LUẬN VĂN: Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay

Chia sẻ: dellvietnam

Cùng với những thành tựu của công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, du lịch Việt Nam trong những năm gần đây đã có bước tiến mạnh mẽ. Năm 2004 số lượng khách quốc tế đến nước ta đã đạt con số trên ba triệu lượt người, khách du lịch nội địa cũng tăng nhanh. Thực tế này đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ cho sự phát triển văn hoá và mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch. Giữa văn hoá và du lịch từ lâu đã có mối quan hệ gắn bó chặt...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay

LUẬN VĂN:

Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch

trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay
Mở đầu


1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với những thành tựu của công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, du lịch Việt
Nam trong những năm gần đây đã có bước tiến mạnh mẽ. Năm 2004 số lượng khách
quốc tế đến nước ta đã đạt con số trên ba triệu lượt người, khách du lịch nội địa cũng
tăng nhanh. Thực tế này đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ cho sự phát triển văn hoá và
mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch.
Giữa văn hoá và du lịch từ lâu đã có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ. Văn hoá, bản
sắc văn hoá dân tộc là nguồn lực cho hoạt động du lịch. Và du lịch là một hình thức của
hoạt động giao lưu văn hoá ngày càng được đẩy mạnh hiện nay. Du lịch là cầu nối giữa
các bộ phận dân cư thuộc các nền văn hoá khác nhau trên thế giới, đồng thời tạo lập mối
quan hệ trong cuộc sống giữa quá khứ hiện tại và t ương lai của mỗi dân tộc.
Với việc tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: " Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch
trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay " (qua khảo sát thực tế trên địa bàn Hà Nội),
chúng tôi sẽ có điều kiện nhận diện rõ hơn các phương diện lý luận về mối quan hệ
giữa văn hoá và du lịch, về thực tiễn vấn đề phát triển du lịch dựa trên nền tảng kế thừa
và phát huy di sản và bản sắc văn hoá Thăng Long - Hà Nội - mảnh đất ngàn năm văn
hiến. Đề tài sẽ góp phần đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa hoạt động văn hoá và du
lịch (và ngược lại) ở Thủ đô và đề xuất những biện pháp nhằm giải quyết tốt mối quan
hệ này. Đây là vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận cơ bản, vừa có ý nghĩa thực tiễn cấp bách
góp phần vào việc xây dựng và phát triển Hà Nội “thành phố vì hoà bình”, “Thủ đô anh
hùng", xây dựng con người Hà Nội văn minh, thanh lịch, hiện đại, xây dựng và phát
triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề phát triển văn hoá và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay đã
được một số nhà nghiên cứu văn hoá và du lịch đề cập. Đã có những cuộc hội thảo,
những công trình chuyên ngành đề cập đến vai trò văn hoá đối với phát triển kinh tế- xã
hội nói chung, văn hoá đối với phát triển du lịch nói riêng trên phạm vi cả n ước và ở
Hà Nội.
Về di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội, có thể kể tới các công trình nghiên
cứu tiêu biểu như:
- “Thăng Long - Hà Nội” của Tiến sĩ Lưu Minh Trị và Nhà nghiên cứu, Nhà báo
Hoàng Tùng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
- “Hà Nội nghìn xưa” của Giáo sư Trần Quốc Vượng và nhà nghiên cứu Vũ
Tuấn Sán, Nxb Hà Nội, 1998.
- “ Văn hiến Thăng Long”của Giáo sư Vũ Khiêu và nhà nghiên cứu Nguyễn
Vinh Phúc chủ biên, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2000.
- “ Văn hoá Thăng Long - Hà Nội hội tụ và toả sáng” của Giáo sư Trần Văn
Bính chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
Các công trình nói trên đã hệ thống, khái quát hoá các giá trị văn hoá, các di sản
văn hoá tiêu biểu của Thăng Long- Hà Nội- nguồn lực to lớn cho phát triển du lịch ở
Thủ đô Hà Nội.
Về hoạt động du lịch ở Hà Nội có thể kể tới các công trình sau:
- “Hà Nội trung tâm du lịch của Việt Nam”của Giáo sư Trần Quốc Vượng và nhà
nghiên cứu Nguyễn Văn Thường, Nguyễn Vinh Phúc, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1996.
- “Những giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch trên địa bàn Hà Nội", Luận án
Tiến sĩ của Bùi Thị Nga, Hà Nội,1996.
- “Du lịch Hà Nội hướng tới 1000 năm Thăng Long” của Nhà nghiên cứu Nguyễn
Vinh Phúc, Nxb Hà Nội, 2000.
- “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Thủ đô" của Tiến sĩ
Nguyễn Quang Lân, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 2/2005.
Các công trình nói trên đã phân tích thực trạng hoạt động du lịch ở Hà Nội trong
thời gian qua và đề xuất các phương hướng, giải pháp cho phát triển du lịch ở Thủ đô
trong thời gian tới.
Về mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch có các công trình tiêu biểu:
- “Du lịch và vấn đề giữ gìn văn hoá dân tộc ở Hà Nội” của Phó Giáo sư- Tiến sĩ
Lê Hồng Lý, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Số 2/2000.
- “Quan hệ du lịch - văn hoá và triển vọng ngành du lịch Việt Nam” của Thạc sĩ
Ngô Kim Anh, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Số 2/2000.
- “Về hiệu quả kinh tế - xã hội của văn hoá qua hoạt động du lịch” của Tiến sĩ Trần
Nhoãn, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Số 4/2002.
- “Suy nghĩ về giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hoạt động du lịch" của nhà
nghiên cứu Huỳnh Thị Mỹ Đức, Tạp chí Khoa học xã hội, Số 6/2002.
Các tác giả đã ít nhiều đề cập tới mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch, phát triển du lịch
gắn với phát triển văn hoá ở nước ta nói chung, ở Hà Nội nói riêng.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách
hệ thống về mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện
nay (qua khảo sát thực tế trên địa bàn Hà Nội).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là nhằm phát huy vai trò của văn hoá đối với sự phát triển
du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay (qua khảo sát thực tế trên địa bàn Hà
Nội).
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Trình bày những vấn đề lý luận cơ bản về văn hoá, du lịch, về mối quan hệ văn
hoá và du lịch.
- Đánh giá giá trị các nguồn lực văn hoá và thực trạng giải quyết mối quan hệ
giữa văn hoá và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay (qua khảo sát thực tế
trên địa bàn Hà Nội).
- Xác định phương hướng và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm giải quyết tốt
mối quan hệ giữa việc kế thừa và phát huy các giá trị và bản sắc văn hoá dân tộc với phát
triển du lịch ở thủ đô Hà Nội và ở nước ta hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đề tài tập trung làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn giải quyết mối quan
hệ giữa văn hoá và sự phát triển du lịch ở nước ta và ở thủ đô trong những năm gần đây,
chủ yếu là từ năm 2000 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên c ứu của luận văn
Đề tài được tiến hành trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước và Thành uỷ Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội về phát triển văn hoá và du
lịch.
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được tiến hành là phân tích, tổng hợp,
thống kê, điều tra xã hội học…
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
-Đề tài góp phần giải quyết c ơ bản mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trên bình
diện lý luận.
- Phân tích đánh giá những giá trị của di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội
nguồn lực cho phát triển du lịch ở Thủ đô.
- Đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp khả thi nhằm giải quyết tốt mối
quan hệ giữa văn hoá Thăng Long - Hà Nội đối với sự phát triển du lịch ở thủ đô hiện
nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1
Những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa văn hoá
và du lịch trong quá trình đổi mới ở nước ta


1.1. quan niệm về văn hoá
1.1.1. Khái niệm văn hoá
Một quan niệm đầy đủ về bản chất của văn hoá ngày càng được xác định. Nếu
trước đây khái niệm văn hoá chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp trong giới hạn các hoạt động
văn học, nghệ thuật thì ngày nay văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng là tổng thể các hệ
thống giá trị bao gồm các mặt tình cảm, tr i thức, vật chất và tinh thần của xã hội do con
người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn - lịch sử của mình, trong mối quan hệ giữa
con người với tự nhiên và xã hội.Trong lễ phát động:
Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá“ (Pari tháng 12/1986) Ông F.
Mayor Tổng giám đốc UNESCO đã cho rằng: “Văn hoá là tổng thể sống
động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và các cộng đồng) trong quá
khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành
nên các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc
tính riêng của mỗi dân tộc [35, tr.32].
Định nghĩa này rất phù hợp với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người anh
hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới đã nêu ra cách đó trên 40 năm:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn
học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các
phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó, tức là văn
hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu
hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống
và đòi hỏi của sự sinh tồn [45, tr.431].
Như vậy từ trong quan niệm của Hồ Chí Minh toát lên một cái nhìn vừa toàn
diện, vừa sâu sắc về nguồn gốc lịch sử của văn hoá, về phạm vi rộng lớn của văn hoá,
về mặt biểu hiện của văn hoá trong đời sống và toàn bộ sinh hoạt của con người.
Nguồn gốc của văn hoá, theo Hồ Chí Minh là do nhu cầu sinh tồn và mục đích
đời sống của con người. Con người không thể tồn tại nếu như không có khả năng sáng
tạo và phát minh ra văn hoá nhằm đối phó với những thử thách của thiên nhiên và xã hội.
Về phạm vi và nhân tố cấu thành văn hoá, Hồ Chí Minh soi xét cả ha i mặt vật
chất và tinh thần.
Về mặt tinh thần đó là ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn
giáo, văn học nghệ thuật.
Về mặt vật chất đó là những công cụ của sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và
các phương thức sử dụng những công cụ ấy.
Quan điểm toàn diện và sâu sắc của Hồ Chí Minh về văn hoá có ý nghĩa cực kỳ
lớn lao trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà
bản sắc dân tộc khi mà Đảng ta xác định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội".
1.1.2. Vai trò của văn hoá đ ối với phát triển kinh tế - xã hội
Trước đây do thiếu hiểu biết, nhiều người vẫn giữ quan niệm cho rằng: V ăn hoá
như là một lĩnh vực đứng ngoài kinh tế, do kinh tế trợ cấp, chỉ khi kinh tế phát triển thì
mới có điều kiện mở mang các hoạt động văn hoá, nâng cao đời sống tinh thần của con
người. Với quan niệm đó, văn hoá được coi như là một hoạt động có tính giải trí, khi
kinh tế còn khó khăn thì ít người quan tâm đến văn hoá, và rõ ràng trong điều kiện đ ó
thì người ta không thể nhận thấy vai trò của văn hoá đối với phát triển kinh tế.
Trong thời gian gần đây, từ việc xem xét sự phát triển của nhiều quốc gia mà đặc
biệt là các quốc gia ở khu vực châu á - Thái Bình Dương, người ta đã tìm thấy những
dấu ấn và đặc trưng văn hoá trong phát tri ển của các quốc gia đó. Thực tế đó đã khiến
người ta không chỉ thừa nhận sự tác động của các yếu tố văn hoá vào quá trình phát
triển kinh tế, mà còn đi sâu xem xét vai trò của văn hoá cũng như tầm quan trọng của
việc đưa các yếu tố văn hoá vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Văn hoá và kinh tế có sự gắn bó tác động biện chứng với nhau. Kinh tế phải bảo
đảm được nhu cầu sống tối thiểu của con ng ười sau đó mới đảm bảo điều kiện cho văn
hoá phát triển. Kinh tế không thể phát triển nếu không có một nền tảng văn hoá, đồng
thời văn hoá không chỉ phản ánh kinh tế mà còn là nhân tố tác động đến phát triển kinh
tế. Sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc chỉ có thể n ăng động, hiệu quả, bền vững
chừng nào quốc gia đó đạt được sự phát triển kết hợp hài hoà giữa kinh t ế với văn hoá.
Văn hoá mang tính đặc thù của từng quốc gia, từng dân tộc, là những di sản quí
báu tích luỹ được qua nhiều thế hệ, mang đậm bản sắc của quốc gia, dân tộc đó. Nhưng
đồng thời với quá trình phát triển, kế thừa và giữ gìn bản sắc riêng đó, nó còn tiếp thu
những tinh hoa văn hoá của các quốc gia, dân tộc khác, làm cho văn hoá vừa đậm đà bản
sắc dân tộc, vừa có tính thời đại phù hợp với sự phát triển kinh tế trong điều kiện cách
mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hoá ngày càng mạnh mẽ. Bối cảnh này làm
cho vai trò của văn hoá trong hoạt động kinh tế ngày càng được nâng cao, văn hoá khơi
dậy mọi tiềm năng sáng tạo của con người, quyết định sự tăng trưởng nhanh và bền
vững.
Sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta là sự phát triển theo con đường xã hội
chủ nghĩa, vì vậy cần nhận thức sâu sắc hơn vị trí, vai trò của văn hoá trong sự nghiệp
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thực tế khủng hoảng diễn ra ở nhiều n ước xã hội chủ
nghĩa trong thời gian qua đã cho thấy những nước đó đã đặt không đúng vị trí của văn
hoá trong phát triển, có những quan niệm không đúng về cách mạng văn hoá và tư
tưởng: Văn hoá thường được xem là yếu tố đứng ngoài kinh tế, tuỳ thuộc vào kinh tế.
Quá trình phát triển văn hoá vì thế lệ thuộc vào sự trợ cấp của kinh tế, được hoạch định
như chính sách xã hội. Mặt khác, cách mạng văn hoá được coi như là cách mạng chính
trị, do đó những cuộc cách mạng văn hoá và tư tưởng thường bị biến dạng thành những
cuộc đấu tranh chính trị đơn thuần như chúng ta đã thường thấy ở một số nước…Thực
tế này đòi hỏi phải có nhận thức mới về vai trò của văn hoá trong cách mạng xã hội chủ
nghĩa.
Wang Yalin một học giả của Trung Quốc cho rằng: Công cuộc hiện đại hoá xây
dựng Chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc hiện nay đang phải thực hiện “sự
vượt qua kép” tức là phải thực hiện:
Thứ nhất, cả công nghiệp hoá và cả hậu công nghiệp hoá.
Thứ hai, cả về phát triển kinh tế và phát triển nhân văn.
Phát triển kinh tế và nhân văn xã hội là những bộ phận quan trọng của sự phát
triển toàn bộ xã hội dựa vào n hau và thúc đẩy lẫn nhau để phát triển. ông cho rằng phát
triển nhân văn xã hội một mặt được sự hỗ trợ của phát triển kinh tế, mặt khác lại thực
hiện một số chức năng đối với phát triển kinh tế nh ư sáng tạo ra môi trường tốt đẹp cho
phát triển kinh tế trở thành hệ thống đảm bảo cho sự phát triển. Và phát triển nhân văn
xã hội lấy con người làm hạt nhân cung cấp hệ thống định hướng giá trị cho phát triển
kinh tế.
Như vậy rõ ràng là những nhân tố nhân văn xã hội, hay nói cách khác những
nhân tố văn hoá không thể thiếu vắng trong động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế và
tiến bộ văn hoá.
Theo khẳng định của UNESCO: “Nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển
kinh tế mà tách rời môi trường văn hoá, thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối
nghiêm trọng cả về kinh tế lẫn văn hoá, và tiềm năng sáng tạo của những ấy sẽ bị suy
yếu rất nhiều” [60, tr.5].
Văn hoá ngày nay đang tr ở thành một nhân tố tham gia trực tiếp vào quá trình
phát triển kinh tế. Trong bất kỳ thời kỳ nào, quốc gia nào, con người nào cũng đều
đóng vai trò quyết định với quá trình sản xuất. Mà con người trước hết là một thực thể
văn hoá. Tố chất con người (tinh thần yêu nước, trình độ khoa học kỹ thuật, tinh thần tổ
chức xã hội, tính nhân văn, nhân bản…) cao thấp có ý nghĩa quyết định sức mạnh của văn
hoá. Sự phát triển của mỗi quốc gia không phải chỉ ở tài nguyên thiên nhiên giàu có, đa
dạng mà quyết định là ở sự sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người, ở trong hàm
lượng và sự phân bố tài nguyên tri thức trong cơ cấu sản xuất…
Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn coi trọng văn hoá, giáo dục đào tạo và
khoa học công nghệ. Các văn kiện Hội nghị Trung ương khoá VII, VIII, IX c ủa Đảng
Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục
tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Yếu tố nền tảng của văn hoá ở đây là sự hiểu biết, là tri thức, kinh nghiệm và sự
khôn ngoan tích luỹ được trong quá trình học tập, lao động, đấu tranh để duy trì và phát
triển cuộc sống con người. Muốn đạt được mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần
phải có sự hiểu biết về tri thức, kinh nghiệm, khoa học công nghệ hiện đại của nhân
loại, đồng thời phải biết phát huy các giá trị của truyền thống văn hoá. Nhân tố nền tảng
này nếu được khai thác và biết cách phát huy thì sẽ trở thành một động lực to lớn cho sự
phát triển kinh tế.
Kinh nghiệm cho thấy, so với nước Mỹ thì Nhật Bản còn có một số kỹ thuật
nhập khẩu từ Mỹ, nhưng con đường để cho các xí nghiệp của Nhật Bản vượt các xí
nghiệp Mỹ về tăng năng suất lao động lại chính là việc sử dụng các yếu tố truyền thống
trong đó phải kể đến tinh thần gia tộc và tinh thần quần thể của người Nhật. Người
Nhật đã biết phát huy những đặc điểm ưu vi ệt của nền văn hoá truyền thống thông qua
một hệ thống giáo dục và hoạt động văn hoá có sự đầu tư thích đáng về vật chất và tinh
thần. Họ đã không để cho làn sóng hiện đại hoá và giao lưu văn hoá ồ ạt của thời kỳ
mới lấn át các cơ sở văn hoá truyền thống được cố kết hàng ngàn năm lịch sử của dân
tộc như tinh thần kỷ cương trong lao động, tôn ti trật tự cần thiết trong sự điều hành xã
hội, mối liên hệ gia đình, làng xóm, dân tộc có tác dụng đối với lao động, đức tín
nghĩa…
Bên cạnh việc tiếp thu tinh hoa tốt đẹp của văn hoá nhân loại Đảng ta đã cho
rằng bản sắc văn hoá dân tộc là trụ cột của sức mạnh văn hoá. Truyền thống văn hoá
cùng với tinh thần dân tộc là nguồn tài nguyên của dân tộc và đất nước. Trong lịch sử
hàng chục thế kỷ chống ngoại xâm của dân tộc ta, nguồn lực quan trọng nhất trong
truyền thống văn hoá là tinh thần yêu nước, chủ nghĩa yêu nước. Từ khi ra đời Đảng ta
đã động viên, phát huy cao độ tinh thần yêu nước để giành và giữ vững nền độc lập dân
tộc gắn liền với xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Đảng ta luôn nhấn mạnh việc giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hoá dân tộc phải đi đôi với việc tiếp thu tinh hoa của văn hoá
nhân loại, nhấn mạnh tính dân tộc đồng thời với tính khoa học và đại chúng, tính tiên
tiến gắn với bản sắc dân tộc đậm đà. Đó chính là bản lĩnh, bản sắc văn hoá Việt Nam,
sức mạnh của văn hoá Việt Nam là nền tảng, động lực và mục tiêu của sự phát triển
kinh tế - xã hội.
Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII đã xác định nhiệm vụ: “Mở cuộc vận động
giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hoá”. Phong trào này đã nhanh chóng được triển khai sâu rộng
và sáng tạo, góp phần làm cho đời sống chính trị ổn định, kinh tế phát triển, giảm bớt
các hộ đói nghèo, giảm các tệ nạn xã hội, phát huy được tình làng nghĩa xóm, làm đẹp
cảnh quan môi trường, làm cho đời sống văn hoá tinh thần ngày càng phong phú hơn.
Hiện nay trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, chúng ta nhận thức sâu sắc
rằng toàn cầu hoá là cơ hội để văn hoá Việt Nam học hỏi và phát huy các giá trị của
mình. Song chúng ta cũng đối mặt với các thách thức to lớn của quá trình toàn cầu hoá
đối với các giá trị truyền thống dân tộc. Logíc tồn tại của nền văn hoá dân tộc hiện nay
đang diễn ra trong hai quá trình: quá trình đẩy nhanh sự hợp tác trao đổi và quá trình
gia tăng bản sắc của dân tộc. Hai quá trình này thống nhất biện chứng trong quá trình
toàn cầu hoá. Chúng ta nhất thiết phải mở cửa, phải hội nhập để đón nhận những giá trị
mới của nhân loại, đó là lẽ sống còn của dân tộc nhưng mở cửa để hội nhập và phát
triển, mở cửa phải giữ vững nền độc lập dân tộc và gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ
được cơ cấu và giá trị nội sinh của văn hoá dân tộc.
Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới và trong xu thế toàn cầu hoá, các quan hệ
kinh tế sẽ mang lại sự hưởng thụ các sản phẩm vất chất và tinh thần của nhân loại với giá
rẻ hơn, tiện nghi thuận lợi hơn song nó có khả năng thúc đẩy lối sống tiêu thụ thực dụng,
làm tha hoá nhân cách, làm rối loạn những giá trị xã hội, nó phá vỡ sự cân bằng của môi
trường truyền thống, nó thương mại hoá không ít các hoạt động văn hoá và quan hệ xã
hội. Hệ giá trị làng xã Việt Nam với một cơ cấu cộng đồng bền chặt đang phải thử thách
trước làn sóng đầu tư trong quá trình toàn cầu hoá. Các mối quan hệ trong gia đình, làng
xóm có phần lỏng lẻo dần. Khát vọng làm giàu của các thế hệ đặc biệt là thanh niên đang
gia tăng trước thời cơ và vận hội này với không ít lệch lạc làm thay đổi cơ cấu giá trị của
nền kinh tế cũ để chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Việt Nam đã tham gia hội nhập Hiệp hội các n ước Đông Nam á (aSEAN), tham
gia diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương (APEC) tiến tới gia nhập Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO) nhằm liên kết các giá trị khu vực và quốc tế trong
bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá gia t ăng mạnh mẽ. Chúng ta cũng bước đầu xây
dựng một chiến lược giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Trong chiến lược
này, văn hoá được coi là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển kinh tế -xã hội. Để Việt Nam phát triển được trong quá trình
toàn cầu hoá, trước hết phải quan tâm xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc
dân tộc. Nền văn hoá đó xác lập hệ giá trị cơ bản là yêu nước và tiến bộ với nội dung
cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưỏng Hồ Chí Minh làm định hướng và thước đo giá trị.
Các giá trị văn hoá là nhân tố tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần
thay đổi nếp nghĩ, cách làm, kích thích sáng tạo, n ăng động trong nền kinh tế thị tr ường
nhưng bên cạnh đó những phản giá trị như chủ nghĩa cá nhân, lối sống tiêu thụ … xuất
hiện đã làm thay đổi bản chất nhân cách của con người và các quan hệ xã hội, kích
thích chủ nghĩa cá nhân, tính vị kỷ…H ơn lúc nào hết, ngày nay văn hoá phải góp phần
bảo vệ và phát huy những giá trị văn hoá đích thực để thúc đẩy và hướng dẫn sự phát
triển và hoàn thiện nhân cách của con người trước những thách thức của toàn cầu hoá
và kinh tế thị trường.
Nếu chúng ta cho rằng văn hoá là hệ thống các giá trị, các truyền thống, các thị
hiếu và lối sống được các cộng đồng sáng tạo nên qua lịch sử phát triển hàng thế kỷ,
dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình, thì rõ ràng văn hoá không
đứng ngoài mà nằm ở trong, là nhân tố nội sinh của sự phát triển kinh tế - xã hội. Văn
hoá với vai trò của mình làm nền tả ng và đ ịnh hướng cho cái đúng, cái hay, cái đẹp
trong tư duy của nhà chiến lược, trong suy nghĩ của nhà hoạch định chính sách, trong
hành vi ứng xử của doanh nhân, trong ngoại giao và trong hoạt động du lịch…
Từ Đại hội VI (1986) đến nay nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở
rộng kinh tế đối ngoại, bước vào ngưỡng cửa của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Muốn thực hiện được tốt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi
mới, điều quan trọng trước tiên là phải phát huy nguồn lực văn hoá, nâng cao trình độ
văn hoá của toàn dân tộc.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra những quan điểm cơ bản chỉ đạo sự nghiệp
xây dựng và phát triển văn hoá trong thời kỳ đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa:
- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc
đẩy công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
- Nền văn hoá mà chúng ta cần xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc mang nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kế thừa truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại.
- Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng của một quốc gia
dân tộc thống nhất; tổng hoà các tinh hoa văn hoá của các dân tộc anh em cùng chung
sống trên mảnh đất Việt Nam.
- Văn hoá là một mặt trận, người làm văn hoá là chiến sỹ trên mặt trận ấy.
- Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là sự nghiệp sáng tạo
của toàn dân do Đảng lãnh đạo, đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân là lực lượng quan
trọng.
- Có chính sách đầu tư thích đáng cho văn hoá, văn ngh ệ, khoa học, giáo dục…,
coi đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho phát triển. Phát triển các hoạt động văn hoá, văn
nghệ của Nhà nước, tập thể và các cá nhân bảo đảm định hướng chính trị của Đảng và
Nhà nước, đồng thời bảo đảm quyền tự do sáng tạo của các nhà hoạt động văn hoá…
Kết luận Hội nghị Trung ương 10 khoá IX của Đảng đã khẳng định: “Đảm bảo
sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là
then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá - nền tảng tinh thần xã hội… bảo đảm cho
sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước” [33, tr.4].

1.2. Quan niệm về du lịch
1.2.1. Khái niệm du lịch
Du lịch ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ
ở các nước phát triển mà còn ở các n ước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Mặc dù
vậy cho đến nay không chỉ ở nước ta nhận thức về nội dung khái niệm du lịch vẫn ch ưa
có sự thống nhất.
Với những cách tiếp cận khác nhau, các học giả đã đưa ra những khái niệm khác
nhau về du lịch: Theo từ nguyên, trong tiếng Anh “to tour" có nghĩa là dã ngoại; trong
tiếng Pháp “tour“ có nghĩa là đi dạo chơi, leo núi, vận động ngoài trời; trong tiếng Việt,
du lịch là một từ đã có từ lâu gắn liền với các chuyến đi: Kinh lý, tham quan, vãn cảnh,
thăm viếng… của các nho sỹ, các tầng lớp vua chúa, quan lại, các nhà truyền giáo…
Trong Từ điển tiếng Việt, du lịch được giải thích là “đi chơi cho biết xứ người"
[71].
- Bác sỹ Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “Du lịch là sự mở rộng không gian văn
hoá của con người” [72].
Kuns, học giả người Thụy Sĩ xác nhận: “Du lịch là hiện t ượng những người chỗ
khác đi đến nơi không phải thường xuyên cư trú của họ bằng phương tiện vận tải và
dùng các dịch vụ du lịch” [52, tr.29].
Hai học giả Hoa Kỳ là Mathieson và Wall gắn kết cả cách nhìn nhận về du lịch
từ phía người đi du lịch và người kinh doanh du lịch. Các ông viết: “Du lịch là sự di
chuyển tạm thời của người dân đến ngoài nơi ở và làm việc của họ, là những hoạt động
xảy ra trong quá trình l ưu lại nơi đến và các cơ sở vật chất tạo ra để đáp ứng những nhu
cầu của họ” [61, tr.11].
Năm 1963 với mục đích quốc tế hoá khái niệm du lịch, tại hội nghị Liên hợp
quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau:
“Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ
các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài n ơi ở thường
xuyên của họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của
họ” [61, tr.12].
Xuất phát từ hiện tượng du lịch, nhà nghiên cứu Trần Nhạn đã đưa ra một khái niệm
khá toàn diện về bản chất đích thực, cơ bản của du lịch: “Du lịch là quá trình hoạt động của
con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thẩm nhận
những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo khác lạ với quê hương, không nhằm mục
đích sinh lợi được tính bằng đồng tiền” [52, tr.30].
Như vậy các định nghĩa về du lịch nói trên đã tiếp cận khái niệm du lịch theo
nghĩa rộng hơn, không chỉ đề cập du lịch đ ối với khách du lịch vãng lai mà còn thêm
vào đó các hoạt động kinh doanh của các c ơ sở và cá nhân phục vụ cho các nhu cầu của
khách du lịch đi qua và ở lại (như việc vận chuyển, phục vụ ăn uống, nghỉ ngơi, hướng
dẫn tham quan, giải trí…) và các giá trị văn hoá tinh thần thu nhận được trong quá trình
du lịch. Khái niệm du lịch trong Luật Du lịch của Việt Nam cũng xuất phát từ cái nhìn
toàn diện này:
“Du lịch là các hoạt dộng có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú
thường xuyên của mình nhằm thoả đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng
trong một khoảng thời gian nhất định” [42, tr.9].
1.2.2. Vai trò của du lịch đ ối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã
hội. Du lịch đã khẳng định được vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân của các nước như
một ngành “công nghiệp không khói ”.
Trong những năm gần đây, hoạt động du lịch đang trở nên phổ biến trên toàn cầu
và phát triển với tốc độ nhanh. Theo số liệu của Tổ chức Du lịch thế giới thì n ăm 1950
toàn thế giới có 25 triệu du khách, đến năm 1990 con số này đã lên tới 450 triệu (tăng
18 lần sau 20 năm). Tính riêng trong vòng mười năm gần đây số khách du lịch quốc tế
đã tăng từ 339 triệu năm 1986 lên 592 triệu năm 1996 và đến năm 2000 con số này đạt
tới 637 triệu và khoảng 937 triệu vào n ăm 2010.
Theo tính toán của các chuyên gia du lịch quốc tế, chỉ trong vòng 36 n ăm (t ừ
1960 - 1996) thu nhập từ du lịch của thế giới đã tăng 62 lần (từ 6,8 tỷ USD n ăm 1960
tăng lên 423 tỷ USD năm 1996), riêng năm 1995 ngành du lịch toàn cầu đã tạo việc làm
cho 212 triệu người và dự tính đến năm 2005 con số này sẽ lên tới 338 triệu trên phạm
vi toàn thế giới.
Nhiều tài liệu nghiên cứu cũng đã chỉ rõ: Du lịch là ngành lớn nhất thế giới, tính
theo sản phẩm thu được, là ngành đứng đầu về thu thuế, là ngành có khả n ăng nhất
trong việc tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp lao động. Từ
1990-1993, số người làm việc trong ngành du lịch t ăng nhanh hơn 50% so với tốc độ
tăng công ăn việc làm trên thế giới. Hội đồng Du lịch và Kinh doanh du lịch thế giới
ước tính: Du lịch và kinh doanh du lịch tạo ra cho 144 triệu việc làm trên thế giới từ
2000 đến 2005, trong đó 112 triệu là ở các nước đang phát triển thuộc khu vực châu á -
Thái Bình Dương. Họ đã tính số tiền khách du lịch chi trả cho các chuyến du lịch sẽ
tăng từ 450 tỷ USD năm 1998 lên 555 tỷ USD năm 2000 và 1500 tỷ USD vào năm
2010. Như vậy sau 20 nă m nữa du lịch rất có thể sẽ trở thành ngành kinh tế phát triển
mạnh hàng đầu thế giới [75]
Với đường lối đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước, từ năm 1986 đến nay,
ngành Du lịch Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể. Chương trình hành
động quốc gia về du lịch với tiêu đề: “Việt Nam - Điểm đến của thiên niên kỷ mới” đã
mạng lại cho Du lịch Việt Nam những kết quả quan trọng, góp phần đẩy nhanh sự phát
triển kinh tế - xã hội, thay đổi diện mạo và khẳng định tầm vóc của du lịch nước ta, rút
ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực. Qua ch ương trình này có 42
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã thành lập Ban chỉ đạo Phát triển du lịch, 14
Bộ, Ngành có chương trình, kế hoạch phối hợp triển khai ch ương trình. Đây là tiền đề
quan trọng huy động nguồn sức mạnh tổng hợp cho phát triển du lịch.
Ngành Du lịch thời gian qua đã tổ chức hàng loạt các lễ hội và liên hoan văn hoá
- du lịch lớn trong cả nước, thu hút một lượng lớn du khách trong và ngoài n ước:
Festival Huế tổ chức hai năm một lần, Đêm rằm phố cổ Hội An, Liên hoan du lịch đất
Phương Nam, Lễ hội văn hoá - du lịch 100 năm Đà Lạt, 110 năm Sapa, Năm du lịch Hạ
Long, Năm du lịch Điện Biên Phủ và hàng chục các lễ hội truyền thống được khôi phục
và nâng cấp phục vụ mục đích du lịch. Hàng chục vạn ấn phẩm quảng bá du lịch bằng
nhiều thứ tiếng đã được phát hành. Hình ảnh cô gái Việt Nam và tiêu đề “Việt Nam -
Điểm đến của thiên niên kỷ mới” đã tạo nên sự quen thuộc, gần gũi đối với mọi người
trên thế giới. Nhờ những hoạt động du lịch văn hoá nói trên chúng ta đã thu hút được
lượng khách quốc tế khá đông đảo mặc dầu phải đương đầu với không ít khó khăn
thách thức do khách quan đưa lại. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, l ượng khách
quốc tế đến nước ta giai đoạn 2000-2004 tăng gần một triệu lượt người, khách nội địa
tăng 3,5 triệu lượt. Năm 2000, năm đầu tiên thực hiện chương trình, lượng khách quốc
tế đạt 2,14 triệu lượt tăng 20,1% so với 1999 và gấp 8,4 lần so với n ăm 1990, khách nội
địa đạt 11,2 triệu lượt người, tăng 5,7% so với năm 1999. Thu nhập xã hội từ du lịch
đạt 1,2 tỷ USD, tăng 19% so với năm 1999. Riêng năm 2004 đã đón được 2.927.837
lượt khách quốc tế, 14 triệu lượt khách nội địa, thu nhập xã hội từ du lịch đạt 1,65 tỷ
USD, tăng 18% so với năm 2003 [37, tr.53].
Đánh giá về kết quả hoạt động du lịch trong thời gian qua đồng chí Vũ Khoan,
Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Trưởng ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch đã nhận định:
Hoạt động du lịch khởi sắc đã tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ cho hàng
hoá và dịch vụ sản xuất trong nước, khôi phục nhiều nghề thủ công truyền
thống, góp phần vào sự phát triển của hàng không, văn hoá - thông tin và các
ngành khác liên quan đến du lịch, tạo nhiều việc làm mới, góp phần thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước và từng địa phương, thực hiện chính sách
xoá đói giảm nghèo, mở rộng giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và
quốc tế [37, tr.53].

1.3. Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch
Giữa văn hoá và du lịch luôn có mối liên hệ khăng khít, mật thiết. Đó là khai
thác và phát huy các di sản và giá trị văn hoá, một bộ phận thiết yếu nhất của nguồn tài
nguyên du lịch, việc phát triển du lịch h ướng vào mục tiêu văn hoá, nâng cao tố chất
văn hoá trong kinh doanh du l ịch…
1.3.1. Di sản văn hoá, giá trị văn hoá là nguồn lực cho phát triển du lịch
Chúng ta đã nhận thức ngày càng sâu sắc hơn vị trí đặc biệt quan trọng của văn hoá
Việt Nam đối với sự phát triển toàn diện đất nước về kinh tế, chính trị, xã hội trong đó có
du lịch, một ngành kinh tế đang trở thành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội nước ta trong thế kỷ XXI.
Nhiều người đã khẳng định rằng nếu không có truyền thống, vẻ đẹp độc đáo,
những giá trị và công trình văn hoá thì du lịch Việt Nam sẽ không phát triển mạnh
được, sẽ mất đi sự hấp dẫn riêng của nó.
Trong Luật Du lịch được ban hành năm 2005 thì tài nguyên du lịch được xác
định là “cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao
động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm
đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu t ố cơ bản để hình thành các khu du lịch, tuyến du lịch,
đô thị du lịch” [42, tr.9].
Với nhận định trên, có thể khẳng định rằng phần lớn tài nguyên du lịch là các giá
trị, các thành tựu, các công trình văn hoá của dân tộc trong sự gắn bó với môi tr ường tự
nhiên và xã hội. Bên cạnh đó, tài nguyên du lịch còn gắn trực tiếp với tiến trình lịch sử
của đất nước, với truyền thống văn hoá của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử khác nhau.
Như vậy, đối với du lịch, đặc biệt đối với du lịch bền vững, văn hoá trở thành tài
nguyên tạo nên sự hấp dẫn có chiều sâu nhất đối với du lịch. Và sở dĩ du lịch là một
ngành kinh tế có sức thu hút mạnh mẽ bởi vì trong nó có hàm chứa nội dung văn hoá
sâu sắc và phong phú. Để du lịch phát triển bền vững thì nó phải tuân thủ một yêu cầu
khách quan hết sức nghiêm ngặt là phải đảm bảo sự bền vững về văn hoá. Việc khai
thác các giá trị văn hoá nhằm phục vụ nhu cầu du lịch hiện tại song không được làm tổn
hại đến các giá trị văn hoá, phải bảo tồn các di sản văn hoá cho các thế hệ mai sau.
Theo số liệu thống kê của Bộ Văn hoá - Thông tin đến năm 2001, Việt Nam có
tổng số di tích văn hoá đã được Nhà nước công nhận và xếp hạng là 2.597, trong đó:
- Di tích lịch sử là 1266.
- Di tích kiến trúc nghệ thuật là 1205.
- Di tích khảo cổ là 38.
- Danh lam thắng cảnh là 88.
(Đặc biệt trong số này có 6 di sản văn hoá được thế giới công nhận là di sản thế
giới đó là: Cố Đô Huế (Thừa Thiên - Huế); Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh); Khu phố cổ
Hội An (Quảng Nam); Khu di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam); V ườn quốc gia Phong Nha -
Kẻ Bàng (Quảng Bình); Nhã nhạc cung đình Huế (Thừa Thiên - Huế).)
Đó là những di sản văn hoá độc đáo ở mọi vùng, miền của đất nước nơi lưu giữ
bao chiến công, hào hùng của dân tộc Việt Nam, n ơi ẩn chứa với những giá trị nhân
bản sâu sắc, độc đáo của dân tộc Việt Nam trong suốt tr ường kỳ dựng nước và giữ
nước, tất cả hợp thành bản anh hùng ca bất hủ của dân tộc.
Các di sản văn hoá có mặt ở hầu hết ở các địa phương trên cả nước từ miền
ngược đến miền xuôi, từ nông thôn đến thành thị, đó là lợi thế để ngành du lịch phát
huy các di sản văn hoá trong tổ chức hoạt động du lịch. Có thể khẳng định rằng tiềm
năng to lớn của du lịch Việt Nam nằm trong văn hoá dân tộc.
Chẳng hạn, Chùa Việt Nam là điểm hẹn rất hấp dẫn của khách du lịch quốc tế và
nội địa. Đây vừa được coi là nơi linh thiêng thu giữ khí trời đất, vừa luôn gắn liền với
xóm làng, vừa là nơi giải toả và thanh lọc tâm hồn con người. Vì vậy nó có sức hẫp dẫn
lôi cuốn mạnh mẽ du khách, trở thành yếu tố không thể thiếu được trong tổ chức các
loại hình du lịch, các cuộc hành hương của du khách trong và ngoài n ước.
ở hà Nội, số chùa đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá là 116 chùa, trong
đó có nhiều chùa nổi tiếng như chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc, chùa Cổ Loa…
Hà Tây có 90 chùa được công nhận, trong đó có nhiều chùa là di sản quý hiếm
của cả nước như chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Trầm, chùa Trăm Gian, chùa
Hương, chùa Đậu, chùa Mía…
ở Bắc Ninh, Bắc Giang có tới 44 chùa được công nhận là di tích, trong đó có
chùa Phật Tích, chùa Dâu nổi tiếng.
ở Nam Định có chùa Keo, chùa Cổ Lễ...
ở Nam Bộ các ngôi chùa Khơmer có vị trí đ ặc biệt đối với đồng bào Khơmer và
đối với cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Và chùa là n ơi giáo dục toàn dân, là th ư
tàng cổ, là điểm gặp gỡ vui chơi của dân phum sóc trong các ngày lễ. Bên cạnh đ ó
chúng ta lại tự hào với những địa đạo, những khu căn cứ cách mạng, nhà tù chính trị
như địa đạo Củ Chi, nhà tù Côn Đảo, Hoả Lò… đó là những di tích, những bằng chứng
sống của cuộc chiến tranh khốc liệt mà oai hùng của Đảng và nhân dân ta trong thế kỷ
XX. Những di tích đó đã và đang được bảo tồn, phát huy. Du khách về đây là dịp hồi
tưởng về quá khứ chiến tranh yêu n ước và cách mạng, các di tích đó có tính giáo dục
cao về truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam.
Cùng với các di tích lịch sử văn hoá như là những tài nguyên tĩnh thì các loại
hình văn hoá phi vật thể là tài nguyên động của du lịch Việt Nam. Tính chất động của
nó đặc biệt do gắn liền với hoạt động của con người, tái hiện, tái tạo của bản thân con
người trong quá khứ và hiện tại làm sống lại lịch sử trong tính toàn vẹn, tính hình
tượng cụ thể cảm tính, sinh động của nó, tạo nên môi tr ường du lịch độc đáo và sức hấp
dẫn kỳ lạ đối với khách du lịch từ nơi xa đến (những lễ hội dân gian, những ch ương
trình nghệ thuật cổ truyền, những làn điệu dân ca…) chẳng hạn nh ư Ca Huế và Hò Huế
là loại hình ca hát được mọi người ưa chuộng thường đ ược biểu diễn trên một con đò
lững lờ trôi giữa dòng H ương Giang. Du khách đến Huế sau những ngày tham quan các
di tích - lịch sử văn hoá, thắng cảnh được thả mình trên dòng H ương Giang nghe hò thả
tâm hồn mình vào những câu “nam ai nam bằng" trải dài nh ư bất tận, lửng lơ trong
không gian, một phần như chùng chình, giăng túi trên mặt nước nghe lưu luyến, nỉ non,
xốn xang lòng người. Cùng vớ i nó là những điệu múa cung đình Huế, những tiết mục
múa rối nước Thăng Long- Hà Nội, những làn điệu dân ca mượt mà sâu lắng của người
dân quan họ Bắc Ninh.
Điều đáng quí và độc đáo hơn cả, tạo nên sức hấp dẫn của du lịch là nguồn di
sản văn hoá phi vật thể được truyền bá từ ngàn năm lịch sử. Yêu nước là truyền thống
quí báu của dân tộc. Lòng yêu nước của dân tộc đã tô thắm lịch sử bốn ngàn năm dựng
nước và giữ nước. Truyền thống đó đã được giáo dục và lưu truyền cho các thế hệ mai
sau. Phát huy tinh thần yêu nước chính là khẳng định bản lĩnh của con người và Tổ
quốc Việt Nam trên trường quốc tế nhất là trong hoạt động du lịch.
Ngoài các di tích, các lễ hội và truyền thống ngàn n ăm của dân tộc, chúng ta còn
có rất nhiều di sản lễ hội của đồng bào các dân tộc như các lễ hội của đồng bào dân tộc
Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ luôn có sức hẫp dẫn kỳ lạ đối với du khách. Nếu
chúng ta biết cách khai thác, tổ chức tốt kết hợp với các tua du lịch, chúng ta có thể vừa
bảo tồn các lễ hội, vừa coi lễ hội đó như là một hoạt động du lịch. Theo ý kiến của một
số nhà nghiên cứu văn hoá thì một số tỉnh, thành như ở Bắc Ninh, Lạng Sơn, Vĩnh
Phúc, Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Bắc Giang, Thái Bình hàng n ăm có rất nhiều lễ
hội. Dĩ nhiên, không phải tất cả các lễ hội đều trở thành nội dung hoạt động du lịch,
nhưng chứng tỏ rằng di sản văn hoá của chúng ta là một tài nguyên độc đáo, quí giá của
du lịch.
Nguồn lực văn hoá đa dạng và phong phú của 54 dân tộc anh em trong cộng đồng các
dân tộc Việt Nam, được kết tinh từ tài năng, trí tuệ, tâm hồn con người Việt từ ngàn đời, đồng
thời là kết tinh của quá trình giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc trên thế giới,
đã tạo nên sự đa dạng về văn hoá, sự phong phú của các lễ hội, các phong tục tập quán của các
dân tộc Việt Nam.
Có thể nói, văn hoá là nguồn tài nguyên chủ yếu của du lịch. Môi tr ường thiên
nhiên và môi trường văn hoá, nhân văn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với du lịch vì
chúng chính là nguồn tài nguyên, là yếu tố c ơ sở cho phát triển du lịch. Ngày nay, xu
hướng du lịch sinh thái, du lịch cảnh quan và du lịch văn hoá đang trở thành những loại
hình du lịch chủ yếu trong xu thế phát triển của ngành du lịch. ở nhiều n ước trên thế
giới kinh nghiệm cho thấy rằng nếu quốc gia nào có truyền thống văn hoá lâu đời, có
nhiều danh lam thắng cảnh thì quốc gia đó sẽ có thị trường du lịch hấp dẫn.
Số liệu thống kê của một số nghiên cứu do Uỷ ban châu Âu tiến hành cho thấy
20% du khách đến châu Âu với động cơ văn hoá, 60 % du khách người châu Âu quan
tâm đến việc tìm hiểu, khám phá các sự kiện, hiện tượng văn hoá trong chuyến đi của
họ.
Văn hoá còn góp phần cấu thành nên môi tr ường văn hoá cho du lịch. Văn hoá
làm cho du khách sung sướng, vừa lòng, những tình cảm tốt lành, những kỷ niệm đẹp
cho du khách sau những chuyến đi. Văn hoá cung cấp tri thức, các phép ứng xử văn
minh lịch sự cho hoạt động du lịch.
Một trong những lĩnh vực góp phần phát triển tốt cho lễ hội là du lịch. Mặt khác
du lịch cũng tìm thấy ở lễ hội một chỗ dựa vững chắc, một kho tàng phong phú để khai
thác nhằm phát triển sự nghiệp của mình.
Trong các cuộc hội nghị bàn về chiến l ược phát triển văn hoá Việt Nam đến năm
2010, nhiều ý kiến cho rằng không có yếu tố truyền thống, vẻ đẹp độc đáo, những giá
trị và công trình văn hoá, du lịch Việt Nam sẽ không phát triển mạnh được, sẽ mất đi sự
hấp dẫn riêng của nó. Vì du lịch chính là để hiểu hơn văn hoá Việt Nam đặc biệt là văn
hoá truyền thống dân tộc Việt Nam với 54 dân tộc anh em mang sắc thái khác nhau,
song cùng hoà quyện với sắc thái thiên nhiên tạo thành bức tranh văn hoá hết sức độc
đáo giàu truyền thống được lưu truyền trong các bảo tàng, sự khéo léo của các làng
nghề truyền thống, cách xử sự nồng nhiệt đậm đà thú vị qua các món ăn ẩ m thực,
phong tục tập quán riêng qua các lễ hội…Số liệu thống kê thời gian qua cho biết:
+ Có gần 30.000 lượt khách trong nước và quốc tế đến tham dự Lễ hội 100 năm
Sapa.
+ 77.000 lượt khách dự tại chương trình Tháng Tám - Nha Trang - Điểm hẹn
+ Mê Kông Fetival 2003 thu hút gần 120.000 lượt khách
+ Lễ Hội Chùa Hương đón 356.524 năm 2004
+ Đền Hùng trên 1.000.000 l ượt khách
+ Fetival Huế là 1.200.000 lượt khách.
Việc tổ chức lễ hội văn hoá du lịch đã trở thành hoạt động quảng bá tiềm năng
thúc đẩy hợp tác du lịch, tạo ra nhiều sản phẩm du lịch độc đáo thu hút khách khắp mọi
nơi. Sự thành công của các sự kiện văn hoá du lịch không chỉ được thể hiện bằng số
lượng khách đến tham dự mà còn ở chỗ sự tham gia phối hợp tổ chức của nhiều cấp,
nhiều ngành trong khoảng thời gian dài trên các mặt: hoàn thiện cơ sở hạ tầng, tạo ra
sản phẩm mới, chỉnh trang môi tr ường, cảnh quan, giáo dục tuyên truyền cộng đồng địa
phương đến công tác xúc tiến quảng bá... Vấn đề này cũng khẳng định ngành du lịch
đang dần dần có vai trò quan trọng trong c ơ cấu kinh tế - xã hội của nhiều địa phương.
Ngoài ra, hiệu quả của các sự kiện văn hoá lễ hội du lịch còn được đánh giá qua những
lợi ích mang lại cho cộng đồng dân cư. Khi cộng đồng dân cư được chia xẻ lợi ích, họ
sẽ tự biết bảo vệ nguồn tài nguyên phục vụ phát triển du lịch bền vững.
1.3.2. Văn hoá là mục tiêu của phát triển du lịch
Văn hoá và du lịch có mối quan hệ biện chứng với nhau. Phát huy bản sắc,
truyền thống văn hoá trong kinh doanh du lịch, tạo động lực cho kinh doanh du lịch
phát triển. Bất kỳ một ngành kinh tế nào cũng đều hướng tới lợi nhuận, để đạt tới lợi
nhuận có rất nhiều phương thức khác nhau trong đó có việc phát huy nhân tố con
người. Các nhà quản lý doanh nghiệp phải lấy nó làm động lực để thúc đẩy sản xuất.
Đồng thời với việc nhận thức rõ vai trò của những nhân tố truyền thống v ăn hoá trong
kinh doanh du lịch như phong tục, tập quán, nếp sống… được sử dụng như một phương
thức kinh doanh.
Yếu tố truyền thống văn hoá trong kinh doanh du l ịch có vai trò quan trọng ảnh
hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của du lịch. Muốn có hiệu quả trong kinh doanh
điều quan trọng không chỉ thoả mãn nhu cầu của khách bằng cơ sở vật chất của mình mà
điều quan trọng hơn chiếm được tình cảm của khách qua việc phát huy truyền thống, bản
sắc văn hoá dân tộc.
Du lịch vừa là ngành dịch vụ, vừa là ngà nh sản xuất, vừa tiêu thụ sản phẩm của
chính mình. Trong du l ịch phần lớn các dịch vụ đều do con người thực hiện. Khách sạn
là nơi tiếp đón và phục vụ rất nhiều đối tượng khác nhau về mục đích thăm viếng, quốc
tịch, dân tộc… Ngay cách c ư xử cũng thể hiện những phong tục tập quán khác nhau.
Người Hàn Quốc chào nhau bằng cách cúi gập người, người châu Âu hay bắt tay khi
giao tiếp, người Việt là nụ cười thân mật nở trên môi. Người Việt ta có câu:
"Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nh au”
Người Trung Quốc thì cho rằng:
“Nếu không biết cười thì đừng bao giờ mở nhà hàng”.
Giao tiếp là một yếu tố rất quan trọng quyết định đến hoạt động du lịch. Trong
điều kiện nước ta còn nghèo, kinh tế chưa phát triển, lòng hiếu khách, vẻ thanh lịch, sự
tự tin trong giao tiếp ứng xử đối với khách nhất là khách quốc tế là điều rất cần thiết.
Vì vậy những người làm du lịch đã phải hình thành cho mình một phong cách giao tiếp,
ứng xử mang cốt cách Việt Nam nghĩa là mến khách, tôn trọng những nhu cầu chí nh
đáng của khách, khéo léo lịch sự, nhã nhặn, bình đẳng với mọi người. Đó cũng là
truyền thống văn hoá và nhân cách của người Việt Nam.
Trang phục truyền thống với những gam màu sắc là yếu tố góp phần tạo cho
khách cảm giác thoải mái khi sử dụng dịch vụ. Mỗi khách sạn đều chọn cho mình một
kiểu trang phục phù hợp với điều kiện kinh doanh, điều kiện môi trường nơi hoạt động.
Trang phục cũng là nét đẹp thể hiện sự tôn trọng đối với khách. Cảm nhận đầu tiên khi
khách đến cơ sở du lịch tốt hay xấu là phụ th uộc vào thái độ, cử chỉ, trang phục của
người đón tiếp. Nhiều khách sạn đã biết chọn cho mình kiểu trang phục mang sắc thái
độc đáo, hài hoà với khung cảnh. Qua đó phần nào đánh giá được trình độ tổ chức của
khách sạn đó.
Việt Nam là quốc gia có 54 dân t ộc, mỗi dân tộc đều có sắc thái trang phục
riêng. Kế thừa kho tàng phong phú về trang phục với những chất liệu nh ư lụa, gấm, thổ
cẩm… những người làm du lịch đã sáng tạo, áp dụng phù hợp với c ơ sở của mình.
Trang phục đã góp phần không nhỏ tạo ra sự thành công trong nghi thức ngoại giao,
trong tiếp tân, trong các chương trình lễ hội của các vùng miền trên đất nước.
Hoạt động của du lịch nhìn từ góc độ nào cũng gắn với tự nhiên. Các yếu tố tự
nhiên như khí hậu, tài nguyên… thường xuyên thay đổi và tác động đến cung cầu du
lịch.
Con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội, nếu nh ư phương Tây có xu hướng
cải tạo tự nhiên thì phương Đông nói chung, con người Việt Nam nói riêng lại có xu
hướng hoà đồng với thiên nhiên. Họ yêu thiên nhiên và sống gắn bó với t hiên nhiên vì
họ hiểu những giá trị, những lợi ích to lớn mà thiên nhiên ban tặng họ:
“ Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”.
Lối ví von như vàng, như bạc không chỉ có nghĩa là thiên nhiên giàu có mà
chứng tỏ thiên nhiên trong tâm khảm người Việt là vô cùng quí giá, là nguồn sống,
nguồn của cải vật chất mà con người phải tôn trọng, bảo vệ, giữ gìn không chỉ cho thế
hệ hôm nay mà cả cho thế hệ mai sau.
Nguồn cảm hứng thẩm mỹ sâu sắc tr ước thiên nhiên, con người đã khám phá,
xây dựng những công trình kiế n trúc như đền, chùa, miếu mạo…, tuy không đồ sộ
hoành tráng nhưng hài hoà với khung cảnh thiên nhiên và phù hợp với tâm thức của
người Việt như các di tích lịch sử của Một Cột, chùa Trấn Quốc, Đền Hùng, Cố Đô
Huế… Đây thực sự là hệ sinh thái nhân văn đẹp, hài hoà giúp cho con người cảm nhận
sự thư giãn, sự linh thiêng trong các dịp lễ hội.
Trước những vấn đề của cuộc sống, trước sức ép ngày càng tăng của công việc
đô thị hoá, con người ngày càng có nhu cầu tìm đến với thiên nhiên, du lịch sinh thái.
Loại hình du lịch gắn với thiên nhiên - du lịch sinh thái đang trở thành một hướng khai
thác không thể thiếu được trong chính sách phát triển du lịch của các quốc gia.
So với nhiều quốc gia trên thế giới, cảnh quan thiên nhiên Việt Nam còn khá
hoang sơ, nhiều nơi con người còn chưa khám phá, rất phù hợp với loại hình du lịch
thiên nhiên, du lịch xanh… Với đất nước có nhiều dân tộc với những nét văn hoá bản
địa hấp dẫn, đầy hứa hẹn những tiềm năng cho việc khai thác và phát triển du lịch. Khai
thác tốt và hợp lý với những chính sách phù hợp việc phát triển loại hình du lịch sinh
thái chính là phát huy tốt mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong hoạt động du
lịch. Đứng ở góc nhìn văn hoá, du lịch sinh thái chính là sự biểu hiện rõ rệt cho mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên.
Việt Nam là nước nông nghiệp, mọi hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá của mỗi
người dân trong đó có hoạt động du lịch đã chi phối mạnh mẽ tới hành động thái độ
ứng xử của con người với tự nhiên.
Đẩy mạnh phát triển du lịch nhưng đồng thời phải tích cực bảo vệ môi trường
sinh thái. Nếu hoạch định chính sách phát triển du lịch không có nội dung “phát triển
bền vững”, đảm bảo đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến đáp ứng
nhu cầu của thế hệ mai sau thì việc khai thác du lịch không gắn với bảo vệ môi tr ường
sẽ làm cho tự nhiên biến đổi nhanh chóng sẽ tác động tiêu cực đến du lịch.
Hiện nay không ít khách than phiền về phí tham quan ở một số n ơi quá đắt và
môi trường ngày càng bị ô nhiễm. Tại một số điểm du lịch, khi cộng đồng địa phương
được hưởng các lợi ích vật chất từ hoạt động du lịch thì ý thức về bảo vệ môi tr ường
được cải thiện rõ rệt. Khi đó những tác động tiêu cực tới môi trường cũng được hạn chế
đáng kể (như ở khu du lịch Ao Vua, V ườn Quốc gia Ba Vì…). V ăn hoá là mục tiêu của
phát triển du lịch bền vững và lành mạnh. Vì vậy những ng ười hoạt động du lịch phải
có tri thức văn hoá phong phú, kinh doanh có văn hoá, phong cách văn hoá trong ứng
xử giao tiếp…
1.3.3. Du lịch thúc đẩy giao lưu văn hoá phát triển
Du lịch và văn hoá có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ này được hình
thành và củng cố dựa trên quá trình hình thành và phát triển một cách ngày càng đa dạng
của các loại hình du lịch cũng như tốc độ phát triển nhanh chóng của du lịch trong n ước,
trong khu vực cũng như trên thế giới.
Trong mối quan hệ với văn hoá, du lịch là yếu tố quan trọng đẩy mạnh giao lưu
văn hoá giữa các vùng miền trong nước và giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới.
Sự phát triển của du lịch tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc chấn hưng và bảo
tồn các di sản văn hoá. Du lịch đã tạo nên điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội của các địa
phương và của các dân tộc phát triển. Nói một cách khác, du lịch đã có tác động quan
trọng vào đời sống văn hoá của xã hội.
Doanh thu từ các hoạt động du lịch được sử dụng một phần cho việc tu bổ di
tích, chỉnh lý các bảo tàng, đồng thời khôi phục các làng nghề truyền thống nh ư mây
tre, gốm, dệt thổ cẩm… biến chúng trở thành hàng hoá bán cho khách tham quan.
Đối với các giá trị văn hoá phi vật thể, hoạt động du lịch trong thời gian quan đã
phục hồi và làm sống lại những lễ hội dân gian, văn nghệ dân gian, sinh hoạt tín
ngưỡng… phục vụ du khách.
Du lịch còn có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế, chính trị, xã hội và sinh thái.
ý nghĩa xã hội quan trọng của du lịch là thông qua du lịch con ng ười được thay
đổi môi trường, có ấn tượng và cảm xúc mới, có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu
văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc, đồng thời mở mang kiến thức đáp ứng lòng
ham hiểu biết từ đó tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành những
phẩm chất đạo đức tốt đẹp như lòng yêu lao động, tình bạn góp phần hình thành phương
hướng đúng đắn trong mơ ước sáng tạo, trong kế hoạnh tương lai của con người. Điều này
quyết định sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân trong xã hội.
Trong thời gian du lịch, khách du lịch thường sử dụng các dịch vụ, hàng hoá và
thường tiếp xúc với dân địa phương, thông qua các cuộc tiếp xúc đó, khách và dân bản địa
đều được trau dồi và nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau về văn hoá, lịch sử, những phong tục
tập quán của khách và cả chủ nhà.
Du lịch là cầu nối hoà bình giữa các dân tộc. Du lịch là giấy “thông hành của hoà
bình” vì thông qua nó con người hiểu biết thêm các dân tộc trên thế giới, cảm thông và
xích lại gần nhau hơn, thấy được cái hay cái đẹp mà con người đang khát vọng vươn tới
vì ngày mai tốt đẹp hơn, qua đó mỗi dân tộc có sự chắt lọc, bổ sung, nâng cao nền văn
hoá của mình.
Để thế giới có thể tìm hiểu sâu sắc h ơn về văn hoá Việt Nam, qua du lịch chúng
ta đã giới thiệu nhiều di tích văn hoá, công trình văn hoá thiên tạo và nhân tạo của
mình: Cố Đô Huế, Vịnh Hạ Long, di tích Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, Vườn quốc gia Phong
Nha - Kẻ Bàng…Tuần lễ Du lịch Fetival Huế được tổ chức tại Cố Đô Huế là dịp để chúng
ta giao lưu, trao đổi, hợp tác, làm cho chúng ta và bè bạn ngày càng “xích lại gần nhau
hơn” trong không khí hữu nghị, đoàn kết đượm đà màu sắc văn hoá đa dạng, phong phú.
Có thể nói các hoạt động giao lưu văn hoá giữa nước ta với các nước trên thế giới
không ngừng tăng lên vừa phong phú về nội dung vừa đa dạng về hình thức trong thời gian
qua là có sự đóng góp của hoạt động du lịch. Hoạt động này đã góp phần vào việc giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Ngoài những thành tựu đã đạt được kể trên, hoạt động giao lưu văn hoá qua du
lịch cũng còn có một số hạn chế:
Trước hết là về nhận thức tư tưởng, đạo đức, lối sống xuất hiện, tệ sùng bái
nước ngoài, coi thường những giá trị dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng cá nhân, vị
kỷ đang gây tai hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Việc giao l ưu văn hoá với
nước ngoài chưa tích cực và chủ động, còn nhiều sơ hở, văn hoá phẩm độc hại vào
nước ta còn nhiều, tác phẩm văn hoá có giá trị của ta giới thiệu với nước ngoài còn ít.
Tuy nhiên, những tồn tại và thiếu sót trên cũng không làm mờ đi những thành tựu lớn
về văn hoá và du lịch mà chúng ta đã đạt đ ược trong quá trình giao l ưu và hội nhập.
Thực tế đã chứng tỏ đường lối và các chính sách của Đảng và Nhà nước ta đang phát
huy tích cực, định hướng đúng đắn cho phát triển văn hoá và du lịch.

Kết luận chương 1
Văn hoá và du lịch có mối quan hệ qua lại hết sức mật thiết. V ăn hoá là nguồn
tài nguyên nhân văn vô cùng phong phú đ ặc sắc có thể tạo ra các sản phẩm du lịch độc
đáo để thu hút khách du lịch, là nguồn tài nguyên chủ yếu của du lịch hiện nay. Du lịch
văn hoá đang trở thành một loại hình du lịch phổ biến và có hiệu quả cao. Hoạt động du
lịch cũng có những tác động trở lại đối với văn hoá. Du lịch chính là cầu nối để thúc
đẩy trao đổi, giao lưu giữa các dân tộc, quốc gia, cộng đồng với nhau đồng thời du lịch
chính là động lực góp phần vào phát triển, giữ gìn bảo tồn và phát huy truyền thống v ăn
hoá của dân tộc. Tuy nhiên sự phát triển du lịch cũng đang đặt ra cho văn hoá dân tộc
những thách thức, những “nguy cơ bất ổn”.
Thứ nhất: Đối với các di sản văn hoá, đặc biệt các di sản văn hoá vật thể có giá trị
thì khách tham quan và sự bùng nổ số lượng khách đã trở thành mối nguy cơ đe doạ việc
bảo vệ các di tích này. Sự có mặt quá đông của du khách cùng một thời điểm ở một di
sản đã tạo nên những tác động cơ học, hoá học cùng với yếu tố khí hậu nhiệt đới gây nên
những huỷ hoại đối với các di sản và các động sản phụ như các vật thờ, các dụng cụ
trang trí.
Thứ hai: Sự phát triển của các dịch vụ du lịch tự phát thiếu sự kiểm soát đã tác
động mạnh mẽ đến cảnh quan văn hoá và môi trường sinh thái tại các khu di tích. Hiện
tượng viết và khắc chữ lên một số di tích, sự ô nhiễm môi tr ường từ khói bụi, các loại
rác thải… đang xảy ra tác động trực tiếp đến các di tích…
Thứ ba: Các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể là các điểm nổi bật trong văn
hoá của mỗi dân tộc. Do tác động của quá trình thương mại hoá, các giá trị này đang bị
mai một.
Thứ tư: Có sự xung đột giữa các giá trị văn hoá bản địa và văn hoá của du khách,
đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, nhiều n ơi đã và đang diễn ra những thay đổi không lành
mạnh từ lối sống truyền thống sang lối sống hiện đại được du nhập thông qua khách du
lịch.
Thứ năm: Sự phát triển du lịch kèm theo buôn bán trái phép đồ cổ. Do hám lợi
một số kẻ xấu đã ăn cắp cổ vật ở các khu di tích, đào bới các lăng mộ cổ và gom nhiều
hiện vật quý trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu để bán với
khách du lịch.
Thứ sáu: Kinh tế du lịch được thúc đẩy là một tác nhân làm tăng sự phân hoá
giàu nghèo trong xã hội.
Khắc phục được các thách thức và nguy c ơ đó, văn hoá và du lịch nước ta chắc
chắn sẽ phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội bền vững,
toàn diện.
Chương 2
Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch
Trên địa bàn Hà Nội


2.1. Thực trạng bảo tồn và phát triển văn hoá nhằm phục vụ phát triển du
lịch
2.1.1. Di sản văn hoá Thăng Long Hà Nội nguồn lực cho phát triển du lịch
Thủ đô
2.1.1.1. Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên
Hà Nội là một thành phố cổ kín h có tài nguyên thiên nhiên, c ảnh quan hấp dẫn,
là một thành phố của cây xanh và hồ đẹp, nơi gặp gỡ giữa trời đất, con người và các
quần thể hoà quyện vào nhau tạo thành một bức tranh duyên dáng. Với những cây xanh
gắn bó với con người không chỉ làm đẹp cảnh quan mà còn làm cho môi trường thoáng
mát. Những đường phố cũng có nhiều nét đặc trưng riêng của nó. Đường Trần Hưng
Đạo với nhiều cây sấu um tùm, đường Điện Biên Phủ có hàng cây đa xanh ngắt, đường
Ngô Quyền có những cây me cổ thụ. “Mùa Hoa Sữa” có ở đường Nguyễn Du, “Hoàng
Lan" có ở Phố Phan Đình Phùng. Phố Lý Thường Kiệt, Đường Bà Triệu có "Bằng
lăng”. Bốn mùa Hà Nội cho ta đầy sắc hương của nhiều loại hoa lá quanh n ăm xanh tốt.
Hoa làng Ngọc Hà, Quất Quảng Bá, Hoa đào Nhật Tân… Hà Nội thuộc hai hệ th ống
sông chính là Sông Hồng và Sông Thái Bình giàu phù sa, cung cấp đủ nước tưới tiêu
cho đồng ruộng, cây trồng. Thành phố có rất nhiều sông nhỏ và hồ đẹp: Cả thảy có tới
3.600 ha hồ ao với 27 hồ lớn, có thể trở thành n ơi có điểm du lịch hấp dẫn.
Hồ Gươm với Tháp Rùa, Đền Ngọc Sơn ngàn năm in bóng, đền đ ược xây dựng
trên Đảo Ngọc, với nhiều công trình liên hoàn tinh tế: cổng Nghi Môn, tháp Bút, đài
Nghiên, cầu Thê Húc, lầu Đắc Nguyệt, đình Trấn Ba, tháp Rùa và ngôi đền chính.
"Khen ai khéo hoạ dư đồ
Giữa nơi thành thị có hồ xanh trong".
Hồ đã gắn với huyền thoại lịch sử, chuyện xưa kể lại rằng: Khi xưa vua Lê Lợi
khởi nghĩa Lam Sơn có tìm được lưỡi kiếm ở dưới sông. Lê Lợi đem kiếm báu dưới cờ
kháng chiến suốt mười năm đánh đuổi quân Minh, rồi về đóng đô ở Thăng Long. Một
hôm nhà vua dạo thuyền bên hồ Lục Thuỷ (tên Hồ G ươm) gặp một con Rùa, Rùa ngậm
lấy lặn biến. Từ đó có tên là “Hồ Gươm” hay còn gọi là “hồ Hoàn Kiếm”.
Hồ Gươm là trung tâm của thủ đô, là danh thắng lịch sử văn hoá lâu đời với truyền
thuyết yêu nước chống giặc ngoại xâm đã gắn trong tâm trí của mỗi người dân Việt Nam. Hồ
có sức lôi cuốn khách du lịch trong nước và quốc tế, là nơi giao lưu giữa nhân dân thủ đô và
nhân dân các địa phương khác.
Trung tâm Hà Nội còn có nhiều hồ khác như: Hồ Bảy Mẫu, hồ Thiền Quang, hồ
Trúc Bạch, hồ Giảng Võ… đều là những cảnh quan đẹp và là nơi vui chơi giải trí của
nhiều người.
Đặc biệt tiềm năng vô tận của Hồ Tây còn được biết đến như một điểm du lịch
đa dạng và đặc sắc không chỉ của Hà Nội mà còn của cả n ước. Từ xa xưa, Hồ Tây đã là
nơi thưởng ngoạn cảnh quan, nơi hành hương, nơi nghỉ dưỡng, vui chơi. Hồ Tây cũng
là nơi tập trung khá nhiều di tích văn hoá với bề dầy lịch sử ngàn năm và xưa hơn nữa.
Hồ Tây với diện tích chừng 500 ha nằm trong nội thành Hà Nội, hồ được ví như là
lá phổi xanh lớn cho thủ đô, nơi tập trung đông dân cư với hoạt động kinh tế, giao thông
dày đặc. Hồ được biết đến như một nhánh lớn bị chia cắt của Sông Hồng. Hồ Tây không
chỉ là một không gian xanh mà còn được bao phủ bởi các lớp huy ền thoại lịch sử và
đượm chất văn hoá dân gian. Truyền thuyết kể lại rằng:
“Thời nhà Lý, Vua cho đúc đồng đen thành một quả chuông lớn, đúc song, khi
đánh thử chuông, có một con Trâu Vàng từ ph ương Bắc ngỡ là tiếng mẹ đã vùng chạy
sang: Trâu chạy tìm, đất sụt thành hồ. Nhà vua phải cho ném chuông xuống hồ, Trâu
mới yên. Từ đó, Trâu ở lại đáy Hồ Tây cho nên còn gọi là hồ “Trâu Vàng".
Hiện nay bao quanh Hồ Tây là trên 60 di tích lịch sử - văn hoá có giá trị nhiều
mặt. Đặc biệt là các chùa, đình, đền, miếu… trong đó có những di tích là điểm đến đặc
biệt quan trọng của khách du lịch nh ư chùa Trấn Quốc, Phủ Tây Hồ, Quán Trấn Vũ …
Gắn với các di tích ấy là lễ hội dân gian truyền thống có sức hấp dẫn với khách du lịch
quốc tế và khách nội địa. Nhiều làng nghề truyề n thống cũng tập trung quanh khu vực
Hồ Tây nay trở thành phố ph ường mà vẫn giữ được nghề như nghề đúc đồng Ngũ Xã,
giấy ở Yên Thái.
Hồ Tây còn được đánh giá dưới góc độ khác tiềm năng của du lịch sinh thái và du
lịch xanh cùng với du lịch thể thao mặt nước và dưới nước. Hồ Tây được bao quanh bởi
nhiều làng cổ Yên Phụ, Quảng An, Nhật Tân, Bưởi, Thuỵ Khê, hệ thống cây xanh quanh
17 km chu vi hồ trong đó có nhiều cây lớn cùng với các làng hoa Nghi Tàm, Nhật Tân,
tạo nên một môi trường sinh thái nhân văn hấp dẫn.
Tiềm năng nước và mặt nước Hồ Tây mở ra khả năng lớn cho sự phát triển các loaị
hình du lịch có sức hấp dẫn to lớn và lâu dài. Các hoạt động thể thao như bơi lội, câu cá,
du thuyền, lướt vát đều có thể thực hiện được. Công viên Hồ Tây được xây dựng và đưa
vào sử dụng đó là các dịch vụ vui chơi giải trí, ăn uống, thể thao bơi lội… trong đó có việc
khai thác mặt nước ven hồ. Tổ hợp này đã thu hút gần 500 nghìn lượt khách du lịch vào sử
dụng các dịch vụ trong những tháng hè. Những ngày thứ bẩy, chủ nhật có tới 7 nghìn lượt
khách đến thăm quan.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là chất lượng nước và cảnh quan môi sinh ven
Hồ Tây, tiềm năng lớn và quan trọng của du lịch, cần phải được đảm bảo trong sạch để
có thể khai thác lâu bền. Nhiều cuộc khảo sát Hồ Tây cho thấy tình trạng nước và rác
thải trong lòng hồ ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng nhất là những n ơi có các dịch vụ
kinh doanh.
Để Hồ Tây trở thành một trong những tiêu điểm của hoạt động du lịch của Hà Nội
thì phải có chương trình đầu tư, qui hoạch, cải tạo, bảo tồn và khai thác một cách khoa
học.
2.1.1.2. Tiềm năng về di tích lịch sử văn hoá
Các thế hệ người Việt Nam, ngay từ buổi đầu dựng nước, đã biết tôn trọng và
giữ gìn các giá trị văn hoá, đặc biệt là đã biết sáng tạo và huy động sức mạnh văn hoá
vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trước những thử thách của thời gian và lịch
sử, của thiên tai và địch hoạ để tồn tại và phát triển. Ông cha ta đã biết sớm khơi nguồn
sức mạnh từ chiều sâu của nền văn hoá dân tộc, biết chắt lọc tinh hoa từ n ền văn hoá
của nhân loại để tạo nên những giá trị văn hoá cao đẹp, mang đậm bản sắc văn hoá dân
tộc, thắm đượm tính nhân văn.
Từ những giá trị truyền thống của văn hoá Việt Nam, Thăng Long - Hà Nội, mảnh
đất ngàn năm văn hiến đã hình thành nên những di sản văn hoá (di sản văn hoá vật thể và
phi vật thể) vô cùng phong phú và đa dạng.
Ngày nay Hà Nội đã trở thành biểu tượng cho các giá trị văn hoá của dân tộc, là
niềm tự hào của mỗi người Việt Nam. Câu thơ quen thuộc của Huỳnh Văn Nghệ, một
nhà thơ một vị tướng quân trên đất Nam Bộ:
“Từ thuở mang gươm đi mở cõi
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”
Đã nói thay tấm lòng của nhân dân cả nước đối với Hà Nội, mọi người dân cả
nước “đều thương nhớ”, đều mong ước được đến thăm Hà Nội. Du khách nước ngoài
đến Việt Nam cũng không thể bỏ qua Hà Nội bởi vì Hà Nội có bề dày lịch sử nghìn
năm tồn tại, là thủ đô của nước Việt Nam anh hùng và mến khách.
Thăng Long - Hà Nội” đã sớm trở thành điểm hội tụ văn hoá của mọi
miền đất nước. Lý Công Uẩn đã mang về Thăng Long những giá trị văn hoá của
vùng Kinh Bắc vốn là quê hương của mình. Sau thời Lý, văn hoá Thăng Long
lại được bổ sung những nhân tố mới kể từ khi triều Lý trị vì ở Thăng Long…
Cứ thế, với vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của cả nước, văn hoá
Hà Nội đã trở thành bản giao hưởng các giá trị đó đã được nâng cao và có ý
nghĩa phổ quát trong mỗi giai đoạn lịch sử [11, tr.12].
Nghiên cứu về văn hoá Thăng Long - Hà Nội, một câu hỏi đã đặt ra: gần 1000
năm qua, Hà Nội đã là nơi hội tụ tài hoa và trí tuệ của cả nước, trong suốt chiều dài lịch
sử đó, Hà Nội đã để lại những giá trị văn hoá gì cho ngày nay?
Hà Nội có rất nhiều di tích lịch sử, văn hoá truyền thống, các công trình kiến
trúc của đình chùa, miếu mạo, những khu phố cổ, những dinh thự, nhữ ng quần thể kiến
trúc của nền văn hoá phương Đông vừa tự nhiên, thơ mộng huyền bí, đẹp đẽ. Theo báo
cáo năm 2002 của Ban quản lý danh thắng và di tích, Hà Nội có khoảng 2.727 di tích
lịch sử văn hoá bao gồm 775 ngôi chùa, 216 ngôi đền, 252 ngôi miếu, 679 ngôi đình,
12 lăng, 66 nhà thờ họ, 32 quán am.
Di sản văn hoá Thăng Long- Hà Nội đa dạng và phong phú, có niên đại từ trước
thời Lý đến thời Nguyễn, những viên ngọc quí trong kho tàng văn hoá của dân tộc. Mật
độ di tích của Hà Nội thuộc loại cao nhất n ước. Những di sản này được sinh ra và nuôi
dưỡng bằng đạo lý, tín ngưỡng và phong tục truyền thống của dân tộc nên có sức sống
mãnh liệt, lâu bền. Có khách du lịch n ước ngoài đã nêu nhận xét về Hà Nội:
Với tư cách là khách du lịch mến yêu Hà Nội, bản thân tôi rất mong Hà
Nội ngày càng hiện đại, nhưng điều quan trọng hơn cả là việc lưu giữ các di
tích lịch sử, những thắng cảnh mạng giá trị nhân văn vốn có từ lâu đời của các
bạn. Theo tôi chính những yếu tố ấy mới tạo nên được sức sống, nét đặc trưng
rất riêng của Hà Nội [59, tr.32].
Trong các di tích kiến trúc cổ, chùa có số lượng lớn nhất.
Chùa Trấn Quốc là chùa cổ vào loại bậc nhất n ước ta được xây dựng từ thời Lý
Nam Đế. Chùa ở phía đông Hồ Tây, xây dựng trên hòn đảo x ưa có tên gọi là Kim Ngư.
Chùa như một hòn đảo được sóng vỗ quanh năm. Ngôi chùa kết hợp được vẻ đẹp cổ
kính của di tích lịch sử lâu đời với vẻ đẹp thanh nhã của thắng cảnh ven hồ. Qua nhiều
niên đại, chùa vẫn được coi là một danh thắng đẹp nhất kinh thành, đã đi vào lịch sử
như một niềm tự hào của văn hoá dân tộc.
Chùa Kim Liên được xây dựng từ năm 1639, có tên gọi là chùa Sen Vàng, cũng
ở Hồ Tây, nằm trên bán đảo Nghi Tàm. Ngôi chùa nh ư nổi trên mặt nước, kiến trúc độc
đáo, mỗi nếp nhà có hai tầng mái, cả bốn mặt t ường đều xây gạch trần, với ba nếp nhà
liên tiếp nhau thành hình chữ tam vừa lộng lẫy vừa trang nghiêm. Chùa với bề dày lịch
sử, và những giá trị kiến trúc nghệ thuật lớn được đặt vào vị trí trang trọng trong kho di
sản văn hoá, chùa lại nằm trong quần thể của Hồ Tây, một tuyến tham quan du lịch liên
khu di tích Quan Thánh - Trấn Quốc - Yên Phụ - Kim Liên.
Chùa Một Cột được xây dựng năm 1041, chùa nằm ở phố Chùa Một Cột, quận Ba
Đình, nằm trong quần thể di tích Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chùa Một Cột còn có tên chữ
Hán là “Nhất Trụ Cột”. Chùa có kiến trúc độc đáo trên một trụ đá trong hồ nước. Chùa Một
Cột còn gọi là Toà Đài Sen, vì hình dáng của chùa như là một bông sen nhô lên trên mặt nước.
Chùa hình vuông làm bằng gỗ, lợp ngói ta. Nóc chùa có mặt nguyệt bốc lửa, hai đầu rồng
chầu về mặt nguyệt. Trong chùa đức phật Quan Âm toạ lạc (có nhiều tay), sơn màu vằng.
Phía trên tượng phật là hoành phi “Liên hoa đài” (đài Hoa Sen). Tượng phật Quan Âm
cũng ngồi trên một bông sen bằng gỗ sơn son thiếp vàng, ở vị trí cao nhất. Chùa có bốn
mái, bốn đầu đao cong được đắp hình đầu rồng.
Chùa Một Cột được xây ở giữa hồ thả sen. Khách trong n ước và quốc tế tới vãn
cảnh, cầu nguyện, ngắm sen nở. Trong hồ tương phản với chùa cũng là bông sen lớn,
toát lên sự thanh cao của đức phật Quan Âm.
Ngoài ra Hà Nội còn rất nhiều chùa nổi tiếng về sự tích lịch sử, và kiến trúc độc
đáo như chùa Lý Quốc Sư, Chùa Hà, chùa Thiên Phúc, chùa V ạn Ngọc, chùa Phúc
Khánh.
Ngoài hệ thống chùa còn có các đình, đền thờ phụng các anh hùng dân tộc, các
thánh mà trong tiềm thức của dân gian cho là linh thiêng.
Như đình Giảng Võ thờ bà Lý Châu N ương, một nữ tướng thời Trần phụ trách
kho lương thực của quân đội và có công đánh giặc, được triều đình phong làm phúc
thần.
Đình Linh Đàm thờ Thành Hoàng là Bảo Ninh V ương. Theo truyền thuyết, Bảo
Ninh Vương vốn là thuỷ thần học trò của Chu V ăn An đã có công làm ra mưa chống
hạn cho nhân dân bảy làng quanh vùng.
Đình Thanh Hà nơi tưởng niệm Trần Lựu, người có công trong lịch sử chống
giặc ngoại xâm của dân tộc dưới triều Trần ở thế kỷ X III được nhân dân thờ làm Thành
Hoàng.
Đền Ngọc Sơn nằm trong lòng Hồ Gươm lịch sử. Đền là quần thể kiến trúc liên
hoàn tinh tế giữa Tháp bút, Đài Nghiên, cầu Thê Húc, Lầu Đắc Nguyệt, đình Trấn Ba.
Từ xưa nơi đây là nơi thưởng ngoạn của các vua chúa. Tháp Bút là một công trình kiến
trúc đẹp, điểm tô thêm vẻ đẹp của thắng cảnh Hồ Gươm và đền Ngọc Sơn. Từ Tháp Bút
đi vào gần phía hồ, trên nền núi Ngọc Sơn xưa, Nguyễn Văn Siêu đã cho xây một Đài
Nghiên. Khu đền chính Ngọc Sơn được xây dựng ở trung tâm Đảo Ngọc, ẩn mình dưới
những tán cây cổ thụ quanh năm xanh tốt. Có bài thơ khuyết danh được người đời ca
tụng nói về Hồ Gươm và Cầu Thê Húc đã in trong Nam Thi hợp tuyển do đốc học
Nguyễn Văn Ngọc biên tập.
Bóng Tháp lô nhô lấp sóng cồn
Nhịp cầu nho nhỏ ghếch sườn non
Nước trong chưa vẩn tăm thầm kiếm
Đường rộng còn trơ dấu phép môn,
Kim cổ treo chung tranh thuỷ mặc
Tang thương chớp nhoáng bóng hoàng hôn
Nghìn thu suy thịnh gương còn đó,
Coi thuở vầng trăng khuyết lại tròn.
Ngày nay đền được tu sửa lại càng trở nên đẹp và đầy ý nghĩa nhân bản. Đền
được soi mình dưới nước như những hạt ngọc lung linh huyền diệu cho tất cả khách
thập phương đến thăm cảnh hồ.
Đền Hai Bà Trưng, thờ hai nữ anh hùng đầu tiên của lịch sử chống giặc ngoại
xâm ở nửa đầu thế kỷ I sau công nguyên: Trưng Trắc và Trưng Nhị. Sự ra đời của ngôi
đền đã được kể lại rằng: Vào đời Lý Anh Tông niên hiệu Đại Đinh Ba (1142) có pho
tượng đá nổi trên dòng Nhị Hà toả sáng cả một đoạn sông, thuyền bè không dám đến
gần. Vua Anh Tông biết chuyện bèn sai ngư ời ra đón rước nhưng không được. Theo ý
các bô lão, người ta lấy vải đỏ làm lễ buộc vào tượng rồi rước vào, một pho tượng cao
lớn, đầu đội mũ trụ, thân mặc áo giáp, hai tay chỉ lên trời, một chân quì, một chân ngã
ra…
Đền được dựng ở bãi Đồng Nhân, thời nhà Lý do đất lở nên đã di chuyển vào vị
trí ngày nay. Đền là trung tâm của quần thể di tích với đình thờ Thần Hoàng làng và
chùa thờ phật. Trước mặt đền có hồ bán nguyệt, cây cối tốt t ươi, dưới bóng cây đa cổ
thụ có tấm bia đá đặt trên lưng Rùa. Trong đền có tượng Hai Bà mặc áo vàng, áo đỏ.
Hà Nội còn có khu di tích văn hoá mang đậm dấu ấn của lịch sử như khu di tích
Cổ Loa, Văn Miếu Quốc Tử Giám, khu di tích Hoả Lò…
Khu di tích Cổ Loa là một vùng thành trì lớn, một dấu tích vật chất về kiến trúc
quân sự và đô thị cổ cách đây gần hai thiên niên thành Cổ Loa gắn liền với câu chuyện
An Dương Vương và Nhà nước Âu Lạc. Câu chuyện xây thành đã trở thành huyền thoại.
Thành cứ ngày xây, đêm đổ nên chỉ khi vua được Thần Kim Qui (Rùa Vàng) cho người
mách kế diệt Tinh Bạch Kê (Gà Trắng) thì thành mới xây xong. Chiếc Nỏ Thần mà lẫy
nỏ chính là móng Rùa Vàng, trăm phát trăm trúng đã giúp vua tiêu diệt giặc, giữ được
thành.
Cổ Loa là di tích lớn và là di tích duy nhất còn lại đến nay về một thủ phủ lớn.
Một thủ phủ mà cha ông ta đã thiết lập trên đồng bằng Bắc bộ, thoạt đầu hẳn là thủ phủ
của thủ lĩnh quân sự lớn. Đây là di tích duy nhất về kiến trúc quân sự thời cổ ở n ước ta.
Trong khu vực thành vẫn còn tượng An Dương Vương bằng đồng. Dấu tích kiến trúc
quan trọng còn lại đến nay nằm ở khu vực thành trong, có đền thờ An Dương Vương.
Phía trước đền thờ có giếng Ngọc (nơi tự vẫn của Trọng Thuỷ). Cổ Loa nếu được đầu
tư phục chế lại thì sẽ là di tích rất đáng tự hào của thủ đô.
Văn Miếu Quốc Tử Giám được xây dựng từ thời Lý Thánh Tông (1070) là tr ường
đại học đầu tiên của nước ta. Sau gần ngàn năm tồn tại, trải qua bao nhiêu biến cố, Văn
Miếu Quốc Tử Giám ngày nay vẫn là khu di tích lịch sử văn hoá quan trọng, một thắng
cảnh độc đáo. Ngoài giá trị lịch sử, văn hoá, nó còn có giá trị về kiến trúc nghệ thuật, là
công trình kiến trúc tiêu biểu của nho giáo và trải qua nhiều triều đại được trùng tu sửa
chữa. Toàn bộ khu vực có diện tích hình chữ nhật, chiều dài 306 mét, chiều rộng 75 mét,
đường vào qua cổng Tam Quan, trong sân có “Khuê V ăn Các” soi bóng xuống mặt hồ
nước nhỏ hình vuông mang tên Thiên Quang Tinh (giếng nước mang ánh sáng của bầu
trời) được coi là hình ảnh tiêu biểu của nền văn hoá Việt Nam cũng như của Thăng Long
- Hà Nội. Trong số nhiều hiện vật cổ quí hiếm, chứng tích của ngàn năm văn hiến có 82
bia tiến sỹ được dựng từ năm 1484 đến năm 1780. Bia tiến sỹ là những phiến đá đặt trên
lưng những con Rùa đá khắc văn bia và ghi rõ họ tên, quê quán của những người thi đỗ.
Ngày nay, Văn Miếu Quốc Tử Giám là di tích nổi tiếng được bảo tồn khá nguyên vẹn giữa
lòng Hà Nội. Đây không chỉ là di tích, một danh thắng cuốn hút khách vào thăm mà còn là
trung tâm hoạt động văn hoá khoa học của thủ đô.
Hà Nội còn nhiều gò tích nh ư Gò Đống Đa, Ngọc Hồi … gắn với các chiến công
anh hùng của cha ông.
Hà Nội có khu phố cổ 36 phố phường được hình thành từ xa xưa với những tên phố
thân quen: Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Bạc, Hàng Đường…
Các ngôi nhà cổ theo kiểu nhà ống thường làm theo kiểu gian ngoài là chỗ bán
hàng, tiếp đó là khoảng sân lộ thiên để lấy ánh sáng. Khu phố cổ Hà Nội là hạt nhân
của phần “thị" này bao gồm 76 tuyến phố thuộc phạm vi mười phường trên địa bàn
quận Hoàn Kiếm.
Trong phạm vi phố cổ đã từng có trên một trăm di tích tôn giáo tín ngưỡng, là
nơi thờ tự của các làng, thôn, ph ường cũ là nơi thờ tổ nghề, thờ thần Hoàng Hà Nội gốc
như: Đền Bạc Mã, đình Thanh Hà, …
Trải qua những biến động của thời gian, của lịch sử khu phố cổ có nhiều biến
dạng, song bóng dáng của thời x ưa vẫn còn lưu lại trên những khu phố cổ kính, cái
không gian văn hoá đậm đà màu sắc cổ truyền của vẻ đẹp đô thị phản ánh gốc gác của
dân cư kinh thành… Các lo ại mứt, ô mai và các món ăn đặc biệt hương vị “Tràng An”
đã thu hút trí tuệ, tình cảm của các nhà văn, nhà nghiên cứu đã nhận xét:
“Những nhà ống nhỏ bé lại xen với những mái chùa cong mềm mại hoà trong
không gian cây xanh với vẻ đẹp yêu kiều. Một nét độc đáo nữa của Hà Nội mà ở thủ đô
nhiều nước không có đó là những phố nghề, làng nghề như làng giấy, làng hoa, làng
gốm, Hàng Bạc, Hàng Đường… mà chúng ta đang và sẽ giữ gìn và phát huy để trở
thành những tuyến du lịch tham quan h ướng dẫn du khách. Và với sự đầu tư của Nhà
nước, sự tài trợ của quốc tế và trách nhiệm của người dân, khu phố cổ hy vọng sẽ được
bảo tồn, tôn tạo trở thành khu sầm uất sẽ đư ợc phát triển theo hướng phố cổ trong thời
đại mới”.
Hàng chục di tích lịch sử cách mạng với những c ơ sở cách mạng thời kỳ 1929 -
1930, 1936 - 1939, nhà tù Hoả Lò, nơi giam cầm các chiến sỹ yêu nước và cách mạng.
Ngôi nhà 48 Hàng Ngang - nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra Nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà, khu di tích lịch sử Ba đình nơi sống, làm việc và yên nghỉ của Chủ
tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Hệ thống các bảo tàng ở Hà Nội (Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng, B ảo
tàng Lịch sử Quân sự, Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Dân tộc học…) cũng là những địa
điểm lý tưởng cho khách du lịch đến thăm quan, thưởng ngoạn ở thủ đô.
2.1.2. Các hoạt động văn hoá phục vụ cho phát triển du lịch
2.1.2.1. Hoạt động của các lễ hội
Thăng Long - Hà Nội là mảnh đất có rất nhiều lễ hội. Chủ thể sáng tạo của các
lễ hội cổ truyền đã tái tạo lại lịch sử, viết lại lịch sử dân tộc, quê h ương bằng các lễ hội
cổ truyền. Nhà nghiên cúu Nguyễn Vinh Phúc cho rằng: “đậm sắc màu lịch sử” là nét
đặc trưng của lễ hội Việt Nam nói chung, Thăng Long- Hà Nội nói riêng. Với tấm lòng
thành kính “nhớ về cội nguồn dân tộc”, lễ hội bao giờ cũng gắn bó với một cộng đồng
dân cư nhất định. Lễ hội gắn bó với từng làng quê, các làng quê khác nhau thì có hội
làng khác nhau. Mặt khác lễ hội cũng mang tính tộc người rõ nét, các dân tộc khác
nhau sẽ có những lễ hội khác nhau.
Những lễ hội tiêu biểu hàng năm của Hà Nội:
* Lễ hội Đền:
Không Thời Đối tượng tôn
Các nghi lễ chính thức,
Thứ Tên lễ gian, địa gian thờ (tên Thần,
rước thần, tục hèm
tự hội điểm, địa (theo âm Thánh trong
và các trò chơi dân gian
danh lịch) lễ hội
1 Lễ hội Cổ Loa - 6-1 Thờ: Thục phán Có tế lễ nghênh rước - Tục
đền Cổ Đông Anh An Dương rước “vua sống”
Loa Vương (lập nước
Âu Lạc) - Đấu vật, chơi cờ tướng
2 Lễ hội Xuân Đỉnh 6-1 Thờ: Thánh Tế lễ và rước kiệu Thánh
đền Sóc - Từ Liêm Gióng (tượng - Tục chơi cờ người và chọi
cao 4 mét) gà
3 Lễ hội Sóc Sơn - 6 đến 8-1 Thờ: Thánh Tế lễ và rước xách linh đình
đền Sóc Xuân Đỉnh Gióng và Thổ Lễ Dâng hương và lễ Mộc
Sơn thần dục
Không Thời Đối tượng tôn
Các nghi lễ chính thức,
Thứ Tên lễ gian, địa gian thờ (tên Thần,
rước thần, tục hèm
tự hội điểm, địa (theo âm Thánh trong
và các trò chơi dân gian
danh lịch) lễ hội
52 xã rước hoa tre (nhuộm
màu) dâng cũng xong tung
cướp lấy may
Lễ Chém tướng giặc Ân
Chọi gà, cờ tướng, đu, hát ca
trù
4 Lễ hội Đồng 6-2 Thờ: Hai Bà Tổ chức tế lễ trọng thể
đèn Nhân - Trưng (có 2 pho Lễ Dâng hương và Rước
Đồng Quận Hai tượng quý của tượng Hai Bà
Nhân Bà Trưng Hai Bà) Có điệu múa đèn (“Con đĩ
đánh bồng“) và nhiều trò chơi
dân gian
5 Lễ hội Thôn 6 đến 10- Thờ: Đại Thánh Tổ chức tế lễ dâng hương
đền Ngọc trì - 2 Trấn Vũ (tượng trọng thể
Trấn Vũ Thạch Bàn bằng đồng đen Có tục kéo co ngồi rất cổ và
- Gia Lâm cao 3,8 mét nặng nhiều trò vui dân gian
4 tấn)
6 Lễ hội Thủ Lệ - 10-2 Thờ: Hoàng Tử Tổ chức tế lễ và rước xách.
đền Voi Câù Giấy Linh Lang (con Dâng hương tưởng niệm. Có
Phục trai vua Lý Thái tục thi nâng hòn đá lớn (tảng
Tông) có nhiều đá) và chơi cờ tướng…
công đánh Tống
7 Lễ hội Hàng 15-2 và Thờ: Thần Bạch Tổ chức tế lễ trọng thể cầu
đền Buồm - 15-8 mã (tục thờ thần mưa (15-2) và cầu tạnh
Bạch Hoàn mặt trời) (15-8)
Không Thời Đối tượng tôn
Các nghi lễ chính thức,
Thứ Tên lễ gian, địa gian thờ (tên Thần,
rước thần, tục hèm
tự hội điểm, địa (theo âm Thánh trong
và các trò chơi dân gian
danh lịch) lễ hội
Mã Kiếm Thờ Thần Long Lễ Nghìn xuân, Tiến Ngưu
đỗ (thần Thành đánh trâu, Cầu mùa.
Hoàng của kinh Lễ Ăn thề
đô Thăng Long)
8 Lễ (đền) Quảng An 3 đến 7-3 Thờ Liễu Hạnh, Tế lễ dâng hương, cúng bái
Phủ Tây - Tây Hồ Thánh Mẫu và nhân ngày giỗ Mẫu Liễu
Hồ tam toà Thánh Hạnh
Mẫu Có lên đồng hầu bóng và thi
hát chầu văn
9 Lễ hội Thuỵ 4-4 Thờ: Thần Đồng Tế lễ trọng thể dâng hương.
đền Khuê - Cổ (Thần Trống Lễ Tuyên thệ
Đồng Phường Đồng) Tổ chức hội thể của các vua
Cỏ Bưởi quan thời phong kiến
Đây là quốc lễ theo nghi thức
triều đình xưa do vua chủ trì
10 Lễ hội Làng Phù 9-4 Thờ: Thánh Tổ chức tế lễ trọng thể
đền Phù Đổng -Xã Gióng + Đức Có rước kiệu Thánh
Đổng Phù Đổng Thánh Mẫu (mẹ Lễ rước nước
- Gia Lâm Thánh Gióng) Tục mặt trời cổ xưa
Trò diễn trận “Thánh Gióng
đánh giặc Ân”
Có nhiều trò chơi dân gian:
đấu vật, cờ người, hát chèo,
quan họ
11 Lễ hội Lệ Chi- 8-4 Thờ: Thánh Có tế lễ và rước xách linh
Không Thời Đối tượng tôn
Các nghi lễ chính thức,
Thứ Tên lễ gian, địa gian thờ (tên Thần,
rước thần, tục hèm
tự hội điểm, địa (theo âm Thánh trong
và các trò chơi dân gian
danh lịch) lễ hội
đền Chí Gia Lâm Gióng + Thờ đình. Tổ chức hội trận của hai
Nam Hiển Công (là phe trai đình (đóng quân ta và
tướng thời Hùng quân giặc Ân)
Vương thứ 6) Thi vật và đấu gậy.


*lễ hội chùa:
Đối tượng Các nghi lễ Phật
Địa điểm, địa Thời gian
Thứ Tên lễ tôn thờ: giáo- tín ngưỡng dân
danh của lễ Lễ hội
tự hội Phật - Hậu gian, các trò chơi trò
hội (âm lịch)
Phật diễn đặc sắc
1 Lễ hội Phố Huế, 6 đến 8-1 - Lễ dâng h ương, tụng
chùa Quận Hai Bà kinh niệm Phật. Tế lễ
Vua Trưng Thờ: Tam vua cờ.
bảo chư - Trò chơi cờ người,
Phật Thờ: Đế cờ tướng, cờ bỏi, chọi
Thích (vua gà, múa sư tử.
cờ) - Ai được giải nhất 3
năm liền được khắc
tên vào bia đá chùa.
2 Lễ hội Xã Ninh Hiệp 4 đến 6-2 Thờ tam bảo - Lễ cầu kinh niệm
chùa chư Phật Phật. Tế lễ rước Bà
Nành - Thờ Phật Nành, kéo ngựa và lễ
(Hội Mẫu Man lục cúng. Tục tế lễ
Đại) Nương Trần Hưng Đạo
- Bà Nành - - Trò tục: Nâng cây
Đối tượng Các nghi lễ Phật
Địa điểm, địa Thời gian
Thứ Tên lễ tôn thờ: giáo- tín ngưỡng dân
danh của lễ Lễ hội
tự hội Phật - Hậu gian, các trò chơi trò
hội (âm lịch)
Phật diễn đặc sắc
Pháp Vân Phan (trò múa tín
- Thờ Trần ngưỡng phồn thực).
Hưng Đạo
3 Lễ hội Phường Láng 7-3 - Lễ tụng kinh niệm
chùa Trung, Đống Thờ Đức Phật - Lễ dâng hương
Láng Đa Phật cúng Thánh thần đồ
- Thờ Thiền chay
sư Từ Đạo - Tế lễ, lễ tắm tượng
Hạnh (Thánh - Rước xách kiệu
Từ) Thánh lớn - Lễ cầu
- Vua Lý đảo, cầu mưa
Thần Tông. - Nhiều trò chơi dân
gian
4 Lễ hội Làng Nhót, 15-3 Lễ cầu kinh niệm
chùa Đông Mỹ, Phật
Đông Thanh Trì - Tế lễ dâng hương và
Phù Thờ đức Phật đồ chay
Liệt và hai công - Lễ kể hạnh, cầu lộc
(Chùa chúa (con gái cầu phúc
Nhót vua Lý
tên chữ: Thánh Tông)
Hưng
Long
tự)
5 Lễ hội Ngõ Văn 24 đến Thờ Phật - Có cầu kinh niệm
Đối tượng Các nghi lễ Phật
Địa điểm, địa Thời gian
Thứ Tên lễ tôn thờ: giáo- tín ngưỡng dân
danh của lễ Lễ hội
tự hội Phật - Hậu gian, các trò chơi trò
hội (âm lịch)
Phật diễn đặc sắc
chùa Chương, Tôn 25-4 - Thờ vua Lê Phật
Dục Đức Thắng, Thái Tổ và - Lễ dâng hương,
Khánh Đống Đa vua Lê Thần cúng tế các vị thờ ở
Tông đây theo nghi thức cổ
- Tượng truyền
Nguyễn Trãi - Có nhiều trò vui dân
và bà gian
Nguyễn Thị
Lộ


* Lễ hội Đình:
Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh t hờ
(lịch âm) dân gian
Làng Sài Thành Hoàng - Tế thần
4-1
Lễ hội đình Đồng, Gia Linh Lang Đại - Động thổ
1 (hàng
Sài Đồng Thuỵ, Gia Vương - Trình nghề (chủ
tháng)
Lâm (Thời Lý) yếu là nghề nông)
- Có tế lễ theo nghi
Thờ: Bà Lê
thức cổ truyền
Làng Mai Trân
Từ 4 đến - Trò tục đấu vật
Lễ hội đình Động, Q. - Nguyễn Tam
2 6 tháng (diễn lại sự tích
Mai Động Hai Bà Chinh (Tổ sư
hàng năm luyện quân sỹ, thời
Trưng lò vật làng Mai
kỳ khởi nghĩa Hai Bà
Động)
Trưng của tổ sư lò
Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh t hờ
(lịch âm) dân gian
vật Mai Động)
- Tế lễ dâng hương ở
đình Khương
Thượng
Lễ hội đình Khương Vua Quang
5 tháng 1 - Cầu siêu ở chùa
3 Khương Thượng, Trung -
hàng năm Đông Quang
Thượng Đống đa Nguyễn Huệ
- Rước rồng lửa, múa
lân, chọi gà, cờ
tướng
- Dâng hương, tế
Làng
thần
Hoàng Mai, Trần Khát
Lễ hội đình 6 tháng 1 - Rước kiệu thần
4 Hoàng Văn Chân (tướng
Hoàng Mai hàng năm - Đấu vật, đấu gậy,
Thụ, Q. Hai nhà Trần)
chọi gà, cờ người.
Bà Trưng
Thả diều
Phạm Công - Tế lễ
Làng Thị Tây (thời - Rước kiệu Thần từ
Lễ hội đình Cấm, Xuân Hùng Vương Thị Cấm đến Hoè
5 6 đến 8-1
Thị Cấm Phương, Từ 18) và công Thị
Liêm chúa Hoa - Thổi cơm thi
Dung
- Dâng hương, tế lễ
Ông Dực, ông
Kẻ Rỗ, xã - Hát cửa đình, hát
Lễ hội đình Minh, Dinh Dự
6 Liên Hà, 6-15 thi (ở Lỗ Khê còn có
Lỗ Khê và Mãn Hoa
Đông Anh lễ tế Tổ sư ca công
Đường
vào ngày 6-4 và hội
Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh t hờ
(lịch âm) dân gian
thu vào 10- 8)
- Tế lễ - lấy nước,
Làng Gạ,
Lễ hội đình Từ 9 đến Bà chúa Tằm rước nước
7 Phú gia, Từ
Gạ 11-1 Quỳnh Hoa - Đấu võ, múa sư tử,
Liêm
hát ả đào, diễn chèo
- Nhập tịch
- Tế lễ mừng Phùng
Hưng lên ngôi
Làng Triều - Rước hoàng bào từ
Bố Cái Đại
Lễ hội đình Khúc,Tân Từ 9 đến đình Sắc về đình Đaị
8 Vương (Vua
Triều Khúc Triều, 12-1 - Múa rồng, múa lân,
Phùng Hưng)
Thanh Trì múa con đĩ đánh
bồng. Chạy cờ duyệt
quân, vật giải, chơi
đu, hát chèo
Thôn Cự - Tế lễ - dâng hương
Chính, 12 -1, Lã Đại Liêu - Rước kiệu thần -
Lễ hội đình
9 Nhân 12-2, (Tướng của các trò diễn và trò
Cự Chính
Chính, 18-10 Tản Viên) chơi dân gian
Thanh Xuân
- Dânghương
Làng Bạch mã Đại
- Tế lễ
Lễ hội đình Khoan Tế, Vương và
10 10-1 - Thi ném pháo theo
Khoan Tế Đa Tốn, Phùng Kha Đại
kiểu riêng của địa
Gia Lâm Vương
phương
11 Lễ hội đình Làn g Vính 8-2 Nàng Tý quê ở - Dâng hương, tế lễ
Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh t hờ
(lịch âm) dân gian
Vĩnh Ninh Ninh, Vĩnh Láng (là tướng - Đánh cờ, đấu vật
Quỳnh, của Hai Bà - Vào ngày hội, mọi
Thanh trì Trưng) người đều thắp
- Ông Rắn hương tại nhà mình
- Ông Đất
- Tế lễ
Linh Lang Đại - Rước kiệu
Lễ hội đình Yên Phụ, 8 đến
12 Vương (Hoàng - Chọi gà, đánh cờ
Yên Phụ Tây Hồ 10-2
tử đời Trần) tướng, tham quan di
tích cổ
- Tế lễ
- Lã Liệt + - Các dòng họ tới
5 làng Mọc,
Hùng Lãnh đình dâng hương và
Lế hội đình Nhân
8 đến Công + ả Đại lễ phẩm
13 Mọc Quan Chính,
11-2 Vương (Đức - rước kiệu qua 5
Nhân Thanh
Bà) + Đoàn làng (cả đi lẫn về)
Xuân
Thượng - Múa rồng, múa sư tử
- Cờ tướng, hát chèo
- Tế thần, dâng
hương
Làng Vẽ, - Độc Cước + - Lễ tạ trời đất
Lễ hội đình 9 đến
14 Đông Ngạc, Lê Khôi + Thổ - Rước nước
Vẽ 11-2
Từ Liêm thần bản địa - Đại tế
- Lễ tạ trời đất
- Đấu vật, cờ tướng
15 Lễ hội đình Làng Giàn, 9 đến Lý Phục Man - Tế lễ. Rước nước
Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh t hờ
(lịch âm) dân gian
Giàn Xuân Đỉnh, 11-2 (danh tướng - Rước kiệu Ông +
Từ Liêm thời Tiền Lý) kiệu bà sang chùa rồi
tới đình
- Cờ người, vật, đấu
võ, chọi gà
Lý Thần Tông - Tễ lễ
Làng Cót, + Bạch Hạc + - Rước bài vị từ miếu
Lế hội đình 9 đến
16 Yên Hoà, Cao Sơn Đại ra đình
Cót 11-2
Từ Liêm Vương + Diêm - Chọi gà, cờ tướng
La Đại vương
- Dâng hương
Đông Chinh
- Đại tế
Vương + Phu
Kẻ Noi, Cổ - Cờ người
Lễ hội đình 9 đến Nhân Đông
17 Nhuế, Từ - Cúng cỗ chay, cơm
Cổ Nhuế 11-2 Chinh + Tạ
Liêm nắm, muối vừng vì
Minh Hiền (chị
phu nhân của Ngài
gái)
có một thời đi tu
Hai vợ chồng - Tế thần
Vũ Phục có - Rước kiệu từ đình
công cứu vua An Thái sang đền
Làng An Lý Nhân Tông Đồng Cổ
Lễ hội đình
18 Thái, Bưởi, 10-2 khỏi đau mắt - Hát ca trù
An Thái
Tây Hồ (theo lời Thần, - Ngâm thơ ở đình
hai vợ chồng - Diễn chèo + tuồng
đều nhảy ở khu cầu san
xuống sông Tô - Đu tiên, cờ tướng,
Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh t hờ
(lịch âm) dân gian
Lịch tự tử) chọi gà
- Thi cây cảnh
Hoá Quang - Tế lễ trọng thị
Tiên Sơn Đại - Rước xách kiệu
Thánh thần
Làng Vẽ,
Lễ hội đình 10 đến - Lê Khôi (con - Cờ bỏi, chọi gà
19 Đông Ngạc,
Đông Ngạc 12-2 vua Lê Thái
Từ Liêm
tổ)
- Thần Bản
Thổ
- Phan Tây - Tế lễ
Làng Thị
Nhạc (Bộ - Rước kiệu Thần
Lễ hội đình Cấm, Vân
20 12-2 tướng của vua - Thi nấu cơm và dệt
Cấm Canh, Từ
Hùng Duệ vải
Liêm
Vương 18)
- Tế lễ, dâng hương
Quảng Bá, Bố Cái Đại
Lễ hội đình 12-2, - Rước kiệu Thần
21 Quảng An, Vương Phùng
Quảng Bá 10-8 - Có nhiều trò tục
Tây Hồ Hưng
dân gian
- Cá Lễ và - Tế lễ
Cống Lễ (hai - Dâng hương
Làng Hồ
anh em sinh - Diễn trò bơi cạn mô
Lế hội đình Khẩu,
22 14-2 đôi có công phỏng cảnh Cá Lễ đi
C á Lễ Bưởi, Tây
diệt giặc Bạch tìm vợ chết đưối (trò
Hồ
Hạc được này do 36 thanh niên
phong Tướng đảm nhiệm)
Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh t hờ
(lịch âm) dân gian
công vệ quốc
và Tướng quân
Dực Thánh)
- Dâng hương, tế lễ
- Rước Thánh từ
miếu về đình
- Đua thuyền dạo
- Đức Thánh
Làng Đăm, chơi trình Thánh
Lễ hội đình 9 đến Tam giang +
23 Tây Tựu, - Rước Thánh ra
Đăm 12-3 Bạch Hạc Tam
Từ Liêm Thuỷ đình dự hội
Giang
- Đua thuyền, đốt pháo
- Diến chèo + hội
đua thuyền làng Đăm
rất qui mô, nổi tiếng
- Quách Lãng - Tế lễ - dâng hương
- Đinh Bạch - Rước kiệu các vị
Làng Đông
Lễ hội đình Nương thành Hoàng làng
Ba, Thượng 10 đến
24 Thượng - Đinh Tĩnh - Thi bơi trải, đua
cát, Từ 12-3
Cát Nương (các thuyền
Liêm
tướng của Hai - Tục đánh cờ người
Bà Trưng)
Diêm La Đại - Tế lễ và rước xách
Làng Mai
Lễ hội đình 10 đến Vương (tướng rất linh đình
25 Dịch, Từ
Mai Dịch 12-3 của Lý Nam - Có các trò chơi dân
Liêm
Đế 544-548) gian
26 Lế hội đình Làng Lệ 23-3 - Hoàng Phúc - Tế lễ
Thời Các nghi lễ chính,
Thứ Địa điểm, Đối tượng tôn
Tên lễ hội gian trò chơi, trò diễn
tự địa danh t hờ
(lịch âm) dân gian
Lệ Mật Mật, Việt Trung (còn gọi - Dâng cá chép cần
Hưng, Gia là Hoàng Lệ - Rước nước
Lâm Mật) có công - Rước kiệu
diệt thuỷ quái - Rước cỗ của dân 13
cứu công chúa trại phía nam Nhị Hà
nhà Lý và khai - Múa rắn
khẩn 13 trại ở
phía Tây
Thăng Long
- Tế lễ trọng thị
Làng
- Rước kiệu Thánh
Chèm,
Lễ hội đình lên lên làng Hoàng
27 Thuỵ 15-5 Lý Ông Trọng
Chèm Xá giao hiếu
Phương, Từ
- Có các trò vui dân
Liêm
gian trong 3 ngày hội
Giá trị của lễ hội mà du khách được cảm nhận chính là gía trị cộng cảm và cộng
mệnh. Ngày lễ hội là thời gian c ư dân tụ họp để tưởng nhớ vị thánh của làng. Vì thế
đây là một sinh hoạt tập thể long trọng th ường đem lại niềm phấn chấn cho tất cả mọi
người. Các nghi thức của lễ hội mà mọi người phải tuân theo tạo nên niềm cộng cảm
với tất cả cộng đồng, làm cho mỗi người gắn bó chặt chẽ hơn với cộng đồng, cảm thấy
có khả năng vươn lên ở tầm vóc cao hơn, với sức mạnh lớn hơn.
Lễ hội còn như một loại bảo tàng văn hoá- bảo tàng tâm thức lưu giữ các giá trị
văn hoá, các sinh hoạt văn hoá. Đó có thể là các trò chơi tín ngường dân gian, các hình
thức diễn xướng dân gian… Du khách có thể tìm hiểu tín ngưỡng Việt Nam có đặc
điểm là sự dung hợp giữa tín ngưỡng Phật giáo, Đạo giáo, với tín ngưỡng dân gian. Đặc
điểm này càng được thể hiện rõ trên đất Thăng Long. Nguyên nhân sâu sa c ủa sự dung
hợp này là truyền thống yêu th ương giúp đ ỡ nhau trong nhân dân, là tinh thần khoan
dung của dân tộc và thái độ không thành kiến với những người khác mình về tư tưởng,
quan điểm cũng như về tín ngưỡng.
Thăng Long có đền thờ thần Núi (Tản Viên), thần Sông (Tô Lịch). Có “Th ăng
Long tứ trấn”, bốn ngôi đền các vị thần trấn giữ bốn phía đông, tây, nam, bắc. Vị anh
hùng Trần Hưng Đạo được suy tôn thành Đức Thánh Trần được thờ ở nhiều nơi. Vị
công chúa huyền thoại Liễu Hạnh được suy tôn là Thánh Mẫu và người “Mẹ bất tử”,
một trong “tứ bất tử” của Việt Nam, cũng có hàng tr ăm nơi thờ cúng ở Thăng Long và
ở cả nước nhưng nổi tiếng nhất là ở Phủ Tây Hồ.
Như vậy lễ hội truyền thống gắn liền với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ
nước của dân tộc. Lễ hội biểu hiện sức sáng tạo bền bỉ, lớn lao của nhân dân trải qua
hàng thiên niên kỷ, qua nhiều loại hình lễ hội mang tính toàn quốc hoặc tính địa
phương.
Lễ hội vừa được kế thừa đồng thời vừa mang được cải biến qua từng thế hệ. Lễ
hội là những sinh hoạt của cộng đồng, mang tính dân tộc và được vận động trong lịch
sử. Các qui luật vận động của nó nằm trong các qui luật gía trị của quá trình xã hội hoá.
Sinh hoạt lễ hội đã mang đến cho người thư ởng thức những giá trị đạo đức, các
phong tục, tập quán, các điều kiêng kỵ… Nó gắn bó với các tình cảm, thị hiếu, đức tin
của dân tộc. Có thể nói gía trị của các lễ hội được thể hiện trong nhiều mặt: Nghi lễ, y
phục, đồ thờ, kiến trúc và trang trí, biểu diễn nghệ thuật, lễ vật dâng cúng và các trò
chơi dân gian… đặc biệt cần phải nói đến những con người trong lễ hội, nhân vật lễ hội
chính là chủ thể sáng tạo và vận hành lễ hội, là động cơ, nguồn gốc sinh ra và nuôi
dưỡng lễ hội.
Sự hấp dẫn của lễ hội truyền thống tr ước hết là ý nghĩa lịch sử, văn hoá, chính trị
cũng như ý nghĩa cộng đồng xã hội rộng lớn.
Chẳng hạn khu di tích Phù Đổng là nơi thờ vị anh hùng có công đánh giặc Ân từ
thời Hùng Vương thứ sáu. Sự tích làng Gióng thu ộc loại hàng đầu trong kho huyền
thoại và lịch sử văn hoá Việt Nam. Lễ hội diễn ra ngày mùng 9 tháng t ư hàng năm. Câu
chuyện Thánh Gióng là tư liệu thần thoại ngợi ca cuộc đấu tranh thần thánh chống giặc
ngoại xâm của dân tộc Việt Nam thời cổ. Người anh hùng làng Gióng là hình ảnh sáng
ngời của dân tộc Việt Nam trưởng thành trong chiến đấu, Gióng cùng toàn dân đánh
giặc, Gióng nhằm nơi giặc Ân đóng mà xông tới quất roi sắt vào thân giặc, vút tre ngà
xuống đầu giặc và đánh thắng giặc xong bay về Trời.
Như vậy trong sự nghiệp bảo vệ đất nước cũng là những trang sáng ngời của lịch
sử gợi cho du khách một ý niệm cao cả thiêng liêng về dân tộc, về các bậc anh hùng
trong nhân dân. Qua l ễ hội cái đẹp của tinh thần đó đã được cụ thể hoá bằng các cuộc
biểu diễn văn hoá,văn nghệ, võ thuật. Xem trận đánh của Gióng trong lễ hội ta sẽ thấy
được tính thẩm mỹ dân tộc của lễ hội được tái tạo lại bản chất anh hùng của dân tộc.
Những trò vui chơi của lễ hội không chỉ để giải trí, thư giãn mà còn là những trò vui
chơi mang nội dung lịch sử văn hoá sâu sắc.
Lễ hội truyền thống còn mang lại sự bình đẳng giữa con người với con người,
giữa nam và nữ. Trong các cuộc r ước kiệu ta thấy từng đoàn người ăn mặc màu sắc sặc
sỡ thu hút sự chiêm ngưỡng của bao người. Đó là những bức tranh màu sắc và sự thanh
lịch đậm đà bản sắc dân tộc từ cách ăn mặc đến cách đi đứng, cách ứng xử…
Như vậy tính dân tộc quán triệt trong suốt quá trình diễn ra các lễ hội là một
động lực bảo tồn và phát huy các lễ hội trong đời sống. Tiếp xúc với cái hay cái đẹp có
tính chất dân dã và tính văn hoá mang trí tuệ cao đánh dấu một nền văn minh xóm làng
do cha ông tạo lập và truyền lại. Nhân dân đã tự biên, tự diễn nghệ thuật trong niềm vui
sáng tạo, biểu diễn rõ ý thức và tinh thần thẩm mỹ trong lễ hội.
Lễ hội truyền thống thường gắn liền với danh lam thắng cảnh và các di tích lịch
sử, văn hoá. Nói đến lễ hội ở đền Quán Thánh là nhắc đến thờ thần Trấn Vũ. Một hình
tượng kết hợp giữa nhân vật thần thoại Việt Nam. Ông thánh đã giúp An Dương Vương
trừ ma trong khi xây thành Cổ Loa và nhân vật thần thoại Trung Quốc ông Thánh coi giữ
phương Bắc. Đền Quán Thánh đẹp về nhiều mặt, ở đây hình thức và nội dung lịch sử của
di tích hoà quyện vào nhau, gắn liền với khung cảnh đẹp của Hồ Tây với vần thơ nổi
tiếng:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ canh gà Thọ x ương
Mịt mù khói toả cành sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ”.
ở đây mỗi đình chùa và cảnh quan thiên nhiên bao quanh là một bảo tàng nhỏ
của lễ hội, trong đó có các di tích và một số di vật nhất định. Về mặt lễ hội, du lịch lễ
hội sẽ đem lại một số ngân quĩ không nhỏ đ ể tôn tạo trùng tu các di tích, các quần thể
kiến trúc và xây dựng các c ơ sở dịch vụ như khách sạn, nơi tham quan…
Muốn ngày càng thu hút khách đến chiêm ngưỡng thì phải quan tâm bảo vệ các giá
trị dân tộc của lễ hội truyền thống, phải coi trọng công tác bảo tồn các di tích và di vật liên
quan đến lễ hội, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên.
Bên cạnh đó cần phải đào tạo được đội ngũ hướng dẫn viên du lịch có kiến thức
và trình độ văn hoá lễ hội…
2.1.2.2. Hoạt động của các làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là nơi một cụm dân cư sinh sống và sản xuất các sản
phẩm thủ công mỹ nghệ cổ truyền. Họ tạo thành làng nghề hay ph ường hội, một cộng
đồng nhỏ về kinh tế và văn hoá. Những phong tục, tập quán, đền thờ ông tổ nghề,
những bí quyết ngành nghề thủ công truyền thống làm nên nét riêng trong v ăn hoá của
mỗi làng nghề. Các sản phẩm mà các làng nghề truyền thống làm ra là sự kết tinh các
giá trị văn hoá lâu đời của dân tộc. Nhiều người nước ngoài biết đến Việt Nam thông
qua các mặt hàng thủ công truyền thống. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ thể hiện khá đậm
nét qua các hoạ tiết chạm trổ mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Những sản phẩm của
làng nghề với những nét riêng biệt độc đáo là dấu ấn di sản văn hoá quý báu mà ông
cha ta để lại cho thế hệ mai sau. Vì vậy trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá
nếu không có ý thức bảo tồn nghề thủ công mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc thì
những nét văn hoá độc đáo đó sẽ bị mai một. Việc duy trì các ngành nghề truyền thống,
bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc trong các sản phẩm thủ công truyền thống là rất cần
thiết vì các sản phẩm thủ công truyền thống có các giá trị văn hoá đặc biệt, nó mang
trong mình bản sắc văn hoá dân tộc, nó là những thông điệp bền vững của văn hoá dân
tộc được lưu truyền lại cho các thế hệ sau và du khách quốc tế.
Các làng nghề truyền thống ở Thăng Long - Hà Nội là nơi lưu giữ những giá trị
văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc. Được hình thành và tồn tại trong lịch sử của
dân tộc, của vùng văn hoá Bắc Bộ và tiểu vùng văn hoá Thăng Long, các làng ngh ề này
đã có một quá trình tồn tại lâu dài nh ư làng nghề giấy ở Bưởi, ở Yên Hoà, làng đúc
đồng Ngũ Xã, làng mây tre Liên Ngạc, làng gỗ Thiết ứng - Vân Hà - Đông Anh, đặc
biệt là làng gốm sứ Bát Tràng... Sự tồn tại và phát triển của làng nghề truyền thống
hôm nay gắn liền với sự phát triển của hoạt động du lịch hiện tại và tương lai. Những
sản phẩm được tạo ra bằng những bàn tay khéo léo của c ư dân nơi đâyđược khách hàng
ưa chuộng trong đó lực lượng đáng kể là khách du lịch trong n ước và quốc tế. Đối với
làng nghề, sự hấp dẫn của nó với khách du lịch ở chỗ nó thể hiện và bảo đảm những giá
trị văn hoá dân tộc rất đặc sắc và độc đáo: Các lọ hoa, bình thậm chí cả những con vật
trong huyền thoại được tạo dáng bởi chất men với hoa văn tinh tế khiến du khách ngạc
nhiên và thán phục. Mây tre được đan bởi những người thợ cần mẫn chăm chỉ, sản
phẩm là những chiếc mũ, nón, túi, hộp, bàn ghế… vừa dân dã vừa độc đáo của làng
nghề Liên Ngạc vẫn còn nguyên giá trị đến ngày nay.
Bên cạnh làng nghề có những ngôi đình, đền hay nhà thờ tổ nghề vào đầu năm
du khách đến tham quan còn được chứng kiến và tham dự những lễ hội liên quan đến
các vị tổ của nghề truyền thống ở các làng quê. Không khí ngày hội thật náo nhiệt, giàu
tính nghệ thuật, du khách có thể tìm hiểu được cội nguồn của những nghề thủ công
truyền thống, tìm hiểu bản sắc văn hoá của vùng cũng chính là bản sắc văn hoá Việt
Nam một cách sinh động. Đồng thời du khách có cơ hội kinh doanh những sản phẩm ưa
chuộng ra nước ngoài, đó cũng là một cách tạo đà cho sản phẩm trở thành hàng hoá
nhiều hơn, làng nghề phát triển hơn.
Nhiều khách du lịch nước ngoài khi nhận xét về một số sản phẩm phục vụ kinh
doanh đã đánh giá cao giá trị văn hoá của sản phẩm truyền thống bởi chất liệu hoàn
toàn bằng nguyên liệu trong nước với: đất, mây, tre, song, gỗ… là biểu tr ưng cho các di
sản văn hoá và họ coi đây là niềm thích thú trong du lịch. Mặt khác đến với những làng
nghề Hà Nội, du khách đã được tiếp xúc với môi trường văn hoá của làng nghề từ
đường đi lối lại, những hàng cây trái tốt t ươi, lối ứng xử văn hoá xóm làng mộc mạc
chân quê mang đậm nét Việt Nam.
Thăng Long Hà Nội có một nguồn tài sản văn hoá rất đa dạng và phong phú.
Trong những năm qua, vấn đề phát triển du lịch văn hoá ở thủ đô và việc giữ gìn bản sắc
văn hoá dân tộc nói chung, sắc thái văn hoá nói riêng trong hoạt động du lịch ở Hà Nội
đã bước đầu được quan tâm.
Quan hệ giữa du lịch và văn hoá ngày càng gắn bó hơn. Sự phối hợp với nhau
ngày càng chặt chẽ, đồng bộ và thiết thực nhằm quảng bá du lịch thông qua các hoạt
động văn hoá như triển lãm, hội thảo, hội chợ, liên hoan du lịch quốc tế. Rất nhiều các
lễ hội văn hoá đã được tổ chức nhân kỷ niệm 990 năm ThăngLong - Hà Nội. Tài
nguyên du lịch nhân văn được khai thác trong quan hệ với tài nguyên du lịch tự nhiên
để hình thành các tuyến du lịch sinh thái văn hoá hấp dẫn và trở thành sản phẩm du lịch
bước đầu mang rõ nét tính đặc thù như tuyến du lịch phố cổ, tuyến du lịch dọc sông
Hồng, các làng nghề truyền thống…
Những năm gần đây do đường lối đổi mới của Đảng và Nhà Nước, nhiều lễ hội
văn hoá truyền thống được phục hồi. Hàng ngàn các di tích lịch sử văn hoá và các ngôi
đền, chùa, đình… ở Hà Nội được trùng tu, sửa chữa và xây dựng lại. Đó là điều kiện
thuận lợi cho việc thu hút khách du lịch. Nội dung và hình thức của các lễ hội được quan
tâm tổ chức phù hợp với yêu cầu của đời sống xã hội hiện đại và nhu cầu của khách trong
và ngoài nước. Thực tế cho thấy trong lễ hội truyền thống không chỉ phục hồ i các nghi
lễ, trò cổ truyền mà còn có sự đan xen một số nghi thức mới một cách hài hoà. Hơn nữa
việc tổ chức lễ hội cũng có tác dụng làm cho các di tích lịch sử văn hoá được bảo vệ, sửa
chữa, tôn tạo kịp thời, tránh được sự hoang phế hoặc xuống cấp. Việc tổ chức lễ hội thu
hút được nhiều khách thập phương, họ là những người tự nguyện đóng góp kinh phí hoặc
công đức để tôn tạo, bảo vệ di tích và các chi phí cho lễ hội được phong phú hơn.
Lễ hội truyền thống giữ vai trò làm cầu nối từ quá khứ đến hiện tại và tương lai,
giữa cái linh thiêng cao cả với cái đời thường dân dã. Lễ hội đã làm cân bằng về mặt tâm
lý, tâm linh cho mọi tầng lớp nhân dân, lễ hội góp phần vào việc giáo dục lối sống, phong
tục, tập quán tốt đẹp của truyền thống lịch sử văn hoá dân tộc, hướng con người vươn tới
chân - thiện - mỹ góp phần làm cân bằng môi trường sinh thái và môi trường văn hoá xã
hội cho các cộng đồng từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược… tạo
điều kiện phát triển cả về cả trí tuệ và tinh thần cho con người.
Hoạt động du lịch trong thời gian qua làm cho bộ phận văn hoá phi vật thể như lễ
hội dân gian, văn nghệ dân gian, sinh hoạt tín ngưỡng, được phục hồi và sống lại thường
xuyên phục vụ du khách.
Nhìn chung những giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể tr ên đất Thăng Long -
Hà Nội được sử dụng, khai thác và phát huy ngày càng tốt h ơn, hiệu quả hơn cho việc
phát triển du lịch. Đó là bước đi đúng đắn, hợp lý trong việc phát triển du lịch bền vững
ở nước ta.
Song thực tế còn rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết trong việc khai thác, sử dụng
các giá trị di sản văn hoá như là tài nguyên chủ yếu của du lịch.
Chúng ta chưa khai thác hết tiềm lực của tài nguyên hiện có, còn rất nhiều tài
nguyên du lịch nhân văn vẫn còn nằm ngoài môi trường hoạt động của du lịch, nằm
ngoài các tua du lịch được tổ chức lâu nay.
Mỗi di sản văn hoá đều chứa đ ựng trong đó những nội dung riêng biệt, độc đáo,
ở đó là sự phản ánh, là sự kết tinh, là sự l ưu giữ đặc trưng lịch sử dân tộc, qua các thời
kỳ lịch sử, là nét đặc sắc của phong tục tập quán của dân tộc. Nh ưng chúng ta chưa
truyền tải hết được nó, do đó khách du lịch chỉ tìm mới nhận thấy cái vỏ bề ngoài, cái
vỏ kiến trúc, cái vỏ ngôn ngữ của một số di sản. Điều đó vừa làm nghèo đi các giá trị văn
hoá dân tộc trước khách du lịch, vừa hạn chế tính đa dạng của du lịch, du lịch chỉ còn là
một thứ giải trí thư giãn mà giảm đi ý nghĩa tinh thần, tình cảm, thẩm mỹ của khách du
lịch. Vấn đề này liên quan trực tiếp đến tầm hiểu biết về văn hoá của người lãnh đạo, quản
lý du lịch đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên du lịch.
Đối với các di sản văn hoá - lịch sử - kiến trúc, các danh thắng, hoạt động du lịch
có quyền khai thác để thu lời. Nhưng hoạt động du lịch không phải chỉ là đưa các đoàn
khách đến rồi đi.Việc bảo vệ, tôn tạo và tu bổ các di tích phó mặc cho các ngành khác mà
trực tiếp là ngành văn hoá. Đã đến lúc du lịch không thể không quan tâm tới công tác đầu
tư, tu bổ di tích, bảo vệ môi trường văn hoá, di tích, danh lam thắng cảnh. Đó chính là
nhằm mục tiêu phát triển bản thân hoạt động du lịch. Sự nhận thức của ngành du lịch và
văn hoá nếu còn khác nhau sẽ dẫn đến việc mất cân đối giữa khai thác và tu bổ di tích,
những giá trị của các di sản văn hoá sẽ chưa thực sự được chú trọng bảo tồn, tôn tạo phát
huy trong quá trình hoạt động kinh tế du lịch.

2.2. Sự phát triển du lịch gắn với phát triển văn hoá ở Thủ đô
2.2.1. Khái quát chung về du lịch Hà nội
Du lịch Hà Nội đã có quá trình phát triển và hình thành từ thời Pháp thuộc phục
vụ cho ngoại giao và các tầng lớp quan chức của chính quyền thực dân phong kiến. Một
số khách sạn đ ược xây dựng nhưng cơ sở vật chất kỹ thuật còn thấp kém nhiều so với
Âu châu.
Sau 1954, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, du lịch Hà Nội bắt đầu được xây
dựng từ cơ sở vật chất nghèo nàn do Pháp để lại.
Tháng 7 năm 1960, Đảng và Nhà nước chủ trương thành lập Công ty Du lịch
Việt Nam. Du lịch Hà Nội chủ yếu hoạt động theo hướng phục vụ các đoàn khách của
Đảng và Nhà nước.
Đến đầu năm 1963, chi nhánh du l ịch Hà Nội trực thuộc Công ty Du lịch Việt
Nam được thành lập. Chi nhánh có hai khách sạn là Hoàn Kiếm và Dân Chủ. Thời kỳ
này cả nước tập trung cho sự nghiệp chống Mỹ cứu n ước, do đó Đảng và Nhà nước
chưa có điều kiện chính thức đưa du lịch vào cơ cấu phát triển kinh tế xã hội.
Sau Đại hội VI của Đảng, thực hiện đường lối đổi mới, phát triển kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần, sản xuất dịch vụ nói chung và du lịch nói riêng có nhiều biến
chuyển theo cơ chế mới. Hoạt động du lịch Hà Nội đã được mở rộng không những về
đối tượng khách mà cả phương thức kinh doanh. Kinh doanh du lịch có bước phát triển
với tốc độ cao, hiệu quả kinh tế tăng dần. Du lịch đang được phân cấp quản lý theo
ngành dọc và theo lãnh thổ. Sở Du lịch Hà Nội được chính thức thành lập vào ngày 21
tháng 6 năm 1994. Cho đến nay Sở Du lịch Hà Nội đang quản lý 378 cơ sở lưu trú với
11.697 phòng. Trong đó gồm 62 khách sạn quốc doanh, 17 khách sạn liên doanh với
nước ngoài, 22 khách sạn cổ phần, 182 khách sạn t ư nhân, 5 khách sạn của các chi
nhánh, 90 cơ sở lưu trú (có 7 khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao). Với đội ngũ cán bộ của
toàn ngành khoảng gần 20.000 người.
Hà Nội ngày nay là trung tâm chính trị, kinh tế văn hoá đất nước. Vì vậy cũng là
nơi tập trung có tiềm lực kinh tế chủ yếu, có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt,
đường thuỷ phát triển và là nơi tập trung nhiều nhân tài của đất nước.
Với vị trí thuận lợi, có tài nguyên thiên nhiên, tiềm n ăng du lịch phong phú, Hà
Nội đang giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong chiến l ược phát triển du lịch nói riêng,
phát triển kinh tế của cả nước nói chung.
Trong những năm qua, ngành du lịch Hà Nội đã thể hiện rõ vai trò của ngành kinh
tế quan trọng. Du lịch đã đóng góp cho ngân sách nhà nước ngày càng tăng, và góp phần
tạo doanh thu cho nhiều ngành khác, xoá đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư nơi đón
khách du lịch. Tại thời điểm năm 1999, Du lịch Hà Nội mới chỉ đón được 380 nghìn lượt
khách du lịch quốc tế, nhưng đến năm 2004 Hà Nội đã đón được 950 nghìn lượt khách
quốc tế, tăng 2,5 lần so với 1999. Với tốc độ này, Hà Nội hi vọng năm 2010 sẽ đạt được
các chỉ tiêu theo tinh thần Nghị quyết 11 của Thường vụ Thành uỷ sẽ đón được
1.600.000 lượt khách quốc tế. Du lịch thủ đô đã phát triển theo hướng: Bền vững, giữ gìn
được truyền thống văn hoá, lịch sử, môi trường, đảm bảo an ninh trật tự xã hội. Hệ thống
cơ sở vật chất kỹ thuật được nâng cấp và hoàn thiện. Chất lượng dịch vụ được cải tiến,
nhiều chương trình du lịch mới ra đời, môi trường du lịch ngày càng được cải thiện.
2.2.2. Thực trạng hoạt động du lịch gắn với phát triển văn hoá ở Thủ đ ô Hà
Nội
2.2.2.1. Việc khai thác các di tích văn hoá và bảo tàng:
Thủ đô Hà nội là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử văn hoá và bảo tàng. Vì vậy
đây cũng là nơi rất giàu tiềm năng du lịch văn hoá. Theo Cục Di sản văn hoá, cả nước
có khoảng 2.727 di tích được xếp hạng thì Hà Nội có 1.766 di tích, chiếm 70.4% số di
tích của cả nước, trong đó có nhiều di tích lịch sử văn hoá quan trọng, nổi tiếng được
khách du lịch thường xuyên đến thăm và ngưỡng mộ như: Văn Miếu, Chùa Một Cột,
Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh…
Hà Nội do có những ưu đãi về thiên nhiên, khí hậu, về vị trí địa lý đã làm cho
các cảnh quan thiên nhiên được kết hợp một cách hài hoà, khéo léo với các công trình
văn hoá nhân văn. Vì vậy có nhiều lợi thế trong việc tổ chức khai thác các giá trị văn
hoá đặc trưng và các tiềm năng tự nhiên vốn có sự kết hợp tương đối chặt chẽ. Khách
du lịch đến Việt Nam và mọi người Việt Nam ở các miền quê khác nhau khi đến Hà nội
đều không thể không đến thăm Hồ Hoàn Kiếm nơi có Tháp Rùa và di tích đền Ngọc
Sơn cùng một số công trình kiến trúc quanh hồ như tháp Hoà Phong, tượng Vua Lê…
tạo thành một quần thể di tích liên hoàn.
Có thể nói hồ Hoàn Kiếm đã trở thành nơi hội tụ và xuất phát của du khách bốn phương
khi đến và đi qua Hà Nội. Cảnh quan của hồ ngày nay đã được cải tạo, nó đã trở thành một
trong những thắng cảnh hấp dẫn khách thập phương.
Việc phát triển du lịch gắn với văn hoá đã đem lại các giá trị tinh thần cho con
người, giúp con người biết trân trọng hiện tại, giữ gìn quá khứ, nâng cao sự hiểu biết về
lịch sử văn hoá của dân tộc mình cũng như tăng thêm sự hiểu biết về các nền văn hoá
của các quốc gia, các dân tộc khác. Muốn hiểu biết đất nước con người, lịch sử văn hoá
- xã hội và những đặc trưng của mỗi nước du khách thường đến bảo tàng vì bảo tàng là
cơ quan nghiên cứu, lưu giữ tài liệu, hiện vật có ý nghĩa lịch sử văn hoá. Thông qua các
hiện vật gốc tiêu biểu và xác thực được lưu giữ trong bảo tàng, bảo tàng có vai trò hết
sức to lớn trong việc truyền bá lịch sử, văn hoá của dân tộc. Du khách muốn tìm hiểu
về lịch sử, văn hoá, phong tục tập quán các truyền thống của dân tộc, thì địa chỉ đáng
tin cậy của du khách chính là các bảo tàng. Nh ư vậy bảo tàng có mối quan hệ rất đặc
biệt với du lịch. Bảo tàng chính là tài nguyên của khách du lịch để tìm hiểu về văn hoá
sở tại.
Trong hệ thống bảo tàng ở Thủ đô Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam là một
trong những điểm dừng chân khá lý thú của du khách trong các ch ương trình du lịch.
Số khách thăm quan bảo tàng hàng năm tăng lên không ngừng. Trung bình hàng ngày
bảo tàng đón trên 200 lượt khách đến nghiên cứu và thăm quan. Ngoài việc tiếp cận với
du khách, Bảo tàng Lịch sử còn thiết lập mối quan hệ với h ơn 80 bảo tàng và các cơ
quan văn hoá trên thế giới. Có thể nói Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã trở thành một cơ
quan du lịch văn hoá là đầu mối quan trọng trong ngành bảo tàng nghiên cứu về khoa
học lịch sử.
Qua báo cáo tổng kết 40 năm hoạt động, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã phục
vụ hơn 12 triệu lượt khách thăm quan trong nước, hơn 150.000 lượt khách nước ngoài
tham quan. Trung bình mỗi năm Bảo tàng phục vụ trên 300 nghìn l ượt khách học tập,
tham quan trong nước và hơn 4 nghìn khách quốc tế.
Bảo tàng Cách mạng đã dần dần có mặt trong các chương trình du lịch của các
công ty du lịch Việt Nam, giúp nhân dân thế giới hiểu rõ những chặng đường chiến đấu
hy sinh đầy gian khổ nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc Việt Nam d ưới sự lãnh đạo
của Đảng.
Bảo tàng Hồ Chí Minh có số khách đến tham quan du lịch đông nhất. Theo ước
tính, trung bình gần 1 triệu khách / năm đến bảo tàng để tìm hiểu về cuộc đời hoạt động
của Người, một danh nhân văn hoá của thế giới, đồng thời qua đó du khách có điều
kiện được tìm hiểu thêm về văn hoá và con người Việt Nam.
Hoạt động của các bảo tàng ở Hà Nội nói chung ngày nay rất phù hợp với yêu
cầu, sở thích của du khách, ngày càng thu hút thêm du khách. Nhưng đáng ti ếc là cho
đến nay Hà Nội vẫn chưa có lấy một bảo tàng riêng của mình !!!
Chúng ta có thể tham khảo một số chương trình du lịch tiêu biểu gắn với các di
sản văn hoá và bảo tàng ở Hà nội trong thời gian qua.
Chương trình 1: (1 ngày)
Viếng lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh
Thăm khu du tích về Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Chùa Một
Cột.
Thăm đền Quán Thánh, thăm chùa Trấn Quốc
Chương trình 2: (1 ngày)
Thăm Văn Miếu
Thăm Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Quâ n đội
Thăm Hồ Hoàn Kiếm
Xem múa rối nước tại Nhà hát múa rối Th ăng Long
Chương trình 3: (1 ngày)
Thăm thành Cổ Hà Nội: Lầu Công Chúa, thành Cửa Bắc, Cột Cờ
Thăm phố cổ: Hàng Bạc, Hàng Khay, Chợ Đồng Xuân, Đình Bạch Mã, Ô Quan
Chưởng
Chương trình 4: (1 ngày): ẩm thực Hà nội
Tứ Kỳ, Huỳnh Cung, Làng nghề Quán Gánh
Thăm Phủ Tây Hồ - Hồ Tây, thưởng thức đặc sản vùng Hồ Tây.
Tối thăm khu phố ẩm thực Tống Duy Tân
2.2.2.2. Du lịch với văn hoá ẩm thực và nghệ thuật truyền thống Hà Nội
Hà Nội là đất kinh kỳ, vốn được xem là “ăn Bắc, mặc Kinh” nên người Hà Nội
hay những khách thập phương đã từng được thưởng thức món ăn Hà Nội đều không thể
quên cái cảm giác thơm ngon từ cách chế biến, gia vị, nước chấm cho đến cách bày biện
thế nào cho đẹp mắt, gợi cảm mà không phàm tục. Một trong những món ăn được xếp
lên hàng đầu về nghệ thuật ẩm thực, làm hài lòng biết bao du khách đó là phở. Phở thì ở
đâu cũng có nhưng chỉ có phở Hà Nội chế biến là ngon nhất, để lại nhiều dư vị nhất
trong lòng người, thậm chí cả du khách phương Tây. Phở tập trung nhiều nhất và nổi tiếng
nhất là ở khu vực phố cổ như: Lý Quốc Sư, phở Bát Đàn, phở gà Nam Ngư. Bún chả ở phố
Sinh Từ nay là phố Nguyễn Khuyến hay ở phố Hàng Mành.
Bên cạnh những món ăn trên, Hà Nội có một món ăn đặc sản mà hầu hết du
khách đến Hà Nội đều tìm đến thưởng thức đó là chả cá Lã Vọng ở phố Chả Cá (tức
phố Hàng Sơn xưa kia).
Và từ lâu hương cốm làng Vòng đã vượt khỏi luỹ tre làng, theo những gánh hàng
rong vào phố trở thành một món quà lịch sự và tinh tế của mùa th u Hà Nội, một món ăn
tao nhã của người Tràng An.
Cốm Vòng, gạo tám Mễ Trì
Tương Bần, húng Láng còn gì ngon h ơn.
Có thể nói, cốm chính là một nét đẹp văn hoá lâu đời, một nét đẹp thanh tao đặc
trưng của người Hà Nội. Thật khó kể hết những món ăn, đồ uống hấp dẫn hơn thế nữa
của người Thủ đô. Chỉ biết rằng những thú vui ẩm thực đó đã tạo nên một bức tranh
độc đáo, sống động về một Hà Nội ngàn năm văn hiến, và nó thu hút, mời gọi du khách
thập phương. Các cuộc thi về tài năng ẩ m thực của ngành du lịch Hà Nội đã góp phần
bảo tồn di sản văn hoá ẩm thực của đất Thăng Long - Hà Nội văn hiến, con người Hà
Nội tài hoa, thanh lịch.
Cùng với sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội được nâng lên một cách rõ rệt,
những hoạt động văn hoá nghệ thuật đang được chú ý phát triển phục vụ nhu cầu
thưởng thức nghệ thuật của công chúng và phục vụ các hoạt động du lịch. Nhiều cơ sở
văn hoá được phục hồi, nâng cấp hoặc xây dựng mới nh ư Nhà Hát Lớn Hà Nội, Nhà hát
múa rối nước Thăng Long… Với sản phẩm của nền văn minh lúa nước lâu đời, Nhà hát
múa rối nước Thăng Long đã đáp ứng tốt nhu cầu vui chơi giải trí của du khách. Hình
ảnh nhân vật Chú Tễu đã kích thích trí tò mò, lòng hi ếu kỳ của khách. Tuy nhiên, để
loại hình nghệ thuật này thu hút khách h ơn nữa, các doanh nghiệp lữ hành cần phải có
sự phối hợp với các cơ quan văn hoá để tổ chức các hình thức phục vụ vừa đáp ứng nhu
cầu văn hoá của khách du lịch vừa giữ được giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam.
2.2.2.3. Du lịch với hoạt động giao lưu văn hoá trong và ngoài nước
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp. Trong hoạt động du lịch, các cuộc gặp gỡ
trao đổi trên phạm vi vùng lãnh thổ, quốc gia và quốc tế… đã trở thành hoạt động phổ
biến và vai trò càng to lớn. Các hoạt động này nhằm tuyên truyền, quảng bá, tiếp thị và
xúc tiến du lịch, thông tin du lịch và tiến tới hợp tác giữa các doanh nghiệp du lịch, kết
nối các chương trình du lịch, các dịch vụ du lịch, giới thiệu sản phẩm của doanh
nghiệp, của các vùng lãnh thổ, của mỗi quốc gia…
Thời gian qua để thông tin về du lịch Việt Nam và Hà Nội, để tuyên truyền
quảng bá, tiếp thị cho các doanh nghiệp du lịch, liên hoan du lịch Hà Nội đã thực hiện
một cách có kế hoạch. Mục tiêu quảng bá về các tuyến điểm du lịch, các chương trình
du lịch trong và ngoài nước của các doanh nghiệp du lịch đã có hiệu quả do quá trình
vận hành để lại. Sự bố trí khoa học trong các gian hàng tại liên hoan. Khách hàng có
thể quan tâm đến bất kỳ thông tin nào về ch ương trình du lịch được giới thiệu và sẵn
sàng được giải đáp, được cung cấp thông tin cần thiết.
Năm 1999 Sở Du lịch Hà nội đã tổ chức liên hoan du lịch lần thứ nhất. H ơn 70
doanh nghiệp trong nước tham gia giới thiệu sản phẩm của mình. Điều lý thú ở liên
hoan này là nhiều doanh nghiệp du lịch đã giới thiệu được các chương trình du lịch
cuối tuần hấp dẫn trên cơ sở nghiên cứu thị trường ở Hà Nội và vùng phụ cận. Với 200
hợp đồng được ký kết giữa các công ty ngay tại liên hoan đã chứng minh cho tính thực
tiễn của cuộc liên hoan này.
Liên hoan du lịch quốc tế Hà Nội năm 2005 do Sở Du lịch Hà Nội tổ chức từ
ngày 29 tháng 4 đến ngày 1 tháng 5 vừa qua đã quảng bá mạnh mẽ các sản phẩm của du
lịch Hà Nội và cả nước, góp phần vào mục tiêu đón hơn 1 triệu lượt khách du lịch quốc
tế năm nay tại Hà Nội (và trên 3 triệu l ượt khách quốc tế trên cả n ước).
Theo báo cáo tổng kết của Sở Du lịch Hà Nội cuộc liên hoan này hoành tráng
hơn về qui mô, hấp dẫn hơn về nội dung, đã cuốn hút 40 tỉnh, thành trong cả n ước tham
gia giới thiệu sản phẩm của địa phương mình, gần 100 đoàn khách quốc tế có mặt.
Khu vực quanh hồ Hoàn Kiếm nối với các tuyến phố đi bộ và chợ đêm Đồng
Xuân là trung tâm chính của Liên hoan với 350 gian hàng trưng bày các chương trình du
lịch chất lượng cao, độc đáo và các dự án phát triển du lịch cùng với các sản phẩm làng
nghề truyền thống của các nghệ nhân trong cả nước.
Ngoài ra còn có các gian hàng của các doanh nghiệp trong lĩnh vực th ương mại.
Xen kẽ cùng các gian hàng trưng bày là các loại hoa cây cảnh. ấn tượng nhất là màn
biểu diễn nghệ thuật trồng hoa trên mặt hồ n ước của các nghệ sỹ Pháp đã thu hút rất
đông đảo khán giả thưởng thức. Trong khuôn viên của công viên Bách Thảo, xung
quanh những cây xanh tốt tươi có hàng trăm gian hàng ẩ m thực được kiến trúc theo
phong cách truyền thống và hiện đại với các món ăn á, Âu là cơ hội để các đầu bếp có
tài nấu ăn trình bày nghệ thuật, và cơ hội để họ trao đổi học tập kinh nghiệm, học tập
tài năng với sự tinh tế thanh lịch phục vụ mọi đối tượng.
Tại khu phố cổ như Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Đường mục đích đặt một nền
móng xây dựng một festival sáng tạo, qui mô lớn và đặc trưng nhân kỷ niệm một nghìn
năm Thăng Long - Hà Nội đã tổ chức biểu diễn nghệ thuật Pháp ở những phố cổ này
tạo nên một cuộc gặp gỡ giao l ưu.
Là trung tâm du lịch lớn của cả nước, Hà Nội tập trung nhiều doanh nghiệp lữ
hành quốc tế và nội địa. Trong những năm qua cùng với sự khởi sắc của hoạt động du
lịch của cả nước, hoạt động lữ hành Hà Nội vẫn có thế đứng riêng với tài nguyên du
lịch nhân văn của thủ đô. Hầu hết các tua du lịch ấy chính là bản sắc văn hoá Việt Nam
được hội tụ thành tinh hoa Thăng Long - Hà Nội.
Hà Nội cũng là trung tâm du lịch của vùng châu thổ Bắc Bộ, có nhiều tỉnh thành
lân cận như Hà Tây, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thanh
Hoá, Nghệ An… Vì vậy có thể thấy rằng đây là một khu vực rộng lớn c ó các miền địa
hình khác nhau từ đồng bằng, biển, đến rừng núi… ở đó cũng là vùng có nguồn tài
nguyên phong phú, có h ệ thống giao thông thuận tiện, tiềm n ăng du lịch nhân văn và t ự
nhiên đa dạng, đang giữ vai trò quan trọng trong chiến l ược phát triển du lịch của nước
ta.
Thực hiện chỉ đạo của Thành uỷ Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội về t ăng
cường hợp tác về mọi mặt giữa Hà Nội với các tỉnh thành trong n ước, Sở Du lịch Hà
Nội đã tích cực mở rộng hợp tác với các địa phương nhằm hướng tới mục tiêu trở thành
trung tâm phân phối khách du lịch lớn nhất khu vực phía Bắc.
Du khách đến Hà Nội vãn cảnh, nghỉ ngơi và sau đó sẽ tham quan du lịch các địa
phương khác như: du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển ở Sầm Sơn (Thanh Hoá), nghỉ mát trên
núi Tam Đảo, tham quan danh thắng ở Bích Động (Ninh Bình), tham quan các di tích
văn hoá ở Hà Tây, Bắc Ninh, Hoa Lư, trẩy hội ở chùa Hương, Phủ Giầy… Khách đi nghỉ
dưỡng và tham quan từ Hà Nội đi các nơi vẫn tăng đều hàng năm (9,6 đến 11%/ năm).
Khách có xu hướng thay đổi tuyến hướng du lịch gắn với thiên nhiên và thường hướng tới
những điểm du lịch mới như Tam Cốc - Bích Động, Hoa Lư, rừng Cúc Phương và những
nơi địa điểm giàu tính văn hoá, tín ngưỡng, du lịch sinh thái.
Chúng ta có thể tham khảo một số chương trình du lịch xuất phát từ Hà Nội:
Chương trình 1: Hà Nội - Vạn Phúc - Chùa Trầm - Chùa Trăm Gian
Chương trình 2: Hà Nội - Bát Tràng - Đông Hồ - Chùa Bút Tháp - Đồng Kỵ.
Chương trình3: Hà Nội - Chùa Thầy - Chùa Tây Phương
Chương trình 4: Hà Nội - Chùa Hương
- Hà Nội - Rừng Quốc gia Cúc Phương
- Hà Nội - Tam Đảo
- Hà Nội - Kim Bôi- Hoà Bình
- Hà Nội - Hồ Núi Cốc
- Hà Nội - Hồ Ba Bể
- Hà Nội - Hoa Lư - Tam Cốc - Phát Diệm
- Hà Nội - Đồ Sơn
- Hà Nội - Cát Bà
- Hà Nội - Hạ Long
- Hà Nội - Sầm Sơn
- Hà Nội - Huế
- Hà Nội - Nha trang
- Hà Nội - Nha Trang - Đà Lạt - T.P Hồ Chí Minh
- Hà Nội - Nha Trang - Đà Lạt - Vũng Tàu - T.P Hồ Chí Minh - Tây Ninh - Củ
Chi
- Xuyên Việt
Hà Nội còn là điểm du lịch hàng đầu của châu á. Thành công này được gặt hái từ
kết quả tất yếu của quá trình quảng bá từ những n ăm trước. Chương trìmh xúc tiến
quảng bá du lịch đã có tiếng vang lớn trong năm là phối hợp với hãng Hàng không Việt
Nam mở thêm trung tâm du lịch tại sân bay quốc tế Nội Bài. Đây là nơi đầu tiên đón
chào mừng du khách năm châu đến Hà Nội, giới thiệu quảng bá về hình ảnh đất nước
con người Việt Nam đồng thời cung cấp thông tin bổ ích cho du khác h về tua, tuyến,
điểm, các đơn vị lữ hành và khách sạn trên địa bàn Hà Nội.
Hà Nội đã mở rộng hợp tác với 25 thủ đô và thành phố lớn của các nước qua
việc ký kết nhiều văn bản ghi nhớ và thoả thuận trong lĩnh vực du lịch nh ư với: Pháp,
Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc. Năm 2004 mở rộng xúc tiến du lịch đến thị trường Nam
Phi, Nam Mỹ. Hiện đã có 167 thị trường có khách du lịch đến Hà Nội. Việt Nam được
coi là điểm đến hấp dẫn và thân thiện, Hà Nội được công nhận là “thành phố hoà bình”
và được tạp chí Mỹ Travel Leisurue (3/2003) bình ch ọn là thành phố du lịch tốt thứ hai
Châu á (sau Băng Cốc), đứng thứ 13 thế giới và trở thành thành viên chính thức của
nhiều tổ chức quốc tế lớn như Liên minh các thành phố lịch sử (NHC), Hiệp hội quốc
tế thị trường các thành phố có tổ chức sử dụng tiếng Pháp (AIMF), mạng l ưới chính
quyền địa phương (CITYET) và Hiệp hội thế giới các đô thị lớn (Metropolis).
Những hoạt động trên đã góp phần tạo ra một vị thế mới cho du lịch thủ đô, đóng
góp thiết thực vào việc nâng cao hiểu biết và t ình cảm của nhân dân cả nướcvà bè bạn
quốc tế về du lịch Hà Nội, văn hoá và con người Hà Nội nói riêng, văn hoá và con
người Việt Nam nói chung.
2.2.2.4. Quản lý nhà nước về du lịch và sự phát triển v ăn hoá
Du lịch là loại hình kinh tế đặc thù khác với các ngành kinh tế khác về sản phẩm
cũng như phương thức tiêu dùng. Du lịch phát triển phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên,
lịch sử, truyền thống văn hoá và điều kiện phát triển kinh tế xã hội. Phạm vi hoạt động
du lịch không ngừng mở rộng, th ường xuyên có sự thay đổi không ngừng về cơ cấu
nguồn khách. Hoạt động du lịch tác động đến nhiều ngành đòi hỏi tính toán toàn diện
trong chính sách và giải pháp cũng như sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng trong công tác
quản lý. Từ đặc điểm của hoạt động du lịch gắn với phát triển văn hoá nhất thiết phải
nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước về du lịch.
Vai trò quản lý của Nhà nước trong hoạt động du lịch được xác định rõ trong
Luật Du lịch (2005):
Chính phủ thống nhất quản lý nhà n ước về du lịch
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương chịu trách nhiệm
trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà n ước về du lịch; chủ trì, phối hợp với
các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện quản lý nhà n ước về du lịch.
Bộ, và cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
và theo sự phân công của Chính phủ có trách nhiệm phối hợp với c ơ quan
quản lý nhà nước về du lịch ở Trung ương trong việc thực hiện quản lý nhà
nước về du lịch.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi
chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh) trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình và theo sự phân cấp của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện quản lý
nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hoá chiến lược, quy hoạch, cơ
chế, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương và có
biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, vệ sinh môi tr ường tại khu
du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch [42, tr.17].
Mặc dù mới được thành lập nhưng Sở Du lịch Hà Nội đã tham mưu giúp Uỷ ban
nhân dân thành phố Hà Nội thực hiện được nhiều việc liên quan đến công tác quản lý
các hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố. Bên cạnh đó Ban chỉ đạo về du lịch của
Uỷ ban nhân dân thành phố cũng góp phần không nhỏ vào việc quản lý nhà n ước về du
lịch. Bước đầu đã thực hiện tốt việc chuyển nhà khách, nhà nghỉ công ích sang kinh
doanh dịch vụ du lịch, quản lý và giám sát đ ược các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ,
đặc biệt là dịch vụ lưu trú và lữ hành.
Sự chuyển đổi cơ chế tổ chức quản lý kinh tế từ bao cấp sang c ơ chế thị trường
có sự điều tiết của Nhà nước cùng với việc thực hiện chính sách mở cửa trong kinh
doanh du lịch, đã làm cho tổ chức du lịch trên địa bàn thành phố có nhiều thay đổi và
đã đạt được nhiều thành tích quan trọng: Có sự t ăng nhanh về lượng khách, đa dạng
hoá về thị trường, mức nộp ngân sách ngày càng t ăng và có cơ hội đầu tư vào cơ sở vật
chất cho du lịch. Du lịch góp phần tạo doanh thu cho nhiều ngành khác, góp phần xoá
đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư địa phương nơi có tài nguyên du l ịch. Công tác
quản lý nhà nước về du lịch được tăng cường một bước, hầu hết các hoạt động du lịch
được tổ chức quản lý thống nhất, thông suốt. Tuy nhiên vẫn còn có những hạn chế
trong quản lý nhà nước về du lịch là:
Sở Du lịch vẫn chưa phối hợp có hiệu quả với chính quyền địa phương và ngành
văn hoá trong việc bảo vệ môi trường, cảnh quan, khai thác và tôn tạo các c ơ sở văn
hoá. Việc quản lý và khai thác các di sản văn hoá phục vụ du lịch chưa thống nhất,
trong các cấp, các ngành nhiều khi phó mặc cho chính quyền địa phương quản lý hoặc
các cơ quan quản lý không có đủ điều kiện đảm bảo. Tình trạng xuống cấp và huỷ hoại
của các giá trị văn hoá vẫn ở mức báo động. Nhiều nơi việc tôn tạo các di tích văn hoá
có tiềm năng du lịch được tiến hành một cách bị động thiếu nghiên cứu qui hoạch và
chuyên môn, thiếu tôn trọng giá trị lịch sử của di tích. Có nhiều n ơi chỉ chú trọng khai
thác phục vụ những lợi ích tr ước mắt mà không tính đến những hậu quả sau này do việc
tổ chức du lịch bừa bãi gây ô nhiễm môi tr ường, phá hoại cảnh quan.
Nguồn vốn đầu tư vào lĩnh vực đầu tư vào du lịch có tăng nhưng chưa đồng bộ
và thường tập trung vào các cơ sở lưu trú hiện có. Vì vậy việc đầu tư thường tự phát do
đó không đủ sức thu hút khách địa phương.
Chưa có cơ chế hữu hiệu khai thác các tiềm năng du lịch ở thủ đô do đó sản phẩm
du lịch vẫn còn nghèo nàn, thiếu các hoạt động vui chơi giải trí cho khách. Sự phối hợp
giữa các ngành quản lý sản phẩm du lịch còn thiếu cơ chế phối hợp do đó làm giảm tính
hấp dẫn của các sản phẩm du lịch.
Nhận thức xã hội với du lịch được nâng cao nhưng chưa đồng đều ở các cấp, các
ngành, vẫn còn nhiều chính sách ch ưa thuận lợi cho du lịch như chính sách giá cho du
lịch còn cao, nhiều nơi áp dụng chính sách hai giá, chưa có cơ chế cho vay ưu đãi đầu
tư xây dựng các sản phẩm du lịch.
Chưa quản lý được một số hiện tượng không lành mạnh trong kinh doanh du lịch
như tranh giành khách, ăn xin và các tệ nạn xã hội khác…
Tốc độ phát triển du lịch ngày càng nhanh và đa dạng nhưng bộ máy quản lý nhà
nước về du lịch chưa tiến kịp xu thế phát triển.
Tất cả những vấn đề trên đặt ra yêu cầu quan trọng là phải tiếp tục đổi mới công
tác quản lý nhà nước về du lịch ở Hà Nội, nhằm vì sự phát triển bền vững du lịch v ăn
hoá ở Thủ đô Hà Nội trong thời gian tới.

Kết luận chương 2
Xem xét mối quan hệ giữa phát triển du lịch với việc giữ gìn bản sắc văn hoá
dân tộc và sắc thái văn hoá của Hà Nội là vấn đề rất đáng quan tâm. Hà Nội vừa là nơi
hội tụ những tinh hoa văn hoá của cả nước vừa có sức lan toả văn hoá cho cả dân tộc.
Chính điều này tạo ra ưu thế cho du lịch Hà Nội phát triển.
Hà Nội có nhiều di tích văn hoá, kiến trúc, tín ngưỡng dân gian, nhiều thiết chế
văn hoá hiện đại. Những di sản, gía trị văn hoá này có ý nghĩa lớn đối với hoạt động du
lịch, nhất là việc giáo dục truyền thống yêu n ước và cách mạng, bản sắc văn hoá dân
tộc cho các thế hệ người Việt Nam. Việc khai thác các di sản và giá trị văn hoá này
không những nhằm giữ gìn và phát triển văn hoá Hà Nội mà còn tăng thêm rất nhiều
tính hấp dẫn cho du khách trong n ước và quốc tế.
Tuy nhiên, phát triển du lịch ở Hà Nội trong mối quan hệ với phát triển văn hoá
vẫn còn một số mặt hạn chế là:
- Một số lễ hội, sự kiện du lịch tính chuyên nghiệp ch ưa cao, đặc biệt các sự kiện
du lịch trong nước chủ yếu là “ta diễn cho ta xem”. Các sự kiện lễ hội văn hoá du lịch
diễn ra còn hay trùng lặp về nội dung. Mô típ chung của các lễ hội là đêm khai mạc ở
dạng sân khấu hoá với các tiết mục mang nặng tính biểu diễn hình thức thiếu tính độc
đáo của địa phương.
- Việc tổ chức một số lễ hội du lịch quá gần nh au về thời gian và địa điểm. Vì
vậy không mang lại những hiệu quả nh ư mong muốn.
- Các làng nghề truyền thống hiện nay có biểu hiện bị th ương mại hoá và bị pha
trộn các yếu tố ngoại lai, mất dần các giá trị văn hoá đích thực của nó.
- Trình độ của một số cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của thực tế, đặc
biệt là sự thiếu hiểu biết về văn hoá, về công tác quản lý do đó đã ảnh hưởng đến việc
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong hoạt động du lịch.
- Còn có sự thiếu đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước về văn hoá; kinh
tế; an ninh; du lịch…
- Hệ thống cơ sở du lịch còn thiếu qui hoạch… c ơ sở hạ tầng vẫn còn yếu kém
chưa đáp ứng được nhu cầu của khách.
- Các tệ nạn xã hội trong hoạt động du lịch còn chưa được ngăn chặn và khắc
phục triệt để.
Chương 3
phương hướng và giải pháp
nhằm tăng cường mối quan hệ giữa văn hoá
và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay


3.1. Phương hướng
Trong những năm qua sự nghiệp đổi mới của đất nước ta đã đạt được những
thành tựu đáng kể: Tình hình chính trị ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường,
quan hệ đối ngoại và việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế được mở rộng. Đời sống
văn hoá xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được tiếp tục cải thiện. Thành tựu
trên đây là nền tảng vững chắc cho sự phát triển văn hoá và du lịch ở nước ta trong thời
gian tới.
Nếu như những giai đoạn trước đó du lịch chưa được nhìn nhận tương xứng với
tiềm năng của nó thì trong thời kỳ đổi mới đường lối có tính định hướng chiến lược của
Đảng đã mở ra cho du lịch Việt Nam sự phát triển mới, vóc dáng mới, vị thế mới.
Đảng và Nhà nước ta đã xác định:
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn
hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao. Phát triển du
lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi của nhân dân và
khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển
kinh tế xã hội của đất nước [57, tr.5-6].
Đảng và Nhà nước đã tăng cường sự lãnh đạo với công tác văn hoá và du lịch,
tăng cường công tác quản lý, ban hành sửa đổi và bổ sung các chính sách, luật pháp liên
quan đến du lịch, nhằm làm cho du lịch và văn hoá phát triển mạnh mẽ trong những thập
niên đầu thế kỷ XXI.
Các hoạt động của du lịch Việt Nam có thể nói đã được đặt đúng vị trí mà nó cần
có hơn trong thời kỳ đổi mới và xu hướng của nền kinh tế thị trường. Đảng và Nhà nước
ta đã chú trọng tới tất cả hoạt động đầu tư cho du lịch, bảo đảm an ninh du lịch, khai thác
các nguồn lực du lịch và đổi mới công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ du lịch, đào
tạo bồi dưỡng cán bộ… thực sự là đòn bẩy để phát phát triển du lịch Việt Nam trong
tương lai.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX Đảng ta đã chỉ rõ cần phải bảo
tồn và khai thác vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên và các di tí ch lịch sử để phát triển du
lịch.
Một trong những nội dung c ơ bản của thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá
trong những năm trước mắt là: Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ phục vụ cuộc sống
nhân dân. Từng bước đưa nước ta trở thành một trung tâm du l ịch, thương mại dịch vụ
có tầm cỡ trong khu vực. Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đó, Đại hội VIII của Đảng
đã định hướng phát triển du lịch một cách toàn diện:
Triển khai thực hiện qui hoạch tổng thể du lịch Việt Nam t ương
xứng với tiềm năng du lịch của đất nước theo hướng du lịch văn hoá, sinh
thái, môi trường. Xây dựng các chương trình và điểm du lịch hấp dẫn về văn
hoá, di tích lịch sử và khu danh lam thắng cảnh. Huy động nguồn lực của
nhân dân tham gia kinh doanh du l ịch, ưu tiên xây dựng cơ sở hạ tầng ở
những khu du lịch tập trung ở các trung tâm lớn. Nâng cao trình độ văn hoá
và chất lượng dịch vụ với các loại khách khác nhau [20].
Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng tiếp tục xác định: cần phát triển du lịch văn
hoá, lịch sử, đáp ứng nhu cầu dịch vụ trong nước và phát triển nhanh du lịch quốc tế,
sớm đạt trình độ phát triển du lịch của khu vực.
Trong bối cảnh kinh tế thị trường, trong xu thế phát triển mạnh mẽ của khoa học
công nghệ thì các giá trị và di sản văn hoá ngày càng trở nên quan trọng, cần được đặt
đúng vị trí của nó trong tiến trình phát triển của quốc gia, dân tộc. Một trong những
hoạt động quan trọng liên quan đến các gía trị văn hoá quốc gia là hoạt động của ngành
du lịch. Pháp lệnh du lịch (1999) đã nêu rõ: “Lấy văn hoá dân tộc làm cơ sở chính cho
mọi hoạt động du lịch”. Pháp lệnh còn khẳng định: “Nhà nước thống nhất quản lý hoạt
động du lịch, bảo đảm phát triển du lịch văn hoá, du lịch sinh thái giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hoá thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam” [57, tr.6].
Xuất phát từ những quan điểm của Đảng ta về phát triển du lịch và văn hoá,
đồng thời với nhận thức rõ vai trò to lớn của thủ đô Hà Nội, Đại hội Đảng bộ Thành
phố Hà Nội lần thứ XIII đã định hướng mục tiêu phát triển du lịch văn hoá là:
Nâng cao chất lượng và phát triển đồng bộ dịch vụ du lịch trở thành ngành
quan trọng trong cơ cấu kinh tế thủ đô. Phát triển du lịch văn hoá - sinh thái, du
lịch truyền thống, lễ hội, du lịch kinh doanh… kết hợp tốt giữa du lịch văn hoá
với tôn tạo các di tích, danh lam thắng cảnh, giữa phát triển các sản phẩm du lịch
với quảng bá truyền thống lịch sử, văn hoá Thăng Long - Hà Nội… Phối hợp với
các địa phương khác để xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho các chương trình phát
triển du lịch đa dạng… [39, tr.38].
Điều này phù hợp với nhiệm vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hà Nội theo
hướng: dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp trong đó ngành dịch vụ, đặc biệt là du lịch
dịch vụ phải được phát triển mạnh cả về chất và lượng với trình độ cao hơn nhằm thực
hiện thành công công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Đảng bộ Hà Nội xác định mục tiêu:
Xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm du lịch của cả vùng Bắc Bộ và là một
trung tâm du lịch lớn của cả nước và khu vực. Phát triển du lịch gắn với nhiệm vụ xây
dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn với việc quảng bá, giới thiệu
văn hoá và con người Hà Nội “ văn minh, thanh lịch, hiện đại.”
3.2. GiảI pháp
Để tăng cường mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trên địa bàn Hà Nội nói
riêng, nước ta nói chung cần quan tâm tới các giải pháp cơ bản là:
3.2.1. Xây dựng môi trường văn hoá trong hoạt động du lịch
Hoạt động du lịch bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố cốt lõi quan trọng là
văn hoá. Muốn du lịch phát triển bền vững, yếu tố văn hoá là một trong những điều
kiện không thể thiếu được. Bởi vì các gía trị văn hoá trong các tua du l ịch, các điểm du
lịch đã làm tăng các giá trị thấm sâu vào môi trường sống, sinh hoạt, quan hệ cộng
đồng, cá nhân của du khách. để mỗi du khách thoả mãn trong chuyến đi của họ, những
yếu tố, những giá trị văn hoá Việt Nam làm cho họ cảm nhận một môi tr ường lành
mạnh, bình yên, có sự độc đáo các nhân tố văn hoá trong đó. Chẳng hạn lòng hiếu
khách, chiều khách ở mỗi dân tộc, khách được tiếp nhận nhiều kiến thức qua chuyến đi,
thưởng thức khám phá đ ược nhiều cái đẹp, cái hay, cái bất ngờ, khách giữ lâu ấn t ượng
về sự quyến rũ của nghệ thuật, sự cám dỗ của cảnh quan danh thắng, sự ngọt ngào đậm
đà của các món ăn, khách được đáp ứng thông tin nhanh nhạy rẻ mà tiện lợi… Khách
được thưởng thức những điệu múa, những bản dân ca Việt Nam đậm chất trữ tình, sâu
lắng.
Những sản phẩm du lịch từ điểm du lịch, tuyến du lịch đến khách sạn, nhà hàng,
phương tiện đều phải hoàn hảo. Toàn bộ mối quan hệ với khách - chủ - sản phẩm du
lịch và các thiết chế tạo nên bộ mặ t văn hoá, phản ánh chất văn hoá tiên tiến của nền du
lịch. Đồng thời cũng chính những yếu tố đó nó cũng là cơ sở cho những khát khao
khám phá thiên nhiên của khách du lịch. Nếu thiếu những cái đó sẽ giảm đi nhu cầu
khám phá của du khách. Người ta đã chững minh sự mệt mỏi gắng gượng của khách du
lịch trên đường ngắm cảnh thủ đô khi bị ùn tắc giao thông, sự ô nhiễm môi tr ường, sự
ứng xử không mấy thanh lịch của người dân bản địa, nạn ăn xin của một số cụ già, trẻ
em lang thang trên đường phố... Từ góc độ xây dựng môi trường văn hoá trong hoạt
động du lịch thì đây là một vấn đề rất bức xúc, là nhân tố trực tiếp và th ường xuyên tạo
ra ý nghĩa. Từ đó ảnh hưởng lâu dài đến phát triển du lịch ở thủ đô.
3.2.2. Hình thành một số vùng trọng điểm về du lịch ở Thủ đ ô gắn với các di
sản văn hoá
Khu vực trung tâm hồ Hoàn Kiếm:
Là khu du lịch có hồ Gươm với Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, có trung tâm thương
mại, và là tâm điểm giao lưu nối liền với hệ thống di tích khu phố cổ tạo thành một
quần thể kiến trúc mang đậm nét Hà Nội. Củng cố và phát triển tuyến phố đi bộ tại
Hàng Ngang - Hàng Đào vào tất cả các tối trong tuần. Đồng thời cần giữ gìn vẻ đẹp của
các khu phố cổ để khu vực này mãi mãi là trung tâm của thủ đô.
Khu vực Ba Đình - Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh - Khu di tích khác:
Khu vực này ngày nay không chỉ là trung tâm chính trị, lịch sử mà còn là khu du
lịch của thủ đô. Quảng trường Ba Đình, khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, bảo tàng Quân
đội, Văn Miếu Quốc Tử Giám, khu di tích Cổ Loa… đặc biệt Bảo tàng Dân tộc học ra đời
là một lợi thế tuyệt vời cho ngành du lịch. Các bảo tàng đem lại cho người xem hiểu biết
về sự hình thành và phát triển của đất nước Việt Nam với trang sử oai hùng có những danh
nhân lớn như Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hình ảnh đất nước Việt Nam thu nhỏ với 54 dân
tộc, người ta có thể hiểu biết đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán của những tộc người
này một cách khái quát khi chưa có điều kiện đến tận nơi hoặc từ đây mà họ lựa chọn cho
mình một chuyến du lịch mới.
Khu du lịch Hồ Tây:
Hồ Tây là trung tâm văn hoá, du lịch nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và là bộ phận
không thể tách rời với hệ thống trung tâm thành phố. Nhìn tổng quát, tiềm n ăng của Hồ
Tây về du lịch rất lớn, có thể cho ra đời và phát triển lâu bền loại hình du lịch có sức
hẫp dẫn khách gần xa. Với mặt nước mênh mông, phong cảnh Hồ Tây tuyệt đẹp có
nhiều loại hình vui chơi giải trí hẫp dẫn như bơi lội, câu cá, đua thuyền, lướt ván…
được bao bọc xung quanh những làng nghề truyền thống cùng sắc màu của làng hoa
Nghi Tàm, bánh tôm Hồ Tây cùng những di tích nổi tiếng của Tây Hồ… Nh ưng nhìn
chung thực trạng cơ sở hạ tầng và môi trư ờng sinh thái của Hồ Tây hiện nay có rất
nhiều việc phải làm nhất là phải có các công trình bảo vệ cảnh quan, môi tr ường sinh
thái quanh hồ. Giữ khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, thoáng đãng của Hồ Tây. Tuy đã
thu hút được khách đi du lịch cuối tuần nhưng nếu công viên nước Hồ Tây được tổ
chức hoạt động như công viên văn hoá Đầm Sen ở thành phố Hồ Chí Minh thì sẽ là một
trọng điểm du lịch đầy ấn tượng có sức thu hút mạnh mẽ du khách, xứng đáng với tầm
vóc du lịch của Thủ đô.
3.2.3. Bảo vệ tôn tạo và phát huy các di sản văn hoá trong hoạt động du lịch
Xây dựng cơ chế chính sách bảo vệ tôn tạo tài nguyên phục vụ phát triển du
lịch. Đề nghị các cơ quan hữu quan cho phép trích quĩ phát triển sản xuất với tỉ lệ cần
thiết cho việc tôn tạo các giá trị tài nguyên thiên nhiên môi tr ường và các giá trị nhân
văn. Cho phép tính vào giá thành một tỉ lệ hợp lý coi nh ư chi phí hợp lệ, hợp lý để hình
thành quĩ bảo tồn cho các giá trị đó đối với từng cơ sở sản xuất kinh doanh du lịch.
Giáo dục nâng cao dân trí cho cộng đồng và khách du lịch. Sự phát triển du lịch
đúng hướng còn cần đến sự tác động tích cực từ phía xã hội hay nói cách khác là đề cập
đến vai trò của nhân dân, các tổ chức xã hội và đoàn thể trong phát triển du lịch là sự
cần thiết do đó:
Xây dựng thành chương trình quốc gia giáo dục và nâng cáo dân trí về bảo vệ
các tài năng phục vụ cho phát triển du lịch.
Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ và nội dung cho ch ương trình giáo dục và nâng
cao dân trí.
Có chính sách đãi ngộ với các cá nhân, tập thể tham gia vào chương trình.
Một số biện pháp cụ thể là:
Mỗi khu du lịch có qui trình khác nhau, do đó cần xác định mục đích việc tôn tạo
phạm vi, đối tượng, nội dung công tác tôn tạo, xác định chủ đầu tư và nguồn vốn đầu tư
cũng như chủ thể thực hiện. Vấn đề đặt ra: tôn tạo với mục đích cho du lịch hay cho
môi sinh? Do đâu cấp vốn? Và ai sẽ là người thực hiện?....
Cần có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ban ngành văn hoá và du lịch và
các cơ quan địa phương trong việc bảo tồn, trùng tu, quản lý khai thác một cách hợp lý,
có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch văn hoá hiện có.
Ngành Văn hoá - Thông tin cần sớm hoàn chỉnh qui hoạch chi tiết về bảo tồn,
tôn tạo các di sản văn hoá. Trong quá trình trùng tu c ần tập trung vào một số điểm nhất
định, tránh dàn trải, chú trọng chất l ượng của công tác trùng tu nhất là quá trình nghiệm
thu.
Tập trung công tác nghiên cứu phục vụ các loại hình lễ hội truyền thống dân
gian, các ngành nghề truyền thống. Tái hiện một số lễ hội cung đình, ca múa nhạc mang
bản sắc văn hoá dân tộc phục vụ nhu cầu khách tham quan, góp phần đa dạng hoá sản
phẩm du lịch.
áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật mới nhất vào lĩnh vực bảo tồn và phát huy
di sản văn hoá dân tộc như tin học phục vụ cho việc xây dựng và quản lý hệ thống dữ
liệu các di tích.
3.2.4. Đa dạng hoá các sản phẩm và loại hình du lịch của Hà Nội
Để có thể khẳng định được mình và tạo nên sự hấp dẫn đối với du khách trong
nước và quốc tế cần phải xây dựng được sản phẩm du lịch độc đáo và ở trình độ cao,
sản phẩm du lịch này không những hình thành trên cơ sở các tài nguyên du lịch, danh
lam thắng cảnh, di tích lịch sử, lễ hội truyền thống và nền văn hoá độc đáo của Thủ đô
mà còn cần phải khai thác vị trí tru ng tâm của Thủ đô trong mối quan hệ với các vùng
du lịch phụ cận của cả nước.
Sản phẩm du lịch của Hà Nội phải mang tính đặc trưng cho nền văn hoá và trình
độ phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô. Cần phải tập trung khai thác những tinh hoa,
những truyền thống lịch sử, những giá trị đ ộc đáo của văn hoá Thủ đô để tạo nên sản
phẩm du lịch mang bản sắc riêng của văn hoá và con người Hà Nội đáp ứng nhu cầu
của du khách.
Bên cạnh việc khai thác tốt các điểm du lịch hiện có ở Hà Nội, mở rộng các điểm du
lịch xung quanh Hà Nội như Nam Định, Ninh Bình, Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng
Ninh… để thiết lập các tuyến du lịch không những cho số người ở Hà Nội mà cả cho
nhân dân trong nước và người nước ngoài đến thăm quan, làm việc tại Hà Nội.
Phát triển thêm nhiều loại hình du lịch như: Loại hình du lịch tham quan, nghiên
cứu văn hoá, lịch sử, truyền thống của Thủ đô qua các di tích lịch sử, văn hoá, kiến
trúc, các lễ hội dân gian, các nghề thủ công, truyền thống. Đây là tài nguyên vô giá thu
hút mạnh mẽ du khách trong nước và quốc tế.
Để phát triển loại hình du lịch này cần phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu văn
hoá, lịch sử, phân loại và xếp hạng các di tích có giá trị, tiến hành tu bổ, tôn tạo các di
tích đó, tổ chức bảo vệ, giữ gìn các di tích lịch sử đồng thời phải hình thành các tuyến
để đan kết các di tích này với nhau trong một chỉnh thể để giới thiệu cho du khách.
Việc phục hồi các lễ hội dân gian truyền thống, việc tổ chức và phát huy các
làng nghề truyền thống ở Thủ đô cũng là điều có ý nghĩa hết sức quan trọn g. Cần phải
có một qui hoạch chung nhằm tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển các nghề
truyền thống này, không những để tạo thêm việc làm cho dân c ư tạo thêm nguồn hàng
xuất khẩu mà còn phục vụ ngay cho du khách quốc tế đến tham quan, nghiên cứu tạ i
chỗ.
Hà Nội đã và đang trở thành một trung tâmchính trị, văn hoá khoa học, văn hoá
lớn của cả nước. Vai trò của Hà Nội sẽ ngày càng trở nên quan trọng không những ở
trong nước mà cả quốc tế. Bởi vậy có thể và cần phải trú trọng phát triển loại hình du
lịch Hội nghị để đáp ứng yêu cầu của khách trong n ước và quốc tế đến Hà Nội tham dự
các hội nghị khoa học, các hội thảo trong n ước và quốc tế, các sinh hoạt văn hoá thể
thao, các lễ kỷ niệm ngày lịch sử và truyền thống.
Nghỉ ngơi cuối tuần là một yêu cầu r ất lớn của khách nước ngoài đang công tác
ở Việt Nam cũng như một bộ phận dân cư ngày càng lớn. Hà Nội có khu vực Hồ Tây,
nhiều công viên và nhiều danh thắng đáp ứng được yêu cầu nghỉ ngơi của du khách. Để
phát triển loại hình này cần trú trọng xây dựng cá c cơ sở nghỉ ngơi, các câu lạc bộ thể
thao, các trò vui chơi giải trí. Đặc biệt cần đảm bảo các dịch vụ phục vụ nghỉ ngơi, các
nhà nghỉ bên hồ… Du lịch nghỉ cuối tuần không nên chỉ bó hẹp ở Thủ đô mà có thể
vươn ra các vùng phụ cận xung quanh Hà Nội nh ư Tam Đảo, Ba Vì, Hải Phòng, Quảng
Ninh…
Có thể mở rộng liên doanh giữa Hà Nội với các c ơ sở du lịch vệ tinh nêu trên
trong việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cũng nh ư tổ chức lữ hành. Làm nh ư
vậy sẽ mở rộng đ ược địa bàn hoạt động của du lịch Thủ đô, tăng thêm lượng khách, đa
dạng hoá các loại hình du lịch và mở rộng qui mô.
3.2.5. Tạo khả năng tăng trưởng nhanh nguồn du khách
Khai thác tiềm năng của du lịch Hà Nội có nhiều chỉ số để đánh giá. Trong đó số
lượng khách là quan trọng. “Nói đến du lịch là phải nói đến khách, khách vào nhiều là
du lịch phát triển. Muốn khách vào nhiều thì sản phẩm du lịch phải hấp dẫn, người làm
du lịch phải thanh lịch” [46, tr.1].
Do đó sự tăng trưởng của dòng khách có vai trò hết sức quan trọng đến sự phát
triển của ngành du lịch. Yêu cầu đó đòi hỏi du lịch Hà Nội phải có chiến lược thu hút
khách quốc tế và khách nội địa. Thực tế bất cứ du khách nào mục đích của họ là được
tham quan giải trí, tìm hiểu, thưởng thức các giá trị về cảnh quan thiên nhiên, về lịch sử
văn hoá xã hội nơi mình đến, những khám phá về tinh thần mang tính văn hoá đặc sắc
khác lạ với quê hương trong đó quan tr ọng nhất là di sản văn hoá, danh thắng thiên
nhiên và phong cách ứng xử…
Để tăng nguồn du khách chúng ta cần quan tâm cae hai nguồn khách quốc tế và
khách nội địa.
Khách quốc tế:
Hà Nội là trung tâm của cả nước với nguồn di tích phong phú, giàu tính dân tộc,
là thành phố được mệnh danh là thành phố “vì hoà bình”, đồng thời với đường lối đổi
mới của Đảng và Nhà nước là mở cửa để hội nhập… đó là vận hội mới của du lịch để
hoà nhập với khu vực, mục tiêu đặt ra với ngành du lịch là phải đổi mới du lịch mang
tính dân tộc kết hợp với tính hiện đại, không ngừng nâng cao đa dạng hoá chất lượng
sản phẩm, tạo điều kiện để thu hút khách, góp phần thúc đẩy phát triển một số nghề
truyrrgn thống, hàng tiêu dùng, các dịch vụ, giải quyết việc làm cho dân n ơi có tài
nguyên du lịch.
Bảng 3.1: Dự báo lượng khách quốc tế đến Hà Nội
(Theo số liệu thống kê của Sở Du lịch Hà Nội)
Năm Khách quốc tế (Lượt)
2004 950.000
2005 1.050.000
2006 1.120.000
2007 1.250.000
2008 1.360.000
2009 1.480.000
2010 1.600.000


Như vậy theo dự báo trong năm tới, số khách nước ngoài vào Hà Nội sẽ t ăng lên
hơn gấp rưỡi so với năm 2004.
Khách nội địa:
Phát triển du lịch nội địa sẽ góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân, giao lưu giữa các vùng với nhau góp phần nâng cao trình độ dân trí. Với vai
trò là trái tim của cả nước, nhu cầu đến Hà Nội tham quan của nhân dân các tỉnh thành
những năm qua và năm tới sẽ rất lớn.
Theo số liệu thống kê của Sở Du lịch Hà Nội, khách nội địa đến Hà Nội như sau:
Bảng 3.2: Dự báo số liệu khách du lịch Nội địa đến Hà Nội
Năm Số lượng (Lượt)
2004 3.500.000
2005 3.600.000
2006 3.800.000
2007 4.200.000
2008 4.600.000
2009 5.000.000
2010 5.400.000


Theo ước tính so với khách quốc tế, khách nội địa số lượng thu hút rất lớn.
Khách hành hương đến Hà Nội để dự lễ hội, xem triển lãm, vãng cảnh đặc biệt là khách
tham quan viếng Lăng Bác, khách đi nghỉ dững mùa hè… Nhu cầu c ơ bản của khách là
phương tiện vận chuyển từ các địa phương đến nơi tham quan, đòi hỏi phải tổ chức mở
rộng mạng l ưới cung ứng dịch vụ cho khách từ ăn uống, mua sắm tại nơi đón khách
một cách thuận lợi.
Để phát triển và mở rộng thị trường, kinh doanh du lịch phải lấy chữ “tín” làm đầu. Đó
cũng là nội dung quan trọng trong chiến lược thu hút nguồn khách.

3.2.6. Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với việc khai thác các giá
trị văn hoá đặc trưng phục vụ cho việc phát triển du lịch:
Xuất phát từ đặc điểm của du lịch văn hoá, muốn phát triển được phải phụ thuộc
vào đặc điểm tự nhiên, xã hội, truyền thống văn hoá và điều kiện phát triển kinh tế.
Phạm vi hoạt động không ngừng mở rộng, khách tiêu dùng cũng đặc biệt, có sự thay
đổi không ngừng về cơ cấu nguồn khách. Hoạt động du lịch tác động đến nhiều ngành
đòi hỏi tính toàn diện trong chính sách và giải pháp cũng nh ư sự phối hợp chặt chẽ,
nhịp nhàng trong công tác quản lý. Từ đặc điểm của du lịch phải nhất thiết nâng cao vai
trò quản lý của Nhà nước. Nghị quyết 46/CP-TW ngày 14/10/1994 của Chính phủ đã
chỉ rõ:
“Các thủ tục tổ chức đón tiếp, hướng dẫn khách còn phiền hà, sơ hở. Việc quản
lý các thành phần kinh tế kinh doanh theo h ướng pháp luật chưa được coi trọng”.
Mặc dù đến nay du lịch Hà Nội đã miễn visa cho sáu nước Đông Nam á và bỏ
visa đơn phương đối với hai quốc gia là Nhật Bản và Hàn Quốc. Qui chế 849 của Bộ
Công An thực hiện năm 2004 đã cho phép khách Trung Qu ốc được vào tất cả các tỉnh
thành trong cả nước. Song việc quản lý nhà nước đối với du lịch trong thời gian tới vẫn
cần tăng cường đổi mới:
- Sắp xếp các doanh nghiệp các cơ sở kinh doanh du lịch theo đúng hướng chuyên
môn hoá nhằm tạo ra sản phẩm du lịch văn hoá có chất lượng hiệu quả.
- Phối hợp với các ngành hữu quan đổi mới và hoàn thiện chính sách xuất nhập
cảnh, hải quan, đi lại, lưu trú cho khách du lịch, tiếp cận nhanh với thông lệ quốc tế và
quá trình tự do hoá du lịch khu vực.
- Đổi mới và hoàn thiện những c ơ chế, chính sách tự do và quyền tự chủ đầu tư
kinh doanh du lịch, chống độc quyền tạo sân chơi bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế.
- Đổi mới và hoàn thiện chính sách khuyến khích sách đầu tư và phát triển du
lịch ở những khu văn hoá đặc biệt như Hồ Tây, khu Hoàn Kiếm đảm bảo cho các chủ
đầu tư có cơ hội phát triển ổn định và có mức sinh lợi như các chủ đầu tư ở các ngành
kinh tế khác.
- Đổi mới cơ chế chính sách thanh toán quốc tế cho khách du lịch, đảm bảo tiện
lợi, an toàn.
Hoạt động du lịch rất phong phú và đa dạng nên quản lý nhà nước về du lịch bao
gồm nhiều lĩnh vực. Do đó thành phố cần có những qui định cụ thể và các thức quản lý để
vừa khuyến khích vào thành phố nhiều hơn vừa đảm bảo được trật tự kỷ cương trong hoạt
động du lịch. Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch, một số vấn đề hiện nay là
việc thực hiện nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý trên địa bàn, quyền hạn và
trách nhiệm của các cấp về các lĩnh vực: quản lý qui hoạch, cấp giấy phép kinh doanh, quản lý
hoạt động kinh doanh du lịch, kiểm tra và xử lý các vấn đề xã hội, quản lý khách vẫn còn
chồng chéo, chưa làm rõ trách nhiệm quản lý ngành và địa phương.
Tăng cường sự quản lý liên ngành và sức mạnh cho bộ máy quản lý chuyên
ngành ở thành phố, đồng thời làm rõ hơn trách nhiệm quản lý ở các quận, huyện, nhằm
quản lý tốt hơn công tác du lịch ở thành phố.
3.2.7. Đẩy mạnh các hoạt động maketing, thông tin, quảng cáo và ứng dụng
các tiến bộ khoa học kỹ thuật và tăng cường đầu tư cho hoạt động du lịch
Thông tin quảng cáo là công cụ phục vụ đ ắc lực cho sự phát triển du lịch. Về
mặt kinh tế, thông tin quảng cáo thực sự đóng góp vai trò xúc tác gắn quan hệ cung cầu
tạo ra sức mạnh lớn hơn.
Cùng với hiệu quả kinh tế, hoạt động thông tin quảng cáo du lịch còn là công cụ
để phổ biến pháp luật, nâng cao dân trí, trao đổi những kinh nghệm, kỹ n ăng quản lý
kinh doanh du lịch và là phương tiện trao đổi hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, quốc
gia... Như vậy có thể nói công tác thông tin quảng cáo du lịch không thể thiếu vắng đối
với sự phát triển du lịch. Do đó cần có cơ chế, chính sách tạo các nguồn kinh phí phục
vụ cho các chương trình thông tin quảng cáo, maketing... xây dựng thương hiệu của du
lịch Hà Nội.
Tổ chức nghiên cứu đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ tiêu chí của phát triển du
lịch ở từng vùng để làm cơ sở định hướng cho các hoạt động xúc tiến thông tin quảng
cáo du lịch.
Xây dựng hệ cơ sở dữ liệu về tài nguyên và môi tr ường du lịch ở từng vùng,
phân loại từng loại hình du lịch.
Thành lập các trung tâm thông tin về du lịch
Các trung tâm thông tin này không nh ững là nơi cung cấp, giới thiệu sản phẩm
du lịch mà còn là nơi truyền bá phổ biến các qui định, các kiến thức về khai thác và sử
dụng tài nguyên cho khách du lịch và cộng đồng dân cư nhằm nâng cao nhận thức về
tài nguyên du lịch, môi trường và hướng phát triển du lịch của từng địa phương, từng
vùng. Đồng thời đây cũng là trung tâm điều phối hoạt động cả vùng du lịch và giám sát
khách.
3.2.8. Giải pháp về đào tạo nhân lực cho hoạt động Du lịch và văn hoá
Cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực và xây dựng c ơ chế chính
sách đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển du lịch và văn hoá.
Tổ chức đào tạo nhân lực du lịch phải theo h ướng tập trung và chuyên môn hoá
cao, đảm bảo chất lượng toàn diện từ đội ngũ giảng dạy đến người tham gia công tác
trong lĩnh vực du lịch.
Tuyển dụng, bố trí cán bộ đảm bảo đúng nguyên tắc công khai, dân chủ, đúng
người đúng việc. Thực hiện đầy đủ và nghiêm túc các chính sách cán bộ từ việc tuyển
dụng, sắp xếp sử dụng đến chế độ đãi ngộ, từng bước trẻ hoá đội ngũ cán bộ, ưu tiên sử
dụng cán bộ có kiến thức, trình độ và kinh nghiệm cao về lĩnh vực văn hoá du lịch.
Cần phải đưa vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng những tri thức, kiến thức về
phát triển du lịch bền vững nói chung và bảo tồn phát triển nguồn tiềm n ăng thiên
nhiên, các giá trị và di sản văn hoá, coi đó là một trong những tiêu chí đánh giá và là
thước đo đối với trình độ năng lực tổ chức và quản lý du lịch của cán bộ.
Đẩy mạnh công tác đào tạo lại và đào tạo mới để giải quyết yêu cầu trước mắt
và chuẩn bị cho lâu dài. Thực hiện ph ương châm nhà nước, doanh nghiệp và người lao
động cùng làm để đào tạo lại và bồi dưỡng lực lượng lao động trong du lịch.
Trong hệ thống đào tạo cần định hướng phát triển đồng bộ cả về chất cũng như
việc giáo dục - đào tạo con người ở các trình độ: Phổ thông, dạy nghề, đại học và trên
đại học. Coi giáo dục là môi tr ường cần được ưu tiên hàng đầu trong giáo dục cộng
đồng vì sự phát triển bền vững và phát triển đồng bộ cho xã hội.
Xây dựng các chiến lược tổng thể phát triển nguồn lực phù hợp với nhu cầu phát
triển ngành du lịch gắn với phát triển văn hoá, coi vấn đề nguồn lực con người và chất
lượng con người là yếu tố quyết định việc thực hiện mục tiêu phát triển đất nước: “ Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.”
Tạo điều kiện cho cán bộ quản lý ngàn h du lịch và văn hoá được học tập kinh
nghiệm quản lý và khai thác tài nguyên tại các n ước, các vùng trong khu vực và trên
thế giới phục vụ cho phát triển du lịch.
Mở rộng qui mô đào tạo đi đôi với nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao
đẳng Văn hoá Nghệ thuật Hà Nội và trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, đáp ứng nguồn
nhân lực cho hoạt động du lịch và văn hoá ở Thủ đô.
Kết luận

Ngày nay, văn hoá vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- xã hội. Đối với du lịch, văn hoá càng có vai trò và vị trí quan trọng, là một trong
những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh chóng và bền vững của du lịch.
Văn hoá và du lịch là hai lĩnh vực có mối quan hệ mật thiết với nhau. V ăn hoá là
điều kiện, môi trường cho du lịch phát triển. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã xác định:
“Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung v ăn hoá sâu sắc”,
“lấy văn hoá dân tộc làm cơ sở chính cho mọi hoạt động du lịch" [57, tr.5].
Để phục vụ một cách thiết thực cho việc thực hiện các chương trình du lịch trên cả
nước, trước hết cần phải tiến hành nghiên cứu toàn diện những giá trị văn hoá vật thể và
phi vật thể tiêu biểu, độc đáo mang nét đặc trưng chung và riêng của mỗi vùng văn hoá để
từ đó mới có thể xây dựng được những sản phẩm du lịch văn hoá hấp dẫn phục vụ khách
du lịch trong và ngoài nước.
Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hoá, kinh tế của cả nước, có nhiều nguồn tài
nguyên thiên nhiên danh lam th ắng cảnh, nhiều di sản văn hoá mang giá trị nhân văn
vốn có từ lâu đời, có lợi thế về vị trí, có t hời cơ để phát triển du lịch. Hà Nội đang phát
triển du lịch bằng chính nguồn tiềm năng văn hoá của mình. Song có nhiều mặt còn hạn
chế và cản trở việc khai thác tiềm năng văn hoá cho phát triển du lịch. Màng lưới du lịch
còn phân tán và chưa được sắp xếp hợp lý, sự quản lý còn chưa thật sự có hiệu quả cao.
Sản phẩm du lịch chưa phong phú, đội ngũ nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của thời
kỳ mới. Đây chính là những tồn tại chủ yếu cần được giải quyết để đáp ứng với xu thế
phát triển du lịch Thủ đô trong giai đoạn hiện nay.
Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XIII đã đề ra mục tiêu: “đẩy mạnh phát triển
du lịch, tập trung có chọn lọc một số điểm, khu và tuyến du lịch trọng điểm, giàu bản
sắc dân tộc”… và phấn đấu đến năm 2010 “trở thành ngành kinh tế mũi nhọ n” góp
phần vào xây dựng Thủ đô ngày càng văn minh hiện đại.
Trong những giải pháp để tăng cường mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trong
thời kỳ đổi mới, vấn đề mấu chốt là phải biến tiềm n ăng văn hoá thành những sản phẩm
du lịch phong phú và hấp dẫn để tạo khả năng thu hút nguồn khách du lịch. Hà Nội có
nhiều tiềm năng văn hoá cho phát triển du lịch như vùng Cổ Loa, vùng Hồ Tây, khu
vực Hồ Hoàn Kiếm… Đây là những trung tâm giao lưu văn hoá đặc sắc chúng ta cần
nhanh chóng đào tạo đội ngũ cán bộ nhân vi ên có trình độ về quản lý và điều hành du
lịch đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế, khai thác tốt các tiềm n ăng văn hoá cho
phát triển du lịch ở Thủ đô.
Phát triển du lịch cần có sự phối hợp của nhiều ngành, trong đó ngành văn hoá
có vị trí rất quan trọng. Văn hoá và du lịch có mối quan hệ chặt chẽ và t ương hỗ, thúc
đẩy nhau cùng phát triển. Có thể nói ngành du lịch phát triển tạo điều kiện cho du
khách tiếp cận với các giá trị văn hoá ở mỗi vùng đất. Nhưng nếu du lịch chỉ khai thác
mà không chú trọng đến việc bảo tồn, gìn giữ các di sản văn hoá thì các giá trị văn hoá
dễ dàng xuống cấp hoặc biến dạng… Do đ ó ngành du lịch phải quan tâm đầu tư về
nhân lực, tài lực, vật lực cho công tác bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hoá, góp phần
cùng ngành văn hoá bảo tồn, tôn tạo, phát huy tốt các di sản văn hoá phục vụ cho hoạt
động du lịch nói riêng, cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở Thủ đô nói chung.




Danh mục tàI liệu tham khảo


A.A Radugin (chủ biên) (2004), Văn hoá học: Những bài giảng, Nxb Văn hoá - Thông
1.
tin, Hà Nội.
2. Ngô Kim Anh (2000), "Quan hệ du lịch - văn hoá và triển vọng ngành du lịch Việt
Nam", Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (2), tr 10-12.
Trần Thuý Anh (chủ biên), Nguyễn Thu Thuỷ, Nguyễn Thị Anh Hoa, ứng xử văn hoá
3.
trong du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
4. Báo cáo của Ban quản lý di tích - danh thắng (2002), Sở Văn hoá Hà Nội
5. Báo cáo tổng kết của Sở Du lịch Hà Nội từ năm 2000 - 2005 và phương hướng phát
triển đến năm 2010.
Lê Kim Bảng (chủ biên) (2000), Nét đẹp văn hoá Việt Nam đến thiên niên kỷ mới, Nxb
6.
Thành phố Hồ Chí Minh
Nguyễn Duy Bắc (1999), “ Văn hoá Thăng Long- Hà Nội hội tụ và toả sáng. Một công
7.
trình đáng quí “, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (9), tr45-48.
8. Nguyễn Duy Bắc (2004), “ Tác động của xu thế toàn cầu hoá kinh tế và cách mạng
khoa học - công nghệ đối với giáo dục - đào tạo trên thế giới và ở Việt Nam”,
Trích trong cuốn: Văn hoá và phát triển ở Việt Nam, mội số lý luận và thực
tiễn, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội.
Trần Văn Bính (chủ biên) (1998), Văn hoá trong quá trình đô thị hoá ở nước ta hiện
9.
nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. Trần Văn Bính (chủ biên) (2000), Vai trò của văn hoá trong hoạt động chính trị của
Đảng ta hiện nay, Nxb Lao động, Hà Nội.
11. Trần Văn Bính (chủ biên) (2003), Văn hoá Thăng Long - Hà Nội hội tụ và toả sáng,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
12. Trần Văn Bính (chủ biên) (2004), Lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng,
Chương trình cao cấp chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
13. Nguyễn Viết Chức, Huỳnh Khái Vinh, Trần Văn Bính (2001), Nếp sống người Hà
Nội, Viện Văn hoá & Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
14. Nguyễn Viết Chức, Vũ Khiêu, Trần Văn Bính (2001), Xây dựng tư tưởng đạo đức, lối
sống và đời sống văn hoá Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đấy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, Viện Văn hoá & Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.
15. Nguyễn Viết Chức (chủ biên) (2002), Văn hoá ứng xử của người Hà Nội với môi
trường thiên nhiên, Viện Văn hoá & Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
16. Lý Khắc Cung (2003), Hà Nội văn hoá và phong tục, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
17. Nguyễn Đăng Dung (2002), Văn hoá học Việt Nam, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.
18. Nguyễn Khắc Đạm (1999), Thành luỹ phố phường và con người Hà Nội, Nxb Văn hoá
- Thông tin, Hà Nội.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
Nxb Sự thật, Hà Nội.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX ,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung
ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
23. Huỳnh Thị Mỹ Đức (2002), "Suy nghĩ về giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong hoạt động
du lịch", Tạp chí Khoa học xã hội, (6), tr 82-85.
24. Lê Quí Đức (2004), “Di sản văn hoá nhìn từ góc độ kinh tế", Trích trong: Văn hoá và
phát triển ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn “, Nxb Lý luận chính
trị, Hà Nội.
25. Phạm Duy Đức (1996), Giao lưu văn hoá đối với sự phát triển văn hoá nghệ thuật ở
Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
26. Cao Đức Hải (2000), "Suy nghĩ về việc phát triển lễ hội dân gian trở thành lễ hội văn
hoá - du lịch địa phương", Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (4), tr. 105-107.
27. Nguyễn Thị Hải (2002), Đánh giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ phát triển du lịch
cuối tuần của Hà Nội, Luận án tiến sĩ khoa học Địa lý, Trường Đại học Quốc gia Hà
Nội.
28. Lê Như Hoa (2002), Văn hoá vì sự phát triển xã hội, Viện Văn hoá & Nxb Văn hoá -
Thông tin, Hà Nội.
29. Tú Hoa - Bài phỏng vấn bà Võ Thị Thắng - Tổng cục Trưởng Tổng Cục Du lịch
(2000) "Du lịch Việt Nam hướng tới thế kỷ XXI", Tạp chí Xây dựng Đảng, (7),
tr. 12-14.
30. Phạm Lê Hoàn (1989), Việt Nam cảnh đẹp và di tích, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
31. Nguyễn Đình Hoè (2001), Du lịch bền vững, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
32. Nguyễn Thị Hương (2004), “Kế thừa phát triển giá trị nhân văn truyền thống dân tộc
theo định hướng xã hội chủ nghĩa” , Trích trong cuốn Văn hoá và phát triển ở
Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận Chính trị.
33. “Kết luận Hội nghị lần thứ Mười Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX)", (2004),
Tạp chí Thông tin Văn hoá và phát triển, Khoa Văn hoá xã hội chủ nghĩa - Học
Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, (1), tr.2-6
34. Vũ Khiêu, Nguyễn Vinh Phúc (chủ biên) (2000), Văn hiến Thăng Long, Nxb Văn hoá
- Thông tin, Hà Nội.
35. Khoa Văn hoá xã hội chủ nghĩa – Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1997),
Giáo trình văn hoá xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
36. Khoa Văn hoá xã hội chủ nghĩa - Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí minh (2000),
Giáo trình lý luận văn hoá và đường lối văn hoá của Đảng, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội
37. Vũ Khoan (2005), "Du lịch Việt Nam thực hiện thắng lợi chương trình hành động quốc
gia về du lịch", Tạp chí Du lịch, (2), tr. 2, 53.
38. Đinh Trung Kiên (2004), Một số vấn đề về du lịch Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia,
Hà Nội.
39. Nguyễn Quang Lân (2005), "Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của
Thủ đô “, Tạp chí Du lịch Việt Nam, (2), tr.7,36-38.
40. Nguyễn Quang Lê (chủ biên) (2001), Khảo sát thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống
của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
41. Trần Huy Liệu (chủ biên) (2000), Lịch sử Thủ đô Hà Nội, Nxb Hà Nội.
42. Luật Du lịch (2005), Nxb Chính trị quốc gia.
43. Nguyễn Văn Lưu (1998), Thị trường du lịch, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
44. Lê Hồng Lý (2000), "Du lịch và vấn đề về vấn đề giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc ở Hà
Nội", Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, (2), tr 10-12.
45. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
46. Đỗ Mười (1996), "Ngành du lịch sớm trở thành ngành kinh tế mũi nhọn", Trả lời
phỏng vấn Tạp chí Du lịch Việt Nam, (1), tr.1.
47. Phạm Xuân Nam (1998), Văn hoá vì sự phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
48. Bùi Thu Nga (2000), "Du lịch Hà Nội trước thềm thế kỷ XXI", Tạp chí Thương mại,
(19), tr. 12,17.
49. Bùi Thị Nga (1996), Những giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch trên địa bàn Hà
Nội, Luận án tiến sĩ khoa học Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà
Nội.
50. Nghị quyết 46/ CP - TW ngày 14/ 10/1994 của Chính phủ về lãnh đạo, đổi mới và
phát triển du lịch.
51. Thu Trang Công Nghĩa (2001), Du lịch văn hoá ở Việt Nam, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ
Chí Minh.
52. Trần Nhạn (1995), Du lịch và kinh doanh du lịch, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
53. Phan Đăng Nhật (2000), “Du lịch và lễ hội", Tạp chí Cộng sản, (10), tr 40-43
54. Trần Nhoãn (2002), "Về hiệu quả kinh tế - xã hội của văn hoá qua hoạt động du lịch",
Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (4), tr 13 -15.
55. Trần Nhoãn (2003), "Đa dạng hoá hoạt động di tích - lễ hội qua con đường du lịch", Tạp
chí Văn hoá nghệ thuật, (2), tr 58-60.
56. Đỗ Văn Ninh (1995) , Quốc Tử Giám và trí tuệ Việt, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
57. Pháp lệnh du lịch (1999), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
58. Nguyễn Vinh Phúc (2000), Du lịch Hà Nội hướng tới 1000 năm Thăng Long, Nxb Hà
Nội.
59. Sharikesler (24/4/1995), "Hà Nội trong trái tim tôi", Tạp chí Du lịch, Hà Nội. tr.32.
60. Tạp chí Người đưa tin của UNESCO (11/1988), tr.5 .
61. Trần Đức Thanh (2000), Nhập môn khoa học du lịch, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
62. Đặng Quang Thành (2000), Phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong kinh doanh du
lịch, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
63. Võ Thị Thắng (1999), "Ngành du lịch Việt Nam với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc", Tạp chí Quốc phòng toàn dân, (8), tr 26-28.
64. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm hiểu về bản sắc văn hoá Việt Nam: Cái nhìn hệ thống
loại hình, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
65. Lê Quang Thiêm (chủ biên), Trần Đình Hượu, Nguyễn Kim Đính… (1998), Văn hoá
với sự phát triển của xã hội Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
66. Doãn Kế Thiện (1999), Cổ tích và thắng cảnh Hà Nội, Nxb Hà Nội.
67. Chu Khắc Thuật, Nguyễn Văn Thủ (chủ biên) (1998), Văn hoá lối sống với môi
trường, Nxb Văn hoá - Thông tin, Trung tâm nghiên cứu và tư vấn về phát
triển, Hà Nội.
68. Lưu Minh Trị (2002), Tìm trong di sản văn hoá Việt Nam Thăng Long Hà Nội, Nxb
Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.
69. Hoàng Trinh (1996), Mấy vấn đề văn hoá và phát triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.
70. Hoàng Tùng, Lưu Minh Trị (chủ biên) (1995), Thăng Long - Hà Nội, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
71. Từ điển Tiếng Việt (1995), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
72. Viện Nghiên cứu phát triển du lịch (1990), Tập bài giảng lớp bồi dưỡng Giám đốc
khách sạn, Hà Nội.
73. Hoàng Vinh (chủ biên) (1996), Một số vấn đề lý luận văn hoá thời kỳ đổi mới, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
74. Hoàng Vinh (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta,
Viện Văn hoá & Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
75. Dương Vũ (2000), "Phát triển du lịch trong tầm nhìn mới", Tạp chí Cộng sản, (20),
tr.42-46.
76. Lê Trung Vũ, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Thanh Hương (2001), Lễ hội Thăng Long, Nxb
Hà Nội.
77. Trần Quốc Vượng, Nguyễn Văn Thường, Nguyễn Vinh Phúc (1996), Hà Nội - Trung tâm
du lịch của Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội.
78. Trần Quốc Vượng (chủ biên) (1996), Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt
Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
79. Trần Quốc Vượng, Nguyễn Văn Thường, Nguyễn Vinh Phúc (1996), Hà Nội - Trung
tâm du lịch của Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội.
80. Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán (1998), Hà Nội nghìn xưa, Nxb Hà Nội
81. Bùi Thị Hải Yến (2000), "Vai trò giáo dục du lịch cộng đồng với phát triển du lịch
bền vững trên thế giới và Việt Nam", Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, (4), tr. 24-26.




Mục lục


Trang
1
Mở đầu

Chương 1: những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa văn hóa và du
5
lịch trong quá trình đổi mới ở nước ta
1.1. Quan niệm về văn hóa 5
1.2. Quan niệm về du lịch 13
1.3. Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch 18

31
Chương 2: mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch trên địa bàn Hà Nội
2.1. Thực trạng bảo tồn và phát triển văn hóa nhằm phục vụ phát triển
du lịch 31
2.2. Sự phát triển du lịch gắn với phát triển văn hóa ở Thủ đô 59

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường mối quan
74
hệ giữa văn hóa và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước
ta hiện nay
3.1. Phương hướng 74
3.2. Giải pháp 76

89
Kết luận
91
Danh mục tài liệu tham khảo

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản