LUẬN VĂN:Lý luận của Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước

Chia sẻ: window1234

Lê nin không những là vị lãnh tụ vĩ đại của nước Nga mà còn là một danh nhân lớn của thế giới. Suốt cuộc đời ông đã sống và đấu tranh cho giai cấp vô sản, cho chủ nghĩa xã hội và ông đã để lại cho thế hệ sau nhiều di sản quý báu. Một trong số đó là lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Lý luận đó chẳng những có vị trí rất quan trọng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN:Lý luận của Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước

LUẬN VĂN:


Lý luận của Lê nin về chủ nghĩa tư

bản nhà nước
Lời nói đầu




Lê nin không những là vị lãnh tụ vĩ đại của nước Nga mà còn là một danh nhân lớn của
thế giới. Suốt cuộc đời ông đã sống và đấu tranh cho giai cấp vô sản, cho chủ nghĩa xã hội
và ông đã để lại cho thế hệ sau nhiều di sản quý báu. Một trong số đó là lý luận về chủ nghĩa
tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Lý luận đó chẳng những có vị trí
rất quan trọng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũ mà còn có ý nghĩa rất
to lớn đối với những nước hiện nay đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong đó có nước ta.

Lý luận đó được Lê- nin trình bày trong hệ thống chính sách “Kinh tế mới” - NEP.
Theo Lê nin đối với những nước có nền kinh tế tiểu nông như nước Nga - khi mà cơ sở vật
chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội chưa có- thì việc chuyển sang chủ nghĩa xã hội tất yếu
phải trải qua một loạt những bước quá độ, cần phải: “ bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc đi
xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước tiến lên chủ nghĩa xã hội ”; “ phải lợi dụng chủ nghĩa
tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích
trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương
pháp, phương thức để tăng cường lực lượng sản xuất lên ”.

Lý luận trên được ra đời vào những năm đầu tiên của thập kỷ 20 nhưng cho đến nay
(dù đã trải qua gần 80 năm, lý luận đó vẫn còn nguyên giá trị) nhất là đối với thực tiễn nước
ta. Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Cơ sở vật chất kỹ
thuật còn rất thấp kém, nền kinh tế lạc hậu, trì trệ. Bởi vậy, vấn đề cốt yếu đặt ra đối với
nước ta là làm thế nào để đưa nền kinh tế đất nước phát triển, xây dựng thành công xã hội
chủ nghĩa? Nghiên cứu lý luận về chủ nghĩa tư bản nhà nước của Lê- nin sẽ giúp chúng ta
xác định được rõ phương tiện, con đường thực hiện mục đích trên. Đó là chúng ta không thể
xây dựng trực tiếp chủ nghĩa xã hội ở nước ta được mà phải “ đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản
nhà nước ”, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước làm mắt xích trung gian dẫn tới chủ nghĩa
xã hội.

Hiện nay, theo đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta là nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế nhiều thành phần ấy, kinh tế tư
bản nhà nước cũng đang hoạt động rất hiệu quả góp phần đáng kề trong công cuộc xây dựng
đất nước, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Chính vì vậy, việc hiểu rõ lý luận của Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước là hết sức
cần thiết và qua đó có thể vận dụng đúng đắn, sáng tạo và có hiệu quả cao lý luận trên vào
thực tiễn nước ta. Vì vậy, em viết đề tài này nhằm tìm hiểu xem: Thế nào là chủ nghĩa tư
bản nhà nước, các hình thức của nó như thế nào, quá trình vận dụng ở nước Nga đã thu
được những thành quả gì, và có áp dụng vào tình hình nước ta được không ? Nếu có, thì áp
dụng như thế nào cho có hiệu quả ?
I. Lý luận của Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.

1. Chính sách “ Kinh tế mới ”- NEP và sự cần thiết vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà
nước.

1.1. Chính sách “ Kinh tế mới”.

1.1.1. Hoàn cảnh ra đời của chính sách “ Kinh tế mới ”.

1.1.1.1. Chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ”.

Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, nước xã hội chủ nghĩa đầu
tiên trên thế giới ra đời. Cách mạng Xô Viết tranh thủ giải quyết những vấn đề cấp bách,
củng cố chính quyền của giai cấp vô sản, đặt nền móng cho việc xây dựng nền kinh tế xã hội
chủ nghĩa.

Đầu năm 1918, Lê nin đã đề ra kế hoạch khôi phục lại nền kinh tế và kế hoạch phát
triển kinh tế trong thời gian trước mắt - kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng đến
năm 1918, kế hoạch của Lê nin phải hoãn lại vì nước Nga phải đương đầu với một hoàn
cảnh vô cùng khó khăn: đó là có nội chiến và can thiệp.

Cuộc nội chiến ở Nga là cuộc đấu tranh của nhân dân lao động chống lại sự nổi dậy
của bọn địa chủ, tư sản phản động mong tìm lại “ thiên đường đã mất ”. Lợi dụng tình hình
ấy 14 nước đế quốc do Anh, Pháp cầm đầu đã tìm mọi cách can thiệp vũ trang để bóp chết
nhà nước Xô Viết còn non trẻ. Cuộc nội chiến và can thiệp của nước ngoài đã làm cho nước
Nga khó khăn càng thêm khó khăn chồng chất.

Để đối phó với tình hình đó, Lê nin đã nêu ra khẩu hiệu “ Tất cả cho tiêu diệt kẻ thù ”
và thi hành chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến”.

Chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ” gồm các nội dung chính sau đây:

Trưng thu lương thực thừa của nông dân, Nhà nước độc quyền mua bán lúa mì để cung
cấp cho thành thị và quân đội.

Nhà nước kiểm soát việc sản xuất và phân phối sản phẩm không những đối với đại
công nghiệp mà cả trung và tiểu công nghiệp.
Quốc hữu hoá cả những xí nghiệp vừa và nhỏ, có từ 5 công nhân trở lên (nếu có động
cơ) và 10 công nhân trở lên nếu không có động cơ.

Cầm buôn bán trao đổi sản phẩm trên thị trường, nhất là lúa mì, thực hiện chế độ tem
phiếu, trực tiếp phân phối sản phẩm cho người tiêu dùng, xoá bỏ Ngân hàng Nhà nước.

Đặt chế độ lao động cưỡng bức với nguyên tắc: “ Không làm thì không có ăn”.

Kết quả của chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ”.

Chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ” đã cho phép sử dụng nhiều nhất tất cả các
nguồn vật lực và hướng sự hoạt động của nhân dân vào phục vụ cho quân đội. Việc trưng
thu lương thực đã đảm bảo cung cấp đủ lương thực cho quân đội và cứu nhân dân lao động
tại các trung tâm công nghiệp khỏi nạn đói. Với chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ”
và sự nỗ lực của toàn nhân dân, nước Nga đã giành được những thắng lợi to lớn. Kết quả
quan trọng nhất trong giai đoạn anh hùng này là nước Xô Viết trẻ tuổi đã chiến thắng bọn
can thiệp và bọn Bạch vệ. Đây không chỉ là chiến thắng của quân đội Hồng quân anh hùng
mà còn là chiến thắng của hàng triêụ lao động ở hậu phương Xô Viết. Chiến thắng ấy đã kết
thúc những năm tháng chiến tranh, từ đây nước Nga bước vào thời kỳ xây dựng trong hoà
bình.

1.1.1.2. Bước chuyển từ chiến tranh sang hoà bình, hoàn cảnh ra đời của chính sách “
Kinh tế mới ”.

Năm 1920, chiến tranh kết thúc, nước Nga chuyển sang thời kỳ kiến thiết trong hoà
bình. Nước Nga đã tiến hành công cuộc xây dựng đất nước trong những điều kiện vô cùng
khó khăn.

Về tình hình quốc tế: Giai cấp tư sản quốc tế vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm tiêu diệt chế độ
Xô Viết. Chúng vẫn muốn bóp chêt nhà nước Xô Viết về mặt kinh tế. Bởi vậy, nước Nga phải tự
lực, tự cường trong công cuộc xây dựng kinh tế.

Về tình hình trong nước: Tình trạng vô cùng bi đát: 4 năm chiến tranh đế quốc, 3 năm
nội chiến và can thiệp vũ trang của nước ngoài đã tàn phá toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Lúc
này trình độ nền kinh tế chỉ tương đương trình độ nền kinh tế nước Nga quân chủ đầu thế kỷ
XIX.
Về công nghiệp: Bị tổn thất lớn nhất, đặc biệt là đại công nghiệp. So với năm 1913,
sản xuất đại công nghiệp giảm xuống chỉ còn 1/7 (12,8%) . Nhiều nhà máy thuộc hạng lớn
nhất ngừng hoạt động như: Cơ- ma - ra - tốc, E-ca- t ê- ri- nô-slap, A- lếch - xăng- đơ- rôp,
Ma - ri- u- ponski, Ta- gan - rốc,...... Tổng số công nhân giảm đi một nửa. Nếu năm 1913 là
2 triệu 400 ngàn người thì năm 1920 chỉ còn 1 triệu 270 ngàn người. Năng suất lao động
giảm sút.

Về nông nghiệp: Mất mùa, hạn hán liên tục xảy ra làm năng suất, sản lượng giảm sút.
Năm 1920 sản lượng nông nghiệp nước Nga chỉ bằng một nửa so với năm 1913. Nước Nga
có nguy cơ lâm vào một nạn đói trầm trọng.

Về giao thông vận tải: Bị tàn phá nghiêm trọng; 61% số đầu máy và 28% số toa xe bị
phá cùng với 4000 chiếc cầu và các ga, các kho tàng. So với trước chiến tranh, khối lượng
vận chuyển năm 1920 chỉ còn 20 % không tính đến khối lượng vận chuyển của quốc phòng
và nhu cầu của bản thân ngành đường sắt là 12 %.

Về tài chính tín dụng: Lâm vào tình trạng rối loạn. Năm 1918, bội chi ngân sách 81 tỷ
rúp. Năm 1921, con số bội chi lên tới 21.937 tỷ rúp. Nếu năm 1914, mức bảo đảm vàng cho
khối lượng tiền tệ trong lưu thông là 98,2% thì năm 1917 chỉ còn 6,8%.

Như vậy, nền kinh tế nước Nga đã lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng và toàn
diện. Lê nin đã ví nền kinh tế nước Nga lúc này như một người bị đánh thập tử nhất sinh chỉ
có thể đi lại bằng đôi nạng.

Trong những năm nội chiến và nước ngoài vũ trang can thiệp, nhân dân vui lòng chịu
đựng khó khăn gian khổ, vui lòng thực hiện chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ”, vui
lòng chịu đựng cảnh trưng thu lương thực và sự thiếu thốn gắt gao về những nhu yếu phẩm
cần thiết. Nhân dân nhận thức được rằng toàn quốc cần phải dốc sức ra để đè bẹp bọn can
thiệp và bọn Bạch vệ, tức là kẻ thù chung của gian cấp công nhân và nhân dân lao động.
Nhưng khi cuộc chiến tranh kết thúc, chính sách “ Kinh tế cộng sản thời chiến ” đã làm
xong nhiệm vụ bất đắc dĩ của mình, giờ đây không cho phép dẫn nó đi xa hơn nữa vì trong
các tầng lớp nhân dân bắt đầu có sự bất mãn. Khối liên minh công nông có nguy cơ bị tan
vỡ.
ở nhiều nơi, sự bất mãn của nông dân đã bị các thế lực phản cách mạng trong nước lợi
dụng để tổ chức những cuộc phiến loạn công khai chống lại chính quyền Xô Viết. Mùa hè
năm 1920, phiến loạn ở Tam - bốp và Vô - nô - xe - gô. Đầu năm 1921, phiến loạn nổ ra ở
nhiều nơi thuộc Xi- bê - ri và tiêu biểu nhất là cuộc bạo loạn ở Cron- Xtat gần Lê- nin- grát.
Vì vậy, cần thiết phải trở lại những quan hệ kinh tế khách quan giữa công nghiệp và nông
nghiệp, giữa thành thị và nông thôn. Do những yêu cầu đó, Đại hội X của Đảng Cộng sản
Bôn - sê - vích Nga họp từ 8 đến 16/3/1921 đã chủ trương thay chính sách “Kinh tế cộng
sản thời chiến” bằng chính sách “ Kinh tế mới ”.

1.1.2. Nội dung của chính sách “ Kinh tế mới ”.

Chính sách “ Kinh tế mới ” - NEP bao gồm những nội dung chính sau đây:

Bãi bỏ chế độ trưng thu lương thực thừa, thay vào đó là thuế lương thực.

Những xí nghiệp nhỏ trước đây bị quốc hữu hoá, nay cho tư nhân thuê hay mua lại để
kinh doanh tự do (chủ yếu là xí nghiệp sản xuất hay hàng tiêu dùng) .

Cho phép mở rộng trao đổi hàng hoá giữa thành thị và nông thôn, giữa công nghiệp và
nông nghiệp, cho thương nhân được tự do hoạt động (chủ yếu trong lĩnh vực bán lẻ) để góp
phần khôi phục kinh tế, củng cố lại lưu thông tiền tệ trong nước.

Thực hiện chế độ hạch toán kinh doanh trong các xí nghiệp quốc doanh.

Thực chất của chính sách “ Kinh tế mới ” - NEP là tăng cường cơ sở kinh tế của liên
minh chặt chẽ giữa giai cấp công nhân và nông dân, liên minh này là nguyên tắc tối cao của
chuyên chính vô sản, là cơ sở của chính quyền Xô Viết, là điều kiện quan trọng nhất để xây
dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội. NEP thiết lập mối quan hệ đúng đắn giữa công nghiệp xã
hội chủ nghĩa với kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân thông qua thông qua việc sử
dụng rộng rãi quan hệ hàng hoá - tiền tệ dưới sự kiểm soát của nhà nước để phát triển lực
lượng sản xuất; đồng thời, NEP cho phép phát triển và hướng kinh tế tư bản vàp con đường
chủ nghĩa tư bản nhà nước khi những đỉnh cao của nền kinh tế vẫn nằm trong tay nhà nước
để phát triển công nghiệp hoá.

Qua nội dung của chính sách “ Kinh tế mới ”, ta có thể thấy tinh thần chính của chính
sách “ Kinh tế mới ” - NEP là không thể xây dựng trực tiếp chủ nghĩa xã hội trong điều kiện
kinh tế lạc hậu mà cần phải quay về với con đường tiến hoá tự nhiên của nền kinh tế xã hội.
Theo Lê nin, chủ nghĩa tư bản nhà nước là một hình thức kinh tế của con đường quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản nhà nước là con đường một nước lạc hậu phải đi qua để
tới chủ nghĩa xã hội.

Lê nin cho rằng từ một nền kinh tế lạc hậu, chủ nghĩa tư bản chưa phát triển bao nhiêu
thì nội dung tiến hoá tất yếu là phát triển kinh tế hàng hoá thực hiện trao đổi tự do, hình
thành thị trường và phát triển chủ nghĩa tư bản “ như một tất yếu không thể tránh khỏi ”, là
nấc thang trong sự tiến hoá của kinh tế. Chủ nghĩa tư bản là “ xấu so với chủ nghĩa xã hội ”
nhưng lại là tốt, là tiến bộ hơn so với thời trung cổ, với nền sản xuất nhỏ, với chủ nghĩa
quan liêu. Do đó, trong cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản sẽ là mắt xích, là
phương thức để phát triển lực lượng sản xuất, và nhờ đó dẫn tới những cơ sở cho sự thắng
lợi của chủ nghĩa xã hội. Như vậy, nếu trong con đường tuần tự, chủ nghĩa tư bản hay đúng
ra là những quan hệ tư bản sẽ dẫn tới xã hội tư bản, thì ở đây, chúng chỉ là khâu trung gian
để xác lập chủ nghĩa xã hội.

Có thể nói chủ nghĩa tư bản nhà nước là khâu then chốt nhất trong chính sách “ Kinh
tế mới ” - NEP. Với chủ nghĩa tư bản nhà nước, Lê nin đã tìm ra được “ cái khâu quyết định
để nối tất cả chuỗi tiến hoá trong lịch sử thành một cơ cấu chung, thành một cơ chế vận
hành của một nền kinh tế quá độ. ở đây quá trình tiến hoá lại là một quá trình lịch sử tự
nhiên được rút ngắn lại ”. Trong đó, nguyên tắc kinh tế hàng hoá là cơ sở chung, trên đó
mọi thành phần kinh tế hoạt động. Chủ nghĩa tư bản là nấc thang phát triển cao của kinh tế
hàng hoá, bởi vậy, trong kinh tế hàng hoá phát triển, các thành phần kinh tế đều có tính tư
bản còn chủ nghĩa tư bản nhà nước là nấc thang phát triển cao của chủ nghĩa tư bản, đến
lượt mình, chủ nghĩa tư bản nhà nước lại biểu hiện ra là một trình độ phát triển cao, là hình
thái phát triển của xã hội hoá hoạt động kinh tế. Như vậy, chủ nghĩa tư bản nhà nước là hình
thái hội tụ tất cả các thành phần kinh tế trong một hình thái chung, một cơ cấu chung. Có thể
nói, chủ nghĩa tư bản nhà nước là một hình thức kinh tế của con đường quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, là con đường tién hoá lịch sử - tự nhiên được rút ngắn đối với những nước lạc hậu
chuyển lên chủ nghĩa xã hội.

Chính sách “ Kinh tế mới ” đã tạo điều kiện phát triển lực lượng sản xuất ở cả thành
thị lẫn nông thôn vì nó đáp ứng được yêu cầu của quy luật kinh tế của nền sản xuất xã hội
chủ nghĩa còn mang tính chất hàng hoá và có nhiều thành phần, trong đó có vấn đề sử dụng
quan hệ hàng hoá tiền tệ và việc sử dụng thành phần kinh tế tư bản nhà nước và tư nhân.
Ngoài ra, trong lý luận và thực tiễn hoạt động chính sách này đã nêu và thể hiện quan điểm
mới về con đường và các bước đi của thời kỳ quá độ. Đây không chỉ là sách lược có tính
chất bắt buộc để giải quyết tình trạng khủng hoảng ở Nga mà còn là đường lối chiến lược
của thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là lý luận của Lê nin về chủ nghĩa tư bản
nhà nước.

1.2. Sự cần thiết phải sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ đi
lên chủ nghĩa xã hội.

1.2.1. Quan niệm của Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước.

Trước khi nghiên cứu tính tất yếu của việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước Nga, chúng ta cần nghiên cứu quan niệm của Lê
nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước.

Chủ nghĩa tư bản nhà nước, bản thân khái niệm này đã nói rõ nguồn gốc lịch sử của nó
gắn với một giai đoạn phát triển nhất định của chủ nghĩa tư bản, với chủ nghĩa tư bản.

Chủ nghĩa tư bản nhà nước trong điều kiện chuyên chính tư sản là hình thức biến dạng
của sở hữu tư bản chủ nghĩa. Mặc dù đó là quyền sở hữu của nhà nước, nhưng hình thức sở
hữu này không làm thay đổi bản chất chế độ tư bản chủ nghĩa, vì nó vẫn dựa trên cơ sở chế
độ tư hữu về tư liệu sản xuất, còn bản thân nhà nước thì nằm trong tay bọn trùm tư bản kếch
xù.

Khi giai cấp công nhân lãnh đạo nhân dân giành được chính quyền và thiết lập một
Nhà nước của dân, do dân, vì dân cũng xuất hiện một kiểu chủ nghĩa tư bản nhà nước chưa
hề có trong lịch sử - chủ nghĩa tư bản nhà nước trong nhà nước chuyên chính vô sản. Đây là
một khái niệm hoàn toàn mới mà trước Lê nin chưa từng có ai (kể cả Mac) đề cập đến khái
niệm này.

Theo quan niệm của Lê nin, có thể hiểu chủ nghĩa tư bản nhà nước theo nghĩa rộng và
hẹp như nhau:
Chủ nghĩa tư bản nhà nước là chủ nghĩa tư bản do nhà nước “ kiểm soát và điều tiết ”
sự phát triển, vấn đề khác nhau chỉ là ở chỗ sự kiểm soát và điều tiết ấy nhằm mục đích gì,
có lợi cho ai, trong giới hạn nào, bằng phương pháp gì và có khả năng kiểm soát, điều tiết
đạt đến mức độ nào.

Chủ nghĩa tư bản nhà nước là chính quyền nhà nước trực tiếp khống chế những xí
nghiệp tư bản chủ nghĩa này hay xí nghiệp tư bản chủ nghĩa khác. Sự khống chế trực tiếp ấy
đạt đến mức độ nào trong thực tế sẽ quyết định trình độ và hình thức khác nhau của chủ
nghĩa tư bản nhà nước.

Toàn bộ vấn đề là phải hiểu rõ với điều kiện nào thì phải phát triển chủ nghĩa tư bản và
nhà nước là của ai. Cũng từ đây mà ta hiểu được tính chất “ đặc biệt ”, “ không thông
thường ” của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong tay nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản.

Trước hết, Lê nin đã khẳng định ngay “ Chủ nghĩa tư bản nhà nước ở trong một nước
mà chính quyền thuộc về tư bản và chủ nghĩa tư bản nhà nước ở trong một nước vô sản là
hai khái niệm khác nhau ”. Lê nin cho rằng chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới chế độ tư bản
nhà nước là chủ nghĩa tư bản nhà nước thông thường, còn chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới
chế độ cộng sản là chủ nghĩa tư bản nhà nước đặc biệt. Chúng phân biệt nhau bởi hai tính
chất sau đây:

Thứ nhất, ở tính chất giai cấp của nhà nước: “ Chủ nghĩa tư bản nhà nước của chúng
tôi khác về căn bản so với chủ nghĩa tư bản nhà nước ở những nước có chính phủ tư sản, sự
khác biệt đó chính là ở chỗ nhà nước của chúng tôi không phải đại diện cho giai cấp tư sản
mà là đại diện cho giai cấp vô sản ”.

Thứ hai, đó là sự khác biệt về tính chất xã hội của chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất: “
chủ nghĩa tư bản nhà nước của chúng tôi... chẳng những nắm ruộng đất mà còn nắm những
bộ phận quan trọng nhất của công nghiệp nữa ”.

Từ sự phân biệt đó, Lê nin đã luận giải rằng: “ Hiện nay, thực hiện chủ nghĩa tư bản
nhà nước có nghĩa là thực hiện chế độ kiểm kê và kiểm soát mà trước đây giai cấp tư sản đã
thực hiện ”, và rằng “ chủ nghĩa tư bản nhà nước là cái gì có tính chất tập trung, được tính
toán, được kiểm soát và được xã hội hoá”.
Về mặt chính trị, Lê nin cũng khẳng định chủ nghĩa tư bản nhà nước là “ không đáng
sợ, không thay đổi được gì có tính chất căn bản trong chế độ xã hội của nước Nga Xô Viết ”
và “ chủ nghĩa tư bản nhà nước là một hình thức mới của đấu tranh giai cấp chứ không phải
là hoà bình giai cấp ”.

Khái niệm về chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới chế độ cộng sản là một khái niệm hoàn
toàn mới mẻ, do Lê nin lần đầu tiên đưa ra. Trước Lê nin không có một quyển sách nào viết
một dòng về khái niệm này, kể cả Mác. Nhưng cả trong lý luận và thực tiễn nước Nga thời
kỳ đó đã chứng minh đó là một quan điểm hoàn toàn đúng đắn. Từ quan niệm đúng đắn đó,
Lê nin đã chỉ rõ tính tất yếu phải sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thực tiễn nước
Nga lúc bấy giờ.

1.2.2. Sự cần thiết vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội.

Theo Lê nin, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước ở nước Nga lúc bấy giờ là một tất yếu
vì những lý do sau:

Thứ nhất, xuất phát từ thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Nga lúc bấy giờ, Lê nin
đã nhận thức được rằng không thể trực tiếp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nước tiểu nông
như nước Nga; không thể chỉ đơn thuần dựa vào nhiệt tình cách mạng và những biện pháp
trực tiếp của nhà nước vô sản để tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm theo kiều cộng sản
chủ nghĩa. Lê nin cho rằng: “ Trong một nước tiểu nông, trước hết các đồng chí phải bắc
những chiếc cầu nhỏ vững chắc, đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, tiến lên chủ nghĩa
xã hội “. Như vậy việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là một chủ trương đúng đắn phù
hợp. Đây không phải là sự quay về chủ nghĩa tư bản mà là một bước lùi chiến lược, là sự trở
lại con đường phát triển hợp quy luật của nền kinh tế.

Thứ hai, do việc chấp nhận các quan hệ thị trường trong chính sách “Kinh tế mới ”,
nên sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản nhà nước là một tất yếu. Lê nin cho rằng đối với giai cấp
vô sản thực hiện quyền chuyên chính của mình ở một nước tiểu nông thì chính sách đúng
đắn phải là lấy sản phẩm công nghiệp để trao đổi với sản phẩm nông nghiệp của nông dân.
Vì vậy cần phải thay thế chế độ trưng thu lương thực thừa bằng chế độ thuế lương thực.
Như vậy, phần lương thực sau khi nộp thuế sẽ thuộc về người nông dân và người nông dân
có thể tự do trao đổi nó trên thị trường. Mà tự do trao đổi, “ tự do buôn bán có nghĩa là có
sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ”. Nhưng “ đối với chúng ta chủ nghĩa tư bản ấy không
đáng sợ ”. Làm như thế chúng ta sẽ cải thiện được nền kinh tế nông dân mà chúng ta đang
cần phải cải thiện, vì vậy chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản ấy (nhất là bằng cách
hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) . Như vâỵ, sự tồn tại của chủ nghĩa tư
bản nhà nước vừa là một tất yếu vừa làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và nền
sản xuất xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội không có mục đích tự thân mà là phương tiện, con đường, biện pháp để
biến các xí nghiệp tư bản chủ nghĩa thành các xí nghiệp xã hội chủ nghĩa, là phương thức để
tăng lực lượng sản xuất lên. Lê nin cho rằng điều đó “ sẽ đưa chúng ta đến chủ nghĩa xã hội
bằng con đường chắc chắn nhất ”.

Thứ ba, sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản nhà nước nảy sinh từ chính nhu cầu nội tại của
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Để hoàn thành sứ mạng đó, nhà nước vô sản cần có
vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức, quản lý cùng các quan hệ sản xuất kinh tế xã
hội hoá. Tất cả những yếu tố đó, những thành tựu mà nhân loại tích luỹ được chỉ có thể tìm
thấy ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển. Bởi vậy, tất yếu phải có sự kết hợp với các nhà
tư bản trong và ngoài nước, tất yếu phải có sự hợp tác cùng nhau xây dựng nền kinh tế quốc
dân. Về vấn đề này, Lê nin cho rằng, để có được tri thức và kinh nghiệm tổ chức, quản lý
kinh tế trên qui mô toàn quốc, giai cấp vô sản phải học tập kinh nghiệm của các nhà tư sản
dẫu có phải trả học phí đắt cho họ. Người khẳng định rằng, việc sử dụng các nhà tư bản
trong quản lý kinh tế là điều cần thiết để “ khắc phục tình trạnh hỗn độn, tình trạng suy sụp
về kinh tế và hiện tượng lỏng lẻo trong quản lý kinh tế ”. Theo Lê nin chừng nào mà giai cấp
công nhân học được cách sắp đặt lại sản xuất với qui mô lớn thì khi ấy tất cả những con chủ
bài đều nằm trong tay công nhân và sẽ bảo đảm cho sự thành công của công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh việc học tập quản lý và kinh nghiệm tổ chức, thông qua chủ
nghĩa tư bản nhà nước, nước Nga sẽ huy động được vốn, kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài
để phát triển sản xuất, nhất là trong điều kiện nước Nga vừa bị chiến tranh tàn phá nặng nề,
cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu. Như vậy, bằng cách sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước với
những ưu việt của nó về vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý.... nước Nga sẽ có điều
kiện để nhanh chóng phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, thực
hiện thành công quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Từ tất cả những lý do trên ta có thể khẳng định rằng sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản
nhà nước là một tất yếu khách quan. Vì vậy, kinh tế tư bản nhà nước đã tồn tại như một
thành phần kinh tế độc lập trong năm thành phần kinh tế của nước Nga lúc bấy giờ. Hơn thế
nữa, chủ nghĩa tư bản nhà nước còn có vai trò rất to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở nước Nga lúc bấy giờ.

2. Vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Lý luận của Lê nin và cả thực tiễn nước Nga lúc bấy giờ đều khẳng định vai trò to lớn
của chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa tư bản
nhà nước không chỉ là một thành phần kinh tế trong kết cấu của nền kinh tế quá độ, mà còn
là “ sách lược ” của nhà nước vô sản, là “ con đường ” để thực hiện sự quá độ lên chủ nghĩa
xã hội trong một nước tiểu sản xuất chiếm ưu thế.

Trước hết, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nhà nước do nhà nước vô sản điều tiết và
kiểm soát có thể đẩy nhanh sự phát triển ngay tức khắc của lực lượng sản xuất ở cả trong
nông nghiệp và công nghiệp.

Nhờ việc tăng nhanh lực lượng sản xuất trong nông nghiệp mà ổn định xã hội, thoát ra
khỏi khủng hoảng, thoát ra khỏi tình cảnh “ giảm sút tín nhiệm của nông dân với chính
quyền Xô Viết ”.

Trong công nghiệp, nhờ sự “ du nhập ” chủ nghĩa tư bản từ bên ngoài mà tăng nhanh
lực lượng sản xuất. Trong nước có xí nghiệp, hầm mỏ, khu rừng... nhưng do thiếu máy móc,
lương thực, phương tiện vận tải, cho nên không thể khai thác được. Vì thế mà thành phần tư
hữu tăng lên về mọi mặt, kinh tế nông dân ở vùng xung quanh bị suy yếu, các lực lượng sản
xuất nông nghiệp bị lung lay. Nếu “ du nhập ” được chủ nghĩa tư bản thì sẽ cải thiện được
nhanh chóng tình trạng sản xuất, đời sống của công nhân và nông dân, nền đại công nghiệp
Xô Viết sẽ được khôi phục. Nhưng muốn du nhập được chủ nghĩa tư bản từ bên ngoài vào
thì phải sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Như vậy, có thể nói, chủ nghĩa tư bản nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc
thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, góp phần phát triển nông nghiệp, công nghiệp
và cải thiện đời sống của nhân dân.

Thứ hai, chủ nghĩa tư bản nhà nước là công cụ để liên hợp nền sản xuất nhỏ lại, khắc
phục tình trạng phân tán và đấu tranh chống tính tự phát tiểu tư bản và tư bản chủ nghĩa.
Nền kinh tế của nước Nga sau chiến tranh bị tàn phá nặng nề, công nghiệp lớn chưa được
khôi phục, các cơ sở kinh tế nhỏ không nhận được sự giúp đỡ hỗ trợ của công nghiệp lớn,
chúng không bị sức hút nào cả, nên kinh tế nhỏ vẫn tồn tại độc lập trong chủ nghĩa xã hội.
Trong điều kiện ấy, chủ nghĩa tư bản nhà nước sẽ là sự liên hợp nền sản xuất nhỏ lại, bởi vì
chủ nghĩa tư bản là xu hướng và là kết quả phát triển, tự phát của nền sản xuất nhỏ. Nếu
phát triển được chủ nghĩa tư bản nhà nước thì chính quyền Xô Viết sẽ tăng cường được nền
đại sản xuất đối lập với nền tiểu sản xuất, nền sản xuất tiên tiến đối lập với nền sản xuất lạc
hậu, nền sản xuất cơ khí hoá đối lập với nền sản xuất thủ công, tăng thêm sản phẩm thu
được từ đại công nghiệp, củng cố những quan hệ kinh tế do Nhà nước điều chỉnh, đối lập
với những quan hệ kinh tế tiểu tư sản vô chính phủ. Chủ nghĩa tư bản nhà nước, vì lẽ ấy, trở
thành công cụ để “ đấu tranh chống tính tự phát tư bản chủ nghĩa ”, “ chống tệ đầu cơ ” -
được coi là kẻ thù chính của chủ nghĩa xã hội ở những nước tiểu nông tiến lên chủ nghĩa xã
hộị.

Như vậy, có thể nói chủ nghĩa tư bản nhà nước là “ một bước tiến lớn ”, nhờ nó mà
chiến thắng được tình trạng hỗn độn, tình trạng suy sụp về kinh tế, khắc phục được tình
trạng sản xuất nhỏ phân tán cũng như đấu tranh chống được tính tự phát tiểu tư sản. Nếu sử
dụng tốt chủ nghĩa tư bản nhà nước thì “ tất cả các con át chủ bài đều nằm trong tay giai cấp
công nhân và sẽ đảm bảo chủ nghĩa xã hội được củng cố ”. Và chủ nghĩa tư bản nhà nước sẽ
đưa nước Nga đến chủ nghĩa xãhội bằng con đường chắc chắn nhất.

Thứ ba, chủ nghĩa tư bản nhà nước còn được xem là công cụ đấu tranh chống chủ
nghĩa quan liêu và những lệch lạc quan liêu chủ nghĩa. Lê nin đã phân tích rõ nguồn gốc
kinh tế của chủ nghĩa quan liêu ở nước Nga: ấy là tình trạng riêng rẽ, tình trạng phân tán của
những người sản xuất nhỏ, cảnh khốn cùng của họ, tình trạng không có đường sá, nạn mù
chữ, tình trạng không có sự trao đổi giữa công nghiệp và nông nghiệp, tình trạng thiếu sự
liên hệ và tác động qua lại giữa công nghiệp và nông nghiệp. Bằng việc sử dụng chủ nghĩa
tư bản nhà nước, nước Nga sẽ khắc phục được các tình trạng trên, nhờ đó mà có thể đấu
tranh chống lại chủ nghĩa quan liêu.

Thứ tư, thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước mà giai cấp công nhân có thể học tập
được cách quản lý một nền sản xuất lớn, tổ chức một nền sản xuất lớn. Đồng thời, thông qua
các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước mà các kỹ thuật công nghệ tiên tiến của các
nước phát triển cũng được “ du nhập ” vào nước Nga. Nhờ đó, nước Nga có thể xây dựng
tốt một cơ sở cho nền đại sản xuất của chính quyền Xô Viết.

Thứ năm, chủ nghĩa tư bản nhà nước còn góp phần phát triển giai cấp công nhân. Nếu
chủ nghĩa tư bản được lợi thế, thì sản xuất công nghiệp cũng sẽ tăng lên và giai cấp vô sản
cũng theo đó mà lớn nhanh lên.

Có thể nói, chủ nghĩa tư bản nhà nước có vai trò rất to lớn trong thời kỳ quá độ đi lên
chủ nghĩa xã hội không chỉ với nước Nga lúc bấy giờ mà cả với những nước đang quá độ lên
chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn hiện nay, trong đó có nước ta.

3. Các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước.

3.1. Xí nghiệp tô nhượng.

Lê nin quan niệm tô nhượng là một giao kèo, một sự liên kết liên minh giữa chính
quyền nhà nước Xô Viết với chủ nghĩa tư bản nhà nước, chống lại chế độ tự phát triển tư
hữu.

Tô nhượng dựa trên cơ sở đại công nghiệp cơ khí hoá, trong mỗi hợp đồng chỉ quan hệ
với duy nhất một nhà tư bản, một tổ chức độc quyền. Nó được cho phép và bắt buộc phải có
một hợp đồng và có một thời hạn chính xác.

Người nhận tô nhượng là nhà tư bản, họ nhận tô nhượng để kinh doanh theo phương
thức tư bản để lấy lợi nhuận và lợi nhuận siêu ngạch hoặc để có được loại nguyên liệu mà
họ không thể có hoặc khó có thể có được bằng cách khác (tức là không ký hợp đồng với
chính quyền Xô Viết) .

Chính quyền Xô Viết cũng có lợi: lực lượng sản xuất phát triển, số lượng sản phẩm
tăng lên nhanh chóng. Mặt khác, khi sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức tô
nhượng, chính quyền Xô Viết sẽ tăng cường được nền đại sản xuất đối lập với nền tiểu sản
xuất; nền sản xuất cơ khí hoá đối lập với nền sản xuất thủ công; nó củng cố được những
quan hệ kinh tế do nhà nước điều chỉnh đối lập với những quan hệ kinh tế tiểu tư sản, vô
chính phủ.

Đồng thời tô nhượng cũng là sự tiếp tục của đấu tranh giai cấp dưới một hình thức
khác, chứ không phải là sự thay thế đấu tranh giai cấp bằng hoà bình giai cấp.

Tuy nhiên, tô nhượng là sự “ du nhập ” chủ nghĩa tư bản từ bên ngoài vào, vì vậy khi
sử dụng hình thức này cần suy nghĩ, cân nhắc hết mọi điều khi ký hợp đồng tô nhượng và
sau đó phải biết theo dõi việc chấp hành nó. Lê nin đã nêu ra những điểm cần lưu ý khi sử
dụng hình thức tô nhượng như sau:

Thứ nhất, để thực hành chủ nghĩa tư bản nhà nước dưới hình thức tô nhượng, cần phải
từ bỏ chủ nghĩa ái quốc địa phương của một số người cho rằng, tự mình có thể làm lấy,
không chấp nhận trở lại ách nô dịch của tư bản.

Thứ hai, người nhận tô nhượng có trách nhiệm cải thiện đời sống công nhân trong xí
nghiệp tô nhượng sao cho đạt tới mức sống trung bình của người nước ngoài. Cải thiện đời
sống của công nhân trong các xí nghiệp tô nhượng và ngoài tô nhượng được xem là “ cơ sở
của chính sách tô nhượng ”.

Thứ ba, điều kiện về thuê mướn, về sinh hoạt vật chất, về trả lương cho các công nhân
lành nghề và nhân viên người nước ngoài được quy định theo sự thoả thuận tự do giữa
người nhận tô nhượng với những loại công nhân nói trên. Công đoàn không có quyền đòi áp
dụng các mức lương của Nga, cũng như các luật lệ của Nga về thuê mướn nhân công đối với
những công nhân đó.

Thứ tư, phải tôn trọng luật pháp và nghiêm chỉnh tuân theo những quy tắc khoa học và
kỹ thuật phù hợp với pháp luật của nước Nga và của nước ngoài.

Chuyển từ chế độ tô nhượng lên chủ nghĩa xã hội là chuyển từ một hình thức đại sản
xuất này sang một hình thức đại sản xuất khác. Một khi thắng lợi với hình thức tô nhượng
nước Nga sẽ có ngay một số “ xí nghiệp lớn kiểu mẫu ” ngang hàng với các công ty lớn ở
những nước tư bản chủ nghĩa hiện đại. Do vậy, ở Nga giai đoạn này tô nhượng chiếm ưu thế
hơn so với các hình thức kinh tế tư bản nhà nước khác.
3.2. Hợp tác xã.

Từ thực tiễn của nước Nga, Lê nin phân biệt hợp tác xã trong những chế độ khác nhau.
Theo Lê nin trong thực tế tồn tại hai chế độ hợp tác xã: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ
nghĩa. Chế độ hợp tác xã tư bản chủ nghĩa trong lòng chế độ Xô Viết được coi là một hình
thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước.

Trong một nước tư bản chủ nghĩa, hợp tác xã là những tổ chức tư bản tập thể. Còn
trong điều kiện kinh tế mới - tức chính quyền Xô Viết, đã hình thành một loại xí nghiệp thứ
ba, tức là xí nghiệp hợp tác xã. Những xí nghiệp hợp tác xã này được coi là một hình thức
của chủ nghĩa tư bản nhà nước. Đặc trưng của xí nghiệp này là sự kết hợp những xí nghiệp
tư bản tư nhân với những xí nghiệp kiểu xã hội chủ nghĩa chính cống.

Lê nin chỉ ra rằng, chủ nghĩa tư bản hợp tác xã khác với chủ nghĩa tư bản tư nhân ở
chỗ nó là một hình thái của chủ nghĩa tư bản nhà nước, vì vậy sẽ có lợi và có ích cho nước
Nga ở một mức độ nào đó, khi sử dụng nó. Đồng thời, cũng giống như chủ nghĩa tư bản nhà
nước, chủ nghĩa tư bản hợp tác xã cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hiệp và tổ chức
hàng triệu người, sau đó là toàn thể dân chúng - đây là một điều rất có lợi cho việc quá độ từ
chủ nghĩa tư bản nhà nước lên chủ nghĩa xã hội.

Nhưng mặt khác, chế độ hợp tác xã dựa trên cơ sở tiểu công nghiệp, trên nền sản xuất
thủ công mà một bộ phận thậm chí còn có tính gia trưởng. Chính quyền có thể quan hệ với
hàng ngàn, thậm chí hàng triệu tiểu chủ song lại không yêu cầu hợp đồng với thời hạn thật là
chính xác. Chính vì vậy thủ tiêu một đạo luật về hơp tác xã dễ hơn nhiều so với việc bãi bỏ
một hợp đồng tô nhượng, nhưng nó lại không thể thủ tiêu được các mối quan hệ kinh tế
đang có giữa chính quyền Xô Viết vơí hàng triệu các nhà tư bản nhỏ. Ngoài ra, việc chuyển
từ chế độ hợp tác xã của những người sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội là việc chuyển từ
tiểu sản xuất lên đại sản xuất. Vì vậy, đây là một bước quá độ phức tạp hơn, nhưng thành
công của nó lại có thể bao gồm được những khối quần chúng nhân dân lao động đông đảo
hơn, do vậy, nó nhổ được những gốc rễ sâu xa hơn và dai dẳng hơn của những quan hệ cũ
tiền xã hội cbủ nghĩa thậm chí tiền tư bản chủ nghĩa. Sự thành công của chính sách hợp tác
xã sẽ giúp nền kinh tế nhỏ phát triển và tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế từ sản xuất
nhỏ quá độ trong một thời gian không nhất định lên nền đại sản xuất trên cơ sở tự nguyện
kết hợp.
3.3. Hình thức đại lý uỷ thác.

Nhà nước lôi cuốn nhà tư bản với tư cách là một nhà buôn, trả cho họ một số tiền hoa
hồng để họ bán sản phẩm của nhà nước và mua sản phẩm của người sản xuất nhỏ, trên cơ sở
đó theo dõi tình hình sản xuất và phân phối sản phẩm. Cuối cùng với chính sách cho phép
mở rộng trao đổi hàng hoá giữa thành thị với nông thôn, giữa công nghiệp với nông nghiệp,
củng cố lại lưu thông tiền tệ, hình thức kinh tế này cũng đã có những bước phát triển mới
trong giai đoạn này.

3.4. Cho tư bản trong nước thuê xí nghiệp, vùng mỏ, rừng, đất.

Hình thức này giống hình thức tô nhượng, nhưng đối tượng tô nhượng không phải là tư
bản nước ngoài mà là tư bản trong nước. Hình thức này được coi là hình thức riêng biệt để
phân biệt nó với hình thức tương tự nhưng đối tượng thuê là tư bản trong nước.

3.5. Cho nông dân thuê những hầm mỏ nhỏ.

Qua thực tiễn vùng mỏ Đôn bat, Lê nin rút ra một hình thức nữa của chủ nghĩa tư bản
nhà nước: cho nông dân thuê những hầm mỏ nhỏ. Đây cũng là kiểu cho thuê nhưng đối
tượng thuê - theo cách nói của Lê nin - là những tiểu tư bản. Qua việc làm này, Lê nin rút ra
hai kết luận - một hiện tượng ngược đời: chính ở những hầm mỏ nhỏ cho nông dân thuê, sản
xuất lại đặc biệt phát triển hơn là những xí nghiệp lớn nhất trước kia là của tư bản, ngang
hàng với những xí nghiệp tư bản ở Tây Âu. Những quan hệ của chủ nghĩa tư bản nhà nước
được phát triển. Những nông dân này hoạt động theo kiểu nộp tô cho nhà nước (gần 30% số
than khai thác được) . Có thể nói hình thức này của chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng có
những vai trò nhất định, đóng góp đáng kể cho công cuộc khôi phục kinh tế, xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước Nga thời bấy giờ.

3.6. Công ty hợp doanh.

Hình thức này được đề cập trong báo cáo tại Đại hội IV Quốc tế vô sản, Lê nin đã nói
về những thành tựu đạt được do sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước. Khi nói về lĩnh vực
thương nghiệp, chính quyền Xô Viết đang cố gắng lập ra những công ty hợp doanh và đã
thành lập được theo thể thức tiền vốn một phần là của tư bản tư nhân, ngoài ra của tư bản
nước ngoài và một phần là của chính quyền Xô Viết.
4. Những điều kiện để sử dụng có hiệu quả chủ nghĩa tư bản nhà nước.

Qua các phần nghiên cứu trên, chúng ta đã thấy được tính tất yếu phải sử dụng chủ
nghĩa tư bản nhà nước, vai trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng như những hình thức cụ
thể để áp dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước. Nhưng, để sử dụng có hiệu quả chủ nghĩa tư bản
nhà nước, cần phải làm như thế nào, cần có những điều kiện gì ?. Trong hệ thống chính sách
“ Kinh tế mới ” Lê nin đã nêu rõ những điều kiện cần thiết để sử dụng có hiệu quả chủ nghĩa
tư bản nhà nước.

Trước hết, việc áp dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước đòi hỏi phải có sự kiểm kê, kiểm
soát của nhà nước đối với các hoạt động của các doanh nghiệp. Điều này được thực hiện với
điều kiện là chính quyền nhà nước nằm trong tay giai cấp công nhân. Và nhà nước cần phải
quy định khuôn khổ cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nhà nước. Như Lê nin nói: “ Nếu
nhà nước công nhân nắm lấy công xưởng, nhà máy và đường sắt thì chúng ta không sợ gì
chủ nghĩa tư bản ấy”. Như vậy, vấn đề là ở chỗ Nhà nước xã hội chủ nghĩa phải kiểm soát
ngăn chặn bất cứ chủ nghĩa tư bản nào vượt ra ngoài khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản nhà
nước và phải làm cho nó phù hợp với lợi ích của giai cấp công nhân. Mặt khác, chủ nghĩa tư
bản nhà nước do không đồng nghĩa với hoà bình giai cấp nên tất yếu nhà nước phải đứng ra
để bảo vệ lợi ích của nhân dân lao động thông qua việc kiểm kê, kiểm soát nhằm giảm sự
đối lập về lợi ích giai cấp - một điều mang tính chất tất yếu tồn tại trong hình thức này.

Đồng thời để chủ nghĩa tư bản nhà nước có thể tồn tại và phát triển được thì ở nước
Nga lúc này phải thành lập được những hình thức sở hữu hỗn hợp và sở hữu trong các
doanh nghiệp. Lý luận về chủ nghĩa tư bản của Lê nin cũng đã cùng lúc đặt ra yêu cầu mới
trong nhận thức về chế độ sở hữu trong thời kỳ quá độ. Theo Lê nin thì chế độ sở hữu mang
tính chất phổ biến trong thời kỳ quá độ là chế độ sở hữu hỗn hợp với rất nhiều hình thức,
trong đó nhà nước trực tiếp khống chế những cơ sở kinh tế nào đó của mọi loại hình sở hữu.
Vì vậy, ngay cả một cơ sở kinh tế thuộc sở hữu toàn dân cũng có thể tồn tại và hoạt động
được dưới hình thức sở hữu hỗn hợp, kể cả với tư bản nước ngoài trong đó nhà nước nắm
địa vị khống chế. Thực hiện chế độ sở hữu hỗn hợp đa dạng chính là thực hiện dân chủ về
mặt kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây cũng chính là cơ sỏ cho việc
thành lập những hình thức sở hữu hỗn hợp giữa nhà nước với tư bản trong và ngoài nước, và
cũng là điều kiện để cho chủ nghĩa tư bản nhà nước được áp dụng thành công.
5. Kết quả thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước thời Lê nin.

Qua các tài liệu thì chính sách “ Kinh tế mới ” nói chung, chủ nghĩa tư bản nhà nước
nói riêng đã đem lại cho nước Nga Xô Viết những kết quả nhất định, góp phần làm sống
động nền kinh tế nước Nga - nền kinh tế đã bị suy sụp rất nhiều sau chiến tranh.

Kết quả chủ yếu và quan trọng nhất là tình hình giai cấp nông dân đã được cải thiện
một cách đáng kể. Từ chỗ đói kém, nông dân bất bình, dẫn đến bạo loạn vậy mà chỉ sau một
năm nông dân chẳng những đã có đủ lương thực mà còn nộp thuế cho nhà nước hàng trăm
triệu put. Nông dân đã hài lòng với tình hình của họ. Công nghiệp cũng đang trên đà phát
triển, đời sống của công nhân đã được cải thiện, tình trạng bất mãn của công nhân không
còn.

Công nghiệp nặng tuy vẫn còn nhiều khó khăn song cũng đã có những bước phát triển
nhất định. Tuy nhiên chính sách tô nhượng cho đến lúc ấy (1922) vẫn chưa có một tô
nhượng sinh lợi nào trong công nghiệp nặng. Nhưng thông qua chính sách “ Kinh tế mới “
mà đã thu hút được một số vốn lớn hơn 20 triệu rúp vàng.

Riêng về chủ nghĩa tư bản nhà nước, nhìn chung đã mang lại cho nước Nga những tác
dụng tích cực. Nhờ tô nhượng với nước ngoài, nhiều ngành công nghiệp quan trọng (đặc
biệt khai thác dầu) đã phát triển, nhiều kinh nghiệm tiên tiến, với kỹ thuật, thiết bị hiện đại
của nền sản xuất lớn tư bản chủ nghĩa đã được đưa vào quá trình sản xuất, mang lại hiệu quả
cao. Tô nhượng cùng các công ty hợp doanh đã góp phần phát triển sản xuất hàng hoá, tăng
thêm dự trữ ngoại tệ cho đất nước, mở rộng các quan hệ liên doanh, liên kết kinh tế trong
các lĩnh vực đầu tư sản xuất, chuyển giao công nghệ tiên tiến và phát triển ngoại thương với
các nước tư bản phương Tây. Thông qua các hoạt động của các công ty hợp doanh, những
người cộng sản Nga còn có thể thực sự học cách buôn bán, điều mà bấy giờ Lê nin thường
nói là rất quan trọng. Hoạt động của các xí nghiệp cho thuê, các xí nghiệp hỗn hợp đã góp
phần giúp nhà nước Xô Viết duy trì sự hoạt động sản xuất bình thường ở các cơ sở kinh tế,
tăng thêm sản phẩm cho xã hội, việc làm cho người lao động. Hình thức đại lý thương
nghiệp và các hợp tác xã tư bản chủ nghĩa trong các lĩnh vực sản xuất, tín dụng và tiêu thụ
đã góp phần quan trọng trong việc hỗ trợ thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, đẩy nhanh quá
trình trao đổi và lưu thông hàng hoá tiền tệ, làm sống động nền sản xuất hàng hoá nhỏ, qua
đó cải biến những người tiểu nông, nối liền quan hệ trao đổi công - nông nghiệp, thành thị -
nông thôn. Chính bởi vậy, có thể nói chủ nghĩa tư bản nhà nước đã góp phần không nhỏ vào
việc khôi phục và phát triển kinh tế nước Nga sau chiến tranh.

Tuy nhiên, so với những mong muốn và mục tiêu mà Lê nin đặt ra thì những thành tựu
của chủ nghĩa tư bản nhà nước đã đạt được ở Nga vẫn còn rất thấp. Điều đó do nhiều
nguyên nhân gây nên trong đó có phần bởi chủ nghĩa tư bản đế quốc vẫn tìm mọi cách bóp
chết chính quyền Xô Viết về mặt kinh tế nên sự hợp tác đầu tư không được như mong
muốn. Với tư cách là một thành phần kinh tế song tỷ trọng của kinh tế tư bản nhà nước
trong tổng sản phẩm của cả nước mới chỉ đạt khoảng 1% trong suốt giai đoạn 1923 - 1924.
Năm 1923, các xí nghiệp tô nhượng mới sản xuất được khối lượng sản phẩm là 35,1 triệu
rúp.

Nhưng hiện thực đó cũng không thể phủ nhận tính đúng đắn của lý luận của Lê nin về
chủ nghĩa tư bản nhà nước. Có thể nói lý luận đó trong hệ thống chính sách “ Kinh tế mới “
là một trong những di sản quý giá nhất mà Người để lại cho chúng ta. Và, nhờ chính sách “
Kinh tế mới ” mà chính quyền Xô Viết đã có những bước tiến vững chắc trong nông nghiệp
và công nghiệp. Nông dân vừa lòng, công nghiệp cũng như thương nghiệp đang hồi sinh và
phát triển. Vì vậy,việc nghiên cứu sâu sắc tư tưởng đó của Lê nin có ý nghĩa thiết thực đối
với chúng ta, giúp chúng ta xác định rõ phương tiện cũng như con đường thực hiện định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

II. Sự vận dụng lý luận của Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước vào nước ta hiện
nay.

1. Sự cần thiết và khả năng sử dụng kinh tế tư bản nhà nước ở nước ta hiện nay.

1.1. Tính tất yếu khách quan của việc sử dụng hình thức kinh tế tư bản nhà nước ở
nước ta hiện nay.

Để thấy rõ tính khách quan của việc sử dụng hình thức kinh tế tư bản nhà nước ở nước
ta hiện nay chúng ta cần phải nắm được đặc điểm cũng như trình độ của nền kinh tế nước ta.
Có thể nói nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với gần 80% dân số
tham gia hoạt động nông nghiêp với kỹ thuật thô sơ là phổ biến. Công nghiệp nhỏ bé,
thương nghiệp, giao thông vận tải và dịch vụ chưa phát triển. Hiện nay, Đảng và nhà nước ta
đang lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước với mục đích đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở thành một nước công
nghiệp tiên tiến, hiện đại, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong công cuộc đổi mới ấy,
nền kinh tê nước ta cũng được chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
điều tiết của nhà nước theo định hướng chủ nghĩa xã hội. Trong nền kinh tế nhiều thành
phần ấy, Đảng ta đã xác định kinh tế tư bản nhà nước là một trong năm thành phần kinh tế
cơ bản. Đó là một chủ trương đúng đắn, tất yếu của Đảng và nhà nước ta vì những nguyên
nhân sau đây:

Thứ nhất, như trên đã nói, nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nền
kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó tất yếu tồn tại thành phần kinh tế
tư bản tư nhân. Mặt khác, với chính sách khuyến khích tự do trao đổi hàng hoá, khuyến
khích làm giàu chính đáng, tất yếu sẽ nảy sinh một tầng lớp tư sản mới. Không thể dùng sắc
lệnh để loại bỏ được thành phần kinh tế này, cách tốt nhất là hướng nó vào con đường chủ
nghĩa tư bản nhà nước. Như vậy, sự tồn tại của kinh tế tư bản nhà nước vừa mang tính tất
yếu khách quan vừa như là một sách lược kinh tế của nhà nước ta để định hướng cho các
thành phần kinh tế khác (tiêu biểu là thành phần kinh tế tư bản tư nhân) đi lên chủ nghĩa xã
hội.

Thứ hai,ở một nước mà nền tiểu sản xuất chiếm ưu thế như nước ta thì không thể trực
tiếp xây dựng chủ nghĩa xã hội được. Do đó chúng ta phải sử dụng kinh tế tư bản nhà nước
như một sách lược kinh tế. Hay nói cách khác chủ nghĩa tư bản nhà nước sẽ là mắt xích
trung gian giữa nền tiểu sản xuất va chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương
pháp phương thức để tăng lực lượng sản xuất. Lê nin đã từng nói: “ trong một nước tiểu
nông trước hết các đồng chí phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc, đi xuyên qua chủ
nghĩa tư bản nhà nước tiến lên chủ nghĩa xã hội ”. Sử dụng hình thức kinh tế tư bản nhà
nước sẽ giúp chúng ta phát triển lực lượng sản xuất vì kinh tế tư bản nhà nước có ưu thế về
vốn, kỹ thuật và công nghệ cũng như những kinh nghiệm và biện pháp quản lý kinh tế tiên
tiến. Thông qua hình thức hơp tác, đầu tư với tư bản trong và ngoài nước, chúng ta sẽ thu
hút được vốn, kỹ thuật công nghệ hiện đại.... Đặc biệt trong điều kiện cuộc cách mạng khoa
học công nghệ đang diễn ra như vũ bão thì hình thức kinh tế tư bản nhà nước sẽ giúp chúng
ta tránh khỏi nguy cơ bị tụt hậu. Bên cạnh đó, chúng ta còn học tập thêm được những
phương pháp cũng như những kinh nghiệm quý báu của các nhà tư bản nước ngoài trong
quản lý kinh tế. Đó là những tiền đề hết sức cần thiết để nước ta tiến hành thành công công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Như vậy, sử dụng kinh tế tư bản nhà nước
không những là một tất yếu khách quan trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mà còn là
một biện pháp để chúng ta tăng cường phát triền lực lượng sản xuất, trên cơ sở đó phát triển
nhanh nền kinh tế để đi lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ ba, việc sử dụng hình thức kinh tế tư bản nhà nước còn phù hợp với xu thế quốc tế
hoá đang diễn ra trên toàn bộ thế giới và đặc biệt là khu vực Đông Nam á. Chúng ta sẽ
không thể phát triển được nếu không mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và
trên thế giới kể cả các nước chủ nghĩa xã hội cũng như các nước tư bản chủ nghĩa. Vì vậy,
sự hợp tác về kinh tế với các nước tư bản thông qua hình thữc kinh tế tư bản nhà nước là
một tất yếu trong quá trình mở rộng sự hợp tác phát triển trên mọi lĩnh vực.

Từ tất cả các điều trên có thể kết luận rằng ở nước ta hiện nay, việc sử dụng hình thức
kinh tế tư bản nhà nước là một tất yếu khách quan. Sử dụng kinh tế tư bản nhà nước sẽ là
điều kiện cần thiết để khắc chế tính tự phát trong sản xuất và chế độ sản xuất phân tán kém
hiệu quả của kinh tế sản xuất nhỏ, nhằm khai thác tối đa tiềm năng để tập trung cho các
nguồn lực hướng về mục tiêu kinh tế - xã hội cao nhất như công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước và các chương trình kinh tế lớn khác. Hơn nữa, tố chất cạnh tranh vốn có của hình
thái kinh tế tư bản chủ nghĩa sẽ như chất xúc tác cho một môi trường kinh tế cạnh tranh sôi
động, giúp cho tất cả các thành phần kinh tế trong xã hội có một sự nhận thức về bản thân
mình đúng hơn, ý thức hơn về nhu cầu tồn tại trong phát triển xã hội, và do đó sẽ đáp ứng
sản phẩm tốt hơn cho người tiêu dùng. Một hệ quả hết sức quan trọng của sự phối hợp kinh
tế trong nước với nhau và trong nước với nước ngoài là sự giao lưu và tăng trưởng trí tuệ,
kiến thức xã hội và do đó thúc đẩy mặt bằng học vấn kinh tế xã hội được nâng cao. Chính vì
tất cả những lý do trên mà Đảng và Nhà nước ta đã áp dụng một cách rộng rãi, phổ biến các
hình thức kinh tế tư bản nhà nước để phát triển lực lượng sản xuất theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII viết: “ Kinh tế tư bản nhà nước bao gổm
các hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và
hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản nước ngoài. Kinh tế tư bản nhà nước có
vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn về vốn, công nghê, khả năng tổ
chữc quản lý.... của các nhà tư bản vì lợi ích của bản thân họ, cũng như của công cuộc xây
dựng và phát triển đất nước... ”.

2.1. Những khả năng sử dụng hình thức kinh tế tư bản nhà nước ở nước ta.

Như vậy, qua phần phân tích trên ta thấy rõ tính tất yếu của việc sử dụng hình thức
kinh tế tư bản nhà nước ở nước ta. Nhưng chúng ta sẽ vận dụng như thế nào? Liệu nước ta
có đủ điều kiện và khả năng để sử dụng hình thức kinh tế tư bản nhà nước hay không?

Lý luận của Lê nin đã chỉ rõ, để sử dụng có hiệu quả chủ nghĩa tư bản nhà nước thì
trước hết, chính quyền nhà nước phải nằm trong tay giai cấp công nhân. ở nước ta hiện nay,
Đảng Cộng sản - Đảng tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang giữ vai
trò lãnh đạo. Toàn thể nhân dân ta đều tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và đang nỗ lực
phấn đấu để đưa đất nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội. Có thể nói, đây là điều kiện đầu tiên
quan trọng nhất để sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước.

Thứ hai, về mặt kinh tế, nước ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều
tiết của nhà nước. Đây là một điều kiện rất quan trọng để phát triển kinh tế tư nhân trong
nước cũng như nước ngoài trên cơ sở đó vận dụng các hình thức kinh tế tư bản nhà nước
như: liên doanh, liên kết giữa nhà nước và tư bản tư nhân trong nước và liên doanh, liên kết
giứa nhà nước và tư bản tư nhân nước ngoài....

Thứ ba, về mặt luật pháp, chúng ta đã ban hành và đang tiếp tục hoàn thiện hành lang
pháp lý về thành phần kinh tế tư nhân trong nước, liên doanh giữa nhà nước và kinh tế tư
bản tư nhân trong nước, về đầu tư nước ngoài cũng như liên doanh giữa nhà nước và nước
ngoài....

Không những thế, những xu thế quốc tế hiện nay cũng tạo cho nước ta những thuận lợi
nhất định. Trước hết, đó là xu thế hoà bình, hợp tác quốc tế trên cơ sở hai bên cùng có lợi.
Khác với thời kỳ chiến tranh lạnh trước kia, ngày nay, Việt Nam mong muốn làm bạn với tất
cả các nước, cùng hợp tác trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế. Đây không chỉ là mong
muốn của nước ta mà đã là sách lược của tất cả các nước trong khu vực và hầu hết các nước
trên thế giới. Xu thế này tạo điều kiện rất thuận lợi để chúng ta kêu gọi, thu hút các nguồn
vốn đầu tư nước ngoài.

Cùng với xu thế hợp tác là xu thế quốc tế hoá. Quá trình quốc tế hoá đang diễn ra hết
sức mạnh mẽ trong khu vực cũng như toàn thế giới tác động rất mạnh mẽ đến nền kinh tế
nước ta. Trong thời đại ngày nay, không một quốc gia nào có thể tồn tại độc lập, riêng rẽ mà
phải nằm trong mối quan hệ với các quốc gia khác, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế. Có thể
nói nền kinh tế của một quốc gia ngày nay nằm trong mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế
thế giới, nền kinh tế toàn cầu. Chính vì vậy, kinh tế tư bản nhà nước đặc biệt là liên kết giữa
nhà nước và tư bản nước ngoài sẽ tạo điều kiện để nước ta gia nhập và là một bộ phận trong
nền kinh tế đó để tránh khỏi nguy cơ tụt hậu.

Như vậy, nước ta có đầy đủ khả năng và điều kiện để vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà
nước kể cả về mặt kinh tế cũng như chính trị, xã hội, luật pháp và xu hướng quốc tế. Điều
quan trọng nhất hiện nay là chúng ta phải vận dụng tốt lý luận của Lê- nin vào tình hình cụ
thể của nước ta để thu được hiệu quả cao.

2. Những hình thức cụ thể của kinh tế tư bản nhà nước đang được vận dụng ở nước
ta.

Để có thể vận dụng có hiệu quả chủ nghĩa tư bản nhà nước ở nước ta một mặt chúng ta
không thể xa rời các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mac - Lê-nin, mặt khác, chúng ta
cũng không thể rập khuôn máy móc hay mô phỏng một cách giáo điều mô hình kinh tế của
nước Nga những năm 20. Vì vậy, chúng ta cần phải nẵm vững những tư tưởng mà Lê nin đã
nêu ra đồng thời dựa trên tình hình thực tế của nước ta để vận dụng lý luận đó sao cho có
hiệu quả nhất. áp dụng máy móc hoặc xa rời chủ nghĩa Mac- Lê- nin trong tổ chức và thực
hiện đều là sai lầm không thể chấp nhận được.

Từ quan điểm của Lê nin và căn cứ vào thực tiễn nước ta trong bối cảnh hiện nay có
thể xác định các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước cần vận dụng ở nước ta như sau:

2.1. Hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước và tư bản tư nhân trong nước.

Thông qua sự liên doanh, liên kết giữa nhà nước và các chủ thể sở hữu ngoài quốc
doanh ỏ trong nước, nhà nước có thể huy động vốn được nhiều, đổi mới kỹ thuật và quy
trình công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường.... Đồng thời, phía nhà
nước cũng dễ dàng thực hiện được sự kiểm kê, kiểm soát, hướng dẫn, điều tiết sự phát triển
để thúc đẩy cải cách cơ cấu kinh tế và cơ cấu sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu của thị
trường trong nước và quốc tế, cấu trúc lại nền kinh tế.

Trước đây, hình thức này gọi là “ công tư hợp doanh ” nhưng chúng ta mới chỉ áp
dụng một cách hạn chế với chủ trương cốt để cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm sớm đi đến xoá
bỏ kinh tế tư bản tư nhân. Nay, trên cơ sở quan điểm thừa nhận các thành phần kinh tế còn
tồn tại và phát triển lâu dài trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, hình thức này cần
được sử dụng và phát triển phong phú và đa dạng hơn.

Tính đến nay, nước ta đã có khá nhiều doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân.
Quy mô của đa số những doanh nghiệp này còn rất nhỏ bé, lại dàn trải ở các ngành kinh tế
dịch vụ, nông lâm -ngư- nghiệp xây dựng và chỉ chiếm trên 9% GDP của cả nước. Để phát
huy thế mạnh của thành phần kinh tế này, bên cạnh việc tạo điều kiện cho thành phần kinh
tế tư bản tư nhân phát triển, cần khuyến khích nó liên doanh, liên kết với kinh tế nhà nước,
qua đó mà tăng vốn, đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, tăng sức cạnh tranh và
tăng khả năng hợp tác với nước ngoài. Đây là một đòi hỏi bức xúc của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.

Trong thời gian qua, nước ta đã áp dụng các phương thức góp vốn liên doanh giữa nhà
nước với các nhà tư bản để hình thành các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
nhưng trong tổ chức vẫn còn những trở ngại. Để mở rộng hình thức này, một mặt cần tiếp
tục hoàn thiện cơ sở pháp lý, mặt khác, đẩy mạnh hơn nữa cổ phần hoá một bộ phận các
doanh nghiệp nhà nước, phát triển các loại hình các công ty cổ phần, có quy chế tạo khả
năng lưu hành rộng rãi cổ phiếu, phát triển thị trường chứng khoán, hoàn thiện các yếu tố
của nền kinh tế thị trường.

2.2. Hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước và tư bản tư nhân nước ngoài.

Trong lý luận của mình về chủ nghĩa tư bản nhà nước, Lê nin đã chỉ rõ việc sử dụng
vốn, các chuyên gia tư sản nước ngoài vào phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội là hết sức quan trọng. Hiện nay, trong bối cảnh quốc tế mới, các nước đang và
mới phát triển có cơ hội sớm đi tới một nền kinh tế hiện đại thông qua nhiều con đường như
học hỏi, tiếp nhận chuyển giao công nghệ... của các nước phát triển. Chính vì vậy, đối với
nước ta hình thức liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân nước ngoài sẽ giúp
chúng ta phát triển sản xuất trong nước, rút ngắn khoảng cách lạc hậu giữa nước ta với các
nước trong khu vực.

Hiện nay, liên doanh giữa kinh tế nhà nước và tư bản nước ngoài có hai hình thức. Đó
là các công ty liên doanh giữa nhà nước và tư bản nước ngoài và các công ty 100% vốn
nước ngoài. Thông qua các hình thức này, Nhà nước thu hút và cho phép các nhà tư bản và
công ty nước ngoài đầu tư vào trong nước để phát triển sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, ta
có thể tiếp thu những công nghệ sản xuất tiên tiến của nước ngoài, học tập được các phương
thức và kinh nghiệm quản lý hiện đại - những kiến thức mà hiện nay chúng ta rất yếu và rất
thiếu. Hơn nữa, thông qua hình thức này, chúng ta có thể sản xuất được nhiều mặt hàng cao
cấp mà trong nước chưa sản xuất được, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của
hàng hoá trong nước.

Hiện nay, ở nước ta, các hình thức này đang được triển khai tích cực. Tính đến tháng 7
năm 1997, trong cả nước đã có 2067 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép hoạt động
với số vốn đăng ký 31,3 tỷ USD. Ngoài ra những năm gần đây các nhà tài trợ nước ngoài đã
dành cho Việt Nam một khoản tài trợ đáng kể, mỗi năm trên dưới 2 tỷ USD. Đây là một bộ
phận rất quan trọng của kinh tế tư bản nhà nước được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và
có nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện cho nó phát triển. Các xí nghiệp liên doanh này cần
đầu tư khá đa dạng vào các lĩnh vực khác nhau từ công nghiệp cho tới dịch vụ. Khu vực này
đã góp phần rất đáng kể vào định hướng xây dựng cơ cấu kinh tế thiên về xuất khẩu thu
ngoại tệ ở Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hóa đất nước. Không
những thế khu vực này đã tạo ra nhiều ngành nghề và sản phẩm mới cho xã hội, tăng năng
lực sản xuất xã hội và công nghệ mới, hiện đại cho nhiều ngành then chốt như: khai thác dầu
khí, khí đốt, sản xuất sắt thép, sản xuất xi măng,.... Trên cơ sở đó đã tạo ra nhiều chỗ làm
việc mới, thu hút nhiều lao động xã hội có mức thu nhập bình quân cao đồng thời góp phần
đào tạo nhiều cán bộ có năng lực làm việc tốt. Cuối cùng, cũng như các loại hình kinh tế tư
bản nhà nước khác, khu vực kinh tế này tạo môi trường thuận lợi cho chúng ta tiếp thu tốt
công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nhất, kinh nghiệm tổ chức tiến bộ nhất. Do đó kinh tế tư bản
nhà nước trong khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần không nhỏ vào sự
nghiệp phát triển đất nước. Tuy nhiên, để hình thức này đạt hiệu quả cao, chúng ta cần chú
ý tập trung vào những ngành đòi hỏi có kỹ thuật cao, những ngành mũi nhọn mà khả năng
trong nước chưa thể sản xuất được, đồng thời nhà nước phải nắm cổ phần lớn để có thể
kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp này theo đúng đường lối của Nhà nước.

2.3. Hình thức gia công đặt hàng.

Hình thức này áp dụng trong các ngành sản xuất vật chất. Thông qua hình thức này,
Nhà nước đặt hàng với các nhà tư bản trong và ngoài nước hoặc các doanh nghiệp nhà nước
nhận gia công cho các công ty nước ngoài. Hình thức này với những chính sách phù hợp
cũng đang mang lại những kết quả khả quan ở Việt Nam trong những năm gần đây. Do đặc
điểm của lực lượng lao động ở Việt Nam là dổi dào với giá nhân công rẻ, lao động khéo léo,
chăm chỉ nên nhiều đơn vị nước ngoài đã quan tâm và thực hiện liên doanh, liên kết với các
đơn vị kinh tế thuộc sở hữu nhà nước dưới hình thức gia công, đặt hàng tham gia sản xuất
một số công đoạn trong dây chuyền chế tạo. Điều này cũng phù hợp với xu thế quốc tế hoá
và chính sách mở cửa ở Việt Nam hiện nay, tạo điều kiện giải quyết việc làm, đúc rút kinh
nghiệm về quản lý và cạnh tranh cho các đơn vị trong nước. Ngoài ra, trong hình thức gia
công đặt hàng này còn có hình thức các đơn vị tham gia sản xuất kinh doanh theo đơn đặt
hàng của nhà nước, cũng có những vai trò nhất định đối với sự nghiệp phát triển kinh tế.

2.4. Khu chế xuất.

Khu chế xuất về thực chất được coi là các hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Tại đây không phải chỉ có một loại hình kinh tế tư bản nhà nước đơn độc, thuần tuý mà có
nhiều hình thức cụ thể, bao gồm cả hình thức tô nhượng, liên doanh, cho tư bản nước ngoài
thuê. ở Việt Nam hiện nay, kể từ ngày thành lập khu chế xuất đầu tiên 25/12/1981, bên cạnh
45 khu công nghiệp còn có 3 khu chế xuất. Với việc phát triển nhanh về quy mô và số lượng
các khu công nghiệp, khu chế xuất, Việt Nam không chỉ giải quyết được một số lượng lớn
lao động có việc làm mà các khu công nghiệp, khu chế xuất này còn góp phần thúc đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tham gia vào quá trình hợp lý hoá,
quy hoạch hoá đô thị và bảo vệ môi trường. Do đó, các khu công nghiệp, khu chế xuất này
đã góp phần biến những vùng chậm phát triển có mức sống thấp thành những khu đô thị có
cơ sở hạ tầng tốt, số người dân có công ăn việc làm và thu nhập ổn định tăng lên.
Tuy nhiên, để góp phần phát triển có hiệu quả các loại hình khu công nghiệp, khu chế
xuất chũng ta cần tạo điều kiện như quy hoạch, phát triển theo từng địa phương hay theo
từng ngành nghề, trao thêm quyền tự chủ cho các ban quản lý khu chế xuất, thành lập các
trung tâm đào tạo nghề có hiệu quả phục vụ cho các khu chế xuất, có những ưu đãi về
thuế.... để nó có thể thể hiện đầy đủ những ưu điểm của kinh tế tư bản nhà nước.

2.5. Nhà nước cho tư bản trong và ngoài nước thuê các cơ sở sản xuất kinh doanh
và các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân.

Hiện nay ỏ nước ta do ruộng đất vẫn thuộc quyền sở hữu toàn dân cho nên các căn hộ
- với tính cách là đơn vị sản xuất cơ bản trong nông nghiệp hiện nay - chỉ có quyền sử dụng
mà không có quyền sở hữu. Do vậy, đây cũng là một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà
nước. Chỉ riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, trên cơ sở tư liệu sản xuất cơ bản thuộc sở hữu
toàn dân, chúng ta có chế độ kinh doanh hỗn hợp giữa nhà nước với hộ cá thể. Đây là một
hình thức kinh tế được nhà nước ta quan tâm và tạo điều kiện để phát triển nhằm cải thiện
đời sống của nhân dân phát huy được nội lực để phát triển kinh tế.

Không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp, mà trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, ta cũng
có thể triển khai hình thức này thông qua đấu thầu một số cơ sở vật chất của các doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước, thực hiện các hợp đồng ký kết giữa nhà nước ta với
các nhà tư bản trong và ngoài nước. So với tô nhượng, hình thức cho thuê kinh doanh khác
ở hai điểm: thứ nhất, thời gian hợp đồng thường ngắn hơn; thứ hai, đối tượng chủ yếu cho
thuê kinh doanh không phải chủ yếu là quyền sử dụng đất mà chủ yếu là các hầm mỏ, khu
rừng, xí nghiệp, cửa hàng... Thông qua phát triển hình thức này mà mở rộng một số ngành
và lĩnh vực kinh tế, đồng thời Nhà nước có điều kiện để tập trung vốn đầu tư vào các ngành,
các lĩnh vực trọng yếu, then chốt nhằm tăng cường vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều
thành phần.

2.6.Các tổ chức hợp tác với tính cách là các hình thức kinh tế tư bản nhà nước.

Các cá thể tập hợp nhau lại và cùng tham gia vào sản xuất kinh doanh - đó là loại hình
kinh tế hợp tác. Nhưng trên thực tế còn xuất hiện những tổ chức hợp tác khác nữa mà ta có
thể coi đó là một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước.
Đó là các tổ chức hợp tác như kinh doanh liên hộ, tổ hợp dịch vụ, tổ hợp chế biến,
cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm... Những tổ chức hợp tác này có sử dụng đất đai của sở
hữu toàn dân, có vay vốn của Nhà nước, và nhất là có sự kiểm kê, kiểm soát của nhà nước,
thì với quan niệm rộng theo tư tưởng của Lê-nin đó cũng là hình thức của chủ nghĩa tư bản
nhà nước. Hình thức này thể hiện rõ nét nhất trong chế độ kinh doanh hỗn hợp giữa nhà
nước với tập thể trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, chúng ta cần nắm lấy
hình thức này để phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung và xã hội hoá sản xuất nông
nghiệp nói riêng.

2.7. Một số hình thức khác mới bắt đầu áp dụng ở Việt Nam.

Hiện một số lượng không nhỏ những công ty cổ phần. Việc cổ phần hoá các xí nghiệp
quốc doanh hiện nay là chuyển từ sở hữu nhà nước sang sở hữu hỗn hợp là làm gọn nhẹ, tối
ưu các thành phần kinh tế quốc doanh, tăng thành phần kinh tế cá thể, tập thể, tư nhân. Đây
là giải pháp nhằm thoát khỏi tình trạng làm ăn thua lỗ của các xí nghiệp quốc doanh, tránh
được tình trạng thất thoát tài sản, lãng phí dưới nhiều hình thức, nâng cao trách nhiệm của
người lao động cũng như nâng cao được trình độ quản lý... Tất nhiên, chúng ta vẫn phải
củng cố các xí nghiệp quốc doanh, nhất là những đơn vị có vị trí quan trọng trong nền kinh
tế cũng như xác định mức cổ phần thích hợp trong từng loại đơn vị cổ phần. Cổ phần hoá
các xí nghiệp nhà nước đang trở nên phổ biến và đem lại kết quả rõ rệt ở hầu hết các nước
trên thế giới. Đây cũng là xu thế tất yếu của nước ta. Tuy nhiên, ở nước ta, cái khó hiện nay
là sản xuất chưa ổn định, lạm phát vẫn còn cao, số đông người lao động không có vốn để
góp cổ phần. Những người có khả năng về vốn trong lúc này chưa dám mạo hiểm bỏ tiền ra
mua cổ phần mà gửi tiết kiệm lấy lãi hoặc kinh doanh thương nghiệp còn chắc chắn hơn. Để
khắc phục trở ngại này, việc cổ phần hoá xí nghiệp quốc doanh cầc có chủ trương, bước đi
phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước.

Cho đến thời điểm này, ở nước ta đã xuất hiện hình thức đại lý bao gồm nhiều hình
thức khác nhau, nhưng một bộ phận quan trọng đó là một hình thức của chủ nghĩa tư bản
nhà nước do dựa trên việc nhận làm đại lí cho một đơn vị kinh tế nước ngoài hoặc của một
đơn vị kinh tế nhà nước. Hình thức này phổ biến trong các mặt hàng mà nói chung chúng ta
chưa có khả năng sản xuất nhưng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Trong quá trình mở
cửa và hội nhập với thế giới, hình thức đại lý cũng là một hình thức được tạo điều kiện để
phát triển bởi nó có tác dụng thúc đẩy việc tìm tòi trong sản xuất và nâng cao tính cạnh
tranh của các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân.

Đặc khu kinh tế là một vùng lãnh thổ quốc gia mà trên đó người ta áp dụng các chế độ
đặc biệt đối với các hoạt động kinh tế đối ngoại. Hình thức này tuy khá quen thuộc với một
số nước xã hội chủ nghĩa trước đây và hiện nay song ở Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ và
chưa được xây dựng. Đó cũng là một hướng đi cần chúng ta tiếp tục nghiên cứu.

3. Phương hướng và những điều kiện để vận dụng thành công chủ nghĩa tư bản nhà
nước vào nước ta.

3.1. Phương hướng vận dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước vào nước ta.

Thành phần kinh tế tư bản nhà nước không chỉ là một thành phần cơ bản trong các
thành phần kinh tế hiện nay ở nước ta mà còn có vai trò rất quan trọng, đóng góp rất lớn vào
sự nghiệp xây dựng đất nước. Lực lượng kinh tế tư bản nhà nước đã đầu tư thăm dò và khai
thác dầu khí, khai khoáng, giao thông vận tải và bưu điện viễn thông, điện tử, hoá chất,
nông- lâm-ngư nghiệp, may mặc xuất khẩu, công nghiệp nặng, hàng tiêu dùng, dịch vụ,
khách sạn, du lịch, xây dựng nhà ở, tài chính, tín dụng và một số ngành khác. Các xí nghiệp
liên doanh và hợp doanh với nước ngoài đã thu hút khoản gần 14,2 nghìn lao động trực tiếp
sản xuất và hàng vạn lao động vệ tinh khác. Chúng đã có những đóng góp không nhỏ vào sự
tăng trưởng của nền kinh tế, đặc biệt là góp phần từng bước cân bằng cán cân ngoại thương,
tạo điều kiện cho chúng ta học tập kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp của các nước.

Nhưng trong quá trình phát ttiển, lực lượng kinh tế này cũng đã bộc lộ một số hạn chế,
khiếm khuyết như: các dự án đầu tư có quy mô nhỏ lại chủ yếu đầu tư vào những ngành có
thể đêm lại lợi nhuận ngay và thu hồi vốn nhanh, ít đầu tư vào những ngành có công nghệ
cao - ngành mà chúng ta đang thiếu; vốn đầu tư chủ yếu tập trung ở phía nam đặc biệt là
thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu; thủ tục đầu tư còn nhiều vướng
mắc, trình độ của lao động kỹ thuật còn hạn chế...... Chính vì vậy chúng ta phải có những
phương hướng để nâng cao hiệu quả của thành phần kinh tế này.

Muốn tạo điều kiện để cho kinh tế tư bản nhà nước ở Việt Nam phát triển theo đúng
định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và nhà nước ta đã đề ra phương hướng trong văn kiện
đại hội Đảng VIII như sau: “ Cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực quản lý để
thu hút có hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người lao động trong các xí nghiệp hợp tác, liên doanh. “ Đối với các nhà đầu tư trong
nước: “ áp dụng nhiều phương thức góp vốn liên doanh giữa nhà nước với các nhà kinh
doanh tư nhân trong nước nhằm tạo thế, tạo lực cho các doanh nghiệp Việt Nam phát triển,
tăng sức hợp tác và cạnh tranh với bên ngoài. “ Chỉ có vậy tư bản nước ngoài mới yên tâm
đầu tư vào nước ta cũng như các nhà đầu tư trong nước có thể yên tâm đầu tư, thay thế, sử
dụng những trang thiết bị hiện đại. Đó chính là phương hướng để phát huy được những ưu
việt của thành phần kinh tế này. Cụ thể phương hướng phát triển thành phần kinh tế tư bản
nhà nước như sau:

Thứ nhất, đối với đầu tư nước ngoài: Chúng ta cần chủ động tạo điều kiện như cải
thiện môi trường đầu tư, giảm bớt các thủ tục hành chính, tạo nhiều ưu đãi... và bằng nhiều
hình thức khác nữa để thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư của các nhà tư bản nước ngoài.
Bên cạnh đó, nhà nước ta phải dùng các biện pháp, chính sách hợp lý để thu hút vốn đầu tư
đó vào những ngành mũi nhọn, công nghệ cao có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và
khu vực mà nước ta chưa thể tự sản xuất được như: điện tử - tin học.... Đối với các liên
doanh, cần tăng cường sức mạnh về vốn của đối tác phía Việt Nam (để thông qua đó có thể
thực hiện được sự kiểm kê, kiểm soát của nhà nước) . Muốn làm được như vậy, ta có thể
thông qua sự hợp vốn giữa Nhà nước với các nhà tư sản dân tộc để trở thành một đối tác cần
thiết với các nhà tư sản nước ngoài.

Thứ hai, sự hợp tác giữa Nhà nước và tư nhân trong nước được tập trung phát triển vào
một số hướng ưu tiên như sau:

Phát triển các doanh nghiệp chế biến từ nguyên liệu nông, lâm, hải sản và doanh
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng với công nghệ thích hợp, thu hút nhiều lao động, thu hồi vốn
nhanh, có mức doanh lợi hấp dẫn phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Mở rộng sản xuất, hiện đại hoá công nghệ ở những doanh nghiệp Nhà nước hiện có
dưới hình thức góp vốn cổ phần của tư nhân trong nước.

Tuy nhiên, trong sự hợp tác ấy nhà nước luôn phải giữ một tỷ lệ vốn nhất định để có
thể hướng sự phát triển của doanh nghiệp theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cuối cùng,đất nước chúng ta vẫn đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cho
nên mặc dù hình thức kinh tế tư bản nhà nước là một hình thức kinh tế mang tính chất tất
yếu song chúng ta cũng phải nhận thức được rằng đây không phải là thành phần kinh tế chủ
đạo. Vì vậy, một mặt chúng ta cần có những chính sách để khuyến khích thành phần kinh tế
này phát triển, nhưng mặt khác chúng ta cũng phải có những biện pháp cụ thể và có hiệu quả
nhằm làm cho thành phần kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo: “ làm đòn bẩy đẩy
nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường hướng dẫn, hỗ trợ
các thành phần khác cùng phát triển, tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới “. Trong quá trình
đa dạng hoá các hình thức liên doanh, liên kết với các tổ chức và công ty tư bản nước ngoài,
chúng ta cần nâng cao tỷ lệ đầu tư của phía Việt Nam để phát huy khả năng kiểm kê, kiểm
soát, cũng như để đưa những đơn vị này phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ra, chúng ta cũng cần áp dụng những phương thức thích hợp nhằm tạo thế, tạo lực
cho các doanh nghiệp trong nước phát triển, tăng sức cạnh tranh và có đủ điều kiện khả năng
để hợp tác với bên ngoài.

3.2. Điều kiện để vận dụng thành công chủ nghĩa tư bản nhà nước vào nước ta

Điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất để có thể vận dụng thành công chủ nghĩa tư bản
nhà nước vào nước ta là nâng cao vai trò lãnh đạo của nhà nước, mà vấn đề trọng tâm là
củng cố và tăng cường sức mạnh điều tiết kinh tế của nhà nước.Trước hết, cần tăng cường
tiềm lực kinh tế của nhà nước bằng nhiều biện pháp. Cần phát triển hơn nứa thành phần
kinh tế nhà nước, làm cho kinh tế nhà nước thực sự hoạt động có hiệu quả, phát huy tốt vai
trò chủ đạo, dần dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Thứ hai, chúng ta cần
phải nâng cao năng lực điều tiết kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Những công cụ quan trọng
nhất cần được sử dụng có hiệu quả là các chính sách tài chính, tiền tệ. Với công cụ này, Nhà
nước có thể điều tiết (khuyến khích hay hạn chế) sự phát triển của bất cứ doanh nghiệp nào.
Hệ công cụ điều tiết cụ thể ở đây là chính sách thuế, lãi suất, tỉ giá hối đoái. Không những
thế, bộ máy nhà nước cần được củng cố và đổi mới theo hướng đoạn tuyệt triệt để với các di
sản của cơ chế bao cấp, thay bộ máy quan liêu bằng bộ máy quản lý hoạt động theo nguyên
tắc công nghiệp và thị trường.

Như vậy, có thể nói, để sự phát triển “ đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước ”
không làm thay đổi gì bản chất chế độ xã hội ở nước ta, không đi ra ngoài quỹ đạo của định
hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta cần được củng cố vững chắc, thật sự là của dân, do
dân và vì dân. Nhà nước cần nắm vững các đỉnh cao của nền kinh tế, nắm chắc các công cụ
kinh tế vĩ mô (đặc biệt là chính sách tài chính và tiền tệ) để điều tiết nền kinh tế theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.

Mặt khác, vai trò lãnh đạo của Đảng phải không ngừng được nâng cao. Đảng Cộng sản
Việt Nam là đảng cầm quyền, đại diện và lãnh đạo mọi tầng lớp nhân dân đi theo con đường
xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc đổi mới đất nước
trong thời kỳ quá độ là vô cùng quan trọng, đặc biệt là đối với thành phần kinh tế tư bản nhà
nước nhằm giúp cho thành phần kinh tế này có đủ điều kiện để phát triển, song không đi
chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Chỉ có vậy, chúng ta mới có thể vừa phát triển kinh tế vừa
cải thiện đời sống của nhân dân vừa kiên định đi theo chủ nghĩa xã hội. Muốn vậy, Đại hội
Đảng lần thứ VIII đã khẳng định: “ Đảng phải nghiêm túc xem xét những sai lầm, khuyết
điểm và yếu kém của mình, đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nâng cao sức chiến đấu và năng lực
lãnh đạo... xác định trong giai đoạn hiện nay lãnh đạo kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây
dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt ”.

Bên cạnh đó cần đẩy mạnh và hoàn thiện hệ thống luật pháp, cũng như cải cách nền
hành chính quốc gia. Vấn đề này hiện nay đang là vấn đề cấp bách, quyết định đến việc ổn
định môi trường đầu tư, tạo nên sức thu hút vốn đầu tư. Đảng và Nhà nước ta trong giai
đoạn hiện nay đã rất quan tâm và đang từng bước tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống
luật pháp mặc dù cho đến thời điểm này vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ, gây ảnh hưởng
không nhỏ đến việc phát triển thành phần kinh tế này. Việc cải cách nền hành chính quốc
gia cũng góp phần rất to lớn vào việc nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước pháp quyền
nên cũng cần được quan tâm để việc cải cách thực sự đạt kết quả như mong muốn.

Cuối cùng là việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế
với nước ngoài là một tất yếu khách quan, vừa phù hợp với xu thế của thời đại vừa phù hợp
với nhu cầu rút ngắn quá trình phát triển của Việt Nam chúng ta. Thông qua việc gia nhập
các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực như WTO, AFTA, ASEAN... cũng như việc mở rộng
quan hệ với nước ngoài nhằm tranh thủ nắm bắt những ngành, những mũi nhọn gắn với công
nghệ mới, đồng thời đáp ứng được nhu cầu của thị trường thế giới, giúp chúng ta nhanh
chóng rút ngắn khoảng cách về trình độ kinh tế so với thế giới, tạo ra những điều kiện thuận
lợi để cho thành phần kinh tế tư bản nhà nước có điều kiện phát triển, đặc biệt là hình thức
có thu hút vốn đầu tư nước ngoài và sản xuất hàng xuất khẩu.
Kết luận




Qua tất cả các phần đã nghiên cứu ở trên, chúng ta đã phần nào nắm được tư tưởng của
Lê nin về chủ nghĩa tư bản nhà nước trong hệ thống chính sách “ Kinh tế mới ” cũng như vai
trò của chủ nghĩa tư bản nhà nước đối với thực tiễn hiện nay của nước ta.

Như vậy, chủ nghĩa tư bản nhà nước là sự can thiệp một cách tích cực của nhà nước xã
hội chủ nghĩa vào quá trình kinh tế của các nhà tư bản. Nó khác hẳn chủ nghĩa tư bản nhà
nước trong thời kỳ còn tồn tại nhà nước tư sản. Tính chất hoạt động của nó đã thay đổi: nó
không chỉ chịu sự kiểm soát và chi phối của nhà nước xã hội chủ nghĩa mà còn hợp tác với
nhà nước xã hội chủ nghĩa để cùng sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, Lê nin đã cho rằng
việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là “ bước đệm quan trọng để tiến tới chủ nghĩa xã
hội ”. Và việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước “ sẽ đưa chúng ta tới chủ nghĩa xã hội
bằng con đường chắc chắn nhất ”.

Hiện nay, nước ta đang từng bước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh mới.
Trong đường lối đổi mới của mình, chúng ta đã đặt kinh tế tư bản nhà nước đứng ở vị trí thứ
ba trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Như vậy, kinh tế tư bản nhà nước không chỉ được
coi như một thành phần kinh tế cùng tồn tại bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, mà
nó còn mang ý nghĩa như những “ nấc thang trung gian cần thiết ” để liên kết các thành phần
kinh tế tư bản tư nhân trong nước, kể cả tầng lớp tiểu tư sản hướng sự phát triển đó theo tay
lái Nhà nước XHCN. Với ý nghĩa như vậy, kinh tế tư bản nhà nước ở nước ta không thể chỉ
coi như là một giải pháp mang tính chất tình thế mà là một nội dung tổng quát có ý nghĩa
chiến lược xuyên suốt thời kỳ quá độ cũng như quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Như vậy, có thể nói vận dụng các hình thức kinh tế tư bản nhà nước chính là phương
thức để chúng ta huy động sức mạnh dân tộc, của các thành phần kinh tế nhằm giải phóng
sức sản xuất, kết hợp nội lực bên trong với các yếu tố bên ngoài để đưa nước ta thoát khỏi
đói nghèo, hướng tới mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh như đại hội
VIII của Đảng đã khẳng định.

Tài liệu tham khảo



1. V.I. Lê nin: “ Bàn về thuế lương thực ”, NXB Tiến bộ, Matxcơva, 1984, tập 43.

2. V.I. Lê nin: “ Chính sách kinh tế mới và những nhiệm vụ của các ban giáo dục chính trị
”. Toàn tập - NXB Tiến bộ, Matxcơva, 1984, tập 44.

3. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia. 1996.

4. Vũ Hữu Ngoạn: “ Mấy vấn đề về chủ nghĩa tư bản nhà nước ” - NXB Chính trị quốc
gia, 1996.

5. Tạp chí Cộng sản, số 8 tháng 7 năm 1995.

6. Vũ Ngọc Long: “ Về cuộc cải cách kinh tế của Lê nin ”, NXB Thanh niên, 1996.

7. Tạp chí “ Những vấn đề kinh tế thế giới ” số 2 năm 2000.

8. Tạp chí “ Thương mại ” số 16 năm 1997.

9. Tạp chí “ Nghiên cứu lý luận ” số 9 năm 1997.

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản