Luận văn: Một số giải pháp tìm kiếm thị trường đầu ra cho cá tra và cá basa Việt Nam

Chia sẻ: Ngoc Hanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:103

0
747
lượt xem
442
download

Luận văn: Một số giải pháp tìm kiếm thị trường đầu ra cho cá tra và cá basa Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu những lí luận cơ bản về thị trường, từ đó đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất và tiêu thụ cá tra, basa để đưa ra những giải pháp tìm kiếm thị trường đầu ra cho cá basa Việt Nam trong thời gian tới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Một số giải pháp tìm kiếm thị trường đầu ra cho cá tra và cá basa Việt Nam

  1. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Một số giải pháp tìm kiếm thị trường đầu ra cho cá tra và cá basa Việt Nam
  2. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Trong xu thế thương mại toàn cầu đang phát triển nhanh chóng với nhiều chiều hướng như hiện nay, không phải bất cứ quốc gia nào tham gia thị trường quốc tế cũng có thể dễ dàng thuận lợi giao dịch ngoại thương mà không gặp cản trở. Các doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn Việt Nam đã vấp phải vụ tranh chấp thương mại đầu tiên khi bị Hiệp Hội Các Chủ Trại Cá Nheo Mĩ kiện bán phá giá các sản phẩm cá tra, basa phi lê vào thị trường này. Vụ kiện kéo dài 2 năm, để lại cho các doanh nghiệp Việt Nam nhiều bài học và cũng nhiều vấn đề, trong đó có việc tìm thị trường mới cho sản phẩm và xem xét nhìn nhận lại công tác thị trường ở chính các doanh nghiệp. Sau khi kết thúc vụ kiện bán phá giá cá tra, basa vào thị trường Mĩ với quyết định của US ITC cho phép áp mức thuế chống bán phá giá lên sản phẩm phi lê cá da trơn của Việt Nam, việc xuất khẩu của cá tra, basa chững lại, đầu ra vướng mắc do xuất khẩu sang thị trường lớn nhất gặp cản trở, công tác tìm thị trường đầu ra cho sản phẩm cá vào thời điểm này mang ý nghĩa quyết định và quan trọng hơn bao giờ hết. Việc tìm thị trường đầu ra còn giúp doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa tổ chức chặt chẽ khâu định vị và phát triển thị trường trong công tác xúc tiến xuất khẩu cũng như mở rộng thị trường trong nước một cách đúng đắn. Với mong muốn góp phần giải quyết tìm hướng đi mới cho sản phẩm độc đáo này của Việt Nam, người viết đã lựa chọn đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP TÌM KIẾM THỊ TRƯỜNG ĐẦU RA CHO CÁ TRA VÀ CÁ BASA VIỆT NAM”. 2. Mục đích của đề tài. Trên cơ sở nghiên cứu những lí luận cơ bản về thị trường, từ đó đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất và tiêu thụ cá tra, basa để đưa ra những Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 1
  3. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- giải pháp tìm kiếm thị trường đầu ra cho cá tra, basa Việt Nam trong thời gian tới. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Tình hình khu vực sản xuất, khu vực chế biến và thị trường tiêu thụ cá tra, basa của Việt Nam, công tác thị trường và định hướng thị trường các cấp trong thời gian qua . 4. Phương pháp nghiên cứu. Để thực hiện những nội dung trên, người viết đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau : - Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu. - Phương pháp thống kê học đơn giản. - Phương pháp lý luận biện chứng. 5. Bố cục đề tài. Với mục đích nghiên cứu như trên, đề tài sẽ bao gồm các phần : Chương I: Những lí luận cơ bản về thị trường Chương II: Thực trạng về thị trường tiêu thụ cá tra, basa của Việt Nam trong thời gian qua Chương III: Giải pháp mở rộng thị trường đầu ra cho cá tra, basa Do thời gian và trình độ hạn chế, đề tài này chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, em mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thày cô. Em xin chân thành cảm ơn Th.S. Nguyễn Xuân Nữ, giảng viên khoa KTNT đã hướng dẫn em trong quá trình thực hiện đề tài này. Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 2
  4. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- Sinh viên: Triệu thị Mỹ Châu. CHƯƠNG I NHỮNG LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG I. Khái niệm về thị trường 1. Định nghĩa: Theo cách hiểu thông thường thì có thể coi thị trường là một địa điểm cụ thể ở đó diễn ra việc mua bán hàng hoá, chẳng hạn một cái chợ, một trụ sở giao dịch mua bán hàng hoá v.v... Một cách hiểu khác, người ta quan niệm thị trường là một nhóm người tiêu dùng đang có nhu cầu và sức mua chưa được đáp ứng và mong được thoả mãn. Cách hiểu này xuất phát từ phía người mua, người có nhu cầu và khả năng thanh toán. Sở dĩ người ta nhấn mạnh vai trò của người mua trong khái niệm thị trường là do người mua ngày nay quyết định thị trường và trên thực tế thị trường đã chuyển sang tay họ. Người tiêu dùng, hay người mua, là những người mua sắm hàng hoá để phục vụ cho tiêu dùng cá nhân, gia đình hoặc một nhóm người vì nhu cầu sinh hoạt. Theo các nhà kinh tế học việc tiêu dùng của họ một mặt được xem như là việc sử dụng hoặc huỷ bỏ một tài sản kinh tế, mặt khác cũng là cách tự thể hiện mình. Thị trường người tiêu dùng bao gồm tất cả các cá nhân, các hộ tiêu dùng và các nhóm tập thể mua sắm hàng hóa hoặc dịch vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân. Nếu hiểu rộng rãi hơn thì thị trường là khái niệm để chỉ lĩnh vực lưu thông hàng hoá nói chung, ở đó người bán và người mua gặp gỡ nhau để trao đổi, mua bán hàng hoá. Theo cách hiểu này thì thị trường gắn liền với một quá trình vận động không ngừng, trong đó người mua và người bán từng loại hàng hoá tác động qua lại lẫn nhau do đó xác định số lượng và giá cả hàng hoá đưa vào trao đổi. Như vậy thị trường là tổng thể các điều kiện chủ quan và khách quan có liên quan tới việc sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Thị trường giống như người môi giới giữa người sản xuất với người tiêu dùng (hay còn gọi giữa người bán với người mua) đóng vai trò trung gian thu xếp, dàn hoà giữa yêu Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 3
  5. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- cầu của người tiêu dùng với khả năng của người sản xuất. Do sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển ở quy mô rộng lớn, vượt ra ngoài phạm vi biên giới của từng quốc gia, nên cũng kéo theo sự hình thành và sự phát triển của thị trường quốc tế. Thị trường quốc tế hay thị trường nước ngoài là khái niệm để chỉ thị trường của các quốc gia là bạn hàng hay đối tượng hợp tác trong các hoạt động kinh tế đối ngoại, hoặc có thể mở rộng ra thị trường quốc tế khu vực ( bao gồm một nhóm nước có liên quan với nhau) cũng như thị trường thế giới nói chung. Việc sử dụng khái niệm thị trường nước ngoài là phù hợp với sự hình thành và sự phát triển của các mối quan hệ kinh tế đối ngoại. Thị trường nước ngoài không chỉ là thị trường của từng quốc gia bên ngoài một quốc gia, mà còn là thị trường khu vực, thị trường thế giới hay thị trường thuộc phạm vi hoạt động của các tổ chức kinh tế quốc tế nữa. 2. Đặc trưng: Thị trường người tiêu dùng có những đặc trưng cơ bản sau: Có quy mô lớn và thường xuyên gia tăng. Khách hàng rất khác nhau về tuổi tác, giới tính, thu nhập, trình độ văn hoá và sở thích, tạo nên sự phong phú và đa dạng về nhu cầu và mong muốn của họ trong việc mua sắm và sử dụng hàng hoá. Thị trường người tiêu dùng bao gồm những khách hàng mua sắm hàng hoá nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Các quyết định mua của họ mang tính chất cá nhân. Với họ, tiêu dùng không chỉ đơn giản là tiêu dùng thông thường mà ngày nay nó còn được xem như một “nghệ thuật sống”, “một sự thể hiện”. Mọi nhu cầu đều thay đổi theo thời gian, song nhu cầu cá nhân luôn có nhịp độ thay đổi nhanh chóng hơn cả. Sự tiến triển của các kiểu tiêu dùng và những thay đổi trong cơ cấu chi tiêu của người mua vừa là những rủi ro, vừa là những cơ hội luôn thách đố các nỗ Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 4
  6. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- lực Marketing của công ty. Thực tế đã chỉ ra rằng những thành công trong kinh doanh luôn thuộc về những công ty nào nhận biết và đáp ứng kịp thời những thách đố đó. II. Sự cần thiết của thị trường 1. Từ hiện tượng đến khoa học: Từ khi con người thoát khỏi nền kinh tế tự cung tự cấp và xuất hiện nhu cầu trao đổi, dạng tiền thân của thị trường đã xuất hiện, nhưng hình thức này chỉ mới hoạt động trên cơ sở trao đổi trực tiếp và phân tán. Con người được thoả mãn nhu cầu một cách rất hạn chế. Người tiêu dùng đơn thuần trao đổi sản vật họ làm ra trong phạm vi hạn hẹp cả về không gian và thời gian. Dần dần, hoạt động trao đổi đã phát triển với mức độ cao, mở rộng cả về không gian và thời gian và kết quả là dẫn đến việc xuất hiện thị trường - nơi diễn ra hoạt động trao đổi tập trung, tầng lớp thương nhân đóng vai trò trung gian thực hiện trao đổi và tiền tệ đóng vai trò vật trung gian trong trao đổi. Tất cả điều đó làm quá trình trao đổi trở nên phong phú đa dạng. Người tiêu dùng có nhiều khả năng chọn lựa sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình. Doanh nghiệp có cơ hội sản xuất và phát triển. Thương nhân có cơ hội kinh doanh và thu lời trung gian. Thị trường thực sự là giải pháp đầu ra. Quan niệm về trao đổi dẫn đến quan niệm về thị trường. Một thị trường bao gồm tất cả những khách hàng tiềm năng cùng chia sẻ một mong muốn hay một nhu cầu đặc biệt nào đó, họ có thể sẵn lòng và cam kết trao đổi để thoả mãn mong muốn hay nhu cầu cụ thể đó. Như vậy, sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã khiến cho nhận thức về bản thân thị trường, đặc điểm, vai trò, sự cần thiết của nó phát triển. Song song với quá trình này, công tác nghiên cứu thị trường cũng trải qua nhiều sự thay đổi và tiến bộ. Điều này nằm trong sự phát triển khách quan biện chứng của ngành khoa học về thị trường (Market Research, Marketing). Khái niệm Marketing đã được nhiều tác giả đưa ra theo các cách khác nhau. Tuy nhiên, năm 1985, Hiệp Hội Marketing của Mĩ đã nêu ra một định nghĩa và được thừa nhận là định nghĩa chính thức như sau: “Marketing là một quá trình kế hoạch hoá và thực hiện các chính sách về sản phẩm, giá cả, giao tiếp và phân phối các thị trường, sản phẩm và Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 5
  7. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- dịch vụ nhằm tạo ra sự trao đổi để thoả mãn các mục tiêu của cá nhân và tổ chức”. Marketing bao gồm các phạm vi hoạt động như sau: (i) nghiên cứu, phân tích và dự đoán thị trường, (ii) thực hiện các chính sách làm thích ứng với nhu cầu của thị trường, về sản phẩm, giá cả, phân phối, (iii) tác động đến nhu cầu thị trường (chính sách giao tiếp, yểm trợ). Do đó, việc nghiên cứu thị trường, tức là nghiên cứu chuyên sâu vào nhu cầu và việc mua sắm của khách hàng cùng các yếu tố hữu quan đã trở thành công tác quan trọng không thể thiếu trong bất kì doanh nghiệp nào. Thị trường mới đầu chỉ là một thực thể, một hiện tượng, dần dần trở thành một ngành khoa học, là đối tượng được nghiên cứu trước tiên trong Marketing hiện đại. 2. Từ truyền thống đến hiện đại: Xét về nội dung thuật ngữ, Marketing thường có hai ngữ nghĩa: ngữ nghĩa truyền thống: có tính chất chức năng tiêu thụ; ngữ nghĩa hiện đại: mang tính chất triết lí kinh doanh. Marketing truyền thống được giải thích như là một phương pháp tổ chức hoạt động của công ty, chủ yếu nhằm vào việc tìm người mua những sản phẩm mà công ty có khả năng sản xuất. Thị trường, theo cách hiểu của Marketing truyền thống, chỉ đơn thuần là nơi tiêu thụ hàng hoá. Nguyên tắc chỉ đạo công ty khi đó là làm thế nào để sản xuất thật nhiều hàng hoá, sau đó cố gắng bằng mọi biện pháp đẩy thành phẩm ra thị trường. Khi xã hội sản xuất phát triển sang xã hội tiêu thụ, trong điều kiện sản xuất có thể tiến hành hàng loạt với qui mô lớn, cạnh tranh trên thị trường diễn ra gay gắt, nguyên tắc quản trị doanh nghiệp theo kiểu Marketing truyền thống trở nên lạc hậu bởi lúc này trong kinh doanh không thể có khả năng sản xuất hàng hoá bao nhiêu thì có khả năng tiêu thụ bấy nhiêu. Chính vì vậy, các nhà sản xuất bấy giờ chỉ mong muốn sản xuất những hàng hoá mà thị trường cần, sản xuất với khối lượng sao cho có thể bán hết. Muốn vậy, phải biết chính xác số cầu của thị trường với loại hàng hoá tương ứng. Để đạt đuợc sự hiểu biết này, đòi hỏi các công ty phải nghiên cứu tổng hợp về thị trường và dự đoán sự phát triển của nó. Chính trong bối cảnh ấy đã ra đời Marketing hiện đại với tính Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 6
  8. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- chất “Triết lí kinh doanh”. Marketing hiện đại tiến hoá cùng với sự thay đổi quan điểm về tổ chức và quản lí kinh doanh trong điều kiện cạnh tranh có tính chất lũng đoạn. Theo Marketing hiện đại, khi đó, tất cả hoạt động của công ty, trong đó có chương trình sản xuất, việc nghiên cứu khoa học kĩ thuật, đầu tư nguồn lực tài chính, nhân lực và cả chương trình tiêu thụ, dịch vụ.. cần phải dựa trên cơ sở hiểu biết về số cầu của người tiêu dùng, về sự thay đổi của nó trong tương lai gần và xa, thậm chí phát hiện ra những nhu cầu chưa được đáp ứng. Nói ngắn gọn, các hãng muốn toàn bộ hoạt động của mình được xây dựng trên cơ sở nhu cầu của người tiêu dùng, trên cơ sở thị trường chứ không phải trên cơ sở khả năng sản xuất như trước; và mục tiêu cuối cùng vẫn là tối đa hoá lợi nhuận. Về vấn đề này, nhà kinh tế Anh M.T.Baker viết: “Marketing, với tính cách là triết lí kinh doanh, đòi hỏi công ty phải liên kết các nguồn lực của mình sao cho, bằng cách tốt nhất, đạt được những chỉ tiêu dài hạn về lợi nhuận”. Như vậy giờ đây, doanh nghiệp từ việc “bán cái mình có” đã đi đến “bán cái thị trường cần”. Thị trường cũng như vai trò và sự cần thiết của nó đã được hiểu theo một cách nhìn rộng hơn, với một phương pháp tiếp cận mới, thay đổi kiểu tư duy Marketing truyền thống mà chuyển sang Marketing hiện đại. 3.Từ quan điểm sản xuất đến quan điểm Marketing: Trong quá trình phát triển của khoa học Marketing, từ Marketing truyền thống đến Marketing hiện đại, quan niệm về thị trường và vai trò của nó cũng trải qua những bước thay đổi. Về mặt lịch sử, có 5 quan điểm cơ bản làm nền tảng cho hoạt động Marketing đã chi phối nhận thức về vai trò và tính cần thiết của thị trường: Quan điểm hoàn thiện sản xuất, Quan điểm hoàn thiện hàng hoá, Quan điểm tăng cường nỗ lực thương mại, Quan điểm Marketing, Quan điểm Marketing mang tính đạo đức xã hội. 3.1. Quan điểm hoàn thiện sản xuất: Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 7
  9. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- Đó là một trong những quan điểm cổ xưa nhất chi phối doanh nghiệp. Quan điểm hoàn thiện sản xuất cho rằng người tiêu dùng sẽ có thiện cảm với những mặt hàng được bán rộng rãi với giá cả phải chăng. Do vậy, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải tập trung nỗ lực vào việc hoàn thiện sản xuất và nâng cao hiệu quả của hệ thống phân phối. Quan điểm hoàn thiện sản xuất đã có một thời giúp các doanh nghiệp thành đạt trên thị trường, nhưng quan điểm này lại đơn giản hoá thị trường. Khi nhu cầu và thị hiếu thay đổi, đến một lúc nào đó, dù hàng hoá được bán ra với giá hạ, người tiêu dùng vẫn không quan tâm, hàng hóa không hấp dẫn người mua nữa. 3.2. Quan điểm hoàn thiện hàng hoá: Nhà doanh nghiệp cho rằng sở dĩ người tiêu dùng không quan tâm tới hàng hoá mặc dù giá hạ là do các hàng hoá chưa có chất lượng cao. Do vậy quan điểm hoàn thiện hàng hoá khẳng định rằng người tiêu dùng sẽ ưa thích những hàng hoá có chất lượng tốt nhất, có tính năng sử dụng tốt nhất, vì vậy doanh nghiệp phải tập trung vào việc hoàn thiện hàng hoá. Quan điểm này dẫn đến căn bệnh “Marketing thiển cận”, hay còn gọi là thu hẹp góc nhìn về thị trường. Người bán chỉ chú ý đến hàng hoá của mình mà bỏ qua nhu cầu của người tiêu dùng. Dù sản phẩm của doanh nghiệp được hoàn thiện nhưng không đảm bảo sẽ thu hút được người mua, họ có thể tìm đến các hàng hoá khác để thỏa mãn nhu cầu tốt hơn, đến với những đối thủ cạnh tranh tinh vi hơn. Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp phải làm sao áp dụng được những biện pháp làm cho hàng hoá của mình hấp dẫn thuyết phục người tiêu dùng về chất lượng và tính ưu việt của nó, nhằm lôi kéo sự chú ý của những người tiêu dùng đang có nhu cầu cần được thoả mãn. Chính điều này đã dẫn đến một quan điểm nữa về Marketing: Quan điểm tăng cường nỗ lực thương mại. Tuy vậy cho đến giờ, với các doanh nghiệp, thị trường vẫn chỉ được coi là nơi giải quyết sản phẩm một cách đơn thuần. 3.3. Quan điểm tăng cường nỗ lực thương mại: Quan điểm này được nhiều doanh nghiệp tán đồng. Theo đó, người tiêu dùng sẽ không mua nhiều hàng hoá của doanh nghiệp nếu như doanh nghiệp Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 8
  10. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- không có những nỗ lực đáng kể trong lĩnh vực tiêu thụ và kích thích bán, ví dụ: vấn đề quảng cáo, tuyên truyền, bớt giá... Quan điểm tăng cường nỗ lực thương mại cũng đã đem lại thành công đáng kể cho các doanh nghiệp, chính vì thế nhiều người đã lầm tưởng bản chất của Marketing chính là các hoạt động bán hàng và quảng cáo, mặc dù trên thực tế, việc tiêu thụ chỉ là một trong những chức năng của Marketing, thậm chí không phải là chức năng quan trọng nhất: “Mục đích của Marketing là làm cho những nỗ lực tiêu thụ trở nên không cần thiết. Mục đích của nó là nhận thức và hiểu biết khách hàng tốt tới mức khiến cho hàng hóa hay dịch vụ sẽ thích hợp đúng với khách hàng và tự chúng sẽ được tiêu thụ” (Nhà lí luận về quản lí P. Ducker). Nếu như doanh nghiệp chịu khó làm sáng tỏ những nhu cầu tiêu dùng, nghiên cứu kĩ những mặt hàng thích hợp (Product), xác định được giá cả phù hợp với chúng (Price), điều chỉnh một cách tốt đẹp chế độ phân phối (Place) và kích thích có hiệu quả (Promotion), những mặt hàng đó chắc chắn sẽ được tiêu thụ dễ dàng. Với quan điểm 4P này, thị trường đã được nghiên cứu kĩ càng hơn, với định hướng và mục tiêu rõ ràng. Nó thực sự là giải pháp đầu ra được nghiên cứu một cách hệ thống và khoa học, phục vụ lợi ích doanh nghiệp. 3. 4. Quan điểm Marketing: Đây là một quan điểm tương đối mới mẻ trong hoạt động kinh doanh. Quan điểm Marketing khẳng định rằng điều kiện để đảm bảo đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp là xác định được nhu cầu và mong muốn của các thị trường mục tiêu, đáp ứng các mong muốn ấy bằng những phương thức có hiệu quả mạnh mẽ so với đối thủ cạnh tranh. Các doanh nghiệp đã diễn tả quan điểm Marketing như sau: “Khách hàng là thượng đế”, “ Hãy bán cái thị trường cần chứ không phải cái mình có”, “ Hãy tìm kiếm nhu cầu và thoả mãn nó”… Có sự khác biệt rất lớn giữa quan điểm tăng cường nỗ lực thương mại và quan điểm Marketing. Dù cả hai có chung mục đích cuối cùng là lợi nhuận, nhưng quan điểm tăng cường nỗ lực thương mại có xuất phát điểm hay đối tượng quan tâm là hàng hoá sẵn có của công ty, còn biện pháp đạt đến mục Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 9
  11. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- tiêu là nỗ lực thương mại và các phương pháp khuyến mãi. Còn với quan điểm Marketing, đối tượng quan tâm là khách hàng mục tiêu của doanh nghiệp với nhu cầu và mong muốn của họ, còn biện pháp đạt đến mục tiêu lợi nhuận là sự nỗ lực tổng hợp của Marketing – tức là kết hợp và điều hoà toàn bộ hoạt động của mình, trên cơ sở hiểu biết nhu cầu và mong muốn của khách hàng, tạo ra và duy trì sự hài lòng ở khách hàng. Nói cách khác, quan điểm Marketing thể hiện sự trung thành của doanh nghiệp với phương châm: “Khách hàng là thượng đế” (Customer is king). Sự cần thiết của thị trường giờ đây không chỉ nằm trong vai trò giải quyết đầu ra mà còn là định hướng cho sản xuất và phát triển của doanh nghiệp. Đối tượng quan tâm của doanh nghiệp chính là người tiêu dùng, là trái tim của thị trường. 3.5. Quan điểm Marketing mang tính đạo đức xã hội: Đây là quan điểm mới mẻ nhất về Marketing, xuất hiện cùng với sự thúc bách của xã hội trước vấn đề đạo đức kinh doanh, vấn đề sinh thái và môi trường xã hội. Quan điểm này khẳng định rằng nhiệm vụ của các doanh nghiệp là xác định nhu cầu, mong muốn, lợi ích của các thị trường mục tiêu bằng những phương thức hiệu quả hơn đồng thời giữ nguyên hay củng cố mức sung túc cho người tiêu dùng và toàn xã hội. Nghĩa là, thoạt đầu, công ty lấy yêu cầu lợi nhuận làm nền tảng cho giải pháp thị trường, sau đó công ty nhận thức ý nghĩa chiến lược của việc thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng và kết quả là quan điểm Marketing xuất hiện. Ngày nay, khi thông qua các quyết định phát triển thị trường, họ bắt đầu nghĩ đến lợi ích xã hội. Quan điểm Marketing mang tính đạo đức xã hội đòi hỏi phải cân bằng thực sự 3 yếu tố: lợi nhuận công ty, nhu cầu người tiêu dùng và lợi ích xã hội. 4.Từ quốc gia đến quốc tế: Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 10
  12. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- Thế giới là một thị trường thống nhất. Theo đà phát triển phân công lao động quốc tế và của thị trường thế giới, sự khác biệt giữa thị trường nội địa và thị trường bên ngoài ngày càng mờ nhạt. Trên thực tế, số lượng các cuộc giao dịch buôn bán trong những năm 70 và 80 đã gia tăng đáng kể. Và thập kỉ 90 đã khẳng định xu hướng toàn cầu hoá thị trường. Xu hướng này được biểu hiện ở sự gia tăng số lượng các công ty tham gia vào thị trường toàn thế giới. Hiện nay, hầu hết các tập đoàn thương mại đều quan tâm đến vấn đề Marketing quốc tế nhằm nâng cao khả năng thích ứng trước những thay đổi về đặc tính của cung và cầu trên thị trường quốc tế, về môi trường cạnh tranh. Các nhà sản xuất ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh cả trong nước và ngoài nước. Họ buộc phải tìm kiếm và phát triển thị trường ra bên ngoài. Mặt khác, tất cả các nước đều có ý định bảo vệ thị trường nội địa bằng chế độ bảo hộ mậu dịch. Vì vậy, xu hướng chung của các công ty quốc gia phải nâng cao tính thích ứng và cải thiện khả năng cạnh tranh trong khung cảnh quốc tế. Như vậy, Marketing quốc tế giữ một vai trò to lớn trong sự quan tâm của các nhà doanh nghiệp trước hết do sự quốc tế hoá sản phẩm và thị trường. Hơn nữa, chính sự quốc tế hoá này lại là điều kiện cần thiết cho tất cả các công ty đạt được một cán cân thương mại thuận lợi do cố gắng phát triển xuất khẩu. Nếu như quốc tế hoá trở nên cần thiết đối với tất cả các công ty, thì quá trình này cũng có đầy rẫy những nguy cơ, thậm chí rất to lớn đối với họ: Chính phủ không ổn định: Nợ nước ngoài, lạm phát và thất nghiệp đã dẫn đến tình hình không ổn định về chính trị của một số nước, với những nguy cơ gắn liền với quốc hữu hoá, hạn chế chuyển vốn. Trao đổi không cân bằng: Sự không ổn định về chính trị thường kéo theo sự mất giá đồng tiền gây ra thiệt hại đến trao đổi buôn bán về đầu tư. Nhiều hàng rào ngăn cản: Những quy chế của nhiều nước ngày càng trở nên là vật cản đối với các hãng nước ngoài: liên doanh bắt buộc, hạn ngạch, hạn chế chuyển giao công nghệ, hàng rào kĩ thuật, hàng rào an toàn vệ sinh thực phẩm, hàng rào bảo vệ môi trường… Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 11
  13. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- Thuế quan nhập khẩu cao: Nhiều nước, kể cả các nước kinh tế phát triển quy định thuế quan rất cao để bảo vệ ngành công nghiệp quốc gia. Tệ hối lộ: Để thâm nhập thị trường bên ngoài, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, nạn hối lộ không phải là hiếm. Cưỡng đoạt công nghệ: Để thâm nhập thị trường nước ngoài, các công ty ngày càng có nguy cơ bị nước sở tại chiếm đoạt dần dần công nghệ của mình. Chi phí thích ứng cao: Nhìn chung, chi phí thích ứng về sản phẩm và giao tiếp ở thị trường nước ngoài thường rất cao. Những khó khăn, trở ngại này không thể làm nản lòng và hạn chế sự bành trướng ra thị trường bên ngoài của các công ty. Ngược lại, điều đó buộc các công ty phải nhận thức sự cần thiết có được cách thức hiệu quả để tấn công vào thị trường bên ngoài tức là phải biết vận dụng các chính sách Marketing trên thị trường quốc tế. Một thực trạng tồn tại là nhiều công ty lớn ở các nước phát triển vận dụng thành công quan điểm Marketing hiện đại ở thị trường nội địa, nhưng khi mở rộng hoạt động ra ngoài biên giới quốc gia thì lại đối đầu với những thất bại nhất định trên thương trường quốc tế. Rõ ràng những nguyên tắc Marketing vẫn có hiệu lực chung, nhưng kinh doanh trên phạm vi toàn cầu lại đòi hỏi sự thích ứng cao với chính môi trường quốc tế. Hoạt động Marketing quốc tế khác hẳn với Marketing trên thị trường quốc gia, bởi thị trường nước ngoài mang đặc điểm về văn hoá, xã hội, tập quán tiêu dùng hoàn toàn khác thị trường nội địa. Vì vậy, việc phát triển thị trường quốc tế bằng cách vận dụng linh hoạt các nguyên tắc Marketing, đồng thời củng cố thị trường quốc gia là mô hình hoạt động hiệu quả cao và an toàn cho các công ty. Nói cách khác, nếu thị trường nội địa cần thiết như một sân nhà - một hậu phương vững chãi cho bất cứ doanh nghiệp nào, thì thị trường nước ngoài tuy hấp dẫn lại là một sân chơi đầy rủi ro và thách thức bởi sự khác biệt lớn về môi trường kinh doanh, đòi hỏi phương pháp Marketing phù hợp. Bên cạnh đó, thị trường quốc tế đặc biệt đầy sức thu hút với những quốc gia đang phát triển vốn rất cần ngoại tệ mạnh. Vì vậy, cho dù nhận biết ở mức độ nào, mỗi doanh nghiệp đều Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 12
  14. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- cần phải nắm rõ vai trò cũng như tính cần thiết của cả thị trường quốc gia và thị trường quốc tế, không coi nhẹ thị trường nào, cả về lợi thế và khó khăn, để có thể hoạt động tốt nhất và đạt lợi nhuận cao nhất. III. Công tác nghiên cứu thị trường: 1. Khái niệm: Việc nghiên cứu thị trường nước ngoài là việc xem xét trạng thái, sự vận động và xu hướng phát triển của thị trường đó vào một thời điểm hay một giai đoạn nhất định. Cụ thể hơn đó là quá trình thu thập tài liệu và các thông tin về thị trường, so sánh và phân tích các thông tin đó để rút ra kết luận về xu hướng biến động của thị trường quốc tế theo từng lĩnh vực, từng nhãn hàng, tạo cơ sở cho việc xây dựng chiến lược thị trường cũng như tiến hành ứng xử trong các hoạt động kinh tế đối ngoại. Cần chú ý việc nghiên cứu thị trường nước ngoài không chỉ dừng lại ở khâu lưu thông hàng hoá và công việc dịch vụ mà còn bao trùm các giai đoạn khác nhau của quá trình tái sản xuất. 2. Chức năng, nhiệm vụ: Chức năng của công tác nghiên cứu thị trường nước ngoài là nắm bắt các thông tin khách quan, những thông tin về tình hình thực tế diễn biến trên thị trường. Đó là cơ sở quan trọng trong việc ra quyết định hàng ngày cũng như hoạch định chiến lược phát triển các hoạt động kinh tế đối ngoại. Việc nghiên cứu thị trường là nhiệm vụ của bất kỳ đơn vị kinh tế nào, của bất cứ nhà quản lý nào và của các cơ quan nghiên cứu quốc gia và quốc tế về thị trường. Nhiệm vụ nghiên cứu thị trường nước ngoài là phải đáp ứng yêu cầu phát triển của các hoạt động kinh tế đối ngoại, tức là phải trả lời được 7 câu hỏi sau đây: 1 - Nước nào là thị trường triển vọng nhất cho việc xuất khẩu hàng hoá hoặc đáp ứng được các yêu cầu cho việc nhập khẩu với các điều kiện thuận lợi nhất, khả năng mua và bán sản phẩm là bao nhiêu với chất lượng như thế nào? 2 - Mức độ cạnh tranh trên thị trường hiện tại và trong tương lai, sở trường và sở đoản của các đối thủ cạnh tranh là gì? Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 13
  15. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- 3 - Cần và có thể áp dụng những phương thức mua bán nào cho phù hợp; sản phẩm của chúng ta muốn thâm nhập thị trường đó phải đạt được những yêu cầu gì về mặt chất lượng, số lượng, nhãn hiệu, mẫu mã bao bì đóng gói v.v... 4 - Thu nhập thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thời về tình hình thị trường, gồm cả các thông tin về tình hình sản xuất, tình hình đầu tư, áp dụng kỹ thuật và công nghệ mới, chất lượng và số lượng sản phẩm hàng hóa của từng khu vực, từng quốc gia, thông tin về chính sách hải quan, thuế xuất nhập khẩu, chế độ quản lý ngoại thương của từng thị trường v.v... 5 - Tiến hành đánh giá tầm quan trọng và tình hình hoạt động của các đối thủ cạnh tranh về mặt khả năng kinh tế, trình độ khoa học và công nghệ, chiến lược thị trường của họ, trình độ tổ chức phục vụ khách hàng, việc quảng cáo, tổ chức cố vấn kỹ thuật cũng như các phương thức và điều kiện bán hàng của họ. 6 - Tiến hành dự báo sự vận động của thị trường theo các thời hạn khác nhau, trong đó chú ý các dự báo về dung lượng thị trường, mức biến động giá cả, mức độ cạnh tranh giữa các bạn hàng, so sánh xu hướng vận động giữa các thị trường với nhau, dự đoán tình hình kinh tế của những nước có vai trò quyết định đến thị trường. 7 – Trên cơ sở xử lý các nguồn thông tin thị trường khác nhau để đề ra được những phương hướng cụ thể trong các hoạt động xuất và nhập khẩu hàng hoá, xây dựng các chiến lược thị trường cho từng đơn vị và cho từng loại hình hoạt động kinh tế đối ngoại. 3. Nội dung Nội dung nghiên cứu thị trường là toàn bộ các vấn đề có liên quan đến hiện trạng, sự vận động và biến đổi của thị trường, trong đó biểu hiện tập trung nhất là quan hệ cung-cầu và giá cả hàng hoá. Nhưng để cho việc nghiên cứu quan hệ cung-cầu và giá cả có cơ sở chắc chắn, cần xuất phát từ việc nghiên Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 14
  16. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- cứu các đặc điểm của bản thân hàng hoá cũng như các vấn đề có liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ hàng hoá. Đặc điểm của bản thân hàng hoá chính là quy cách phẩm chất, công dụng, bao bì, nhãn hiệu và vai trò của hàng hoá đối với đời sống xã hội. Quy cách phẩm chất của hàng hoá là yêu cầu mà người mua đặc biệt quan tâm và người bán phải giới thiệu khi giao dịch. Chính quy cách phẩm chất này quyết định công dụng và do đó có ảnh hưởng lớn đến quan hệ cung cầu. Trong nền thương mại quốc tế, việc phân loại phẩm cấp có thể dựa theo nhiều cách khác nhau như: Phân theo nguồn gốc xuất xứ (nơi sản xuất), theo mùa vụ. Phân theo quy trình chế tạo (loại công nghệ, tính chất kỹ thuật...) Phân theo tập quán thương mại (nhãn hiệu thương mại, tiêu chuẩn quy định ở các sở giao dịch...) Phẩm chất của hàng hoá ảnh hưởng trực tiếp đến công dụng của hàng hoá. Công dụng hàng hoá là rất khác nhau, nhưng có thể phân thành các nhóm tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng, trong đó lại phân chia chi tiết hơn theo các loại công dụng như máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, hàng hoá tiêu dùng lâu bền, hàng tiêu dùng hàng ngày, nhiên liệu, lương thực thực phẩm v.v.... Khi nghiên cứu đặc điểm của hàng hoá còn phải chú ý đến tính chất mùa vụ của hàng hoá, quy mô sản xuất và vai trò của từng loại hàng đối với đời sống xã hội. Những loại hàng sản xuất có mùa vụ phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên thì thị trường thích ứng chậm hơn những hàng hóa sản xuất đều đặn, ít phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên. Những hàng hóa có chu kỳ sản xuất dài cũng chậm thích ứng với thị trường so với hàng hóa có chu kỳ sản xuất ngắn. Những hàng hoá có trình độ tổ chức sản xuất tập trung cao hơn hoặc có vị trí quan trọng đối với đời sống hàng ngày cũng có khả năng thích ứng nhanh hơn so với những hàng hoá khác. Vấn đề bao bì và nhãn hiệu cũng có tác động trực tiếp đến thị hiếu và nhu cầu tiêu thụ. Việc cải tiến kỹ thuật bao bì hàng hoá đang được hết sức quan tâm, vì nó tác động đến năng lực cạnh tranh giữa các sản phẩm cùng loại; bao bì bền, đẹp, bắt mắt và tạo cảm giác muốn mua hàng là đạt tiêu chuẩn. Bên cạnh đó, khi nghiên cứu thị trường cần chú ý xem xét những nhãn hiệu đã Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 15
  17. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- được thị trường tín nhiệm theo tập quán và tâm lý tiêu dùng. Nhãn hiệu là dấu hiệu đặc trưng trực tiếp gắn vào hàng hoá, tiêu biểu cho phẩm chất và truyền thống của một dòng sản phẩm công ty trên thị trường, có vai trò rất lớn trong việc xúc tiến bán hàng bởi trên thực tế, những hàng hoá có chất lượng như nhau nhưng nhãn hiệu khác nhau thì mức biến động về mối quan hệ cung cầu và giá cả của chúng cũng khác nhau. Trong trường hợp đó, nhãn hiệu có uy tín với người tiêu dùng sẽ kích thích quyết định mua hàng và thu hút người mua hơn. Có thể nói, đó chính là sức cạnh tranh của doanh nghiệp biểu hiện trực tiếp trên sản phẩm. Bên cạnh việc nghiên cứu về bản thân hàng hóa, các yếu tố liên quan đến việc tiêu thụ như nhu cầu, yêu cầu, thị hiếu, khả năng thanh toán của người tiêu dùng, các kênh phân phối…là những yếu tố quan trọng trong công tác nghiên cứu thị trường. Điều đó có nghĩa là, trước khi xâm nhập một thị trường nào, doanh nghiệp cần tìm hiểu rõ tình hình chung về người tiêu dùng: nhu cầu hiện tại, tiềm năng của thị trường và khu vực, khả năng thanh toán của khách hàng, các yêu cầu về bao bì, nhãn mác, kiểm dịch, chất lượng vệ sinh thực phẩm, từ đó nhìn nhận thuận lợi và khó khăn khi tham gia thị trường để có biện pháp xâm nhập và chiếm lĩnh thích hợp. Người tiêu dùng chính là trái tim của thị trường, cho nên việc hiểu rõ nhu cầu và khả năng của họ là đã đem lại một phần lớn hiểu biết về thị trường. Cũng như vậy, các vấn đề về sản xuất như giá cả, cung cầu, thị phần, đối thủ cạnh tranh trong đó quan trọng nhất là mức giá và hoạt động xúc tiến thương mại của họ là những yếu tố doanh nghiệp thường xuyên phải cập nhật khi thâm nhập bất cứ thị trường nào. Khi nghiên cứu thị trường nước ngoài một vấn đề cần quan tâm là các chính sách thương mại, khung cảnh pháp lý và tập quán thương mại. Những việc này có ảnh hưởng rất lớn đối với việc ký kết các hợp đồng cụ thể cũng như các điều kiện thực hiện các hợp đồng đó. Chẳng hạn, chính sách thuế quan, hạn ngạch xuất nhập khẩu (nếu có quy định), các điều kiện giao hàng và vận chuyển hàng...đều là những yếu tố ảnh hưởng đến chi phí và thời gian Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 16
  18. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- thực hiện các hợp đồng thương mại, đến hiệu quả của kinh doanh xuất nhập khẩu. Cuối cùng là phương pháp tiếp cận thị trường. Sau khi đã nghiên cứu kĩ thị trường cùng các yếu tố liên quan, doanh nghiệp sẽ đề ra phương pháp thích hợp để xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường; đưa ra những mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, lập kế hoạch tương ứng để đạt được các mục tiêu đó. Có bao nhiêu biện pháp để xâm nhập thị trường thì cũng có bấy nhiêu biện pháp phát triển thị trường. Vấn đề là phải chọn lựa đúng đắn phương pháp phù hợp để đạt hiệu quả cao nhất và phát triển bền vững nhất. 4. Vận dụng kết quả nghiên cứu thị trường vào hoạt động kinh tế ngoại thương Như trên đã nói việc nghiên cứu thị trường nước ngoài chỉ là một phần trong toàn bộ công tác thị trường nước ngoài. Những công việc tiếp theo là xử lý thông tin thị trường nước ngoài, vận dụng kết quả nghiên cứu để tổ chức hoạt động kinh doanh. Việc thâm nhập thị trường bao gồm các hình thức, phương pháp tác động tích cực đến thị trường nước ngoài, cũng như tác động đến bạn hàng (bao gồm người sử dụng hay người tiêu dùng, nhà nhập khẩu hay đại diện của họ). Công tác này phục vụ cho công việc chuẩn bị các hoạt động trao đổi mậu dịch và hướng vào việc tạo ra các điều kiện mua và bán thuận lợi (tổ chức tuyên truyền quảng cáo, dịch vụ sau bán hàng...), nhằm thực hiện các kế hoạch xuất khẩu, nhập khẩu. Nội dung của các công tác thị trường nước ngoài bao gồm: (i) việc tổ chức tốt các công tác dịch vụ đối với khách hàng, (ii) tổ chức quảng cáo thông tin, tổ chức công tác cố vấn kinh tế - kỹ thuật và (iii) đưa ra các phương pháp mua bán hàng thích hợp. Công tác dịch vụ khách hàng bao gồm tất cả các dịch vụ gắn liền với sản phẩm nhằm giữ gìn và bảo đảm giá trị sử dụng của hàng hoá, nhằm phục vụ cho người mua trong và ngoài thời hạn bảo hành. Dịch vụ khách hàng cũng là hoạt động sản xuất vật chất (lắp đặt, sửa chữa, bảo dưỡng...), bản thân nó cũng được coi như một hàng hoá có tác dụng lớn Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 17
  19. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- trong việc thu thập thông tin thị trường để cải tiến sản phẩm và có ý nghĩa quan trọng trong việc giành được thị trường và khách hàng. Dĩ nhiên, việc tổ chức dịch vụ khách hàng gắn chặt với các điều kiện thị trường và tính chất cụ thể của hàng hoá, tuân theo các thời hạn thông dụng quốc tế về dịch vụ khách hàng và chú ý đến tập quán, thị hiếu của người tiêu dùng. Công tác tuyên truyền, quảng cáo cần thông tin cho khách hàng về các đặc tính và ưu điểm của sản phẩm nhằm tạo ra nhu cầu của khách hàng, trong đó phải chú ý tạo nên lòng tin thực sự cho khách hàng và giữ được chữ Tín lâu dài. Trong những trường hợp cần thiết còn phải tổ chức công tác cố vấn kinh tế - kỹ thuật tạo điều kiện cho người mua khai thác tối ưu các công dụng của hàng hoá nữa. Việc tìm tòi và tổ chức các phương pháp bán hàng thích hợp gồm những dịch vụ kích thích việc mua bán hàng hoá, tạo điều kiện cho người mua tiếp cận nhanh chóng và nhận được hàng hoá khi họ muốn, kể cả việc tạo điều kiện cho họ thanh toán một cách thuận lợi. Để cho hoạt động kinh doanh trên thị trường nước ngoài nói riêng và cho các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung đạt kết quả mong muốn, căn cứ vào kết quả nghiên cứu thị trường, cần giải quyết tốt bốn công việc sau đây: 4.1. Xác định phương hướng và chiến thuật kinh doanh. Thông thường, việc trao đổi mậu dịch quốc tế bao gồm hai loại hoạt động: xuất khẩu và nhập khẩu. Chiến thuật điều hành việc xuất nhập khẩu này thay đổi theo tình hình quan hệ cung-cầu và sự biến động của mức giá cả có ý nghĩa quyết định vì bản thân mức giá cả là sự thể hiện tổng hợp các mối quan hệ kinh tế. Một cách chung nhất, khi dự đoán giá hạ thì sẽ áp dụng chiến thuật bán nhanh gọn, với những điều kiện dễ dãi cho người mua, thậm chí bán hạ hơn một chút khi giá chưa kịp hạ để thu hút khách hàng về phía mình. Ngược lại, nếu dự đoán giá tăng thì nên áp dụng chiến thuật bán cầm chừng, vừa bán vừa chờ giá tăng lên để đạt được doanh thu cao. Chiến thuật kinh doanh mua bán trên gọi là chiến thuật chủ động vì người kinh doanh đã nắm được sự biến động của giá cả nhằm mục đích bán hàng với giá cao nhất. Sự khác nhau giữa Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 18
  20. Khoá luận tốt nghiệp ---------------------------------------------------------------------------------------------- các nhà kinh doanh và mức độ thành công lớn hay nhỏ giữa họ chính là ở chỗ ai dự đoán chính xác xu hướng biến động của giá cả, đặc biệt là các điểm dừng (cao nhất hoặc thấp nhất) và có kịp thời chớp thời cơ hay không. Khi không có khả năng dự đoán chính xác sự biến động của giá cả thì người kinh doanh buộc phải áp dụng chiến thuật thụ động tức là chia đều khối lượng hàng nhập hoặc xuất ra thành nhiều lần để tránh sự thiệt hại lớn (san đi bù lại giữa các kỳ). Một điều cần ghi nhớ là luôn phải xem xét kĩ mức cung cầu trên thị trường, giá chung cũng như các yếu tố liên quan để đưa ra chiến thuật giá thích hợp. Việc các doanh nghiệp Việt Nam đưa ra mức giá rẻ cho cá da trơn nước ta so với các đối thủ cạnh tranh, vốn đang trong thời đoạn khó khăn, là Hiệp Hội Các Chủ Trại Cá Nheo Mĩ, đã khiến cho cộng đồng này quyết tâm loại trừ các doanh nghiệp Việt Nam khỏi thị trường catfish Mĩ bằng đủ mọi biện pháp. Trên thực tế, dù mức giá đủ thu lãi nhưng việc đưa ra một mức quá thấp so với đối thủ cạnh tranh cũng đem lại nhiều rắc rối và dẫn đến sự cạnh tranh thiếu lành mạnh; doanh nghiệp ta có thể thu lãi nhiều hơn, tránh va chạm lợi ích trực tiếp với các đối thủ khác mà vẫn thu hút người tiêu dùng tại thị trường này với một mức giá cao hơn hợp lí. Điều này cũng cần dược rút kinh nghiệm trên các thị trường khác cho Việt Nam, khâu định giá thật sự đòi hỏi sự nhạy cảm về kiểu thị trường, mức độ cạnh tranh và bảo hộ tại đó. 4.2. Lựa chọn mặt hàng kinh doanh. Mặt hàng kinh doanh là vấn đề có liên quan đến cơ cấu của nền kinh tế (cả cơ cấu ngành và cơ cấu công nghệ) liên quan đến lợi thế so sánh của một quốc gia, đến khả năng xâm nhập thị trường thế giới v.v..., cho nên việc lựa chọn mặt hàng kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh tế đối ngoại. Việc nghiên cứu quan hệ cung cầu, sự biến động của giá cả cũng như trình độ công nghệ của thế giới có tác dụng quyết định đến việc lựa chọn mặt hàng kinh doanh. Tuy nhiên, mặt hàng kinh doanh không cố định, đơn điệu mà cần có sự phối hợp hài hoà giữa xuất với nhập khẩu, theo đặc điểm của từng thị trường, phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ phát triển nền kinh tế ở từng giai đoạn. Phải tiến hành xác định rõ số lượng cần thiết và lựa chọn cơ Triệu Thị Mỹ Châu – A9 K38 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản