LUẬN VĂN: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh ủy Lai Châu trong giai đoạn mới

Chia sẻ: dellvietnam

Hơn 70 năm qua, dưới sự lónh đạo của Đảng cộng sản việt nam, sự nghiệp cách mạng nước ta đó giành được nhiều thắng lợi to lớn: Đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xó hội (CNXH) Hai mươi năm qua, công cuộc đổi mới đất nước đó thu được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xó hội, an ninh, quốc phũng…., tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh ủy Lai Châu trong giai đoạn mới

LUẬN VĂN:


Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng hoạt động của Ủy Ban Kiểm Tra
Tỉnh ủy Lai Châu trong giai đoạn mới
phần mở đầu
1.tính cấp thiết của đề tài:
Hơn 70 năm qua, dưới sự lónh đạo của Đảng cộng sản việt nam, sự nghiệp cách
mạng nước ta đó giành được nhiều thắng lợi to lớn: Đấu tranh giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xó hội (CNXH)
Hai mươi năm qua, công cuộc đổi mới đất nước đó thu được nhiều thành tựu
quan trọng trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xó hội, an ninh, quốc phũng….,
tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH
) đất nước, phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp,
"dân giàu, nước mạnh, xó hội công bằng dân chủ, văn minh".
Trong quỏ trỡnh đổi mới, đặt ra những vấn đề mới, những thách thức và nguy cơ
hết sức gay go, quyết liệt, đũi hỏi Đảng phải không ngừng vươn lên, tự đổi mới, tự
chỉnh đốn thỡ mới cú thể giữ vững và phỏt huy vai trũ lónh đạo, tiếp tục đẩy mạnh công
cuộc đổi mới theo định hướng xó hội chủ nghĩa (XHCN)
Tại Hội nghị toàn quốc ngày 25 tháng 4 năm 1994 đồng chí- Đỗ Mười Nguyên
Tổng Bí Thư của Đảng ta đó núi : “Trong công tác xây dựng Đảng, kiểm tra có vị trí
cực kỳ quan trọng, bảo đảm cho đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức,
trong sạch về phẩm chất đạo đức …. Trong điều kiện đảng cầm quyền, công tác kiểm
tra của Đảng phải được tăng cường và tiến hành một cách thường xuyên, có hiệu quả”
và “… Mục đích kiểm tra là để làm cho đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng
được thi hành một cách đúng đắn và sáng tạo, làm nên thắng lợi của cách mạng, mang
lại lợi ích cho nhân dân ”. Vỡ vậy, chỉ cú thụng qua cụng tỏc kiểm tra, chỳng ta mới
thấy được những mặt tốt, mặt đúng của chủ trương đường lối, chính sách, nghị quyết,
chỉ thị của Đảng và nhà nước để tiếp tục phát huy, hạn chế những sai sót và kịp thời bổ
sung hoàn chỉnh, thông qua kiểm tra mới biết được chỉ thị, nghị quyết có được thực thi
hay không, có đúng không ? đúng đến mức nào và thấy được việc quán triệt thực hiện
của các cơ quan, đơn vị của các tổ chức Đảng các cấp.
Từ khi thành lập cho đến nay, Đảng ta luôn nhận thức rừ tầm quan trọng của
cụng tỏc kiểm tra đối với việc bảo đảm cho mục tiêu, lý tưởng, cương lĩnh, chiến lược,
đường lối, chính sách, các chỉ thị, nghị quyết và việc giữ gỡn kỷ luật, sự đoàn kết thống nhất
trong Đảng . Vỡ vậy, qua từng nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta đều khẳng định : Kiểm tra là một
trong những chức năng lónh đạo của Đảng, “ Lónh đạo mà không có kiểm tra thỡ coi như
khụng cú lónh đạo".
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, đa số đảng viên của Đảng giữ
vững lập trường tư tưởng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, phát huy tính
năng động sáng tạo trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xó hội, gúp phần quan trọng vào
sự nghiệp đổi mới đất nước, bên cạnh đó vẫn cũn tồn tại một bộ phận cỏn bộ, đảng viên
của Đảng có biểu hiện giảm sút ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, dao động , mất
lũng tin vào sự lónh đạo của Đảng, vào công cuộc đổi mới, vào con đường đi lên CNXH
ở nước ta, do đó đó làm tăng thêm những vấn đề nhức nhối của tệ nạn xó hội, chủ nghĩa
cỏ nhõn ớch kỷ, lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền, chà đạp lên nhân phẩm, đạo lý
làm người, tham ô, tham nhũng, thoái hóa, biến chất, sa s út nhân ph ẩm, đ ạo đ ức, lối
s ống, vi phạm kỷ luật Đ ảng, pháp luật nhà n ư ớc.
Trước tỡnh hỡnh đó, đũi hỏi Đảng ta phải tiếp tục tự đổi mới toàn diện, một
trong những yếu tố đảm bảo Đảng tự đổi mới là tăng cường công tác kiểm tra, nâng
cao chất lượng hoạt động của UBKT.
Từ nhận thức trên, với kiến thức được học tập tại Học viện Chính trị khu vực I, cùng
với kiến thức thực tế tại các địa phương, với một số kinh nghiệm tích lũy được …Để báo cáo
kết quả cuối khóa tôi mạnh dạn chọn đề tài :
“Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Ủy Ban Kiểm Tra
Tỉnh ủy Lai Châu trong giai đoạn mới.”
2. mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
2.1. Mục đích:
Đề tài góp phần làm rừ thờm một số vấn đề cơ bản nhận thức, lý luận và thực
tiễn về nõng cao chất lượng hoạt động của UBKT, làm cơ sở giúp cho cấp ủy và đảng
viên nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác kiểm tra, hoạt động của UBKT. Trên cơ sở
đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của UBKT
Tỉnh ủy Lai Châu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới.
2.2. Nhiệm vụ
Đề tài luận giải những vấn đề lý luận về công tác kiểm tra Đảng và vị trí vai trũ
của UBKT trong cụng tỏc xõy dựng Đảng.
Đánh giá thực trạng chất lượng hoạt động của UBKT Tỉnh ủy Lai Châu trong
những năm qua, tỡm hiểu nguyờn nhõn, bài học kinh nghiệm của những tồn tại yếu
kộm.
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của UBKT Tỉnh
ủy Lai Châu.
2.3. Giới hạn đề tài :
Đề tài đi sâu phân tích một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của UBKT
Tỉnh ủy Lai Châu từ năm 2001 – 2005
3. cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận và nhận thức của đề tài dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa
Mác- Lênin , tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về công tác xây dựng
Đảng nói chung và công tác kiểm tra nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu: Dùng phương pháp nghiên cứu khoa học, Phương
pháp lôgích, phương pháp lịch sử, điều tra xó hội học, tổng hợp, phõn tớch, so sỏnh.
4. ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
Đây là kết quả bước đầu sự vận dụng kiến thức được trang bị qua nghiên cứu học
tập và thực tiễn công tác kiểm tra của Đảng, các giải pháp đó đề xuất nếu được thực
hiện trong thực tế hoạt động của Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Lai Châu, sẽ góp một phần
vào nhiệm vụ xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh .
5. Bố cục.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài gồm 3 chương:
chương I: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của
Đảng ta về công tác kiểm tra , hoạt động của Ủy ban kiểm tra (UBKT )
chương II: Thực trạng hoạt động của Ủy ban kiểm tra Tỉnh ủy Lai Châu
(2001 – 2005 ).
Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của
UBKT Tỉnh ủy Lai Châu trong giai đoạn mới
nội dung
chương I
Chủ nghĩa Mác lê nin, tư tưởng hồ Chí Minh
và quan điểm của đảng ta về công tác kiểm tra,
hoạt động của UBKT


I. ý nghĩa tác dụng của công tác kiểm.
1. Kiểm tra là một tất yếu khách quan, là một biểu hiện nghiêm túc của hoạt động
có ý thức của mọi tổ chức và con người trong xó hội:
Hoạt động của tổ chức và con người trong xó hội là hoạt động có ý thức. Điều
này đó được Các Mác minh họa bằng sự so sánh về sự khác biệt giữa nhà kiến trúc tồi
nhất (hoạt động có ý thức) và con ong giỏi nhất (hoạt động theo bản năng) là “ nhà kiến
trúc trước khi xây dựng từng ngăn trong tổ ong, thỡ đó xõy dựng từng ngăn đó trong
óc mỡnh rồi " (Các Mác: Tư bản, quyển 1, phần 1. NXB ST. Hà Nội. 1960, trang 247)
Như vậy trước khi hành động, các tổ chức và con người đều phải suy nghĩ, xác định rừ
ý định, chủ trương, kế hoạch tiến hành và tổ chức thực hiện thắng lợi ý định, chủ trương
kế hoạch ấy trong thực tiển.
Thực tiễn luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng theo quy luật khách
quan, do đó các chủ trương, đường lối, chính sách được ban hành dù có được nghiên
cứu kỹ lưỡng đến đâu vẫn cũn cú những thiếu sót, sơ hở, thậm chí không có khả năng
thực thi hoặc sai lầm nghiêm trọng. Để khắc phục điều đó, đũi hỏi con người phải luôn
luôn xem xét, kiểm tra lại đường lối, chủ trương, chính sách đó được ban hành. Đó
chính là hoạt động kiểm tra. Hoạt động có ý thức là hoạt động có kiểm tra, ý thức càng
cao, tổ chức càng quan trọng, con người ở cương vị càng cao, nhiệm vụ càng khó khăn,
phức tạp thỡ càng đũi hỏi phải coi trọng và tiến hành tốt cụng tỏc kiểm tra .
2. Kiểm tra là một trong những chức năng lónh đạo của Đảng, một bộ phận
quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng.
Kiểm tra cần thiết đối với mọi tổ chức và con người trong xó hội, đặc biệt là đối
với chính Đảng của giai cấp vô sản và người cộng sản. Đảng Cộng sản Việt Nam, chính
đảng kiểu mới theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có sứ mệnh lịch
sử nặng nề và vẻ vang là lónh đạo giai cấp và dân tộc, dân chủ, đánh thắng các cuộc
chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ thực dân, phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải
phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xõy dựng chủ nghĩa
xó hội (CNXH) và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc.
Kiểm tra là một trong những chức năng lónh đạo của Đảng và “có vị trí cực kỳ
quan trọng trong toàn bộ hoạt động lónh đạo của Đảng” (Văn kiện Đại hội VIII của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb CTQG, Hà Nội 1996, tr 150) Ngay từ khi mới ra đời và
suốt trong trong quỏ trỡnh lónh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng và tiến hành có
hiệu quả công tác kiểm tra, vai trũ của Đảng không chỉ là vạch ra đường lối, chính sách,
và việc tổ chức thực hiện, bố trí cán bộ, lónh đạo mà cũn là kiểm tra, cụng tỏc kiểm tra
không chỉ kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, nghị quyết mà cũn
kiểm tra cỏc tổ chức Đảng, đảng viên, kiểm tra ngay bản thân UBKT, nhằm bảo đảm
cho đường lối đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi trong thực tiễn, đó là vấn đề có
tính nguyên tắc đối với Đảng ta. Đảng ta khẳng định “ Lónh đạo mà không có kiểm tra
coi như không lónh đạo” (Văn kiện Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb CTQG,
tr123 ).
Lênin đó chỉ rừ: Khi đường lối, chính sách đó được xác định, phương hướng đó
được thụng qua thỡ nhiệm vụ tổ chức thực hiện phải đặt lên hàng đầu và sự lónh đạo
phải “ Chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh sang việc lựa
chọn người và kiểm tra sự thực hiện ” (V.I. Lênin toàn tập, bản tiếng Việt, tập 44, Nxb
Tiến bộ, Mát xcơ – va, 1978, tr 450) cũn nhấn mạnh : “ Kiểm tra nhân viên công tác và
kiểm tra việc chấp hành thực tế công tác – mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ
chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ có ở đấy ”. (V.I. Lênin toàn tập, bản
tiếng Việt, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mát xcơ – va, 1978, tr 19)
Chủ tịch Hồ Chí Minh đó núi : “ Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi".
“Khi đó cú chớnh sỏch đúng , thỡ sự thành cụng hay thất bại của chớnh sỏch đó là do
nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài thỡ chớnh sách đúng mấy cũng vô ích”, “Nếu tổ
chức việc kiểm tra cho chu đáo thỡ cũng như có ngọn đèn pha, bao nhiêu tỡnh hỡnh,
bao nhiờu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rừ. Cú thể núi
rằng: Chớn phần mười khuyết điểm trong công việc của chỳng ta là vỡ thiếu sự kiểm
tra”. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb ST, Hà nội,1985, tr 154,156)“Kiểm tra có tác
dụng thúc đẩy, giáo dục Đảng viên và cán bộ làm trũn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với
nhà nước, làm gương tốt cho nhân dân, do đó góp phần vào việc cũng cố Đảng về tư
tưởng và tổ chức” (Hồ Chí Minh, về xây dựng Đảng, Nxb ST, Hà Nội,1970. tr 133).Qua
thực tiễn Đảng ta đó kết luận : cụng tỏc kiểm tra là “ một bộ quan trọng trong toàn bộ
công tác xây dựng Đảng” (Văn kiện Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III
Nxb ST, Hà Nội 1982, tr122), là “ một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện ” là “ Biện
pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu (Văn kiện Đại hội VI, Nxb ST, Hà Nội , 1987, tr
137)
3. Kiểm tra là một nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của toàn Đảng:
Trong các văn kiện của Đảng, Đảng ta đó khẳng định: Công tác kiểm tra của
Đảng là công tác của toàn Đảng, của các tổ chức Đảng. Đồng chí Đỗ Mười – Nguyên
Tổng Bí thư của Đảng đó nhấn mạnh: Mục đích của kiểm tra là để làm cho Đường lối,
chủ trương, nghị quyết của Đảng được thi hành một cách đúng đắn và sáng tạo, làm nên
thắng lợi của cuộc cách mạng, mang lại lợi ích cho nhân dân. Trong điều kiện Đảng
cầm quyền, công tác kiểm tra của Đảng phải được tiến hành một cách thừơng xuyên, có
hiệu quả, đó không chỉ là trách nhiệm trước Đảng mà cũn là nghĩa vụ và trỏch nhiệm
trước nhân dân và trước giai cấp .
Vỡ vậy cần khắc phục những nhận thức khụng đúng, coi công tác kiểm tra chỉ là
của UBKT, chỉ thuần túy "tỡm sai lầm” ” Bới lụng tỡm vết ”. Đảng ta đó từng chỉ rừ, sự
lónh đạo của Đảng không chỉ là xây dựng cương lĩnh chính trị, xác định đường lối , chủ
trương ra chỉ thị, nghị quyết mà cũn tổ chức thực hiện và kiểm tra toàn bộ hoạt động của
Đảng nhằm làm cho hoạt động và sự lónh đạo ngày càng phù hợp với cuộc sống, với
quy luật khách quan. Cũng trên cơ sở đó Đảng nhận thấy rừ mọi khuyết điểm, những
mặt mạnh, mặt yếu trong quá trỡnh lónh đạo của các tổ chức Đảng, các cấp ủy và cả đội
ngũ cán bộ, đảng viên. Do đó công tác kiểm tra là bộ phận hữu cơ trong toàn bộ công
tác xây dựng Đảng , góp phần phát huy vai trũ lónh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Có
thể nói : không kiểm tra tức là không lónh đạo .
Bác Hồ dạy : “ Lónh đạo đúng nghĩa" là :
+ Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng…..
+ Phải tổ chức thi hành cho đúng
+ Phải tổ chức sự kiểm tra rà soát….
Người cũn núi : “ Chính sách là nguồn gốc của thắng lợi, khi đó cú chớnh sỏch
đúng thỡ sự thành cụng hay thất bại của chớnh sỏch là do nơi tổ chức công việc , nơi
chọn cán bộ và do nơi kiểm tra"
Đảng cộng sản Việt nam đó lấy chủ nghĩa Mỏc- Lờnin, tư tưởng Hồ Chí Minh là
kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng ta, vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể
của cách mạng Việt Nam, trong đó công tác kiểm tra của Đảng gắn liền với công tác
xây dựng Đảng, “ Công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt
động lónh đạo của Đảng".
4. Trong lónh đạo sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa
(HĐH) đất nước, xây dựng xó hội cụng bằng, dõn chủ, văn minh phải coi trọng và
tiến hành tốt công tác kiểm tra của Đảng:
Trong thời kỳ CNH – HĐH, công tác kiểm tra có vai trũ gúp phần xõy
dựng Đảng vững mạnh về tư tưởng, chính trị và tổ chức, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ
kinh tế, xó hội trong thời kỳ đổi mới. UBKT có nhiệm vụ tham mưu giúp cho cấp ủy
xây dựng chương trỡnh kế hoạch kiểm tra, là người trực tiếp kiểm tra đảng viên, kiểm
tra tổ chức Đảng, nhằm làm cho chủ trương, nghị quyết được thực hiện nghiêm túc,
giúp cho Đảng thực hiện chức năng lónh đạo.
Nâng cao chất lượng kiểm tra của Đảng đối với cán bộ, đảng viên và tổ chức
Đảng là nhiệm vụ tất yếu, khách quan, có tác dụng to lớn trong công tác xây dựng Đảng
chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay, nhất là trong giai đoạn Đảng cầm quyền, Đảng
lónh đạo toàn xó hội và lónh đạo cả hệ thống chính trị.
II. phạm vi trách nhiệm kiểm tra của các tổ chức Đảng:
Các tổ chức Đảng ở cơ sở có nhiệm vụ chấp hành nghị quyết, chỉ thị của Đảng,
Điều lệ Đảng đối với mọi tổ chức Đảng, Đảng viên sinh hoạt và hoạt động thuộc phạm
vi lónh đạo của mỡnh.
UBKT các cấp tiến hành công tác kiểm tra theo quy định của điều 32, Điều lệ
Đảng và những nội dung do cấp ủy giao.
III. những vấn đề cơ bản cần nắm vững trong chỉ đạo, tiến hành công tác kiểm.
1. Công tác kiểm tra của Đảng phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và công tác xây
dựng Đảng, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ và công tác ấy :
Công tác kiểm tra của Đảng phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và công tác xây
dựng Đảng, phải lấy việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ và công tác đó làm mục tiêu,
phương hướng, nội dung hoạt động. Nếu xa rời vấn đề đó cốt lừi cú tớnh nguyờn tắc
này, thỡ cụng tỏc kiểm tra của Đảng chệch mục tiêu, mất phương hướng, không rừ nội
dung và khụng mang lại hiệu quả. Tuy nhiờn, nhiệm vụ chớnh trị và cụng tỏc xõy dựng
Đảng trong từng thời kỳ, đối với từng tổ chức Đảng cũng có những nội dung, yêu cầu
cụ thể khác nhau, điều đó yêu cầu các tổ chức Đảng phải nắm vững những nội dung,
yêu cầu chủ yếu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của mỡnh trong
từng thời kỳ, nắm vững cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của
Đảng, nghị quyết của Đại hội đảng bộ và cấp ủy cấp mỡnh, tỡnh hỡnh thực hiện nhiệm
vụ chớnh trị và cụng tỏc xõy dựng Đảng của đảng bộ để lónh đạo công tác kiểm tra và
tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra xác thực, có hiệu quả.
2. Phải nắm vững và thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo công tác kiểm tra của
Đảng ta: “Chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả".
Từ thực tiến hoạt động kiểm tra của Đảng, Đảng ta đó đúc kết được nhiều bài
học kinh nghiệm quý bỏu. Tư tưởng chỉ đạo toàn bộ hoạt động công tác kiểm tra của
Đảng hiện nay là: Chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả. Quan điểm này được quán
xuyến trong toàn bộ hoạt động và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
+Tính chủ động của công tác kiểm tra của Đảng: Sau khi có nghị quyết, chỉ thị
phải chủ động xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện và chương trỡnh hành động. Công
tác kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên, có nề nếp, không thụ động chờ vụ việc
xảy ra rồi mới xem xét giải quyết, phải thường xuyờn nắm bắt tỡnh hỡnh hoạt động của
tổ chức Đảng và đảng viên, kịp thời biểu dương mặt tích cực, tiến bộ, ngăn ngừa mặt
tiêu cực, lạc hậu, hạn chế đến mức thấp nhất các khuyết điểm .
Khi phát hiện tổ chức Đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm phải xem xét xử lý
công minh, chính xác, kịp thời, không để khuyết điểm thành sai phạm, từ không nghiêm
trọng đến nghiêm trọng, từ một đảng viên, tổ chức Đảng vi phạm thành nhiều tổ chức
Đảng, nhiều đảng viên vi phạm. Các cấp ủy Đảng phải trực tiếp lónh đạo công tác kiểm
tra hoạt động của UBKT trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra. UBKT phải chủ động
trong xây dựng kế hoạch, chủ động tham mưu cho cấp ủy về công tác kiểm tra và chủ
động trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra .
+Tính chiến đấu của công tác kiểm tra của Đảng: Thể hiện ở tinh thần đấu
tranh làm rừ đúng, sai trong quá trỡnh tiến hành kiểm tra. Nếu cú vi phạm thỡ làm rừ
nội dung, tớnh chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân của vi phạm để bảo vệ cái đúng, cái
tốt, khắc phục cái sai, cái xấu. Đây là cuộc đấu tranh thẳng thắn, nhiều khi rất quyết liệt
giữa cái đúng, mặt tích cực với cái sai mặt tiêu cực trong bản thân đối tượng được kiểm
tra, giữa đảng viên với đảng viên, giữa đảng viên với tổ chức Đảng , giữa tổ chức Đảng
có thẩm quyền thi hành kỷ luật với đối tượng bị thi hành kỷ luật và ngay cả chính bản
thân cán bộ và tổ chức tiến hành kiểm tra. Không có tính chiến đấu cao, bản lĩnh chính
trị vững vàng, phương pháp thích hợp, hoặc bị khuất phục, bị chi phối bởi uy quyền, vật
chất, bởi chủ nghĩa cá nhõn thỡ khụng kết luận được cái đúng, cái sai, ưu điểm, nhược
điểm, vi phạm ( Nếu có) khi tiến hành kiểm tra.
Khi có dấu hiệu vi phạm hoặc sai phạm, cần giáo dục, giúp đừ để khắc phục kịp
thời , không để phát triển mở rộng, gây hậu quả lớn … khắc phục hiện tượng kéo dài,
hữu khuynh, nương nhẹ .
+Tính giáo dục của công tác kiểm tra của Đảng : Được thể hiện ở mục đích của
nó là “Thúc đẩy “ và giáo dục đảng viên, cán bộ làm trũn nhiệm vụ đối với Đảng, với
nhà nước, làm gương tốt cho nhân dân, chứ không phải để “Vạch lỏ tỡm sõu” để trừng
trị . Tính giáo dục thể hiện ở phương pháp tiến hành công tác kiểm tra, cũng như trong
phát huy ưu điểm, sữa chữa khuyết điểm. Qua kiểm tra phải rút ra bài học về lónh đạo,
chỉ đạo, về tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng để bồi
dưỡng nâng cao sức chiến đấu và năng lực lónh đạo của tổ chức Đảng và đảng viên
+Tính hiệu quả của công tác kiểm tra của Đảng: Sau khi kết thỳc kiểm tra thỡ
đối tượng được kiểm tra, thấy được ưu điểm , khuyết điểm hoặc sai phạm để sửa chữa,
phấn đấu tiến bộ. Tổ chức Đảng nơi có đối tượng được kiểm tra và bản thân tổ chức
Đảng tiến hành kiểm tra thấy được ưu khuyết điểm và rút ra kinh nghiệm về lónh đạo,
chỉ đạo, về giáo dục quản lý tổ chức Đảng và đảng viên. Thể hiện ở sự lónh đạo công
tác kiểm tra và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra để xây dựng Đảng bộ ngày càng trong sạch
vững mạnh. Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Đảng bộ, nâng cao bản lĩnh, phẩm chất,
năng lực người cán bộ kiểm tra và cơ quan kiểm tra các cấp, đấu tranh bảo vệ chân lý,
bảo vệ kỷ luật của Đảng, dám chịu trách nhiệm và đồng thời đề cao trách nhiệm trước
Đảng, trước đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng, bảo đảm tính hiệu quả của kiểm
tra, nhất là trong xem xét, kết luận và xử lý khi cú sai phạm theo tinh thần chung là rừ
ràng, minh bạch.
3. Phải nắm vững và thực hiện tốt phương pháp cơ bản của công tác kiểm
tra của Đảng:
Công tác kiểm tra của Đảng là công tác lónh đạo của Đảng, là công tác xây dựng
Đảng, là sinh hoạt nội bộ Đảng. Do Đó khi tiến hành công tác kiểm tra, phải giữ đúng
nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đúng tính chất công tác Đảng. Phải nắm vững và
thực hiện tốt phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra cụ thể:
* Dựa vào tổ chức Đảng: Là phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra, vừa là
vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng, nhưng tùy tỡnh hỡnh cụ thể
của tổ chức Đảng để có cách vận dụng cho phù hợp.Trường hợp cần thiết, có thể kiện toàn
tổ chức trước khi tiến hành kiểm tra.
* Phát huy tinh thần tự giác của tổ chức Đảng và đảng viên: Tự giác không chỉ
là phương tiện mà chính là mục đích của công tác kiểm tra nói riêng và của công tác xây
dựng Đảng nói chung. Tự giác là phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, ý thức, ý chí,
bản lĩnh của tổ chức Đảng và đảng viên, nên tự giác là một quá trỡnh và mức độ tự gíác
của mỗi tổ chức Đảng và đảng viên khác nhau, do điều kiện trưởng thành, công tác, sản
xuất, chiến đấu, thử thách, rèn luyện có khác nhau. Vỡ vậy, tiến hành cụng tỏc kiểm tra,
cỏc tổ chức Đảng cần coi trọng và làm tốt công tác tư tưởng đối với mọi đối tượng được
kiểm tra, nhằm phát huy và nâng cao tinh thần tự giác, tự phê bỡnh để nhận rừ ưu điểm,
nhược điểm, vi phạm và giúp cho tổ chức kiểm tra có cơ sở kết luận chính xác.
* Phát huy trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng: Mọi hoạt động của tổ
chức Đảng và cán bộ, đảng viên luôn luôn được quần chúng quan tâm, nhận biết. Thực
tiễn đó chứng minh là cú nhiều vụ việc tiờu cực xảy ra trong nội bộ Đảng là do quần
chúng phát hiện. Vỡ vậy, tiến hành cụng tỏc kiểm tra phải coi trọng việc phát huy tinh
thần trách nhiệm xây dựng Đảng của quần chúng.Việc lấy ý kiến quần chúng góp ý, phờ
bỡnh tổ chức Đảng và đảng viên được kiểm tra, phải có tổ chức, có lónh đạo và tùy theo
yêu cầu, nội dung, đối tượng mà xác định phạm vị, phương thức cho phù hợp (Thông
qua cơ qua lónh đạo của đoàn thể chính trị - Xó hội, trực tiếp thu thập ý kiến từng
người, họp một số người để quần chúng phát biểu ý kiến, gúp ý kiến bằng thư….).
Những ý kiến quần chúng đóng góp đúng phải trân trọng tiếp thu, khuyến khích, cổ vũ,
nếu cú ý kiến chưa đúng phải giải thích để quần chúng hiểu rừ tạo nờn sự đoàn kết,
thống nhất giũa tổ chức Đảng với quần chúng.
*Làm tốt công tác thẩm tra, xác minh: Yêu cầu cơ bản của công tác kiểm tra là
phải đánh giá, kết luận đúng ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) của tổ chức Đảng
và đảng viên được kiểm tra, để có quyết định chính xác. Muốn vậy ngoài việc phải dựa
vào tổ chức Đảng, phát huy tinh thần tự giác của tổ chức Đảng và đảng viên, việc kiểm
tra, phát huy trách nhiệm xây dựng đảng của quần chúng, phải hết sức coi trọng và làm tốt
công tác kiểm tra, xác minh
* Kết hợp chặt chẽ công tác kiểm tra của Đảng với công tác thanh tra của nhà
nước, thanh tra nhân dân, công tác kiểm tra của các đoàn thể chính trị - Xó hội nghề
nghiệp và phối hợp với cỏc ban, ngành có lien quan.
4. Phải nắm vững và thực hiện tốt cỏc hỡnh thức kiểm tra :
4.1. Kiểm tra thường xuyên: Tổ chức Đảng, trước hết là cấp ủy các cấp phải
thường xuyên kiểm tra, đôn đốc Đảng cấp dưới và đảng viên tiến hành công tác kiểm tra
và tự kiểm tra để phát huy ưu điểm, phát hiện, ngăn chặn, khắc phục thiếu sót, khuyết
điểm. Các tổ chức cơ sở Đảng thông qua hoạt động thực tế hàng ngày của tổ chức Đảng
cấp dưới và đảng viên trong việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật
của nhà nước, trong sinh hoạt Đảng, giữ gỡn phẩm chất, đạo đức cách mạng của đảng
viên; Qua tự phê bỡnh và phờ bỡnh, qua kiểm tra, phõn tớch chất lượng đảng viên, nhận
xét, đánh giá chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Qua phờ bỡnh, gúp ý của quần
chỳng….để đánh giá ưu điểm, khuyết điểm của đảng viên và tổ chức Đảng cấp dưới, rút
kinh nghiệm về công tác lónh đạo. quản lý của Đảng ủy, chi ủy, chi bộ , kịp thời xem xét,
giải quyết những trường hợp có dấu hiệu vi phạm.
4.2. Kiểm tra định kỳ: Có thể kiểm tra toàn diện đối với tổ chức Đảng và đảng
viên, có thể chỉ kiểm tra chuyên sâu một nội dung cần thiết: Có đọt kiểm tra toàn diện
việc chấp hành nghị quyết Trung ương VI (Lần 2) khóa VIII về cuộc vận động xây
dựng chỉnh đốn Đảng, có đợt kiểm tra việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ
trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, có đợt kiểm tra chống tham nhũng….
4.3. Kiểm tra bất thường: Có số lượng ít, nội dung kiểm tra tập trung vào một số
vấn đề nhất định: yêu cầu kiểm tra để kịp thời ngăn chặn (như khi có dấu hiệu vi phạm,
có tố cáo) là phải xem xét, kết luận nhanh chóng.
Do đó tùy đối tượng, nội dung, yêu cầu kiểm tra mà có kế hoạch kiểm tra cho
phù hợp
Đảng cộng sản Việt Nam là một tổ chức, một bộ phận của xó hội, cú vai trũ lónh
đạo chính trị đối với toàn xó hội, đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta đến
thắng lợi. Sự lónh đạo của Đảng được tiến hành thông qua tổ chức Đảng và đảng viên
đang hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống xó hội, mỗi tổ chức Đảng và đảng viên
dù đang công tác ở lĩnh vực, cương vị nào đều phải tham gia xây dựng Đảng, tổ chức
thực hiện và kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Đó là nhiệm vụ
trực tiếp, thường xuyên của mọi tổ chức Đảng và đảng viên. Là tăng cường sự lónh đạo
của Đảng, không gỡ để khắc phục những khuyết điểm, yếu kém về nhận thức và hành
động trong thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra mà cũn làm cho Đảng thực hiện đầy
đủ các chức năng, nhiệm vụ của mỡnh, gúp phần xõy dựng, chỉnh đốn Đảng, đảm bảo
lónh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Tóm lại : Công tác kiểm tra của Đảng là một trong các chức năng lónh đạo, có vị
trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lónh đạo của Đảng, là trách nhiệm của
Đảng, của các tổ chức Đảng và của đội ngũ cán bộ đảng viên. Hiệu quả, chất lượng
công tác kiểm tra của Đảng là một yếu tố phản ánh vai trũ lónh đạo của Đảng, sức chiến
đấu của Đảng. Vỡ vậy càng đi sâu vào thời kỳ đổi mới càng phải coi trọng và làm tốt
công tác kiểm tra của Đảng.
chương II
Thực trạng hoạt động của UBKT
tỉnh uỷ Lai Châu (2001-2005)
I. khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và công tác xây dụng Đảng.
1. Về kinh tế xó hội
Lai Châu là một tỉnh miền núi, nằm về phía tây bắc của Tổ quốc, xa trung tâm
kinh tế, giao thông đi lại khó khăn, trỡnh độ dân trí thấp, diện tích tự nhiên lớn
9.065.123 km2, chủ yếu là núi, đất nông nghiệp chỉ chiếm 7,1% so với diện tích tự
nhiên, có 273 km đường biên giới giáp với nước cộng hũa nhõn dõn Trung Hoa. Lai
chõu cú vị trớ địa lý vô cùng quan trọng, là vùng đầu nguồn rộng lớn và phũng hộ đặc
biệt xung yếu của lưu vực sông Đà, là nơi sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số, có vị trí
quan trọng về chiến lược Quốc phũng – An ninh, bảo đảm cho sự phát triển bền vững
của quốc gia mà trực tiếp là các công trỡnh thủy điện lớn trên sông Đà và vùng châu thổ
sông Hồng.
Toàn tỉnh cú 6 huyện và 1 thị xó, gồm 21 xó biờn giới, 74 xó đặc biệt khó khăn.
Có 20 dân tộc, trong đó: Dõn tộc Thỏi chiếm 35,19%, dõn tộc Mụng 21,87%, dõn tộc
kinh 12,69%, dõn tộc giao 11,84 %, dõn tộc Hà Nhỡ 5,12% và cỏc dõn tộc khỏc.
2.Những nét cơ bản về Đảng bộ tỉnh Lai Châu:
Đảng bộ tỉnh Lai Châu có 6 Đảng bộ huyện, thị và 4 Đảng ủy trực thuộc, 4 ban
cán sự Đảng, 6 Đảng đoàn, 315 tổ chức cơ sở Đảng , trong đó có 100 đảng bộ và 215
chi bộ cơ sở (khối nông thôn 90 tổ chức cơ sở Đảng, trong đó Đảng bộ xó 71, chi bộ xó
19) Cú 9.129 đảng viên, trong đó đảng viên chính thức 7.988, đảng viên dự bị 1.141,
đảng viên nữ 1.599,đảng viên dân tộc thiểu số 5.203.
Kết quả phân loại tổ chức Đảng và đảng viên: năm 2005 cho thấy: trong tổng số
295 tổ chức cơ sở Đảng đó phõn tớch chất lượng có 206 tổ chức cơ sở Đảng đạt trong
sạch vững mạnh; 84 tổ chức cơ sở Đảng hoàn thành nhiệm vụ, 5 tổ chức cơ sở đảng yếu
kém .
Năm 2005trong tổng số 8145 đảng viên được phân loại có 6273 đảng viên hoàn
thành tốt nhiệm vụ, 1329 đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, 1689 không hoàn thành
nhiệm vụ, 54 đảng viên có vi phạm.
II. thực trạng hoạt động của ubkt tỉnh uỷ lai châu.
Căn cứ quy định của Điều lệ Đảng về công tác kiểm tra của Đảng và công tác
kiểm tra của UBKT các cấp, UBKT Tỉnh ủy Lai Châu đó chủ động xây dựng kế hoạch
cho toàn khóa, kế hoạch kiểm tra cho năm, quý, kiểm tra thường xuyên, kiểm tra đột
xuất, kiểm tra định kỳ, kiểm tra theo chuyên đề, kiểm tra việc chấp hành chính sách của
địa phương, nhiệm vụ của cấp ủy, kiểm tra đảng viên chấp hành điều lệ Đảng, giải
quyết kịp thời đơn thư khiếu nại tố cáo trong Đảng. Phối hợp chặt chẽ với các ngành
trong khối nội chính, các ban Đảng, tham mưu cho cấp ủy và thực hiện nhiệm vụ kiểm
tra do Điều lệ Đảng quy định, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ kiểm tra từ huyện đến cơ
sở.
Trong Đảng bộ tỉnh Lai Châu, loại hỡnh tổ chức Đảng đa dạng, có cơ sở trực tiếp
sản xuất, đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang. Loại hỡnh phong phỳ,
đa dạng nên công tác kiểm tra ở cơ sở có vị trí đặc biệt quan trọng, tác động trực tiếp
đến việc xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, ngăn ngừa thiếu sót, khuyết điểm của
đảng viên và cơ sở Đảng phỏt huy tinh thần tự phờ bỡnh, phờ bỡnh, đặc biệt trong giai
đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, thực hiện nghị quyết Trung ương VI lần
II về xây dựng chỉnh đốn Đảng, công tác kiểm tra phải chủ động, sáng tạo, tích cực.
Từ khi Đảng ta tiến hành và lónh đạo sự nghiệp đổi mới thu đựơc nhiều thành
tựu, đất nước đó vượt qua khủng hoảng, đi vào thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, xuất
phát điểm của tỉnh thấp, vừa mới đựơc thành lập do chia tách Tỉnh Lai Châu thành 2
tỉnh Điện Biên và Lai Châu, kinh tế cũn gặp nhiều khú khăn, song toàn thể cán bộ, đảng
viên trong tỉnh giàu lũng yờu nước, cần cù chịu khó, khắc phục khó khăn, có kinh
nghiệm và bản lĩnh chính trị, nhưng so với yêu cầu của cuộc sống đặt ra và với tỡnh
hỡnh nhiệm vụ trong giai đoạn cách mạng mới thỡ cỏn bộ, đảng viên cũn nhiều bất cập,
chỳng ta đang xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,
có sự quản lý của nhà nước, mở rộng thị trường, hội nhập kinh tế. Trong các mặt tích
cực của kinh tế thị trường, trong đó có khuyết tật và mặt trái của cơ chế thị trường, do
đó cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự rèn luyện, nêu cao phẩm chất đạo đức, chính
trị vững vàng và công tác kiểm tra của đảng trong tỡnh hỡnh mới cũng rất phức tạp và
nhạy cảm.
Những năm trước (Đại hội VII) kiểm tra đảng viên chấp hành điều lệ Đảng là
chủ yếu. Đại hội VIII và Đại hội IX quy định kiểm tra đảng viên và tổ chức Đảng khi có
dấu hiệu vi phạm là chủ yếu. Công việc này rất khó, vấn đề đặt ra là nắm bắt thông tin,
các báo cáo của cơ sở để xác định . Vấn đề kiểm tra Đảng và tổ chức Đảng đũi hỏi đảng
viên và tổ chức Đảng phải tự giác là chính , vỡ Đảng ta là tổ chức cao nhất, tập hợp
những người tiên tiến, tôn trọng dân chủ trong Đảng và lấy giáo dục là chính.
Qua các cuộc kiểm tra UBKT tỉnh Lai Châu, đó cú phương pháp, trỡnh tự, hỡnh
thức và cỏc bước tiến hành kiểm tra cụ thể như sau:
1. Phương pháp, trỡnh tự, hỡnh thức kiểm tra:
1.1.Về phương pháp kiểm tra: Đảng viên phải phát huy tinh thần tự phê bỡnh,
phờ bỡnh trong Đảng, dựa vào tổ chức Đảng, dựa vào quần chúng nhân dân và các
hướng dẫn của UBKT Trung ương, coi trọng thẩm tra xác minh là yếu tố quyết trỡnh cú
xem xột đặc điểm tỡnh hỡnh, tài chớnh, vụ việc, vai trũ của đảng viên, chọn phương pháp
kiểm tra cho thích hợp, đạt hiệu quả cao.
1.2.Trỡnh tự thực hiện cuộc kiểm tra: Trong qỳa trỡnh triển khai cỏc cuộc kiểm
tra, UBKT Tỉnh ủy Lai Châu đó tiến hành đúng trỡnh tự, theo quy trỡnh, theo hướng
dẫn của UBKT Trung Ương về công tác kiểm tra. Tùy theo tính chất mức độ và phạm
vi tiến hành kiểm tra để lập thành tổ ( Hoặc đoàn) kiểm tra, thời gian tiến hành mỗi cuộc
kiểm tra trung bỡnh từ 15 -20 ngày, với cuộc kiểm tra nhiều nội dung là 30 ngày. Cú
vận dụng linh hoạt quy trỡnh kiểm tra, kết hợp chặt chẽ giữa cụng tỏc kiểm tra của
Đảng với thanh tra nhà nước, thanh tra nhân dân và công tác kiểm tra của các đoàn thể
chính trị xó hội, làm tốt cụng tác thẩm tra, xác minh, công tác tự kiểm tra của mỗi tổ
chức Đảng và đảng viên.
1.3 Về hỡnh thức kiểm tra: Rất linh hoạt Kiểm tra, đôn đốc thường xuyên của
các đồng chí thành viên cấp ủy, kiểm tra đột xuất, kiểm tra theo chuyên đề, cấp ủy trực
tiếp thành lập các đoàn kiểm tra để thực hiện các cuộc kiểm tra theo chương trỡnh – kế
hoạch kiểm tra của cấp ủy và cỏc cuộc kiểm tra theo chỉ đạo của Trung ương .
2. Các bước tiến hành một cuộc kiểm tra:
2.1. Bước chuẩn bị
Đây là bước quan trọng nhất của công tác kiểm tra. Nếu như trước đây chủ động
xây dựng chương trỡnh để kiểm tra theo số lượng cụ thể thỡ nay chuyển sang kiểm tra
đảng viên, tổ chức Đảng khi có dấu hiệu vi phạm. UBKT chủ động phân tích tỡnh hỡnh
và chịu trỏch nhiệm trước cấp ủy, xây dựng chương trỡnh kế hoạch kiểm tra, làm rừ nội
dung kiểm tra, thời gian kiểm tra, phương pháp kiểm tra, nhưng trước khi kiểm tra phải
trao đổi với tổ chức Đảng quản lý đối tượng kiểm tra, để đối tượng kiểm tra và tổ chức
Đảng quản lý đối tượng bố trí thời gian làm việc.
Kế hoạch kiểm tra gửi cho đơn vị quản lý đảng viên và đối tượng kiểm tra trước
ít nhất là 7 ngày để chuẩn bị . Trong thời gian đối tượng được kiểm tra, UBKT có vấn
đề gỡ cần xử lý thụng tin trước khi làm việc ở cơ sở : Như gặp người cung cấp tài liệu,
làm việc với cơ quan chuyên môn hoặc cơ quan có nắm được nội dung đảng viên vi
phạm, làm việc với cấp ủy quản lý đảng viên được kiểm tra, thành lập tổ kiểm tra.
2.2. Bước tiến hành kiểm tra:
Để thực sự dân chủ, khách quan, động viên tính tự giác đảng viên và chi bộ quản
lý đảng viên phải nêu cao tinh thần tự phê bỡnh và phờ bỡnh. Trước khi vào kiểm tra
UBKT gặp đối tượng kiểm tra yêu cầu họ làm bản tường trỡnh về những nội dung theo
UBKT gợi ý (theo KH). Bản tường trỡnh phải rừ ràng, cụ thể, và đúng nội dung . Đảng
viên được kiểm tra phải nhận thức đầy đủ các bằng chứng, nếu chưa đủ bằng chứng thỡ
chưa vội vàng kết luận, khi thẩm tra xác minh xong phải tiến hành họp chi bộ , để nghe
đảng viên được kiểm tra được trỡnh bày ý kiến và chi bộ phát biểu đóng góp ý kiến với
đảng viên đó. Nội dung nào rừ thỡ chi bộ ghi vào biờn bản, nội dung nào ch ưa rừ, chưa
thông thỡ tiếp tục làm rừ bằng đấu tranh phê bỡnh, phõn tớch làm rừ đúng, sai, nếu thấy
cần thỡ tiếp tục thẩm tra xỏc minh , khụng được để đồng chí mỡnh bị oan sai, tránh qua
loa, đại khái, xuê xoa. Khi chuẩn bị kết luận phải có căn cứ thuyết phục, đảm bảo chính
xác, đúng nguyên tắc, đúng pháp luật.
2.3. Bước kết thúc
Tổ kiểm tra bỏo cỏo kết quả kiểm tra với UBKT Tỉnh ủy, trỡnh bày đầy đủ ý
kiến mà tổ chức Đảng và đảng viên được kiểm tra đồng ý hoặc khác với ý kiến của tổ
kiểm tra, tập thể UBKT kết luận . Đại diện UBKT trao đổi nội dung kết luận để tổ chức
Đảng và cá nhân đảng viên được kiểm tra trỡnh bày ý kiến bằng văn bản, báo cáo
thường trực UBKT xem xét, giải quyết , nếu vi phạm xử lý ở mức kỷ luật Đảng phải
xem xét xử lý , vi phạm xử lý bắng pháp luật chuyển cơ quan bảo vệ pháp luật xét xử.
Hoàn chỉnh thông báo kết luận kiểm tra, quyết định thi hành kỷ luật đối với đảng
viên hoặc báo cáo cấp trên thi hành kỷ luật đối với tổ chức Đảng, đảng viên (nếu có) đại
diện UBKT thông báo kết luận kiểm tra đến tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra
bằng văn bản .
3. Thực hiện nhiệm vụ do điều lệ Đảng quy định
3.1. Kiểm tra đảng viên kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm
tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng.
+ Kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm:
Ngay từ đầu nhiệm kỳ UBKT các cấp đó xỏc định nhiệm vụ trọng tâm là kiểm
tra tổ chức Đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm, UBKT các cấp trong tỉnh đó chủ
động nắm tỡnh hỡnh, phối hợp với cỏc Ban xõy dựng Đảng, các cơ quan chức năng của
nhà nước, để phát hiện dấu hiệu vi phạm, kịp thời chủ động tổng hợp tỡnh hỡnh, chủ
động đề xuất với thường trực cấp ủy, để có sự chỉ đạo chặt chẽ các tổ chức, thực hiện
việc kiểm tra theo đúng kế hoạch, quy trỡnh, thủ tục và quy định theo điều lệ Đảng .
Trong nhiệm kỳ đó tiến hành kiểm tra 414 đảng viên có dấu hiệu vi phạm = 25.41% so
với nhiệm kỳ trước. Trong đó UBKT Tỉnh ủy kiểm tra 5 đảng viên, UBKT huyện và
tương đương kiểm tra được 321 đảng viên, UBKT cơ sở kiểm tra 88 đảng viên, có 131
cấp ủy viên các cấp chiếm 31.64% so với tổng số đảng viên được kiểm tra (tỉnh ủy viên
và tương đương 1, huyện ủy viên và tương đương 7, đảng ủy viên 65, chi ủy viên 58).
Qua kiểm tra kết luận có 322 đảng viên có vi phạm chiếm 77.78% so với tổng số
đảng viên được kiểm tra, trong đó phải thi hành kỷ luật 194 đản viên chiếm 60.25% so
với đảng viên có vi phạm.
+Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm :
Trong nhiệm kỳ qua UBKT Tỉnh ủy Lai Châu, đó kiểm tra 51 tổ chức Đảng cấp
dưới khi có dấu hiệu vi phạm = 48.57% so với nhiệm kỳ trước, trong đó UBKT Tỉnh ủy
kiểm tra được 3 tổ chức Đảng, UBKT huyện ủy và tương đương kiểm tra được 45 tổ
chức Đảng, UBKT cơ sở kiểm tra được 3 tổ chức Đảng. Về đối tượng kiểm tra có 2 ban
cán sự Đảng, 17 Đảng ủy cơ sở và ban thường vụ cơ sở, 32 chi bộ, chi ủy. Qua kiểm tra
kết luận 35 tổ chức Đảng có vi phạm, chiếm tỷ lệ 68.63 % so với tổ chức Đảng được
kiểm tra =53.58% so với nhiệm kỳ trước, trong đó phải thi hành kỷ luật 4 tổ chức Đảng,
chiếm 11.43% so với tổ chức Đảng có vi phạm.
Qua thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đảng viên và tổ chức Đảng cấp dưới khi có dấu
hiệu vi phạm, cho thấy: UBKT các cấp đó chủ động khảo sát, tiến hành kiểm tra. Trong
quỏ trỡnh kiểm tra đó kết hợp giữa thẩm tra xác minh, khơi dậy ý thức tự giác, tinh thần
đấu tranh tự phờ bỡnh và phờ bỡnh của tổ chức Đảng và đảng viên đứợc kiểm tra, chỉ rừ
những yếu kộm, khuyết điểm của tổ chức Đảng và đảng viên, kiến nghị và xử lý kịp
thời những đảng viên có vi phạm đến mức phải xử lý, gúp phần vào việc ngăn chặn
phũng ngừa vi phạm của tổ chức Đảng và đảng viên. Kết luận của các cuộc kiểm tra,
tuy ở mức độ khác nhau nhưng đều phát hiện được vi phạm. Trong quỏ trỡnh tiến hành
kiểm tra UBKT ở cấp tỉnh và cấp huyện đó thực hiện đúng quy trỡnh, phương pháp
kiểm tra, làm tốt công tác tư tưởng, động viên tổ chức Đảng và đảng viên được kiểm tra
tự phê bỡnh và phờ bỡnh. Coi trọng khõu thẩm tra, xỏc minh, cũng cố hồ sơ tài liệu,
chứng cứ và sự phối kết hợp giữa UBKT cấp trên với UBKT cấp dưới, các cơ quan, ban
ngành có liên quan, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng hiệu quả các
cuộc kiểm tra. Từng bước khắc phục tư tưởng ngại khó, nể nang, né tránh. Thông qua
kiểm tra đó gúp phần tớch cực vào cụng tỏc giỏo dục, nõng cao ý thức trỏch nhiệm, chủ
động phũng ngừa vi phạm đối với đảng viên và các tổ chức Đảng .
Thực tiễn ở Đảng bộ Lai Châu vừa qua cho thấy, kiểm tra đảng và tổ chức Đảng
cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm, tuy khó nhưng nếu chủ động nắm bắt tỡnh hỡnh, phỏt
hiện dấu hiệu vi phạm và xỏc định nội dung và đối tượng kiểm tra không nhiều, nhưng
đó chọn đúng nội dung, đối tượng,, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, kết luận rừ vi
phạm, ngăn ngừa được tiêu cực làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức đúng hơn về
nhiệm vụ kiểm tra này.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra
đảng viên và tổ chức Đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm cũn cú những hạn chế :
Nhận thức của một số cán bộ UBKT và đối tượng kiểm tra cũn hạn chế, thiếu
quyết tõm, cỏ biệt cú một số ớt cỏn bộ của UBKT chưa thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra.
Việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm trong nhiệm
kỳ qua chủ yếu kiểm tra đối tượng là đảng viên do cấp dưới quản lý, việc chọn nội dung
kiểm tra thường là nội dung đơn giản, dễ làm chưa đi sâu vào dấu hiệu vi phạm về xây
dựng cơ bản, quản lý về đất đai, chi tiêu ngân sách, chế độ trách nhiệm, đoàn kết nội bộ.
Việc thực hiện nhiệm vụ này chưa đồng đều giữa các đơn vị, một số cỏn bộ UBKT cũn
thụ động, chưa tiến hành khảo sát, phát hiện dấu hiệu vi phạm để kiểm tra, chưa mạnh
dạn khảo sát, kiểm tra những đảng viên giữ trọng trách ở các cấp các ngành, những nội
dung trọng tâm, những địa bàn trọng điểm đó được xác định trong phương hướng,
nhiệm vụ công tác kiểm tra, sự phối hợp trong nắm bắt tỡnh hỡnh, phỏt hiện dấu hiệu vi
phạm cũn hạn chế .
3.2.. Kiểm tra tổ chức Đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và kiểm tra
việc thi hành kỷ luật trong Đảng:
UBKT các cấp đó kiểm tra 160 tổ chức đảng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra =
55.75% so với nhiệm kỳ trước , trong đó UBKT tỉnh ủy kiểm tra được 6 tổ chức đảng,
UBKT huyện ủy và tương đương kiểm tra 100 tổ chức, UBKT Đảng ủy cơ sở kiểm tra
54 tổ chức. Trong số tổ chức Đảng được kiểm tra có 116 tổ chức xây dựng và thực hiện
chương trỡnh, kế hoạch kiểm tra và làm tốt cỏc nội dung được kiểm tra. Đó tập trung
kiểm tra việc xõy dựng phương hướng nhiệm vụ lónh đạo công tác kiểm tra của cấp ủy
toàn khóa, chương trỡnh kiểm tra của cấp ủy hàng năm, việc lónh đạo và thực hiện
nhiệm vụ kiểm tra của cấp ủy, việc cấp ủy định kỳ nghe UBKT báo cáo và cho ý kiến
chỉ đạo về công tác kiểm tra, việc xây dựng kế hoạch và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra
cấp dưới, việc phân công thành viên cấp ủy phụ trách địa bàn, lĩnh vực để thực hiện
nhiệm vụ kiểm tra của cấp ủy . Qua kiểm tra cho thấy, cấp ủy các cấp đó chấp hành
nghiờm chỉnh điều lệ Đảng, nhận thức rừ tầm quan trọng và sự cần thiết của cụng tỏc
kiểm tra của cấp ủy theo quy định tại điều 30 Điều lệ Đảng.
Tuy nhiờn, vẫn cũn một số tổ chức Đảng chưa thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy chưa thực sự quan tâm chỉ đạo, hàng quý, 6 tháng , một
năm chưa xây dựng được chương trỡnh, kế hoạch kiểm tra (chủ yếu là cơ sở) chưa sử
dụng sức mạnh tổng hợp của các Ban Đảng để giúp cấp ủy tiến hành công tác kiểm tra,
một số cuộc kiểm tra chưa đúng quy trỡnh, nờn hiệu quả tỏc dụng thấp. Một số tổ chức
Đảng nhận thức về công tác kiểm tra cũn hạn chế, chưa phân biệt được nhiệm vụ kiểm
tra của cấp ủy theo điều 30 của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ của UBKT, vai trũ tham mưu
của UBKT một số nơi thiếu chủ động .
UBKT các cấp đó kiểm tra 41 tổ chức Đảng cấp dưới về thi hành kỷ luật Đảng
(bằng 89.13% so với nhiệm kỳ trước), trong đó UBKT Tỉnh ủy kiểm tra 10 tổ chức:
UBKT Huyện ủy và tương đương kiểm tra 31 tổ chức, gồm: 5 huyện ủy, Ban thường
vụ h uyện ủy và tương đương; 5 UBKT huyện
ủy và tương đương; 23 Đảng ủy cơ sở, 8 chi bộ. Qua xem xét 114 hồ sơ thi hành
kỷ luật trong mốc thời gian kiểm tra cho thấy: Chuẩn y 80 trường hợp, tăng hỡnh thức
kỷ luật 4 trường hợp: giảm hỡnh thức kỷ luật 1 trường hợp, số đảng viên bị thi hành kỷ
luật không đúng thẩm quyền 9 trường hợp: số bị thi hành kỷ luật không đúng nguyên
tắc, thủ tục 28 trường hợp: phát hiện 2 đảng viên có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ
luật nhưng tổ chức đảng cấp dưới không thi hành kỷ luật.
Số đảng viên có vi phạm bị thi hành kỷ luật đó được kiểm điểm làm rừ nội dung,
mức độ tính chất, tác hại , nguyên nhân. Tổ chức Đảng làm tốt công tác tư tưởng, nên
sau khi có quyết định thi hành kỷ luật, đa số đảng viên bị thi hành kỷ luật đó chấp hành
nghiờm chỉnh.
Tuy nhiờn qua kiểm tra việc thi hành kỷ luật vẫn cũn nhiều trường hợp chưa đảm
bảo nguyên tắc, thủ tục, quy trỡnh. Cú trường hợp đảng viên vi phạm đến mức phải thi
hành kỷ luật, nhưng đơn vị không thi hành kỷ luật.
3.3. Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề
nghị cấp ủy thi hành kỷ luật.
* Đối với Đảng viên: Cấp ủy và UBKT các cấp đó thi hành kỷ luật 315 đảng
viên chiếm 3,45% so với tổng số đảng viên trong đảng bộ, trong đó khiển trách chiếm
35,87%, cảnh cáo chiếm 42,54%, cách chức chiếm 1,59%: khai trừ chiếm 20% (so với
tổng số đảng viên bị thi hành kỷ luật), có 95 cấp ủy viên các cấp chiếm 30,16% so với
tổng số đảng viên bị thi hành kỷ luật.
Trong tổng số 315 đảng viên bị thi hành kỷ luật: Ban thường vụ Tỉnh ủy kỷ luật
3 đảng viên; UBKT Tỉnh ủy kỷ luật 2 đảng viên, Huyện ủy và ban thường vụ huyện ủy
kỷ luật 59 đảng viên; UBKT huyện ủy kỷ luật 142 đảng viên; đảng ủy cơ sở kỷ luật 68
đảng viên; chi bộ kỷ luật 40 đảng viên.
Đối tượng bị thi hành kỷ luật: Đảng viên là cán bộ tỉnh quản lý chiếm 1,9% (6
đảng viên) bằng 21,43 % so với nhiệm kỳ trước, cán bộ huyện , thị và tương đương
quản lý chiếm 40% (126 đảng viên) bằng 53,39% so với nhiệm kỳ trước. Trong tổng số
đảng viên bị thi hành kỷ luật có 95 đảng viên là cấp ủy viên các cấp, trong đó: Huyện ủy
và tương đương 5 đảng viên, đảng ủy viên 48 đảng viên, chi ủy viên 42 đảng viên.
Nội dung vi phạm chủ yếu là: Nguyên tắc tập trung dân chủ chiếm 5,02%, chấp
hành nghị quyết, chỉ thị của Đảng chiếm 16,22 %: đoàn kết nội bộ chiếm 4,23%: thiếu
trách nhiệm 27,41%; tham ô hối lộ 15,58%; buôn lậu trốn thuế 6,12%, nhà đất 4,24%
,cố ý làm trỏi gõy hậu quả nghiờm trọng 22,39%; phẩm chất lối sống 32,82% so với nội
dung vi phạm .
Trong tổng số đảng viên bị thi hành kỷ luật có 28 đảng viên xử lý theo pháp luật
trong đó có 27 trường hợp bị phạt tù (kể cả án treo) 1 cải tạo không giam giữ
* Đối với tổ chức Đảng .
UBKT các cấp đó phục vụ cấp ủy thi hành kỷ luật 5 tổ chức Đảng
(Bằng 55,56% so với nhiệm kỳ trước) trong đó , có 3 đảng ủy cơ sở và ban
thường vụ đảng ủy cơ sở, 2 chi ủy, chi bộ, bằng các hỡnh thức khiển trỏch 4 tổ chức,
cảnh cỏo 1 tổ chức. Nội dung vị phạm chủ yếu là việc chấp hành đường lối, nghị quyết,
chỉ thị của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước chiếm 40%; nguyên tắc tập trung
dân chủ chiếm 20%; việc giao quyết định tổ chức thực hiện quyết định của cấp trên 20%
, đoàn kết nội bộ 20%.
Qua thi hành kỷ luật đối với đảng viên và tổ chức đảng cho thấy : Việc thi hành
kỷ luật nhỡn chung thực hiện được phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục
thi hành kỷ luật của Đảng, kết luận rừ được nội dung, tính chất, mức độ và tác hại của vi
phạm và làm tốt công tác tư tưởng, giúp đảng viên tự giác chấp hành nghiêm chỉnh kỷ
luật. Công tác thi hành kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng đó phục vụ kịp thời, thiết thực
cho các yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương. Các đảng viên và tổ chức đảng bị
thi hành kỷ luật đều được kiểm điểm từ chi bộ, cấp ủy nơi đảng viên sinh hoạt, bản than
đảng viên và tổ chức đảng vi phạm đó nhận rừ khuyết điểm, chấp hành nghiêm chỉnh thi
hành kỷ luật của tổ chức đảng có thẩm quyền. Việc thi hành kỷ luật cơ bản đảm bảo
được phương châm “ Công minh, chính xác, kịp thời” có tác dụng giáo dục, phũng ngừa
đảng viên vi phạm, góp phần giữa nghiêm kỷ luật đảng, được cán bộ, đảng viên và nhân
dân đồng tỡnh ủng hộ, nờn đó hạn chế thấp nhất việc khiếu nại về kỷ luật Đảng(trong
nhiệm kỳ chỉ có 4 đảng viên khiếu nại về kỷ luật đảng ).
Tuy nhiên, việc thi hành kỷ luật Đảng vẫn cũn hữu khuynh, nộ trỏnh, dẫn đến
kéo dài trong việc xem xột kết luận vi phạm. Trong xử lý kỷ luật chưa đồng bộ, giũa kỷ
luật đảng và chính quyền. Đảng viên vi phạm phải thi hành kỷ luật Đảng, nhưng về
chính quyền chậm được xem xét xử lý, hoặc không xử lý. Nhận thức về kỷ luật Đảng và
việc thi hành kỷ luật ở một số ít tổ chức Đảng, ở nông thôn, vùng cao cũn hạn chế, chưa
nắm vững nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật.


nguyên nhân:
Đảng viên và tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật giảm so với nhiệm kỳ trước: Là
những năm đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng, các tổ chức đảng các cấp được cũng cố, việc
thực hiện quy định 19 của Bộ chính trị về những điều đảng viên không được làm, thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng
theo tinh thần nghị quyết TW VI (lần II) khóa IIX đó từng bước có kết quả, có sự
chuyển biến trong nhận thức của đại đa số tổ chức đảng và đảng viên; Công tác kiểm tra
của cấp ủy, UBKT các cấp được tăng cường đó gúp phần giỏo dục phũng ngừa vi phạm
của đảng viên và tổ chức đảng


3.4. giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên.
* Giải quyết tố cáo đối với tổ chức Đảng:
Đối với tổ chức Đảng : UBKT các cấp đó giải quyết 5 tổ chức Đảng bị tố cáo =
26,32% so với nhiệm kỳ trước. Gồm 3 đảng ủy cơ sở và ban thường vụ đảng ủy cơ sở, 2
chi ủy, chi bộ. Qua giải quýờt kết luận 3 tổ chức cú vi phạm, chiếm 60% so với số đó
được giải quyết, phải xử lý kỷ luật 1 tổ chức, chiếm 33.33 % so với tổ chức cú vi phạm
Tỡnh hỡnh đơn thư tố cáo cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng nhiệm kỳ này giảm
so với nhiệm kỳ trước là do cấp ủy, chi bộ các cấp đó nõng cao một bước về công tác
kiểm điểm, tự phê bỡnh và phờ bỡnh, đánh giá xếp loại đảng viên. Nhiều cấp ủy, tổ
chức đảng, UBKT các cấp tăng cường công tác kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp
dưới. Đó phỏt hiện và xử lý đảng viên vi phạm kịp thời, đảm bảo tính nghiêm minh của
kỷ luật Đảng , được cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân tin tưởng. Trỡnh độ nhận
thức và điều kiện tiếp cận thông tin của đảng viên và quần chúng nhân dân ngày càng
được nâng lên, hạn chế tỡnh trạng đơn thư gửi vượt cấp, gửi nhiều nơi. Thực hiện quy
định của Bộ Chính trị về những điều đảng viên không được làm, đó cú tỏc dụng nõng
cao tinh thần trỏch nhiệm của đảng viên trong việc báo cáo trung thực với Đảng những
hành vi sai trái của tổ chức và đảng viên. Thực hiện quy định của đảng không xem xét,
giải quyết đơn thư tố cáo dấu tên, mạo tên, không rừ địa chỉ, loại đơn này đó giảm hẳn .
Ở cấp tỉnh khụng nhận được đơn thư tố cáo cán bộ thuộc diện ban thường vụ Tỉnh ủy
quản lý. Loại thư tố cáo có dụng ý xấu nhiệm kỳ không có ( Nhiệm kỳ trước 36 trường
hợp, phải kỷ luật 3 đảng viên lợi dụng tố cáo để vu khống )
UBKT các cấp tích cực, chủ động giải quyết tố cáo thuộc thẩm quyền, phối hợp
chặt chẽ giữa UBKT các cấp với các cơ quan chức năng để kết luận, làm rừ, kịp thời
phục vụ nhân sự bầu cử HĐND 3 cấp, nhiệm kỳ 1999-2004. phục vụ kịp thời cho công
tác chuẩn bị nguồn nhân sự cấp ủy các cấp.
Trong quỏ trỡnh giải quyết đơn tố cáo và vận dụng linh hoạt quy trỡnh giải quyết
đơn, phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành và các đoàn thể chính trị, xó hội. Coi
trọng công tác thẩm tra, xác minh, kết hợp giữa đấu tranh và thuyết phục nhằm khơi dậy tính
tự giác của tổ chức Đảng và Đảng viên.
Kết quả giải quyết đơn thư tố cáo đó kết luận làm rừ đúng, sai theo nội dung đơn,
xác định rừ nguyờn nhõn và trỏch nhiệm, thụng bỏo cho người tố cáo biết Về kết quả
giải quyết tố cáo xử lý hoặc kiến nghị cấp ủy kịp thời xử lý tổ chức Đảng và đảng viên
có vi phạm. Đề ra biện pháp thu hồi kịp thời tiền vật tư bị chiếm dụng, thất thoát, góp
phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng.
Tuy nhiờn trong giải quyết tố cỏo cũn một số ớt trường hợp đó giải quyết xong,
nhưng người tố cáo vẫn gửi đơn lên cấp trên đề nghị xem xét lại. Nguyên nhân chủ yếu
là do kết quả giải quyết tố cáo thông báo chưa kịp thời cho người tố cáo biết , người bị
tố cáo có vi phạm khụng xử lý, hoặc chậm xử lý. Một số cán bộ nhận thức về luật khiếu
nại tố cáo và quy định những điều đảng viên không được làm cũn chưa đầy đủ, nội dung
tố cỏo sai, vẫn cũn chiếm 32,65%
* Giải quyết khiếu nại tố cáo đối với đảng viên;
Đối với Đảng viên: Đảng viên bị tố cáo phải giải quyết là 222 trường hợp, chiếm 2,43%
so với tổng số đảng viên trong Đảng bộ = 67,68% so với nhiệm kỳ trước, UBKT các
cấp đó giải quyết 196 trường hợp =88,23% so với số phải giải quyết, trong đó tố cáo
cấp ủy viên các cấp chiếm 49.1% UBKT huyện ủy và t ương đương giải quyết 167
trường hợp , UBKT Đảng ủy cơ sở giải quyết 29 trường hợp. Qua giải quyết cho thấy:
tố cáo đúng và đúng một phần chiếm 56,12%, chưa có căn cứ kết luận 11,22%, tố cáo
sai 32,65, tố cáo đúng có vi phạm 37,24% so với số đó giải quyết. Có 73 đảng viên vị
phạm, trong đó phải xử lý kỷ luật 45 trường hợp chiếm 61,64% so với số có vi phạm,
đó xử lý 44 trường hợp
Nội dung tố cáo chủ yếu là nguyên tắc tập trung dân chủ, việc chấp hành nghị
quyết, chỉ thị của đảng, đoàn kết nội bộ, thiếu trách nhiệm, tham ô, hối lộ nhà đất, cố ý
làm trỏi cỏc quy định, chế độ của Đảng và nhà nước, phẩm chất, lối sống.
*Giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đảng
Tổng số đảng viên khiếu nại kỷ luật Đảng là 4 trường hợp (bằng 22,22%) so với
nhiệm kỳ trước) UBKT các cấp đó giải quyết 3 trường hợp đạt 75%. Qua giải quyết,
chuẩn y giải quyết 3 trường hợp. Trong quá trỡnh giải quyết đó chỳ trọng đến công tác
tư tưởng nên đảng viên có khiếu nại tự giác chấp hành quyết định của tổ chức Đảng có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Tuy nhiên việc giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng vẫn có những vướng mắc, theo
quy định về giải quyết khiếu nại như điều lệ Đảng hiện hành gặp rất nhiều khó khăn vỡ:
Điều lệ quy định tổ chức Đảng và đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thỡ
trong vũng 1 thỏng kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp ủy, hoặc
UBKT cấp trên cho đến ban chấp hành Trung ương. Thực tế giải quyết khiếu nại có
trường hợp hỡnh thức kỷ luật khiển trỏch, cảnh cỏo nhưng đảng viên vẫn khiếu nại giai
dẳng gửi đến nhiều cấp phải giải quyết, mất nhiều thời gian cho việc giải quyết khiếu
nại.
3.5. Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy
cùng cấp
UBKT các cấp đó kiểm tra được 408 tổ chức Đảng về thu, nộp, quản lý và sử
dụng đảng phí (bằng 86,26% so với nhiệm kỳ trước) Qua kiểm tra kết luận 136 tổ chức
đảng có vi phạm, chiếm 33,33% so với tổng số được kiểm tra. Kiểm tra 8.071 đảng viên
về thu, npộp đảng phí (bằng 86,28% so với nhiệm kỳ trước). Trong đó có 1327 đảng
viên vị phạm, chiếm 16,44% so với tổng số đảng viên được kiểm tra. Số tiền thu hồi qua
kiểm ta về thu nộp đảng phí của tổ chức đảng và đảng viên là 38.476.000 đồng.
Đó tiến hành kiểm tra 10 tổ chức cơ sở đảng về thu, chi tài chính ngân sách và
sản xuất kinh doanh, kết quả kiểm tra phát hiện có sai phạm, số tiền thu hồi nộp ngân
sách là : 330.187.000 đồng
Qua kiểm tra tài chính Đảng cho thấy: UBKT các cấp chủ động xây dựng
chương trỡnh, kế hoạch kiểm tra hàng năm, có sự phối hợp chặt chẽ giữa UBKT tỉnh ủy
với UBKT các huyện, thị và Đảng ủy trực thuộc, giữa UBKT huyện , thị với UBKT
đảng ủy cơ sở. Trong quá trỡnh kiểm tra đó bỏm sỏt vào phương hướng, nhiệm vụ và
chương trỡnh cụng tỏc . Tổ chức thực hiện bảo đảm đúng quy trỡnh, nguyờn tắc và cỏc
thủ tục theo quy định của điều lệ đảng và hướng dẫn của UBKT Trung ương.
Việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra tài chính đó đánh giá đúng ưu, khuyết điểm
của các tổ chức Đảng trong việc lónh đạo và tổ chức thực hiện chủ trương chính sách tài
chính của Đảng và nhà nước. Từ đó nâng cao nhận thức cho các cấp ủy Đảng, đảng viên
trong việc quản lý và sử dụng ngõn sỏch Đảng, thực hiện tốt các nguyên tắc chế độ thu
nộp và sử dụng đảng phí, giúp cho cơ sở đảng được kiểm tra thấy rừ được thực trạng
tỡnh hỡnh hoạt động tài chính của dơn vị, có biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục
thiếu sót, khuyết điểm, bảo đảm công tác tài chính phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ chính
trị của đảng bộ. Qua đó kiến nghị xử lý những vi phạm thu hồi nộp ngân sách kịp thời
những khoản tiền vi phạm chế độ tài chính.
Tuy nhiên qua kiểm tra cho thấy: nhiều cấp ủy chưa xây dựng quy chế quản lý tài
chớnh Đảng, quản lý nguồn thu chưa chặt chẽ, chưa xây dựng được kế hoạch thu đảng
phí hàng năm. Ở một số UBKT huyện, thị, đội ngũ cán bộ kiểm tra tài chính cũn yếu
mặc dự cỏn bộ cú trỡnh độ chuyên môn bậc đại học nhưng cũng chưa tiến hành kiểm tra
được tài chính cấp ủy cùng cấp, các cuộc kiểm tra tài chính của UBKT các huyện, thị ủy
và Đảng ủy trực thuộc chủ yếu là kiểm tra đảng phí
4.Thực hiện chức năng tham mưu cho cấp ủy và nhiệm vụ cấp ủy giao.
4.1.Kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra của cấp ủy
UBKT các cấp đó tham mưu cho cấp ủy xây dựng chương trỡnh kế hoạch cụng
tỏc kiểm tra của cấp ủy trong nhiệm kỳ và hàng năm. Trên cơ sở phương hướng, nhiệm
vụ kiểm tra của từng Đảng bộ và tư tưởng chỉ đạo của cấp ủy trong thực hiện nghị
quyết, chỉ thị của cấp ủy các cấp, nhiệm vụ công tác kiểm tra của cấp ủy cấp trên. Nội
dung kiểm tra được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực phục vụ nhiệm vụ chính trị và công
tác xây dựng Đảng của địa phương.
Trong nhiệm kỳ UBKT các cấp đó phục vụ cấp ủy kiểm tra được 50 cuộc kiểm
tra với 216 tổ chức, trong đó UBKT Tỉnh ủy giúp cấp ủy kiểm tra 25 tổ chức, huyện ủy,
thị ủy và Đảng ủy trực thuộc kiểm tra 149 tổ chức, Ban thường vụ đảng ủy cơ sở kiểm
tra 39 tổ chức, nội dung kiểm tra tập trung vào những lĩnh vực như: Chấp hành cương
lĩnh chính trị, điều lệ Đảng, chỉ thị nghị quyết của Đảng 182 lượt tổ chức, thực hiện
nguyên tắc tập trung dân chủ, 146 lượt tổ chức, việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện
nghị quyết thuộc cấp mỡnh 90 lượt tổ chức, đoàn kết nội bộ 90 lượt tổ chức, kiểm tra
theo các chuyên đề khác 160 lượt tổ chức.
Thông qua kết quả kiểm tra cho thấy: Cấp ủy các cấp trong từng nhiệm kỳ đó
xỏc định đúng đối tượng, nội dung kiểm tra, thời điểm kiểm tra và thời gian tiến hành
cuộc kiểm tra. Tập trung chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể, phối hợp với UBKT các cấp
giúp cấp ủy thực hiện các cuộc kiểm tra đạt kết quả. Các cuộc kiểm tra của cấp ủy các
cấp đó cơ bản tập trung vào những nội dung trọng tâm, địa bàn trọng điểm, những nơi
đang có vấn đề nổi cộm. Phương pháp tiến hành kiểm tra đó tiến hành linh hoạt, quy
trỡnh kiểm tra của UBKT Trung ương, kết quả kiểm tra đó phục vụ kịp thời yờu cầu
lónh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ.
các cuộc kiểm tra kết luận rừ được ưu điểm, khuyết điểm và những vi phạm của tổ chức
Đảng được kiểm tra, biểu dương kịp thời những tổ chức, cá nhân làm tốt, chỉ ra những
thiếu sót, khuyết điểm cần uốn nắn, khác phục, xử lý nghiêm minh những tổ chức đảng
và đảng viên vi phạm. Đồng thời giúp cấp ủy các cấp có những chủ trương, giải pháp để
tăng cường vai trũ lónh đạo của Đảng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xó hội, hoàn
thành cỏc chỉ tiờu, nhiệm vụ mà đại hội đảng bộ các cấp đề ra.
Tuy nhiên bên cạnh đó việc thực hiện nhiệm vụ của cấp ủy cũn gặp nhiều khú khăn
và hạn chế, chưa ngang tầm với yêu cầu của công tác xây dựng, công tác kiểm tra của Đảng
trong tỡnh hỡnh hiện nay. Nhận thức của một số cấp ủy nhất là cơ sở về công tác kiểm tra
theo Điều 30 điều lệ Đảng chưa đầy đủ, vẫn cũn tỡnh trạng chưa phân định rừ phạm vi, trỏch
nhiệm kiểm tra của cấp ủy với cụng tỏc kiểm tra của UBKT đó được quy định trong Điều lệ
Đảng, chưa coi đó là nhiệm vụ trực tiếp của cấp ủy, chưa gắn lónh đạo với trách nhiệm thực
hiện nhiệm vụ kiểm tra. Có nơi đề ra chương trỡnh kế hoạch kiểm tra nhưng không thực hiện,
hoặc thực hiện không đến nơi, đến chốn, việc phân công cấp ủy viên phụ trỏch kiểm tra cũn
mang tớnh hỡnh thức, vẫn cũn tỡnh trạng nộ trỏnh, ngại khú, nội dung kiểm tra cũn dàn trải, cú
cuộc kiểm tra cũn đề ra nhiều nội dung, kiểm tra nhiều lĩnh vực, do chỉ đạo thiếu chặt chẽ, nên
thời gian kiểm tra kéo dài, kết quả đạt được không cao. Cá biệt có nơi một số cuộc kiểm tra cấp
ủy kết luận cũn chung chung, hoặc khụng cú bỏo cỏo kết quả kiểm tra, khụng ra thụng bỏo kết
luận, hoặc cú ra thụng bỏo kết luận nhưng chấp hành không nghiêm. Một số cấp ủy cơ sở chưa
xây dựng được phương hướng, nhiệm vụ công tác kiểm tra toàn khóa và chương trỡnh cụng
tỏc kiểm tra hàng năm, việc sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm về công tác kiểm tra của cấp ủy
chưa được các cấp ủy tiến hành thường xuyên.
4.2.Kết quả tham mưu cho cấp ủy về công tác kiểm tra
UBKT Tỉnh ủy Lai Châu phối hợp với ban tổ chức tỉnh ủy, tham mưu cho Ban
thường vụ tỉnh ủy chỉ định thành lập UBKT của 5 Đảng bộ trực thuộc (Cụng an – Biờn
phũng – Bộ chỉ huy quõn sự tỉnh – Đảng ủy dân chính đảng tỉnh và UBKT thị ủy thị xó
Lai Chõu). Kiện toàn bổ sung cỏn bộ lónh đạo, một số cơ quan ban, ngành tĩnh và
huyện, chuẩn bị nhân sự HĐND các cấp. UBKT các cấp phối hợp với các ban Đảng
giúp cấp ủy quán triệt và xây dựng chương trỡnh hành động thực hiện nghị quyết Hội
nghị Trung ương IX về một số chủ trương, giải pháp lớn, nhằm thực hiện thắng lợi nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X của Đảng. Kết luận Hội nghị Trung Ương X
khóa I X về chương trỡnh hành động, Nghị quyết Trưung Ương V khóa VIII. Quán triệt
học tập nghị quyết 05 của tỉnh về chương trỡnh xúa đói, giảm nghèo – việc làm giai
đoạn 2004 -2010, nghị quyết 07 của tỉnh ủy về di dân tái định cư thủy điện Sơn La.
4.3.Kết quả thực hiện các cuộc kiểm tra theo kế hoạch của Bộ Chính trị, Ban
bí thư trong nhiệm kỳ:
UBKT các cấp là lực lượng nũng cốt giỳp cấp ủy xõy dựng chương trỡnh, kế
hoạch và triển khai tổ chức thực hiện theo kế họach số 01,02,03,04,05 và kế hoạch số
240 của Bộ chính trị, Ban bí thư Trung ương, trong đó : kiểm tra theo kế hoạch số 01:
191 tổ chức, KH số 02: 294 tổ chức, KH số 03,04 : 9 tổ chức, KH 240 : 17 tổ chức.
Cấp ủy các cấp đó chấp hành nghiờm kế hoạch kiểm tra của Bộ chớnh trị, Ban bí
thư Trung ương. Tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc những nội dung
theo kế hoạch, tự xây dựng chương trỡnh, KH, lựa chọn đối tượng kiểm tra và quyết
định thành lập đoàn kiểm tra và thực hiện đúng quy trỡnh cụng tỏc kiểm tra của Đảng.
5.Công tác xây dựng ngành:
Trong nhiệm kỳ UBKT các cấp chấp hành nghiêm quy chế làm việc của cấp
mỡnh, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dõn chủ, tập thể lónh đạo, cá nhân phụ trách,
phân công rừ ngừoi, rừ việc, chủ đông xây dựng chương trỡnh, kế hoạch hoạt động cho
từng tháng, quý, năm. UBKT Tỉnh ủy đó ban hành quy định lề lối làm việc của cơ quan.
UBKT tỉnh ủy, hoạt động của UBKT và cơ quan UBKT đi vào nề nếp ngay từ ngày đầu
nhiệm kỳ. Chỉ đạo điều hành hoạt động theo chương trỡnh, kế hoạch đó đề ra, phối hợp
chặt chẽ với các Ban, ngành chức năng, để thực hiện nhiệm vụ, tổ chức các hội nghị
giao ban, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, kịp thời đưa ra những giải pháp, tổ chức
thực hiện tốt chương trỡnh, kế hoạch cụng tỏc, gúp phần nõng cao hiệu quả, chất lượng
công tác chuyên môn.
Cùng với Ban tổ chức của cấp ủy tham mưu giúp cấp ủy trong việc quy hoạch
Ủy viên UBKT và cán bộ là trưởng, phú phũng, cơ quan UBKT Tỉnh ủy.
6. Bộ máy tổ chức:
Bộ mỏy tổ chức của UBKT tỉnh ủy Lai Chõu cũn nhiều bất cập, vừa thiếu về số
lượmg, vừa hạn chế về nghiệp vụ chuyên môn, tổng số gồm 28 đồng chí, trong đó bao
gồm 1 đồng chí chủ nhiệm, 2 đồng chí phó chủ nhiệm. Bảy đồng chí là ủy viên, trong
đó có 2 đồng chí ủy viên kiêm nghiệm. Về trỡnh độ: đại học chiếm 60%, trung cấp
30%, Sơ cấp 10%. Bộ máy của UBKT gồm 3 phũng ban: Phũng hành chớnh, phũng giải
quýờt tố cỏo – khiếu nại, phũng kiểm tra tổ chức Đảng và đảng viờn. Hiện tại UBKT
tỉnh ủy Lai Chõu cũn thiếu 8 đồng chí, trong đó thiếu 2 đồng chí ủy viên .
7.Đánh giá chung, bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn
7.1 Đánh giá chung
7.1.1. Ưu điểm :
Mặc dù trong bối cảnh tỉnh mới được chia tách, đội ngũ cán bộ làm cụng tỏc
kiểm tra cỏc cấp cũn thiếu về số lượng, yếu về nghiệp vụ chuyên môn, cơ sở vật chất
cũn thiếu thốn, đời sống sinh hoạt của cán bộ cũn gặp nhiều khú kh ăn. UBKT các cấp
luôn nhận được sự lónh đạo, chỉ đạo, quan tâm của các cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo, hướng
dẫn của UBKT Trung Ương, sự phối hợp chặt chẽ giữa các Ban xây dựng Đảng. Cán bộ
kiểm tra các cấp dần dần được củng cố và kiện toàn, từng bước trưởng thành, đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ được giao’
Cấp ủy Đảng và UBKT các cấp đó tổ chức quỏn triệt và thực hiện nghiêm túc
Điều lệ Đảng, các quy định của Bộ Chính trị, Ban bí thư về công tác kiểm tra và thi
hành kỷ luật trong Đảng. Xác định rừ trỏch nhiệm của tổ chức và cỏ nhõn, trong lónh
đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra. Chủ động xây dựng phương
hướng, nhiệm vụ và chương trỡnh, kế hoạch cụng tỏc kiểm tra cú trọng tõm, trọng điểm
đạt chất lượng, hiệu quả, thực hiện khá toàn diện các nhiệm vụ theo quy định của Điều
lệ Đảng.
UBKT các cấp trong nhiệm kỳ đó tớch cực, chủ động tham mưu cho cấp ủy,
thực hiện điều 32 Điều lệ Đảng và thực hiện tốt nhiệm vụ cấp ủy giao, các cuộc kiểm tra
do UBKT chủ trỡ đều được cấp ủy đánh giá có chất lượng, đạt hiệu quả. Phối hợp chặt
chẽ với các Ban Xây dựng Đảng, văn phũng cấp ủy và cỏc ngành trong khối nội chớnh,
phục vụ cấp ủy lónh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công tác
chính trị xây dựng Đảng , của Đảng bộ trong nhiệm kỳ .
Trong quỏ trỡnh thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, UBKT cỏc cấp trong tỉnh đó cú sự
đổi mới về phương pháp công tỏc, nhỡn chung chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm
tra đươc nâng lên, khẳng định được vị trí, tác dụng công tác kiểm tra của Đảng, được
cấp ủy tin cậy và góp phần tích cực vào nhiệm vụ chính trị ở địa phương
Công tác kiểm tra và cán bộ làm công tác kiểm tra trong tỉnh: Hoạt động có
nhiều thuận lợi, nhưng không ít khó khăn phức tạp, song về cơ bản đội ngũ làm công tác
kiểm tra các cấp trong tỉnh luôn phát huy tinh thần trách nhiệm, tận tụy với công việc,
giữ gỡn phẩm chất, đạo đức cách mạng, có lối sống trong sạch, lành mạnh, đoàn kết, kỷ
luật.
UBKT các cấp thực hiện nghiêm túc việc tổng kết, công tác kiểm tra nhiệm kỳ,
sơ kết, tổng kết công tác kiểm tra hàng năm, sơ kết các chuyên đề thuộc nhiệm vụ của
UBKT. Chỉ đạo cấp ủy, UBKT cấp dưới thực hiện tốt nhiệm vụ công tác kiểm tra theo
quy định của Điều lệ Đảng. Phối hợp giải quyết kịp thời đơn thư tố cáo đối với tổ chức
Đảng và đảng viên, giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đảng và các nhiệm vụ phức tạp.
UBKT các cấp đó chấp hành nghiờm chế độ thông tin báo cáo, đảm bảo việc
tổng hợp báo cáo cấp ủy và UBKT Trung Ương kịp thời .
6.1.2. Khuyết điểm
Một số cấp ủy Đảng chưa quan tâm lónh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện
nhiệm vụ kiểm tra, cũn cho rằng nhiệm vụ kiểm tra là của UBKT . Một số UBKT
huyện, thị cũn thiếu chủ động trong xây dựng chương trỡnh, kế hoạch kiểm tra hàng
năm. Nhiệm vụ trọng tâm kiểm tra của tổ chức Đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm
cũn ớt, đối tượng kiểm tra chủ yếu là do cấp dưới quản lý, chưa tập trung kiểm tra cấp
ủy viên cùng cấp và cỏn bộ thuộc diện cấp ủy, cỏc cấp quản lý, một số cuộc kiểm tra
xỏc định nội dung cũn chung chung, giàn trải, kết luận cũn thiếu cụ thể, thiếu tớnh
thuyết phục, cụng tỏc kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm chưa đều giữa các
đơn vị .
Việc xử lý kỷ luật đảng viên và giải quyết tố cáo một số vụ chưa kịp thời.
Công tác tham mưu cho cấp ủy xác định các cuộc kiểm tra cũn nhiều hạn chế,
nội dung đối tượng rộng. Có cuộc kiểm tra đó được xác định trong chương trỡnh kế
hoạch nhưng không thực hiện, chất lượng một số cuộc kiểm tra chưa cao, chưa chủ
động phối hợp với các cơ quan Đảng và các ngành bảo vệ pháp luật để thực hiện quy
chế phối hợp. Tổ chức bộ máy UBKT các cấp chưa ổn định, đội ngũ cán bộ cũn thiếu về
số lượng và yếu về chuyên môn, nghiệp vụ,
Một số UBKT và cấp ủy chưa tích cực đôn đốc thực hiện kết luận sau kiểm tra.
Chấp hành chế độ thông tin báo cáo chưa kịp thời, chưa đảm bảo nội dung báo cáo theo
quy định.
6.1.3. Nguyên nhân
* Ưu điểm
UBKT tỉnh luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo, của các cấp ủy Đảng và sự
hướng dẫn, chỉ đạo của UBKT Trung ương. Sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan ban
ngành, đoàn thể các cấp. UBKT các cấp đó đẩy mạnh phong trào thi đua, đoàn kết khắc
phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ với trách nhiệm cao. Ngay từ đầu nhiệm
kỳ UBKT Tỉnh ủy chủ động chỉ đạo UBKT các cấp tham mưu cho cấp ủy kiện toàn tổ
chức xây dựng chương trỡnh, kế hoạch cụng tỏc kiểm tra, đảm bảo công tác thực hiện
theo đúng quy định của điều lệ đảng.
UBKT các cấp đó chủ động triển khai và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra
hàng năm, quý, bỏm sỏt phương hướng, nhiệm vụ chương trỡnh cụng tỏc kiểm tra đó đề
ra. Kết quả đạt được đó gúp phần tớch cực vào việc ổn định tỡnh hỡnh và hoàn thành
nhiệm vụ chớnh trị của địa phương.
*Khuyết điểm :
Một số UBKT huyện, thị cũn lỳng tỳng trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, nhất
là kiểm tra đảng viên và tổ chức Đảng khi có dấu hiệu vi phạm. Một số cấp ủy ch ưa
quan tâm lónh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra . Đội ngũ cán bộ làm cụng tỏc kiểm tra
cũn thiếu, yếu về chuyên môn, nhất là UBKT cơ sở.
Kết quả một số cuộc kiểm tra chưa cao, chưa có tính thuyết phục, kết luận cũn
chung chung, chưa chỉ rừ được cái đúng, cái sai, cho đối tượng được kiểm tra
chương III
một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của UBKT tỉnh ủy Lai
Châu
trong giai đoạn mới
1.Tăng cường công tác giáo dục: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, nâng cao ý thức trách
nhiệm của cán bộ, đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng về công tác kiểm tra , thực hiện quy
chế phối hợp, tạo điều kiện cho UBKT các cấp hoạt động. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
biểu dương người tốt việc tốt trong các lĩnh vực công tác, đời sống, kiên quyết đấu tranh với
những quan điểm sai trái, tư tưởng cơ hội, thực dụng, những biểu hiện của lối sống ích kỷ, vụ
lợi trong cán bộ, đảng viên công chức viên chức và người lao động
Công tác kiểm tra là một trong những chức năng lónh đạo chủ yếu của Đảng, một
trong những bộ phận của toàn bộ công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ thường xuyên
của mọi đảng viên, mọi cấp ủy. Thực tế cho thấy: những Đảng bộ đồng chí lónh đạo, bí
thư, cấp ủy, thường vụ quan tâm đến công tác kiểm tra thỡ tỡnh hỡnh ổn định, chính trị
xó hội ở đó tốt, công tác kiểm tra có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng đảng viên
và tổ chức Đảng.
Khi tiến hành công tác kiểm tra, phải xuất phát từ mục đích chính trị, tăng cường công
tác giáo dục đảng viên, phũng ngừa khụng để đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý. Trong
cụng tỏc kiểm tra lấy xõy là chớnh, xõy là chủ yếu, chống là cần thiết. Kỷ luật nghiờm minh
khụng cú nghĩa là cú hỡnh thức kỷ luật mới nghiờm minh, điều cơ bản là phải đúng người,
đúng tội vi phạm, vỡ kỷ luật Đảng mang tính giáo dục là chủ yếu, vỡ mục đích kiểm tra là phục
vụ thắng lợi nhiệm vụ chính trị và xây dựng chi bộ trong sạch vững mạnh , nâng cao năng lực
lónh đạo của tổ chức Đảng.
Cấp ủy cỏc cấp phải tiếp tục quỏn triệt nõng cao nhận thức về vai trũ, ý nghĩa, tầm quan
trọng của cụng tỏc kiểm tra để nhận thức đúng “ Kiểm tra là một trong những chức năng lónh
đạo của Đảng”. Hoạt đông kiểm tra của Đảng là công tác Đảng, là nhiệm vụ trực tiếp thường
xuyên của toàn Đảng, của các tổ chức Đảng và đảng viên , nhưng trước hết là của cấp ủy, ban
thường vụ cấp ủy các cấp .
Việc nâng cao nhận thức về công tác kiểm tra của cấp ủy, sự tăng cường chỉ đạo
của UBKT Tỉnh ủy Lai châu đó tạo điều kiện thuận lợi cho UBKT các cấp hoạt động,
làm cho đảng viên, tổ chức đảng được kiểm tra không mặc cảm với cán bộ kiểm tra và
giúp họ nhận thức đúng đắn về công tác kiểm tra, làm tốt công tác vận động quần chúng
để quần chúng tham gia xây dựng Đảng, cung cấp thông tin, thuận lợi cho cán bộ kiểm
tra, trong lúc thẩm tra xác minh những bằng chứng để có kết luận khách quan, trung
thực.
2. Phải xây dựng chương trỡnh, kế hoạch nội dung các cuộc kiểm tra :
Trên cơ sở nội dung định hướng về công tác kiểm tra của cấp ủy và UBKT các cấp
trong nhiệm kỳ, Ban thường vụ cấp ủy, xây dựng chương trỡnh kế hoạch cụng tỏc kiểm
tra của cấp mỡnh trong từng thời gian, phự hợp với tỡnh hỡnh thực tiễn của Đảng bộ.
Đồng thời chỉ đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trỡnh, kế hoạch kiểm tra đó
Chương trỡnh kế hoạch kiểm tra phải xỏc định được mục tiêu, yêu cầu, nội dung
và đối tượng kiểm tra. Nội dung kiểm tra phải có trọng tâm, trọng điểm, đi sâu vào việc
chấp hành chủ trương, chỉ thị nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước,
những vấn đề bức xúc nổi cộm mà dư luận đang quan tâm. Đơn thư khiếu nại, tố cáo
của công dân. Đối tượng kiểm tra chủ yếu là cấp ủy cấp dưới trực tiếp và cỏn bộ thuộc
diện cấp mỡnh quản lý.
Thường xuyên quan tâm lónh đạo, chỉ đạo UBKT các cấp thực hiện chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của UBKT, tạo điều kiện để UBKT vừa là cơ quan tham mưu cho
cấp ủy, vừa là cơ quan thực hiện tốt điều lệ Đảng quy định, nhiệm vụ cấp ủy giao.
Kịp thời bổ sung, sửa đổi những nội dung chưa được đề cập, những nội dung cũn
bất hợp lý trong quy chế hoạt động của UBKT với các ngành trong khối nội chính và
trong chương trỡnh kế hoạch cụng tỏc kiểm tra của cấp ủy.
3. Làm tốt việc ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn hoạt động gắn với đặc
điểm vùng.
Trên cơ sở chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước
cấp ủy các cấp tập trung lónh đạo, chỉ đạo vận dụng vào thực tiễn của địa phương, nhất
là vận dụng công tác kiểm tra và việc thi hành kỷ luật trong Đảng đối với đảng viên là
người dân tộc thiểu số, đảng viên già làng, trưởng bản, đảng viên công tác vùng sâu,
vùng xa, vùng biên giới, hải đảo
Tổ chức biên soạn và ban hành các quy định, quyết định hướng dẫn thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của cấp ủy và UBKT từ huyện đến cơ sở . Đảm bảo ngắn gọn, dễ
hiểu, sát thực tế, đúng với quy định của điều lệ đảng và hướng dẫn của Ban bí thư và
UBKT Trung ương, để cấp ủy và UBKT cơ sở dễ tổ chức thực hiện .
4.Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, nắm tỡnh hỡnh cơ sở
Thực hiện công tác kiểm tra của Đảng phải xuất phát từ tỡnh hỡnh thực hiện
nhiệm vụ chớnh trị và cụng tỏc xõy dựng Đảng trong từng thời gian của Đảng bộ. Nắm
vững và thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo công tác kiểm tra của Đảng là “ Chủ động, chiến
đấu, giáo dục, hiệu quả".
Nắm vững những vấn đề cơ bản của công tác kiểm tra của Đảng là : Dựa vào tổ
chức Đảng, phát huy tinh thần tự giác của tổ chức Đảng và đảng viên, kết hợp chặt chễ
công tác kiểm tra của Đảng với thanh tra nhà nước, thanh tra ngành và công tác kiểm tra
của các đoàn thể chính trị xó hội.
Thực hiện tốt cỏc hỡnh thức kiểm tra như: “ Kiểm tra thường xuyên, kiểm tra
định kỳ, kiểm tra bất thường, kiểm tra theo chương trỡnh, kế hoạch" Cấp ủy phải trực
tiếp lónh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra theo đúng
chương trỡnh đó được xác định, phân công cấp ủy và tổ chức các cuộc kiểm tra cho
phù hợp, phải gắn kiểm tra tổ chức Đảng với kiểm tra đảng viên, kiểm tra toàn diện gắn
với chỉ đạo kiểm tra điểm trên địa bàn của tỉnh để rút kinh nghiệm trong việc lónh đạo,
chỉ đạo của cấp ủy.
Ủy ban kiểm tra các cấp trong tỉnh phải thực hiện toàn diện các nhiệm vụ do điều
lệ Đảng quy định. Trong đó xác định kiểm tra tổ chức Đảng và đảng viên cấp dưới khi
có dấu hiệu vi phạm là nhiệm vụ trọng tâm, chú trọng kiểm tra những đảng viên là cán
bộ thuộc diện cấp ủy các cấp quản lý và cấp ủy viờn cựng cấp, những tổ chức Đảng yếu
kém, mất đoàn kết, có nhiều vụ việc phức tạp và đơn tố cáo
Khi tiến hành công tác kiểm tra, phải luôn nắm vững và thực hiện đúng phương
hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục và quy định , lấy thẩm tra xác minh làm khâu
quan trọng để xem xét các vụ việc một cách công tâm, khách quan. Coi trọng việc sơ
kết, tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời từng vụ, việc đó làm, để nâng cao chất lượng,
hiệu quả các cuộc kiểm tra.
UBKT các cấp phải nâng cao tính chính xác của kết luận kiểm tra, kết luận
kiểm tra phải bao gồm cả chủ trương xử lý, phải đạt lý, thấu tỡnh, phải núi đúng mức độ
của sự việc, của khuyết điểm, để đánh giá đúng bản chất của sự việc, từ đó mới quyết
định đúng đắn cách xử lý. Khi đó cú kết luận kiểm tra, việc xử lý phải nghiờm minh,
cỏc trường hợp sai phạm cả về Đảng lẫn chính quyền. Phải theo dừi việc thực hiện kết
luận kiểm tra Bên cạnh đó phải phát huy tốt kết quả kiểm tra, để làm cho công tác kiểm
tra có hiệu quả hơn, có tác động lớn hơn vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, vào
việc ngăn chặn và khắc phục những vi phạm, các biểu hiện tiêu cực .và khắc phục hậu
quả của các vi phạm đó.
Ngoài việc tổ chức thực hiện tốt cụng tỏc kiểm tra của cấp mỡnh, UBKT tỉnh ủy
cần thường xuyên nắm vững tỡnh hỡnh hoạt động của UBKT các huyện thị, phát hiện
những sai phạm của cấp dưới, để kịp thời chấn chỉnh, không để sai phạm xảy ra, làm
giảm uy tín của Đảng nói chung, của UBKT nói riêng.
Phải kiểm tra xem các cuộc kiểm tra của cấp dưới nội dung đó đúng trọng tâm,
trọng điểm của địa bàn chưa? Phương pháp tiến hành kiểm tra đó bỏm sỏt đúng theo
quy trỡnh mà UBKT Trung Ương hướng dẫn hay chưa? Kết quả kiểm đó phục vụ kịp
thời yờu cầu lónh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng
của Đảng bộ chưa? Việc giải quyết dơn thư khiếu nại , tố cáo đó kịp thời chưa, giải
quyết có hợp long dân hay không ? đồng thời hướng dẫn, giúp UBKT kiểm tra cấp dưới
giải quyết những vấn đề cũn vướng mắc.
5. Phải xây dựng và ban hành quy chế làm việc của UBKT:
Xây dựng và ban hành quy chế hoạt động cho UBKT cấp mỡnh, quy chế phối
hợp giữa UBKT và các ban làm công tác xây dựng Đảng, UBKT với cơ quan trong khối
nội chính, trong quy chế phải làm rừ vai trũ, trỏch nhiệm, nhiệm vụ và mối quan hệ của
mỗi cơ quan khi tham mưu giúp cấp ủy thực hiện công tác kiểm tra, đảm bảo cơ quan
nào cũng chủ động được phần việc của mỡnh, trỏnh chồng chộo.
Định kỳ nghe UBKT và cấp ủy cấp dưới báo cáo tỡnh hỡnh thực hiện nhiệm vụ
công tác kiểm tra theo quy chế. Cho ý kiến lónh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra trong
thời gian tới, giải quyết kịp thời những đề xuất, kiến nghị của cấp ủy và UBKT cấp dưới
về công tác kiểm tra của Đảng.
6. Kiện toàn bộ máy tổ chức: Cấp ủy cần thường xuyên quan tâm xây dựng và
kiện toàn đội ngũ cán bộ kiểm tra, đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng, có năng lực
trỡnh độ, nghiệp vụ chuyên môn, có tâm huyết với công tác kiểm tra, có phẩm chất, lối
sống trong sạch, lành mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định, có tính chiến
đấu cao, trung thực khách quan, công tâm khi xem xét những vụ việc. Thường xuyên
quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chớnh trị, chuyờn mụn nghiệp vụ,
quản lý nhà nước…. để tạo điều kiện cho cán bộ nâng cao trỡnh độ nhận thức về mọi
mặt, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ mới trong giai đoạn hiện nay.
Các cấp ủy phải trực tiếp làm công tác kiểm tra, quan tâm tạo điều kiện thuận lợi
cho UBKT hoạt động , tăng cường vai trũ trỏch nhiệm của cỏc ban xây dựng Đảng, các
ngành chức năng tham gia vào công tác kiểm tra của Đảng.
Cần quan tâm đến trang bị cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, chế độ đói ngộ dối với
UBKT, cú như vậy mới tạo điều kiện cho UBKT hoàn thành tốt nhiệm vụ của mỡnh.
Kiến nghị và kết luận
I. kiến nghị:
Qua thời gian thực hiện Điều lệ Đảng khóa IX và từ thực tiễn hoạt động công tác
kiểm tra, để tạo điều kiện cho UBKT và đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp hoàn thành
nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay, bản thân tôi xin có một số kiến nghị sau:
1. Đối với Trung ương
1.1. Cần tăng cường tổ chức bộ máy UBKT cả về số lượng và chất lượng, về
biên chế cơ quan giúp việc UBKT các cấp. Tạo điều kiện về vật chất, cơ chế chính sách,
chế độ cho cán bộ kiểm tra các cấp, để cơ quan kiểm tra hoàn thành nhiệm vụ một cách
thuận lợi.
1.2. Cần có quy định thống nhất giữa kỷ luật về Đảng với kỷ luật chính quyền,
đảng viên vi phạm phải thi hành kỷ luật Đảng đồng thời phải xử lý kỷ luật về chớnh
quyền và ngược lại. Hiện nay vấn đề trên xử lý chưa đồng bộ, có những trường hợp xử
lý về Đảng, nhưng về chính quyền không xử lý, do đó phần nào đó ảnh hưởng đến lũng
tin của quần chỳng nhõn dõn.
1.3. UBKT Trung ương cần tăng cường mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên
môn cho cán bộ làm công tác kiểm tra các cấp và tham mưu cho Ban bí thư Trung ương
hướng dẫn sơ kết, tổng kết công tác kiểm tra của cấp ủy
2. Đối với địa phương:
2.1. Thường xuyên quan tâm đến công tác giáo dục tư tưởng, tổ chức học tập các
chỉ thị, nghị quyết, chế độ, chính sách của Đảng và nhà nước, để tạo điều kiện cho đảng
viên nói chung và cán bộ UBKT nói riêng nắm vững đường lối, chính sách, nguyên tắc
Đảng, pháp luật, cơ chế, chính sách của nhà nước để tránh được những sai phạm trong
quá trỡnh tổ chức thực hiện.
2.2. Cần chú ý đến công tác đào tạo và đào tạo lại cho cán bộ của UBKT, định
hướng công tác đào tạo, bồi dưỡng, từng bước tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, nhằm đáp
ứng đũi hỏi của thời kỳ cỏch mạng mới. Tuy nhiờn so với yờu cầu thỡ cụng tỏc kiểm tra
và kỷ luật đảng vẫn phải được coi trọng và thực hiện có hiệu quả hơn thỡ mới gúp phần
xõy dựng, chỉnh đốn đảng, thật sự trong sạch, vững mạnh, đầy đủ khả năng lónh đạo, sự
nghiệp đổi mới đi đến thắng lợi.
2.4 Các cấp ủy Đảng, các đồng chí lónh đạo chủ chốt của cấp ủy phải coi trọng
công tác kiểm tra, thường xuyên có ý kiến chỉ đạo công tác kiểm tra, đề ra yêu cầu đối
với cơ quan kiểm tra của Đảng và định kỳ kiểm tra việc thực hiện .UBKT Tỉnh ủy cũng
như UBKT các huyện thị khi xây dựng quy chế làm việc cần chú ý đến công tác giữ bí
mật đối với các trường hợp tố cáo, cần có sự phối kết hợp chặt chẽ với các sở ban ngành
(Tài chính, kho bạc, ngân hàng … ) để từ đó nắm bắt kịp thời những vi phạm của cán bộ
đảng viên
2.5. Kết quả các cuộc kiểm tra của UBKT cần phải được thụng bỏo rộng rói trờn
cỏc phương tiện thông tin đại chúng, từ đó để cán bộ, đảng viên và nhân dân cùng được
biết, tạo điều kiện cho họ được theo dừi, giỏm sỏt, để cũng cố lũng tin của quần chỳng
nhõn đối với sự lónh đạo của Đảng
2. kết luận:
Từ lý luận và thực tiễn đó khẳng định vị trí, ý nghĩa tầm quan trọng của công tác
kiểm tra của Đảng, không thể nói có Đảng mà không có công tác kiểm tra. Tăng cường
công tác kiểm tra của Đảng là nhiệm vụ quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng
Đảng và tăng cường sức mạnh, uy tín của Đảng như thế nào một phần phụ thuộc vào
công tác kiểm tra làm tốt hay chưa tốt.
Vị trớ, ý nghĩa ấy bao hàm đầy đủ, sâu sắc ở UBKT các cấp. Hiện trạng hoạt
động của UBKT các cấp nhỡn chung chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và
chỉnh đốn Đảng, chưa ngang tầm và cũn khụng ớt những vấn đề khó khăn vướng mắc
đó ảnh hưởng và hạn chế đến kết quả chung trong công tác kiểm tra của Đảng .
Ở Đảng bộ tỉnh Lai Châu cũng nằm trong bối cảnh chung đó và càng đáng suy
nghĩ hơn vỡ ở địa bàn Lai Châu có nhiều khó khăn về điều kiện kinh tế, chính trị, văn
hóa , xó hội , … do đó hoạt động của UBKT đó khú khăn lại càng khó khăn hơn, trước
tỡnh hỡnh đó đũi hỏi UBKT Tỉnh ủy Lai Chõu càng phải cố gắng nhiều hơn nữa có như
vậy mới hoàn thành tốt nhiệm vụ mà cấp trên giao phó, góp phần tích cực vào cuộc đấu
tranh chống quan liêu, tham nhũng, lóng phớ tiờu cực, vào việc tăng cường kỷ luật, kỷ
cương của Đảng, vào công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng nói chung./.
Tài liệu tham khảo
1. Các Mác : Tư bản, quyển 1, phần 1. NXB ST. Hà Nội. 1960
2. Văn kiện Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb CTQG, Hà Nội 1996
3. V.I. Lênin toàn tập, bản tiếng Việt, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mát xcơva, 1978
4. Văn kiện Đại hội VI, Nxb ST, Hà Nội, 1987
5. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 45, Nxb sự thật , Hà Nội 1985.
6. Hồ Chí Minh xây dựng Đảng, Nxb sự thật, Hà Nội 1980.
7. Báo cáo tổng kết công tác kiểm tra của UBKT Tỉnh ủy Lai Châu 2001- 2005
8. Tạp chí kiểm tra số 3, số 8, số 12 năm 2005
9. Bài giảng của các giảng viên Học viện chính trị khu vực I
10. Giỏo trỡnh xõy dựng Đảng – học viện chính trị khu vực I
11. Đề tài khoa học số 0646 của huyện An Lóo thành phố Hải phũng
12. Một số tạp chí khác

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản