LUẬN VĂN: Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: vascaravietnam

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đánh dấu một bước chuyển biến vô cùng trọng đại của dân tộc ta. Nó đập tan ách thống trị thực dân tàn bạo, xóa bỏ chế độ phong kiến lỗi thời đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhân dân được làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi dân chủ là một nội...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay

LUẬN VĂN:


Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở
cơ sở ở Việt Nam hiện nay
1. Tính cấp thiết của đề tài

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa ra đời đánh dấu một bước chuyển biến vô cùng trọng đại của dân tộc ta. Nó đập tan
ách thống trị thực dân tàn bạo, xóa bỏ chế độ phong kiến lỗi thời đưa dân tộc ta bước vào
kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhân dân được làm chủ đất nước,
làm chủ xã hội. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi
dân chủ là một nội dung quan trọng. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân vừa là mục
tiêu, vừa là động lực để nhân dân ta vượt qua khó khăn, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ
cách mạng, vừa là bản chất và đặc trưng của chế độ mới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI của Đảng (12/1986) đã khẳng định: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, đó là
nền nếp hàng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý nhà nước
của mình".

Trong quá trình xây dựng đất nước, quyền dân chủ của nhân dân ngày càng được
mở rộng, nhân dân thực hiện quyền làm chủ đất nước trước hết và chủ yếu thông qua các
cơ quan dân cử. Trong những năm 80 - 90 của thế kỷ XX tình hình vi phạm quyền dân
chủ, tệ quan liêu tham nhũng diễn ra trầm trọng dẫn đến tình trạng khiếu kiện tập thể, sự
phản ứng mạnh mẽ của nhân dân, làm giảm mạnh lòng tin của nhân dân đối với Đảng và
chính quyền.

Ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 30/CT-TƯ về xây dựng và thực hiện
Quy chế dân chủ ở cơ sở. Cụ thể hóa một bước chỉ thị này, ngày 15/5/1998, Chính phủ ra
Nghị định số 29/NĐ-CP ban hành kèm theo Quy chế thực hiện dân chủ ở xã và đã được
sửa đổi, bổ sung thay thế bằng Nghị định số 79/NĐ-CP ngày 7/7/2003 (quy chế này áp
dụng cho cả phường và thị trấn, sau đây gọi là Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở). Đây là
những văn bản quan trọng do Đảng và Nhà nước ban hành nhằm tiếp tục phát huy quyền
làm chủ của nhân dân, từng bước đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, chuyên
quyền độc đoán, hống hách, xa rời quần chúng, tạo động lực mạnh mẽ trong nhân dân, góp
phần thúc đẩy công cuộc đổi mới xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
(XHCN).
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, ngoài những mặt
tích cực đạt được đã bộc lộ những điểm chưa hoàn chỉnh như: Tính dân chủ hóa, công khai
hóa trong việc cung cấp những thông tin có liên quan trực tiếp đến đời sống hằng ngày của
nhân dân ở cơ sở còn hạn chế. Việc thực hiện chế độ lấy ý kiến nhân dân trước khi ban
hành chủ trương chính sách của chính quyền còn mang tính hình thức, kém hiệu quả, chưa
quy định rõ ràng trách nhiệm của chính quyền trong việc thực hiện Quy chế dân chủ. Còn
thiếu các phương thức cụ thể để thực hiện phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra" một nội dung quan trọng của việc thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở. Nhiều địa
phương và người dân còn xem nhÑ nghÜa vô ph¶i thùc hiÖn c¸c nội dung của Quy chế thực
hiện dân chủ ở cơ sở; chưa có những chế tài cụ thể đối với những hành vi cản trở hoặc
không thực hiện các nội dung của quy chế.

Tr-íc yªu cÇu cña giai ®o¹n ph¸t triÓn míi cña ®Êt n-íc. ViÖc triÓn khai nghiên
cứu đề tài: "Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay" là việc
làm cần thiết có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn đáp ứng yêu cầu bức xúc
hiện nay là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân vµ v× d©n.

2. T×nh h×nh nghiªn cøu

Vấn đề dân chủ và thực hiện dân chủ nói chung được rất nhiều nhà khoa häc vµ c¸c
t¸c gi¶ kh¸c quan t©m nghiªn cøu, ®iÓn h×nh nh-: VI. Lªnin: Bàn về dân chủ trong quản
lý xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo: D©n chñ t­
s¶n vµ d©n chñ x· héi chñ nghÜa, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991; Hoàng Chí Bảo: Tổng quan
về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta: quan điểm, lý luận và
phương pháp nghiên cứu, Tạp chí Thông tin lý luËn, sè 9/1992; NguyÔn §¨ng Quang: Một
cách tiếp cận khái niệm dân chủ, Tạp chí Thông tin lý luận, số 9/1992; PGS.TS Vũ Minh
Giang: Thiết chế làng xã cổ truyền và quá trình dân chủ hóa hiện nay ở nước ta, Tạp chí
Thông tin lý luận, số 9/1992; Lê Văn Tuấn: Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ,
Tạp chí Thông tin lý luận, số 9/1992; TS. Đỗ Trung Hiếu: Một số suy nghĩ về xây dựng
nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay (sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004;
Đào Trí óc: Cñng cè c¸c h×nh thøc d©n chñ vµ sù v÷ng m¹nh cña nhµ n­íc ta, Tạp chí Nhà
nước và pháp luật, số 11/1998; Nguyễn Đăng Dung: "Dân chủ" làng xã ­ Những vấn đề
cần phải đặt ra nghiên cứu, Tạp chí Cộng sản, số 6/1998; Lê Minh Thông: Tăng cường cơ
sở pháp luật về dân chủ trực tiếp ở nước ta trong giai ®o¹n hiÖn nay, Tạp chí Nhà nước
và pháp luật, số 1/2000; Lê Hồng Hạnh: Bàn về các đảm bảo pháp lý của dân chủ, Tạp chí
Quản lý nhà nước, số 4(51), 2000; Trần Thị Băng Thanh: Vai trò của Nhà nước đối với
việc thực hiện quyền dân chủ của nhân d©n ë ViÖt Nam hiÖn nay, Luận án tiến sĩ Triết
học bảo vệ năm 2002 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Nghiên cứu về Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở, các bài viết, công trình nghiên
cứu chỉ dừng lại ở chỗ: Tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc
triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã. Đánh giá, tổng kết những thành tựu và
những khó khăn sau hơn 6 năm thực hiện Quy chế dân chủ ở cấp xã như: Quy chế thực
hiện dân chủ ở cấp xã một số vấn đề lý luận và thực tiễn (s¸ch tham khảo), Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2000 do PGS. TS. Dương Xuân Ngọc chủ biên; sách chuyên khảo của
tác giả TS. Nguyễn Văn Sáu - GS. Hồ Văn Thông (đồng chủ biên): Thực hiện quy chế dân
chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2003; cuốn: Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay một số vấn đề lý
luận và thực tiễn do PGS.TS Nguyễn Cúc (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2002; cuốn: C¸c ®oµn thÓ nh©n d©n víi viÖc b¶o ®¶m d©n chñ ë c¬ së hiÖn nay do
TSKH. Phan Xuân Sơn (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh: Tâm lý xã hội trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ
sở, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; PGS.TS. Vũ Văn Hiền (chủ biªn): Ph¸t huy d©n
chñ ë x·, ph­êng vµ cuèn: D©n chñ ë c¬ së qua kinh nghiÖm cña Thôy §iÓn vµ Trung Quèc,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004; Quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở một số tỉnh
đồng bằng sông Hồng hiện nay (Đề tài cấp bộ năm 2002 - 2003) do Viện Chủ nghĩa xã hội
khoa học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì).

Ngoài ra, còn có rất nhiều các bài viết đăng trên các báo, tạp chí về tình hình thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của các địa phương trong cả nước như: Trương Quang Được:
Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Tạp chí Cộng sản,
số 12/2002; Phạm Gia Khiêm: Thực hiện Quy chế dân chủ với xây dựng hệ thống chính tr ị
cơ sở, Tạp chí Cộng sản, số 9/2000; Lê Khả Phiêu: Phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
xây dựng và thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở, Tạp chí Cộng sản, số 4/1998; Đỗ Mười:
Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, Tạp chí Cộng sản, số 20/1998; Trần Quang
Nhiếp: Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở sau hai năm nhìn lại, Tạp chí Cộng sản, số
11/2000...; Phạm Quang Nghị: Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở Hà Nam, Tạp chí Cộng
sản, số 5/2000; Nhật Tân: Hà Nội sau 5 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở, Tạp chí Cộng sản, số 32/2003; Nguyễn Đại Khởn: Kết quả và kinh nghiệm bước đầu
sau 5 năm triển khai thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Nam Định, Tạp chí Tổ chức
Nhà nước, số 7/2004; Lê Kim Việt: Qua ba năm thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở nông
thôn, Tạp chí cộng sản, số 18/2002...

Nhìn chung, các bài viết đã lý giải về tính tất yếu phải xây dựng và thực hiện quy
chế dân chủ ở cơ sở, qua thực tiễn khảo sát việc thực hiện quy chế ở các địa phương, vùng
miền trong cả nước để đưa ra những thành tựu đã đạt được của việc thực hiện quy chế dân
chủ ở cấp xã cũng như rút ra những bất cập, hạn chế, vướng mắc của Quy chế, mà chưa có
công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã
và hoàn thiện pháp luật thực hiện dân chủ ở cấp xã trên cơ sở lý luận và thực tiễn hiện nay.
Tuy nhiên, những tài liệu nêu trên có giá trị tham khảo tốt cho tác giả trong quá trình
nghiên cứu và viết luận văn.

3. Ph¹m vi nghiªn cøu cña luËn v¨n

Pháp luật về thực hiện dân chủ hiện nay có phạm vi điều chỉnh tương đối rộng,
bao gồm nhiều loại như: Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở (xã, phường, thị trấn), quy chế
thực hiện dân chủ ở cơ quan, doanh nghiệp... Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu Quy chế
thực hiện dân chủ ở cơ sở (được ban hành kèm theo Nghị định số 29/NĐ-CP ngày
11/5/1998 của Chính phủ, đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 79/NĐ-CP ngày
7/7/2003). Trong đó, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về Quy chế thực hiện dân
chủ ở cơ sở, thực trạng quy chế và thi hành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở từ năm
1998 đến nay. Trên cơ sở đó đề ra phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở trong điều kiện mới.

4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về dân chủ và Quy chế thực hiện dân
chủ ở cơ sở, từ thực trạng Quy chế và thi hành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt
Nam hiện nay, luận văn đề xuất một số phương hướng và các giải pháp pháp lý cơ bản
nhằm hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở trong thời kỳ mới.

NhiÖm vô

Từ mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ:

+ §-a ra kh¸i niệm, phạm vi điều chỉnh và vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ ở
cơ sở; xác định các tiêu chí hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở.

+ Phân tích, đánh giá thực trạng Quy chế và thi hành Quy chế thực hiện dân chủ ở
cơ sở ở Việt Nam hiện nay.

+ §èi chiếu, liên hệ với những yêu cầu của giai đoạn phát triển mới của đất nước,
trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, bước đầu đề xuất phương hướng và
các giải pháp nhằm hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiªn cøu

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng nền dân chủ
XHCN, về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN nói chung và về lý luận xây dựng pháp
luật nói riêng.

- Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa
duy vật biện chứng với các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Lịch sử - cụ thể; phân tích -
tổng hợp, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác: Thống kê, so sánh...

6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Luận văn nghiên cứu xác định khái niệm quyền dân chủ, khái niệm thực hiện
quyền dân chủ, tiêu chí hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở.

- Phân tích, đánh giá một cách tương đối có hệ thống toàn diện thực trạng và
những nguyên nhân tồn tại của Quy chế và thực thi Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp pháp lý cơ bản nhằm hoàn thiện Quy
chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay và hoàn thiện các quy định của pháp
luật có liên quan trong điều kiện mới.

7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn góp phần giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay đang
đặt ra đối với hoạt động thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn.

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy
trong các trường chính trị, pháp lý cũng như nghiên cứu hoàn thiện pháp luật thực hiện
quyền dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam trong thời gian tới.

8. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương, 7 tiết.
Ch­¬ng 1

Cơ sở lý luận
về hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở



1.1. khái quát về dân chủ và thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa

1.1.1. Dân chủ và quyền dân chủ trong học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh

1.1.1.1. D©n chñ x· héi chñ nghÜa

­ Quan điểm chung về khái niệm dân chủ

Dân chủ là một thuật ngữ đã xuất hiện trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại. Theo tiếng Hy
Lạp thì "dân chủ" là một từ ghép của hai từ Demos (người bình dân) và Kratos (quyền
lực). Như vậy, với nguyên nghĩa của từ dân chủ có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân,
quyền lực của nhân dân. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa: "Dân chủ, hình thức tổ
chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của
quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào tổ
chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế chính trị nhất định" [61, tr. 653].

Nh- vËy, víi nghÜa chung nhÊt, d©n chñ ®-îc sö dông như một tiêu chí để đánh
giá mức độ và tính chất của các nhà nước trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà
nước hoặc tính chất của những xã hội. Dân chủ còn là tiêu chí để chỉ cách thức tổ chức và
thực hiện quyền lực. Cho đến nay, khái niệm dân chủ đã có sự mở rộng và phát triển. Theo
đó, dân chủ được hiểu là cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước; nguyên tắc tổ
chức và quản lý xã hội; là những giá trị đánh giá tính chất nhà nước, xã hội và nó cũng là
tư tưởng, học thuyết...

­ Quan ®iÓm cña chủ nghĩa Mác ­ Lênin về dân chủ XHCN

"D©n chñ" theo quan ®iÓm cña chñ nghÜa M¸c - Lªnin lµ mét hiÖn t-îng lịch sử
gắn liền với xã hội có giai cấp và được biến đổi dưới nhiều hình thức khác nhau trong điều
kiện của các hình thái kinh tế - xã hội. Trong xã hội XHCN, "dân chủ" có một chất lượng
mới, nội dung "quyền lực thuộc về nhân dân" được phát triển đầy đủ trên cơ sở một nền
kinh tế phát triển cao, giải phóng sức sản xuất, vượt qua lợi ích ích kỷ của giai cấp thống
trị. Nhờ vậy, dân chủ là yếu tố bảo đảm cho quá trình giải phóng và phát triển toàn diện
con người, đem lại cho họ quyền làm chủ cuộc sống, quyền sáng tạo và sản xuất của cải
vật chất, tinh thần cho xã hội, trong đó, "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho
sự phát triển tự do của tất c¶ mäi ng-êi" [34, tr. 569].

"Dân chủ", theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trước hết là một hình thức nhà
nước. Nhà nước đó, một mặt thực hiện dân chủ và mặt khác thực hiện trấn áp đối với giai cấp
khác trong xã hội, V.I. Lênin viết: "Chế độ dân chủ, đó là một nhà nước thừa nhận việc thiểu
số phục tùng đa số, nghĩa là sự tổ chức bảo đảm cho một giai cấp thi hành bạo lực một cách
có hệ thống chống lại một giai cấp khác" [30, tr. 101]. Vì vậy, trong lịch sử xã hội loài
người, dân chủ luôn mang tính giai cấp, nó tồn tại dưới những hình thức cụ thể, biến đổi
cùng với sự thay đổi của phương thức sản xuất và kết cấu giai cấp của xã hội.

Dân chủ là một quá trình phát triển, là kết quả của các cuộc đấu tranh của nhân
dân. Do vậy, dân chủ XHCN là một hiện tượng hợp quy luật, là bước phát triển cao hơn về
chất so với các kiểu dân chủ trong lịch sử mà bản chất của nó là nhằm giải phóng con
người khỏi áp bức bóc lột và tạo điều kiện để con người được phát triển toàn diện. Theo
C.Mác, chế độ dân chủ XHCN thực chất là chế độ "do nhân dân tự quy định nhà nước", từ
việc nhân dân tổ chức bầu cử để hình thành bộ máy nhà nước đến tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước dựa trên nguyên tắc do dân và vì dân cũng như việc kiểm tra, giám sát
của nhân dân đối với hoạt động cña bé m¸y nhµ n-íc.

Trong chế độ dân chủ, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Điều
đó được thể hiện ở chỗ: nhân dân tự tổ chức (bầu cử) quyền lực nhà nước; nhân dân có
quyền tham gia quản lý và quyết định những vấn đề quan trọng của nhà nước (trưng cầu
dân ý); nhân dân có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tư
tưởng này của Mác về sau được Lênin tiếp thu và phát triển trong một điều kiện mới với tư
tưởng "chủ nghĩa xã hội sẽ không chiến thắng nếu không thực hiện đầy đủ chế độ dân
chủ". Lênin đã khái quát quyền dân chủ trong lĩnh vực chính trị của nhân dân thành ba nội
dung lớn đó là: Quyền bầu cử; quyền tham gia quản lý các công việc của nhà nước và
quyền bãi miễn.
Nh- vËy, theo chñ nghÜa M¸c - Lªnin th× d©n chñ XHCN sẽ có những đặc điểm
cơ bản sau:

+ D©n chñ cho nh©n d©n lao ®éng (sè ®«ng).

+ Dân chủ thực sự. Tức là biến "dân chủ" từ khẩu hiệu trở thành hành động thực tế
thông qua vai trò của nhà nước.

+ Dân chủ XHCN là nền dân chủ toàn diện trên các lĩnh vực, chính trị, kinh tế, t ư
tưởng, văn hóa... Thực chất của dân chủ XHCN là sự tham gia một cách thực sự bình đẳng
và ngày càng rộng rãi của những người lao động vào quản lý công việc của nhà nước và xã
hội. Thống nhất được quyền và nghĩa vụ của công dân trong mối quan hệ với nhà nước. Vì
vậy, nó trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển xã hội.

­ Quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ

Tiếp thu và kế thừa các quan điểm về "dân chủ" của nhân loại, Hồ Chí Minh đã
tiếp cận và lý giải khái niệm "dân chủ" một cách đơn giản, nhưng hết sức cô đọng và điều
quan trọng là mọi người (đặc biệt là người dân) dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểm soát. Người
nói: "Chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là dân làm chủ" [42, tr. 251].

Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chñ" [38, tr. 515]. Hoặc có
lúc Người viết:

N-íc ta lµ n-íc d©n chñ

Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

C«ng viÖc ®æi míi, x©y dùng lµ tr¸ch nhiÖm cña d©n

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân

Chính quyền từ xã đến Chính phủ do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân [37, tr. 698].
Như vậy, "dân là chủ" và "dân làm chủ" là cốt lõi trong khái niệm "dân chủ" mà
Hồ Chí Minh giải thích.

Quan niệm trên đây của Hồ Chí Minh cho thấy nội dung của dân chủ đã thể hiện
được nội dung căn bản nhất của loài người về khái niệm dân chủ - quyền lực thuộc về
nhân dân. Quan điểm "dân là chủ", "dân làm chủ" là quan điểm nhất quán trong tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng một chế độ xã hội mới, một nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, mà
trong đó địa vị của người dân từ một người dân mất nước (nô lệ) trở thành chủ nhân ông
của xã hội với tư cách là một "công dân" và nhà nước đó đã bảo đảm quyền "là chủ" đó
của công dân để họ trở thành người "làm chủ" trong việc xây dựng nhà nước và xã hội. Do
vậy, thực hành dân chủ (biến dân chủ trở thành hiện thực) được Hồ Chí Minh xem như là
chiếc "chìa khóa vạn năng" để đi đến thành công.

1.1.1.2. Quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa

­ Khái niệm quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa

Nếu hiểu dân chủ là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân làm chủ xã
hội và tham gia vào việc quản lý xã hội, thì quyền dân chủ là tất cả những quyền năng nắm
giữ và thực hiện quyền lực nhà nước của người d©n ®-îc luËt ph¸p ghi nhËn. Đó là tổng
hợp các quy phạm pháp luật quy định quyền của công dân trong mối quan hệ với Nhà
nước và các chủ thể khác trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nó bao gồm các
quyền về dân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã héi.

Như vậy, khi nói tới quyền dân chủ hay các giá trị dân chủ được thể chế hóa, trước
hết phải xác định nguồn gốc của nó là do pháp luật thừa nhận và quy định phù hợp với
điều kiện kinh tế, chính trị của xã hội trong từng thời kỳ. Sau đó Nhà nước bảo đảm cho
các giá trị đó được thực hiện trên thực tế.

Quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà n ước
XHCN ban hành và bảo đảm thực hiện, bao gồm các quy định về quyền của công dân
trong mối quan hệ với Nhà nước và các chủ thể khác trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội… bảo đảm cho nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước.

­ Quyền dân chủ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội
+ Quyền dân chủ trong lĩnh vực chính trị:

Đây là nhóm quyền quan trọng và trước hết đối víi ng-êi d©n cña bÊt kú một quốc
gia nào. Nó xác định tư cách hay địa vị của công dân trong xã hội.

Dân chủ trong lĩnh vực chính trị, theo Lênin:

¸p dụng chế độ dân chủ Xô viết, tức là chế độ dân chủ vô sản một cách
cụ thể nhất… trước hết các cử tri đều phải là quần chúng cần lao và bị bóc lột…
Hai là: Mọi thủ tục và những hạn chế có tính quan liêu đều bị xóa bỏ, quần
chúng tự quy định lấy thể thức và thời hạn bầu cử, hoàn toàn có quyền tự do bãi
miễn những người mà họ bầu ra [28, tr. 343].

ë ViÖt Nam, nhân dân là chủ thể chân chính và duy nhất của quyền lực xã hội; Nhà
nước, pháp luật và các thiết chế công quyền chỉ là đại diện thừa hành, hay công cụ tiện dụng
của nhân dân, nhằm thực hiện quyền lực ấy một cách có tổ chức và hiệu quả. Quyền chính trị
là các quyền xác định khả năng của công dân vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bao
gồm: Quyền có quốc tịch, quyền được sống trong một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lãnh thổ; các quyền bầu cử là quyền được lựa chọn hay bãi nhiệm những đại
biểu đại diện cho mình để thiết lập nên các cơ quan đại diện (cơ quan quyền lực nhà nước),
hay tự mình ứng cử để tham gia vào các cơ quan quyền lực nhà nước. Quyền khiếu nại, tố
cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật, tham nhũng, xâm phạm đến lợi ích công cộng,
quyền và lợi ích chính đáng của công dân; các quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, lập
hội, hội họp, biểu tình.

+ Quyền dân chủ trong lĩnh vực dân sự, kinh tế:

Trong lÜnh vùc d©n sù: Là các quyền tự nhiên, gắn liền với mỗi con người được
pháp luật ghi nhận và bảo vệ bao gồm: Các quyền nhân thân (quyền đối với họ, tên, hình
ảnh, quyền đối với quốc tịch, nơi cư trú, quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, bí mật
đời tư, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đi lại…); các quyền sở hữu, thừa kế và các quyền
khác đối với tài sản; quyền tham gia quan hệ pháp luật dân sự… Quyền dân sự cho phép
con người bảo vệ được cá tính là chính mình trong quan hệ với nhà n ước và người khác.
Các quyền dân sự là tiền đề để xây dựng một chế độ Nhà nước dân chủ.
Trong lĩnh vực kinh tế: Với mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ
sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức, tổ chức sản
xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân,
trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng.

Các quyền trong lĩnh vực kinh tế gắn liền với việc bảo đảm cho cá nhân tự do sử
dụng các đồ dùng và các yếu tố cơ bản của hoạt động sản xuất - các điều kiện sản xuất và
sức lao động là một trong các điều kiện quan trọng nhất cho sự tồn tại của xã hội công dân
với tư cách là cơ sở xã hội của chế độ dân chủ và cho sự bảo đảm tự do của cá nhân.

Các quyền kinh tế ngày càng được mở rộng cho cá nhân, đó là việc nhà nước tôn
trọng và bảo hộ các quyền sở hữu hợp pháp của cá nhân, các cá nhân có quyền tự do lựa
chọn ngành nghề kinh doanh trong cơ chế bình đẳng, công bằng, công khai giữa các thành
phần kinh tế.

+ Các quyền dân chủ trong lĩnh vực văn hoá - xã hội:

Nhóm các quyền này quy định nghĩa vụ của nhà nước bảo đảm cho người dân
những điều kiện sinh tồn xứng đáng, những phúc lợi và dịch vụ vật chất tối thiểu để duy trì
cuộc sống của con người, phát triển tinh thần trong một môi trường bao quanh lành mạnh.
Khi đó, các quyền xã hội sẽ bao gồm quyền được bảo hiểm xã hội, có nơi ở, hưởng an toàn
lao động, bảo vệ sức khỏe... Các quyền văn hóa có nhiệm vụ bảo đảm sự phát triển tinh
thần của cá nhân, đó là quyền học tập, tự do sáng tạo, tận hưởng các giá trị văn hóa…; các
quyền sinh thái là quyền có một môi trường bao quanh tốt lành, có thông tin đáng tin cậy
về thực trạng của nó.

Trªn ®©y lµ nh÷ng quyền dân chủ cơ bản của cá nhân cần được bảo đảm và thực
hiện trong một chế độ nhà nước dân chủ. Mức độ thực hiện chúng trên thực tế là thước đo
tính dân chủ của mỗi nhà nước.

Mở rộng và thực hiện các quyền dân chủ chính là mục đích mà Nhà nước XHCN
đang cố gắng đạt tới nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
1.1.2. Thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa

1.1.2.1. Khái niệm thực hiện quyền dân chủ

Pháp luật ghi nhận các quyền dân chủ của công dân trên các lĩnh vực của đời sống
xã hội, song dù ghi nhận đầy đủ đến đâu cũng trở nên không có ý nghĩa nếu như các quyền
đó không được thực hiện trong cuộc sống. Vì vậy, thực hiện quyền dân chủ là hoạt động
không thể thiếu kể từ khi pháp luật ghi nhận quyền dân chủ của công dân. Thực hiện
quyền dân chủ là một trong những hình thức thể hiện bản chất dân chủ của Nhà n ước
XHCN. Thực hiện quyền dân chủ là một hình thức thực hiện pháp luật, là một hoạt động
có mục đích nhằm đưa những quy định của pháp luật vào thực tế cuộc sống. Thực hiện
quyền dân chủ là hoạt động do nhiều chủ thể tiến hành (Nhà nước, tổ chức, công dân...), vì
vậy, việc thực hiện quyền dân chủ sẽ phụ thuộc vào ý chí của mỗi chủ thể, song trong đó ý
chí của Nhà nước vẫn giữ vai trò quyết định.

Từ những căn cứ trên, theo chúng tôi, khái niệm thực hiện quyền dân chủ có thể
được hiểu như sau:

Thực hiện quyền dân chủ là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hóa các quy
định của pháp luật về dân chủ, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi
thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Thực hiện quyền dân chủ là quá trình cụ thể
hóa phương châm: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".

1.1.2.2. Các phương thức thực hiện quyền dân chủ

D©n chñ ®¹i diÖn

Dân chủ đại diện là hình thức thể hiện ý chí không trực tiếp từ chủ thể quyền lực
mà thông qua đại diện có thẩm quyền do chủ thể bầu ra. Chủ thể quyền lực (tức nhân dân)
vẫn giữ cho mình quyền và chức năng tác động, giám sát, kiểm tra hoạt động của các cơ
quan đại diện. Dân chủ đại diện là một hình thức thực hiện dân chủ quan trọng, có ý nghĩa
to lớn trong quy trình thực hiện quyền lực của nhân dân và đã được thực tiễn hoạt động
Nhà nước trong các quốc gia dân chủ ghi nhận. Hình thức đầu tiên của chế độ dân chủ đại
diện là chế độ đại nghị tư sản, ra đời trong lòng chế độ quân chủ phong kiến chuyên chế,
trở thành công cụ của giai cấp tư sản trong quá trình đang lên. ë Việt Nam, dân chủ đại
diện với các quan điểm của chế độ "dân ủy" đã được khẳng định ngay trong Hiến pháp đầu
tiên (Hiến pháp 1946) và tiếp tục khẳng định trong tất cả các bản Hiến pháp sau này. Điều
6 Hiến pháp 1992 quy định: "Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội
và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân,
do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân". Như vậy, hình thức chủ yếu của
dân chủ đại diện ở nước ta là thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp.
Ngoài ra, nhân dân còn làm chủ thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề
nghiệp của nhân dân được lập nên theo nguyên tắc tù nguyÖn.

Tuy nhiên, dân chủ đại diện dù có ý nghĩa quan trọng đến mấy vẫn không thể khắc
phục được những hạn chế của chế độ nhà nước với tính cách là chủ thể quyền lực được ủy
quyền nhưng lại trực tiếp thực hiện quyền năng của người ủy quyền là nhân dân. Do vậy,
trong một phạm vi, mức độ đáng kể nhân dân vẫn bị tách khỏi quyền lực nhà nước và
không phải lúc nào những ủy quyền của nhân dân cũng được thực thi đúng. Vẫn có nguy
cơ về căn bệnh tha hóa quyền lực, quan liêu hóa bộ máy nhà nước, sự cồng kềnh, kém hiệu
quả của các thiết chế quyền lực, sự xuất hiện một bộ phận cán bộ đặc quyền, đặc lợi trong
bộ máy nhà nước sẽ khó khắc phục nổi nến thiếu các nỗ lực của các lực lượng quần chúng
nhân dân. Để khắc phục tình trạng đó cần phải có sự tham gia tích cực và chủ động của
nhân dân với tư cách là chủ thể duy nhất và tối cao của quyền lực nhà nước - Đó chính là
chế độ dân chủ trực tiếp.

Dân chủ trực tiếp

Dân chủ trực tiếp là hình thức thể hiện ý chí trực tiếp của chủ thể quyền lực về
những vấn đề cơ bản, chính yếu của một tập thể, một cộng đồng. Cơ quan quản lý có trách
nhiệm ghi nhận ý chí đó và bảo đảm đưa nó vào thực thi trong cuộc sống.

Dưới góc độ pháp lý, dân chủ trực tiếp được thể hiện ở ba nhóm quyền năng cơ
bản của nhân dân là: Các quyền năng thể hiện, xác lập ý chí trực tiếp của nhân dân đối với
các vấn đề quốc gia, dân tộc (đưa ra các sáng kiến, thỉnh nguyện, trưng cầu ý dân…); các
quyền năng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong khuôn khổ phạm vi
được ủy quyền theo luật định (quyền lập ra bộ máy nhà nước; quyền giám sát các hoạt
động của bộ máy nhà nước; quyền bãi miễn các đại biểu do nhân dân bầu vào cơ quan đại
diện và quyền lực nhà nước…); các quyền năng của nhân dân trực tiếp giải quyết các công
việc của cộng đồng mà không cần có sự can thiệp trực tiếp của công quyền.

Dân chủ trực tiếp có vị trí, vai trò và ý nghĩa vô cùng to lớn đối với toàn bộ đời
sống dân chủ của đất nước được thể hiện trên những điểm chính sau đây:

- Bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ
của nhân dân trong quá trình xây dựng Nhà nước và xã hội, giải quyết những vấn đề lớn từ
quốc kế dân sinh đến những việc của đời sống cộng đồng, dân cư. Thông qua hình thức
dân chủ trực tiếp, nhân dân có điều kiện tham gia ý kiến, có điều kiện để tập dượt, trưởng
thành, trở thành người chủ đích thực. Một Nhà nước biết lắng nghe và học hỏi dân, biết bồi
dưỡng và nâng cao đời sống của dân thì nhân dân không chỉ nói lên điều mình mong muốn
mà còn gợi ý, kiến nghị và chỉ ra rằng Nhà nước cần phải hành động như thế nào, bằng
phương pháp và công cụ nào để giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội. Thực tiễn của những
năm đổi mới vừa qua đã chứng tỏ rằng, những sáng kiến đầy tâm huyết của nhân dân là
một nguồn trí tuệ vô cùng quý giá góp phần to lớn hoàn thiện những chủ trương, đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo ra những bước phát triển vững chắc của đất
nước trên con đường phát triển và hội nhập.

- Dân chủ trực tiếp tạo nên cơ chế đối trọng, kiểm tra, giám sát đối với hình thức
dân chủ đại diện, với bộ máy nhà nước, giảm bớt sự tùy tiện, lạm quyền, phát huy được
tính tự giác, tích cực của mỗi thành viên trong một tập thể, một cộng đồng. Khắc phục thói
quen trì trệ, ỷ lại, trông chờ người khác; phát huy truyền thống tương thân, tương ái, giúp
đỡ lẫn nhau, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân vì mục tiêu: "Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh".

Dân chủ trực tiếp là hệ thống báo động nhạy cảm nhất, những thông tin phản hồi
nhanh nhất về hiệu lực, hiệu quả của các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước. Giúp cho Đảng và Nhà nước kiểm nghiệm lại đường lối, chính sách của mình
một cách nhanh nhất, kịp thời sửa chữa, bổ sung, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí, xa
với thực tế, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng vµ nh©n d©n.

Tăng cường và hoàn thiện các chế độ thực hiện dân chủ của nhân dân là việc làm
lâu dài và thường xuyên của Đảng và Nhà nước để bảo đảm mỗi bước phát triển của dân
chủ phải được ghi nhận bởi các quy định của pháp luật có tính chất mở đường định hướng
cho sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Nhưng việc phát huy và mở rộng dân chủ phải
phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, truyền thống văn hóa,
phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, dân chủ đi đôi với kỷ cương, quyền hạn gắn với
trách nhiệm, lợi ích đi đôi với nghĩa vụ.

1.2. những vấn đề chung về Quy chế và hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ
ở c ơ sở

1.2.1. Khái niệm Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

Quyền dân chủ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp, luật và các văn
bản dưới luật khác. Để thực hiện quyền dân chủ của công dân đòi hỏi các cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội, các nhân viên nhà nước, các cán bộ, công chức và mọi công dân phải
triệt để tuân thủ pháp luật. Nói cách khác, thực hiện quyền dân chủ là tất cả các quyền dân
chủ do pháp luật quy định được tôn trọng và thực hiện trên thực tế. Thực hiện quyền dân
chủ ở cơ sở là việc chính quyền (HĐND, ñy ban nhân dân (UBND)) và các đoàn thể ở xã,
phường, thị trấn phải thực hiện một số hành vi nhất định để công dân thực hiện được các
quyền dân chủ của mình. Việc thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở được tiến hành trên cơ sở
các quy định của pháp luật hiện hành. Hiện nay, văn bản quy phạm pháp luật về thực hiện
dân chủ ở cơ sở là Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở (ban hành kèm theo Nghị định
79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003 của Chính phủ).

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước
ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa chính quyền cơ sở với công dân
trong việc phải thông tin kịp thời và công khai những việc để dân biết; những việc dân bàn
và quyết định trực tiếp; những việc dân tham gia ý kiến tr ước khi cơ quan nhà nước quyết
định; những việc dân giám sát kiểm tra và việc xây dựng cộng đồng dân cư thôn.

1.2.2. Ph¹m vi ®iều chỉnh của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

Phạm vi điều chỉnh của pháp luật (nói chung) là giới hạn điều chỉnh của hệ thống
pháp luật nhưng không phải là giới hạn chung cho tất cả các chế định pháp luật và các
ngành luật. Mỗi chế định pháp luật, mỗi ngành luật đều có phạm vi điều chỉnh riêng, đó là
những quan hệ xã hội cùng loại thuộc một lĩnh vực của đời sống xã hội cần có sự điều
chỉnh bằng pháp luật. Ví dụ: Luật dân sự có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ tài sản
mang tính chất hàng hóa - tiền tệ và một số quan hệ nhân thân phi tài sản; luật hành chính
có đối tượng điều chỉnh chủ yếu là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện
chức năng quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước…

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là một chế định pháp luật do vậy nó cũng có
đối tượng điều chỉnh riêng. Đối tượng điều chỉnh của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
cũng được xác định trên cơ sở lý luận về đối tượng điều chỉnh của pháp luật nói chung,
nghĩa là Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở chỉ điều chỉnh trong giới hạn xác định hoạt
động của chính quyền cấp xã, phường, thị trấn liên quan đến quyền dân chủ của công dân.

Hiện nay Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ban hành kèm theo Nghị định
79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003 của Chính phủ có phạm vi điều chỉnh gồm:

Thứ nhất: Những việc cần thông báo để nhân dân biết

Đây là những nội dung rất quan trọng đối với nhân dân nó liên quan đến các quyền
và lợi ích thiết thân của nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Chính quyền cấp xã có trách nhiÖm phèi hîp víi ñy ban MÆt trËn Tæ quèc (MTTQ)
ViÖt Nam, c¸c thµnh viªn cña MTTQ ViÖt Nam cïng cÊp vµ Tr-ëng thôn để thông báo cho
nhân dân biết những nội dung này bằng nhiều hình thức.

Thứ hai: Những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp

§©y lµ nh÷ng nội dung liên quan đến quyền lợi trực tiếp của nhân dân, nhân dân
có quyền quyết định trực tiếp những công việc này, phù hợp với pháp luật. Chính quyền
cấp xã có trách nhiệm xây dựng phương án, chương trình, kế hoạch để nhân dân xem xét,
bàn bạc và quyết định. UBND cấp xã phối hợp với MTTQ Việt Nam cùng cấp chỉ đạo
Trưởng thôn và Trưởng ban công tác mặt trận tổ chức thực hiện những vấn đề do nhân dân
tự quyết định đã được UBND xã công nhận.

Thứ ba: Những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến, chính quyền xã quyết định

Đây là những công việc thuộc thẩm quyền quyết định của chính quyền cấp xã hoặc
của cơ quan nhà nước cấp trên nhưng có liên quan đến việc phát triển kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội ở địa phương. Nhân dân được bàn bạc, tham gia ý kiến. Chính quyền cấp
xã tổ chức lấy ý kiến nhân dân công khai để dựa vào đó mà ban hành quyết định hoặc trình
cấp có thẩm quyền quyết định.

Thø t­: Nh÷ng viÖc nh©n d©n gi¸m s¸t kiÓm tra

Đây là những nội dung liên quan đến hoạt động quản lý, điều hành của chính
quyền cấp xã, nhân dân có quyền giám sát, kiểm tra đối với các hoạt động ấy bằng nhiều
hình thức khác nhau. Chính quyền cấp xã có trách nhiệm giải quyết và trả lời những nội
dung mà nhân dân quan tâm theo thẩm quyền.

Thø n¨m: X©y dùng céng ®ång d©n c­ th«n

Nh»m thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình thức
hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư và là nơi tổ chức cho nhân dân thực hiện chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao.
Tổ chức thôn được thành lập, Trưởng thôn là người đại diện cho nhân dân trong thôn do
nhân dân bầu và được Chủ tịch UBND xã công nhận. Thôn xây dựng hương ước, quy ước
về công việc nội bộ cộng đồng dân cư, kế thừa và phát huy thuần phong, mỹ tục của cộng
đồng, phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành nhằm bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, tệ
nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, xây dựng nôn g
thôn mới giàu đẹp, văn minh.

Xác định phạm vi điều chỉnh của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa
hết sức quan trọng, một mặt giúp cho chính quyền thấy được những nội dung công việc cụ
thể phải thực hiện, mặt khác để người dân thực hiện quyền dân chủ trong khuôn khổ của
pháp luật tránh việc lợi dụng dân chủ để gây mất đoàn kết nội bộ, phá rối trật tự công cộng
hoặc có những hành vi chống phá chính quyền nhân dân.

1.2.3. Vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

1.2.3.1. Vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở với việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam

HÖ thèng ph¸p luËt XHCN ViÖt Nam lµ tæng thÓ c¸c quy ph¹m ph¸p luËt có mối
liên hệ chặt chẽ với nhau, được quy định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và
được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà n-íc ban hµnh theo nh÷ng
tr×nh tù, thñ tôc vµ hình thức nhất định [24, tr. 173]. Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
được ban hành kèm theo Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 được sửa đổi thay
thế bằng Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ban hành kèm theo Nghị định 79/1998/NĐ-CP
ngày 7/7/2003 là một chế định pháp luật hợp thành của hệ thống pháp luật Việt Nam. Sự ra
đời của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở đã góp phần hoàn chỉnh hệ thống pháp luật,
phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới.
Bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN là những quan hệ xã hội quan trọng phải được điều
chỉnh bằng pháp luật. Đồng thời, Quy chế thực hiện dân chủ đã thể chế hóa các chủ trương
lớn của Đảng là: Quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh
vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn
đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được. Phương châm
"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hóa và thể chế hóa thành luật
pháp, chậm đi vào cuộc sống… phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân
dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát nhà nước, khắc phục tình
trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng (Chỉ thị 30/CT-TW ngày
18/2/1998).

Trong phạm vi điều chỉnh của mình, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở góp phần
nâng cao hiệu quả tác động của các ngành luật khác như: "Luật tổ chức Hội đồng nhân dân -
ñy ban nhân dân, Luật khiếu nại, tố cáo; Luật bầu cử Quốc hội; Luật bầu cử Hội đồng nhân
dân các cấp". Có thể xem Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở như một văn bản "tố tụng" về
dân chủ, nó đã thúc đẩy các cơ quan nhà nước, các nhà chức trách thực hiện nghiêm chỉnh
các nghĩa vụ pháp lý để bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân theo quy định của
pháp luật.

Như vậy, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở đã góp phần hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam, "nó" không chỉ là công cụ thể chế hóa một số chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước mà còn đóng góp tích
cực vào việc nâng cao hiệu quả tác động của các ngành luật khác.

1.2.3.2. Vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở trong đời sống xã hội
Với các quan điểm chỉ đạo trong quá trình xây dựng Quy chế thực hiện dân chủ ở
cơ sở là:

§Æt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ chế
tổng thể của hệ thống chính trị "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân
làm chủ", coi trọng cả ba mặt nói trên, không vì nhấn một mặt mà coi nhẹ, hạ
thấp các mặt khác. Vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất
lượng và hiệu lực hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và ñy
ban nhân dân các cấp vừa thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cấp cơ sở để
nhân dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng thiết thực,
gắn liền với lợi ích của mình. Phát huy dân chủ phải gắn liền với phát triển kinh
tế - xã hội và nâng cao dân trí, tạo điều kiện mở rộng dân chủ có chất lượng và
hiệu quả [14, tr. 2].

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ra đời đã có vai trò hết sức quan träng trong
®êi sèng x· héi thÓ hiÖn trªn c¸c lÜnh vùc.

* Trong lĩnh vực chính trị

Nhân dân có nhu cầu ổn định chính trị, an ninh, trật tự ở nơi mình sinh sống làm
điều kiện tiên quyết để an tâm sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế, đời sống mọi mặt.
Thực tiễn đã chỉ ra rằng, khi dân được cung cấp đầy đủ thông tin, hiểu đúng đắn và đầy đủ
chính sách pháp luật của Nhà nước và các quyền cơ bản của mình, thì khi đó nhân dân giác
ngộ và quyền dân chủ mới được phát huy một cách lành mạnh và đúng hướng.

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở đã cho nhân dân thấy được vai trò làm chủ thực
sự của mình, họ thực sự là chủ thể của quyền lực nhà nước, là đối tượng kiểm tra, giám sát
hoạt động của Nhà nước. Được tham gia tổ chức và tự giác trong bầu cử trực tiếp ra các cơ
quan nhà nước của mình (bầu Quốc hội, HĐND các cấp). Được nâng cao dân trí, hiểu biết
cơ bản về đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật, chính sách của Nhà nước
để có hiểu biết, có ý thức pháp luật, hiểu rõ quyền hạn, quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ
của công dân… một cách ngày càng rõ ràng đúng đắn. Được tham gia bảo vệ Đảng, chính
quyền bằng việc giám sát, kiểm tra, góp ý xây dựng, phê bình… đối với đảng viên, cán bộ
nhà nước và đoàn thể các cấp. Phát hiện, ngăn chặn các biểu biểu hiện sai trái, tiêu cực.
Được tham gia quản lý nhà nước trực tiếp ở cấp cơ sở theo phương châm: Dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra:

* Trong lĩnh vực kinh tế ­ văn hóa ­ xã hội

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ra đời phù hợp với ý Đảng, lòng dân, nâng cao
hơn quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân, nhân dân được bàn bạc và quyết định những
công việc trong sản xuất, lưu thông, phân phối, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội;
nhân dân phấn khởi, tự giác và tích cực xây dựng nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật
tự xã hội, bài trừ các hủ tục lạc hậu. Thực tế cho thấy, trong những năm qua trên phạm vi
cả nước nhân d©n ®· dèc c«ng, dèc cña ®Ó x©y dùng c¸c c«ng tr×nh phóc lîi c«ng céng
"§iÖn, đường, trường, trạm", tham gia các phong trào đền ơn, đáp nghĩa, quỹ vì người
nghèo, hiến tặng đất đai, tài sản cho các công trình quan trọng của quốc gia. Được quyền
làm chủ trên lĩnh vực kinh tế nhân dân tự giác hơn trong việc thực hiện các nghĩa vụ với
Nhà nước, nhất là nghĩa vụ thuế.

Như vậy, nhiều vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội trước đây giải quyết rất khó khăn,
phức tạp, nhưng nhờ Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở đã phát huy quyền làm chủ của
nhân dân, mọi người được biết, được bàn dân chủ, chính quyền các cấp nâng cao trách
nhiệm và công khai hóa nên đã giải quyết các vấn đề kinh tế một cách thuận lợi, không
phát sinh khiếu kiện đông người, kéo dài. Không nảy sinh mâu thuẫn lớn; nhiều công trình
kinh tế, văn hóa, xã hội đòi hỏi sự đóng góp sức dân rất lớn, nhờ vận dụng phương châm
"Nhà nước và nhân dân cùng làm", nên đã đem lại những thành tựu rất lớn cho nền kinh tế,
xã hội của đất nước.

* Trong lĩnh vực quản lý nhà nước

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở thực sự là công cụ cho hoạt động quản lý, điều
hành của chính quyền cơ sở. Quy chế đã xác định rõ những nhiệm vụ và phương thức thực
hiện các nhiệm vụ của chính quyền cơ sở một cách khá cụ thể, mặt khác nhân dân cũng
xác định được phạm vi, nội dung những nghĩa vụ mà chính quyền phải thực hiện đối với
nhân dân; tránh được những đòi hỏi, yêu sách quá đáng, thiếu cơ sở gây rối loạn trật tự xã
hội cũng như cản trở hoạt động đúng đắn của chính quyền.
Tóm lại, sự ra đời của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là phù hợp với tình hình
lịch sử của đất nước. Nhân dân rất phấn khởi vì "Quy chế" vừa giải quyết được những bức
xúc của nhân dân, phát huy quyền làm chủ, tính sáng tạo của nhân dân, vừa nâng cao được
vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của chính quyền, sự vận động của Mặt trận và các đoàn
thể trong phát triển kinh tế xã hội. Niềm tin đối với Đảng được tăng cường, mối quan hệ
gắn bó giữa người lãnh đạo và đông đảo quần chúng được củng cố đã thúc đẩy sự tích cực,
sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

1.2.4. Các tiêu chí hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là một bộ phận hợp thành của hệ thống pháp
luật Việt Nam. Mục đích ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy
quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở cơ sở, động viên sức mạnh vật chất và tinh
thần to lớn của nông dân và nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội,
tăng cường đoàn kết nông thôn, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng bộ,
chính quyền và các đoàn thể ở cơ sở trong sạch, vững mạnh, ngăn chặn và khắc phục tình
trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng, góp phần vào sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, văn minh, theo định hướng XHCN. Bước đầu Quy chế đã đạt được những
mục tiêu nhất định. Song, trước sự phát triển không ngừng của trình độ kinh tế, chính trị,
văn hóa, xã hội của đất nước, với những thay đổi lớn lao của thời đại, tất yếu sẽ đặt ra nhu
cầu về một phạm vi và mức độ điều chỉnh pháp lý, hợp lý lớn hơn đối với quyền dân chủ
của người dân, thì hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là vấn đề cần thiết, có ý
nghĩa quan trọng hiện nay. Nhưng hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phải
được dựa trên những tiêu chí cụ thể, xác định, lấy đó làm chuẩn để đánh giá mức độ hoàn
thiện cũng như chất lượng của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở trên thực tế.

Hoµn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là xây dựng hoàn chỉnh, phù hợp
nâng cao chất lượng, tính khả thi và bền vững của "Quy chế" trong thực tiễn. Trong mục
này, luận văn nghiên cứu và định ra các tiêu chí hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở
cơ sở trên cơ sở xem xét những tiêu chí cơ bản của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói
chung, từ đó định ra những tiêu chí cụ thể cho việc hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ
ở cơ sở nói riêng.
1.2.4.1. Những tiêu chí chung

* Tiêu chí về tính toàn diện

Tính toàn diện là tiêu chí quan trọng thể hiện mức độ hoàn thiện của một văn bản
luật hoặc của cả một hệ thống pháp luật. Tiêu chí này có ý nghĩa trong việc "định lượng"
một văn bản quy phạm pháp luật cũng như một hệ thống pháp luật. Bởi vậy, nó có vai trò
rất quan trọng, chỉ trên cơ sở "định lượng" mới có thể tiếp tục nghiên cứu để "định tính"
trong xây dựng một văn bản luật hoặc xây dựng hệ thống pháp luật.

Tính toàn diện thể hiện ở hai cấp độ:

- ë cÊp ®é chung, ®èi víi hÖ thèng ph¸p luËt ®ßi hái hÖ thèng ph¸p luËt phải có
đủ các ngành luật theo cơ cấu nội dung lôgíc và thể hiện thống nhất trong hệ thống văn bản
quy phạm pháp luật tương ứng.

- ë cấp độ cụ thể, đối với mỗi ngành luật, mỗi văn bản quy phạm pháp luật phải có
đủ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luËt.

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là một chế định pháp luật có tính độc lập tương
đối trong hệ thống pháp luật Việt Nam, do vậy, về mặt "định lượng", Quy chế thực hiện
dân chủ ở cơ sở phải chứa đựng đầy đủ các quy phạm pháp luật quy định cách thức, biện
pháp thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát kiểm tra" và các
phương thức xây dựng cộng đồng dân cư, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu
hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia kiểm kê, kiểm soát nhà nước, khắc phục
tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và tham nhũng.

* Tiêu chí về tính đồng bộ

Tính đồng bộ thể hiện sự thống nhất của pháp luật. Tính đồng bộ được đặt ra để
tránh các hiện tượng trùng lập, chồng chéo hoặc mâu thuẫn ngay trong các quy định cña
ngµnh luËt hoÆc gi÷a c¸c bé phËn cña hÖ thèng ph¸p luËt.

Để tạo ra tính đồng bộ, đòi hỏi phải vừa có quan điểm tổng quát, vừa có quan điểm
cụ thể. Quan điểm tổng quát để xác định tính chất chung của mỗi ngành luật, mỗi chế định
pháp luật; quan điểm cụ thể để dự kiến chính xác các tình huống và hoàn cảnh cụ thể để đề
ra các quy phạm phù hợp.
Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phải dựa trên tiêu chí về tính đồng
bộ. Trên cơ sở tiêu chí này, kết cấu cũng như các quy định ở mỗi chương, mục, điều,
khoản của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở được đảm bảo về tính thống nhất cũng như
tránh trùng lắp, chồng chéo với nhau và với quy định của ngành luật khác có liên quan.

* Tiêu chí về tính phù hợp

Tính phù hợp thể hiện sự tương quan giữa trình độ của văn bản pháp luật với trình
độ phát triển của kinh tế - xã hội. Hệ thống pháp luật, ngành luật, văn bản quy phạm pháp
luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, chứ không được cao hơn
hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó. Tính phù hợp của hệ thống pháp luật, của ngành luật
thể hiện ở nhiều mặt, trong đó đặc biệt chú ý sự phù hợp của pháp luật với các quy luật
khách quan, nhất là các quy luật phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; phù hợp với
đường lối chính sách của Đảng, phù hợp với văn hóa, đạo đức, phong tục tập quán và các
quy phạm xã hội khác.

Tính phù hợp là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thiện của Quy chế
thực hiện dân chủ ở cơ sở trên thực tế. Tiêu chí này đặt ra yêu cầu "Quy chế" phải được
xây dựng trên cơ sở đường lối, quan điểm của Đảng, phù hợp với Hiến pháp và thống nhất
với các văn bản pháp luật khác có liên quan như: Luật tổ chức HĐND và UBND, Luật Bầu
cử Quốc hội, Luật Bầu cử HĐND các cấp; Luật Khiếu nại tố cáo của công dân… sự phù
hợp và thống nhất này không chỉ bảo đảm tính khả thi của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ
sở mà còn bảo đảm tính hiệu quả của các văn bản pháp luật kể trên, đặc biệt là khắc phục
hiện tượng trùng lắp, chồng chéo giữa các văn bản luật.

* Tiêu chí về quy tắc kỹ thuật pháp lý

Tiêu chí về các quy tắc kỹ thuật pháp lý là tiêu chí quan trọng trong quá trình xây
dựng pháp luật. Thông thường tiêu chí này được thể hiện ở ba điểm cơ bản sau đây:

­ Thø nhÊt: ThÓ hiÖn ë nh÷ng nguyªn t¾c tèi -u ®-îc v¹ch ra ®Ó ¸p dông trong
qu¸ tr×nh x©y dùng vµ hoàn thiện pháp luật, chẳng hạn như xác định mục đích và yêu cầu
của văn bản, các quan điểm của Đảng về vấn đề này, sưu tầm, tập hợp các tài liệu, văn bản
pháp luật có liên quan đến văn bản dự định sẽ biên soạn…
­ Thø hai: Thể hiện ở việc xác định chính xác c¬ cÊu ph¸p luËt.

­ Thø ba: Thể hiện ở cách biểu đạt thông qua ngôn ngữ pháp lý. Yêu cầu của cách
biểu đạt thông qua ngôn ngữ pháp lý là phải bảo đảm tính cô đọng, lôgíc, chính xác và một
nghĩa.

Trên đây là những tiêu chí cơ bản có ý nghĩa chung đối với việc hoàn thiện pháp
luật nói chung và Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở nói riêng. Bên cạnh những tiêu chí
chung này, vấn đề hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở còn phải dựa trên những
tiêu chí riêng và cụ thể được trình bày dưới đây.

1.2.4.2. Những tiêu chí riêng của hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

* Tiêu chí về hình thức

Hình thức của văn bản quy phạm pháp luật là tiêu chí đảm bảo cho văn bản đó có
tính pháp lý, tính khuôn mẫu và dễ áp dụng trong cuộc sống. Trước hết lựa chọn hình thức
văn bản để ban hành là nội dung quan trọng của tiêu chí này.

Pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở của Nhà nước ta hiện nay được ban hành dưới
dạng Nghị định kèm theo Quy chế như: Nghị định số 29/1989/NĐ-CP ngày 11/5/1998 và
Nghị định 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003 về việc ban hành kèm theo Quy chế thực hiện
dân chủ ở cơ sở, nhìn chung hình thức này đã được sử dụng phù hợp với nội dung văn bản,
bảo đảm giá trị pháp lý của văn bản trong giai đoạn lịch sử hiện nay.

Qua thực tiễn thi hành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở trong thời gian qua cho
thấy vẫn còn nhiều địa phương chưa thực sự coi trọng nhiệm vụ triển khai Quy chế ở địa
phương mình, nhiều cán bộ còn đánh giá thấp về tính pháp lý của Quy chế. Trên thực tế
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là một văn bản pháp lý, bảo vệ quyền làm chủ của nhân
dân, phản ánh bản chất của Nhà nước, của chế độ ta. Tuy nhiên, ở mức độ Quy chế thì
chưa tương xứng với tầm vóc của vấn đề. Đã đến lúc cần phải nâng Quy chế thực hiện dân
chủ thành ph¸p lÖnh hoÆc bé luËt về thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Có nh ư vậy
tính hiệu lực mới cao, đáp ứng được những đòi hỏi của thực tế khách quan và có tính khả
thi.
Ngoài ra, tiêu chí về hình thức của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở còn đòi hỏi
về tính rõ ràng, kết cấu chặt chẽ, lôgíc, các thuật ngữ pháp lý được sử dụng chính xác, một
nghĩa, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của quảng
đại quần chúng nhân dân.

* Tiêu chí về nội dung

Đây là tiêu chí quan trọng và cần thiết để xem xét về mức độ hoàn thiện của pháp
luật nói chung cũng như pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở nói riêng. Nội dung của pháp
luật thực hiện dân chủ ở cơ sở là những quy định tạo nền tảng pháp lý cho việc hiện thực
hóa các quyền tự do dân chủ của nhân dân đã được pháp luật quy định.

Tiêu chí này đặt ra yêu cầu: Nội dung của pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở phải
phản ánh được nhu cầu khách quan của sự phát triển xã hội, có như vậy sự tác động của
pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở đối với các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh
của nó mới đạt được hiệu quả mong muốn. Nhu cầu khách quan của sự phát triển xã hội
mà các quy định của pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở phản ánh được đó là:

+ Quy định quyền của mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, các chủ
trương, chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và
lợi ích hàng ngày ở cơ sở.

+ Có quy chế và hình thức để nhân dân, cán bộ, công chức ở cơ sở được bàn bạc
và tham gia ý kiến và các chủ trương, chính sách, nhiệm vụ công tác chuyên môn, công tác
cán bộ… của chính quyền; kết quả ý kiến đóng góp phải được xem xét, cân nhắc khi chính
quyền ra quyết định.

+ Hoàn thiện cơ chế để nhân dân ở cơ sở trực tiếp và thông qua Mặt trận, các đoàn
thể, Ban thanh tra nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền; kết quả thanh
tra, kiểm tra, giám sát của nhân dân phải được tiếp thu nghiêm túc.

+ Mở rộng các hình thức tự quản để nhân dân tự bàn bạc và thực hiện trong khuôn
khổ pháp luật những công việc mang tính xã hội hóa, có sự hỗ trợ của chính quyền.

+ Xác định rõ trách nhiệm và tổ chức tốt việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và trả lời thắc mắc của nhân dân, nghiêm cấm mọi hành vi trù dập người khiếu nại, tố cáo.
+ Xác định trách nhiệm của tổ chức chính quyền định kỳ báo cáo công việc trước
dân, phải tự phê bình và tổ chức để nhân dân góp ý kiến, đánh giá, phê bình; nghiêm túc
tiếp thu những ý kiến đóng góp đó.

Trên đây là những vấn đề có tính lý luận về hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ
ở cơ sở, là cơ sở cho việc đề ra những phương hướng và các giải pháp hoàn thiện Quy chế
thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay.

Kết luận chương 1

Trên cơ sở tìm hiểu tri thức lý luận về dân chủ, về quyền dân chủ của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh xác định rõ tính chất, nội dung của nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa, đó là nền dân chủ của nhân dân lao động. Nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ
xã hội.

Quyền dân chủ XHCN là tổng hợp các quyền của công dân trong mối quan hệ với
Nhà nước và các chủ thể khác trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật
ghi nhận và bảo đảm thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước.

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quá
trình thực hiện dân chủ ở cơ sở bao gồm: Những việc chính quyền địa phương phải thông
tin và công khai để dân biết, những việc dân bàn và quyết định trực tiếp, những việc dân
tham gia ý kiến trước khi cơ quan nhà nước quyết định, những việc dân giám sát kiểm tra
và các hình thức xây dựng cộng đồng dân cư thôn.

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở đã phát huy vai trò hết sức to lớn, là công cụ
phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, phường, thị trấn, động viên sức
mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong quá trình phát triển kinh tế ổn định
chính trị xã hội, tăng cường đoàn kết, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng hệ
thống chính trị cơ sở trong sạch vững mạnh; ngăn chặn những hành vi lợi dụng dân chủ, vi
phạm pháp luật, xâm phạm quyền tự do dân chủ của nhân dân; khắc phục tình trạng suy
thoái, quan liêu, tham nhũng góp phần vào sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là xây dựng hoàn chỉnh, đầy đủ,
đồng bộ, cũng như nâng cao chất lượng tính lâu bền và tính khả thi của Quy chế thực hiện
dân chủ ở cơ sở. Mức độ hoàn thiện của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở thể hiện qua
các tiêu chí cơ bản của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và các tiêu chí riêng
cụ thể của nó, bao gồm: Tiêu chí về tính toàn diện, tiêu chí về tính đồng bộ, tiêu chí về tính
phù hợp, tiêu chí về hình thức và tiêu chí về nội dung của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Ch­¬ng 2

Thực trạng Quy chế và thi hành Quy chế
thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay



2.1. Thùc tr¹ng Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

2.1.1. Quá trình hình thành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là vấn đề thuộc bản chất của Nhà nước, là
chủ trương của Đảng, là mục tiêu và động lực của công cuộc đổi mới. Trong 4 bản Hiến
pháp của nước ta, trước sau vẫn khẳng định quyền lực nhà nước là thuộc về nhân dân.
Nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Điều này không chỉ được
làm sáng tỏ về mặt lý luận mà còn thể hiện ở cách tổ chức và hoạt động của Nhà nước trên
thực tiễn sao cho ý tưởng về một Nhà nước của dân, do dân, vì dân trở nên hiện thực, hiệu
quả.

Nhận thức rõ dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, nên trong
những năm đổi mới, Đảng ta đã không ngừng nâng cao chất lượng dân chủ đại diện và
bước đầu tìm tòi các hình thức dân chủ trực tiếp. Nhờ đó, công cuộc đổi mới càng đi vào
chiều sâu thì nền dân chủ xã hội càng được mở rộng, từ dân chủ về kinh tế, chính trị đến
dân chủ trên lĩnh vực ý thức, tư tưởng. Trong tiến trình đổi mới đất nước những năm qua
chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ nhất là dân chủ về kinh tế, quyền tự
do làm ăn, kinh doanh, tham gia quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng quan
liêu, mất dân chủ trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, chính quyền và đoàn thể, với
những biểu hiện của sự xa dân, lộng quyền, hách dịch, sống xa hoa, lãng phí. Đảng ta đã
chỉ rõ: "Bộ máy đảng, nhà nước, đoàn thể chậm được sắp xếp lại, tinh giản và nâng cao
chất lượng, còn nhiều biểu hiện quan liêu, vi phạm nghiêm trọng quyền dân chủ của nhân
dân" [15, tr. 66-67]. Trên thực tế đã xảy ra hiện tượng quan liêu, mất dân chủ ở một bộ
phận cán bộ, đảng viên, nhất là chính quyền địa phương ở nhiều nơi trong cả nước, có nơi
rất nghiêm trọng. Phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ
thể hóa và thể chế hóa thành pháp luật. Một số cán bộ chính quyền đã lợi dụng kẽ hở trong
quá trình chuyển đổi cơ chế đã lợi dụng việc bán đất, đấu thầu, thực hiện dự án huy động
dân đóng góp quá sức vào xây dựng cơ sở hạ tầng, lập quỹ trái phép, lạm dụng công quỹ,
tham ô, hối lộ, mưu lợi cá nhân, quản lý lỏng lẻo gây thất thoát công quỹ. Trong khi đó,
nhiều đòi hỏi của dân về công bằng, dân chủ, công khai không được thực hiện, nhân dân
hầu như không được tham gia, bàn bạc, thảo luận và quy định những công việc cụ thể liên
quan đến đời sống của dân, vì vậy đã làm dân bất bình, phản ứng gay gắt. Do đó, mở rộng
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa một cách đúng hướng là cách tốt nhất để khắc phục, hạn chế
tình trạng trên. Ngày 18/2/1998 Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
đã ra Chỉ thị số 30/CT-TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Chỉ thị nêu
rõ:

Quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh
vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà
cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn
được. Phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể
hóa và thể chế hóa thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống [6, tr. 9].

Nhằm khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng,
Chỉ thị nhấn mạnh:

Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của
nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp
và rộng rãi nhất.

Muốn vậy, Nhà nước cần ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở có tính
pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực
hiện [6, tr. 10].

Như vậy, Đảng ta đã xác định dân chủ phải bắt đầu từ cơ sở, bởi vì cơ sở là nơi
trực tiếp gắn bó với nhân dân, tổ chức, vận động nhân dân thực hiện mọi chủ trương của
Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; mọi sự đổi mới của hệ thống chính trị ở cơ
sở dù lớn hay nhỏ đều tác động trực tiếp và nhanh chóng đến quyền và nghĩa vụ của nhân
dân.
Thực hiện và thể chế hóa các quan điểm của Đảng, ngày 26/2/1998, ñy ban Thường
vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 45-1998/NQ-UBTVQH 10 giao cho Chính phủ khẩn
trương ban hành Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Quán triệt tinh thần đó, ngày
11/5/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ban hành Quy chế thực
hiện dân chủ ở xã (kèm theo Quy chế); để tổ chức đưa Quy chế vào cuộc sống ngày
15/5/1998 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 22/1998/CT-TTg về việc triển khai thực hiện
Quy chế dân chủ ở xã và Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) ban hành
Thông tư số 03/1998/TT-TCCP ngày 6/7/1998 hướng dẫn áp dụng "Quy chế thực hiện dân
chủ ở xã" đối với phường và thị trấn.

Tiếp đó, trên cơ sở tổng kết thực tiễn sau gần bốn năm thực hiện "Quy chế", Hội
nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã ra Nghị quyết số 17/NQ-TW
ngày 18/3/20002 về "Đối mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,
phường, thị trấn". Tiếp đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng cũng ra Chỉ thị số 10/CT/TW
ngày 28/3/2002 về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.

Thực tiễn quá trình triển khai, nội dung Quy chế đã bộc lộ những điểm chưa hoàn
chỉnh như: Tính dân chủ hóa, công khai hóa trong việc cung cấp những thông tin có liên
quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của nhân dân ở cơ sở cũng như trong việc lấy ý kiến
nhân dân trước khi ban hành chủ trương, chính sách còn hạn chế. Mức độ tham gia của dân
trong quản lý nhà nước, đặc biệt trong việc giám sát, kiểm tra hoạt động của cơ quan, tổ
chức, cá nhân còn hạn hẹp tính trách nhiệm của chính quyền xã và những người đứng đầu
trong việc thực hiện Quy chế chưa quy định rõ là; một số nội dung, phương thức thực hiện
"Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" còn thiếu và chưa phù hợp với thực tiễn, khó
thực hiện.

Xuất phát từ các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và qua thực tiễn thực
hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở nêu trên, ngày 7/7/2003, Chính phủ đã ra Nghị định số
79/2003/NĐ-CP ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở (kèm theo Quy chế) thay
cho Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998.

Như vậy, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ra đời trong điều kiện và hoàn cảnh
lịch sử cụ thể xuất phát cả từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan. Đó là những bức
xúc, đòi hỏi thực tế và cấp bách của xã hội, của nhu cầu dân chủ của người dân trước nguy cơ
của bệnh quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, hách dịch, xâm phạm nghiêm trọng quyền dân
chủ của nh©n d©n do c¸c cấp chính quyền, đoàn thể ở cơ sở gây ra. Quy chế bước đầu thể
chế hóa phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" của Đảng thành các quy
định cụ thể của pháp luật. Sự ra đời của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở chính là bước
đột phá, một nấc thang mới trong tiến trình thực thi nền dân chủ.

2.1.2. Các nội dung cơ bản của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ban hành kèm theo Nghị định của Chính phủ số
29/1998/ND-CP ngày 11/5//1998 và được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định của Chính phủ số
79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003. Với tinh thần xuyên suốt là thể chế hóa quan điểm của
Đảng về dân chủ và bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực của đời sống
xã hội theo phương châm "Dân biết, dân bàn, dân lµm, d©n kiÓm tra".

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở gồm 7 chương với 25 điều của Quy chế, đã quy
định các vấn đề cụ thể theo nội dung, phạm vi: Những việc cần thông báo để nhân dân
biết; những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp; những việc nhân dân bàn, tham gia
ý kiến chính quyền xã quyết định, những việc nhân dân giám sát, kiểm tra và phương thức,
biện pháp cụ thể để thực hiện từng nội dung, vấn đề được quy định trong Quy chế cũng
như các phương thức xây dựng cộng đồng dân cư thôn - nơi sinh sống cña céng ®ång d©n
c-.

2.1.2.1. Nội dung, phạm vi những việc dân biết, dân bàn, dân quyết định và dân
giám sát, kiểm tra

Một là, những việc cần thông báo để nhân dân biết

Một trong những quyền trước tiên của nhân dân đó là quyền được biết về tình hình
chung đang diễn ra trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của đất nước, của địa
phương và những vấn đề cụ thể có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của bản thân
mỗi người dân, cũng như của gia đình và cộng đồng dân cư.

Điều 5: Quy chế quy định:
Chính quyền xã có trách nhiệm thông tin kịp thời và công khai để nhân
dân biết những công việc chính sau:

1. Chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan trực tiếp
đến quyền và lợi ích của nhân dân trong xã, bao gồm:

a) Các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định của ñy ban nhân
dân xã và các cấp trên liên quan đến địa phương;

b) Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các
côngviệc liên quan đến dân;

c) Những quy định của Nhà nước và chính quyền địa phương về đối
tượng, mức thu các loại thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ khác đối với nhân dân
theo quy định của pháp luật hiện hành;

2. Kế hoạch phát triển kinh tế ­ xã hội dài hạn và hàng năm của xã;

3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai;

4. Dự toán và quyết toán ng©n s¸ch x· hµng n¨m;

5. Dự toán, quyết toán thu chi các quỹ, chương trình, dự án, các khoản
huy động nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi
công cộng của xã, thôn, làng, ấp, bản, khóm (thôn, làng, ấp, bản, khóm sau đây
gọi chung là thôn) và kết quả thực hiện;

6. Các chương trình, dự án do Nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu
tư, tài trợ trực tiếp cho xã;

7. Chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xóa đói, giảm
nghèo;

8. Điều chỉnh địa giới hành chính xã và các đơn vị hành chính liên
quan đến xã'

9. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham
nhũng của cán bộ xã, thôn;
10. Công tác văn hóa, xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an
ninh, trật tự, an toàn xã hội của xã;

11. Sơ kết, tổng kết hoạt ®éng cña Héi ®ång nh©n d©n. ñy ban nh©n
d©n x·;

12. Phương án dồn điền, đổi thửa phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
phát triển nông nghiệp, kinh tế trang trại, hợp tác xã;

13. Bình xét các hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất và xây
dựng nhà tình thương, thực hiện chính sách đối với gia đình có công với cách
mạng, gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh được tặng nhà tình nghĩa, sổ tiết
kiệm, thẻ bảo hiểm y tế;

14. Kết quả lựa chọn, thứ tự ưu tiên và tổ chức thực hiện các công trình
thuộc các chương trình, dự án của Nhà nước, của các tổ chức và cá nhân đầu
tư, tài trợ trực tiếp cho xã.

Hai là, những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp

"Dân bàn" là khâu thứ hai bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân. Bàn là tôn trọng
quyền tự do ngôn luận của nhân dân, người dân được phát ngôn, biểu thị ý chí, nguyện
vọng của mình đối với cộng đồng cũng như với chính quyền. Không có cơ chế dân chủ thì
nhân dân sẽ không có điều kiện "bàn" các vấn đề họ quan tâm. Việc nhân dân được bàn
bạc và quyết định những vấn đề thuộc lĩnh vực pháp luật cho phép đã giúp cho nhân dân
nâng cao nhận thức, phát huy trí tuệ, tạo động lực thúc đẩy nhân dân tham gia, hưởng ứng
nhiệt thành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng việc đóng góp sức lực,
của cải vật chất để xây dựng c¸c c«ng tr×nh phóc lîi c«ng céng.

Xây dựng các chủ trương, chính sách phù hợp với thực tế. Như vậy vấn đề "Dân
biết" để "bàn", để "làm" là nhu cầu hết sức cấp bách và khách quan của mọi người dân.

Điều 7 Quy chế quy định:

Nh©n d©n ë x·, th«n b¶n vµ quyết định trực tiếp những công việc sau:
1. Chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công
trình phúc lợi công cộng (điện, đường, trường học, trạm y tế, nghĩa trang, các
công trình văn hóa, thể thao);

2. Xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ
gìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội;

3. Các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư thôn, phù hợp với quy
định của pháp luật hiện hành;

4. Thành lập ban giám sát các công trình xây dựng do dân đóng góp;

5. Tổ chức bảo vệ sản xuất, kinh doanh giữ gìn an ninh trật tự, an toàn
giao thông, vệ sinh môi trường và các hoạt động khác trên địa bàn xã, thôn.

Ngoài 5 điều nêu trên, Điều 8 Quy chế còn quy định: những khoản đóng góp khác
của nhân dân ủng hộ với mục đích tương trợ, nhân đạo, từ thiện UBND x· phèi hîp víi ñy
ban MTTQ Việt Nam, các thành viên của MTTQ Việt Nam cùng cấp tuyên truyền, vận
động nhân dân theo nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, không được áp đặt, phân bổ, bình
quân nhất loạt.

Ba lµ, nh÷ng việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến, chính quyền xã quyết định

Ngoài việc người dân được "bàn" và "quyết định những vấn đề cụ thể" nêu trên,
còn những vấn đề việc quyết định cuối cùng phải do chính quyền xã hoặc cấp trên thực
hiện thì người dân cũng được tham gia bàn bạc, đóng góp ý kiến để giúp cho chính quyền
địa phương hoặc cơ quan nhà nước cấp trên có những quyết sách đúng đắn và sáng suốt.
Thực tế đã chứng minh có nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được xuất
phát từ sáng kiến của quần chúng ở cơ sở. Vì vậy, việc nhân dân bàn và tham gia ý kiến
một số việc chủ yếu là thủ tục bắt buộc trước khi chính quyền xã hoặc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quyết định.

Điều 10 Quy chế quy định:

Những việc chính quyền xã có trách nhiệm đưa ra nhân dân thảo luận hoặc tham
gia ý kiến trước khi chính quyền xã quyết định (hoặc trình cấp có thẩm quyền) gồm có:

1. Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã;
2. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế ­ xã hội dài hạn và
hàng năm của xã, hương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất và
phương án phát triển ngành nghề;

3. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở địa phương và việc
quản lý, sử dụng có hiệu quả quỹ đất công ích của xã;

4. Phương án quy hoạch khu dân cư; đề án định canh, định cư, vùng
kinh tế mới; kế hoạch, dự án huy động và sử dụng các khoản đóng góp của
nhân dân để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do xã quản lý;

5. Dự thảo đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính xã, đề án
chia tách, thành lập thôn;

6. Dự thảo kế hoạch triển khai của chương trình mục tiêu quốc gia trên
địa bàn xã;

7. Chủ trương, phương án đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ
tầng cơ sở, tái định cư;

8. Giải quyết việc làm chi người lao động trên địa bàn xã;

9. Những công việc khác mà chính quyền xã thấy cần thiết.

Bèn lµ, nh÷ng viÖc nh©n d©n gi¸m s¸t, kiÓm tra

Kiểm tra, giám sát của nhân dân là một nội dung thực hiện quyền dân chủ của
nhân dân nhằm góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các đoàn thể nhân dân
trong sạch, vững mạnh. Kiểm tra, giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong phát hiện những
khuyết điểm của cán bộ, công chức trong bộ máy Đảng và Nhà nước để chấn chỉnh những
sai phạm, đưa mọi hoạt động vào đúng nền nếp; kịp thời phát hiện những sai phạm để xử
lý kỷ luật, tạo dựng trật tự kỷ cương, góp phần vào việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước của
tập thể, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Do đó, quyền kiểm tra, giám sát không
chỉ thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan chuyên trách công tác giám sát, kiểm tra,
thanh tra, mà còn phải lôi cuốn được đông đảo nhân dân tham gia. Nhân dân cần được
kiểm tra, giám sát những gì có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ, giám sát việc
thực thi nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước địa phương, giám sát hoạt động của cán bộ,
công chức, những người có trách nhiệm trong việc thực hiện những quy định về tài chính,
kinh tế, quản lý sử dụng đất đai, chính sách xã hội là việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố
cáo của công dân…

Điều 12 Quy chế quy định:

Những việc nhân dân ở xã giám sát, kiểm tra gồm có:

1. Ho¹t động của chính quyền xã, các tổ chức chính trị ­ xã hội, tổ chức
xã hội và tổ chức nghề nghiệp ở xã;

2. Kết quả thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định,
chỉ thị của ñy ban nh©n d©n x·;

3. Hoạt động và phẩm chất đạo đức của Chủ tịch Hội đồng nhân dân
và Chủ tịch ñy ban nh©n d©n, ho¹t ®éng cña ®¹i biÓu Héi ®ång nh©n d©n x·,
cña c¸n bé ñy ban nhân dân xã và cán bộ, công chức hoạt động tại địa phương;

4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại địa phương;

5. Dự toán và quyết toán ngân s¸ch x·;

6. Quá trình tổ chức thực hiện công trình, kết quả nghiệm thu và quyết
toán công trình do nhân dân đóng góp xây dựng và các chương trình, dự án do
Nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã;

7. C¸c c«ng tr×nh cña cÊp trªn triển khai trên địa bàn xã có ảnh hưởng
trực tiếp đến sản xuất, an ninh trật tự, văn hóa, xã hội, vệ sinh môi trường và
đời sống của nhân dân địa phương;

8. Quản lý và sử dụng đất đai tại xã;

9. Thu, chi các loại quỹ và lệ phí theo quy định của Nhà nước, các
khoản đóng góp của nhân dân;

10. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham
nhũng liên quan đến cán bộ xã;
11. Việc thực hiện chế độ, chính sách ưu đãi, chăm sóc, giúp đỡ thương
binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những người và gia đình có công với nước,
chính sách bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội.

2.1.2.2. Phương thức thực hiện những việc dân biết, dân bàn, dân quyết định và
dân kiểm tra, giám sát

Như trên đã phân tích, Quy chế quy định những vấn đề thuộc phạm vi dân biết,
dân bàn, dân quyết định và dân kiểm tra, giám sát. Với mỗi nội dung Quy chế đã quy định
cách thức, biện pháp cụ thể để nhân dân thực hiện các quyền dân chủ đó theo trình tự sau
đây:

Một là, phương thức thực hiện những việc dân biết

Điều 5 của Quy chế đã quy định những việc cụ thể mà chính quyền phải thông báo
cho nhân dân được biết, Vấn đề đặt ra là biết như thế nào, bằng cách nào và ai, cơ quan
nào có trách nhiệm bảo đảm thực hiện các quyền đó của người dân.

Điều 6 Quy chế quy định:

Chính quyền xã có trách nhiệm phèi hîp víi ñy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cùng cấp và Trưởng thôn cung cấp các thông tin theo quy định tại
Điều 5 của Quy chế này để nhân dân biết bằng các hình thức sau:

1. Niêm yết công khai văn bản tại trụ sở ñy ban nh©n d©n x· vµ c¸c
Trung t©m d©n c­, văn hóa;

2. Hệ thống truyền thanh của xã, thôn và các tổ chức văn hóa; thông
tin, tuyên truyền cơ sở;

3. Tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Hội đồng nhân dân xã;

4. T¹i c¸c kú häp cña Héi ®ång nh©n d©n x·, c¸c cuéc häp cña ñy ban
nh©n d©n, ñy ban MÆt trËn Tæ quèc ViÖt Nam, c¸c thµnh viªn cña MÆt trËn
Tæ quèc ViÖt Nam cïng cÊp vµ cña cuéc häp cña th«n;

5. Göi v¨n b¶n tíi hé gia ®×nh hoÆc Tr­ëng th«n.

Hai là, phương thức thực hiện những việc dân bàn và quyết định trực tiếp
Víi mét sè c«ng viÖc thuộc quyền định đoạt của nhân dân, nhân dân tự quyết định
để thực hiện; để giúp cho nhân dân có những quyết định sáng suốt và dân chủ, Điều 9 Quy
chế quy định phương thức thực hiện những việc nhân dân quyết định trực tiếp:

1. ñy ban nh©n d©n x· x©y dùng ph­ơng án, chương trình, kế hoạch;
phối hợp với ñy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp chỉ đạo, tổ chức nhân
dân thảo luận, quyết định những công việc quy định tại Điều 7 của Quy chế này
bằng một trong các hình thức sau:

a) Häp toµn thÓ nh©n d©n hoÆc chñ hộ gia đình hay cử tri đại diện
hộ gia đình ở từng thôn, thảo luận và biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín;

b) Phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình;

Việc lấy ý kiến, biểu quyết công khai tại cuộc họp hoặc bỏ phiếu kín về
từng vấn đề cho nhân dân tự quyết định theo quy định tại Điều 7 của Quy chế
này phải được lập biên bản để báo cáo ñy ban nhân dân xã về nội dung cuộc
họp và kết quả những vấn đề đã biểu quyết.

2. Những nội dung quy định tại Điều 7 của Quy chế này phù hợp với
quy định của pháp luật, đạt tỷ lệ trên 50% số người tham gia cuộc họp hoặc lấy
ý kiến tán thành, thì ñy ban nhân dân xã ra quyết định công nhận.

3. ñy ban nh©n d©n x· phèi hîp víi MÆt trËn Tæ quèc ViÖt Nam cïng
cÊp chØ ®¹o Tr­ëng th«n vµ Tr­ëng ban c«ng t¸c MÆt trËn tæ chøc thùc hiÖn
những vấn đề do nhân dân tự quyết định đã được ñy ban nhân dân xã công
nhân, có sự giám sát của thanh tra nhân dân hoặc ban giám sát công trình, dự
án do nhân dân bầu.

4. Nhân dân có trách nhiệm chấp hành và thực hiện nghiêm chỉnh các
quyết định đã được trên 50% các hộ gia đình của xã hoặc của thôn nhất trí;

Ba là, phương thức thực hiện những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến, chính
quyền xã quyết định

Nhằm phát huy trí tuệ của đông đảo nhân dân, giúp chính quyền hoặc cơ quan nhà
nước cấp trên có những quyết định đúng đắn, phù hợp lòng dân và mang tính khả thi cao,
Điều 11 Quy chế quy định phương thức thực hiện những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến,
chính quyền xã quyết định bao gồm:

1. Căn cứ Nghị quyết của cấp ủy Đảng Nghị quyết của Hội đồng nhân
dân xã, ñy ban nhân dân xã dự thảo các văn bản, kế hoạch, phương án và phối
hợp với ñy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam cùng cấp tổ chức lấy ý kiến nhân dân công khai bằng các hình thức;

a) Häp toµn thÓ nh©n d©n hoÆc chñ hé gia ®×nh th¶o luËn;

b) Phát phiếu lấy ý kiến từng hộ gia đình;

c) Họp các tổ chức kinh tế thảo luận;

d) Đặt hòm thư góp ý;

2. ý kiến của nhân dân tại cuộc họp hoặc các ý kiến góp ý phải được
Tổng hợp báo cáo đầy đủ, khách quan để ñy ban nh©n d©n x· xem xét, trình
Hội đồng nhân dân xã quyết định theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm
quyền cấp trên xem xét, quyết định.

Bèn lµ, ph­¬ng thøc thùc hiÖn nh÷ng viÖc nh©n d©n gi¸m s¸t, kiÓm tra

Để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình một cách toàn diện, kịp
thời; Điều 13 Quy chế quy định phương thức thực hiện những việc dân giám sát, kiểm tra:

Nhân dân trực tiếp giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân
hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức chính trị ­ xã hội, các tổ chức đại diện cho
mình hoÆc Ban thanh tra nh©n d©n b»ng c¸c ph­¬ng thøc sau:

1. Tham gia trực tiếp (nếu được mời) hoặc thông qua các tổ chức đại
diện cho mình trong các cuộc họp của chính quyền xã bàn về các vấn đề liên
quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của mình;

2. Tham gia ý kiến đánh giá báo cáo tổng kết công tác sáu tháng và
hàng năm của chính quyền xã;
3. Góp ý kiến vào bản kiểm điểm công tác và tự phê bình của Chủ tịch
Hội đồng nhân dân và Chủ tịch ñy ban nhân dân xã trong cuộc họp tổng kết
công tác cuối năm;

4. Bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ do Hội đồng nhân dân xã
bầu;

5. Phát hiện những cơ quan, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền làm chủ
của nhân dân và có dấu hiệu tham nhũng, lãng phí, sử dụng sai mục đích thu,
chi ngân sách và các khoản đóng góp của nhân dân; thực hiện chương trình, dự
án và sử dụng quản lý đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng trái với những quy
định của pháp luật là các hành vi vi phạm pháp luật khác; tố cáo, kiến nghị với
chính quyền xã, cơ quan có thẩm quyền làm rõ, giải quyết và thông báo kết quả
giải quyết.

2.1.2.3. Néi dung vµ ph­¬ng thøc x©y dùng céng ®ång d©n c­ th«n

Thôn, làng, ấp, bản, khu phố… (gọi chung là thôn) không phải là một cấp chính
quyền, nhưng là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ một cách
trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư và là nơi tổ
chức cho nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của
Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao. Thôn đặt dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám
sát cña ñy ban nhân dân xã. Mỗi xã thường có nhiều thôn (mỗi thôn có người đứng đầu là
Trưởng thôn do nhân dân trực tiếp bầu ra và được Chủ tịch UBND xã ra quyết định công
nhận.

Hình thức hoạt động của thôn là Hội nghị nhân dân thôn được tổ chức 6 tháng một
lần. Trong trường hợp cần thiết có thể họp bất thường. Gồm toàn thể cử tri hoặc chủ hộ
hay cử tri đại diện hộ.

Thôn xây dựng hương ước, quy ước về công việc thuộc nội bộ cộng đồng dân cư, kế
thừa và phát huy thuần phong, mỹ tục của cộng đồng, phù hợp với quy định của pháp luật
hiện hành nhằm bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn
giao thông, vệ sinh môi trường, xây dựng nông thôn mới giàu đẹp, văn minh.
Thôn có thể thành lập các tổ hòa giải, an ninh, bảo vệ sản xuất, kiến thiết. Các tổ
chức này được thành lập hoặc giải thể theo yêu cầu thực tế của từng địa phương.

2.1.3. Đánh giá thực trạng Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

Qua nghiên cứu nội dung Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ban hành kèm theo
Nghị định 79/NĐ-CP, tác giả luận văn có một số nhận xét như sau:

2.1.3.1. Về ưu điểm

Thø nhÊt, nội dung Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở đã thể chế hóa phương
châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"; điều chỉnh nhiều mặt, nhiều lĩnh vực tạo
thành một cơ chế thống nhất để bảo đảm dân chủ được phát huy hiệu quả cao, phục vụ cho
việc phát triển kinh tế văn hóa xã hội ở cơ sở; Quy chế đã góp phần đổi mới phương thức
lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền theo hướng dân chủ hơn, giảm tiêu cực, quan hệ
giữa Đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị và nhân dân chặt chẽ hơn, bầu không khí
xã hội cởi mở hơn. Với các quy phạm quy định cụ thể các phương thức thực hiện quyền
dân chủ ở cơ sở cũng như quy định trách nhiệm của chính quyền và người dân trong việc
thực hiện Quy chế dân chủ đã tạo ra lề lối làm việc của chính quyền được tổ chức theo
hướng gần dân, tôn trọng dân hơn, nhiều xã đã từng bước "quy trình hóa", "công khai hóa"
các thủ tục hành chính được cải tiến theo hướng "một cửa" tạo điều kiện cho nhân dân khi
quan hệ với chính quyền, mang lại hiệu quả thiết thực, giảm bớt phiền hà cho nhân dân,
giảm bớt tiêu cực trong quan hệ công tác giữa công chức, viên chức với nhân dân, các
công việc giải quyết nhanh gọn hơn.

Thø hai, hình thức kết cấu của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở khá hợp lý. Quy
chế lần lượt đề cập đến các nội dung và phương thức thực hiện dân chủ từ dân biết đến dân
bàn, dân làm, dân giám sát kiểm tra là bốn khâu liên hoàn của trình tự công khai hóa và
dân chủ hóa, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, khâu này quyết định khâu kia, do
vậy Quy chế dễ thực hiện áp dụng trong cuộc sống.

2.1.3.2. Về hạn chế

Thø nhÊt, nội dung của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở còn có những vấn đề
quy định chưa chặt chẽ, chưa rõ ràng, có những nội dung còn chung chung cứng nhắc thiếu
tính thực tế và chưa dự liệu được các tình huống thực tiễn nảy sinh trong cuộc sống, gây
gò bó và hạn chế sự chủ động, sáng tạo của chính quyền trong áp dụng như: Nội dung và
phương thức thực hiện những việc cần thông báo cho nhân dân biết; tiêu chuẩn của
Trưởng thôn, quy trình phê duyệt các hương ước, quy ước. Trong mối quan hệ giữa quyền
lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm, nội dung Quy chế chưa đề cập rõ ràng, cụ thể mặt trách nhiệm
của nhân dân, của cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể, của cán bộ mà thiên về quyền lợi
công dân nhiều hơn. Trong mối quan hệ giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, giữa
tập trung và dân chủ, giữa đa số và thiểu số cũng quy định chưa rõ ràng, đang gây khó
khăn, vướng mắc trong việc triển khai và cũng là kẽ hở để những phần tử xấu có thể lợi
dụng.

Thø hai, hình thức văn bản là Quy chế ban hành kèm theo Nghị định của Chính
phủ nên giá trị pháp lý thấp dẫn đến người dân cũng như chính quyền cấp xã ở nhiều nơi
còn xem nhẹ việc phải thực hiện các nội dung của Quy chế, chưa coi việc phải thực hiện
nghiêm chỉnh các nội dung của Quy chế là nghĩa vụ thường xuyên của chính quyền, đoàn
thể và công dân.

2.2. Thực trạng thi hành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

2.2.1. Tình hình triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

Qu¸ tr×nh triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở hầu hết các tỉnh được chia
làm hai giai đoạn: Giai đoạn thí điểm và giai đoạn nhân rộng. Đến nay việc triển khai Quy
chế đã diễn ra trên cả nước. Qua kết quả khảo sát thực tế ở một số tỉnh, thành phố triển
khai thực hiện Quy chế, cùng với việc tham khảo các báo cáo tổng kết của các tỉnh và
nhiều bài viết về vấn đề này trên các phương tiện thông tin đại chúng cho thấy thực trạng
việc triển khai Quy chế đã đạt được những kết quả tốt đẹp, song bên cạnh đó vẫn còn
nh÷ng vấn đề cần phải rút kinh nghiệm để khắc phục. Dưới đây xin trình bày khái quát về
tình hình triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở trong thời gian qua.

2.2.1.1. Vai trò của các cấp ủy đảng trong triển khai Quy chế thực hiện dân chủ
ở c ơ sở
Víi nhận thức đúng đắn là: Mở rộng dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của
nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của
công cuộc đổi mới đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những chủ trương hết sức
sáng suốt. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về
"phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh" đã mở đầu bước đột phá trong tiến trình xây dựng
xã hội dân chủ. Thực hiện Nghị quyết đó, ngày 18/2/1998 Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số
30/CT-TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với phương châm triển khai
Quy chế dân chủ ở cơ sở là:

Tæ chøc ®¶ng vµ ®¶ng viªn ph¶i g-¬ng mÉu, ®i ®Çu trong viÖc thùc
hiÖn Quy chế dân chủ ở cơ sở. Tổ chức đảng phải làm cho đảng viên thông
suốt; đảng viên, nhất là các đảng viên có chức vụ trong chính quyền phải gương
mẫu tự phê bình và phê bình nghiêm túc trong Đảng bộ và trong nhân dân.

- Phải làm từng bước vững chắc, không làm lướt, ồ ạt. Cấp ủy cấp trên
trực tiếp chỉ đạo điểm, rút kinh nghiệm, bồi dưỡng cán bộ rồi mới triển khai mở
rộng.

Thực hiện Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các văn bản quy phạm pháp luật về xây
dựng, triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở của Nhà nưíc, c¸c cÊp ñy ®¶ng, Thµnh
ñy, TØnh ñy, QuËn ñy, HuyÖn ñy, §¶ng ñy x·, ph-êng, thị trấn đã có Nghị quyết, kế hoạch
lãnh đạo cơ sở đảng cấp dưới và chính quyền cùng cấp triển khai Quy chế thực hiện dân
chủ ở cơ sở theo các bước:

- Häp l·nh ®¹o cÊp ñy, x©y dựng kế hoạch hành động;

- Thành lập Ban chỉ đạo do đồng chí Bí thư Đảng ủy làm Trưởng ban, các thành
viên là đại diện chính quyền và các đoàn thể.

- Tổ chức học tập, nghiên cứu và quán triệt Chỉ thị 30/CT-TW của
Bộ Chính trị và Nghị định số 29, Nghị định số 79 của Chính phủ cho cán bộ đảng, chính
quyền và đoàn thể từ cấp thành phố, quận, huyện, xã, phường đến các tổ trưởng, tổ phó, tổ
dân phố và các thôn, phân công trách nhiệm cho từng thành viên.
- Xây dựng đội ngũ báo cáo viên có đủ phẩm chất, năng lực để phổ biển, tuyên
truyền Quy chế đến tận người dân.

- Ban hành văn bản, tài liệu cần thiết theo hướng cụ thể hóa những nội dung cơ
bản trong Quy chế, để cung cấp tới từng người dân, gắn việc triển khai Quy chế với phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, củng cố chính quyền cơ sở, chỉnh
đốn Đảng.

- Tổ chức kiểm tra, giám sát, tổng kết và đánh giá.

Các bước triển khai nói trên thể hiện rõ và đầy đủ quy trình lãnh đạo, quản lý là:
Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá.

Nhìn chung, tất cả các cấp và các địa phương trong cả nước đã thực hiện theo quy
trình trên, nhưng do trình độ phát triển, điều kiện kinh tế, xã hội, địa hình lãnh thổ khác
nhau nên mức độ và kết quả có khác nhau thể hiện;

Một là, về xây dựng kế hoạch triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

Tháng 6/1997, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (khóa VIII) được ban
hành. Thực hiện Nghị quyết đó, ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 30/CT-TW
về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Để các chủ trương lớn đó của Đảng đi
vào cuộc sống, ngày 11/5/1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998, NĐ-CP ban
hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã. Thực hiện các văn bản này, cấp ủy các địa phương
trong cả nước đã ban hành các văn bản hướng dẫn các huyện thị triển khai thực hiện Quy
chế dân chủ ở cơ sở nhưng ở thời điểm rất khác nhau.

Sớm ra văn bản hướng dẫn triển khai nhất trong cả nước là Tỉnh ủy Thừa Thiên
Huế, chỉ sau 10 ngày từ khi có Chỉ thị 30, ngày 27/2/1998, Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế đã có
Công văn số 138/CV-TU hướng dẫn triển khai Chỉ thị 30; tuy nhiên, tới tháng 9/1998
UBND tỉnh mới tổ chức học tập, quán triệt chỉ thị cho 700 cán bộ chủ chốt từ cấp ủy đến
cấp xã.

ë Thanh Hóa, ngày 01/9/1998, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ra Chỉ thị số 12/CT-TU về
việc tổ chức triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở xã; ngày 8/9/1998, UBND tỉnh Thanh
Hóa ra Kế hoạch số 1753/UB-TC với thời gian triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn cụ thể như sau:

- Từ ngày 15 đến 22/9 tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai Nghị quyết Trung ương 5
đồng thời triển khai kế hoạch thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.

- Từ 22/9 đến 10/10 các huyện, thị xã, thành phố tổ chức hội nghị triển khai.

- Từ 10/10 đến 31/12 triển khai thí điểm ở một số xã trong huyện.

- Từ 01/01/1999 triÓn khai ë tÊt c¶ c¸c c¬ së.

ë Nghệ An, việc triển khai Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị chậm hơn các tỉnh khác, có
phường đến cuối năm 2000 mới có Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ.

Như vậy, nhìn chung Quy chế dân chủ được triển khai tại cơ sở từ năm 1999, mặc
dù có sự khác việt về thời gian triển khai quán triệt Chỉ thị 30 và Nghị định 29 nhưng kết
quả khảo sát cho thấy Đảng và chính quyền các cấp các địa phương đều lãnh đạo, chỉ đạo sát
sao ngay từ đầu việc triển khai Quy chế.

Hai là, về bộ máy tổ chức thực hiện Quy chế

Bộ máy chỉ đạo và tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ được thành lập từ Trung
ương đến cơ sở và gọi là Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ. Đến cuối năm 1998, đã
có 100% số tỉnh thành lập Ban chỉ đạo triển khai Quy chế ở cấp tỉnh với thành phần gồm:
Tổ chức đảng, tổ chức chính quyền, Ban dân vận, MTTQc và các ngành Công an, T ư
pháp, Tài chính, Địa chính, Thanh tra, Văn hóa thông tin, Giao thông, Xây dựng. Ban chỉ
đạo có trưởng ban, các phó trưởng ban và các ủy viên. Trưởng ban chỉ đạo thực hiện Quy
chế dân chủ thường là người đứng đầu của Đảng hoặc chính quyền, thực tế việc bố trí
trưởng ban chỉ đạo ở những địa phương có sự khác nhau: ë Hµ Néi, tr-ëng ban là Bí thư
cấp ủy; ở Yên Bái, Đồng tháp là Phó Bí thư thường trực, ñy viªn - th-êng vô; ë Nghệ An,
Hải Dương, Thừa Thiên - Huế là Chủ tịch UBND.

Ban chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ có chức năng: Vừa là tham mưu cho Đảng
ủy, vừa trực tiếp chỉ đạo phong trào.

Ba là, về tổ chức học tập nghiên cứu tuyên truyền, phổ biến Quy chế dân chủ
Để Quy chế dân chủ đi vào cuộc sống, toàn Đảng, toàn dân phải hiểu biết về Quy
chế này. Vì vậy, các tỉnh, thành phố đều chú trọng các hoạt động giới thiệu, nghiên cứu
Quy chế dân chủ và các văn bản có liên quan. Quá trình này thường chia làm hai giai đoạn.

Giai ®o¹n 1: Cấp tỉnh và huyện tổ chức học tập, nghiên cứu quán triệt chỉ thị 30,
Nghị định 29 và các văn bản có liên quan khác cho cán bộ chủ chốt của Đảng, chính quyền
và các đoàn thể.

Giai ®o¹n 2: Quán triệt và tuyên truyền Quy chế dân chủ tại cơ sở.

Sau khi c¸c cán bộ chủ chốt của xã, phường, thôn, tổ dân phố được học tập tại tỉnh
và huyện, giai đoạn triển khai học tập, quán triệt và tuyên truyền Quy chế dân chủ ở cơ sở
tiến hành sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân với nhiều hình thức khác nhau như.

- Niêm yết tại trụ sở UBND, tại các bản tin trong thôn, xóm.

- Häp ®¹i diÖn hé gia ®×nh.

- Sử dụng hệ thống loa truyền thanh xã, phường.

- Phát văn bản Quy chế dân chủ tới tận hộ gia đình.

- Thông qua các buổi nói chuyện chuyên đề, các hoạt động của các tổ chức tự
nguyÖn.

- Thông qua các cuộc thi tìm hiểu về nội dung Quy chế dân chủ.

Có thể nói, đây là một đợt sinh hoạt chính trị lớn trong nhân dân, hầu hết các địa
phương cơ sở trong cả nước đã tích cực, chủ động trong việc tuyên truyền phổ biến nội
dung Quy chế đến tận người dân, nhân dân phấn khởi và quan tâm đến hoạt động này vì nó
thực sự đem lại quyền lợi cho nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số địa
phương việc tuyên truyền, phổ biến nội dung Quy chế chưa được thường xuyên,liên tục,
các hình thức tuyên truyền kém hiệu quả, tỷ lệ người dân tham gia học tập, nghiên cứu
thấp.

Bốn là, về kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quy chế dân chủ theo kế hoạch

KiÓm tra, ®¸nh gi¸ lµ nguyªn t¾c ho¹t ®éng cña tæ chøc ®¶ng, cña ®¶ng viªn,
trong qu¸ tr×nh l·nh ®¹o vµ chØ ®¹o thực hiện Quy chế. Nó góp phần đặc biệt quan trọng
trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng. Vì vậy, Bộ Chính trị, Văn phòng Trung
ương Đảng và Ban chỉ đạo Trung ương thường xuyên quan tâm công tác này, đã có nhiều
văn bản hướng dẫn, yêu cầu thực hiện như: Công văn số 412/CV-TW của Thường trực Bộ
Chính trị, Công văn số 5561/CV-TW ngày 19/3/2001 của Văn phòng Trung ương Đảng,
Hướng dẫn 152/HD-BCĐ ngày 10/5/2003 của Ban chỉ đạo Trung ương... Do đó, ở cấp tỉnh
và huyện, hoạt động kiểm tra được tiến hành thường xuyên theo chỉ đạo chung, công tác
tổng kết đánh giá 1 năm, 3 năm, 5 năm được tiến hành một cách nghiêm túc ở 100% các
đơn vị trong cả nước.

Thông qua kiểm tra, đánh giá các cấp ủy đảng ở cơ sở đã phát hiện những hạn chế
trong quá trình triển khai thực hiện Quy chế. Bên cạnh việc tích cực quán triệt nội dung
Quy chế, vẫn còn tình trạng làm qua loa chiến lệ, hình thức; ở vài nơi cán bộ chủ chốt né
tránh, chần chừ không muốn triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện Quy chế ở địa
phương mình sợ bị liên lụy, gây nên "điểm nóng", nhất là ở những nơi có hiện tượng mất
đoàn kết, quan liêu, tham nhũng… Chính vì vậy, sau khi tổng kết đánh giá cần xác định
mục tiêu, nội dung hoạt động triển khai Quy chế trong 5 năm và 10 năm tới để hiệu quả
thu được cao h¬n.

2.2.1.2. Chính quyền cấp xã trong việc tổ chức chỉ đạo thực hiện Quy chế thực
hiện dân chủ ở cơ sở

Sau hơn 6 năm thực hiện Quy chế, chúng ta nhận thấy: Dân chủ trên các lĩnh vực
của đời sống xã hội có được thực thi hay không phụ thuộc vào mức độ phát huy vai trò,
chức năng của hệ thống chính trị cấp cơ sở, trong đó chính quyền cơ sở đóng vai trò quyết
định.

Theo hướng dẫn của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ), các xã
đã thành lập ban chỉ đạo do đồng chí Bí thư Đảng ủy làm Trưởng ban, Chủ tịch HĐND và
Chủ tịch UBND xã làm Phó Trưởng ban, với các ủy viên khoảng 15 - 16 ủy viên. Ngoài
ra, các xã còn thành lập các tổ công tác giúp Ban chỉ đạo thực hiện từng mặt công tác.
Trong công tác tuyên truyền lấy thôn là đơn vị tổ chức thực hiện. Nhiều xã đã phát tài liệu
học tập đến từng hộ gia đình. Qua học tập, cán bộ và nhân dân hiểu rõ hơn nội dung Quy
chế dân chủ, đã biểu thị sự đồng tình, nhất trí cao với chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Héi ®ång nh©n d©n vµ UBND cÊp x· ®· th-êng xuyªn tæ chøc c¸c cuộc họp thảo
luận về Quy chế dân chủ. Luôn kiểm tra sát sao việc thực hiện Quy chế ở tất cả các khâu,
cử các ủy viên ủy ban trực tiếp phụ trách từng vấn đề, từng hướng công tác ở những địa
bàn cụ thể, nhất là những vấn đề bức xúc, nổi cộm, báo cáo kịp thời về ban chỉ đạo để kịp
thời uốn nắn, rút kinh nghiệm nhằm đưa Quy chế vào thực tiễn một cách có nền nếp.

2.2.1.3. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cấp xã trong việc triển khai
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

Lµ mét trong nh÷ng nh©n tè c¬ b¶n tạo thành hệ thống chính trị XHCN, MTTQ
và các đoàn thể nhân dân là một bộ phận quan trọng trong quá trình thực hiện quyền làm
chủ của nhân dân, xây dựng nền dân chủ mới, bảo đảm bản chất của chế độ xã hội. Trong
cuộc vận động thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, vai trò quan trọng của MTTQ và các
đoàn thể là tạo sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong các tầng lớp nhân dân, xây dựng
môi trường chính trị - xã hội lành mạnh và tạo điều kiện thuận lợi để động viên người dân
tích cực phát huy quyền làm chủ cña m×nh th«ng qua c¸c ho¹t ®éng:

- Nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, xây dựng sự đoàn kết nhất trí về
chính trị trong đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân, chủ động giải quyết những
điểm nóng chính trị - xã hội.

- Phối hợp cùng chính quyền quán triệt, tuyên truyền và triển khai Quy chế, từng
bước đưa Quy chế vào cuộc sống.

- Cùng cấp ủy, chính quyền kiểm tra, giám sát, tổng kết việc thực hiện Quy chế.

2.2.2. Tình hình thực hiện các nội dung Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở

2.2.2.1. Thùc hiện dân biết

Dân biết là nội dung đầu tiên của Quy chế thực hiện dân chủ ở xã có thể nói "Dân
biết" là điểm khởi đầu của dân chủ, là tiền đề để thực hiện các nội dung của dân chủ. Nói
cách khác, nếu dân không biết thì không thể bàn, không thể tham gia ý kiến và không thể
kiểm tra hay giám sát được hoạt động của chính quyền, đoàn thể... và như vậy không có
quyền lực của nhân dân hay không có dân chủ. Vấn đề đặt ra là, để người dân thực hiện tốt
quyền dân chủ của mình, đồng thời cũng bảo vệ được lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì phạm vi, giới hạn những nội dung mà chính
quyền phải thông báo để nhân dân biết cũng cần được tính toán, xem xét để vừa bảo đảm
được những bí mật quốc gia, tránh rối loạn thị trường vừa bảo đảm được quyền dân chủ
của nhân dân. Quy chế thực hiện dân chủ ở c ơ sở (ban hành kèm theo Nghị định 29 năm
1998) và Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở (ban hành kèm theo Nghị định 79 năm 2003)
đã quy định cụ thể 14 việc chính quyền xã phải thông báo kịp thời và công khai để nhân
dân biết.

Qua hơn 6 năm thực hiện nội dung "dân biết" của Quy chế, xin được đánh giá ở
nội dung sau:

* Sự đánh giá của cán bộ lãnh đạo chính quyền, đoàn thể và người dân về
những nội dung cần được thông báo để dân biết.

Qua sè liÖu kh¶o s¸t cho thÊy (xem b¶ng 2.1):

Thø nhÊt, tuyệt đại bộ phận cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể xã và người dân
cho rằng: Các nội dung mà Quy chế dân chủ quy định phải thông báo cho dân biết là thực
sự cần thiết. Tuy nhiên, mức độ quan tâm của người dân đối với các nội dung cần thông
báo thì khác nhau. Những nội dung có liên quan đến lợi ích cụ thể, thiết thân được người
dân quan tâm nhiều nhất là: "Các quy định của pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền và
lợi ích của nhân dân trong xã", "chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất xóa đói,
giảm nghèo", "dự toán, quyết toán thu chi các quỹ, chương trình dự án, các khoản huy
động nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng xã (phường)"... Ngược lại, những nội
dung tuy có liên quan nhưng ở tầm vĩ mô như: "Điều chỉnh địa giới hành chính, xét chọn
dự án đầu tư..." lại ít được quan tâm.

Thø hai, sự quan tâm về các nội dung mà Quy chế quy định phải thông báo của
người dân nông thôn có phần cao hơn so với người dân ở thành thị, nhưng vẫn theo quy
luật chung là: Người dân chỉ quan tâm đến những vấn đề có ảnh hưởng đến lợi ích "sát
sườn" của họ như: nông dân quan tâm hơn tới vấn đề chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật
nuôi...; còn người dân thành thị lại quan tâm hơn tới vấn đề quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất đai, điều chỉnh địa giới hành chính.
Thø ba, c¸c c¸n bé ®oµn thÓ lu«n cho r»ng viÖc th«ng b¸o tíi ng-êi d©n 14 nội dung
mà Quy chế quy định là thật sự cần thiết (chiếm tỷ lệ cao nhất).
B¶ng 2.1: Tỷ lệ cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền, đoàn thể và người dân ®¸nh giá
những nội dung cần được thông báo cho dân biết là thực sự cần thiết
Đơn vị tính: %

L·nh
L·nh ®¹o
®¹o Ng-êi
14 Nội dung cần thông báo để dân biết ®¶ng, chính
®oµn d©n
quyền
thÓ
1.a. Các quy định của Hội đồng nhân dân, quyết
định của ñy ban nh©n d©n xã và của các cấp 100 98,6 95,76
trên liên quan đến địa phương.

1.b. Các quy định của pháp luật về thủ tục hành
chính, giải quyết các công việc liên quan đến 100 99,5 96,2
dân
1.c. Quy định của Nhà nước và chính quyền địa
phương về đối tượng, mức thu các loại thuế, phí,
99,3 97,6 92,11
lệ phí và các nghĩa vụ khác của nhân dân theo
quy định của pháp luật hiện hành

2. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn
95,5 92,2 85,43
và hàng năm của xã, (phường)
3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của xã
96,2 94,3 88,7
(phưêng)...
4. Dự toán, quyết toán ngân sách hàng năm của xã
92,3 86,7 84,99
(phường)...
5. Dự toán, quyết toán thu, chi các quỹ, chương
99,6 96,7 90,30
trình dự án, các khoản huy động của nhân dân
đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng xã (phường)…
6. Các chương trình, dự án do Nhà nước, các tổ
93,1 83,9 83,93
chức và các cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho
L·nh
L·nh ®¹o
®¹o Ng-êi
14 Nội dung cần thông báo để dân biết ®¶ng, chính
®oµn d©n
quyền
thÓ
xã (phường)…
7. Chủ trương kế hoạch vay vốn phát triển sản
100 97,6 96,15
xuất, xóa đói, giảm nghèo…
8. Điều chỉnh địa giới hành chính xã (phường và
84,8 78,3 68,78
các đơn vị hành chính liên quan đến xã
9. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ
98,4 93,3 90,25
tiêu cực, tham nhũng của cán bộ xã, thôn

10. Công tác văn hóa - xã hội, phòng chống tệ
nạn xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, an toµn cña 99,3 98,1 96,70
x· (ph-êng)
11. Sơ kết, tổng kết của Hội đồng nhân dân, ñy
97,0 89,2 85,6
ban nh©n d©n x· (ph-êng)

12. Phương án dồn điền đổi thửa phục vụ
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông 84,6 73,1 70,3
nghiệp, kinh tế trang trại, hợp tác xã
13. Bình xét các hộ nghèo được vay vốn phát
triển sản xuất và xây dựng nhà tình thương, thực
98,5 95,8 94,9
hiện chính sách đối với các gia đình có công,
nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm, thẻ bảo hiểm y tế
14. Kết quả lựa chọn, thứ tự ưu tiện và tổ chức
thực hiện các công trình thuộc các chương trình,
86,7 79,0 75,54
dự án của Nhà nước, của các tổ chức và cá nhân
đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã

Nguån: [20, tr. 84].
* Về các hình thức công khai thông tin cho nhân dân biết

Chính quyền cơ sở, bằng nhiều hình thức đã nỗ lực truyền thông về 14 nội dung mà Quy
chế thực hiện dân chủ ở cơ sở đã quy định. Đa số người dân được hỏi đều ghi nhận hiện
nay chính quyền xã đã và đang tích cực sử dụng các hình thức thông tin, tuyên truyền để
công khai cho dân biết về 14 nội dung mà Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định đó
là: Niêm yết công khai văn bản tại trụ sở UBND xã và các trung tâm dân cư, văn hóa xã,
phường; thông báo qua hệ thống loa truyền thanh của xã, thôn và các tổ chức văn hóa,
thông tin, tuyên truyền cơ sở; qua tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND xã, phường; qua các
kỳ họp của chính quyền, đoàn thể ở xã, phường, các cuộc họp của thôn; gửi văn bản đến
hộ gia đình.

Trong số các hình thức truyền thông nêu trên, hầu hết cán bộ đảng, chính quyền,
đoàn thể và người dân đều đánh giá là phù hợp nhưng phù hợp nhất là các hình thức thông
báo tại các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND xã, phường; các cuộc họp của chính
quyền, đoàn thể, thôn vì tại đây người dân được trực tiếp trao đổi với cán bộ về nội dung
thông báo, được giải thích những điều chưa hiểu, chưa thông. Việc thông báo bằng hình
thức "Niêm yết tại trụ sở ñy ban nhân dân và các Trung tâm dân cư, văn hóa, xã phường",
hay "Gửi văn bản tới hộ gia đình hoặc Trưởng thôn" cho phép người dân tiếp cận và
nghiên cứu kỹ văn bản bất kỳ lúc nào. Hệ thống loa truyền thanh có sức mạnh là thông tin
nhanh và rộng khắp đến nhiều người, là những hình thức thường được sử dụng.

Như vậy, đại đa số đối tượng được hỏi đều xác nhận rằng, chính quyền cơ sở đã sử
dụng nhiều hình thức truyền thông phù hợp. Do vậy, khoảng 60,4% đến 96,7% người dân
được hỏi, trả lời là đã được chính quyền thông báo 14 nội dung quy định trong Nghị định
79/CP: Cụ thể là: Công tác văn hóa xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội - 96,7%; các quy
định của HĐND, quyết định của UBND xã, phường và của cấp trên liên quan đến địa
phương - 95,8%; quy định của Nhà nước và chính quyền địa phương về đối tượng, mức
thu các loại thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ khác của nhân dân theo quy định của pháp
luật hiện hành - 94,7%; các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các
công việc liên quan đến dân - 93,5%; chủ trương kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xóa
đói, giảm nghèo; bình xét các hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, xây dựng nhà
tình thương, thực hiện chính sách đối với các gia đình có công, sổ tiết kiệm, thẻ bảo hiểm y
tế - 93,1%.

Những nội dung ít được người dân biết là chính quyền đã công khai thông báo,
gồm: Điều chỉnh địa giới hành chính, kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ tiêu
cực, tham nhũng của cán bộ xã, thôn; các chương trình, dự án do Nhà nước, các tổ chức và
các cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã, phường. Tuy vậy, cũng có trên 60% người dân
cho biết các nội dung nói trên đã được thông báo công khai. Như vậy có thể thấy rằng, hầu
hết các nội dung cần thông báo cho "dân biết" theo quy định trong Nghị định 79/CP đã
được cấp ủy đảng chính quyền địa phương thực hiện.

Một điều đáng lưu ý là tỷ lệ người dân thành thị khẳng định chính quyền phường
đã thông báo 14 nội dung theo quy định tại Nghị định 79/CP lại thấp hơn nhiều so với
người dân nông thôn. Điều này do nhiều nguyên nhân. Chẳng hạn, việc "dồn điền, đổi thửa
phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, kinh tế trang trại, hợp tác xã"
chỉ có ở nông thôn. Mặt khác, người dân nông thôn cư trú ở địa phương nào thì
cũng"Trồng cấy, chăn nuôi", ngay trên địa phương đó, tức là những lợi ích, kinh tế - xã hội
gắn liền với nơi cư trú. Trong khi đó, nhiều người dân đô thị, sống ở phường nhưng việc
làm, thu nhập, các quyền lợi và sinh hoạt chính trị lại ở cơ quan, xí nghiệp, đơn vị độc lập
với phường. Vì vậy, người ta ít quan tâm đến thông báo từ phường.

Bên cạnh các hình thức tuyên truyền nêu trên, nhiều địa phương cũng đã áp dụng
các phương thức phổ biến khá phong phú như: Tổ chức các cuộc tìm hiểu về nội dung Quy
chế, lồng ghép các nội dung của Quy chế với các hoạt động khác của các tổ chức như: Hội
nông dân, phụ nữ; công tác tư pháp, hòa giải… Đây là cách làm hiệu quả, tiết kiệm thời
gian làm cho quan hệ giữa các tổ chức chính trị, xã hội với nhân dân chặt chẽ hơn.

* Những hạn chế của việc thực hiện "dân biết"

Mặc dù đã có sự hỗ trợ của chính quyền, đoàn thể trong việc tuyên truyền, phổ
biến các nội dung của Quy chế để người dân thực hiện quyền được "biết" của mình song
thực tế vẫn còn có những hạn chế, bất cập:

Thø nhÊt: Hệ thống truyền thông ở cơ sở còn nhiều hạn chế như: Vẫn còn một tỷ
lệ đáng kể cán bộ chính quyền cho rằng việc thông báo đến dân
14 nội dung như Quy chế dân chủ quy định là chưa thực sự cần thiết. ë một số địa phương,
đội ngũ cán bộ cơ sở hạn chế về năng lực truyền thông do còn yếu về chuyên môn nghiệp
vụ, chưa có khả năng lựa chọn, tóm tắt, cụ thể hóa, đơn giản hóa các văn bản do cấp trên
gửi xuống đã dẫn đến tình trạng người dân không hào hứng khi đọc, khi nghe các văn bản
do địa phương đưa ra và không nắm vững các nội dung. Các văn bản nhiều, dài và thường
có nội dung phức tạp, dẫn tới tình trạng là cán bộ và người dân không nắm bắt kịp thời và
hiểu đầy đủ, sâu sắc nội dung mà Quy chế dân chủ quy định phải thông báo. Ngoài ra, một
số văn bản quy định không sát với thực tế cũng gây khó khăn cho việc công khai như lĩnh
vực chi tiêu tài chính cấp xã, phường. Phương tiện truyền thông cũng còn nhiều hạn chế
như tình trạng loa truyền thanh không phải ở địa phương nào cũng có, cũng tốt. Đặc biệt,
khoảng 2/3 trong số 2.363 xã đặc biệt khó khăn miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa
chưa có trạm truyền thanh [1, tr. 18]. Việc gửi văn bản đến từng hộ gia đình cũng khó khăn
do thiếu ph-¬ng tiÖn in ấn, kinh phí, số buổi họp ít, địa điểm chật hẹp cũng là nguyên nhân
người dân không thể tiếp nhận thông tin một cách thường xuyên, cập nhật.

Thø hai: Trình độ dân trí thấp, không đồng đều và thiếu quan tâm của người dân.
Trình độ dân trí của người dân hiện nay là không đồng đều, có nơi còn thấp dẫn đến việc
tiếp thu và hiểu rõ nội dung của Quy chế dân chủ là rất khó khăn. Đặc biệt, ở vùng sâu,
vùng xa, vùng miền núi người dân có trình độ học vấn thấp nên việc niêm yết thông tin trên
các bản tin, hoặc phát tê r¬i lµ không có hiệu quả: "Người dân có trình độ học vấn không cao
nên thường không thích đọc tài liệu, tờ rơi gì, thậm chí báo chí có phát cũng ít đọc, bản tin
dán thấy thông tin trên giấy với những chữ chi chít thì chẳng ai đọc cả" (Lãnh đạo Ban chỉ
đạo thực hiện Quy chế dân chủ huyện Yên Bình, Yên Bái) [20, tr. 89].

Một tỷ lệ không nhỏ người dân chưa quan tâm đến những vấn đề gắn với lợi ích
chung hoặc còn xa với đời sống của cá nhân, gia đình. Theo phản ánh của nhiều người dân
thì việc vận động họp ở các thôn, tổ, khối phố thường gặp khó khăn do người dân thờ ơ
không quan tâm đến các hoạt động của địa phương hoặc bận công việc.

2.2.2.2. Thùc hiÖn d©n bµn

Điều 7 Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở (ban hành kèm theo Nghị định 79/CP)
quy định 5 vấn đề nhân dân ở xã, thôn, bàn và quyết định trực tiếp là: Chủ trương và mức
đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng; xây dựng hương
ước làng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị
đoan, tệ nạn xã hội; các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư thôn, phù hợp với quy
định của pháp luật hiện hành; thành lập Ban giám sát các công trình xây dựng do dân đóng
góp; tổ chức bảo vệ sản xuất, kinh doanh…

§Ó thùc hiÖn tèt viÖc ng-êi d©n ®-îc bµn vµ quyết định trực tiếp những nội dung
nêu trên; Điều 7 Quy chế quy định phương thức thực hiện là: UBND xã xây dựng phương
án, chương trình kế hoạch; phối hợp với ñy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp chỉ đạo, tổ
chức nhân dân thảo luận, quyết định những công việc bằng một trong các hình thức; họp
toàn thể nhân dân hoặc chủ hộ gia đình hay cử tri đại diện hộ gia đình ở từng thôn, thảo
luận và biểu quyết công khai hoặc bỏ phiếu kín: Phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình.

Nhìn chung, hầu hết các đơn vị cơ sở đã thực hiện nghiêm túc việc tổ chức cho
dân bàn và quyết định trực tiếp những vấn đề nêu trên bằng cách:

* Họp là hình thức chủ yếu để dân bàn và quyết định trực tiếp

Họp là hình thức sinh hoạt dân chủ ở xã, phường khá phổ biến để giữa người dân
và cán bộ chính quyền được trao đổi, bàn bạc, thảo luận, tranh luận để tìm ra quyết định tối
ưu, đây là hình thức mà đa số người dân cho là phù hợp. Có tới 92,4% số người được hỏi
cho biết chính quyền cơ sở đã sử dụng hình thức họp để dân bàn và quyết định trực tiếp.

Tuy nhiªn, thực tế cho thấy hình thức họp, bàn và quyết định trực tiếp đã gặp hàng
loạt các trở ngại, khó khăn đó là:

Thø nhÊt: Số cuộc họp của người dân trong thôn rất ít. Điều 16 Nghị định 79/CP
quy định một năm chỉ họp hai lần, trong khi đó những nội dung cần bµn lại rất nhiều, do vậy,
không thể bàn trực tiếp được hết các vấn đề phát sinh.

Nói ""dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" như vừa rồi thì tôi nghĩ là dân bàn
thì ít lắm vì ngay tổ của chúng tôi năm nay tổng kết có một, hai lần thôi, chứ không phải
lúc nào cũng bàn được đâu" (cán bộ đoàn thể, Hà Nội) [20, tr. 122] "Dân cũng đã được bàn
những việc phải làm, nhưng việc dân bàn còn rất ít" (người dân phường Đông Vĩnh, thành phố
Vinh, Nghệ An) [20, tr. 122].
Thø hai: Không có địa điểm họp phù hợp. Hầu hết các thôn thuộc xã vùng đồng
bằng số hộ dân cư thường rất đông, khoảng xấp xỉ 1.000 hộ/thôn; thôn, tổ dân phố thường
không có nhà văn hóa hay hội trường riêng hoặc có nhưng chật hẹp, sơ sài nên tổ chức
được những cuộc họp là rất khó khăn hoặc chất lượng không cao.

Thôn chúng tôi có 1.850 nhân khẩu, điều kiện hoạt động của chúng tôi
rất khó khăn, hội trường thì không có, chúng tôi phải mượn nhà tăng của đình
để họp. Dân đến họp thì lại ngồi đất. Nếu có mời đại diện thì cũng đến 130
người, nếu đến đủ thì không có chỗ để họp (Trưởng thôn Vĩ Dạ, Thùy Vân,
Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế) [20, tr. 123].

Thø ba: Ng-êi d©n bËn rén víi c«ng viÖc lµm ¨n, ng¹i ®i häp.

Thø t­: Năng lực cán bộ ở cơ sở còn hạn chế, không có khả năng giải đáp những
thắc mắc cho dân cũng là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ người dân đi họp thấp.

* Hình thức phát phiếu lấy ý kiến nhân dân

Đây là hình thức mà đa số người dân cho là phù hợp, hình thức này sẽ giúp cho
việc tham khảo được nhiều ý kiến đóng góp của người dân, đỡ tốn thời gian và đặc biệt là
người dân không ngại bị va chạm, thành kiến nên thường có những phản ánh đúng với tâm
tư, nguyện vọng của mình.

2.2.2.3. Thùc hiÖn d©n gi¸m s¸t, kiÓm tra

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở (ban hành kèm theo Nghị định 79/CP) quy định
phạm vi giám sát, kiểm tra của nhân dân gồm 11 việc với 5 phương thức giám sát cụ thể đã
cho người dân nhận thức được quyền kiểm tra, giám sát của mình đối với hoạt động của
chính quyền, đoàn thể cũng như phẩm chất tư cách đạo đức của cán bộ, công chức. Từ đó
nhân dân tin tưởng vào bộ máy chính quyền và tích cực tham gia xây dựng chính quyền.
Kết quả khảo sát cho thấy việc thực hiện quyền kiểm tra giám sát của nhân dân theo Quy
chế thực hiện dân chủ ở cơ sở như sau:

- Chính quyền và các đoàn thể đã tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền kiểm
tra, giám sát hầu hết các hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương như: Mời đại diện ñy
ban MTTQ Việt Nam và các thành viên của MTTQ cùng cấp, các đối tượng liên quan trực
tiếp tham gia các cuộc họp của chính quyền xã bàn bạc về các vấn đề liên quan đến quyền
và lợi ích trực tiếp của nhân dân địa phương; xem xét, giải quyết các kiến nghị theo thẩm
quyền và thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, tổ chức có kiến nghị; Chủ tịch HĐND,
Chủ tịch UBND xã gửi cho Trưởng thôn bản kiểm điểm công tác và tự phê bình tại cuộc
họp tổng kết hằng năm để Trưởng thôn tổ chức cho nhân dân đóng góp ý kiến; lấy phiếu
tín nhiệm đối với các chức vụ chủ chốt do HĐND xã bầu ra; tổ chức các cuộc họp thu thập
ý kiến của nhân dân về các vấn đề do nhân dân tự quyết định. Nhìn chung, đa số người dân
được hỏi cho rằng chính quyền đã tạo điều kiện cho họ giám sát, kiểm tra đối với hoạt
động kinh tế - xã hội của địa phương. Người dân đã kiểm tra, giám sát một cách trực tiếp,
chặt chẽ việc thu, chi, sử dụng các loại quỹ, các công trình có sự đóng góp của mình (xem
bảng 2.2).

B¶ng 2.2: Đánh giá của người dân về mức độ chính quyền
tạo điều kiện cho họ giám sát
Đơn vị tính: %

ít tạo Chưa
Tạo điều Kh«ng Tæng
điều tạo điều
kiện tốt tr¶ lêi céng
kiện kiện

Hoạt động của chính quyền 74,2 17,5 4,4 3,9 100

Kết quả thực hiện Nghị quyết
76,6 15,6 2,8 5 100
Hội đồng nhân dân

PhÈm chÊt c¸n bé 71,1 17,3 5,9 5,8 100

Giải quyết khiếu nại 69,6 17,7 6 6,6 100

Dự toán, quyết toán ngân sách 60,8 20,1 10,7 8,4 100

Thực hiện quyết toán côngtr×nh 62,7 19 10,3 8 100

Các công trình triển khai trên địa
60,6 17,9 9,6 11,9 100
bàn

Quản lý đất đai 64,4 18,3 8,2 9,1 100
Thu chi c¸c quü 74 13,5 6,5 6,1 100

Giải quyết các tiêu cực 54,6 20,7 13,6 11,1 100

Thực hiện chế độ chính sách đối
83,5 9,3 2,5 4,7 100
với các đối tượng chính sách

Nguån: [20, tr. 134].

Từ khi có Quy chế dân chủ, mọi khoản thu, chi quỹ đóng góp của dân đều được
công khai, minh bạch, rõ ràng. Hình thức phổ biến để người dân kiểm tra, giám sát việc đóng
góp và chi tiêu các quỹ của thôn, tổ dân phố là thực hiện định kỳ niêm yết công khai các
khoản thu, chi tại các bảng thông báo của thôn, tổ dân phố và cộng đồng dân cư. Kết quả
thực hiện quyền kiểm tra giám sát của nhân dân rõ nhất là trong lĩnh vực các công trình
nhà nước và nhân dân cùng làm. Người dân được trực tiếp bàn bạc và quyết định mức
đóng góp của mỗi người, tự cử ra đại diện của mình trực tiếp thu - chi và thanh quyết toán,
tự thành lập tổ kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các công trình có sự đóng góp của
mình. Sự công khai, minh bạch trong sử dụng các loại quỹ do dân đóng góp đã tạo không
khí yên tâm, tin tưởng của nhân dân vào chính quyền; người dân hăng hái, tích cực trong
việc đóng góp tiền của hay những lợi ích vật chất khác cho sự phát triển của địa phương và
đất nước. Thực tế cho thấy, trong những năm qua nhiều người dân đã hiến cả nhà cửa, đất
đai cho việc xây dựng các công trình của địa phương cũng như của Trung ương.

* Những hạn chế trong việc thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của nhân dân

Trong c¸c b¸o cáo đánh giá quá trình thực hiện Quy chế dân chủ của hầu hết các
địa phương trong cả nước đều cho rằng việc tổ chức để nhân dân giám sát, kiểm tra cũng
như sự tham gia của nhân dân vào quá trình giám sát kiểm tra là khâu yếu nhất, nguyên
nhân của hạn chế nµy lµ:

Thø nhÊt: Nhiều địa phương chính quyền không tạo điều kiện cho nhân dân giám sát,
kiểm tra, đặc biệt là trong các lĩnh vực như: Xử lý tiêu cực; dự toán, quyết toán ngân sách thực
hiện, quyết toán công trình triển khai trên địa bàn.

Thø hai: Ng-êi d©n còn mang nặng tư tưởng "dĩ hòa vi quý", ngại va chạm hoặc
sợ cán bộ.
Thø ba: Sự thiếu hiểu biết hoặc không có chuyên môn nghiệp vụ của người dân
trong lĩnh vực kiểm tra, giám sát là một trong những nguyên nhân làm hạn chế kiểm tra,
giám sát.

Thø t­: Nhiều tổ chức có chức năng, giám sát nhưng thiếu cơ chế, quy trình cụ thể,
rõ ràng. Hoạt động của ban thanh tra nhân dân còn hình thức, kém hiệu quả, cán bộ thanh
tra không được đào tạo, tập huấn nghiệp vụ, không có chế độ ổn định và vẫn phụ thuộc vào
các điều kiện của chính quyền.

2.2.2.4. Thùc hiÖn x©y dùng céng ®ång d©n c­ th«n

Thôn là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là nơi thực hiện dân chủ một cách
trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư và
là nơi tổ chức cho nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao.

Hiện nay trên cả nước có hơn 9.000 xã, thị trấn với gần 90.000 thôn. Đây là đơn vị
tự quản của cộng đồng dân cư, chứ không phải cấp quản lý cơ sở, mặc dù, thôn và Trưởng
thôn có thể được xã ủy nhiệm và ủy quyền quản lý một số công việc nào đó tại thôn. Các
thôn đều thực hiện tốt chế độ bầu Trưởng thôn tại Hội nghị nhân dân thôn. Người dân
được tự do, dân chủ trực tiếp bầu ra Trưởng thôn, người đại diện cho mình tại cộng đồng
dân cư. Trong quá trình hoạt động nếu Trưởng thôn, không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm
quyền làm chủ của nhân dân, tham nhũng, lãng phí thì sẽ bị nhân dân miễn nhiệm: "Hàng
năm, Mặt trận Tổ quốc xã tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với Trưởng thôn. Nếu tỷ lệ
phiếu tín nhiệm thấp dưới 50% số người tham gia bỏ phiếu thì đề nghị tổ chức Hội nghị
thôn xem xét miễn nhiệm và báo cáo lên Chủ tịch ñy ban nhân dân xã quyết định" (Điểm
b, Khoản 2, Điều 17 Nghị định 79/CP).

Đến đầu năm 2004, ở hầu hết các xã, phường, thị trấn trong cả nước đã hoàn thành xây
dựng hương ước, quy ước. Nhiều hương ước, quy ước đã đi vµo cuéc sống. Theo Thông tư liên
tịch số 06/2000/TTLT-BTP-BVHTT-BTTUBTƯMTTQVN ngày 31/3/2000 của Bộ Tư pháp -
Bộ Văn hóa Thông tin - Ban Th-êng trùc ñy ban Trung -¬ng MTTQ ViÖt Nam h-íng dÉn
viÖc x©y dùng vµ thùc hiÖn h-¬ng -íc, quy -íc cña lµng, b¶n, th«n, cÊp, côm d©n c-. Quy
tr×nh ban hµnh quy -íc được tóm tắt như sau:
Nhân dân trong thôn bàn bạc thông qua, Chủ tịch HĐND xã (Nghị định 79 sửa đổi
lại là Chủ tịch UBND xã) đề nghị Chủ tịch UBND huyện phê duyệt. Thực hiện văn bản
trên, các đơn vị cơ sở đã xây dựng hương ước, quy ước nhưng với hình thức chất lượng khác
nhau và có một số điểm vướng mắc như:

Thø nhÊt: Nhiều hương ước, quy ước có nội dung vi phạm pháp luật như quy định
các hành vi vi phạm, mức độ xử lý như: Sinh con thứ ba; đi đêm phải mang đèn, việc cưới,
việc tang... và các mức phạt như: Phạt tiền, phạt thóc; đóng góp gạch lát đường... đã không
đúng với nội dung của hương ước là văn bản quy phạm xã hội do cộng đồng dân cư thỏa
thuận đặt ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm phát huy
những phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản
lý nhà nước bằng ph¸p luËt.

Thø hai: Số lượng hương ước, quy ước, Quy chế nhiều, dài dòng khô khan, hình
thức không thống nhất việc phê duyệt phiền phức.

Thø ba: Chất lượng hương ước, quy ước chưa cao, nội dung là chung chung, sơ sài
chưa sát với tình hình thực tế ở địa phương và khu dân cư; nhiều Quy chế, quy ước không
có hiệu lực; các thôn, tổ dân phố còn lúng túng trong việc xử lý các hành vi không tuân
theo quy ước, hương ước.

Kết luận chương 2

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là một chế định mới. Trên cơ sở thể chế hóa
Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18/02/1998 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam, ngày 11/5/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về việc ban
hành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở. Sau hơn 5 năm thực hiện, để khắc phục những
khiếm khuyết của Quy chế như: Tính dân chủ hóa, công khai hóa trong việc cung cấp
thông tin cho nhân dân, cũng như việc lấy ý kiến nhân dân trước khi ban hành chính sách
còn hạn chế; mức độ tham gia giám sát, kiểm tra của nhân dân còn hạn hẹp; chưa quy định
rõ trách nhiệm của chính quyền cấp xã và những người đứng đầu trong việc tổ chức thực
hiện Quy chế. Ngày 07/7/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ban
hành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở thay cho Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày
11/5/1998, đây là văn bản pháp luật hiện hành về thực hiện dân chủ ở cấp xã ở Việt Nam.
Nhìn chung, nội dung của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ban hành kèm theo Nghị
định 79/CP đã khắc phục được một số hạn chế, bất cập nêu trên. Tuy nhiên, qua thực tiễn
thi hành Quy chế trong tình hình mới đã bộc lộ ra những thiếu sót cần được tiếp tục hoàn
chỉnh như: Hình thức Quy chế của văn bản chưa thực sự tương xứng với tầm vóc của vấn
đề, giá trị pháp lý thấp dẫn đến nhiều địa phương và người dân còn xem nhẹ việc phải thực
hiện nội dung của Quy chế; còn thiếu những nội dung và phương thức thực hiện những
việc dân biết, dân bàn, dân giám sát kiểm tra; một số quy phạm chưa chuẩn xác; việc xây
dựng và phê duyệt các hương ước, quy ước còn máy móc, phức tạp…

Để Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phù hợp với điều kiện mới của đất nước,
được đón nhận và thi hành nghiêm túc, mang lại hiệu quả thiết thực trong việc mở rộng và
phát huy quyền dân chủ của nhân dân, cần phải tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện.
Ch­¬ng 3

quan ®iÓm vµ gi¶i ph¸p chủ yếu
nhằm hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
ở Việt Nam hiện nay



3.1. Những yêu cầu mang tính khách quan đối với việc hoàn thiện Quy chế thực
hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay

3.1.1. Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghÜa

Tư tưởng nhà nước pháp quyền là một tư tưởng chính trị - pháp lý tiến bộ, ra đời
từ rất lâu và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện trong suốt lịch sử phát triển của nhà
nước và pháp luật thế giới. Nó được coi là một thành tựu của văn minh nhân loại. Ngày
nay, mô hình nhà nước pháp quyền được nhiều nhà khoa học đánh giá là một mô hình tối
ưu để quản lý xã hội trong điều kiện một thế giới hiện đại và phát triển không ngừng như
hiện nay. Xây dựng nhà nước pháp quyền tức là xây dựng một nhà nước dân chủ, trong đó
pháp luật và con người giữ địa vị tối cao. Trong xã hội đương đại, mỗi một quốc gia muốn
ổn định và phát triển thì tất yếu phải xây dựng cho mình một nhà n ước pháp quyền. Việt
Nam cũng không nằm ngoài yêu cầu đó.

§¹i héi ®¹i biÓu toµn quèc lÇn thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định: "Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là nhà
nước pháp quyền của nhân dân, do dân, vì dân" và "xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng" là một néi dung quan träng trong c«ng cuéc ®æi míi
hiÖn nay ë n-íc ta [16, tr. 48; 131]. Nhà nước pháp quyền mà chúng ta hướng tới là nhà
nước pháp quyền XHCN, nhà nước pháp quyền vì con người, coi con người là mục tiêu và
giá trị cao nhất. Nhà nước pháp quyền đó có một số đặc điểm cơ bản sau: pháp luật giữ vị
trí tối cao trong đời sống nhà nước và đời sống xã hội; bộ máy nhà nước luôn được tổ chức
và hoạt động trên cơ sở và nhằm thực thi pháp luật; quyền lực nhà nước là thống nhất
nhưng có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước để thực hiện các quyền lập
pháp, hành pháp, tư pháp; hệ thống pháp luật thường xuyên được hoàn thiện theo các tiêu
chí: toàn diện, đồng bộ, khoa học, thực tiễn; giữa nhà nước và công dân có mối quan hệ
bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, bình đẳng về trách nhiệm pháp lý khi hai bên có hành vi
vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nhau; công dân có quyền hưởng các quyền và lợi
ích hợp pháp, nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm và mở rộng các quyền và lợi ích hợp pháp
đó; nhà nước tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các điều ước quốc tế mà mình đã ký kết
hay tham gia.

Có thể khẳng định rằng, xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta là một yêu cầu
có tính bắt buộc nếu như chúng ta muốn ổn định và phát triển, muốn tiến kịp các nước
trong khu vực và cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, xây dựng thành công nhà n ước pháp
quyền là nhiệm vụ hết sức nặng nề và lâu dài, đòi hỏi phải giải quyết tốt từng khâu, từng
nhiệm vụ khác nhau trên tất cả các mặt kinh tế - xã hội, trong đó có một yêu cầu hết sức
quan trọng, mang tính cốt lõi, là phải không ngừng mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát
huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước. Bởi vì, xét về bản
chất, nhà nước pháp quyền chính là một nhà nước dân chủ hiện đại, trong đó các quyền
dân chủ của người dân không ngừng được mở rộng và đảm bảo trên thực tế.

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là một chế định pháp luật thuộc hệ thống pháp
luật Việt Nam, có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và thực hiện nền dân chủ
XHCN. Do vậy, hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là yêu cầu tất yếu, khách
quan của sự nghiệp đổi mới đất nước theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam. Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở có nghĩa là phải làm cho
chế định này trở thành một "bảo bối" của nhân dân, thực sự bảo vệ được các quyền tự do,
dân chủ của họ, và góp phần tăng cường sự vững mạnh của hệ thống chính trị cơ sở, phát
huy được nội lực của toàn dân vào phát triển đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương.

3.1.2. Yªu cÇu héi nhËp quốc tế

Dưới ảnh hưởng của những tiến bộ nhanh chóng của khoa học - kỹ thuật trong thời
đại ngày nay, toàn cầu hóa đã trở thành một xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế thế
giới. Mọi quốc gia nếu không muốn bị bỏ quên, bị nghèo nàn, tụt hậu đều phải chủ động
tham gia cuộc cạnh tranh khốc liệt này. Từ nhiều năm nay, cùng với chủ trương xây dựng
nền kinh tế độc lập, tự chủ, Đảng và Nhà nước ta đã và đang tích cực "đẩy mạnh quá trình
hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới" nhÊt qu¸n thùc hiÖn "hîp t¸c và hội nhập quốc tế
gắn chặt với công cuộc đổi mới".

Toàn cầu hóa là quá trình tham gia của tất cả các nền kinh tế vào một thị trường
theo một "luật chơi chung". Do đó, mỗi quốc gia phải quan tâm đến việc hoàn thiện thể
chế sao cho các thể chế càng mang tính phổ quát và hiện diện càng nhiều ở những môi
trường đầu tư khác nhau. Để chủ động đón nhận và triệt để tận dụng những lợi thế do toàn
cầu hóa đem lại như: nguồn vốn đầu tư, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, khoa học kỹ
thuật… thì ngoài việc ban hành những chính sách thông thoáng để thu hút đầu tư, mỗi nhà
nước còn phải xây dựng cho mình một môi trường xã hội thực sự dân chủ. Môi trường xã
hội dân chủ không chỉ trên phương diện chính trị - pháp lý, mà còn trong các chuẩn mực
ứng xử, hành động của người dân, trong lối sống cộng đồng. Bởi vì, dân chủ chính là môi
trường tốt nhất để con người bộc lộ và sử dụng hết năng lực bản chất của mình góp phần
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Năng lực của con người chính là lợi thế quan trọng
nhất của các quốc gia, c¸c d©n téc khi tham gia vµo "s©n ch¬i toµn cÇu".

Việt Nam hội nhập quốc tế trong điều kiện xuất phát điểm thấp, vì vậy phát huy
lợi thế con người là một hướng đi tất yếu. Phát huy năng lực của con người như đã trình
bày ở trên là phải gắn liền với mở rộng dân chủ. Tức là, phải ghi nhận rộng rãi các quyền
của công dân và không ngừng hoàn thiện các chế định pháp luật về các quyền của công
dân. Hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở chính là một yêu cầu quan trọng góp
phần phát huy nội lực của con người Việt Nam trong hội nhập quốc tế.

3.1.3. Yêu cầu của cải cách nền hành chính quốc gia

Cải cách nền hành chính nhà nước chính là cải cách thể chế và cơ cấu bộ máy
hành pháp về phương diện tổ chức và phương diện thiết chế. Cải cách nền hành chính còn
có nghĩa là hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, năng lực và điều chỉnh hành vi ứng xử, thái độ
của đội ngũ cán bộ, công chức trong thi hành công vụ nhằm đảm bảo tính hiệu lực, hiệu
quả của quản lý nhà nước.

Chương trình cải cách hành chính được Đảng và Nhà nước ta thực hiện cách đây
gần 15 năm và đã thu được những kết quả đáng khích lệ: lập lại trật tự, kỷ cương trong
hoạt động hành chính, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân lao động, góp phần không
nhỏ làm nên những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước.

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là một chế định pháp luật có ý nghĩa là tiền
đề, thúc đẩy việc cải cách hành chính ở cơ sở. Do vậy, có thể khẳng định rằng để công
cuộc cải cách hành chính đạt được kết quả tốt, đặc biệt là đối với cấp hành chính cơ sở
thì việc hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là một yêu cầu mang tính khách
quan. Các thủ tục hành chính ở cấp cơ sở chỉ có thể hoàn thiện và hiện thực hóa trên cơ
sở công khai hóa các quy trình thủ tục hành chính và t ăng cường cơ hội đối thoại, giao
tiếp giữa chính quyền xã, phường và nhân dân. Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở được
hoàn thiện cũng có mục đích đáp ứng được những yêu cầu nêu trên của cải cách hành
chính ở cấp cơ sở, và rộng hơn là cải cách nền hành chính nhà nước.

3.2. Mét sè Quan ®iÓm có tính nguyên tắc đối với việc hoàn thiện Quy chế thực
hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay

3.2.1. Tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân

Phát huy quyền làm chủ của nhân dân là tư tưởng chỉ đạo mọi lĩnh vực hoạt động
của Đảng và Nhà nước, từ hoạch định chính sách đến xây dựng bộ máy, tổ chức, cán bộ cho
tới cải tiến phương thức lãnh đạo, phong cách làm việc của các cơ quan đảng và chính quyền
ở các cấp, các ngành. Chỉ thị 30-CT/TW đã có quan điểm chỉ đạo việc xây dựng Quy chế
dân chủ ở cơ sở phải: "Đặt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong cơ chế
tổng thể của hệ thống chính trị "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ". Coi
trọng cả ba mặt nói trên, không vì nhấn mạnh một mặt mà coi nhẹ, hạ thấp các mặt khác".

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ban hành theo Nghị định 29/1998/NĐ-CP và đã được
điều chỉnh, bổ sung thành Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở, ban hành năm 2003 theo
Nghị định 79/2003/NĐ-CP có nội dung chủ yếu là xác định quyền làm chủ của nhân dân
tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội ở cơ sở, quy định mối quan hệ giữa
nhân dân và chính quyền cơ sở, Nêu rõ trách nhiệm và quyền làm chủ của người dân trong
việc xây dựng, tổ chức cuộc sống thường ngày trên địa bàn dân cư. Nội dung của các Quy
chế này đã mở ra một bước phát triển mới cả về bề rộng và bề sâu của nền dân chủ ở cơ
sở. Đã đáp ứng được phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" với những
quy định rõ ràng những điều gì dân phải được biết, những điều gì phải được đưa ra dân
bàn và nhân dân có quyền giám sát, kiểm tra những việc làm nào của chính quyền cơ sở,
đồng thời quy định rõ những hình thức, phương pháp thực hiện những quyền này của
người dân.

Bởi vậy, xây dựng và hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phải vừa phát
huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của HĐND và
UBND các cấp, vừa thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc và
quyết định trực tiếp những công việc quan trọng thiết thực, gắn với lợi ích của mình. Phải
tạo điều kiện để nhân dân hiểu rõ mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước và những quy định, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương;
thực hiện tốt chế độ công khai tài chính, bảo đảm công bằng trong thu và sử dụng các
nguồn vốn, nguồn công quỹ; tạo điều kiện để nhân dân bày tỏ nguyện vọng, tâm tư, đóng
góp ý kiến với chính quyền, có cơ chế để nhân dân giám sát kiểm tra; thực hiện tốt chế độ
tự quản đối với các vấn đề có liên quan đến cuộc sống hàng ngày của nh©n d©n.

3.2.2. Phát huy dân chủ phải gắn liền với nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân

Một trong những biểu hiện của đời sống vật chất, tinh thần là mức độ sử dụng và
hưởng thụ những thành quả lao động trí óc và chân tay phục vụ nhu cầu sống và phát triển
của con người trong hiện tại, được biểu hiện cụ thể ở các mặt như: mức độ thu nhập, các
điều kiện về ăn, ở, sinh hoạt, đi lại, việc làm, chăm sóc sức khỏe, trình độ văn hóa, chính
trị, đạo đức, văn học, nghệ thuật... Chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân có ý nghĩa rất lớn, đó chính là những đảm bảo quan trọng cho việc phát huy dân chủ ở
cơ sở. Con người nói chung, phải đạt đến một phát triển vật chất nào đó mới có thể có điều
kiện để nhận thức và "thưởng thức" những giá trị tinh thần, trong đó có giá trị của quyền tự
do và dân chủ. Một khi chưa được giải phóng ra khỏi những yêu cầu tối thiểu của đời sống
vật chất, thì tự do và dân chủ đối với họ không có ý nghĩa bằng miếng cơm, manh áo hàng
ngày và khi đó, các giá trị tự do, dân chủ nếu được Nhà nước ghi nhận thì chúng cũng sẽ
trở thành hình thức.
Phải thừa nhận rằng, mặc dù đã qua 19 năm đổi mới nhưng đời sống kinh tế - xã
hội ở nhiều địa phương, vùng, miền của nước ta vẫn còn kém phát triển. Cơ sở hạ tầng lạc
hậu, chưa đáp ứng được nhu cầu mưu sinh của đồng bào chứ chưa nói đến yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đời sống của nhân dân còn thiếu thốn cả về mặt vật chất và tinh
thần. Nhiều vùng còn đói giáp hạt, thiếu lương thực. Số hộ nghèo vẫn chiếm tỉ lệ cao. Do
vậy, Đảng và Nhà nước cần quan tâm đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu
hơn nữa (điện, đường, trường, trạm, thuỷ lợi...), nhất là đối với đồng bào vùng sâu, vùng
xa, vùng dân tộc thiểu số, và phải có cơ chế kiểm soát tính hiệu quả của các chương trình,
dự án đầu tư đó. Cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng, Nhà nước cũng cần phải giải quyết một
cách căn bản các yếu tố lao động, nghề nghiệp và lợi ích.

Bên cạnh yếu tố vật chất thì đời sống tinh thần của nhân dân cũng gặp nhiều khó
khăn. Cho đến nay, đời sống văn hóa của đa số các vùng, miền trên đất nước ta còn nghèo
nàn, ít thay đổi. Người dân nhiều nơi chưa và khó có điều kiện tiếp cận với thông tin, báo
chí của Đảng và Nhà nước. Trình độ dân trí chưa được cải thiện là bao, đặc biệt là đối với
vùng sâu, vùng xa đang có nguy cơ tụt hậu xa hơn so với vùng đồng bằng, thành thị. Do
đó, để nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, Đảng và Nhà nước cần phải hình thành
một chiến lược phát triển văn hóa - xã hội thật sự có hiệu quả, ưu tiên nhiều cho những
vùng khó khăn, kém phát triển. Trước mắt, Nhà nước sớm đầu tư xây dựng và hoàn thiện
hệ thống thiết chế văn hoá nhà nước từ tỉnh đến xã hoàn chỉnh, như hệ thống nhà văn hoá,
thư viện (huyện, xã), các tụ điểm sinh hoạt văn hoá ở khu dân cư và ở các cơ sở tôn giáo,
dân tộc phù hợp với từng địa phương, và phải có cơ chế để đảm bảo cho các thiết chế này
hoạt động có hiệu quả, tránh tình trạng không hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng như ở
một số địa phương hiện nay. Đầu tư phát triển văn hóa, về cơ bản là đầu tư nâng cao dân
trí, việc đầu tư như vậy cần sự kết hợp chặt chẽ của nhiều ngành, nhiều cấp chính quyền và
các tổ chức chính trị, xã hội mới có thể đạt được kết quả cao.

Chúng ta có thể khẳng định rằng, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được
nâng cao chính là tiền đề để người dân nhận thức đúng đắn các quyền và lợi ích hợp pháp
của mình, và từ đó họ mới có điều kiện tham gia giải quyết các công việc của nhà nước và
phát huy nội lực của bản thân để góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đại
phương nói riêng và của đất nước nói chung.
3.2.3. Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở xã phải phù hợp với Hiến
pháp, pháp luật

Dân chủ và pháp luật là hai mặt thống nhất biện chứng của quá trình dân chủ hóa
ở cơ sở. Nghĩa là, mở rộng dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ cương, kỷ luật. Một hệ
thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ và khả thi là nền tảng pháp lý, là công cụ để nhân
dân thực hiện quyền dân chủ, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, đồng thời hiểu rõ
trách nhiệm, nghĩa vụ để có những ứng xử phù hợp với pháp luật. Vì vậy, Quy chế thực
hiện dân chủ ở cơ sở phải cần phải được hòan thiện trên nguyên tắc tôn trọng một cách
triệt để các quy định của hiến pháp và pháp luật; Tiếp đó là việc ban hành những văn bản
nhằm cụ thể hóa những quy định của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ở các địa
phương cũng phải triệt để tôn trọng Hiến pháp, pháp luật, tránh tình trạng hình thành
những văn bản trái luật, khơi dậy tâm lý "phép vua thua lệ làng"; Dân chủ phải trong
khuôn khổ pháp luật, tránh tình trạng "mạnh ai nấy làm", mà phải bảo đảm "lệ làng đi
cùng phép nước". Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở còn phải gắn liền với
việc quy định những hình thức xử lý đối với những người lợi dụng dân chủ để thực hiện
các hành vi vi phạm pháp luật.

Bªn c¹nh sự phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, việc hoàn thiện Quy chế thực hiện
dân chủ ở cơ sở còn phải phù hợp với thực tiễn từng cơ sở, phải thiết thực và có tính khả
thi cao. Bởi quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là công cụ hữu hiệu để Nhà nước mở rộng
bảo vệ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, để nhân dân hiện thực hóa quyền dân chủ
của mình.

3.3. Một số phương hướng và giải pháp pháp lý hoàn thiện quy chế thực hiện
dân chủ ở cơ sở

3.3.1. Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở theo hướng xây dựng
Pháp lÖnh thùc hiÖn d©n chñ ë c¬ së

Hiện nay, pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở được ban hành dưới hình thức
nghị định của Chính phủ, sau hơn bảy năm tồn tại đã đến lúc cần phải nâng giá trị pháp lý
của văn bản thành Ph¸p lÖnh thùc hiÖn d©n chñ ë c¬ së, bởi vì: Pháp lệnh được đánh giá
là văn bản dưới luật mang tính chất luật, sử dụng hình thức pháp lệnh trong xây dựng pháp
luật thực hiện dân chủ ở cơ sở là cần thiết, không chỉ đề cao giá trị pháp lý mà còn mở
rộng phạm vi điều chỉnh, tăng thêm số lượng các điều khoản để phù hợp với xu thế xã hội
phát triển đang đặt ra đối với việc thực hiện dân chủ ở cấp xã. Theo hướng này, trước hết
phải xác định rõ mục đích, yêu cầu của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở; xác định đối
tượng, phạm vi điều chỉnh và những nội dung chính của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ
sở. Đó là những nội dung mà chúng tôi sẽ trình bày sau đây:

­ Mục đích, yêu cầu của Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở

Về mục đích, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở được xây dựng ban hành nhằm
đáp ứng nhu cầu thực tế đang đặt ra là phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân
ở cấp xã, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong phát triển
kinh tế - xã hội, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn
kết, xây dựng chính quyền và các đoàn thể ở cấp xã trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và
khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên
và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh theo định hướng XHCN. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn liền
với cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ".

Về yêu cầu, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở được xây dựng ban hành phải
bảo đảm: Dân chủ trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật; dân chủ đi đôi với trật tự,
kỷ cương; quyền đi với nghĩa vụ; kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ để vi
phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân.

Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở được xây dựng trên cơ sở hoàn thiện những
quy định của pháp luật về quyền dân chủ của công dân, về cơ chế tổ chức và hoạt động của
chính quyền cấp xã… để xây dựng một cơ chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phù hợp và có
tính kh¶ thi.

­ Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở

Thực hiện dân chủ ở cơ sở là những hoạt động của chính quyền cấp xã liên quan
đến việc triển khai thực hiện các quyền dân chủ trên thực tế, cũng như hoạt động của công
dân trong việc thực hiện các quyền tự do, dân chủ của mình. Do đó, đối tượng điều chỉnh,
phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở phải là những quan hệ xã hội
phát sinh giữa các cụ thể trong việc tổ chức thực hiện các quyền dân chủ của công dân.

Chủ thể của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở trước hết là chính quyền cấp xã,
các đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan nhà nước có liên quan đến việc thực
hiện quyền dân chủ ở cơ sở; các công dân sinh sống trong địa bàn của xã (phường, thị
trấn). Năng lực pháp lý của chủ thể được quy định trong các văn bản pháp luật khác.

Về phạm vi điều chỉnh, pháp lệnh này không điều chỉnh toàn bộ các quan hệ xã
hội phát sinh giữa các cơ quan, tổ chức ở cấp xã với công dân mà chỉ điều chỉnh những
quan hệ xã hội phát sinh trong việc thực thi quyền dân chủ của nhân dân, có nghĩa là
những quan hệ xã hội phát sinh trong việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội và tổ chức đời sống cộng
®ång cña nh©n d©n.

Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh được quy định như vậy sẽ có
những mở rộng hơn so với đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Quy chế thực hiện dân
chủ ở xã hiện nay.

­ Về nội dung của pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cơ sở

Néi dung của Pháp lệnh, theo chúng tôi, cần phải có những thay đổi so với quy chế
hiện hành như sau:

Thø nhÊt, cần quy định một cách đầy đủ các phương thức thực hiện những việc
cần thông báo để nhân dân biết. Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện hành quy định 14
loại công việc phải thông báo cho dân biết, với các hình thức cung cấp thông tin để nhân
dân biết là: niêm yết công khai văn bản tại trụ sở ủy ban nhân dân xã và các trung tâm dân
cư, văn hóa, hệ thống truyền thanh của xã, thôn và các tổ chức văn hóa, thông tin, tuyên
truyền cơ sở; tổ chức các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND xã, tại các kỳ họp của
HĐND xã, các cuộc họp của UBND, ñy ban MTTQ ViÖt Nam, c¸c thµnh viªn cña MTTQ
ViÖt Nam cïng cÊp vµ cuéc häp cña th«n; göi v¨n b¶n tíi hé gia ®×nh hoÆc Trưởng thôn.
Về phạm vi những việc phải thông báo cho dân biết theo quy chế hiện hành ghi nh ư vậy là
chưa hợp lý, vừa thừa, vừa thiếu thể hiện ở chỗ: Các nội dung công việc mà nhân dân cần
được biết khá phong phú và phụ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị ở địa phương trong
mỗi thời kỳ, mặt khác cần tạo sự chủ động của chính quyền trong việc lựa chọn những nội
dung cần thiết để thông báo cho dân biết nên tại Điều 5 của quy chế cần phải mở rộng hơn.
Theo chúng tôi cần phải thêm 1 khoản vào cuối Điều 5 (kho¶n 15) lµ: "Những nội dung
khác mà chính quyền xã thấy cần thiết".

Về phương thức thông báo công khai các nội dung "những việc cần thông báo để
nhân dân biết" Quy chế hiện hành chỉ giới hạn ở 5 hình thức như vậy là không phù hợp,
chưa tính đến thực tiễn quản lý của chính quyền cơ sở, sự phát triển của khoa học - công
nghệ. Bởi vì, tới một lúc nào đó, khi mà mọi người dân được sử dụng các hình thức thông
tin hiện đại như việc kết nối mạng internet thì cần phải quy định chính quyền có trách
nhiệm đưa các nội dung đó lên mạng. Mặt khác, hoạt động tuyên truyền các nội dung cần
thông báo cho nhân dân biết còn có thể được thực hiện thông qua hoạt động chuyên môn,
nghiệp vụ của các tổ chức chuyên môn ở các như: Hoạt động của Văn phòng, Địa chính,
Tư pháp hay Tổ hòa gi¶i, An ninh... Do vậy, theo chúng tôi, Điều 6 của Quy chế cần phải
bổ sung thêm hai khoản (khoản 6 và 7) là:

Th«ng qua c¸c ho¹t ®éng chuyªn m«n, nghiÖp vô;

Thông qua các hình thức khác mà chính quyền xã thấy phù hợp.

Thø hai, Ph¸p lÖnh ph¶i ®-îc x©y dựng trên cơ sở hoàn thiện nội dung và phương
thức thực hiện những việc nhân dân bàn và quyết định trực tiếp. Quy chế hiện hành quy
định 5 loại công việc mà nhân dân ở xã, thôn, bàn và quyết định trực tiếp là phù hợp với
thực tế, nhưng về phương thức thực hiện những việc nhân dân quyết định trực tiếp cần
phải nghiên cứu để hoàn thiện. Chẳng hạn, khoản 2 và 4 của Điều 9 quy định về tỷ lệ dân
dự họp và tỷ lệ nhất trí để một quyết định có giá trị sẽ là khó khả thi đối với nhiều địa
phương hiện nay; mÆt kh¸c khoản 2 và khoản 4 Điều 9 Quy chế lại mâu thuẫn nhau (khoản 2
Điều 9 quy định: "ñy ban nhân dân xã ra quy ết định công nhận những nội dung đạt tỷ lệ
trên 50% số người tham gia cuộc họp hoặc lấy ý kiến tán thành"; khoản 4 Điều 9 quy định:
"Nhân dân có trách nhiệm chấp hành và thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định đã được
trên 50% các hộ gia đình của xã hoặc thôn nhất trí". Như vậy, tại khoản 2 Điều 9 quy định
một quyết định có giá trị khi đạt tỷ lệ trên 50% số người tham gia cuộc họp hoặc lấy ý kiến
nhất trí nhưng tại khoản 4 Điều 9 lại quy định các quy định có giá trị thực hiện là đã được
trên 50% các hộ gia đình của xã hoặc của thôn nhất trí. Trong khi số người tham gia cuộc
họp hoặc lấy ý kiến và số hộ gia đình của xã hoặc thôn không phải lúc nào cũng như nhau,
thậm chí rất khác nhau). Để tránh mâu thuẫn trong một điều luật và tạo điều kiện cho
những quyết định của nhân dân có giá trị thực hiện khoản 4 Điều 9 nên sửa lại là: "Nhân
dân có trách nhiệm chấp hành và thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định đã được ñy ban
nh©n d©n x· c«ng nhËn".

Thø ba, hoµn thiÖn néi dung vµ ph-¬ng thøc thùc hiÖn nh÷ng viÖc nh©n dân bàn,
tham gia ý kiến, chính quyền xã quyết định và những việc nhân dân giám sát, kiểm tra.

Quy chế hiện hành quy định 9 loại việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến để chính
quyền xã quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định và
11 việc nhân dân giám sát kiểm tra là không thực tế, bởi vì: trong điều kiện hiện nay, trình
độ nhận thức của nhân dân còn nhiều hạn chế, nhiều người dân không đủ năng lực để tham
gia đóng góp ý kiến hay kiểm tra giám sát những công việc mang tính chuyên môn sâu.
Mặt khác, trình độ, kỹ năng lãnh đạo, điều hành của cán bộ cơ sở còn nhiều bất cập, chính
vì vậy cần xác định rõ những công việc nào cần thiết phải thực hiện dân chủ trực tiếp rộng
rãi đến mọi người dân, những công việc nào không nhất thiết phải như vậy. Theo chúng
tôi, hiện nay dân chủ trực tiếp chỉ nên giới hạn ở những công việc có liên quan đến quyền
lợi sát sườn của người dân, như: các khoản đóng góp, các hoạt động tự quản và kiểm tra,
giám sát chính các hoạt động này; những hoạt động liên quan đến sự phát triển chung của
cả cộng đồng xã, phường, những công việc đòi hỏi các kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ...
nên quy định thực hiện dân chủ đại diện.

Việc quy định các phương thức kiểm tra, giám sát (Điều 13) cũng chưa thực sự
chuẩn xác. Khoản 4 Điều 13 quy chế quy định: "Bỏ phiếu tín nhiệm ®èi víi c¸c chøc vô do
Héi ®ång nh©n d©n x· bÇu" thùc ra ®©y lµ sù ®¸nh gi¸ của nhân dân đối với một số chức
danh của chính quyền xã, hay khoản 5 Điều 13: "Phát hiện những cơ quan, tổ chức, cá nhân
xâm phạm quyền làm chủ… tham nhũng…" là kết quả của hoạt động kiểm tra, giám sát
chứ không phải là phương thức kiểm tra, giám sát. Để bảo đảm sự chuẩn xác về nội dung
của điều luật, theo chúng t«i khoản 4, 5 Điều 13 nên tách thành một điều luật mới.
Thø t­, hoàn thiện nội dung và phương thức thực hiện xây dựng cộng đồng dân cư
thôn. Thôn, làng, ấp, bản, xóm, tổ dân phố... là nơi sinh sống của cộng đồng dân cư, là
nơi thực hiện dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi để phát huy các hình thức hoạt động
tự quản của cộng đồng dân cư và là nơi tổ chức cho nhân dân thực hiện chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ cấp trên giao. Thôn không
phải là một cấp hành chính. Các đơn vị này được ra đời do lịch sử hình thành các điểm dân
cư và do quy mô dân số ở các điểm dân cư đó lớn mạnh không ngừng, điều này làm nảy
sinh các vấn đề về quản lý. Chính quyền xã, phường không thể "với" nổi đến hàng chục
ngàn dân trải trên một địa bàn rộng, trong khi cơ sở vật chất, phương tiện giao thông, liên
lạc còn sơ sài. Do vậy, các cán bộ thôn, ấp, xóm, bản, tổ dân phố được coi như là "cánh tay
nối dài" để chính quyền cơ sở "với tới" người dân. Trưởng thôn có vai trò hết sức quan
trọng trong việc truyền tải các quyết định của chính quyền đến với người dân và thu nhận
ý kiến phản hồi của người dân đến với chính quyền.

Quy chế hiện hành quy định Trưởng thôn là người được nhân dân bầu ra tại Hội
nghị nhân dân thôn và được Chủ tịch UBND xã ra quyết định công nhận; Trưởng thôn có
nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 17 của Quy chế. Tuy nhiên, Quy chế lại
chưa xác định rõ về phẩm chất, năng lực, độ tuổi, uy tín của Trưởng thôn cũng như quy
trình bầu Trưởng thôn. Theo chúng tôi nên bổ sung vào Điều 17 Quy chế nội dung sau:

Trưởng thôn là người từ 21 tuổi trở lên, có sức khỏe và phẩm chất đạo đức tốt, có
uy tín và năng lực làm việc, được đa số nhân dân trong thôn bầu ra tại Hội nghị nhân dân
và được Chủ tịch ñy ban nhân dân xã ra quyết định c«ng nhËn.

Quy định như vậy sẽ giúp nhân dân dễ dàng lựa chọn được những Trưởng thôn
xứng đáng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Một trong những hoạt động chủ yếu của thôn là những hoạt động mang tính tự
quản. Nhân dân trong thôn xây dựng hương ước, quy ước. Là văn bản quy phạm xã hội
trong đó quy định các quy tắc xử sự chung do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận đặt ra để
điều chỉnh các quan hệ xã hội mang tính tự quản của nhân dân nhằm giữ gìn và phát huy
những phong tục, tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hóa trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp,
cụm dân cư, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý xã hội bằng pháp luật. Để cho các
quy ước, hương ước phù hợp với điều kiện của từng địa phương và dễ đi vào đời sống của
người dân ở cơ sở cần tránh hiện tượng hình thức của các quy ước, hương ước như hiện
nay. Bên cạnh đó, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở hiện hành quy định "thôn, tổ dân phố
xây dựng hương ước, quy ước về công việc nội bộ của cộng đồng dân cư…" sẽ dẫn tới tình
trạng quá tải các quy ước và nếu mçi th«n, tæ d©n phè x©y dùng ®ñ 8 lo¹i quy -íc nh-
thµnh phè Hµ Néi vµ mét sè tØnh ®ang lµm, th× sè l-îng quy -íc ë mçi x·, ph-êng sÏ lªn tíi
con số hằng nghìn… Vì vậy, Điều 18 "Quy chế" nên quy định thôn, tổ dân phố x©y dựng các
quy ước để giải quyết các vấn đề bức xúc, thiết thực của họ mà không cần quy định các thôn,
tổ dân phố phải có các quy ước cùng loại như nhau.

Thø n¨m, bổ sung những quy định về xử lý các hành vi vi phạm. Mặc dù trong điều
khoản thi hành của Nghị định 79/CP đã quy định: "Cán bộ, công chức chính quyền các cấp
và nhân dân có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh những quy định trong Quy chế này"
(Điều 21). Nhưng trên thực tế, những người không chấp hành quy định đặt ra vẫn chưa có
hình thức xử lý thích hợp, do vậy, hiệu lực và hiệu quả của Quy chế chưa cao. Theo chúng
tôi, cần phải có các chế tài xử lý đối với những cơ quan và cá nhân cán bộ, không tạo điều
kiện cho việc thực hiện Quy chế. Đồng thời, cũng cần có chế tài xử lý những công dân
không chấp hành các quyết định đã được tập thể, cộng đồng bàn bạc thông qua, cũng như
những đối tượng lợi dụng Quy chế dân chủ để cản trở công việc của chính quyền, gây mất
đoàn kết trong cộng đồng dân cư.

3.3.2 Hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở kết hợp với xây dựng và
hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là một chế định đảm bảo thực hiện các quyền
dân chủ của nhân dân ở cấp xã. Đây là một văn bản pháp luật vô cùng quan trọng, thể hiện
được tính dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta. Tuy nhiên, cũng phải thấy
rằng, dân chủ và thực hiện quyền dân chủ của công dân là một vấn đề rộng lớn, được điều
chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở chỉ là
một trong số các văn bản pháp luật đó. Chính vì vậy, hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ
ở cơ sở phải được tiến hành đồng thời với việc hoàn thiện các văn bản pháp luật có liên
quan trong lĩnh vực này, có như thế mới có thể đảm bảo được tính thống nhất của pháp chế
và nâng cao được hiệu quả của các văn bản pháp luật về thực hiện quyền dân chủ của công
dân nói chung và thực hiện dân chủ ở cơ sở nói riêng.

VËy, theo chóng t«i, trong thêi gian tíi, Quèc héi cÇn tËp trung x©y dùng vµ
hoµn thiÖn mét sè v¨n b¶n ph¸p luËt sau:

­ Xây dựng và ban hành Luật Trưng cầu ý dân

Trưng cầu ý dân là một trong những cách thức thực hiện dân chủ trực tiếp, một
trong những hình thức cao của việc nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội,
bởi thông qua quá trình này người dân có điều kiện thực hiện quyền lực của mình trong
quyết định những vấn đề kinh tế, chính trị - xã hội quan trọng của đất nước.

Nhân dân quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thông qua trưng cầu dân
ý là một trong những quyền hiến định có tính nhất quán trong lịch sử lập hiến nước ta.
Điều 21 Hiến pháp 1946 khẳng định: "Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và
những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia...". Quyền phúc quyết này tiếp tục được khẳng
định trong Hiến pháp 1959 (Điều 52, mục 5); Hiến pháp 1980 (Điều 100, mục 6); Hiến pháp
1992 (Điều 84, mục 14). Quyền phúc quyết Hiến pháp, quyền quyết định các vấn đề quan
trọng của đất nước được thực hiện qua chế định trưng cầu ý dân về bản chất thể hiện quyền
lực trực tiếp của nhân dân, đảm bảo cho nhân dân tự lựa chọn phương hướng giải quyết
các nhiệm vụ có liên quan đến lợi ích của chính bản thân mình. Một khi nhân dân tự quyết
định các vấn đề của dân tộc, của đất nước thông qua các công cụ trực tiếp như trưng cầu ý
dân, quyền đưa ra các sáng kiến về đường lối, chính sách, về pháp luật, về cách thức hành
động, quyền đưa ra các thỉnh nguyện, nhân dân sẽ tự biết cách đảm bảo cho các quyết định
của mình được thực thi đầy đủ và đúng đắn. Vì vậy, ban hµnh LuËt Trưng cầu ý dân là việc
làm cấp bách hiện nay nhằm đảm bảo nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân. Sự ra đời của
Luật Trưng cầu ý dân sẽ tạo được sự đồng thuận xã hội trong phát triển kinh tế - xã hội
cũng như phát huy dân chủ.

Luật Trưng cầu ý dân cần quy định rõ ràng những vấn đề nào Nhà nước phải đưa
ra để nhân dân biểu quyết cũng như trình tự, thủ tục tiến hành trưng cầu ý dân và hệ quả
pháp lý của cuộc trưng cầu ý dân...
­ Tiếp tục hoàn thiện Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử đại biểu
Hội đồng nhân dân các cấp

Quyền bầu cử là một trong những quyền chính trị quan trọng, thông qua quyền bầu
cử, người dân trực tiếp lựa chọn ra các đại biểu xứng đáng của mình để thay mặt họ mà
thực thi quyền lực nhà nước trong phạm vi chức trách, quyền hạn được ủy quyền. Quyền
này đã được cụ thể bằng Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng
nh©n d©n.

Nhìn chung, các đạo luật bầu cử hiện hành đã chế định được các nguyên tắc bầu
cử dân chủ như: phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Tuy vậy, quá
trình thực hiện bầu cử đã nảy sinh một số vấn đề bất cập đó là: Trong rất nhiều trường hợp
sự hiểu biết của cử tri đối với các ứng cử viên là hạn chế, cử tri không những không biết về
phẩm chất, năng lực cá nhân của các ứng cử viên mà còn không thể biết được chương trình
hành động cụ thể của mỗi ứng cử viên khi được bầu để có cơ sở kiểm nghiệm hoạt động
của đại biểu trên thực tế; khả năng lựa chọn đại biểu trong số ứng cử viên của cử tri bị hạn
chế bởi tỷ lệ chênh lệch giữa đại biểu được bầu và ứng cử viên trong danh sách bầu là quá
thấp; nhiều đại biểu sau khi trúng cử còn lúng túng trong việc thực hiện trách nhiệm đại
biểu của mình do chưa có sự chuẩn bị ...

Để quyền bầu cử của công dân được thực hiện tốt hơn, mang lại hiệu quả thiết
thực của việc ủy quyền cho người đại diện, Luật Bầu cử Quốc hội, Luật Bầu cử đại biểu
Hội đồng nhân dân cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện theo hướng tạo nhiều điều kiện và
khả năng cho cử tri trực tiếp lựa chọn các đại biểu của mình; xây dựng cơ chế pháp lý cụ
thể cho các hoạt động tranh cử của các ứng cử viên để tránh cục bộ địa phương hoặc lợi
dụng diễn đàn này phục vụ cho những mục đích khác; có quy định cụ thể về thủ tục kê
khai và công khai tài sản của các ứng cử viên.

­ Tiếp tục hoàn thiện Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ñy ban nh©n d©n

+ LuËt Tæ chøc Héi ®ång nh©n d©n vµ ñy ban nh©n d©n ®-îc Quèc hội thông
qua năm 1994 đã góp phần quan trọng vào việc kiện toàn, củng cố tổ chức và hoạt động
của chính quyền địa phương, nâng cao chất lượng dân chủ đại diện, từng bước mở rộng
dân chủ trực tiếp của nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu của nhiệm vụ quản lý đất nước,
phát triển các mặt kinh tế - xã hội trong tình mới thì Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và
ñy ban nhân dân năm 1994 đã bộc lộ những hạn chế cần phải được sửa đổi bổ sung.

§Ó ®¸p øng yªu cÇu thùc tiÔn trong t×nh h×nh míi, LuËt Tæ chøc Héi ®ång
nh©n d©n vµ ñy ban nhân dân cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng kế thừa và phát
huy những nội dung của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và ñy ban nhân dân năm 2003,
bổ sung một số nội dung mới như: Quy định nhiệm vụ của HĐND và UBND trong lĩnh
vực tổ chức thi hµnh ph¸p luËt thùc hiÖn d©n chñ ë c¬ së; më réng chøc n¨ng vµ nhiÖm
vô cña H§ND vµ UBND cÊp x·; thµnh lËp c¸c ban cña H§ND cÊp x·...

+ Hoàn thiện pháp luật tổ chức HĐND và UBND theo hướng để người dân địa
phương trực tiếp bầu Chủ tịch UBND xã. Có thể thấy rằng, các cuộc bầu cử HĐND cấp xã
ở nước ta trong những năm qua còn nhiều yếu tố bất cập, trong tất cả các giai đoạn của
cuộc bầu cử, từ giai đoạn đề cử ứng viên, niêm yết thông tin về ứng viên, bỏ phiếu bầu
cử… Những bất cập có thể được kể ra là: phần lớn quần chúng nhân dân chưa được tham
gia vào giai đoạn đề cử ứng cử viên; phạm vi lựa chọn đại biểu trong số ứng cử viên rõ
ràng là còn rất hạn chế, bởi tỉ lệ chênh lệch giữa những đại biểu được bầu và những người
ứng cử rất thấp; thông tin về những người ứng cử cũng chưa được công khai, rõ ràng đến
tận từng cử tri, nhiều khi cử tri còn không biết đến ứng cử viên, đặc biệt là đối với những
ứng cử viên từ cấp trên giới thiệu xuống. Từ những bất cập đó đã dẫn đến có những vi
phạm pháp luật trong hoạt động bầu cử HĐND, vi phạm pháp luật cả trong hoạt động tổ
chức bầu cử và trong việc thực hiện nghĩa vụ bầu cử của nhân dân. Hiện tượng bầu hộ,
một người bầu cho nhiều người đang diễn ra khá phổ biến ở các cuộc bầu cử HĐND ở
nước ta hiện nay.

Chủ tịch UBND xã là một chức danh được HĐND xã bầu ra. Nhưng từ thực tiễn
đời sống xã hội ở cơ sở và thực tiễn của bầu cử HĐND cấp xã như đã trình bày ở trên có
thể thấy rằng, Chủ tịch UBND xã tuy là người trực tiếp có trách nhiệm về sự ổn định và
phát triển của địa phương, là người gần dân nhất và phải có trách nhiệm giải quyết những
tâm tư, nguyện vọng của người dân nhưng thực chất chưa hẳn đã là người được số đông
nhân dân tín nhiệm.
Trong điều kiện phát triển hiện nay, khi trình độ nhận thức của người dân không
ngừng được nâng lên thì theo chúng tôi việc bầu cử trực tiếp Chủ tịch UBND xã là một
yêu cầu, một đòi hỏi bức thiết cần phải được nghiên cứu, thí điểm trong thực tế và tiến tới
chế định thành luật áp dụng chung trong toàn quốc. Lợi ích của việc bầu trực tiếp Chủ tịch
UBND xã là không phải bàn cãi, Chủ tịch UBND xã khi được bầu sẽ tranh thủ được sự
ủng hộ của nhân dân nhiều hơn (vì đó là gười do chính họ lựa chọn), và trách nhiệm của
Chủ tịch UBND xã đối với nhân dân cũng vì thế mà cao hơn. Chủ tịch UBND xã vừa là
người đại diện cho dân và đồng thời cũng là người chịu trách nhiệm trực tiếp và cao nhất
đối với nhân dân. Cùng với việc đổi mới cơ chế bầu cử, theo chúng tôi, các khâu bầu cử
Chủ tịch UBND xã cũng phải được cải cách cho phù hợp, từ khâu chia đơn vị bầu cử, ấn
định số lượng đại biểu cho mỗi đơn vị bầu cử, giới thiệu ứng cử viên cho đến giai đoạn
vận động tranh cử để tạo điều kiện cho cử tri tích cực tham gia vào quá trình bầu cử, đảm
bảo mở rộng phạm vi người ứng cử Chủ tịch UBND xã, đảm bảo cho cử tri nắm được
những thông tin cần thiết của ứng cử viên.
Kết luận



Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam hiện nay là yêu cầu cấp
thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước
pháp quyền XHCN, yêu cầu của quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế, yêu cầu của cải
cách nền hành chính nhà nước. Nghiên cứu đề tài Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở
cơ sở ở Việt Nam hiện nay, Luận văn đã tập trung giải quyết các nội dung chính sau đây:

1. Quyền dân chủ là tổng hợp các quyền của công dân trong mối quan hệ với Nhà
nước và các chủ thể khác trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật ghi
nhận và bảo đảm thực hiện.

Thực hiện quyền dân chủ là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hoá các quy
định của pháp luật về dân chủ, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi
thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Thực hiện quyền dân chủ là quá trình cụ thể
hoá phương châm: "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".

Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là văn bản quy phạm pháp luật quy định quyền
và nghĩa vụ của chính quyền, các đoàn thể ở cấp xã và của nhân dân trong việc thực hiện
các nội dung của Quy chế. Do vậy, Quy chế thực hiện dân chủ ở xã có đối tượng và phạm
vi điều chỉnh riêng, có vai trò quan trọng trong việc mở rộng và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân lao động, ngăn chặn và đầy lùi các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, góp
phần xây dựng xã hội mới tiến bộ.

Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là nâng cao chất lượng, tính khả thi
và bền vững của pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở trong thực tiễn với các tiêu chí: Tiêu
chí về tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, về quy tắc kỹ thuật pháp lý và đặc biệt là
tiêu chí về hình thức và tiêu chí về nội dung của pháp luật thực hiện d©n chñ ë c¬ së.

2. Quá trình thực hiện các nội dung của Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở đã đạt
được những kết quả đáng khích lệ: Là công cụ phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của
nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong phát
triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội, tăng cường đoàn kết, cải thiện dân sinh, nâng cao
dân trí, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn những hành
vi lợi dụng dân chủ, vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền tự do dân chủ của nhân dân, khắc
phục tình trạng quan liêu, tham nhũng, góp phần không nhỏ đảm bảo ổn định chính trị -xã
hội ở cấp cơ sở trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, trước những đòi hỏi khách quan của
tình hình mới, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở đang dần bộc lộ những hạn chế, bất cập:
Giá trị pháp lý của văn bản thấp (Quy chế ban hành kèm theo Nghị định của Chính phủ)
dẫn đến nhiều địa phương và người dân còn xem nhẹ việc phải thực hiện nội dung của Quy
chế; còn thiếu những nội dung và phương thức thực hiện những việc dân biết, dân bàn, dân
giám sát kiểm tra; một số quy phạm chưa chuẩn xác, khó áp dụng; việc xây dựng và phê
duyệt các hương ước, quy ước còn máy móc, phức tạp…. Do vậy, cần phải tiếp tục nghiên
cứu để hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở c¬ së.

3. Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng, luận văn đưa ra những giải pháp cơ
bản hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở, bao gồm:

- Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở theo hướng xây dựng Pháp lệnh
thực hiện dân chủ ở cơ sở với các nội dung: Xác định đối tượng và phạm vi điều chỉnh của
Pháp lệnh trên cơ sở phân tích những đòi hỏi của thực tế khách quan; đề xuất những
phương án cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung vào nội dung của Pháp lệnh.

- Hoàn thiện Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở trên cơ sở xây dựng và hoàn thiện
các quy định của pháp luận có liên quan đến việc bảo đảm thực hiện các quyền dân chủ
của nhân dân như: Xây dựng Luật Trưng cầu dân ý, tiếp tục hoàn thiện Luật Tổ chức Hội
đồng nhân dân và ñy ban nh©n d©n; LuËt BÇu cö Quèc héi; LuËt BÇu cö Héi ®ång
nh©n d©n c¸c cÊp.
Danh môc tµi liÖu tham kh¶o



"Báo cáo của Ban Thư ký Chương trình 135" (2004), Kinh tế và phát triển, (85),
1.
tr.18.

Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (2001), Hướng dẫn triển khai quy chế dân chủ ở cơ
2.
sở, Nxb Chính trị quốc gia, Hµ Néi.

3. Hoàng Chí Bảo (1992), "Tổng quan về dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ xã hội
chủ nghĩa ở nước ta: Quan điểm, lý luận và phương pháp nghiên cứu", Tạp chí
Thông tin lý luận, (9).

Bé Néi vô (2003), Tờ trình số 89/TTr­BNV ngày 15/1/2003 về việc ban hành Nghị
4.
định sửa đổi, bổ sung quy chế thực hiện dân chủ ở xã.

Bé Néi vô - ViÖn Nghiªn cøu khoa häc tæ chøc nhµ n-íc (2004), Hệ thống chính trị
5.
cơ sở ­ thực trạng và một số giải pháp đổi mới, (Sách tham khảo), Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.

C¸c v¨n bản của Đảng và Nhà nước về quy chế dân chủ ở cơ sở (2004), Nxb Chính trị
6.
quốc gia, Hà Nội.

NguyÔn Cóc (chñ biªn) (2002), Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình
7.
hiện nay một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Chính phñ (1998), Nghị định số 29/1998/NĐ­CP ngày 11/5 về việc ban hành quy chế
8.
thực hiện dân chủ ở xã.

Chính phủ (1998), Chỉ thị số 22/1998/CT­TTg ngày 15/5 của Thủ tướng Chính phủ
9.
về việc triển khai quy chế thực hiện dân chủ ở xã.

10. Chính phủ (2003), Nghị định số 79/2003/NĐ­CP ngày 7/7 về ban hành quy chế thực
hiện dân chủ ở xã.

11. Chính phủ (2004), Báo cáo số 1317/CP­VIII ngày 23/9 về kết quả thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở từ 1998 đến năm 2004.
12. Nguyễn Đăng Dung (1998), ""Dân chủ" làng xã - Những vấn đề cần phải đặt ra
nghiªn cøu", Tạp chí Cộng sản, (6).

13. §¶ng Céng s¶n ViÖt Nam (1987), V¨n kiÖn §¹i héi ®¹i biÓu toµn quèc lÇn thø VI,
Nxb Sù thËt, Hµ Néi.

14. §¶ng Céng s¶n ViÖt Nam (1998), Chỉ thị 30/CT­TW, ngày 18/2/1998 của Ban Chấp
hành Trung ương về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

15. §¶ng Céng s¶n ViÖt Nam (1996), V¨n kiÖn §¹i héi ®¹i biÓu toµn quèc lÇn thø VIII,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

16. §¶ng Céng s¶n ViÖt Nam (2001), V¨n kiÖn §¹i héi ®¹i biÓu toµn quèc lÇn thø IX,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

17. Tr-¬ng Quang §-îc (2002), "Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy chế
dân chủ ở cơ sở", Tạp chí Cộng sản, (12).

18. Vũ Minh Giang (1992), "Thiết chế làng xã cổ truyền và quá trình dân chủ hóa hiện
nay ở nước ta", Tạp chí Thông tin lý luận.

19. Lª Hång H¹nh (2000), "Bàn về các đảm bảo pháp lý của dân chủ", Tạp chí Quản lý
nhà nước, (4/51).

20. Vũ Văn Hiền (chủ biên) (2004), Ph¸t huy d©n chñ ë x·, ph­êng, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.

21. Vũ Văn Hiền (chủ biên) (2004), D©n chñ ë c¬ së qua kinh nghiÖm cña Thôy §iÓn
vµ Trung Quèc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

22. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (sửa đổi) (2002),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

23. Đỗ Trung Hiếu (2004), Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện
nay (s¸ch tham kh¶o), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

24. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2004), Giáo trình lý luận chung về nhà
nước ­ pháp luật, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
25. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2004), Tâm lý xã hội trong quá trình thực
hiện quy chế d©n chñ ë c¬ së, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

26. Phạm Gia Khiêm (2000), "Thực hiện quy chế dân chủ với xây dựng hệ thống chính
trị cơ sở", Tạp chí Cộng sản, (9).

27. Nguyễn Đại Khởn (2004), "Kết quả và kinh nghiệm bước đầu sau 5 năm triển khai
thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở tỉnh Nam Định", Tạp chí Tổ chức nhà nước,
(7).

28. V.I.Lªnin (1971), Toµn tËp, tập 27, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.

29. V.I.Lªnin (1976), Toµn tËp, tập 32, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.

30. V.I.Lªnin (1976), Toµn tËp, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.

31. V.I.Lªnin (2003), Bàn về dân chủ trong quản lý xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.

32. Luật khiếu nại, tố cáo (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

33. LuËt Tæ chøc Héi ®ång nh©n d©n vµ ñy ban nh©n d©n (söa ®æi) (2003).

34. C.M¸c - Ph.¡ngghen (1980), Toµn tËp, tËp 1, Nxb Sù thËt, Hµ Néi.

35. Nguyễn Văn Mạnh (1998), "Dân chủ trực tiếp và thực hiện dân chủ trực tiếp",
Nghiên cứu lý luận, (5), tr.25-29.

36. Hồ Chí Minh (2000), Toµn tËp, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

37. Hồ Chí Minh (2000), Toµn tËp, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Néi.

38. Hồ Chí Minh (2000), Toµn tËp, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

39. Hồ Chí Minh (2000), Toµn tËp, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

40. Hồ Chí Minh (2000), Toµn tËp, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

41. Hồ Chí Minh (2000), Toµn tËp, tËp 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

42. Hồ Chí Minh (2000), Toµn tËp, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

43. Đỗ Mười (1998), "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở", Tạp chí Cộng sản,
(20).
44. D-¬ng Xu©n Ngäc (chñ biªn) (2000), Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã một số vấn
đề lý luận và thực tiễn (sách tham khảo), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

45. Trần Quang Nhiếp (2000), "Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở sau 2 năm nhìn lại",
Tạp chí Cộng sản, (11).

46. Phạm Quang Nghị (2000), "Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở Hà Nam", Tạp chí
Cộng sản, (5).

47. Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo (1991), D©n chñ t­ s¶n vµ d©n chñ x· héi chñ nghÜa,
Nxb Sù thËt, Hµ Néi.

48. Lê Khả Phiêu (1998), "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng và thực hiện
thiết chế dân chủ ở cơ sở", Tạp chí Cộng sản, (4).

49. Nguyễn Đăng Quang (1992), "Một cách tiếp cận khái niệm dân chủ", Tạp chí Thông
tin lý luận.

50. NguyÔn V¨n S¸u - Hå V¨n Th«ng (®ång chñ biªn) (2003), Thực hiện quy chế dân
chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.

51. Phan Xu©n S¬n (chñ biªn) (2003), C¸c ®oµn thÓ nh©n d©n víi viÖc b¶o ®¶m d©n
chñ ë c¬ së hiÖn nay, Nxb Chính trị quốc gia.

52. Nhật Tân (2003), "Hà Nội sau 5 năm xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ
sở", Tạp chí Cộng sản, (32).

53. Trần Thị Băng Thanh (2002), Vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện quyền dân
chủ của nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.

54. Lê Minh Thông (2000), "Tăng cường cơ sở pháp luật về dân chủ trực tiếp ở nước ta
trong giai ®o¹n hiÖn nay", Nhµ n­íc vµ ph¸p luËt, (1).

55. Lª Minh Th«ng (chñ biªn) (2001), Một số vấn đề hoàn thiện tổ chức và hoạt động của
bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Khoa häc x· héi,
Hµ Néi.
56. Tìm hiểu hiểu Hiến pháp Việt Nam (từ năm 1946 đến năm 1992) và các luật về tổ
chức bộ máy nhà nước (2004), Nxb Lao ®éng x· héi,
Hµ Néi.

57. Tỉnh ủy Thanh Hóa (1998), Chỉ thị số 12/CT­TU về tổ chức triển khai quy chế thực
hiện dân chủ ở xã, ngày 1/9/1998.

58. Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế (1998), C«ng v¨n sè 138/CV­TU ngày 27/2/1998 hướng dẫn
triển khai thực hiện Chỉ thị 30.

59. Tr-êng §¹i häc LuËt Hµ Néi (2004), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp
luật, Nxb Bé T- ph¸p, Hµ Néi.

60. Lê Văn Tuấn (1992), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ", Tạp chí Thông
tin lý luËn, (9).

61. Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), tËp 1, Nxb Sù thËt, Hµ Néi.

62. Đào Trí óc (1998), "Cñng cè c¸c h×nh thøc d©n chñ vµ sù v÷ng m¹nh cña nhµ n-íc
ta", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (11).

63. Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2003),
Quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện
nay, Đề tài cấp Bộ 2002-2003.

64. Lê Kim Việt (2002), "Qua ba năm thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở nông thôn",
Tạp chí Cộng sản, (18).

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản