LUẬN VĂN:Kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ, việc mang tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tây

Chia sẻ: vinamilkvietnam

Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung - cơ quan Viện kiểm sát nói riêng là một đòi hỏi có tính cấp bách của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: "Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do dân chủ...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN:Kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ, việc mang tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tây

LUẬN VĂN:


Kiểm sát điều tra tại hiện trường những
vụ, việc mang tính hình sự trên địa bàn
tỉnh Hà Tây




Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan
tư pháp nói chung - cơ quan Viện kiểm sát nói riêng là một đòi hỏi có tính cấp bách của
Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002
của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: "Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với
yêu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô
tội, vi phạm các quyền tự do dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân
đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp".

Viện kiểm sát nhân dân là một trong các cơ quan tiến hành tố tụng được pháp
luật quy định, có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Để thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát đã tiến hành nhiều
công tác kiểm sát khác nhau, trong đó công tác kiểm sát điều tra là một bộ phận của công
tác này, là kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra tại hiện trường.
Hoạt động của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm hoạt động điều tra vụ án hình sự tại hiện
trường của Cơ quan điều tra đúng quy định của pháp luật, thu thập được đầy đủ các thông
tin, tài liệu, chứng cứ phục vụ quá trình điều tra, khám phá vụ án. Trong những năm qua
Viện kiểm sát nhân dân đã có nhiều cố gắng trong thực hiện công tác kiểm sát các hoạt
động điều tra tại hiện trường các vụ việc mang tính hình sự, góp phần quan trọng trong
hoạt động điều tra khám phá vụ án. Tuy nhiên, công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường
những vụ việc mang tính hình sự vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém như: có nhiều vụ việc
xảy ra Cơ quan điều tra thông báo cho Viện kiểm sát, nhưng Viện kiểm sát không cử
người đến kiểm sát hoạt động, có trường hợp sau khi khám nghiệm hiện trường xong
Viện kiểm sát mới đến. Việc cơ quan Viện kiểm sát tiến hành hoạt động kiểm sát không
thường xuyên, không trực tiếp mà chỉ kiểm sát qua biên bản giấy tờ nên đã dẫn tới thực
trạng: không nắm bắt được chi tiết vụ, việc và những vấn đề phát sinh ngay từ đầu, cho
nên hoạt động kiểm sát điều tra tiếp theo của cơ quan này gặp rất nhiều khó khăn, lúng
túng trong việc nhận định, đánh giá và ra các quyết định. Kiểm sát viên đến hiện trường
còn mang tính hình thức, có mặt cho đúng thủ tục, không thực hiện đúng chức trách
nhiệm vụ được giao, cá biệt có Kiểm sát viên năng lực còn hạn chế, khi đến hiện trường
không biết mình phải làm gì, làm như thế nào. Nhiều vụ việc do công tác giám sát điều
tra hiện trường không tốt, khám nghiệm hiện trường qua loa đại khái, thu thập tài liệu,
chứng cứ không đầy đủ, đã gây rất nhiều khó khăn trong chứng minh tội phạm sau này,
như: nhận định về động cơ, mục đích gây án, số lượng đối tượng gây án, đặc điểm đối
tượng gây án, tài sản chiếm đoạt... không chính xác, đầy đủ, từ đó xây dựng các giả thiết
điều tra không đúng, dẫn đến oan, sai, bỏ lọt tội phạm, làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy
tín của các cơ quan tiến hành tố tụng. Từ những vấn đề nêu trên, cho thấy cần phải hoàn
thiện công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường các vụ việc mang tính hình sự sao cho
hoạt động này đạt hiệu quả cao. Thực trạng Hà Tây trong những năm qua công tác khám
nghiệm hiện trường cũng như kiểm sát hoạt động điều tra tại hiện trường còn nhiều sơ
hở, yếu kém, hiệu quả công tác chưa cao, số vụ việc thụ lý nhiều nhưng số vụ án được
giải quyết chiếm tỷ lệ thấp. Chính vì vậy, đây là vấn đề thực tiễn rất cần được sự quan
tâm nghiên cứu, nhưng cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực
tiếp nội dung này. Bên cạnh đó những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về hiện
trường và khám nghiệm hiện trường tại Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự mới chỉ dừng lại
ở những quy định mang tính khái quát chung, chưa có những quy định cụ thể. Như vậy,
xét ở cả bình diện lý luận và thực tiễn thì việc nghiên cứu đề tài: " Kiểm sát điều tra tại
hiện trường những vụ, việc mang tính hỡnh sự trờn địa bàn tỉnh Hà Tây " là yêu cầu
cấp thiết mang tính thời sự trong giai đoạn hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu

Kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ việc mang tính hình sự là một lĩnh
vực còn rất mới, tuy nhiên đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả, như: Ngô
Sĩ Hiền, Học viện Cảnh sát nhân dân: Nghiên cứu dấu vết súng đạn phục vụ điều tra,
Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, 2004; Nguyễn Mạnh Hiền, Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây: Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn
điều tra các vụ án ma túy - lý luận thực tiễn và giải pháp nâng cao hiệu quả, Luận văn
thạc sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, 2004; Nguyễn Đức Niên: Tổ chức điều tra
tại hiện trường có người chết trên địa bàn tỉnh Hà Giang của Cơ quan Cảnh sát điều tra
và một số giải pháp nâng cao hiệu quả, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát
nhân dân, 2004; Nguyễn Vĩnh Hà: Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra
tại hiện trường các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Phú Yên,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, 2005; Lê Hải Âu: Tổ chức hoạt
động khám nghiệm hiện trường có người chết chưa rõ nguyên nhân trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân, 2003...

Nội dung của những đề tài nêu trên đã đề cập đến chức năng kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự và công tác hiện trường, nhưng chỉ dừng lại ở góc độ phân tích, tìm hiểu
các quy định của pháp luật, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào tập trung
nghiên cứu và làm rõ nội dung của công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường các vụ việc
mang tính hình sự nói chung nên chưa đưa ra được mô hình kiểm sát điều tra hoàn chỉnh
trong giai đoạn này, mà công tác hiện trường lại quyết định đến 90% hoạt động điều tra
khám phá vụ án.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn
hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường các vụ, việc mang tính hình sự xảy ra trên địa
bàn tỉnh Hà Tây, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp hữu hiệu góp phần nâng cao chất
lượng hoạt động điều tra, khám phá các vụ án hình sự, phục vụ tốt cho cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Hà Tây và trong phạm vi cả nước.

Những nhiệm vụ đặt ra khi nghiên cứu đề tài là:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hiện trường và kiểm sát điều tra tại hiện
trường các vụ việc mang tình hình sự.

- Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình
kiểm sát điều tra tại hiện trường các vụ việc mang tính hình sự.

- Khảo sát thực trạng, đánh giá hoạt động điều tra tại hiện trường, từ đó thấy
được những ưu điểm, những mặt tích cực, những hạn chế để đề xuất những giải pháp,
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu thực trạng hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường các vụ
việc mang tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tây từ năm 2000 đến tháng 6 năm 2005.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở các quan điểm duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác
đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu luận văn, tác giả đã sử dụng các
phương pháp như phương pháp khảo sát thực tiễn, phương pháp so sánh đối chiếu, thống
kê, phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải, phương pháp quy nạp tổng hợp và
những phương pháp khác.

6. ý nghĩa và điểm mới của luận văn

Đề tài luận văn đã đưa ra được những nhận thức lý luận mới, đầy đủ, rõ ràng về
hiện trường và hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường các vụ việc mang tính hình sự,
đánh giá thực trạng hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường, phát hiện những ưu,
nhược điểm và nguyên nhân của những tồn tại. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát trong kiểm sát điều tra tại hiện trường những
vụ, việc mang tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tây

Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa về mặt khoa học pháp lý, góp phần
hoàn thiện những quy định pháp luật còn bất cập và chưa hoàn thiện. Mặt khác, luận văn
còn góp phần mô hình hóa một cách toàn diện về hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện
trường các vụ việc mang tính hình sự, từ đó khẳng định được vai trò, vị trí của ngành
Kiểm sát trong hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường phục vụ công tác điều tra, phát
hiện tội phạm.
7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn được chia làm 3 chương:

Chương 1: Nhận thức chung về hiện trường và hoạt động kiểm sát điều tra tại
hiện trường các vụ việc mang tính hình sự.

Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ việc
mang tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tây từ năm 2000 đến tháng 6 năm 2005

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát điều tra
tại hiện trường các vụ việc mang tính hình sự.
Chương 1

Nhận Thức CHUNG Về Hiện Trường
Và Hoạt Động Kiểm Sát Điều TRA Tại Hiện Trường
Các Vụ, Việc MANG Tính Hình Sự



1.1. Khái niệm, bản chất, đặc điểm và ý nghĩa của việc nghiên cứu hiện
trường vụ, việc hình sự

1.1.1. Khái niệm hiện trường

Cho đến nay có rất nhiều ý kiến và những quan điểm khác nhau khi đề cập đến
vấn đề hiện trường.

Có quan điểm cho rằng, hiện trường là nơi chứa đựng những thông tin về tội
phạm. Theo quan điểm này, hiện trường là một khái niệm rất rộng, bởi lẽ tính "thông tin"
hàm chứa nhiều nội dung khác nhau, nếu cứ mang thông tin về vụ việc hình sự là hiện
trường thì không thể giới hạn về không gian của hiện trường, không giới hạn, không định
vị được hiện trường thì không thể tổ chức khám nghiệm hiện trường để thu thập dấu vết
hình sự, nếu tiến hành khám nghiệm cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Quan điểm về hiện
trường như trên rất rộng, nhưng lại giới hạn trong hai từ "tội phạm". Tội phạm là gì?
Theo Điều 8 Bộ luật hình sự đã đề cập rất rõ về khái niệm này, nhưng trên thực tế có thể
có những vụ, việc xảy ra sau khi đã khởi tố vụ án mới tiến hành khám nghiệm hiện
trường, nhưng cũng có những vụ việc xảy ra chưa thể xác định được ngay có hay không
có sự việc phạm tội mà phải thông qua hoạt động khám nghiệm hiện trường mới có kết
luận được, nếu khẳng định tất cả hiện trường khám nghiệm đều phải mang thông tin về
tội phạm là chưa thật chính xác, không mang tính khái quát về hiện trường nói chung.

Theo Từ điển tiếng Việt thì: "Hiện trường là nơi xảy ra sự việc" [34]. Khái niệm
này phần nào đã khắc phục được quan điểm nêu trên về hiện trường, nhưng phạm vi của
khái niệm này lại quá rộng và chưa chỉ rõ được tính chất của sự việc xảy ra là sự việc gì,
với khái niệm này cho chúng ta có những nhận định sau:
Thứ nhất: Hiện trường phải là nơi "xảy ra", nghĩa là phải có sự tồn tại của một
địa điểm nhất định, tồn tại trong một không gian nhất định, sự tồn tại đó trong một
khoảng thời gian nhất định. Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng mọi sự vật, hiện tượng,
quá trình diễn ra đều tồn tại trong một không gian và thời gian nhất định.

Thứ hai: Hiện trường phải có sự việc xảy ra, sự việc xảy ra là những sự việc
mang tính bất kỳ. Từ khái niệm này cho chúng ta khẳng định rằng: mọi sự vật, hiện
tượng, quá trình xảy ra đều có hiện trường, vì những sự vật, hiện tượng, quá trình đó đều
diễn ra trong một không gian và một khoảng thời gian nhất định và không thể nằm ngoài
điều đó được. Khái niệm này về hiện trường là quá rộng, không mang tính khái quát và
sử dụng tràn lan trên thực tiễn.

Quá trình hình thành khái niệm về hiện trường trong khoa học hình sự có rất
nhiều quan điểm khác nhau, khi đề cập đến khái niệm hiện trường trong cuốn Từ điển
bách khoa Công an nhân dân có viết: Hiện trường là nơi diễn ra sự việc hay hoạt động
thực tế [33, tr. 127]. Với khái niệm này, chúng ta không xác định được đâu là hiện trường
chủ đạo, đâu là hiện trường chính để tiến hành khám nghiệm thu thập dấu vết vật chứng,
sự việc khi "diễn ra" là một chuỗi các hành vi khác nhau, kéo dài trong những khoảng
thời gian khác nhau và tồn tại trong những không gian cũng khác nhau và khái niệm này
cũng rơi vào trạng thái: những sự việc mang tính bất kỳ và những hoạt động thực tế mang
tính bất kỳ. Khái niệm này chưa chỉ ra được sự việc cụ thể.

Khi đề cập đến hiện trường, trong cuốn Giáo trình Kỹ thuật hình sự, tập IV- Đại
học An ninh nhân dân năm 1982 có viết: Hiện trường là nơi có dấu vết, tang vật của tội
phạm hoặc nghi có liên quan đến tội phạm, mà Cơ quan điều tra cần tiến hành khám
nghiệm, với khái niệm này, cho chúng ta những nhận định sau, thứ nhất: Hiện trường là
"nơi" có nghĩa là phải tồn tại một địa điểm nhất định trong một không gian và một
khoảng thời gian xác định; thứ hai: "Có dấu vết, vật chất của tội phạm hoặc nghi có liên
quan đến tội phạm" tức là: phải có sự liên quan đến vấn đề "tội phạm" điều đó đã bó hẹp
phạm vi hiện trường (phải liên quan đến tội phạm), do đó kéo theo công tác khám nghiệm
hiện trường muốn tiến hành phải xác định ngay từ đầu: có dấu vết của tội phạm hoặc có
liên quan đến tội phạm hay không? mà vấn đề này chủ yếu lại là kết quả của công tác
khám nghiệm hiện trường.

Tại khoản 1 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định: "Điều tra viên tiến
hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm, nhằm phát hiện dấu vết của tội
phạm, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án".

Như vậy, theo quy định của khoản 1 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự thì hiện
trường phải là "nơi xảy ra" hoặc "nơi phát hiện tội phạm". Trước hết, hiện trường phải là
"nơi" tức là nó phải được tồn tại trong một khoảng không gian và thời gian nhất định, nơi
đó đã xảy ra hoạt động phạm tội hoặc nơi đó đã phát hiện ra tội phạm. Theo nguyên lý về
sự hình thành dấu vết, vật chứng của tội phạm cho thấy, quá trình hình thành dấu vết, vật
chứng là quá trình tác động của vật gây vết lên vật nhận vết và lưu giữ dấu vết tội phạm,
ở đó những phản ánh dấu vết vật chất là do quá trình thực hiện những hành động phạm
tội do tội phạm gây ra. Chính vì thế hiện trường phải tồn tại những dấu vết, vật chứng và
chúng phản ánh sự tác động qua lại giữa thủ phạm với nạn nhân và môi trường vật chất
xung quanh. Nhưng khái niệm này trong Bộ luật tố tụng hình sự cũng rơi vào nhận định
chủ quan rằng: hiện trường phải là nơi xảy ra tội phạm, nơi phát hiện tội phạm mà Điều
tra viên tiến hành khám nghiệm, khi đề cập khái niệm hiện trường trong quan điểm đầu
tiên, tác giả đã đề cập đến vấn đề như thế nào là tội phạm, tức là phải thỏa mãn những
quy định về tội phạm trong Bộ luật hình sự. Nhưng trên thực tiễn, hoạt động điều tra
khám phá các vụ án hình sự, là quá trình đi từ không đến có, phải xác định một vụ việc
xảy ra có sự kiện phạm tội hay không, tức là phải xác định có vụ phạm tội xảy ra hay
không. Chính vì vậy, khi có sự việc hình sự xảy ra Cơ quan điều tra phải tiến hành khám
nghiệm ngay, sau đó mới kết luận có hay không có sự việc phạm tội để đi đến kết luận có
hay không khởi tố vụ án hình sự.

Theo tác giả, khoản 1 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự quy định như trên chưa
chặt chẽ, bởi vì Điều tra viên tiến hành khám nghiệm được phải xác định: nơi xảy ra tội
phạm, nơi phát hiện tội phạm, trong khi đó phần lớn muốn xác định được vấn đề này thì
phải tiến hành khám nghiệm hiện trường trước mới kết luận được. Nhiều vụ, việc xảy ra
những thông tin cung cấp ban đầu chưa đủ để có thể nhận định và xác định rõ tình hình
của vụ việc đó có mang dấu hiệu của tội phạm hay không? Muốn xác định được phải có
một khoảng thời gian điều tra làm rõ. Vì vậy, khái niệm về hiện trường trong Bộ luật tố
tụng hình sự quá bó hẹp và không mang tính khái quát cao. Ví dụ: Những vụ hiện trường
có người chết, phải qua quá trình khám nghiệm, thu thập những thông tin, tìm kiếm các
dấu vết, vật chứng xung quanh hiện trường... từ đó mới có thể đi đến nhận định ban đầu
nguyên nhân cái chết của nạn nhân là do án mạng, do tự sát, do bệnh lý hay do tai nạn rủi
ro... và chỉ xác định nguyên nhân chết là do án mạng mới là căn cứ xác định có dấu hiệu
của tội phạm để tiến hành khởi tố vụ án hình sự.

Dù đề cập hiện trường ở góc độ nào, nghiên cứu vấn đề này ở khía cạnh nào đi
nữa, thì hiện trường cũng phải thỏa mãn những dấu hiệu cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Hiện trường phải tồn tại ở một địa điểm cụ thể trong khoảng không gian
và thời gian xác định. Đây là thuộc tính tất yếu của hiện trường.

Thứ hai: Phải có sự việc mang tính hình sự xảy ra, những vụ việc mang tính hình
sự này có thể bao gồm: những hành vi phạm tội cụ thể được quy định trong Bộ luật hình
sự; cũng có thể là những vụ việc mang tính hình sự xảy ra, khi xảy ra nó đã xâm hại đến
những khách thể được luật hình sự bảo vệ, như: tính mạng, sức khỏe, tài sản...song chưa
thể xác định được các yếu tố của cấu thành tội phạm.

Chính vì vậy khái niệm về hiện trường phải được hiểu là: "hiện trường là nơi xảy
ra vụ việc mang tính hình sự" [16]. Đây là khái niệm mang tính khái quát cao và đầy đủ.
Với khái niệm này đã thỏa mãn được những dấu hiệu đặc trưng, cơ bản của hiện trường:

Thứ nhất: Sự tồn tại của một địa điểm trong không gian và thời gian xác định.

Thứ hai: Xảy ra vụ việc mang tính hình sự, điều này để phân biệt hiện trường các
sự việc khác trên thực tiễn, tránh hiểu khái niệm về hiện trường một cách tràn lan.

Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm này.
1.1.2. ý nghĩa của việc nghiên cứu hiện trường vụ, việc hình sự

Nghiên cứu hiện trường vụ, việc hình sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong
công tác bảo vệ và khám nghiệm hiện trường được kịp thời, nhanh chóng, đầy đủ, toàn
diện, phục vụ tốt cho quá trình thu thập dấu vết, vật chứng, tài liệu liên quan...nhằm điều
tra khám phá án chính xác.

Hiện trường của vụ việc mang tính hình sự là nơi mà các dấu vết, vật chứng được
tìm thấy, những dấu vết vật chứng này tồn tại là kết quả là quy luật của sự phản ánh vật
chất xung quanh giữa vật gây vết và vật nhận vết, do vậy nó là cơ sở quan trọng trong
việc xây dựng giả thuyết điều tra, nhận định tình hình có hướng điều tra, khám phá án
chính xác, nhanh chóng. Vì vậy, chúng ta cần xác định rằng: thủ phạm khi gây án luôn để
lại dấu vết vật chứng ở hiện trường và bất cứ hiện trường nào của vụ việc mang tính hình
sự đã xảy ra cũng là nơi để lại dấu vết vật chứng của tội phạm. Thủ phạm có tinh vi xóa
dấu vết, thì theo quy luật của sự phản ánh dấu vết, chúng sẽ để lại hiện trường những dấu
vết xóa, nhiệm vụ quan trọng của Cơ quan điều tra là phải tìm, thu được hết các dấu vết
vật chứng để những dấu vết vật chứng này sẽ chứng minh được: ai là người thực hiện
hành vi phạm tội; theo phương thức thủ đoạn nào và công cụ phương tiện gì mà thủ phạm
sử dụng để gây án.

1.2. Hoạt động khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi

1.2.1. Hoạt động khám nghiệm hiện trường

1.2.1.1. Khái niệm khám nghiệm hiện trường

Khám nghiệm hiện trường là một hoạt động điều tra được quy định tại khoản 2
Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự. Nhưng tại điều luật này chỉ đề cập đến vấn đề Điều tra
viên phải làm những gì khi tiến hành hoạt động này, cách thức tiến hành ra sao, như thế
nào, mà không đề cập đến công tác khám nghiệm hiện trường là gì.

Trong cuốn Giáo trình Điều tra hình sự năm 2002 của trường Đại học Quốc gia
Hà Nội, có viết về khám nghiệm hiện trường như sau: "Khám nghiệm hiện trường là tổ
chức việc nghiên cứu, phát hiện, ghi nhận, thu lượm, bảo quản dấu vết vật chứng và các
tin tức, tài liệu có liên quan trực tiếp tại hiện trường" [17]. Theo khái niệm này, hoạt động
khám nghiệm hiện trường không phải là hoạt động điều tra theo tố tụng hình sự quy định,
như vậy kết quả của hoạt động thu thập các tin tức tài liệu tuy có liên quan đến hiện
trường vụ việc mang tính hình sự, nhưng liệu chúng có giá trị pháp lý chứng minh tội
phạm và người thực hiện hành vi phạm tội hay không.

Trong cuốn Giáo trình Bảo vệ và khám nghiệm hiện trường, Học viện Cảnh sát
nhân dân, xuất bản năm 2004 có nêu khái niệm khám nghiệm hiện trường như sau:
"Khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra tố tụng hình sự nhằm nghiên cứu, đánh
giá dấu vết, vật chứng và những tin tức tài liệu tại hiện trường, phục vụ điều tra và xử lý
tội phạm" [16].

Khái niệm về khám nghiệm hiện trường trong cuốn giáo trình của Học viện Cảnh
sát nhân dân đưa ra đã đề cập đến tính căn cứ pháp lý của hoạt động này (được quy định
trong Bộ luật tố tụng hình sự), do vậy nó đã thỏa mãn thuộc tính thứ ba của chứng cứ, đó
là tính hợp pháp của chứng cứ. Tuy nhiên quá trình khám nghiệm hiện trường không chỉ
dừng lại ở việc nghiên cứu, đánh giá dấu vết vật chứng cũng như các tin tức tài liệu khác
tại hiện trường, bởi lẽ có những dấu vết vật chứng không thể tiến hành nghiên cứu, xem xét,
đánh giá ngay tại hiện trường được, mà phải nghiên cứu, đánh giá sau đó. Vì vậy, công tác
thu lượm dấu vết vật chứng, bảo quản dấu vết vật chứng là một trong những công tác quan
trọng của hoạt động điều tra tại hiện trường.

Mục đích của hoạt động khám nghiệm hiện trường không chỉ là việc phát hiện,
tìm kiếm, thu lượm dấu vết vật chứng và các tin tức tài liệu làm cơ sở, căn cứ cho hoạt
động chứng minh tội phạm, điều tra, khám phá vụ án, việc thu thập, đánh giá dấu vết vật
chứng sẽ cho Cơ quan điều tra có những nhận định ban đầu để xây dựng các giả thuyết
điều tra, lập các chuyên án phá án, hoặc có kết luận về hiện trường không có liên quan
đến sự kiện phạm tội để chấm dứt các hoạt động tiếp theo. Bởi vậy, tác giả đưa ra một
khái niệm hoàn chỉnh về khám nghiệm hiện trường như sau: khám nghiệm hiện trường là
hoạt động điều tra tố tụng hình sự, nhằm nghiên cứu, tìm kiếm, bảo quản và đánh giá dấu
vết vật chứng, cũng như những tin tức, tài liệu tại hiện trường, phục vụ điều tra và xử lý
tội phạm.

- Cơ sở pháp lý của công tác khám nghiệm hiện trường: tại các điều 110; 111;
150 Bộ luật tố tụng hình sự, quy định tại Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, các văn bản,
chỉ thị của Bộ Công an đã quy định cụ thể về công tác khám nghiệm hiện trường.

- Tại Điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2002 có quy định: "Thẩm quyền điều
tra", có ba loại thẩm quyền điều tra như sau: thẩm quyền điều tra theo đối tượng; thẩm
quyền điều tra theo vụ việc phạm tội; thẩm quyền điều tra theo lãnh thổ.

- Tại Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2002 có quy định: "Quyền hạn điều tra
của Bộ đội Biên phòng; Hải quan; Kiểm lâm; lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan
khác của Công an nhân dân; Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra".

- Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định về "khám nghiệm
hiện trường".

Như vậy, các cơ quan tổ chức tham gia hoạt động khám nghiệm hiện trường bao
gồm: Cơ quan điều tra của lực lượng An ninh nhân dân; Cơ quan điều tra của lực lượng
Cảnh sát nhân dân; Cơ quan điều tra của lực lượng Quân đội nhân dân; Viện kiểm sát
nhân dân tổ chức tiến hành các cuộc khám nghiệm hiện trường và trực tiếp tiến hành hoạt
động khám nghiệm hiện trường (quy định tại điều 110; 150 Bộ luật tố tụng hình sự).

Các cơ quan khác tuy không phải là Cơ quan điều tra, nhưng được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra như: Hải quan; Kiểm lâm; Cảnh sát biển; Bộ đội biên
phòng; cơ quan khác của lực lượng Công an nhân dân; Quân đội nhân dân (tại Điều 111
Bộ luật tố tụng hình sự và các điều 12; 15; 18 và 25 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự)
được tiến hành khám nghiệm hiện trường theo sự phân cấp về thụ lý và giải quyết các loại
án hình sự.

Chủ thể tiến hành khám nghiệm: Điều tra viên tiến hành khám nghiệm; theo quy
định này có nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau: Một là, luật tố tụng hình sự là luật
hình thức, quy định về trình tự, thủ tục, cách thức tiến hành các hoạt động, chỉ được phép
làm những gì mà luật tố tụng hình sự quy định, không được phép tiến hành những hoạt
động mà luật không cấm, nhưng không quy định; hai là, tại khoản 1 Điều 150 Bộ luật tố
tụng hình sự chỉ quy định Điều tra viên là người được phép tiến hành khám nghiệm hiện
trường, do đó những chủ thể khác cũng tiến hành hoạt động khám nghiệm hiện trường là
vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự.

Theo cách hiểu trên là chưa thật đầy đủ và toàn diện, tại khoản 4
Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định như sau: "Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể
trong hoạt động điều tra của Bộ đội biên phòng; Hải quan; Kiểm lâm; Lực lượng Cảnh
sát Biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân; Quân đội nhân dân được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định". Tại
Điều 2 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự do ủy Ban Thường vụ Quốc hội ban hành
ngày 20/8/2004 quy định: "Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra bao gồm có Bộ đội Biên phòng; Hải quan; Kiểm lâm; Lực lượng Cảnh sát biển, các cơ
quan khác của Công an nhân dân; Quân đội nhân dân quy định tại các điều 19; 20; 21; 22;
23; 24 và 25 của Pháp lệnh", trong đó có hoạt động khám nghiệm hiện trường. Như vậy,
ngoài Điều tra viên tiến hành khám nghiệm, còn có những chủ thể khác, tuy không phải
là Điều tra viên nhưng được giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động này. Căn cứ Chỉ thị
02/2001/CT-BCA về công tác khám nghiệm hiện trường của lực lượng Công an nhân dân
và Quyết định số 57/2001/QĐ-BCA (C11), Bộ Công an đã ban hành quy chế phân công
trách nhiệm giữa các lực lượng Công an nhân dân trong công tác khám nghiệm hiện
trường, theo đó còn có một số chủ thể khác cũng tham gia hoạt động khám nghiệm này,
như: cán bộ Cảnh sát giao thông đường bộ; đường sắt; đường thủy; cán bộ Cảnh sát
phòng cháy chữa cháy...

Địa điểm tiến hành khám nghiệm hiện trường: theo quy định tại khoản 1 Điều
150 Bộ luật tố tụng hình sự thì hoạt động khám nghiệm hiện trường tại "nơi xảy ra, nơi
phát hiện tội phạm", như phần đầu khi đề cập đến vấn đề hiện trường tác giả cũng đã
phân tích làm rõ khái niệm này. Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan điều tra tổ chức
khám nghiệm hiện trường, sau đó mới có kết luận khởi tố hay không khởi tố vụ án hình
sự, bởi lẽ cũng là hiện trường vụ việc có người chết, những nguyên nhân chết là do nạn
nhân tự sát thì không có dấu hiệu của tội phạm, hoặc cái chết tự nhiên; chết do bệnh lý...
những trường hợp này đều không có dấu hiệu của tội phạm. Vì vậy, không nhất thiết rằng
các hiện trường được tiến hành khám nghiệm đều phải là nơi xảy ra, hoặc là nơi phát hiện
tội phạm. Do đó, trong thực tiễn hoạt động khám nghiệm hiện trường được tiến hành tại
nơi xảy ra, nơi phát hiện những vụ việc mang tính hình sự.

Về thời điểm tiến hành hoạt động này: tại khoản 2 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình
sự có quy định: "Khám nghiệm hiện trường có thể được tiến hành trước khi khởi tố vụ án
hình sự". Trong mọi trường hợp, trước khi tiến hành khám nghiệm, Điều tra viên phải
thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Từ quy định trên của luật tố tụng hình sự,
chúng ta có thể rút ra một số nội dung sau:

- Thứ nhất: Những hiện trường vụ việc mang tính hình sự do Điều tra viên trực
tiếp tiến hành khám nghiệm, thì trước đó Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát
cùng cấp biết để tiến hành hoạt động kiểm sát khám nghiệm. Khi được thông báo thì lãnh
đạo Viện kiểm sát phải cử Kiểm sát viên đến hiện trường để kiểm sát hoạt động khám
nghiệm, việc có mặt của Kiểm sát viên là bắt buộc theo quy định của pháp luật.

- Thứ hai: Từ quy định như trên cho ta thấy, những hiện trường vụ việc mang
tính hình sự xảy ra, nhưng không do Điều tra viên tiến hành khám nghiệm mà do những
cơ quan khác không phải là Cơ quan điều tra nhưng được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự, thì không có điều
luật nào trong Bộ luật tố tụng hình sự hay trong Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự có
quy định những cơ quan này trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường phải thông
báo trước cho Viện kiểm sát. Việc không quy định này đã dẫn đến thực trạng: nếu mối
quan hệ phối hợp không tốt giữa Viện kiểm sát và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra, thì họ sẽ không thông báo cho Viện kiểm sát đến để
kiểm sát hoạt động khám nghiệm, do vậy nhiều vụ việc khám nghiệm hiện trường sẽ
không có sự tham gia của Viện kiểm sát, đặc biệt những vụ tai nạn giao thông, đây là
những vụ án "nhạy cảm", xác định lỗi của người gây tai nạn và của người bị nạn là khó,
nếu công tác khám nghiệm hiện trường không đầy đủ, không khách quan, không tỷ mỷ,
không cẩn thận, dễ dẫn đến hiện trạng vụ việc giải quyết không đúng, thưa kiện kéo dài
đến các cơ quan chức năng, ảnh hưởng không nhỏ đến các cơ quan bảo vệ pháp luật.
Những vụ án tuy khởi tố nhưng chứng cứ yếu do công tác khám nghiệm hiện trường
không chi tiết, Tòa án đã hủy án trả hồ sơ để tiến hành điều tra lại, nhưng công tác hiện
trường đến giai đoạn này thì không thể khám nghiệm lại được. Đây cũng là một trong
những quy định chưa chặt chẽ của luật,đang được đặt ra cần phải hoàn thiện.

Những người tham gia vào quá trình khám nghiệm:

Khoản 2 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định: "... khi khám nghiệm
phải có người chứng kiến; có thể để cho bị can; người bị hại; người làm chứng và mời
nhà chuyên môn tham gia cuộc khám nghiệm". Các lực lượng trinh sát cũng tham gia vào
hoạt động khám nghiệm hiện trường.

Về nội dung khám nghiệm hiện trường:

Khoản 3 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định: "Khi khám nghiệm hiện
trường Điều tra viên tiến hành chụp ảnh, vẽ s ơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô
hình, thu lượm và xem xét tại chỗ dấu vết của tội phạm, đồ vật, tài liệu có liên quan đến
vụ án; ghi rõ kết quả xem xét vào biên bản khám nghiệm hiện trường".

Việc lập biên bản phải đúng theo quy định tại các điều 64; 77; 95; 125 và 154 Bộ
luật tố tụng hình sự.

Chỉ khi nào hoạt động khám nghiệm hiện trường do cơ quan có thẩm quyền,
người có thẩm quyền tiến hành lập biên bản theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự, thì những dấu vết vật chứng thu thập đó mới có giá trị chứng minh.

Như vậy, hoạt động khám nghiệm hiện trường là hoạt động mang tính đặc thù,
bởi lẽ công việc này phải tiến hành tại hiện trường - nơi có vụ việc mang tính hình sự xảy
ra. Hơn nữa hoạt động này chính là hoạt động điều tra ban đầu được quy định trong Bộ
luật tố tụng hình sự và do đó kết quả của hoạt động khám nghiệm hiện trường sẽ là cơ sở
cho việc tiến hành các bước của hoạt động điều tra tiếp theo. Vì nó là căn cứ cho hoạt
động khởi tố vụ án, khởi tố bị can, là căn cứ để xây dựng các giả thuyết điều tra. Đòi hỏi
quá trình này phải được tiến hành theo một quy trình nhất định, là sự vận dụng khoa học
và sáng tạo những kiến thức chuyên môn, những phương pháp khoa học, những phương
tiện kỹ thuật vào từng khâu, từng bước của quá trình khám nghiệm hiện trường.

1.2.1.2. Phương pháp và quá trình khám nghiệm hiện trường

* Phương pháp khám nghiệm hiện trường

Trong các tài liệu nghiên cứu đã đề cập đến hai phương pháp cơ bản khi tiến
hành khám nghiệm hiện trường, đó là: phương pháp lần theo dấu vết; phương pháp chia
khu vực.

Phương pháp lần theo dấu vết: Trên cơ sở xác định dấu vết vật chứng tại một
điểm tập trung nhiều nhất, đoàn khám nghiệm sẽ lấy điểm đó làm mốc và khám lần theo
dấu vết tìm thấy cho đến hết, việc khám nghiệm hiện trường theo phương pháp này sẽ
giúp đoàn khám nghiệm mở rộng hiện trường gây án, thu thập đầy đủ dấu vết vật chứng.

Phương pháp chia khu vực: Khi đến hiện trường, các cán bộ khám nghiệm hiện
trường phải tiến hành quan sát địa hình hiện trường gây án để xác định đặc điểm và cấu
trúc của hiện trường, từ đó quyết định áp dụng phương pháp khám nghiệm cho phù hợp,
tránh hiện tượng bỏ sót, khám không đầy đủ, thu thập không toàn diện. Đối với hiện
trường hẹp, có cấu trúc đơn giản thì khám nghiệm hiện trường theo phương pháp lần theo
dấu vết là hợp lý, đối với những hiện trường rộng, có cấu trúc phức tạp, thì phải tiến hành
khám nghiệm hiện trường theo phương pháp chia khu vực.

Dù hiện trường được khám nghiệm theo phương pháp nào, cũng phải tuân thủ
nghiêm ngặt các phương pháp khám nghiệm như sau:

- Phương pháp lôgic biện chứng: Quá trình khám nghiệm hiện trường thực chất
là quá trình nhận thức chân lý của cán bộ khám nghiệm, từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Quá trình khám nghiệm là quá trình
phát hiện, khám phá từ hiện tượng đến bản chất của vấn đề, từ nông đến sâu, từ cái đã
biết đến cái chưa biết, từ nguyên nhân đến kết quả... Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng
định rằng: mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất, trong mối quan hệ tác
động qua lại với nhau một cách chặt chẽ, gắn bó hữu cơ, không tách rời nhau, đó là một
tổng thể thống nhất và vì vậy thế giới thống nhất bởi tính vật chất và con người có khả
năng nhận thức được thế giới. Điều này có nghĩa là không có cái gì mà con người không
thể nhận thức được.

- Phương pháp quan sát: Quan sát là quá trình tri giác có chủ định, có mục đích,
có kế hoạch của con người đối với hiện thực của thế giới khách quan xung quanh ta.

- Phương pháp đo đạc: Khi khám nghiệm hiện trường phải sử dụng các phương
tiện để đo đạc chính xác, khoa học về kích thước, khoảng cách, trọng lượng, khối lượng,
nhiệt độ, thời gian, tần số, vận tốc...

- Phương pháp ghi nhận: Phương pháp này được thực hiện thông qua các hình
thức: chụp ảnh; ghi âm; ghi hình; lập biên bản mô tả chi tiết mọi diễn biến và dấu vết, vật
chứng xuất hiện ở hiện trường, việc ghi nhận này có tác dụng vô cùng to lớn cho việc
xem xét, nghiên cứu, đánh giá dấu vết vật chứng, cũng như cho hoạt động dựng lại, diễn
lại hành vi phạm tội.

- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Với phương pháp này, giúp Điều tra
viên lý giải được sự hình thành và tồn tại những dấu vết vật chứng ở hiện trường, đồng
thời những dấu vết vật chứng thu được ở hiện trường đều phải được xem xét, đánh giá
trong một tổng thể, so sánh, đối chiếu để tìm ra mối liên hệ giữa chúng, thông qua đó xâu
chuỗi các sự kiện để tìm kiếm sự thật, cũng như loại bỏ những dấu vết tồn tại ngẫu nhiên
tại hiện trường.

- Phương pháp thực nghiệm: Trên cơ sở đối tượng, hoàn cảnh, điều kiện, cơ chế
của sự hình thành dấu vết hình sự, các nhà chuyên môn sẽ tiến hành thực nghiệm: tạo ra
các dấu vết khác trong điều kiện, hoàn cảnh tương tự, nhằm tìm ra sự thật trong mối liên
hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và dấu vết tồn tại ở hiện trường, từ đó xác định giá trị
thật của dấu vết.
Như vậy, việc nghiên cứu kỹ phương pháp khám nghiệm hiện trường giúp cho
các Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như những thành viên khác trong đoàn khám
nghiệm nắm được quy trình tiến hành hoạt động thu thập, phát hiện, bảo quản dấu vết vật
chứng, đảm bảo tiến hành đầy đủ, chính xác, khách quan, không bỏ lọt bất cứ dấu vết
nào.

* Quá trình khám nghiệm hiện trường

Lý luận và thực tiễn về khám nghiệm hiện trường cho thấy, quá trình tiến hành
khám nghiệm hiện trường diễn ra theo quy trình như sau:

- Quan sát hiện trường: quan sát hiện trường, chính là quá trình tri giác về hiện
trường, đây là hoạt động đầu tiên và rất quan trọng đối với Điều tra viên tiến hành khám
nghiệm. Quan sát để định vị được hiện trường, xem xét tính tổng thể hiện trường vụ việc
mang tính hình sự trước khi bắt tay vào khám nghiệm chi tiết. Việc quan sát này giúp cho
Điều tra viên nhận định: hiện trường vụ việc hình sự có cấu trúc như thế nào? Sự sắp đặt
các đồ vật trong hiện trường ra sao? Tử thi nằm ở đâu? Tư thế tử thi như thế nào? Đồ đạc
có bị xáo trộn không? Hiện trường còn nguyên vẹn hay đã bị thay đổi? Vết máu loang
như thế nào? Giai đoạn này Điều tra viên tiến hành quan sát bằng mắt thường, có sử dụng
một số phương tiện hỗ trợ như: ống nhòm, kính lúp, đèn pin... để quan sát toàn bộ khung
cảnh hiện trường vụ việc mang tính hình sự đã xảy ra.

Quá trình quan sát sơ bộ tại hiện trường cũng là quá trình tư duy lôgic, cho
những nhận định ban đầu, cũng như có thể định hướng ngay cho những hoạt động điều
tra tiếp theo tại hiện trường. Ví dụ: khi Điều tra viên đến hiện trường vụ việc hình sự có
người chết, quan sát thấy: nạn nhân nằm chết ở cửa ra vào, áo quần xộc xệch, trên mặt
nạn nhân có nhiều vết bầm tím... từ đây Điều tra viên có nhận định: nạn nhân bị tấn công
ngay tại cửa khi ra mở cửa cho thủ phạm; vào hiện trường; Điều tra viên còn quan sát
thấy: trên bàn uống nước còn ấm trà còn ấm, hai chén nước đang uống dở, dưới gầm
giường hai đôi dép để song song, xếp ngay ngắn... cho Điều tra viên nhận định: giữa thủ
phạm gây án và nạn nhân có mối quan hệ quen biết và khá thân thiết với nhau, có lẽ đã có
quan hệ tình dục trước khi bị giết chết. Bằng hoạt động quan sát hiện trường đã có thể có
những nhận định ban đầu về sự việc xảy ra, những nhận định này khá chính xác nếu Điều
tra viên có khả năng quan sát tốt và có sự suy luận tư duy lôgic.

Một ví dụ khác về hiện trường vụ việc: Khi nhận được tin báo về vụ mất trộm tại
kho xí nghiệp X, công tác bảo vệ hiện trường đã được tiến hành chu đáo, khi lực lượng khám
nghiệm đến hiện trường để tiến hành khám nghiệm, Điều tra viên quan sát hiện trường thấy:
cửa ra vào kho không bị phá; trên nóc nhà kho có hai miếng ngói bị dỡ ra, nhưng tấm đan xà
gồ còn nguyên vẹn. Từ đó Điều tra viên có nhận định: nếu hung thủ chui từ mái nhà xuống
thì tấm đan phải bị phá gẫy vì nếu tấm đan không gẫy thì hung thủ không thể chui xuống
được, chỉ chi tiết quan sát rất nhỏ nhưng tinh ý và suy luận lôgic này sẽ cho Điều tra viên
có nhận định: đây là hiện trường giả, rất có thể vụ trộm này do thủ kho gây ra và cố tình
làm giả hiện trường để đánh lạc hướng điều tra của Cơ quan điều tra, sau này với nhận
định ban đầu Cơ quan điều tra đã xác minh và làm rõ thủ phạm gây án chính là thủ kho
của xí nghiệp X. Điều này phù hợp với những nhận định ban đầu về hiện trường, về thủ
phạm.

Quan sát hiện trường là quá trình hết sức quan trọng, việc quan sát phải toàn
diện, toàn cảnh từ xa đến gần, từ diện đến điểm, từ chung đến riêng, có trọng tâm và
trọng điểm. Trong quá trình quan sát, Điều tra viên phải phân tích, xem xét mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi của thủ phạm với dấu vết vật chứng tồn tại ở hiện tr ường, bởi lẽ:
sự xuất hiện những dấu vết vật chứng này là một tổ hợp, một chỉnh thể thống nhất và nó
chính là kết quả của sự tác động qua lại giữa hiện trường vụ việc mang tính hình sự - với
thủ phạm - và phương tiện công cụ gây án (kết quả này chính là kết quả của quy luật hình
thành dấu vết, vật chứng). Đây chính là quá trình tư duy nhằm nghiên cứu, phân tích,
tổng hợp, so sánh các dữ kiện, các thông tin thu được ở hiện trường, thông qua quá trình
quan sát hiện trường của Điều tra viên. Chú ý, quá trình này phải hạn chế mức tối đa sự
đi lại vì sẽ tạo ra những dấu vết mới hoặc xóa đi những dấu vết vật chứng đang tồn tại ở
hiện trường.

Sau khi tiến hành quan sát sơ bộ Điều tra viên phải đưa ra một số nhận định, định
hướng cho quá trình khám nghiệm tỷ mỷ như:
Với hiện trường vụ, việc mang tính hình sự vừa xảy ra, thì cần lực lượng khám
nghiệm bao nhiêu người? Những phương tiện gì sẽ được hỗ trợ cho cuộc khám nghiệm tỷ
mỷ.

Với cấu trúc hiện trường như hiện tại (hình vuông, hình sin, hình xoáy, chia
nhiều ô...) sẽ tổ chức biện pháp (chiến thuật) khám nghiệm nh ư thế nào để đạt hiệu quả
cao nhất: vừa nhanh, vừa toàn diện, không bỏ sót, không giẫm đạp lên nhau.

Thông qua lối vào, ra của hiện trường có thể xác định hướng đột nhập, và hướng
rút lui của thủ phạm, từ đó có nhận định ban đầu: nơi tập trung nhiều dấu vết nhất của
hung thủ gây án, cũng như phần nào hình dung được toàn bộ diễn biến của hành vi phạm
tội.

Xác định chất lượng và dấu vết nguồn hơi: Sử dụng chó nghiệp vụ truy vết đạt
kết quả.

Trong trường hợp xác định được dấu vết nóng cần tập trung nghiên cứu, phân
tích ngay nhằm thu được những thông tin cần thiết phục vụ cho việc truy bắt thủ phạm
ngay tại hiện trường.

Quan sát hiện trường là một hoạt động cần thiết và quan trọng, thông qua quan
sát mới đi đến nhận định tình hình ban đầu, đây là yếu tố hết sức quan trọng, ai cũng có
thể quan sát, nhưng kết quả của quá trình quan sát của mỗi người là khác nhau. Bởi vì,
mỗi người nhìn nhận vấn đề, tình hình cũng ở góc độ và khía cạnh khác nhau, nó phụ
thuộc vào khả năng tư duy trong quá trình quan sát mà khả năng này phụ thuộc vào hai
yếu tố: Năng lực quan sát và kinh nghiệm bản thân của Điều tra viên.

- Khám nghiệm tỷ mỷ (khám nghiệm chi tiết):

Khám nghiệm tỷ mỷ là giai đoạn Điều tra viên được sử dụng các biện pháp,
phương pháp và phương tiện khoa học kỹ thuật để phát hiện, ghi nhận, nghiên cứu, thu
giữ và bảo quản dấu vết vật chứng trên hiện trường. Khám nghiệm tỷ mỷ là một giai đoạn
then chốt của quá trình khám nghiệm hiện trường, là hoạt động điều tra tại hiện trường
nhằm khai thác thông tin từ những phản ảnh vật chất cụ thể.
Muốn phát hiện và thu lượm đầy đủ dấu vết, hạn chế đến mức thấp nhất việc mất
thông tin của dấu vết hình sự ở hiện trường, quá trình khám nghiệm hiện trường cần phải
được tiến hành một cách khẩn trương, kịp thời nhưng phải thận trọng, tỷ mỷ, chính xác,
khách quan và toàn diện. Việc khám nghiệm tỷ mỷ bao gồm bốn nội dung cơ bản sau: Một
là, hoạt động phát hiện dấu vết; hai là, hoạt động ghi nhận dấu vết; ba là, hoạt động thu
lượm dấu vết vật chứng; bốn là, bảo quản và đánh giá dấu vết vật chứng.

Hoạt động phát hiện dấu vết: Phát hiện dấu vết vật chứng thông qua hai hoạt
động: Thứ nhất, hoạt động quan sát hiện trường - quá trình này Điều tra viên vừa quan sát
vừa phát hiện những dấu vết vật chứng tồn tại ở hiện trường (những dấu vết rõ, dễ thấy);
thứ hai, thông qua việc sử dụng một số các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ, với phương pháp
thích hợp để phát hiện ra dấu vết vật chứng mà mắt thường không thể nhìn thấy hoặc phát
hiện ra được (ví dụ: dấu vết vân tay; dấu vết máu; tinh dịch; lông; tóc; sợi...) quá trình
phát hiện dấu vết vật chứng phải hết sức thận trọng và tỷ mỷ, điều quan trọng đối với
Điều tra viên là không được bỏ sót bất cứ một chi tiết nào dù là nhỏ nhất, tất cả mọi dấu
vết vật chứng đều phải được phát hiện để nghiên cứu, xem xét, đánh giá... sau này còn sử
dụng là chứng cứ để chứng minh tội phạm.

Muốn phát hiện dấu vết được tốt, tránh bỏ sót dấu vết, đòi hỏi phải vận dụng
đúng các phương pháp, chiến thuật khám nghiệm hiện trường đối với từng loại hiện
trường cụ thể, đồng thời phải sử dụng hợp lý, khoa học các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ.

+ Ghi nhận dấu vết: Đây là hoạt động nhằm ghi nhận các thông tin, tài liệu có
thật được phát hiện trong quá trình khám nghiệm theo đúng trình tự, thủ tục và phương
pháp được pháp luật quy định tại các điều 77; 95; 150 và 154 Bộ luật tố tụng hình sự.

Khoản 3 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định: "Khi khám nghiệm hiện
trường, Điều tra viên tiến hành chụp ảnh, vẽ s ơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô
hình, thu lượm và xem xét tại chỗ dấu vết của tội phạm, đồ vật, tài liệu có liên quan đến
vụ án, ghi rõ kết quả xem xét vào biên bản khám nghiệm hiện trường".

Khi chụp ảnh cần lưu ý: Chụp toàn cảnh, chụp cả hệ thống, sau đó chụp chi tiết
từng dấu vết đòi hỏi: ghi nhận phải trung thực, phản ánh khách quan về hình dạng, kích
thước, màu sắc, đặc điểm của từng dấu vết (chính vì vậy phải có thước tỷ lệ đặt cạnh dấu
vết khi chụp).

Khi lập biên bản khám nghiệm hiện trường, phải mô tả tỷ mỷ, cụ thể, đầy đủ về
hiện trường, về dấu vết, về tử thi... về loại dấu vết, hình dạng, vị trí, kích thước, màu sắc,
chiều hướng, số lượng cũng như trạng thái và mối tương quan của dấu vết trên vật mang
vết và với môi trường vật chất xung quanh. Khi mô tả trong biên bản phải mô tả thật kỹ,
tỷ mỷ, ví dụ: khi mô tả dấu vết là thương tích trên cơ thể tử thi cần phải mô tả: chiều
hướng của dấu vết; độ nông sâu; đặc điểm hình thành; miệng vết thương; đáy và bờ mép
của vết thương; những dấu hiệu, dấu vết xung quanh vết thương. Tuy mô tả tỷ mỷ, nhưng
chỉ được ghi nhận một cách trung thực, không được thổi phồng theo ý chí chủ quan mà
chưa được kiểm tra, giám định của các cơ quan chức năng chuyên môn có thẩm quyền, ví
dụ: ghi nhận vật chứng là tiền, vàng, đô la hiện trường chỉ được ghi là "nghi là" và phải
mô tả màu sắc, trạng thái, loại gì..., không được khẳng định.

Điều tra viên khám nghiệm hiện trường phải tiến hành vẽ sơ đồ hiện trường và
đánh dấu các dấu vết vật chứng... vào bản vẽ s ơ đồ hiện trường; vẽ dấu vết; vẽ biểu mẫu;
ký họa...

Những hoạt động ghi nhận trên càng tỷ mỷ, càng thận trọng thì hoạt động xem
xét dấu vết vật chứng thu được ở hiện trường có giá trị chứng minh càng cao, cũng như
giúp cho hoạt động dựng lại hiện trường vụ án càng được thuận lợi.

+ Thu lượm dấu vết: Quá trình phát hiện, ghi nhận không thể tách rời với hoạt
động thu lượm dấu vết, nguyên lý hình thành dấu vết vật chứng là nguyên lý của sự phản
ánh, đó là sự tác động qua lại giữa ba yếu tố: vật gây vết - chủ thể - vật mang vết, do đó
phải thu lượm dấu vết trên vật mang vết, nhưng đồng thời cũng phải thu lượm dấu vết
của vật gây vết, vì cần phải lấy mẫu so sánh để sau này còn có hoạt động truy nguyên dấu
vết. Việc thu lượm phải hợp pháp (chủ thể tiến hành cũng như cách thức và phương pháp
tiến hành) phải đảm bảo yếu tố hợp pháp, thì vật chứng mới có giá trị chứng minh.

Quá trình thu lượm dấu vết: Ngoài việc tiến hành thu lượm, phải đảm bảo tính
hợp pháp, đó là người có thẩm quyền và lập biên bản, cần chú ý trong quá trình thu lượm
phải hết sức cẩn thận tránh làm mất đi các dấu vết, hoặc tạo thêm những dấu vết mới do
sự bất cẩn trong công tác (ví dụ: quá trình cầm, nắm, đóng gói...), nguyên tắc nữa đó là:
dấu vết thu được cần bảo quản cho tốt, tránh mất, hư hỏng... sẽ làm mất giá trị truy
nguyên dấu vết, hoặc mất đi giá trị chứng minh.

1.2.2. Hoạt động khám nghiệm tử thi

1.2.2.1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của hoạt động khám nghiệm tử thi

Khám nghiệm tử thi là hoạt động điều tra do Điều tra viên tiến hành, có bác sĩ
pháp y tham gia và có người chứng kiến nhằm nghiên cứu, đánh giá, thu thập thông tin từ
dấu vết bên ngoài, bên trong tử thi; xác định thương tích dẫn đến cái chết của nạn nhân
và cùng với việc nghiên cứu, đánh giá hệ thống dấu vết thu thập được trong hoạt động
khám nghiệm hiện trường để xác định tính chất của vụ việc đã xảy ra có hay không có
dấu hiệu của tội phạm để quyết định sự việc cần hay không cần khởi tố vụ án hình sự.

Mục đích, ý nghĩa của hoạt động khám nghiệm tử thi:

- Việc khám nghiệm tử thi để xác định rõ tung tích của nạn nhân cũng như hình
dung toàn bộ diễn biến của sự việc đã xảy ra.

- Xác định rõ nguyên nhân chết: chết do án mạng; hay chết do tự sát; hay chết vì
bệnh lý, chết vì đột tử... để định hướng cho các hoạt động tiếp theo. Nếu chết do án
mạng, đó là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.

- Truy nguyên công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, cũng như
phương thức, thủ đoạn mà hung thủ dùng để giết nạn nhân.

1.2.2.2. Phương pháp khám nghiệm tử thi tại hiện trường

Thành lập Hội đồng khám nghiệm:

Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định:

- Việc khám nghiệm tử thi do Điều tra viên tiến hành có bác sĩ pháp y tham gia
và phải có người chứng kiến.
- Trong trường hợp phải khai quật tử thi, thì phải có quyết định của Cơ quan điều
tra và phải thông báo cho gia đình nạn nhân biết trước khi tiến hành, việc khai quật tử thi
phải có bác sĩ pháp y tham gia.

- Khi cần thiết có thể triệu tập người giám định và phải có người chứng kiến.

- Trong mọi trường hợp, việc khám nghiệm tử thi phải được thông báo trước cho
Viện kiểm sát cùng cấp biết. Kiểm sát viên phải có mặt để tiến hành kiểm sát việc khám
nghiệm tử thi.

Tiến hành khám nghiệm:

Từ lý luận và thực tiễn cho thấy khám nghiệm tử thi được tiến hành như sau:

- Khám ngoài: Xem xét, ghi nhận lại vị trí, tư thế, dáng điệu tử thi bằng cách
chụp ảnh, vẽ sơ đồ mô tả tỷ mỷ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, khi tiếp cận hiện
trường có người chết, nhằm: hình dung mọi diễn biến của sự việc đã xảy ra; xác định rõ
tư thế của nạn nhân trước khi chết; xác định hiện trường còn nguyên vẹn hay đã bị xáo
trộn? có sự giả tạo hiện trường không? làm giả như thế nào?

Nghiên cứu ghi nhận về đầu của nạn nhân: Đầu được mô tả trong tư thế tương
quan với thân, khi khám ngoài cần chú ý đến các bộ phận ở vùng mặt như: mắt, miệng
nạn nhân mở hay ngậm, màu da như thế nào, các thương tích vùng ngoài ra sao, máu và
tình trạng của tóc, nước bọt, đờm dãi, chất nôn, các chất lạ, vật lạ thâm nhập từ ngoài vào
như: đất, cát, các lá rau, cỏ, tóc... xác định hướng chảy của các chất lỏng trên mặt.

Nghiên cứu ghi nhận tình trạng của quần áo ngoài, quần áo trong, cũng như các
dấu vết vật chứng có trên quần áo bằng cách chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả tỷ mỷ vào biên
bản khám nghiệm hiện trường. Chú ý phải mô tả chi tiết, đầy đủ từ màu sắc, chất liệu,
hoa văn cho đến tình trạng của thực tại, như: các vết trày xước, các vết bẩn, kiểu, kích cỡ,
loại vải, mới hay cũ, cúc áo như thế nào, quần áo có bị xộc xệch không?

Nghiên cứu làm rõ các dấu vết khác như: thủng, rách do bị đâm, chém, bắn,
giằng, xé, cắt... và phải được mô tả tỷ mỷ về kiểu, loại, đặc điểm, hình dạng, kích thước,
số lượng, chiều hướng và phương thức xuất hiện của chúng. Nghiên cứu nó với các vết
thủng, rách trên da thịt của nạn nhân.

Các loại giấy tờ, tiền bạc của nạn nhân để lại.

Chú ý khám toàn diện vùng bên ngoài của nạn nhân, không bỏ sót một bộ phận
nào, tất cả đều phải được xem xét tỷ mỷ, từng tý một và phải được mô tả tỷ mỷ vào biên
bản khám nghiệm tử thi. Sự mô tả toàn diện, chi tiết, phản ánh đúng thực trạng.

- Khám trong: Trong khoa học điều tra gọi đây là quá trình: giải phẫu tử thi.

Quá trình giải phẫu khám nghiệm tử thi do bác sĩ pháp y tiến hành, nhằm làm rõ
những vấn đề sau đây:

Xác định rõ các thương tích gây tổn thương ở bộ phận nào? Sự tổn thương ở mức
độ nào? Trong những thương tích đó, thương tích nào quyết định cái chết của nạn nhân?
Nhận định loại hung khí, vũ khí công cụ phạm tội khác qua hình dáng của thương tích
(súng đạn; lê; kiếm; dao hay do vật nhọn; vật tày gây nên...).

Nghiên cứu kỹ các chất chứa trong dạ dày, phổi, gan, đường thực quản, khí phế
quản và phân tích các đặc điểm mang tính đặc trưng (ví dụ: chết do ngạt khí; ngạt nước;
điện giật; đầu độc; treo cổ; đâm chém; bắn...).

Nếu nạn nhân là nữ cần xác định xem: nạn nhân có thai hay không có thai? Sự
tổn thương của bộ phận sinh dục đến đâu? Các chất lạ có trong đó như thế nào?

Xác định rõ thời gian chết: thông qua sự phân hủy trên cơ thể của nạn nhân.

Nghiên cứu về các bệnh tiền sử trước đó.

Lấy phủ tạng, máu, lông, tóc về để giám định.

Sau khi khám nghiệm tử thi xong, phải bỏ các bộ phận của tử thi vào đúng vị trí
rồi khâu lại, lau chùi sạch sẽ, chụp ảnh toàn cảnh hiện trường có xác tử thi trước khi
chuyển tử thi đi nơi khác.

1.2.2.3. Kết thúc công tác điều tra tại hiện trường

- Họp rút kinh nghiệm và thông qua biên bản khám nghiệm hiện trường.
- Đánh giá sơ bộ dấu vết vật chứng và những tin tức tài liệu thu thập được qua
các hoạt động chiến thuật xuất phát từ hiện trường: muốn làm tốt công tác này một cách
đầy đủ, chính xác khách quan, toàn diện và triệt để, đòi hỏi quá trình nghiên cứu dấu vết
vật chứng cần làm rõ: loại dấu vết; nguyên nhân, điều kiện và cơ chế hình thành dấu vết
đó; đặc điểm; trạng thái và thời gian tồn tại của dấu vết đó. Quá trình này lực lượng khám
nghiệm phải phân tích tỷ mỷ, chi tiết, đầy đủ mọi dấu vết, đặc biệt với những loại hiện
trường cụ thể sẽ có những dấu vết đặc trưng cho từng loại hiện trường, vấn đề đặt ra là
phải nghiên cứu, xem xét cơ chế hình thành dấu vết cũng như tại sao những dấu vết đó lại
không tồn tại và tại sao lại có những dấu vết khác mà hiện trường như vậy sẽ không thể
có được, lý giải vấn đề này chỉ có thể đạt hiệu quả khi việc ghi chép, mô tả tại hiện
trường được thực hiện chu đáo, đúng quy định của pháp luật.

- Đóng gói, niêm phong, vận chuyển về cơ quan để nghiên cứu. Hoạt động này
khi tiến hành cũng phải thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, như lập biên bản, mô tả
chi tiết, chụp ảnh trước khi vận chuyển đến chỗ khác.

- Lập hồ sơ khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, trong hồ sơ có những
tài liệu sau đây:

+ Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi.

+ Sơ đồ hiện trường.

+ Bản ảnh hiện trường, bản ảnh tử thi.

+ Báo cáo khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi.

1.3. Hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường các vụ, việc mang tính hình
sự

1.3.1. Vị trí, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân

Viện kiểm sát nhân dân là một trong bốn hệ thống cơ quan nhà nước do Quốc hội
thành lập, có chức năng: thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, việc
xác định rõ chức năng này được quy định trong Hiến pháp năm 1992; Luật tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân năm 2002 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

Điều 137 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) có quy định: "Viện kiểm sát nhân dân thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật
được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất".

Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 có quy định: "Viện kiểm sát
nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của
Hiến pháp và pháp luật".

Điều 23 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy định: "Viện kiểm sát có nhiệm
vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố, bảo
đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất".

Nghị quyết 08/TW BCT ngày 2/1/2002 có nêu một số nhiệm vụ trọng tâm của
công tác tư pháp trong thời gian tới, trong đó có đề cập đến Viện kiểm sát như sau: Viện
kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động tư pháp, hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án
và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội,
không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người
tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ. Nâng cao chất lượng công tố của liểm sát viên
tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người
tham gia tố tụng khác.

Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật;
những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử lý kịp thời các trường
hợp oan, sai trong bắt, giữ. Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm về những oan, sai
trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi phê chuẩn thẩm quyền của mình.

Quyền công tố là hoạt động quan trọng trong bộ máy nhà nước, đây là quyền
năng pháp lý mà Nhà nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện. Nếu quyền công tố là khái
niệm thuộc phạm trù lý luận chung, thì thực hành quyền công tố là khái niệm thuộc phạm
trù thực tiễn, đó chính là việc Viện kiểm sát tổ chức thực hiện quyền công tố trên thực
tiễn. Như vậy, thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát trong việc truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và thực hiện buộc tội người phạm tội tại
Tòa án.

Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp: kiểm sát các hoạt động tư pháp là
kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với hành vi của các chủ thể tham gia vào các quan hệ
pháp luật tố tụng, nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống
nhất. Theo Nghị quyết 08/NQ-TW-BCT ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị thì hoạt động tư
pháp bao gồm: hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự,
giải quyết khiếu nại tố cáo về hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp, hoạt động bổ
trợ tư pháp như: giám định tư pháp... Do vậy, hoạt động của các đối tượng trên đều là đối
tượng kiểm sát của công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp.

Như vậy, giữa chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các
hoạt động tư pháp có mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó, không thể tách rời, thực hiện tốt chức
năng kiểm sát các hoạt động tư pháp là góp phần nâng cao chất lượng chức năng thực
hành quyền công tố và thực hành quyền công tố tốt là bảo đảm cho chức năng kiểm sát
các hoạt động tư pháp được nâng cao hơn. Tuy nhiên, hai chức năng này mặc dù sự phân
biệt, bóc tách giữa chúng là không tuyệt đối, nhưng có thể dựa trên những tiêu chí sau
đây để phân biệt: mỗi chức năng có đối tượng tác động riêng; có phạm vi tác động đến
đối tượng riêng; và có nội dung hoạt động riêng. Để thực hiện chức năng kiểm sát các
hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát phải thực hiện nhiều công tác, trong đó có công tác
kiểm sát điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát hành vi tố tụng, các
hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra. Trong hoạt động kiểm sát điều tra vụ án hình sự
bao gồm rất nhiều phần công việc và nội dung khác nhau, như: kiểm sát hoạt động khởi
tố vụ án; kiểm sát việc khởi tố bị can; kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn, kiểm sát việc lấy lời khai; kiểm sát hoạt động hỏi cung, kiểm sát hoạt động
khám xét; kiểm sát việc thực nghiệm điều tra; kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường;
khám nghiệm tử thi; kiểm sát hoạt động đối chất, nhận dạng...như vậy, trong các hoạt
động kiểm sát điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát hoạt động
khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi.

1.3.2. Hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ, việc mang tính
hình sự

1.3.2.1. Khái niệm, đối tượng, phạm vi hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện
trường

* Khái niệm

Kiểm sát hoạt động điều tra tại hiện trường là nhiệm vụ, quyền hạn của Viện
kiểm sát nhân dân được pháp luật quy định. Thông qua hoạt động này, Viện kiểm sát có
trách nhiệm bảo đảm cho việc khám nghiệm hiện trường của cơ quan có thẩm quyền
được thực hiện đúng quy định của pháp luật nhằm phát hiện, thu thập dấu vết, vật chứng
của tội phạm và làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án.

Hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ việc mang tính hình sự
được tiến hành theo các quy định tại các điều 36; 37; 95; 112; 113; 125; 150 và 154 Bộ
luật tố tụng hình sự. Điều 13 và 14 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, 2002. Điều 17;
18; 19 và 20 Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự.

Những văn bản pháp lý trên đã quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, kiểm sát khám nghiệm
tử thi.

* Đối tượng và phạm vi của hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường các vụ
việc mang tính hình sự

- Đối tượng của hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường là hoạt động của các
thành viên trong đoàn khám nghiệm (khám nghiệm hiện trường và khám nghiệm tử thi)
cũng như kiểm sát hoạt động của những người có liên quan đến công tác điều tra tại hiện
trường (Điều tra viên; giám định viên; kỹ thuật viên; bác sĩ pháp y... và những người
khác như: người làm chứng; người chứng kiến; người bị hại; bị can), nhằm bảo đảm
những hoạt động của những chủ thể trên đúng pháp luật, đảm bảo cho công tác điều tra
tại hiện trường được khách quan, toàn diện, chính xác, đạt hiệu quả cao.

- Phạm vi kiểm sát điều tra tại hiện trường: Nói đến phạm vi là nói đến thời điểm
bắt đầu và kết thúc của một hoạt động kiểm sát, giữa đối tượng và phạm vi luôn có mối
quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau, khi nào đối tượng của hoạt động kiểm sát xuất hiện thì
phạm vi của hoạt động kiểm sát đó bắt đầu, khi nào đối tượng của hoạt động kiểm sát
không còn thì phạm vi của hoạt động kiểm sát đó cũng kết thúc. Như vậy, trong mối quan
hệ này thì đối tượng luôn quyết định đến phạm vi của công tác.

Công tác khám nghiệm hiện trường bắt đầu từ khi Cơ quan điều tra thành lập Hội
đồng khám nghiệm và phân công Điều tra viên tiến hành khám nghiệm. Điều tra viên
được phân công khám nghiệm hiện trường có trách nhiệm phải thông báo cho Viện kiểm
sát cùng cấp biết về việc khám nghiệm hiện trường để Viện kiểm sát cử Kiểm sát viên
tham gia. Khi đến hiện trường vụ, việc mang tính hình sự, Kiểm sát viên có trách nhiệm
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình khám nghiệm cho đến khi kết thúc việc
khám nghiệm hiện trường và hoàn thành hồ sơ công tác khám nghiệm hiện trường. Cho
nên hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường được tiến hành từ khi có thông
báo của Cơ quan điều tra và Kiểm sát viên có mặt tại hiện trường cho đến khi kết thúc
việc khám nghiệm hiện trường và hoàn thành hồ sơ công tác khám nghiệm hiện trường.
Việc kiểm sát được tiến hành không chỉ ngay tại hiện trường và cũng không chỉ gói gọn
trong hoạt động khám nghiệm nơi có dấu hiệu của vụ việc mang tính hình sự, mà nó còn
kiểm sát tất cả những hoạt động tố tụng khác xuất phát từ công tác khám nghiệm hiện
trường nhằm thu thập đầy đủ dấu vết, vật chứng, thông tin về hiện trường vụ việc mang
tính hình sự như: vấn đề người chứng kiến, việc khám nghiệm tử thi, vấn đề hồ sơ khám
nghiệm hiện trường, việc khám xét, thu giữ vật chứng, trưng cầu giám định...

1.3.2.2. Yêu cầu và ý nghĩa của hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường

* Việc tiến hành kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ, việc mang tính hình
sự cần phải tuân theo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo sự tuân thủ pháp luật trong việc khám nghiệm hiện trường: Kiểm sát
viên phải tiến hành kiểm sát về thành phần của lực lượng khám nghiệm hiện trường, số
lượng, tiêu chuẩn của những thành viên trong lực lượng khám nghiệm theo quy định của
pháp luật, kiểm sát chặt chẽ bởi lẽ nếu thành phần không đúng thì kết quả cuộc khám
nghiệm không đạt được, chưa muốn nói là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; Kiểm
sát viên phải tiến hành kiểm sát chặt chẽ cách thức tiến hành của lực lượng khám nghiệm
hiện trường: từ khâu tiếp quản hiện trường, đến hoạt động quan sát hiện trường, hoạt
động khám nghiệm tỷ mỷ hiện trường, đảm bảo quy trình của hoạt động này diễn ra đúng
theo quy định của pháp luật; kiểm sát về phương pháp khám nghiệm hiện trường, mỗi
hiện trường vụ việc hình sự xảy ra sẽ có cách thức tiến hành riêng, tùy thuộc vào loại
hiện trường xảy ra là hiện trường gì, cũng như phụ thuộc vào cấu trúc địa hình của hiện
trường xảy ra vụ việc hình sự để có phương pháp khám nghiệm cho phù hợp; ngoài ra
Kiểm sát viên cần phải kiểm sát chặt chẽ về trình tự, thủ tục tiến hành khá m nghiệm như:
việc lập biên bản khám nghiệm, việc ra các quyết định trưng cầu khám nghiệm, việc lập
hồ sơ khám nghiệm hiện trường đã đầy đủ về nội dung chưa, còn thiếu những vấn đề gì,
để yêu cầu lực lượng khám nghiệm bổ sung cho kịp thời.

- Đảm bảo mọi cuộc khám nghiệm đều diễn ra nhanh chóng, khẩn trương, kịp
thời: Chúng ta cũng đã phân tích ở phần đầu về hiện trường vụ việc mang tính hình sự,
nguyên lý của sự hình thành dấu vết vật chứng, nguyên lý của sự phản ảnh... hiện trường
là nơi để lại dấu vết vật chứng, việc thu thập dấu vết này có ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong hoạt động chứng minh người phạm tội, nhưng hiện trường cũng là nơi mà dấu vết
vật chứng dễ bị phá hủy do nhiều nguyên nhân khác nhau như: do thời tiết, do con người,
do bản thân dấu vết tự phân hủy trong môi trường vật chất, nếu không tiến hành khám
nghiệm nhanh chóng và kịp thời thì sẽ không thể thu thập dấu vết vật chứng một cách đầy
đủ được nữa, không muốn nói là không còn dấu vết để thu thập nữa, sẽ gây khó khăn cho
công tác điều tra khám phá vụ án sau này.

- Đảm bảo mọi cuộc khám nghiệm đều phải tiến hành đầy đủ, chính xác, khách
quan, toàn diện: tức là hoạt động khám nghiệm phải thu thập đầy đủ, toàn diện mọi dấu
vết, không được bỏ qua bất cứ một dấu vết nhỏ nào, không được vì hiện trường rộng, thời
gian tiến hành khám nghiệm đã muộn, nên đã bỏ qua một số vùng Điều tra viên cho là
không quan trọng, sau này nơi đó lại là nơi để lại dấu vết quyết định đến việc truy tìm
hung thủ gây án, việc khám nghiệm hiện trường phải sử dụng công cụ hỗ trợ đúng theo
quy định của pháp luật, Kiểm sát viên cần chú ý đến việc lập biên bản mô tả chi tiết mọi
diễn biến của quá trình khám nghiệm, ghi trung thực không thổi phồng sự thật.

- Bảo đảm quá trình khám nghiệm hiện trường phải tiến hành theo một trình tự
mà pháp luật quy định: trước khi khám nghiệm tỷ mỷ, chi tiết phải tiến hành khám sơ
qua, đó là quá trình quan sát hiện trường, việc quan sát hiện trường có ý nghĩa rất lớn
định hướng cho việc khám nghiệm tỷ mỷ sau này, nhận định chính xác hiện trường này là
hiện trường nào, cấu trúc ra sao, lối vào ra như thế nào, đường đột nhập, đường rút lui...
sẽ có định hướng khám nghiệm vừa nhanh, vừa chính xác, vừa đầy đủ và khách quan.

Để đạt được những yêu cầu trên, đòi hỏi Kiểm sát viên khi tiến hành hoạt động
kiểm sát khám nghiệm hiện trường phải nắm chắc những quy định của pháp luật có liên
quan đến công tác khám nghiệm hiện trường để xem xét xem hội đồng khám nghiệm có
tuân thủ đúng các quy định đó hay không; ngoài ra để hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện
trường được tiến hành đạt hiệu quả cao thì Kiểm sát viên phải nắm vững những quy định
của ngành kiểm sát về chức năng, nhiệm vụ, phương pháp kiểm sát việc khám nghiệm
hiện trường, để bảo đảm cho công tác khám nghiệm hiện trường đạt hiệu quả cao, kịp
thời phát hiện những vi phạm pháp luật yêu cầu hội đồng khắc phục ngay, với những vi
phạm nghiêm trọng cần kiến nghị yêu cầu Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh, qua đó
kiến nghị với các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm
và vi phạm pháp luật.

* Tiến trình hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ, việc mang tính
hình sự có ý nghĩa rất to lớn, cụ thể như sau:

- Kiểm sát điều tra tại hiện trường các vụ việc mang tính hình sự là để xác định
các nội dung, tính chất của vụ việc mang tính hình sự xảy ra, đó là hiện trường có dấu hiệu
của tội phạm hay không phải hiện trường của tội phạm.
- Nhằm thu giữ đầy đủ những dấu vết vật chứng có ở hiện trường, bởi lẽ dấu vết
vật chứng có ý nghĩa rất lớn cho việc chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi
phạm tội. Những dấu vết này sẽ nói rõ ai là người thực hiện hành vi phạm tội, thực hiện
bằng phương thức thủ đoạn gì, công cụ phương tiện khi thực hiện hành vi phạm tội...

- Thông qua dấu vết vật chứng để lại ở hiện trường, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ
tiến hành mã hóa thông tin để xác định rõ: thủ phạm đã sử dụng phương thức thủ đoạn gì
khi thực hiện hành vi phạm tội, cách thức tiến hành ra sao, thời gian gây án, có bao nhiêu
người thực hiện hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội.

- Kết quả của hoạt động điều tra tại hiện trường sẽ là cơ sở quan trọng để Cơ
quan điều tra đưa ra những quyết định tiếp theo phù hợp với diễn biến của vụ việc mang
tính hình sự xảy ra và kiểm sát điều tra tại hiện trường cũng chính là căn cứ vững chắc để
Viện kiểm sát phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra (thực hiện tốt chức năng
thực hành quyền công tố của mình trong giai đoạn kiểm sát điều tra vụ án hình sự).

- Kiểm sát điều tra tại hiện trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc góp
phần không để lọt tội phạm cũng như không làm oan sai, nâng cao hiệu quả của công tác
điều tra, phòng chống tội phạm.

Kết luận chương 1

Trong chương 1 của luận văn, chúng tôi đã đi sâu phân tích, đánh giá và làm rõ
những vấn đề sau đây:

- Trên cơ sở tiếp cận, nghiên cứu những quy định của pháp luật và những quan
điểm khác nhau của các nhà khoa học về hiện trường vụ, việc hình sự, từ đó tác giả đã
mạnh dạn đưa ra những khái niệm về hiện trường vụ, việc mang tính hình sự bao quát
nhất, chung nhất.

- Làm rõ ý nghĩa của việc khám nghiệm hiện trường, tìm hiểu và phân tích rõ
chức năng của Viện kiểm sát trong hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ,
việc mang tính hình sự.
Chương 2

Thực Trạng Của CÔNG Tác Kiểm Sát Điều TRA
Tại Hiện Trường Những Vụ, Việc MANG Tính Hình Sự TRÊN Địa Bàn Tỉnh Hà
TÂY



2.1. Thực trạng về tình hình diễn biến của các vụ, việc mang tính hình sự và
kết quả hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Hà Tây

2.1.1. Đặc điểm địa lý của địa bàn tỉnh Hà Tây

Hà Tây là một tỉnh liền kề với Thủ đô Hà Nội, có tổng diện tích tự nhiên 2.200
km2, gồm 12 huyện và 2 thị xã với dân số gần 2,6 triệu người. Là cửa ngõ Thủ đô nên
mật độ dân cư đi lại trên địa bàn tỉnh để giao lưu buôn bán làm ăn, du lịch và những hoạt
động khác tương đối lớn. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội,
tình hình vi phạm, tội phạm diễn biến ngày một phức tạp, hàng năm trên địa bàn toàn tỉnh
đã xảy ra hàng nghìn vụ án hình sự và có chiều hướng ngày một gia tăng. Tội phạm về
các lĩnh vực như: buôn lậu, buôn bán - tàng trữ - vận chuyển trái phép chất ma túy ngày
một nhiều. Trên địa bàn tỉnh còn xảy ra nhiều vụ phạm tội nghiêm trọng nh ư cướp của,
giết người, trộm cắp, lừa đảo, đáng chú ý đối tượng phạm tội rất phức tạp, ở những địa
bàn khác đến gây án và bỏ trốn, hoặc câu kết với những phần tử trong địa bàn hoạt động
phạm tội, gây sự mất ổn định về an ninh và trật tự an toàn xã hội trên toàn tỉnh.

Hà Tây có vị trí địa lý giáp danh với nhiều tỉnh, thành phố, địa bàn được trải dài,
dọc theo các quốc lộ 6A, 1A, 32, 22... với nhiều đường giao thông tỉnh lộ, như 78, 73,
428, 87A, 92.... Trong những năm qua tình hình vi phạm và tội phạm về lĩnh vực an toàn
giao thông ở Hà Tây tương đối phức tạp. Tính từ thời điểm tháng 1/2002 đến 30/9/2003
toàn tỉnh đã xảy ra 922 vụ tai nạn giao thông, hậu quả làm chết 698 người, vấn đề an toàn
giao thông đang là mối lo ngại đối với các cấp lãnh đạo trong toàn tỉnh. Hầu hết các vụ
khám nghiệm hiện trường thì vụ án liên quan đến tai nạn giao thông đã chiếm đến 73,7%
tổng số vụ phải tiến hành khám nghiệm.

2.1.2. Tình hình số vụ, việc mang tính hình sự xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà
Tây từ năm 2000 đến tháng 6 năm 2005 cần tổ chức khám nghiệm

Mức độ diễn biến: (Phụ lục - Bảng thống kê số 1)

Qua số liệu trên cho thấy, từ năm 2000 đến tháng 6 năm 2005 trên địa bàn tỉnh
Hà Tây đã xảy ra 4049 vụ, việc mang tính hình sự.

Hiện trường tai nạn rủi ro có 373 vụ, chiếm tỷ lệ 9,2% (373/ 4.049 vụ).

Hiện trường vụ tai nạn giao thông 2.986 vụ, chiếm tỷ lệ 73,7% (2.986/ 4.049 vụ)

Hiện trường vụ việc gây thương tích có 418 vụ, chiếm tỷ lệ 10,3% (418/ 4. 049
vụ)

Hiện trường những vụ, việc khác có 272 vụ, chiếm tỷ lệ 6,7%.

Qua những con số thống kê về tình hình vi phạm và tội phạm trên địa bàn tỉnh Hà
Tây cho thấy, hàng năm án giao thông xảy ra cần tiến hành khám nghiệm hiện tr ường
chiếm tỷ lệ bình quân hàng năm 73,7%.

Số vụ việc xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Tây năm sau thường cao hơn năm trước,
án giao thông xảy ra rất nhiều. Từ đó cho thấy khối lượng công việc trong hoạt động
kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi không ngừng tăng lên trong khi
đó như phần cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh mà tác giả luận văn
đã phân tích và đề cập - đó là biên chế quá ít, trình độ Kiểm sát viên không đồng đều,
chưa được đào tạo bài bản về hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường. Tuy nhiên,
lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Hà Tây cũng như đội ngũ Kiểm sát
viên, cán bộ công tác trong ngành đã có nhiều cố gắng để thực hiện tốt trách nhiệm của
mình trong công tác, tạo ra nhiều sự chuyển biến tích cực trong công tác này, góp phần
thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng của ngành trong lĩnh vực thực hành quyền công tố
và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, phối hợp với Cơ quan điều tra phát hiện và xử lý
chính xác, kịp thời các vụ án hình sự, bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
tránh hiện tượng oan, sai, bỏ lọt tội phạm.

2.1.3. Kết quả của hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường trên địa bàn
tỉnh Hà Tây

(Phụ lục - Bảng thống kê số 2)

- Từ năm 2000 đến tháng 6 năm 2005 trên địa bàn tỉnh Hà Tây đã xảy ra 4.049
vụ việc mang tính hình sự, tiến hành khám nghiệm được 3.924 vụ (chiếm tỷ lệ 96,9 %),
số vụ không khám nghiệm 125 vụ (chiếm tỷ lệ 3,08 %)

- Số vụ việc có sự tham gia kiểm sát trực tiếp hoạt động khám nghiệm hiện trường
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây 3.260 vụ chiếm tỷ lệ 80,5%.

- Số vụ việc có dấu hiệu tội phạm được khởi tố vụ án hình sự 1.430 vụ chiếm tỷ
lệ 35,3%.

- Trong số 1.430 vụ, việc có dấu hiệu tội phạm đã được Cơ quan điều tra khởi tố,
có 1.194 vụ việc xảy ra tiến hành khám nghiệm trước khi khởi tố, chiếm tỷ lệ 85,3% trên
tổng số vụ việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm khởi tố và khám nghiệm. Có 236 vụ khởi tố
vụ án, sau đó mới tiến hành khám nghiệm hiện trường, chiếm tỷ lệ 14,7%.

- Nhìn vào bảng thống kê công tác khám nghiệm hiện trường và công tác kiểm
sát khám nghiệm hiện trường trên địa bàn tỉnh Hà Tây ta thấy: trong số những vụ việc xảy
ra Cơ quan điều tra không tiến hành khám nghiệm chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ vài vụ, chiếm tỷ
lệ 3,08% trong tổng số những vụ việc mang tính hình sự xảy ra trên địa bàn tỉnh, chứng
tỏ công tác tiến hành khám nghiệm hiện trường trên địa bàn Hà Tây được thực hiện tốt.
Những vụ, việc xảy ra Cơ quan điều tra tỉnh Hà Tây không tiến hành khám nghiệm do:
không có dấu hiệu của tội phạm, xác định rõ đây là những trường hợp tai nạn rủi ro.

- Hầu hết các vụ việc xảy ra Cơ quan điều tra đều tiến hành khám nghiệm, đa số
các vụ khám nghiệm đều có hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Hà Tây, tuy nhiên số vụ việc Viện kiểm sát tỉnh Hà Tây không tham gia
trực tiếp kiểm sát cũng nhiều, chiếm tỷ lệ tương đối lớn, trong số 3.924 vụ việc tiến hành
khám nghiệm thì Viện kiểm sát tỉnh Hà Tây đã tham gia kiểm sát khám nghiệm hiện
trường được 3.260 vụ (chiếm tỷ lệ 80,5%), số vụ không tiến hành kiểm sát khám nghiệm
hiện trường 664 vụ (chiếm tỷ lệ 16,9%).

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây không trực
tiếp tiến hành hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường do những vấn đề sau:

Thứ nhất: Do công tác tiếp nhận, xử lý tin báo chưa thật nhanh chóng, kịp thời,
Cơ quan điều tra không thông báo nên Viện kiểm sát tỉnh Hà Tây không biết để cắt cử
Kiểm sát viên đến kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường này;

Thứ hai: Do công tác chỉ đạo điều hành của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây
không kịp thời nên đã chậm trễ trong hoạt động nắm bắt thông tin và xử lý thông tin, vì vậy
không cử Kiểm sát viên đến hiện trường kịp thời, nhiều vụ việc khám nghiệm xong Kiểm sát
viên mới tới và không biết tình tiết của sự việc, diễn biến ra sao, khám nghiệm nh ư thế
nào đã đầy đủ chưa... vẫn ký vào biên bản theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, hiệu quả
của những hoạt động này đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả của hoạt động khám
nghiệm.

- Số vụ việc xảy ra, Cơ quan điều tra xác định có dấu hiệu của tội phạm chiếm tỷ
lệ 35,3 % để khởi tố vụ án, khởi tố bị can, con số này cho thấy tỷ lệ án là thấp so với vụ
việc xảy ra. Qua khảo sát số liệu trên thực tiễn cho chúng ta có những nhận định về vấn
đề này như sau:

Thứ nhất: án giao thông xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Tây là tương đối lớn (chiếm
tỷ lệ bình quân hàng năm là 73,7% số vụ việc mang tính hình sự xảy ra hàng năm),
nhưng công tác khám nghiệm hiện trường của những vụ việc này thường rất kém, nhiều
vụ xảy ra trong đêm tối, khám nghiệm qua loa, thiếu ánh sáng, trời rét... những yếu tố này
đã ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của những người tham gia trong hoạt động khám
nghiệm, dấu vết thu được không đầy đủ, sau này không thể tổng hợp chứng cứ chứng
minh lỗi thuộc về bên nào để xác định rõ trách nhiệm của các bên và biện pháp xử lý
chính xác.
Thứ hai: Thông thường hiện trường vụ việc xảy ra nếu không bảo vệ kịp thời sẽ
không còn đầy đủ, nguyên vẹn và do đó tiến hành khám nghiệm kết quả không cao, giá
trị chứng minh thấp; vấn đề này thể hiện sự không nhịp nhàng trong những hoạt động
phối kết hợp giữa các cơ quan có chức năng khi tiến hành khám nghiệm hiện trường

Thứ ba: Sự đại khái trong công tác, phối hợp không nhịp nhàng, ngại khó, ngại
khổ, tất cả chỉ để cho xong thủ tục... Những yếu tố này đã ảnh hưởng lớn đến kết quả của
công tác, nhiều vụ việc khởi tố đã phải đình chỉ vì không chứng minh được hành vi phạm
tội, nhiều vụ việc không thể khởi tố vì cũng không thể xác định chính xác có dấu hiệu tội
phạm hay không.

2.2. Thực trạng về công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ, việc
mang tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tây

2.2.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Hà Tây

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây được chia thành hai cấp, có
9 phòng nghiệp vụ ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh và 14 Viện kiểm sát nhân dân huyện,
thị xã (thị xã Hà đông và thị xã Sơn Tây), một số đơn vị hàng năm phải thụ lý giải quyết
hàng trăm vụ phạm pháp hình sự, như: Ba Vì; Chương Mỹ, Thường Tín, Hoài đức...

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây hiện có 233 biên chế, trong đó số cán bộ,
Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự là 102 đồng chí, có 88 đồng chí có chức danh Kiểm sát viên, chiếm
86,2%, còn lại 14 đồng chí là cán bộ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh có 29 đồng chí, gồm
21 Kiểm sát viên cấp tỉnh (chiếm 72,4%), 3 Kiểm sát viên cấp huyện và 5 cán bộ. Viện
kiểm sát nhân dân huyện, thị xã có 73 đồng chí, gồm 67 đồng chí là lãnh đạo, Kiểm sát
viên (chiếm 91,7%) và 6 cán bộ.

Về chất lượng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát
điều tra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự gồm có: 02 đồng chí có trình độ thạc sĩ luật, 50
đồng chí có trình độ cử nhân luật, 50 đồng chí có trình độ cao đẳng kiểm sát và hai đồng
chí có trình độ trung cấp kiểm sát.

Dưới 30 tuổi có 18 đồng chí, chiếm 17,6%

Từ 30 tuổi đến 40 tuổi có 39 đồng chí, chiếm 38,2%

Từ 41 đến 50 tuổi có 32 đồng chí, chiếm tỷ lệ 31,3 %

Từ 51 tuổi trở lên có 13 đồng chí, chiếm tỷ lệ 12,7%

- Do sự thay đổi về chức năng ngành kiểm sát theo quy định trong Hiến pháp, Bộ
luật tố tụng hình sự, cũng như sự thay đổi được quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân 2002, Quy chế nghiệp vụ ngành, Viện kiểm sát có chức năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, sự thay đổi về chức năng đã kéo theo
sự thay đổi lớn trong cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây,
hình thức thu gọn đầu mối, tập trung nhân lực vào một phòng: kiểm sát điều tra và xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự, theo chế độ làm việc thông khâu, một Kiểm sát viên phải theo vụ
án từ giai đoạn đầu cho đến khi kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đó. Việc thay đổi
quy định như vậy, đã làm cho công tác kiểm sát chặt chẽ hơn và thực hành quyền công tố
tại phiên tòa tốt hơn, nhưng sự bất cập lớn đó là nhân lực - nguồn con người quá ít để
đảm đương một khối lượng công việc rất lớn như vậy.

Nhận xét, đánh giá:

- Qua sự thống kê về nhân sự trong Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây cho
thấy: cơ cấu tổ chức bộ máy thiếu đồng bộ, thống nhất và không phù hợp với đặc điểm
của từng đơn vị, từng địa phương, một số đơn vị lực lượng biên chế quá mỏng, dàn trải;
công tác quản lý, chỉ đạo điều hành ở một số đơn vị Viện kiểm sát huyện, thị xã thiếu tập
trung, thống nhất, hiệu quả công tác chưa được cao.

- Thực hiện cải cách tư pháp, theo tinh thần Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ
Chính trị cho thấy bộc lộ về sự yếu kém, không làm được việc của một số cán bộ, Kiểm
sát viên, bất cập về trình độ chuyên môn, trình độ cử nhân ít, trình độ cao đẳng, trung cấp
quá nhiều, trình độ thạc sĩ luật học chỉ có 2 người. Trong khi đó trình độ Điều tra viên
cấp tỉnh thường cử nhân, nhiều trình độ thạc sĩ luật, Kiểm sát viên kiểm sát các hoạt động
điều tra của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra, nhưng trình độ không bằng họ, nên rất khó khăn trong sự kết hợp làm
việc. Đây là điểm hạn chế rất lớn của lực lượng cán bộ, Kiểm sát viên Viện kiểm sát tỉnh
Hà Tây.

- Số lượng cán bộ, Kiểm sát viên chưa đáp ứng được với yêu cầu khối lượng
công việc hiện nay, nhất là đối với Viện kiểm sát cấp huyện, trình độ chuyên môn nghiệp
vụ chưa đồng đều, chưa ngang tầm với nhiệm vụ được phân công. Số lượng cán bộ, Kiểm
sát viên cao tuổi chiếm tỷ lệ cao, ở số này chủ yếu làm việc theo thói quen và kinh
nghiệm, không được đào tạo cơ bản, số cán bộ, Kiểm sát viên trẻ mới ra trường cũng
nhiều, hăng hái, nhưng chưa nhiều kinh nghiệm, chưa được đào tạo về nghiệp vụ công
tác, chưa có nhiều kỹ năng trong công việc giải quyết án, do đó đã hạn chế rất lớn đến
hiệu quả và chất lượng của công việc.

- Một số đơn vị Viện kiểm sát cấp huyện, thị xã biên chế quá ít (d ưới 10 người)
trong khi đó họ phải làm nhiều phần công việc, do đó lực lượng bị dàn mỏng, nên không
tập trung làm tốt chuyên môn được. Nhiều đơn vị địa phương lực lượng Kiểm sát viên
quá mỏng nên không thể tham gia đầy đủ các vụ khám nghiệm hiện trường mặc dù đã có
sự thông báo của Cơ quan điều tra, việc này cũng ảnh hưởng đến chất lượng của công tác
điều tra tại hiện trường.

2.2.2. Thực trạng về mối quan hệ phối hợp và chế ước giữa Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Hà Tây với Cơ quan điều tra và cơ quan khác trong lực lượng Cảnh
sát nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong công tác
tổ chức điều tra tại hiện trường những vụ, việc mang tính hình sự

* Thực trạng về mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây
với Cơ quan điều tra và các cơ quan khác trong lực lượng Cảnh sát nhân dân được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây và Cơ quan điều
tra cũng như một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra là mối quan hệ hợp tác cùng tiến hành công việc theo quy định của pháp luật, nhằm
đảm bảo mọi hoạt động được nhịp nhàng, có hiệu quả. Trong hoạt động tiến hành khám
nghiệm hiện trường thì mối quan hệ này được thể hiện trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất: Trong mọi trường hợp tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ, việc
mang tính hình sự xảy ra, trước khi khám nghiệm Điều tra viên phải thông báo cho Viện
kiểm sát cùng cấp biết, để Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây có trách nhiệm cử Kiểm
sát viên tham gia kiểm sát trực tiếp cuộc khám nghiệm hiện trường. Pháp luật chỉ quy
định Cơ quan điều tra phải thông báo cho Viện kiểm sát nh ưng lại không nói rõ việc
thông báo này tiến hành theo thủ tục nào, thông báo bằng miệng, bằng văn bản hay thông
báo qua điện thoại. Thực tiễn cho thấy, nếu những vụ án đã khởi tố sau đó Cơ quan điều
tra mới tổ chức khám nghiệm hiện trường thì việc thông báo cho Viện kiểm sát thường
tiến hành bằng văn bản; nếu vụ việc mang tính hình sự xảy ra chưa rõ có dấu hiệu của tội
phạm hay không, vì tính cấp bách của hoạt động, tính khẩn trương và đòi hỏi phải làm
ngay nên hoạt động thông báo thường thông qua điện thoại, những việc thông báo đó đều
đúng không vi phạm quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đôi lúc do công tác khám nghiệm
hiện trường cần khẩn trương, mà liên lạc điện thoại không được nên Viện kiểm sát không
nhận được thông tin để cử cán bộ kiểm sát có năng lực đến hiện trường để kiểm sát hoạt
động điều tra tại hiện trường, do đó nhiều vụ việc Kiểm sát viên không có mặt để kiểm
sát hoạt động điều tra tại hiện trường được.

Thứ hai: Nhận được thông báo của Điều tra viên, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Hà Tây phải cử ngay Kiểm sát viên có trình độ đến hiện trường để kiểm sát hoạt
động khám nghiệm hiện trường của Cơ quan điều tra. Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Hà Tây khi đến hiện trường phải làm đúng và làm tốt chức năng kiểm sát của
mình tại hiện trường vụ khám nghiệm. Thực trạng của vấn đề này còn nhiều điều bất cập,
lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây hầu hết đều xác định được tầm quan trọng
của hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường, nhưng cũng còn đôi chỗ, đôi nơi công tác
này chưa thật sự được quan tâm, cho rằng đến cho đúng thủ tục, nên đã cử những cán bộ
có năng lực hạn chế tham gia công tác khám nghiệm. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Hà Tây đã không thực thi được phần công việc của mình tại cuộc khám nghiệm một cách
đầy đủ, hoặc có những lãnh đạo cho rằng không quan trọng nên tuy nhận được nhưng
cũng không cử cán bộ đến hiện trường, chính vì vậy công tác kiểm sát khám nghiệm hiện
trường còn nhiều yếu kém, chưa đạt yêu cầu đặt ra trong tình hình mới.

Thứ ba: Trong luật còn quy định một số cơ quan khác không phải là Cơ quan
điều tra nhưng được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, như: Hải quan;
Kiểm lâm; Bộ đội biên phòng; Cảnh sát biển; một số cơ quan khác trong Công an nhân
dân, trong Quân đội nhân dân được tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu, tuy
nhiên cần lưu ý: Hải quan; Kiểm lâm; Bộ đội biên phòng; Cảnh sát biển thì Hải quan
không được tiến hành hoạt động khám nghiệm hiện trường (theo quy định của Pháp lệnh
tổ chức điều tra hình sự); các cơ quan còn lại chỉ tiến hành khám nghiệm hiện trường đối
với những vụ án xảy ra trên địa bàn và qua công tác mà những cơ quan này phát hiện
được. Nhưng luật tố tụng hình sự cũng như Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự không có
điều luật nào quy định những cơ quan này khi tiến hành khám nghiệm hiện trường phải
có thông báo trước cho Viện kiểm sát cùng cấp, để Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động
khám nghiệm này. Do đó, nhiều trường hợp tiến hành khám nghiệm không có sự giám sát
của Viện kiểm sát, đây cũng là sự quy định bất cập của pháp luật, cần có những quy định
bổ sung để hoạt động tố tụng được diễn ra chặt chẽ. Trên thực tế phải dựa vào mối quan
hệ giữa cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, họ có thông báo
đến, thì Viện kiểm sát mới biết và cử người đến kiểm sát cuộc khám nghiệm. Viện kiểm
sát hoàn toàn không chủ động trong công tác được.

Đối với cơ quan trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, như: các cơ quan
Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt... (từ Điều 23 đến Điều 25 Pháp lệnh Tổ chức
điều tra hình sự) được tiến hành khám nghiệm hiện trường và một số hoạt động điều tra
khác theo quy định của pháp luật. Quy chế phân công trách nhiệm giữa các lực lượng
Công an nhân dân trong công tác khám nghiệm hiện trường của Bộ Công an, ngày
06/02/2001 có quy định: Lực lượng cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Cảnh sát giao thông
đường bộ - đường sắt, Cảnh sát giao thông đường thủy phải phối hợp thực hiện theo chức
năng các yêu cầu của Cơ quan điều tra trong khám nghiệm hiện trường các vụ phạm tội.
Như vậy, nếu vụ việc xảy ra có tính chất nghiêm trọng, thì lực l ượng này không trực tiếp
tiến hành khám nghiệm hiện trường mà phải thông báo cho Cơ quan điều tra tiến hành
khám nghiệm, khi Cơ quan điều tra chủ trì cuộc khám nghiệm hiện trường thì trước khi
tiến hành khám nghiệm, Cơ quan điều tra phải thông báo trước cho Viện kiểm sát cùng
cấp để Viện kiểm sát cử Kiểm sát viên đến kiểm sát cuộc khám nghiệm hiện trường.

Điều 10 Quy chế phân công trách nhiệm giữa các lực l ượng Công an nhân dân
trong công tác khám nghiệm hiện trường có quy định:

Lực lượng Cảnh sát giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy có
trách nhiệm:

- Khi có vụ tai nạn giao thông xảy ra tổ chức ngay việc khám nghiệm
hiện trường và thông báo để lực lượng kỹ thuật hình sự tham gia.

- Đối với những vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng có
dấu hiệu của tội phạm, phải tổ chức ngay việc bảo vệ hiện trường, đồng thời
báo cho cơ quan Cảnh sát điều tra tổ chức khám nghiệm hiện trường; hỗ trợ
Cơ quan điều tra và các lực lượng nghiệp vụ khác, đảm bảo cho quá trình
khám nghiệm hiện trường được thuận lợi...

Khi đến hiện trường khám nghiệm, Kiểm sát viên đã phối kết hợp cùng Cơ quan
điều tra và những lực lượng tham gia khám nghiệm khác do đó phần lớn công tác khám
nghiệm hiện trường diễn ra được thuận lợi đạt kết quả cao.

* Thực trạng về mối quan hệ chế ước giữa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây
với Cơ quan điều tra và những cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra trong công tác điều tra tại hiện trường

- Xuất phát từ chức năng của Viện kiểm sát tham gia khám nghiệm hiện trường
vụ việc mang tính hình sự xảy ra, nên khi đến hiện trường Kiểm sát viên không trực tiếp
bắt tay vào làm những phần công việc cụ thể, mà kiểm sát những hoạt động tiến hành của
những người trong Hội đồng khám nghiệm, xem có tiến hành đúng quy định của pháp
luật không; có còn thiếu sót gì không; có chỗ nào làm chưa đúng không... để trực tiếp yêu
cầu Điều tra viên và những đối tượng khác trong Hội đồng khám nghiệm khắc phục ngay
những vi phạm hoặc những thiếu sót đó, nếu họ không nghe theo sẽ báo cáo lãnh đạo
Viện kiểm sát tỉnh Hà Tây làm văn bản kiến nghị đến những chủ thể có thẩm quyền, việc
khám nghiệm không đạt hiệu quả, Kiểm sát viên sẽ báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát tỉnh,
để tổ chức tiến hành khám nghiệm lại trong trường hợp hiện trường còn được niêm
phong nguyên vẹn.

- Trước khi khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Hà Tây phải chủ động nắm bắt tình hình, yêu cầu Điều tra viên thông báo về sự việc
xảy ra để tham gia ý kiến vào hoạt động chuẩn bị và tiến hành khám nghiệm. Những yêu
cầu của Kiểm sát viên mà Điều tra viên không tiến hành, Kiểm sát viên sẽ báo cáo lãnh
đạo Viện kiểm sát tỉnh để kiến nghị yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an tỉnh
Hà Tây có biện pháp xử lý, hoặc yêu cầu thay đổi Điều tra viên.

Tóm lại, dù là quan hệ phối hợp hay chế ước trong hoạt động thì các cơ quan
trên đều chung mục đích, làm sao những hoạt động đó được diễn ra thuận lợi, có hiệu
quả.

2.2.3. Tình hình thực tế công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ,
việc mang tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tây

Trong số 4.049 vụ, việc mang tính hình sự xảy ra và được tiến hành khám
nghiệm hiện trường trên địa bàn tỉnh Hà Tây từ năm 2000 đến tháng 6 năm 2005, qua
công tác khám nghiệm hiện trường hoặc qua xác định ban đầu, xác định có dấu hiệu tội
phạm và đã tiến hành khởi tố được 1.430 vụ (chiếm tỷ lệ 35,3 %). Như vậy, số vụ án
được khởi tố không nhiều, chứng tỏ công tác xử lý tại hiện trường còn rất nhiều bất cập,
yếu kém. Thực trạng công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường của Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Hà Tây trong thời gian từ năm 2000 đến tháng 6 năm 2005 được trình bày trong
những nội dung dưới đây.

2.2.3.1. Thực trạng về công tác chuẩn bị kiểm sát khám nghiệm hiện trường
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây
Sau khi nhận được thông báo về vụ việc mang tính hình sự cần tiến hành khám
nghiệm, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây phải chủ động bố trí, phân công
Kiểm sát viên tiến hành kiểm sát khám nghiệm hiện trường đối với tất cả các vụ việc mà
Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm nên phần lớn tất cả các cuộc khám nghiệm đều
có Kiểm sát viên tham gia, giám sát chặt chẽ, yêu cầu Điều tra viên khám nghiệm tỷ mỷ,
đầy đủ theo quy định của pháp luật. Những vụ việc có hậu quả đặc biệt nghiêm trọng,
giết người không quả tang hoặc phức tạp, thì lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà
Tây đã trực tiếp tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường. Tuy nhiên, sự tham
gia của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây th ường rất ít và hầu như không có,
thậm chí nhiều lãnh đạo còn cắt cử những cán bộ, Kiểm sát viên năng lực hạn chế đến
kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, chính vì vậy hiệu quả công tác
kiểm sát khám nghiệm hiện trường trên địa bàn tỉnh Hà Tây không cao.

Khám nghiệm hiện trường là hoạt động điều tra được quy định tại Điều 150 Bộ
luật tố tụng hình sự, được tiến hành trực tiếp tại hiện trường do Điều tra viên tiến hành, nhằm
phát hiện, xem xét, ghi nhận dấu vết của tội phạm, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết có ý
nghĩa đối với vụ án tại nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm. Chính vì vậy, việc khám nghiệm
hiện trường có thể được tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự và điều luật quy định
Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường. Thông qua hoạt
động khám nghiệm hiện trường, kết quả của hoạt động khám nghiệm hiện trường sẽ giúp
Cơ quan điều tra quyết định: hiện trường có sự kiện phạm tội xảy ra không, có dấu hiệu
tội phạm không, có khởi tố vụ án hình sự không.

Thứ nhất: Hoạt động kiểm sát công tác chuẩn bị trước khi đến hiện trường bao
gồm những hoạt động sau đây:

+ Kiểm sát việc bảo vệ hiện trường

Ngay sau khi nhận được thông báo của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tây về
việc khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây được
phân công kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường phải yêu cầu Cơ quan điều tra
thực hiện ngay các biện pháp cần thiết để bảo vệ hiện trường, như: phải kịp thời bao quát
toàn bộ hiện trường, không để người không có trách nhiệm ra vào hiện trường, không ai,
không người nào được phép tự ý mang bất kỳ vật gì ở hiện trường đi nơi khác hoặc di
chuyển vị trí các đồ vật tại hiện trường, không được tiết lộ các tin tức, tài liệu về hiện
trường; xác định ngay các nhân chứng của vụ án, chú ý các dấu vết nguồn hơi để sử dụng
chó nghiệp vụ truy tìm thủ phạm gây án. Tuy vậy trên thực tiễn công tác cho thấy, Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây đã không làm tốt hoạt động này, cho rằng đó là phần việc
Cơ quan điều tra phải làm, nên qua khảo sát và tổng kết công tác khám nghiệm hiện
trường thì 99% các vụ cần khám nghiệm chưa có trường hợp nào Viện kiểm sát nhân tỉnh
Hà Tây có yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện công tác bảo vệ hiện trường.

+ Kiểm sát việc thành lập Hội đồng khám nghiệm

Thông thường lực lượng khám nghiệm gồm có: các Điều tra viên; Kiểm sát viên;
người chứng kiến; các nhà chuyên môn (tùy thuộc vào sự việc xảy ra tại hiện trường mà
mời các nhà chuyên môn cho đúng chức năng của họ, ví dụ: hiện trường vụ việc có tử thi
thì phải mời bác sĩ pháp y; hiện trường cháy nổ thì phải mời chuyên gia giám định về
chất nổ...), để làm tốt hoạt động này Kiểm sát viên phải nhanh chóng xác định tính chất
vụ việc nơi xảy ra để lưu ý Điều tra viên trong việc mời người chứng kiến, mời các nhà
chuyên môn cần thiết tham dự vào việc khám nghiệm. Trong trường hợp vụ án hình sự đã
khởi tố và hoạt động khám nghiệm hiện trường tiến hành khi đã khởi tố bị can, thì Kiểm
sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây khi tham gia kiểm sát khám nghiệm hiện
trường phải nhanh chóng quyết định việc có thể cho bị can, người bị hại hoặc người làm
chứng của vụ án tham dự vào hoạt động khám nghiệm hay không (kể cả trường hợp họ
yêu cầu hoặc không yêu cầu để tránh sự phức tạp, khiếu kiện dài ngày sau đó). Thực
trạng hoạt động này cho thấy, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây khi
được phân công kiểm sát điều tra tại hiện trường chỉ chú trọng hoạt động kiểm sát những
công việc tiến hành khám nghiệm tại hiện trường, vấn đề thành phần Hội đồng khám
nghiệm, công tác chuẩn bị tiến hành khám nghiệm không được Kiểm sát viên Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Hà Tây chú ý, qua số liệu khảo sát cũng có tới 97,5% các vụ khám
nghiệm được tiến hành Kiểm sát viên không quan tâm đến những vấn đề nêu trên. Nhiều
vụ, việc xảy ra Hội đồng khám nghiệm không đúng thành phần, không đúng chức danh,
Kiểm sát viên Viện kiểm sát tỉnh không phát hiện được nên kết thúc khám nghiệm vẫn ký
nhận vào biên bản khám nghiệm. Sau này phát hiện không thể khắc phục được nữa.

+ Kiểm sát, kiểm tra để bảo đảm các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho hoạt động
khám nghiệm hiện trường được chuẩn bị đầy đủ, phù hợp với hiện trường vụ, việc xảy ra

Đảm bảo những phương tiện kỹ thuật được chuẩn bị đầy đủ: như các va ly dự
thẩm; máy chụp ảnh; máy soi; máy ghi âm, ghi hình... các phương tiện nhằm phát hiện
dấu vết vật chứng, các phương tiện nhằm thu thập dấu vết vật chứng, đặc biệt trong những
trường hợp việc khám nghiệm hiện trường phải tiến hành ở nơi xa, hẻo lánh, đêm tối hoặc
phải tiến hành khám nghiệm dài ngày thì công việc chuẩn bị này phải chu đáo và đầy đủ
tránh thiếu phương tiện, công cụ khám nghiệm mà phải dãn cách cuộc khám nghiệm, bởi lẽ
hoạt động này vừa đòi hỏi phải nhanh chóng khẩn trương, vừa đòi hỏi tính chính xác cao.
Trên thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây đã thực hiện công việc này chưa thật
nghiêm túc, chưa có thái độ kiên quyết và dứt khoát khi Điều tra viên không tiến hành
những phần công việc trên theo đúng quy định của pháp luật, do đó những thiếu sót trong
khâu này vẫn xảy ra nhiều, chụp ảnh hiện tr ường không do Điều tra viên tiến hành, vì
khâu chuẩn bị không tốt nên nhờ luôn một thợ ảnh địa phương chụp, ảnh chụp không
đúng yêu cầu về kỹ thuật, ánh sáng, tỷ lệ kích cỡ... những hoạt động luộm thuộm như vậy
sẽ làm cho giá trị chứng minh của các tài liệu thu thập tại hiện tr ường không cao. Gây
khó khăn cho hoạt động điều tra, khám phá vụ án sau này.

Xem xét, đánh giá các tin tức, tài liệu về hiện trường vụ việc mang tính hình sự;
chủ động và trao đổi trước với Cơ quan điều tra về kế hoạch và phương pháp khám
nghiệm hiện trường.

Trước khi bắt tay vào hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây phải chủ động nắm bắt tình hình, yêu cầu Cơ
quan điều tra Công an tỉnh thông báo rõ về sự việc đã xảy ra để tham gia ý kiến vào việc
chuẩn bị khám nghiệm; kiểm sát chặt chẽ và chủ động yêu cầu Điều tra viên tiến hành
khám nghiệm hiện trường theo đúng thủ tục và quy định tại Điều 150; 154 Bộ luật tố
tụng hình sự. Trường hợp người làm chứng, người bị hại hoặc bị can có thể chết hoặc
mất khả năng khai báo thì Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên lấy lời khai và ghi âm
lời khai của họ.

Khi Hội đồng khám nghiệm có mặt tại hiện trường, trách nhiệm của Điều tra
viên chủ trì khám nghiệm trước hết phải kiểm tra công tác bảo vệ hiện trường để quyết
định phạm vi hiện trường cần được bảo vệ, cũng như xử lý nhanh chóng kịp thời các biện
pháp khẩn cấp tại hiện trường. Nhiệm vụ của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Hà Tây là phải kiểm sát được các hoạt động trên đây của Điều tra viên. Cụ thể là: Kiểm
sát viên phải cùng Điều tra viên đi kiểm tra hiện trường và công tác bảo vệ để có biện
pháp tiếp tục bảo vệ và xác định phạm vi cần phải được bảo vệ, sau đó cùng Hội đồng
khám nghiệm nghe báo cáo về quá trình bảo vệ hiện trường và những biến đổi ở hiện
trường. Việc nắm thông tin về hiện trường và những biến đổi ở hiện trường sẽ là một
trong những cơ sở giúp cho việc nhận định về vụ việc sau khi tiến hành khám nghiệm.
Ngoài ra, việc nắm vững những thông tin này còn giúp Hội đồng khám nghiệm lý giải
được sự thiếu hụt hay sự mất đi hoặc có sự thêm vào những dấu vết vật chứng xuất hiện ở
hiện trường.

Trong thực tiễn công tác bảo vệ hiện trường chưa được tốt, nhiệm vụ đặt ra với
Kiểm sát viên là kiểm sát bảo vệ hiện trường, nhưng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây
thường đến sau, đến muộn, nên hiện trường thường đã bị xáo trộn, một phần do người
dân đến xem đã làm hiện trường xáo trộn, mặt khác hoạt động sơ cứu, cấp cứu nạn nhân
đã làm hiện trường xuất hiện một số dấu vết mới và làm mất đi một số dấu vết vật chứng
của hiện trường

Nhìn chung, công tác chuẩn bị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây còn biểu
hiện của sự qua loa, đại khái, không chu đáo, không khẩn trương nên khi đến hiện trường
thì đoàn khám nghiệm đang khám nghiệm hoặc đã khám nghiệm xong nên chỉ giải quyết
khâu thủ tục mà không có hoạt động thực chất tại hiện trường. Chính vì thế hoạt động
kiểm sát chuẩn bị khám nghiệm hiện trường của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây trên
thực tiễn còn nhiều hạn chế, một trong những khâu yếu kém của Viện kiểm sát Hà Tây là
việc nắm thông tin sự việc xảy ra hoàn toàn phụ thuộc vào thông báo của Cơ quan điều
tra, nên việc giải quyết thường lúng túng, bị động. Đây cũng là vấn đề đòi hỏi Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Hà Tây phải rút kinh nghiệm và có những biện pháp hữu hiệu để hoàn
thiện quy trình của hoạt động này. Những yêu cầu của công tác kiểm sát điều tra tại hiện
trường đặt ra đối với mỗi Kiểm sát viên rất nhiều, cụ thể và chi tiết từng phần việc phải
làm, phải tiến hành. Nhưng trên thực tiễn qua khảo sát cho thấy khâu công tác này còn
quá nhiều bất cập và yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra.

2.2.3.2. Thực trạng của quá trình kiểm sát điều tra tại hiện trường của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây

- Kiểm sát việc tiến hành khám nghiệm hiện trường là kiểm sát các hoạt động của
người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật trong quá trình khám nghiệm hiện
trường, nhằm bảo đảm các hoạt động đó đạt hiệu quả theo yêu cầu của pháp luật.

- Khi đến hiện trường Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây cũng
như các thành viên trong lực lượng khám nghiệm phải tiến hành quan sát hiện trường,
nghe lực lượng bảo vệ hiện trường thông báo về trạng thái ban đầu của hiện trường khi
lực lượng này đến tiếp cận và bảo vệ hiện trường, những thay đổi đã xảy ra, vì sao có sự
thay đổi đó, khả năng sử dụng chó nghiệp vụ, thông báo về nhân chứng và các đối tượng
nghi vấn; trực tiếp gặp hỏi hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra hỏi người đã báo tin, tố giác
hoặc chủ nhà những thông tin: khi nào và trong trường hợp nào họ đã phát hiện ra có
hành vi phạm tội xảy ra, những biến đổi gì do thủ phạm gây ra, ví dụ hiện trường vụ trộm
thì hỏi xem có bị xáo trộn đồ đạc không? Những biến đổi gì do người đó hoặc do những
người khác gây ra.

- Việc quan sát hiện trường là một hoạt động cần phải tiến hành đối với Kiểm sát
viên cũng như những người tham gia vào hoạt động khám nghiệm hiện trường, việc quan
sát này giúp Kiểm sát viên bao quát được vị trí, trạng thái chung của hiện trường, cũng
như những dấu vết, vật chứng ở hiện trường. Trên cơ sở đó Kiểm sát viên cùng bàn bạc
thảo luận và thống nhất với Cơ quan điều tra và lực lượng kỹ thuật hình sự về phương án
và cách thức tiến hành khám nghiệm tỷ mỷ nhằm thu lượm đầy đủ mọi dấu vết vật chứng
có trên hiện trường. Việc quan sát hiện trường có thể đưa ra những nhận định chung ban
đầu về hiện trường vụ việc như: hiện trường còn nguyên vẹn hay hiện trường đã bị xáo
trộn; thủ phạm đã gây án như thế nào; cách thức đột nhập và rút lui khỏi hiện trường; nơi
hung thủ để lại nhiều dấu vết nhất, các loại dấu vết như thế nào; phạm vi có thể nhận thấy
được hành động của thủ phạm... Thực trạng cho thấy đoàn khám nghiệm đôi lúc, đôi nơi
đã không tuân thủ đúng quy định trên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây không yêu
cầu đoàn phải thực hiện đầy đủ mọi hoạt động, nên nhiều vụ án xảy ra không xác định
được tung tích nạn nhân hoặc quá chậm trễ trong việc xác định về nhân thân của tử thi
nên dẫn đến việc đặt ra phương án khám nghiệm chưa sát và không triệt để.

- Kiểm sát viên cần chú ý các vấn đề sau đây trên thực tiễn hoạt động kiểm sát
điều tra tại hiện trường:

+ Kiểm sát chặt chẽ về phương pháp, cách thức, chiến thuật khám nghiệm hiện
trường của lực lượng khám nghiệm hiện trường để đảm bảo thu giữ được tất cả những
dấu vết, tang vật chứng ở hiện trường. Trong hoạt động này Kiểm sát viên Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Hà Tây phải theo sát để kịp thời phát hiện ra những sai sót, những vi phạm
để yêu cầu khắc phục ngay, ví dụ còn bỏ qua những chỗ không khám nghiệm hoặc việc
lập biên bản không chính xác, như thu giữ vật chứng không ghi chi tiết, mô tả không tỷ
mỷ, không niêm phong đem về giám định nên sau này nhiều vụ việc khi trả lại vật chứng
nhiều đối tượng đã không thừa nhận những tang vật đó là của mình. Những vụ việc thiếu
sót này trên thực tiễn ở Hà Tây xảy ra nhiều, đã gây nhiều khó khăn, lúng túng trong hoạt
động chứng minh tội phạm sau này.

+ Hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường vụ, việc mang tính hình sự, phải
đảm bảo được tính khách quan, toàn diện, tuân thủ pháp luật trong mọi hoạt động khám
nghiệm như: Khi tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường cần chú ý việc Điều
tra viên tiến hành chụp ảnh hiện trường, yêu cầu Điều tra viên phải chụp các loại ảnh theo
quy định nghiệp vụ, như: các kiểu ảnh định hướng, ảnh chụp trung tâm hiện trường; ảnh
chụp từng giai đoạn hiện trường; ảnh chụp chi tiết, chú ý khi chụp ảnh phải đặt thước tỷ lệ,
nếu Điều tra viên không thực hiện phải yêu cầu khắc phục ngay. Đối với hiện trường có
người chết, Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên chụp ảnh tử thi, khi tiến hành chụp
ảnh tử thi cần chú ý một số vấn đề sau đây: vị trí của tử thi nơi được phát hiện, trạng thái
ban đầu của tử thi, các dấu vết trên cơ thể của tử thi; các đặc điểm dạng người; các đặc
điểm đồ vật liên quan đến tử thi; chụp ảnh tử thi phải có các kiểu ảnh sau: ảnh xác định vị
trí tử thi; ảnh chụp riêng tử thi; ảnh chụp tình trạng quần áo tử thi; ảnh chụp các th ương
tích của tử thi; nếu tử thi không rõ tung tích yêu cầu phải có ảnh chụp để nhận dạng tử
thi.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây trong công tác kiểm sát khám
nghiệm hiện trường phải yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành vẽ sơ đồ hiện trường: bao
gồm sơ đồ toàn cảnh hiện trường; sơ đồ nơi xảy ra vụ việc, chú ý đánh dấu bằng những
ký hiệu quy định trong sơ đồ hiện trường.

+ Đối với những vật chứng không thể hoặc không có điều kiện đánh giá, xem xét
ngay tại hiện trường được, Kiểm sát viên phải đảm bảo những vật chứng đó phải được
thu giữ, bảo quản nguyên vẹn ở trạng thái ban đầu, được niêm phong cẩn thận và được
vận chuyển về nơi có điều kiện xem xét, phân tích hoặc giám định. Quá trình này Kiểm
sát viên phải chú ý đến trình tự, cách thức tiến hành các thủ tục đó và việc lập biên bản
đối với những hoạt động trên.

+ Kiểm sát viên phải kịp thời xem xét và giải quyết ngay những biện pháp khẩn
cấp, cũng như kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết những biện pháp khẩn cấp này tại hiện
trường, như: việc bắt; khám xét; lấy sinh cung; lấy lời khai của người làm chứng, người
bị hại; thu giữ những tang vật chứng...

Kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản vật chứng: kiểm sát việc
khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, kê biên tài sản, Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ
quan điều tra chấp hành nghiêm chỉnh các quy định tại các điều 75; 140; 141; 142; 144;
145; 146; 147 và 148 của Bộ luật tố tụng hình sự và văn bản pháp luật hiện hành hướng
dẫn về bảo quản, giao nhận, xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ.

Đối với những trường hợp tại hiện trường cần tiến hành những công việc trên, Cơ
quan điều tra đã đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh khám người và chỗ ở, địa điểm,...
nếu Kiểm sát viên kiểm sát hoạt động điều tra tại hiện trường là lãnh đạo Viện kiểm sát
thì sẽ quyết định phê chuẩn (nếu thấy có căn cứ), và quyết định không phê chuẩn (nếu thấy
những vấn đề đó là không có căn cứ), tuy nhiên nếu việc kiểm sát điều tra tại hiện trường
là Kiểm sát viên thì hoạt động phê chuẩn phải báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát xét
phê chuẩn.

Tuy nhiên, đối với những trường hợp không thể trì hoãn, những người được quy
định tại khoản 2 Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự có quyền ra lệnh khám xét, sau khi tiến
hành khám xét người đã ra lệnh khám xét khẩn cấp đó phải thông báo bằng văn bản cho
Viện kiểm sát tỉnh Hà Tây cùng cấp. Kiểm sát viên phải tiến hành kiểm sát chặt chẽ tính
có căn cứ và tính hợp pháp của các lệnh, các biên bản khám xét của Cơ quan điều tra để
kịp thời phát hiện các vi phạm và yêu cầu sửa chữa các vi phạm theo quy định của pháp
luật, theo dõi và kiểm tra việc thu giữ và bảo quản vật chứng, tài sản đúng theo quy định
tại các Điều 75; 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Kiểm sát việc lấy lời khai của người bị hại, người làm chứng tại hiện trường nơi
xảy ra vụ việc mang tính hình sự: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh trong quá
trình kiểm sát điều tra tại hiện trường vụ, việc hình sự phải chủ động yêu cầu Điều tra
viên chủ trì cuộc khám nghiệm tiến hành lấy lời khai kịp thời của những người làm
chứng, người bị hại, việc tiến hành lấy lời khai phải đầy đủ, không được bỏ qua một nhân
chứng quan trọng nào mà biết rằng họ nghe thấy, nhìn thấy hành vi phạm tội. Đảm bảo
cho người bị hại đưa ra chứng cứ và những yêu cầu của mình để làm rõ hành vi vụ án.
Nếu có đầy đủ các trang thiết bị kỹ thuật mang theo tại hiện trường thì tiến hành cho ghi
âm, ghi hình, chụp ảnh và lập biên bản theo đúng quy định tại Điều 95 Bộ luật tố tụng
hình sự.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây phải kiểm sát chặt chẽ hoạt
động bắt đối tượng tại hiện trường nơi xảy ra vụ việc mang tính hình sự: Hiện trường
đang khám nghiệm có thể là hiện trường của vụ án hình sự đã rõ (tức là Cơ quan điều tra
đã khởi tố vụ án hình sự), cũng có thể là hiện trường chưa rõ có hay không có sự kiện
phạm tội đang tiến hành khám nghiệm, như vậy việc bắt đối tượng sẽ xảy ra các trường
hợp sau đây: Đối tượng phạm pháp quả tang bị bắt ngay tại hiện trường vụ việc xảy ra; có
thể đối tượng đang bị truy nã và tiến hành bắt tại hiện trường; đối tượng xuất hiện và
chính mắt người bị hại xác định đúng là người đã thực hiện hành vi phạm tội...(bắt khẩn
cấp đối tượng tại hiện trường). Kiểm sát viên phải tiến hành kiểm sát chặt chẽ những hoạt
động tiến hành biện pháp ngăn chặn tại hiện trường của Cơ quan điều tra, tạo điều kiện
thuận lợi giúp Cơ quan điều tra thực hiện những công việc trên được thuận lợi đạt hiệu
quả cao. Nhìn chung Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây đã thực hiện đúng những quy
định của pháp luật, cũng như những yêu cầu cụ thể của công việc đặt ra.

2.2.3.3. Kiểm sát chặt chẽ việc khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, vật
chứng

Khi thực hiện kiểm sát hoạt động này, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Hà Tây phải yêu cầu Cơ quan điều tra chấp hành nghiêm chỉnh các quy định tại các
Điều 140 đến Điều 148 Bộ luật tố tụng hình sự và hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân
Tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính về việc bảo quản và giao nhận vật chứng
và tài sản tạm giữ. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh trong quá trình tiến hành
kiểm sát điều tra tại hiện trường phải kiểm sát chặt chẽ, xem xét những hoạt động nào
chưa tiến hành hoặc thực hiện không đúng theo quy định của pháp luật phải yêu cầu Cơ
quan điều tra tiến hành ngay hoặc phải làm lại, sửa chữa những sai phạm kịp thời. Những
vật chứng bị tạm giữ, thu giữ phải tiến hành niêm phong cẩn thận, trước đó Cơ quan điều
tra phải tiến hành lập biên bản xác định trạng thái ban đầu của những dấu vết vật chứng
này, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ việc lập biên bản của Cơ quan điều tra xem có
đúng không, có tỷ mỷ và chi tiết không, có cụ thể không, nếu thấy ghi chung chung yêu
cầu họ ghi cho cụ thể và tỷ mỷ để tránh tình trạng khiếu kiện sau này. Trên thực tế hoạ t
động này thường tiến hành rất qua loa, đại khái, không đầy đủ đúng theo quy định của
pháp luật, việc thu giữ không lập biên bản, sau này những vật đó không có giá trị chứng
minh, hơn nữa nếu sau này chứng minh không liên quan đến tội phạm phải trả lại cho chủ
sở hữu, nhưng do để lâu, khâu bảo quản không tốt, dẫn đến mất, hư hỏng, chủ sở hữu
không nhận đó là tài sản của mình.

2.2.3.4. Kiểm sát việc lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại
Khi đến hiện trường vụ việc mang tính hình sự, Cơ quan điều tra trước khi tiến
hành khám nghiệm hiện trường vụ việc xảy ra, hoặc sau khi tiến hành khám nghiệm thì cần
phải tiến hành lấy lời khai ngay của những người biết việc, như người làm chứng hoặc người
bị hại. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây phải chủ động yêu cầu Cơ quan
điều tra Công an tỉnh phải tiến hành lấy lời khai ngay của những người này, việc lấy lời
khai phải đầy đủ không được bỏ qua bất kỳ một nhân chứng quan trọng nào mà biết rằng
họ nghe thấy, họ nhìn thấy hành vi phạm tội. Đảm bảo cho người bị hại có quyền đưa ra
chứng cứ và những yêu cầu của mình để làm rõ vụ án, nếu có đầy đủ phương tiện kỹ
thuật tại hiện trường thì khi tiến hành lấy lời khai cần cho ghi âm lại, chụp ảnh và lập
biên bản theo quy định tại Điều 67; 68 Bộ luật tố tụng hình sự. Khi kiểm sát việc lập biên
bản trong hoạt động lấy lời khai người làm chứng và người bị hại, Kiểm sát viên phải
kiểm tra việc Điều tra viên có thực hiện đúng những quy định của pháp luật hay không,
có vi phạm gì không, có thiếu sót gì không, phải nhắc nhở kịp thời để họ khắc phục ngay,
đảm bảo giá trị chứng minh của những tài liệu này sau đó.

2.2.3.5. Kiểm sát việc kết thúc khám nghiệm hiện trường

Trong giai đoạn kết thúc khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên chủ trì khám
nghiệm có nhiệm vụ họp các thành viên tham gia, tham dự khám nghiệm hiện trường để
đánh giá kết quả khám nghiệm, thông qua biên bản khám nghiệm hiện trường, các số liệu
cụ thể trên sơ đồ hiện trường vẽ phác họa và rút kinh nghiệm công tác khám nghiệm, ổn
định tình hình hình chính trị nơi tiến hành khám nghiệm.

Sau khi nghe Điều tra viên chủ trì cuộc khám nghiệm đánh giá kết quả khám
nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải đối chiếu nhiệm vụ của công tác khám nghiệm
hiện trường theo quy định của pháp luật với thực trạng của hiện trường khám nghiệm cụ
thể để có ý kiến. Nếu đã phát hiện, thu lượm được đầy đủ các thông tin, dấu vết vật
chứng tồn tại khách quan ở hiện trường thì nhất trí thông qua biên bản khám nghiệm hiện
trường; nếu thấy còn những dấu vết, thông tin quan trọng ở hiện trường chưa phát hiện,
thu lượm được thì phải yêu cầu Điều tra viên chủ trì khám nghiệm tiếp tục tiến hành
khám nghiệm, việc chỉnh lý và bổ sung đó phải có chữ ký xác nhận vào chỗ đã tẩy xóa
hoặc phải lập lại biên bản khám nghiệm khác.

Trước khi thông qua biên bản khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải
nghiên cứu biên bản để xác định nội dung biên bản đã ghi nhận đầy đủ và khách quan các
hoạt động khám nghiệm, các thông tin, dấu vết, vật chứng đã phát hiện, thu thập được
hay chưa. Nếu chưa đảm bảo tính khách quan, toàn diện của biên bản khám nghiệm hiện
trường theo quy định tại các điều 95;125;150 và 154 Bộ luật tố tụng hình sự thì yêu cầu
Điều tra viên chủ trì cuộc khám nghiệm chỉnh lý, bổ sung.

Khi thông qua biên bản khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải đảm bảo
tất cả các nội dung trong biên bản khám nghiệm hiện trường đều được đọc rõ cho tất cả
những người tham gia, tham dự khám nghiệm nghe rõ, trong trường hợp cần thiết có thể
cho từng người đọc biên bản, Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên hoặc tự mình giải
thích cho những người tham gia và tham dự cuộc khám nghiệm biết quyền được bổ sung
và nhận xét vào biên bản, nếu có người yêu cầu sửa chữa hoặc bổ sung vào biên bản thì
Kiểm sát viên phải kiểm tra xem những yêu cầu đó có chính xác và khách quan không,
đồng thời lấy ý kiến của những thành viên khác, nếu họ đều nhất trí và đối chiếu với thực
tế công tác khám nghiệm hiện trường thấy rằng những yêu cầu đó là có cơ sở, khách quan
thì phải chỉnh lý và bổ sung theo yêu cầu của người đó, trong trường hợp này phải viết lại
biên bản khác hoặc lấy chữ ký xác nhận của Điều tra viên, Kiểm sát viên và người chứng
kiến tại nơi có sự chỉnh lý, bổ sung trong biên bản.

Sau khi biên bản khám nghiệm hiện trường được thông qua, mọi người đều nhất
trí thì Kiểm sát viên phải yêu cầu Điều tra viên chủ trì khám nghiệm lấy chữ ký trực tiếp
của những người tham gia, tham dự việc khám nghiệm. Việc ký biên bản khám nghiệm
hiện trường phải được thực hiện ngay tại hiện trường trước khi Hội đồng khám nghiệm
rút khỏi hiện trường.

Cùng với việc thông qua biên bản khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên phải
yêu cầu Điều tra viên thông qua sơ đồ phác họa hiện trường để thống nhất về vị trí các đồ
vật và dấu vết, vật chứng thu được ở hiện trường và mối liên quan giữa chúng ở hiện
trường.

Nhiệm vụ tiếp theo của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây trong
giai đoạn kết thúc cuộc khám nghiệm là phải thống nhất với Điều tra viên chủ trì cuộc
khám nghiệm về các vấn đề cần rút kinh nghiệm trong quá trình khám nghiệm, điều tra
tại hiện trường; thống nhất xác định nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm và các nội
dung cần kiến nghị với các cơ quan chủ quản, chính quyền địa phương nơi xẩy ra vụ việc
để khắc phục những sơ hở thiếu sót làm nảy sinh tội phạm; ổn định tình hình chính trị tại
nơi khám nghiệm hiện trường.

2.2.3.6. Kiểm sát hồ sơ công tác khám nghiệm hiện trường

Hồ sơ công tác khám nghiệm hiện trường gồm có biên bản khám nghiệm hiện
trường, bản ảnh hiện trường và sơ đồ hiện trường. Hồ sơ công tác khám nghiệm hiện
trường trong nội bộ Cơ quan điều tra còn có báo cáo khám nghiệm.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có quy định cụ thể về trách nhiệm của Viện
kiểm sát trong việc cử Kiểm sát viên tham gia giám sát trực tiếp hoạt động khám nghiệm
hiện trường, cho nên ngoài việc kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên
phải có trách nhiệm kiểm sát việc lập hồ sơ công tác khám nghiệm hiện trường.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác kiểm sát việc khám nghiệm
hiện trường của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây là kiểm sát việc lập biên bản và
thông qua biên bản khám nghiệm hiện trường, nếu nhiệm vụ này đã làm tốt theo quy định
đã nêu ở phần trên thì việc kiểm sát hồ sơ công tác khám nghiệm hiện trường chủ yếu là
kiểm sát việc lập sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường xem có đúng theo quy định
của pháp luật hay không, có khách quan như kết quả khám nghiệm không và những vấn
đề đó có thống nhất với nội dung trong biên bản khám nghiệm hiện trường không. Trước
hết, Kiểm sát viên phải kiểm tra, xem xét xem biên bản khám nghiệm hiện trường có
trong hồ sơ có đúng là biên bản được lập và có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham
gia khám nghiệm không.
Yêu cầu đối với hoạt động kiểm sát hồ sơ hiện trường phải đảm bảo: phản ánh
được đầy đủ, khách quan và cụ thể các thông tin, dấu vết, vật chứng ở hiện trường để các
cơ quan tiến hành tố tụng có đầy đủ cơ sở xác định đúng tính chất của vụ việc đã xảy ra,
hình dung đúng diễn biến của hành vi phạm tội, số lượng thủ phạm và đặc điểm của thủ
phạm; có đầy đủ thông tin cần thiết để có thể dựng lại hiện trường, thực nghiệm điều tra,
kiểm tra lời khai, trưng cầu giám định...

Để đảm bảo được những yêu cầu nói trên, Kiểm sát viên phải kiểm sát chặt chẽ,
cụ thể là:

+ Đối với biên bản khám nghiệm hiện trường phải xem xét xem có được lập
đúng theo quy định của pháp luật; việc ghi biên bản phải đầy đủ, khách quan, chính xác,
toàn diện, cụ thể các thông tin, dấu vết tồn tại ở hiện trường, trình bày theo đúng trình tự,
có hệ thống, lôgic, chặt chẽ.

+ Đối với sơ đồ hiện trường có được vẽ đúng theo mẫu quy định, đúng phương
pháp kỹ thuật, theo một tỷ lệ nhất định; phải có đủ các loại sơ đồ (sơ đồ chung hiện
trường; sơ đồ trung tâm hiện trường; sơ đồ từng phần hiện trường; sơ đồ chi tiết hiện
trường).

+ Đối với bản ảnh hiện trường đã được trình bày đúng trình tự như sơ đồ hiện
trường đã thể hiện và biên bản khám nghiệm hiện trường đã mô tả và ghi nhận (ảnh chụp
từ xa đến gần, từ chung đến riêng...); ảnh phải đúng kích cỡ 9 x 12, không để viền trắng
và chụp nổi rõ các đặc điểm dấu vết, đồ vật ở hiện trường. Phải có đủ các loại ảnh hiện
trường (ảnh định hướng hiện trường, ảnh trung tâm hiện trường, ảnh từng phần hiện
trường và ảnh chi tiết hiện trường, có đặt thước tỷ lệ khi chụp ảnh dấu vết vật chứng).

Tuy nhiên, trên thực tiễn hoạt động kiểm sát hồ sơ công tác khám nghiệm hiện
trường của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây còn nhiều bất cập, yếu kém, do Kiểm sát
viên không nắm vững các loại mẫu, các loại sơ đồ hiện trường, các ký hiệu, các tỷ lệ,
kích cỡ khi Điều tra viên vẽ hiện trường; Kiểm sát viên cũng không nắm vững các loại
ảnh cần phải tiến hành chụp tại hiện trường cũng như những yêu cầu về mặt kỹ thuật khi
tiến hành chụp ảnh tại hiện trường nên thường qua loa không để ý xem đã đủ và chính
xác chưa; quá trình tiến hành kiểm sát điều tra tại hiện trường không ghi chép tỷ mỷ, cụ
thể, chi tiết nên việc kiểm sát biên bản khám nghiệm hiện trường gặp rất nhiều lúng túng,
khó khăn, nhiều trường hợp có sai sót mà Kiểm sát viên không phát hiện được. Đây cũng
chính là những sơ hở, yếu kém, những tồn tại trong công tác kiểm sát điều tra tại hiện
trường của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây, đặt ra cần phải nghiên cứu để hoàn
thiện.

2.3. Thực trạng hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm tử thi tại hiện trường
có người chết của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây

Kiểm sát việc khám nghiệm tử thi là nhiệm vụ, quyền hạn và đồng thời là hoạt
động nghiệp vụ của ngành kiểm sát, Kiểm sát viên phải có mặt tiến hành hoạt động kiểm
sát khám nghiệm tử thi để đảm bảo hoạt động này diễn ra đúng theo quy định của pháp
luật.

Công tác kiểm sát việc khám nghiệm tử thi được tiến hành trên cơ sở quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Quy chế của Viện
kiểm sát nhân dân tối cao về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, cụ thể:

- Tại các điều 36;37;113;151 và 154 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Điều 14 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của Cơ quan điều tra và Điều tra viên trong hoạt
động khám nghiệm tử thi để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động này, nhằm
đảm bảo cho việc khám nghiệm được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật. Nhiệm
vụ cụ thể của Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát việc khám nghiệm tử thi đó là:

- Phát hiện những phần việc không làm hoặc làm không đúng theo quy định của
pháp luật, yêu cầu Cơ quan điều tra phải thực hiện đúng.

- Phát hiện những vi phạm pháp luật hoặc tiêu cực trong quá trình khám nghiệm tử
thi và yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục hoặc xử lý nghiêm minh với người vi phạm.
- Kiến nghị với các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội
phạm và vi phạm pháp luật.

2.3.1. Thực trạng hoạt động kiểm sát việc chuẩn bị tiến hành khám nghiệm
tử thi của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây

- Kiểm sát chặt chẽ thành phần tham gia khám nghiệm đảm bảo đúng về số lượng
và các thành viên theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự, thành phần bắt buộc phải có
mặt trong khi khám nghiệm tử thi bao gồm: Điều tra viên (người tiến hành khám
nghiệm), bác sĩ pháp y và người chứng kiến. Kiểm sát viên phải chú ý kiểm tra chức danh
của bác sĩ tham gia khám nghiệm để bảo đảm đúng là bác sĩ pháp y (phân biệt với bác sĩ
thường).

Ngoài ra, còn có trường hợp phải triệu tập thêm người giám định theo yêu cầu
của công tác khám nghiệm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây trong quá
trình kiểm sát hoạt động khám nghiệm tử thi tại hiện trường phải kiểm tra sự cần thiết
phải triệu tập người giám định hay không, nếu thực tiễn cần phải có thì phải đảm bảo
triệu tập đúng giám định viên pháp y.

- Kiểm sát việc chuẩn bị phương tiện, công cụ cho hoạt động khám nghiệm:

Các phương tiện phục vụ khám nghiệm bao gồm các phương tiện nghiệp vụ của
Cơ quan điều tra và các phương tiện chuyên môn nghiệp vụ của bác sĩ pháp y, việc kiểm
sát tốt những vấn đề này nhằm đảm bảo cho hoạt động khám nghiệm diễn ra được thuận
lợi, đạt kết quả cao.

- Kiểm sát về thủ tục pháp lý trong trường hợp cần khai quật tử thi để tiến hành
khám nghiệm:

+ Kiểm sát các quyết định của Cơ quan điều tra;
+ Kiểm sát hoạt động thông báo cho gia đình nạn nhân biết trước khi tiến hành
khai quật tử thi, tránh sự bất bình và sự chống đối ảnh hưởng trực tiếp đến công tác khám
nghiệm.

+ Kiểm sát việc mời giám định viên trong trường hợp cần thiết.

+ Kiểm sát việc có hay không có thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết.
Theo quy định của pháp luật việc khám nghiệm tử thi bắt buộc phải thông báo cho Viện
kiểm sát biết và Viện kiểm sát bắt buộc phải có mặt khi Hội đồng tiến hành khám
nghiệm.

2.3.2. Thực trạng của hoạt động kiểm sát việc tiến hành khám nghiệm tử thi
của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây tiến hành kiểm sát khám nghiệm tử thi tại
hiện trường vụ, việc xảy ra nhằm mục đích:

- Đảm bảo việc khám nghiệm tử thi và khai quật tử thi được tiến hành đúng theo
quy trình của pháp luật.

- Đảm bảo những người tham gia khám nghiệm được thực hiện đúng chức năng,
nhiệm vụ của mình.

- Đảm bảo việc ghi nhận đặc điểm thương tích, dấu vết trên thân thể được khách
quan, chính xác, cụ thể và toàn diện theo đúng trình tự, thủ tục vào biên bản khám
nghiệm.

- Kiểm sát việc thu mẫu vật, bệnh phẩm, phủ tạng, dấu vết từ tử thi để phục vụ
việc khám nghiệm được khách quan, chính xác, toàn diện và cụ thể, đúng trình tự, thủ tục
pháp luật quy định.

2.4. Thực tiễn công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ, việc mang
tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tây

Thực tiễn hoạt động cho thấy, nếu tuân thủ đúng, thực hiện nghiêm túc những
yêu cầu và đòi hỏi của hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường thì hiệu quả hoạt động
rất cao. Nhiều vụ việc xảy ra công tác khám nghiệm hiện tr ường, khám nghiệm tử thi
được tiến hành nhanh chóng, việc khám nghiệm thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật,
thu giữ vật chứng đầy đủ, lấy mẫu vật để giám định như: lông, tóc, máu... thu giữ dấu vân
tay... đã góp phần nhanh chóng và chính xác trong công tác điều tra khám phá án. Ví dụ:
Vụ án tai nạn giao thông xảy ra trên địa bàn huyện Ba Vì - Hà Tây do anh Phương Công
Hùng điều khiển xe công nông vi phạm luật giao thông đường bộ gây tai nạn (hậu quả
chết người), do làm tốt công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
nên Cơ quan điều tra đã nhanh chóng xác định nạn nhân, thông báo ngay cho thân nhân
gia đình, tổ chức khám nghiệm tuân thủ đúng quy định của pháp luật, từ khâu chuẩn bị
khám nghiệm, đến khâu sơ cứu nạn nhân, khoanh vùng hiện trường, định vị hiện trường,
khám nghiệm thu thập dấu vết vật chứng đầy đủ, lập biên bản chính xác, hồ sơ hiện
trường được lập đúng theo quy định của pháp luật, vụ việc đã kết thúc điều tra sau 10
ngày. Thành quả này có được là do đã có sự phối kết hợp chặt chẽ trong hoạt động giữa
Cơ quan điều tra, cơ quan Viện kiểm sát cũng như các bộ phận chức năng. Vụ án tai nạn
giao thông do Nguyễn Văn Thắng điều khiển ô tô, vi phạm luật giao thông gây tai nạn,
hậu quả làm chết một người, ban đầu Thắng không chịu khai nhận hành vi phạm tội của
mình, nhưng bằng những chứng cứ thu thập được qua hoạt động khám nghiệm hiện
trường, với những chứng cứ khác chứng minh, cuối cùng Thắng đã phải cúi đầu nhận tội;
hay như vụ giết người xảy ra trên địa bàn thị xã Sơn Tây, Hà Tây, nạn nhân bị chém chết,
không có người làm chứng, nhưng bằng hoạt động điều tra tại hiện trường, Cơ quan điều
tra đã thu được đầy đủ dấu vết, vật chứng và những tài liệu chứng minh mặc dù không
chịu khai nhận nhưng người phạm tội trước những chứng cứ đầy đủ, chặt chẽ chứng
minh đã phải cúi đầu nhận tội, trong sự thành công đó có sự góp phần không nhỏ của
hoạt động Kiểm sát điều tra tại hiện trường đã giúp vụ án nhanh chóng được khám phá.
Tuy nhiên bên cạnh những thành quả đạt được, thì công tác kiểm sát khám nghiệm hiện
trường còn có một số những sai sót sau đây:

Theo quy định tại Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, thì: trước khi tiến
hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp
biết, để Viện kiểm sát cử Kiểm sát viên tham gia giám sát cuộc khám nghiệm hiện
trường. Thực trạng ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây cho thấy: nhiều vụ án giao
thông do khâu nắm bắt thông tin ban đầu không chính xác, chưa xác định rõ mức độ
thương tích của nạn nhân (có trường hợp tai nạn xảy ra nạn nhân chỉ bị ngã xuống đường,
sau đó được đưa đi bệnh viện cấp cứu và bị tử vong vì chảy máu trong quá nhiều), Cảnh
sát giao thông cho rằng không xảy ra hậu quả nghiêm trọng nên đã tự ý tiến hành khám
nghiệm không có sự tham gia của Điều tra viên, không có sự giám sát của Kiểm sát viên,
việc khám nghiệm đã không đúng thành phần theo quy định của pháp luật, dẫn đến việc
tiến hành khám nghiệm sơ sài, nhiều dấu vết va chạm, cày xước có ý nghĩa quan trọng
đối với vụ án đã bị bỏ qua, không tiến hành thu thập đầy đủ. Sau đó, nạn nhân chết, hoặc
nạn nhân bị thương tích nặng, tỷ lệ thương tích từ 31% trở lên, có dấu hiệu tội phạm Cơ
quan điều tra đã tiến hành khởi tố vụ án, phải dựng lại hiện trường để khám nghiệm,
nhưng tính đầy đủ, tính chân thực của hiện trường không còn nữa vì thời gian, người qua lại,
dấu vết mất đi hoặc tự phá hủy, đã gây khó khăn trong công tác điều tra chứng minh,
nhiều vụ án khởi tố đã phải đình chỉ vì như vậy. Điển hình vụ án tai nạn giao thông xảy
ra vào hồi 21h ngày 21/6/2000, tại km 46+900 xã Thanh Mỹ, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây
đã làm chết 1 người, khi Công an thị xã Sơn Tây phát hiện đã không mời Viện kiểm sát
cùng tham gia khám nghiệm hiện trường, nạn nhân chết không rõ tung tích, nhưng Cơ
quan điều tra đã không cho chụp ảnh nhận diện, lập danh chỉ bản để truy tìm tung tích
nạn nhân. Dẫn đến hậu quả là sau này đã không xử lý được vụ án. Hoặc như vụ tai nạn
giao thông xảy ra hồi 14h ngày 5-7-2002 tại km 214 + 100m quốc lộ 1A thuộc xã Châu
Can, huyện Phú Xuyên giữa xe ô tô con đeo biển số giả KC 32-14 do Bùi Thanh Minh
(21 tuổi) ở Kiến An, Hải Phòng điều khiển hướng Hà Nội - Hà Nam với xe mô tô ngược
chiều biển kiểm soát: 33K1- 66-26 do ông Lê Xuân Đức (61 tuổi) ở thị xã Sơn Tây, Hà
Tây điều khiển. Hậu quả lái xe Đức bị chết và người ngồi sau là ông Tân bị thương nặng.
Lái xe ô tô trình bày là xe ô tô bị nổ lốp trước bên trái nên đã đâm vào xe mô tô đi ngược
chiều, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ việc trên xác nhận: Không thấy có vết răn
lốp để lại trên hiện trường. Sau khi khám nghiệm hiện trường đáng lẽ ra cơ quan Công an
phải cho tháo chiếc lốp xe để bảo quản hoặc cẩu xe về cơ quan, nhưng lại cho xe ô tô
khác kéo xe tai nạn về, nên khi khám nghiệm xe không xác định được việc lốp xe nổ khi
nào, trước khi gây tai nạn hay sau khi gây tai nạn, để còn xác định lỗi của lái xe. Chính vì
thế vụ án đã rất khó giải quyết, gây khiếu kiện dài ngày. Vấn đề Kiểm sát viên đã mắc
một số sai sót khi tiến hành công việc trên như sau: Khi khám nghiệm hiện trường không
thấy vết răn của lốp xe ô tô được đề cập trong biên bản khám nghiệm hiện trường mà
không nêu quan điểm và ý kiến của mình về vấn đề này, thứ hai: không có ý kiến chỉ đạo
về việc thu giữ và xử lý chiếc lốp xe ô tô, khâu kiểm sát không tốt đã gây khó khăn cho
hoạt động điều tra khám phá vụ án sau này.

- Về trình tự, thủ tục cũng có nhiều sai sót, biên bản khám nghiệm hiện trường
không được ghi đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật, vật chứng thu giữ và bảo quản
không tốt, đã để mất mát, hư hỏng, trong biên bản hiện trường khi thu giữ đã không tỷ
mỷ, cẩn thận, nên sau này không xác định được vật chứng thu giữ là của đối tượng nào
trong cùng vụ án, đã phải dựng lại hiện trường, thực nghiệm điều tra, nhưng chúng ta
cũng biết về tính nhạy cảm của hiện trường các vụ án hình sự, dấu vết không bao giờ đợi
chúng ta, chúng ta phải nhanh chóng nắm bắt ngay từ đầu, nếu không cơ hội rất mỏng
manh, không muốn nói là không thể thu thập được nữa. Ví dụ, vụ án: Phùng Văn Nhu bị
khởi tố về tội: "Vi phạm các phương tiện về điều khiển phương tiện giao thông đường
bộ" theo Điều 202 Bộ luật hình sự. Vụ án xảy ra vào khoảng 11h ngày 7/10/2000 tại km
8+500m đường 21A thuộc khu vực ngã ba Đồng Mô, thị xã Sơn Tây, giữa xe công nông
chở cây bạch đàn do Nhu điều khiển với xe gắn máy biển kiểm soát số 98K7-8668 do chị
Lê Thị Ngọc điều khiển, hậu quả chết cháu Hoàng Đức Chính. Quá trình khám nghiệm
hiện trường vụ án này Công an thị xã Sơn Tây đã xác định có các mảnh gương, đèn vỡ để
lại trên hiện trường, nhưng do lúc thu thập vật chứng đã không ghi rõ vào biên bản những
mảnh đó là của xe nào, xe công nông hay xe gắn máy, chính vì vậy sau này dù có cố gắng
dựng lại hiện trường nhưng cũng không thu được kết quả, vụ án đã bị đình chỉ.

Nhiều vụ việc tiến hành khám nghiệm hiện trường Cơ quan điều tra Công an
tỉnh Hà Tây, cũng như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây tham gia kiểm sát điều tra tại
hiện trường cũng có rất nhiều thiếu sót trong quá trình tiến hành công việc, đó là: tiến
hành khám nghiệm hiện trường trong điều kiện không đủ ánh sáng, phải dùng đèn pin và
đèn pha xe ô tô để tiến hành cuộc khám nghiệm, dẫn đến tình trạng bỏ sót quá nhiều dấu
vết trên hiện trường, như vết rê của xe, dấu vết phanh, vết trượt phanh, vết cày xước trên
mặt đường, vết máu của nạn nhân... không thu thập được, không xác định được máu đó
của ai? từ đó không xác định được vị trí nằm của nạn nhân sau khi xảy ra tai nạn. Vụ án:
Chu Đình Hồng là vụ án điển hình của sự bất cẩn, tắc trách trong công tác khám nghiệm
hiện trường trên địa bàn tỉnh Hà Tây.

Nhiều vụ án khám nghiệm hiện trường đã vi phạm rất nhiều các quy định của
pháp luật, như tiến hành lập biên bản thì không xác định rõ ngày tháng năm lập biên bản
khám nghiệm hiện trường; Công an tiến hành khám nghiệm khi thu giữ vật chứng tại
hiện trường đã không xác định rõ nguồn gốc tang vật, do đó sau này không xác định được
lỗi của đương sự, nhiều trường hợp khởi tố sau đó phải đình chỉ. Ví dụ: Vụ án Dương
Hoài Vũ, Vũ Tiến Đỉnh bị công an huyện Phú Xuyên khởi tố và đề nghị truy tố về tội:
"Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" theo Điều 202
Bộ luật hình sự. Kết quả điều tra chứng minh: Tối ngày 27/8/2000 Vũ Tiến Đỉnh mượn
xe WAVE Trung Quốc của anh họ là Vũ Quang Trung cùng với Dương Hoài Vũ đi uống
cà phê. Khi đến quán cà phê Bình Ly ở cạnh quốc lộ 1A, cả bọn rủ nhau đua xe, trong lúc
đua xe khi chạy từ hướng Cầu Dẽ - Hà Nội, khi đến lối rẽ vào tiểu khu Phú Mỹ, thị trấn
Phú Xuyên xe của Dương Hoài Vũ đã va chạm với xe máy SUZUKI do Phạm Đức Bình
điều khiển đã gây tai nạn, hậu quả: Hỏng xe WAVE và xe SUZUKI, Phạm Đức Bình bị
tử thương, công an huyện Phú Xuyên có rất nhiều thiếu sót trong quá trình tiến hành
khám nghiệm hiện trường vụ án trên, như vi phạm về tính hợp pháp trong việc xác lập
biên bản khám nghiệm hiện trường (không ghi rõ ngày tháng lập biên bản), có vi phạm
trong việc thu giữ vật chứng, không lập biên bản thu giữ, không xác định nguồn gốc của
vật chứng, không giám định tang vật thu giữ được... chính vì vậy đã không xác định được
lỗi của những người gây tai nạn cũng như nạn nhân, vụ án đã bị đình chỉ vì không đủ
chứng cứ chứng minh. Nhiều trường hợp Cơ quan điều tra thu giữ vật chứng nhưng
không mô tả tỷ mỷ như: kích cỡ, màu sắc, chủng loại, nhãn hiệu...sau này trao trả lại tài
sản cho các đối tượng họ đều không nhận đó là tài sản của mình bị thu giữ, điển hình của
sự vi phạm này là vụ án "đánh bạc" xảy ra trên địa bàn thị xã Hà đông, tỉnh Hà Tây năm
2004.
Công tác bảo vệ hiện trường không chu đáo hoặc tiến hành khám nghiệm chậm
làm cho hiện trường bị xáo trộn hoặc mất dấu vết, vật chứng không thể khắc phục được
làm cho vụ án đã đi vào bế tắc, phải đình chỉ, thậm chí oan sai, vụ tai nạn giao thông
xảy ra hồi 20h ngày 13/6/2002 tại km 24+900 quốc lộ 1A thuộc địa phận xã Thắng Lợi,
huyện Thường tín, tỉnh Hà Tây giữa xe mô tô Weal không có biển số do Nguyễn V ăn
Luân điều khiển với xe mô tô 31-763-K3 do anh Bùi Đăng Khôi điều khiển hậu quả anh
Khôi bị tử vong. Trong vụ án này, Công an Huyện T hường tín khi tiến hành khám
nghiệm hiện trường có thiếu sót là khi khám nghiệm hiện trường đã bỏ qua biển báo
STOP không thu giữ hoặc không mô tả vào biên bản khám nghiệm từ trong đường nhỏ
chạy ra, đây là tình tiết rất quan trọng để xác định lỗi của Luân khi tham gia giao thông,
nên vụ án sau này phải đình chỉ điều tra.

Nhiều vụ việc xảy ra do khâu nắm bắt thông tin ban đầu không tốt, nhận định
tình hình không chính xác do đó đã không tiến hành khám nghiệm hiện trường, sau này
phải tiến hành khai quật tử thi để khám nghiệm, như vụ án xảy ra trên địa bàn thị xã Sơn
Tây, chị vợ của anh Tâm đang khỏe mạnh đột nhiên lăn ra chết, anh Tâm phao tin chị ta
bị cảm chết, tiến hành mai táng ngay, mặc dù có nhiều thông tin cho rằng nguyên nhân
của cái chết có nhiều điểm đáng ngờ, nhưng cơ quan chức năng đã không vào cuộc,
không xuống hiện trường, không xem xét thi thể nạn nhân, có nhiều trường hợp bị gia
đình chống đối quyết liệt và ngại va chạm hoặc xảy ra những chuyện không hay, Cơ quan
điều tra đã rút lui, sau này khi có nhiều dấu hiệu của tội "giết người" Cơ quan điều tra đã
quyết định khai quật tử thi giám định thì cái chết của chị vợ anh Tâm là do bị đầu độc
chết, nhưng vụ án còn nhiều điểm sai sót đó là khi tiến hành khám xét ngôi nhà cơ quan
chức năng không thu giữ những dấu vết có liên quan đến cái chết của chị vợ anh Tâm,
mặc dù anh Tâm đã nhận tội nhưng hoạt động điều tra ban đầu có quá nhiều thiếu sót
khiến vụ án đã rất khó khăn khi giải quyết.

- Trong những trường hợp vi phạm và sai sót trên, ngoài những trường hợp Cơ
quan điều tra tiến hành khám nghiệm không đúng thành phần, không thông báo cho Viện
kiểm sát tỉnh Hà Tây tham gia kiểm sát khám nghiệm, thậm chí chỉ có Cảnh sát giao
thông khám nghiệm mà không có Điều tra viên, thì những vụ việc khám nghiệm hiện
trường có sai phạm, thiếu sót khác có sự kiểm sát khám nghiệm tại sao vẫn có sự vi phạm
như vậy; thực chất của hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường như thế nào. Qua
khảo sát và những số liệu cung cấp cho thấy: Kiểm sát viên khi tham gia khám nghiệm
hiện trường còn thụ động, nặng về chứng kiến những hoạt động của Điều tra viên và
giám định viên. Khi kiểm sát khám nghiệm thì kiểm sát qua loa, chiếu lệ, không phát
hiện được những sai sót của Hội đồng khám nghiệm, hoặc có phát hiện ra nhưng không
đấu tranh khắc phục, xuê xoa, xuôi chiều với Điều tra viên, thậm chí còn đồng tình với
những thiếu sót của Điều tra viên, như: lập biên bản không chính xác, tẩy xóa, thêm bớt
tùy tiện, nhưng Kiểm sát viên vẫn ký vào biên bản cho xong, đây là hiện tượng gì? Tắc
trách trong công tác hay không biết sai sót nên vẫn ký? Theo quan điểm của chúng tôi, cả
hai hiện tượng trên cùng xuất hiện. Do đến hiện trường nhưng Kiểm sát viên Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Hà Tây không nắm bắt được tình hình ban đầu của diễn biến sự việc
nên khi kiểm sát khám nghiệm tại hiện trường còn rất lúng túng, bị động, không xác định
được phạm vi, trình tự việc tiến hành khám nghiệm hiện trường, nên đã để xảy ra nhiều
thiếu sót trong công tác khám nghiệm, như: thu thập dấu vết vật chứng không đầy đủ; vẽ
sơ đồ hiện trường không được chính xác; không lấy mẫu vật để trưng cầu giám định;
không niêm phong vật chứng, dấu vết nên đã gây nhiều khó khăn cho hoạt động điều tra
khám phá án, có vụ dẫn đến oan sai.

Nguyên nhân dẫn đến những sai sót, tồn tại trong công tác kiểm sát khám
nghiệm hiện trường

- Công tác quản lý tin báo của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây nhìn chung
còn nhiều tồn tại, bất cập, luôn ở thế bị động, phụ thuộc vào sự thông báo của Cơ quan
điều tra, chưa có biện pháp chủ động nắm thông tin tội phạm. Vì vậy, các vụ việc cần
khám nghiệm hiện trường thường do Cơ quan điều tra thông báo mới biết, nên việc cử
cán bộ tham gia khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi luôn bị động, lúng túng.

- Năng lực, trình độ, kinh nghiệm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Hà Tây tham gia khám nghiệm không đồng đều, chưa được đào tạo chuyên môn sâu,
chưa được tập huấn bồi dưỡng về kỹ năng kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám
nghiệm tử thi, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ còn yếu, chưa nắm vững nên chưa đáp
ứng được yêu cầu nhiệm vụ, còn để xảy ra nhiều sai sót, vi phạm trong quá trình khám
nghiệm mà không phát hiện được hoặc phát hiện nhưng không dám đấu tranh yêu cầu cơ
quan và Hội đồng khám nghiệm khắc phục ngay những sai sót đó.

- Một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều sai sót trong khâu vẽ sơ đồ hiện
trường, lập biên bản khám nghiệm, thu thập dấu vết không đầy đủ đó là: trang bị cơ sở
vật chất của ngành còn thiếu, chưa được quan tâm đúng mức, không có máy ảnh, máy ghi
hình, ghi âm như Cơ quan điều tra, do đó không lấy gì để kiểm tra tính chính xác và tính
khách quan của những hoạt động đó. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây
trong quá trình kiểm sát điều tra tại hiện trường đã không ghi chép tỷ mỷ, mô tả tỷ chi
tiết, đầy đủ mọi dấu vết vật chứng, cũng như diễn biến của toàn bộ quá trình khám
nghiệm, những phần việc đã đã tiến hành khám nghiệm. Một phần do công cụ hỗ trợ
công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường của ngành không có, hơn nữa việc Kiểm sát
viên đến hiện trường kiểm sát điều tra tại hiện trường ghi chép không đầy đủ, không chi
tiết, không tỷ mỷ, sau này không có tài liệu đối chiếu so sánh với những tài liệu của Cơ
quan điều tra, nên rất khó đánh giá chính xác chứng cứ thu thập được. Đó cũng là thực
trạng của công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ, việc mang tính hình sự trên
địa bàn tỉnh Hà Tây.

2.5. Nhận xét về ưu, nhược điểm của hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện
trường của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây và nguyên nhân

2.5.1. Những ưu điểm của hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường những
vụ, việc mang tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tây

- Về công tác quản lý chỉ đạo điều hành của lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Hà Tây. Nhìn chung lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân trên địa bàn tỉnh Hà Tây đã có
sự nhìn nhận đúng đắn về tầm quan trọng của công tác điều tra tại hiện trường, do đó đã
điều động những cán bộ có năng lực tham gia kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện
trường, đảm bảo công tác khám nghiệm hiện trường được tiến hành nhanh chóng và đạt
hiệu quả cao. Trong bài kết luận của đồng chí Hà Mạnh Trí, ủy viên Trung ương Đảng,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hội nghị triển khai công tác Ngành Kiểm
sát nhân dân năm 2005 có đoạn:

Về kiểm sát khám nghiệm hiện trường: Vấn đề khám nghiệm hiện
trường là vấn đề cực kỳ quan trọng. Vì vậy Viện kiểm sát phải thực sự quan
tâm đến vấn đề này. Kinh nghiệm cho thấy, nhiều vụ án rất khó khăn trong
việc xử lý đều là do không làm tốt công tác khám nghiệm hiện trường. Chỉ thị
công tác năm 2005 có nêu: đối với những vụ án không quả tang, những vụ án
vi phạm về các quy định về an toàn giao thông gây hậu quả chết người thì
Lãnh đạo Viện phải tự mình hoặc cử Kiểm sát viên có năng lực trực tiếp tiến
hành hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường. Như vậy, lãnh đạo Viện
kiểm sát hay Kiểm sát viên trực tiếp tham gia khám nghiệm hiện trường là do
Viện trưởng quyết định tùy thuộc vào tính chất phức tạp của từng vụ án. Các
Viện kiểm sát phải tổ chức trực nghiệp vụ, thống nhất với Cơ quan điều tra là
khi có những việc cần khám nghiệm hiện trường thì đều phải báo cho Viện
kiểm sát, nếu báo cho bộ phận trực nghiệp vụ không được thì phải báo cho
Viện trưởng bằng điện thoại và Viện trưởng phải giải quyết ngay. Chúng ta
không nên quan niệm rằng, Cơ quan điều tra chỉ cử Điều tra viên đi khám
nghiệm hiện trường thì Viện kiểm sát cũng chỉ cử Kiểm sát viên đi kiểm sát
khám nghiệm hiện trường, việc kiểm sát khám nghiệm hiện trường để bảo đảm
việc giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật [51].

- Về nhận thức chung trong công tác của mỗi Kiểm sát viên khi được phân công
kiểm sát điều tra tại hiện trường: có trách nhiệm trong công việc, có năng lực, có phẩm
chất, nắm bắt được quy trình và những phần công việc phải tiến hành. Nhiều Kiểm sát
viên khi tiến hành hoạt động kiểm sát khám nghiệm hiện trường đã phát huy hết khả năng
và trách nhiệm của mình, kiên quyết đấu tranh với những hoạt động không đúng, nhắc
nhở khắc phục những sai sót kịp thời, chỉ đạo công tác khám nghiệm rất tốt.

- Hiệu quả và những thành tích đạt được khi tham gia vào hoạt động kiểm sát
điều tra tại hiện trường, đó là những vụ án hình sự được khám phá nhờ công tác truy
nguyên dấu vết trong hoạt động khám nghiệm hiện trường, thành quả điều tra khám phá
án từ công tác khám nghiệm hiện trường đạt hiệu quả 70% đến 75% số vụ mang tính hình
sự khởi tố cần tiến hành khám nghiệm xảy ra trên địa bàn Tỉnh Hà Tây.

2.5.2. Những hạn chế của công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường các vụ,
việc mang tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tây

Một là: Nhận thức về công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường của lãnh đạo
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây nhìn chung còn chưa đúng, còn coi nhẹ công tác này,
cho rằng có mặt cho đúng thủ tục, nên lãnh đạo đã cắt cử những cán bộ kiểm sát, hoặc
những Kiểm sát viên trình độ hạn chế tiến hành công việc. Cũng có thể do khâu tiếp nhận
tin báo ban đầu không đầy đủ nên nhận định tình hình không chính xác, cho rằng vụ việc
giản đơn không cần phải có Kiểm sát viên tham gia kiểm sát khám nghiệm, nên có nhiều
vụ việc khám nghiệm hiện trường nhưng không có Kiểm sát viên tham gia là do lãnh đạo
Viện kiểm sát không cắt cử. Việc nhận thức không đúng, điều hành công việc không có
trách nhiệm nên đã ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của công tác, cũng như ảnh hưởng
đến vị trí, vai trò tầm quan trọng của Kiểm sát viên tại hiện trường, đôi khi có nhiều Điều
tra viên đã nói: ông biết gì mà phát biểu...hoặc nhờ luôn Kiểm sát viên tham gia một số
công việc, đây là những việc không đúng, nhưng do trình độ hạn chế, nên Kiểm sát viên
vẫn vui vẻ tham gia, quên đi phần việc của mình là kiểm sát tất cả những hoạt động trong
việc điều tra tại hiện trường.

Hai là: Kiểm sát viên VKS nhân dân tỉnh Hà Tây đến hiện trường còn mang tính
hình thức, không phát huy tính chủ động, sáng tạo trong công việc, thậm chí nhiều Kiểm
sát viên không nắm bắt được quy trình tiến hành, cũng như không biết về phương pháp,
thủ tục, cách thức khám nghiệm, không nắm được cách thức lập biên bản có đúng không,
hoàn toàn mang tính thụ động đi theo, nên thường đứng một bên chờ kết thúc khám
nghiệm rồi ký vào biên bản, có những Kiểm sát viên còn ký vào phần của người chứng
kiến...biên bản lập không đúng trình tự và quy định của pháp luật cũng ký, biên bản tẩy
xóa cũng ký, biên bản không ghi rõ ngày, tháng lập, ai lập cũng ký, sự cẩu thả và tắc
trách trong công tác có thể do không coi trọng công việc mình làm, có thể do không nắm
được các quy định của pháp luật để yêu cầu Cơ quan điều tra làm cho đúng, nên đã dẫn
tới thực trạng trên. Nhiều Điều tra viên còn cho rằng Kiểm sát viên đến chỉ mang tính
hình thức, thà đừng đến còn hơn, hoặc không cần có hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện
trường để đỡ phải có thủ tục thông báo cho Viện kiểm sát.

Ba là: Quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tây và các cơ
quan chuyên môn khác và với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây cũng như quan hệ
phối hợp giữa Viện kiểm sát cấp trên và cấp dưới trong một số trường hợp chưa được tốt,
nên có nhiều trường hợp vụ việc không được báo kịp thời cho Viện kiểm sát có thẩm
quyền để tiến hành kiểm sát cuộc khám nghiệm hoặc có thông báo nhưng chậm nên nhiều
khi đến hiện trường thì vụ, việc đã được khám nghiệm xong hoặc đang tiến hành, do đó
kết quả hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường rất hạn chế.

Bốn là: Theo quy định của pháp luật thì Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hà Tây
trong quá trình tiến hành điều tra tại hiện trường thì có chức năng: chủ trì cuộc khám
nghiệm hiện trường, nhưng trên thực tiễn cơ quan này trong nhiều trường hợp đã mời
không đúng thành phần Hội đồng khám nghiệm, mời các nhà chuyên môn không đúng
chức năng của họ nên hiệu quả công tác khám nghiệm thu thập dấu vết rất hạn chế,
nhưng Kiểm sát viên không nắm được thành phần nên không có ý kiến, bỏ qua nhiều dấu
vết, sai sót khi tiến hành công việc, sau này rất mất thời gian để dựng lại hiện trường
khám nghiệm lại, hiệu quả không được cao vì dấu vết luôn thay đổi không chờ đợi các cơ
quan chức năng được.

2.5.3. Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém trong công tác kiểm
sát điều tra tại hiện trường của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây

2.5.3.1. Những nguyên nhân khách quan

Một là: Tính bất cập trong quy định của pháp luật

Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự 2003 mới ra đời thay thế Bộ luật tố tụng hình sự
cũ, nhưng những quy định về công tác khám nghiệm hiện trường vẫn còn nhiều bất cập.
Thứ nhất, tại Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về việc khám nghiệm hiện
trường "nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm" trong khi đó nhiều vụ việc xảy ra muốn
khẳng định có dấu hiệu tội phạm hay không phải tiến hành khám nghiệm mới kết luận
được, đây là một quy định bất hợp lý cần phải sửa đổi lại cho phù hợp. Thứ hai, tại Điều
150 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: chủ trì khám nghiệm hiện trường là Điều tra viên,
trong khi đó nhiều vụ việc xảy ra không có Điều tra viên tiến hành mà vẫn đúng theo quy
định của pháp luật, như: những vụ việc xảy ra thuộc thẩm quyền của các Cơ quan Hải
quan; Kiểm lâm; Bộ đội biên phòng... theo quy định tại khoản 4 Điều 111 Bộ luật tố tụng
hình sự thì mọi hoạt động của những cơ quan này tiến hành theo quy định tại Pháp lệnh
tổ chức điều tra hình sự, những cơ quan này có quyền khám nghiệm hiện trường theo quy
định của pháp luật, như vậy chủ trì khám nghiệm hiện trường không chỉ là Điều tra viên,
cần bổ sung điều luật này cho phù hợp với những quy định của pháp luật. Thứ ba, đối với
những vụ tai nạn giao thông gây hậu quả nghiêm trọng, theo quy định của Pháp lệnh tổ
chức điều tra hình sự, người tiến hành khám nghiệm là Cảnh sát giao thông, hiện nay
Quy chế nghiệp vụ Công an nhân dân có quy định trong những trường hợp đó phải phối
hợp với Điều tra viên tiến hành khám nghiệm và trong những vụ có Điều tra viên khám
nghiệm thì phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng tham gia kiểm sát khám nghiệm hiện
trường, nhưng trên thực tiễn có nhiều trường hợp hậu quả nghiêm trọng chưa xảy ra ngay
mà mãi sau đó mới xảy ra, Cảnh sát giao thông tiến hành khám nghiệm không có cơ quan
chuyên môn, cho nên việc khám nghiệm không đầy đủ, thiếu sót nhiều, sau này khắc
phục rất khó khăn, thậm chí không thể khắc phục được. Quy chế này chỉ có giá trị trong
ngành Công an, chính vì vậy còn nhiều khó khăn khi vận dụng trên thực tiễn công tác,
thiết nghĩ điều luật cũng phải có quy định lại cho phù hợp, nếu trước mắt chưa thể khắc
phục ngay được, thì cần phải có thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành chung, đảm bảo sự
phối kết hợp trong công tác giữa Cơ quan điều tra và cơ quan Viện kiểm sát. Thứ tư, việc
quy định có sự tham gia của Viện kiểm sát để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường:
"Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường", quy định này
vẫn còn mang tính chất "mở" mặc dù luật quy định "phải có mặt" nhưng không mang tính
bắt buộc "mọi trường hợp" do vậy có nhiều vụ việc tiến hành khám nghiệm mà không có
sự giám sát của cơ quan Viện kiểm sát mà vẫn không phải thuộc trường hợp vi phạm
nghiêm trong thủ tục tố tụng, thiết nghĩ điều luật này cũng phải có quy định ràng buộc
chặt chẽ hơn để Viện kiểm sát phải tham gia kiểm sát trực tiếp các vụ khám nghiệm
100%.

Hai là: Đội ngũ Kiểm sát viên trên địa bàn toàn tỉnh Hà Tây quá mỏng

Theo số liệu phản ánh về cơ cấu tổ chức bộ máy trên địa bàn toàn tỉnh Hà Tây, số
lượng Kiểm sát viên có năng lực làm được việc có thể tiếp cận giải quyết công việc theo
quy định của ngành chiếm tỷ lệ không được nhiều, nhiều địa phương chỉ có vài Kiểm sát
viên trong một cơ quan, mà khối lượng công việc phải đảm nhiệm, phải tiến hành cũng
không giảm, họ phải xé nhỏ ra để làm hàng loạt những phần việc khác nhau vì không có
người đảm nhiệm, việc làm này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng công
việc, không tập trung cho chuyên môn, chính vì vậy nhiều khi có thông báo về vụ việc
cần tiến hành khám nghiệm mà không cử nổi người đến tham gia vì không có người. Đây
cũng là một trong những khó khăn, bất cập trong công tác của Viện kiểm sát tỉnh Hà Tây.

Ba là: Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác còn nhiều khó khăn

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây không được trang bị công cụ,
phương tiện kỹ thuật để có thể tiến hành và thông qua đó kiểm sát việc chân thực của các
Điều tra viên khi tiến hành công việc.

Về phương tiện đi lại: Ngành chưa trang bị đầy đủ cho các Viện kiểm sát các địa
phương các phương tiện để kịp thời đến hiện trường cho kịp thời gian quy định; khi tiến
hành kiểm sát khám nghiệm Kiểm sát viên VKS nhân dân tỉnh Hà Tây đến hiện trường
không được trang bị những công cụ hỗ trợ như: máy ảnh, máy ghi âm, ghi hình... do đó
chỉ kiểm sát đơn điệu, nếu không ghi chép tỷ mỷ khó có cơ sở vững chắc để so sánh và
đối chiếu, sau này nếu phát hiện không đúng cũng không có cơ sở, không có căn cứ
chứng minh, đối chiếu, việc ghi chép cũng không bao quát toàn diện được. Đây cũng là
một trong những vấn đề quan trọng đặt ra đối với ngành trong việc đầu tư trang thiết bị
đầy đủ trong công tác cho Kiểm sát viên khi tiến hành kiểm sát điều tra tại hiện trường.
2.5.3.2. Những nguyên nhân chủ quan

- Nhận thức về tầm quan trọng về hoạt động kiểm sát điều ta tại hiện trường của
lãnh đạo Viện kiểm sát đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý chỉ đạo điều hành công
việc.

Do việc quản lý tin báo về tội phạm của Viện kiểm sát không được tốt, nên có rất
nhiều vụ việc mang tính hình sự xảy ra trên địa bàn toàn tỉnh Hà Tây mà các Viện kiểm
sát địa phương không nắm bắt được đầy đủ, kịp thời, do đó khi nhận được thông báo của
Cơ quan điều tra có vụ khám nghiệm xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Tây, lãnh đạo Viện kiểm
sát đã phân công, cử những cán bộ năng lực còn hạn chế, không có chức danh pháp lý đi
kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi nên chất lượng kiểm sát cũng
như kết quả công tác khám nghiệm hiện trường không cao, không thể hiện được chức
năng, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác khám nghiệm hiện trường, khám
nghiệm tử thi.

Một số cán bộ lãnh đạo của Viện kiểm sát cấp huyện do chưa có nhận thức đúng
đắn về tầm quan trọng của công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, nên
vẫn còn để xảy ra hiện tượng đây đó còn có sự đùn đẩy, ỷ lại vào Viện kiểm sát nhân dân cấp
trên. Ngược lại, nhiều vụ việc xảy ra thuộc thẩm quyền khám nghiệm của cấp trên, nhưng do
cấp dưới không báo cáo kịp thời hoặc không báo cáo mà tự mình tiến hành khám nghiệm
dẫn đến nhiều vụ việc tình trạng thiếu sót xảy ra rất nhiều, làm cho những vụ việc sau này
giải quyết kéo dài, thậm chí khám nghiệm đi khám nghiệm lại mà hiệu quả không cao,
nhiều trường hợp dẫn đến oan sai, bỏ lọt hoặc nhiều vụ phải đình chỉ vì không có căn cứ
kết luận chính xác, gây ra tình trạng khiếu kiện kéo dài, vụ việc giải quyết không được
triệt để, chính xác, mất lòng tin trong nhân dân.

- Trình độ của đội ngũ Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây
còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa thật ngang tầm để đáp ứng nổi những yêu cầu của Bộ
Chính trị đặt ra trong tình hình hiện nay. Qua số liệu thống kê về trình độ, năng lực của
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân trên toàn địa bàn tỉnh Hà Tây cho thấy: còn nhiều
bất cập, số lượng còn ít, trình độ chủ yếu là tốt nghiệp Cao đẳng Kiểm sát, Trung cấp
Kiểm sát, trình độ Cử nhân, Thạc sĩ chiếm một tỷ lệ quá thấp, qua đó cho chúng ta thấy
một hiện trạng và năng lực cán bộ Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây là
một trong những vấn đề cần được quan tâm hơn nữa trong việc đào tạo, nâng cao trình độ
cho đội ngũ này. Đa số Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây chưa được đào
tạo chuyên môn sâu, cũng như tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng kiểm sát khám nghiệm
hiện trường, khám nghiệm tử thi, kiến thức khoa học về kỹ thuật hình sự, về pháp y còn
yếu chưa đáp ứng được những yêu cầu về nghiệp vụ trong công tác đặt ra. Nhìn chung,
đội ngũ này tiến hành hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi chủ yếu
dựa vào kinh nghiệm thực tiễn trong công tác, nhưng kinh nghiệm của đội ngũ Kiểm sát
viên trên địa bàn tỉnh Hà Tây cũng không được đồng đều, khi tham gia kiểm sát khám
nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi nhiều cán bộ, Kiểm sát viên trong công tác
thường bị động, lúng túng, thiếu tự tin nên không phát hiện được những thiếu sót, những
vi phạm pháp luật trong hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi.

Tinh thần trách nhiệm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây khi
tham gia khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi chưa được cao, còn nhiều cán
bộ, Kiểm sát viên ngại khó, ngại khổ trong công tác, sợ bẩn, làm qua loa đại khái hoặc cả
nể, né tránh, ngại va chạm mất lòng... đây là những nguyên nhân quan trọng đã dẫn đến
những sai sót nghiêm trọng trong hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử
thi trong thời gian qua, những sai sót này nhiều khi không thể khắc phục hoặc việc khắc
phục phải kéo dài thời gian, làm cho vụ án kéo dài, giảm uy tín của các cơ quan tiến hành
tố tụng.

Trình độ, năng lực nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm của Kiểm sát viên luôn
luôn đóng vai trò quyết định đến chất lượng công tác kiểm sát nói chung và chất lượng
công tác kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi nói riêng. Nhìn chung,
lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây trong thời gian qua đã chú trọng nâng cao
chất lượng của đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên trên địa bàn toàn tỉnh, do đó trình độ năng
lực Kiểm sát viên trên địa bàn toàn tỉnh đã được nâng lên một bước đáng kể. Đa số Kiểm
sát viên đã được đào tạo cơ bản, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn được đúc rút qua nhiều
năm tháng công tác.
- Nhận thức về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác của các Kiểm
sát viên còn chưa đúng, nên không phát huy hết trách nhiệm.

Do không thấy được tầm quan trọng của công việc, nhiều Kiểm sát viên được
phân công kiểm sát điều tra tại hiện trường đến hiện trường cho đủ, mang tính hình thức,
không xác định được vị trí, vai trò và trách nhiệm của mình, nên không làm theo đúng
quy định của pháp luật, đứng một nơi chờ khám nghiệm xong thì ký vào biên bản, khi kỹ
cũng không xem nội dung phản ánh trong biên bản như thế nào, quy trình tiến hành khám
nghiệm ra sao, có sai sót hay vi phạm gì không, có bỏ qua chi tiết nào trong hoạt động
khám nghiệm không, thành phần là những ai có đúng theo quy định của pháp luật
không... đều không biết và không để ý, có Kiểm sát viên cũng tham gia luôn vào công tác
khám nghiệm như đo đạc kích cỡ, cầm thước tỷ lệ để Điều tra viên chụp ảnh hiện trường,
không biết trách nhiệm của mình đến hiện trường để làm những phần việc gì, phải ghi
chép tỷ mỷ để về báo cáo hoặc đó là tài liệu sau này đối chiếu so sánh với biên bản do Cơ
quan điều tra xác lập chuyển sang, vì không làm tốt trách nhiệm nên đã không thể có tài
liệu so sánh, đối chiếu với những kết quả trên.

Những nguyên nhân trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của công tác
kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi trong thời gian vừa qua của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây. Việc khắc phục những nguyên nhân trên sẽ tạo điều kiện
để nâng cao chất lượng của công tác này.

Kết Luận CHƯƠNG 2

Trong chương 2 chúng tôi đã trình bày một cách một cách khái quát nhất về thực
trạng của công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ, việc mang tính hình sự trên
địa bàn tỉnh Hà Tây. Với các số liệu khảo sát thực tiễn, cơ cấu tổ chức bộ máy của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh, tác giả đã đánh giá về thực trạng công tác kiểm sát điều tra tại hiện
trường những vụ, việc mang tính hình sự, rút ra được những mặt đã làm được, những vấn
đề còn sơ hở, bất cập trong công tác, rút ra được những nguyên nhân khách quan và
những nguyên nhân chủ quan dẫn đến những tình trạng trên. Từ đó để tác giả đưa ra
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác có tính thuyết phục.
Chương 3

Một Số Giải Pháp Nhằm NÂNG CAO Hiệu Quả
Của Hoạt Động Kiểm Sát Điều TRA Tại Hiện Trường
Các Vụ, Việc MANG Tính Hình Sự TRÊN Địa Bàn Tỉnh Hà TÂY



3.1. Dự báo tình hình tội phạm diễn ra trong thời gian tới trên địa bàn tỉnh
Hà Tây và những yêu cầu đặt ra đối với Viện kiểm sát nhân dân trong công tác
kiểm sát điều tra tại hiện trường

3.1.1. Dự báo về tình hình diễn biến của tội phạm trong thời gian tới

Hà Tây là một tỉnh tiếp giáp với Hòa Bình, Hưng yên..., là cửa ngõ Thủ đô Hà
Nội, đây là tuyến đường trung chuyển làm ăn, buôn bán, thông thương với nhiều tỉnh bạn
và nơi đây được hội tụ nhiều danh lam thắng cảnh, nên hàng năm đã thu hút nhiều khách
du lịch trong và ngoài nước đến với Hà Tây. Hòa nhập với tinh thần hội nhập và xu thế
toàn cầu hóa trên các mặt, các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, nền kinh tế Hà Tây có
nhiều khởi sắc mới, song bên cạnh đó nhiều vấn đề nhức nhối đang đặt ra đối với toàn
tỉnh đó là tình trạng phạm tội xảy ra rất nhiều, số vụ phạm pháp ngày một gia tăng cả về
số lượng lẫn tính chất phức tạp của nó, đặc biệt tội phạm liên tỉnh, tội phạm có yếu tố
nước ngoài đã xuất hiện ngày một nhiều trên địa bàn tỉnh Hà Tây, mật độ lưu lượng
người ngày một lớn trong khi đó hệ thống cơ sở vật chất như: giao thông, biển báo, cọc
tiêu, đèn chiếu mặc dù đã được tỉnh quan tâm đầu tư, song còn nhiều hạn chế, bất cập,
chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình hiện nay. Đó là một trong những nguyên nhân
gây ra số vụ tai nạn giao thông nhiều, chiếm tỷ lệ 73,7% số vụ, việc xảy ra hàng năm.

Số liệu thống kê hàng năm diễn biến tình hình phạm tội trên các lĩnh vực của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây (Phụ lục - Bảng thống kê số 3).

Theo số liệu thống kê về số vụ việc xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Tây cần tiến hành
khám nghiệm, thấy: trong những năm tới số vụ tai nạn giao thông không thuyên giảm mà
có chiều hướng ngày một gia tăng, có tính chất nghiêm trọng hơn, dù lãnh đạo tỉnh cũng
như các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức
pháp luật, song nhìn chung số vụ tai nạn giao thông xảy ra vẫn nhiều. Vì vậy, cần có kế
hoạch, mục tiêu, chiến lược giảm thiểu số vụ tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh trong
những năm tới. Song nhìn bảng thống kê cho thấy, tuy số vụ tai nạn giao thông xảy ra rất
nhiều, nhưng số vụ được khởi tố chiếm tỷ lệ rất thấp, đòi hỏi cần nâng cao chất lượng
công tác điều tra tại hiện trường nhiều hơn nữa, tránh tình trạng án khởi tố phải đình chỉ
nhiều như phần thực trạng chúng tôi đã đề cập, phân tích.

Tội phạm về kinh tế có diễn biến tương đối ổn định, không có chiều hướng tăng,
nhưng không thuyên giảm, cho thấy vấn đề kinh tế trên địa bàn tỉnh Hà Tây ngày càng
phức tạp, nhất là án tranh chấp đất đai.

Loại tội phạm trong lĩnh vực trật tự an toàn xã hội cũng có diễn biến phức tạp, so
với năm 2001, năm 2002 và 2003 loại án này có chiều hướng thuyên giảm, song sang
năm 2004 lại gia tăng, cho thấy trong những năm tới loại án này không giảm mà có chiều
hướng gia tăng, đặc biệt qua khảo sát cho thấy tính chất, mức độ hậu quả ngày càng
nghiêm trọng. Đặc biệt, loại tội giết người xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Tây từ năm 2000
đến tháng 6/2005 tương đối lớn, nhiều vụ giết người bằng vũ khí nóng như: súng, đạn,
giết người, cướp của, giết người bằng thuốc chuột (cả gia đình ngộ độc nhưng cấp cứu
kịp thời nên không có thiệt hại về người xảy ra), có vụ chồng giết vợ và chôn xác ngoài
vườn bằng việc cho uống thuốc chuột rất thương tâm; có vụ do mâu thuẫn nhỏ mà các em
học sinh đã giết nhau; có vụ do chơi bời không có tiền trả nợ nên đã cắt đứt cổ gái làm
tiền; có vụ giết người đốt xác phi tang giả hiện trường vụ cháy nổ; tình trạng giết người
do dùng điện chống trộm hiện nay xảy ra khá phổ biến ở các vùng nông thôn trên địa bàn
tỉnh Hà Tây; giết người do thanh toán lẫn nhau... Theo diễn biến tình hình tội phạm thống
kê số vụ xảy ra trên địa bàn tỉnh, thì trong những năm tới số vụ giết người sẽ không
thuyên giảm, tuy nhiên chỉ dao động trong con số xấp xỉ của những năm qua.

Tội cố ý gây thương tích trên địa bàn tỉnh Hà Tây qua số liệu thống kê tình trạng tội
phạm này đang có chiều hướng gia tăng và việc giải quyết cũng gặp nhiều phức tạp trên
thực tiễn. Theo diễn biến tình hình có thể loại tội phạm này sẽ không những không giảm
mà có chiều hướng ngày càng tăng.

Loại tội phạm ma túy cũng có chiều hướng gia tăng, không thuyên giảm, năm sau
vượt trội so với năm trước. Số người nghiện trên địa bàn Hà Tây ngày một tăng (năm sau
nhiều hơn năm trước), tính chất loại tội phạm này ngày càng nghiêm trọng, có những vụ
buôn bán trái phép với số lượng rất lớn 20 bánh, với một đường dây có sự câu kết chặt
chẽ của hơn 20 người, gây nên một hiện tượng lo lắng, nhức nhối đối với các cơ quan
chức năng, dự báo trong thời gian tới loại tội phạm này ngày một gia tăng, với thủ đoạn
ngày một tinh vi, xảo quyệt hơn.

Về các tội phạm khác: Vẫn giữ ở con số bình ổn, dao động trong số vụ thống kê.

3.1.2. Những yêu cầu cụ thể đặt ra đối với Viện kiểm sát nhằm nâng cao hiệu
quả trong công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ việc mang tính hình
sự xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Tây

- Nắm vững, thực hiện đầy đủ các yêu cầu, nội dung và tác nghiệp của hoạt động
kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ việc mang tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà
Tây.

Đòi hỏi mỗi Kiểm sát viên khi được phân công tham gia kiểm sát điều tra tại hiện
trường phải nắm vững những quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục, cách thức tiến
hành cũng như những vấn đề phát sinh cần giải quyết. Mặt khác, Kiểm sát viên phải nắm
vững những quy định trong Quy chế nghiệp vụ ngành, có kỹ năng kiểm sát cũng như
phương pháp kiểm sát khoa học, trách nhiệm trong công việc cao, bảo đảm hoàn thành
tốt những nhiệm vụ được giao phó.

- Thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền trong hoạt động.

Kiểm sát viên phải nắm vững chức năng khi tiến hành hoạt động, trong giai đoạn
điều tra vụ án Kiểm sát viên được phân công giải quyết vụ án có hai chức năng: thực
hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, trong hoạt động điều tra tại hiện
trường Kiểm sát viên có chức năng kiểm sát điều tra tại hiện trường. Đòi hỏi Kiểm sát
viên phải nắm vững những quy định của pháp luật cũng như những quy định của ngành
trong quá trình tiến hành kiểm sát hoạt động này, như: việc bảo vệ hiện trường vụ việc
xảy ra như thế nào; vụ, việc thuộc thẩm quyền khám nghiệm của cấp nào; thành phần khám
nghiệm có đúng theo quy định của pháp luật không; phương pháp và cách thức tiến hành
khám nghiệm có đúng theo quy định của pháp luật không; trong những trường hợp có tử thi
thì thành phần phải có những ai; trong trường hợp phải trưng cầu giám định thì vấn đề
này giải quyết như thế nào...

Công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường nhằm đảm bảo hoạt động này tiến hành
đúng theo quy định của pháp luật, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện, điều
tra và xử lý kịp thời, không bỏ lọt tội phạm không làm oan người vô tội. Việc điều tra
được tiến hành khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật. Những vi phạm
pháp luật trong quá trình tiến hành điều tra đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm
minh, việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật.

- Bảo đảm nhanh chóng, khẩn trương khi tiến hành các hoạt động theo quy định
của pháp luật.

Hiện trường là nơi để lại dấu vết vật chứng, cũng là nơi mà dấu vết vật chứng dễ
bị tiêu hủy và mất mát, mất đi tính nguyên vẹn ban đầu, vì nhiều lý do khác nhau, như:
do tự tiêu hủy, do thời tiết, khí hậu, do con người...nên sau khi tiếp cận hiện trường cần
nhanh chóng bảo vệ và thành lập Hội đồng khám nghiệm hiện trường để tiến hành khám
nghiệm và Viện kiểm sát phải nhanh chóng cử Kiểm sát viên tham gia cuộc khám nghiệm
để đảm bảo hoạt động điều tra tại hiện trường diễn ra nhanh chóng, đầy đủ, đúng theo
quy định của pháp luật. Để đáp ứng được yêu cầu trên khi công tác chuẩn bị được thực
hiện chu đáo, chuẩn bị tốt về lực lượng khám nghiệm; chuẩn bị chu đáo về phương tiện,
kỹ thuật hỗ trợ cho cuộc khám nghiệm, thực hiện đầy đủ, chu đáo công tác bảo vệ hiện
trường.

3.2. Giải pháp cụ thể
3.2.1. Hoàn thiện những quy định trong pháp luật tố tụng hình sự về kiểm
sát điều tra tại hiện trường, nhằm nâng cao mối quan hệ phối hợp trong công tác
giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra

- Sửa Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự cho phù hợp với diễn biến tình hình vụ
việc xảy ra trên thực tiễn cần phải tiến hành khám nghiệm. Cần quy định như sau:

Khoản 1 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định: "Điều tra viên tiến hành
khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm nhằm phát hiện dấu vết của tội phạm, vật
chứng làm sáng tỏ các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án"

Nên sửa: "Điều tra viên tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện những
vụ, việc mang tính hình sự nhằm phát hiện dấu vết, vật chứng và làm sáng tỏ các tình tiết
đối với vụ, việc mang tính hình sự đó.

Trong trường hợp những vụ việc mang tính hình sự xảy ra trong lĩnh vực quản lý
của các cơ quan như: Hải quan; Kiểm lâm; Bộ đội biên phòng; Lực lượng Cảnh sát biển;
một số cơ quan khác của Lực lượng Cảnh sát nhân dân và Công an nhân dân, thì những
cơ quan này sẽ tiến hành khám nghiệm hiện trường theo quy định của pháp luật".

Tại khoản 2 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định:

Khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi khởi tố vụ án
hình sự. Trong mọi trường hợp, trước khi tiến hành khám nghiệm, Điều tra
viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết. Kiểm sát viên phải có
mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường. Khi khám nghiệm, phải có
người chứng kiến; có thể để cho bị can, người bị hại, người làm chứng và mời
nhà chuyên môn tham dự cuộc khám nghiệm.

Cần có quy định lại khoản 2 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự để ràng buộc trách
nhiệm của Viện kiểm sát đối với công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường chặt chẽ hơn,
như sau: "Khám nghiệm hiện trường có thể tiến hành trước khi khởi tố vụ án hình sự.
Trong mọi trường hợp, trước khi tiến hành khám nghiệm, Điều tra viên cũng như những
cán bộ khám nghiệm thuộc các cơ quan khác không phải là Cơ quan điều tra tiến hành
khám nghiệm phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết và Kiểm sát viên phải có
mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường...".

Tại khoản 3 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định:

Khi khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên tiến hành chụp ảnh, vẽ sơ
đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình, thu lượm và xem xét tại chỗ dấu
vết của tội phạm, đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án; ghi rõ kết quả xem
xét vào biên bản khám nghiệm hiện trường.

Trong trường hợp không thể xem xét ngay được thì đồ vật và tài liệu
thu giữ phải được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong đưa về nơi
tiến hành điều tra.

Cần quy định lại khoản 3 Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự như sau: "Khi khám
nghiệm hiện trường, Điều tra viên cũng như những cán bộ khác chủ trì khám nghiệm
phải tiến hành chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình, thu lượm và
xem xét tại chỗ dấu vết của tội phạm, đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án; ghi rõ kết
quả xem xét vào biên bản khám nghiệm hiện trường.

Trong trường hợp không thể xem xét ngay được thì đồ vật và tài liệu thu giữ phải
được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong đưa về nơi tiến hành điều tra".

- Cần có quy định về mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát và các cơ quan
khác không phải là Cơ quan điều tra nhưng được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra ban đầu, như: Hải quan; Kiểm lâm; Cảnh sát biển; Bộ đội biên phòng; một
số cơ quan khác trong lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, để mọi vụ, việc
hình sự xảy ra đều phải có hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường. Như phần trên tác
giả đã trình bày nên sửa Điều 150 Bộ luật tố tụng hình sự cho phù hợp với những quy
định chung của pháp luật, tuy nhiên trước mắt cần có Quy chế phối hợp bằng hình thức
ban hành thông tư liên ngành giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra về mối quan hệ
phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra và những cơ quan khác không phải là
Cơ quan điều tra nhưng được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, để
những hoạt động này diễn ra nhịp nhàng, phối hợp tốt. Hiện nay chỉ có Quy chế ngành
Công an có quy định về hoạt động phối hợp giữa các cơ quan khác trong Công an nhân
dân khi tiến hành những hoạt động theo quy định của pháp luật, nhưng chưa có Thông tư
liên ngành quy định phối hợp này, do đó trên thực tiễn gặp rất nhiều khó khăn trong hoạt
động phối hợp giải quyết vụ, việc xảy ra. Đặc biệt, đối với các cơ quan như: Hải quan;
Kiểm lâm; Bộ đội biên phòng; Lực lượng Cảnh sát biển thì không có một hướng dẫn nào
quy định về hoạt động phối hợp trong công tác điều tra ban đầu của những cơ quan này
với Viện kiểm sát đặc biệt là hoạt động khám nghiệm hiện trường, do đó, nhiều vụ việc
xảy ra trong hoạt động quản lý của họ và những cơ quan này khởi tố vụ án, tiến hành hoạt
động khám nghiệm hiện trường không thông báo cho Viện kiểm sát cùng tham gia cũng
không sai luật. Phức tạp hơn nếu sau này người bị hại hoặc gia đình bị can, bị can... có
khiếu nại về kết quả điều tra ban đầu không chính xác rất khó khăn giải quyết, vì những
hoạt động tố tụng đó không có hoạt động kiểm sát điều tra.

- Cần có quy định cụ thể về thành lập Hội đồng khám nghiệm hiện trường hay
lực lượng khám nghiệm hiện trường để thống nhất cách gọi cho chính xác, trong luật chỉ
quy định chung chung về thành phần khám nghiệm hiện trường gồm có:..., tại Quy chế số
57 Bộ Công an về phân công phối hợp khám nghiệm hiện trường trong các lực lượng
trong Công an nhân dân thì gọi là Hội đồng khám nghiệm, vậy luật nên có quy định để
thống nhất cách gọi cho chính xác. Theo tác giả nên gọi là Hội đồng khám nghiệm hiện
trường, đảm bảo tính hợp pháp của việc thành lập Hội đồng, quyết định thành lập Hội
đồng.

3.2.2 Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy, quy chế làm việc cũng như sự phối
hợp trong công tác giữa Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây với Cơ quan điều tra
và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra

Sau khi sát nhập các phòng nghiệp vụ: phòng Thực hành quyền công tố kiểm sát
điều tra án ma túy; phòng Thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra án trị an; phòng
Thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra án kinh tế; phòng Thực hành quyền công tố
kiểm sát điều tra án an ninh, thành một phòng: Phòng Thực hành quyền công tố, kiểm sát
điều tra và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, với phương châm thu gọn đầu mối. Đây là chủ
trương của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Song thời gian qua thực trạng hoạt động của
phòng này cho thấy việc điều hành công việc quá lớn tập trung vào một người (trưởng
phòng), do đó Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây sau một năm thực thi mô hình tổ chức
mới cho thấy hiệu quả công việc không cao, một người phải giải quyết quá nhiều việc,
nên theo chủ trương của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, phòng Thực hành quyền công tố
kiểm sát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự lại tách ra thành các phòng chức năng nhỏ để dễ
điều hành phần công việc theo sự phân loại trên. Tuy nhiên, để công việc diễn ra được
thuận lợi, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây cần có quy chế làm việc cũng như sự phân
công phối hợp trong công tác, làm như thế nào để Viện kiểm sát không bị động trong
hoạt động nắm bắt thông tin ban đầu; khi có sự việc xảy ra luôn có sự thông báo kịp thời
của Viện kiểm sát cấp dưới lên cấp trên để kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh
cũng như nhận được sự chỉ đạo của cấp trên khi tiến hành giải quyết vụ việc. Điều quan
trọng không được để tình trạng không có Kiểm sát viên tham gia kiểm sát điều tra tại
hiện trường những vụ việc mang tính hình sự. Để làm tốt được khâu này cần chú ý một
số vấn đề sau: Hà Tây là một tỉnh liền kề với thủ đô Hà Nội, có nhiều danh lam thắng
cảnh nổi tiếng trong và ngoài nước, hòa cùng xu hướng chung trong thời gian tới hội
nhập, hợp tác, mở cửa làm ăn với các nước trên thế giới và trong khu vực, tình hình tội
phạm sẽ có chiều hướng diễn biến ngày càng phức tạp, tai nạn, tệ nạn, án về trật tự xã hội
sẽ có chiều hướng gia tăng cả về vụ việc và tính chất nghiêm trọng của nó. Do vậy đòi
hỏi phải có một lực lượng hùng hậu trong cơ cấu tổ chức bộ máy Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Hà Tây để đáp ứng kịp thời những yêu cầu đặt ra trong tình hình mới, thứ nhất: phải
tăng thêm biên chế cho đội ngũ Kiểm sát viên Viện kiểm sát tỉnh Hà Tây, hiện nay số
lượng đội ngũ này trên địa bàn tỉnh Hà Tây quá mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu; thứ
hai: nâng cao trình độ cho đội ngũ này bằng hình thức tiếp tục học tập, rèn luyện nâng
cao trình độ; thứ ba: Tập huấn chuyên sâu thường xuyên nắm bắt được những quy định
của pháp luật để đào tạo một đội ngũ giỏi về luật, giỏi về thực tiễn, yêu ngành, yêu nghề,
tâm huyết với công tác.
Cần xây dựng được quy chế làm việc cũng như quy chế về sự phối hợp hoạt động
giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra cũng như các cơ quan khác được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra, để thực hiện được yêu cầu này cần chú ý những vấn
đề sau đây:

- Trên cơ sở những mối quan hệ sẵn có, cần xây dựng và củng cố mối quan hệ
chặt chẽ, gắn bó giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra, cũng như các cơ quan khác
không phải là Cơ quan điều tra nhưng được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra ban đầu, đối với địa bàn tỉnh Hà Tây, hàng năm án giao thông chiếm tỷ lệ 73,7%
tổng số án các loại, do đó cần xây dựng mối quan hệ với lực lượng Cảnh sát giao thông
để nắm bắt và nhận tin báo được kịp thời.

- Các đơn vị kiểm sát thông qua họp liên ngành, họp giao ban với Cơ quan điều
tra cùng cấp, cần bàn bạc, thống nhất các quy định về việc cung cấp thông tin cần thiết,
đảm bảo tất cả các vụ việc trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm
tử thi, đều được Cơ quan điều tra thông báo kịp thời cho Viện kiểm sát và Viện kiểm sát
có đủ thời gian tham gia kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi.

- Trong quan hệ phối hợp giữa những người tiến hành khám nghiệm và hoạt động
kiểm sát khám nghiệm, Kiểm sát viên và Điều tra viên cũng như các thành viên tham gia
khám nghiệm khác cần xây dựng mối quan hệ dân chủ trong việc bàn bạc cách thức,
phương pháp khám nghiệm trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và vì trách nhiệm chung.

- Các vụ việc khi mới xảy ra thường do các cơ sở nắm thông tin ban đầu, nhận
được tin báo của Cơ quan điều tra cùng cấp, nhưng xác định cấp nào tiến hành khám
nghiệm cũng như đòi hỏi những thành phần nào, nhà chuyên môn có tiêu chuẩn như thế
nào cùng tham gia khám nghiệm là chưa rõ, chưa xác định ngay được. Do đó, Viện kiểm
sát cùng cấp cần cử ngay Kiểm sát viên có mặt kịp thời tại hiện trường vụ, việc xảy ra,
ngay từ đầu phải nắm bắt được thông tin, đánh giá chuẩn xác được tình hình, báo cáo kịp
thời với lãnh đạo Viện kiểm sát để nhận được sự chỉ đạo nhanh chóng, kịp thời, chính
xác.
- Đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, sau khi nắm được thông tin ban đầu,
cần kiểm tra các nguồn thông tin qua Cơ quan điều tra cùng cấp, và Viện kiểm sát cấp
huyện, chủ động trao đổi với Cơ quan điều tra cùng cấp để mời đúng thành phần và các
nhà chuyên môn tham gia khám nghiệm; chủ động đề nghị với Cơ quan điều tra, chính
quyền địa phương điều động những phương tiện, công cụ cần thiết cho hoạt động khám
nghiệm (như: tàu, thuyền, phương tiện trục vớt, cứu hộ...) tránh hiện tượng hoạt động
khám nghiệm phải dãn cách vì phương tiện kỹ thuật hỗ trợ không đầy đủ.

- Có thể lập quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin trong những vụ việc xảy ra cần tổ
chức khám nghiệm và phải có Kiểm sát viên tham gia như sau:



Trực ban




Lãnh đạo
Viện kiểm sát
Báo cáo thường xuyên
Chỉ đạo thường xuyên




Phân công
Tin báo
kiểm sát viên, cán bộ
(Cơ quan điều tra)
Viện kiểm sát




Hiện trường

- Muốn nâng cao chất lượng công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường, Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Hà Tây cần xây dựng quy chế quản lý chỉ đạo điều hành thích hợp,
muốn thực hiện tốt thì phải có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, giao nhiệm vụ cụ thể
trên cơ sở nắm bắt thông tin ban đầu về vụ, việc xảy ra, lãnh đạo Viện kiểm sát tỉnh cần
phân công Kiểm sát viên thực hiện công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường phù hợp với
khả năng của Kiểm sát viên và tính chất của công việc đó.
- Lãnh đạo Viện kiểm sát cần có sự chỉ đạo thường xuyên, bám sát với hoạt động
tại hiện trường của Kiểm sát viên, kiểm tra việc thực hiện công việc của Kiểm sát viên
được phân công, bố trí phương tiện, điều kiện thuận lợi để Kiểm sát viên đến hiện trường
nhanh, đảm bảo công tác kiểm sát đạt hiệu quả. Kiểm sát viên phải báo cáo thường xuyên
để nhận được sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo Viện kiểm sát, sau cuộc khám nghiệm Kiểm
sát viên phải có trách nhiệm báo cáo chi tiết, tỷ mỷ tiến trình và kết quả cuộc khám nghiệm.

- Phát động phong trào thi đua trong toàn đơn vị về thành tích công tác, có khen
thưởng, nêu gương những cán bộ, Kiểm sát viên có tinh thần trách nhiệm với công việc
cao, có năng lực và giải quyết công việc nhanh chóng, hiệu quả.

- Trên cơ sở những nội dung cần tiến hành như trên, theo quan điểm của chúng
tôi Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây cần phối hợp với Cơ quan điều tra, cũng như một
số cơ quan khác không phải Cơ quan điều tra, được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra ban đầu theo quy định của pháp luật, cùng họp bàn, thống nhất, đưa ra quy
chế chung trong công tác phối hợp hoạt động điều tra tại hiện trường những vụ, việc
mang tính hình sự xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Tây. Muốn làm được việc này, chúng tôi
mạnh dạn đưa ra một quy trình các bước tiến hành như sau:

Thứ nhất: Phải thành lập một ban, trong ban này gồm có: Các chuyên gia đại
diện cho các cơ quan Viện kiểm sát; Cơ quan điều tra; các cơ quan chức năng khác trên
địa bàn tỉnh Hà Tây

Thứ hai: chúng tôi mạnh dạn đưa ra cơ cấu, nội dung của quy chế như sau:

Về cơ cấu: gồm 3 chương

Chương I. Những quy định chung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, phạm vi
công tác và trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị, Kiểm sát viên, Điều tra viên và những cán
bộ có chức trách khác.

Chương II. Nội dung về quy chế phối hợp, chế ước giữa Viện kiểm sát nhân dân,
Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra, trong hoạt động điều tra tại hiện trường và kiểm sát điều tra tại hiện trường
những vụ, việc mang tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tây.

Chương III. Quản lý, chỉ đạo, điều hành công tác điều tra, kiểm sát điều tra tại
hiện trường những vụ, việc mang tính hình sự trên địa bàn tỉnh Hà Tây

Sau khi thống nhất đưa ra được quy chế chung trong công tác, các đơn vị trên địa
bàn tỉnh Hà Tây phải tiến hành những hoạt động theo quy định trong quy chế (nội dung
trong quy chế không được trái với quy định của pháp luật).

3.2.3. Hoàn thiện về phương pháp kiểm sát hoạt động điều tra tại hiệ n
trường

Kiểm sát viên muốn làm tốt hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường cần có một
phương pháp kiểm sát khoa học, làm sao mọi hoạt động diễn ra Kiểm sát viên phải bao
quát được toàn bộ, từ đó có sự chỉ đạo và yêu cầu kịp thời với những hoạt động không
đúng theo quy định của pháp luật. Muốn làm được việc này cần tiến hành theo những
bước sau đây:

Thứ nhất: Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi,
Kiểm sát viên phải yêu cầu Cơ quan điều tra làm tốt công tác bảo vệ hiện trường và thông
báo những thông tin liên quan đến việc cần khám nghiệm, kết quả điều tra xác minh ban
đầu về những tình tiết liên quan đến hiện trường, cụ thể:

- Yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, cụ thể yêu cầu
Điều tra viên chủ trì khám nghiệm phải nói sơ qua về sự việc diễn ra để Kiểm sát viên
nắm bắt được sơ bộ về vụ việc.

- Yêu cầu Cơ quan điều tra phải xác định rõ: ai là người đã phát hiện đầu tiên
hiện trường, phát hiện trong điều kiện, hoàn cảnh nào, mối quan hệ của người phát hiện
với hiện trường (tử thi), công tác bảo vệ hiện trường được tiến hành khi nào, hiện trường
có còn nguyên vẹn hay đã bị xáo trộn. Thông báo về việc giải quyết những vấn đề phát
sinh tại hiện trường đã được tiến hành, việc cấp cứu nạn nhân, sự di chuyển đồ vật, tại
sao lại có sự xáo trộn đó, những vùng nào xáo trộn để xác định và lý giải những vấn đề
sau này xảy ra, như tại sao mất dấu vết, tại sao xuất hiện nhiều dấu vết lạ tại hiện trường
ở những chỗ đó.

- Đối với những vụ án tai nạn giao thông cần xác định rõ: không gian, thời gian
xảy ra tai nạn, chiều hướng tham gia giao thông của các phương tiện, đặc điểm về thời
tiết, tình trạng mặt đường, tư thế nạn nhân nằm. Khi tiến hành khám nghiệm hiện tr ường
những vụ tai nạn giao thông, Điều tra viên, Kiểm sát viên cần phải xác định được vị trí
của các phương tiện, vị trí nằm của nạn nhân, chiều hướng chuyển động của các phương
tiện giao thông trước đó. Vị trí, kích cỡ của các vết phanh, vết dầu máy, các mảnh vỡ của
phương tiện, vết trượt dài, vết cày xước. Các dấu vết đó phải xác định là những dấu vết mới
và có liên quan đến hiện trường vụ khám nghiệm, việc vẽ sơ đồ phải đảm bảo yếu tố chính
xác đặc biệt là các số đo, có như vậy mới xác định được lỗi của các chủ phương tiện khi
tham gia giao thông, đối với những phương tiện tham gia giao thông cần khám nghiệm,
thì không được kéo về, lái về nơi cần khám nghiệm mà phải cẩu về khám nghiệm mới
chính xác.

- Khi tiến hành khám nghiệm hiện trường các vụ án ma túy, Kiểm sát viên cũng
như Điều tra viên cần chú ý những nội dung cơ bản sau đây:

Đối với hiện trường là nơi sản xuất trái phép các chất ma túy cần mô tả toàn bộ
địa điểm sản xuất trái phép chất ma túy, những công cụ, ph ương tiện sản xuất, các chất
ma túy, nguyên liệu để sản xuất, quy trình sản xuất từ giai đoạn đầu đến giai đoạn kết
thúc ra thành phẩm. Cần chú ý phát hiện thu thập những công cụ, phương tiện sản xuất
trái phép các chất ma túy...

Đối với hiện trường là nơi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cần mô tả kỹ địa
điểm nơi xảy ra tội phạm, những công cụ, phương tiện để dùng chất ma túy ở hiện trường
như: tẩu, những dụng cụ tiêm chích, các chất ma túy, những sái thuốc phiện...

- Đối với hiện trường có người chết cần phải xác định rõ: nguyên nhân chết, tình
trạng nạn nhân khi đến hiện trường, tư thế nạn nhân, đặc điểm nạn nhân. Việc xác định
những tình tiết ban đầu để truy tìm tung tích nạn nhân, những dấu vết trên thân thể nạn
nhân, những dấu vết tại hiện trường sẽ giúp Cơ quan điều tra truy tìm hung thủ theo dấu
vết nóng, đặc biệt phải thu giữ đầy đủ mọi dấu vết vật chứng xuất hiện tại hiện trường,
như lông, tóc, sợi, máu, dấu vết đường vân..., khi mô tả vào biên bản phải mô tả tỷ mỷ,
cụ thể, chi tiết, khách quan từng loại dấu vết...sau này giúp Cơ quan điều tra truy nguyên
công cụ, phương tiện phạm tội, truy tìm hung thủ gây án.

Việc nắm chắc những thông tin ban đầu này sẽ giúp Kiểm sát viên định hướng
trước cho mình về nội dung, phương pháp cũng như phạm vi công tác khám nghiệm hiện
trường để hoạt động này đạt kết quả cao. Muốn hoạt động điều tra tại hiện trường đạt kết
quả cao trước khi Hội đồng khám nghiệm bắt tay vào khám nghiệm, Kiểm sát viên phải
trao đổi trước với Điều tra viên những vấn đề cần thu thập, làm rõ, chứng minh để thống
nhất về phương pháp và cách thức tiến hành khám nghiệm để đạt hiệu quả tốt nhất.

Mỗi loại vụ việc khác nhau sẽ có những vấn đề cần lưu ý khác nhau, đòi hỏi
Kiểm sát viên trước hết phải nắm vững những quy định của pháp luật, nắm vững nguyên
lý hình thành dấu vết vật chứng và dấu vết đặc trưng đối với mỗi loại hiện trường cụ thể.

Ngay từ đầu Kiểm sát viên đến hiện trường phải kiểm tra ngay về tư cách pháp lý
của các thành viên trong Hội đồng khám nghiệm cũng như những người được tham gia
vào cuộc khám nghiệm (đại diện chính quyền địa phương, người chứng kiến...) đảm bảo
thành phần khám nghiệm đúng theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp thành
phần không đầy đủ, không đúng kiên quyết yêu cầu Cơ quan điều tra triệu tập đầy đủ và
đúng thành phần mới tiến hành khám nghiệm và mới ký nhận vào biên bản khám nghiệm,
phải kiên quyết và dứt khoát trong những trường hợp như vậy, sau này không phải làm
lại, vừa mất thời gian, dấu vết không còn nguyên vẹn, thậm chí có nhiều trường hợp
không thể khắc phục được.

Thứ hai: Khi tiến hành kiểm sát điều tra tại hiện trường, Kiểm sát viên cần kiểm
sát chặt chẽ hoạt động của những thành viên tham gia trong Hội đồng khám nghiệm, kịp
thời phát hiện những thiếu sót để yêu cầu khắc phục ngay, quá trình Hội đồng tiến hành
thu thập dấu vết vật chứng tại hiện trường cũng như tiến hành những hoạt động điều tra
khác tại hiện trường phải đảm bảo tính hợp pháp và tính có căn cứ khi tiến hành những
hoạt động đó, những vùng nào cần phải chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả chi tiết tỷ mỷ, chính
xác trong biên bản, những mẫu vật nào phải thu giữ, niêm phong... thì Kiểm sát viên cần
yêu cầu Hội đồng khám nghiệm hiện trường tiến hành ngay.

Một trong những hoạt động điều tra tại hiện trường không thể thiếu đó là công
tác lấy lời khai của người bị hại hoặc của những người biết việc, cần giám sát chặt chẽ
hoạt động này, yêu cầu Điều tra viên thực hiện đầy đủ mọi hoạt động trên, lập biên bản
và có chữ ký đầy đủ, không viết tẩy xóa hoặc chồng chéo, nếu phát hiện có hiện tượng
này thì Kiểm sát viên cần yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục bằng việc ký vào chỗ đó
hoặc lập lại biên bản theo đúng quy định của pháp luật, nếu thực hiện không đúng, những
thông tin này không có giá trị chứng minh.

Kiểm sát viên cần có cuốn sổ tay theo dõi ghi chép tỷ mỷ toàn bộ diễn biến tại
hiện trường, tình hình hiện trường để đảm bảo hoạt động nghiên cứu, đối chiếu sau này.
Việc ghi chép còn có ý nghĩa rất lớn đối với Kiểm sát viên sau này có tài liệu báo cáo
lãnh đạo Viện kiểm sát về kết quả của công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường.

Thứ ba: trước khi ký nhận Kiểm sát viên cần kiểm tra các vấn đề sau đây, hình
thức biên bản có được lập đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự không; nội
dung biên bản có phản ánh đầy đủ, khách quan, toàn diện kết quả khám nghiệm hiện
trường không, như: quá trình tiến hành, những dấu vết, vật chứng thu thập được, thành
phần gồm những ai, thủ tục tiến hành như thế nào; biên bản phải được lập tại chỗ và phải
được các thành viên trong Hội đồng khám nghiệm thông qua và ký xác nhận. Những chỗ
nào nội dung trong biên bản phản ánh còn thiếu, chưa đúng, thì Kiểm sát viên phải yêu
cầu bổ sung ngay. Sau khi tiến hành hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường, Kiểm sát
viên phải báo cáo kết quả hoạt động với lãnh đạo Viện kiểm sát cũng như thảo văn bản gửi
cấp trên để có hướng dẫn và chỉ đạo nghiệp vụ kịp thời.

3.2.4. Nâng cao trình độ đội ngũ Kiểm sát viên trên địa bàn tỉnh Hà Tây

- Phải xây dựng được kỹ năng kiểm sát khám nghiệm hiện trường cho mỗi Kiểm
sát viên khi tiến hành công việc. Để làm được việc này cụ thể phải tiến hành những vấn
đề sau đây:
Thứ nhất: Muốn thực hiện tốt công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường, trước hết
phải đào tạo cho mỗi Kiểm sát viên nắm vững quy trình tiến hành những công việc điều
tra tại hiện trường của Cơ quan điều tra. Kiểm sát viên kiểm sát điều tra tại hiện trường
mà không nắm được quy trình tiến hành của Cơ quan điều tra thì không thể kiểm sát
được, do đó những trường hợp này nếu có tiến hành thì mang tính hình thức, thủ tục
không có hiệu quả.

Thứ hai: Muốn nắm được quy trình tiến hành điều tra tại hiện trường của Cơ
quan điều tra, cần có hoạt động tập huấn chuyên sâu cho các cán bộ, Kiểm sát viên trong
ngành kiểm sát về lĩnh vực này, việc học tập có thể tiến hành trong thời lượng khoảng hai
tuần cho mỗi đợt tập huấn, công việc này phải được chú trọng và tiến hành thường xuyên.

Thứ ba: Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần quan tâm thường xuyên đến hoạt
động tổng kết, đúc rút kinh nghiệm về công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường thông
qua những vụ án phức tạp, nghiêm trọng, từ đó rút kinh nghiệm với toàn đơn vị khi tiến
hành kiểm sát điều tra tại hiện trường, nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Thông qua công tác
đúc rút kinh nghiệm lãnh đạo Viện kiểm sát phải chỉ ra những phần công việc đã thực
hiện tốt, những gì còn non kém chưa đạt yêu cầu, nguyên nhân của hiện trạng đó, có
những nhận định chung về một số loại hiện trường cụ thể, như với hiện trường vụ án giao
thông cần chú ý những vấn đề gì, hiện trường vụ trộm cắp cần chú ý những điểm gì, hiện
trường vụ án ma túy cần quan tâm đến những dấu vết gì, hiện trường cháy nổ cần chú ý
những gì, hiện trường vụ giết người cần tập trung chú ý những khía cạnh và những vấn
đề gì... để cán bộ, Kiểm sát viên trong đơn vị tích lũy kiến thức cho mình trong công tác,
nhằm đạt hiệu quả công việc được cao. Một trong những vấn đề quan trọng đặt ra đối với
Viện kiểm sát cấp trên đó là cần quan tâm hơn nữa đến công tác quản lý, chỉ đạo nghiệp
vụ công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường cho các Viện kiểm sát địa phương, trước hết
là tổng kết rút kinh nghiệm, hướng dẫn hoạt động cho các Viện kiểm sát địa phương.
Thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo khoa học về công tác kiểm sát điều tra tại hiện
trường, giúp các Viện kiểm sát địa phương học hỏi những kinh nghiệm của nhau, cũng
như thông qua cuộc hội thảo đó tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác ở
từng địa phương, nhất là những vùng khó khăn, hiểm trở trong công tác kiểm sát điều tra
tại hiện trường. Cũng thông qua những cuộc hội thảo đó, Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp
trên, cũng như các phòng nghiệp vụ sẽ tổng kết lại, để hướng dẫn giải quyết chung cho
các đơn vị khi tiến hành gặp phải những khó khăn, vướng mắc trên thực tiễn.

Thứ tư: Chú ý bồi dưỡng, xây dựng một số chuyên gia giỏi trong lĩnh vực kiểm
sát điều tra tại hiện trường, bằng hình thức đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu về kỹ năng
kiểm sát điều tra tại hiện trường, đội ngũ này sẽ làm nòng cốt trong việc đào tạo tại chỗ
về công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường cho đơn vị.

- Đào tạo đội ngũ Kiểm sát viên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trau
dồi kiến thức, khiêm tốn, cầu thị luôn có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, tâm
huyết nghề và có đạo đức nghề nghiệp cao. Đối với những Kiểm sát viên được phân công
kiểm sát điều tra tại hiện trường, công việc này thường gặp nhiều khó khăn, vất vả, có
những vụ khám nghiệm trong đêm tối, trời rét, có những vụ xác chết để lâu đã thối rữa,
hôi thối, có những trường hợp khai quật tử thi để tiến hành khám nghiệm, có những vụ
các con nghiện xốc thuốc chết, không loại trừ có con nghiện mắc bệnh truyền nhiễm. Đòi
hỏi tinh thần tận tụy với công việc, trách nhiệm của bản thân với công việc mới có thể có
trách nhiệm hết mình trong những vụ việc như vậy xảy ra cần tiến hành khám nghiệm.

Cùng với sự phát triển mạnh như vũ bão trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội ở
nước ta hiện nay, trình độ khoa học kỹ thuật ngày một cao, một mặt giúp kinh tế khởi
sắc, xong bên cạnh đó là hàng loạt các vấn đề nan giải đặt ra như một thách thức mới đối
với tỉnh Hà Tây, đó là: tình hình tội phạm diễn biến hết sức phức tạp, phương thức thủ
đoạn phạm tội ngày một tinh vi xảo quyệt, trong khi đó năng lực của Kiểm sát viên còn
nhiều hạn chế, về khoa học kỹ thuật nắm chưa vững nên lúng túng trước những hoạt động
cụ thể trong công tác. Mỗi Kiểm sát viên phải luôn trau dồi nâng cao trình độ hiểu biết về
khoa học kỹ thuật, nắm vững những văn bản pháp luật liên quan phục vụ cho công tác.
Muốn vậy phải không ngừng học tập, cầu thị, khiêm tốn học hỏi.

- Đòi hỏi đội ngũ Kiểm sát viên phải nắm vững kiến thức pháp luật, trình độ
nghiệp vụ thông thạo để tiến hành những hoạt động trên có hiệu quả.
Bất kể hoạt động nào cũng vậy, muốn thực hiện tốt công tác, đầu tiên đòi hỏi mỗi
Kiểm sát viên phải nắm vững kiến thức pháp luật, tinh thông nghiệp vụ. Các Viện kiểm
sát địa phương phải thường xuyên trau dồi kiến thức pháp luật trong đơn vị mình, đảm
bảo đội ngũ Kiểm sát viên nắm chắc, nắm đầy đủ những quy định của pháp luật về chức
năng, nhiệm vụ, cách thức, quy trình tiến hành mỗi phần công việc cụ thể, có như vậy
mới đảm bảo tính có căn cứ và tính hợp pháp trong từng hoạt động, những tài liệu thu
thập được mới bảo đảm giá trị chứng minh và hiệu quả công việc mới cao. Tiến tới làm
sao từng đơn vị Viện kiểm sát phải xây dựng được đội ngũ Kiểm sát viên giỏi để thực
hiện tốt hoạt động chỉ đạo điều tra, đáp ứng yêu cầu mới hiện nay. Muốn vậy bộ phận
Văn phòng cần tổng hợp những tài liệu tổng kết công tác kiểm sát hàng năm của Viện
kiểm sát nhân dân tối cao (của các phòng nghiệp vụ), tổng hợp những văn bản, chỉ thị của
Lãnh đạo Viện kiểm sát, thông tư liên tịch, nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao... tổ chức phòng đọc cho các cán bộ, Kiểm sát viên trong
đơn vị, thường xuyên sinh hoạt phổ biến những thông tin, kiến thức mới để tránh hiện
tượng có hướng dẫn mà không biết, nên giải quyết không đúng, không chính xác.

3.2.5. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác kiểm
sát khám nghiệm hiện trường đạt hiệu quả

- Quan tâm chế độ vật chất cho những Kiểm sát viên được phân công tiến hành
hoạt động kiểm sát điều tra tại hiện trường, như tiền công tác phí, tiền bồi dưỡng độc hại
để động viên khích lệ anh, em hoàn thành tốt công việc được giao.

- Quan tâm đầu tư những trang thiết bị phục vụ cho công tác kiểm sát khám
nghiệm, như khẩu trang, quần áo chống độc, găng tay, mũ... đảm bảo tránh hiện tượng
lây lan, truyền nhiễm bệnh tật.

- Trang bị đầy đủ các phương tiện kỹ thuật cần thiết phục vụ cho hoạt động kiểm
sát điều tra tại hiện trường đạt kết quả cao, như máy chụp ảnh; máy quay camera, máy
ghi âm, ghi hình, đèn chiếu... giúp Kiểm sát viên ghi nhận lại chính xác, trung thực hiện
trường vụ việc, để sau này làm cơ sở đối chiếu, so sánh với những tài liệu Cơ quan điều
tra chuyển sang, đảm bảo tính đúng đắn, sự tin cậy của những chứng cứ, tài liệu đó.
- Trang bị phương tiện giao thông giúp Kiểm sát viên nhanh chóng, kịp thời có
mặt ngay tại hiện trường vụ việc khám nghiệm để tiến hành những phần công việc của
mình theo quy định của pháp luật, không để hiện tượng đến muộn, đến sau, đến khi đã
kết thúc cuộc khám nghiệm hoặc phải đi nhờ Cơ quan điều tra, không chủ động, độc lập
trong công việc.

- Cần quan tâm nhiều hơn nữa đến môi trường làm việc, điều kiện làm việc, cơ
chế làm việc đề công việc được tiến hành có hiệu quả, tạo sự hưng phấn, hăng say làm
việc đối với cán bộ nhân viên trong cơ quan, điều này không chỉ đặt ra đối với lãnh đạo
Viện kiểm sát tỉnh Hà Tây, mà còn cần có sự quan tâm, ủng hộ của lãnh đạo Viện kiểm
sát nhân dân tối cao.

3.2.6. Tuyên truyền, nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân trên địa bàn
tỉnh Hà Tây

Để đảm bảo công tác điều tra tại hiện trường, cũng như công tác Kiểm sát điều
tra tại hiện trường trên địa bàn tỉnh Hà Tây được tiến hành nhanh chóng, khẩn trương, kịp
thời và đạt hiệu quả cao, một trong những nội dung quan trọng là tuyên truyền, giáo dục
nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân trên địa bàn tỉnh Hà Tây. Khi người dân có ý
thức cao về công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, thì họ sẽ luôn có ý thức tố giác, tin
báo kịp thời về những vụ, việc xảy ra trên địa bàn tỉnh. Khi đó, nhân dân biết tầm quan
trọng của những dấu vết, vật chứng để lại trên hiện trường có ý nghĩa như thế nào trong
hoạt động điều tra khám phá án, truy tìm hung thủ gây án, họ sẽ có ý thức bảo vệ hiện
trường, nhắc nhở những công dân khác cũng có ý thức bảo vệ như vậy.

Bác Hồ đã từng nói: "Dân ta có trăm tay, nghìn mắt"; "nhân dân giúp ta một ta
thắng lợi một; giúp ta nhiều ta thắng lợi nhiều; giúp ta hoàn toàn ta thắng lợi hoàn toàn",
chính vì vậy điểm xuất phát trong mọi hoạt động công tác, cũng là một trong những nội
dung quan trọng trong Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm đó là: các cơ quan
tiến hành tố tụng phải luôn lấy dân làm gốc, phải biết dựa vào dân, và những hoạt động
của mình cũng để phục vụ nhân dân, giữ vững bình yên cho nhân dân.
Muốn thực hiện tốt hoạt động này, chúng tôi mạnh dạn nêu ra những giải pháp cụ
thể cần tiến hành như sau:

Thứ nhất: Các cơ quan tiến hành tố tụng cần phối kết hợp với các cơ quan hữu
quan, như báo, đài, truyền hình địa phương... để tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp
luật sâu rộng đến nhân dân trên địa bàn tỉnh Hà Tây. Đây là những kênh truyền thông tin
nhanh nhất, phổ biến sâu rộng nhất.

Thứ hai: Kết hợp với các nhà trường trên địa bàn tỉnh Hà Tây, lồng chương trình
giáo dục ý thức pháp luật vào các nhà trường, từ phổ thông cơ sở, đến phổ thông trung
học, thông qua môn "Giáo dục công dân", hàng tháng mời các chuyên gia trong lĩnh vực
giao thông đến phổ biến về luật an toàn giao thông cho các em. Nhằm nâng cao ý thức
pháp luật trong các em ngay từ khi còn nhỏ.

Thứ ba: Tăng cường xét xử những vụ án điểm, xét xử án lưu động, những vụ xét
xử đó sẽ có đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, thông qua hoạt động xét xử, các cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng sẽ tuyên truyền kiến thức pháp luật, giáo
dục sâu sắc tới đông đảo quần chúng nhân dân tham dự phiên tòa. Công tác này có ý
nghĩa rất lớn trong hoạt động phòng ngừa, răn đe tội phạm.

Thứ tư: Cần xây dựng địa bàn dân cư kiểu mẫu, nắm được tổ trưởng tổ khu phố,
phát động sâu rộng đến từng gia đình về ý thức pháp luật cho mỗi công dân trong khu
phố, cùng nhau có ý thức phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật, mạnh dạn tố giác
những biểu hiện không lành mạnh hoặc tội phạm trên địa bàn dân cư.
Kết Luận



Công tác kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ việc mang tính hình sự trên
địa bàn tỉnh Hà Tây là một trong những hoạt động chức năng của Viện kiểm sát được quy
định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản
pháp luật khác. Thể hiện vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm
sát khi tiến hành kiểm sát điều tra tại hiện trường những vụ, việc mang tính hình sự trên
địa bàn tỉnh
Hà Tây.

Trong luận văn, tác giả đã nghiên cứu, phân tích, làm rõ nhận thức chung về hiện
trường vụ việc hình sự, trên cơ sở đó tác giả đã mạnh dạn đưa ra những khái niệm mới.

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận trên, tác giả đã chỉ ra những vấn đề chưa
chính xác, chưa đầy đủ trong quy định của pháp luật, mạnh dạn đề xuất giải pháp nhằm
cải sửa điều luật cho chặt chẽ với thực tiễn công tác.

Qua số liệu cung cấp của Văn phòng tổng hợp Viện kiểm sát tỉnh Hà Tây về số
vụ việc xảy ra, số vụ việc đã tiến hành khám nghiệm, số vụ việc xảy ra không khám
nghiệm, số vụ có sự tham gia của Viện kiểm sát, số vụ có dấu hiệu tội phạm và khởi tố,
nhận xét những mặt đã làm tốt, những mặt chưa làm được. Từ đó chỉ ra những giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng trong công tác.

Trên kết quả nghiên cứu, tác giả đã mạnh dạn dự báo diễn biến tình hình tội phạm
trong thời gian tới, những vụ việc nào trong thời gian tới thường xảy ra và từ đó có giải
pháp phòng ngừa.



DANH Mục Tài Liệu THAM Khảo
1. Bộ công an (2001), Quy chế phân công trách nhiệm giữa các lực lượng Công an nhân
dân trong công tác khám nghiệm hiện trường, Hà Nội.

2. Bộ Công an (2001), Quyết định số 02/QĐ-BCA (C11) ngày 06/2 của Bộ trưởng Bộ
Công an ban hành Quy chế phân công trách nhiệm giữa các lực lượng Công an
nhân dân trong công tác khám nghiệm hiện trường, Hà Nội.

3. Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.

4. Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.

5. Chính phủ (1998), Nghị quyết 09/1998/NQ-CP ngày 31/7 của Chính phủ về tăng
cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, Hà Nội.

6. Nguyễn Văn Cường (2002), "Một số vấn đề cần chú ý trong công tác kiểm sát khám
nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông", Kiểm sát, (12).

7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa VII, Hà Nội.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Thông báo số 136/TB-TW ngày 15-01 của Bộ
Chính trị về cải cách tư pháp, Hà Nội.

9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết 08/BCT ngày 02/01 của Bộ Chính trị
về một số công tác trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội

10. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Nxb Sự thật, Hà Nội.

11. Học viện An ninh nhân dân (2000), Giáo trình Khoa học điều tra hình sự, Hà Nội.

12. Học viện Cảnh sát nhân dân (2002), Giáo trình Phương pháp điều tra các loại tội
phạm cụ thể, Hà Nội.

13. Học viện Cảnh sát nhân dân (2002), Giáo trình Tội phạm học, Hà Nội.

14. Học viện Cảnh sát nhân dân (2004), Giáo trình Tổ chức và chiến thuật điều tra hình
sự, Hà Nội.
15. Học viện Cảnh sát nhân dân (2003), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Hà
Nội.

16. Học viện Cảnh sát nhân dân (2004), Giáo trình Bảo vệ và khám nghiệm hiện trường,
Hà Nội.

17. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2002), Giáo trình Điều tra hình sự, Hà Nội.

18. Kỹ thuật khám nghiệm hiện trường và điều tra tội phạm (1997), Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội.

19. Sổ tay điều tra ban đầu (1986), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.

20. Tòa án nhân dân tối cao (1988), Hệ thống hóa văn bản pháp luật, tập 1, Hà Nội.

21. Tòa án nhân dân tối cao (1992), Hệ thống hóa văn bản pháp luật, tập 2, Hà Nội.

22. Tòa án nhân dân tối cao (1995), Hệ thống hóa văn bản pháp luật, tập 3, Hà Nội.

23. Tòa án nhân dân tối cao (1998), Hệ thống hóa văn bản pháp luật, tập 4, Hà Nội.

24. Tòa án nhân dân tối cao (2000), Hệ thống hóa văn bản pháp luật, tập 5, Hà Nội.

25. Tòa án nhân dân tối cao (2002), Hệ thống hóa văn bản pháp luật, tập 6, Hà Nội.

26. Tòa án nhân dân tối cao (2004), Hệ thống hóa văn bản pháp luật, tập 7, Hà Nội.

27. Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội (1998), Giáo trình Công tác kiểm sát, Hà Nội.

28. Trường Đại học An ninh nhân dân (1982), Giáo trình kỹ thuật hình sự, tập IV, Hà
Nội.

29. Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (1998), Giáo trình Lý luận và phương pháp luận
của khoa học điều tra hình sự, Hà Nội.

30. Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (2000), Giáo trình Chiến thuật điều tra hình sự,
Hà Nội.

31. Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Khoa học điều tra hình sự, Hà Nội.
32. Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình Luật hình sự, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội.

33. Từ điển bách khoa Công an nhân dân (2000), Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội.

34. Từ điển tiếng Việt (1977), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

35. ủy ban Thường vụ Quốc hội (2002), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội.

36. ủy ban Thường vụ Quốc hội (2004), Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự, Hà Nội.

37. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng (2005), Tài liệu tổng kết hai năm thi
hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Hải Phòng.

38. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2004), Tài liệu tổng kết công tác khám
nghiệm hiện trường năm 2003, Bắc Ninh.

39. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây (2001), Báo cáo tổng kết kiểm sát điều tra án trị
an năm 2000, Hà Tây.

40. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây (2001), Báo cáo chuyên đề khám nghiệm hiện
trường năm 2000, Hà Tây.

41. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây (2002), Báo cáo tổng kết kiểm sát điều tra án trị
an năm 2001, Hà Tây.

42. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây (2002), Báo cáo chuyên đề khám nghiệm hiện
trường năm 2001, Hà Tây.

43. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây (2003), Báo cáo tổng kết kiểm sát điều tra án trị
an năm 2002, Hà Tây.

44. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây (2003), Báo cáo chuyên đề khám nghiệm hiện
trường năm 2002, Hà Tây.

45. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây (2004), Báo cáo tổng kết kiểm sát điều tra án trị
an năm 2003, Hà Tây.
46. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây (2004), Báo cáo chuyên đề khám nghiệm hiện
trường năm 2003, Hà Tây.

47. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây (2004), Tài liệu tổng kết hoạt động kiểm sát
khám nghiệm hiện trường năm 2003, Hà Tây.

48. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây (2005), Báo cáo tổng kết kiểm sát điều tra án trị
an năm 2004, Hà Tây.

49. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây (2005), Báo cáo chuyên đề khám nghiệm hiện
trường năm 2004, Hà Tây.

50. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2004), Rút kinh nghiệm trong hoạt động kiểm sát
khám nghiệm hiện trường, Hà Nội.

51. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2005), Kết luận của đồng chí Hà Mạnh Trí, ủy viên
Trung ương Đảng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hội nghị
triển khai công tác ngành Kiểm sát nhân dân năm 2005, Hà Nội.
phụ lục


Bảng Thống KÊ Số 1


Loại hiện trường - tử thi

Tai nạn giao Gây thương Tội phạm
Tai nạn rủi ro
Số vụ thông tích khác
Năm
xảy ra
Hiện Hiện Hiện Hiện
Tử Tử Tử Tử
trườn trườn trườn trườn
thi thi thi thi
g g g g

2000 376 46 38 234 115 48 13 48 19

2001 636 75 68 409 390 91 15 61 20

2002 770 58 64 551 383 99 15 62 22

2003 838 82 78 635 418 77 12 44 40

2004 920 74 70 740 370 74 11 32 21

6T/05 509 38 37 417 233 29 7 25 19

TC 4049 373 355 2986 1909 418 73 272 141

Nguồn: Số liệu do Văn phòng tổng hợp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây cung cấp.


Bảng Thống KÊ Số 2

Số vụ không Số vụ đã Số vụ kiểm sát Số vụ
khám nghiệm khám nghiệm có tham gia khởi tố
Năm
vụ/ bị
Hiện Hiện Hiện
Tử thi Tử thi Tử thi
can
trường trường trường
2000 32 11 405 233 337 244 166/201

2001 24 2 578 346 373 342 252/304

2002 25 3 678 437 677 419 311/337

2003 25 1 865 544 743 507 271/298

2004 12 9 854 414 712 118 276/378

T6/2005 7 1 544 216 418 213 154/245

Tổng 125 27 3.924 2.190 3.260 1.843 1430/17
cộng 63

Nguồn: Số liệu do Văn phòng tổng hợp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây cung cấp.
Bảng Thống KÊ Số 3


Tội phạm trật
Tội phạm an Tội phạm Tai nạn
Năm tự an toàn xã
ninh, ma túy về kinh tế giao thông
hội

Khởi tố Khởi tố Khởi tố
Khởi tố
2001 111vụ/141 vụ, 719vụ/1343vụ, 131vụ/404 vụ,
464vụ/692 BC
việc việc việc

Khởi tố Khởi tố Khởi tố Khởi tố
2002 168vụ/168 vụ, 480 vụ/691vụ, 486 vụ/1005vụ, 168 vụ/567vụ,
việc việc việc việc

Khởi tố Khởi tố Khởi tố Khởi tố
2003 179vụ/179 vụ, 489 vụ/616vụ, 486 vụ/1090vụ, 158 vụ/394vụ,
việc việc việc việc

Khởi tố Khởi tố Khởi tố Khởi tố
2004 198vụ/198 vụ, 470 vụ/470vụ, 537 vụ/537vụ, 180vụ/535vụ,
việc việc việc việc

Nguồn: Số liệu do Văn phòng tổng hợp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tây cung cấp.

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản