LUẬN VĂN: Hoàn thiện pháp luật về quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội

Chia sẻ: vinamilkvietnam

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp bị ốm đau, thai sản, suy giảm khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động hoặc chết. Chính sách BHXH mà trong đó thu, chi BHXH là những hoạt động chủ yếu đã được thực hiện ở nước ta ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trải qua hơn 50 năm qua; trong quá trình...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Hoàn thiện pháp luật về quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội

LUẬN VĂN:


Hoàn thiện pháp luật về quản lý thu,
chi bảo hiểm xã hội




mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài

Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm
góp phần ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường hợp bị
ốm đau, thai sản, suy giảm khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động hoặc
chết. Chính sách BHXH mà trong đó thu, chi BHXH là những hoạt động chủ yếu đã
được thực hiện ở nước ta ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa, trải qua hơn 50 năm qua; trong quá trình thực hiện, pháp luật BHXH không
ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước. Mở
đầu là Sắc lệnh số 54/SL ngày 1/11/1945 của Chính phủ ấn định những điều kiện và
mức được hưởng lương hưu cho công chức khi hết tuổi lao động. Từ đó đến nay, Đảng
và Nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương, chính sách cụ thể tổ chức thực hiện thu, chi
BHXH nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động và chủ sử dụng lao
động. Cụ thể là Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức nhà
nước ban hành kèm theo Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961 của Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ). Về cơ bản theo nghị định này, các qui định về thu, chi
BHXH và điều kiện tham gia, điều kiện hưởng BHXH được áp dụng đến năm 1994.
Nhìn chung trong giai đoạn này, hoạt động thu, chi BHXH diễn ra trong cơ chế kế
hoạch hóa tập trung, bao cấp. Những qui định về thời gian, mức đóng BHXH; điều kiện
và mức được hưởng của từng chế độ mới chỉ quan tâm đến quyền lợi của người lao
động, chưa tính đến khả năng cân bằng thu, chi BHXH cũng như việc hình thành quỹ
BHXH tập trung, hạch toán độc lập với ngân sách nhà nước. ở thời kỳ này hoạt động
thu BHXH còn rất hạn chế, vì vậy kinh phí để chi trả các chế độ BHXH cho người lao
động phần lớn do ngân sách nhà nước bao cấp, năm cao nhất lên đến 98% (năm 1997).
Còn về tổ chức quản lý hoạt động BHXH lại phân tán do nhiều cơ quan khác nhau đảm
nhận nên hiệu quả quản lý thấp.

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986), thực hiện đường lối
đổi mới, nền kinh tế nước ta đã bắt đầu quá trình chuyển từ kế hoạch hóa tập trung, bao
cấp sang hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, do vậy nhiều
quy định trong chính sách BHXH nói chung và trong hoạt động thu, chi BHXH nói
riêng đã ban hành trước đây không còn phù hợp. Để khắc phục tình trạng này và cụ thể
hóa các quy định về BHXH trong Bộ luật Lao động, Chính phủ đã ban hành Điều lệ
BHXH áp dụng đối với công chức, viên chức nhà nước và mọi người lao động theo loại
hình BHXH bắt buộc kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 và Nghị định số
45/CP ngày 15/7/1995 ban hành Điều lệ BHXH đối với sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội và công an nhân dân. Đây là sự thay đổi lớn và hết
sức quan trọng trong quá trình phát triển, hoàn thiện chính sách BHXH nói chung và
pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng ở nước ta để phù hợp với nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự thay đổi này trong thời gian qua đã thực sự đem
lại hiệu quả và được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đánh giá cao.

Việc ban hành chính sách và tổ chức quản lý hoạt động thu, chi BHXH ở nước
ta hơn 50 năm qua và nhất là trong thời kỳ đổi mới đã có tác dụng tích cực làm cho đội
ngũ cán bộ, công chức, công nhân viên, những người phục vụ trong lực lượng vũ trang
gắn bó với cách mạng, khuyến khích họ hăng say lao động sản xuất, chiến đấu, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, nhờ thành công trong
chính sách BHXH nói chung và trong hoạt động quản lý thu, chi BHXH nói riêng vẫn
còn những hạn chế cần sớm được khắc phục, nhất là về mức đóng, mức hưởng để sao
cho quỹ BHXH phải đảm bảo cân đối thu, thi và có điều kiện để đầu tư tăng trưởng.

Nhằm góp phần khắc phục những hạn chế trên, tôi đã chọn đề tài: "Hoàn thiện
pháp luật về quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội" để viết luận văn tốt nghiệp cao học
luật.

2. Mục đích nghiên cứu

Qua nghiên cứu thực trạng pháp luật về quản lý thu, chi BHXH ở nước ta qua
từng thời kỳ để rút ra những mặt được, mặt chưa được, nguyên nhân và đề xuất giải
pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý thu, chi BHXH ở nước ta hiện nay.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Luận văn lấy quá trình hình thành và không ngừng đổi mới các quy định của
pháp luật về quản lý thu, chi BHXH ở nước ta làm đối tượng nghiên cứu.
- Phạm vi nghiên cứu: Thu BHXH, xét duyệt hồ sơ hưởng chế độ BHXH và chi
BHXH là những hoạt động chính của quá trình thực hiện chế độ chính sách BHXH cho
người lao động tham gia và hưởng BHXH. Trong phạm vi luận văn này chỉ tập trung
nghiên cứu pháp luật về quản lý hoạt động thu, chi BHXH.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về duy vật lịch sử và duy vật
biện chứng.

- Các phương pháp tổng hợp, phân tích thống kê, điều tra xã hội học và phương
pháp so sánh…

5. Đóng góp của luận văn

- Góp phần làm rõ và hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận về hoạt động
BHXH nói chung và hoạt động thu, chi BHXH nói riêng.

- Làm rõ thực trạng hoạt động thu, chi BHXH ở nước ta trong thời gian qua,
trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về quản lý thu, chi
BHXH ở nước ta trong giai đoạn từ nay đến năm 2010.

6. Kết cấu của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về bảo hiểm xã hội và pháp luật về quản lý thu,
chi bảo hiểm xã hội.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội.

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý thu, chi
bảo hiểm xã hội ở nước ta đến năm 2010.
Chương 1

Những vấn đề chung về Bảo hiểm xã hội
và pháp luật về quản lý Thu, Chi Bảo hiểm xã hội



1.1. Một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm xã hội

1.1.1. Tính tất yếu của bảo hiểm xã hội

Cũng như các chính sách kinh tế - xã hội khác, sự hình thành chính sách xã hội
bắt nguồn từ những yêu cầu bức xúc do thực tiễn đặt ra. Thời cổ đại, để đảm bảo cuộc
sống và chống chọi với thiên nhiên, con người thường phải tự lực là chính và có thêm
sự giúp đỡ, tương trợ nhau trong những lúc khó khăn, rủi ro. Tuy nhiên, sự tương trợ lúc
này chỉ mang tính tự phát theo bản năng và diễn ra trong một cộng đồng nhỏ, thường là
một gia đình hoặc một nhóm gia đình.

Xã hội loài người phát triển chuyển sang giai đoạn có phân công lao động, sản
xuất lúc này phát triển hơn, quan hệ tác động lẫn nhau giữa các cá nhân, giữa các cộng
đồng cũng phát triển theo. Tôn giáo bắt đầu xuất hiện, các thánh địa, nhà thờ, trại bảo
dưỡng được thiết lập nhằm đạt được các mục đích riêng của từng tổ chức, nhưng trong
đó luôn có mục đích chung là từ thiện, giúp đỡ của các tín đồ, thành viên khi gặp khó
khăn, rủi ro.

Hình thức tương trợ lẫn nhau thời kỳ này đã mang tính tổ chức và có những quy
định cụ thể hơn. Trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ XVI đến thế kỷ thứ XVIII, lực
lượng sản xuất đã bắt đầu xuất hiện những yếu tố phát triển của một ngành công nghiệp,
lúc này hàng loạt người dân ở các vùng nông thôn vì các lý do khác nhau đã di cư ra
thành thị để kiếm việc làm và dần trở thành công nhân. Với mục đích bảo vệ quyền lợi
của người lao động, một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời, tình đoàn kết tương thân
giữa những người làm thuê nảy nở dần. ở một số nước Châu Âu những quỹ tương trợ đã
được thành lập, tại Anh năm 1793 có Hội bằng hữu giúp đỡ hội viên khi ốm đau,
thương tật trong quá trình lao động sản xuất.
Đến thời kỳ Cách mạng công nghiệp, lúc này số công nhân công nghiệp đông
dần lên, giai cấp công nhân công nghiệp gồm những nông dân thoát ly từ nông nghiệp,
nông thôn, từ sản xuất tự cung tự cấp, nay trở thành người làm công ăn lương, chỉ dựa
vào tiền lương làm nguồn sống chủ yếu, có việc làm mới có lương để sống, cho dù đó
chỉ là những đồng lương ít ỏi, nếu ốm đau, tai nạn, mất việc làm..., thì cuộc sống của họ
lập tức bị đe dọa.

Nhằm giảm thiểu nỗi lo âu đó, nhiều hình thức trợ giúp xã hội đã nối tiếp nhau
ra đời. Bên cạnh những Hội tương tế còn có những Quỹ tiết kiệm được Nhà nước khuyến
khích thành lập. Những quy định bắt buộc người sử dụng lao động phải chu cấp cho người
lao động thuộc quyền quản lý khi bị ốm đau, tai nạn lao động, mất việc làm... Những tổ
chức BHXH của tư nhân, bảo hiểm sinh mạng và chi phí tang lễ cũng xuất hiện ngày càng
nhiều. Giai cấp công nhân càng đông đảo, nhiều sức ép đòi hỏi phải bảo vệ quyền lợi của
người lao động đã tác động ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, xã hội của các quốc gia,
buộc chính phủ các nước, nhất là các nước công nghiệp, không thể không quan tâm đến
tình cảm của người lao động, phải từng bước cải thiện điều kiện lao động, rút ngắn thời
gian làm việc trong ngày, có chế độ và hình thức thích hợp hơn để tỏ ra có chăm sóc
đến người làm công ăn lương. Điển hình, năm 1850, dưới thời Thủ tướng Bismark,
nhiều bang của nước Đức đã giúp các địa phương thành lập quỹ BHXH ốm đau do
người công nhân phải đóng tiền để được trợ giúp khi rủi ro. Nguyên tắc bảo hiểm bắt
buộc bắt nguồn từ đây và người được bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm.

Sáng kiến về đóng phí bảo hiểm xã hội của chính quyền Bismark đã được nhiều
nước Châu Âu tiếp nhận từ thập kỷ 30 của thế kỷ XX, sau đó liên tiếp các nước Châu
Mỹ La tinh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Canada đều áp dụng.

Trên cơ sở thực tiễn áp dụng các cơ chế đa dạng bảo vệ người lao động, giảm
thiểu những khó khăn, rủi ro, tháng 4/1952, Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động
Quốc tế (ILO) đã thông qua Công ước số 102 về an toàn xã hội (quy phạm tối thiểu),
trong đó BHXH là một cơ chế chủ yếu.

1.1.2. Khái niệm bảo hiểm xã hội
Trong quá trình hình thành chính sách BHXH, chúng ta nhận thấy, lúc khởi đầu,
BHXH chỉ mang tính chất sơ khai, tự phát, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp, dần dần do nhu
cầu thực tiễn, các quy định, chính sách BHXH lần lượt ra đời ở các quốc gia khác nhau.
Việc ra đời các luật BHXH, một mặt nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động, nhưng
mặt khác, nó cũng mang lại lợi ích cho giới chủ. Chính lợi ích hai mặt này đã góp phần
không nhỏ để chính sách BHXH nhanh chóng được thực hiện ở các quốc gia. Cho đến
nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam chưa có một khái niệm thống nhất về BHXH. ở
nước ta, căn cứ vào tính chất, mục đích của BHXH, Từ điển bách khoa Việt Nam đã
định nghĩa:

Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi
già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên
tham gia bảo hiểm xã hội, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm
bảo đảm an toàn cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo
đảm an toàn xã hội.

Qua khái niệm về BHXH, ta thấy nổi lên hai điểm:

- BHXH được thực hiện theo quy định của pháp luật, nếu trước kia BHXH được
hình thành một cách tự phát, thì sau này sự tự phát đó đã được thay thế bằng những
chính sách, những quy định cụ thể của mỗi nước, những chính sách, những quy định
này là tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội và chính trị của mỗi nước ở từng thời kỳ.

- Nguồn tài chính để thực hiện BHXH là sự đóng góp bắt buộc của người được
bảo hiểm, người sử dụng lao động và sự bảo trợ của Nhà nước. Các nguồn hình thành
này là hết sức quan trọng, nếu sự đóng góp bắt buộc của người lao động và chủ sử dụng
lao động tạo nên quỹ BHXH thì sự bảo trợ của Nhà nước trong các trường hợp tỷ lệ lạm
phát lên cao, sức mua của đồng tiền bị giảm sút cũng không kém phần quan trọng để
bảo toàn quỹ.

1.1.3. Chức năng của bảo hiểm xã hội

Là một chính sách xã hội quan trọng, BHXH có những chức năng sau:
- Một là, đảm bảo ổn định cuộc sống vật chất cho người lao động và gia đình
khi họ mất hoặc giảm khả năng lao động. Một thực tế không thể tránh khỏi của phần lớn
người lao động trong quá trình làm việc là những rủi ro do các nguyên nhân chủ quan
và khách quan khác nhau, làm cho thu nhập bị mất hoặc giảm sút. Trong các trường hợp
này nếu không có sự bù đắp từ quỹ BHXH cho phần thu nhập bị mất hoặc giảm sút thì
điều kiện sống của người lao động và gia đình họ sẽ gặp nhiều khó khăn.

- Hai là, phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người lao động tham
gia BHXH, quá trình này diễn ra theo hai cách:

+ Thứ nhất là phân phối lại thu nhập theo chiều ngang giữa những người lao
động trẻ, khỏe và những người lao động già yếu; giữa người lao động đang làm việc với
những người lao động đã nghỉ hưu; giữa những người độc thân và những người lao động
có thân nhân phải nuôi dưỡng; giữa một bên là người lao động thường xuyên đóng
BHXH nhưng chưa gặp rủi ro nên chưa hưởng, một bên là những người có đóng BHXH,
gặp rủi ro như ốm đau; tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… được trợ cấp trước, lúc này số
tiền đóng BHXH của mọi người được chuyển giao cho một số ít người gặp rủi ro.

+ Thứ hai là sự phân phối lại thu nhập theo chiều dọc, quá trình phân phối này
được thực hiện giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp. Thông thường
những người có thu nhập cao mức đóng phí BHXH của họ cũng cao, trong khi đó, điều
kiện ăn uống, sinh hoạt của đối tượng này thường đầy đủ hơn những người có thu nhập
thấp, do vậy họ ít bị ốm đau hoặc các rủi ro khác so với những người có thu nhập thấp.
Sự chuyển giao tiền và sức mua của tầng lớp có thu nhập cao sang tầng lớp có thu nhập
thấp thông qua phân phối lại theo chiều dọc là một mục tiêu quan trọng của chính sách
kinh tế - xã hội hiện đại.

- Thứ ba là gắn lợi ích giữa người sử dụng lao động và người lao động với Nhà
nước, điều này càng đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thị tr ường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Vì trên thực tế, nếu người lao động được bảo hiểm trước
những rủi ro có thể xảy ra, họ sẽ yên tâm trong lao động, sản xuất, nâng cao năng suất,
chất lượng sản phẩm cho xã hội. Ngược lại, người sử dụng lao động có phải bỏ ra một
khoản phí đóng BHXH cho người lao động, thì bù lại họ nhận được những sản phẩm có
chất lượng cao, giá thành rẻ từ người lao động. Mặt khác, nếu không có sự can thiệp,
quản lý của Nhà nước thông qua chính sách BHXH, thì trong nhiều trường hợp, người
lao động bị đẩy ra khỏi cơ quan, doanh nghiệp mà không nhận được một sự bảo vệ
quyền lợi nào. Vì vậy, thông qua chính sách BHXH, mối quan hệ người sử dụng lao
động, người lao động và Nhà nước càng thêm chặt chẽ, gắn bó hơn.

- Thứ tư là đảm bảo an toàn xã hội, gắn bó người lao động với xã hội. Dưới bất
cứ một xã hội nào cũng vậy, người lao động khó tránh khỏi những rủi ro trong quá trình
lao động và chính lúc này, nguồn thu nhập của họ bị mất hoặc bị giảm sút, cần phải
được sự trợ giúp. Nếu trước đây, sự trợ giúp này mang tính tự phát, thì khi xã hội ngày
càng phát triển, việc trợ giúp này đã dần được cụ thể hóa bằng các chế độ, chính sách cụ
thể và do một hay một số tổ chức đứng ra chịu trách nhiệm, nhằm đảm bảo sự an toàn
cho người lao động và gia đình họ. Chính sự đảm bảo này đã gắn bó người lao động với
xã hội và càng thúc đẩy hơn nghĩa vụ của người lao động với xã hội.

1.1.4. Nguyên tắc hoạt động bảo hiểm xã hội

- BHXH hoạt động theo nguyên tắc đóng, hưởng, cộng đồng chia sẻ rủi ro; lấy
số đông, bù số ít, lấy của người đang làm việc trả cho người nghỉ hưởng chế độ BHXH.
Đối với nước ta, khi nền kinh tế chuyển từ cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị
trường thì nguyên tắc này là hết sức cần thiết, vì chỉ có như vậy mới thực sự hình thành
được quỹ BHXH, giảm "gánh nặng" cho ngân sách nhà nước, đồng thời đảm bảo sự
công bằng giữa những người lao động tham gia và hưởng BHXH.

- Mức hưởng phải thấp hơn tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, nhưng thấp
nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho người hưởng BHXH. Việc quy định
mức hưởng phải thấp hơn tiền lương là nguyên tắc bắt buộc của tất cả các nước, song
thấp hơn bao nhiều còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi
nước ở các thời kỳ khác nhau. Nước ta quy định không được thấp hơn mức lương tối
thiểu ở từng thời kỳ.

- Quỹ BHXH phải tự chủ về tài chính, đây là nguyên tắc quan trọng trong chính
sách BHXH của các nước và càng đặc biệt nổi lên trong điều kiện của nước ta, bởi vì
nếu không thực hiện nguyên tắc này, quỹ BHXH lại nhanh chóng trở về thời kỳ trước
năm 1995, nghĩa là chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Nguyên tắc tự chủ tài chính mặc dù hết
sức quan trọng, nhưng cũng chỉ mang tương đối và khi áp dụng thì bị giới hạn trong hai
quy tắc chủ yếu:

+ Thứ nhất: Các nguồn quỹ BHXH chỉ được sử dụng vào những mục đích do
luật định như: chi các loại trợ cấp do luật định, phòng ngừa rủi ro và những chi phí quản
lý cần thiết khác, nghĩa là tránh bị phân tán, sử dụng vào những mục đích khác, dù các
mục đích đó có chính đáng hoặc cấp bách đến đâu. Quy tắc này có tính mệnh lệnh,
không có gì phải bàn cãi.

+ Thứ hai: Các nguồn dự trữ của quỹ phải được đưa vào đầu tư để bảo toàn giá
trị và tăng trưởng quỹ. Việc đầu tư của quỹ phải đảm bảo các yêu cầu sau:

* An toàn: Mục đích của quỹ BHXH là đảm bảo chi trả lương hưu và trợ cấp
BHXH cho người lao động. Vì vậy, quỹ BHXH dù có đầu tư vào lĩnh vực nào cũng phải
đảm bảo an toàn cho khoản đầu tư đó. Đảm bảo an toàn không phải chỉ là bảo toàn được
vốn đầu tư về danh nghĩa, mà còn là bảo toàn được cả giá trị thực tế của đầu tư, điều
này càng đặc biệt quan trọng trong các thời điểm có lạm phát, giá sinh hoạt tăng lên
khiến sức mua của đồng tiền bị giảm sút và phải điều chỉnh lại lương hưu. Nói cách
khác, để đảm bảo an toàn cho quỹ BHXH thì phải lựa chọn lĩnh vực đầu tư để giảm
thiểu rủi ro.

* Hiệu quả: Hiệu quả của đầu tư (lãi đầu tư) là sự tăng lên toàn bộ giá trị đầu tư
được tính trong một giai đoạn nhất định, thường là một năm. Lãi đầu tư làm tăng thu
cho quỹ BHXH, đồng thời cho phép hạ tỷ lệ đóng góp hoặc ít nhất cũng không làm tăng
tỷ lệ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động.

* Khả năng thanh toán, hay tính lưu chuyển của vốn: yêu cầu này trực tiếp liên
quan đến dự kiến lưu chuyển tiền mặt trong thu, chi của mỗi loại chế độ BHXH. Bất kỳ
một vốn đầu tư nào từ nguồn dự trữ của quỹ BHXH, đều phải sẵn sàng đổi thành tiền
mặt và có thể rút được tiền một cách nhanh chóng, tránh cho những khoản đầu tư vướng
vào những vấn đề tồn khoản.
* Có ích cho kinh tế và xã hội, là một quỹ tài chính để thực hiện chính sách xã
hội, do đó trong quá trình đầu tư phải lưu ý đến việc nâng cao phúc lợi cho dân cư, phải
ra sức cải thiện chất lượng chung cho cuộc sống của đất nước.

1.2. Vai trò của bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế
thị trường

Như phần trên ta đã khẳng định, BHXH là một chính sách xã hội lớn nhằm góp
phần đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ trong các trường
hợp bị mất hoặc giảm thu nhập do các nguyên nhân khác nhau. Vì vậy, BHXH có một
vai trò hết sức quan trọng đối với mọi người lao động ở tất cả các quốc gia trên thế giới.

Với các nước đã có nền kinh tế phát triển thì chính sách an sinh xã hội nói
chung và pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng ra đời và luôn gắn liền với nền
kinh tế thị trường. Vì vậy, một trong những nguyên tắc cơ bản mà họ luôn phải tuân thủ
là mọi người lao động có thu nhập đều bắt buộc phải tham gia BHXH; mức hưởng
BHXH được tính toán dựa trên cơ sở của mức đóng BHXH sao cho quỹ BHXH phải
đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời các chế độ BHXH cho người lao động, đồng thời còn
có phần quỹ "nhàn rỗi" để đầu tư tăng trưởng quỹ. Việc can thiệp của Chính phủ vào
quỹ BHXH là rất hạn chế, thường chỉ trong các trường hợp đặc biệt như tỷ lệ lạm phát
quá cao, làm cho sức mua của đồng tiền bị giảm sút.

Đối với nước ta, từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp chuyển sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc đổi mới cơ chế chính sách
BHXH theo nguyên tắc có đóng BHXH mới được hưởng BHXH lại càng trở lên cấp
thiết đã làm nổi bật vai trò quan trọng của BHXH trong nền kinh tế thị trường. Chúng ta
có thể thấy được điều này qua thực tiễn: Thời kỳ nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ
chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, quỹ BHXH chỉ tồn tại trên danh nghĩa, còn thực
chất thì không, mọi khoản kinh phí chi trả BHXH đều do ngân sách nhà nước bao cấp,
do vậy hiện tượng chậm lương hưu của đối tượng từ 2-3 tháng, thậm chí là lâu hơn vẫn
thường xuyên xảy ra làm ảnh hưởng đến đời sống của đối tượng đã khó khăn này càng khó
khăn hơn. Từ năm 1995, cơ chế, chính sách BHXH có sự thay đổi cơ bản, mà một trong
những thay đổi ấy là người lao động chỉ được hưởng BHXH khi bản thân họ và đơn vị sử
dụng họ phải đóng BHXH theo tỷ lệ do pháp luật quy định (người lao động đóng bằng
5% tiền lương tháng còn người sử dụng lao động đóng bằng 15% quỹ tiền lương) với
qui định này từ năm 1995 đến năm 2003 quỹ BHXH đã có số thu trên 42.000 tỷ đồng để
đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời cho đối tượng do quỹ BHXH đảm bảo. Đến hết năm
2003 quỹ BHXH vẫn còn số dư trên 34.000 tỷ đồng để đầu tư bảo toàn, tăng trưởng
quỹ. Việc hình thành quỹ BHXH trên thực tế và với số thu ngày càng tăng, đã góp phần
giảm đáng kể "gánh nặng" cho ngân sách nhà nước trong việc bao cấp chi trả các chế độ
BHXH, để có điều kiện đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội cần thiết khác.

Ngoài ra, hiện nay Chính phủ đang đẩy mạnh quá trình đổi mới sắp xếp lại
doanh nghiệp Nhà nước theo hướng cổ phần hóa, giao khoán, bán, cho thuê doanh
nghiệp… thì hiện tượng người lao động dôi dư, bị mất việc làm là điều không tránh
khỏi, thậm chí còn là một số lượng lớn. Trong điều kiện như vậy, nếu không có BHXH
thì người lao động sẽ bị đẩy ra khỏi nơi làm việc mà không được đảm bảo về quyền lợi.

Chỉ qua hai ví dụ trên chúng ta cũng đã làm rõ vai trò quan trọng của BHXH
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay.

1.3. Khái quát về pháp luật quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội

1.3.1. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về quản lý thu, chi
bảo hiểm xã hội

Chính sách BHXH đã được hình thành và tổ chức thực hiện ở nước ta ngay từ
những ngày đầu thành lập nước. Tuy nhiên, trong những năm đầu, chính sách BHXH
mới chỉ giải quyết một số các yêu cầu cụ thể cấp thiết chứ chưa thực sự là một hệ thống
chính sách đồng bộ và trong điều kiện này thì pháp luật về thu, chi BHXH cũng mới chỉ
được quy định trong một số văn bản chẳng hạn theo Sắc lệnh số 105/SL ngày 14/6/1946
về việc cấp hưu bổng thì từ 1/1/1946 công chức phải đóng lưu niễn (phí bảo hiểm hưu
trí) bằng 6-10% tiền lương và từ năm 1947 bằng 10%, Nhà nước hỗ trợ thêm bằng 7-
10% so với tổng quỹ lương công chức.

Năm 1961, Điều lệ tạm thời về chế độ BHXH được ban hành và cũng từ đây
chính sách BHXH của nước ta nói chung và pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói
riêng mới được thực hiện một cách tương đối đầy đủ và đồng bộ với tư cách là một hệ
thống chính sách. Thời điểm này Điều lệ quy định chỉ cơ quan, xí nghiệp, công trường,
lâm trường (tức chỉ có chủ sử dụng lao động) nộp BHXH bằng 4,7% so với tổng quỹ
tiền lương, còn người lao động không phải đóng BHXH [35]. Mức nộp này kéo dài đến
năm 1986, sau đó ngày 30/6/1986 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành
Quyết định số 181/HĐBT quy định kinh phí trích nộp BHXH do Tổng Liên đoàn Lao
động thu là 5% để chi trả cho các chế độ BHXH ngắn hạn là ốm đau, thai sản và tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, còn số thu do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản
lý là 10% để chi trả cho các chế độ BHXH dài hạn là hưu trí, tử tuất và mất sức lao
động (trong số này để lại 2% cho cơ sở làm trợ cấp khó khăn cho công nhân viên chức).
Từ năm 1993 Chính phủ xác định rõ quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của
người sử dụng lao động và người lao động, trong đó người lao động là 5% và người sử
dụng lao động đóng 15% tổng quỹ tiền lương. Quy định này hiện vẫn đang được thực
hiện [29], [30].

Trên đây là một số nét khái quát về sự hình thành và phát triển của pháp luật thu
BHXH, còn về chi BHXH, Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH quy định chi cho các
chế độ sau:

- Trợ cấp ốm đau;

- Trợ cấp thai sản;

- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

- Trợ cấp mất sức lao động;

- Trợ cấp hưu trí;

- Trợ cấp chôn cất và trợ cấp vì mất người chủ gia đình (tiền tuất).

Các chế độ trợ cấp này tùy vào điều kiện cụ thể, đối tượng sẽ được hưởng các
mức khác nhau theo quy định của pháp luật. Các chế độ trên được thực hiện cho đến
năm 1994, từ năm 1995 Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH kèm theo Nghị định số
12/CP ngày 26/1/1995 quy định lại chỉ còn 5 chế độ, chế độ mất sức lao động không
còn thực hiện nữa.
1.3.2. Các bộ phận cấu thành của pháp luật về quản lý thu, chi bảo hiểm xã
hội

Thu, chi BHXH là những hoạt động chủ yếu, diễn ra thường xuyên của quá
trình thực hiện chế độ, chính sách BHXH đối với người lao động tham gia và thụ hưởng
BHXH. Cả hai hoạt động này đều liên quan trực tiếp đến nguồn thu và khả năng đáp
ứng chi trả các chế độ BHXH của quỹ và điều này đã được pháp luật quy định rõ:

- Về quản lý thu BHXH, không phải ngẫu nhiên mà các nhà hoạch định, xây
dựng chính sách BHXH định ra một tỷ lệ bất kỳ mà phải dựa trên các căn cứ pháp luật,
trong đó có các căn cứ chủ yếu sau:

- Các chế độ và mức hưởng tối đa cho từng chế độ BHXH đã được Chính phủ
quy định;

- Giá trị thực tế của mức tiền lương tối thiểu ở các thời kỳ khác nhau;

- Số người tham gia BHXH và dự kiến số tăng lên hàng năm.

Trên cơ sở đó, các nhà hoạch định chính sách sẽ đề xuất tỷ lệ thu cụ thể để hình
thành quỹ BHXH theo cơ cấu sau:

+ Phần thu của người sử dụng lao động;

+ Phần thu của người lao động;

+ Phần Nhà nước đóng góp, hỗ trợ thêm;

+ Phần thu khác.

Đây là cơ cấu hiện tại, còn những năm trước đây cơ cấu này không phải lúc nào
cũng có đủ các nội dung trên. Chẳng hạn, có thời kỳ người lao động không phải đóng
BHXH, lại có thời kỳ người sử dụng lao động không phải đóng BHXH. Như vậy cơ cấu
này không phải là cố định mà tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước
qua từng giai đoạn phát triển. Tuy nhiên, trong điều kiện nền kinh tế thị trường thì các nội
dung trong cơ cấu quỹ BHXH như trên là không thể thiếu được, chỉ có điều tỷ lệ đóng góp
của từng bên tham gia có thể có sự thay đổi cho phù hợp với từng thời kỳ. Tiếp đến để đảm
bảo các đối tượng tham gia đóng góp theo đúng tỷ lệ đã quy định thì pháp luật về quản lý
thu BHXH còn phải đưa ra các quy định cụ thể để buộc các chủ thể tham gia phải thi
hành nghĩa vụ đóng BHXH theo quy định.

Về quản lý chi BHXH: Trong quá trình hoạch định chính sách thì các chế độ,
điều kiện và tỷ lệ được hưởng thường được xác định trước và cũng như pháp luật về
quản lý thu BHXH; chế độ được hưởng, tỷ lệ hưởng cũng không thể tùy tiện định ra mà
phải dựa trên các căn cứ pháp luật. Các căn cứ đó là:

- Các nhu cầu vật chất tối thiểu để người lao động duy trì một cuộc sống bình
thường, khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập vì một lý do nào đó (căn cứ này thường được
lấy bằng mức lương tối thiểu ở từng thời kỳ).

- Những rủi ro chính mà người lao động thường mắc phải trong quá trình làm
việc.

- Căn cứ vào đặc thù riêng của người lao động phân theo giới tính và tuổi thọ
bình quân của người dân.

Căn cứ vào các nhu cầu trên và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước qua từng thời kỳ, các nhà hoạch định xây dựng chính sách sẽ định ra từng chế độ
BHXH cụ thể với những điều kiện được hưởng cũng như tỷ lệ hưởng phù hợp.

Về cơ bản, cơ cấu chi BHXH của nước ta nhìn chung là ổn định qua các thời
kỳ, chỉ trừ những năm từ 1961 (năm trước khi Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH có
hiệu lực thi hành) trở về trước do điều kiện kinh tế quá khó khăn, đối tượng tham gia
còn ít nên các chế độ được hưởng mới chỉ tập trung vào hưu trí, còn các chế độ khác
chưa có điều kiện để thực hiện. Hiện tại cơ cấu chi BHXH gồm:

- Chi trả chế độ ốm đau;

- Chi trả chế độ thai sản;

- Chi trả chế độ tai nạn, bệnh nghề nghiệp;

- Chi trả tiền tuất;

- Chi trả lương hưu;

- Chi trả mất sức lao động.
Từ năm 2002 còn có thêm chi nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe và chi khám
chữa bệnh cho các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế (BHYT). Pháp luật cũng quy định
quỹ BHXH chỉ phải đảm bảo chi trả các chế độ trên cho những đối tượng hưởng lương
hưu và trợ cấp BHXH từ năm 1995 trở đi, còn ngân sách nhà nước phải đảm bảo nguồn
để chi trả cho các đối tượng đã nghỉ làm việc để hưởng chế độ hưu trí và trợ cấp BHXH
từ năm 1994 trở về trước. Như vậy, trong cơ cấu nguồn kinh phí để chi trả BHXH có
hai phần: Phần của ngân sách nhà nước và phần của quỹ BHXH.

1.3.3 Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội

Chính sách BHXH nói chung và pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng
ban hành trong thời gian qua, về cơ bản đã giải quyết được các vấn đề liên quan đến
quyền và nghĩa vụ hợp pháp của người lao động tham gia và hưởng BHXH, phù hợp
với tình hình kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước qua từng thời kỳ.

Đối với nước ta, chính sách BHXH được hình thành và thực thi trong những
điều kiện kinh tế - xã hội hết sức khó khăn. Vì vậy, các quy định của pháp luật về đảm
bảo tổ chức thực hiện chính sách BHXH ở thời kỳ đầu thường chỉ là giải quyết được
một hoặc một số ít các chế độ BHXH chứ chưa thể có một hệ thống chính sách đồng bộ
được. Mặt khác, nền kinh tế nước ta đã một thời gian dài hoạt động theo cơ chế kế
hoạch hóa tập trung bao cấp, nên ở thời kỳ này chính sách BHXH nói chung và pháp
luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng cũng được hoạch định, xây dựng theo cơ chế
này. Các quy định của pháp luật về quản lý thu, chi BHXH một khi không được hoạch
định và xây dựng cho đúng với quy luật của nó, tức là phải đảm bảo lấy thu bù chi và có
phần dư để đầu tư tăng trưởng, tất yếu sẽ dẫn đến những khó khăn, hạn chế trong khâu
tổ chức thực hiện.

Nhìn chung, các quy định của pháp luật về thu, chi BHXH ở thời kỳ này đã
đóng vai trò quan trọng đối với việc ổn định đời sống của công nhân, viên chức và gia
đình họ khi gặp rủi ro; đảm bảo an toàn xã hội. Tuy nhiên, khi nền kinh tế chuyển đổi từ
cơ chế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường thì chính sách BHXH nói chung và
pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, không
còn phù hợp, thể hiện trên một số điểm chủ yếu sau:
- Đối tượng áp dụng BHXH còn hạn hẹp; đến trước thời điểm 1993 mới chỉ có
2,6 triệu công nhân viên chức thuộc khu vực Nhà nước được hưởng chính sách BHXH.
Còn khoản trên 2 triệu lao động làm công, ăn lương trong các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh và hàng chục triệu lao động là xã viên hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp... chưa được tham gia và hưởng chính sách BHXH.

- Mức đóng BHXH còn thấp, mặt khác việc tuân thủ quy định của pháp luật về
thu BHXH chưa nghiêm, nên quỹ BHXH chưa đủ chi cho các chế độ BHXH. Kinh phí
chi trả BHXH hàng năm chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp. Theo qui định hàng tháng
các cơ quan, đơn vị đóng 15% tổng quỹ tiền lương để thực hiện BHXH, trong đó phần
Nhà nước thu theo kế hoạch là 8%, còn 2% để lại cơ sở để trợ cấp khó khăn cho người
lao động. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thu 5% để chi cho 3 chế độ ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Quy định là vậy, nhưng do việc tổ chức thu
phân tán, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài nên trên
thực tế số thu được là rất ít. Số chi BHXH do ngân sách nhà nước phải cấp bù ngày
càng tăng, thường là trên 70%.

- Chính sách BHXH làm thay cả các chính sách xã hội khác như: chính sách ưu
đãi những người tham gia kháng chiến; chính sách về kế hoạch hóa gia đình; tinh giảm
biên chế; lấy thời gian công tác quy đổi để hưởng BHXH, trước khi về hưu được nâng
lương; tỷ lệ hưởng BHXH cao so với mức đóng…

- Trợ cấp ốm đau trả thay tiền lương không phụ thuộc vào thời gian nghỉ ốm dài
hay ngắn và không phân biệt giữa những người làm việc lâu năm với người làm việc ít
năm.

- Trợ cấp thai sản được hưởng chung là 6 tháng không còn phù hợp với tình
hình sử dụng lao động nữ, đặc biệt là những đơn vị sử dụng nhiều lao động nữ.

- Chi trả trợ cấp hưu trí, mất sức lao động xuất hiện nhiều bất cập. Chẳng hạn
như: mức trợ cấp thay tiền lương khi nghỉ hưu thấp, không đảm bảo cuộc sống của
người nghỉ hưu. 40% số người về hưu có mức lương hưu ngang với mức lương tối
thiểu. Việc giảm tuổi đời, giảm số năm công tác để hưởng chế độ hưu trí đã dẫn đến độ
dài bình quân nghỉ hưu dài hơn độ dài làm việc. Qua khảo sát của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội, trong 950.000 người hưởng hưu ở thời điểm 1992 có 80% chưa
hết tuổi lao động, 10% dưới 45 tuổi; thậm chí nhiều người về hưu ở độ tuổi 37, 38.
Trong 359.000 người nghỉ mất sức lao động thì dưới 10% là thực sự ốm đau, mất sức,
số còn lại vẫn còn khả năng lao động bình thường [24].

Trước những hạn chế trên, nếu chính sách BHXH nói chung và pháp luật về
quản lý thu, chi BHXH nói riêng không được sửa đổi, bổ sung thì ngân sách nhà nước
cũng sẽ không còn khả năng để tiếp tục chi trả cho các chế độ BHXH nữa. Để khắc
phục các hạn chế trên, ngày 22/6/1993 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/CP quy
định tạm thời chế độ BHXH, đây có thể được coi là bước chuyển lớn nhất trong chính
sách BHXH để phù hợp với nền kinh tế thị trường, nét đổi mới cơ bản ở đây là Chính
phủ đã quy định rõ người lao động và chủ sử dụng lao động phải đóng BHXH mới được
hưởng quyền lợi BHXH. Đây là nguyên tắc hết sức quan trọng để hình thành quỹ
BHXH tập trung, hạch toán độc lập với ngân sách nhà nước, có khả năng đảm bảo chi
trả đầy đủ, kịp thời các chế độ BHXH và phần dư ra để đầu tư tăng trưởng.

Tiếp theo Chính phủ lại có những sửa đổi, bổ sung chế độ chính sách BHXH cho
phù hợp với tình hình đổi mới ngày càng nhanh của đất nước, bằng việc ban hành Điều
lệ BHXH áp dụng cho cán bộ, công chức, công nhân viên nhà nước và mọi người lao
động kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 và Nghị định số 45/CP ngày
15/7/1995 áp dụng đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, bình sĩ quân đội
và công an nhân dân.

Việc ban hành và thực hiện Điều lệ BHXH mà trong đó nguyên tắc quan trọng
nhất là có đóng BHXH mới được hưởng quyền lợi BHXH trong hơn 9 năm qua đã đem
lại những kết quả rất tích cực, số thu BHXH ngày càng lớn, số chi do ngân sách nhà
nước cấp giảm dần, sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động trong
việc tham gia BHXH đã cơ bản được đảm bảo… Tuy nhiên, để đáp ứng xu thế phát
triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc
tế thì quy định của pháp luật về quản lý thu, chi BHXH trong thời gian qua cũng đã bộc
lộ một số hạn chế, trong đó tập trung chủ yếu vào:
- Đối tượng tham gia BHXH tuy đã được mở rộng và phát triển nhưng vẫn còn
hạn hẹp. Hiện cả nước có khoảng trên 40 triệu lao động, trong đó khoảng trên 10 triệu
lao động có quan hệ lao động nhưng mới có gần 6 triệu người tham gia BHXH bắt buộc
và số này chủ yếu vẫn là lao động thuộc khu vực nhà nước; số lao động làm việc ở các
cơ sở sản xuất, kinh doanh ngoài quốc doanh, kể cả các doanh nghiệp liên doanh và
100% vốn đầu tư nước ngoài tham gia BHXH còn thấp, chỉ chiếm khoảng 15 - 20%
trong tổng số lao động phải tham gia theo luật định. Hạn chế này đã ảnh hưởng trực tiếp
đến khả năng chi trả và tốc độ tăng trưởng của quỹ BHXH.

- Mức hưởng của người lao động chưa tương ứng với mức đóng, quy định mức
hưởng hiện nay tuy cao, những người về hưu đời sống vẫn khó khăn, do giá trị thực tế
của tiền lương nước ta còn thấp.

- Quyền lợi về BHXH của người lao động chưa công bằng, người đóng ít về
hưu sớm, hưởng chế độ thời gian dài, ngược lại người đóng BHXH dài chưa hưởng chế
độ hưu hoặc mới hưởng một vài năm đã chết mà không có thân nhân đủ điều kiện
hưởng tuất hàng tháng thì chỉ được hưởng tối đa 12 tháng lương hoặc trợ cấp. Chính
sách chưa khuyến khích người lao động đóng cao hưởng cao.

- Các quy định của pháp luật về xử lý các vi phạm về nghĩa vụ đóng BHXH
chưa chặt chẽ, chưa có cơ chế rõ ràng do vậy tỷ lệ thất thu BHXH còn rất lớn, ảnh hưởng
trực tiếp đến khả năng chi trả và tăng trưởng của quỹ BHXH.

Trước những hạn chế, bất cập trên, đòi hỏi chính sách BHXH nói chung và quy
định của pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung
cho hoàn thiện để phù hợp với tình hình mới của đất nước trong thời kỳ công nghiệp
hóa hiện đại hóa.

Tóm lại, thực tiễn hoạt động thu, chi BHXH qua từng thời kỳ, nhất là từ thời kỳ
đổi mới của đất nước, chúng ta thấy rằng việc phải thường xuyên sửa đổi, bổ sung, xây
dựng mới các quy định của pháp luật về thu, chi BHXH là tất yếu khách quan và là nhu
cầu cần thiết để tiến tới hoàn thiện hệ thống pháp luật về chính sách BHXH nói chung
và các quy định pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng. Minh chứng cho kết luận
trên ta có thể tham khảo qua con số sau: Theo thống kê chưa đầy đủ của Bảo hiểm xã
hội Việt Nam, từ 1946 đến 2003 nước ta đã có trên 200 văn bản xây dựng mới, văn bản
sửa đổi, bổ sung về lĩnh vực BHXH để chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện. Có thể
nói, BHXH là một trong những lĩnh vực có nhiều văn bản nhất của nước ta.

1.4. Kinh nghiệm thực tiễn của một số nước về hoạt động bảo hiểm xã hội

1.4.1. Hoạt động Bảo hiểm xã hội của Công hòa Liên bang Đức

So với các nước trên thế giới, Cộng hòa Liên bang Đức là nước có lịch sử ra đời
và phát triển BHXH sớm nhất. Ngay từ năm 1850, dưới thời thủ tướng Bismark, điều
luật BHXH đầu tiên đã ra đời và thực hiện ở nước Đức. Cho đến nay, chính sách BHXH
ở Đức bao gồm các chế độ cụ thể sau:

- Bảo hiểm thất nghiệp;

- Bảo hiểm y tế;

- Bảo hiểm chăm sóc sức khỏe cho người già và người tàn tật;

- Bảo hiểm ốm đau;

- Bảo hiểm tai nạn lao động;

- Bảo hiểm hưu trí.

Hoạt động BHXH ở Cộng hòa Liên bang Đức thực hiện theo ba hệ thống chính
là:

- Hệ thống BHXH bắt buộc;

- Hệ thống BHXH tư nhân;

- Hệ thống BHXH ở các xí nghiệp.

Hệ thống BHXH bắt buộc được tổ chức theo mô hình tự quản, bảo đảm tài
chính theo phương pháp lấy thu bù chi. Hệ thống BHXH tư nhân và hệ thống BHXH
trong các xí nghiệp hoạt động theo Bộ luật Lao động của Liên bang. Trong các hệ thống
trên, hệ thống BHXH bắt buộc ở Cộng hòa Liên bang Đức có số lượng lao động tham
gia đông nhất, theo báo cáo của tổ chức Quỹ hưu trí viên chức liên bang, năm 2001 có
trên 40 triệu người tham gia. Tự quản là hình thức có ngay từ khi Luật BHXH ban hành
dưới thời thủ tướng Bismark, đây là hình thức tự chịu trách nhiệm, cũng như độc lập
tương đối với sự chỉ đạo của cơ quan quản lý nhà nước cao nhất, nhưng lại chịu sự giám
sát của Nhà nước về tính hợp pháp của các biện pháp quản lý. Dưới đây, chúng ta có thể
thông qua hoạt động của quỹ hưu trí viên chức Liên bang để hình dung ra phần nào hoạt
động thu, chi BHXH ở Cộng hòa Liên bang Đức.

Quỹ hưu trí viên chức liên bang là một trong 27 tổ chức hoạt động trên lĩnh vực
bảo đảm chế độ hưu trí cho người lao động ở Cộng hòa Liên bang Đức. Cơ quan quản
lý cao nhất gồm một Hội đồng gồm 60 người, trong đó 30 người là giới chủ và 30 người
của tổ chức công đoàn đại diện cho người lao động. Hội đồng này bổ nhiệm Ban điều
hành, từ Ban điều hành sẽ quyết định tuyển chọn cán bộ, công nhân viên chức làm việc
cho tổ chức (năm 2001, tổ chức này có 27.000 cán bộ, công chức). Hoạt động tài chính
trong năm của Quỹ hưu trí viên chức liên bang diễn ra như sau:

Vào mùa hè hàng năm, các chuyên gia của Chính phủ Liên bang, Tổ chức
BHXH, Tổng cục Thống kê dự kiến nhu cầu tài chính của năm tới theo phương pháp
ước tính: căn cứ vào những số liệu của Tổng cục Thống kê có liên quan đến số người
lao động đang làm việc, số người đang nhận lương hưu, ước tính số người sẽ tham gia
BHXH và nhận lương hưu vào năm tới, cũng như những số liệu về thất nghiệp, ốm đau,
tử vong xảy ra và các số liệu kinh tế quốc dân vĩ mô khác để ước tính tỷ lệ thu, chi
BHXH cho năm tới. Trên cơ sở này, vào mùa thu, Chính phủ Liên bang sẽ đưa ra quyết
định chính thức về tỷ lệ thu, chi BHXH trong năm tới là bao nhiêu bằng một nghị định
có hiệu lực pháp luật. Đến đây, công việc của Quỹ hưu trí viên chức liên bang mới thực
sự bắt đầu, từ thu phí BHXH đến chi trả cho các đối tượng hưởng lương hưu theo quy
định của Chính phủ.

ở Cộng hòa Liên bang Đức, ngoài các tổ chức quản lý hoạt động BHXH của
Nhà nước, còn có các tổ chức của tư nhân, xí nghiệp đứng ra thực hiện các chế độ
BHXH. Điểm đặc biệt của hoạt động BHXH ở Cộng hòa Liên bang Đức là quỹ BHXH
thông thường chỉ đủ dùng để chi trả cho các đối tượng hưởng BHXH trong năm; chi cho
hoạt động của bộ máy quản lý và một khoản để dự trữ gọi là dự trữ trần. Do sự ổn định
của nền kinh tế và sức mua của đồng tiền, nên khoản dự trữ trần thường là chỉ đủ để chi
cho các đối tượng do quỹ đảm bảo trong một tháng, từ năm 2001 rút xuống chỉ còn 0,8
tháng. Vì vậy khái niệm quỹ BHXH không tồn tại ở Cộng hòa Liên bang Đức.

Cộng hòa Liên bang Đức không có các tổ chức BHXH thực hiện cùng một lúc
nhiều chế độ, mà thông thường mỗi tổ chức chỉ chịu trách nhiệm thu, chi cho một chế
độ nhất định. Điểm đáng lưu ý về chính sách BHXH ở Cộng hòa Liên bang Đức là
những người được gọi là công chức nhà nước (những người được đề cử vào bộ máy
quản lý Nhà nước) không phải là đối tượng đóng BHXH, nhưng họ nhận được lương
hưu khi hết tuổi lao động, khoản này Nhà nước lấy từ nguồn thu thuế để trả. Hiện nay,
tuổi nghỉ hưu của người lao động ở Cộng hòa Liên bang Đức nam là 65 tuổi, nữ là 55
tuổi.

1.4.2. Hoạt động bảo hiểm xã hội ở Thái Lan

Cho đến nay Thái Lan vẫn còn hai Luật An sinh xã hội (tức BHXH) đang cùng
có hiệu lực. Một đạo luật ban hành năm 1990 và một đạo luật ban hành năm 1994 (sửa
đổi, bổ sung một số điều trong đạo luật năm 1990 và được gọi chính thức là Luật An
sinh xã hội lần thứ 2).

Về các chế độ BHXH, Điều 54, Luật An sinh xã hội năm 1990 quy định 7 chế
độ gồm:

- Chế độ hưởng về thương tật hoặc ốm đau;

- Chế độ hưởng về thai sản;

- Chế độ hưởng về tàn tật;

- Chế độ hưởng về tử vong;

- Chế độ phụ cấp con (tức trợ cấp gia đình);

- Chế độ dưỡng cấp tuổi già (tức chế độ hưu trí);

- Chế độ hưởng về thất nghiệp.

Về mức đóng, Điều 46 Luật An sinh xã hội năm 1990 quy định: Chính phủ,
người sử dụng lao động và người tham gia BHXH đóng góp như nhau theo quy định
của Bộ Lao động và Phúc lợi, nhưng không quá các mức do luật định như sau:
Biểu số 1.1: Mức đóng góp BHXH


Mức đóng góp (tỷ lệ %
Người đóng góp so với tiền lương của
người được bảo hiểm)

1. Đóng góp cho các chế độ hưởng về ốm đau, tàn
tật, tử vong và thai sản

- Chính phủ 1,5

- Người sử dụng lao động 1,5

- Người lao động 1,5

2. Đóng góp cho các chế độ phụ cấp gia đình và
dưỡng cấp tuổi già

- Chính phủ 3

- Người sử dụng lao động 3

- Người lao động 3

3. Đóng góp cho chế độ hưởng về thất nghiệp

- Chính phủ 5

- Người sử dụng lao động 5

- Người lao động 5

Nguồn: Luật An sinh xã hội của Thái Lan.

Riêng hai chế độ phụ cấp con và trợ cấp tuổi già theo quy định của Luật An
sinh xã hội, đến năm 1999 mới thi hành.

Việc quy định người tham gia BHXH không thống nhất ở các chế độ, cụ thể:
đối với các chế độ trợ cấp mất khả năng lao động, hưu trí, tử tuất ốm đau và thai sản,
những người bắt buộc phải tham gia là những người làm việc trong các doanh nghiệp có
từ 10 lao động trở lên, còn đối với chế độ tai nạn lao động là những người làm việc
trong các ngành công nghiệp hoặc các hãng thương mại có từ 10 lao động trở lên, các
ngành khác không bắt buộc. Tuổi nghỉ hưu ở Thái Lan quy định chung cho cả nam và
nữ đối với các viên chức chính phủ từ Trung ương đến địa phương; với quân đội, cảnh
sát là 60 tuổi; các đối tượng khác là 55 tuổi. Điểm đáng lưu ý ở đây là, Luật An sinh xã
hội không áp dụng đối với các quan chức chính phủ và các viên chức thường xuyên, các
viên chức tạm tuyển làm việc theo ngày và theo giờ của chính quyền trung ương, chính
quyền tỉnh và chính quyền địa phương; trừ các viên chức tạm tuyển làm việc theo tháng.
Các đối tượng này được điều chỉnh bằng một đạo luật khác, theo đó họ chỉ phải đóng
3% tiền lương tháng để nhận được chi phí điều trị khi ốm đau và lương hưu do Chính
phủ đảm bảo sau khi đã đủ các điều kiện về tuổi đời và thời gian phục vụ.

1.4.3. Hoạt động bảo hiểm xã hội ở Trung Quốc

Ngay sau khi thành lập nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Chính phủ Trung
Quốc đã tiến hành một loạt những biện pháp có hiệu quả giải quyết thành công tình
trạng thất nghiệp nghiêm trọng do chính quyền Trung Quốc cũ để lại và đảm bảo cuộc
sống cơ bản cho người dân. Để tăng cường phát triển kinh tế và ổn định xã hội, dần dần
nâng cao mức sống và lợi ích an toàn xã hội của công dân nói chung, Chính phủ Trung
Quốc đã rất cố gắng thiết lập một hệ thống an toàn xã hội vững chắc và phù hợp với
kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Sau những năm tìm tòi và thực hiện, một hệ thống
an toàn xã hội về cơ bản đã được thiết lập, chủ yếu bao gồm BHXH, cứu trợ xã hội,
phúc lợi xã hội và trợ giúp xã hội; trong đó chính sách BHXH giữ một vai trò quan
trọng.

Về cải cách hệ thống BHXH, ngày 5/7/1994, ủy ban Thường vụ Quốc hội nước
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thông qua Luật Lao động và có hiệu lực từ 1/1/1995,
trong đó có chương IX quy định về bảo hiểm và phúc lợi xã hội, gồm 7 điều. Điều 73
quy định 5 chế độ BHXH là: hưu trí, bệnh tật, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất
nghiệp và sinh đẻ. Luật chỉ quy định những nguyên tắc chung nhất, còn quy định cụ thể
thì giao cho chính quyền các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương đề ra
những biện pháp thực hiện phù hợp với điều kiện của từng địa phương.

Các chế độ BHXH nói trên chỉ áp dụng ở khu vực thành thị và ở các doanh
nghiệp. Đến nay, các địa phương ở Trung Quốc đã cụ thể hóa các chế độ, trong đó có
hai chế độ là hưu trí (nay là dưỡng lão) và bảo hiểm thất nghiệp đã được xây dựng thành
điều lệ. Các chế độ khác về cơ bản còn là các quy định tạm thời nhưng hiệu lực cũng
khá cao. Về nguyên tắc, mỗi chế độ có một quỹ riêng. Nguồn quỹ gồm hai khoản: Một
khoản do chủ sử dụng lao động nộp và một khoản do người lao động đóng. Riêng quỹ
bảo hiểm tai nạn lao động thì do chủ doanh nghiệp đóng, người lao động không phải
đóng. Chỉ khi nào mất cân đối thu, chi do các nguyên nhân bất khả kháng, Nhà nước
mới hỗ trợ từ ngân sách cho các quỹ, còn bình thường các doanh nghiệp và người lao
động phải tự đảm bảo. Nói chung, các quỹ đều được chia làm hai phần: Phần thứ nhất
được đưa vào tài khoản cá nhân gồm toàn bộ số tiền do người lao động đóng và một
phần do chủ sử dụng lao động đóng; phần thứ hai là số tiền do chủ doanh nghiệp đóng
sau khi đã trích một phần đưa vào tài khoản cá nhân của người lao động, đây là phần
quỹ chi chung trong những trường hợp cần thiết.

Ta có thể hiểu được hoạt động BHXH ở Trung Quốc qua một chế độ cụ thể:
Chẳng hạn chế độ hưu trí (chế độ dưỡng lão). Với nguyên tắc như trên, thành phố
Thượng Hải qui định như sau:

- Mức đóng vào quỹ: Hàng tháng chủ doanh nghiệp đóng 22,5% tiền lương của
người lao động, người lao động đóng 6% tiền lương của mình. Như vậy, trong tài khoản
riêng (tài khoản cá nhân) của mỗi người lao động có 6% do họ đóng và 5% được trích
từ 22,5% do chủ doanh nghiệp đóng, tất cả là 11%. Khoản sử dụng chung còn lại là
17,5% (22,5% - 5%). Người lao động khi về hưu hàng tháng được hưởng như sau: 20%
mức lương trung bình trong cả thời gian làm việc, cộng với 1/120 số tiền có trong tài
khoản cá nhân (dự kiến người về hưu hưởng trung bình khoảng 10 năm, tức 120 tháng).
Nếu những người "tiếp nối" giữa hai chế độ (trước cải cách và từ cải cách trở đi) thì
cộng thêm phần quá độ, vì chế độ hiện hành mới có từ sau năm 1992 trở lại đây. Trường
hợp người về hưu chết, nhưng tiền trong tài khoản cá nhân vẫn còn, thì vợ, chồng, con
cái (người thừa kế) được hưởng; nghĩa là, tiền còn trong tài khoản cá nhân, thì họ và gia
đình họ sẽ được hưởng hết.

Sau nhiều năm thực hiện chương trình Bảo hiểm tuổi già (hưu trí), ở Trưng
Quốc, các cán bộ, công nhân viên chức tham gia đã tăng từ 86,7 triệu người vào năm
1977 đến 108,02 triệu người vào năm 2001. Vì vậy, con số những người được nhận
lương hưu cơ bản cũng tăng lên từ 25,33 triệu đến 33,81 triệu, với mức lương hưu cơ
bản trung bình hàng tháng của từng người tăng từ 430 tệ lên 556 tệ (khoảng 950.000
Việt Nam đồng) vào các năm tương ứng.

Từ năm 1991, Trung Quốc bắt đầu triển khai hệ thống bảo hiểm tuổi già ở một
số vùng nông thôn, với nguyên tắc cơ bản là tiền đóng BHXH chủ yếu do người lao
động phải tự đóng, ngoài ra được phụ thêm bằng quỹ vốn chung của tập thể và được hỗ
trợ bởi các chính sách khác của Chính phủ. Tuổi nghỉ hưu ở Trung Quốc tương tự ở
nước ta, nam đủ 60 tuổi, nữ đủ
55 tuổi; riêng công nhân thì nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi.

- Về tổ chức quản lý hoạt động BHXH, từ năm 1990 các chế độ BHXH bị phân
tán và do nhiều cơ quan của Chính phủ đảm nhiệm, chỉ từ năm 1998 trở lại đây mới
thành lập Bộ Lao động và An sinh xã hội để quản lý chế độ, chính sách BHXH, còn
việc thực hiện cụ thể lại do từng địa phương thực hiện.

Qua kinh nghiệm thực tiễn hoạt động BHXH ở Cộng hòa Liên bang Đức, Thái
Lan và Trung Quốc, có thể rút ra một số nhận xét sau:

- Các nước luôn cố gắng thực hiện ngày càng nhiều và tốt hơn các chế độ
BHXH nhằm đáp ứng những yêu cầu thiết yếu của người lao động khi gặp rủi ro, bị
giảm hoặc mất thu nhập.

- Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, các nước có
những quy định cụ thể khác nhau về mức đóng, điều kiện được hưởng và mức hưởng.

- Tổ chức quản lý hoạt động BHXH ở các nước khác nhau cũng khác nhau,
không có mô hình chung cả các nước; thông thường mỗi chế độ BHXH đều do một tổ
chức thực hiện, ít có tổ chức thực hiện cùng một lúc nhiều chế độ khác nhau.
- Riêng đối với Trung Quốc, mặc dù mới chỉ áp dụng một số chế độ BHXH ở
khu vực thành thị và các doanh nghiệp, nhưng chính sách BHXH của họ đã thể hiện rõ
một số mặt tích cực sau:

+ Đối với người lao động từ khi bắt đầu đi làm cho đến một thời gian nào đó,
họ hoàn toàn có thể biết được mình có bao nhiêu tiền trong tài khoản cá nhân của họ về
BHXH. Số tiền đó dù trước, dù sau (nhất là trong tài khoản dưỡng lão) họ hoàn toàn
được hưởng, nên tự họ có sự điều chỉnh, sử dụng thế nào cho nó có hiệu quả nhất, do đó
cơ bản tránh được tình trạng phân bì người đóng ít hưởng nhiều, đóng nhiều hưởng ít
hoặc không hưởng. Người lao động biết được, ngoài số tiền do họ đóng thuộc sở hữu cá
nhân của họ, họ còn được hưởng một phần từ đơn vị sử dụng lao động và từ quỹ chung,
nên họ hăng say làm việc và đóng góp, hiện tượng chậm nộp hoặc trốn tránh nghĩa vụ
đóng BHXH là rất hãn hữu.

+ Về chi trả, vì mỗi người đã có một tài khoản cá nhân, nên khi đủ các điều kiện
để được hưởng BHXH, họ chỉ việc đến Ngân hàng hoặc Bưu điện để nhận tiền. Nói
cách khác, ngân hàng và bưu điện chịu trách nhiệm chi trả các khoản BHXH, không cần
đến một hệ thống chi trả đông người, nhiều biên chế, khó bảo đảm an toàn tiền mặt.

+ Mặc dù giao quyền trực tiếp cho các địa phương chủ động thực hiện chính
sách BHXH, nhưng Nhà nước vẫn có vai trò rất quan trọng trong quản lý hoạt động
BHXH, thông qua việc định hướng, xây dựng pháp luật, chính sách, khi cần thiết mới
hỗ trợ từ Ngân sách cho các quỹ. Đồng thời, thực hiện nghiêm ngặt việc thanh tra, kiểm
tra.

Với cách quy định mức nộp, mức hưởng, tài khoản cá nhân, quỹ sử dụng chung
như đã trình bày, Nhà nước, chủ doanh nghiệp và người lao động đều thấy khá rõ phần
nào thuộc về ai, nên đã cơ bản khắc phục được tình trạng sử dụng sai mục đích, lẫn lộn
giữa các quỹ của chế độ này sang quỹ của chế độ khác, hoặc bị thất thoát.
Chương 2

Thực trạng pháp luật
về quản lý Thu, Chi Bảo hiểm xã hội



2.1. Nội dung chủ yếu của pháp luật về quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội

2.1.1. Về quản lý thu bảo hiểm xã hội

Nhìn lại các văn bản pháp luật quy định đối tượng tham gia và mức đóng
BHXH từ khi nước ta thực thi chính sách BHXH ta thấy các quy định về quản lý thu,
chi BHXH luôn có sự thay đổi cả về mức đóng, mức hưởng và tổ chức thực hiện, cụ thể
là:

- Ngay từ năm 1946 đã thực hiện đóng BHXH; theo Sắc lệnh số 105/SL ngày
14/6/1946 thì từ 1/1/1946 công chức phải đóng phí bảo hiểm hưu trí bằng 6-10% tiền
lương, còn Nhà nước hỗ trợ thêm với tư cách là người sử dụng lao động bằng 7-10% so
với tổng quỹ lương của công chức.

- Đến năm 1962, Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH có hiệu lực thi hành lại
quy định chỉ cơ quan, xí nghiệp, công trường, lâm trường, nông trường phải đóng
BHXH hàng tháng với mức 4,7% so với tổng quỹ tiền lương, nhưng lại quy định rõ: Đối
với cơ quan hành chính sự nghiệp, phần nộp này do ngân sách nhà nước cấp; đối với xí
nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường thì phần này tính vào giá thành sản phẩm.
Như vậy, ở thời kỳ này người lao động không phải đóng BHXH.

- Từ năm 1964 vẫn áp dụng mức đóng 4,7% nhưng lại tách ra 3,7% giao cho
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý để chi trả các chế độ ngắn hạn là ốm đau,
thai sản, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, còn 1% giao cho Bộ Nội vụ quản lý
để chi trả các chế độ dài hạn là hưu trí, tử tuất và mất sức lao động. Mức nộp 4,7% này
kéo dài đến 1986.

- Từ 30/6/1986 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) có Quyết định số
187/HĐBT sửa đổi tỷ lệ trích nộp kinh phí cho Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
quản lý từ 3,7% lên 5%; còn 1% do Bộ quản lý lên 10%, trong đó dành 2% để lại ở cơ
sở làm trợ cấp khó khăn cho cán bộ, công nhân viên chức.

- Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI nước ta thực hiện quy chế lao động đối với
các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ban hành kèm theo Nghị định số 233/HĐBT
ngày 22/6/1990. Quy chế này ghi rõ: Người lao động và xí nghiệp cùng có nghĩa vụ đóng
BHXH với mức ngang nhau, người lao động đóng bằng 10% tiền lương, xí nghiệp đóng
10% tổng quỹ tiền lương.

- Tiếp đến Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP ngày 22/6/1993 quy định
tạm thời chế độ BHXH đã xác định: Quỹ BHXH được hình thành từ sự đóng góp của
người sử dụng lao động và người lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước. Người sử dụng
lao động đóng bằng 15% tổng quỹ tiền lương, người lao động đóng bằng 5% tiền lương.
Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành từ 1/1/1995 đã chính thức ghi nhận cơ chế đóng
góp của ba bên và mức đóng như trên.

Ngoài ra, do thay đổi về tổ chức, ngày 24/1/2002, Thủ tướng Chính phủ có
Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg chuyển Bảo hiểm y tế Việt Nam sang Bảo hiểm xã hội
Việt Nam, nên từ năm 2003 theo quy định của pháp luật về quản lý thu còn thêm 3%
mức thu BHYT, trong đó người lao động đóng bằng 1% tiền lương, người sử dụng lao
động đóng bằng 2% tổng quỹ tiền lương. Như vậy, mức thu BHXH từ năm 2003 là 23%
trong đó người lao động đóng 6% tiền lương, người sử dụng lao động đóng 17% tổng
quỹ lương. Mức thu 23% được thực hiện đến nay chưa có gì thay đổi.

Về tổ chức thu và quản lý quỹ BHXH, thời kỳ đầu chức năng thu và quản lý quỹ
BHXH chưa được xác định rõ, chỉ đến khi có Nghị định số 39/CP ngày 22/3/1962 mới
quy định nguồn thu và cơ quan chịu trách nhiệm. Nguồn thu BHXH lúc này gồm:

+ Tiền do các cơ quan, đơn vị, các xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm
trường… của Nhà nước nộp hàng tháng vào quỹ BHXH theo một tỷ lệ phần trăm nhất
định so với tổng quỹ tiền lương;

+ Tiền trợ cấp hàng năm của Nhà nước cho quỹ BHXH trong những trường hợp
thật cần thiết;

+ Các khoản thu khác thuộc quỹ BHXH của Nhà nước.
Cơ cấu hình thành quỹ BHXH về cơ bản là ổn định cho đến nay, chỉ có một số
thay đổi, đó là sau này có quy định rõ cả người lao động cũng phải tham gia BHXH và
tỷ lệ đóng BHXH cũng có sự thay đổi theo từng thời kỳ. Nghị định cũng giao cho Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam gửi báo cáo về tình hình thu, chi của quỹ BHXH đến Bộ
Tài chính để tổng hợp vào ngân sách nhà nước. Tiếp đến việc thu và quản lý quỹ còn
được giao cho Bộ Nội vụ, Bộ Lao động (sau này sát nhập thành Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội).

Quy định của pháp luật về quản lý thu BHXH thời kỳ trước 1995 mặc dù đã có
cơ quan chịu trách nhiệm, nhưng cơ chế thực hiện lại không rõ nên đã phát sinh nhiều
bất cập. Cụ thể là phần quỹ do hệ thống Công đoàn thu và quản lý chỉ được phản ảnh
trên sổ sách, còn thực tế là thực hiện phương thức khoán thu, khoán chi, nghĩa là đơn vị
sử dụng lao động tự chi trả cho người lao động khi đủ điều kiện hưởng các chế độ
BHXH ngắn hạn, số còn lại mới nộp lên tổ chức công đoàn một tỷ lệ nhất định để chi
hoạt động bộ máy quản lý. Còn phần quỹ do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
quản lý lại nhờ cơ quan thuế thu hộ (đối với các xí nghiệp, công, nông, lâm trường)
phần đóng của đơn vị hành sự nghiệp thì do ngân sách nhà nước giữ lại ngay khi cấp
lương cho đơn vị. Còn các chế tài pháp luật đảm bảo cho việc thực hiện thu, nộp BHXH
gần như không có. Với cơ chế và tổ chức thực hiện như vậy, cộng thêm điều kiện sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp
luôn gặp khó khăn, nên thời kỳ trước 1995 quỹ BHXH chỉ tồn tại trên danh nghĩa.

2.1.2. Về quản lý chi bảo hiểm xã hội

- Thời kỳ đầu thành lập nước do có nhiều khó khăn về kinh tế nên nước ta mới
chỉ thực hiện chi trả cho một chế độ BHXH - đó là chế độ hưu trí, việc chi trả cho chế
độ này được quy định trong Sắc lệnh số 105/SL ngày 14/6/1946. Đến năm 1950 bằng
Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 đã quy định rộng hơn các chế độ BHXH được ngân
sách nhà nước đảm bảo chi trả đó là các chế độ: hưu trí, thai sản, ốm đau, tai nạn lao
động và tử tuất.

- Sau khi hòa bình lập lợi ở miền Bắc, thực hiện Hiến pháp 1959, Hội đồng
Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân viên chức
nhà nước kèm theo Nghị định số 218/CP ngày 27/11/19761 và Nghị định số 39/CP ngày
22/3/1962 quy định nội dung thu, chi của quỹ BHXH, trong đó đã ghi rõ: Quỹ BHXH
của Nhà nước có nhiệm vụ đài thọ tất cả các khoản chi dưới đây:

- Trợ cấp khi công nhân viên chức nhà nước ốm đau;

- Trợ cấp khi nữ công nhân viên chức nhà nước sinh đẻ, thai sản, mất sức;

- Trợ cấp khi công nhân viên chức nhà nước về hưu;

- Trợ cấp chôn cất và tiền tuất khi công nhân, viên chức nhà nước chết;

- Các chi phí về công tác quản lý quỹ BHXH và quản lý sự nghiệp BHXH;

- Quỹ BHXH của Nhà nước không kết dư. Nếu quản lý tốt mà hàng năm còn
thừa tiền thì được phép dùng số tiền thừa đó chi vào việc xây dựng thêm các sự nghiệp
BHXH.

- Ngày 22/6/1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 43/CP quy định tạm thời
chế độ BHXH với nội dung quan trọng là nhằm xóa bỏ tư duy bao cấp, ỷ lại trong lĩnh
vực thu, chi BHXH mở ra loại hình BHXH bắt buộc và tự nguyện. Theo Nghị định có 5
chế độ BHXH được pháp luật đảm bảo chi trả cho người lao động khi đủ điều kiện
hưởng theo quy định là:

- Chế độ ốm đau;

- Chế độ thai sản;

- Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;

- Chế độ hưu trí;

- Chế độ tử tuất.

Các chế độ trên hiện nay vẫn tiếp tục được thực hiện, ngoài ra từ năm 2002,
Chính phủ có quy định thêm chế độ nghỉ dưỡng sức phục hồi sức khỏe cho người lao
động tham gia BHXH và quy định rõ quỹ BHXH đảm bảo chi cho chế độ này.

Ngoài việc quy định các chế độ BHXH và tỷ lệ được đảm bảo chi trả, pháp luật
về quản lý chi trong thời kỳ này đã có những quy định cụ thể về nguồn chi và cơ quan, tổ
chức chịu trách nhiệm. Nguồn kinh phí đảm bảo chi trả cho các chế độ BHXH được lấy
từ hai nguồn là ngân sách nhà nước (nguồn này để đảm bảo chi trả cho các đối tượng
hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH từ năm 1994 trở về trước) và nguồn từ quỹ BHXH
dùng để chi trả cho các đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH từ năm 1995 trở
đi.

Về tổ chức chịu trách nhiệm thực hiện công tác chi trả BHXH, từ năm 1994
trở về trước là do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chi trả các chế độ dài hạn: hưu
trí, tử tuất và mất sức lao động và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chi trả các chế
độ ngắn hạn: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Từ năm 1995 đến
nay, việc chi trả các chế độ BHXH được tập trung về một đầu mối là Bảo hiểm xã hội
Việt Nam.

Ngoài các quy định trên, từ năm 2003 các chế độ do Bảo hiểm xã hội Việt Nam
thực hiện chi trả còn bao gồm thêm chế độ BHYT. (Theo quy định của Tổ chức Lao
động quốc tế thì chăm sóc y tế là một trong 9 chế độ An sinh xã hội và trên thực tế ở
nhiều nước trên thế giới chế độ này đều do cơ quan BHXH đảm nhận. Còn ở nước ta,
chế độ này được thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước từ năm 1992 và do Bảo
hiểm y tế Việt Nam trực thuộc Bộ Y tế thực hiện từ khâu thu phí đến việc thanh toán
tiền khám, chữa bệnh cho các đối tượng tham gia BHYT).

2.2. Thực trạng thi hành luật pháp về quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội

2.2.1. Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội

Để phân tích và đánh giá khách quan kết quả thực hiện pháp luật về quản lý thu
BHXH, ta có thể chia ra các thời kỳ sau:

2.2.1.1. Thời kỳ từ 1962 - 1994

ở đây ta không xem xét đến khoảng thời gian từ 1961 trở về trước là vì ở thời
kỳ này chính sách BHXH mới chỉ được thực hiện trong một phạm vi rất hẹp, đối tượng
tham gia ít. Thời kỳ có quy định cán bộ, công nhân viên chức nhà nước phải đóng
BHXH nhưng trên thực tế không có cơ chế thực hiện, nguồn kinh phí để chi trả các chế
độ BHXH mà chủ yếu là chế độ hưu trí do ngân sách nhà nước đảm bảo.
- Từ năm 1962 Điều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với cán bộ, công nhân
viên chức nhà nước ban hành kèm theo Nghị dịnh số 218/CP ngày 27/12/1961 có hiệu
lực và sau này là Nghị định số 161/CP ngày 30/10/1964 ban hành Điều lệ BHXH tạm
thời đối với quân nhân. Các nghị định này đã quy định rõ: Đối tượng tham gia BHXH là
cán bộ, công nhân viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang và với mức đóng là 4,7%
tổng quỹ tiền lương từ các cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường và lâm trường.
Quy định là vậy nhưng trên thực tế ở thời kỳ này có rất nhiều khó khăn, đất nước đang
trong thời kỳ chiến tranh, chia cắt hai miền Nam, Bắc. Vì vậy, việc thực hiện chính sách
BHXH cũng chưa có gì khả quan, đối tượng tham gia vẫn còn ít, cơ chế thực hiện cũng
chưa có gì rõ ràng. Mặt khác tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn
gặp khó khăn nên hầu hết các đơn vị không có khả năng đóng góp để hình thành quỹ
BHXH theo quy định của pháp luật.

- Tiếp đến này 18/9/1985, cùng với việc cải tiến chế độ tiền lương, Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 236/HĐBT bổ sung, sửa đổi chế độ
BHXH cho công nhân viên chức nhà nước và lực lượng vũ trang với các sửa đổi, bổ
sung quan trọng là: Nguồn tài chính để thực hiện chính sách BHXH một phần do các
đơn vị sản xuất kinh doanh đóng, phần còn lại do ngân sách nhà nước cấp. Mức đóng
theo quy định được nâng lên 13% so với tổng quỹ lương của xí nghiệp (Nghị định
218/CP quy định là 4,7%). Mặc dù Nghị định số 236/HĐBT quy định khá chặt chẽ trách
nhiệm đóng góp của đơn vị, doanh nghiệp, nhưng thời gian này do các nguyên nhân chủ
quan và khách quan khác nhau, mà chủ yếu vẫn là do các doanh nghiệp sản xuất khó
khăn, làm ăn kém hiệu quả, cộng với cơ chế hoạt động BHXH bao cấp, nên số người
tham gia và số tiền thu được từ các đơn vị, các doanh nghiệp là rất hạn chế; số tiền thu
được chỉ đảm bảo một phần rất nhỏ trong số phải chi ra cho các chế độ BHXH, dẫn đến
tình trạng ngân sách nhà nước tiếp tục phải cấp bù ngày càng tăng.

- Từ năm 1993 chính sách BHXH đã có sự đổi mới căn bản, đối tượng tham gia
BHXH đã được mở rộng hơn, bao gồm cả những người làm việc hưởng lương hoặc tiền
công ở những doanh nghiệp có sử dụng lao động từ 10 người trở lên không phân biệt
khu vực Nhà nước hay khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Về mức đóng BHXH cũng
được nâng lên 20% (người lao động đóng bằng 5% tiền lương, người sử dụng lao động
đóng bằng 15% tổng quỹ tiền lương). Tuy nhiên, trên thực tế số lao động tham gia
BHXH không đáng kể, tính đến cuối năm 1993 mới có 2,6 triệu người tham gia. Còn
tình hình thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH cũng chưa có gì khả quan hơn, mới có rất ít
đơn vị sử dụng lao động đóng BHXH, còn phần lớn người lao động vẫn chưa thực hiện.
Nguyên nhân có nhiều, nhưng trong đó nguyên nhân chính là chưa có cơ chế cụ thể để
thực hiện, nhất là các quy định của pháp luật trong việc xử lý các cá nhân, đơn vị trốn
tránh nghĩa vụ đóng BHXH. Chúng ta có thể thấy được hiệu quả của việc thực hiện
pháp luật về quản lý thu BHXH ở các thời kỳ qua các số liệu ở biểu số 2.1 và số biểu số
2.2.
Biểu số 2.1: Thu BHXH và phần ngân sách nhà nước cấp bù
để chi các chế độ BHXH ngắn hạn

(Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý từ 1962 đến 1994)

Năm Thu BHXH (%) NSNN cấp bù để chi BHXH(%)
1962 100 0
1963 100 0
1964 100 0
1965 100 0
1966 100 0
1967 89 11
1968 78 22
1969 68 32
1970 59 41
1971 53 47
1972 64 36
1973 67 23
1974 72 28
1975 65 35
1976 68 32
1977 76 24
1978 77 23
1979 86 14
1980 84 16
1981 78 22
1982 91 9
1983 82 18
1984 90 10
1985 91 9
1986 90 10
1987 98 2
1988 99 1
1989 100 0
1990 100 0
1991 100 0
1992 100 0
1993 98 2
1994 100 0

(Nguồn: Báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam)

Biểu số 2.2: Thu BHXH và phần ngân sách nhà nước cấp bù
để chi các chế độ BHXH dài hạn

(Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quản lý từ năm 1964 đến 1994)

Năm Thu BHXH (%) NSNN cấp bù để chi BHXH (%)

1964 100 0

1965 63 37

1966 58 42

1967 53 47

1968 45 55

1969 41 59

1970 30 70

1971 20 80

1972 16 84
1973 16 84

1974 16 84

1975 15 85

1976 17 83

1977 17 83

1978 21 79

1979 18 82

1980 16 84

1981 11 89

1982 8 92

1983 6 94

1984 6 94

1985 3 97

1986 3 97

1987 2 98

1988 29 71

1989 33 67

1990 25 75

1991 23 77

1992 29 71

1993 12 88

1994 28 71

(Nguồn: Báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)

Qua số liệu của biểu số 2.1 ta nhận thấy, số thu BHXH do tổ chức Công đoàn
quản lý qua các năm đạt khá cao. Có kết quả này là do:
- Tổ chức Công đoàn thực hiện cơ chế khoán thu, khoán chi, tức là ủy quyền
cho các đơn vị sử dụng lao động tự thu, tự chi các chế độ BHXH ngắn hạn. Vì vậy, hoạt
động quản lý thu BHXH do tổ chức Công đoàn chịu trách nhiệm chỉ được phản ảnh trên
sổ sách, chứng từ, còn thực tế tiền thu BHXH nằm lại đơn vị sử dụng lao động để chi trả
cho người lao động. Nên việc các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện việc thông báo cho tổ
chức Công đoàn về tình hình thu, chi BHXH các chế độ ngắn hạn của đơn vị là rất đơn
giản và hoàn toàn thực hiện được.

- Số thu và chi cho các chế độ BHXH ngắn hạn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong
tổng thu và tổng chi BHXH.

Nhìn vào biểu số 2.2 ta thấy tình hình ngược lại, tiền thu BHXH do cơ quan
Lao động Thương binh và Xã hội quản lý đạt rất thấp; nguyên nhân của tình hình này
là:

- Hoạt động BHXH diễn ra trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp. Trong
cơ chế này đơn vị sử dụng lao động đóng BHXH cũng được, không đóng cũng không bị
xử lý; mặt khác, trong quá trình sản xuất kinh doanh, không ít các doanh nghiệp gặp
khó khăn, làm ăn thua lỗ, Nhà nước liên tục phải bù lỗ, nên không có khả năng đóng
BHXH. Vì vậy, để đảm bảo chi trả cho các chế độ BHXH dài hạn, ngân sách nhà nước
phải cấp bù ngày càng tăng, năm cao nhất lên đến 98% (năm 1987).

- Cơ quan quản lý quỹ BHXH là Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, nhưng
lại không phải là đơn vị trực tiếp thu BHXH, mà do cơ quan Tài chính, Thuế thu hộ;
nhiệm vụ này chỉ là phần việc làm kết hợp chứ không phải là nhiệm vụ chính của các cơ
quan này, do vậy không thể nào có kết quả cao được.

- Về phương thức đóng, các đơn vị sử dụng lao động phải nộp vào cơ quan Tài
chính hoặc thuế, không được thực hiện cơ chế khoán thu, khoán chi như việc thực hiện
các chế độ BHXH ngắn hạn. Vì vậy, ngoài lý do sản xuất kinh doanh kém hiệu quả,
không ít đơn vị, doanh nghiệp viện dẫn lý do này, lý do khác để né tránh khoản trích
nộp này, bởi vì họ biết rằng không nộp nhưng khi người lao động do đơn vị quản lý đủ
tuổi nghỉ hưu vẫn được giải quyết bình thường.

2.2.1.2. Thời kỳ từ 1995 đến nay
Trước tình hình quỹ BHXH chỉ tồn tại trên danh nghĩa, mọi khoản chi cho các
chế độ BHXH phần lớn vẫn do ngân sách nhà nước đảm bảo và số này ngày một lớn do
số đối tượng đủ điều kiện được hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH ngày một tăng. Nhà
nước đã quyết định chuyển đổi hoạt động BHXH của nước ta từ cơ chế ngân sách nhà
nước bao cấp để chi trả các chế độ BHXH sang cơ chế quỹ BHXH phải tự cân đối thu,
chi dựa trên nguyên tắc đóng - hưởng, cộng dồn chia sẻ rủi ro, người lao động phải
đóng BHXH mới được hưởng quyền lợi BHXH. Tổ chức thực hiện các chế độ chính
sách thu, chi, xét duyệt hồ sơ hưởng BHXH tập trung vào một đầu mối; không phân tán
ra nhiều cơ quan như trước đây, tách hoạt động quản lý Nhà nước về BHXH ra khỏi
hoạt động sự nghiệp BHXH. Với những thay đổi căn bản trên, việc thực hiện pháp luật
về quản lý thu BHXH đã có những chuyển biến rất tích cực.

Trước hết, từ 1/1/1995 các đối tượng bắt buộc phải tham gia BHXH theo luật
định đã được mở rộng đáng kể, theo quy định các đơn vị có sử dụng từ 10 lao động trở
lên không phân biệt thành phần kinh tế nhà nước hay ngoài nhà nước đều phải tham gia
BHXH. Gần đây nhất Nghị định 01/2003/NĐ-CP ngày 9/1/2003 của Chính phủ về sửa
đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ BHXH tiếp tục mở rộng hơn nữa đối tượng tham
gia BHXH bằng việc quy định cả các đơn vị có sử dụng dưới 10 lao động cũng phải
tham gia BHXH. Nếu trước năm 1995 số lao động tham gia BHXH mới chỉ đạt 2,6 triệu
người thì con số này vào năm 2003 đã tăng lên tới 5,3 triệu người tăng 103%, trong đó
1,2 triệu lao động làm việc trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (bao gồm cả doanh
nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài).

Về tổ chức thực hiện quản lý thu BHXH, Nhà nước quy định rõ BHXH Việt
Nam chịu trách nhiệm thu và quản lý quỹ BHXH để đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời
cho các đối tượng đủ điều kiện hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH từ 1995 trở đi.

Trên đây là một số nét chung quy định của pháp luật về quản lý thu BHXH,
dưới đây chúng tôi sẽ đi vào phân tích thực trạng hoạt động thu BHXH từ 1995 đến nay.

Về lý thuyết cũng như thực tiễn, hoạt động thu BHXH muốn đạt hiệu quả cao,
ngoài các quy định chung của pháp luật về đối tượng tham gia, về mức đóng, còn đòi
hỏi phải có sự gắn kết, cộng tác thường xuyên và tích cực giữa các chủ thể: người lao
động, đơn vị sử dụng lao động, Nhà nước và cơ quan BHXH. Ngược lại, nếu một trong
các chủ thể trên có "vấn đề" thì hoạt động thu BHXH cũng sẽ bị trục trặc theo và tất yếu
sẽ kém hiệu quả. Các chủ thể chúng ta vừa kể ra ở trên, cũng chính là các đối tượng
chịu sự điều chỉnh của pháp luật về quản lý thu BHXH.

* Trước hết chúng ta xét đến người lao động

Đây là đối tượng trực tiếp đóng BHXH và đồng thời cũng là đối tượng trực tiếp
được nhận lương hưu, trợ cấp BHXH khi đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Nhìn chung đối tượng này làm việc trong tất cả các thành phần kinh tế khác nhau và với
mức thu nhập cũng khác nhau, nhưng theo quy định, thì người lao động phải đóng
BHXH bằng 5% tiền lương tháng (đối với cán bộ, công nhân viên thuộc khu vực nhà
nước được quy định rõ là tiền lương theo cấp bậc chứ không phải thu nhập thực tế, còn
đối với các đối tượng làm việc thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tiền lương làm
căn cứ để đóng BHXH là mức lương ghi trong hợp đồng lao động). Theo các hướng dẫn
nghiệp vụ của cơ quan BHXH thì hàng tháng đơn vị sử dụng lao động khi trả lương cho
người lao động phải trừ lại phần 5% để đóng cho cơ quan BHXH cùng với 15% mà đơn
vị phải đóng. Như vậy, ta dễ dàng nhận thấy, việc tuân thủ nghĩa vụ đóng BHXH của
người lao động phụ thuộc gần như hoàn toàn vào đơn vị sử dụng lao động, nghĩa là nếu
đơn vị có ý thức thực hiện theo đúng quy định của pháp luật thì nghĩa vụ và quyền lợi
về BHXH của người lao động được đảm bảo, ngược lại tình hình sẽ khác đi, lúc này
không những quỹ BHXH thất thu mà quyền lợi về BHXH của người lao động cũng
không được đảm bảo. Vì từ năm 1995 trở đi người lao động bắt buộc phải đóng BHXH
mới được hưởng BHXH.

Thực tế cho thấy, hầu hết người lao động khi được thông tin, tuyên truyền giải
thích rõ quyền lợi và nghĩa vụ BHXH, họ đều có mong muốn được tham gia và yêu cầu
đơn vị sử dụng đóng BHXH cho họ, chỉ có một bộ phận nhỏ lao động làm việc không
ổn định trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa nhận thức được ý nghĩa và vai
trò quan trọng của việc tham gia BHXH mới có các hành vi né tránh nghĩa vụ đóng
BHXH.
* Việc chấp hành pháp luật về nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội của các đơn vị
sử dụng lao động

Theo quy định của pháp luật, hàng tháng đơn vị phải có trách nhiệm đóng
BHXH cho cơ quan BHXH (bao gồm 5% của người lao động và 15% của đơn vị). Tuy
nhiên, khi đi vào tổ chức thực hiện thì đây chính là đối tượng phát sinh rất nhiều vấn đề
nhất làm ảnh hưởng trực tiếp đến các quy định của pháp luật về quản lý thu BHXH. Để
làm rõ ta có thể xem xét cho từng loại đơn vị.

- Với các đơn vị hành chính sự nghiệp, hiện nay số đối tượng này chiếm khoảng
35-40% tổng số lao động tham gia BHXH. Năm 2002, có 1.810.384 người thuộc đối
tượng này tham gia BHXH (chiếm 40,7%) với số thu BHXH là 2.240 tỷ đồng, chiếm
37,1% tổng thu BHXH [21]. Đây là đối tượng thực hiện tương đối tốt các quy định của
pháp luật về nghĩa vụ đóng BHXH, có tình hình này là do: Phần tiền đóng BHXH của
đơn vị 15% hoàn toàn do ngân sách nhà nước cấp, còn 5% tiền lương do người lao động
đóng thì đơn vị đã trừ lại ngay khi phát lương cho người lao động. Việc đóng 15% của
đơn vị không ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của đơn vị, ngược lại, nó chỉ làm cho
người lao động yên tâm hơn để làm việc với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao. Vấn
đề nảy sinh trong khối này không có gì lớn mà chủ yếu chỉ là đóng chậm hơn so với quy
định của khối cán bộ xã, phường, thị trấn, vì khối này đôi khi do ngân sách nhà nước
cấp tiền chậm nên họ chậm đóng BHXH. Hiện tượng trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH
của khối này rất ít khi xảy ra.

- Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, hiện tại khối này có số lượng lao động
tham gia BHXH khá đông, ta nói hiện tại là vì cùng với xu thế đổi mới, sắp xếp lại
doanh nghiệp nhà nước thì phần lớn các doanh nghiệp nhà nước sẽ tiến hành cổ phần
hóa để trở thành công ty cổ phần, khi đó các doanh nghiệp này sẽ chuyển sang loại hình
doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Năm 2002 khối này có 1.701.872 lao động tham gia,
chiếm 38% trong tổng số lao động tham gia BHXH và có số thu đạt 1.984 tỷ đồng,
chiếm 32,9% trong tổng thu BHXH [21].

Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp quốc doanh không còn được hưởng
nhiều chế độ ưu đãi của Nhà nước như trong thời kỳ bao cấp nữa, mà tự các doanh nghiệp
phải vươn lên trong hoạt động sản xuất, kinh doanh để làm ăn có lãi, sản phẩm đạt chất
lượng cao, mẫu mã đẹp, giá thành rẻ để có sức cạnh tranh không những ở thị trường trong
nước mà cả thị trường quốc tế. Nếu làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ thì không những thu nhập
của người lao động bị giảm, không có tiền để đóng BHXH mà doanh nghiệp cũng có nguy
cơ giải thể hoặc phá sản. Trong điều kiện như vậy, việc thực hiện pháp luật quản lý thu
BHXH đối với các doanh nghiệp này khi bắt đầu xuất hiện các vi phạm pháp luật như trốn
tránh nghĩa vụ đóng BHXH, khai giảm số lao động tham gia, giảm mức lương làm căn cứ
đóng BHXH, đóng BHXH chậm, thu 5% tiền lương của người lao động nhưng không đóng
BHXH cho cơ quan BHXH. Các vi phạm trên là hiện tượng phổ biến ở nhiều doanh
nghiệp, nhất là đối với các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh kém hiệu quả. Có
thể ra đây một số ví dụ: Năm 2003 các đoàn kiểm tra liên ngành do Thanh tra lao động chủ
trì, phối hợp với cơ quan BHXH và Liên đoàn Lao động đã kiểm tra tại Hà Nội 39 đơn vị,
phát hiện ra 4.108 lao động trong diện phải đóng BHXH nhưng chưa được các đơn vị đưa
vào danh sách; tương tự như vậy, tại Hải Phòng, kiểm tra 42 đơn vị, phát hiện 3.172 lao
động, tại thành phố Đà Nẵng, kiểm tra 35 đơn vị phát hiện 2.155 lao động, tại Lạng Sơn,
kiểm tra 15 đơn vị, phát hiện ra 881 lao động chưa tham gia đóng BHXH [22].

Các vi phạm trên đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đáp ứng chi trả của quỹ
BHXH và đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động khi họ gặp
phải các rủi ro trong quá trình làm việc hay đủ tuổi để nghỉ hưu. Mặc dù có những vi
phạm như đã nói, nhưng về cơ bản hầu hết các doanh nghiệp quốc doanh đều đăng ký
tham gia BHXH, hiện tượng doanh nghiệp né tránh hoàn toàn, không đăng ký tham gia
cũng rất ít.

- Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Hiện nay, theo quy định của pháp luật thì
đây là khối có số lượng lao động phải tham gia đông nhất. Theo thống kê số lao động làm
việc trong các loại hình doanh nghiệp này là rất lớn, trên toàn quốc có tới trên 10 triệu và
xu thế sẽ còn nhiều hơn nữa vì các doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa sẽ chuyển
sang loại hình này. Tuy nhiên, trên thực tế số lao động tham gia BHXH của các doanh
nghiệp này còn rất hạn chế mới chỉ chiếm từ 10-15% tổng tổng số phải tham gia theo luật
định. Các vi phạm pháp luật về nghĩa vụ đóng BHXH của các doanh nghiệp này trong thời
gian qua là thường xuyên và dưới nhiều hành thức như không đăng ký tham gia, khai giảm
số lao động, tiền lương… Nguyên nhân chính của tình hình này là: Các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh có đặc điểm chung là có quy mô sản xuất vừa và nhỏ là chủ yếu; cơ sở sản
xuất, lực lượng lao động thường không ổn định, sản xuất kinh doanh gặp khó khăn, nhất là
trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Mặt khác, cơ chế quản lý thu
cũng như các quy định của pháp luật trong việc kiểm tra, xử lý các vi phạm của các doanh
nghiệp thuộc khu vực này còn chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ và rất khó thực hiện. Vì vậy,
công tác quản lý thu BHXH đối với các doanh nghiệp này cũng hết sức khó khăn. Ngoài ra,
có một hiện tượng khá phổ biến nữa là nhiều doanh nghiệp trốn tránh, không đăng ký tham
gia BHXH với cơ quan BHXH là họ thường thỏa thuận với người lao động về điều kiện tự
bảo hiểm lấy để viện lý do nếu bị các cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra phát hiện ra
(khi vào làm việc người sử dụng lao động chỉ ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng, mặc dù
công việc ổn định và kéo dài qua các năm, trong đó người sử dụng lao động ghi rõ trong
hợp đồng là tiền BHXH được trả cùng với tiền lương, tiền công của người lao động để họ
tự bảo hiểm lấy).

* Đối với Nhà nước

Trách nhiệm của Nhà nước trong việc tham gia vào quỹ BHXH đã được quy định
rõ trong Bộ luật Lao động cũng như trong Điều lệ BHXH có hiệu lực thi hành từ năm 1995,
đó là: Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm cho quỹ BHXH để đảm bảo thực hiện các chế độ
BHXH đối với người lao động. Do đặc thù hoạt động BHXH của nước ta, từ năm 1994 trở
về trước người lao động không phải đóng BHXH nhưng vẫn được hưởng quyền lợi BHXH,
còn từ 1995 trở đi luật quy định người lao động bắt buộc phải đóng BHXH mới được hưởng
BHXH, quỹ BHXH chỉ phải đảm bảo chi trả cho các đối tượng đủ điều kiện hưởng lương
hưu và trợ cấp BHXH từ 1995 trở đi, còn các đối tượng đang hưởng lương hưu và trợ cấp
BHXH từ 1994 trở về trước vẫn do ngân sách nhà nước đảm bảo. Với quy định này đã làm
nảy sinh các vấn đề cần giải quyết đó là:

- Phần đóng và hỗ trợ của ngân sách nhà nước cho các đối tượng có thời gian
làm việc trước năm 1995 nhưng lại về nghỉ hưu và trợ cấp BHXH từ 1995 trở đi đến
nay chưa được thực hiện. Theo tính toán của cơ quan BHXH số phải đóng vào quỹ
BHXH của Nhà nước là khá lớn, lên tới hàng nghìn tỷ đồng. Nhưng trên thực tế đã gần
9 năm nay vấn đề này vẫn chưa được giải quyết. Điều này ảnh hưởng đến rất lớn đến
khả năng tăng trưởng của quỹ BHXH, vì nếu Nhà nước chuyển dần số tiền đó vào quỹ
BHXH theo từng năm thì khả năng sinh lời của quỹ cũng sẽ lớn dần lên hàng năm.

- Nhà nước đảm bảo cho quỹ trong trường hợp lạm phát cao, sức mua của đồng
tiền bị giảm sút. Sự đảm bảo này đến nay chưa phải sử dụng đến vì lạm phạm trong
những năm qua vẫn nằm trong tầm kiểm soát được.

Tóm lại, trong điều kiện hiện nay, nếu không có những quy định và cơ chế rõ
ràng cho việc đóng và hỗ trợ của Nhà nước vào quỹ BHXH, thì việc Nhà nước tự điều
chỉnh mình là rất khó, tính khả thi kém.

* Đối tượng bị điều chỉnh cuối cùng - cơ quan BHXH

Cơ quan BHXH, tổ chức có trách nhiệm chính trong công tác thu BHXH, quản
lý và sử dụng quỹ BHXH. Việc điều chỉnh của pháp luật với tổ chức này nhìn chung
không có gì phức tạp bởi lẽ, các quy định của pháp luật về đối tượng, về mức đóng và
phương thức đóng đã khá rõ, cơ quan BHXH chỉ phải chịu trách nhiệm duy nhất là thu
đúng, thu đủ, bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH. Tuy nhiên, trên thực tế và trong quá
trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, cũng đã nảy sinh khá nhiều vấn đề cần
phải được xử lý, giải quyết bằng các quy định của pháp luật. Chẳng hạn, các đối tượng
phải tham gia BHXH đã được quy định rõ nhưng khi cơ quan BHXH kiểm tra phát hiện
ra lại không có quyền xử phạt; hoặc luật đã quy định cơ quan BHXH có trách nhiệm
bảo toàn, đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH nhưng trên thực tế việc đầu tư tăng trưởng quỹ
BHXH hiện nay lại phụ thuộc hoàn toàn vào sự chỉ định của Thủ tướng Chính phủ mà
chủ yếu là cho vay với lãi suất thấp, như vậy rõ ràng là khả năng sinh trưởng của quỹ bị
ảnh hưởng, thậm chí ở thời điểm lãi suất cho vay thấp hơn tỷ lệ lạm phát thì quỹ không
những không tăng trưởng mà khả năng bảo toàn cũng rất khó…

Qua phần phân tích ở trên, ta có thể rút ra kết luận: Nếu các đối tượng bị điều
chỉnh của pháp luật về quản lý thu BHXH thực thi nghiêm túc các quy định của luật thì
kết quả thu BHXH chắc chắn sẽ đạt hiệu quả cao và ngược lại. Tuy nhiên trong thời
gian qua, việc thực thi các quy định của pháp luật về quản lý thu BHXH cũng đã chỉ ra
giữa các quy định của luật với những gì diễn ra trong thực tế cuộc sống còn có khoảng cách
và ở một số khâu thậm chí còn là khoảng cách lớn. Vì vậy, nhiệm vụ của các nhà hoạch
định, xây dựng chính sách cũng như những người tổ chức thực hiện công tác thu BHXH là
làm sao phải rút ngắn và loại bỏ được khoảng cách này, có như vậy pháp luật về quản lý
thu BHXH mới có tính khả thi cao trong cuộc sống.

2.2.1.3. Đánh giá chung tình hình thực hiện pháp luật về quản lý thu bảo
hiểm xã hội

- Những kết quả đạt được:

Một là: Mở rộng phạm vi, đối tượng tham gia BHXH, nếu trước đây đối tượng
tham gia BHXH chỉ hạn hẹp trong phạm vi cán bộ, công nhân viên chức nhà nước và
lực lượng vũ trang thì từ năm 1995 đến nay đối tượng, phạm vi tham gia BHXH đã
không ngừng được mở rộng, hiện tại là đối với tất cả các đơn vị, cơ sở sản xuất, kể cả
các doanh nghiệp sử dụng dưới 10 lao động nếu có quan hệ hợp đồng lao động có thời
hạn từ 3 tháng trở lên và hợp đồng không xác định thời hạn đều thuộc diện bắt buộc
phải tham gia BHXH. Với quy định này của pháp luật, số lượng lao động tham gia và số
thu BHXH từ năm 1995-2003 không ngừng được tăng lên hàng năm, điều mà trước
năm 1995 không thể có được.

Hai là: Hình thành quỹ BHXH tập trung, quản lý thống nhất, hạch toán độc lập
với ngân sách nhà nước và đảm bảo tự cân đối thu, chi BHXH. Nếu trước đây quỹ
BHXH chỉ tồn tại trên danh nghĩa, nguồn chi trả các chế độ BHXH cho người lao động
chủ yếu do ngân sách nhà nước đảm bảo. Vì vậy, hiện tượng chậm trả lương hưu và trợ
cấp BHXH cho đối tượng từ
1 đến 2 tháng thường xuyên xảy ra ở các địa phương, nhất là vào những thời điểm ngân
sách nhà nước gặp khó khăn, làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày của đối
tượng và trật tự, an toàn xã hội, thì từ năm 1995, quỹ BHXH đã có thực, tồn tại trên
thực tế và ngày càng tăng trưởng, do vậy việc chi trả các chế độ BHXH hoàn toàn chủ
động trên phạm vi toàn quốc; hiện tượng chậm trả lương hưu và trợ cấp BHXH không
còn xảy ra. Kết quả thực hiện chính sách BHXH theo cơ chế mới trong 9 năm qua đã
khẳng định, quỹ không những đủ chi cho các chế độ BHXH mà còn có trên 34.000 tỷ
đồng tạm thời "nhàn rỗi" để đầu tư tăng trưởng. Dưới đây là kết quả thu BHXH và hoạt
động đầu tư tăng trưởng quỹ từ năm 1995 đến 2003.
Biểu số 2.3: Số tiền thu BHXH và hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH từ năm
1995 đến 2003

Tiền thu tăng so với Tiền đưa vào Lãi thu được
BHXH (triệu
Năm năm trước đầu tư qua đầu tư
đồng) (%) (triệu đồng) (triệu đồng)

1 2 3 4 5

788.486
1995
*

1996 2.569.733 100 1.078.636 18.151

1997 3.445.611 34,08 4.072.069 209.792

1998 3.875.956 12,48 7.493.161 467.166

1999 4.186.054 8,00 10.628.002 659.675

2000 5.198.221 24,10 15.662.942 816.214

2001 6.348.184 22,10 25.723.636 1.605.762

2002 11.633.000 34.118.000 1.800.000

Nguồn: Báo cáo quyết toán hàng năm của BHXH Việt Nam.

* Số tiền thu BHXH của năm 1995 là số thu của quý IV.

Ba là: Góp phần xóa bỏ sự phân biệt về quyền và nghĩa vụ BHXH giữa những
người lao động: Thực hiện chính sách BHXH theo cơ chế mới dựa trên nguyên tắc
đóng, hưởng, cộng đồng chia sẻ rủi ro đã làm thay đổi nhận thức của hàng triệu người
lao động và chủ sử dụng lao động trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH, đồng thời
góp phần xóa đi ranh giới giữa những người lao động làm việc trong khu vực Nhà nước
với những người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế khác. Nhận thức này
tạo ra môi trường thuận lợi, lành mạnh để chủ trương, chính sách BHXH của Đảng và
Nhà nước đi vào cuộc sống, phát huy tác dụng; đồng thời đảm bảo sự công bằng về
quyền và nghĩa vụ BHXH giữa những người lao động làm việc trong các thành phần
kinh tế khác nhau, thúc đẩy người lao động tìm kiếm việc làm trong khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

- Những hạn chế:

Một là: Số người tham gia BHXH vẫn còn hạn chế, đối tượng tham gia BHXH
mặc dù đã được mở rất rộng nhưng do cơ chế thực hiện còn nhiều điểm chưa rõ, nên việc
triển khai cụ thể của cơ quan BHXH và các đơn vị sử dụng lao động gặp nhiều khó khăn.
Hiện nay chủ yếu vẫn là lao động thuộc khu vực Nhà nước tham gia BHXH, lao động làm
việc trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh thuộc diện bắt buộc phải tham gia mới chỉ đạt
từ 10-15%.

Bộ luật Lao động quy định có hai loại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự
nguyện, nhưng cho đến nay đã hơn 9 năm trôi qua, loại hình BHXH tự nguyện vẫn chưa
được thực hiện. Do vậy, quyền và nghĩa vụ BHXH của hàng triệu người lao động không
thuộc diện làm công ăn lương như lao động sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
dịch vụ… chưa được thực hiện. Chính sách BHXH chưa quy định chế độ BHXH thất
nghiệp để ổn định cuộc sống cho người lao động khi bị mất việc tạm thời, nên rất khó
khăn cho các đối tượng này khi họ bị mất việc. Trong điều kiện kinh tế thị trường, hiện
tượng người lao động thất nghiệp là không thể tránh khỏi, thậm chí ở vào từng thời
điểm nhất định số đối tượng này là rất lớn.

Theo số liệu điều tra của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về thực trạng
lao động việc làm ở Việt Nam tháng 7/2000 cho thấy cả nước có 36.206.200 lao động
có việc làm thường xuyên, trong đó:

- Làm việc trong nhóm ngành nông nghiệp có 22.650.000 người, chiếm
62,56%.

- Làm việc trong nhóm ngành công nghiệp và xây dựng 4.761.400 người, chiếm
13,15%.

- Làm việc trong nhóm ngành dịch vụ 8.794.800 người, chiếm 24,29%.
Với các số liệu trên, nếu trừ đi những người làm việc trong nhóm ngành nông
nghiệp (đối tượng chưa bắt buộc phải tham gia BHXH), thì số lao động tham gia BHXH
năm 2000 mới chỉ chiếm 30,7% tổng số lao động đang làm việc trong nhóm ngành công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ (năm 2000 có 4.162.805 người tham gia BHXH). Dưới đây
ta có thể chỉ ra một trong những bất cập này.

Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ quy định thực
hiện chế độ BHXH đối với người lao động làm việc trong các cơ sở Y tế, Giáo dục, Văn
hóa, Thể thao ngoài công lập, những mãi đến 20/10/2000, tức là sau hơn một năm các
Bộ, ngành chức năng mới ra được thông tư hướng dẫn thực hiện, nhưng lại chưa tính
đến khả năng tham gia thực tế của đối tượng, cụ thể là với giáo viên mầm non thuộc các
bản làng, thôn, xã, nhất là ở các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa, thu nhập hàng
tháng của họ phụ thuộc vào khả năng đóng góp của cha, mẹ học sinh; khoản đóng góp
này thường chỉ đủ cho những sinh hoạt thiết yếu của các cô giáo; qua điều tra, có tới
50% giáo viên mầm non thu nhập dưới mức lương tối thiểu; nhiều tỉnh, Ngân sách còn
phải cấp thêm mỗi tháng từ 50.000 - 100.000 đồng mới đảm bảo cuộc sống cho các cô
giáo. Trong trường hợp này, người lao động đóng BHXH trên nền lương nào; ai là chủ
sử dụng lao động; phương thức đóng; mức hưởng sau này sẽ tính như thế nào... Chính
vì vậy cho đến nay, việc triển khai thực hiện thu BHXH đối với các đối tượng này còn
rất nhiều bất cập và rất khó khăn.

Hai là: Chưa có cơ chế khuyến khích người lao động đóng BHXH cao hưởng
cao, đóng BHXH theo thu nhập thực tế, hiện nay chỉ trừ số lao động làm việc trong khu
vực hành chính sự nghiệp là không có sự chênh lệch lớn giữa tiền lương tháng theo
ngạch, bậc và thu nhập thực tế, còn lại đều có sự chênh lệch lớn, thậm chí là rất lớn,
nhất là ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài;
trên thực tế có không ít doanh nghiệp, tiền lương theo ngạch bậc của người lao động chỉ
từ 600.000-700.000 đồng, trong khi đó thu nhập thực tế của họ lại lên đến
2 hoặc 3 triệu đồng; đó là những hạn chế làm giảm tính cộng đồng, chia sẻ rủi ro và
công bằng xã hội trong việc thực thi chính sách BHXH nói chung và pháp luật về quản
lý thu BHXH nói riêng.
Ba là: Chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa rủi ro, mất cân đối thu, chi
quỹ BHXH: Việc tập trung thống nhất nguồn thu BHXH của 5 chế độ BHXH vào một
quỹ chung đã làm giảm hiệu quả và tính chủ động của cơ quan BHXH trong việc phân
tích, đánh giá tình hình để kịp thời đưa ra các biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa rủi ro,
đồng thời làm cho công tác kiểm tra, giám sát, hạch toán thu, chi quỹ gặp không ít khó
khăn. Chính vì vậy qua hơn 9 năm thực hiện chính sách BHXH theo cơ chế mới, nhưng
đến nay BHXH Việt Nam và các Bộ chức năng chưa phân tích, chỉ ra được mức đóng,
mức hưởng của từng chế độ là bao nhiêu cho phù hợp để có những điều chỉnh cần thiết.
Việc quy định tỷ lệ hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH cao cùng với việc phải xử lý các
chính sách khác như sắp xếp tổ chức, tinh giảm biên chế… làm cho quỹ BHXH khó có
thể cân bằng thu - chi BHXH và về lâu dài sẽ bị thiếu hụt. Theo các chuyên gia tài
chính, với mức đóng góp như hiện nay: người lao động đóng 5% và người sử dụng lao
động đóng 15% với giả định không có sự thay đổi về chính sách BHXH thì chỉ đến năm
2020, quỹ BHXH sẽ dần dần bị thâm hụt trong một thời gian dài và không còn khả năng
thanh toán. Trong điều kiện như hiện nay, chính sách BHXH thay đổi nhiều (nghỉ hưu
sớm, thêm chế độ nghỉ dưỡng sức…) thì thời gian thâm hụt quỹ BHXH sẽ càng nhanh
đến hơn.

Bốn là: Việc thực hiện các quy định của pháp luật về xử lý các vi chính sách
BHXH nói chung và quy định về nghĩa vụ đóng BHXH nói riêng còn rất hạn chế, kém
hiệu quả: Quy định của pháp luật trong việc xử lý các vi phạm chính sách BHXH còn
quá nhẹ so với số tiền chậm nộp hoặc bị chiếm dụng hàng tỷ đồng của không ít các
doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp sẵn sàng nộp tiền phạt đến lần thứ
hai, thứ ba hoặc hơn nữa thay cho việc đóng BHXH. Nghị định số 38/NĐ-CP ngày
25/6/1996 của Chính phủ xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật, quy định
mức phạt 2.000.000 đồng đối với các vi phạm về chính sách BHXH. Mặt khác cơ chế
xử lý chưa rõ ràng, cơ quan BHXH là người trực tiếp và thường xuyên phát hiện ra các
vi phạm chính sách BHXH nhưng lại không được quyền xử phạt, mà do các cơ quan
chức năng khác xử lý.

Qua đợt giám sát tình hình thi hành Bộ luật Lao động, trong đó có chính sách
BHXH của ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội khóa IX cho biết: kiểm tra ở hai Tổng
công ty: một Tổng công ty sử dụng 15.000 lao động; một Tổng công ty sử dụng 5.000 lao
động trong 1 năm họ không đóng BHXH hơn 15 tỷ đồng; nếu tính trong cả nước đối với
khu vực tư nhân thì quỹ BHXH đã thất thu một lượng tiền rất lớn; còn nếu tính cho tất cả
các khu vực khác thì con số còn lớn hơn nhiều. Các phương tiện thông tin đại chúng cũng
đã lên tiếng cảnh báo tình trạng vi phạm chính sách BHXH của Công ty TNHH Thiên Hộ -
thành phố Hồ Chí Minh (công ty liên doanh với nước ngoài) sử dụng thường xuyên 2.600
lao động, từ năm 1997-2002, hàng tháng công ty vẫn thu 5% tiền lương của người lao động
đóng BHXH, nhưng lại không đóng BHXH cho cơ quan BHXH với số tiền lên đến 22 tỷ
đồng. Việc nợ đọng hoặc trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH của các đơn vị, doanh nghiệp,
trước hết làm thất thu quỹ BHXH, nhưng điều quan trọng hơn làm ảnh hưởng trực tiếp đến
quyền lợi của người lao động, bởi vì theo quy định hiện nay, nếu người lao động, đơn vị sử
dụng lao động không đóng BHXH thì cơ quan BHXH có quyền từ chối giải quyết chế
độ, chính sách BHXH cho người lao động.

Theo báo cáo của BHXH các tỉnh, thành phố, từ khi Nghị định số 38/NĐ-CP
ngày 25/6/1996 của Chính phủ có hiệu lực thi hành, số đơn vị bị phát hiện có các vi
phạm chính sách BHXH lên tới hàng nghìn, nhưng số đơn vị bị xử phạt chỉ chiếm một tỷ lệ
rất nhỏ. Mức xử phạt này đã được tăng lên 20.000.000 đồng (Pháp lệnh Xử lý vi phạm
hành chính được Quốc hội khóa X thông qua ngày 2/7/2002), nhưng cơ chế thực hiện vẫn
chưa có gì thay đổi. Do vậy, trên thực tế chưa có tác dụng ngăn chặn các vi phạm chính
sách BHXH của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH
(về nội dung này, Điều 50 Luật An sinh xã hội Thái Lan quy định: Người sử dụng lao động
nào không chịu nộp các khoản đóng góp hoặc khoản tiền phải nộp thêm, hoặc không chịu
nộp đầy đủ thì Tổng thư ký cơ quan An sinh xã hội có quyền ký lệch tịch thu, tịch biên
và bán đấu giá tài sản của người đó tới mức cần thiết đủ để trả cho các khoản đóng góp
BHXH chưa nộp).

Năm là: Chưa có cơ chế cụ thể để thực hiện sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước
đối với quỹ BHXH. Hiện tại chính sách BHXH mới chỉ quy định: thời gian làm việc
trước 1/1/1995 của cán bộ, công nhân viên chức trong biên chế nhà nước và thời gian
phục vụ trong lực lượng vũ trang của quân nhân, công an nhân dân được coi là có đóng
BHXH; kinh phí chi trả do ngân sách nhà nước đảm bảo; quỹ BHXH chỉ chịu trách
nhiệm đảm bảo kinh phí chi trả cho các đối tượng được hưởng lương hưu và trợ cấp
BHXH từ 1995 trở đi, bởi vì số người này đều có thời gian làm việc trước năm 1995 (là
thời gian người lao động chưa đóng BHXH, nhưng nay quỹ BHXH phải chi trả). Còn sự
hỗ trợ của ngân sách nhà nước đối với quỹ BHXH cho đến nay vẫn chưa thực hiện
được, việc cân đối thu - chi quỹ BHXH gặp nhiều khó khăn, nhất là trong điều kiện hiện
nay, số người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH đang có xu hướng tăng nhanh qua
từng năm. Ta có thể thấy được tình hình này qua biểu dưới đây.

Biểu số 2.4: Đối tượng và kinh phí chi trả BHXH do NSNN
và quỹ BHXH đảm bảo

Ngân sách nhà nước đảm bảo Quỹ BHXH đảm bảo

Đối tượng Tiền chi trả % so với Đối tượng Tiền chi % so với
Năm
(người) (triệu (người) trả (triệu
năm trước năm trước
đồng) đồng)

1 2 3 4 5 6 7

1.750.418 4.387.903 100 20.618 383.144 100
199
6

1.716.257 5.163.093 +25,7 43.566 593.525 +54,9
199
7

1.683.500 5.128.425 -0,7 70.077 751.629 +26,6
199
8

1.650.709 5.015.620 -2,2 105.303 940.351 +25,1
199
9

1.616.673 6.239.494 +24,4 145.730 1.330.680 +41,5
200
0

1.588.545 7.321.410 +17,3 191.135 1.856.339 +39,5
200
1
1.557.004 7.033.016 225.439 2.585.554
200
2

Nguồn: Báo cáo quyết toán hàng năm của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Nhìn vào các số liệu trên, ta thấy ngược lại với xu hướng giảm chi của ngân
sách nhà nước cho các đối tượng hưởng BHXH trước năm 1995 là xu hướng tăng chi
của quỹ BHXH cho các đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH từ năm 1995 trở
đi, bình quân từ năm 1996-2006, mỗi năm tăng 37,8%, trong khi đó số thu BHXH cùng
thời gian này chỉ tăng bình quân 20,1%. Với mức tăng này, nếu không có sự đóng, hỗ trợ
của ngân sách nhà nước để chi trả lương hưu cho người lao động thuộc khu vực Nhà
nước về hưu kể từ 1995, quỹ BHXH sẽ dần bị thâm hụt và mất khả năng chi trả.

Về lý thuyết cũng như thực tế các đối tượng hưởng BHXH do ngân sách nhà
nước đảm bảo chi trả sẽ giảm dần qua các năm (giảm khoảng 2%/năm) và như vậy, số
tiền chi trả cũng sẽ giảm theo. Tuy nhiên, nhìn vào biểu số 5 ta thấy một số năm có tăng
lên như năm 1997, tăng so với năm 1996 là 25,7%, năm 2000 tăng so với năm 1999 là
24,4%… nguyên nhân là do cơ quan BHXH phải giải quyết các trường hợp tồn đọng từ
năm 1995 trở về trước, do Chính phủ bổ sung thêm quyền lợi được hưởng của đối tượng
và do tăng tiền lương tối thiểu.

Sáu là: Chưa có giải pháp hiệu quả cho công tác đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH.
Hiện nay, ngoài việc chủ động nguồn để chi trả cho các đối tượng hưởng BHXH, quỹ
BHXH mới chủ yếu cho Quỹ hỗ trợ phát triển, Ngân hàng Đầu tư - Phát triển Việt Nam,
Bộ Tài chính và các ngân hàng thương mại vay với lãi suất ưu đãi, nên khả năng sinh
lời thấp, thậm chí có những năm tỷ lệ lạm phát cao hơn lãi suất cho vay, quỹ BHXH
không bảo toàn được giá trị, mà còn bị thâm hụt so với sức mua thực tế của đồng tiền.
Đây là điều mà nhiều chuyên gia tài chính của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và
Ngân hàng Thế giới (WB) đã cảnh báo. Để hiểu sâu hơn về hạn chế này, ta có thể xem
các số liệu trong biểu số 6.

Biểu số 2.5: Hoạt động đầu tư, tăng trưởng quỹ BHXH năm 2001
Tiền lãi thu
Tiền đầu tư Lãi suất đầu
Nơi đầu tư từ đầu tư (tỷ
(tỷ đồng) tư (%/năm)
đồng)

Mua công trái chính phủ 700 10 70

Mua trái phiếu kho bạc 1.000 5,4 54

Quỹ hỗ trợ phát triển 7.700 5,4 415

Ngân hàng ĐTPT Việt 3.200 5,1 163
Nam

Bộ Tài chính 2.078 3,6 74

Các ngân hàng thương mại 6.374 6,6 400

Tổng số 21.052 1.100

Nguồn: Báo cáo quyết toán năm 2001 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Trong tổng số 21.052 tỷ đồng đầu tư, BHXH Việt Nam chỉ được chủ động thực
hiện đầu tư vào các ngân hàng thương mại với số tiền 6.374 tỷ đồng (chiếm 30,3%), còn
lại 14.678 tỷ đồng (69,7%) là đầu tư theo chỉ định của Chính phủ với lãi suất thấp. Với
các số liệu trên, ta nhận thấy chỉ có khoản đầu tư vào Công trái Chính phủ và các ngân
hàng thương mại là có khả năng tăng trưởng, còn vào các địa chỉ khác, khả năng này rất
hạn chế. Ta giả sử, nếu các khoản đầu tư còn lại đều được đầu tư vào các ngân hàng
thương mại với lãi suất 6,6%/năm, thì trong năm 2001 sẽ thu về được 1.316 tỷ đồng,
nhiều hơn số lãi đã thu được 216 tỷ đồng. Trong điều kiện hiện nay, khi tốc độ tăng thu
BHXH còn có sự chênh lệch quá lớn với tốc độ tăng chi, thì 216 tỷ đồng là con số rất có
ý nghĩa đối với việc bảo toàn và làm tăng khả năng chi trả của quỹ BHXH.

- Nguyên nhân:

Thứ nhất: ảnh hưởng của chiến tranh và của chính sách BHXH trong mô hình
kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, trải qua hơn 30 năm, từ khi có Điều lệ tạm thời
về các chế độ BHXH thi hành từ năm 1962, chúng ta đã xây dựng và thực hiện chính
sách BHXH trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, người lao động không phải
đóng BHXH; kinh phí chi trả các chế độ BHXH phần lớn do ngân sách nhà nước đảm
bảo. Cơ chế này dẫn đến tình trạng:

- Về phía người sử dụng lao động cũng như người lao động không quan tâm
đến việc thực hiện nghĩa vụ đóng BHXH mà chỉ quan tâm đến quyền lợi được hưởng về
BHXH.

- Về phía Nhà nước, vì phải tập trung sức người, sức của vào cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc, nên mới chỉ quan tâm đến hiệu quả xã hội của chính sách BHXH,
còn hiệu quả kinh tế chưa trở thành mục tiêu được quan tâm, do vậy, khi mới xây dựng,
hoạch định chính sách BHXH theo cơ chế mới, nhất là từ năm 1995 khó tránh khỏi
những ảnh hưởng của thời kỳ bao cấp, dẫn đến những bất cập, những tồn tại, hạn chế
trong các chính sách BHXH đã ban hành.

Thứ hai: Hiệu lực quản lý hoạt động BHXH còn thấp: quy định của pháp luật
trong việc xử lý các vi phạm chính sách BHXH chưa rõ về cơ chế, hiệu quả kém. Theo
quy định hiện hành, chỉ có Thanh tra lao động và Thanh tra Liên ngành mới có quyền xử
phạt các đơn vị khi vi phạm chính sách BHXH. Trong khi đó lực lượng Thanh tra lao động
lại quá mỏng, theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, trên phạm vi
toàn quốc chỉ có gần 100 người; con số này nếu so với trên 90.000 đơn vị sử dụng lao
động thì quá nhỏ. Hơn nữa, nhiệm vụ thanh tra, phát hiện và xử lý các vi phạm chính
sách BHXH lại không phải là trách nhiệm chính của lực lượng này.

Thứ ba: Thiếu một hệ thống chính sách BHXH đồng bộ, hệ thống chính sách
BHXH ở nước ta vừa thiếu lại vừa thừa, tính khả thi của một số chính sách còn thấp; sự
gắn kết giữa các chính sách chưa chặt chẽ, nhất là trong các quy định của pháp luật về
mức đóng và hưởng BHXH, một số chính sách chỉ quan tâm đến quyền được hưởng của
người lao động mà không tính đến nguồn để đảm bảo chi trả. Nguyên nhân chính của
tình hình này là chính sách BHXH của ta còn nặng về sửa đổi, bổ sung để giải quyết các
tồn tại, phát sinh trước mắt, chưa có tầm chiến lược lâu dài phù hợp với tình hình của
đất nước, của các nước trong khu vực và trên thế giới. Những chuyên gia và cơ quan có
trách nhiệm hoạch định, xây dựng chính sách BHXH chưa nắm chắc và cũng chưa
lường hết những diễn biến ở cơ sở, ở trong nước và tình hình thế giới; chưa thường
xuyên tổng kết thực tiễn để rút ra bài học, kinh nghiệm về tính quy luật của hoạt động
BHXH trong cơ chế thị trường.

2.2.2.Thực trạng quản lý chi bảo hiểm xã hội

Chi trả các chế độ BHXH là bước tiếp theo và cũng là kết quả của các hoạt
động trước đó là thu BHXH và xét duyệt hồ sơ của người lao động khi đủ điều kiện
hưởng BHXH theo quy định của pháp luật. Chi trả các chế độ BHXH là hoạt động liên
quan trực tiếp đến tiền nhằm đảm bảo ổn định đời sống và quyền lợi chính đáng của
người lao động trong quá trình làm việc. Vì vậy, pháp luật về quản lý chi BHXH đã
được quy định và không ngừng sửa đổi, bổ sung cho hoàn thiện, qua từng thời kỳ phát
triển của đất nước, nhất là từ năm 1995 trở lại đây.

Nghiên cứu pháp luật về quản lý chi BHXH chúng ta có thể xem xét trên hai
giác độ. Thứ nhất, là xem xét đến việc quản lý các nguồn chi trả. Với đặc thù hoạt động
BHXH của nước ta, kinh phí để chi trả cho các chế độ BHXH được đảm bảo từ hai
nguồn: ngân sách nhà nước và quỹ BHXH, các nguồn chi trả này chỉ thực sự được tách
biệt rõ từ năm 1995. Thứ hai, là xem xét việc quản lý và tổ chức chi trả BHXH của cơ
quan chức năng. Việc xem xét trên hai giác độ này cũng chỉ mang tính tương đối và
nhằm làm rõ những mặt được, chưa được trong quá trình thực thi pháp luật về chi
BHXH, bởi vì cả hai giác độ đều nhằm đạt được mục đích là bảo đảm chi trả đúng, chi
trả kịp thời và an toàn cho người lao động khi họ đủ điều kiện để hưởng các chế độ
BHXH, đồng thời tránh gây thất thoát cho ngân sách nhà nước và quỹ BHXH do chi trả
sai, chi trả không đúng và các quy định của pháp luật.

2.2.2.1. Thời kỳ trước năm 1995

Đây là thời kỳ chính sách BHXH của nước ta thực hiện trong cơ chế bao cấp
(mặc dù từ năm 1993 đã bắt đầu có sự đổi mới chính sách BHXH theo cơ chế thị trường
nhưng trên thực tế vẫn chưa thực hiện được) nguồn thu BHXH đã được quy định nhưng
kết quả thu vào quỹ BHXH là rất thấp. Vì vậy, kinh phí để chi trả các chế độ BHXH
chủ yếu là từ nguồn ngân sách nhà nước đảm bảo (xem kết quả trong biểu số 2.1 và số
2.2 ở phần trước).
Trước hết, đối với nguồn quỹ BHXH: Thời kỳ này mặc dù đã có quy định hình
thành quỹ BHXH, nhưng lại phân tán và do các cơ quan khác nhau quản lý.

- Đối với quỹ BHXH do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quản lý để chi trả
cho các chế độ ngắn hạn là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được
pháp luật quy định hình thành trên mức đóng 5% tổng quỹ lương (mức này thực hiện từ
10/1986, trước đó là 3,7%). Song về cơ chế, thu và chi lại quy định là đơn vị sử dụng
lao động được để luôn lại ở đơn vị để thực hiện chi trả cho người lao động khi bị ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động hay bệnh nghề nghiệp, số còn lại để chi cho nghỉ ngơi
dưỡng sức và nộp lên công đoàn để chi cho hoạt động của bộ máy trực tiếp làm công tác
BHXH của công đoàn và điều tiết trong phạm vi có thể giữa các đơn vị chi vượt và chi
không hết, tỷ lệ này thường chiếm khoảng 2%.

Do cơ chế trên nên công tác quản lý và chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn của
tổ chức Công đoàn chỉ thực hiện trên sổ sách thông qua báo cáo của các đơn vị, với cơ
chế này, những đơn vị nào có nhiều người ốm đau, thai sản… sẽ chi vượt tỷ lệ 5% cho
phép, trong trường hợp này, đơn vị không những không còn tiền để nộp lên tổ chức
công đoàn mà ngân sách nhà nước còn phải cấp bù nếu quỹ BHXH do công đoàn quản
lý không đủ khả năng cân đối. Thực hiện cơ chế này, việc quản lý chi BHXH có những
mặt được và chưa được: Cụ thể là đơn vị sử dụng lao động chủ động trong việc xét
duyệt và chi trả kịp thời cho người lao động khi đủ điều kiện được hưởng. Tuy nhiên
cũng chính cơ chế này lại tạo nên những bất cập hạn chế trong công tác quản lý chi
BHXH, đó là: Vì được khoán chi nên không ít đơn vị đã lợi dụng cơ chế này để chi hết cho
người lao động, thậm chí cả trong trường hợp người lao động chưa đủ điều kiện được
hưởng theo quy định của pháp luật. Việc quản lý chi trả các chế độ này hoàn toàn do đơn vị
sử dụng lao động "tự biên, tự diễn" trong điều kiện này đơn vị nào thực hiện nghiêm túc thì
tính ưu việt của việc chi trả các chế độ BHXH mới thực sự phát huy tác dụng, ngược lại
nó sẽ là kẽ hở tạo điều kiện để các hiện tượng tiêu cực nảy sinh.

Ngoài việc chi trả các chế độ BHXH ngắn hạn thời kỳ này tổ chức BHXH của
công đoàn còn kết hợp với các đơn vị sử dụng lao động tổ chức nghỉ dưỡng sức cho
người lao động, đây là một ưu đãi, một quy định tốt cho người lao động, nhưng cũng
như các chế độ trên, do không có những quy định cụ thể cũng như cơ chế kiểm tra, giám
sát chặt chẽ, nên hiện tượng có người được đi nghỉ nhiều lần trong khi thời gian làm
việc còn ít, nhưng ngược lại không ít người đã có thời gian làm việc nhiều, sức khỏe
giảm sút lại không được đi nghỉ theo chế độ này.

Tóm lại, trong cơ chế khoán thu, khoán chi để thực hiện chi trả các chế độ
BHXH ngắn hạn cho người lao động, mặc dù đã đáp ứng được phần nào những yêu cầu
cơ bản của người lao động và đơn vị sử dụng lao động nhưng xét về hiệu quả quản lý thì
rõ ràng là còn thấp, chưa đạt yêu cầu và còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục sửa đổi hoàn
chỉnh.

- Đối với quỹ BHXH do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý để chi trả
các chế độ BHXH dài hạn (hưu trí, mất sức lao động, tử tuất).

Đây là các chế độ có số tiền chi trả chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng chi BHXH
và vì vậy các quy định của pháp luật cũng đảm bảo chặt chẽ hơn. Theo Nghị định số
39/CP ngày 22/3/1962 quy định nội dung thu, chi của quỹ BHXH của nhà nước thì phần
thu BHXH do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý chưa được đề cập đến, chỉ
đến khi Chính phủ ban hành Nghị định 236/HĐBT ngày 18/9/1985 mới có quy định cụ
thể là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý 8% tổng quỹ lương chi trả cho
3 chế độ BHXH dài hạn. Mặc dù nghị định quy định khá chặt chẽ trách nhiệm đóng góp
của đơn vị sử dụng lao động nhưng trên thực tế số thu thời kỳ này đạt rất thấp, phần chi
cho các chế độ BHXH dài hạn chủ yếu vẫn do ngân sách nhà nước cấp, mặt khác nguồn
thu để hình thành quỹ dùng để chi trả BHXH lại do các Sở Tài chính địa phương đảm
nhận nên hoạt động tổ chức thu, quản lý, sử dụng nguồn quỹ này của Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội cũng chỉ tồn tại trên sổ sách và mang tính danh nghĩa nhiều hơn.

Với cơ chế như vậy, cơ quan Lao động Thương binh và Xã hội trên thực tế chỉ
làm nhiệm vụ xét duyệt hồ sơ của người lao động khi họ đủ điều kiện để hưởng các chế
độ BHXH dài hạn theo quy định còn việc tổ chức thực hiện chi trả cho người lao động
thời kỳ này cơ quan Lao động Thương binh và Xã hội thực hiện hoàn toàn thông qua
các đại lý chi trả ở xã, phường, thị trấn. Bên cạnh những mặt đạt được của cơ chế này là
nhìn chung người lao động khi có đủ điều kiện được hưởng các chế độ BHXH dài hạn
đã được đơn vị sử dụng lao động phối hợp với cơ quan Lao động Thương binh và Xã
hội, cơ quan Tài chính ở địa phương đảm bảo xét duyệt và chi trả đúng theo quy định
của luật. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện công tác quản lý chi BHXH cho
các chế độ BHXH dài hạn cũng đã bộc lộ những hạn chế cơ bản sau:

Thứ nhất: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội không chủ động được nguồn
chi trả, việc chi trả có đầy đủ, kịp thời hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ngân sách
nhà nước, vào Sở Tài chính ở các địa phương. Vì vậy, hiện tượng chậm lương hưu và
trợ cấp BHXH ở thời kỳ này diễn ra th ường xuyên và thậm chí có thời gian người nhận
lương hưu phải chờ từ
2-3 tháng mới có, gây khó khăn cho đời sống của đối tượng vốn đã khó khăn nay lại
càng khó khăn hơn.

Thứ hai: Hiệu quả kinh tế của pháp luật quản lý chi BHXH không được quan
tâm, do cơ chế vận hành như trên nên quá trình xét duyệt không ít trường hợp mặc dù
không đủ trên chuẩn theo quy định của pháp luật nhưng vẫn được xét duyệt tạo nên sự
không công bằng trong những người lao động tham gia và hưởng BHXH, đồng thời gây
thất thoát cho ngân sách nhà nước. Một cơ chế không hợp lý như vậy đã làm cho chính
sách BHXH nói chung và các quy định của pháp luật về quản lý chi BHXH nói riêng
kém hiệu quả, số thu vào quỹ quá thấp so với quy định, nên ngân sách nhà nước phải
cấp bù ngày càng tăng.

Thứ ba: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội vừa là cơ quan xây dựng hoạch
định chính sách BHXH lại vừa là cơ quan tổ chức thực hiện các chế độ chính sách
BHXH. Sự lẫn lộn giữa chức năng quản lý nhà nước về BHXH và chức năng quản lý sự
nghiệp BHXH đã làm hạn chế đáng kể hiệu quả thực hiện chính sách BHXH và gây ra
nhiều bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện quản lý chi trả các chế độ BHXH.

Tóm lại, ở thời kỳ này quỹ BHXH chỉ tồn tại trên danh nghĩa, còn thực tế thì
không do vậy kinh phí để chi trả cho các chế độ BHXH chủ yếu là do ngân sách nhà
nước đảm bảo; mặt khác pháp luật về quản lý chi BHXH lại thực hiện trong cơ chế bao
cấp nên hiệu quả đạt được còn thấp và xuất hiện nhiều hạn chế, bất cập cần được sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp như: Tổ chức chi trả BHXH phân tán, do nhiều cơ quan thực hiện,
cơ quan chi trả BHXH không quan tâm và cũng không chịu trách nhiệm về nguồn kinh
phí chi trả, vì vậy việc quản lý quỹ, cũng như quản lý đối tượng hưởng BHXH trong
thời kỳ không được quan tâm đúng mức, bị buông lỏng, hiệu quả kém dẫn đến những
thất thoát, tiêu cực… trong công tác quản lý chi BHXH.

2.2.2.2. Thời kỳ từ 1995 đến nay

Đây là thời kỳ chính sách BHXH cũng như cơ chế tổ chức thực hiện có bước
chuyển đổi quan trọng nhằm xóa bỏ tư duy bao cấp, ỷ lại trong lĩnh vực BHXH với
nguyên tắc quan trọng là người lao động phải đóng BHXH mới được hưởng quyền lợi
BHXH. Vì vậy, các quy định của pháp luật về tổ chức chi BHXH cũng đã được quy
định khá rõ và chi tiết kể từ nguồn chi và việc quản lý tổ chức chi trả cho người hưởng
chế độ BHXH.

* Về quản lý nguồn kinh phí chi BHXH

Cũng như thời kỳ trước, Bộ luật Lao động và Điều lệ BHXH có hiệu lực thi
hành từ 1/1/1995 đã quy định rõ có 2 nguồn là từ quỹ BHXH và từ ngân sách nhà nước,
nhưng ở thời kỳ này các quy định của pháp luật đã chi tiết, chặt chẽ và rõ ràng hơn, cụ
thể là:

- Nguồn từ ngân sách nhà nước đảm bảo chi trả cho các đối tượng đang hưởng
lương hưu và trợ cấp BHXH từ năm 1994 trở về trước. Theo số liệu bàn giao từ Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội cho Bảo hiểm xã hội Việt Nam vào năm 1995 là
1.762.167 người, đồng thời ngân sách nhà nước còn có trách nhiệm đóng và hỗ trợ quỹ
BHXH để chi trả cho người lao động có thời gian làm việc trước năm 1995 nhưng lại
nghỉ để hưởng các chế độ BHXH từ 1995 trở đi.

- Nguồn từ quỹ BHXH do BHXH Việt Nam quản lý đảm bảo để chi trả cho các
đối tượng đủ điều kiện để hưởng các chế độ BHXH từ 1995 trở đi. Như vậy về nguồn
đảm bảo chi trả; pháp luật quản lý chi BHXH ở thời kỳ này đã phân định rõ, tạo điều
kiện thuận lợi để các cơ quan chức năng thực hiện có hiệu quả chính sách BHXH nói
chung và đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời đúng chế độ cho đối tượng khi đủ điều kiện
để hưởng BHXH theo quy định của pháp luật. Hiện tượng chậm chi trả lương hưu và trợ
cấp BHXH trước đây đã được chấm dứt.
Tuy nhiên, thực tế quản lý hoạt động hoạt động chi trả thông qua việc phân định
rõ nguồn và tổ chức thực hiện chi trả BHXH cũng đã nảy sinh một số vấn đề cần được
xem xét giải quyết, cụ thể là:

Thứ nhất: Khoản kinh phí do ngân sách nhà nước đóng và hỗ trợ cho quỹ để chi
trả cho các đối tượng có thời gian làm việc trước 1995 nhưng lại về nghỉ hưu và hưởng
các chế độ trợ cấp BHXH từ năm 1995 trở đi chưa được thực hiện. Theo số liệu của Bộ
Lao động- Thương binh và Xã hội thì số năm làm việc bình quân trước năm 1995 của
người lao động là khoảng 14,5 năm. Sau đó ta căn cứ vào số người tham gia BHXH thuộc
khu vực Nhà nước có đến 1/1/1995 và mức tiền lương bình quân để sử dụng các phương
pháp tính ra số tiền mà ngân sách nhà nước phải hỗ trợ cho quỹ BHXH.

Thứ hai: Theo quy định tại Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 của Chính phủ,
hàng tháng ngân sách nhà nước có trách nhiệm chuyển tiền để cơ quan BHXH chi trả
cho các đối tượng hưởng BHXH do ngân sách nhà nước đảm bảo. Việc chuyển tiền này
đã được thực hiện đúng trong những năm đầu, từ năm 2002, Bộ Tài chính có Thông tư
số 38/2002/TT-BTC ngày 25/4/2002 quy định hàng tháng Bảo hiểm xã hội Việt Nam
ứng trước tiền từ quỹ quỹ BHXH để chi trả cho các đối tượng này, sau đó tổng hợp lại,
quyết toán với Bộ Tài chính để chuyển tiền trả cho quỹ BHXH. Thực hiện quy định này
phát hai vướng mắc sau: Một là, quy định của Bộ Tài chính như trên là không phù hợp
về thể thức và thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật nếu không muốn nói
là trái với quy định của Chính phủ. Hai là, thực hiện quy định này quỹ BHXH sẽ mất đi
phần lãi thu được của số tiền ứng cho ngân sách nhà nước. Khoản ứng này vào khoảng
1.200 tỷ đồng cho 1 tháng (số liệu của năm 2003) và thường là 2 tháng sau khi ứng tiền,
ngân sách nhà nước mới hoàn trả. Như vậy, nếu không phải ứng trước, quỹ BHXH sẽ
dùng số tiền này vào đầu tư tăng trưởng thì số lãi thu được cũng không phải là nhỏ (hiện
nay quy định này không còn thực hiện nữa, vì Bộ Tài chính đã có thông tư số
49/2003/TT-BTC hướng dẫn quy chế quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam thay
thế Thông tư 38 trên).

* Tổ chức quản lý chi trả các chế độ BHXH của cơ quan BHXHi
Việc tổ chức xét duyệt hồ sơ của người lao động khi đủ các điều kiện để hưởng
chế độ BHXH đã được pháp luật quy định rất cụ thể và chi tiết, từ điều kiện về thời gian
đóng BHXH, mức đóng, tuổi đời, mức hưởng... Ví dụ: Điều 25 Điều lệ BHXH quy định
người lao động được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng khi nghỉ việc mà có một trong
các điều kiện sau:

1. Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có thời gian đóng BHXH đủ
20 năm trở lên.

2. Nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên mà trong
20 năm đó có thời gian làm việc thuộc một trong các trường hợp sau:

- Đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc độc hại;

- Đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên;

- Đủ 10 năm công tác ở miền Nam, ở Lào trước ngày 30/4/1975 hoặc ở
Cămpuchia trước ngày 31/8/1989.

Điều 27 Điều lệ BHXH quy định:

Lương hưu hàng tháng tính theo số năm đóng BHXH và mức bình quân của
tiền lương hàng tháng làm căn cứ đóng BHXH như sau:

- Người lao động có thời gian đóng BHXH đủ 15 năm tính bằng 45% mức lương
bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH, sau đó cứ mỗi năm đóng
BHXH tính thêm 2%. Mức lương hưu hàng tháng tối đa bằng 75% mức bình quân của
tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH.

- Đối với người lao động hưởng chế độ hưu trí hàng tháng với mức lương hưu
tháng thấp hơn theo quy định (75%) nhưng cứ mỗi năm nghỉ việc hưởng lương hưu
trước tuổi so với quy định thì giảm đi 2% (tỷ lệ giảm này hiện là 1%) mức tiền lương của
tiền lương hàng tháng làm căn cứ đóng BHXH.

Mức lương hưu thống nhất cũng bằng mức tiền lương tối thiểu;


Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ đề cập việc tổ chức quản lý và
chi trả các chế độ BHXH diễn ra như thế nào chứ không đi vào phân tích các nghiệp vụ
cụ thể của cơ quan BHXH như mở sổ sách, biểu mẫu, thanh, quyết toán sau chi trả,
v.v...

Thực hiện nhiệm vụ trên, ngay từ năm 1995 Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã đưa
ra các quy trình xét duyệt và chi trả cụ thể cho từng chế độ, tất cả đều nhằm đạt được
mục đích là chi trả đầy đủ, kịp thời đúng chế độ cho người lao động, đồng thời đảm bảo
quản lý quỹ BHXH và quản lý đối tượng chặt chẽ theo đúng quy định của pháp luật.
Quy trình trên không ngừng được sửa đổi bổ sung và đổi mới cho phù hợp với yêu cầu
cải cách thủ tục hành chính và đưa công nghệ thông tin vào quản lý. Hiện tại, căn cứ
vào Thông tư hướng dẫn số 49/2003/TT-BTC ngày 16/5/2003 của Bộ Tài chính hướng
dẫn quy chế quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Bảo hiểm xã hội Việt
Nam đã có Quyết định số 1184/QĐ-BHXH-BC ngày 26/9/2003 quy định quản lý, chi
trả các chế độ BHXH, trong đó nêu rõ trách nhiệm và quy trình quản lý, chi trả các chế
độ, cụ thể là:

Về trách nhiệm và phân cấp:

- Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố phải chịu trách nhiệm toàn diện trong việc xét
duyệt và tổ chức chi trả các chế độ BHXH trên địa bàn quản lý. Trực tiếp xét duyệt và
chi trả các chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức, trợ cấp một lần cho người
lao động làm việc trong các đơn vị trực tiếp do Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố thu và
ghi sổ BHXH.

Bảo hiểm xã hội quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau gọi tắt là Bảo
hiểm xã hội huyện) chịu trách nhiệm tổ chức xét duyệt và chi trả trợ cấp ốm đau, thai
sản, nghỉ dưỡng sức ở những đơn vị trực tiếp quản lý thu và ghi sổ BHXH và những
đơn vị do Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố ủy quyền chi trả; thực hiện chi trả chế độ trợ
cấp một lần cho người lao động do Bảo hiểm xã hội huyện quản lý; thực hiện chi trả các
chế độ BHXH hàng tháng cho các đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH trên địa bàn
quản lý.

Về quy trình chi trả:
Để đảm bảo thực hiện đúng các quy định của pháp luật về quản lý chi BHXH,
quản lý quỹ BHXH được chặt chẽ, đối tượng được nhận tiền BHXH thuận tiện, đầy đủ,
kịp thời, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã xây dựng và thực hiện quy trình sau cho từng
loại chế độ.

- Chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng (thường xuyên)

Đối với Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố, hàng tháng phòng Chế độ chính sách
căn cứ vào số đối tượng hưởng BHXH thường xuyên đang quản lý và số tăng mới do
xét duyệt trong kỳ, số giảm trong kỳ, lập danh sách và mức tiền hưởng chuyển phòng
Công nghệ thông tin in danh sách chi trả, sau đó danh sách này được phòng Chế độ
chính sách kiểm tra lại trước khi chuyển phòng Kế hoạch Tài chính để lập bảng tổng
hợp chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH theo từng nguồn kinh phí (ngân sách nhà nước,
quỹ BHXH), theo từng đối tượng (hưu trí, mất sức lao động, tuất...) và chuyển xuống
Bảo hiểm xã hội huyện để thực hiện chi trả cho đối tượng. Đồng thời cũng quy định rõ
sau mỗi đợt chi trả, chậm nhất là 5 ngày Bảo hiểm xã hội huyện phải có trách nhiệm
thanh quyết toán đối với Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố.

- Chi trả các chế độ trợ cấp một lần

Hàng tháng căn cứ vào số xét duyệt được hưởng BHXH một lần, phòng Chế độ
Chính sách lập danh sách theo từng loại đối tượng, nguồn kinh phí và theo đơn vị tỉnh,
huyện để thực hiện chi trả theo phân cấp hoặc ủy quyền gửi Bảo hiểm xã hội huyện để
thực hiện chi trả.

- Chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản và nghỉ dưỡng sức

Định kỳ hàng tháng hoặc quý phòng Giám định chỉ tiếp nhận hồ sơ ốm đau,
thai sản, nghỉ dưỡng sức từ các đơn vị sử dụng lao động; tổng hợp danh sách chuyển
phòng thu BHXH đối chiếu xem người lao động và đơn vị đã thực hiện đủ và đúng
nghĩa vụ đóng BHXH theo quy định hay chưa, sau đó lập danh sách chuyển phòng Kế
hoạch tài chính để cấp kinh phí và ủy quyền cho đơn vị sử dụng lao động chi trả cho
người lao động.

Ngoài ra, quy định còn nêu rõ hàng tháng, hàng quý, tùy theo từng loại đối
tượng quản lý và chi trả, Bảo hiểm xã hội huyện phải báo cáo, thanh quyết toán số tiền đã
chi trả với Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố; Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố, hàng
tháng, hàng quý phải gửi báo cáo, thanh quyết toán với Bảo hiểm xã hội Việt Nam về số
tiền đã chi trả trong kỳ; đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam, hàng năm phải tổng hợp
quyết toán thu, chi BHXH để Hội đồng quản lý thông qua trước khi gửi sang Bộ Tài
chính phê duyệt.

Ngoài các biện pháp nghiệp vụ như đã nói ở trên, để thực hiện có hiệu quả các
quy định của pháp luật về quản lý chi BHXH, trong thời gian qua, cơ quan BHXH đã
đặt trọng tâm vào việc quản lý đối tượng hưởng BHXH. Vì việc tăng, giảm đối tượng
hưởng BHXH có liên quan trực tiếp đến số tiền phải chi ra (trường hợp đối tượng tăng)
hoặc giảm đi (trường hợp đối tượng giảm) của ngân sách nhà nước và quỹ BHXH. Tuy
nhiên, trong việc quản lý này hiện nay cũng còn một số hạn chế, cụ thể là:

- Với các đối tượng hưởng chế độ mất sức lao động: Trước đây mất sức lao
động là một trong các chế độ BHXH, chỉ từ năm 1995 chế độ này mới bị loại bỏ, đặc
thù của các đối tượng này là hưởng có thời hạn, chỉ một số ít với các điều kiện chặt chẽ
như mất sức lao động từ 81% trở lên hay những người khi về nghỉ việc đã hết tuổi lao
động; những người không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập… mới được hưởng
dài hạn, không bị cắt. Ngoài các trường hợp trên khi hết thời hạn hưởng là bị cắt, nhưng
trên thực tế những đối tượng này phần lớn là có hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, chính
quyền một số địa phương có xu hướng can thiệp với cơ quan BHXH để họ tiếp tục được
hưởng. Mặt khác, sự theo dõi, quản lý đối tượng này của một số Bảo hiểm xã hội tỉnh,
thành phố chưa chặt chẽ nên thường xảy ra hiện tượng cắt chậm hoặc không cắt, gây
thất thoát ngân sách nhà nước và tạo sự không công bằng giữa các đối tượng bị cắt và
không bị cắt ở cùng một địa phương hoặc ở các địa phương khác nhau (địa phương nào
thực hiện nghiêm thì các đối tượng khi đến hạn hưởng bị cắt, ngược lại địa phương nào
thực hiện không nghiêm, các đối tượng vẫn được hưởng).

- Đối với các đối tượng hưởng chế độ tuất cũng có tình hình tương tự, nhưng số
đối tượng này không nhiều lắm. Để thấy rõ tầm quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp của
công tác quản lý đối tượng đến việc quản lý chi BHXH ta có thể tham khảo các số liệu ở
biểu số 2.6.
Biểu số 2.6: tình hình tăng giảm đối tượng hưởng các chế độ BHXH
từ 1995 đến 2003

Đối tượng xét
Đối tượng do Tăng, giảm so Tăng so với
duyệt mới
Năm NSNN chi trả với năm trước năm trước
trong năm
(người) (%) (%)
(người)

1995+ 1.762.167 1.012

1996* 1.750.418 +0,7 34.830 +24,4

1997 1.716.257 -2,04 40.379 +15,9

1998 1.683.500 -1,91 42.409 +6,2

1999 1.650.709 -1,95 50.303 +17,2

2000 1.616.673 -2,01 58.335 +15,9

2001 1.588.595 -1,8 66.356 +13,7

2002 1.557.004 -2,0 68.451 +3,1

2003 1.525.000 -2,1 80.963 +18,2

Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

+ Số xét duyệt mới trong năm 1995 là của quý IV

* Đối tượng do NSNN đảm bảo chi trả năm 1996 tăng hơn so với năm 1995 là
do trong năm phải giải quyết các tồn đọng từ các năm trước.

Qua bảng số liệu trên ta thấy, hàng năm số đối tượng do ngân sách nhà nước
đảm bảo chi trả luôn có xu hướng giảm, bình quân khoảng 2% là do các đối tượng bị
chết và hết thời hạn được hưởng. Ngược lại, các đối tượng do quỹ BHXH đảm bảo chi
trả lại có xu hướng tăng lên hàng năm, bình quân khoảng 15% mỗi năm. Vì vậy, việc
quản lý chặt chẽ số đối tượng trên có ý nghĩa kinh tế và xã hội rất lớn trong quá trình tổ
chức thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý chi trả BHXH.
Về hình thức chi trả BHXH, để đảm bảo thực hiện tốt công tác chi trả cho đối
tượng theo đúng quy định của pháp luật, cơ quan BHXH đã kết hợp hai hình thức thức
chi trả là chi trả trực tiếp và chi trả gián tiếp.

Chi trả trực tiếp là hình thức chi trả do của cơ quan BHXH trực tiếp chi trả cho
đối tượng nhận lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng.

Chi trả gián tiếp là hình thức cơ quan BHXH chi trả cho đối tượng nhận lương
hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng thông qua đại lý chi trả BHXH ở xã, phường, thị trấn.
Thực hiện hình thức này cơ quan BHXH phải ký hợp đồng trách nhiệm với ủy ban nhân
dân xã, phường, thị trấn sau đó chính quyền địa phương chọn người để lập ra các đại lý
chi trả, các đại lý này hàng tháng có trách nhiệm nhận tiền từ cơ quan BHXH chi trả cho
đối tượng sau đó thanh quyết toán lại với cơ quan BHXH sau mỗi lần chi trả.

Hình thức chi trả trực tiếp thường được áp dụng tại các địa bàn dân cư tập
trung, giao thông đi lại dễ dàng, ngược lại hình thức chi trả gián tiếp thường được áp
dụng ở những địa bàn đối tượng hưởng BHXH sống không tập trung, giao thông đi lại khó
khăn. Việc kết hợp cả hai hình thức trên trong các năm qua đã tạo điều kiện để cơ quan
BHXH thực hiện tốt nhiệm vụ chi trả và quản lý đối tượng. Tuy nhiên, có điều cần lưu ý
ở đây là cả hai hình thức chi trả đều sử dụng 100% tiền mặt, đây là một lượng tiền rất
lớn nếu không có các biện pháp quản lý chặt chẽ sẽ dễ dẫn đến các hiện tượng tiêu cực.

Tóm lại, với việc quy định trách nhiệm, phân cấp xây dựng và thực hiện quy
trình chi trả, quản lý đối tượng hưởng BHXH như trên, trong thời gian qua, về cơ bản cơ
quan BHXH đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về quản lý chi trả BHXH, đảm
bảo chi trả đầy đủ, kịp thời và thuận tiện cho đối tượng, đồng thời quản lý quỹ chặt chẽ,
không gây thất thoát.

* Đánh giá chung tình hình thực hiện pháp luật về quản lý chi bảo hiểm xã
hội

Những kết quả đạt được:

- Một là: Với sự đổi mới cơ bản chính sách và cơ chế thực hiện chế độ chính
sách BHXH, quỹ BHXH do Bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý đã được hình thành, tồn
tại trên thực tế và có xu hướng ngày càng tăng. Nhờ vậy, cơ quan BHXH luôn có đủ
kinh phí và chủ động chi trả cho đối tượng được hưởng các chế độ BHXH. Về phía đối
tượng, luôn được nhận lương hưu và trợ cấp BHXH đầy đủ, kịp thời, an toàn và thuận
tiện. Hiện tượng chậm nhận lương hưu và trợ cấp BHXH đã chấm dứt, các quy định của
pháp luật về quản lý chi BHXH đã được thực hiện có hiệu quả.

Trong quá trình chi trả các chế độ ốm đau, thai sản và hưu trí, ngoài việc đảm
bảo đúng các quy định của pháp luật, cơ quan BHXH còn có những đổi mới theo hướng
cải cách thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các đối tượng được hưởng
BHXH. Cụ thể, từ tháng 10 năm 1996, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thường xuyên ứng
trước tiền để các đơn vị sử dụng lao động chủ động chi trả trợ cấp ốm đau, thai sản cho
người lao động sau đó mới quyết toán dựa trên các chứng từ hợp lệ của người lao động
(theo quy định sau khi quyết toán với cơ quan BHXH, đơn vị mới được chi trả cho
người lao động). Còn đối với những người hưởng chế độ hưu trí, theo quy định chỉ được
lĩnh lương tại nơi có hộ khẩu thường trú, nhưng trên thực tế qua công tác quản lý theo
dõi đối tượng, có các trường hợp vì lý do cá nhân như đi thăm và ở với con, cháu, ở tỉnh
khác trong thời gian từ 3 tháng trở lên thì việc lĩnh lương hưu của các đối tượng này
phải ủy quyền cho người khác lĩnh hộ. Để khắc phục tình trạng này, Bảo hiểm xã hội
Việt Nam đã xây dựng quy trình quản lý công tác chi trả để các đối tượng này được
nhận lương hưu ở nơi tạm trú. Đây là những cải cách thủ tục hành chính được người lao
động đánh giá cao, đồng thời cơ quan BHXH vẫn quản lý chặt chẽ quỹ BHXH theo
đúng quy định của Nhà nước.

Trong 9 năm qua, kể từ năm 1995 đến 2003, cơ quan BHXH Việt Nam đã thực
hiện tương đối tốt các quy định của pháp luật về quản lý chi trả BHXH, đảm bảo chi trả
đầy đủ, kịp thời và an toàn 65.202.775 triệu đồng cho hàng triệu đối tượng tham gia và
hưởng BHXH.

Biểu số 2.7: Tình hình chi trả các chế độ BHXH

Trong đó
Chi trả BHXH
Năm Quỹ BHXH bảo
(triệu đồng) NSNN đảm bảo
đảm
1995* 1.153.984 1.112.030 41.954

1996 4.771.053 4.387.903 383.150

1997 5.756.618 5.163.093 596.525

1998 5.880.054 5.128.425 751.629

1999 5.955.971 5.015.620 940.351

2000 7.574.776 6.239.494 1.335.282

2001 9.177.749 7.321.410 1.856.339

2002 9.618.570 7.033.016 2.585.554

2003+ 15.314.000 9.864.000 5.450.000

Tổng số 65.202.775 51.264.991 13.937.784

Nguồn: Báo cáo quyết toán hàng năm của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

* Số liệu năm 1995 là của của quý IV

+ Số liệu của năm 2003 bao gồm cả phần chi BHYT tế do quỹ đảm bảo là
1.562.000 triệu đồng

Hai là: Do việc tổ chức thực hiện chính sách BHXH được tập trung về một đầu
mối nên trên cơ sở các quy định của pháp luật về quản lý chi BHXH, cơ quan BHXH có
điều kiện để nghiên cứu cải tiến quy trình xét duyệt hồ sơ, tổ chức chi trả và quản lý các
đối tượng hưởng BHXH. Điều này là hết sức cần thiết trong điều kiện ứng dụng mạnh
mẽ công nghệ thông tin vào công tác chi trả và quản lý đối tượng hưởng BHXH hiện
nay.

Ba là: Quỹ BHXH có điều kiện và chủ động hơn trong việc cân đối thu, chi và
đầu tư, tăng trưởng quỹ. Theo quy luật chung, thời kỳ đầu quỹ BHXH mới chỉ phải đảm
bảo chi trả cho một số rất ít đối tượng, lấy năm 1996 làm ví dụ: quỹ BHXH thu được
2.569.733 triệu đồng nhưng trong năm mới chỉ chi 383.150 triệu đồng, số còn lại là
phần tạm thời "nhàn rỗi" của quỹ được đưa vào đầu tư tăng trưởng.
Những hạn chế:

Khác với việc tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý thu BHXH, việc tổ chức
thực hiện pháp luật về quản lý chi BHXH của cơ quan BHXH về cơ bản là không có
những vướng mắc, hạn chế lớn, mà chỉ có những hạn chế tập trung vào một số nội dung
sau:

Một là: chính sách BHXH nói chung và các quy định của pháp luật về quyền lợi
BHXH được hưởng của đối tượng không ổn định, thường xuyên có sửa đổi, bổ sung.
Trên thực tế chỉ cần một sửa đổi, bổ sung nhỏ trong chính sách thì lập tức ảnh hưởng
đến quyền lợi của hàng triệu đối tượng, chẳng hạn như: quy định của chính sách về thay
đổi mức tiền lương tối thiểu hay đối tượng nghỉ hưu và trợ cấp BHXH được tăng thêm
mức hưởng v.v... Mỗi lần như vậy, sẽ làm tăng thêm một khối lượng rất lớn công việc
cho cơ quan BHXH trong quá trình điều chỉnh mức hưởng cho từng đối tượng, nếu
không được quản lý chặt chẽ, sẽ gây thất thoát rất lớn cho ngân sách nhà nước và quỹ
BHXH. Trong khi đó, việc sửa đổi, bổ sung chế độ, chính sách của ta thường là không
đồng bộ, do vậy gây ra những chênh lệch, không bình đẳng giữa các đối tượng hưởng
lương hưu và trợ cấp BHXH qua từng thời kỳ khác nhau.

Hai là: Các quy định của pháp luật xử lý những vi phạm trong việc quản lý, chi
trả các chế độ BHXH chưa cụ thể, cơ chế thực hiện chưa rõ, còn chồng chéo, do vậy
trên thực tế đã xảy ra hiện tượng một số địa phương (cả phía chính quyền và cơ quan
BHXH) thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật thì đối tượng bị cắt giảm ngay
khi đã hết thời hạn được hưởng (đối với chế độ mất sức lao động và tử tuất), ngược lại
những địa phương nào không thực hiện nghiêm, các đối tượng mặc dù đã hết thời gian
được hưởng nhưng vẫn tiếp tục được hưởng, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước và
sự không công bằng giữa các đối tượng. Cho đến nay, hiện tượng cắt giảm chậm thường
xuyên xảy ra ở nhiều địa phương nhưng rất ít trường hợp nào bị xử lý, còn việc thu hồi
lại số tiền đã chi sai gây thất thoát quỹ là rất khó khăn và hầu như không thể thực hiện
được vì phần lớn đối tượng không có khả năng hoàn trả.

Ba là: Hiện nay, do điều kiện thực tế là tất cả các đối tượng hưởng BHXH đều
không có tài khoản cá nhân tại các ngân hàng hay quỹ tiết kiệm gần nơi cư trú. Do vậy,
lượng tiền mặt để chi trả hàng tháng là rất lớn, bình quân hàng tháng lên đến 1.267 tỷ
đồng (số liệu năm 2003) trong khi đó các phương tiện vận chuyển, bảo quản tiền mặt
chuyên dùng từ Kho bạc, Ngân hàng về các điểm chi trả chưa có, chủ yếu vẫn dùng xe
máy, xe đạp, thậm chí ở các tỉnh miền núi còn thuê cả xe ôm, xe ngựa. Hạn chế này nếu
không sớm được khắc phục thì các hiện tượng tiêu cực và những rủi ro trong quá trình
chi trả cho đối tượng là khó tránh khỏi.

2.2.3. Cân đối thu, chi quỹ bảo hiểm xã hội

Để đảm bảo hoạt động BHXH theo cơ chế mới đạt hiệu quả cao thì việc tính
toán, cân đối thu, chi quỹ BHXH trong một thời gian dài là hết sức quan trọng nếu
không cân nhắc và thực hiện, nhất quán nguyên tắc này, quỹ BHXH sẽ dần dần bị thâm
hụt và khi đó lại trở về cơ chế cũ tức là ngân sách nhà nước lại bao cấp để chi trả các
chế độ BHXH. Đây là điều không thể chấp nhận được trong điều kiện hiện nay của
nước ta.

Để đảm bảo cân đối thu, chi quỹ BHXH, các nhà hoạch định, xây dựng và tổ
chức thực hiện chính sách BHXH, trong đó quan trọng nhất là các chính sách về thu, chi
BHXH phải tính đến tất cả các yếu tố thuộc các lĩnh vực về kinh tế, về chính trị và xã
hội tác động đến, trong đó phải đặc biệt quan tâm đến các yếu tố chủ yếu sau:

- Số đối tượng tham gia BHXH hiện tại và dự kiến tốc độ tăng qua các năm
cũng như mức lương bình quân làm căn cứ đóng BHXH và tỷ lệ đóng của người lao
động, đơn vị sử dụng lao động và sự hỗ trợ, đảm bảo của Nhà nước trong các trường
hợp bất khả kháng.

- Số đối tượng hưởng BHXH chia theo từng chế độ và mức hưởng. Dự báo số
đối tượng hưởng BHXH tăng lên hàng năm và tuổi thọ bình quân của đối tượng.

- Tác động của chính sách đến nghĩa vụ và quyền lợi BHXH của người lao
động.

Với đặc thù hoạt động BHXH của nước ta và các quy định hiện hành của pháp
luật như: mức đóng bằng 23% (bao gồm cả BHYT), trong đó người lao động đóng bằng
6% tiền lương tháng, người sử dụng lao động đóng bằng 17% tổng quỹ lương. Với mức
hưởng tương đối cao như hiện nay thì như phần trên ta đã phân tích, quỹ BHXH chỉ có
thể cân đối được trong một thời gian ngắn, và nếu không có gì thay đổi về các yếu tố
trên, quỹ BHXH sẽ đạt ngưỡng thu bằng chi, quỹ bị thâm hụt dần và mất khả năng cân
đối trong khoảng 10 - 15 năm nữa. Để minh chứng cho lập luận trên ta chỉ cần làm một
phép tính đơn giản: Một người lao động bắt đầu vào làm việc từ năm 18 tuổi và tham
gia đóng BHXH ngay từ năm đầu cho đến khi đủ tuổi về hưu. Ta giả sử mức lương bình
quân làm căn cứ đóng BHXH trong suốt thời gian 42 năm là 700.000 đồng (tính đến khi
người lao động đủ 60 tuổi) thì người lao động đóng vào quỹ BHXH là:

700.000 x 5% x 12 tháng x 42 năm = 17.640.000 đồng

Tương tự vậy đơn vị sử dụng lao động đóng vào quỹ là:

700.000 x 15% x 12 tháng x 42 năm = 52.920.000 đồng

Tổng cả hai khoán đóng này là: 70.560.000 đồng

Ta giả sử tiếp, người lao động sau khi nghỉ hưu sống được 15 năm, trong 15
năm ấy họ được hưởng 75% của mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH là 700.000
đồng, với tổng số tiền là:

700.000 đồng x 75% x 12 tháng x 15 năm = 94.500.000 đồng

Chênh lệch do quỹ BHXH phải bù ra là 23.940.000 đồng, đấy là ta chưa tính
đến trường hợp sau khi chết nếu đối tượng đó có thân nhân phải chăm sóc mà đủ điều
kiện họ còn được hưởng tiếp chế độ tiền tuất. Tất nhiên trong thực tế còn rất nhiều yếu
tố tác động đến quá trình đóng và hưởng này như lãi suất tiết kiệm, quá trình lao động
sản xuất người lao động bị ốm đau, tai nạn lao động... Tất cả các yếu tố đó ở đây ta giả
sử như không thay đổi. Như vậy, rõ ràng với mức đóng và hưởng như hiện nay, nếu
không có sự thay đổi thì quỹ BHXH sẽ bị thâm hụt trong khoảng 10 đến
15 năm nữa là điều khó tránh.

Theo quy định của Bộ luật Lao động và Điều lệ BHXH, quỹ BHXH chỉ phải
đảm bảo chi trả 5 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí
và tử tuất, nhưng mới thực hiện được 6 năm Chính phủ lại có quyết định cho người lao
động được hưởng chế độ nghỉ dưỡng sức (riêng chế độ này mỗi năm quỹ BHXH phải
chi ra trên 200 tỷ đồng) trong khi đó mức đóng BHXH vẫn giữ nguyên, chưa có gì thay
đổi. Ngoài ra, còn một số chính sách nữa liên quan đến giảm tuổi nghỉ hưu. Các chính
sách này ảnh hưởng đáng kể và trực tiếp đến khả năng chi trả của quỹ BHXH vì thời
gian đóng của người lao động ngắn lại trong khi đó thời gian hưởng hưu lại dài ra.

Tóm lại, để tính toán cân đối thu chi quỹ BHXH trong một thời gian dài đòi hỏi
các nhà hoạch định chính sách khi đưa ra mức đóng, mức hưởng cũng như các điều kiện
được hưởng phải tính đến rất nhiều yếu tố, đặc biệt là yếu tố chính sách, đây là điểm
hạn chế của ta trong thời gian qua, cụ thể là mức đóng vẫn được giữ nguyên nhưng chỉ
cần đưa ra một chính sách mà không tính đến khả năng chi trả, cân đối quỹ trong điều
kiện kinh tế thị trường thì chắc chắn sẽ càng rút ngắn hơn thời gian thâm hụt quỹ
BHXH.

Ngoài ra, tác động của yếu tố tăng thu và chi BHXH trong các năm qua cũng rất
đáng để chúng ta quan tâm xem xét, xem biểu số 8.

Biểu số 2.8: tình hình thu và chi quỹ BHXH từ 1995- 2003


Năm Thu BHXH Tốc độ tăng so Chi BHXH Tốc độ tăng so
(triệu đồng) (triệu đồng)
với năm trước với năm trước
(%) (%)

1995+ 778.486 41.954

1996 2.569.733 383.150

1997 3.445.661 34 593.525 26,6

1998 3.875.956 12,4 751.629 25,1

1999 4.186.054 8 940.351 41,9

2000 5.198.221 24,1 1.335.282 39,0

2001 6.348.184 22,1 1.856.339 39,0

2002 6.963.022 9,6 2.585.554 39,2
2003* 11.635.000 67,8 5.450.000 110,7

Nguồn: Báo cáo quyết toán hàng năm của Bảo hiểm xã hội Việt Nam

+ Số thu năm 1995 là của 6 tháng cuối năm, còn số chi là của quý IV

* Số thu năm 2003 gồm cả phần thu BHYT (1.997.000 triệu đồng)

Nhìn vào số liệu biểu trên cho ta thấy tốc độ chi hàng năm tăng bình quân 35-
40% trong khi đó tốc độ thu chỉ tăng bình quân từ 15- 20%. Còn nhìn vào từng năm cụ
thể ta lại càng thấy rõ hơn sự cách biệt này, chẳng hạn: Năm 1999 trong khi tốc độ thu
tăng so với năm 1998 là 8% thì tốc độ tăng chi đã tăng lên 41,9%, hay năm 2003 tốc độ
thu tăng 67,8% thì tốc độ chi đã tăng 110,7%. Có tình hình này là do số lao động và đơn
vị tham gia BHXH tăng thấp chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, hay nói cách khác
là còn rất nhiều lao động trong diện phải tham gia BHXH bắt buộc chưa thực hiện nghĩa
vụ đóng BHXH. Trong khi đó, do quy định quỹ BHXH phải đảm bảo chi trả cho các đối
tượng nghỉ làm việc để hưởng lương hưu và các chế độ BHXH khác từ 1995 trở đi, do
vậy số đối tượng này có ít nhất là vào năm 1995 (1.012 người) sau đó tăng dần qua các
năm (bình quân mỗi năm tăng thêm 70.000-80.000 người).

Đưa ra các vấn đề trên là để thấy được nếu chúng ta không đổi mới mạnh hơn
nữa tư duy theo cơ chế thị trường trong việc hoạch định, xây dựng và tổ chức thực hiện
chính sách BHXH, nếu ta không đánh giá hiệu quả hoạt động BHXH và sử dụng quỹ
BHXH trên cả hai mặt là kinh tế và xã hội (từ trước đến nay ta mới quan tâm đến hiệu
quả xã hội, hiệu quả kinh tế chưa được chú ý) thì việc cân đối thu, chi quỹ BHXH của
chúng ta trong một thời gian dài là rất khó khăn, không khả thi.
Chương 3

Định hướng và giải pháp
hoàn thiện pháp luật về quản lý thu, chi
Bảo hiểm xã hội ở nước ta đến năm 2010



3.1. Những định hướng cơ bản

3.1.1. Pháp luật về quản lý thu, chi BHXH phải thể hiện được đường lối đổi
mới của Đảng và Nhà nước

Định hướng này nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của người lao động, đồng thời
đảm bảo sự bình đẳng của các bên tham gia BHXH, góp phần ổn định cuộc sống của
người lao động trong quá trình lao động và sau lao động. Đây là định hướng hết sức
quan trọng, vì từ đây, các nhà hoạch định, xây dựng chính sách BHXH, nhất là các
chính sách có liên quan trực tiếp đến mức đóng, mức hưởng BHXH cũng như việc quy
định các điều kiện được hưởng. Nếu trong quá trình hoạch định, xây dựng chính sách
mà xa rời định hướng này, thì chính sách khi xây dựng xong, đưa vào thực hiện trong
cuộc sống sẽ không đảm bảo tính khả thi, nhất là mỗi khi Đảng và Nhà nước có chủ
trương mở rộng đối tượng tham gia cũng như tăng thêm quyền lợi BHXH được hưởng
cho đối tượng.

3.1.2. Mở rộng phạm vi và đối tượng tham gia BHXH, BHYT

Những năm gần đây và nhất là từ 2003, đối tượng tham gia BHXH, BHYT mặc
dù đã được mở rộng ra với tất cả mọi người lao động làm việc theo hợp đồng lao động
có thời hạn từ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các
doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức (trước năm 2003 chỉ hạn chế trong các doanh nghiệp có
sử dụng từ 10 lao động trở lên). Nhưng trên thực tế, thời gian qua số lao động tham gia
BHXH, BHYT còn hạn chế, chủ yếu vẫn là lao động làm việc trong khu vực kinh tế nhà
nước, còn trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh số lao động tham gia mới chỉ đạt 15 -
20%. Vì vậy, định hướng này nhằm đảm bảo nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro, đảm
bảo khả năng chi trả và tăng trưởng của quỹ BHXH, cũng như đảm bảo quyền lợi chính
đáng của người lao động về BHXH theo quy định của pháp luật. Về định hướng này,
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: "Từng bước mở rộng vững
chắc hệ thống bảo hiểm và an sinh xã hội, tiến tới áp dụng chế độ BHXH cho mọi người
lao động; mọi tầng lớp nhân dân" [34, tr. 212]; "đổi mới cơ chế, chính sách viện phí, mở
rộng y tế tự nguyện, tiến tới BHYT toàn dân, có chính sách giúp cho người nghèo được
khám, chữa bệnh" [34, tr. 214].

3.1.3. Nhà nước thống nhất ban hành chế độ, chính sách BHXH theo
hướng phát huy quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia BHXH, đồng thời xác
định rõ trách nhiệm của Nhà nước

Đối với các nước phát triển, hoạt động BHXH của họ đã có từ rất nhiều năm và
cơ bản là ổn định vì các chế độ chính sách BHXH của họ luôn tuân theo cơ chế thị
trường. ở những nước này, các chính sách lớn về an sinh xã hội vẫn được Nhà nước ban
hành và đảm bảo thực hiện bằng pháp luật. Tuy nhiên, bên cạnh hệ thống chính sách
của Nhà nước, thì các tổ chức tư nhân cũng được phép tham gia hoạt động và tất nhiên
là trong khuôn khổ luật pháp quy định.

Đối với nước ta, thời gian thực hiện chế độ chính sách BHXH chưa phải là dài,
hơn nữa lại thực hiện chủ yếu trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, quỹ BHXH
chỉ tồn tại trên danh nghĩa còn thực tế thì không, chúng ta lại mới chuyển đổi chính
sách, cơ chế hoạt động BHXH sang cơ chế mới mà dựa trên nguyên tắc có đóng BHXH
mới được hưởng BHXH. Nên việc Nhà nước thống nhất ban hành các chế độ, chính
sách BHXH là điều cần thiết, vì chỉ có như vậy hoạt động BHXH mới đạt hiệu quả
thông qua việc đảm bảo bằng pháp luật của Nhà nước.

3.1.4. Pháp luật về quản lý thu, chi BHXH phải đảm bảo tính kế thừa và
phát triển, đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong khu
vực và thế giới

Định hướng này nhằm đảm bảo quan hệ hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính
sách xã hội; có tác dụng thúc đẩy cải cách kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ công
nghệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Là một chính sách xã hội lớn, liên quan trực tiếp đến đời
sống hàng ngày của hàng triệu lao động tham gia và hưởng BHXH, nhất là những người
hưởng BHXH trước năm 1995 và những người có thời gian làm việc trước năm 1995
nhưng lại hưởng BHXH từ 1995 trở đi. Để giải quyết quyền lợi của các đối tượng này,
chính sách BHXH trong thời kỳ đổi mới không thể "cắt đoạn" từ 1995 trở đi mà đòi hỏi
phải có các quy định linh hoạt phù hợp với tình hình của từng giai đoạn để xem xét, giải
quyết. Đặc thù trên của chính sách BHXH đã tự nó đòi hỏi phải có tính kế thừa; nếu không
kế thừa những nội dung, những quy định hợp lý của chính sách BHXH đã ban hành trước
thời kỳ đổi mới, thì quyền lợi của không ít người lao động sẽ bị thiệt thòi, thậm chí không
thể giải quyết được.

Chính sách BHXH trong thời kỳ đổi mới không chỉ kế thừa những nội dung,
những quy định hợp lý của các chính sách đã ban hành, mà điều quan trọng hơn là phải
thể hiện được sự đổi mới, phát triển của BHXH phù hợp với nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời theo kịp với các nước trong khu vực và thế giới về
lĩnh vực BHXH.

3.2. Những giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật về quản lý thu, chi bảo
hiểm xã hội

3.2.1. Đổi mới phương thức quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội

3.2.1.1. Về quản lý thu bảo hiểm xã hội

* Đổi mới và hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thu bảo hiểm xã
hội

Để việc thực thi các chế độ, chính sách về quản lý thu BHXH đạt hiệu quả cao,
trước hết cần phải đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách dựa trên nguyên tắc quyền và
nghĩa vụ phải luôn đi liền nhau; đóng nhiều hưởng nhiều, đóng ít hưởng ít, đóng mà
chưa hưởng thì được trợ cấp một lần; người sử dụng lao động có thuê lao động, hoặc tự
mình làm chủ cơ sở sản xuất phải có trách nhiệm đóng đầy đủ BHXH cho người lao
động, cho dù người lao động đó chỉ là các thành viên trong gia đình.

Nói như vậy không có nghĩa là tính cộng đồng xã hội, chia sẻ rủi ro trong hoạt
động BHXH không có, mà ngược lại, nếu ta thực hiện nghiêm túc các biện pháp trên thì
quỹ BHXH mới có thể tồn tại và ngày càng tăng trưởng khi đó tính cộng đồng xã hội và
chia sẻ rủi ro mới thực sự phát huy tác dụng, vì khi đó nhiều người đóng BHXH nhưng
chưa gặp rủi ro nên chưa hưởng để tập trung cho một số người gặp rủi ro hưởng trước.
Thực hiện giải pháp này, trước hết các nhà hoạch định chế độ, chính sách BHXH phải
có sự tổng kết thực tiễn để chỉ ra được tính quy luật của hoạt động BHXH trong thời
gian qua như thế nào, những mặt mạnh là gì, những vấn đề tồn tại hạn chế, nguyên nhân
và rút ra bài học kinh nghiệm. Khi hoạch định, xây dựng chính sách BHXH phải hết sức
lưu ý đến tính đồng bộ, toàn diện, phát triển và tính tương đối ổn định của chính sách;
phải bám sát quy luật vận động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
trong điều kiện của nước ta. Thực hiện được các yêu cầu trên, cũng có nghĩa là chúng ta
đã định ra được một tỷ lệ đóng, hưởng hài hòa, hợp lý và phù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội của đất nước ít nhất là đến năm 2010, chứ không nên cứng nhắc hay vì một lý do
chính sách, xã hội nào đó mà giữ mãi tỷ lệ đóng, hưởng như hiện nay là không có tính
khả thi cho việc bảo toàn và tăng trưởng quỹ trong một thời gian dài.

Điều quan trọng trong giải pháp này là phải nghiên cứu kỹ, phải tính đến tất cả
các yếu tố có tác động đến hoạt động thu, nộp BHXH cũng như quyền lợi, mức hưởng
BHXH của đối tượng để xây dựng và thực hiện chính sách BHXH ổn định trong một
thời gian tương đối dài, chứ không nên để xảy ra tình trạng chính sách vừa ban hành đã
không còn phù hợp với tình hình thực tế lại phải sửa đổi, bổ sung. Nếu để tình trạng này
xảy ra thì chắc chắn kết quả thu BHXH sẽ không cao và việc thực hiện các quy định của
pháp luật về quản lý thu BHXH cũng sẽ khó khăn, thậm chí một số trường hợp cụ thể là
không thể được và còn có tác dụng ngược lại. Mục tiêu quan trọng của giải pháp này là
Nhà nước phải sớm ban hành Luật Bảo hiểm xã hội, để tính pháp lý của các hoạt động
quản lý thu, chi BHXH được nâng cao hơn nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý vững chắc cho
quá trình tổ chức thực hiện.

* Tăng cường các biện pháp quản lý, thực hiện có hiệu quả việc mở rộng đối
tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế

Đây là giải pháp đồng thời cũng là nhiệm vụ hết sức quan trọng của cơ quan
BHXH trong giai đoạn từ nay đến 2010 và các năm tiếp theo. Trước hết, đối với BHXH
cần phải tập trung vào các đối tượng làm việc trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
vì hiện nay còn rất nhiều lao động trong khu vực này thuộc diện tham gia BHXH bắt
buộc nhưng chưa tham gia (khoảng 80%), nhiều người lao động làm việc trong khu vực
này chưa được pháp luật về BHXH đảm bảo khi rủi ro đến với họ. Ngoài loại hình
BHXH bắt buộc, Chính phủ cần khẩn trương triển khai loại hình BHXH tự nguyện, đây
là loại hình BHXH đã được quy định trong Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành từ
năm 1995, nhưng cho đến nay chưa được triển khai thực hiện. Tuy nhiên, đây là loại
hình mới ở nước ta. Vì vậy cần phải có các quy định, biện pháp và cơ chế thực hiện, cụ
thể là:

- Phải xây dựng mức đóng, mức hưởng cho phù hợp vừa đảm bảo quyền lợi của
đối tượng lại vừa đảm bảo cân đối thu chi quỹ BHXH.

- Xây dựng một quy trình quản lý thu, chi, quản lý đối tượng tham gia phù hợp
với đặc điểm việc làm và thu nhập của người lao động ở khu vực này.

Đối với BHYT, để thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân theo Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ IX, giai đoạn từ nay đến 2010 cần phải có các biện pháp cụ thể để thực
phân loại các nhóm đối tượng tham gia BHYT để có chính sách và biện pháp phù hợp
theo hướng đối tượng nào sẽ được mở rộng theo diện bắt buộc, đối tượng nào thực hiện
theo diện tự nguyện, qua thực hiện thời gian qua có thể chia ra làm các nhóm sau:

+ Nhóm 1: Gồm các đối tượng tham gia BHYT bắt buộc theo chính sách hiện
hành và các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội như: người có công với cách mạng,
người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi sẽ được cấp phiếu khám, chữa bệnh từ nguồn ngân sách
nhà nước.

+ Nhóm 2: Người lao động ở các doanh nghiệp có sử dụng dưới
10 lao động, học sinh, sinh viên lao động tự do có thu nhập ổn định và những người ăn
theo của đối tượng tham gia BHYT bắt buộc. Nhóm này cần phải đưa vào diện bắt buộc
phải tham gia.

+ Nhóm 3: Các đối tượng còn lại như lao động tự do thu nhập không ổn định,
xã viên hợp tác xã nông, lâm, ngư, diêm nghiệp. Những người thuộc nhóm này nên tổ
chức cho họ tham gia BHYT tự nguyện.
Với các biện pháp cụ thể và phù hợp trong từng năm, phấn đấu đến năm 2010
phải có khoảng 10 triệu lao động tham gia BHXH, chiếm khoảng 20% lực lượng lao
động xã hội và khoảng 40 triệu người tham gia BHYT, chiếm khoảng 45% dân số.

* Quỹ bảo hiểm xã hội phải được quản lý thống nhất, công khai và hạch toán
riêng theo từng nhóm chế độ

Nhìn lại quỹ BHXH từ năm 1995 đến nay, ta thấy nổi lên những mặt được là:
Quỹ hình thành và tồn tại trên thực tế, quỹ được quản lý thống nhất và ngày càng phát
triển, tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo chi trả đầy đủ và kịp thời các chế độ BHXH.
Tuy nhiên, nếu đi sâu vào phân tích ta vẫn thấy còn một số hạn chế, cụ thể là pháp luật
quy định quá chi tiết, nhưng lại chưa đầy đủ và gây sự hiểu lầm từ phía đối tượng. Theo
quy định trong 15% đóng của người sử dụng lao động thì có 5% để chi các chế độ ốm
đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, còn 10% để chi các chế độ hưu trí, tử
tuất. Người lao động đóng 5% để chi các chế độ hưu trí, tử tuất. Với quy định trên,
những năm qua phần 5% để chi cho các chế độ BHXH ngắn hạn thường là không hết
nhưng ngược lại 15% đề chi cho các chế độ BHXH dài hạn nếu tính trong một thời gian
dài là khó đảm bảo. Vì vậy, nhiều đơn vị sử dụng lao động cũng như người lao động
nhầm hiểu rằng số thu BHXH là quá lớn trong khi số chi lại ít, từ đó có sự hiểu không
đúng và các ý kiến khác nhau về quản lý và sử dụng quỹ BHXH.

Qua hoạt động thực tiễn cho thấy, điều rất cần thiết để đảm bảo quản lý và sử
dụng quỹ một cách có hiệu quả là phải phân định ra thành các quỹ thành phần theo từng
nhóm chế độ riêng biệt là ốm đau; thai sản; tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp; hưu trí
và tử tuất. Quỹ BHXH phải được quản lý và sử dụng theo nguyên tắc cân đối thu chi
của từng nhóm chế độ, đồng thời đảm bảo an toàn và phát triển thì lại chưa được quan
tâm. Trên thực tế, nếu được quan tâm đúng mức thì trong 9 năm qua các cơ quan chức
năng đã có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn để xác định mức đóng và mức hưởng cho từng
chế độ. Trên cơ sở đó, việc hình thành và tổ chức quản lý quỹ thành phần sẽ đạt hiệu
quả cao hơn cả về kinh tế - xã hội. Nói như vậy không có nghĩa là chia quỹ BHXH ra để
quản lý mà trên thực tế nó vẫn phải được quản lý tập trung thống nhất, hạch toán độc
lập với ngân sách; việc chia ra thành các quỹ thành phần là chỉ để phân tích, đánh giá
một cách chính xác khách quan hơn hiệu quả sử dụng quỹ BHXH trong quá trình hình
thành và chi trả cho từng chế độ một.

Với sự phân tích trên, chính sách BHXH trên cơ sở xác định một cách khách
quan khoa học tỷ lệ đóng, tỷ lệ hưởng thì chỉ nên quy định chung người lao động đóng
bao nhiêu % tiền lương tháng và người chủ sử dụng đóng bằng bao nhiêu phần trăm
tổng quỹ tiền lương là đủ. Còn tổ chức được giao trách nhiệm quản lý và sử dụng quỹ sẽ
có trách nhiệm quản lý, điều tiết giữa các quỹ thành phần để đảm bảo sử dụng quỹ có
hiệu quả.

* Hoàn thiện hệ thống pháp luật để kiểm tra xử lý các vi phạm về chính sách
bảo hiểm xã hội

Như ở chương 2 đã phân tích và chỉ ra đây là một trong những nguyên nhân làm
hạn chế công tác thu BHXH. Trên thực tế các quy định kiểm tra, xử phạt cũng như mức
phạt các vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH thời gian qua đều đã có và ngày càng cụ thể.
Tuy nhiên, cơ chế để thực hiện lại nảy sinh nhiều hạn chế và bất cập, ta có thể lấy một
ví dụ: Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/4/2004 quy định xử phạt hành chính về
hành vi vi phạm pháp luật lao động trong đó phần vi phạm về chính sách BHXH có quy
định người sử dụng lao động trốn đóng BHXH sẽ bị phong tỏa tài khoản cho đến khi
nộp đủ BHXH trong thời hạn tối đa không quá 30 ngày. Hết thời hạn trên người sử dụng
lao động không nộp BHXH thì người có thẩm quyền yêu cầu ngành ngân hàng, nơi
người sử dụng lao động mở tài khoản trích khoản nợ BHXH vào tài khoản của cơ quan
BHXH.

Đây là một bước đột phá nhằm làm tăng thêm hiệu lực pháp luật để đảm bảo
quản lý thu BHXH đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, để thực hiện được là rất khó nếu như
không có một cơ chế quy định thật rõ trách nhiệm của từng bên tham gia (Tài chính,
Ngân hàng, Cơ quan thanh tra, đơn vị sử dụng lao động và cơ quan BHXH). Vì trong cơ
chế thị trường các đơn vị mở tài khoản tại ngân hàng đều là các "thượng đế" của họ, vậy
liệu họ có thực hiện biện pháp trên để rồi đơn vị đó không mở tài khoản ở ngân hàng đó
nữa. Quy định này trước đây đã có, chỉ có điều nó được quy định trong một văn bản có
hiệu lực pháp lý thấp hơn, đó là trong văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính. Nhưng cho
đến nay, các đơn vị vi phạm thì nhiều, thậm chí là có trường hợp vi phạm rất nghiêm
trọng, nhưng cho đến nay, chưa có một ngân hàng nào thực hiện biện pháp trên.

Nêu vấn đề trên, không phải là chúng ta phủ nhận vai trò của công cụ pháp luật
trong việc xử lý các vi phạm về nghĩa vụ đóng BHXH, mà để thấy được một thực tế là
mặc dù có luật, những cơ chế tổ chức thực hiện không rõ, chồng chéo, không cá nhân
nào, không đơn vị nào phải chịu trách nhiệm cụ thể thì rất khó thực hiện. Vì vậy, trong
thời gian tới, việc xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật trong việc xử phạt
các trường hợp vi phạm chính sách BHXH nói chung và nghĩa vụ đóng BHXH nói riêng
phải đi theo hướng có cơ chế thực hiện và chịu trách nhiệm cụ thể, không chồng chéo,
mức xử phạt phải được tăng cao và điều quan trọng là nên giao cho cơ quan BHXH
quyền xử phạt các vi phạm về chính sách BHXH, chỉ có như vậy, mới có thể ngăn chặn
kịp thời và xử lý nghiêm các trường hợp cố tình vi phạm. Đây chính là điểm yếu của
chúng ta trong thời gian qua cần phải được sớm khắc phục.

3.2.1.2. Về quản lý chi bảo hiểm xã hội

Nếu chúng ta giả định mọi đối tượng hưởng BHXH đã được xét duyệt, tính toán
số tiền được hưởng theo đúng chế độ, chính sách của Nhà nước, thì việc quản lý chi
BHXH là quá trình diễn ra từ khâu cơ quan BHXH nhận tiền (hiện tại là 100% tiền mặt)
từ hệ thống các ngân hàng, hay Kho bạc Nhà nước; vận chuyển tiền xuống các địa điểm
chi trả; tiến hành chi trả; thanh quyết toán sau chi trả và cuối cùng là việc quản lý đối
tượng hưởng BHXH. Các bước công việc trên chủ yếu là việc thực hiện các tác nghiệp
cụ thể như: nhận tiền, chuyển tiền, chi trả. Còn khâu quan trọng nhất hiện nay của quản
lý chi BHXH là công tác quản lý đối tượng hưởng BHXH.

Với xác định như trên, căn cứ vào những hạn chế, tồn tại đã đề cập ở chương 2
về quản lý chi BHXH, trong thời gian tới, để đảm bảo thực thi có hiệu quả các quy định
của pháp luật về chi BHXH, cơ quan BHXH cần phải tập trung vào các giải pháp cơ bản
sau:

* Tăng cường công tác quản lý đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội

Hiện tại cơ quan BHXH đang quản lý và trực tiếp chi trả các chế độ BHXH dài
hạn (hưu trí, mất sức lao động, tử tuất) cho trên 2 triệu đối tượng. Bên cạnh đó, hàng năm
còn thực hiện quản lý và chi trả cho hàng triệu lượt người hưởng chế độ BHXH ngắn
hạn (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, BHYT) và trợ cấp BHXH
một lần. Sự tăng, giảm của các đối tượng này có liên quan trực tiếp đến số tiền do ngân
sách nhà nước, quỹ BHXH phải chi ra hay tiết kiệm được. Vì vậy, tăng cường công tác
quản lý đối tượng hưởng BHXH được coi là giải pháp quan trọng nhất của việc thực thi
có hiệu quả pháp luật về quản lý chi BHXH. Thực hiện giải pháp này ta có thể chia các
đối tượng ra làm các nhóm để có biện pháp quản lý phù hợp, cụ thể là:

- Nhóm các đối tượng hưởng chế độ BHXH dài hạn, là nhóm đối tượng có số
tiền hưởng BHXH chiếm tỷ trọng lớn nhất, vì vậy cần tập trung các biện pháp để quản
lý. Trong nhóm đối tượng này đối với các đối tượng tăng thêm do xét duyệt mới hoặc
do di chuyển giữa các địa phương thì không có vấn đề gì lớn, vì khi họ đủ điều kiện và
đã làm các thủ tục để hưởng BHXH mà vì một lý do sai sót nào đó mà họ chưa được
hưởng thì chắc chắn họ sẽ khiếu nại với cơ quan BHXH. Ngược lại, trong trường hợp
đối tượng đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng mà bị chết hoặc đã hết
thời hạn được hưởng theo quy định, nhưng do quản lý chưa chặt, cơ quan BHXH không
kịp thời nắm được, trong khi đó thân nhân của đối tượng không tự giác báo cho cơ quan
BHXH để cắt giảm kịp thời thì thân nhân của đối tượng (với các trường hợp chết) và
đối tượng (trường hợp nhận trợ cấp tuất, mất sức lao động) vẫn có thể nhận tiền hàng
tháng. Trường hợp này sẽ gây thất thoát rất lớn cho quỹ BHXH, trên thực tế đã có
không ít đối tượng cắt giảm chậm 1 hoặc 2 năm, thậm chí có trường hợp lên đến cả
chục năm mà không bị cắt.

- Nhóm đối tượng hưởng các chế độ BHXH ngắn hạn, đây là nhóm có số lượng
rất lớn hàng năm, lấy năm 2003 làm ví dụ: Cơ quan BHXH các tỉnh, thành phố đã giải
quyết 1.587.000 lượt người nghỉ chế độ ốm đau với số tiền là 171 tỷ đồng; 216.650
người nghỉ chế độ thai sản với số tiền chi trả là 498 tỷ đồng. Đặc điểm của nhóm đối
tượng này là họ chỉ nhận được 1 lần tiền chi trả từ cơ quan BHXH, do vậy nếu công tác
xét duyệt đảm bảo chính xác đúng chế độ, chính sách thì công tác quản lý chi trả đối với
nhóm đối tượng này cũng không có vấn đề gì lớn. Vấn đề đặt ra đối với nhóm này hiện
nay lại nằm trong khâu xét duyệt hồ sơ, nghĩa là không ít người lao động, người sử dụng
lao động đã lợi dụng những quy định chưa chặt chẽ của chế độ này để lập hồ sơ và
chứng từ khống thanh toán với cơ quan BHXH.

- Nhóm đối tượng hưởng trợ cấp BHXH một lần, nhóm này cũng giống như
nhóm trên nếu ta xét duyệt chặt chẽ và đúng chế độ thì công tác chi trả và quản lý cũng
không có vấn đề gì lớn.

Tóm lại, việc phân chia từng nhóm đối tượng có các đặc điểm xét duyệt hồ sơ,
chi trả và quản lý giống nhau sẽ tạo điều kiện để cơ quan BHXH hội áp dụng các biện
pháp phù hợp nhằm tạo được hiệu quả trong công tác chi trả và quản lý đối tượng chặt chẽ
nhằm đảm bảo quyền lợi cho đối tượng, đồng thời không gây thất thoát cho ngân sách nhà
nước và quỹ BHXH.

* Đổi mới phương thức chi trả bảo hiểm xã hội

Theo quy định, cơ quan BHXH là tổ chức chịu trách nhiệm chi trả cho đối
tượng hưởng lương hưu và các chế độ trợ cấp BHXH. Từ năm 2003 do việc sáp nhập
Bảo hiểm Y tế Việt Nam vào Bảo hiểm xã hội Việt Nam nên ngoài việc chi trả các chế
độ BHXH cơ quan BHXH còn phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền khám chữa bệnh
cho các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế. Vì vậy, việc đổi mới phương thức chi trả là
cần thiết, để phù hợp với tình hình mới nhằm đảm bảo an toàn tiền mặt và thuận tiện
cho đối tượng. Theo quy định hiện hành của BHXH Việt Nam, BHXH các tỉnh thành
phố đang áp dụng hai hình thức chi trả là chi trả trực tiếp và chi trả gián tiếp (cả hai hình
thức này đã được đề cập ở phần trên). Điều cần quan tâm ở đây là cả hai hình thức đều
chi trả 100% bằng tiền mặt, mà đây lại là một khối lượng tiền mặt rất lớn. Vì vậy, nếu
không có những nghiên cứu và đầu tư nghiêm túc cho công tác này thì khó có thể tránh
khỏi những tiêu cực, thất thoát trong quá trình chi trả.

Để đổi mới phương thức chi trả, trước hết cơ quan BHXH phải tổ chức sơ kết,
tổng kết thực tiễn để đánh giá lại hiệu quả công tác này trong
9 năm qua, phải chỉ ra được những ưu điểm, nhược điểm của từng hình thức, rút ra bài
học kinh nghiệm để xây dựng mô hình chi trả và quản lý chi trả BHXH cho phù hợp với
từng vùng, từng miền, từng địa bàn dân cư và từng địa phương theo các tiêu thức cần
quản lý và theo xu hướng chung là cơ quan BHXH cố gắng đảm bảo trực tiếp công tác
này, hạn chế hình thức chi trả gián tiếp thông qua các đại lý chi trả.

Ngoài ra, cũng đã đến lúc chúng ta cần nghiên cứu xem xét đến hình thức chi
trả thông qua tài khoản cá nhân ở ngân hàng và tổ chức tín dụng nơi đối tượng hưởng
BHXH cư trú. Về hình thức này, hiện nay đang có nhiều khó khăn, nhưng không phải vì
vậy mà ta không thực hiện. Cụ thể là khác với các nước trên thế giới, các đối tượng
tham gia và hưởng BHXH hầu hết chưa có tài khoản cá nhân ở ngân hàng hay các tổ
chức tín dụng khác, nhất là ở các tỉnh miền núi. Vì vậy, có thể trong thời gian trước mắt,
cơ quan BHXH nên đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hướng dẫn người lao động tham
gia và hưởng BHXH ở các tỉnh thành phố lớn, các khu đô thị hay khu công nghiệp tập
trung, mở tài khoản cá nhân ở các ngân hàng hay tổ chức tín dụng khác gần với nơi
mình làm việc và cư trú nhất. Trên cơ sở của những tài khoản này, đối tượng hưởng
BHXH đăng ký số tài khoản với cơ quan BHXH để hàng tháng khi đến kỳ chi trả, cơ
quan BHXH sẽ cùng với các ngân hàng hay tổ chức tín dụng, bằng các biện pháp
nghiệp vụ để chuyển tiền vào tài khoản cá nhân của từng đối tượng. Đối tượng có thể
rút ra tiêu dùng vào những lúc cần thiết hoặc để ở tài khoản để sinh lợi, thông qua lãi
suất quy định của ngân hàng ở từng thời kỳ.

Hình thức chi trả này đang được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới,
nhất là đối với các nước có đông đối tượng hưởng BHXH như: Mỹ, Đức, Anh, Pháp…
Thực hiện hình thức này sẽ làm giảm đáng kể khối lượng tiền mặt luân chuyển trong
quá trình chi trả của cơ quan BHXH và đặc biệt là rất an toàn, không cần phải có các
phương tiện vận chuyển và bảo quản chuyên dùng. Còn phía cơ quan BHXH cũng sẽ
tiết kiệm được đáng kể nhân lực tập trung cho công tác chi trả hàng tháng.

3.2.2. Đẩy mạnh hoạt động đầu tư, tăng trưởng quỹ

Trong điều kiện mức thu và mức hưởng cũng như điều kiện được hưởng chưa có
những thay đổi thì giải pháp đẩy mạnh hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH càng
trở nên cấp thiết. Do đặc thù hoạt động BHXH của nước ta trong thời kỳ đổi mới, thì
thời gian đầu khoảng từ 15-20 năm quỹ BHXH có số dư khá lớn để đầu tư nhằm bảo
toàn và tăng trưởng quỹ (tính đến năm 2003 đã có trên 34.000 tỷ đồng). Tuy nhiên,
trong thời gian qua công tác đầu tư, tăng trưởng quỹ của cơ quan BHXH mới chỉ dừng
lại ở các hoạt động bình thường như cho các ngân hàng và tổ chức tài chính của Nhà
nước vay theo chỉ định của Thủ tướng Chính phủ. Vì vậy, số lãi thu được qua các năm
còn rất hạn chế, chưa đúng với tiềm năng sinh lời của số tiền tạm thời "nhàn rỗi" có
trong quỹ BHXH.

Tất nhiên việc đầu tư tăng trưởng quỹ đòi hỏi phải được xem xét, tính toán kỹ
trên nhiều góc độ trong đó sinh lời cao luôn là mục tiêu của đầu tư nhưng dù cao đến bao
nhiều cũng không được phép xa rời nguyên tắc đảm bảo an toàn số tiền đầu tư của quỹ. Vì
vậy, việc cho các ngân hàng và tổ chức tài chính của Nhà nước vay là một giải pháp đảm
bảo an toàn nhất cho quỹ. Tuy nhiên, tỷ lệ lãi suất sẽ không cao như đầu tư vào một số lĩnh
vực khác và ngay cả trong trường hợp này, chúng ta cũng cần phải tính toán một cách cụ
thể và nên theo nguyên tắc có ưu đãi về lãi suất cho các tổ chức tài chính của Nhà nước
nhưng không nên quá chênh lệch so với việc cho các tổ chức tài chính không phải là của
Nhà nước vay. Quỹ BHXH phải được chủ động trong công tác đầu tư, tăng trưởng. Để
thực hiện được nhiệm vụ này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cần phải thành lập một tổ
chức riêng để thực hiện, chỉ có như vậy các lĩnh vực được lựa chọn để đầu tư mới đảm
bảo an toàn và sinh lời cao.

3.2.3. Sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin vào các hoạt động quản lý
thu, chi bảo hiểm xã hội

Đây là một giải pháp hết sức cần thiết trong điều kiện, số đối tượng tham gia và
hưởng BHXH ngày càng tăng. Hiện nay để quản lý trên 16 triệu đối tượng đang tham
gia và hưởng các chế độ BHXH, BHYT với yêu cầu phải quản lý đến từng đối tượng,
thì chúng ta không thể nào làm được nếu chỉ sử dụng các biện pháp thủ công. Vì vậy,
đẩy mạnh việc nghiên cứu và đưa công nghệ thông tin vào quản lý các hoạt động thu,
chi BHXH, xét duyệt hồ sơ hưởng BHXH là giải pháp mà cơ quan BHXH phải có sự
đầu tư thích đáng để nghiên cứu, xây dựng và đưa vào thực hiện các phần mềm quản lý
cho mặt của hoạt động BHXH, trước mắt phải tập trung vào công tác quản lý thu
BHXH và chi trả các chế độ BHXH.
3.2.4. Hoàn thiện tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ
làm công tác bảo hiểm xã hội

Trước hết, phải phân định rõ chức năng quản lý nhà nước về BHXH của các Bộ
liên quan và chức năng quản lý sự nghiệp BHXH của cơ quan BHXH, trong đó tập
trung vào:

- Các Bộ chức năng chỉ làm nhiệm vụ hoạch định, xây dựng chính sách BHXH;
khi chính sách đã ban hành thì phải tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện chính
sách BHXH của các bên tham gia, để có thể điều chỉnh kịp thời những nội dung chưa
phù hợp trong các chính sách đã ban hành; không nên đi vào giải quyết chế độ, chính
sách cho các trường hợp cụ thể, vì đó là nhiệm vụ của cơ quan quản lý sự nghiệp
BHXH.

- Ngoài chức năng thực hiện chính sách BHXH theo các quy định của pháp luật,
cần có quy định để Bảo hiểm xã hội Việt Nam tham gia như một thành viên chính thức
trong việc xây dựng, hoạch định chính sách BHXH. Bởi vì, hơn bất cứ một cơ quan nào,
Bảo hiểm xã hội Việt Nam là nơi duy nhất có được một cách đầy đủ, chính xác các
thông tin (số liệu) về hoạt động BHXH từ đối tượng tham gia và thụ hưởng BHXH, từ
những hạn chế, vướng mắc ở cơ sở khi thực hiện chính sách BHXH, đến những vấn đề
mới phát sinh từ thực tiễn liên quan đến hoạt động BHXH. Đây là các thông tin hết sức
cần thiết và quan trọng trong việc hoạch định, xây dựng chính sách BHXH.

- Tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với Nghị định số 09/1998/NĐ-CP
ngày 23/1/1998 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ
xã, phường, thị trấn và Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 quy định thực
hiện chính sách BHXH đối với người lao động làm việc trong các cơ sở y tế, giáo dục,
văn hóa, thể thao ngoài công lập; đối tượng tham gia BHXH đã được mở rộng đến cấp
xã, phường, thị trấn (cấp cơ sở). Ngoài ra, còn gần 2 triệu đối tượng đang hưởng lương
hưu và trợ cấp BHXH ở khắp các thôn, bản, xã, phường, thị trấn trong toàn quốc. Trong
khi đó cơ quan BHXH mới có bộ máy tổ chức đến cấp huyện. Vì vậy, hệ thống tổ chức
này cần phải được hoàn thiện theo hướng bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ, đồng thời
mỗi xã, phường, thị trấn nên có ít nhất một người làm công tác BHXH chuyên trách
hoặc bán chuyên trách, tùy theo điều kiện biên chế cho phép của Bảo hiểm xã hội Việt
Nam.

- Có cơ chế phù hợp để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan BHXH. Với
chức năng, nhiệm vụ thực hiện chính sách BHXH, mà cụ thể là thực hiện thu, chi
BHXH, xét duyệt hồ sơ của người lao động khi đủ điều kiện. Cơ chế để vận hành các
hoạt động trên trong thời gian qua chưa đồng bộ, còn thiếu và chưa rõ. Vì vậy, cơ chế
hoạt động BHXH trong thời gian tới cần phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với
chức năng, nhiệm vụ được giao của cơ quan BHXH.

- Không ngừng nâng cao trình độ tác nghiệp, trình độ quản lý và đặc biệt là
những hiểu biết về công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác
BHXH, thông qua việc đào tạo mới, đào tạo lại cho đội ngũ cán bộ, công chức từ Trung
ương đến địa phương, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng tăng của công tác
BHXH trong giai đoạn mới.
Kết luận



Thu BHXH, chi trả các chế độ BHXH là những hoạt động chủ yếu trong việc
thực hiện chế độ, chính sách BHXH, cũng vì vậy mà các quy định của pháp luật về quản
lý thu, chi BHXH đã không ngừng được ban hành, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện qua
từng thời kỳ phát triển của đất nước, nhất là từ năm 1995, cơ chế, chính sách BHXH của
nước ta đã chuyển sang hoạt động theo cơ chế mới dựa trên nguyên tắc có đóng BHXH
mới được hưởng quyền lợi BHXH. Sự thay đổi cơ bản này, cùng với những đổi mới về
tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý thu, chi BHXH trong thời gian
qua đã đem lại những kết quả rất khả quan, quỹ BHXH được hình thành và tồn tại trên
thực tế, đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời cho các đối tượng hưởng BHXH theo luật định
và không ngừng tăng trưởng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được là cơ bản,
việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý thu, chi BHXH cũng đã
bộc lộ những điểm còn tồn tại, hạn chế và cả những phát sinh mới cần phải được xem
xét, giải quyết một cách nghiêm túc. Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận về
BHXH và thực trạng hoạt động thu, chi BHXH của nước ta trong thời gian qua, luận
văn đã có những đóng góp dưới đây:

1. Từ những nghiên cứu chung về BHXH và kinh nghiệm thực tiễn hoạt động
BHXH của một số nước trên thế giới, luận văn đã làm rõ và củng cố thêm vai trò quan
trọng của BHXH của nước ta, cũng như việc sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện pháp luật về
quản lý thu, chi BHXH của nước là một tất yếu, xét trên cả phương diện lý luận và thực
tiễn; đặc biệt là trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước.

2. Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động thu, chi BHXH của nước ta qua
từng thời kỳ, nhất là từ 1995 đến nay, luận văn đã chỉ ra chính xác và khách quan những
kết quả đạt được; những hạn chế, tồn tại và cả những phát sinh mới trong quá trình tổ
chức thực hiện; tìm ra nguyên nhân để có những giải pháp khắc phục. Trong đó những
kết quả đạt được chủ yếu là:

- Quỹ BHXH đã hình thành, tồn tại trên thực tế và ngày càng phát triển; quỹ
được quản lý tập trung, hạch toán độc lập với ngân sách nhà nước; quỹ đảm bảo chi trả
đầy đủ và kịp thời cho người lao động khi có đủ các điều kiện được hưởng BHXH theo
quy định, đồng thời góp phần đáng kể vào việc giảm chi hàng năm của ngân sách nhà
nước cho các chế độ BHXH, để có điều kiện đầu tư vào các lĩnh vực cấp thiết khác của
đất nước.

- Phạm vi và đối tượng tham gia BHXH không ngừng được mở rộng đến mọi
người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau, không phân biệt thành
phần kinh tế nhà nước hay khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Bước đầu đảm bảo quyền
được BHXH cho mọi người lao động; tạo dần sự công bằng, bình đẳng về quyền và
nghĩa vụ BHXH giữa những người lao động, người sử dụng lao động tham gia và thụ
hưởng BHXH.

Về tồn tại, luận văn đã chỉ ra tồn tại lớn nhất là chưa có một hệ thống chính
sách thống nhất, tương đối đầy đủ và đồng bộ về BHXH; đặc biệt là cơ chế để tổ chức
thực hiện còn bất cập, chồng chéo, các quy định của pháp luật vừa thừa lại vừa thiếu;
việc xử lý trách nhiệm của các bên tham gia BHXH còn chung chung, chưa rõ ràng,
mức xử lý còn quá nhẹ, chưa có tác dụng giáo dục và ngăn chặn các hành vi vi phạm
nghĩa vụ đóng BHXH của các bên tham gia.

Về nguyên nhân, chủ yếu là chúng ta còn chịu ảnh h ưởng và tác động của cơ
chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các quy
định của pháp luật về quản lý thu, chi BHXH. Mặt khác, chúng ta chưa làm tốt công tác
tổng kết thực tiễn cũng như chưa dự báo được tương đối đầy đủ ảnh hưởng của các yếu
tố tác động đến pháp luật quản lý thu, chi BHXH của nước ta trong một thời gian dài.

3. Từ những hạn chế, tồn tại và những vấn đề mới phát sinh đã phân tích ở
chương 2, luận văn đưa ra định hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần hoàn
thiện pháp luật về quản lý thu, chi BHXH ở nước ta đến năm 2010, trong đó tập trung
vào các giải pháp: Đổi mới phương thức quản lý thu, chi BHXH; đẩy mạnh hoạt động
đầu tư, tăng trưởng quỹ và sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin vào hoạt động quản
lý thu, chi BHXH. Các giải pháp trên đòi hỏi phải được thực hiện đồng bộ và thường
xuyên, chỉ có như vậy, việc tổ chức thực hiện chế độ chính sách BHXH nói chung và
pháp luật về quản lý thu, chi BHXH nói riêng mới đạt được những kết quả như mong
muốn.
Danh mục tài liệu tham khảo



Ban chỉ đạo tiền lương nhà nước (2001), Báo cáo tổng kết chính sách tiền lương và
1.
trợ cấp bảo hiểm xã hội.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1996), Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội và các
2.
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thu bảo hiểm xã hội, Đề tài
nghiên cứu khoa học.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1996), Báo cáo tổng kết năm 1995, Hà Nội.
3.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1997), Báo cáo tổng kết năm 1996, Hà Nội.
4.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1997), Báo cáo quyết toán tài chính năm 1996, Hà
5.
Nội.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1998), Báo cáo tổng kết năm 1997, Hà Nội.
6.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1998), Báo cáo quyết toán tài chính năm 1997, Hà
7.
Nội.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1998), Cẩm nang an sinh xã hội, tập 1, Dịch giả: Hà
8.
Ngọc Quế, (dịch từ bản tiếng Anh: Series of Manuals on Social Securirty của
Tổ chức Lao động Quốc tế).

Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1998), Cẩm nang an sinh xã hội, tập 2, Dịch giả: Hà
9.
Ngọc Quế, (dịch từ bản tiếng Anh: Series of Manuals on Social Securirty của
Tổ chức Lao động Quốc tế).

10. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1998), Cẩm nang an sinh xã hội, tập 3, Dịch giả: Hà
Ngọc Quế, (dịch từ bản tiếng Anh: Series of Manuals on Social Securirty của
Tổ chức Lao động Quốc tế).

11. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1999), Báo cáo tổng kết năm 1998, Hà Nội.

12. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (1999), Báo cáo quyết toán tài chính năm 1998, Hà
Nội.
13. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2000), Báo cáo tổng kết năm 1999, Hà Nội.

14. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2000), Báo cáo quyết toán tài chính năm 1999, Hà
Nội.

15. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2000), Thực trạng và các giải pháp hoàn thiện công
tác chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội ngắn hạn, Đề tài nghiên cứu khoa học.

16. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2001), Báo cáo tổng kết năm 2000, Hà Nội.

17. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2001), Báo cáo quyết toán tài chính năm 2000, Hà
Nội.

18. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2002), Báo cáo tổng kết năm 2001, Hà Nội.

19. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2002), Báo cáo quyết toán tài chính năm 2001, Hà
Nội.

20. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2003), Báo cáo tổng kết năm 2002, Hà Nội.

21. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2003), Báo cáo quyết toán tài chính năm 2002, Hà
Nội.

22. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2004), Báo cáo tổng kết năm 2003, Hà Nội.

23. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2004), Báo cáo tổng hợp quy hoạch tổng thể phát triển
ngành bảo hiểm xã hội đến năm 2010.

24. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1993), Tờ trình Thủ tướng Chính phủ số
01/LĐTBXH-BHXH ngày 29/1 về cải cách chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội,
Hà Nội.

25. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1993), Luận cứ khoa học cho việc đổi mới và
hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Đề tài nghiên
cứu khoa học, mã số KX.04.05 .

26. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Dự thảo đề án bảo hiểm xã hội thất nghiệp.

27. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Ban chỉ đạo điều tra lao động việc làm
(1999), Báo cáo sơ bộ kết quả điều tra lao động việc làm năm 1998, Hà Nội.
28. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2003), Hệ thống các văn bản hiện hành về
chính sách bảo hiểm xã hội, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.

29. Chính phủ (1995), Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP
ngày 26/1 áp dụng đối với công chức, công nhân viên nhà nước và mọi người
lao động theo loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc.

30. Chính phủ (1995), Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 45/CP
ngày 15/7 áp dụng đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh
sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân.

31. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
Nxb Sự thật, Hà Nội.

32. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
Nxb Sự thật, Hà Nội.

33. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

34. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

35. Hội đồng Chính phủ (1961), Điều lệ Bảo hiểm xã hội tạm thời về các chế độ bảo
hiểm xã hội áp dụng cho công nhân, viên chức nhà n ước ban hành kèm theo
Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961.

36. Luật An sinh xã hội 1990 và 1994 của Vương quốc Thái Lan.

37. "Những quan điểm, chủ trương của Trung Quốc trong việc cải cách và thống nhất
quản lý an sinh xã hội", Trong sách: Kêu gọi tiến tới một nền an sinh xã hội
mới, Dịch giả: Hà Ngọc Quế.

38. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp năm 1992
đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51 của Quốc hội.

39. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Bộ Luật lao động
năm 1995 đã được sửa đổi và bổ sung.
40. Tạp chí Bảo hiểm xã hội, năm 1999.

41. Tạp chí Bảo hiểm xã hội, năm 2000.

42. Tạp chí Bảo hiểm xã hội, năm 2001.

43. Tạp chí Bảo hiểm xã hội, năm 2002.

44. Tạp chí Bảo hiểm xã hội, năm 2003.

45. Tạp chí Lao động và xã hội, năm 2000.

46. Tạp chí Lao động và xã hội, năm 2001.

47. Tạp chí Lao động và xã hội, năm 2002.

48. Tạp chí Lao động và xã hội, năm 2003.

49. Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội (1993), Một số vấn đề về chính sách
bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.

50. Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa - Vấn đề và giải pháp (2002),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Tiếng Anh

51. Labour and Social Security in China, April 2002, Beijng.

52. Intoduction Social Security - Social Security Department (1992), International
Labour Office, Geneva.

53. Principles of Social Security - Social Security Department (1997), International
Labour Office, Geneva.

54. Social Security Program throughout the World - Social Security Administration
(1999), Office of Policy, SSA Publication No. 13-11785, August.

55. Social Security Retirement benefits (2000), USA.

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản