên thị trường ca nhạc ở đây. Mấy năm qua, sự trở lại của nhạc Việt nhờ sự tác
động không nhỏ của các cuộc bình chọn trên báo đài, Làn sóng xanh FM, đã làm cho
nền ca nhạc có phần khởi sắc. Người ta nói nhiều đến những từ như nhạc trẻ, nhạc
nhẹ…Nhạc trẻ xuất hiện đã trở thành một hiện tượng, một trào lưu trong đời sống văn
hóa âm nhạc vào những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI ở Việt Nam nói chung,
đặc biệt là ở Thành phố Hồ Chí Minh. Sự biến đổi đời sống tinh thần của giới trẻ được
thể hiện qua sự hưởng ứng nồng nhiệt, cuồng nhiệt với nhạc trẻ. Nhu cầu hưởng thụ đó
chỉ xuất hiện trên cơ sở một phương thức sinh sống mang nhịp độ công nghiệp. Thành
phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ, thành phố công nghiệp, cho nên xu hướng nhạc
trẻ tràn lan, bùng nổ là một điều dễ hiểu. Hai từ nhạc trẻ, tuy chưa được minh định về
nội dung khái niệm, nhưng lại được sử dụng khá rộng rãi trên các phương tiện truyền
thông đại chúng những năm gần đây. Đã có rất nhiều bài báo, rất nhiều các cuộc trao
đổi, diễn đàn bàn về trào lưu này nhưng đến nay vẫn chưa có một sự nhìn nhận xác
đáng. Vấn đề không đơn giản. Phủ nhận nó chăng? Không nên. Hêgen nói: “Cái tồn tại
là cái hợp lý”. Cấm nó chăng? Điều tối kỵ, vì đấy là một dạng sinh hoạt văn hóa, một
nhu cầu văn hóa của lớp trẻ hiện nay. Thời đại ngày nay, nói như tác giả Hồ Ngọc Đại
trong bài “Giải pháp giáo dục”đăng trên báo Văn nghệ số 36/2001, thời đại mà “cái mới
xuất hiện bất ngờ, và có khi chưa kịp là “mới” thì đã cũ mất rồi!”. Cho nên phải có một
phương pháp tiếp cận tối ưu: sống với nó, hội hòa với nó, phải có“phương pháp nghiên
cứu từ bên trong”-chữ dùng của GS- Nhạc sĩ Trần Quang Hải. Nhạc trẻ hiện đang là
nhu cầu văn hóa, gần như là thị hiếu, sở thích, thậm chí là mốt của một số bộ phận thanh
niên Việt Nam đương đại. Theo GS Dương Viết Á thì lớp trẻ bây giờ có thể được phác
thảo như sau: “Suy nghĩ, đa tầng; mưu sinh, đa chiều; giao tiếp, đa phương; tiến thân, đa
cực; và hưởng thụ, đa diện. Đó là một tâm thức văn hóa mở; mở chưa chắc là mới, song
chắc chắn là khác trước, và mở nên cũng chuộng lạ”. Vậy bản chất của nhạc trẻ là gì?
Có gì khác với trào lưu nhạc trước? Chúng ta phải bắt đầu từ ca từ (ngôn ngữ-lời bài
hát), tiết tấu, phong cách biểu diễn của ca sĩ và công chúng thưởng thức. Cuộc sống
quanh ta muôn hình, muôn vẻ. Nhưng cuộc sống phản ánh qua nội dung ca từ sao mà
đơn điệu một màu. Chủ đề chính của ca khúc nay vẫn là tình yêu. Nhưng trong lĩnh vực
tình yêu mênh mông, các tác giả chỉ quá nặng lòng với tình yêu đôi lứa và trong tình yêu
đôi lứa lại nghiêng nhiều vào những mối tình đau khổ, dở dang, cảm xúc hời hợt, không
thật, nội dung nghèo nàn trùng lặp, loanh quanh với những tính từ sáo mòn: hết vu vơ,
ngu ngơ, mộng mơ, lại thẫn thờ, hững hờ, ngẩn ngơ; hết phù du, u sầu, lại luẩn quẩn với
dối gian, rối bời…Rồi đến những bài ca cố ý xuyên tạc, bôi nhọ truyền thống tốt đẹp của
đạo lý Việt Nam như “con gái bây giờ”đến “đàn ông bây giờ”…nếu không có biện pháp
ngăn chặn kịp thời sẽ làm cho nền âm nhạc của chúng ta đi chệch hướng.
Đó là phần lời, còn phần nhạc thì sao? Người Việt hôm nay luôn mang khát vọng hội
nhập với thế giới bên ngoài. Song bài hát Việt đương đại vẫn chưa đủ sức bay xa. Vẫn chưa
tìm được cái riêng của mình như người ta đã từng làm được với nhạc Hoa, nhạc Inđonesia,
Ấn Độ… Phần nhạc bây giờ chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi nhạc ngoại quốc. Đành rằng, sự
học hỏi, kế thừa cái hay, cái tinh tuý ở trong hay ngoài nước đều vô cùng cần thiết, nhưng
học hỏi, kế thừa có chọn lọc cho phù hợp với cái nội sinh mới là quan trọng. Đừng bắt
chước, “nháy”một cách tuỳ tiện, dễ dãi quá sẽ làm mất đi bản sắc.
Tiết tấu sôi động cũng là một điểm nổi trội của trào lưu nhạc trẻ. Và khoảng cách
giữa sôi động và náo động lại rất gần! Đây cũng là yếu tố mang tính thời đại trong nhận
thức thẩm mỹ của con người theo tiến trình lịch sử. Ngọn nguồn sâu xa của tiết tấu là ý
thức về thời gian - ý thức đó nảy sinh và biến đổi theo đời sống của con người. Với sự hỗ
trợ rất đắc lực của tiết tấu và sự phóng đại về âm hưởng do máy móc đem lại, giai điệu
của nhạc phẩm thuộc trào lưu này thường đơn giản, thông tục, nhưng vì quá đà nên
nhiều lúc rơi vào đơn điệu, dung tục. Khi tiết tấu được đẩy lên vị trí chủ đạo thì giai điệu
bị xếp vào hàng thứ yếu, do đó, tuy có điệu nhưng lại thiếu giai (đẹp). Đấy cũng là xu
hướng chung của trào lưu nhạc trẻ trên thế giới.
Người viết không có ý định phân tích nền âm nhạc (mà cụ thể là nhạc trẻ ở nước ta
hiện nay), bởi đây là việc làm không đơn giản. Ở phạm vi công trình này, tác giả chỉ
muốn nhấn mạnh đến lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ca nhạc ở Thành phố Hồ Chí Minh
hiện nay (giới hạn trong phạm vi nghệ thuật biểu diễn ca nhạc nhẹ). Ở phần trên đã đề
cập đến phần lời, phần nhạc trong nhạc trẻ. Nếu chỉ có tác phẩm thôi thì ca khúc sẽ
chẳng có ai biết đến (chúng tôi muốn nhấn mạnh vai trò ca sĩ thể hiện). Số phận một bài
hát được công chúng tiếp nhận ra sao phụ thuộc vào rất nhiều ở người trình diễn. Đúng
là không ít bài hát được yêu thích do dựa vào giọng ca có tiếng. Những ca khúc lọt vào
tốp ten đều qua vài giọng ca được ái mộ. Chương trình biểu diễn phải có ngôi sao mới
ăn khách, càng nhiều “sao” càng “thắng”. Nếu như chúng ta từng được xem những buổi
trình diễn nhạc giao hưởng thính phòng với dàn nghệ sĩ mặc lễ phục chỉnh tề, với những
nhạc trưởng mặc áo đuôi tôm cầm đũa chỉ huy và khán giả đến phòng hòa nhạc như đến
một thánh đường, thì ngày nay sân khấu ca nhạc nhẹ sôi động với những nhạc công chỉ
mặc áo may ô và quần bò vừa đàn vừa nhảy cùng với những ca sĩ chẳng khác gì những
vũ nữ. Chỉ riêng cách ăn mặc và phong cách biểu diễn của lớp ca sĩ trẻ bây giờ cũng đã
từng xôn xao dư luận. Nghệ sĩ nhân dân Trần Hiếu đã từng thốt lên, bây giờ đi xem hát
chứ không phải đi nghe hát. Quả thật, hát là để nghe chứ không phải để xem, ấy vậy mà
các ca sĩ bây giờ đã lợi dụng trang phục, hình thức để lấn át nội dung, chất giọng. Họ ăn
mặc loè loẹt, hở hang và nhảy nhót, gào thét làm ầm ĩ trên sân khấu . Gần đây còn có
“mốt” múa phụ họa. Một ca sĩ hát bao giờ cũng có ít nhất là vài ba người đứng đằng sau
ăn mặc kỳ dị nhảy nhót, giật gào để cho khán đài thêm phần sinh động. Sân khấu hiện
đại với thiết bị âm thanh, hệ thống ánh sáng, bài trí phông màn tạo nên sự hấp dẫn đặc
biệt, cộng thêm âm nhạc của những bài hát, sự thể hiện của ca sĩ, bằng giọng hát kết hợp
với diễn, nhảy nhót đủ kiểu đã đem lại những cảm xúc dễ tiếp nhận đối với công chúng.
GS-NSND Trọng Bằng đã từng đánh giá:
Phong cách biểu diễn của các ca sĩ bây giờ bắt chước nước ngoài một
cách quá đáng, trang phục lố lăng, lạm dụng những yếu tố bên ngoài như ánh
sáng, các dàn tăng âm, micrô…để che dấu những khuyến khuyết của giọng hát
và nhiều khi cả sự nhàm chán của bài hát. Sự nhàm chán của các bài hát, nhái
lại nước ngoài một cách lộ liễu, chạy theo mốt, chạy theo khách hàng, ca từ
thì sáo mòn, rỗng tuếch, cố làm ra than vãn, ủ ê, tình cảm sướt mướt, suồng sã
đến dung tục…đó là những yếu tố đang hàng ngày hạ thấp yêu cầu nghệ thuật
ca nhạc nhẹ ở nước ta thời gian gần đây. Nếu không cẩn thận thì những hạt
sạn trong sáng tác và biểu diễn ca nhạc nhẹ sẽ làm xói mòn trình độ văn hóa
thẩm mỹ trong việc cảm thụ âm nhạc của công chúng [9 ].
So với GS-NSND Trọng Bằng thì nhạc sĩ Phạm Tuyên có phần lạc quan hơn, “dễ
tính” hơn, coi đây là một phát triển tất yếu của xã hội trong thời kỳ đổi mới và hội nhập
nên chỉ cần để cho cuộc sống tự điều chỉnh và loại đi những cái gì chưa phù hợp. Nhìn
rộng ra thế giới thì đây là một vấn đề mà các quốc gia trong quá trình hội nhập toàn cầu
đã và đang gặp phải; từng nước đã có những biện pháp riêng của mình nhằm giữ được
bản sắc văn hóa cũng như thuần phong mỹ tục của dân tộc mình. Nhưng nhạc sĩ cũng đã
lên tiếng: “việc xoá bớt đi những nét hoen ố trong bức tranh toàn cảnh giàu màu sắc của
đời sống âm nhạc hiện nay là một việc làm cần thiết” [89].
Mặc dầu có những mặt này, mặt kia, nhưng công bằng mà nói, nền âm nhạc Việt
Nam nói chung và nền âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng ngày càng phát triển,
phong phú, đa dạng và giàu màu sắc hơn trước rất nhiều. Các diễn viên trẻ đã thể hiện
nội dung bài hát cũng như phong cách biểu diễn trên sân khấu khá lành mạnh và sôi
động. Họ nhập vai khá tốt vào tác phẩm và thổi vào đó một sức trẻ mới góp phần chuyển
tải những âm điệu lạc quan và trong sáng đến với mọi người. Một số ca sĩ được đào tạo
bài bản như Đoàn nghệ thuật Quân khu 7 và Đoàn Ca nhạc nhẹ Thành phố Hồ Chí Minh
đã thể hiện hết sức mới mẻ, sôi động bài hát Việt. Ngoài ra các ca sĩ còn biểu diễn một số
tác phẩm nước ngoài cũng đã gây được những ấn tượng đẹp, những xúc cảm thẩm mỹ
mới cho công chúng đang ngày một tiếp nhận cái hay, cái đẹp, cái mới thực sự và chân
chính từ ngoài.
Điều đáng nói ở đây là nền ca nhạc Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ bó hẹp trên
địa bàn thành phố và các tỉnh thành trong nước mà ngày càng vươn xa ra ngoài thế giới.
Mỗi năm có hàng chục đoàn ca nhạc của Thành phố đi biểu diễn ở nhiều nước trên thế
giới. Đặc biệt mấy năm gần đây, các ca sĩ tự ra nước ngoài biểu diễn bằng những con
đường khác nhau ngày càng nhiều. Có thể kể một số ca sĩ trẻ tiêu biểu xuất phát từ
Thành phố Hồ Chí Minh đi nước ngoài như vợ chồng Thu Phương- Minh Quân, ca sĩ
Trần Thu Hà, ca sĩ Mỹ Linh, ca sĩ Đan Trường, Lam Trường, ca sĩ Hồng Nhung, Thanh
Lam… Có những ca sĩ đi ra nước ngoài để thu đĩa, thu băng, làm chương trình nghệ
thuật của mình rồi lại quay về nước. Có những ca sĩ sang biểu diễn rồi định cư luôn bên
đó. Năm 2000, các ca sĩ của trung tâm ca nhạc nhẹ Thành phố đạt kết quả tốt tại Liên
hoan giọng hát Châu Á tại Karakhstan và tại Liên hoan âm nhạc Châu Á- Thượng Hải
(Trung Quốc). Đoàn Ca Múa Nhạc Bông Sen biểu diễn thành công tại các thành phố lớn
của Trung Quốc. Từ năm 2001 đến nay, hàng năm có đoàn của Nhà hát Thành phố Hồ
Chí Minh, đoàn Ca Múa Nhạc Bông Sen, Nhà hát trẻ…của Thành phố Hồ Chí Minh sang
biểu diễn ở các nước với những lời mời hoặc tham dự hội nghị, liên hoan quốc tế.
Cùng với việc giới thiệu tinh hoa âm nhạc của Thành phố Hồ Chí Minh với các
nước, hàng năm đã có không ít các đoàn nghệ thuật nước ngoài đến Thành phố Hồ Chí
Minh để tham dự giao lưu, trao đổi nghệ thuật như: “Giao lưu tiếng hát hoà bình hữu
nghị lần thứ hai”, “Giao lưu nghệ thuật dân tộc với đoàn nghệ thuật thành phố O-ki-nav-
va”(Nhật Bản), các cuộc Liên hoan nhạc Jazz….Cụ thể như chương trình của nữ ca sĩ
Zazie (Pháp), chương trình ca nhạc “Tay trong tay”của ca sĩ Hàn Quốc và dàn nhạc
giao hưởng Thành phố. Mới đây nhất, nam ca sĩ nổi tiếng hàng đầu tại Philipspin, ca sĩ
Pivo Bayer và nữ danh ca Nhật Bản Kumiko Yokoi sẽ là khách mời trong chương trình
Giai điệu bạn bè tháng 5/2005 diễn ra tại Nhà thi đấu Quân khu 7, Thành phố Hồ Chí
Minh. Có thể nói, chương trình “Giai điệu bạn bè ” do HTV kết hợp với công ty Cát Tiên
Sa tổ chức và được phát sóng trực tiếp trên nhiều đài truyền hình địa phương trong cả
nước là một chương trình đặc sắc, tiêu biểu cho sự giao lưu văn hóa nghệ thuật. Đồng
thời đây là cầu nối, là một dịp giao lưu giữa các ca sĩ trong và ngoài nước nhằm giúp
công chúng Việt Nam diện kiến, thưởng thức khả năng đa dạng và phong phú của những
nghệ sĩ láng giềng, những ngôi sao được yêu thích qua phim ảnh, truyền hình và báo chí
lâu nay. Những năm trước đây chỉ lác đác những ngôi sao điện ảnh, ca nhạc Hàn Quốc,
Trung Quốc, Hồng Kông đến Việt Nam giao lưu trong những chương trình ca nhạc đơn
lẻ như: Lê Minh, Jang Dong Gun, Kim Min Yong, Kim Nam Joo, Triệu Vy, Lâm Tâm
Như, Cổ Thiên Lạc…Riêng một năm qua, nhờ chương trình Giai điệu bạn bè được tổ
chức mà các nghệ sĩ khu vực đều đặn “đến hẹn lại đến” hàng tháng để biểu diễn ở
Thành phố. Trong chương trình Giai điệu bạn bè diễn ra đêm 10/4 vừa qua tại Nhà thi
đấu Nguyễn Du, Cozzi Chong-nữ ca sĩ nổi tiếng của Malaisia đã hát hai ca khúc
Malaisia trong bộ trang phục lông công cực kỳ đẹp mắt. Cozzi Chong đã cho khán giả
Việt Nam thấy một mẫu hình ca sĩ nhạc trẻ Châu Á hôm nay: biết thể hiện bản sắc riêng
văn hoá nước mình khi có dịp làm “sứ giả văn nghệ” ở nước ngoài. Song, cô cũng thể
hiện một phong cách trẻ trung hiện đại khi hát một ca khúc tiếng Anh và nhảy múa sinh
động với nhóm múa Việt Nam. Những ưu điểm của một ca sĩ nhạc Pop chuyên nghiệp như
Cozz Chong đã được các đồng nghiệp Việt Nam tận mắt thấy và tham khảo. Điều này thực
sự cần thiết trong thời điểm mà các ca sĩ Việt Nam đã bắt đầu có nhiều cơ hội “mang
chuông đi đánh xứ người” (chẳng hạn như các Festival âm nhạc Châu Á). Dự kiến trong
năm 2005 này, chương trình Giai điệu bạn bè sẽ xuất hiện những khách mời như Jang Na
Ra(diễn viên Hàn Quốc), Trương Tử Lâm (diễn viên Hồng Kông), Châu Du Dân, Ngô Kiến
Hào (thành viên nhóm F4)…sang Việt Nam biểu diễn. Chắc hẳn sự hiểu biết lẫn nhau cũng
như lợi ích hai bên chủ-khách sẽ còn tiếp tục. Riêng đợt kỷ niệm 30 năm Giải phóng Miền
Nam - Thống nhất đất nước đã có hàng chục đoàn nghệ thuật nước ngoài sang tham gia
Liên hoan Văn hóa nghệ thuật dân gian.
Ngoài ra, còn phải kể đến chương trình VTV-Bài hát tôi yêu. Cái đặc sắc, bất ngờ
và thú vị ở đây là chương trình có sự góp mặt của các đạo diễn nước ngoài: Aaronto
(người Mỹ) và Jackia Chen (người Hàn Quốc) làm cho cuộc đua tài của các đạo diễn
thêm phần hấp dẫn. Aaronto hiện đã bắt tay vào thực hiện hai video Clip cho nhóm MTV
và ca sĩ Quang Hà, Jackia Chen thực hiện hai video Clip cho Kasim Hoàng Vũ và Đoan
Trang.
Những điều vừa nói ở trên đã cho chúng ta thấy, khoảng cách về văn hóa nghệ
thuật giữa các nước trên thế giới và khu vực đang ngày càng được rút ngắn. Giao lưu
văn hóa nghệ thuật đang làm cho các nước xích lại gần nhau hơn. Không chỉ giao lưu
trên lĩnh vực ca nhạc mà còn rất nhiều lĩnh vực khác như: múa, nhạc, sân khấu…
* Múa
Múa là một loại hình sinh hoạt nghệ thuật đã có từ ngàn xưa ở nhiều dân tộc. Với
dân tộc Việt, múa đã có mặt từ thời các vua Hùng, bằng chứng là người ta đã tìm thấy
rất nhiều trống đồng Đông Sơn, trên mặt trống có các họa tiết hình người trong tư thế
múa.
Có thể định nghĩa rằng: múa là sử dụng các động tác nhịp nhàng theo quy luật
thẩm mỹ nhằm biểu lộ tư tưởng và tình cảm. Nghệ thuật múa phản ánh thực tế cuộc sống
bằng ngôn ngữ riêng của nó qua các động tác được cách điệu hoá nghệ thuật.“Cơ sở
của múa là những điệu bộ, động tác có quan hệ đến quá trình lao động, sự quan sát thiên
nhiên và những ấn tượng có được từ thế giới xung quanh” [51, tr.10].Chính vì vậy, múa
được hình thành từ rất sớm và liên tục được phát triển của xã hội nhằm thỏa mãn nhu
cầu tinh thần của con người.
Múa truyền thống của người Việt có ba dạng thức chính gồm: múa dân gian, múa
tôn giáo và múa cung đình. Trong ba dạng thức này, múa dân gian đóng vai trò là nền
tảng cho múa cung đình và múa tôn giáo. Múa dân gian là bộ phận quan trọng trong
múa dân tộc Việt, nó chi phối toàn bộ các loại hình múa khác. Múa cung đình ngày nay
phần nhiều bị thất truyền, một phần hình thái múa dân gian và múa tôn giáo được bảo
lưu. Trong tôn giáo, múa được xem như một phương tiện hành lễ, là tín hiệu thông tin
giữa con người và thần linh nên múa tôn giáo ăn sâu cùng với tôn giáo.
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi giao lưu nhiều luồng văn hóa nghệ thuật, trong đó
có nghệ thuật múa. Ngay từ những năm 1960, nhằm bảo vệ nền văn hóa dân tộc trước sự
xâm nhập ào ạt của văn hóa nghệ thuật phương Tây, một số đoàn nghệ thuật của sinh
viên đã trình diễn những vũ điệu và nhạc phẩm múa như: múa ươm tơ, múa trồng bông,
múa quạt, múa tiếng trống hào hùng, vũ khúc tôi yêu… với nội dung sôi sục khí thế quật
cường, gợi lòng yêu quê hương, căm thù giặc ngoại xâm và bọn tay sai bán nước. Sau
ngày thống nhất (30/4/1975), các đoàn ca múa từ nhiều nơi tụ về Thành phố, đem đến đây
nhiều luồng gió mới tràn đầy sức sống. Trường múa được thành lập, Đoàn ca múa Bông
Sen, Đoàn nghệ thuật Quân khu 7 ra đời đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
của nghệ thuật múa Thành phố Hồ Chí Minh. Tiếp đó, nhiều tổ chức múa dân lập lần lượt
hình thành như: Đoàn Balê Tháng Mười, Phương Nam, Phù Sa, Bạch Tùng…
Ngoài Trường múa Thành phố Hồ Chí Minh, Hội nghệ sĩ múa Thành phố Hồ Chí
Minh là một đơn vị chuyên môn về nghệ thuật múa. Được thành lập vào tháng 3/1991,
Hội nghệ sĩ múa Thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu nghệ thuật
múa dân tộc, phát triển nghề nghiệp và quyền lợi sáng tác nghệ thuật của hội viên, quan
tâm và nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của nghệ sĩ múa. Hầu hết nghệ sĩ múa
được phong danh hiệu nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo ưu tú đều là hội viên
của Hội nghệ sĩ múa Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện tại, Thành phố Hồ Chí Minh có vài chục đội múa không chuyên, hàng trăm
đội múa bán chuyên trong lĩnh vực biểu diễn sân khấu, đó là chưa kể đến vô số các đội
múa lễ, chuyên phục vụ cho các lễ tiết tại cung đình, đền, lễ cưới, hỏi trong Thành phố.
Tiêu biểu về múa, phải kể đến các đoàn như Đoàn nghệ thuật Ca múa nhạc Bông Sen,
Nhà hát Giao hưởng và Vũ kịch Thành phố, Trung tâm Ca nhạc nhẹ Thành phố. Đó là ba
đơn vị đang phấn đấu vươn lên đóng vai trò chủ đạo trong việc định hướng phát triển
nền nghệ thuật ca múa nhạc ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Đoàn nghệ thuật Ca múa nhạc Bông Sen được thành lập ngày 30/8/1976 trên cơ sở
hợp nhất Đoàn ca múa nhân dân Miền Nam (từ Miền Bắc vào) và Đoàn múa hát giải
phóng (từ chiến khu ra). Ngay từ sau ngày thành lập, Đoàn nghệ thuật Ca múa nhạc
Bông Sen đã quy tụ được một đội ngũ nghệ sĩ trẻ, đầy tài năng. Tuyệt đại đa số nghệ sĩ,
diễn viên của Đoàn được đào tạo chính quy từ các trường nghệ thuật, các nhạc viện
trong và ngoài nước; có quá trình hoạt động nhiều năm, có bản lĩnh, tâm huyết, nhiệt
tình. Năm 1991-1995 Đoàn được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng II. Bông Sen
luôn phấn đấu để đưa nghệ thuật ca, múa, nhạc dân tộc đến với các thế hệ công chúng
Thành phố Hồ Chí Minh, đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế. Cho đến nay, đoàn đã có
mặt hầu khắp các địa phương Miền Đông, Miền Tây Nam Bộ, không những thế, Đoàn
còn tham dự những chuyến biểu diễn giao lưu văn hóa tại Ấn Độ, Srilanca, Miến Điện,
Thái Lan…
Múa, hát và âm nhạc thường gắn bó khăng khít với nhau. Múa không nhất thiết
phải có lời hát đi kèm nhưng bao giờ cũng cần đến nhạc nền. Một hình thái kết hợp
nhuần nhuyễn giữa múa, hát và âm nhạc truyền thống chính là múa chèo và múa tuồng.
Từ thời Nguyễn trở đi, chèo phát triển mạnh ở Đằng Ngoài, trong khi tuồng phát triển ở
Đằng Trong. Chèo là một hình thức sân khấu tích hợp, trong đó múa đóng một vai trò
quan trọng. Múa, hát và diễn xuất kết hợp với nhau để biểu lộ tâm trạng, tính cách nhân
vật. Những chất liệu múa dân gian được tăng chất kịch để trở thành ngôn ngữ múa chèo.
Khác với múa chèo, múa tuồng thể hiện nội tâm nhân vật qua những diễn xuất mang tính
ước lệ. Trong nghệ thuật tuồng, múa có chức năng làm rõ đặc điểm sân khấu tuồng, làm
phân biệt tuồng với chèo, với cải lương. Như vậy, trong ca kịch truyền thống của người
Việt, múa tồn tại dưới dạng tích hợp trong thể loại tuồng, chèo và cải lương, được hình
thành và phát triển trên nền tảng hát múa dân tộc.
Múa không chỉ là rường cột của ca kịch truyền thống Việt mà còn là linh hồn của
các lễ hội. Trong đó, nghệ thuật múa tham dự vào cả phần lễ cũng như phần hội.
Với chức năng làm rõ nội dung xã hội chứa đựng trong phần văn học trình diễn,
múa với tư cách là thành phần nguyên hợp của diễn xướng dân gian, được phát triển
theo ba cấp độ sau: cấp độ thứ nhất thể hiện chức năng minh họa lời hát, ví dụ như đoạn
bỏ bộ trong chèo tàu, dậm, dô… Trong cấp độ thứ hai, múa thể hiện nội dung bài hát
bằng ngôn ngữ hình tượng đặc trưng trong sự kết hợp chặt chẽ với hát để vừa diễn đạt
nội dung, đồng thời vừa giữ được tính độc lập tương đối của múa, như trong múa đội đèn
chẳng hạn. Ở cấp độ thứ ba, múa là phương tiện biểu hiện chính, hát chẳng qua là chỉ để
đệm cho múa.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều nơi khác hiện nay, chức năng múa minh họa
được vận dụng vào sân khấu hiện đại, phổ biến trong các tiết mục đơn ca hoặc song ca.
Múa minh họa là nghệ thuật sử dụng các vũ điệu để làm nổi bật chủ đề nội dung tư tưởng
của tác phẩm, làm tăng thêm giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Do đó, ngôn ngữ của múa
minh họa phải luôn luôn phù hợp với chủ đề tư tưởng và nội dung của một vở diễn, một
bài hát hoặc một chương trình sân khấu hóa. Tuy nhiên, lâu nay ở một số nơi, múa minh
hoạ bị lạm dụng, dường như chỉ nhằm mục đích lấp bớt khoảng trống của sân khấu, các
động tác múa chưa ăn khớp với lời ca và nền nhạc, thậm chí ca một đàng, múa một
nẻo…
Ngoài ra, múa còn có mối quan hệ mật thiết với rối, xiếc và võ thuật, những điệu
múa trong rối đều bắt nguồn từ điệu múa dân gian Việt và có cùng tên gọi như: múa tễu,
múa tiên, múa tứ linh…Đối với xiếc, múa góp phần tạo dáng, đặt nền tảng cho kỹ xảo
động tác, tạo điều kiện cho sự phát triển tài tình về kết cấu và cân bằng động như ở múa
độc bình, múa đội đèn, múa long hổ (múa kết hợp với kỹ thuật nhào lộn, bê đỡ…). Mối
quan hệ giữa múa và võ thuật đã sản sinh ra điệu múa vũ khí, là loại múa đạo cụ khá
phổ biến của người Việt, dùng để tái hiện các cuộc chiến đấu, loại múa này không sử
dụng nhạc đệm mà theo sự chỉ huy của trống giục. Động tác múa phải kết hợp hài hòa
giữa lô gíc võ thuật và lô gíc múa.
Những động tác múa còn thể hiện tâm lý dân tộc, do vậy ở từng thể loại múa theo
vùng, theo dân tộc, tình cảm được thể hiện khác nhau qua các tiết tấu. Trên sân khấu
múa của Thành phố Hồ Chí Minh, ngoài các vũ điệu của người Việt, các biên đạo múa
còn vận dụng các làn điệu múa của các dân tộc anh em, nhất là các dân tộc anh em sống
lân cận nhằm phát triển thêm các nhân tố mới, tăng thêm sự phong phú cho ngôn ngữ
múa. Có thể kể đến các điệu múa quạt, múa Doa pụ (đội nước), múa cung đình của người
Chăm; múa rồng, múa rắn, múa lân của người Hoa…
Vốn có các quan hệ giao lưu quốc tế rộng mở do hoàn cảnh lịch sử - địa lý mang
lại, Thành phố Hồ Chí Minh luôn đi đầu trong việc tiếp nhận các làn sóng nghệ thuật
phương Tây và khu vực, trong đó có múa hiện đại. Đặc biệt từ thập niên 90 của thế kỷ
XX trở lại đây, nhiều kiểu nhảy múa mang tính phong trào từ nước ngoài được du nhập
vào một cách mạnh mẽ như lambada, Michael Jacson, rap…nếu như được chắt lọc và sử
dụng định hướng với liều lượng thích hợp theo hoàn cảnh, nó có thể mang đến những giá
trị nhất định. Song dù thế nào đi chăng nữa, múa truyền thống luôn là nền tảng vững
chãi, có vai trò quan trọng trong việc tiếp nhận các thể loại múa hiện đại từ nước ngoài.
Bởi vì nếu chúng ta thờ ơ và xem thường vốn múa truyền thống của cha ông mà mải mê
chạy theo thời thượng thì các điệu múa xa lạ kia cũng mau chóng trở nên lạc lõng và tự
đào thải, thực tế sân khấu múa đã cho ta thấy điều đó. Có một điều chúng ta có thể nhìn
thấy rõ: tính năng động đầy sức sống của một thành phố công nghiệp đã làm cho Thành
phố Hồ Chí Minh có một phong cách riêng trong nghệ thuật múa. Phong cách đó được
thể hiện qua các tiết tấu múa có tốc độ nhanh, dồn dập, những vũ điệu vui tươi mang tính
trẻ trung, hồn nhiên, đồng thời hàm chứa một tác phong công nghiệp hiện đại, làm nên
dấu ấn riêng cho nghệ thuật múa ở Thành phố Hồ Chí Minh, khó lẫn lộn với các nơi
khác tuy có cùng một “thang âm, điệu thức”.
Hoạt động của các đơn vị nghệ thuật múa của Thành phố ở nước ngoài những năm
gần đây đã thu được nhiều kết quả tốt. Chỉ tính riêng năm 2000, đội Lân Thành phố tham
dự cuộc thi múa lân quốc tế tại Thái Lan đoạt Cúp bạc. Cũng trong năm này, Đoàn nghệ
thuật múa rối Thành phố đã tham dự Liên hoan sân khấu thiếu nhi quốc tế và biểu diễn
tại 9 bang của Hoa Kỳ, đã được hoan nghêng nhiệt liệt với 174 suất diễn phục vụ trên
100.000 lượt khán giả. Hai đoàn nghệ thuật của Thành phố đạt kết quả tốt trong chuyến
đi biểu diễn tại Úc và Đức với 13 suất phục vụ 10.500 lượt khán giả. Ngoài ra đoàn Ca
múa nhạc Bông Sen cũng biểu diễn thành công tại các thành phố lớn Trung Quốc.
Như ở phần trên đã nói, do có nhiều lợi thế về hoàn cảnh lịch sử - địa lý, lại là
thành phố có nền kinh tế lớn nhất nước cho nên hàng năm các đoàn nghệ thuật nước
ngoài đến biểu diễn và giao lưu rất đông, trong đó có nghệ thuật múa. Tháng 10/2004,
đoàn múa “độc đáo” nhất thế giới đã đến Việt Nam. Nói là “độc đáo”vì đó là vũ đoàn
chuyên nghiệp duy nhất có vốn tiết mục là những điệu múa của nhiều nước trên thế giới.
Đó chính là Nhà hát Vũ kịch quốc tế Hà Lan, được thành lập từ năm 1961 và hiện có một
đội ngũ gồm 70 người, trong đó có 30 vũ công và 6 nhạc công. Chào mừng Hội nghị
thượng đỉnh ASEM5, Nhà hát đã đem đến chương trình múa tổng hợp các vũ điệu của
các nước Á - Âu tham dự Hội nghị. Ngày 9/10/2004 tại Nhà hát lớn Thành phố Hồ Chí
Minh, Đoàn đã biểu diễn một số tiết mục tiêu biểu như: điệu múa nghế Stuhlen-
tan2(Đức), Múa nhịp Ireland, Múa Bergliede…
Cũng tại Nhà hát lớn Thành phố Hồ Chí Minh, vừa qua, đoàn nghệ thuật múa Châu
Phi đã trình diễn một điệu múa gây nhiều ấn tượng sâu đậm cho khán giả Việt Nam, điệu
múa:Lời mời gọi. Tất cả diễn viên thể hiện đều là nam, với trang phục kỳ lạ: cởi trần, mặc
quần ống rộng, với những động tác mạnh mẽ, dứt khoát, nhanh, đều, nhịp nhàng. Có thể nói,
những vũ điệu kiểu thế này rất được người dân Thành phố Hồ Chí Minh ưa chuộng.
* Nhạc giao hưởng
Theo GS-TSKH Lâm Tô Lộc:
Trong quá trình giao lưu nghệ thuật với nước ngoài có sự vay mượn
những hình thức và phương tiện biểu hiện (không có trong di sản nghệ thuật
cổ truyền) để diễn đạt nội dung mới và đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con
người ngày nay. Đó là tranh giá vẽ, tranh thuốc nước (aquaren), tranh bột
màu, tranh sơn mài nhiều màu trong hội hoạ, ôpêra, ôpêrét, giao hưởng bằng
nhạc cụ phương Tây và nhạc cụ dân tộc trong âm nhạc; múa cổ điển châu Âu,
múa tính cách châu Âu và châu Á, balê dân tộc, trong múa, kịch nói, kịch câm
trong sân khấu [52, tr.99].
Từ những năm 50-60-70 của thế kỷ XX, nền văn hóa, văn nghệ của Việt Nam đã
chịu ảnh hưởng sâu sắc, tốt đẹp của văn hóa Nga-Xô Viết, trong đó có nhạc giao hưởng,
nhạc không lời, ôpêra... Nhưng có một thực tế chúng ta không thể không thừa nhận, loại
hình nghệ thuật này rất khó thâm nhập vào đời sống văn hóa- ca nhạc ở Việt Nam nói
chung và ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Số thính giả Việt Nam nghe và hiểu biết
nội dung, tư tưởng, chủ đề…là rất ít, ngay với cả những tác phẩm được thừa nhận là vĩ
đại ở châu Âu, ở thế giới phương Tây nói chung. Có lẽ, do ý thức được điều này nên khi
tổ chức cho Đặng Thái Sơn biểu diễn tại Thành phố Hồ Chí Minh sau lúc anh nhận giải
Sôpanh, ban tổ chức đã nhờ một giảng sư âm nhạc vào loại giỏi nhất, ra trước thính giả
để giải thích cặn kẽ ý nghĩa chủ đề, về nội dung tư tưởng…từng bản nhạc nổi tiếng mà
Đặng Thái Sơn sắp biểu diễn. Qủa thật, nhạc giao hưởng là loại âm nhạc phi thanh
nhạc, loại nghệ thuật bác học nên không phải ai nghe cũng có thể cảm nhận được cái
hay, cái du dương, trầm bổng của nó. Chính vì vậy cho nên nhiều ng ười cho rằng đây là
loại nghệ thuật “kén khách”. Phải có một trình độ nghệ thuật uyên bác mới có thể
thưởng thức được.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa nhạc giao hưởng sẽ không có chỗ đứng,
không có môi trường để tồn tại. Mà ngược lại, khi nền kinh tế phát triển thì trình độ dân
trí ngày càng nâng cao, nhạc giao hưởng cũng theo đó mà được phát triển. Nhu cầu
thưởng thức loại âm nhạc này có phần tăng nhanh. Trong “Hội nghị tổng kết công tác
Văn hóa thông tin năm 2003”của Sở Văn hóa-Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh, Ban
Giám đốc Nhà hát Giao hưởng và Vũ kịch Thành phố đã có bài viết : “Tín hiệu vui của
nghệ thuật Giao hưởng và Vũ kịch”. Bài viết giải thích: “Tín hiệu vui vì những khởi sắc,
thành công của Nhà hát trong năm 2003 chỉ là bước đầu, là tiền đề để phấn đấu dài hơn
nhằm xây dựng một Nhà hát Giao hưởng - Vũ kịch chuyên nghiệp, chính quy xứng đáng
với truyền thống văn hóa, tầm vóc và vị trí của Thành phố Hồ Chí Minh trong nước và
quốc tế”. Có thể nêu ra một số thành tựu bước đầu và bài học kinh nghiệm từ thực tiễn
hoạt động của Nhà hát như sau:
Thứ nhất, loại hình Giao hưởng-Vũ kịch xưa nay người ta vẫn nhận định và cho
rằng đây là loại hình nghệ thuật mang tính hàn lâm kén chọn khán giả vì khó hiểu, khó
thưởng thức và sự tồn tại của nó chỉ đơn thuần là một trang điểm sang trọng, đắt tiền
cho một thành phố lớn, văn minh, hiện đại. Nhưng Ban Giám đốc cũng như toàn bộ anh
chị em nghệ sĩ của Nhà hát đã không nghĩ vậy, quyết tâm phá bỏ tâm lý đó và tìm cách
trụ được ở Thành phố. Nhà hát đã phải tự đi tìm khán giả cho mình bằng cách thành lập
bộ phận Đối ngoại - Tổ chức biểu diễn nhằm khuyếch trương công tác quảng cáo, tiếp
thị, tự giới thiệu, xúc tiến công tác đối ngoại tìm đầu ra bằng các hình thức liên kết với
Đài truyền hình, với các địa phương và các tổ chức nước ngoài tại Thành phố Hồ Chí
Minh. Từ các biện pháp trên, khán thính giả bắt đầu đến với Nhà hát.
Thứ hai, Nhà hát có chiến lược xây dựng chương trình biểu diễn phù hợp với các
đối tượng khán giả với tiêu chí: đổi mới, chất lượng phù hợp với ba mũi nhọn khác nhau:
- Xây dựng các chương trình biểu diễn định kỳ tại Nhà hát Thành phố mang tính hàn
lâm và đặc trưng riêng của Nhà hát. Trong đó chú trọng đến việc nâng cao chất lượng và
tính chuyên nghiệp của Dàn nhạc Giao hưởng và Vũ kịch. Muốn vậy, Nhà hát đã phải tìm
nguồn chỉ huy dàn nhạc, biên đạo, nghệ sĩ nước ngoài để kết hợp giảng dạy, dàn dựng và
biểu diễn. Thực tế trong năm 2003 Nhà hát đã làm việc với các chỉ huy dàn nhạc và nghệ
sĩ Trung Quốc, Pháp, Đan Mạch, Canada…và để lại trong lòng công chúng thưởng thức
loại hình nghệ thuật này sự tiến bộ khởi sắc đáng kể của Nhà hát. Chính vì thế khán giả đã
quay lại và tiếp tục quay lại với Nhà hát.
- Xây dựng các chương trình phù hợp với thị hiếu thưởng thức của đồng bào các
địa phương. Khi kí hợp đồng biểu diễn ở các địa phương, Nhà hát đều gặp tâm lý lo ngại
bởi:“Không biết dân có“nuốt”nổi không?”và Ban Giám đốc Nhà hát đã phải cố gắng
thuyết phục họ “thử”thưởng thức với lời hứa sẽ không làm cho họ thất vọng. Và, với
những ca khúc cách mạng được phối khí cho dàn nhạc giao hưởng đệm, những điệu múa
nhỏ mang dáng dấp của nghệ thuật múa ballet…đã thuyết phục được lãnh đạo và nhân
dân ở các địa phương.
- Xây dựng các chương trình mang tính xã hội hoá và khuyến nhạc. Đó là các
chương trình bán cổ điển hướng tới đối tượng thanh niên. Trong các chương trình này đã
có sự phối hợp chặt chẽ giữa Dàn nhạc Giao hưởng và Dàn nhạc nhẹ, giữa các giọng ca
thính phòng và các giọng ca trẻ, giữa múa Ballet và lớp năng khiếu múa của Nhà hát cho
các chương trình âm nhạc Trịnh Công Sơn, chương trình“Khát vọng mùa xuân”đêm
31/12/2003 do Công ty Dầu thực vật Cái Lân tài trợ…đem đến cho Nhà hát một bước
phát triển mới nhằm nâng cao thị hiếu thẩm mỹ cho phù hợp với giới trẻ hiện nay. Mặt khác,
Nhà hát cũng đã bắt đầu thực hiện kế hoạch liên kết với các trường đại học, trung học để
giới thiệu về Dàn nhạc giao hưởng, về múa ballet để từ đây tạo nguồn khán giả cho mình
trong tương lai.
Quyết định thành lập năm 1993 và chính thức hoạt động từ ngày 9/9/1994 đến nay
Nhà hát Giao hưởng và Vũ kịch Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng được nhiều chương
trình và tiết mục đạt chất lượng nghệ thuật cao. Đặc biệt, nhạc giao hưởng không chỉ có
chỗ đứng trên thị trường âm nhạc Thành phố mà còn khẳng định vị thế của mình, đáp
ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật bác học của khán giả Thành phố Hồ Chí Minh,
người nước ngoài đến công tác, du lịch và nhân dân các địa phương. Sở Văn hóa -
Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh đã đánh giá một cách xác đáng rằng: “Nhà hát Giao
hưởng và Vũ kịch đã đạt được những thành công đáng khích lệ trong việc đưa loại hình
nghệ thuật bác học đến với công chúng rộng rãi”.
Quả thật, chỉ tính năm 2000, Nhà hát đã có 244 suất diễn, phục vụ 79.650 lượt
người xem trong cả nước. Xây dựng được nhiều chương trình và tiết mục đạt chất lượng
nghệ thuật cao như: Symphony No1 của Hoàng Việt, Symphony No5 của Nguyễn Văn
Nam… Ngoài ra, Nhà hát còn tham gia mở rộng hoạt động giao lưu nghệ thuật góp phần
làm phong phú thêm đời sống nghệ thuật của Thành phố, đồng thời qua đó tiếp thu được
những kinh nghiệm tốt và thành tựu của bạn bè trong, ngoài nước. Hàng năm Dàn nhạc
Giao hưởng của Thành phố Hồ Chí Minh còn đi biểu diễn ở nước ngoài, tham dự các
Liên hoan âm nhạc như: Liên hoan Âm nhạc Châu Á- Thượng Hải (Trung Quốc). Tham
dự Festival tuần Châu Á tại Hàn Quốc…
Cũng trong năm 2000, Sở Văn hoá- Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh đã đón tiếp
nhiều đơn vị nghệ thuật và nghệ sĩ nước ngoài đến biểu diễn như: Chương trình ca nhạc
“Tay trong tay” của ca sĩ Hàn Quốc và dàn nhạc Giao hưởng Thành phố; chương trình
âm nhạc Đức và nhạc thính phòng của Australia “Ensemble”; chương trình giao hưởng:
“Cất cánh cùng những tài năng âm nhạc trẻ”của dàn nhạc trẻ châu Á…
Năm 2004, tối 4/11 tại Nhà hát Thành phố đã diễn ra chương trình Hoà nhạc cổ
điển Toyota Classic 2004. Chương trình giới thiệu dàn nhạc giao hưởng Brno của Cộng
hòa Czech, một trong những dàn nhạc lớn nhất Trung Âu và đặc biệt dành tặng những
công chúng yêu nhạc của Bedrick Smetana và Dvorak, hai nhạc sĩ thiên tài người Czech
(Bản giao hưởng Khải hoàn của Smetana và bản giao hưởng số 9 cung Mi thứ Từ tân thế
giới của Dvorak). Đêm diễn đã thực sự để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng khán giả Việt
Nam. Cùng với dàn nhạc Brno, tại đêm nhạc Toyota Classic còn có sự xuất hiện của
nghệ sĩ violon Bùi Công Duy biểu diễn bản concerto cho violon, cello và dàn nhạc của
Brahms.
Gần đây nhất, nhân tháng châu Âu, một chương trình hòa nhạc châu Âu hoành
tráng đã được công diễn tại Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 9/5/2005.
Chương trình có sự tham gia của nghệ sĩ Violin Maryvonne Le Dizes, dàn nhạc Nhà hát
Giao hưởng và Vũ kịch Thành phố Hồ Chí Minh (HBSO), dàn hợp x ướng quốc tế Thành
phố Hồ Chí Minh, hợp xướng Trường quốc tế ABC.
Chương trình được mở đầu bằng Bài ca vui mừng của L.V.Beethoven do dàn nhạc
giao hưởng và hợp xướng trình bày. Tiếp theo là tiếng đàn của Le Dizes trong bản
Concerto cho violin và dàn nhạc của Leclair. Dàn nhạc dây dưới sự chỉ huy của Le Dizes
biểu diễn tác phẩm Suite Holberg của Grieg và năm tác phẩm viết cho dàn nhạc dây của
Hindemith.
Hợp xướng quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh cùng dàn nhạc trình bày chùm năm bài
hát là những bông hoa của dân ca Anh, hợp xướng Trường Quốc tế ABC hát năm bài
dân ca Đức nổi tiếng. Dàn nhạc chơi cùng hợp xướng do nhạc trưởng Trần Vương Thạch
chỉ huy.
Nói tóm lại, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi thường xuyên có các đoàn nước ngoài
sang thăm, hợp tác làm ăn và du lịch, nếu biết phát huy thế mạnh đó thì nhạc giao hưởng
sẽ ngày càng phát triển.
2.2.2. Lĩnh vực sân khấu kịch nói
Theo kết qủa một số cuộc thăm dò thể nghiệm trước đây về sự yêu thích của công
chúng Thành phố Hồ Chí Minh đối với bộ môn văn nghệ thì sân khấu là một bộ môn
thuộc loại được nhiều người ưa thích nhất. Mấy năm gần đây, khi nhạc trẻ lên ngôi thì
bộ môn này được ưa chuộng thứ hai. Cứ 100 người được hỏi, loại hình nghệ thuật nào
bạn ưa thích nhất thì có đến 55-60% trả lời: kịch nói. Con số đó chứng tỏ sức phát triển
của bộ môn này tại đây cũng không giảm đi bao nhiêu so với trước.
Kịch nói ở phương Tây gọi là drame, nghĩa là kịch. Nhưng ở Việt Nam, vì muốn để
phân biệt với các loại hình kịch hát dân tộc khác như: chèo, tuồng, cải lương, kịch dân
ca nên gọi là kịch nói.
Các thành phần của kịch nói cũng như các loại hình sân khấu khác là: văn học
(kịch bản), âm nhạc, ca múa, mỹ thuật, đạo diễn, khán giả…nhưng quan trọng nhất vẫn
là diễn viên. Người diễn là trung tâm của nghệ thuật sân khấu. Kịch nói miêu tả con
người ở hình thái tự nhiên, bởi vậy, diễn viên phải thể nghiệm, nghĩa là phải sống bằng
nội tâm của nhân vật mình đóng. Nói cách khác, là phải nhập vai, khác hẳn với kịch hát
truyền thống là người diễn biểu hiện nhân vật. Sự khác nhau cơ bản về phương pháp của
hai loại hình kịch, kịch nói: tả chân, kịch hát: tả ý.
Nghệ thuật sân khấu nói chung và sân khấu kịch nói nói riêng phản ánh cuộc sống
bằng phương tiện ngôn ngữ, hành động kịch tính do diễn viên trước khán giả. Nhưng
khác với kịch hát, diễn viên kịch nói hành động trên sân khấu bằng độc thoại và độc
thoại là chủ yếu. Nghệ thuật diễn xuất của diễn viên sân khấu kịch nói được biểu đạt
bằng hành động sân khấu trong một không gian và thời gian sân khấu. “Nghệ thuật biểu
diễn là nghệ thuật của hành động. Hành động sân khấu chính là cơ sở sáng tạo, là
phương tiện nghệ thuật của người diễn viên” [66, tr.18]. Hành động với tư cách là
phương tiện nghệ thuật diễn xuất, phải là “hành động hữu cơ” (Stanixlawski), là sự kết
hợp giữa nội tâm và hình thể - một sự biểu đạt cả hồn và xác. Hành động và động tác có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau: hành động chi phối, điều hành động tác, động tác biểu
hiện hành động. Sân khấu là nghệ thuật miêu tả hành động bằng động tác. Hệ thống hành
động sân khấu được coi là hệ thống ngôn ngữ của diễn xuất, là sự biểu hiện ngữ, nghĩa sân
khấu. Hệ thống hành động bao gồm hành động hình thể, hành động ngôn ngữ, hành động
tâm lý... Hành động hình thể gồm những động tác tạo nên từ hình thể người diễn viên. Hành
động ngôn ngữ là đối thoại, độc thoại, lời nói riêng. Hành động tâm lý chỉ những trạng thái
có thể là sự “ngừng lặng”về ngôn ngữ của diễn viên, song cũng là lúc diễn viên hoàn toàn
dùng hành động biểu đạt trạng thái sóng gió trong nội tâm nhân vật. Thực ra, sự phân loại
hành động chỉ mang tính chất tương đối, bởi quan hệ giữa chúng mang tính chất hữu cơ,
hành động này nằm trong hành động kia, biểu hiện hoặc là hệ qủa của hành động kia, và
ngược lại.
Từ xa xưa nước ta đã có một nền sân khấu phong phú, rực rỡ. Sân khấu truyền
thống Việt Nam đã từng đạt những đỉnh cao về mặt nghệ thuật. Nhưng đến đầu thế kỷ
XX, vì những nguyên nhân lịch sử, nó đã suy tàn. Những luật lệ nghiêm ngặt của một
nghệ thuật sân khấu đã định hình, được quy phạm chặt chẽ bởi những hình thái cách
điệu và ước lệ của quá khứ dường như không còn đáp ứng được yêu cầu bám sát và trực
tiếp thể hiện đời sống đang biến động đương thời. Cần phải có một loại sân khấu khác.
Và rồi, một phần do yêu cầu cần phản ánh cuộc sống sôi động, một phần do chịu ảnh
hưởng sâu sắc bởi kịch phương Tây, chủ yếu là kịch Pháp, kịch nói ra đời. Vỡ kịch
“Chén thuốc độc”của Vũ Đình Long được công khai diễn tại Hà Nội tối ngày 20/10/1921
được đánh dấu cho sự khai sinh kịch nói Việt Nam.
Tuy kịch nói đến với Việt Nam hơi muộn so với Trung Quốc, Nhật Bản nhưng lại
phát triển khá nhanh. Sau khi ra đời trong một thời gian dài, sân khấu kịch Việt Nam
luôn có xu hướng thoát khỏi sân khấu truyền thống đã bị coi là lỗi thời. Vẻ đẹp chân
chính của Tuồng cổ, chèo cổ hầu như không còn được biểu lộ và dần dần bị lãng quên.
Những người làm kịch không thể tìm thấy một chút quan hệ gì giữa Tuồng, Chèo và kịch
- một nghệ thuật dù non nớt nhưng mới mẻ đang tự coi mình là được công chúng đô thị
coi là “văn minh”, “hợp thời” và hoàn toàn khác biệt với nghệ thuật truyền thống. Tất
nhiên nó không thể tiếp thu gì ở sân khấu cổ Việt Nam và vì thế đã không tránh khỏi bắt
chước cái mẫu Âu châu đã sinh ra nó. Có thể nói, trong các loại hình nghệ thuật, có lẽ
sân khấu kịch nói đã chịu ảnh hưởng sâu sắc với nền nghệ thuật sân khấu phương Tây.
Có được nền sân khấu như ngày nay, sân khấu kịch Việt Nam đã trải qua bao lần tiếp
xúc với thế giới. Mỗi lần tiếp xúc có những đặc điểm riêng.
Lần tiếp xúc thứ nhất xảy ra đầu thế kỷ XX, trong tư thế mất nước và chịu đô hộ,
trong tâm thế bị áp đảo về văn hóa. Vì thế, trình độ kịch chỉ mang tính nghiêp dư.
Lần tiếp xúc thứ hai là chủ động, có mục đích, có định hướng. Nước ta đã liên tục
cử người đi học về nhiều chuyên ngành với mục đích xây dựng một nền sân khấu chuyên
nghiệp. Kết qủa là sân khấu kịch từ một phong trào rộng lớn đã tiến dần tới trình độ
chuyên nghiệp.
Ngoài ra, trong những lần du học ở sân khấu Liên Xô và các nước Đông Âu, những
người Việt Nam đã biết tiếp xúc với một xu hướng mới của sân khấu Âu châu nói chung
đang tìm cách thoát ra khỏi khuôn khổ sân khấu tả thực đã ngày càng lộ rõ tính chất hạn
hẹp, gò bó để đi tới một loại sân khấu ước lệ, giả định theo những gợi ý tiếp thu được từ
sân khấu phương Đông.
Trao đổi, chọn lọc, tiếp nhận - một quá trình tiếp biến văn hóa trong suốt quá trình
du nhập, hình thành, tồn tại, phát triển của kịch nói Việt Nam trong tác động của kịch
nói phương Tây đã là tiền đề tạo nên chân dung nghệ thuật diễn xuất kịch nói Việt Nam.
Nghệ thuật diễn xuất kịch nói Việt Nam đã chịu ảnh hưởng nhiều bởi những luồng
sân khấu khác nhau. Sân khấu hiện thực tâm lý của Stanixlawski, sân khấu Xô Viết,
phương pháp sân khấu Bertolt Brecht (Đức). Nhưng cho đến nay, ảnh hưởng của thể hệ
Stanixlawski và sân khấu Xô Viết tới sân khấu Việt Nam vẫn đóng vai trò chủ lưu. Thể hệ
Stanixlawski và sân khấu Xô Viết là hai tác nhân quan trọng tạo nên bước ngoặt quyết
định trong hình thành sân khấu kịch nói Việt Nam. Từ bước ngoặt này, diễn xuất kịch nói
Việt Nam đã chuyển dần từ nghiệp dư, tài tử lên chuyên nghiệp, mang tính khoa học.
Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XX, Việt Nam bước vào một giai đoạn lịch sử
mới: giai đoạn chuyển đổi cơ chế từ bao cấp sang cơ chế thị trường, giai đoạn mở cửa
giao lưu với nhiều luồng văn hóa nhân loại. Do điều kiện lịch sử, đã có một thời gian,
nước ta ít liên lạc với các nước phương Tây, nay lại được nối lại trên tinh thần giao lưu,
hội nhập “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng
quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”. Với kịch nói, đây cũng là giai đoạn
đem mình ra để so sánh, chiêm nghiệm sau gần một thế kỷ từ châu Âu nhập vào Việt Nam
và trải qua những cuộc tiếp nhận và đổi mới.
Những năm 90 trở lại đây, kịch nói Việt Nam đã có những cuộc tiếp xúc với một số
nền sân khấu Âu Mỹ và một số hình thức giao lưu văn hóa. Có nhiều hình thức giao lưu
khác nhau, chẳng hạn như các đoàn kịch nước ngoài vào Việt Nam biểu diễn và ngược lại,
các đoàn kịch Việt Nam ra trình diễn ở các nước bạn. Nhưng hình thức tiếp xúc với sân khấu
kịch phương Tây nhiều hơn cả là các đạo diễn nước ngoài trực tiếp dàn dựng vở cùng
các diễn viên Việt Nam, hay là hình thức hợp diễn diễn viên hai nước.
Năm 1986, vở “Chim sơn ca” được phối hợp dàn dựng bởi đạo diễn người Pháp
J.Chốt Buốc bông và nữ diễn viên chính Lê Khanh đã được dư luận chú ý và đánh dấu
cho sự trở lại giao lưu với sân khấu phương Tây. Vở “Ngày chủ nhật”, “Tiểu thư Mamút
kén chồng”, “Thằng láu” …đều là những vở diễn được dàn dựng từ các đạo diễn Pháp.
Qua các vở diễn các diễn viên Việt Nam đã lĩnh hội được một lối diễn khá bài bản của
phong cách Pháp mới.
Ngoài sân khấu Pháp, sân khấu Mỹ cũng tới Việt Nam, khi Nhà hát kịch Việt Nam
kết hợp Nhà hát Artists Repertory Theatre và trường đại học Pacific dàn dựng vở “Giấc
mộng đêm hè” với diễn viên Mỹ và diễn viên Việt. Mặc dù đã có nhiều cuộc tranh luận
bởi sự không đồng quan điểm, nhưng rồi cũng đi đến sự thống nhất trong dàn dựng,
trong cách diễn của diễn viên hai nước khi thể hiện tác phẩm. Sân khấu Việt Nam đã
nhiều lần xuất ngoại với các vở “Đại đội trưởng của tôi”, “Hồn Trương Ba, da hàng
thịt”, “Mùa hạ cay đắng”, “Bước qua lời nguyền”…đã gây được cảm tình với khán giả
Nga, Hàn Quốc, Mỹ. Đã có một số đoàn kịch của Nhật, Hồng Kông, Canađa, Pháp vào
biểu diễn tại Việt Nam. Điều đó cho thấy sự hội nhập vào cộng đồng khu vực và quốc tế
đối với ngành kịch nói của nước ta là có thể làm được. Tuy nhiên, để có được sự hội
nhập với sân khấu quốc tế là cả một quá trình đối với sân khấu kịch Việt Nam nói chung
và sân khấu kịch nói Việt Nam nói riêng. Lâu nay, sân khấu kịch nói Việt Nam đã có
nhiều cuộc trao đổi, giao lưu nhưng chỉ mới dừng lại ở đó, chưa thể xem là đã thực sự
hội nhập.
So với sân khấu kịch nói Hà Nội, sân khấu kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh có
nhiều điều kiện tiếp xúc, giao lưu với nghệ thuật sân khấu quốc tế và khu vực hơn. Có lẽ, do
điều kiện lịch sử, do hoàn cảnh địa lý nên nền nghệ thuật sân khấu kịch nói Thành phố Hồ
Chí Minh khá phát triển.
Theo tác giả Lê Hồng Liêm thì ở Sài Gòn cho mãi đến năm 1950 “mới có trình diễn
kịch nói” [50, tr.4-5]. Mặc dầu trước đó đã có Trọng Tín, nhà soạn kịch nói đầu tiên với
các vở hài kịch Toa toa moa moa (1925), Kẻ ăn mắm, người khát nước (1926) nhưng
không diễn được trên sân khấu, dù tác giả có gài thêm ít bài hát cải lương. Đáng chú ý
nhất về phong trào kịch nói ở Sài Gòn thời điểm trước Cách mạng Tháng Tám có khuynh
hướng khai thác các đề tài lịch sử. Ba đêm diễn của sinh viên ngày 14, 21 và 24/7/1973
với vở kịch 4 hồi Đêm Lam Sơn của Huỳnh Văn Tiểng gây được tiếng vang, thể hiện
nguyện vọng đánh đuổi Pháp - Nhật giành lại độc lập dân tộc.
Từ năm 1954 đến đầu những năm 70, ở sân khấu Sài Gòn, kịch nói chủ yếu kết hợp
với ca nhạc (đại nhạc hội). Sau năm 1975, kịch nói thu hút được số lượng công chúng nhờ
những nổ lực của chính quyền duy trì hoạt động kịch nói qua một số đoàn như Kim Cương,
Bông Hồng, Cửu Long Giang…
Đến thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, những năm 90 cho đến nay sân khấu kịch
Thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều thành tựu đáng kể, trong đó có những vở diễn được
kết hợp với những lối diễn Việt Nam và Pháp, gây nhiều điều thú vị cho người xem.
Chẳng hạn vở:“Ông Jonrdain ở Sài Gòn”của đạo diễn Trần Minh Ngọc và Vincent
Colin, được trình diễn tại Nhà hát rất có tiếng của thủ đô Pari. Vở diễn đã được báo chí
Pháp đánh giá là khá thú vị. Lối hài kiểu Moliere và những bài ca vọng cổ Nam Bộ đúng
lúc tạo nên cảm giác dễ chịu và hấp dẫn cho người xem. Nam diễn viên Thành Lộc và
bạn diễn Pháp đã có những phút ngẫu hứng, ứng diễn làm cho người xem bất ngờ và
thích thú.
“Nỗi đau nhân loại”của Nhà hát nhỏ Thành phố Hồ Chí Minh với sự dàn dựng của
đạo diễn Shoun Macloughlin (Anh) là một nổi bật về nghệ thuật dàn dựng. Diễn viên
Quốc Thảo đã tỏ ra khả năng linh hoạt trong sự thích ứng với nhiều vai trò, nhiều kiểu
diễn. Nhưng, giống như những hạn chế khác của sân khấu Việt Nam khi giao l ưu với sân
khấu nước ngoài, đó là “bất đồng ngôn ngữ”. Ngôn ngữ khác nhau đã tạo nên sự cứng
nhắc và gượng gạo, thiếu mất lòng tự tin và bản lĩnh sân khấu của các diễn viên khi diễn.
Sinh viên trường Cao đẳng Sân khấu - Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh đã thích
ứng rất nhanh với sân khấu nước ngoài. Qua sự dàn tập một số cảnh trong vở “Giấc
mộng đêm hè”với nghệ sĩ Nhà hát Artists Repertory Theatre (Mỹ), các sinh viên ở
trường này đã có những vở diễn dài hơi với đạo diễn, họa sĩ Richard Je riony ở vở “Miss
Tanaka”và đạo diễn Mỹ Edgar Reynolds ở vở “Đêm thứ 12”. Nói chung qua những lần
luyện tập dàn dựng với các đạo diễn, nghệ sĩ nước ngoài, các nghệ sĩ, diễn viên của
chúng ta đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu, thậm chí thay đổi hẳn cách diễn,
ngôn ngữ biểu đạt được mở rộng, người xem cảm nhận được phần nào phong cách diễn
xuất phóng khoáng, trẻ trung mang hơi thở thời đại.
Ngoài ra, thời gian gần đây, có một dòng ảnh hưởng từ bên ngoài đó là những vở
diễn của những người gốc Việt, hoặc gốc Việt sống ở nước ngoài, tiếp thu văn hóa
phương Tây song vẫn khắc khoải với hồn nghệ thuật truyền thống dân tộc. Những vở
diễn này tuy không ồn ào, nhưng lại khá ấn tượng đối với nghệ thuật sân khấu Việt Nam
nói chung và nghệ thuật sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Đặc điểm, Thành
phố Hồ Chí Minh có nhiều người sống ở nước ngoài và những năm gần đây xu hướng
“trở về nguồn”của các đội ngũ này khá lớn. Hoặc họ về Việt Nam để biểu diễn nghệ
thuật, hoặc họ mời đoàn nghệ thuật của Thành phố Hồ Chí Minh sang biểu diễn ở những
nơi họ đang sinh sống, hoặc họ biết kết hợp giữa hai nền văn hóa nghệ thuật khác nhau
trong các vở diễn. Hiện tượng này tạo nên nền nghệ thuật sân khấu Thành phố Hồ Chí
Minh có nhiều biến chuyển và có nhiều sắc màu riêng. Chúng ta có thể cảm nhận rõ
trong:: “Ngôi nhà đông người”, “Giấc mộng đêm hè” và sau này là “Phiên toà” (Nhà
hát kịch Thành phố Hồ Chí Minh), “Hồn Xuân Thu”(Cao đẳng Văn hóa điện ảnh)…
Trong sự tiếp xúc với sân khấu nước ngoài, bên cạnh những vở diễn kịch bản cấu
trúc theo truyền thống, còn có những vở diễn mà kịch bản cấu trúc hiện đại, không có
câu chuyện, không có đường dây thông thường, thời gian, không gian vật lý, tâm lý đan
xen v.v. Diễn xuất của diễn viên buộc phải thích ứng. Lối diễn theo kiểu hiện thực thông
thường khó ăn nhập trong loại vở diễn này. Ngôn ngữ hình thể đã trở nên rất quan trọng
trong sự biểu đạt sân khấu. Có thể nói, tiêu biểu lối diễn này là vở “Hạc chiều”, một vở
kịch mới được trình chiếu và truyền hình trực tiếp trên sóng VTV cách đây không lâu. Vở
kịch nằm trong chương trình giao lưu văn hóa Việt-Nhật đã chính thức ra mắt tại trường
Cao đẳng Sân khấu-Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh do Yuuki Ippei chỉ đạo nghệ
thuật, kịch bản của Kinoshita Junji, diễn viên chính Lan Hương đảm nhiệm. Vở Hạc
chiều được dàn dựng theo phong cách sân khấu Nhật, mang bản sắc kịch “Nô”, đó là sự
giao thoa giữa cái “ảo”và cái “thật” được cô đọng trong 70 phút diễn và một cảnh duy
nhất nhưng chuyển tải được toàn bộ câu chuyện. Chính sự pha trộn giữa ánh sáng, thiết
kế sân khấu, âm nhạc và chính sự diễn xuất của diễn viên trên sân khấu đã mang đến cho
người xem bản chất sâu xa của nội dung câu chuyện. Vở diễn bắt đầu bằng hình ảnh:
ánh đèn bật sáng, sân khấu hiện dần lên ngôi nhà với hình ảnh anh nông dân Yohyo đang
nằm ngủ, một giấc ngủ hạnh phúc khi anh vô tình cứu con hạc khỏi thương tích để được
cô vợ Tsu xinh đẹp. Rồi hai tên lái buôn là Sodo và Unzu xuất hiện, nghe lời quyến rũ
của hai tên lái buôn, Tsu phải dệt cho anh những tấm vải đẹp để bán được nhiều tiền.
Chuyện chỉ có thế thôi, sân khấu cũng không ồn ào, không phô trương nhiều cảnh
diễn, chỉ có 9 diễn viên, trong đó có 5 trẻ em, hai lái buôn, đôi vợ chồng Yohyo và Tsu
nhưng đã mang đến cho người xem cả một không gian nghệ thuật ẩn chứa thế giới nhân
sinh, những tấn trò đời vui, buồn, được, mất lẫn lộn trong cuộc sống….Hạc chiều là vở
kịch được rút gọn, vì thế nó buộc người xem phải tập trung suy nghĩ cùng với nội dung
vở diễn để hiểu được sâu hơn những gì đạo diễn người Nhật muốn chuyển tải. Sau khi vở
diễn được trình chiếu, diễn viên chính Lan Hương đã tâm sự: cô đã phải tập luyện hết
sức vất vả, nỗ lực mới có được những cảnh diễn thể hiện nội tâm nhân vật rất thành công
như vậy. Nhân vật Tsu vừa là người, vừa là hạc nên khi diễn phải làm sao thể hiện được
điều đó, từ động tác, đôi chân, đôi cánh tay phải nhịp nhàng như con hạc bay mới đạt.
Vở diễn được các nhà nghiên cứu, phê bình nghệ thuật đánh giá là một tác phẩm nghệ
thuật đẹp một cách tinh tế, sâu sắc, ngang bằng với những vở diễn nổi tiếng của Nhật.
Ngoài hình thức trao đổi, giao lưu nghệ thuật sân khấu bằng đạo diễn nước ngoài
(chủ yếu là Pháp, Mỹ, Nhật) và diễn viên trong nước để dàn dựng các vở diễn như vừa
nêu trên. Nghệ thuật sân khấu kịch nói Việt Nam nói chung và sân khấu kịch nói Thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng còn có cơ hội đi ra nước ngoài biểu diễn. Mặc dù, công bằng
mà đánh giá, sân khấu kịch nói của ta lưu diễn ở các nước còn hạn chế. Mấy năm gần
đây, mặc dầu sự giao lưu về nghệ thuật sân khấu đã có những khởi sắc hơn, nhưng so với
sự hội nhập quốc tế thì vẫn còn quá ít. Nguyên nhân thì nhiều, nhưng có lẽ nguyên nhân
chính vẫn là bởi hàng rào ngăn cách ngôn ngữ, bởi vấn đề kinh phí khi đi lưu diễn. Một
vở diễn sẽ khó được người xem ngoại quốc tiếp nhận đầy đủ khi chỉ được đọc qua bản
giới thiệu nội dung tóm tắt như xưa nay chúng ta vẫn thường làm. Các vở diễn của Việt
Nam, sau khi xem, bạn bè nước ngoài thường tỏ ra rất tiếc khi không hiểu hết nội dung
vở diễn qua các đối thoại, mặc dù có phiên dịch ra tiếng của họ. Mà một khi đã không
hiểu được nội dung thì làm sao mà thưởng thức được những cái hay, cái đẹp của sân
khấu, bởi sân khấu là nghệ thuật tổng hợp. Cũng như vậy, đối với các đoàn nghệ thuật
sân khấu nước ngoài vào Việt Nam cũng khó tránh khỏi sự “bất đồng ngôn ngữ”. Khán
giả Việt Nam khi xem các vở kịch của Thụy Điển, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản…
mặc dù trước khi diễn đã được giới thiệu nội dung, nhưng khán giả cũng chỉ tiếp nhận
được nhiều lắm là một nửa giá trị nghệ thuật của vở diễn. Một nguyên nhân nữa là để một
đoàn sân khấu sang nước ngoài biểu diễn cũng như mời một đoàn sân khấu vào diễn ở Việt
Nam, riêng tiền vé máy bay, tiền ăn ở, tiền chuyên chở đạo cụ…cũng đã đòi hỏi chi phí rất
lớn.
Vì vậy, để cho việc trao đổi, giao lưu nghệ thuật sân khấu được đều đặn và thường
xuyên hơn, thiết nghĩ cần phải có những biện pháp hỗ trợ và khắc phục có hiệu quả. Về
khắc phục, để cho vở diễn đến được với khán giả một cách dễ dàng hơn, tiếp thu giá trị
nghệ thuật cao hơn, người diễn viên nên chăng hạn chế bớt lời thoại mà tăng cường cách
diễn bằng hành động, điệu bộ, nghĩa là sử dụng ngôn ngữ hình thể nhiều hơn để biểu đạt
nội dung vở diễn. Về hỗ trợ, Nhà nước cần đầu tư kinh phí trang trải cho quá trình lưu
diễn của các đoàn khi ra nước ngoài cũng như khi mời các đoàn sân khấu vào Việt Nam
biểu diễn.
Mặc dầu còn nhiều nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc giao lưu nghệ thuật
sân khấu kịch nói ra nước ngoài, song mấy năm gần đây sân khấu kịch nói nước ta đã cố
gắng để đến được với bạn bè quốc tế. Đặc biệt, trong những lần hội diễn, liên hoan sân
khấu thể nghiệm…đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đoàn nghệ thuật sân khấu Việt Nam
nói chung và sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng giao lưu học hỏi được nhiều
kinh nghiệm, bài học bổ ích cho mình. Những hình thức tiếp xúc với các phong cách kịch
nước ngoài đã đem một sắc thái mới cho sân khấu kịch: trong lối kết cấu kịch, trong dàn
dựng và nghệ thuật diễn xuất. Điều này chúng ta có thể thấy rõ khi được xem những vở
kịch được diễn ở sân khấu kịch Thành phố Hồ Chí Minh. Mọi sự tiếp xúc đều có hai mặt
của nó, vấn đề là sân khấu kịch của chúng ta đã biết lọc bỏ những cái gì không thuộc về
ta và chọn lọc, tiếp nhận những gì hợp với mình để tồn tại, phát triển và tạo nên một
phong cách riêng, rất Việt Nam.

2.2.3. Lĩnh vực sân khấu truyền thống
Nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam bao gồm: Tuồng (hát bội), chèo, cải
lương, múa rối. Mỗi thể loại đều có xuất xứ từ một vùng đất nước. Nếu đồng bằng Bắc
Bộ sản sinh ra chèo, múa rối; Nam Bộ - quê hương của cải lương; thì mảnh đất miền
Trung là nơi phát triển tuồng. Đã một thời, sân khấu truyền thống đã trở thành “khuôn
vàng thước ngọc”của kho tàng văn hóa Việt nam, trở thành món ăn tinh thần không thể
thiếu trong đời sống nông thôn và cả nhân dân thành thị. Thế nhưng giờ đây, mỗi năm
một vắng, sân khấu truyền thống đang đứng trước thử thách của thời đại, đang được dư
luận đặt câu hỏi “tồn tại hay không tồn tại?”. Sự khủng hoảng của sân khấu truyền
thống cũng là điều dễ hiểu bởi dưới sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, đời
sống xã hội đã có những biến đổi sâu sắc. Sân khấu truyền thống không còn là loại hình
nghệ thuật thống lĩnh gần hết mọi hoạt động giải trí của người dân như trước đây nữa.
Ngày nay, sự giao lưu văn hóa nghệ thuật với thế giới ngày càng mạnh mẽ, dồn dập bằng
những kỹ thuật hiện đại đã giúp công chúng có thể lựa chọn bất cứ loại hình nghệ thuật
nào mà mình thích. Hơn nữa, với lớp trẻ, sân khấu truyền thống đã trở nên xa lạ, họ
không thuộc các tuồng tích lịch sử. Vì thế, khi xem tuồng, chèo, cải lương, lớp trẻ không
hiểu hết được những ý nghĩa lịch sử chứa đựng trong các vở diễn. Không hiểu đâm ra chán,
mà đã chán thì không thể thưởng thức giá trị nghệ thuật. Vấn đề công chúng cho sân khấu
truyền thống đang trở thành nổi trăn trở của các nhà làm công tác văn hóa nghệ thuật. Làm
thế nào để kéo được công chúng về với sân khấu truyền thống? Làm thế nào giữ gìn được
bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn những cái gì thuộc về cái riêng, cái độc đáo của cha ông?
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương bảo tồn, phục hưng và phát huy loại
hình nghệ thuật này. Tuy nhiên, đây là bước đường đầy gian nan, thử thách, nhất là sân
khấu hát bội (tuồng) và sân khấu cải lương.
* Nghệ thuật Tuồng (hát bội)
Hát bội là loại hình nghệ thuật trình diễn độc đáo, có truyền thống lâu đời, đã từng
giữ địa vị độc tôn trên sân khấu nghệ thuật ở nước ta. Ở Nam Bộ, hoàn cảnh lịch sử làm
cho nghệ thuật hát bội có thời kỳ chi phối hầu như toàn bộ đời sống văn hóa tinh thần
của cư dân, ít nhất cho đến các thập niên đầu thế kỷ XX, trước khi cải lương xuất hiện.
Nghệ thuật hát bội theo bước chân của lưu dân đến Sài Gòn và Nam Bộ, bắt rễ trên
đất Bình Định từ thế kỷ XIX. Vì thế trước đây Bình Định được coi là cái nôi của nghệ
thuật hát bội. Nhưng khi loại hình nghệ thuật này phát triển trải dài xuyên suốt dải đất
Nam Bộ thì sự có mặt của người Hoa hoặc ảnh hưởng của tuồng tích Tàu sau này không
làm cho nghệ thuật hát bội biến màu, mà càng làm cho nó thêm phần nhuận sắc. Mặc
dầu ảnh hưởng của Trung Quốc, của Chiêm Thành đến sân khấu cổ truyền Việt Nam là
điều không thể phủ nhận, cũng không thể xem nhẹ; bởi giao lưu văn hóa là hiện tượng tất
yếu và hữu ích - nhất là đối với các dân tộc láng giềng mà trình độ văn hóa đã sớm phát
triển tới mức cao.
Sân khấu hát bội vừa mang những nét đặc trưng chung của sân khấu châu Á, của
sân khấu truyền thống Việt Nam, lại vừa có những đặc trưng riêng biệt. Đặc trưng chung
là sân khấu tổng thể với ngôn ngữ nghệ thuật diễn viên kiêm cả: nói, hát, kịch câm, múa
mà các yếu tố ấy đều là thủ pháp nghệ thuật của diễn viên, chứ không có chức năng ngôn
ngữ như ca nhạc vũ kịch. Kịch bản văn học cũng tổng thể, sử dụng tích hợp văn vần, thơ,
từ, văn xuôi.
Sân khấu thuộc hệ tự sự, không gian ba chiều, kiến trúc dàn trải chứ không dồn
nén. Đó là những đặc trưng chung, còn đặc trưng riêng: Cách bố trí sân khấu đơn giản,
không cầu kỳ, rườm rà như sân khấu phương Tây. Hát bội lấy nguyên tắc tượng trưng
làm gốc, không cần tranh vẽ cho phù hợp với cảnh vật trong tuồng, như hát cải lương
hay kịch nói. Kịch bản sử dụng thơ văn bác học Việt Nam.
Dàn nhạc của hát bội rất quan trọng, không có nhạc, hát bội không hát được. Có
đờn mà không trống, không kèn, thiếu chập hỏa cũng không hát được. Nhạc không dây,
có đờn và ống tiêu, trống lớn, trống nhỏ, chập chõa, đồng la và sanh. Kỹ thuật hát tích
hợp giữa thanh nhạc và tiếng nói sân khấu, phát huy kỹ thuật ngữ khí, ngữ điệu lên trình
độ bác học.
Y quan phong phú, màu sắc sặc sỡ. Có y quan dành riêng cho vua, hoàng hậu,
hoàng tử, cung phi, quan văn, quan võ, trung, nịnh… Có người cho rằng y quan của hát
bội Việt Nam bắt chước y phục của Hán, có người cho rằng giống các quan triều đình
Huế, có lẽ giống cả hai.
Diễn viên hóa trang cách điệu hóa, có nhiều hình thức vẽ mặt, vẽ theo nhân vật,
mỗi vẽ đều có ý nghĩa nhất định nhằm phân biệt vai này với vai kia. Khi xem, khán giả dễ
nhận ra các vai trong tuồng cổ. Râu ria vẽ cũng nhiều thứ: râu năm chòm, ba chòm, râu
đen, râu bạc, râu hoe hoe, cũng tuỳ theo loại vai.
Giọng hát bội là những giọng nhạc lễ. Có một ít giọng nguyên là của Trung Quốc
nhưng đã được ta biến cải từ lâu. Nhạc đệm tấu những bài như: bài hạ, nam xuân, nam
ai, nam nữ, theo lối hát hay lối của đào kép chứ không tấu trọn bài.
Trong hát tuồng thì nói lối dành phần lớn. Nói lối là nói dẫn đường, hay nói chính xác
hơn, nói lối là nói có cách có điệu, có giọng riêng gần như là hát và xướng, tuỳ theo trường
hợp, hoàn cảnh, trạng huống, tâm tư của nhân vật để tỏ bày ý nghĩa, sự tình, cảm xúc, để
xưng tên tuổi, chức tước, để tả cảnh, tả tình, để nói cả khuynh hướng nữa… Có nhiều điệu
nói lối khác nhau.
Nói tóm lại, mỗi loại hình nghệ thuật đều có phương tiện nghệ thuật của mình.
Phương tiện nghệ thuật có vai trò quyết định đặc trưng nghệ thuật loại hình. Hành động
là phương tiện của nghệ thuật sân khấu nói chung. Hành động trong tuồng, chèo truyền
thống được thể hiện dưới hình thức hát, múa, nói lối, động tác được vũ điệu hóa, và tiết tấu
hóa khác nhau. Những yếu tố này khi đã được tiết tấu hóa, tự nó đã mang tính ước lệ,
không còn ở trạng thái tự nhiên mà trở nên đẹp, mang tính khái quát hơn.
Tuồng (hát bội) ở Nam Bộ nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng chịu ảnh
hưởng văn hóa của người Miên và người Hoa nhiều. Đặc biệt là các gánh hát Quảng,
hát Tiều đi diễn khắp Nam Kỳ, rồi các đoàn hát kinh kịch hay Việt kịch (Quảng) từ bên
Trung Quốc sang biểu diễn ở Sài Gòn chợ Lớn, họ diễn hay, quần áo đẹp, nhạc vui nhộn,
ảnh hưởng rất lớn đến hát bội và cải lương Nam Kỳ.
Nghệ thuật hát bội với tất cả đặc trưng cố hữu của nó từ tổng thể đến bộ phận, là
một nghệ thuật đậm đà bản sắc dân tộc. Nằm trong hệ thống sân khấu tổng thể châu Á,
nhưng khác rõ với sân khấu truyền thống Trung Quốc, Nhật Bản, các nước Đông Nam Á
khác. Vậy nhưng, gần chục năm nay, tuồng ngày càng mất khách nhất là ở thành thị. Làm
thế nào để níu giữ lại nó? Để mất nó, tức là xóa mất một mảng quan trọng trong bức tranh
toàn cảnh của nền nghệ thuật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của nền nghệ thuật Việt Nam
XHCN; là đánh mất một đỉnh cao trong nền nghệ thuật thế giới mà tổ tiên ta đã phải trải
qua mấy thiên niên kỷ mới xây dựng nên.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay còn có một Nhà hát nghệ thuật Hát bội, ra
đời từ ngay sau ngày giải phóng, qua bao bước thăng trầm, bĩ cực, ngày nay Nhà hát vẫn
cố gắng bám trụ, mặc dầu gặp không ít khó khăn. Mỗi năm Nhà hát vẫn cố gắng dựng vở
mới để tồn tại. Có thể kể một số vở tiêu biểu trong những năm gần đây. Năm 2000, Đoàn
hát bội Thành phố đã diễn 82 suất, phục vụ 30.000 lượt người xem, tiêu biểu là vở:Trần
Cao Vân - người mang hồn nước.
Năm 2003 là năm nghệ thuật tuồng ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều khởi sắc. Số
vở diễn cũng nhiều hơn, thu hút khán giả về với tuồng đông hơn. Với 176 suất diễn, phục
vụ 89.130 lượt người xem. Số vở diễn và số khán giả trên là những con số đáng mừng
cho Nhà hát nghệ thuật Hát bội Thành phố Hồ Chí Minh.
Nghệ thuật hát bội rất tinh vi và đặc sắc. Tuỳ trình độ văn hóa, tuổi tác, giai cấp, người
xem đánh giá hát bội theo nhận thức và cảm quan của mình. Vì thế, bản thân người làm
nghệ thuật phải tiếp nhận bao nhiêu lời phẩm bình, ca ngợi, khen chê nhưng ý kiến chung thì
ai cũng muốn sân khấu hát bội phải được trường tồn. Dưới con mắt của người nước ngoài,
nghệ thuật hát bội của ta cũng được ca ngợi rất nhiều. Bà Zôphia Mackiêvich, nhà phê bình
sân khấu, người Ba Lan, uỷ viên văn hóa Liên hợp quốc sau khi xem vở tuồng San Hậu, đã
nói: “Không cần nghe lời dịch, tôi có thể hiểu nội dung qua động tác. Sân khấu này thật giỏi
về biểu diễn động tác” [87, tr.677]. Một viện sĩ Hàn lâm nghệ thuật Hoàng gia Anh, nhân
xem diễn một số trích đoạn hát bội đã lên sân khấu phát biểu: “Không ngờ đến đây, tôi được
xem nghệ thuật này. Nghệ thuật của các bạn vô cùng điêu luyện. Đây không chỉ là đỉnh cao
của nghệ thuật Việt Nam, mà còn là đỉnh cao của nghệ thuật thế giới” [87, tr.677]. Trong
quyển “Hát cổ truyền Việt Nam”, nhà nghiên cứu sân khấu người Pháp đã có nhận xét rất
tinh tế và chính xác về sân khấu hát bội của ta qua nghệ thuật trình diễn. Ông ca ngợi:
“…Đây là một loại hình sân khấu của một dân tộc văn minh…”.
Nghệ thuật hát bội được đánh giá là viên ngọc quý trong kho tàng văn hóa Việt
Nam. Bảo tồn, phục hưng và phát huy sân khấu hát bội là một chủ trương đúng đắn của
Đảng và Nhà nước ta. Với phương châm duy trì chương trình sân khấu học đường và khai
thác tốt lực lượng diễn viên trẻ do Nhà hát đào tạo, Nghệ sĩ Hồng Quân -Giám đốc Nhà hát
và toàn bộ anh chị em nghệ sĩ, diễn viên của Nhà hát nghệ thuật Hát bội Thành phố Hồ Chí
Minh đang cố gắng vực dậy giữ gìn môn nghệ thuật truyền thống này.
* Nghệ thuật sân khấu cải lương
Sân khấu cải lương được xuất hiện trong đời sống văn hóa của cư dân Sài Gòn và
Nam Bộ trước những biến chuyển của thời cuộc khi tiếp xúc với nền văn minh phương
Tây (vào thế kỷ XX). Một loạt các lĩnh vực như nông nghiệp, nếp sống, phong tục, văn
hóa, giáo dục…ở thời kỳ này đều có yêu cầu cải lương (phong trào cải cách lúc đó người
ta gọi là cải lương). Do đó, cải lương không đơn thuần là sự đổi mới của một loại hình
nghệ thuật, mà mang dấu ấn của cả dân tộc và thời đại. Vấn đề cải lương sân khấu được
nêu lên, đối tượng cần phải cải lương là sân khấu hát bội. Bởi trước khi cải lương ra đời,
sân khấu hát bội giữ vai trò chủ yếu trong đời sống văn hóa nghệ thuật. Nhưng do một số
nhân tố mới xuất hiện, đòi hỏi phải có sự thay đổi thích ứng như đối tượng công chúng
mới với nhịp sống rất cần được sự thỏa mãn nhu cầu giải trí và thưởng thức nghệ thuật,
đặc biệt là nghệ thuật trình diễn. Hát bội với những tuồng tích ca ngợi trung hiếu tiết
nghĩa, với những lối diễn ước lệ không còn phù hợp với công chúng nghệ thuật nữa. Sự
tiếp xúc với nền kịch nghệ phương Tây qua từng lớp Tây học và công chúng đô thị cũng
chưa phù hợp vì còn “quá Tây”, sống sượng nên cũng làm cho công chúng hụt hững. Lúc
bấy giờ, văn học chữ quốc ngữ đã định hình, công chúng cần có những tuồng tích mới;
thay thế chữ viết và phong cách diễn biền ngẫu điển tích Hán Nôm.
Để dung hòa tất cả những yếu tố đó, một loại hình mới ra đời: ca ra bộ. Ca ra bộ là
vừa ca vừa làm những điệu bộ phù hợp với lời ca trên cái nền của ca nhạc tài tử. Ca
nhạc tài tử thuộc dòng nghệ thuật dân gian Nam Bộ, xuất hiện trong các cuộc tế lễ, ma
chay, hòa một số bài bản của nhạc lễ và một số bài bản của nhã nhạc từ miền Trung đưa
vào.
Từ giữa những năm 1920, tại Sài Gòn, ca ra bộ mang tên Cải lương. Cải lương ra
đời là sự thay đổi hát bội, Giáo sư Hoàng Như Mai đã đánh giá: “Cải lương là đối chiếu
với hát bội. Cải lương toàn diện từ văn học đến nghệ thuật biểu diễn” [53, tr.176].
Phong cách nghệ thuật của cải lương dần dần được định hình, nhích gần với kịch
nói. Các vở diễn chia theo hồi, màn theo kiểu kịch phương Tây chứ không theo kiểu sân
khấu tự sự như hát bội. Văn chương ít dùng chữ Nho và gắn với ngôn ngữ thường ngày
của đời sống hơn.
Cải lương cũng như Hát bội, Chèo là ca kịch chứ không phải nhạc kịch, như thế có
nghĩa ca là yếu tố chủ yếu. Diễn viên thể hiện bằng lời ca, bài ca dùng những bài bản đã
sẵn có và đặt lời mới.
Cải lương ra đời trong hoàn cảnh xã hội có nhiều biến động giữa cái cũ và cái mới,
nhưng đã kịp thâu tóm khá nhiều vốn cổ tinh hoa của truyền thống. Về bài bản như các
nhịp sáu bắc, ba nam, bốn oán, bảy bài, hoặc theo bốn điệu: xuân, ai, bắc, oán…được
tổng hợp trong các bản xếp loại: nhất lý, nhì ngâm, tam nam, tứ oán, ngũ điểm, lục xuất,
thất chính, bát ngự, cửu nhị, thập thử [53, tr.180-181]. Về nhạc cụ, từ đàn nhạc tài tử
hòa tấu gồm đàn nguyệt, đàn tỳ bà, đàn nhị, đàn bầu, đàn tranh, sến, tam thập lục, ghi ta
phím lõm để nhấm nhá theo giọng của ta, rồi sử dụng luôn cả dàn tân nhạc. Ngoài ra
còn đổi mới về diễn xuất, về hóa trang, kỹ thuật trang trí, xảo thuật….Diễn xuất trên sân
khấu cải lương có khuynh hướng hiện thực hơn hát bội, không bắt buộc phải tuân thủ
hình thức, chỉ cần cách điệu là chính. Điệu bộ chỉ nhằm diễn tả tâm trạng cho đẹp mắt là
được. Đó là diễn xuất trong các vở tuồng Tàu. Còn các tuồng xã hội thì diễn xuất theo tự
nhiên, giống như kịch nói.
Nghệ thuật diễn viên của ca kịch cải lương nhìn chung không theo một chủ trương
nghệ thuật nào cả. Nghĩa là nó pha trộn giữa trường phái biểu hiện và trường phái thể
nghiệm. Không rơi vào tính cực đoan thuộc trường phái đòi diễn viên phải nhập vai
hoàn toàn, hòa hợp hoàn toàn thể xác và tinh thần của minh vào vai kịch và ngược lại
cũng không ở chỗ thể hiện những dấu hiệu bên ngoài của cảm xúc và dùng cách đó mà
đánh lừa khán giả. Có lẽ, bởi sân khấu cải lương Nam Bộ đã tìm ra được nghệ thuật biểu
diễn riêng cho nên dẫu đã gần một trăm năm tồn tại và phát triển, đến nay vẫn còn để lại
trong công chúng ái mộ cải lương sự tin yêu, lòng thán phục nghệ thuật diễn xuất của Út
Bạch Lan, Ngọc Giàu, Phượng Liên, Thanh Nga, Lệ Thủy…là những nam, nữ ca sĩ đã
đạt được các yếu tố cơ bản về ca diễn của nghệ thuật ca kịch cải lương Nam Bộ. Hiện nay,
tuy đã lớn tuổi, có người ở nước ngoài hoặc đã mất, nhưng mỗi khi họ xuất hiện trên sân
khấu, trên vô tuyến truyền hình, nghe giọng ca của họ trên băng ghi âm, thì hình ảnh của họ
vẫn sống động, ngọt ngào, xúc động lòng người.
Gọi là cải lương, nhưng loại hình nghệ thuật này không xa rời truyền thống. Với
các tuồng Trung Quốc, nó có nội lực đủ mạnh để nó tiếp nhận một số bài nhạc Trung
Quốc gọi là bài Quảng, bài Tiều như Xang Xừ Líu, Liễu Thuận Nương, Khúc ca hoa
chúc, Hoàng Chiêu Quân…rồi cải biên thuần Việt hóa (nghệ sĩ Trung Quốc qua nước ta
nghe hát không nhận ra xuất xứ của những bài này). Những bài hát lai căng lời nhạc
điệu Tây, điệu Nhật đều bị đánh bạt như bài Thuý Kiều điệu Madelon, Tô Châu dạ khúc,
Hà Nhật quân tái lai…
Cải lương và kịch nói đều là sản phẩm của giao lưu văn hóa phương Tây. Riêng
sân khấu cải lương chịu ảnh hưởng sâu đậm với sân khấu khu vực Đông Nam Á. Cải
lương vốn là sân khấu nội sinh, trong từng bước phát triển lại dung nạp những yếu tố
ngoại nhập, lấy cái hay của người làm giàu thêm cho cái của ta. Trước hết, đó là những
tinh hoa của sân khấu các nước láng giềng như hát Tiều, hát Quảng (đã nói ở trên), hoặc
như hát Dù Kê, sân khấu Rô băm của Campuchia….Ngay từ lúc cải lương ra đời, sân
khấu của ta đã có dịp tiếp cận và giao lưu với sân khấu nước láng giềng Campuchia và
Trung Quốc, không phải ở tại chính quốc mà ngay tại nước ta, cùng chung một địa bàn
hoạt động. Vốn cùng chung truyền thống văn hóa Á Đông, không giống văn hóa phương
Tây, nội dung sân khấu chủ yếu đề cao hai chữ nghĩa nhân, cho nên đề tài vở diễn của
hát Dù kê, hát Tiều, hát Quảng cũng như hát Cải lương của ta, không hẹn mà gặp nhau ở
nội dung Cái Thiện thắng Cái Ác, Trung thắng Nịnh, qua những hình tượng sân khấu
Trung hiếu tiết nghĩa, mà khán giả người Khơ me, người Hoa và người Việt đều ngưỡng
mộ. Từ đó mà có sự bổ sung cho nhau về đề tài vở diễn. Theo con số thống kê của Sở Văn
hóa - Thông tin Thành phố, trong gần 20 năm, kể từ sau ngày giải phóng, dàn kịch mục
của hát Tiều Châu và hát Quảng Đông tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng được bổ
sung những vở cải lương chuyển thể tiếng Hoa và dàn dựng theo phong cách hát Tiều,
hát Quảng, tỉ lệ vở diễn như sau: Tổng số tiết mục của mỗi đoàn là 63 vở, gồm có: Đề tài
Trung Quốc 46 vở; đề tài Việt Nam 17 vở chiếm tỉ lệ 26%, tức 1/4 tổng số.
Như vậy, mối giao lưu sân khấu giữa ta và bạn được thể hiện bằng sự có đi có lại
về mặt đề tài vở diễn. Và một khi đã có sự giao lưu qua lại về đề tài thì đương nhiên
có bước tiếp theo bổ sung cho nhau về bài bản âm nhạc sân khấu và nghệ thuật biểu
diễn. Âm nhạc cải lương của ta trước đây đã từng dung nạp hàng loạt bài bản của
Triều Châu, của hát Quảng Đông…một sự dung nạp bài bản có lựa chọn và từng
bước được dân tộc hóa, trở thành bài bản làm giàu thêm cho âm nhạc cải lương cho đến
hôm nay.
Tiếp thu cái của người, làm giàu thêm cho cái của ta và ngược lại, đó là chủ trương
của Đảng ta về giao lưu sân khấu. Thực hiện đúng chủ trương đó, sân khấu đã đạt được
những kết qủa khả quan. Về mặt doanh thu: trên sân khấu Triều Châu và Quảng Đông,
những Đời Cô Lựu, Tô Ánh Nguyệt, Câu thơ yên ngựa v.v…có mức doanh thu cao nhất
ngang với những vở nổi tiếng của Trung Quốc như Triệu Thị Cô Nhi, Tần Hương Liên,
Bạch Mao nữ… Khán giả người Hoa khi nghe Lý Thường Kiệt và Ỷ Lan công chúa ca
bằng tiếng Hoa những bài như Tây Thi, Duyên Kỳ Ngộ, Kim tiền bản đều thích thú vỗ
tay. Ngay cả vở hát về đề tài người Hoa sống tại Việt Nam đã được người Hoa ngợi
khen, tán thưởng. Ngợi khen vì họ được nghe cái mới mà không lạ tai vì âm điệu Việt
Nam đã góp phần gây không khí cho vở diễn đề cập đến cuộc sống và sự nghiệp của
người Hoa đã sống chết tại Việt Nam.
Tuy vậy, sân khấu cải lương hiện nay đang rơi vào tình trạng khó khăn, có lúc rơi
vào tình trạng khủng hoảng. Đã qua rồi cái thời hàng nghìn người háo hức chờ xem tấm
màn sân khấu kéo ra. Khoa học kỹ thuật phát triển, giao lưu văn hóa rộng mở, người
xem hiện nay có quyền lựa chọn cái mình thích trong nhu cầu thưởng thức nghệ thuật. Tụ
điểm ca nhạc, sân khấu, điện ảnh, phim truyền hình, băng đĩa, vi tính, karaoke… biết bao
nhiêu hình thức cuốn hút người xem. Vả lại, thị hiếu của lớp trẻ hôm nay lại có xu h ướng
“vọng ngoại”. Cũng như sân khấu tuồng, để giữ được loại hình nghệ thuật này qủa
không dễ. Có quá nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này: thiếu kịch bản hay; thiếu
diễn viên giỏi, tâm huyết với nghề; và một nguyên nhân nữa không kém phần quan trọng
là“khâu quản lý đang bị buông lỏng nên sự xuống cấp của sân khấu mới diễn ra nhanh
chóng” [6, tr.9]. Đó là ý kiến của đạo diễn Đoàn Bá, nghệ sĩ ưu tú, Giám đốc Nhà hát
cải lương Trần Hữu Trang.
Để đi sâu tìm hiểu nguyên nhân của sự khủng hoảng sân khấu hiện nay, từ năm
1996, Hội nghệ sĩ Sân khấu và Sở Văn hóa-Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh đã mở
“Diễn đàn văn học, nghệ thuật”. Từ đó đến nay sân khấu cải lương đã có những bước
chuyển đáng mừng. Theo con số của Hội nghị tổng kết công tác văn hóa thông tin của Sở
Văn hóa- Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh: Năm 2000, riêng về cải lương, Nhà hát
Trần Hữu Trang đã có 306 xuất diễn phục vụ 199.352 lượt người xem; Đoàn cải lương
Thanh Nga 89 xuất diễn, phục vụ 46.420 lượt người xem; Đoàn cải lương I 50 xuất diễn
phục vụ 27.000 lượt người xem; Đoàn cải lương III 84 xuất diễn phục vụ 107.516 lượt
người xem. Cũng trong năm 2000, đã diễn ra Hội diễn Cải lương toàn quốc tại Thành
phố do Sở Văn hóa - Thông tin phối hợp với Cục biểu diễn nghệ thuật - Bộ VHTT tổ chức
đã thu hút được 21 đoàn nghệ thuật của các tỉnh thành phố tham gia. N ăm 2003 là năm
sân khấu cải lương Thành phố có nhiều hoạt động có hiệu qủa, với những nổ lực để
tìm kiếm một lối đi, cùng hòa nhịp với nhịp sống hiện đại, với đời sống văn hóa Thành
phố. Triển khai bước đầu đề án nâng cấp cải lương với việc dàn dựng một số vở diễn
có chất lượng tốt, sưu tầm 348 hiện vật cải lương ở Nhà hát Trần Hữu Trang. Thử
nghiệm xã hội hóa với mô hình liên kết dàn dựng vở diễn với các nhóm nghệ sĩ nhằm
huy động vốn, quy tụ các nghệ sĩ tài n ăng, bước đầu đạt được một số kết quả tích cực.
Tiêu biểu như vở “Nhảy múa cùng quỷ dữ”, “Ra giêng anh cưới em”…của Nhà hát
Trần Hữu Trang. Tháng 10/2004 , Nhà hát Trần Hữu Trang đã khai tr ương chương
trình Thắp sáng niềm tin với hy vọng tiếp tục mở ra một h ướng đi mới cho cải lương.
Phát huy khả năng thể hiện của 30 diễn viên từng đoạt giải Triển vọng Trần Hữu
Trang từ năm 1995 đến nay, diễn viên tài sắc, HCV trong các kỳ Liên hoan sân khấu
ĐBSCL…nhằm giữ gìn nghệ thuật cải l ương truyền thống đang bị một số loại hình
khác lấn lướt.
Cải lương là “quốc hồn quốc tuý”của Nam Bộ. Trường Sân khấu điện ảnh Thành
phố Hồ Chí Minh đang nhận trách nhiệm đào tạo đội ngũ diễn viên. Hi vọng trong một
thời gian không xa, nghệ thuật sân khấu cải l ương sẽ được phục hồi và ngày càng phát
triển.

2.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI GIAO LƯU VĂN HÓA NGHỆ
THUẬT BIỂU DIỄN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
Như trên đã nói, Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố công nghiệp trẻ, đất
rộng, người đông, có nhiều Việt kiều sinh sống. Thành phố Hồ Chí Minh lại là nơi giao
nhau của nhiều luồng văn hóa lớn khác nhau. Vì vậy, giao lưu văn hóa nghệ thuật nói
chung và giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn nói riêng ở đây diễn ra vô cùng sôi động
và phức tạp. Nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi thấy hiện nay Thành phố Hồ Chí Minh
đang có một số mâu thuẫn nổi lên cần được giải quyết. Đó là: mâu thuẫn giữa nhu cầu
hưởng thụ nghệ thuật biểu diên và khả năng đáp ứng của Thành phố; mâu thuẫn giữa tốc
độ giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn và khả năng quản lý điều hành của các cơ quan
chức năng; mâu thuẫn giữa giữ gìn bản sắc dân tộc và sự xâm nhập hỗn loạn các sản
phẩm văn hóa từ bên ngoài.
Thứ nhất: Mâu thuẫn giữa nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn và khả năng đáp
ứng của Thành phố.
Nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật biểu diễn của công chúng Thành phố Hồ Chí Minh
từ trước đến nay vốn hết sức phong phú, đa dạng và phức tạp. Phong phú, đa dạng và
phức tạp ở từng lớp công chúng, địa vị xã hội, sự pha tạp của nhiều vùng miền. Vì vậy,
rõ ràng trình độ tiếp nhận cũng như thị hiếu thẩm mỹ của công chúng cũng có những
điểm khác nhau. Đặc biệt, do hoàn cảnh lịch sử địa lý nên công chúng của Thành phố Hồ
Chí Minh cũng rất phức tạp, nhiều tầng lớp công chúng cùng giao lưu với nhau, ảnh
hưởng qua lại với nhau tạo thành những thị hiếu thẩm mỹ pha tạp. Qua theo dõi công chúng
sân khấu, chẳng hạn, sân khấu kịch nói, ở Thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta có thể rút ra
được sự hấp dẫn của sân khấu đối với công chúng cũng đa dạng. Người thích tác phẩm phải
dễ hiểu, đời thường, gây được tiếng cười thoải mái, nhưng người khác lại yêu cầu khác hẳn,
tác phẩm phải chuyển tải được nội dung triết lý sâu sắc… Đa số lại yêu cầu tác phẩm đó
phải chứa đựng ít nhất ba yếu tố: Thứ nhất là phải hấp dẫn bằng“thần tượng diễn viên”, thứ
hai là phải hấp dẫn bằng các vai hề chuyên trách thật sôi nổi để thỏa mãn nhu cầu giải trí
đơn thuần, và thứ ba là người xem phải “được thấy mình trên sân khấu”, nghĩa là hiện thực
được thể hiện trên sân khấu phải dính líu tới người xem càng trực tiếp càng dễ hấp dẫn. Thế
nhưng, để một vở kịch hội đủ cả ba yếu tố trên thật không dễ.
Ngày nay, xã hội phát triển, trình độ dân trí được nâng cao, vì vậy, công chúng đến
với nghệ thuật không chỉ để giải trí đơn thuần. Sự hấp dẫn của văn hóa, văn nghệ hay
nói rõ hơn là những tác phẩm nghệ thuật phải là sự hấp dẫn của cái hay chân chính. Sự
hấp dẫn xuất phát từ nhu cầu văn hóa văn nghệ chân chính của xã hội chứ không phải
hấp dẫn vì chiều theo những đòi hỏi một cách tuỳ tiện và tự phát của công chúng. Nhu
cầu của công chúng muốn được thưởng thức những bộ phim rõ nét, rõ hình, thích nghe
những bài hát rõ tiếng, rõ lời, biết thể hiện nội dung bài hát không chỉ qua chất giọng mà
còn qua bộ điệu, phong cách biểu diễn; thích hợp với những lớp kịch mang thật đậm tính
hài có thể gây được những tiếng cười no nê, thoải mái; thích được khóc theo diễn viên
trong những màn bi, được nhập thân vào những tình huống sôi nổi, hừng hực trong
những cảnh, những màn hùng tráng; thích thấy thật rõ những cảnh sống thật, tâm trạng
thật của chính mình được phản ánh lên sân khấu, lên màn ảnh… Ngay cả việc thích tán
dương, thích ngưỡng mộ thật hết mình đối với những ca sĩ, kịch sĩ, diễn viên điện ảnh…
có thực tài, có thanh, có sắc cũng là một nhu cầu hết sức chính đáng.
Quả thật, nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật của công chúng ngày càng nâng cao,
phong phú, đa dạng và càng ngày càng phức tạp, càng khó tính. Vậy nhưng, khả năng
đáp ứng của hoạt động văn hóa nghệ thuật biểu diễn của Thành phố còn có những hạn
chế nhất định. Trước hết đó là do trình độ nghệ thuật của đội ngũ làm công tác văn hóa,
văn nghệ ở Thành phố Hồ Chí Minh chưa thực sự đồng bộ về mọi mặt. Đội ngũ các văn
nghệ sĩ, diễn viên được đào tạo chính quy tại các trường có chất lượng tốt chưa nhiều,
trình độ tổng hợp về nghệ thuật, về văn hóa, chính trị chưa cao. Vì vậy, chất lượng buổi
diễn còn hạn chế. Đội ngũ nghệ sĩ, nghệ nhân giỏi nghề phần nhiều đã lớn tuổi, lực
lượng kế thừa còn non nớt, nhất là lĩnh vực sân khấu truyền thống. Ngoài ra, về chất
lượng tác phẩm nghệ thuật, còn hiếm những tác phẩm giàu tính nhân văn, mang hơi thở
thời đại, tạo được dấu ấn. Sàn diễn còn tràn ngập những vở diễn, những bài hát sáo mòn, xa
lạ với cuộc sống, quanh quẩn với mâu thuẫn nhân vật cũ mòn. Diễn viên diễn sân khấu hoặc
qúa công thức, hoặc quá tuỳ tiện, ít quan tâm đến việc kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật ca
diễn để có một vai diễn hay.
Hơn nữa, Thành phố Hồ Chí Minh hiện có nhiều nhà hát, đoàn nghệ thuật chuyên
nghiệp do Nhà nước quản lý nhưng lại thiếu sân khấu đủ quy chuẩn “chuyên nghiệp” để
biểu diễn. Nhà hát Giao hưởng và Vũ kịch vừa được Công ty Xổ số kiến thiết trả lại mặt
bằng để xây dựng một Nhà hát quy mô, nhưng hiện tại vẫn phải đi thuê điểm biểu diễn ở
Nhà hát lớn Thành phố. Rạp Kim Châu của Nhà hát Ca múa nhạc dân tộc Bông Sen
đang xuống cấp trầm trọng, sân khấu bị sụp. Đoàn Nghệ thuật hát bội Thành phố khi
diễn vở mới phải đi thuê chỗ. Rạp Hưng Đạo cũng đang xuống cấp trầm trọng, tường
nứt, mái dột…khiến các nghệ sĩ không yên tâm hoạt động nghệ thuật. Một số rạp, Nhà
hát thiếu chỗ để xe cho khán giả…. Thực trạng đó đã không đáp ứng được nhu cầu
hưởng thụ ngày càng cao của công chúng nghệ thuật Thành phố.
Thứ hai, Mâu thuẫn giữa tốc độ giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn và khả năng
quản lý điều hành của các cơ quan chức năng trong Thành phố.
Thành phố Hồ Chí Minh từ trước đã là địa bàn diễn ra các hoạt động văn hóa nghệ
thuật sôi nổi. Ngày nay, trong cơ chế thị trường, đất nước mở cửa giao lưu với tất cả các
nước trong khu vực và trên thế giới, hoạt động văn hóa nghệ thuật ở đây càng diễn ra sôi
động và mạnh mẽ. Nhất là lĩnh vực giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn với khu vực và
quốc tế. Mấy năm gần đây, mỗi năm có đến hàng trăm đoàn nghệ thuật của Thành phố
ra nước ngoài biểu diễn nghệ thuật với con số hàng nghìn người. Số các đoàn nghệ thuật
của nước ngoài vào Thành phố biểu diễn cũng ngày càng nhiều hơn. Thể loại văn hóa
nghệ thuật để giao lưu rất phong phú và đa dạng. Ngành Văn hóa - Thông tin đã sớm
đưa ra nhiệm vụ trọng tâm và thiết thực là tăng cường mở rộng, hợp tác quốc tế. Để thực
hiện được nhiệm vụ đó, Cục Nghệ thuật biểu diễn phối hợp với Vụ pháp chế đã ban hành
Quy chế hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, trong đó dành trọn chương IV
cho vấn đề biểu diễn nghệ thuật và tổ chức nghệ thuật chuyên nghiệp có yếu tố n ước
ngoài. Nhờ những quy định cụ thể, đơn giản và thông thoáng về mặt thủ tục của Quy chế
mà số lượng đoàn ra, đoàn vào tăng lên rõ rệt. Quy chế cũng đã tạo điều kiện thuận lợi
hơn cho các ca si, nghệ sĩ có cơ hội ra nước ngoài bằng nhiều con đường khác nhau để
thu thanh, thu đĩa và biểu diễn. Nhưng, trước tình hình này có một vấn đề đặt ra là: tốc
độ giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn ngày càng diễn ra mạnh mẽ, sôi động và phức
tạp, nhưng khả năng quản lý điều hành của các cơ quan chức năng trong lĩnh vực này
còn có nhiều điểm bất cập.
Thực tế việc quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh nghệ thuật biểu diễn trong
thời gian qua được đánh giá chưa thực sự tốt. Thành phố chưa tạo ra một hành lang
pháp lý chặt chẽ, hợp lý để quản lý hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật. Vì vậy, còn
nhiều kẻ hở, tạo điều kiện cho hoạt động giao lưu trên lĩnh vực này ngày càng diễn ra
phức tạp hơn. Một số ca sĩ, nghệ sĩ ra nước ngoài biểu diễn đã có những ứng xử không
hay như phát ngôn bừa bãi, phong cách biểu diễn và trang phục lố lăng, không hợp với
thuần phong mỹ tục của dân tộc, hay tự ý đòi cátsê quá cao khiến khán giả Việt Nam ở
hải ngoại cũng như khán giả nước ngoài có cái nhìn sai lệch về giới ca sĩ, nghệ sĩ, nghệ
thuật Việt Nam.
Mặt khác, chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ về nhu cầu thông tin, bùng nổ
về các phương tiện truyền thông đại chúng. Sự tác động mạnh mẽ của nó vừa mang đến
sự thỏa mãn nhu cầu văn hóa của con người nhưng cũng gây không ít nỗi lo cho toàn xã
hội. Thành phố Hồ Chí Minh lại là thành phố có số lượng và chất lượng các phương tiện
truyền thông lớn nhất nước ta nên việc giao lưu văn hóa nghệ thuật nói chung và giao
lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn nói riêng càng diễn ra mạnh mẽ và phức tạp. Riêng lĩnh
vực phát thanh, truyền hình từ bên ngoài xâm nhập vào, về quy mô, có thể thấy kỹ thuật
thâu hình trực tiếp từ vệ tinh của ăngten parabol là không thể kiểm soát nổi. Các sản
phẩm văn hóa phản động, đồi truỵ bằng con đường này nhập vào không bị bất kỳ một sự
ngăn chặn có hiệu quả nào. Bên cạnh đó có đến 49 đài phát thanh nước ngoài có phần
tiếng Việt truyền sóng đến Việt Nam 24/24 giờ…Ngoài ra, các loại hình khác như
Intenet, băng, đĩa lậu nhập vào tràn lan trên thị trường. Trong lúc đó, dẫu đã rất cố
gắng, nổ lực nhưng các đơn vị quản lý lĩnh vực này vẫn không thể truy quét và ngăn chặn
nổi. Theo phòng Quản lý Thông tin của Sở Văn hóa - Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh
thì hiện nay chưa có doanh nghiệp mạng Intenet nào đến đăng ký để biết thực tế số lượng
NET tại Thành phố. Vì vậy, cần tăng cường quản lý bằng pháp luật, bằng hàng loạt các
quy định của ngành trên các lĩnh vực sản xuất và lưu hành.
Thời gian qua, chúng ta đã hình thành từng bước các luật văn hóa. Đó là những
bước tiến bộ đáng mừng nhưng còn qúa xa để đạt được độ hoàn chỉnh tương đối để từ đó
làm cơ sở pháp lý trong công cuộc giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa. Sớm xây dựng,
ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa đã trở thành một trong những giải pháp lớn
để xây dựng và phát triển văn hóa và đẩy mạnh giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn hiện
nay.
Thứ ba: Mâu thuẫn giữa giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và sự xâm nhập hỗn loạn
các sản phẩm văn hóa từ bên ngoài.
Chúng ta đều biết, bản sắc văn hóa dân tộc là sắc thái riêng của dân tộc; là tổng
hòa các giá trị, các yếu tố vừa đa dạng, vừa bền vững của một dân tộc. Bản sắc văn hóa
dân tộc không ra đời một cách ngẫu nhiên mà được hình thành và phát triển thông qua
quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, qua quá trình phát triển kinh tế, sáng tạo
những giá trị văn hóa nội sinh kết hợp với tinh hoa văn hóa ngoại sinh. Để có những giá
trị mang bản sắc văn hóa riêng, dân tộc ta đã phải đổ ra mồ hôi và nước mắt mới có
được. Vì vậy, nhiệm vụ của chúng ta là phải xây dựng, bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa
dân tộc, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Nếu đánh mất bản sắc văn hóa dân
tộc thì sớm hay muộn sẽ phải gánh chịu những hậu quả không lường hết.
Tuy nhiên không phải mọi yếu tố được gọi là bản sắc văn hóa dân tộc đều chỉ là
mặt tốt, mặt tích cực mà còn có cả những yếu tố tiêu cực. Vấn đề là chúng ta phải biết
lựa chọn để tiếp thụ các tinh hoa của nó, tiếp cho nó hơi thở của thời đại. Cái gì lỗi thời,
lạc hậu bảo thủ, trì trệ thì cần phải mạnh dạn loại bỏ. Việc thanh lọc những yếu tố tích
cực trong văn hóa nội sinh đã không phải là dễ, thanh lọc những tinh hoa trong các yếu
tố ngoại sinh đang nhập vào tràn lan lại càng khó hơn.
Hiện nay, trên cả nước nói chung và đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh, sự xâm
nhập hỗn loạn, tràn lan các sản phẩm văn hóa từ bên ngoài đã gây ảnh hưởng không nhỏ
đến đời sống tinh thần cũng như đời sống thẩm mỹ của người dân Thành phố, nhất là
giới trẻ.
Trong lúc chúng ta đang ra sức xóa bỏ những thị hiếu thẩm mỹ thấp hèn do qúa
khứ để lại thì kẻ thù của chúng ta hiện nay, trên phạm vi thế giới, thông qua cả một hệ
thống truyền thông đại chúng hiện đại và khổng lồ vẫn hàng ngày, hàng giờ, tiếp tục tác
động vào công chúng, cố nuôi dưỡng và làm trổi dậy những thứ thị hiếu thẩm mỹ thấp
kém cũ. Đồng thời, bằng các thủ pháp tinh vi, xảo quyệt, chúng cố truyền bá những thứ
phản văn hóa, phản thẩm mỹ nhằm tạo ra những thứ thị hiếu thẩm mỹ sai trái, độc hại
mới.
Trong bối cảnh quan hệ quốc tế ngày càng rộng mở, giao lưu văn hóa nghệ thuật
ngày càng được tăng cường, bảo vệ bản sắc dân tộc trong khi tăng cường việc giao lưu
văn hóa thế giới đã là nguyên tắc, là đường lối của Đảng và Nhà nước cần phải giữ vững
và thực thi. Cần giữ vững phương châm: tiếp thu có chọn lọc, có phê phán, có sáng tạo,
“hòa nhập chứ không hòa tan” như cha ông ta đã từng làm. Để văn hóa nghệ thuật biểu
diễn ngày càng phát triển, gặt hái được nhiều thành tựu rực rỡ ở trong nước cũng như
giao lưu với bạn bè quốc tế, chúng ta cần tìm ra phương hướng và giải pháp có tính khả
thi để giải quyết kịp thời những mâu thuẫn nói trên.
Chương 3

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CỦA QÚA TRÌNH GIAO LƯU VĂN HÓA NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN Ở THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI GIAN TỚI


3.1. DỰ BÁO CHUNG VỀ XU THẾ GIAO LƯU VĂN HÓA NGHỆ THUẬT
BIỂU DIỄN TRONG THỜI GIAN TỚI
* Bối cảnh thế giới:
Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI- một thế kỷ đã, đang và sẽ tiếp tục có nhiều
biến đổi. Khoa học và công nghệ đã có những bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức đóng
vai trò ngày càng nổi bật trong qúa trình phát triển lực lượng sản xuất. Toàn cầu hóa là
một xu thế khách quan của thời đại, tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội của thế giới. Toàn cầu hóa xét về bản chất là qúa trình tăng lên
mạnh mẽ những liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau của tất cả các khu vực, các
quốc gia, dân tộc xích lại gần nhau, hiểu biết nhau, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau. Trong
thời đại ngày nay, không một quốc gia nào có thể đứng biệt lập mà tồn tại và phát triển
được.
Quá trình toàn cầu hóa và xu hướng liên kết kinh tế dẫn đến sự ra đời của các tổ
chức kinh tế, thương mại, tài chính quốc tế và khu vực như: Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), Qũy tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Liên minh Châu Âu (EU),
Khu vực Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình
Dương (APEC), Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN)….Các tổ chức này có vai trò
tăng lên trong việc giải quyết những vấn đề kinh tế chung của thế giới và khu vực. Đồng
thời giúp cho các quốc gia trên thế giới xích lại gần nhau hơn.
Thông qua toàn cầu hóa, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã và đang
tác động tới tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội. Người ta bắt đầu bàn đến một chính phủ
điện tử, một xa lộ thông tin, những hình thức đào tạo từ xa… Tất cả các hoạt động sản
xuất vật chất và tinh thần của con người đều bị chi phối mạnh bởi sự phát triển của công
nghệ, kỹ thuật hiện đại, văn hóa nghệ thuật cũng không đứng ngoài những tác động đó.
Trong cuốn sách: Dự báo thế kỷ XXI, các nhà bác học đã đưa ra nhiều dự đoán về sự
thay đổi trên phạm vi toàn thế giới về kinh tế, chính trị, xã hội và cả sáng tạo văn hóa
nghệ thuật. Có một số loại hình văn hóa nghệ thuật sẽ phát triển trong tương lai như:
-Xu thế “Văn học điện tử”. Các nhà tương lai học quan niệm văn học điện tử là:
Tất cả các tác phẩm văn học đều được lưu trong kho sách điện tử. Có mạng kết nối giữa
sách điện tử tại nhà với kho sách. Bạn đọc muốn đọc sách nào thì chỉ cần click chuột, lựa
chọn tên sách, ngôn ngữ muốn đọc và sẽ đọc cho bạn nghe cùng với việc biểu thị những
hình ảnh sống động trên màn hình. Như vậy, ngôn ngữ sẽ không còn là hàng rào cản trở
người đọc tiếp cận với các tác phẩm văn học trên toàn thế giới.
-Xu thế âm nhạc thế kỷ XXI: Nếu như sáng tác “văn học điện tử” bằng máy vi tính
khiến nhiều người e ngại và phản đối vì sợ mài mòn tinh thần độc lập sáng tạo của con
người thì sáng tác âm nhạc bằng máy vi tính lại được nhiều người tán thưởng bởi tính ưu
trội của nó. Sáng tác nhạc bằng vi tính có thể giúp người sáng tác bất cứ lúc nào và giúp
nhà sáng tác phát hiện nhanh sự điều tiết và điều chỉnh cần thiết. Âm nhạc điện tử không
phải nay mới xuất hiện mà nó xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ XX, bắt đầu ở Hoa
Kỳ, Anh, Pháp, sau đó lan rộng đến toàn thế giới. Ngày nay, khắp châu Âu, châu Á, châu
Mỹ đều có sa-lông âm nhạc điện tử, có những sáng tác âm nhạc bằng máy vi tính gia
đình và vận hành âm nhạc. Lợi dụng đặc điểm của âm nhạc điện tử là trường âm thanh
tự do khá lớn, người ta có thể mô phỏng và rút ra tất cả các âm thanh vốn có của các
nhạc cụ tự nhiên, đồng thời có thể tạo lập ra các âm siêu tự nhiên.
- Xu thế điện ảnh thế kỷ XXI: Thế kỷ XXI Hollywood vẫn được xem là kinh đô của
của điện ảnh thế giới. Sự huy hoàng mà Hollywood đạt được suy cho cùng là dựa vào vai
trò của kỹ thuật. Từ điện ảnh câm đến điện ảnh có tiếng, từ hình hiện trên mặt phẳng đến
hình ảnh lập thể, những bộ phim ăn khách như: Người dơi, Siêu nhân, Bí mật ngôi mộ
cổ…đều sử dụng những kỹ thuật hiện đại, làm cho người ta thưởng thức tận mắt
những“hành lang ánh sáng”, không gian vũ trụ….Có được những hình ảnh sống động đó
là nhờ kết qủa của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin trên toàn thế giới. Sự
phát triển của máy vi tính tác động đến việc lập trình hình ảnh và âm thanh cho nên các
nhà nghiên cứu ở ba lĩnh vực vốn riêng biệt là điện tử, truyền hình và máy vi tính bắt tay
nhau sáng tạo ra một thế giới mới của văn hóa nghệ thuật. Rồi đây, người ta có thể vừa
xem một bộ phim vừa tiếp xúc trực tiếp với đạo diễn, diễn viên của bộ phim đó, thỏa mãn
trí tò mò của khán giả. Với kỹ thuật số, người ta có thể tách hình ảnh và âm thanh, làm
nổi hoặc chìm âm thanh để có thể thưởng thức theo ý muốn riêng của mình.
Như vậy, giữa khoa học công nghệ với sáng tạo và thưởng thức văn hóa nghệ thuật
đã có sự kết hợp ngoạn mục đem đến những nhân tố mới trong giao lưu văn hóa nghệ
thuật. Ngoài các giá trị văn hóa nghệ thuật đặc sắc, độc đáo, công nghệ sáng tạo và biểu
diễn văn hóa nghệ thuật hiện đại cũng trở thành một đối tượng trung tâm của quá trình
trao đổi, giao lưu văn hóa giữa các quốc gia. Trong bối cảnh đó sẽ xuất hiện ba thái độ
ứng xử khác nhau: Nhiệt liệt hoan nghênh kỹ thuật hiện đại, hăm hở bước vào quá trình
toàn cầu hóa; hoặc từ chối kỹ thuật mới, tẩy chay những giá trị ngoại lai và tìm cách
quay về với những giá trị truyền thống; hoặc tiếp nhận có chọn lọc những giá trị văn hóa
ngoại sinh trên nền tảng các giá trị truyền thống.
Lựa chọn theo thái độ nào đây? Cần phải có một định hướng rõ ràng, kịp thời và cụ
thể. Nếu lựa chọn theo thái độ một và hai đều không ổn, vì theo cách một sẽ dẫn đến
“vong bản”, theo cách hai sẽ dẫn đến tình trạng khép kín, tự cô lập mình. Theo cách thứ
ba được xem là tích cực hơn cả vì một mặt nó vẫn xem trọng khả năng bảo tồn những di
sản, những giá trị văn hóa truyền thống, mặt khác nó có những ứng xử hợp lý để có thể
thích ứng với những xu thế thời đại.
Ngoài những hình thức trao đổi, giao lưu văn hóa theo con đường nhà nước và phi nhà
nước hiện tồn, sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ tin học đã đem
đến những hình thức giao lưu văn hóa mới: trao đổi văn hóa thông qua mạng Internet,
Internet trở thành phương tiện truyền bá văn hóa đắc lực và hữu hiệu. Với số lượng người
tham gia kết nối, truy cập Internet ngày càng không ngừng gia tăng như hiện nay, công nghệ
tin học trở thành một đầu mối trao truyền văn hóa nghệ thuật quan trọng.
* Bối cảnh trong nước và Thành phố Hồ Chí Minh:
Kể từ sau Đại hội VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam, đường lối đổi mới do
Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã thu được nhiều kết quả khả quan. Chỉ tính riêng trong
năm năm (từ 1996-2000), tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng bình quân hàng năm
7%. Năm 2000 đã chặn được đà giảm sút mức tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu cụ thể
đều đạt được hoặc vượt kế hoạch đề ra. Văn hóa, xã hội cũng có những tiến bộ, đời sống
của nhân dân tiếp tục được cải thiện. Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định, quốc
phòng và an ninh được tăng cường. Điều đặc biệt là quan hệ đối ngoại không ngừng
được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành chủ động và đạt được nhiều kết
qủa tốt. Nước ta đã tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với các n ước
XHCN, các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống; tham gia tích cực các hoạt
động thúc đẩy sự hợp tác cùng có lợi trong Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN),
Diễn đàn hợp tác châu Á - Thái Bình Dương (APEC); tăng cường quan hệ với các nước
phát triển và nhiều nước, nhiều tổ chức khu vực và quốc tế khác; có quan hệ thương mại
với hơn 140 nước, quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hút được nhiều
nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài…
Các văn kiện, đường lối và quyết sách của Đảng mấy năm gần đây đã nhất quán
đưa ra các chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, tích cực chủ động
tham gia hội nhập quốc tế. Vì thế, các cấp, các ngành đã có cơ sở quan trọng để đề ra
những phương hướng phát triển thích hợp. Thành phố Hồ Chí Minh phấn đấu đến năm
2010 sẽ trở thành thành phố XHCN văn minh hiện đại, có vị trí quan trọng trong hệ
thống các thành phố ở khu vực Đông Nam Á và là trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội -
khoa học kỹ thuật lớn tiêu biểu của khu vực phía Nam và cả n ước. Phát triển sự nghiệp
văn hóa nghệ thuật cả về chất lượng lẫn quy mô. Nâng cao rõ nét chất l ượng và hiệu
quả của các hoạt động, các tác phẩm, sản phẩm, công trình văn hóa nghệ thuật, thông
tin, tạo ra cho bằng được những sản phẩm “đỉnh cao” trên các lĩnh vực xứng đáng với
tầm cỡ và tiềm năng của Thành phố. Đồng thời, đầu tư thích đáng để tạo ra sự chuyển
biến rõ rệt ở những lĩnh vực đã được xác định là“mũi nhọn”như: sân khấu, âm nhạc
dân tộc và ca nhạc trẻ. Tăng cường hoạt động giao lưu văn hóa, nhất là ở các nước
trong khối ASEAN, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, chống sự xâm nhập
của văn hóa phản động đồi truỵ và những khuynh hướng xa lạ, không phù hợp với văn
hóa truyền thống văn hóa dân tộc.
Về lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, sẽ ngày càng có những tác phẩm “đỉnh cao”về
nội dung tư tưởng, chất lượng nghệ thuật xứng đáng với tầm cỡ vị trí của Thành phố mà
định hướng chủ yếu là “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Bởi ngay từ bây giờ, Thành
phố đã có những chủ trương tăng cường đầu tư sáng tác, phát động các cuộc thi sáng tác
hàng năm. Tăng cường công tác đào tạo, củng cố đội ngũ phê bình lý luận nghệ thuật
như: sân khấu, ca múa nhạc… Thực hiện việc xây dựng một số đơn vị nghệ thuật tiêu
biểu cho mỗi thể loại: Nhà hát cải lương Trần Hữu Trang, Nhà hát Kịch nói Thành phố,
Nhà hát Giao hưởng và Vũ kịch, Nhà hát ca múa nhạc Bông sen… đều có đầy đủ chức
năng nhiệm vụ: biểu diễn, nghiên cứu, bảo l ưu, đào tạo... Đoàn múa rối sẽ được phát
triển mạnh, nhất là loại hình rối nước. Chăm sóc đoàn hát bội, đoàn cải lương và có kế
hoạch đào tạo đội ngũ diễn viên kế thừa. Các rạp hát sẽ được hoàn chỉnh hiện đại hóa,
trong đó 50% đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực. Dự kiến đến năm 2010,
dân số Thành phố Hồ Chí Minh sẽ lên đến 7,5 triệu dân thì nhu cầu đất đai dành cho
công trình Văn hóa - Thông tin là 540ha, chiếm 14% đất dành cho công trình công cộng
Thành phố. Ngoài ra, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ chủ động giao lưu biểu diễn nghệ thuật
với nước ngoài theo con đường chính thức, không phải lệ thuộc vào các “bầu show”.
Xuất phát từ bối cảnh quốc tế và trong nước, có thể thấy trong những thập kỷ tới
giao lưu văn hóa nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục có những bước phát triển
mới, xứng đáng là trung tâm văn hóa của một thành phố lớn nhất nước. Với số dân đông
nhất nước, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có một đội ngũ công chúng đông đảo. Vì thế, nhu
cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật cũng trở nên đa dạng hơn. Văn hóa nghệ thuật vốn
là một hình thái ý thức xã hội nhạy cảm sẽ nhanh chóng nắm bắt các nhu cầu, thị hiếu
của công chúng, không ngừng tự đổi mới để đáp ứng yêu cầu đa dạng của khán giả. Hơn
nữa, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có nhiều tổ chức, công ty, doanh nghiệp lớn của
nước ngoài đóng ở đây, lực lượng Việt kiều lại đông hơn hẳn các thành phố khác cho
nên việc giao lưu văn hóa nghệ thuật với nước ngoài sẽ thuận lợi hơn và ngày càng phát
triển. Nền văn hóa Việt Nam đang nằm trong mạng lưới thông tin toàn cầu. Sau thời kỳ
đổi mới và mở cửa, nền văn hóa Việt Nam đã được mở rộng và giao lưu với rất nhiều nền
văn hóa trên thế giới: sự giao tiếp các sản phẩm âm nhạc, điện ảnh, đặc biệt là các công
nghệ mới về thông tin, về hệ thống truyền thông đại chúng. Văn nghệ Việt Nam đã chiếm
được cảm tình của bè bạn quốc tế, rối nước Việt Nam đã được dư luận thế giới hoan
nghênh. Điện ảnh Việt Nam đã được người dân trong khu vực và thế giới chú ý. Việt Nam
đã tiếp nhận từ bên ngoài dòng nhạc cổ điển, thính phòng, Rock, Rap.
Tuy nhiên, toàn cầu hóa không chỉ mang đến cho Việt Nam những thành tựu mà còn
đưa đến không ít những thách thức đối với các giá trị truyền thống của Việt Nam. Đặc
biệt là ở thành phố trẻ, năng động như Thành phố Hồ Chí Minh. Một bộ phận lớn ưa
chuộng phong cách phương Tây, thích hát những bài hát nhịp mạnh và ưa mặc áo Pun,
quần Zean, không thích nghe, thích xem, thích hát các bản nhạc, các vở kịch truyền
thống. Hàng ngày, các mạng thông tin toàn cầu liên tục truyền các hình ảnh, tin tức, ấn
phẩm không phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc. Lối sống bạo lực, thực dụng, sự
tiêu xài…theo kiểu phương Tây tạo ra nhiều phản văn hóa. Vấn đề“làng xã toàn
cầu”trong lĩnh vực văn hóa chưa có các hiệp ước kiểm soát thông tin cũng là một thách
thức rất lớn đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa ở Việt Nam. Trước tình hình đó, cần có
những phương hướng, giải pháp cụ thể để nhằm giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống
đồng thời tiếp thu có hiệu quả những tinh hoa văn hóa thế giới.

3.2. PHƯƠNG HƯỚNG NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH
GIAO LƯU VĂN HÓA NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
HIỆN NAY
Nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc. Chiến lược xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một chiến lược
phát huy mạnh mẽ nội lực dân tộc, liên kết các giá trị dân tộc, đảm bảo cho cái đúng, cái tốt,
cái đẹp của truyền thống được phát huy; cái xấu, cái dở, cái lạc hậu sẽ bị loại bỏ, các giá trị
không chèn ép nhau, cá nhân phải có trách nhiệm với cộng đồng. Chiến lược xây dựng nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc còn là chiến lược tạo ra những cơ chế tiếp biến
phong phú để chấp nhận hội nhập, truyền bá, khuyếch tán, biến đổi tổng hợp hai chiều giữa
tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Nguyên lý giữ gìn bản sắc để tiến
tới cái phổ biến, và cái phổ biến làm phong phú bản sắc là nguyên lý quan trọng trong chiến
lược xây dựng nền văn hóa Việt Nam ở thế kỷ XXI. Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam
trong thế kỷ XXI cần tạo ra một cơ chế, một sân chơi nghệ thuật mà ở đó sẽ xuất hiện những
tác phẩm đỉnh cao, sự đa dạng và huy hoàng của thế giới sẽ được nó ghi lại với một thái độ
nhân văn và một cách nhìn sâu sắc xứng đáng với dân tộc và thời đại sôi động này.
Lâu nay người ta nói nhiều đến giao lưu văn hóa và giữ gìn sự đa dạng văn hóa. Đa
dạng văn hóa của thế giới, của mỗi quốc gia ở mỗi cấp độ dân tộc cũng như ở cấp độ
một nhóm người, thậm chí là ở mỗi cá nhân là một trong những động lực quan trọng
nhất của sự phát triển. Đa dạng văn hóa là điều kiện tiên quyết để từng con người, từng
nhóm người, từng dân tộc bộc lộ và phát huy hết khả năng sáng tạo độc đáo của mình
trong quá trình sản xuất các giá trị mới về vật chất cũng nh ư về tinh thần. Nhưng nhất
thể hóa, đồng dạng hóa các giá trị văn hóa theo một khuôn mẫu cố định là làm triệt tiêu
động lực phát triển, triệt tiêu năng lực sáng tạo. Vì vậy cần đa dạng chứ không phải
đồng dạng văn hóa.
Để nâng cao hiệu quả của quá trình giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn ở Thành
phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới, chúng ta cần chú ý nhấn mạnh một số phương
hướng cơ bản sau đây:
1- Đẩy mạnh trao đổi, giao lưu các hình thức văn hóa nghệ thuật biểu diễn của
Thành phố Hồ Chí Minh như: Ca nhạc trẻ, ca nhạc dân gian, nhạc Jazz, nhạc giao
hưởng, nhạc thính phòng, múa truyền thống, múa balê; và đặc biệt là lĩnh vực sân khấu
truyền thống như: tuồng, ca nhạc tài tử, cải lương, múa rối. Đây được xem là những đặc
trưng của vùng sông nước phương Nam. Sở Văn hóa-Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh
đã và đang xem đây là những lĩnh vực mũi nhọn cần tập trung đầu tư và phải được phát
triển tốt. Riêng lĩnh vực sân khấu kịch nói, mặc dù gây được tiếng vang trong nước song
cũng rất khó trao đổi, giao lưu với khu vực và thế giới. Vì vậy, chúng ta cần mời đạo diễn
nước ngoài dàn dựng kịch bản; phối hợp chặt chẽ giữa đạo diễn nước ngoài và diễn viên
trong nước để góp phần nâng vị thế của lĩnh vực này trong giao lưu quốc tế.
2- Đa dạng hóa cách thức và đối tác trao đổi, giao lưu các giá trị văn hóa nghệ
thuật biểu diễn của Thành phố Hồ Chí Minh với khu vực và quốc tế. Cụ thể, ngoài việc
trao đổi các đoàn nghệ thuật biểu diễn còn đẩy mạnh tổ chức các ngày (hoặc tuần) văn
hóa Thành phố Hồ Chí Minh ở nước ngoài và của nước ngoài ở Thành phố; tổ chức các
Đại hội liên hoan văn hóa nghệ thuật; tổ chức các tua du lịch kết hợp với giới thiệu, trình
diễn giá trị văn hóa nghệ thuật tiêu biểu vào các dịp lễ hội, các kỳ hội nghị, hội thảo. Đa
dạng hóa các đối tác theo hướng phát triển sâu rộng với các đối tác truyền thống như
Đông Nam Á, Đông Âu, Đông Á; đồng thời mạnh dạn trao đổi, giao lưu với các đối tác
Tây Âu, Bắc Âu, Nam Á, các nước Ả Rập, châu Phi, các nước Bắc Mỹ và các nước Mỹ La
tinh.
3- Chủ động giới thiệu tinh hoa văn hóa nghệ thuật biểu diễn của Thành phố để bạn
bè nhận diện được bản sắc văn hóa của Thành phố và bản sắc văn hóa của Việt Nam;
đồng thời tiếp thu sáng tạo các giá trị văn hóa nghệ thuật nhân loại để bảo tồn và làm
giàu thêm truyền thống văn hóa của Thành phố cũng như truyền thống văn hóa của Việt
Nam. Vấn đề là ở chỗ mình phải xác định được những gì là tinh hoa, tinh tuý của văn
hóa nghệ thuật nước ngoài và cái đó có phù hợp với thuần phong mỹ tục của Việt Nam
hay không để tiếp nhận. Đồng thời, cũng phải xác định rõ những cái gì là tiêu biểu, là
đặc trưng của văn hóa nghệ thuật Việt Nam để đưa ra giới thiệu với bạn bè quốc tế. Làm
được những điều đó đòi hỏi phải có thế giới quan, nhân sinh quan và trình độ trí tuệ ở
tầm cao và tầm nhìn nhất định. Điều đó không phải ai cũng có thể làm được mà cần phải
có một sự định hướng rõ ràng của Đảng và Nhà nước, những người làm công tác phụ
trách văn hóa nghệ thuật nước nhà.
4- Trao đổi, giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn không thể không xây dựng một
hành lang pháp lý, đổi mới và tăng cường quản lý Nhà nước đối với các hoạt động này
với khu vực và quốc tế. Lâu nay Đảng, Nhà nước và chính quyền Thành phố Hồ Chí
Minh đã và đang tiếp tục hoàn thiện những chủ trương, đường lối, luật pháp, chính sách
cụ thể hơn để cho việc trao đổi, giao lưu có một hành lang pháp luật chặt chẽ. Vừa qua,
Bộ Văn hóa - Thông tin đã ra một số luật quan trọng như luật báo chí xuất bản, luật di
sản văn hóa và đặc biệt trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật đã có “Quy chế hoạt động
biểu diễn nghệ thuật và tổ chức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp”thay thế Quy chế
32/1999. Nội dung, tiêu chí của Quy chế này chủ yếu quan tâm đến việc mở rộng đối
tượng hoạt động biểu diễn nghệ thuật trước khán giả, trong đó có nghệ sĩ nước ngoài
biểu diễn trên lãnh thổ Việt Nam; ngoài ra còn có một số vấn đề như: phục trang, hóa
trang của nghệ sĩ, điều kiện hoạt động biểu diễn nghệ thuật, phân loại địa điểm và người
tổ chức biểu diễn nghệ thuật… Nói chung, viêc ra đời Quy chế này đã tạo hành lang
pháp lý vừa chặt chẽ, vừa thông thoáng cho hoạt động biểu diễn nghệ thuật đang diễn ra
hết sức sôi động hiện nay. Ngoài ra, Cục Nghệ thuật biểu diễn cũng đã trình Bộ Văn hoá
- Thông tin phê duyệt đề cương chi tiết đề án: “Quy hoạch và phát triển ngành Nghệ
thuật biểu diễn đến năm 2010”. Đây là những điều hết sức cần thiết đối với lĩnh vực văn
hóa nghệ thuật trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay.
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIAO LƯU
VĂN HÓA NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
3.3.1. Giải pháp tăng cường sự lãnh đạo quản lý của Đảng và các cấp chính
quyền
Sự lãnh đạo của Đảng là nguyên nhân cơ bản có ý nghĩa quyết định sự phát triển
của nền văn hóa nghệ thuật theo định hướng XHCN ở Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo sáng
suốt của Đảng, nền văn hóa Việt Nam đã trải qua những chặng đường khó khăn, thử
thách và đạt được những thành tựu to lớn, góp phần có hiệu quả vào sự nghiệp cách
mạng chung. Kết luận Hội nghị lần thứ 10 BCH TW Đảng (khoá IX) về tiếp tục thực hiện
Nghị quyết TW5 (khóa VIII) đã đánh giá: “Văn hóa có nhiệm vụ và vai trò đặc biệt quan
trọng trong việc xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần nâng cao chất lượng Đảng, hệ thống
chính trị, thúc đẩy quá trình giao lưu và hội nhập quốc tế, đồng thời bảo vệ bản sắc dân
tộc” [5, tr.10].
Hiện nay, văn hóa nghệ thuật biểu diễn hoạt động rất linh hoạt và năng động, chịu
nhiều sức ép của cơ chế thị trường và xu thế toàn cầu hóa. Hơn nữa, sự tác động của văn
hóa nghệ thuật nước ngoài bao gồm nhiều trào lưu tư tưởng triết học, văn hóa và mỹ
học, được biểu hiện dưới hàng loạt những trường phái và xu hướng nghệ thuật tràn vào
nước ta cùng những tác phẩm tiến bộ và phản tiến bộ, đã làm gia tăng tính phức tạp vốn
có của giao lưu văn hóa nghệ thuật. Sự giao lưu, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác giữa các
nước trong khu vực và quốc tế, sự tăng cường về quy mô và nhịp độ đối ngoại, mở rộng
quan hệ hợp tác văn hóa với nước ngoài, với nhiều chế độ chính trị- xã hội khác nhau,
với nhiều phong tục tập quán khác nhau đã làm cho công tác lãnh đạo và quản lý văn
hóa nghệ thuật càng ngày càng khó khăn. Nhà nước cần đóng vai trò xác lập và định
hướng phát triển cho các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Điều cần thiết là phải
phân biệt được những gì cần giữ gìn, phát huy và những gì đã lạc hậu, lỗi thời cần loại
bỏ ra khỏi đời sống. Công việc này không phải là dễ, cần tiến hành một cách thận trọng
trên cơ sở điều tra nghiên cứu kỹ lưỡng dư luận xã hội và ý kiến của các chuyên gia,
tránh sự nóng vội khiên cưỡng. Xác định các đối tượng, địa bàn, các chính sách hợp tác
cho phù hợp với từng nước và từng nền văn hóa. Chú trọng việc nghiên cứu, tìm được
những nét tương đồng, tranh thủ những mặt thuận, đẩy mạnh việc giới thiệu nền văn hóa
nghệ thuật Việt Nam, con người, hình ảnh đất nước ta ra nước ngoài. Lâu nay, có nhiều ý
kiến cho rằng, cần xây dựng những tổ chức, nghiên cứu văn hóa rộng rãi (chuyên ngành
và liên ngành) cả về lý thuyết lẫn thể nghiệm để đưa ra những mẫu hình văn hóa thích
hợp có sức hấp dẫn quần chúng và hướng họ đi theo một lý tưởng thẩm mỹ lành mạnh,
nhân bản, vừa dân tộc vừa hiện đại.
Cần có chính sách thỏa đáng cho những người làm công tác văn hóa nghệ thuật
biểu diễn. Động viên các từng lớp nhân dân, nhất là người tham gia hoạt động văn hóa,
cả trong và ngoài nước, đầu tư và đóng góp cho văn hóa vì sự phồn vinh của văn hóa dân
tộc. Tôn trọng tự do sáng tác, khuyến khích những tài năng nghệ thuật để họ phát huy hết
năng lực của mình. Tạo hành lang pháp lý cho công tác giao lưu, hội nhập văn hóa thế
giới.
Nâng cao trình độ lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa
nghệ thuật biểu diễn là một vấn đề hết sức cần thiết hiện nay. Đảng và Nhà nước cần tạo ra
một hệ thống phương pháp quản lý đồng bộ và thống nhất thông qua các biện pháp hành
chính, biện pháp kinh tế, biện pháp luật pháp và biện pháp tư tưởng. Đây không phải chỉ là
công việc của ngành văn hóa mà là của các cấp lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương.

3.3.2. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực để sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật
nhằm đẩy mạnh giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn
Hiện nay đội ngũ các văn nghệ sỹ, diễn viên trên tất cả các lĩnh vực ở Thành phố
Hồ Chí Minh rất đông. Trong số đó có không ít những văn nghệ sĩ nổi tiếng đã từng nhận
được những giải thưởng lớn trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật. Họ được đào tạo chính
quy tại các trường văn hóa nghệ thuật trong và ngoài nước. Vì vậy, họ có trình độ tổng
hợp cao về nghệ thuật, sự nhạy cảm về chính trị, vốn văn hóa cơ bản vững chắc, am hiểu
sâu sắc về nghệ thuật, có kiến thức tổng hợp về mọi lĩnh vực nghệ thuật. Họ đã và đang
cống hiến rất nhiều cho nền nghệ thuật nước nhà nói chung và cho ngành văn hóa nghệ
thuật Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Tuy nhiên, số các văn nghệ sỹ vừa nói ở trên không nhiều. Vì vậy, vấn đề đặt ra ở
đây là cần quan tâm hơn nữa vấn đề đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực cần thiết về
bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, năng lực quản lý, tính năng động sáng tạo để
đáp ứng nhu cầu thưởng thức văn hóa nghệ thuật ngày càng cao của công chúng và phấn
đấu vì một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của chúng ta. Muốn thực hiện
được điều đó, cần phải có một số biện pháp cụ thể sau:
Cần có kế hoạch phát hiện tài năng nghệ thuật qua các cuộc thi để trên cơ sở đó,
tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng vào các trường nghệ thuật. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí
Minh đã có một số trường nghệ thuật như: Sân khấu điện ảnh, Nhạc viện Thành phố Hồ
Chí Minh, hai trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật….Sắp tới sẽ nâng cấp trường Cao
đẳng Văn hóa nghệ thuật thành trường Đại học Văn hóa nghệ thuật với mục tiêu đào tạo
là vừa đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, trình độ thẩm mỹ, thưởng ngoạn văn hóa nghệ
thuật của người dân đồng thời góp phần đào tạo, quy hoạch, tiêu chuẩn hóa đội ngũ
ngành Văn hóa - Thông tin Thành phố.
Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học: hoàn chỉnh chương trình đào tạo, tổ
chức các cuộc hội thảo chuyên đề, đẩy mạnh việc hợp tác quốc tế, tạo điều kiện cho
giảng viên, sinh viên đi tham quan, học tập nghiên cứu trong và ngoài nước, nhất là các
nước Đông Nam Á, Trung Quốc…
Cần có chế độ chính sách ưu đãi đặc biệt đối với các nghệ sỹ nhân dân, nghệ sỹ ưu
tú, tài năng, diễn viên xuất sắc. Hỗ trợ kinh phí cho học sinh, sinh viên nghệ thuật xuất
sắc đang học ở các trường nghệ thuật trong Thành phố. Áp dụng chính sách “chiêu hiền
đãi sỹ” đối với các nghệ sỹ, diễn viên tài năng, đặc biệt các tài năng trẻ, được thuyên
chuyển, nhập hộ khẩu, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, có nhà tập thể cho các diễn
viên ngoại tỉnh về ở khi được các đơn vị nghệ thuật tuyển chọn.
Về lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật biểu diễn: cần đổi mới cơ chế chính sách xã hội
hóa trong các chính sách nghệ thuật biểu diễn. Xã hội hóa hoạt động nghệ thuật biểu
diễn thực chất là hình thức huy động sức người, sức của của đội ngũ cán bộ, diễn viên
trong các đơn vị. Mục đích của việc xã hội hóa này nhằm mở rộng hoạt động của các
đoàn đưa tác phẩm nghệ thuật biểu diễn đến với các đối tượng công chúng khác nhau,
các địa phương khác nhau và trên nhiều phương tiện truyền thông khác nhau. Về lĩnh
vực ca, múa, nhạc, để các ca sỹ có điều kiện thể hiện hết tài năng nghệ thuật của mình,
các Nhà hát cần huy động vốn của cán bộ diễn viên bằng cách đóng cổ phần cho vở diễn.
Đây là một phương thức mới và có hiệu quả. Nhạc giao hưởng - một loại hình nghệ thuật
biểu diễn được xếp vào hàng “quý tộc” cũng đang ngày càng có nhu cầu xã hội hóa cao.
Theo ông Trần Trí Dũng (Phó Giám đốc Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam), để thu hút
công chúng đến với loại hình nghệ thuật này, họ đang kêu gọi sự tài trợ của các hãng
hàng không, các khách sạn, các doanh nghiệp trong và ngoài nước, mời các nghệ sỹ có
tên tuổi sang biểu diễn cùng nghệ sỹ Việt Nam… Trên thực tế, có nhiều tổ chức quốc tế
và nhiều tổ chức xã hội đã không ngần ngại giúp Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam về tài
chính, chuyên môn, chi phí đào tạo luyện tập, chắc chắn Giao hưởng sẽ có nhiều khán
giả, và sẽ có doanh thu. Đây là hướng đi đúng, cần phát huy.
Có thể nói, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, xã hội hóa các hoạt động biểu
diễn nghệ thuật đã, đang và sẽ là giải pháp tích cực, mang lại hiệu quả thiết thực cho sự
phát triển nền văn hóa nghệ thuật nước nhà.

3.3.3. Giải pháp về tăng cường công tác giáo dục thẩm mỹ - nghệ thuật cho công
chúng
Giải pháp này không phải là mới bởi đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập
đến. Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay thì đây được xem là giải pháp cơ bản. Đặc biệt ở
địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, thị hiếu thẩm mỹ của công chúng lại hết sức phức tạp.
Trong phần các giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng và phát triển văn hóa trong những
năm tới của Kết luận Hội nghị lần thứ mười BCH TW Đảng khóa IX cũng đã nhấn mạnh:
“Có kế hoạch triển khai chương trình giáo dục văn hóa, thẩm mỹ, nâng cao chất lượng
giáo dục khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục đạo đức, lối sống trong nhà trường phổ
thông đến đại học. Phát huy vai trò của đội ngũ văn nghệ sỹ, những người hoạt động văn
hóa tham gia hỗ trợ, giúp đỡ nhà trường thực hiện nhiệm vụ này” [5, tr.71]. Trong
chương trình “Tôi và chúng ta” ở Đài truyền hình HTV7 về vấn đề Giao lưu văn hóa
nghệ thuật ở Thành phố Hồ Chí Minh, các nhà chức trách Thành phố cũng đã quan tâm
nhiều đến đội ngũ công chúng hiện nay. Có ý kiến bộc lộ sự lo lắng thực sự cho thị hiếu
thẩm mỹ của lớp trẻ hiện nay. Làm sao ngăn chặn được những ảnh hưởng xấu trong xu
thế toàn cầu hóa? Đó là nổi lo, sự trăn trở của không ít những người có lương tâm và
trách nhiệm trước thời cuộc. Nhưng cũng có ý kiến tin tưởng hơn ở lớp trẻ và cho rằng
con người Việt Nam từ xưa đến nay vốn có bộ gien, năng lực và sức đề kháng đặc biệt để
loại trừ những độc tố, tiếp thụ những tinh hoa của thế giới. Văn hóa là một khái niệm mở
và bền vững nên không cần lo lắng quá. Cần loại trừ những yếu tố tiêu cực để không làm
xấu đi chứ không thể sụp đổ.
Xét theo tâm lý lứa tuổi, lớp trẻ bao giờ cũng bồng bột, xóc nổi, thích cái mới, cái
lạ; nhiều khi thích nhưng không hiểu sao mình thích mà chỉ là chạy theo xu thế chung
của thời đại, đón nhận vồ vập với thói quen cảm tính hơn là sự hiểu biết một cách chủ
động. Sau một thời gian, lớp trẻ mới nhận ra rằng cái đó không phù hợp với thị hiếu
thẩm mỹ của dân tộc mình. Vì vậy, cần thực hiện những biện pháp để giáo dục thị hiếu
thẩm mỹ - nghệ thuật cho công chúng Thành phố sau đây:
- Giáo dục trình độ nhận thức, trình độ thẩm mỹ cho khán giả, đặc biệt là sinh viên,
học sinh trong viêc thưởng thức văn hóa nghệ thuật. Giáo dục bằng các phương tiện thông
tin đại chúng như báo chí, đài phát thanh truyền hình ở Trung ương và địa phương. Cần
giáo dục từ mầm non, tiểu học, phổ thông cho đến đại học. Những làn điệu quê hương,
những lời ru ngọt ngào của mẹ sẽ là chất keo kết dính đứa trẻ với dân tộc mình mai sau.
- Cần phải có chiến lược giáo dục thẩm mỹ một cách tổng thể, toàn diện hệ thống
từ thấp lên cao, nếu không hiện tượng lớp trẻ vô cảm hay loạn cảm giác sẽ khó mà
tránh khỏi. Vấn đề là phải tự đề kháng chứ không phải cấm, càng cấm càng nguy hiểm.
Giới trẻ cần phải biết chỗ nào đúng, chỗ nào sai để tự điều chỉnh. Thế hệ mai sau có
giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc để tiếp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài hay
không phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược giáo dục thị hiếu thẩm mỹ - nghệ thuật hiện
nay.
PGS.TS Tạ Văn Thành đã rất có lý khi cho rằng:
Trong việc giáo dục một thị hiếu thẩm mỹ tốt, cũng phải giải quyết
mối quan hệ giữa cái dân tộc và cái quốc tế, chú ý quy luật gi ao lưu văn
hóa. Cần chống thói bắt chước thiếu sáng tạo, đầu óc sùng ngoại, chủ
nghĩa lấy châu Âu làm trung tâm, tự ti dân tộc… mặt khác, chống thái độ tự
đóng kín, óc bài ngoại, những tư tưởng mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa,
bảo vệ và phát triển bản sắc d ân tộc của văn hóa”. “Song song v ới sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phải dần dần xây dựng quan điểm,
lý tưởng, thị hiếu, tình cảm thẩm mỹ phù hợp với xã hội công nghiệp [77,
tr.45].
3.3.4. Giải pháp đấu tranh chống sự xâm nhập của văn hóa nghệ thuật độc hại
Kết luận Hội nghị lần thứ 10 BCH TW Đảng khoá IX đã khẳng định:
Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng- văn hóa diễn ra ngày càng gay go,
quyết liệt, phức tạp. Các thế lực thù địch sử dụng các sản phẩm và hoạt động
văn hóa để thực hiện “diễn biến hòa bình”. Tập trung vào việc hạ thấp làm phai
nhạt, dẫn đến suy thoái về lý tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận
cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Chúng mưu toan dùng văn hóa để “phi chính
trị hóa” đời sống xã hội và “giải thể hệ tư tưởng Mác-Lênin”, từ đó thực hiện âm
mưu và mục tiêu xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta và các nước xã
hội chủ nghĩa khác, cũng như chống lại các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới
[5, tr.45-46].
Rõ ràng, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa diễn ra ngày càng phức tạp
trên toàn thế giới. Đối với nước ta, kẻ thù của CNXH đã tiếp tay cho thế lực thù địch ở
nước ngoài kết hợp với bọn phản động trong nước chống phá cách mạng trên nhiều lĩnh
vực, trong đó có văn hóa nghệ thuật. Văn hóa nghệ thuật là lĩnh vực gắn liền với hình thái
ý thức xã hội và cuộc đấu tranh tư tưởng, vì vậy kẻ thù đã lợi dụng sự giao lưu và mở cửa
để đưa các tác phẩm văn hóa nghệ thuật có nội dung chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa
vào nước ta ngày càng nhiều. Hơn lúc nào hết, chúng ta phải nâng cao cảnh giác cách
mạng, chủ động phá tan âm mưu “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật,
tạo điều kiện thuận lợi để phát huy sức mạnh tối đa của yếu tố nội sinh trong việc chống
trả sự xâm nhập của các yếu tố độc hại từ bên ngoài. Bên cạnh cơ cấu tiếp nhận, cần phải
xây dựng một cơ cấu thanh lọc và phản công lại mọi thứ văn hóa phẩm độc hại này. Tuy
nhiên, việc chống“diễn biến hòa bình”phải đặt trong bối cảnh quan hệ quốc tế ngày càng
mở rộng, giao lưu về văn hóa nghệ thuật ngày càng được tăng cường, không nên vì cuộc
đấu tranh này mà đóng cửa, chối từ tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới.
Để cuộc đấu tranh trên lĩnh vực này đạt được kết quả tốt, cần phải có những biện
pháp ngăn chặn kịp thời và thích hợp như sau:
Thứ nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, trước hết là các cơ quan nghiên cứu lý luận của
Thành phố cần xây dựng một đội ngũ lý luận phê bình văn hóa nghệ thuật vững vàng về
chính trị, có trình độ chuyên môn cao, được cung cấp những cơ sở vật chất và thông tin
đầy đủ để họ có thể đảm nhận tốt vai trò là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng. Vạch
trần những âm mưu đen tối của các thế lực thù địch ở trong và ngoài nước, góp phần giữ
vững sự thống nhất về tư tưởng trong nhân dân.
Thứ hai, Sở Văn hóa - Thông tin Thành phố cần tăng cường các biện pháp quản lý
hoạt động văn hóa nghệ thuật bằng pháp luật bên cạnh những biện pháp tuyên truyền giáo
dục tư tưởng. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo nhiều những tác phẩm văn
học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng- nghệ thuật cao, kịp thời cung cấp những món ăn tinh
thần bổ ích và làm lành mạnh hóa đời sống tinh thần của nhân dân.
Thứ ba, Các cơ quan quản lý và bảo vệ pháp luật cần tăng cường các biện pháp đấu
tranh chống sự xâm nhập và phát triển lan tràn của các phương tiện nghe nhìn độc hại. Sự
bùng nổ của truyền thông đại chúng, số lượng của các sản phẩm nghe nhìn đang tràn ngập
vào Thành phố tác động đến nhiều lứa tuổi khác nhau, đặc biệt là thanh niên, học sinh.
Các sản phẩm độc hại cũng qua đó xâm nhập vào càng ngày càng nhiều, mức độ càng
cao, gây tác hại xấu đến xã hội. Vì vậy, các cơ quan chức năng cần phải có những biện
pháp quản lý và kiểm tra các sản phẩm xuất - nhập khẩu thật chặt chẽ. Đặc biệt ở lĩnh vực
băng, đĩa lậu. Về truy cập Internet, cần tuyên truyền sâu rộng những nguy cơ bất lợi và tai hại
khó lường của việc truy cập những trang web độc hại. Yêu cầu các đại lý cho truy cập Internet
làm cam kết việc không giới thiệu và truy cập những trang web có nội dung xấu.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
Giao lưu văn hóa nghệ thuật là một quá trình diễn ra thường xuyên từ trước đến nay.
Một nền văn hóa muốn phát triển, hòa nhập vào dòng chảy chung của văn hóa nhân loại
thì không thể không giao lưu rộng rãi với các nền văn hóa khác trên thế giới. Nếu không
có sự trao đổi, giao lưu các giá trị văn hóa nghệ thuật thì nền văn hóa của mỗi dân tộc
ngày một nghèo nàn và lạc hậu. Vai trò to lớn đó là điều hiển nhiên không ai có thể phủ
nhận. Nhưng, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, việc truyền bá hay tiếp nhận các giá trị
văn hóa nghệ thuật cần phải có định hướng cụ thể. Ở mỗi thời đại, mỗi dân tộc, các hình
thức giao lưu không giống nhau. Vì vậy, các nhà nghiên cứu luôn phải dự báo trước những
xu hướng giao lưu sắp tới để từ đó tìm ra những phương hướng, giải pháp thích hợp áp
dụng cho từng thời kỳ khác nhau để nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất trong quá trình giao
lưu. Đảng và nhân dân ta đã xác định được phương hướng đúng đắn: Xây dựng và phát
triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Một khía cạnh của nền văn
hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chính là sự mở rộng giao lưu với thế giới, tiếp thụ có
chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại,
dân tộc và quốc tế. Đó là những phương hướng quan trọng và phù hợp trong thời đại ngày
nay. Tuy nhiên, phương hướng đúng là hết sức cần thiết nhưng chưa đủ. Cần phải có
những giải pháp thích hợp, phải có chính sách tổng thể, một cơ chế quản lý chặt chẽ và
thống nhất, tạo các hành lang pháp lý cho các hoạt động giao lưu văn hóa nói chung, giao
lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn nói riêng được phát triển rộng mở. Thiết nghĩ, hơn bất cứ
một thành phố nào khác trong nước, Thành phố Hồ Chí Minh mà trước hết là Sở Văn hóa
– Thông tin Thành phố, các cơ quan biểu diễn nghệ thuật và những người làm công tác
văn hóa nghệ thuật Thành phố cần ý thức rõ vai trò của mình trong lĩnh vực giao lưu văn
hóa nghệ thuật để góp phần vào xây dựng và phát triển văn hóa nghệ thuật biểu diễn nói
riêng, phát triển văn hóa nói chung của Thành phố ngày càng hiện đại và giàu bản sắc dân
tộc.
KẾT LUẬN


Nghị quyết lần thứ 5 BCH TW (khóa VIII) đã khẳng định vai trò và vị trí của văn hóa
trong sự nghiệp phát triển đất nước, trong đó coi văn hóa đối ngoại là một bộ phận hữu
cơ, gắn chặt với chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Đẩy mạnh việc hợp tác và
giao lưu văn hóa nghệ thuật với nước ngoài trở thành một nhu cầu cần thiết, nhất là trong
điều kiện Việt Nam đang thực hiện đường lối mở cửa, muốn là bạn với các nước trên thế
giới và cộng đồng quốc tế. Với phương châm: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”,
chúng ta vừa tranh thủ giới thiệu bản sắc văn hóa Việt Nam vừa học hỏi được nhiều kinh
nghiệm hay của các nước bạn, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa tiên tiến của nhân loại
để làm giàu thêm nền văn hóa Việt Nam. Mọi nền văn hóa sẽ không thể tự cô lập và bất
biến. Nó chịu sự tác động qua lại với các nền văn hóa khác và luôn luôn biến đổi. Nếu
không có sự giao lưu thì tính đa dạng văn hóa không còn ý nghĩa, nếu không có sự phát
triển thì sự bình đẳng giữa các nền văn hóa cũng sẽ bị phá vỡ dần. Mở rộng giao lưu văn
hóa luôn gắn liền với mở rộng tiếp nhận văn hóa. Càng mở rộng giao lưu văn hóa, việc
tiếp nhận văn hóa càng diễn biến sôi động và tất nhiên là phức tạp hơn. Với tinh thần tiếp
thu có chọn lọc, có phê phán, có sáng tạo, lịch sử văn hóa Việt Nam đã có những thành
công trong qúa trình giao lưu văn hóa quốc tế, đã từng tiếp thu, biến đổi nhiều yếu tố của
nền văn hóa Ấn Độ, văn hóa Trung Hoa, văn hóa phương Tây. Trên cơ sở đó, ngoài cái lõi
văn hóa bản địa, văn hóa Việt Nam còn có những lớp phủ văn hóa lớn như lớp văn hóa Ấn
Độ, lớp văn hóa Trung Hoa và lớp văn hóa phương Tây như là kết quả của một quá trình
giao lưu.
Nằm giữa hai nền văn minh lớn của phương Đông là Ấn Độ và Trung Hoa, nhưng
nền văn hóa Việt nam không hòa tan, tiêu biến mà ngược lại đã phát huy được bản sắc văn
hóa của mình. Đó là nhờ ông cha ta đã biết gạn đục, khơi trong, tiếp thu văn hóa nước
ngoài, đồng thời bảo lưu truyền thống văn hóa. Chuyển hóa những gì tiếp thu được từ bên
ngoài thành nền văn hóa của mình, khả năng tiếp biến ấy đã làm cho dân tộc Việt Nam trụ
vững được trước sức mạnh của ngoại bang. Điển hình cho sự kết hợp hài hòa giữa đạo lý
dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, không ai khác, đó chính là chủ tịch Hồ Chí Minh.
Người đã tiếp thu thành công tinh hoa của văn hóa Đông Tây, từ cổ chí kim, từ quan niệm
của một thế giới đại đồng của Nghiêu – Thuấn xa xưa ở Trung Hoa cổ đại đến Tuyên ngôn
nhân quyền, dân quyền của Pháp cũng như Tuyên ngôn độc lập của Mỹ thời cận đại.
Người vừa kế thừa tinh hoa nhân loại có ở Sếchspia, Víchto Huygô, Lỗ Tấn, C.Mác, Ph.
Ăngghen, V.I.Lênin, vừa giữ gìn và phát triển di sản văn hóa dân tộc đã có hàng nghìn
năm lịch sử dựng nước và giữ nước.
Trong bài diễn văn khai mạc Hội nghị Văn hóa toàn quốc, ngày 24/11/1946, chủ tịch
Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Văn hóa Việt Nam là ảnh hưởng lẫn nhau của văn hóa Đông
phương và Tây phương chung đúc lại…Tây phương hay Đông phương có cái gì tốt, ta học
lấy để tạo ra một nền văn hóa Việt Nam. Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và
văn hóa nay, trau dồi cho văn hóa Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam để kết
hợp với tinh thần dân chủ”.
Thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn chiến lược quan trọng nhất của khu vực phía
Nam, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ, là
cửa ngõ đầu mối giao lưu quốc tế. Không chỉ phát triển về kinh tế, chính trị mà Thành phố
Hồ Chí Minh còn là trung tâm văn hóa nghệ thuật lớn của cả nước. Có được những thành
tựu này là nhờ vào sự giao lưu, tiếp biến và hội tụ những giá trị tinh hoa của nhiều nền văn
hóa khác nhau của các dân tộc phương Đông và phương Tây. Trong quá trình giao lưu,
tiếp biến văn hóa nghệ thuật, Thành phố Hồ Chí Minh không những không bị hòa tan hoặc
đồng hoá, trái lại, nó vẫn giữ được bản sắc, bản lĩnh văn hóa Việt Nam, hội tụ được những
giá trị tinh hoa của văn hóa, văn minh phương Tây để tồn tại và phát triển.
Với nhiều thế mạnh, nhiều loại hình nghệ thuật đặc sắc, giao lưu văn hóa nghệ thuật
biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang có những bước chuyển mình rõ rệt. Chúng
ta đã từng bước giới thiệu và quảng bá những tinh hoa văn hóa nghệ thuật của Thành phố
nói riêng và văn hóa nghệ thuật biểu diễn của Việt Nam nói chung với bạn bè quốc tế, nhất
là các loại hình nghệ thuật truyền thống như tuồng, ca nhạc tài tử, cải lương, múa rối. Đây
được xem là những đặc trưng của vùng sông nước phương Nam. Đây là những lĩnh vực
mũi nhọn cần tập trung đầu tư và phải được phát triển tốt để những loại hình nghệ thuật
này không chỉ phục vụ làm giàu đẹp thêm nền văn hóa nước nhà mà còn xem đây là những
loại hình độc đáo, đặc trưng đem giới thiệu, giao lưu với các nước trên thế giới.
Một số phương hướng và giải pháp mà luận văn nêu ra là những gợi ý hữu ích để
góp phần đẩy mạnh giao lưu văn hóa nghệ thuật biểu diễn trong thời kỳ mới, thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ở thành phố mang tên Hồ
Chí Minh vĩ đại.

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản