Luận văn - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng

Chia sẻ: Nguyenthi Mai | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:76

0
325
lượt xem
158
download

Luận văn - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong những năm vừa qua, các hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam đã đạt được những thành công đáng kể. Với những chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước là xây dựng một nền kinh tế mở, đa phương hoá đa dạng hoá quan hệ đối ngoại mà chủ yếu là các quan hệ thương mại đặc biệt là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn - Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng

  1. Luận văn Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng
  2. 2 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP. 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHẬP KHẨU. 1.1. Khái niệm hoạt động kinh doanh nhập khẩu. 1.2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh nhập khẩu. 1.3. Phân loại nhập khẩu. 1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu 1.5.Vai trò của kinh doanh nhập khẩu. 2. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH NHẬP KHẨU TẠI DOANH NGHIỆP. 2.1. Nghiên cứu thị trường. 2.2. Lập phương án kinh doanh. 2.3. Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng. 2.4. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu. 3.CÁC KHÁI NIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ. 3.1Các quan đIểm hiệu quả. 3.2Sự cần thiết nâng cao hiệu quả. 3.3Nâng cao hiệu quả. CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY VẬT TƯ K Ỹ THUẬT NGÂN HÀNG. 1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY. 1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty. 1.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy điều hành của công ty. 1.3. Chức năng và nhiệm vụ của Công ty. 1.4. Đặc điểm về thị trường và khách hàng của Công ty. 1.5. Đặc điểm về sản phẩm của Công ty. 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT NGÂN HÀNG. 2.1. Tổ chức giao dịch ký kết hợp đồng 2.2. Tổ chức thực hiện các hợp đồng. 2.3. Thị trường nhập khẩu của Công ty. 2.4. Kết quả hoạt động nhập khẩu của Công ty. 2.5. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. 2.6. Đánh giá chung về hoạt động nhập khẩu của Công ty. CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY VẬT TƯ K Ỹ THUẬT NGÂN HÀNG. 1. Những quan điểm và định hướng kinh doanh của Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng. Khoa QTKD
  3. 3 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp 2. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng 3. Kiến nghị. KẾT LUẬN Khoa QTKD
  4. 4 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp LỜI M Ở ĐẦU Trong những năm vừa qua, các hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam đã đạt được những thành công đáng kể. Với những chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước là xây dựng một nền kinh tế mở, đa phương hoá đa dạng hoá quan hệ đối ngoại mà chủ yếu là các quan hệ thương mại đặc biệt là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu. Việc phát triển quan hệ ngoại thương được xem là mũi nhọn chiến lược chủ đạo trong chương trình phát triển dài hạn và toàn diện của đất nước. Những định hướng cơ bản hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển chung trên bình diện quốc gia và quốc tế, nó đã nhanh chóng đưa nền kinh tế nước ta hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới. Quan hệ ngoại thương giữa nước ta với các nước trên thế giới không ngừng tăng lên cả về chất và lượng. Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật công nghệ thông tin. Việc đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu là một hướng đi hoàn toàn đúng đắn để phát triển kinh tế đất nước, tránh được tụt hậu về kinh tế và tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế một cách toàn diện và sâu sắc. Cùng với sự phát triển của quá trình giao lưu thương mại, hoạt động xuất nhập khẩu của nước ta nhìn chung đã đạt được những thành tựu đáng kể, trong đó Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng đã và đang góp phần tạo nên thành công đó. Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng là một đơn vị đầu mối về nhập khẩu các thiết bị chuyên dùng của ngành Ngân hàng phục vụ cho việc hiện đại hoá hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam. Trong những năm qua Công ty đã thực hiện nhập khẩu một cách có hiệu quả để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế, qua đó tạo được uy tín của Công ty đối với thị trường trong nước và quốc tế Khoa QTKD
  5. 5 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay vừa mở ra những cơ hội mới cho doanh nghiệp nhưng cũng đồng thời nó cũng chứa đựng những rủi ro lớn. Vì vậy nó đòi hỏi các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường quốc tế ngày càng phải tự hoàn thiện mình, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để đảm bảo doanh nghiệp có thể tồn tại được. Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh cang trở nên bức thiết và quan trọng hơn bao giờ hết. Qua thực trạng hoạt động của Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng trong những năm qua được ghi nhận trong những năm qua trong quá trình thực tập kết hợp với những kiến thức em đã học được tại Trường Đại học em xin mạnh dạn chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng”. Đề tài đề cập đến một số ngiệp vụ kinh doanh nhập khẩu hiện nay đang được sử dụng trong giao dịch ngoại thương tại Việt nam. Cụ thể là các phương pháp giao dịch, các chứng từ liên quan đến giao dịch ngoại thương. Qua đó giúp ta có thể hình dung và nắm bắt được những điều cơ bản phải làm trước khi tiến hành một giao dịch kinh doanh. Thông qua phân tích tình hình kinh doanh nhập khẩu tại Công ty Vật tư Ngân hàng rút ra những nhận xét đánh giá, từ đó đưa ra những giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu tại Công ty Vật tư Ngân hàng nói riêng và các công ty xuất nhập khẩu nói chung. Trong đề án này được chia làm ba phần sau: Phần 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động nhập khẩu và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu trong các doanh nghiệp. Khoa QTKD
  6. 6 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp Phần 2: Thực trạng về tình hình hoạt động kinh doanh nhập khẩu tại Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng. Phần 3: Một số phương hướng và biện pháp nhăm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng. Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị phòng kinh doanh XNK- Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, nghiên cứu thực tập đạt kết quả tốt. Xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn - Tiến sỹ Vũ Quang Thọ đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chuyên đề này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do vấn đề đặt ra phức tạp trong khi quỹ thời gian nghiên cứu hạn chế nên khó tránh khỏi thiếu sót. Rất mong sự đóng góp ý kiến nhận xét của thầy, cô giáo. Xin trân trọng cảm ơn ! Hà nội, tháng 5 năm 2004. Sinh viên Khoa QTKD
  7. 7 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP. 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHẬP KHẨU. 1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu. 1.1.1.Khái niệm về n hập khẩu. Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá lấy tiền tệ là môi giới. Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chức bên trong và bên ngoài. Nếu xét trên phạm vi hẹp thì tại Điều 2 Thông tư số 04/TM-ĐT ngày 30/7/1993 của Bộ Thương mại định nghĩa: “ Kinh doanh nhập khẩu thiết bị là toàn bộ quá trình giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán thiết bị và dịch vụ có liên quan đến thiết bị trong quan hệ bạn hàng với nước ngoài ”. Vậy thực chất kinh doanh nhập khẩu ở đây là nhập khẩu từ các tổ chức kinh tế, các Công ty nước ngoài, tiến hành tiêu thụ hàng hoá, vật tư ở thị trường nội địa hoặc tái xuất với mục tiêu lợi nhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia với nhau. Mục tiêu hoạt động kinh doanh nhập khẩu là sử dụng có hiệu quả nguồn ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị kỹ thuật và dịch vụ phục vụ cho quá trình Khoa QTKD
  8. 8 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp tái sản xuất mở rộng, nâng cao năng suất lao động, tăng giá trị ngày công, và giải quyết sự khan hiếm hàng hoá, vật tư trên thị trường nội địa. Mặt khác, kinh doanh nhập khẩu đảm bảo sự phát triển ổn định của các ngành kinh tế mũi nhọn của mỗi nước mà khả năng sản xuất trong nước chưa đảm bảo vật tư, thiết bị kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển, khai thác triệt để lợi thế so sánh của quốc gia, góp phần thực hiện chuyên môn hoá trong phân công lao động quốc tế, kết hợp hài hoà và có hiệu quả giữa nhập khẩu và cải thiện cán cân thanh toán. thiện cán cân thanh toán quốc tế . 1.2. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh nhập khẩu. Hoạt động nhập khẩu là hoạt động phức tạp so với hoạt động kinh doanh trong nước. Hoạt động nhập khẩu có những đặc điểm sau: - Hoạt động nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật như điều ước quốc tế và Ngoại thương, luật quốc gia của các nước hữu quan, tập quán Thương mại quốc tế. - Các phương thức giao dịch mua bán trên thị trường quốc tế rất phong phú: Giao dịch thông thường, giao dịch qua trung gian, giao dịch tại hội chợ triển lãm. - Các phương thức thanh toán rất đa dạng: nhờ thu, hàng đổi hàng, L/C... - Tiền tệ dùng trong thanh toán thường là ngoại tệ mạnh có sức chuyển đổi cao như : USD, bảng Anh... - Điều kiện cơ sở giao hàng: có nhiều hình thức nhưng phổ biến là nhập khẩu theo điều kiện CIF, FOB... - Kinh doanh nhập khẩu là kinh doanh trên phạm vi quốc tế nên dịa bàn rộng, thủ tục phức tạp, thời gian thực hiện lâu. Khoa QTKD
  9. 9 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp - Kinh doanh nhập khẩu phụ thuộc vào kiến thức kinh doanh, trình độ quản lý, trình độ nghiệp vụ Ngoại thương, sự nhanh nhạy nắm bắt thông tin. - Trong hoạt động nhập khẩu có thể xảy ra những rủi ro thuộc về hàng hoá. Để đề phong rủi ro, có thể mua bảo hiểm tương ứng. - Hoạt động nhập khẩu là cơ hội để các doanh nghiệp có quốc tịch khác nhau hợp tác lâu dài. Thương mại quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ kinh tế - chính trị của các nước xuất khẩu, góp phần phát triển kinh tế đối ngoại. 1.3. Phân loại nhập khẩu. Dưới đây là một số loại hình nhập khẩu cơ bản và phổ biến nhất: 1.3.1. Nhập khẩu trực tiếp. Theo cách thức này, bên mua và bên bán trực tiếp giao dịch với nhau, việc mua và việc bán không ràng buộc nhau. Bên mua có thể chỉ mua mà không bán, bên bán có thể chỉ bán mà không mua. Hoạt động chủ yếu là doanh nghiệp trong nước nhập khẩu hàng hoá, vật tư ở thị trường nước ngoài đem về tiêu thụ ở thị trường trong nước. Để tiến tới ký kết hợp đồng kinh doanh nhập khẩu, doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ nhu cầu nhập khẩu vật tư, thiết bị trên thị trường nội địa, tính toán đầy đủ các chi phí đảm bảo kinh doanh nhập khẩu có hiệu quả, đàm phán kỹ lưỡng về các điều kiện giao dịch với bên xuất khẩu, thực hiện theo hành lang pháp lý quốc gia cũng như thông lệ quốc tế. Đặc điểm: Được tiến hành một cách đơn giản. Bên nhập khẩu phải nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác, ký kết hợp đồng và thực hiện theo đúng hợp đồng, phải tự bỏ vốn, chịu mọi rủi ro và chi phí giao dịch, nghiên cứu, giao nhận, kho bãi cùng các chi phí có liên quan đến tiêu thụ hàng háo, thuế nhập khẩu... 1.3.2. Nhập khẩu uỷ thác. Khoa QTKD
  10. 10 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp Theo quyết định số 1172/TM/XNK ngày 22/9/1994 của Bộ trưởng Bộ Thương Mại về việc ban hành” Quy chế XNK uỷ thác giữa các pháp nhân trong nước” đã định nghĩa như sau: Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động dịch vụ thương mại dưới hình thức nhận làm dịch vụ nhập khẩu. Hoạt động này được làm trên cơ sở hợp đồng uỷ thác giữa các doanh nghiệp phù hợp với những quy định của pháp lệnh hợp đồng kinh tế. Như vậy, hợp đồng uỷ thác nhập khẩu được hình thành giữa các doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu một loại vật tư, thiết bị nào đó nhưng lại không được phép nhập khẩu trực tiếp hoặc gặp khó khăn trong việc tìm kiếm bạn hàng, thực hiện thủ tục uỷ thác nhập khẩu cho doanh nghiệp có chức năng thương mại quốc tế tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải cung cấp cho bên uỷ thác các thông tin về thị trường, giá cả, khách hàng, những điều kiện có liên quan đến đơn hàng uỷ thác thương lượng đàm phán và ký kết hợp đồng uỷ thác. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành làm các thủ tục nhập khẩu và được hưởng phần thù lao gọi là phí uỷ thác. Đặc điểm: Doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ nhập khẩu uỷ thác không phải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch, không phải tìm kiếm thị trường tiêu thụ hàng nhập, giá trị hàng nhập chỉ được tính vào kim ngạch XNK không được tính vào doanh thu. Khi nhận uỷ thác phải làm hai hợp đồng: Một hợp đồng mua bán hàng hoá, vật tư với nước ngoài và một hợp đồng uỷ thác nhập khẩu với bên uỷ thác ở trong nước. 1.3.3. Buôn bán đ ối lưu. Buôn bán đối lưu trong Thương mại quốc tế là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá trong đó nhập khẩu kết hợp chặt chẽ với xuất khẩu, Khoa QTKD
  11. 11 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp người bán đồng thời là người mua và ngược lại. Lượng hàng hoá dịch vụ trao đổi có giá trị tương đương. Giao dịch đối lưu dựa trên bốn nguyên tắc cân bằng: Cân bằng về mặt hàng, cân bằng về giá cả, cân bằng về cùng một điều kiện giao hàng và cân bằng về tổng giá trị hàng hoá trao đổi. Đặc điểm: Hợp đồng này có lợi ở chỗ là cùng một hợp đồng ta có thể tiến hành đồng thời hoạt động xuất và nhập khẩu. Đối với hình thức này thì lượng hàng giao đi và lượng hàng nhận về có giá trị tương đương nhau. Doanh nghiệp xuất khẩu được tính vào cả kim ngạch xuất nhập khẩu, doanh thu trên hàng hoá nhập và hàng xuất. 1.3.4. Nhập khẩu tái xuất. Mỗi nước có một định nghĩa riêng về tái xuất, nhưng đều thống nhất một quan điểm về tái xuất là xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hoá trước đây đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất. Có nghĩa là tiến hành nhập khẩu không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một nước thứ ba nhằm thu lợi nhuận. Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về một lượng ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu. Giao dịch này luôn thu hút ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu. Đặc điểm: - Doanh nghiệp tái xuất phải tính toán toàn bộ chi phí nhập hàng và xuất hàng sao cho thu hút được lượng ngoại tệ lớn hơn chi phí ban đầu bỏ ra. - Doanh nghiệp tái xuất phải tiến hành hai loại hợp đồng: Một hợp đồng nhập khẩu và một hợp đồng xuất khẩu nhưng không phải nộp thuế XNK. - Doanh nghiệp tái xuất được tính kim ngạch trên cả hàng tái xuất và hàng nhập, doanh số tính trên giá trị hàng hoá tái xuất do đó vẫn chịu thuế. - Hàng hoá không nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất mà có thể chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu theo hình thức chuyển Khoa QTKD
  12. 12 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp khẩu, nhưng tiền phải do người tái xuất trả cho người nhập khẩu và thu từ người nhập khẩu. 1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu. Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một họat động kinh doanh hết sức phức tạp và nhạy cảm với môi trường kinh doanh. Kinh doanh nhập khẩu chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố. Có hai nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu, đó là: 1.4.1. Những nhân tố ảnh hưởng bên trong doanh nghiệp. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp, nó tác động một cách trực tiếp và là yếu tố nội lực quyết định hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp có đạt hiệu quả hay không. Các nhân tố đó là: * Tổ chức hoạt động kinh doanh: Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp. Nếu như việc tổ chức kinh doanh càng phù hợp với chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp, phù hợp với yêu cầu kinh tế thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Làm tốt công tác tổ chức kinh doanh có nghĩa là doanh nghiệp phải là tốt các khâu: Chuẩn bị trước khi giao dịch như nghiên cứu thị trường, khai thác nhu cầu tiêu dùng trong nước, lập phương án kinh doanh thận trọng... * Tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp: Bộ máy quản lý doanh nghiệp có ảnh hưởng một cách gián tiếp tới hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhập khẩu nói riêng và hoạt động kinh doanh toàn doanh nghiệp nói chung. Tổ chức bộ máy quản lý hợp lý, gọn nhẹ, làm việc có hiệu quả sẽ tạo thuận lợi cho công tác nâng cao hiệu quả kinh doanh. Việc xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức Khoa QTKD
  13. 13 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp bộ máy của doanh nghiệp là một điều hết sức quan trọng trong kinh doanh XNK. * Nhân tố con người: Đội ngũ cán bộ công nhân viên là một nhân tố quan trọng có tính chất quyết định đối với sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng. Nếu doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ công nhân viên năng động, có năng lực, trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình, tích cực trong công tác kết hợp với việc bố trí nguồn nhân lực theo chiến lược “ đúng người, đúng việc, đúng lúc” của doanh nghiệp thì nhất định sẽ có ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả kinh doanh. * Vốn kinh doanh: Là nhân tố tối quan trọng, là thành phần không thể thiếu trong kinh doanh, nó là cơ sở cho việc mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. * Cơ sở vật chất và uy tín kinh doanh của doanh nghiệp: Nếu công ty có cơ sở vật chất kỹ thuật càng hiện đại bao nhiêu thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho công việc kinh doanh bấy nhiêu như: việc giữ gìn bảo quản hàng hoá được tốt hơn, tiết kiệm chi phí trong khâu vận chuyển , nâng cao chất lượng phục vụ * Thị trường - khách hàng: Thị trường là một tấm gương trung thực cho các doanh nghiệp tự soi vào để đánh giá hiệu quả kinh doanh của mình. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có đạt hiệu quả cao hay không phụ thuộc vào mức độ đáp ứng các yêu cầu của thị trường. 1.4.2. Những nhân tố ảnh hưởng bên ngoài doanh nghiệp. Đây là nhóm nhân tố có tầm ảnh hưởng vĩ mô điều tiết hoạt động doanh nghiệp, nó bao gồm: * Quan hệ chính trị và kinh tế giữa nước ta với nước khác: Hoạt động nhập khẩu hoạt động trong một khung cảnh rộng lớn là nền kinh tế thế giới, thị trường quốc tế, đối tượng hợp tác rất đa dạng. Việc mở rộng các mối quan hệ Khoa QTKD
  14. 14 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp chính trị ngoại giao sẽ tạo điều kiện thuận lợi và tiền đề pháp lý cho các tổ chức kinh doanh phát triển những bạn hàng mới. * Hệ thống luật pháp: Nó tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động. Hệ thống luật pháp yêu cầu phải động bộ, nhất quán và phù hợp với thông lệ quốc tế. * Môi trường chính trị - xã hội: Nhân tố này gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động nhập khẩu. Có đảm bảo ổn định về chính trị, giữ vững môi trường hoà bình và hữu nghị với các nước trên khu vực và trên thế giới thì mới tạo bầu không khí thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng. * Môi trường kinh doanh: Phải đảm bảo sự ổn định vĩ mô nên kinh tế trong đó chú ý đảm bảo tỷ giá hối đoái ổn định và phù hợp, khắc phụ sự thâm hụt của cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế nhăm lành mạnh hoá môi trường kinh doanh, sẽ tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu. 1.5. Vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu. Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một trong hai bộ phận cấu thành nên nghiệp vụ ngoại thương. Biểu hiện là việc mua hàng hoá và dịch vụ từ nước ngoài về phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc nhằm tái sản xuất với mục đích thu lợi nhuận. Nhập khẩu thể hiện mối tương quan gắn bó chặt chẽ với nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên mỗi một thời kỳ đều có đặc điểm riêng, chiến lược phát triển kinh tế riêngvì vậy mà vai trò, nhiệm vụcủa hoạt động kinh doanh nhập khẩu cũng được điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu nhà nước đề ra. Khoa QTKD
  15. 15 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp Trên thực tế, một khi nền kinh tế quốc gia đã hoà nhập vào nền kinh tế thế giới thì vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu ngày càng trở nên quan trọng, có thể thấy cụ thể là: - Nhập khẩu mở rộng khả năng tiêu dùng trong nước, cho phép tiêu dùng một lượng hàng hoá nhiều hơn khả năng sản xuất trong nước, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao cũng như thị hiếu của người tiêu dùng, làm tăng mức sống người dân, tăng thu nhập quốc dân. - Nhập khẩu tạo sự chuyển giao công nghệ, do đó có thể tái xuất mở rộng hàng hoá có hiệu quả, tiết kiệm thời gian và chi phí, tạo ra sự đồng đều về phát triển trong nước. - Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh tích cực giữa hàng nội và hàng nhập khẩu tức là tạo ra động lực cho các nhà sản xuất trong nước không ngừng vươn lên, tạo đà cho xã hội ngày càng phát triển. - Nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để cơ chế tự cung tự cấp của nền kinh tế đóng. - Nhập khẩu giải quyết được các nhu cầu đặc biệt như hàng hoá khan hiếm, hàng hoá cao cấp, công nghệ hiện đại mà trong nước không thể sản xuất được hay khó khăn trong quá trình sản xuất vì nguồn lực khan hiếm. - Nhập khẩu góp phần khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh của một quốc gia, tham gia sâu rộng và sự trao đổi quốc tế và sự phân công lao động quốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất, gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới, từng bước hoà nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, để phát huy được hết vai trò và nhiệm vụ của hoạt động nhập khẩu còn tuỳ thuộc và quan điểm đường lối lãnh đạo của mỗi nước. Với nước ta, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước quản lý kinh tế đối Khoa QTKD
  16. 16 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp ngoại tập trung bằng mệnh lệnh, nghị định của chính phủ... làm cho hoạt động nhập khẩu mất đi tính linh hoạt và không đúng với bản chất của nó. Từ sau ĐH VI, nhà nước đã đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại phù hợp với nền kinh tế thị trường thì hoạt động nhập khẩu đang dần khởi sắc và đi vào quỹ đạo của nó. Tuy chỉ qua một thời gian ngắn mà hoạt động nhập khẩu đã phát huy được vai trò lớn của nó, thực sự đã tạo cho thị trường trong nước trở nên sôi động, đa dạng và phong phú về hàng hoá, vật tư. Tạo ra sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Nền kinh tế nước ta đang chuyển mình hoà nhập với nền kinh tế khu vự và thế giới. 2. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH NHẬP KHẨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP. 2.1. Nghiên cứu thị trường nhập khẩu Nghiên cứu thị trường nhập khẩu là cả một quá trình tìm kiếm khách hàng và có hệ thống cùng với việc phát triển tổng hợp các thông tin cần thiết để giải quyết vấn đề Marketing. Bởi vậy, nghiên cứu thị trường ngày càng đóng vai trò quan trọng để giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao trong hoạt động nhập khẩu. Để nắm vững các yếu tố thị trường hiểu rõ quy luật vận động của thị trường nhăm ứng xử kịp thời, các nhà nhập khẩu nhất thiết phải tiến hành công tác nghiên cứu thị trường, bao gồm: Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu, nghiên cứu dung lượng thị trường, lựa chọn bạn hàng, nghiên cứu giá cả hàng hoá trong nhập khẩu. 2.1.1. Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu. Mục đích nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu là để tiến hành nhập khẩu đúng chủng loại mà thị trường trong nước cần kinh doanh có hiệu quả, đạt Khoa QTKD
  17. 17 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp được mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Việc nhận biết mặt hàng nhập khẩu trước hết căn cứ vào nghiên cứu sản xuất và tiêu dùng trong nước về số lượng, chất lượng, tính thời vụ, thị hiếu cũng như tập quán tiêu dùng của từng vùng, từng lĩnh vực sản xuất. Từ đó tiến hành xem xét các khía cạnh của hàng hoá cần nhập khẩu như công dụng, đặc tính, quy cách, phẩm chất, mẫu mã, giá cả, điều kiện mua bán, kỹ năng sản xuất và các dịch vụ kèm theo... 2.1.2. Nghiên cứu dung lượng thị trường. Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên một phạm vi thị trường nhất định trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Nghiên cứu dung lượng thị trường phải xác định nhu cầu thật của khách hàng và khả năng cung cấp của nhà sản xuất. Nghiên cứu dung lượng của thị trường nhằm hiểu rõ hơn về quy luật vận động của thị trường. 2.1.3. Lựa chọn bạn hàng. Trong thương mại quốc tế, bạn hàng hay khách hàng là những người hoặc những tổ chức có quan hệ với ta nhằm thực hiện các quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá hay dịch vụ, các hoạt động hợp tác kinh tế hay khoa học kỹ thuật liên quan đến việc cung cấp hàng hoá. Chọn thương nhân để giao dịch: Thường chọn những người xuất nhập khẩu trực tiếp. Chúng ta cần quan tâm đến quan điểm kinh doanh của thương nhân đó, lĩnh vực kinh doanh của họ, vốn, cơ sở vật chất, uy tín và mối quan hệ trong kinh doanh của họ. 2.1.4. Nghiên cứu giá cả hàng hoá trong nh ập khẩu. Giá cả luôn gắn liền với thị trường và là một yếu tố cấu thành thị trường, nghiên cứu giá cả thị trường là một bộ phận của nghiên cứu thị trường, nó bao Khoa QTKD
  18. 18 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp gồm các công việc sau: Nghiên cứu mức giá từng mặt hàng tại từng thời điểm trên thị trường, xu hướng biến động và các nhân tố ảnh hưởng. Giá quốc tế có tính chất đại diện đối với một loại hàng hoá nhất định trên thị trường thế giới và là giá của những giao dịch thông thường, không kèm theo một điều kiện đặc biệt nào và thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. 2.2. Lập phương án kinh doanh. Bao gồm các bước sau: - Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân. - Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh. - Đề ra những mục tiêu cụ thể như : sẽ nhập khẩu bao nhiêu với giá cả bao nhiêu, nhập ở thị trường nào và tình hình tiêu thụ hàng hoá đó như thế nào. - Đề ra biện pháp thức hiện: Bao gồm cả biện pháp đối với trong nước và biện pháp đối với thị trường ngoài. - Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh 2.3. Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng. 2.3.1. Các phương thức chủ yếu trong giao dịch nhập khẩ u. Dưới đây là một số phương thức giao dịch cơ bản trong buôn bán quốc tế: * Giao dịch trực tiếp: Giao dịch trực tiếp trong kinh doanh thương mại quốc tế là giao dịch mà người mua (hoặc bán) thoả thuận, bàn bạc trực tiếp (hoặc thông qua thư từ, điện tín...) với người bán (người mua) về hàng hoá, giá cả, giao dịch, phương thức thanh toán. Trong phương thức thanh toán này hai bên tiếp cận thị trường hỏi giá, báo giá, chào hàng và đi đến chấp thuận giá cả của hàng hoá đó. Và từ đó đi đến ký kết hợp đồng nhập khẩu hàng hoá. * Giao dịch qua trung gian: Giao dịch qua trung gian trong kinh doanh Thương mại quốc tế là giao dịch mà người mua (hoặc người bán) quy định về Khoa QTKD
  19. 19 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp điều kiện trong giao dịch mua bán về hàng hoá, giá cả, điều kiện giao dịch, phương thức thanh toán... phải qua một người thứ ba là người trung gian buôn bán(chủ yếu là các cửa hàng đại lý, các tổ chức môi giới). Việc sử dụng đại lý và môi giới có nhiều ưu điểm: Những người trung gian hiểu rõ về tình hình thị trường, luật pháp, tập quán địa phương, giảm được chi phí vận chuyển, hình thành được đại lý buôn bán tiêu thụ rộng, tạo điều kiện cho việc chiếm lĩnh thị trường mới. Tuy nhiên giao dịch này cũng có những nhược điểm là mất liên hệ trực tiếp với khách hàng, thị trường buôn bán, lợi nhuận bị chia sẻ.... * Giao dịch tại hội chợ triển lãm: Hội chợ là thị trường hoạt động định kỳ tổ chức vào một thời gian nhất định. Tại đó người bán trưng bày hàng hoá của mình và tiếp xúc với người mua để ký kết hợp đồng mua bán. * Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá: Sở giao dịch hàng hoá là thị trường đặc biệt, tại đó thông qua người môi giới do sở giao dịch chỉ định người mua và người bán mua bán hàng hoá có khối lượng lớn có phẩm chất đồng loại và có thể thay thế nhau. Các loại giao dịch ở sở giao dịch là: Giao dịch ngay, giao dịch kỳ hạn, nghiệp vụ tự bảo hiểm... 2.3.2. Đàm phán Đàm phán thương mại là quá trình trao đổi ý kiến của các chủ thể trong một quan hệ kinh doanh nhằm đi tới thống nhất các điều kiện, cách xử lý những vấn đề nảy sinh trong quan hệ buôn bán. Nội dung của các cuộc đàm phán thương mại gồm: Tên hàng, phẩm chất, số lượng, bao bì, đóng gói, giao hàng, giá cả, thanh toán, bảo hiểm, bảo hành... 2.3.3. Ký kết h ợp đồng nhậ p khẩ u. Một hợp đồng kinh tế ngoại thương là sự thoả thuận giữa những đương sự có quốc tịch khác nhau trong đó một bên bán (bên xuất khẩu) là một tài sản nhất định gọi là hàng hoá. Bên mua có trách nhiệm trả tiền và nhập hàng. Hình Khoa QTKD
  20. 20 Nguyễn Cảnh Hiệp - Q8T1 Khóa luận tố t nghiệp thức hợp đồng bằng văn bản là một hình thức bắt buộc đối với các đơn vị XNK ở nước ta. Các điều khoản trong hợp đồng do bên mua và bên bán thoả thuận chi tiết, mặc dù trước đó đã có đơn đặt hàng và chào hàng, nhưng vẫn phải thiết lập văn bản hợp đồng làm cơ sở pháp lý cụ thể cho các hoạt động trao đổi hàng hoá từ quốc gia này sang quốc gia khác, và làm căn cứ cho việc xác định lỗi khi có tranh chấp xảy ra. 2.4. Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu. Sau khi hợp đồng nhập khẩu được ký kết, đơn vị kinh doanh XNK với tư cách là một bên ký kết - phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó. Nói chung cần tiến hành các công việc sau: - Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp phải xin giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số doanh nghiệp xuất nhập khẩu và xin giấy phép nhập khẩu đối với hàng chuyên ngành. - Kiểm tra chất lượng hàng hoá nhập khẩu: Theo NĐ 200/CP ngày 31/12/1973 và Thông tư liên Bộ GTVT- Ngoại thương số 52/TTLB ngày 25/1/1975, hàng nhập khẩu khi đi qua cửa khẩu cần được kiểm tra kỹ càng. Doanh nghiệp nhập khẩu, với tư cách là một bên đứng tên trong vận đơn, phải lập thư dự kháng nếu nghi ngờ hoặc thực sự thấy hàng có tổn thất, sau đó phải yêu cầu công ty bảo hiểm lập biên bản giám định nếu tổn thất xảy ra bởi những rủi ro đã được mua bảo hiểm. - Thuê tàu chở hoặc uỷ thác thuê tàu: Trong quá trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu việc thuê tàu chở hàng được tiến hành dựa vào: Những điều khoản của hợp đồng mua bán ngoại thương, đặc điểm hàng mua bán và điều kiện vận tải. Chủ hàng nhập khẩu phải căn cứ vào đặc điểm và khối lượng vận chuyển của hàng hoá để lựa chọn thuê tàu cho phù hợp đảm bảo thuận lợi và nhanh chóng. Khoa QTKD

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản