LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa

Chia sẻ: dellvietnam

Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thanh hóa', luận văn - báo cáo, thạc sĩ - tiến sĩ - cao học phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa

LUẬN VĂN:

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh

Thanh Hóa
Mở đầu



1. Lý do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một tài nguyên, một nguồn lực.
Bởi vậy, việc phát triển con người phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị
trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là
yếu tố chắc chắn nhất cho sự phồn vinh thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư vào con
người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững. Ngay từ những năm 60 của
thế kỷ XX, nhiều nước đã tăng trưởng kinh tế thông qua quá trình công nghiệp hóa, hay
nói cách khác là thông qua việc phát triển của khoa học - công nghệ gắn liền với việc
phát triển nguồn nhân lực. Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh để đạt được
sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định phải thông qua việc nâng cao chất lượng đội ngũ
lao động kỹ thuật - nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi nguồn lao động với chất lượng cao. Vận
mệnh của đất nước, tương lai phát triển, khả năng đi lên của Việt Nam đều phụ thuộc
vào chính bản thân con người Việt Nam. Vì vậy, để phát triển đất nước, chúng ta không
thể không quan tâm đến việc phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề mà mỗi quốc gia đều phải quan
tâm chăm sóc, bồi dưỡng, phát triển và tìm cách phát huy có hiệu quả trên con đường
phát triển văn minh tiến bộ của mình.

Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực nên Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: "Phát triển mạnh nguồn lực con người Việt Nam
với yêu cầu ngày càng cao" nhằm bảo đảm nguồn nhân lực cả về số lượng và chất
lượng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [41, tr. 65].
Cũng như cả nước, tỉnh Thanh Hóa chỉ có thể thực hiện thành công công nghiệp
hóa, hiện đại hóa khi phát huy được cao độ nguồn lực con người.

Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XV (2001-2005)
đã đề ra nhiệm vụ sau: "Phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực có chất lượng toàn diện,
cả về sức khỏe thể chất, trình độ học vấn, nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tư tưởng
chính trị, đời sống văn hóa tinh thần…" nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của tỉnh nhà. Căn cứ vào nhiệm vụ trên tỉnh Thanh Hóa phải lấy việc phát huy
nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Thanh Hóa có
thể trở thành một tỉnh có nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay không điều đó còn tùy
thuộc vào việc xây dựng và thực hiện chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Thanh Hóa vừa là vấn đề cấp thiết vừa căn bản và lâu dài đối với sự phát triển của tỉnh.
Với ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề " Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa " làm đề tài luận văn thạc sĩ.

2. Tình hình nghiê n cứu

Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển lịch sử, do đó vấn
đề con người, đặc biệt là vấn đề nhân tố con người luôn luôn là đối tượng thu hút sự
quan tâm của nhiều ngành khoa học. Thực tiễn ngày càng chứng minh, sự phát triển bền
vững của mỗi quốc gia phụ thuộc vào việc đầu tư khai thác, phát huy có hiệu quả vai trò
nhân tố con người.

Từ những nghiên cứu chung về con người, các nhà khoa học Xô Viết trước đây
đã đi sâu nghiên cứu về nhân tố con người và phát huy vai trò của nhân tố con người.
Đã có nhiều đề tài và công trình của các nhà khoa học Xô viết đi sâu vào nghiên cứu
mối quan hệ giữa nhân tố con người với các nhân tố kinh tế, vật chất kỹ thuật trong cấu
trúc nền sản xuất xã hội. Công trình nghiên cứu của nữ viện sĩ Giaxlapxkai A về công
bằng xã hội và nhân tố con người những năm 1986 - 1987 là một ví dụ tiêu biểu. Hội
nghị khoa học giữa các nhà khoa học Xô viết và Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào năm
1988, đã tập trung trao đổi ý kiến và thảo luận xoay quanh chủ đề về nhân tố con người
và phát triển kinh tế - xã hội.

ở nước ta các nhà khoa học đã có những hoạt động sôi nổi về nghiên cứu vấn đề
con người. Nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VIII, các nhà khoa học đi sâu nghiên
cứu về vấn đề nguồn lực con người, nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều
bài viết đã thể hiện quan điểm coi con người là nguồn tài nguyên vô giá và sự cần thiết
phải đầu tư vào việc bảo toàn, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên này,
lấy đó làm đòn bẩy để phát triển kinh tế, để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Những bài viết, những công trình khoa học đó được đăng trên các sách báo, tạp chí, đó
là những bài viết về: "Xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hóa, tiếp tục thực hiện
chiến lược xây dựng và phát triển nguồn lực con người Việt Nam" của nguyên Tổng Bí
thư Lê Khả Phiêu (đăng trên Tạp chí phát triển giáo dục 4/1998); "Tài nguyên con
người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của Nguyễn Quang Du
(thông tin lý luận số 11/1994); "Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước" của GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn (Triết học số 2 - 1994); "Nguồn lực con
người, nhân tố quyết định của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Phạm Ngọc
Anh (Nghiên cứu lý luận, số 2 - 1995); "Phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hóa đến
năm 2010 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của TS Bùi Sĩ Lợi (Nhà xuất bản
chính trị, quốc gia Hà Nội 2002); "Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Nguyễn Đình Hòa (tạp chí triết học số 1 -
2004); "Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm nước ta" (NXB
chính trị quốc gia Hà Nội 1996); "Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa" (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996); "Từ chiến lược phát triển giáo
dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực" (NXB Giáo dục - 2002)… Đặc biệt là
công trình khoa học cấp Nhà nước KX-05 "Nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân
lực đầu thế kỷ XXI" (11/2003). Đề tài này có những công trình đáng chú ý như: "ảnh
hưởng của tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ đến việc nghiên cứu và phát triển
con người và nguồn nhân lực những năm đầu thế kỷ XXI" của TSKH Lương Việt Hải;
"Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đầu thế kỷ XXI" của TS Nguyễn Hữu Dũng; "Một
số những thay đổi của quản lý nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển đổi nền
kinh tế trong cơ chế thị trường" của TS Vũ Hoàng Ngân…

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực trong công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Hầu hết các đề tài đã tập trung nghiên cứu các
phương diện khác nhau của sự phát triển con người Việt Nam và đề xuất những giải
pháp để phát huy nguồn lực con người, từ giáo dục-đào tạo đến giải quyết việc làm, đổi
mới cơ chế, chính sách nhằm phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực ở
nước ta. Ngoài những công trình đó còn rất nhiều tác giả với những công trình nghiên
cứu khác đã đề cập đến vấn đề nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
nước ta bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau. Song những công trình đi sâu, phân tích
nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa chưa được đề cập
nhiều, đặc biệt là phân tích những điều kiện khả năng trong việc thực hiện nâng cao chất
lượng, nguồn nhân lực ở Thanh Hóa.

Qua luận văn này tác giả hi vọng đóng góp một cố gắng nhỏ bé, bước đầu của
mình vào sự nghiên cứu, phát triển con người và nguồn nhân lực cho sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa, cũng như cả nước.

3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

- Mục đích nghiên cứu:

Xuất phát từ tính cấp bách của đề tài và lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi
xác định mục đích của đề tài là: Trên cơ sở phân tích thực trạng của nguồn nhân lực
Thanh Hóa hiện nay mà đề xuất một số giải pháp cấp bách nhằm xây dựng nguồn nhân
lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa.

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

Làm rõ quan điểm mácxít về vai trò của con người và nhân tố con người trong
lực lượng sản xuất, quan niệm về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và vai trò
của nó trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đánh giá tình hình dân số, thực trạng nguồn nhân lực và việc nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực ở Thanh Hóa. Từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh
Hóa.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu về lực lượng lao động của Thanh Hóa; không những
nghiên cứu về mặt số lượng mà còn tập trung nghiên cứu mặt chất lượng - yếu tố quyết
định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

- Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận:

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa
duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta, các quan điểm khoa học hiện đại về nguồn nhân lực.

- Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và lô gíc, quy nạp và diễn dịch, phân
tích và tổng hợp.

6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Góp phần hệ thống hóa những luận điểm nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và
phương pháp luận về nhân tố con người và nguồn nhân lực.

Làm rõ thực trạng nguồn nhân lực Thanh Hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Làm rõ một số khía cạnh chủ yếu về xu hướng biến đổi của nguồn nhân lực
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa.

Đưa ra một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa.

Góp phần nâng cao nhận thức về việc thực hiện nâng cao chất l ượng nguồn
nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa. Đây là việc làm của tất
cả các cấp, các ngành của mọi người, của tỉnh và của cả Trung ương.

7. ý nghĩa thực tiến của luận văn

Góp phần đưa Nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống tại Thanh Hóa.

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy và học
tập ở các trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp, các trung tâm đào tạo, đồng thời
làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý cấp tỉnh, cấp huyện.

8. Kết cấu của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1

Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam



1.1. Quan điểm mácxít về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực

1.1.1. Từ quan điểm mácxít về con người đến nhân tố con người và nguồn
nhân lực

* Quan điểm về con người

Các nhà khoa học và chính trị từ cổ chí kim, từ Đông đến Tây, trong suốt chiều
dài của lịch sử luôn coi con người là vấn đề trung tâm của thế giới, là trung tâm chú ý
của mọi thời đại. Song các nhà tư tưởng trước Mác đã giải thích con người một cách
phiến diện, không coi con người là vị trí trung tâm của quá trình hình thành phát triển
của nhân loại. Họ lý giải sai lầm về bản chất con người. Họ không thấy được bản chất
con người là một bản chất xã hội, không thấy được con người là một thực thể tự nhiên -
xã hội. Chỉ đến Mác và Ăng ghen thì việc nhận thức về con người mới có sự thay đổi về
chất so với trước. Mác đã xuất phát từ phạm trù thực tiễn để lý giải bản chất của con
người trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người và
những quy luật chi phối quan hệ đó. Cống hiến quan trọng của Mác là đã vạch ra được
những vai trò của các quan hệ xã hội trong những yếu tố cấu thành bản chất con người.
Theo Mác "Bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng cố hữu của một cá nhân
riêng biệt, trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ
xã hội" [16 -11].

Bản chất con người là kết quả của sự tác động từ các nhân tố xã hội mà trước
hết là của hoạt động lao động sản xuất vật chất của đấu tranh xã hội của con người.
Thông qua quá trình này, con người cải tạo giới tự nhiên và xã hội, đồng thời cải tạo
chính bản thân mình. Như vậy, khi tác động vào giới tự nhiên, cải tạo giới tự nhiên sáng
tạo ra lịch sử, con người phát triển tư chất năng khiếu, tài năng, phẩm chất, ý chí… đó
là điều kiện để mỗi cá nhân trở thành chủ thể của hoạt động sáng tạo, xây dựng thế giới
mới. Họ là người sản xuất trực tiếp, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật
chất và văn hóa, mọi nền văn minh của các quốc gia.

Tóm lại, chủ nghĩa Mác quan niệm con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu
của sự phát triển kinh tế - xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thấm nhuần một cách sâu sắc quan điểm của
Mác - Ăngghen về con người, và đã có những kiến giải rất sâu sắc về vấn đề con người.
Hồ Chí Minh không những nhận thức thấu đáo mà còn vận dụng và phát triển sáng tạo
quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam. Trong
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định
sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc không tách rời nhau và đều nhằm
mục đích đem lại tự do, hạnh phúc cho con người. Nhân tố quyết định cho sự nghiệp
giải phóng con người không phải là ai khác chính lại là con người, quần chúng nhân
dân, là lực lượng quý nhất, vĩ đại nhất, bởi vì "Võ luận việc gì cũng do con người làm ra
và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều như thế cả" [56 -113].

Hồ Chí Minh luôn coi việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát triển con người, coi
con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của xã hội, là nhân tố quyết định
sự thành công của cách mạng. Do đó, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến "sự nghiệp trồng
người", "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người" tư tưởng chiến
lược về con người của Hồ Chí Minh đã và đang được Đảng ta từng bước thực hiện.

Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay từ khi
mới ra đời tư tưởng giải phóng dân tộc của Đảng ta luôn gắn liền, hòa quyện với tư
tưởng giải phóng con người. Thời kỳ đó, vấn đề con người được Đảng ta quan tâm
trước hết là vấn đề giải phóng con người khỏi ách nô lệ. Ngày nay, trong công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vấn đề con người là vấn đề được Đảng ta quan
tâm hàng đầu. Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tư khóa VII đã
khẳng định: "…Sự phát triển con người đã trở thành tiêu chí ngày càng quan trọng trong
việc xếp hạng các nước trên thế giới"[15 - 6]. Phát triển con người, thực chất là mô hình
con người phát triển toàn diện. Mục tiêu con người phát triển toàn diện - hài hòa không
phải đến thời kỳ đổi mới mới được Đảng ta đặt ra, mà là mục tiêu xuyên suốt của Đảng
cộng sản Việt Nam.Từ khi Đảng ra đời cho đến nay, cách nhìn toàn diện về phát triển
con người của Đảng đã xây dựng nên quan điểm phù hợp với xu thế đi lên của thời đại:
Con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội.

Để con người thực sự trở thành động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội thì
chúng ta phải phát huy được nhân tố con người.

* Quan niệm về nhân tố con người

Nói tới nhân tố con người là nói tới vai trò, vị trí của con người trong tổ chức
quản lý xã hội thông qua hoạt động thực tiễn của nó trước hết là sản xuất vật chất. Nói
tới nhân tố con người cũng có nghĩa nói đến tính chất, ý nghĩa của nó như là một động
lực quan trọng nhất trong các nhân tố có quan hệ với phát triển. Nhân tố con người là
một nhân tố xã hội, thể hiện sức mạnh tổng hợp của chủ thể người trong quan hệ với
khách thể là xã hội mà hoạt động thực tiễn của nó đem lại sự phát triển tiến bộ cho xã
hội.

Vậy, nhân tố con người là toàn bộ những dấu hiệu riêng có, những yếu tố,
những mặt nói lên vai trò của con người như là chủ thể hoạt động trong các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội. Nhân tố con người bao hàm toàn bộ tư chất, năng khiếu,
tài năng, phẩm chất ý chí của con người để nó đóng được vai trò là chủ thể hoạt động
sáng tạo xây dựng xã hội.

Nhân tố con người bao gồm các nội dung sau:

Thứ nhất, đó là một chỉnh thể các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng
liên kết chặt chẽ với nhau, mà tác động qua lại và hoạt động của các giai tầng ấy bảo
đảm cho sự phát triển tiến bộ của xã hội.

Thứ hai, nhân tố con người được hiểu là những tiêu chí về số lượng, chất lượng,
nói lên khả năng của con người, của cộng đồng người như là một tiềm năng cần bồi
dưỡng, cần khai thác và phát huy. Đó là tiêu chí về số lượng lao động, tình hình sức
khỏe, trình độ học vấn, nghề nghiệp chuyên môn.

Thứ ba, đó là những tiêu chí về nhân cách, về chức năng xã hội của con người,
những tiêu chí này nói lên mức độ, khả năng sáng tạo của cá nhân trong hệ thống các
quan hệ xã hội, gồm các năng lực chuyên môn, kỹ thuật được đào tạo, lẫn thái độ lao
động, ý thức xã hội chính trị và lập trường xã hội của giai cấp công nhân.

Các nội dung trên của nhân tố con người có quan hệ biện chứng với nhau. Việc
phát huy nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải tính đến
đầy đủ những nội dung đó. Những sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xã hội trong thời
gian qua, ở các mức độ khác nhau đều có nguyên nhân từ việc không tính đến một cách
đầy đủ những nội dung của nhân tố con người. Do vậy, trên thực tế đã dẫn đến không
phát huy được nguồn lực con người. Vì vậy, việc nhận thức một cách toàn diện những
nội dung của nhân tố con người có liên quan trực tiếp đến việc xác định một tổng hợp
những điều kiện, biện pháp thực tiễn mà quá trình quản lý kinh tế, xã hội phải thực hiện
nhằm nâng cao và phát huy nhân tố con người. Phát huy nhân tố con người chính là quá
trình đào tạo, bồi dưỡng làm tăng nhân tố con người về thể lực, trí lực, phẩm chất, đạo
đức... Là quá trình khai thác yếu tố đó trong lao động, học tập, chiến đấu nhằm phục vụ
cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc.

Nhân tố con người không khai thác không phát huy được là lãng phí lớn nhất.
Vì vậy, trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, Đảng ta phải từng bước cụ thể hóa đường
lối chính sách nhằm khơi dậy và phát huy nhân tố con người.

* Khái niệm nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực hay còn gọi là nguồn lực con người, vốn người. Hiện nay có
nhiều quan niệm về khái niệm nguồn nhân lực.

Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động thương binh và xã hội:
"Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia,
suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng. Đây là
nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội"[5-13].

Theo khái niệm này, nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất
lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội.

Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thì nguồn nhân lực được hiểu
là:

- Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực (HumanRersources) là tổng thể các tiềm
năng (lao động) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã
được chuẩn bị ở mức độ nào đó khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể [72-22].

Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực như một bộ phận cấu thành các nguồn
lực của quốc gia, như nguồn lực vật chất (trừ con người), nguồn tài chính, nguồn lực trí
tuệ ("chất xám")… Những nguồn lực này có thể được huy động một cách tối ưu tạo
thành động lực để phát triển kinh tế - xã hội, ta có thể biểu đạt như sau:




Phát triển
kinh tế xã
hội
Nguồn lực tài chính




Nguồn lực vật chất
Nguồn nhân lực
Hình 1.1.

Xuất phát từ khái niệm trên và qua hình 1 ta thấy nguồn lực phát triển là một hệ
thống, mỗi một nhân tố trong hệ thống đó đều có vai trò riêng, trong đó nguồn lực con
người nằm ở trung tâm hệ thống. Bởi vì, các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất,
khoa học công nghệ... mà không được con người phát hiện khai thác thì nó vẫn chỉ tồn
tại ở dạng tiềm tàng mà thôi. Chính con người thông qua hoạt động của mình làm phát
triển các nguồn lực khác, sử dụng nó để phát triển xã hội. Do đó, nguồn lực con người
được coi là một thứ tài nguyên quý giá nhất, một nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn
lực của mọi nguồn lực. Vì vậy, thực chất chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là chiến
lược phát triển con người và vì con người.

- Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong nền
kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) nghĩa là bao gồm những
người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động, thực tế đang có việc
làm và những người thất nghiệp [72-24].

Với khái niệm trên và căn cứ ở Việt Nam thì lực lượng lao động Việt Nam bao
gồm: những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm; những người ngoài độ tuổi
lao động thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp, nghĩa là không bao gồm
những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang đi học, đang làm
nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc. Bộ luật lao động nước ta quy định độ
tuổi lao động là từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, và từ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ.

Qua tiếp cận các khái niệm trên ta có thể hiểu nguồn nhân lực là tổng thể những
yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội
v.v.. tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng phát huy
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Khi chúng ta nói tới nguồn lực con người là ta
nói tới con người với tư cách là chủ thể hoạt động sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên,
làm biến đổi xã hội.

Chúng ta cũng có thể hiểu đầy đủ hơn về nguồn nhân lực thông qua khái niệm
phát triển nguồn nhân lực. Trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta, phát triển nguồn
nhân lực được hiểu là gia tăng giá trị con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng,
tâm hồn, thể lực... làm cho con người trở thành những lao động có những năng lực và
phẩm chất mới ngày càng cao, để đủ sức đáp ứng những yêu cầu to lớn của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực
còn bao hàm các mặt: giáo dục và đào tạo, việc làm, sử dụng lao động, chăm sóc nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần, xây dựng môi trường sống và lao động cho lực lượng
lao động. Phát triển nguồn nhân lực còn là các hoạt động (đầu tư) nhằm tạo ra nguồn
nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của
đất nước, đồng thời bảo đảm sự phát triển của mỗi cá nhân.

1.1.2. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực

Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng
về trạng thái, thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của
nguồn nhân lực. Nói cách khác là trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, trình độ chuyên
môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội… của nguồn nhân lực, trong đó
trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá phân loại chất
lượng nguồn nhân lực [72 - 71].

Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với
tư cách là một khách thể vật chất đặc biệt, đồng thời là chủ thể của mọi hoạt động kinh
tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp những nét đặc trưng
phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển
con người.

Nói tới chất lượng nguồn nhân lực là nói tới nguồn lực con người, nguồn lực
lao động, không chỉ được biểu thị về số lượng mà còn biểu thị về chất lượng, nó được
thể hiện ở trình độ học vấn tay nghề, kỹ năng nghiệp vụ của người lao động, thể hiện
người lao động đã được đào tạo, thể hiện ở sức khỏe của người lao động. Người lao
động phải có sức khỏe tốt mới hoàn thành tốt công việc của mình được; không những
thế người lao động còn phải có đạo đức, lối sống được thể hiện ra ở thái độ lao động,
trách nhiệm trong công việc mình làm.
Tóm lại, trong quá trình lao động sản xuất, nguồn lực lao động chất

lượng cao đã đem lại hiệu quả sản xuất tốt, đem lại năng suất chất lượng thành
phẩm cao. Thành quả lao động đó là sự kết tinh của sức lực và trình độ tay nghề của
người lao động, mặt khác nó còn là sự kết tinh của lòng ham mê hăng say lao động, ý
thức trách nhiệm của người lao động. TSKH Lương Việt Hải đã khẳng định: "Trong
thời đại cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ thể lực là… một điều kiện tất yếu
và tối cần thiết, là điều kiện cần của mọi quá trình lao động, nhưng nó không còn là điều
kiện đủ. Trí tuệ, với năng lực tinh thần và những phẩm chất tâm lý đóng vai trò quan
trọng và quyết định năng suất, hiệu quả và giá trị xã hội của lao động"[46 – 380]. Vì
vậy, trình độ học vấn, tay nghề của người lao động là quan trọng, là quyết định; song
cũng không thể thiếu được ý thức đạo đức và sức khỏe của người lao động. Có thể nói
chất lượng nguồn nhân lực được kết hợp bởi 3 yếu tố: Thể lực, trí lực và đạo đức lối
sống.

+ Thể lực: là trạng thái sức khỏe của con người biểu hiện ở sự phát triển sinh
học, không có bệnh tật, có sức khỏe lao động trong hình thái lao động ngành nghề nào đó,
có sức khỏe để học tập làm việc lâu dài... thể lực yếu sẽ hạn chế rất lớn đến sự phát triển trí
lực của cá nhân và cộng đồng xã hội nói chung.

+ Trí lực: Là năng lực trí tuệ, tinh thần, là trình độ phát triển trí tuệ, là học vấn
chuyên môn kỹ thuật, là kỹ năng nghiệp vụ, tay nghề. Nó quyết định phần lớn khả năng
sáng tạo của con người, nó càng có vai trò quyết định trong phát triển nguồn lực con
người, đặc biệt trong thời đại ngày nay khi khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão.

+ Lối sống đạo đức: Là sự phản ánh những chuẩn mực đạo đức xã hội. Những
giá trị từ chuẩn mực đó phản ánh bản chất của xã hội, lý tưởng đạo đức của xã hội vươn
tới, nhất là trong hoạt động, trong lối sống, nếp sống hàng ngày. Lối sống đạo đức con
người là sự thể hiện tính cách, tâm lý sự giác ngộ, các giá trị văn hóa được kết tinh
trong người lao động. Đạo đức gắn liền với năng lực tạo nên những giá trị cơ bản của
nhân cách chất lượng người lao động, từ phương diện cá nhân đến phương diện xã hội
và biểu hiện ra ở ý thức lao động, thái độ lao động.
Ngoài thể lực, trí lực, đạo đức lối sống, cái làm nên chất lượng nguồn nhân lực
là kinh nghiệm sống, nhu cầu thói quen vận dụng tri thức tổng hợp và kinh nghiệm của
mình vào các hoạt động sáng tạo, tạo ra các giải pháp mới đối với công việc như một
sáng tạo văn hóa. Xét theo ý nghĩa đó, chất lượng nguồn nhân lực bao gồm trong đó
toàn bộ sự phong phú, sâu sắc của các năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức và
quản lý, tính tháo vát và sự uyển chuyển của những phản ứng của con người trước hoàn
cảnh dựa trên sức mạnh của học vấn, kinh nghiệm, sự rộng mở các quan hệ xã hội, sự
tiếp thu tinh tế các ảnh hưởng văn hóa truyền thống từ gia đình tới xã hội. Nó kết hợp
với sức khỏe (thể lực) và dẫn dắt con người đi vào trường học thực tiễn của sáng tạo và
phát triển. Nói cách khác chất lượng nguồn nhân lực là một tập hợp các chỉ số phát triển
con người, là chất lượng văn hóa mà bản thân nó và xã hội có thể huy động vào sự sáng
tạo tiếp theo các giá trị văn hóa của toàn xã hội, vì lợi ích của cá nhân và toàn xã hội.

ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, nguồn lực con người đã được phát huy trên
nhiều lĩnh vực, góp phần tạo nên nhiều thành tựu quan trọng, đưa đất nước thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế-xã hội và chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ CNH, HĐH.

Mặc dù nước ta đã thoát khỏi những khủng hoảng kinh tế xã hội, nhưng nhìn
chung nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế còn
thấp, kỹ thuật lạc hậu, đặc biệt nguồn nhân lực với tư cách là động lực của CNH, HĐH
chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH. Số người được đào tạo và số người
có tay nghề bậc cao còn thấp, số người có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên còn ít. Đó là
một khó khăn lớn cho việc tiếp thu khoa học hiện đại, tiên tiến. Mặt khác sức khỏe của
nhân dân còn nhiều mặt yếu kém. Nói tóm lại, bước vào sự CNH, HĐH ở nước ta nói
chung và Thanh Hóa nói riêng, chỉ số phát triển con người chưa phù hợp với yêu cầu
của CNH, HĐH. Vì vậy, cần phải phát triển nguồn nhân lực hơn nữa, phải tạo ra nguồn
nhân lực với chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.

1.2. Vị trí, vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước
1.2.1. Nguồn nhân lực - nhân tố quyết định sự thắng lợi công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước

Theo quan điểm duy vật biện chứng về xã hội thì sản xuất vật chất là nhân tố
quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội, trong quá trình sản xuất ấy thì lực lượng sản
xuất là yếu tố quyết định. Quá trình sản xuất vật chất của nhân loại đã hình thành mối
quan hệ tất yếu khách quan và phổ biến, đó là mối quan hệ giữa con người với tư cách
là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với giới tự nhiên. Lực lượng sản xuất chính
là biểu hiện quan hệ giữa con người với giới tự nhiên. Theo Mác lực lượng sản xuất là
một thể thống nhất giữa "một bên là con người và lao động của con người; bên kia là tự
nhiên và vật liệu của tự nhiên thế là đủ" [18-271]. Nhưng với tư cách là chủ thể của quá
trình lao động, con người không thỏa mãn với những gì đã có sẵn trong tự nhiên mà con
người kết hợp lao động của mình với những cái có sẵn tạo ra những cái không có sẵn
trong tự nhiên nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình. Vậy, lao động là hoạt động có
tính mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã
hội.

Theo Mác: "Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự
nhiên, quá trình đó bằng hoạt động của chính mình con người làm trung gian điều tiết và
kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên " [19-20]. Nói đến sản xuất ra vật chất cho xã
hội tồn tại và phát triển là phải nói đến hoạt động lao động của con người. Tức là nói đến
người lao động; người lao động với sức khỏe, tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lao động,
tiến hành lao động nhằm thực hiện những nhu cầu đáp ứng những lợi ích của mình
trong những điều kiện kinh tế-lịch sử nhất định. Mác khẳng định: "Do có được những
lực lượng sản xuất mới, loài người đã thay đổi phương thức sản xuất của mình và do
thay đổi phương thức sản xuất, cách làm của mình, loài người đã thay đổi tất cả những
quan hệ xã hội của mình" [20 - 125]. Như vậy, loài người làm nên lịch sử xã hội của
mình bằng chính sức lực của mình, bằng chính nguồn nhân lực.

Lênin cũng đã đánh giá "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là
công nhân, là người lao động" [80 - 430].
Trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Đảng ta
đã phân tích các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay và khẳng định:
" Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thống yêu nước cần cù, sáng
tạo... đó là nguồn lực quan trọng nhất" [81 - 5].

Đối với nước ta hiện nay, bước vào CNH, HĐH thì "Nguồn nhân lực" chính là
"Nguồn lực con người". Chính vì nguồn lực con người là nội lực quan trọng nhất cho sự
phát triển nên Đảng ta đã "lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho
sự phát triển nhanh và bền vững..." [40-85].

Việt Nam phát triển đất nước trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế
giới. Vì vậy đòi hỏi Việt Nam phải tiến hành CNH, HĐH trong đó lấy việc phát triển
con người làm trung tâm. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình phát triển kinh tế -
xã hội từ thực trạng một nền sản xuất với năng suất chất lượng và hiệu quả thấp, dựa
vào sản xuất nông nghiệp, sử dụng lao động thủ công là chủ yếu chuyển sang một nền
sản xuất có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao dựa trên sản xuất công nghiệp và
những thành tựu mới của khoa học - công nghệ. CNH, HĐH cũng chính là một quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành có hàm lượng khoa
học - công nghệ cao, có giá trị tăng cao. Thực chất của CNH là sự phát triển công nghệ,
là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ từ trình
độ công nghệ thấp lên trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại. Trong giai đoạn hiện nay,
CNH, HĐH còn bao gồm những yếu tố của nền kinh tế tri thức. Như vậy, thực chất
CNH, HĐH chính là quá trình xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của nền sản xuất hiện
đại, xây dựng cái cốt vật chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó, Đảng cộng sản Việt Nam đã
khẳng định CNH, HĐH: Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỉ trọng của sản
xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới
căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Công nghiệp hóa phải đi đôi với hiện đại hóa, kết hợp những bước tiến tuần tự
về công nghệ với tranh thủ đi tắt, đón đầu, hình thành những mũi nhọn phát triển theo
trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ thế giới [32-27].

Muốn đạt những yêu cầu trên chúng ta phải nỗ lực và sáng tạo rất cao, phải biết
tiếp cận và vận dụng những thành tựu mới về khoa học và công nghệ của nhân loại, phải
sử dụng và phát huy đến mức tối đa lợi thế vốn có của nguồn lực con người Việt Nam;
và hơn nữa biến nguồn lực con người thành động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước.

Chỉ có nguồn nhân lực với những con người có năng lực phát triển toàn diện,
nắm bắt nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, đáp ứng được nhu cầu
khai thác và sử dụng các nguồn lực tự nhiên cho sự phát triển xã hội, chúng ta mới có
thể đưa sự nghiệp CNH, HĐH đến thắng lợi. Chính vì vậy, cần phải có nguồn nhân lực
và nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng công cuộc CNH, HĐH đất nước.

Để thực hiện CNH, HĐH đất nước cần thiết phải có một hệ thống nguồn lực.
Trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Đảng ta đã đưa ra
các nguồn lực như: Nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất -kỹ thuật, vị trí
địa lý, nguồn nhân lực và nguồn lực nước ngoài… các nguồn lực này có quan hệ biện
chứng và cùng tham gia vào quá trình CNH, HĐH, nhưng mỗi nguồn lực có vai trò vị
trí và mức độ tác động riêng của chúng. Trong tổng thể các nguồn lực đó thì nguồn
nhân lực có vị trí trung tâm và giữ vai trò quyết định sự thắng lợi của sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước. Ta có sơ đồ sau:
Nguồn nhân
lực




Nguồn
Nguồn
tài
lực
nguyên
nước
thiên
ngoài

Sự nghiệp
công
nghiệp hoá
hiện đại
hoá ở Việt
Các
Nguồn
nguồn
cơ s ở
lực
vật
khác:
chất -
kỹ




Nguồn vốn




Hình 1.2: Sơ đồ tổng thể các nguồn lực tác động đến quá trình
CNH,HĐH ở nước ta hiện nay

Sơ đồ trên (hình 2) hiển thị sự tác động lẫn nhau giữa các nguồn lực, các nguồn
lực này có mối quan hệ chặt chẽ, cùng tham gia vào quá trình CNH, HĐH nhưng mức độ
tác động và vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình CNH, HĐH không giống nhau,
trong đó nguồn nhân lực là yếu tố quyết định. Vai trò quyết định của nguồn nhân lực
biểu hiện ở những điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ
thuật, vị trí địa lý… là những khách thể chịu sự khai thác cải tạo của con người, và phục
vụ cho nhu cầu lợi ích của của con người. Các nguồn lực này tự nó chỉ tồn tại dưới dạng
tiềm năng, muốn phát huy một cách tích cực trong quá trình CNH, HĐH thì phải kết
hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động có ý thức của con người.

ở một số nước, điều kiện tự nhiên thuận lợi là nhân tố làm cho đất nước giàu
mạnh, bởi vì con người biết tái tạo tự nhiên; còn ở một số nước khác, điều kiện tự nhiên
cũng tương tự, hoặc còn thuận lợi hơn, thì đất nước lại nghèo nàn, ngày càng kiệt quệ
nguồn tài nguyên vì ở những nước này con người chỉ biết tước đoạt tài nguyên thiên
nhiên, biến nó thành hoang mạc. Qua thực tế đó cho thấy vị trí địa lý, tài nguyên thiên
nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước, chúng đều phụ thuộc vào
khả năng sử dụng của con người. Còn vốn - tiền tệ cũng là nhân tố quan trọng cho sự
phát triển của bất cứ nước một nào. C. Mác đã có lý khi cho rằng: tiền tệ chỉ trở thành tư
bản thông qua sức lao động của công nhân, nhờ vậy nó tạo ra giá trị lớn hơn giá trị ban
đầu. Trong thời đại mở cửa, nhiều nước có thể thu hút vốn từ nước ngoài. Nhưng vốn ấy
chỉ có thể phát huy tác dụng tích cực nếu con người sử dụng hợp lý vốn đó để phát triển
nền sản xuất. Vì vậy, nguồn vốn chỉ trở thành động lực quan trọng và cấp thiết cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi được con người sử dụng đúng mục đích và có
hiệu quả.

Từ sự phân tích vai trò quyết định của nguồn nhân lực trong mối quan hệ với
các nguồn lực khác, như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, vốn, các nguồn lực khác…
thì nguồn nhân lực là nguồn lực duy nhất, biết tư duy có trí tuệ và ý thức để sử dụng các
nguồn lực khác và gắn các nguồn lực lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng tác
động vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ hai, nguồn nhân lực có vai trò quyết định trong các nhân tố, các nguồn lực
của sự phát triển lịch sử. Trước hết là do năng lực sáng tạo, trí tuệ của bản thân con
người và cộng đồng người theo chiều hướng tiến bộ của lịch sử. Từ thế kỷ XVI, nhà
triết học Ph.Bêcơn đã đưa ra nhận định: Tri thức là sức mạnh, khoa học tăng quyền lực
của con người đối với tự nhiên. Đến giữa thế kỷ XIX, trên cơ sở phân tích vai trò của
khoa học trong sự phát triển xã hội, C.Mác kết luận: Việc biến khoa học thành lực
lượng sản xuất trực tiếp là một quy luật khách quan của sự phát triển xã hội. Điều đó đã
trở thành hiện thực. Những năm đầu thế kỷ XX tỷ lệ lao động chân tay trong sản phẩm
là 9/10 đến những năm 90 tỷ lệ đó giảm xuống chỉ còn 1/5 nhưng khối lượng sản phẩm
đạt gần gấp 50 lần so với 80 năm về trước. Con người với trí tuệ lao động đã và đang là tài
sản quý giá nhất, là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia.
Vì vậy, so với các nguồn lực khác thì "chỉ có con người là nguồn lực chủ yếu, lâu bền trong
sự phát triển của đất nước và cũng chỉ có tri thức con người là một nguồn lực vô hạn có khả
năng tái sinh và tự tái sinh không bao giờ cạn kiệt. Nếu không có con người đủ trí tuệ và
năng lực khai thác thì các nguồn lực khác cũng sẽ không được sử dụng có hiệu quả" [82
- 75].

Mặt khác vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với các nguồn lực khác là
do nguồn nhân lực mà cốt lõi trí tuệ là nguồn lực vô hạn, luôn đổi mới không ngừng và
phát triển về chất, còn các nguồn lực khác như đất đai, tài nguyên, vốn… thì có hạn,
khai thác mãi đến lúc cũng phải cạn kiệt. Vậy, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng
nhất có vai trò quyết định đối với các nguồn lực khác, nên chúng ta phải chú trọng, bồi
dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tạo động lực
thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nhanh chóng đi đến thắng lợi.

Thứ ba, con người với tất cả những phẩm chất tích cực của mình bao gồm trí
tuệ, kinh nghiệm, năng động, thích ứng, sáng tạo… thì tự mình có thể trở thành động
lực phát triển của toàn xã hội. Trí thông minh, tài năng sáng tạo, nhạy cảm với cái mới,
ý chí tự lực tự cường là những tiềm năng to lớn của dân tộc Việt Nam, là sản phẩm của
quá trình phát triển lâu dài của dân tộc, là nguồn lực to lớn cho sự phát triển đất nước.
Những đức tính đó đã được thể hiện và nhân lên trong quá trình đấu tranh dựng nước và
giữ nước của dân tộc Việt Nam. Ngày nay công cuộc đổi mới của đất nước đòi hỏi
nguồn nhân lực - lực lượng cơ bản, chủ yếu của sự nghiệp CNH, HĐH phải thực sự là
chủ thể sáng tạo có khả năng nắm bắt nhanh và thích nghi với cái mới để vận dụng vào
thực tiễn đầy khó khăn thách thức trên bước đường CNH, HĐH của nước ta. Những kỳ
tích của sự CNH, HĐH đều phụ thuộc vào trí tuệ, sự thông minh, tinh thần chủ động
sáng tạo của nguồn lực con người Việt Nam. Do đó trong số các nguồn lực thì động lực
chủ yếu của sự nghiệp CNH, HĐH chính là nguồn nhân lực. Đảng cộng sản Việt Nam
chỉ rõ: Những nguồn lực làm cơ sở cho việc thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước là nguồn lực con người. Đảng ta khẳng định "nguồn lao động dồi dào, con người
Việt Nam có truyền thông yêu nước cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hóa giáo dục, có
khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ… đó là nguồn lực quan trọng nhất " [32
- 5]. Để sự nghiệp CNH, HĐH thành công chúng ta phải biết phát huy sức mạnh tổng
hợp của các nguồn lực, trong đó "lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ
bản cho sự phát triển nhanh và bền vững "[40 - 85].

Nguyên phó thủ tướng Nguyễn Khánh cũng đã khẳng định: "Con người là chủ
thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa của mọi quốc gia… Từ một
nước nông nghiệp lạc hậu bắt đầu đi vào CNH, HĐH ta chưa có những chỉ số cao về
phát triển con người như mong muốn…Vì vậy, cùng với việc tạo ra nguồn lực vật chất,
tài chính và phát huy nguồn lực đó, điều quan trọng nhất hiện nay là chăm lo phát triển
nguồn lực con người Việt Nam, tạo ra lực lượng lao động với trình độ mới, khả năng
mới phù hợp với yêu cầu đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước"[51 - 1].

Như vậy, trong số các nguồn lực thì nguồn nhân lực giữ vị trí trung tâm của quá
trình CNH, HĐH mặc dù tất cả các nguồn lực đều rất cần cho công cuộc CNH, HĐH
nhưng xét đến cùng thì các nguồn lực đó sẽ vô nghĩa nếu thiếu nguồn lực con người. Tuy
nhiên con người mà chúng ta cần đến để đáp ứng các đòi hỏi của sự nghiệp này có những
điểm khác biệt với các đòi hỏi của giai đoạn trước. Trong thời đại hiện nay, khi nền kinh tế
thế giới đang từng bước chuyển sang kinh tế dựa trên cơ sở tri thức thì vai trò và tầm quan
trọng của trí tuệ con người tăng lên gấp bội. Để tiến hành CNH, HĐH đất nước, để
không bị tụt hậu về kinh tế, chúng ta phải nhanh chóng nâng cao năng lực trí tuệ, trình
độ học vấn, vốn văn hóa, kỹ năng và trình độ nghề nghiệp cho người lao động.

1.2.2. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - động lực thúc đẩy quá trình
công nghiệp hóa, hiện đạo hóa đất nước

Trong thời đại hiện nay, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ góp
phần đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Cách mạng khoa học công nghệ dẫn đến
việc sử dụng những công cụ, phương tiện hiện đại, phức tạp, các ngành công nghiệp có
hàm lượng khoa học cao ngày càng phát triển đòi hỏi người lao động phải có tri thức,
hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo, mở rộng trình độ hiểu biết để tiếp thu và vận dụng có hiệu
quả các thành tựu khoa học - công nghệ vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Khoa học
công nghệ càng tiến về phía trước, càng đòi hỏi phải có một sự phát triển cao về trí tuệ
của người lao động để không ngừng tạo ra tri thức mới, thúc đẩy tiến trình CNH, HĐH
nước nhà nhanh chóng đi tới thắng lợi.

Trong thời đại chúng ta, cuộc cạnh tranh khốc liệt đang diễn ra giữa các cường
quốc đế quốc và giữa các quốc gia trong cộng đồng thế giới về thực chất cũng là cuộc
cạnh tranh về trí tuệ. Trong điều kiện như vậy để tiến hành thành công sự nghiệp CNH,
HĐH chúng ta phải tạo điều kiện và môi trường để phát triển nguồn lực con người có trí
tuệ cao với tính cách là nguồn lực của mọi nguồn lực. Ăng ghen cho rằng: "Một dân tộc
muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận"
[17- 489], nghĩa là không thể thiếu trí tuệ ở trình độ cao.

Trong thời đại mà khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, có người đã
lầm tưởng rằng khoa học là yếu tố hoàn toàn độc lập trong lực lượng sản xuất và tách
khỏi con người. Chính quan niệm này đã dẫn đến tình trạng không đầu tư đúng mức cho
những con người làm khoa học mà chỉ quan tâm đến các yếu tố khác ngoài con người.
Vì vậy, muốn cho khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo trở thành nền
tảng và động lực đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước thì phải đầu tư vào con người. Đầu tư
để tạo dựng nguồn lực khoa học và công nghệ - nguồn nhân lực chất lượng cao. Chỉ có
trên cơ sở tạo ra một đội ngũ những người lao động phát triển cả về trí lực và thể lực, cả
về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị - xã hội, về đạo đức, tình cảm trong
sáng thì chúng ta mới có nguồn lực quan trọng nhất, bền vững nhất trong CNH, HĐH
đất nước. Song với thực tiễn của một đất nước cơ sở vật chất còn nghèo nàn, đời sống
xã hội chưa cao, chúng ta không thể một sớm một chiều CNH, HĐH đất nước ngay mà
phải tạo ra một nguồn lực bên trong đó là: Lực lượng lao động xã hội. Do đó phải nhanh
chóng bồi dưỡng nâng cao chất lượng lao động, tạo ra được những người lao động vừa
có thể lực vừa có trí lực và tâm lực để thực hiện mục tiêu CNH, HĐH đất nước.

Xuất phát từ thực tế đó và do nhận thức được xu hướng đầu tư và phát triển của
các nước trên thế giới, bắt đầu từ Đại hội Đảng lần thứ VI, đặc biệt là Đại hội Đảng lần
thứ VII Đảng ta đã nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về vai trò của nguồn nhân lực và
việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế - xã hội, từ đó đến
nay Đảng ta luôn xác định vấn đề nguồn nhân lực vừa là mục tiêu vừa là động lực của
sự phát triển kinh tế - xã hội. Đảng ta đã nhiều lần khẳng định rằng: "Nâng cao dân trí,
bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn con người Việt Nam là nhân tố quyết định sự
thắng lợi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa " nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh [40-21].

Không thể nói đến CNH, HĐH đất nước trong thời đại văn minh trí tuệ, thời đại
cách mạng khoa học và công nghệ, thời đại sinh thái hóa mà lại thiếu nguồn nhân lực
chất lượng cao, thiếu đội ngũ cán bộ khoa học giỏi. Hội nghị lần thứ tư của Ban chấp
hành Trung ương khóa VII đã khẳng định: "Con người phát triển về trí tuệ, cường tráng
về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp
xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội "[32 - 5].

Như vậy, trong số các nguồn lực thì động lực chủ yếu của sự nghiệp CNH, HĐH
chính là nguồn nhân lực. CNH, HĐH chỉ có thể thành công một khi chúng ta biết phát huy
sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực, trong đó "lấy việc phát huy nguồn lực con người
làm yếu tố cho sự phát triển nhanh và bền vững".
Tóm lại, con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể của lịch sử, vai
trò chủ thể sáng tạo ra lịch sử có ý nghĩa vô cùng to lớn. Phát huy vai trò chủ thể của
con người là nhằm phát huy tối đa nguồn lực con người, tạo ra động lực mạnh mẽ để
thực hiện thắng lợi công cuộc CNH, HĐH đất nước.

Đối với việc thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, nguồn nhân lực được
xem là một trong những nhân tố quyết định. Do đó, chỉ khi nào chúng ta đào tạo ra được
một nguồn lực với những con người có thể lực, trí lực, nhân cách, có năng lực phát triển
toàn diện, nắm bắt nhanh khoa học - công nghệ, đáp ứng được nhu cầu khai thác và sử
dụng các nguồn lực khác cho sự phát triển xã hội, thì chúng ta mới có thể đưa sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến thắng lợi. Đây là một luận điểm có ý nghĩa phương
pháp luận quan trọng cần được rút ra khi vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin về phát triển
con người, phát huy nhân tố con người vào việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực
cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.

Chính vì vậy mà ở Việt Nam nói chung và ở Thanh Hóa nói riêng phải đi vào
nghiên cứu đánh giá thực trạng nguồn nhân lực, phân tích mặt mạnh, mặt yếu, thuận lợi,
khó khăn, từ đó làm rõ sự cần thiết và cấp bách về việc phát triển nguồn nhân lực, nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước
ta cũng như ở tỉnh Thanh Hóa.

Chương 2

Thực trạng vấn đề nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa



2.1. Thực trạng nguồn nhân lực và vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa

2.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự
phát triển nguồn nhân lực ở Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh có diện tích tự nhiên là 11.106,09 km2, nằm ở cực Bắc
Trung Bộ Việt Nam, là chiếc cầu nối giữa Bắc Trung Bộ với Nam Trung Bộ. Phía Bắc
của Thanh Hóa giáp với 3 tỉnh: Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình; phía Nam giáp tỉnh Nghệ
An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn (Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào); phía Đông là Vịnh
Bắc Bộ với chiều dài bờ biển là 102km.

Thanh Hóa có một ưu thế lớn là có đường sắt xuyên Việt và quốc lộ 1A, quốc
lộ 10 chạy qua vùng đồng bằng ven biển, đường chiến lược 15A, đường Hồ Chí Minh
xuyên suốt vùng trung du và miền núi, tạo điều kiện thuận lợi giao lưu với các tỉnh và
các thành phố khác trong nước. Hệ thống sông ngòi của Thanh Hóa phân bố khá đều với
4 hệ thống sông đổ ra biển bằng 5 cửa lạch chính. Cảng biển Nghi Sơn là cửa ngõ của
Thanh Hóa trong giao lưu quốc tế và khu vực.

Do vị trí địa lý đem lại nên tỉnh Thanh Hóa nằm trên trục hành lang kỹ thuật
Quốc gia (đường sắt, bộ, cảng, điện...) trong vùng ảnh hưởng của những tác động từ khu
vực Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Trong tương lai gần là đỉnh phát triển của tam giác
phía Bắc (Nghi Sơn, Hà Nội, Quảng Ninh). Với sự tác động tổng hợp của các vùng trên,
Thanh Hóa có thể huy động nguồn lực của mình để đáp ứng nhu cầu của các vùng đó và
phát triển kinh tế của tỉnh nhà.

Không những có vị trí địa lý đa dạng mà Thanh Hóa còn có tài nguyên thiên
nhiên phong phú. Tài nguyên rừng với nhiều loại động vật, thực vật và gỗ quý hiếm; tài
nguyên biển với những cửa lạch, bãi cá, bãi tôm thuận tiện cho việc đánh bắt; tài
nguyên khoáng sản với 42 loại khoáng sản khác nhau như: quặng sắt, đôlônít,
secpentin... Với những điều kiện thuận lợi trên, Thanh Hóa có thể phát triển một nền
kinh tế toàn diện. Việc thực hiện đến đâu là do con người Thanh Hóa phấn đấu và thực
hiện.

Con người Thanh Hóa có truyền thống anh dũng trong chiến đấu, cần cù trong
lao động, ham mê hăng say trong học tập. Nhiều nhà nghiên cứu đã đánh giá Thanh Hóa
là đất "địa linh" đã sản sinh ra nhiều "nhân kiệt". Trong lịch sử dân tộc, trải qua một
nghìn năm Bắc thuộc và gần một nghìn năm xây dựng và bảo vệ quốc gia độc lập,
người Thanh Hóa đã anh dũng, kiên cường, đấu tranh bất khuất và đã ghi lại những mốc
son chói lọi trong lịch sử dựng nước, mở nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Trong cách mạng hiện đại người dân Thanh Hóa cũng đã đóng góp một phần xứng đáng
công sức để xây dựng đất nước, quê hương.

Thanh Hóa có truyền thống hiếu học và ngày càng được phát huy khi có sự lãnh
đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Hơn 50 năm phát triển nền giáo dục cách mạng,
Thanh Hóa đã xây dựng được một hệ thống giáo dục phát triển mạnh mẽ từ giáo dục
mầm non đến giáo dục Cao đẳng, Đại học. Với tiềm năng của con người Thanh Hóa:
anh hùng, cần cù, hiếu học sẽ là một điều kiện tốt để tạo nên nguồn nhân lực tốt phục vụ
cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Một điều kiện nữa tác động đến quá trình phát triển nguồn nhân lực đó là đặc
điểm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa. Thanh Hóa trong thời kỳ 1986 -
1990, tình hình sản xuất không ổn định, tốc độ tăng trưởng chậm, đạt 3,7%/năm, lương
thực bình quân đạt 800 ngàn tấn/năm. Dân số tăng tự nhiên vẫn ở mức cao 2,21%, thời
kỳ này đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn thiếu thốn.

Thời kỳ 1991 - 1995 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,7%/năm, cao gần gấp
đôi thời kỳ 1986 - 1990, nhưng so với cả nước và tỉnh lân cận vẫn đang còn thấp (cả
nước 8,19, Nghệ An 7,68).

Thời kỳ 1996 - 2000 nền kinh tế của tỉnh tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao
hơn, GDP bình quân 7,30%/năm.

Trong mấy năm gần đây (2001 - 2005) nền kinh tế của Thanh Hóa duy trì được
mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước. Nhưng so với một số tỉnh thì mức tăng
trưởng của Thanh Hóa vẫn còn thấp. So bình quân cả nước thì Thanh Hóa cao hơn.

Bảng 2.1: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP - tính theo giá hiện hành)

GDP (Tỷ đồng theo
1990 1995 2000 2003
giá hiện hành)
Cả nước 41.955 288.892 456.000 605.586,0

Thanh Hóa 1.504,5 6.370,6 10.100 13.492,8

Nghệ An 1.083,5 5.580,8 8.900 12.156,3



Nhịp độ
1991 - 1995 1996 - 2000 2001 - 2003
tăng trưởng (%)

Cả nước 8,19 6,94 7,26

Thanh Hóa 6,70 7,30 9,70

Nghệ An 6,77 6,73 11,52

Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư, Cục thống kê tỉnh Thanh Hóa 2004.

Qua bảng 2.1 ta thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thanh Hóa gia tăng liên
tục, tuy có thấp hơn so với tỉnh lân cận nhưng với tốc độ tăng trưởng như hiện nay
Thanh Hóa có thể phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn nữa.

Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự chuyển dịch này của Thanh Hóa còn chậm,
do lịch sử phát triển kinh tế của tỉnh Thanh Hóa đã để lại một cơ cấu kinh tế không
thuận lợi, nông nghiệp chiếm 39,9% GDP, công nghiệp chiếm 26,4% GDP của tỉnh
(năm 2000).

Từ năm 2001 đến 2003, tốc độ tăng trưởng trong công nghiệp đã được nâng lên
GDP đạt 31,50%, tăng 5,1% so với năm 2000, nông lâm, thủy sản GDP đạt 35,40%
giảm 4,5% so với năm 2000. Bình quân về công nghiệp, và nông nghiệp của tỉnh Thanh
Hóa đã từng bước đuổi kịp mức trung bình của cả nước. (xem bảng 2).

Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế của cả nước và một số tỉnh
(tính theo GDP, giá hiện hành)

Đơn vị tính: %
Nông, lâm, Công nghiệp
Tổng số Dịch vụ
thủy sản xây dựng

Thanh Hóa

1995 100,0 46,0 20,1 33,9

2000 100,0 39,9 26,4 33,7

2003 100,0 35,40 31,50 33,10

Cả nước

1995 100,0 29,04 29,08 41,88

2000 100,0 24,30 36,60 39,10

2003 100,0 21,83 39,95 38,22

Nghệ An

1995 100,0 36,61 18,81 44,58

2000 100,0 42,56 17,00 40,50

2003 100,0 37,95 25,88 36,17

Nguồn: + Bộ kế hoạch và đầu tư

+ Niên giám thống kê 2000 – 2004. Cục Thống kê Thanh Hóa.



Qua bảng 2.2 ta thấy, cơ cấu kinh tế của tỉnh Thanh Hóa đã có sự chuyển dịch
theo cơ cấu chung của cả nước và giảm tỷ trọng GDP nông, lâm, ngư nghiệp từ 46,0%
năm 1995, xuống 35,4% năm 2003, đồng thời tăng tỷ trọng GDP công nghiệp, xây dựng
từ 20,1% năm 1995 lên 31,50% năm 2003, dịch vụ có tăng nhưng không đáng kể.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ của Thanh Hóa tăng bình quân
hàng năm 12,4%, năm 2003 đạt 5089,2 tỷ đồng. Giá trị xuất khẩu hàng năm tăng bình
quân 28,6%, tính đến năm 2003 giá trị xuất khẩu bình quân đầu người là 16,30 USD
(niêm giám thống kê - cục thống kê Thanh Hóa 2000 - 2004). Nhìn chung, mặt hàng
xuất khẩu của tỉnh còn nghèo nàn, nặng nề thu gom ch ưa có mặt hàng chủ lực, chủ yếu
là nông sản chưa qua chế biến.

Việc thu, chi ngân sách trên địa bàn Thanh Hóa năm 2003 đạt trên 1 ngàn đồng
(1.096.498) nhưng chi ngân sách lại trên 2 ngàn tỷ đồng (2.974.534) thu không đủ chi.

Về đời sống, tỷ lệ hộ đói nghèo còn 15%, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 23%.
Những đặc điểm kinh tế - xã hội nói trên gây ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nguồn
nhân lực ở Thanh Hóa.

2.1.2. Thực trạng nguồn nhân lực ở Thanh Hóa.

Nguồn nhân lực được hiểu là dân số và chất lượng con người. Để nghiên cứu
nguồn nhân lực ở Thanh Hóa trước hết ta đi tìm hiểu về tình hình dân số và lao động.

2.1.2.1. Tình hình dân số:

Thanh Hóa là tỉnh đông dân đứng thứ 2 so với cả nước (sau thành phố Hồ Chí
Minh). Theo kết quả điều tra của cục thống kê Thanh Hóa, dân số Thanh Hóa đến năm
2004 là: 3.646.593 người.




Bảng 3: Dân số và tỉ lệ dân số thành thị nông thôn

Dân số Chia ra
Vùng và thời điểm Dân số
(nghìn
điều tra (%) Thành thị Nông thôn
người)

Cả nước

1/4/1994 76.596,7 100,0 23,6 76,39

2002 79.727,4 100,0 25,11 74,89
2003 80.902,4 100,0 25,78 74,22

Bắc trung bộ

1/4/1994 10.030,6 100,0 12,31 87,69

2002 10.299,1 100,0 13,42 86,58

2003 10.410,1 100,0 13,32 86,68

Thanh Hóa

1/10/1979 2.348,8 100,0 5,8 94,2

1/4/1989 2.993,2 100,0 7,2 92,8

1/4/1999 3.467,3 100,0 9,1 90,1

2002 3.593,1 100,0 9,5 90,5

2003 3.620,3 100,0 9,72 90,28

Nguồn: + Số liệu thống kê - Tổng cục thống kê, 2004.

+ Niêm giám thống kê - cục thống kê Thanh Hóa 2000-2004.

Qua bảng 2.3 ta thấy, dân số Thanh Hóa tăng nhanh và tăng nhanh nhất là vào
khoảng những năm 1979, 1989, 1999 vào thời điểm 1999 dân số Thanh Hóa là 3.467,3
nghìn người bằng 34,5% so với Bắc Trung Bộ và bằng 3,90% so với cả nước.

Đến 2002 dân số Thanh Hóa tăng lên 5999 nghìn người so với năm 1999, bằng
34,88% so với Bắc trung bộ và bằng 4.50% so với cả nước. Sang đến năm 2003 dân số
Thanh Hóa tăng lên 272 nghìn người so với năm 2002 bằng 34,77% so với Bắc Trung
Bộ, và 4.47% so với cả nước. Qua sự phân tích trên ta thấy Thanh Hóa có quy mô dân
số lớn và ngày càng tăng.

Về dân số giữa thành thị và nông thôn, dân số thành thị của Thanh Hóa không
lớn hơn nông thôn, nhưng tốc độ gia tăng mỗi năm ngày càng lớn. Song, so với cả nước
và Bắc Trung Bộ thì tốc độ tăng dân số ở thành thị của Thanh Hóa vẫn chậm hơn, so
năm 2003/1999 thì dân số thành thị Thanh Hóa tăng lên 0,62%. Trong khi đó Bắc Trung
Bộ là 1,01%, cả nước là 2,18%.

Nhìn một cách tổng thể thì dân số Thanh Hóa ngày càng tăng. Nhưng xét qua
các thời kỳ, các năm thì có lúc tăng lúc giảm. Dân số Thanh Hóa năm 1989 so với năm
1979 tăng 644.411 người; năm 1999 so với 1989 tăng 474.068 người, năm 2004 so với
1999 tăng 179.232 người. Trong 10 năm cuối thế kỷ XX Thanh Hóa đã hạn chế được
tốc độ gia tăng dân số và giảm sinh có hiệu quả.

Bảng 24. Dân số và tỉ lệ sinh, tỷ lệ chết và tỷ lệ tăng tự nhiên dân số

ĐVT: %.

Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004

Dân số trung bình 3540541 3565279 3593147 3620354 3646593

Tỷ lệ sinh 19,62 18,77 17,94 17,55 16,80

Tỷ lệ chết 5,58 5,58 5,85 6,10 6,00

Tỷ lệ tăng tự 14,04 13,19 12,09 11,45 10,80
nhiên

Nguồn: Niên giám thống kê 2000-2004 cục thống kê Thanh Hóa.

Qua bảng 4 cho thấy, tỉ lệ tăng dân số tự nhiên của Thanh Hóa mỗi năm ngày
càng giảm. Năm 2000 tỉ lệ tăng dân số tự nhiên trong tỉnh là 14,04%, đến năm 2004
xuống còn 10,80%. Nhưng nhìn chung Thanh Hóa vẫn là tỉnh có quy mô dân số lớn
nhất trong vùng Bắc Bộ, năm 2003 dân số Hà nội là 3015.0 nghìn người, Thái Bình
1837,0 nghìn người, Nghệ An 2977,3 nghìn người Thanh Hóa là 3620,3 nghìn người.
Tình hình dân số của Thanh Hóa hiện tại rất lớn và tương lai còn lớn hơn nhiều. Lao
động hiện chiếm một phần không nhỏ trong tổng dân số (50,26% bằng1819927người).
Dân số lớn thì nguồn nhân lực sẽ nhiều.

2.1.2.2. Thực trạng nguồn lao động ở Thanh Hóa
Nguồn lao động được hiểu là dân số đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động,
đang có việc làm hoặc chưa có việc làm và không có nhu cầu làm việc.

Theo số liệu thống kê của Bộ lao động - Thương binh và xã hội thì số lao động
của Thanh Hóa năm 2004 là 1873053 người. Số lao động trong nông thôn chiếm phần
lớn 89,87%, số lao động ở thành thị chiếm 10,13%, cho thấy nền kinh tế Thanh Hóa với
đặc trưng chủ yếu là sản xuất nông nghiệp là phần lớn. Số lao động của Thanh Hóa
không phải là đã có việc làm 100%, mà số lao động có việc làm chiếm 98,81%, số lao
động thất nghiệp là 1,19%. Thực tế này đòi hỏi các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý của
tỉnh phải hoạch định, phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh tạo ra công ăn, việc làm cho
người lao động. Trong tổng số lao động của Thanh Hóa, số lao động nam thấp hơn số
lao động nữ. Lao động nam chiếm 48,62% (910713 người), số lao động nữ chiếm
51,38% (962340 người).

Bảng 5. Số người đủ từ 15 tuổi trở lên có việc làm và thất nghiệp,
phân theo giới tính và thành thị, nông thôn
ĐVT: người

Chung Thành thị Nông thôn

Tổng số Nữ Tổng số Nữ Tổng số Nữ

Có việc 1850926 951936 176732 91651 1674194 860285
làm

Thất 22127 10404 9887 4854 12240 5550
nghiệp

Cộng 1873053 962340 186619 96505 1686434 865835

Nguồn: Số liệu thống kê lao động - việc làm Việt Nam 2004.Bộ lao động -
thương binh xã hội.
Qua bảng 25 ta thấy, lực lượng lao động là nam giới có việc làm thấp hơn số lao
động nữ (nam: 898990 người bằng 48,56%, nữ: 951936 người bằng 51,44%), và ngược
lại số lao động nam thất nghiệp nhiều hơn nữ (nam chiếm 52,98%, nữ chiếm 47,02%).

Như vậy, lực lượng lao động nam, một lực lượng có sức khỏe hơn nữ giới (theo
cấu trúc sinh học) chưa được phát huy hết. Số lao động không được sử dụng (thất
nghiệp), không những là nam mà cả nữ đã làm mất đi một khối lượng lớn thu nhập quốc
dân. Vì vậy, để nguồn nhân lực phát triển một cách hợp lý thì phải có kế hoạch đầu tư
thích đáng trên nhiều phương diện cho việc đào tạo, bồi dưỡng, phát triển và sử dụng
nguồn nhân lực.

Thanh Hóa có nguồn nhân lực hùng hậu, nhưng phần lớn lực lượng lao động lại
tập trung trong khu vực sản xuất nông nghiệp. Theo niên giám thống kê 2000-2004, cục
thống kê Thanh Hóa thì số lao động trong nông nghiệp nông thôn năm 2004 là
14.853.292 người, và lao động bình quân sản xuất công nghiệp là 130.372 người. Song
tốc độ tăng GDP nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 2004 là 5,4%; tốc độ tăng GDP trong
công nghiệp lại đạt 15,5 %, cao hơn nông nghiệp 10,1%. Một thực tế ở đây cho thấy là
số lao động trong nông nghiệp chiếm phần lớn nhưng sản phẩm xã hội lại thấp.

Vì vậy, chúng ta phải nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực:
Giảm ở nhóm ngành nông lâm nghiệp và thủy sản, tăng nhóm ngành công nghiệp, xây
dựng, dịch vụ. Đại hội tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa lần thứ XV đã đề ra chủ trương: "Đẩy mạnh
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp - nông thôn theo hướng CNH, HĐH"
nhằm phát triển kinh tế - xã hội [22-39].

Thực hiện chủ trương của tỉnh, Đảng bộ đề ra, trong những năm qua việc CNH,
HĐH nông nghiệp nông thôn đạt kết quả rõ rệt: Bê tông hóa kênh mương, phát triển
điện, đường giao thông nông thôn. Đưa ứng dụng tiến bộ sinh học về cây trồng, vật
nuôi, vào sản xuất thành công 8 giống lúa nước, sản xuất thành công 3 cặp bố mẹ lúa lai
hệ hai dòng và ba dòng. Năm 2004 đạt sản xuất được 842 tấn hạt giống lúa lai F1 tổ hợp
Nhị ưu 838, Bắc ưu 900…và được chỉ đạo tập trung sản xuất ở một số địa phương như:
Yên Định, Nga Sơn, Thọ Xuân. Khảo nghiệm tuyển chọn và đưa vào sản xuất thành
công các giống mía và dứa bằng phương pháp nuôi cấy mô thực vật… Phát triển chăn
nuôi bò sữa, chăn nuôi lợn hướng nạc theo hướng đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất
chính trong nông nghiệp. Chuyển dịch một số diện tích trồng cây lương thực sang trồng
cây công nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Như trồng sắn cung cấp tinh bột, trồng mía
cung cấp cho nhà máy đường Lam Sơn, Việt - Đài, được triển khai trồng ở Thạch
Thành, Sao vàng; Giống lạc mới được trồng ở Tĩnh Gia, Quảng Xương, Hoằng Hóa
đem lại hiệu quả kinh tế lớn. Chuyển dịch sang nuôi trồng thủy sản như tôm sú, tôm
càng xanh, cá rô phi... ở Tĩnh Gia, Quảng Xương, Nga Sơn.

Những kết quả chuyển dịch cơ cấu vật nuôi, cây trồng trong nông nghiệp đã
góp phần tăng giá trị nông sản xuất khẩu, đáp ứng nguyên liệu chế biến công nghiệp,
góp phần tăng tốc độ GDP trong nông, lâm, ngư nghiệp từ 3,7% năm 2000 lên 5,2%
năm 2004. Đồng thời làm giảm lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp xuống 2,7% (năm
2004 so với 2000).

Với sự phát triển kinh tế đúng hướng và thực hiện các chương trình kinh tế xã hội
trọng tâm, cùng với lực lượng lao động dồi dào, tỉnh Thanh Hóa nhất định sẽ tạo ra
năng lực sản xuất mới với năng suất chất lượng cao hơn, đáp ứng tình hình kinh tế - xã
hội trong tỉnh, hội nhập kinh tế quốc dân thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa của tỉnh nhà cũng như của đất nước.

2.1.3. Đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở
Thanh Hóa

2.1.3.1. Thực trạng giáo dục đào tạo

Giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát
triển nguồn nhân lực, là nền tảng cho sự phát triển của xã hội, bởi thế Đảng ta khẳng
định: "Cùng với khoa học và công nghệ giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu" [12
– 107].

Xuất phát từ vai trò của giáo dục- đào tạo Đại hội tỉnh đảng bộ Thanh Hóa lần
thứ XV đã đề ra nhiệm vụ cho công tác giáo dục - đào tạo là " Phát triển quy mô đi đôi với
chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực,
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh"[22-50].

Thực hiện nhiệm vụ của tỉnh Đảng bộ đề ra, trong những năm qua sự nghiệp
giáo dục - đào tạo của tỉnh Thanh Hóa có những chuyển biến tích cực. Mạng l ưới
trường học phát triển rộng khắp, hầu hết các xã, phường đều có trường tiểu học, phổ
thông cơ sở. Các thành phố, thị xã, huyện đều có trường phổ thông trung học. Tiến độ
phổ cập giáo dục và xây dựng trường chuẩn quốc gia được đẩy nhanh. Theo số liệu
thống kê, Cục thống kê Thanh Hóa 2005 thì Thanh Hóa có 27/27huyện được công nhận
xóa mù chữ và phổ cập tiểu học, có 567/ 633xã được công nhận phổ cập trung học cơ
sở. Có 299 trường tiểu học, 22 trường trung học cơ sở và 4 trường phổ thông trung học
được công nhận đạt chuẩn quốc gia.

Việc giáo dục, bồi dưỡng học sinh giỏi các tuyến được duy trì và đạt thành tích
cao. Theo báo cáo của Tỉnh ủy Thanh Hóa, năm học 2004 - 2005 có 8.480 học sinh đạt
giải từ cấp tỉnh trở lên, trong đó có học sinh giỏi quốc gia, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các
cấp đạt trên 95%.

Về đội ngũ giáo viên phổ thông, tính đến năm 2005 toàn tỉnh có 34.313 giáo viên,
tỉnh đã có sự sắp xếp cân đối giáo viên giữa các cấp học, các vùng. Đối với một số huyện
vùng sâu, vùng xa tỉnh đã có chính sách ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút giáo viên về giảng
dạy. Công tác phổ cập giáo dục, chống mù chữ phát triển mạnh. Tỷ lệ biết chữ của dân số
từ 10 tuổi trở lên khá cao và tăng nhanh hơn trong những năm gần đây, thể hiện qua biểu so
sánh sau: (xem bảng 26).

Bảng 26: Tỷ lệ dân số 10 tuổi trở lên biết chữ

ĐVT: %

Chia ra
5 Chung
5 Nông thôn

1/4/1999 93.7 95,2 92,9
2002 94.8 96,1 93,6

2004 95.2 97,9 94,8

Nguồn: Kết quả tổng điều tra dân số và MSH năm 2002, 2004. Cục thống kê
Thanh Hóa.

Qua bảng 26, cho thấy tỷ lệ biết chữ cũng nh ư trình độ học vấn của dân cư
được nâng lên. Năm 2002 tăng lên 1,1% so với 1999. Năm 2004 tăng lên 0,4% so
với năm 2002. Tỷ lệ biết chữ ở thành thị cao h ơn chứng tỏ sự quan tâm và đầu tư cho
học hành cũng nhiều hơn. Mức chi tiêu cho giáo dục phổ thông ở Thanh Hóa theo
kết quả điều tra dân số, Cục thống kê Thanh Hóa 2004 thì mức chi cho giáo dục bình
quân một người đi học năm 2002 là 137,5 nghìn đồng bằng 5,4% trong tổng chi tiêu.
Năm 2004 là 636 ngàn đồng, bằng 19,9% trong tổng chi tiêu, t ăng so với 2002 là
14,5%. Với đội ngũ giáo viên luôn trau dồi, học hỏi, nhiệt tình h ăng say trong công
tác giảng dạy, chất lượng giáo dục của tỉnh ngày càng được nâng lên, tỷ lệ học sinh
giỏi, học sinh tốt nghiệp các cấp, học sinh thi trúng tuyển vào đại học mỗi năm đều
tăng. Năm 2004 tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 97,83%, THPT đạt 98,7%, tổng số học
sinh các cấp phổ thông đậu tốt nghiệp năm 2004 là 8. 216.926 h ọc sinh.

Nét mạnh trong giáo dục phổ thông của Thanh Hóa là mức độ phổ cập giáo dục
tương đối cao. Song việc phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở mới chỉ tạo tiền đề cho việc
nâng cao trình độ học vấn của dân cư, còn việc tạo ra được nguồn nhân lực có trình độ
chuyên môn kỹ thuật thì đòi hỏi tỉnh Thanh Hóa phải có quy hoạch, sắp xếp, nâng cấp
và đầu tư cho các trường chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng, đại học.

Về công tác đào tạo nghề, những năm gần đây Thanh Hóa đã thực hiện đa dạng
hóa các loại hình đào tạo nghề, tăng cường công tác phổ cập, bồi dưỡng tập huấn nghề
nhằm không ngừng nâng cao trình độ lao động được đào tạo.

Từ năm 2001 mạng lưới cơ sở đào tạo nghề ở Thanh Hóa có 48 đơn vị, trong đó
có 40 cơ sở dạy nghề công lập, 8 cơ sở ngoài công lập. Đến nay (2004) hệ thống dạy
nghề ở tỉnh được ổn định và phát triển, số trường đã tăng lên 54 đơn vị: gồm 8 trường
dạy nghề công lập, 1 trường dạy nghề ngoài công lập, 2 trung tâm dạy nghề, 2 trung tâm
giới thiệu việc làm, 22 trung tâm giáo dục thường xuyên dạy nghề cấp huyện, 19 cơ sở
dạy nghề trong các hội, đoàn thể các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất có đăng ký
hoạt động dạy nghề cho lao động xã hội. Về kinh phí cho việc đào tạo nghề được chi rất
ít. Số lượng trường và các trung tâm dạy nghề được các cấp chi phí đầu tư cho đào tạo
nghề chỉ đảm bảo cho các hoạt động thường xuyên và chi nghiệp vụ theo quy định mức
biên chế của các đơn vị. Năm 2004 kinh phí cho đào tạo nghề là 12,372 tỷ đồng chiếm
19,7% (Các trường dạy nghề là 8,172 tỷ đồng; các trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo
dục thường xuyên - dạy nghề cấp huyện là 4,2 tỷ đồng). Nguồn thu đóng góp của người
học nghề và các nguồn thu khác được 7,57 tỷ đồng. Các cơ sở đào tạo nghề đã huy động
ngân sách đầu tư của Nhà nước, các ngành, các địa phương và huy động mọi nguồn lực, tận
dụng mọi khả năng hiện có để xây dựng cơ sở vật chất, nâng cấp trang thiết bị dạy nghề.

Đội ngũ giáo viên dạy nghề Thanh Hóa có 608 giáo viên trong đó giáo viên có
trình độ trên đại học là 4 người, giáo viên có trình độ cao đẳng, đại học là 391 người,
trung học chuyên nghiệp là 75 người; công nhân kỹ thuật là 13 người. Tỉnh luôn quan
tâm đến đội ngũ giáo viên, hàng năm tỉnh tổ chức cho đi học bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm, bồi dưỡng nâng cao trình độ. Chất lượng dạy nghề trong tỉnh từng bước được
nâng lên, số học sinh tốt nghiệp hàng năm đạt trên 90%, trong đó: loại giỏi đạt 8%, loại
khá đạt 27%, trung bình khá 36%, trung bình 29%.

Về đào tạo trong các trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Thanh
Hóa có các cơ sở đào tạo đa dạng về loại hình và trình độ, đào tạo đa hệ và cấp độ đào
tạo khác nhau như Đại học Hồng Đức, Trung tâm giáo dục thường xuyên của tỉnh,
huyện...

Hiện nay Thanh Hóa có 1 Trường Đại học, 2 trường cao đẳng, 7 trường trung
học chuyên nghiệp, đội ngũ giáo viên là 989 người, trong đó tiến sĩ là 35 người, Thạc sĩ
189 người, Đại học 436 người, cao đẳng 87 người. Với đội ngũ giáo viên đông đảo, có
năng lực trình độ chuyên môn, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, gắn bó với nghề
nghiệp, sẵn sàng vượt khó đã đóng góp một phần lớn công sức cho sự nghiệp giáo dục
đào tạo của tỉnh. Hàng năm đã tạo ra những lớp người có trình độ chuyên môn kỹ thuật,
có năng lực thực hành công việc, có lối sống trong sáng lành mạnh phục vụ cho sự
nghiệp CNH-HĐH của tỉnh. Theo kết quả điều tra dân số và lao động 2001-2005, Cục
thống kê Thanh Hóa thì các trường chuyên nghiệp hàng năm đào tạo ra trường trên 5
nghìn sinh viên, cung cấp một số lượng khá lớn cán bộ các ngành khoa học - kỹ thuật
đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và khu vực.

Bảng 7: Số trường, số giáo viên, số học sinh
các trường chuyên nghiệp và dạy nghề

Bình
Năm học Năm học Năm học Năm học Năm học
quân
Chỉ tiêu 2000- 2001- 2002- 2003- 2004-
2001-
2001 2002 2003 2004 2005
2005

Trung học chuyên
nghiệp

- Số trường 8 8 8 7 7 7.8

- Số GV (người) 399 421 394 454 419 417

- Số học sinh (người) 8.457 6.771 6.620 7.125 9.054 7.605

- Số HS đã tốt nghiệp 3.563 3.477 3.883 3.542 4.748 3.843
(người)

Cao đẳng và đại học

- Số trường 1 1 1 1 3 1

- Số GV (người) 590 565 518 480 579 546

- Số HS (người) 5.474 4.668 4.780 6.098 6.999 5.604

- Số HS đã tốt nghiệp 1.809 1.775 1.584 1.343 1.683 1.638
(người)
Đào tạo CN kỹ thuật

- Số học sinh(người) 4.381 3.390 5.072 5.446 5.500 4.758

Dạy nghề

-Số học sinh(người) 22.125 25.965 28.592 31.834 34.200 28.547

Nguồn: Dân số và lao động 2001-2005, Cục thống kê Thanh Hóa.

Qua bảng 7, cho thấy số học sinh ngày càng tăng. Học sinh trung học chuyên
nghiệp năm 2004 tăng lên 7,0% so với năm 2001, số tốt nghiệp ra trường cũng tăng lên
33,25%. Học sinh Đại học và Cao đẳng năm 2004 tăng lên 2,78% so với năm 2001, số
tốt nghiệp ra trường cũng tăng lên 6,96%. Số công nhân kỹ thuật đi học và tốt nghiệp ra
trường ngày một nhiều, năm 2004 tăng lên 25,54% so với năm 2001. Số học sinh được
đào tạo nghề cũng tăng lên 54,57%, đưa tỷ lệ lao động đã qua đào tạo từ 15,50% năm
2001 lên 23,96% năm 2004.

Nhìn chung, thời gian qua, trong những lĩnh vực giáo dục đào tạo của tỉnh
Thanh Hóa đã có bước tiến bộ bước đầu có ý nghĩa. Đã tạo ra một nguồn lao động lớn
có trình độ nghiệp vụ từ đại học, cao đẳng đến dạy nghề phục vụ cho yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh góp phần vào chương trình giải quyết việc làm, xóa đói, giảm
nghèo và thị trường sức lao động.

Những năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã quan tâm đầu tư xây dựng cơ bản và nâng
cấp cơ sở vật chất, tăng cường thêm trang thiết bị cho một số trường như trung học sư
phạm, trung học văn hóa - nghệ thuật, trường đại học Hồng Đức. Đồng thời chú trọng
việc đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, giáo viên các khối, các trường.

Về ngân sách đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh ngày càng tăng, từ
497.526 triệu đồng năm 2000 lên 587.298 triệu đồng năm 2001, và 689.392 triệu đồng
năm 2002 lên 911.605 triệu đồng năm 2003, và năm 2004 lên 930.555 triệu đồng. Trong
đó kinh phí dạy nghề chiếm 19,7% (Niên giám thống kê 2001-2004 Cục thống kê
Thanh Hóa). Xét về tổng ngân sách đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực tuy có tăng
nhưng so với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực vẫn còn thấp, đặc biệt tỷ trọng đầu tư
cho đào tạo nghề còn quá thấp.

Bảng 2.8: Chi cho giáo dục bình quân 1 học sinh đi học.

ĐVT: Nghìn đồng Việt Nam.

Thanh Hóa Cả nước ĐB sông Bắc Trung Đông Nam
Hồng Bộ Bộ

Chung các
khoản chi 636.2 464.08 532.07 373.10 892.79
phí giáo dục

Nguồn: + Số liệu thống kê xã hội những năm đầu thế kỷ XXI. Nhà xuất bản
thống kê Hà Nội 2004.

+ Đánh giá thực trạng mức sống dân cư Thanh Hóa 2004. Cục thống kê Thanh
Hóa.

Từ bảng 2.8 ta thấy mức chi cho giáo dục ở Thanh Hóa cao hơn 1 số vùng và so
với bình quân cả nước, nhưng vẫn thấp hơn so với Đông Nam Bộ và điều chủ yếu là vẫn
thấp so với yêu cầu thực tế phát triển nguồn nhân lực ở Thanh Hóa. Mức chi như vậy
cũng chỉ đủ để chi phí về cơ sở vật chất, dụng cụ học tập, trang thiết bị học tập đơn
thuần chưa thể trang bị được những thiết bị hiện đại, tiên tiến.

Hiện nay, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ trên thế giới, giữa nhiều
nước đang diễn ra sự hợp tác và chuyển giao công nghệ, đó là điều kiện tốt để chúng ta
tiếp cận nền tri thức mới tiếp thu thành tựu khoa học công nghệ của thế giới thông qua
con đường học tập. Nhưng trang thiết bị trường học cũ kỹ lạc hậu thì làm sao có thể tiếp
cận nhanh chóng thành tựu khoa học công nghệ được. Do đó, đối với sự nghiệp giáo
dục đào tạo ở nước ta nói chung và Thanh Hóa nói riêng việc quan trọng hàng đầu là
đầu tư đúng mức cho nó. Hội nghị lần thứ II ban chấp hành trung ương khóa VIII của
Đảng đã quyết định tăng dần tỷ trọng ngân sách cho giáo dục - đào tạo đạt 15% tổng
ngân sách vào năm 2000. Nhưng hiện nay bình quân khu vực Đông Nam á là 20% đến
25%, nên mức 15% của Việt Nam vẫn là mức thấp (mà nay đã là năm 2005 rồi). "Ngay
từ cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, tỷ lệ ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo của
Xingapo đã ở mức 20,8%, Hàn quốc 20,1%, Hồng Kông 16%, Thái Lan 17%, trong khi
đó Việt Nam chỉ đạt 3%" [29-191]. Vì vậy, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự
yếu kém trong chất lượng giáo dục ở Việt Nam nói chung và Thanh Hóa nói riêng là cơ
sở vật chất cho giáo dục và đào tạo còn nghèo nàn, phần lớn học sinh học chay thiếu
trang thiết bị thí nghiệm.

Về hệ thống dạy nghề của Thanh Hóa, hệ thống này vẫn còn nhỏ bé (đầu tư cho
một trường dạy nghề đắt tiền hơn nhiều lần cho một trường phổ thông), đây là khâu yếu
nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân cũng là khâu yếu nhất trong hệ thống giáo dục ở
Thanh Hóa. Nhưng đó lại chính là nơi đào tạo ra nguồn nhân lực có tay nghề cao phục
vụ cho CNH, HĐH.

Qua thực trạng đào tạo nguồn nhân lực ở Thanh Hóa cho thấy sự nghiệp giáo
dục - đào tạo ở Thanh Hóa còn tồn tại yếu kém, bất cập cả về hệ thống trường lớp quy
mô, cơ cấu ngành nghề, chất lượng và hiệu quả đào tạo. Chất lượng giáo dục đào tạo
vẫn còn chênh lệch khá cao giữa các vùng, các miền. Số lượng học sinh miền núi, vùng
nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế chậm phát triển vào học các
trường đại học còn quá ít.

Nhìn một cách khái quát, thời gian qua trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo của
Thanh Hóa có bước chuyển biến đi lên đã gặt hái được một số kết quả bước đầu có ý
nghĩa và tạo tiền đề cho bước tiến cao hơn trong thời gian tới. Sự nghiệp giáo dục - đào
tạo của Thanh Hóa đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo đội ngũ
lao động có trình độ học vấn phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nhất là trong
thời kỳ hiện nay, nguồn nhân lực con người trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang
đòi hỏi lao động lành nghề, lao động có chuyên môn kỹ thuật cao.

2.1.3.2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở Thanh Hóa
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực
như: Sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, năng lực phẩm chất của
người lao động.

Yếu tố tạo nên chất lượng nguồn lực trước hết là sức khỏe.

* Tình hình sức khỏe:

Tình hình sức khỏe phụ thuộc nhiều yếu tố, trước hết là mức sống. Mức sống
dân cư trong tỉnh Thanh Hóa nhìn chung ổn định và từng bước được cải thiện. Thu nhập
bình quân của các tầng lớp dân cư hàng năm GDP tính theo đầu người là 3.720 nghìn
đồng. Nhưng so với cả nước và Bắc Trung Bộ thì dân cư Thanh Hóa vẫn có mức sống
thấp (xem bảng 2.9).

Bảng 2.9. Số liệu so sánh GDP giữa Thanh Hóa, cả nước
và một số tỉnh năm 2003

ĐVT: nghìn đồng

GDP bình quân đầu người
Chỉ tiêu
(Theo giá trị thực tế)

Thanh Hóa 3720

Cả nước 4785

Ninh Bình 3249

Thái Bình 3887

Nghệ An 4083

Quảng Nam 4164

Hà Nội 15902.6

Hải Phòng 8313.7

Hà Tây 4235.8
Hưng Yên 5097.1

Hải Dương 5892.8

Nam Định 3845.3



Nguồn: Niên giám thống kê 2000-2004 Cục thống kê Thanh Hóa.

Qua bảng 2.9 thấy GDP bình quân đầu người của Thanh Hóa thấp nhất so với
các tỉnh và chỉ hơn Ninh Bình. Trong khi GDP bình quân đầu người của Thanh Hóa là
3720 nghìn đồng, thì Hà Nội là 15902.6 nghìn đồng; Hải Phòng 8313.7 nghìn đồng; Hải
Dương là 5892.8nghìn đồng, cả nước 4785 nghìn đồng... So với bình quân cả nước vẫn
thấp hơn 1065 nghìn đồng.

Đánh giá mức sống của dân cư không những nhìn góc độ thu nhập mà còn nhìn
nhận từ góc độ chi tiêu cho đời sống. So sánh chi tiêu trong 2 năm 2002 và 2004, cơ cấu
chi tiêu đời sống các tầng lớp dân cư Thanh Hóa có xu hướng tiến bộ, bởi chi tiêu ăn
uống hút năm 2002 là 50,1%, đến năm 2004 giảm xuống còn 45%, và chi tiêu cho may
mặc, đi lại, đời sống văn hóa... từ 31,1% năm 2002 lên 35,1% năm 2004 (xem bảng 10).

Bảng 10: Chi đời sống bình quân một người một tháng
so với thu nhập năm 2002 và 2004

Bình quân 1 người 1 tháng
Bình quân 1 người 1 tháng (nghìn
đồng) so với thu nhập (%)
Năm Chi không
Thu Chi đời Chi ăn Chi không Chi đời Chi ăn
ăn, uống,
nhập sống uống ăn, uống hút sống uống
hút

A 1 3= 4 + 4 5 6=3/1*1 7=4/1*1 8=5/18*10
5 00 00 0

Thanh Hóa
2002 224,83 182,6 112,71 69,95 81,2 50,1 31,1

2004 311,11 250,40 141,19 109,21 80,5 45,5 35,1

Cả nước 356.80 268.35 151.96 116.38 75.2 42.6 32.6

BTB 235.49 192.77 112.35 80.41 81.9 47.7 34.2
(2004)

ĐNB 622.95 447.59 235.65 2119.3 71.8 37.8 34.0
(2004)



Nguồn:+ Tổng cục thống kê- số liệu thống kê xã hội những năm đầu thế kỷ XXI,
nhà xuất bản thống kê 2004.

+ Cục thống Thanh Hóa - Đánh giá thực trạng mức sống dân cư Thanh Hóa
2002-2004.

Qua bảng 10 ta thấy khi (còn nghèo) thu nhập thấp thì người dân thường dành
phần lớn chi tiêu của mình để đảm bảo nhu cầu ăn uống hút. Khi thu nhập khá thì các
hộ gia đình chi nhiều hơn cho nhu cầu ngoài ăn uống, gồm: may mặc, ở, đi lại, đồ dùng,
chăm sóc, sức khỏe, giáo dục, văn hóa. Qua số liệu trên đã chứng minh đời sống của các
tầng lớp dân cư Thanh Hóa đã được cải thiện trong 2 năm qua. Nhưng so với cả nước và
vùng Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ thì mức sống của dân cư Thanh Hóa vẫn thấp. Bởi
tỷ trọng chi tiêu cho ăn uống (Chi ăn, uống, hút, cột 7=4/1*100) trong chi tiêu (Chi cho
đời sống cột 3 = 4+5) là một tiêu chí đánh giá mức sống cao hay thấp, tỷ trọng này càng
cao thì mức sống càng thấp và ngược lại.

Từ bảng 10 cho thấy tỷ trọng chi tiêu cho ăn, uống, hút của Thanh Hóa trong chi
tiêu cao hơn cả nước và vùng Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ. Do đó, mức sống của
Thanh Hóa đang còn thấp. Mức sống thấp nên phần lớn chi tiêu dành cho ăn, uống, hút.
Còn chăm sóc sức khỏe, giáo dục văn hóa... được chi phần nhỏ, cũng do mức sống thấp
nên đã hạn chế đến việc đầu tư cho con người, đầu tư cho giáo dục... làm ảnh hưởng đến
sự phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực. Mức thu nhập của Thanh Hóa thấp
nên số hộ nghèo là tương đối nhiều 19% (Trung bình từ 1999 - 2003) xem bảng 11.

Bảng 2.11: Đời sống

1999 2001 2002 2003
1. Lương thực có hạt BQ đầu người - kg/người 338 370 389 400
2. Số mày điện thoại BQ trên 1.000 dân - 8,7 18,6 21,5 24,8
cái/1.000dân
3. Tỷ lệ hộ được dùng điện % 84,1 87,0 88,4 90.0
4. Tỷ lệ hộ nghèo % 23,4 19,9 18,0 15,0
5. Thu nhập bình quân một người/1tháng -nghìn 211 237 252 270
đồng
- Thành thị 393 441 468 501

- Nông thôn 177.8 201 214.5 230
6. Thu nhập của nhóm 20% số hộ có thu nhập cao 485.1 545 589 631
nhất - nghìn đồng.
7. Thu nhập của 20% số hộ có thu nhập thấp nhất 882 92 95 103
nghìn đồng

Chênh lệch giữa 2 nhóm hộ - lần 5.5 5.92 6.2 6.13

Nguồn: Tình hình kinh tế - xã hội chủ yếu tỉnh Thanh Hóa thời kỳ 2001-2003,
cục thống kê Thanh Hóa.

Qua bảng 11 ta thấy, hộ có thu nhập thấp năm 2003 là 103 nghìn đồng một tháng,
số hộ có thu nhập cao là 631 nghìn đồng một tháng. Mức thu nhập thành thị cao gấp đôi
nông thôn: thành thị 501 nghìn đồng, nông thôn 230 nghìn đồng. Từ chỗ thu nhập thấp
nên đầu tư cho học hành cũng thấp. Vì vậy, tỷ lệ học sinh nông thôn, học sinh miền núi
vào học các trường đại học, các trường chuyên nghiệp, dạy nghề cũng rất thấp.
Mặc dù thu nhập thấp nhưng nhà ở của Thanh Hóa tương đối cao so với mức
bình quân của cả nước và một số vùng (xem bảng 12).

Bảng 2.12: Tỷ lệ nhà chia theo loại nhà

ĐVT: %

Nhà kiên cố Nhà bán kiên cố Nhà tạm ở

Thanh Hóa

2002 13.8 71.6 14.6

2004 20.3 66.5 13.2

Cả nước 2004 15.48 58.77 26.44

ĐB sông Hồng 38.05 55.43 6.52
2004

Bắc Trung Bộ 12.6 72.94 14.39
2004

Đông Nam Bộ 13.69 58.51 27.79
2004

Nguồn:+ Tổng cục thống kê.Số liệu thống kê xã hội những năm đầu thế kỷ XXI.
Nhà xuất bản thống kê 2004.

+ Cục thống kê Thanh Hóa. Đánh giá thực trạng mức sống dân cư Thanh Hóa
2002-2004.

Về nhà ở: Thì loại nhà tạm ở của Thanh Hóa ngày càng giảm, nhà kiên cố ngày
càng tăng. Năm 2002 nhà kiên cố của Thanh Hóa bình quân cũng gần bằng cả nước và
một số vùng. Đến năm 2004 nhà kiên cố ở Thanh Hóa tăng 20% cao hơn bình quân cả
nước 4.82% cao hơn Bắc Trung Bộ 7.7% và cao hơn Đông Nam Bộ là 6.61% nhưng so
với vùng đồng bằng Sông Hồng thì thấp hơn nhiều.
Nhìn chung, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa đã có bước
tăng trưởng. Tuy nhiên chỉ tiêu so với cả nước và khu vực Bắc Trung Bộ vẫn còn thấp.
Điều này đòi hỏi tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa phải có chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
ngắn hạn, dài hạn để tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân. Song cũng phải
nói rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế trong tỉnh Thanh Hóa bốn năm qua đã tăng liên tục.
Từ năm 2001 - 2004, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) theo giá so sánh bình quân mỗi
năm đạt 9.607,4 tỷ đồng, tăng liên tục qua các năm, với tốc độ tăng bình quân mỗi năm
9,3%, cao hơn thời kỳ 1996 - 2000 (7,3%) và cao hơn bình quân chung của cả nước (cả
nước tăng bình quân mỗi năm thời kỳ 2001 - 2004 là 7,3%), hai tỉnh lân cận: Nghệ An
10%, Ninh Bình 9,6%.

Đáng chú ý là bốn năm qua, các khu vực kinh tế và các ngành kinh tế chủ yếu
đều đạt tốc độ tăng trưởng cao.

Bảng 2.13: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh

Đơn vị tính: %

Toàn Chia ra
tỉnh
Nông, lâm Công Dịch vụ
nghiệp, nghiệp,
thủy sản xây dựng

Tốc độ tăng bình quân thời
kỳ

1991 - 1995 7,0 3,7 10,6 8,8

1996 - 2000 7,3 3,7 13,6 7,2

2001 - 2004 9,3 5,1 15,4 7,8

Tốc độ tăng hàng năm

2001 8,2 4,8 13,7 7,2
2002 9,2 4,9 16,3 7,5

2003 9,7 5,3 15,9 8,2

2004 9,9 5,4 15,5 8,5

Nguồn: Niên giám thống kê Thanh Hóa.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: Giảm ở nhóm ngành nông,
lâm nghiệp và thủy sản; tăng ở nhóm ngành công nghiệp, xây dựng; ngành dịch vụ số
tuyệt đối tăng chậm nên tỷ lệ giảm.



Bảng 2.14: Cơ cấu kinh tế trong tỉnh
Đơn vị: %

2000 2004

Tổng số 100,0 100,0

Nông, lâm, thủy sản 39,6 34,0

Công nghiệp và xây dựng 26,6 33,2

Dịch vụ 33,8 32,8

Nguồn: Niên giám Thống kê 2000 - 2004 Thanh Hóa.

Nhìn chung, các khu vực kinh tế và ngành kinh tế đều đạt tốc độ tăng trưởng
cao, các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,1%; công nghiệp và xây dựng 15,4%;
dịch vụ 7,8%. Vì vậy, đời sống các tầng lớp dân cư Thanh Hóa được cải thiện, công cuộc
xóa đói giảm nghèo tiếp tục được phát huy có hiệu quả.

Các lĩnh vực văn hóa - xã hội đều có bước phát triển và hoàn thành mục tiêu kế
hoạch hàng năm. Tình hình an ninh, chính trị ổn định, trật tự xã hội được đảm bảo. Các
thành tựu trên đã tác động tích cực đến đời sống, đến lao động, việc làm và thu nhập của
nhân dân trong những năm qua.
Về cơ sở y tế và chăm sóc sức khỏe ở Thanh Hóa vẫn còn hạn chế. Số bác sĩ ở
các trạm xá xã thiếu trầm trọng. Theo số liệu của niên giám thống kê 2000-2004, Cục
thống kê Thanh Hóa thì số y, bác sỹ của Thanh Hóa năm 2000 là 4.517 người, đến năm
2004 tăng thêm lên 419 người trong khi dân số Thanh Hóa tăng thêm 1.05.998 người.
Tính ra số y bác sĩ năm 2000 là 13 người trên 1 vạn dân thì đến năm 2004 là 14 người
trên 1 vạn dân, số y bác sĩ như vậy là thấp so với yêu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân
dân, nhất là vùng sâu, vùng xa và các tuyến xã, phường. Thanh Hóa có 32 bệnh viện
thuộc tuyến tỉnh, huyện với 3.587 y bác sĩ trong đó có 1.123 người có trình độ bác sĩ trở
lên. Còn trạm y tế của xã phường là 622 trạm thì có 2.828 y bác sĩ, trong đó có 369
người là có trình độ bác sĩ trở lên. Như vậy, số bác sĩ chỉ chia cho được hơn một nửa số
trạm (59,325%) còn gần một nửa các trạm ở xã phường là không có bác sĩ. Tình hình
này rất khó khăn cho người dân. Hiện nay, số người ốm đau không đi viện còn nhiều (ở
xã, phường, vùng nông thôn) lý do vì thu nhập thấp là chủ yếu nên họ chỉ khám ở trạm
và điều trị tại nhà.

Cơ sở y tế ở tuyến tỉnh, huyện về chất lượng khám chữa bệnh có nâng lên, số y
bác sĩ tăng, số giường bệnh tăng, năm 2000 là 427 giường, năm 2004 tăng lên 4.460
giường.

Về phương tiện y tế, thì hầu hết cũ kỹ, lạc hậu, máy móc, thiết bị y tế hiện đại chưa
được trang bị nhiều. Vì vậy, việc khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
cũng phần nào bị hạn chế.

Hiện tại, sức khỏe của nhân dân chưa được đảm bảo, do mức thu nhập ở Thanh
Hóa thấp nên đời sống nhân dân có nhiều khó khăn, thiếu thốn. Số lượng calo cho người
lớn và trẻ em còn ở mức nghèo đói. Tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng còn cao, tuy rằng tỷ
lệ trẻ em suy dinh dưỡng mấy năm gần đây đã giảm. Năm 2000 là 39,8%; năm 2002 là
37,2%; năm 2004 là 33,8% (Dân số lao động... 2001-2005. Cục thống kê Thanh Hóa). Tình
hình vệ sinh môi trường cũng chưa đảm bảo, số hộ sử dụng nước ao hồ còn nhiều, số hộ
dùng nước sạch năm 2000 là 48,0%. Năm 2004 đã tăng lên thành 78,0%, số hộ dùng hố
tiêu hợp vệ sinh năm 2000 là 21,6%, đến năm 2004 đã tăng lên thành 25,9%.
Nhìn chung, sức khỏe của người Thanh Hóa chưa được đảm bảo về dinh dưỡng,
mức thu nhập chi tiêu thấp, tình trạng này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển
thể lực, khả năng tư duy, khả năng học tập để nâng cao trình độ học vấn chuyên môn kỹ
thuật của lực lượng lao động trong nhiều năm tới.

* Trình độ nguồn nhân lực

Trình độ nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ở trình độ học vấn, mà còn thể hiện
ở trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề thông qua số lượng và chất lượng lao động đã
qua đào tạo.

Về trình độ học vấn (Trình độ văn hóa) qua nghiên cứu thực trạng ở Thanh Hóa
cho thấy trình độ, học vấn của Thanh Hóa ngày càng được nâng lên. Thể hiện trước hết là
mặt bằng dân trí được nâng lên. Số người biết chữ của lao động Thanh Hóa khá cao so với
khu vực Bắc Trung Bộ và một số tỉnh trong nước.

Bảng 2.15: Cơ cấu lao động chia theo trình độ học vấn phổ thông
và tỉnh năm 2004
Đơn vị tính: %

Chưa Đã tốt Đã tốt Đã tốt
Chưa
Tổng số nghiệp nghiệp nghiệp
TN tiểu
biết chữ
tiểu học PTCS PTTH
học

Thanh Hóa 100.000 3,13 8,03 26,62 44,95 19,28

Cả nước 100.000 4,44 13,38 29,73 32,36 19,60

Bắc Trung Bộ 100.000 1,84 8,02 24,96 43,74 21,44

Đông Nam 100.000 3,32 13,97 33,96 43,74 21,44
Bộ

Thái Bình 100.000 0,44 4,37 18,37 61,97 14,85

Nam Định 100.000 1,09 6,00 20,40 52,18 20,33
Nghệ An 100.000 1,92 5,76 21,18 46,03 25,11

Trà Vinh 100.000 9,03 29,40 39,29 15,55 6,73

Nguồn: + Niên giám thống kê lao động - thương binh và xã hội 2004.

Bộ lao động - Thương binh và xã hội. Nhà xuất bản lao động - xã hội Hà Nội
2005.

Năm 2004 tổng số lao động Thanh Hóa là 1.870.053 người, trong số đó lao
động không biết chữ chiếm 1,13%, thấp hơn so với bình quân cả nước (cả nước 4,44%) và
vùng Bắc Trung Bộ (1,84%), vùng Đông Nam Bộ (3,32%) và một số tỉnh trong nước. Số
lao động tốt nghiệp phổ thông trung học là 19,28% đạt mức xấp xỉ so với cả nước
(19,28%). Đây là một tỷ lệ thấp so với nhu cầu đẩy mạnh công cuộc CNH, HĐH ở Thanh
Hóa. Bởi tỷ lệ lao động có trình độ phổ thông thấp thì sẽ không thuận lợi cho việc đẩy
mạnh hoạt động đào tạo nghề, cũng như giải quyết việc làm, tạo thêm việc làm cho lực
lượng lao động.

Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của Thanh Hóa trong giai đoạn tới là phải phát
triển giáo dục để phổ cập bậc trung học cơ sở và tiến tới phổ cập bậc trung học phổ
thông cho lao động cả tỉnh. Có như vậy mới tạo điều kiện để tăng năng suất lao động
của vùng đất đầy tiềm năng này. Để nâng cao năng suất lao động, không chỉ nâng cao
trình độ học vấn phổ thông mà còn phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật. Lao
động có chuyên môn kỹ thuật và lao động có trình độ đào tạo từ sơ cấp, học nghề trở
lên.

Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở Thanh Hóa tuy có tăng đáng kể cả
về số lượng và tỷ lệ chiếm trong tổng lực lượng lao động, nhưng so với cả nước thì thấp
hơn bình quân chung của cả nước. Năm 1996 tỷ lệ này của cả nước là 12,30%, thì
Thanh Hóa chỉ là 10,44%. Năm 2000, cả nước tăng lên 15,7%, thì tỉnh Thanh Hóa tăng
lên 13,04%, năm 2003 cả nước tăng lên 20,99%, thì Thanh Hóa cũng chỉ tăng lên được
13,45%. Mức tăng bình quân của cả nước ngày càng cao, còn mức tăng của Thanh Hóa
thật chậm. Năm 2000 tỷ lệ tăng lên của Thanh Hóa so với 1996 là 2,6%, nhưng đến năm
2003 tỷ lệ tăng lên so với 2000 chỉ được 0,41%, và tỷ lệ tăng lên của lao động có
chuyên môn kỹ thuật chủ yếu là ở khu vực thành thị (Xem bảng 2.16).

Bảng 2.16: Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật
phân theo thành thị nông thôn 1996-2000-2003

Chỉ tiêu 1996 2000 2003
Tổng số lao động có trình độ chuyên 168.000 239.933 246.212
môn kỹ thuật từ sơ cấp học nghề trở lên
Trong đó công nhân kỹ thuật có bằng trở 121.053 196.833 203.094
lên
1. Thành thị 60.751 86.287 85.649
% So với tổng số 36,16 35,97 34,79
- Trong đó công nhân kỹ thuật có bằng trở 45.034 73.101 72.434
lên
% So với tổng số 37,2 37,14 36,67
2. Nông thôn 107.249 153.646 160.563
% so với tổng số 63,84 64,03 65,21
- Trong đó công nhân kỹ thuật có bằng trở 76,019 123.732 130.660
lên
% so với tổng số 62,8 62,86 63,33

Nguồn: + Thống kê lao động - việc làm ở Việt Nam 1996-2000, 2003.

+Bộ lao động thương binh xã hội. Nhà xuất bản lao động - xã hội, Hà
Nội 2001, 2004.

Số liệu bảng 2.16 cho thấy, còn nhiều bất hợp lý trong phân bổ lực l ượng lao
động có trình độ chuyên môn ở tỉnh Thanh Hóa, giữa thành thị và nông thôn. Tính
chung trong toàn tỉnh, lực lượng lao động ở nông thôn chiếm 89,93% nhưng lao động
có chuyên môn kỹ thuật (CMKT) từ sơ cấp, học nghề trở lên chỉ chiếm 65,21% trong
tổng số lực lượng lao động có trình độ CMKT của cả tỉnh; (lao động có trình độ từ công
nhân kỹ thuật có bằng trở lên tỷ lệ này chỉ chiếm 63,33% - Năm 2003). Ngược lại lực
lượng lao động ở thành thị chiếm 10,07% nhưng lao động có trình độ CMKT lại chiếm
34,79% trong tổng số lực lượng lao động có trình độ CMKT của cả tỉnh. Vì vậy, Thanh
Hóa cần phải tăng nhanh về số lượng và lao động có chuyên môn kỹ thuật ở khu vực
nông thôn, nhất là lao động có trình độ từ công nhân kỹ thuật có bằng trở lên. Nếu
không thì khó có thể khai thác có hiệu quả nguồn lực của tỉnh khi chuyển sang giai đoạn
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Một thực trạng nữa diễn ra ở Thanh Hóa là sự bất cập giữa công nhân. Kỹ thuật
có tay nghề với kỹ sư, lâu nay chúng ta đào tạo kỹ sư nhiều hơn thợ bậc bao. Hiện tại
Thanh Hóa rất ít công nhân kỹ thuật bậc bao, nếu không có chính sách để điều chỉnh cơ
cấu đào tạo thì tình hình này càng thêm gay gắt.

Bảng 2.17: Lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật
chia theo trình độ

Chia theo trình độ
Lực lượng
lao động Cao đẳng,
Sơ cấp và Trung học
Chỉ tiêu ĐVT có chuyên đại học và
công nhân chuyên
môn kỹ trên đại
kỹ thuật nghiệp
thuật học
1. Lao động có CMKT
2000 Ngườ 239.933 89.053 106.653 44.227
i
2003 Ngườ 246.212 107.793 99.512 38.907
i
2. Cơ cấu lao động có
CMKT chia theo trình
độ
2000 % 100 37,12 44,45 18,43
2003 % 100 43,78 40,42 15,80
3. Tỉ lệ so với tổng lực
lượng lao động
2000 % 13,04 4,84 5,80 2,37
2003 % 13,45 5.90 5,43 2,12
4. Chỉ số phát triển
2000 %
2003 % 102,61 121.05 93,30 87,97

Nguồn số liệu tính toán: Thống kê lao động thương binh xã hội Việt Nam 2000-
2003. Nhà xuất bản lao động - xã hội, Hà Nội 2001-2004.

Qua bảng 15 cho thấy, năm 2000 tỷ lệ sơ cấp và công nhân kỹ thuật chiếm
37,12% trong tổng lực lượng lao động có CMKT; trung học chuyên nghiệp chiếm
44,45%; cao đẳng, đại học trở lên chiếm 18,43%. Năm 2003 tỷ lệ này là 43,78%.- 40,42% -
15,80%. So sánh giữa năm 2000 và năm 2003 thì sơ cấp và công nhân kỹ thuật tăng với mức
độ cao nhất so với trung học chuyên nghiệp và cao đẳng, đại học. Thời kỳ này lực lượng
lao động có trình độ sơ cấp và công nhân kỹ thuật tăng 21,04%. Còn trung học chuyên
nghiệp giảm 6,7%, cao đẳng và đại học giảm 12,03%. Lực lượng lao động có chuyên môn
kỹ thuật nói chung của Thanh Hóa trong thời kỳ 2000 - 2003 bình quân hàng năm tăng
2,61%.

Về cấu trúc đào tạo chia theo trình độ cũng chưa đáp được nhu cầu của xã hội
cũng như thị trường lao động. Tính riêng tỉnh Thanh Hóa cấu trúc đào tạo là:
1/2,41/2,01. Cứ 1 lao động có trình độ cao đẳng, đại học thì có 2,41 lao động có trình độ
có trình độ trung học chuyên nghiệp và 2,01 lao động có trình độ sơ cấp, học nghề, công
nhân kỹ thuật. Đến năm 2003 tỉ lệ này là: 1/2,6/2,8. Cả nước là: 1/0,91/2,81.
Kinh nghiệm của các nước phát triển chỉ ra rằng, cơ cấu lao động theo trình độ
chuyên môn kỹ thuật hợp lý sẽ là: Cứ một lao động trình độ cao đẳng, đại học cần có 5
lao động trình độ trung học chuyên nghiệp và 10 công nhân kỹ thuật. [30-134].

Như vậy, ở Việt Nam nói chung và Thanh Hóa nói riêng đều thiếu lao động có
trình độ trung học chuyên nghiệp cũng như công nhân kỹ thuật. Qua đây cũng thấy
được việc đào tạo lao động còn nhiều hạn chế, bất hợp lý. Đào tạo không gắn với nhu
cầu của thị trường. Đây cũng chính là nguyên nhân cơ bản làm gia tăng tỷ lệ thất
nghiệp. Đặc biệt là lực lượng lao động trẻ. Điều này đòi hỏi lĩnh vực giáo dục đào tạo,
nhất là đào tạo nghề cần có sự đổi mới và phát triển rộng khắp hơn nữa để tạo ra một cơ
cấu lao động có chuyên môn kỹ thuật hợp lý hơn. Tất nhiên là chúng ta không nhất thiết
phải có một cấu trúc đào tạo như một số nước phát triển mà cần kết hợp với tình hình
thế giới, trong nước và vùng miền, mà quan trọng là căn cứ vào thực tế phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh để có biện pháp đào tạo - sử dụng nguồn nhân lực, phục vụ tốt nhất
cho quá trình CNH, HĐH. Trong những năm qua tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều cố gắng
và nỗ lực trong phát triển giáo dục đào tạo nhân lực, đặc biệt là lĩnh vực dạy nghề. Do
vậy, lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật của toàn tỉnh gia tăng ngày
càng nhanh về quy mô và tốc độ. Song số lượng công nhân kỹ thuật vẫn thiếu hụt so với
nhu cầu, nhất là trong lĩnh vực sản xuất chế biến nông - lâm - ngư nghiệp.

Nền kinh tế Thanh Hóa là nền kinh tế nông nghiệp, cơ cấu tổng sản phẩm nông
nghiệp trong tỉnh năm 2004 là 33,6%, nhưng số lao động trong nông nghiệp lại chiếm
77,80%. Vì vậy nói công nghiệp hóa, hiện đại hóa cơ bản và trước hết ở Thanh Hóa là
phải công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp. Song hiện tại lao động trong lĩnh vực
nông nghiệp có trình độ CMKT chiếm tỷ lệ thấp, lại sử dụng không hợp lý nên càng dẫn
đến sự thiếu hụt lớn về lao động có kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp.

Bảng 2.18: Cơ cấu nguồn nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đang làm
việc trong các ngành kinh tế quốc dân của Thanh Hóa

Nhóm ngành Tổng số % so với tổng số
nguồn nhân lực có
trình độ CMKT
cao

Tổng số chung 29.451

1. Nông - Lâm nghiệp - Thủy sản 3.126 10,61

2. Sản xuất, phân phối điện, khí đốt 151 0,51

3. Công nghiệp chế biến 1.464 4,97

4. Xây dựng 585 2.00

5. Thương nghiệp, sửa chữa xe có động cơ 1.300 4,41

6. Vận tải kho bãi, thông tin liên lạc 531 1,80

7. Tài chính, tín dụng 1.464 4,97

8. Hoạt động liên quan kinh doanh tài sản, dịch vụ 455 1,55
tư vấn

9. Quản lý nghiên cứu, an ninh quốc phòng, bảo 5.245 17,81
đảm xã hội bắt buộc.

10. Giáo dục và đào tạo 10.642 36,07

11.Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội 2870 9,75

12. Hoạt động văn hóa thể thao 151 0,51

13. Hoạt động Đảng, đoàn thể hiệp hội 1.334 4,35

14. Hoạt động phục vụ cá nhân, công cộng 151 0,51

Nguồn: Số liệu thống kê, lao động - việc làm ở Việt Nam năm 2003. Bộ lao
động - Thương binh xã hội và xã hội. Nhà xuất bản lao động xã hội - Hà Nội 2004

Qua bảng 16 cho thấy, ngành nghề đào tạo của đội ngũ có trình độ, từ cao đẳng,
đại học trở lên của tỉnh Thanh Hóa rất đa dạng từ lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học xã
hội nhân văn, pháp luật, kỹ thuật, kinh tế giáo dục, y tế, dịch vụ... Tuy nhiên có sự
chênh lệch nhau rất lớn về cơ cấu chia theo nhóm ngành đào tạo. Số người có trình độ
cao đẳng, đại học trở lên chủ yếu tập trung ở nhóm ngành khoa học giáo dục (36,07%),
tiếp đến là nhóm ngành quản lý nghiên cứu, an ninh quốc phòng (17,80%), nhóm ngành
nông, lâm, thủy sản (10,61) nhóm ngành y tế(9,69%)... Còn các lĩnh vực trọng điểm như
nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ còn đang rất thiếu cả về số lượng và
chất lượng, đặc biệt là ở lĩnh vực nông nghiệp (bởi tách riêng khỏi nhóm ngành nông,
lâm, thủy sản thì ngành nông nghiệp cũng rất ít cán bộ có trình độ CMKT từ cao đẳng trở
lên), công nghiệp chế biến và vật liệu xây dựng.

Thực trạng này đòi hỏi tỉnh Thanh Hóa phải có giải pháp để phân bổ nguồn
nhân lực có trình độ chuyên môn tương ứng giữa các ngành, nghề và với yêu cầu của sự
phát triển kinh tế - xã hội.

Hiện nay, nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao

(những người có trình độ từ cao đẳng trở lên) của Thanh Hóa, đại bộ phận là ở trình độ
cao đẳng và đại học (90,13%) và gồm 2/3 trong số này đang ở tuổi đời trên 40, số có
trình độ trên đại học chiếm tỷ lệ rất ít, đặc biệt là tiến sĩ. Cứ 1000 người có trình độ cao
đẳng và đại học thì có một tiến sĩ và những người này khoảng 10 năm sau là đã đến tuổi
về hưu.

Bảng 2.19: Cơ cấu tuổi và trình độ của nguồn nhân lực có trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao

Tỷ lệ
Số lượng Tuổi đời
Chia theo trình độ chiếm trong tổng
(người) bình quân
số

Tổng số 44,174 100,00 40,3

Tiến sĩ 47 0,10 51,5

Thạc sĩ 340 0,76 44,4
Đại học 21.838 49,43 42,7

Cao đẳng 21.949 49,71 38,8

Nguồn: Báo cáo đánh giá thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh
Hóa lần thứ XV. ủy ban nhân dân tỉnh; Sở Khoa học công nghệ Thanh Hóa năm 2005.

Số liệu ở bảng 17 cho thấy, trong tổng số người có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao của toàn tỉnh: tiến sĩ là 47 người chiếm 0,10%, Thạc sĩ là 340 người chiếm
49,43%, cao đẳng có 21.949 người chiếm 49,71%. Số người có trình độ CMKT cao của
Thanh Hóa hầu hết đang ở tuổi đời bình quân là 40,5. Cao đẳng tuổi đời bình quân là
38,8, Đại học là 42,7, Thạc sĩ là 44,4, còn Tiến sĩ là 51,5. Do đó, lực lượng lao động có
trình độ CMKT cao của Thanh Hóa đang già hóa. Nếu không có những chính sách và
biện pháp hữu hiệu trong lĩnh vực đào tạo lực lượng lao động, nhất là lực lượng lao
động trẻ có năng lực thay thế cho lớp cán bộ có trình độ cao đã lớn tuổi, thì nguy cơ
hẫng hụt đội ngũ cán bộ khoa học sẽ kéo dài và ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế -
xã hội. Việc tăng cường đội ngũ cán bộ trẻ có trình độ CMKT cao, thay thế cho lớp cán
bộ đã nhiều tuổi là cần thiết, nhưng việc cần thiết hơn là phải tạo ra đội ngũ lao động có
trình độ CMKT cao thật sự có chất lượng, để có khả năng thích ứng đối với công việc
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh, cũng như của đất nước. Hiện nay
số cán bộ phát huy khả năng tốt chỉ chiếm 30 đến 32%, tỷ lệ phát huy yếu chiếm tới 28
đến 30%; và giáo viên tiểu học 13%; giáo viên mầm non chiếm tới 37% ch ưa đạt trình
độ quy chuẩn. Cán bộ quản lý cũng chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, trình độ tin
học, trình độ ngoại ngữ còn yếu kém (Báo cáo thực hiện Nghị quyết đại hội tỉnh Đảng
bộ lần thứ XV Tỉnh ủy Thanh Hóa 2004).

Nhìn chung, trình độ CMKT của nguồn nhân lực Thanh Hóa ngày càng được
nâng cao. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ được đào tạo không ít về số lượng và
tương đối đa dạng về ngành nghề cũng như trình độ đào tạo và năng lực thực hiện công
việc. Nhưng mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu phát triển của ngành giáo dục đào
tạo, một phần lĩnh vực quản lý, y tế. Còn các lĩnh vực khác đang thiếu cả về số lượng và
chất lượng. Đây là vấn đề tỉnh cần phải đánh giá đúng mức những ưu, khuyết, những
điều chưa làm được và cần phải làm để có biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực, phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

2.2. Đánh giá chung về việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa

2.2.1. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Thanh Hóa

Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Thanh Hóa là một đòi hỏi khách
quan, bởi vì:

Thứ nhất, quá trình CNH, HĐH là một xu thế tất yếu của lịch sử. CNH, HĐH
đã và đang lôi cuốn, tác động đến tất cả các nước, tất cả các lĩnh vực của đời sống xã
hội. ở những nước phát triển, hiện đại hóa là quá trình tiếp tục tạo ra và sử dụng những
thành tựu khoa học công nghệ mới nhất, hiện đại nhất vào mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội để thúc đẩy xã hội phát triển hiện đại hơn, từ đó xuất hiện nền văn minh mới, xã hội
mới như xã hội thông tin, xã hội hậu công nghiệp... ở những nước đang phát triển công
nghiệp gắn bó chặt chẽ với hiện đại hóa, đó là quá trình sử dụng những thành tựu khoa
học công nghệ hiện đại để đổi mới căn bản bộ mặt kinh tế, chính trị văn hóa, khoa học
kỹ thuật và tinh thần của xã hội nhằm đưa xã hội lên trình độ hiện đại.

Đối với nước ta, từ một nền kinh tế nông nghiệp (người lao động có tri thức
thấp, công cụ lao động thủ công lạc hậu, năng suất lao động thấp...) phấn đấu lên xã hội
hiện đại thì không có con đường nào khác là con đường CNH, HĐH với tư cách một
cuộc cách mạng toàn diện, sâu sắc trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Phải
thông qua xây dựng CNH, HĐH mới "xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp,
có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc
phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh" [12 – 80].
Như vậy, đối với nước ta công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một tất yếu và hết sức bức
thiết.
Thanh Hóa không nằm ngoài xu thế chung của đất nước, Thanh Hóa tất yếu
phải tiến hành CNH, HĐH. Mà công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong giai đoạn
hiện nay là nhằm chuyển đổi một cách căn bản nền sản xuất xã hội từ lao động thủ công
là chính sang lao động dùng máy móc, phương tiện kỹ thuật tiên tiến, hiện đại, tạo nền
tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc
dân. Do đó, để thực hiện CNH, HĐH Thanh Hóa cần thiết phải có nguồn nhân lực với
chất lượng cao.

Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa lần thứ XV (2001 - 2005) đã xác định
mục tiêu của tỉnh là "tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tăng tốc độ phát triển, phấn
đấu và vượt chỉ tiêu trên tất cả các lĩnh vực, phát huy nội lực, khai thác có hiệu quả các
nguồn lực cho phát triển, đặc biệt là nguồn nhân lực, ưu tiên đầu tư phát triển các
ngành, các lĩnh vực có tiềm năng lợi thế của tỉnh, đáp ứng yêu cầu thị trường, tiếp tục
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, đảm bảo tăng trưởng kinh tế với tốc
độ cao và bền vững, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, tích cực, chủ động hội nhập
kinh tế khu vực và thế giới" [22 – 36].

Thanh Hóa tiến hành CNH, HĐH là để thực hiện mục tiêu của tỉnh Đảng bộ đề
ra, đồng thời cũng chính là để thực hiện mục tiêu "xây dựng nước ta thành một nước
công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản
xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và
tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
văn minh [12 – 80]. Mục tiêu trên phải được thực hiện bằng chính sức mạnh của con
người Việt Nam mà trong đó có sự góp sức của những con người Thanh Hóa. Điều đó
cho thấy muốn thực hiện mục tiêu trên "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn
minh" tất yếu phải tiến hành CNH, HĐH mà nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng nguồn nhân
lực chất lượng cao ở Việt Nam nói chung như ở Thanh Hóa nói riêng.

Thứ hai là, do yêu cầu của sản xuất, việc sản xuất ra sản phẩm cho xã hội tiêu
dùng luôn xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của con người. Nhu cầu tiêu dùng của nhân
dân ngày càng phong phú đa dạng, nên sản phẩm của sản xuất ngày càng phải đạt đến
trình độ, đa dạng hóa tốt hơn. Làm được điều này chỉ có thể là lao động của những con
người có trình độ, chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề cao. Việc sản xuất của Thanh Hóa
cũng luôn vươn tới cái đích chung đó. Vì vậy, Thanh Hóa nhất thiết phải tạo ra được
nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thứ ba là, do nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống: Tăng cường sức khỏe,
mở rộng trí thức, nâng cao tay nghề... Việc này xuất phát từ chính nhu cầu của con
người, điều đó tạo điều kiện tốt cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Mong muốn của toàn Đảng, toàn dân là nâng cao chất lượng cuộc sống. Nên
Đảng cộng sản Việt Nam cũng như Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa đều hướng tới việc phát
triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Thứ tư, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Thanh Hóa hiện nay thấp, chủ
yếu là sản xuất nông nghiệp chất lượng hiệu quả chưa cao, chưa đẩy mạnh ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Điều đó cho thấy nền kinh tế - xã hội Thanh
Hóa muốn phát triển được thì Thanh Hóa cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, bởi nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực, là điều kiện
tiên quyết cho sự phát triển.

Thứ năm, Thanh Hóa cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, vì nguồn
nhân lực ở Thanh Hóa chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH. Thanh
Hóa có một đội ngũ lao động đông nhưng không mạnh, yếu về trình độ, bất cập về cơ
cấu, già hóa về đội ngũ. Tỉ lệ lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở Thanh
Hóa rất cao 86,80% (1625811 người), lao động đã qua đào tạo chỉ chiếm 13,20% (247
242 người). Trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên chỉ chiếm tỉ lệ rất thấp.

Với đội ngũ lao động của Thanh Hóa như hiện nay thì Thanh Hóa khó có thể
tiến hành CNH, HĐH được. Trước tình hình đó Thanh Hóa cần phải đầu tư cho giáo
dục - đào tạo nhằm xây dựng, phát triển nguồn nhân lực, phục vụ cho CNH, HĐH.

Nhưng một thực tế đặt ra là nền kinh tế ở Thanh Hóa còn yếu kém, cơ sở vật
chất thấp. Nếu Thanh Hóa đào tạo ra đội ngũ lao động chất lượng cao thì liệu có phát
huy được không (giải quyết việc làm)? Chúng ta cần phải nhận thức rằng, muốn phát
triển, muốn CNH, HĐH thì phải có nền kinh tế tri thức. Hiện Thanh Hóa là tỉnh kém
phát triển nên càng cần phải nắm bắt tri thức, và để nắm bắt kịp nền kinh tế tri thức thì
phải phát triển đội ngũ lao động có trình độ cao. Dù cơ sở hạ tầng và dịch vụ còn thấp
kém, nhưng để "đi tắt", "đón đầu" trong quá trình công nghiệp hóa, để tiến tới nền kinh
tế tri thức thì trước hết Thanh Hóa phải thực hiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Thứ sáu, trong điều kiện hiện nay sự giao lưu kinh tế thế giới diễn ra mạnh mẽ
với sự mở cửa, hội nhập, chuyển giao công nghệ hợp tác liên doanh, đầu tư cùng phát
triển thì Thanh Hóa phải có sự chuẩn bị về nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn nhân
lực vừa nắm được tri thức khoa học công nghệ hiện đại, vừa có sức khỏe, vừa có tính tổ
chức cao, mạnh dạn trong sáng tạo biết kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, biết
tiếp thu chọn lọc những giá trị, tinh hoa văn hóa của thế giới; nguồn nhân lực chất lượng
cao được chuẩn bị là để đón nhận, tranh thủ và vận dụng khoa học công nghệ vào lao
động, sản xuất nhằm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Vì vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Thanh Hóa là một việc làm
cần thiết.

2.2.2. Những thành tựu và hạn chế trong việc nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực ở Thanh Hóa

* Thành tựu:

Để có được nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng được những đòi hỏi ngày
càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH, tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa đã xác định quá trình
phát triển kinh tế - xã hội phải gắn với quá trình phát triển nguồn nhân lực. Do đó trong
quá trình phát triển nguồn nhân lực tỉnh Thanh Hóa đã đạt được những thành tựu đáng
kể:

Thanh Hóa là một tỉnh có quy mô dân số lớn và ngày càng tăng. Dân số càng
nhiều thì nguồn nhân lực càng dồi dào. Nhưng dân số tăng nhanh quá sẽ gây áp lực lớn
về đảm bảo đời sống và cải thiện đời sống nhân dân, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn
nhân lực. Vì vậy, tỉnh đảng bộ Thanh Hóa đã triển khai và thực hiện tốt công tác kế
hoạch hóa gia đình hạ thấp được tỷ lệ tăng tự nhiên dân số của tỉnh từ 14,04% năm 2000
xuống còn 10,80% năm 2004 (bình quân mỗi năm giảm được 0,99%).

Việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu dân số kế hoạch hóa gia đình góp phần
thiết thực vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian qua, đồng
thời trực tiếp đóng góp mức tăng thu nhập bình quân đầu người, giảm sức ép về sự gia
tăng dân số và những yêu cầu bức xúc về chi phí cho các nhu cầu xã hội do sự gia tăng
dân số, góp phần ổn định đời sống nhân dân, xóa đói giảm nghèo.

Thanh Hóa có nguồn nhân lực lớn, nhưng chủ yếu tập trung trong nông nghiệp.
Vì vậy tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa đã chú trọng thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp và
nông thôn. Đưa ứng dụng tiến bộ sinh học về cây trồng vật nuôi trên diện rộng và thu
kết quả cao. Đồng thời chuyển dịch một số diện tích trồng cây lương thực sang trồng
cây công nghiệp và nuôi trồng thủy sản... góp phần tăng GDP trong nông -lâm - ngư
nghiệp từ 0,7 % năm 2000 lên 5,2% năm 2004, và làm giảm lao động trong nông - lâm -
ngư nghiệp xuống 2,7% (năm 2004 so với năm 2000). Đồng thời trong công nghiệp đã
tập trung phát triển các ngành có lợi thế: sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế
biến nông, lâm, thủy sản, thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư vào khu công
nghiệp (Nghi Sơn, Lễ Môn), phát triển vùng nguyên liệu giấy cho nhà máy giấy Châu
Lộc, vùng nguyên liệu mía cho nhà máy đường Lam Sơn, Thạch Thành thu hút được
nhiều lao động. Ngành dịch vụ tuy chưa tạo được bước đột phá nhưng cũng đã thu hút
được 118,2% ngàn người lao động tham gia, tổng doanh thu năm 2003 đạt 5009,3 tỷ
đồng.

Để tạo nền tảng cho phát triển đào tạo nguồn nhân lực, Thanh Hóa đã chú trọng
phát triển giáo dục - đào tạo và đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, đang triển khai
phổ cập phổ thông cơ sở. Có thể nói trình độ học vấn của nguồn nhân lực Thanh Hóa
ngày càng được nâng cao do thực hiện tốt chương trình phổ cập tiểu học và xóa mù chữ,
tỷ lệ người không biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học ngày càng giảm. Năm 1999 tỉ lệ này
là 6.3%, năm 2002 là 5,2% và năm 2004 là 4,8%. Trong khi đó tỉ lệ này của cả nước bình
quân là 4,44% (năm 2004). Số người tốt nghiệp THCS và PTTH của Thanh Hóa không
ngừng tăng. Tổng số học sinh các cấp phổ thông đậu tốt nghiệp (2004) là 8216926 người.

Chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh được nâng lên một bước, không chỉ được
thể hiện ở mặt bằng dân trí - phổ cập giáo dục phổ thông mà nó còn thể hiện ở trình độ
học vấn và chuyên môn kỹ thuật. Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực
Thanh Hóa ngày càng được nâng cao, từ 10,44% năm 1996; lên 13,04% năm 2000; và
năm 2004 là 13,20% trong tổng số lao động. Tỷ lệ này bình quân của cả nước là:
12,31% - 15,51% và 22,57%. Tuy trình độ chuyên môn của nguồn nhân lực Thanh Hóa
hàng năm vẫn tăng, nhưng tăng chậm hơn so với cả nước. Năm 2004 so với 1996 của
Thanh Hóa tăng lên 0,76%, trong khi đó cả nước tăng lên 10,26%.Tốc độ tăng của
Thanh Hóa chậm hơn cả nước, và tỷ lệ cũng thấp xa so với cả nước. Vì vậy, Thanh Hóa
cần phải phấn đấu hơn nữa, phải đầu tư cho giáo dục - đào tạo để nâng cao trình độ
chuyên môn cho nguồn nhân lực.

Trong nhiều năm qua, mặc dù tỉnh còn nhiều khó khăn. Song cũng đã xây dựng
được một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật góp phần tích cực thực hiện nhiệm vụ phát
triển kinh tế xã hội của tỉnh. Tính đến năm 2003 tỉnh Thanh Hóa có 38907 lao động có
trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học bằng 2,13% so với tổng lao động. Và tỷ lệ bình
quân của cả nước là 4,44%; Bắc trung bộ là 3,01%; tỉnh lân cận của Thanh Hóa là Nghệ An
là 2,55%. Số liệu trên cho thấy nguồn nhân lực có trình độ từ cao đẳng trở lên, của Thanh
Hóa thấp hơn so với cả nước, khu vực và với tỉnh lân cận. Song đây cũng là một sự cố
gắng nổ lực của Thanh Hóa trong việc xây dựng lực lượng lao động có trình độ từ cao
đẳng trở lên: Năm 1996 tỉ lệ này là 1,24; năm 1999 là 2,10; năm 2004 2,13.

Thanh Hóa đã xây dựng được một hệ thống trường, lớp đào tạo tương đối hoàn
chỉnh từ trường dạy nghề, sơ cấp nghiệp vụ đến đại học, đã đóng góp một phần quan
trọng trong việc hình thành đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp
vụ ngày càng đông đảo trong tổng số lao động toàn tỉnh. Bước phát triển của đào tạo
nhân lực gắn liền với những thành tựu về kinh tế - xã hội mà Đảng bộ và nhân dân đã
đạt được trong các thời kỳ phát triển đã qua.
Việc thực hiện phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống nhân dân đã có
bước chuyển biến tích cực đời sống nhân dân nói chung, lực lượng lao động nói riêng
liên tục được cải thiện, cả về vật chất và tinh thần, do kinh tế tăng trưởng liên tục trong
nhiều năm qua. Từ năm 2001 - 2004 tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) theo giá so sánh
bình quân mỗi năm đạt 9.607,4 tỷ đồng, tăng liên tục qua các năm, với tốc độ tăng bình
quân mỗi năm 9,3%, cao hơn thời k ỳ 1996-2000 (7,3%) và cao hơn bình quân chung cả
nước (cả nước tăng bình quân mỗi năm thời kỳ 2001-2004 là 7,3%), nhưng vẫn thấp
hơn hai tỉnh lân cận: Nghệ An (10%), Ninh Bình (9,%).

Đáng chú ý là 4 năm qua, các khu vực kinh tế và các ngành kinh tế chủ yếu đều
đạt tốc độ tăng trưởng cao. Tốc độ tăng hàng năm của nông, lâm nghiệp, thủy sản năm
2001 là 4,8, năm 2004 là 5,4; của công nghiệp, xây dựng là 13,7 - 15,5 của dịch vụ là
7,2 - 8,5. Vì vậy đời sống các tầng lớp dân cư Thanh Hóa được nâng lên rõ rệt so với
những năm trước đây.

Về cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm nhóm ngành nông,
lâm nghiệp, thủy sản, tăng nhóm ngành công nghiệp xây dựng, ngành dịch vụ (ngành
dịch vụ tăng chậm nên tỷ lệ giảm). Nông, lâm nghiệp, thủy sản năm 2000 là 39,6% đến
năm 2004 xuống còn xuống còn 34,0% công nghiệp xây dựng là: 26,6% và 33,2%. Do
tỷ trọng trong nông, lâm nghiệp giảm, công nghiệp, xây dựng tăng, nên đã chuyển được
một phần lao động trong nông nghiệp sang các ngành khác, góp phần cân đối lực lượng
lao động giữa các ngành, các vùng.

Nhìn chung, sự phát triển về kinh tế - xã hội, về y tế và giáo dục- đào tạo của
Thanh Hóa đã có những bước tiến bộ đáng kể, góp phần vào sự phát triển tương đối
toàn diện nguồn nhân lực của Thanh Hóa cả về số lượng và chất lượng.

* Những hạn chế và thách thức trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực:

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được do các nhân tố mới về chất lượng nguồn
nhân lực đem lại, vẫn còn những tồn tại yếu kém và thách thức:
Một là, dân số của Thanh Hóa tăng quá nhanh trong khi nền kinh tế của Thanh
Hóa chưa phát triển, giáo dục, y tế và đào tạo cũng như hệ thống cơ sở hạ tầng cơ bản
chưa đáp ứng kịp thời đã và đang gây sức ép lớn về nhu cầu học tập, đào tạo và việc
làm. Chất lượng dân số còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu cao về nguồn nhân lực
phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH. Các yếu tố về thể lực mới chỉ đạt ở mức hạn chế, tỷ lệ
trẻ em suy dinh dưỡng còn cao (23%), gây tác động xấu đến sự phát triển thể lực, sức
khỏe và hạn chế phát triển trí tuệ, ảnh hưởng đến sức lao động hiện tại và tương lai. Đây
thực sự là khó khăn, thách thức đòi hỏi công tác dân số và chăm sóc sức khỏe của
Thanh Hóa cần phải tập trung giải quyết.

Hai là, tuy Thanh Hóa có lực lượng lao động lớn và tăng nhanh trong vài năm
gần đây, lao động trẻ chiếm tỷ lệ cao, nhưng đa số lao động lại tập trung ở khu vực
nông thôn.

Các ngành nông-lâm-ngư nghiệp sử dụng trên 80% lực lượng lao động của cả
tỉnh, lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp, cơ cấu lao
động đang chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, nhưng sự chuyển dịch diễn ra còn
chậm chạp.

Dân số trong độ tuổi lao động của Thanh Hóa tăng nhanh từ 1.793.369 người
năm 1999 tăng lên 1.833.706 người năm 2001 và 1.850.926 người năm 2004. Đây là
tiềm năng lớn nhất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nếu lực lượng này được
đào tạo và sử dụng hợp lý; ngược lại đó sẽ là một áp lực lớn đối với sự phát triển của
tỉnh.

Ba là, sự nghiệp giáo dục - đào tạo của Thanh Hóa có nhiều cố gắng và đạt kết quả
tốt. Song cũng còn những yếu kém thể hiện ở chỗ chất lượng và hiệu quả giáo dục và
đào tạo còn thấp, do thiếu thốn về trang thiết bị dạy học, cơ sở phòng thí nghiệm cũ kỹ,
lạc hậu, thậm chí học sinh chỉ học chay. Đây là vấn đề lớn cần khắc phục, song đều phải
trông chờ vào nguồn kinh phí hạn hẹp của tỉnh, trong khi ngân sách của tỉnh thu không đủ
chi. Nếu Trung ương không hỗ trợ phần nào kinh phí thì sự nghiệp giáo dục - đào tạo nhất là
việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của Thanh Hóa sẽ gặp nhiều khó khăn trở
ngại.

Công tác đào tạo nguồn nhân lực của Thanh Hóa còn yếu kém, bất cập cả về
quy mô và cơ cấu ngành nghề. Quy mô đào tạo nghề thì nhỏ bé manh mún. Các trường,
các cơ sở dạy nghề hiện nay mới đáp ứng được 70% yêu cầu đào tạo. Chưa mở rộng đào
tạo nghề mới để đáp ứng nhu cầu phát triển của các khu công nghiệp và xuất khẩu lao
động. Chất lượng đào tạo nghề còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường
lao động. Việc đào tạo lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp liên tục giảm.
Nguyên nhân là do tình hình kinh tế - xã hội ở Thanh Hóa trong nhiều năm nay vẫn
chưa có nhiều ngành, nghề lao động để thu hút lực lượng lao động này. Ngay cả lực
lượng lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên cũng giảm, là cũng do việc làm
chưa có nhiều để thu hút lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật cao. Đây là một
vấn đề đặt ra đòi hỏi tỉnh cần phải có giải pháp đồng bộ để phát triển nguồn nhân lực ở
Thanh Hóa.

Bốn là, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực ở Thanh Hóa còn quá
thấp mới có 13,20% lao động đã qua đào tạo từ sơ cấp, học nghề trở lên. Trong đó công
nhân kỹ thuật có bằng trở lên chiếm 1,42%. Trung học chuyên nghiệp là 5,44%, cao
đẳng đại học trở lên là 2,13%. Còn 86,80% là lao động giản đơn không qua đào tạo,
phần lớn lại tập trung trong khu vực nông nghiệp 74,12%. Trong khi đó lực lượng lao
động đã qua đào tạo của cả nước là 22,57%; vùng Bắc Trung Bộ là 16,43%; tỉnh lân cận
Nghệ An là 13,87%. Như vậy, lao động đã qua đào tạo của cả nước, Bắc Trung Bộ và
Nghệ An cao hơn Thanh Hóa, và lao động giản đơn thấp hơn của Thanh Hóa. So sánh
với cả nước, Bắc Trung Bộ và tỉnh lân cận thì lao động đã qua đào tạo của Thanh Hóa
thấp hơn nhiều. Nhưng hàng năm tỷ lệ lao động có trình độ CMKT ở Thanh Hóa đều
tăng, song tăng rất chậm. Với tốc độ tăng trưởng chậm như vậy Thanh Hóa khó có thể
đuổi kịp tốc độ của cả nước và khu vực Bắc Trung Bộ.

Để có nguồn nhân lực chất lượng phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Đại hội lần thứ IX của Đảng ta đề ra chỉ tiêu "Đưa số lao động đã qua đào tạo đạt 30%
vào năm 2005 và 40% vào năm 2010". Cả nước phấn đấu chỉ tiêu này đã là khó. Riêng
Thanh Hóa phấn đấu để đuổi kịp tỷ lệ hiện nay của cả nước và khu vực là việc không
phải dễ, còn phấn đấu theo chỉ tiêu mà Đại hội IX của Đảng đề ra thì quả là một thách thức
lớn đối với tỉnh Thanh Hóa.

Do tỷ lệ trình độ CMKT của nguồn nhân lực Thanh Hóa thấp như vậy nên trong
quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất mang tính chuyên nghiệp, đội ngũ lao
động Thanh Hóa đã thể hiện rất rõ những yếu kém của họ. Hiện tại trên thị trường lao
động luôn xảy ra tình trạng khan hiếm nguồn nhân lực cao cấp, công nhân kỹ thuật có
tay nghề cao, các chuyên gia về quản trị kinh doanh, các lập trình viên, kỹ thuật viên,
các nhà quản lý trung gian hiểu biết về tài chính, cùng với yêu cầu cơ bản về ngoại ngữ,
tin học. Trong các doanh nghiệp phần lớn đội ngũ các nhà quản lý chưa được đào tạo
chuyên sâu về kinh tế và kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, Đặc biệt đội ngũ công
nhân kỹ thuật có tay nghề cao lại rất thiếu, chủ yếu là bậc 2, 3, 4, thợ bậc cao rất ít, bậc
6: 5,9%; bậc 7: chỉ có 0,8%. Nếu Thanh Hóa mở mang Khu công nghiệp (Lễ Môn, Nghi
Sơn) khu chế xuất... thì phải tính đến việc nhập khẩu lao động từ tỉnh ngoài hoặc nước
ngoài.

Như vậy, Thanh Hóa đang phải đối mặt với vấn đề thiếu hụt nghiêm trọng lao
động kỹ thuật cao thuộc mọi lĩnh vực, đặc biệt là các lĩnh vực mũi nhọn. Nói chung,
chất lượng nguồn nhân lực của Thanh Hóa có khoảng cách lớn so với yêu cầu của công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Năm là, lao động được đào tạo không cân đối giữa các trình độ, ngành nghề, và
các vùng miền.

Sự không cân đối về trình độ của lao động đã được đào tạo thể hiện ở tính bất
hợp lý trong cơ cấu đào tạo giữa công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp và đại
học, cao đẳng. Theo kinh nghiệm của các nước tiên tiến, sản xuất sẽ phát triển khi có
một cơ cấu đội ngũ nhân lực được đào tạo hợp lý và có trình độ chuyên môn kỹ thuật
tương ứng là 1 cử nhân kỹ sư tốt nghiệp đại học, cao đẳng cần có 5 cán bộ tốt nghiệp
trung học chuyên nghiệp và 10 công nhân kỹ thuật. Trong khi đó ở Việt Nam - tổng hợp
từ "số liệu thống kê lao động - việc làm ở Việt Nam" năm 2003, cơ cấu này của cả nước
là: 1 - 0,92 - 0,75; và cơ cấu của Thanh Hóa là 1 - 2,56 - 0,73. Hiện nay ở Thanh Hóa
cũng như Việt Nam số lượng sinh viên đại học đang ngày một tăng nhanh để có thể đáp
ứng và bắt kịp được với sự tiến bộ về tri thức của nhân loại thì số lượng công nhân kỹ
thuật lại ngày một giảm đi. Đây là một cơ cấu hình tháp ngược, một nghịch lý rất bất lợi
cho quá trình phát triển của Thanh Hóa cũng như của Việt Nam hiện nay.

Sự không cân đối giữa các ngành nghề của lao động có trình độ từ cao đẳng, đại
học trở lên rất lớn. Số người có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chủ yếu tập trung ở
nhóm ngành khoa học giáo dục 36,07%, tiếp đến là nhóm ngành kinh doanh quản lý
17,81%; nhóm ngành y tế 9,75%. Còn các ngành như công nghiệp chế biến, xây dựng
thương nghiệp và sửa chữa ô tô... thì tỷ lệ lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học rất
thấp.

Rõ ràng cơ cấu ngành đào tạo như vậy là không hợp lý. Trong công nghiệp hóa,
hiện đại hóa các ngành mũi nhọn trọng điểm phục vụ cho công những hóa, hiện đại hóa
là công nghiệp chế biến cũng chỉ có 4,97% cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên; ngành
xây dựng 2,00%. Ngay cả nhóm ngành nông, lâm, thủy sản tỷ lệ này cũng thấp
(10,61%) Thanh Hóa là một tỉnh nông nghiệp mà chỉ có 10,61% cán bộ có trình độ
CMKT cao để phục vụ nông nghiệp, với tỷ lệ như vậy thì chưa thể đáp ứng được yêu
cầu của công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn ở Thanh Hóa.

Ngoài ra, lao động đã qua đào tạo còn mất cân đối lớn giữa thành thị và nông
thôn. Nếu ở thành thị lao động đã qua đào tạo (năm 2004) chiếm 48,38% thì ở nông
thôn con số này chỉ là 9,30%. Cơ cấu không hợp lý này là nguyên nhân gây nên tình
trạng thất nghiệp ở các thành phố, thị xã, tạo nên hiện tượng thừa lao động, hoặc thiếu
lao động có chuyên môn kỹ thuật giả tạo giữa các vùng. Bởi thừa ở vùng này nh ưng lại
thiếu ở vùng khác. Trước thực trạng này tỉnh Thanh Hóa phải đi sâu nghiên cứu để có
chính sách và giải pháp khắc phục trong những năm tới nhằm góp phần giảm bớt sự
thiếu hụt về nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở khu vực nông nghiệp, nông
thôn là vấn đề bức thiết và có ý nghĩa về nhiều mặt trong chiến lược phát triển nguồn
nhân lực của tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn 2001 - 2010.

Sáu là, Thanh Hóa vẫn là một tỉnh có mức thu nhập thấp GDP bình quân đầu
người là 3.720 nghìn đồng (năm 2003) thấp xa so với bình quân chung toàn quốc: 7.485
nghìn đồng. Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa. Sự
cách biệt giữa các vùng, miền, giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn, sự phân hóa
giàu nghèo càng tăng. Luồng dân di cư tự do từ nông thôn lên thành phố và các khu
công nghiệp tập trung để tìm kiếm công ăn việc làm, tạo thu nhập càng gia tăng, tiếp tục
gây sức ép nhiều mặt về kinh tế - xã hội, việc làm.

Văn hóa, giáo dục, y tế, phát thanh, truyền hình mặc dù những năm qua được tỉnh
Đảng bộ, chính quyền các cấp nỗ lực chăm lo phát triển nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu
cầu nâng cao dân trí và đời sống tinh thần của nhân dân.

Nhìn chung, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Thanh Hóa đã có những
nỗ lực cố gắng và đạt được những thành tựu bước đầu đáng trân trọng. Song bên cạnh đó
còn có những yếu kém, bất cập cần được khắc phục. Để khắc phục hạn chế thì phải tìm
hiểu nguyên nhân dẫn đến hạn chế, yếu kém, có như vậy mới khắc phục được tận gốc
của những hạn chế bất cập, yếu kém.

2.2.3. Nguyên nhân c ủa những hạn chế

Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém có nhiều trong đó có những nguyên
nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, Thanh Hóa vẫn là một trong những tỉnh nghèo nền kinh tế lạc hậu,
trình độ sản xuất thấp, cơ sở hạ tầng yếu. Vì vậy, trình độ công nghệ lạc hậu, công
nghiệp chưa phát triển, nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong các ngành kinh tế. Là một
tỉnh nông nghiệp nhưng cơ cấu chưa thay đổi rõ rệt giữa trồng trọt, chăn nuôi và chế
biến. Tỷ lệ hộ nông dân tự cung, tự cấp cao, còn đậm nét quan hệ "nông dân - cổ
truyền", ngành nghề tiểu thủ công nghiệp bị suy giảm. Phát triển kinh tế còn chưa đều,
cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch chậm, làm cản trở sự phát triển kinh tế -
xã hội nói chung và nguồn nhân lực nói riêng của Thanh Hóa trong những năm vừa qua.
Nguyên nhân này là nguyên nhân đầu tiên dẫn đến tình trạng nguồn nhân lực có trình độ
chuyên môn ít về số lượng, kém về chất lượng ở Thanh Hóa.

Thứ hai, di sản của cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp vẫn còn tồn tại. Do
đó, nguồn nhân lực của Thanh Hóa nói chung, đội ngũ cán bộ quản lý nói riêng còn
thiếu tính năng động theo cơ chế thị trường. Hơn nữa, tình trạng bảo thủ, trì trệ vẫn còn.
Điều này cho thấy sự chuyển biến kinh tế - xã hội

của Thanh Hoá chậm so với yêu cầu. Mặt khác các điều kiện cần thiết để Thanh Hóa
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế cũng nh ư trong nước chưa được chuẩn bị khẩn
trương, còn lúng túng trong việc hình thành và triển khai chiến lược mang tính đột phá,
đón đầu. Ngoài ra, các chương trình phát triển kinh

tế - xã hội trên địa bàn tỉnh chưa có sự lồng ghép chặt chẽ nên hiệu quả phát huy thấp.
Nhất là ở các chương trình về văn hóa giáo dục và đào tạo, dân số có liên quan đến phát
triển nguồn nhân lực.

Thứ ba, công tác quản lý nhà nước về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa chưa được quan tâm đúng mức và kém hiệu lực, đặc biệt là
trong công tác xây dựng chính sách, cơ chế, qui hoạch phát triển dự báo nhu cầu lao
động và đào tạo, điều tra và quản lý đánh giá chất lượng đào tạo. Do yếu kém trong
công tác giáo dục - đào tạo nên việc giáo dục - đào tạo để tự phát triển theo nhu cầu của
người dân mà đa số trong nhân dân còn mang nặng tâm lý khoa cử, coi nhẹ tính thực
nghiệm. Do đó đại đa số thanh niên trong tỉnh đầu đơn để thi đại học, thậm chí có nhiều
thanh niên thi đến 3 lần. Việc này cũng dẫn đến cơ cấu đào tạo không hợp lý. Mặt khác
công tác đào tạo dạy nghề trong tỉnh cũng chưa được chú ý đúng mức nên đã gây nên
tình trạng mất cân đối về cơ cấu, trình độ đào tạo của đội ngũ lao động có chuyên môn
kỹ thuật.

Sự thiếu hụt đội ngũ giáo viên cả về số lượng và chất lượng đã làm ảnh hưởng
đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc CNH. Hiện nay, tỷ lệ giáo viên
đạt trình độ tiến sĩ là 3,54%, giáo viên đạt trình độ thạc sĩ là 19,11%. Riêng giảng viên
trường đại học Hồng Đức có trình độ thạc sĩ chiếm 18,08% so với tổng giáo viên của
tỉnh; bằng 28,41% so với tổng giáo viên của trường. Do đó tình trạng "cơm chấm cơm"
không phải là ít. Mặt khác, thời gian giáo viên đứng lớp trong trường và ngoài trường
quá nhiều, không có thời gian dành cho nghiên cứu khoa học, học tập, bồi dưỡng để
nâng cao trình độ. Phương pháp giảng dạy chưa đáp ứng được yêu cầu chuẩn bị nhân
lực cho CNH. Đội ngũ giáo viên do bị hạn chế nhiều mặt, nên chất lượng giáo dục - đào
tạo cũng bị hạn chế.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị trong ngành giáo dục và đào tạo cũng là một
nguyên nhân làm cho nguồn nhân lực được đào tạo có trình độ thấp. Hàng năm ngân
sách chi cho giáo dục đều tăng: từ 24,51% ngân sách năm 2000, lên 26,63% năm 2002;
và lên 28,36% năm 2004. Tuy nhiên, phần chi thường xuyên trong ngân sách giáo dục -
đào tạo về cơ bản chỉ là chi trả lương, các chế độ có tính chất lương của đội ngũ giáo
viên và học bổng cho học sinh, phần còn lại (khoảng từ 10% đến 20%) rất eo hẹp chi
cho đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. việc đầu tư cho giáo dục thấp như vậy
nên không đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo. Tóm lại, những
yếu kém trên của giáo dục - đào tạo là nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất cân đối về
cơ cấu lao động đã qua đào tạo và thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ lao động có trình độ
CMKT, tay nghề. Vấn đề cấp bách hiện nay là tỉnh Thanh Hóa phải có một chiến lược
phát triển giáo dục - đào tạo để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho CNH, HĐH ở
tỉnh Thanh Hóa.

Thứ tư, chính sách sử dụng người lao động, đặc biệt là lao động có chuyên môn
kỹ thuật cao, và nhân tài còn nhiều hạn chế.

Chính sách tiền lương, tiền công, chính sách bảo hiểm xã hội và các chế độ
chính sách khác liên quan đến việc sử dụng lao động đều chưa tạo động lực cho người
lao động tự phấn đấu và phát triển trình độ chuyên môn và tay nghề của mình trong quá
trình công tác. Hiện nay, nhiều trường hợp lao động giản đơn, hoặc lao động chân tay
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại có thu nhập cao hơn lao động phức
tạp và lao động sáng tạo có tri thức trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy,
động lực làm việc nhiệt tình của lao động trong doanh nghiệp nhà nước không còn,
nhiều người phải đi làm thêm ngoài chuyên môn, thậm chí bỏ nghề để đi làm những
dịch vụ giản đơn, những kiến thức ít được sử dụng mai một là điều khó tránh khỏi, "hao
mòn" hữu hình và "hao mòn" vô hình của lao động có trí tuệ đang làm chúng ta mất đi
nguồn sức mạnh quý giá phục vụ công cuộc CNH, HĐH đất nước. Đặc biệt đại bộ phận
lao động trí óc ở tỉnh ta hiện đang làm việc trong những điều kiện rất thiếu thốn về cơ
sở vật chất và trang thiết bị. Chỗ làm việc chật chội, thiết bị lạc hậu, dụng cụ thí nghiệm
thiếu, không đủ thông tin và tài liệu nghiên cứu. Điều kiện làm việc như vậy đã không
tạo được môi trường thuận lợi cho sự phát huy tiềm năng trí tuệ của mỗi cá nhân cũng
như tập thể, dẫn đến tình trạng "lãng phí ngầm" chất xám rất lớn trong tỉnh. Bên cạnh
đó, tỉnh chưa có chính sách, quy định thực sự rõ ràng về việc trọng dụng và đãi ngộ
những người có trình độ học vấn cao.

Một vấn đề cần phải nói đến nữa là tình trạng sử dụng lao động nhất là lao động
có trình độ CMKT cao không đúng với ngành nghề được đào tạo. Hiện nay có khoảng
70% cán bộ có trình độ CMKT là được sử dụng đúng với trình độ được đào tạo. Còn lại
là làm không đúng ngành, đúng nghề. Nhiều cơ sở hoặc doanh nghiệp đã sử dụng cả
những sinh viên tốt nghiệp đại học vào làm công việc công nhân kỹ thuật. Cách sử dụng
như vậy vừa lãng phí công sức đào tạo, vừa không phát huy được hiệu quả của số lao
động có CMKT trong những công việc đó. Do tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thanh
Hóa còn chậm, các khu công nghiệp và doanh nghiệp có quy mô nhỏ, nhu cầu chưa cao
về sử dụng lao động qua đào tạo có trình độ CMKT nên ít tuyển lao động có trình độ
CMKT vào làm, vì vậy, dẫn đến tình trạng người được đào tạo nhưng không tìm được
địa chỉ sử dụng. Mặt khác, một số nhân lực chưa qua đào tạo lại được sử dụng do nhu
cầu người sử dụng lao động lớn mà thị trường lao động tay nghề phù hợp chưa kịp đáp
ứng. Sự bất cập này còn bắt nguồn từ những cá nhân đã bị tha hóa bởi mặt trái của cơ
chế thị trường, họ lợi dụng chức quyền chạy theo chủ nghĩa thực dụng, vị kỷ, tham ô,
hối lộ, để nhận những người chưa qua đào tạo vào lao động trong các ngành nghề. Hoặc
là sắp xếp vào những ngành nghề không đúng với đào tạo, cốt là để kiếm chỗ "ấm thân".
Sự thực nhức nhối này đã tác động đến thanh niên và sinh viên làm thui chột ý chí học
tập vươn lên, làm tăng chán nản trong học tập, nên họ chẳng hứng thú với việc học để
nâng cao chất lượng học tập. Việc sử dụng lao động còn nhiều điểm chưa hợp lý này
dẫn đến hiện tượng tuy nguồn nhân lực được đào tạo rất ít, nhưng ở lãnh vực này thì
thừa, lĩnh vực khác thì thiếu.

Như vậy, những chính sách sử dụng lao động của Thanh Hóa hiện nay chính là
một trong những nguyên nhân hạn chế sự sáng tạo, sự phát triển của lao động có CMKT
(đặc biệt là của đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ). Với cơ chế, chính sách này lực
lượng có CMKT sẽ không có động lực để tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ để đáp ứng
yêu cầu công việc.

Tóm lại, qua việc phân tích thực trạng nguồn lực con người và việc nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Thanh Hóa cho thấy, Thanh Hóa có lực l ượng lao
động dồi dào, người lao động có nhiều truyền thống quý báu như rất cần cù, thông
minh, yêu nước, hiếu học đang ngày đêm góp sức vào công cuộc CNH, HĐH của đất
nước cũng như của tỉnh nhà. Trong khi đó, giáo dục - đào tạo với tư cách là nhân tố trực
tiếp tác động đến chất lượng đội ngũ lao động đã có nhiều thành tích đào tạo ra lực
lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Song so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện nay của Thanh Hóa thì nguồn nhân
lực Thanh Hóa chưa đáp ứng được, kể cả về số lượng cũng như trình độ chuyên môn.
Mặt khác, việc đào tạo và sử dụng lao động còn bất hợp lý và mất cân đối lớn giữa các
ngành nghề, giữa các khu vực.

Với thực trạng này, đòi hỏi tỉnh Thanh Hóa cần phải có những định hướng và
những giải pháp vừa có ý nghĩa cấp bách vừa mang tầm chiến lược trong việc phát triển
nguồn nhân lực ở Thanh Hóa.
Chương 3

Phương hướng và những giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa



3.1. Phương hướng

3.1.1. Quy hoạch việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ nhằm nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực ở tỉnh Thanh Hóa

Công cuộc CNH, HĐH ở Thanh Hóa thành công hay không phụ thuộc vào đội
ngũ cán bộ. Vì vậy, báo cáo chính trị của ban chấp hành Tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa lần
thứ XV đã chỉ rõ: Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ; thường xuyên rà soát, bổ sung,
hoàn thiện quy hoạch cán bộ, đi đôi với xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ cả về trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị.

Xuất phát từ quan điểm trên, tỉnh Thanh Hóa đang tích cực xây dựng chiến lược
phát triển đồng bộ về đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại
hóa.

Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ năm 2001 đến 2010, tỉnh đã đề ra
mục tiêu xây dựng phát triển đội ngũ cán bộ là: Phấn đấu xây dựng đa số cán bộ có trình
độ đại học; trình độ cử nhân chính trị; có năng lực tham gia cụ thể hóa nghị quyết, chủ
trương của cấp trên vào điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị; có khả năng tập hợp
được cán bộ và quần chúng nhân dân thực hiện nhiệm vụ; có phong cách làm việc năng
động; mạnh dạn đấu tranh xây dựng nội bộ, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo
vệ cái đúng; có quan điểm quần chúng, dân chủ; dám quyết đoán và chịu trách nhiệm.
Ngoài ra, cán bộ còn phải có trình độ ngoại ngữ và tin học để đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ. Để đạt được mục tiêu đã đề ra, việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ cần phải đi trước
một bước. Do vậy:

Thứ nhất, tỉnh phải có kế hoạch cụ thể đánh giá và quy hoạch cán bộ từng cấp,
từng ngành và toàn tỉnh, phải xây dựng kế hoạch đào tạo và đào tạo lại cán bộ một cách căn
bản và đồng bộ cho nhiều năm và cho từng năm cụ thể. Cán bộ ngành nào có tỷ lệ trình độ
chuyên môn học vấn còn thấp thì có kế hoạch để đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của thực
tế phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Việc quy hoạch đào tạo và đào tạo lại cán bộ luôn phải căn cứ vào thực trạng
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, vào trình độ dân trí của người lao động tại địa
phương. Địa phương nào trình độ dân trí còn thấp thì tạo điều kiện cho địa phương đó
đẩy mạnh nâng cao dân trí; cần tránh tình trạng nâng cao mặt bằng dân trí chung, đồng
thời tránh chủ quan, tùy tiện trong việc nâng cao dân trí, tỉnh phải xem xét cụ thể tình
hình phát triển kinh tế của từng địa phương để có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại cán bộ
cho phù hợp. Nếu không sẽ dẫn đến hậu quả chỗ thừa vẫn thừa, chỗ thiếu vẫn thiếu.
Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng phải tính toán đến địa chỉ sử dụng, lấy tiêu chuẩn
cán bộ làm căn cứ để xây dựng nội dung, chương trình đào tạo. Đối với cán bộ đương chức
chủ yếu là bồi dưỡng và đào tạo lại để nâng cao và trang bị cập nhật kiến thức mới. Đối với
cán bộ dự bị các chức danh ở các cấp phải đào tạo đủ trình độ theo tiêu chuẩn, trước khi bố
trí vào cương vị theo quy hoạch. Làm tốt được điều này sẽ tránh được tình trạng cán bộ thiếu
năng lực, thiếu trình độ chuyên môn, thiếu quyết đoán trong công việc và yếu kém trong tổ
chức triển khai thực hiện đường lối phát triển kinh tế - xã hội của trung ương cũng như
của tỉnh.

Thứ ba, mở rộng các hình thức đào tạo và đào tạo lại cả tập trung, tại chức,
tranh thủ các trường trung ương mở tại địa phương nhưng phải theo kế hoạch, đảm bảo
chất lượng, không chạy theo bằng cấp. Cần đặc biệt quan tâm chỉ đạo mở rộng các hình
thức học ngoại ngữ, tin học, xác định rõ đối tượng bắt buộc, đối tượng khuyến khích
nhất là trong những ngành có quan hệ giao dịch với nước ngoài. Chú ý đào tạo cán bộ
phiên dịch giỏi, đảm bảo đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong những năm tới. Củng cố kiện
toàn hệ thống đào tạo, bồi dưỡng của tỉnh, trước mắt kiện toàn ngay các trường học
chuyên nghiệp các trung tâm dạy nghề và các trung tâm ngoại ngữ. Đặc biệt cần đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ xã, phường, thị trấn để nâng cao trình độ văn hóa, tạo nguồn cán
bộ có chất lượng cho cơ sở. Các ngành, các cấp và toàn Đảng bộ Thanh Hóa phải coi
công tác giáo dục - đào tạo và đào tạo lại cán bộ là đào tạo nhân lực cho xã hội, là đầu
tư cho sản xuất, đầu tư CNH, HĐH của tỉnh.

Thứ tư, cần chú trọng đào tạo cán bộ trên đại học, cán bộ kỹ thuật và công nhân
lành nghề.

Hiện Thanh Hóa đang thiếu cán bộ trên đại học, tiến sĩ, giáo sư. Vì vậy, tỉnh
phải có kế hoạch đào tạo trong và ngoài tỉnh để trong 5 đến 10 năm tới Thanh Hóa có
được đội ngũ cán bộ chuyên gia đầu ngành ở các lĩnh vực trọng yếu của tỉnh. Đồng thời
tập trung ưu tiên và quy hoạch đào tạo công nhân lành nghề bậc cao, đào tạo cán bộ kỹ
thuật. Cần có các loại hình, hệ đào tạo thích hợp như: Thông qua các trường lớp chính
quy, không chính quy, công lập, ngoài công lập, dài hạn và ngắn hạn ở thành thị và đặc
biệt là ở nông thôn. Gắn kết quá trình đào tạo ở nhà trường với đào tạo tại các doanh
nghiệp bằng cách mở các cơ sở dạy nghề tại doanh nghiệp nhằm gắn các hoạt động đào
tạo với sản xuất - kinh doanh. Tập trung xây dựng cơ cấu hệ thống đào tạo nghề theo
hướng đào tạo lao động kỹ thuật thực hành với ba cấp trình độ đào tạo: bán lành nghề,
lành nghề, trình độ cao. Lập dự án đầu tư xây dựng mới trường công nhân kỹ thuật
Ngọc Cầu để đào tạo lực lượng lao động kỹ thuật phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội của 8 huyện miền núi vùng cao phía Tây Thanh Hóa và mở trường công nhân kỹ
thuật Nghi Sơn phục vụ cho khu công nghiệp Nam Thanh - Bắc Nghệ. Đồng thời, từng
bước thành lập trung tâm dạy nghề cấp huyện để đến năm 2010 mỗi huyện có ít nhất
một trung tâm dạy nghề.

3.1.2. Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người hiện có

Thanh Hóa có nguồn lực dồi dào, nhưng trên nhiều mặt nguồn lực con người ở
Thanh Hóa chưa đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH. Mặt
khác, nguồn lực quan trọng này vẫn chưa được khai thác và phát huy triệt để, do tình
trạng sử dụng không hiệu quả, lãng phí tiềm năng, nguồn lực con người hiện có ở nhiều
hình thức và mức độ khác nhau.

Để nhanh chóng phát huy hiệu quả nguồn lực con người với tư cách là nguồn
lực cơ bản trong CNH, HĐH thì vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay là phải sử dụng hết
nguồn lực con người hiện có, bằng cách:

* Phải thay đổi nhận thức, thực sự coi con người là nguồn vốn quý nhất trong
tất cả các nguồn lực để CNH, HĐH ở tỉnh Thanh Hóa

Thông thường, những nguồn lực làm cơ sở cho sự phát triển kinh tế - xã hội là
nguồn lực tự nhiên như: tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý; là nguồn cơ sở vật chất - kỹ
thuật đã được tạo ra trong các giai đoạn trước đó, là những nguồn lực nước ngoài như
vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường... Nhưng xét cho cùng, nguồn lực lâu
bền nhất và quan trọng nhất trong sự phát triển vẫn là nguồn lực con người. Bởi có đủ
các nguồn lực khác mà không có những con người tương xứng, đủ khả năng khai thác
các nguồn lực đó và nếu không có một môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý và
dư luận xã hội thuận lợi cho con người hành động thì không thể đạt được sự phát triển
mong muốn. Bởi vậy, chúng ta phải thực sự coi con người là nguồn vốn quý nhất trong
tất cả các nguồn lực sự phát triển kinh tế - xã hội.

Đã có một thời trong thực tế (10 năm cơ chế kinh tế tập trung, bao cấp), chúng ta
coi con người chỉ là một chiếc đinh ốc nhỏ của một cỗ máy lớn, con người đó bị hòa tan
vào trong khối người. Hoặc con người thời kỳ đó được nhào nặn theo một khuôn mẫu
chung nhằm tạo ra một lớp những "con người lý tưởng" biết thắt lưng buộc bụng, phấn
đấu vì một "ngày mai tươi đẹp". ảo tưởng về việc tạo ra những con tốt chỉ biết hy sinh
được đem thực hiện trong cuộc sống đã bị đổ vỡ. ảo tưởng và sai lầm đó tất yếu dẫn đến
chủ nghĩa bình quân, cào bằng làm triệt tiêu động lực, làm cho mọi người chấp nhận sự
nghèo khổ, thiếu thốn được chia đều, do đó làm cho không ít tài năng bẩm sinh bị thui
chột.

Rút kinh nghiệm của thời "bình quân", chúng ta cần phải đặt con người vào vị trí
trung tâm của các quá trình xã hội, coi con người là yếu tố cấu thành hữu cơ quan trọng
nhất của lực lượng sản xuất mà khi tác động qua lại với các yếu tố khác có tác dụng quyết
định làm nên những biến đổi kinh tế - xã hội lớn lao.

Con người làm ra những sản phẩm cho xã hội, làm ra những máy móc hiện đại.
Nhưng con người chỉ có thể phát huy vai trò của mình trong sự tương tác của các yếu tố
vật chất như vốn, khoa học - công nghệ… Trong sự tương tác đó, con người luôn có vai
trò nổi trội hơn so với các yếu tố vật chất. Vì vậy, cần có sự đổi mới một cách căn bản ở
cấp độ toàn xã hội nhận thức về vai trò của nhân tố con người trong phát triển. Cần phải
thấy rằng, tài nguyên lớn nhất của một quốc gia, dân tộc không phải là vốn liếng hay
máy móc, mà chính là con người cùng tiềm năng trí tuệ đang ẩn giấu trong đầu của mỗi
con người. Nhận thức được điều đó, Đảng ta luôn xác định ưu thế lớn nhất ở Việt Nam
là nguồn lực con người và mấu chốt để đi lên là khai thác và phát huy triệt để nguồn
tiềm năng sẵn có này. Trong các chủ trương, chính sách của tỉnh Thanh Hóa phải quán
triệt điều này, có như vậy việc khai thác và sử dụng tiềm năng nguồn lực con người mới
trở thành công việc của từng địa phương, từng ngành, từng doanh nghiệp. Trong đó Nhà
nước đóng vai trò là người khởi xướng vạch kế hoạch và tổ chức thực hiện.

Trong những năm vừa qua, Tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa đã quán triệt và thực hiện
đường lối đổi mới của Đảng và đã thu được những thành tựu nhất định. Đường lối đổi
mới của Đảng đã mang nhiều ý nghĩa tích cực, nhất là trong việc phát huy nguồn lực
con người.

Tuy nhiên, do tồn tại trong một thời gian dài với cơ chế tập trung, bao cấp, việc
phát huy nguồn lực con người vẫn chưa kịp thời; hiện nay, việc sử dụng nguồn lực con
người còn bất hợp lý, chưa phát huy tốt nguồn lực con người. Tình trạng tiền lương còn
quá thấp, không đủ tái sản xuất ra sức lao động của con người và có nhiều hiện tượng
tiêu cực trong đời sống xã hội. Tình trạng không có chính sách thỏa đáng đối với đội
ngũ cán bộ khoa học nghiên cứu, tình trạng không có chính sách để sử dụng nhân tài đã
làm cho nhân tài mai một, "chất xám" chảy ra ngoài tỉnh…

Tiềm năng của con người Thanh Hóa rất lớn, nó phát triển tỷ lệ thuận với việc
khai thác và sử dụng nguồn lực con người. Để nguồn lực con người phục vụ đắc lực cho
sự phát triển kinh tế - xã hội và trở thành động lực thì một mặt tỉnh phải có cách kích
thích nó, trước hết thông qua khâu cơ bản là nhu cầu và lợi ích; mặt khác, phải tạo được
một môi trường thuận lợi nhất cho các cá nhân và cho cả cộng đồng cống hiến được ở
mức cao nhất. Muốn vậy, đòi hỏi tỉnh phải có những thay đổi mạnh bạo, kiên quyết và
nhanh chóng trong trong cách nghĩ, cách làm, trong tổ chức và trong các chính sách cụ
thể đối với con người, chú trọng đến các chính sách như giải quyết việc làm, chính sách
và chế độ tiền lương, chính sách thuế... Mọi biện pháp và chính sách mới đều phải đảm
bảo giải phóng tất cả những năng lực sản xuất, chăm lo đến lợi ích và cuộc sống của các
tầng lớp nhân dân, nuôi dưỡng sức dân. Làm được như vậy sẽ biến tiềm năng thành sức
mạnh nội lực để đưa Thanh Hóa đi lên.

* Giải quyết tốt giữa chất lượng việc làm với việc sử dụng nguồn nhân lực

Tính đến năm 2004, Thanh Hóa có hơn 3,6 triệu dân với hơn 1,8 triệu lao động.
Đó là nguồn nhân lực quan trọng nhất để Thanh Hóa đẩy mạnh tốc độ CNH, HĐH. Vì
vậy, tạo ra việc làm cho tất cả mọi người lao động, bảo đảm sử dụng hết số lao động
hiện có là một nhiệm vụ cấp bách. Song phải giải quyết tốt việc kết hợp sử dụng nguồn
nhân lực với tạo ra và nâng cao chất lượng việc làm thì mới đem lại hiệu quả lao động
cao, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và đáp ứng được những đòi hỏi của
công cuộc CNH, HĐH.

Sử dụng nguồn lực con người cho CNH, HĐH không hoàn toàn đồng nhất với
chính sách giải quyết việc làm. Yêu cầu đặt ra trong quá trình sử dụng nguồn nhân lực
con người cho CNH, HĐH không chỉ đơn thuần là tạo ra nhiều việc làm, giải quyết việc
làm đầy đủ cho người lao động, mà quan trọng hơn là phải tạo ra nhiều việc làm với
năng suất cao, phát huy triệt để các tiềm năng và sức mạnh của nhân tố con người.
Trong đó, khai thác và sử dụng tiềm năng trí tuệ, phát huy năng lực sáng tạo là yêu cầu
quan trọng nhất.

Trong điều kiện nguồn lực con người dồi dào nhưng chất lượng còn hạn chế,
quá trình sử dụng nguồn lực con người cho CNH, HĐH ở Thanh Hóa sẽ gặp phải mâu
thuẫn giữa hai xu hướng: Thứ nhất, để đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH Thanh Hóa cần phải
sử dụng nguồn lực con người có chất lượng cao, cần phải tạo ra việc làm với năng suất cao,
điều chỉnh cơ cấu lao động cho phù hợp với cơ cấu của nền kinh tế, tổ chức lại lao động
trên phạm vi toàn tỉnh. Điều này tất yếu dẫn đến tình trạng dư thừa lao động; thứ hai, nếu
quá chú trọng đến yêu cầu về toàn dụng nguồn lực con người, cố gắng giải quyết việc
làm đầy đủ cho người lao động, mà không tính đến chất lượng và hiệu quả sử dụng thì
sẽ không phát huy được vai trò của nhân tố con người cho mục tiêu CNH, HĐH.

Quán triệt quan điểm của Đảng ta, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của CNH, HĐH. Chúng ta cần khai thác, phát huy tốt nhất những yếu tốt tích cực
của nhân tố con người, đồng thời phải giải quyết việc làm cho người lao động nhất là số
lao động dư thừa của Thanh Hóa đang ngày một tăng lên. Thực tế này là bài toán khó
cho Thanh Hóa có thể giải quyết được đồng thời cả hai mục tiêu: Vừa đảm bảo được
nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao CNH, HĐH, vừa thực hiện mục tiêu
toàn dụng nguồn nhân lực. Bởi vậy, cần có sự lựa chọn, phải biết ưu tiên cho tiêu chí
nào theo hướng có lợi cho sự phát triển chung của tỉnh cũng như của đất nước.

Để thực hiện CNH, HĐH, chúng tôi cho rằng, cần phải quan đến việc nâng cao
chất lượng việc làm, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực. Chúng ta không nên vì sức ép
giải quyết việc làm quá lớn mà chạy theo số l ượng tức là chỉ lo giải quyết việc làm đầy
đủ cho người lao động mà không tính đến chất lượng việc làm, không tính đến mặt chất
lượng trong sử dụng.

Thực tế cho thấy, chỉ có nguồn lao động đông về số lượng, thấp về chất lượng
thì không thể thực hiện thành công CNH, HĐH. Kinh nghiệm các quốc gia đã thực hiện
thành công quá trình công nghiệp hóa đất nước chỉ ra rằng: Một quốc gia có được lực
lượng lao động khỏe mạnh, lành nghề cùng với việc quản lý sáng tạo, linh hoạt lực
lượng lao động đó sẽ là yếu tố quyết định tăng trưởng và phát triển [23-41]. Từ đó có
thể thấy rằng, yêu cầu đặt ra ở Thanh Hóa là trong quá trình sử dụng nguồn lực con
người cho CNH, HĐH một mặt phải nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn lực con
người đáp ứng những yêu cầu và đòi hỏi của quá trình CNH. Mặt khác, phải tổ chức,
quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực con người hiện có.

* Khơi dạy và nuôi dưỡng tính tích cực của người lao động

Hiệu quả sử dụng nguồn lực con người phụ thuộc chủ yếu vào mức độ lành
nghề và thái độ của người lao động đối với công việc, người lao động sau khi được đào
tạo nghề nghiệp, chuyên môn thì phải mất 3 - 5 năm mới phát huy được tác dụng tốt, vì
vậy phải động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cơ hội, nuôi dưỡng và phát huy tích cực
của người lao động, hướng nó vào thực hiện mục tiêu CNH, HĐH.

Để động viên có hiệu quả tính tích cực sáng tạo của người lao động thì vấn đề
quan trọng nhất là tạo điều kiện để người lao động có việc làm, có thu nhập cao và thậm
chí làm giàu bằng nghề nghiệp của mình, đây là những yếu tố có tác động mạnh nhất
đến động cơ, thái độ làm việc của hầu hết người lao động trong cơ chế thị trường hiện
nay. Nó cũng giúp giải quyết tình trạng người lao động có thu nhập thấp phải từ bỏ công
việc chuyên môn để làm công việc không liên quan hoặc ít liên quan đến chuyên môn
nhằm có thu nhập cao hơn, gây ra hiện tượng lãng phí "chất xám" trong tỉnh.

Tất nhiên, việc nâng cao mức thu nhập không thể thực hiện ngay lập tức, bởi
thu nhập của người lao động không thể vượt quá sự đóng góp của họ. Cần phải làm cho
người lao động nhận thức được rằng thu nhập do chính sự đóng góp và lao động của họ
quyết định. Từ đó người lao động sẽ luôn có ý thức không ngừng nâng cao trình độ,
nhằm mong muốn có mức thu nhập ngày càng cao hơn trong tương lai. Mặt khác, tăng
cường động lực lợi ích kinh tế, đặc biệt chú ý đến lợi ích cá nhân người lao động. Ngày
nay lợi ích kinh tế cá nhân người lao động tồn tại trong tất cả các thành phần kinh tế.
Nếu lợi ích kinh tế của người lao động được đảm bảo thì nó sẽ là động lực thúc đẩy
người lao động hăng hái chủ động, sáng tạo trong lao động sản xuất. Vì vậy, tỉnh phải
xây dựng một cơ chế kết hợp hài hòa các lợi ích kinh tế, phải được tiến hành cụ thể đối
với từng thành phần kinh tế theo hướng đảm bảo lợi ích người lao động, qua việc đa
dạng hóa hình thức sở hữu.

Để khơi dậy và nuôi dưỡng tính tích cực của người lao động còn cần phải đẩy
mạnh công tác giáo dục tư tưởng chính trị. Mục đích công tác này nhằm trang bị cho
người lao động những quan điểm lý luận cơ bản, đường lối chính sách của Đảng và kỹ
năng tư duy về chính trị, làm cho người lao động nhận thức sâu sắc về công cuộc đổi
mới ở nước ta, từ đó có thái độ lao động với ý thức trách nhiệm cao và có ý thức phấn
đấu cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Qua giáo dục tư tưởng chính trị mà trình độ
tri thức lý luận khoa học về chính trị, tình cảm, niềm tin chính trị, mặt phẩm chất, đạo
đức, tác phong đặc biệt là ý thức trách nhiệm, sự trung thực, tính năng động sáng tạo,
tinh thần tự hào dân tộc... được nâng lên. Điều đó là động lực to lớn thúc đẩy người lao
động tham gia tích cực, sáng tạo vào thực tiễn.

Bên cạnh yếu tố vật chất, tinh thần, môi trường tâm lý - xã hội nơi làm việc
cũng là một nhân tố quan trọng tạo nên động lực kích thích tích cực của con người lao
động.
Để tạo môi trường tâm lý - xã hội thuận lợi cho việc động viên tính tích cực của
người lao động, điều quan trọng nhất là phải đưa ra được những chính sách kinh tế - xã
hội đúng đắn, vừa phù hợp với điều kiện và khả năng hiện thực xã hội, vừa kịp thời đáp
ứng những nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, của người tạo lao động.

Ngoài những vấn đề nêu trên, hiện nay, trước nguy cơ tụt hậu về kinh tế ngày
càng xa hơn của Việt Nam, trước thực tế nghèo nàn kém phát triển của tỉnh nhà, Đảng
bộ và các cấp chính quyền cần phải khơi dậy khát vọng tăng trưởng, làm giàu trong
nhân dân biến nó thành ý chí, thành nội lực cần thiết để đưa Thanh Hóa đi lên.

* Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đã qua đào tạo

Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng và quyết định sự phát triển. Do đó, Thanh
Hóa cần phải sử dụng có hiệu quả và phát huy nguồn nhân lực của tỉnh, nhất là nguồn
nhân lực đã qua đào tạo. Sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực đã qua đào tạo là vấn đề
mấu chốt của sự phát triển; nếu sử dụng không hiệu quả thì không những gây lãng phí
về tiềm năng nguồn nhân lực mà còn làm cho nền kinh tế của tỉnh trì trệ, năng suất, hiệu
quả lao động không cao.

Nguồn nhân lực đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật ở Thanh Hóa hiện nay còn
ít về số lượng nhưng lại chưa được phát huy có hiệu quả. Theo báo cáo kết quả thực
hiện nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa lần thứ XV (2001-2005) thì số lao
động đã qua đào tạo năm 2004 là: 24%; lao động được giải quyết việc làm là 35,1 nghìn
người. Nhưng việc sử dụng lao động còn nhiều bất cập. Tình trạng sử dụng không đúng
người đúng việc vẫn còn - tức là làm việc không đúng nghề được đào tạo hoặc một số
lao động đã qua đào tạo thì lại không được sử dụng và có những lao động không qua
đào tạo lại được sử dụng. Bởi thị trường lao động đang cần, mà lao động đã qua đào tạo
lại không phù hợp với thị trường lao động đó; mặt khác, cũng có một số kẻ cậy chức
quyền đưa người nhà, con em mình hoặc nhận hối lộ để đưa người vào làm việc không
đúng với ngành nghề được đào tạo hoặc chưa được đào tạo nghề. Để tận dụng hết khả
năng và nâng cao hiệu quả làm việc của người lao động đã qua đào tạo trước hết tỉnh
cần phải phát triển thị trường lao động một cách hoàn chỉnh. Những thông tin chính xác,
đầy đủ của thị trường lao động sẽ giúp người lao động và người sử dụng lao động điều
chỉnh quan hệ cung - cầu một cách phù hợp, gây nên sự lãng phí về sức người, sức của
hoặc sử dụng không đúng người, đúng việc. Đồng thời, cần đẩy mạnh việc chống tham
ô, hối lộ, cửa quyền, nhằm ngăn chặn một số cán bộ lợi dụng chức quyền đưa người nhà
vào làm việc không đúng người, đúng việc.

* Thu hút và sử dụng nguồn lực con người đã qua đào tạo đến các vùng nông
thôn

Đặc trưng của nền kinh tế Thanh Hóa là sản xuất nông nghiệp. Số lao động
trong nông nghiệp (năm 2004) chiếm 72,69% bằng 1.345.440 người, nhưng số lao động có
trình độ, chuyên môn kỹ thuật đang làm việc chỉ chiếm 2,64%.

Số lượng lao động đã qua đào tạo làm việc ở vùng nông thôn ít ỏi như vậy thì
Thanh Hóa khó có thể phát triển một nền nông nghiệp toàn diện và như vậy không thể
nói đến việc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Để phát triển kinh tế ở vùng nông
thôn ở Thanh Hóa cần phải thu hút và sử dụng nguồn nhân lực đã qua đào tạo đến các
vùng nông thôn, nhất là nguồn nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học. Vì vậy từ nay đến
năm 2010 phấn đấu thu hút được 15% lao động đã qua đào tạo vào làm việc ở khu vực
nông thôn. Song việc huy động nguồn nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội ở đây gặp
nhiều khó khăn. Phần lớn người lao động được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ sau khi
tốt nghiệp ra trường đều không muốn đến làm việc ở vùng nông thôn, mà hầu hết muốn
tìm việc làm ở thành phố, thị xã. Kể cả những người lớn lên và ra đi học tập từ quê
hương nhưng cũng không muốn về quê công tác. Vì vậy, ở nông thôn hiện nay cán bộ
có trình độ cao đẳng, đại học, đang thiếu trầm trọng, tuy rằng Nhà nước cũng như Tỉnh
ủy Thanh Hóa đã có chính sách ưu đãi về vật chất và tinh thần để khuyến khích họ trở
về phục vụ tại địa phương như có chính sách hỗ trợ thêm ngoài lương, được giảm hoặc
miễn mức lương tập sự, tỉnh cũng đã tạo điều kiện hỗ trợ cho họ được học tập bồi
dưỡng để nâng cao trình độ, nhưng vẫn chưa khắc phục được tình trạng trên.

Bởi vì, khi làm việc ở vùng nông thôn họ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn, điều kiện
làm việc thiếu thốn hơn, điều kiện học tập để nâng cao trình độ cũng khó khăn hơn, cơ
sở hạ tầng ở nông thôn thấp kém, đi lại sinh hoạt khó khăn, không tiện lợi như thành
phố, thị xã. Vì vậy, người lao động đã qua đào tạo phần lớn không muốn về công tác tại
các vùng nông thôn, cho dù tỉnh đã có những chính sách hỗ trợ, khuyến khích người lao
động.

Để thu hút và sử dụng nguồn nhân lực đã qua đào tạo đến các vùng nông thôn
thì tỉnh Thanh Hóa phải đẩy mạnh việc thực hiện chính sách đào tạo tại chỗ, đào tạo
theo địa chỉ. Đồng thời, phải phát triển kinh tế hàng hóa, phát triển dịch vụ ở vùng nông
thôn, xây dựng cơ sở hạ tầng ở vùng nông thôn, phải thực hiện công nghiệp hóa nông
thôn. Hoặc tỉnh có thể đề ra chính sách ưu tiên tìm việc làm, ưu tiên trong việc học tập
nâng cao trình độ cho những người đã có một số năm làm việc ở vùng nông thôn, nhất
là người người làm việc ở vùng nông thôn miền núi. Có như vậy tỉnh mới thu hút được
nguồn nhân lực đã qua đào tạo đến vùng nông thôn làm việc.

* Chính sách thu hút và sử dụng nhân tài

Trong giai đoạn hiện nay Thanh Hóa cần phải có sự bứt phá, sự phát triển để
thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Vì vậy, việc thu hút và sử dụng nhân tài phục
vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh có ý nghĩa hết sức to lớn. Hiện nay,
Thanh Hóa chỉ sử dụng nguồn nhân lực như hiện có thì Thanh Hóa khó có thể phát huy
được vai trò của nguồn nhân lực với tư cách là nguồn lực cơ bản để tiến hành CNH,
HĐH. Bởi vì, nguồn nhân lực của Thanh Hóa hiện nay còn nhiều mặt ch ưa đáp ứng
được yêu cầu và đòi hỏi của CNH, HĐH. Thanh Hóa không thể tiến hành CNH, HĐH
khi chỉ dựa vào lao động thủ công, cần cù, chịu khó, mà chúng ta tiến hành CNH, HĐH
là phải dựa vào lao động thông minh, sáng tạo, có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật
cao, thích ứng với công nghệ hiện đại. Vì vậy, tỉnh phải có chính sách đãi ngộ để thu
hút và sử dụng nhân tài.

Năm 1997, ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã ban hành chế độ đãi ngộ đối với
cán bộ giảng viên (chỉ áp dụng cho trường Đại học Hồng Đức). Nếu là tiến sĩ thì được
hưởng thêm 20% lương giảng dạy đại học, Thạc sĩ hưởng 10% lương giảng dạy Đại
học, cán bộ hưởng thêm 500.000đ/tháng (nếu đi học tiến sĩ), cán bộ hưởng thêm
300.000đ/tháng (nếu đi học thạc sĩ). Và để thu hút nhân tài về trường Đại học Hồng
Đức, tỉnh đã có chế độ ưu đãi cho cán bộ là tiến sĩ về trường công tác sẽ được hưởng 40
triệu đồng.

Chế độ ưu đãi trên của tỉnh đã khuyến khích được cán bộ của trường Đại học
Hồng Đức đi học, nâng cao trình độ phục vụ tốt hơn cho công tác giảng dạy, song về
phần đãi ngộ để thu hút nhân tài về trường Đại học Hồng Đức chưa đạt được như mong
muốn. Bởi chưa thấy cán bộ nào là tiến sĩ nào về trường mà chỉ thấy cán bộ học xong
tiến sĩ ra đi tỉnh ngoài (Hà Nội) làm việc và giảng dạy.

Xuất phát từ tình hình trên Tỉnh ủy Thanh Hóa phải có chính sách đãi ngộ thỏa
đáng, lôi cuốn để thu hút nhân tài về tỉnh làm việc. Những lĩnh vực cần thu hút, sử dụng
nhân tài đó là ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp xây dựng, công nghệ sinh học
(góp phần chuyển biến chất lượng giống cây trồng, vật nuôi thủy sản). Thanh Hóa đang
thiếu chuyên gia đầu ngành, nhất là những lĩnh vực trên. Vì vậy, tỉnh phải có kế hoạch
sớm lôi cuốn được những chuyên gia, tiến sĩ, giáo sư về tỉnh làm việc trong ngành kinh
tế mũi nhọn trên. Song để thu hút được nhân tài về tỉnh công tác là một điều rất khó.
Bởi chính sách đãi ngộ chỉ là một phần để lôi cuốn thu hút nhân tài thôi, còn môi trường
làm việc, điều kiện làm việc mới là điều chủ yếu. Thực tế môi trường làm việc ở Thanh
Hóa chưa tốt, điều kiện làm việc còn thiếu thốn. Thanh Hóa chưa có nhiều trung tâm
nghiên cứu khoa học, chưa có nhiều khu công nghiệp, chưa có nhiều nhà máy sản xuất
với quy trình công nghệ cao. Do đó, nhiều nhân tài là người Thanh Hóa không những
không về tỉnh làm việc, mà còn nhiều nhân tài đang làm việc tại tỉnh ra đi tìm việc làm
ở tỉnh khác. Hiện tượng chảy máu chất xám của Thanh Hóa diễn ra từ lâu đến nay vẫn
chưa được khắc phục. Vì vậy, tỉnh, Đảng bộ và các cấp chính quyền Thanh Hóa cần có
chính sách kịp thời để thu hút và sử dụng nhân tài, phục vụ cho CNH, HĐH của tỉnh.

3.1.3. Đào tạo người lao động là một quá trình không ngừng

Đào tạo người lao động là một quá trình không ngừng, đó chính là sự đào tạo và
đào tạo lại, sự bồi dưỡng và nâng cao kiến thức để thích ứng với công việc, đó là một
quá trình không ngừng nâng cao năng lực của con người.
Đào tạo người lao động là một quá trình không ngừng đã được tiến hành ở
nhiều quốc gia, nó chỉ ra xu hướng của việc đào tạo sau này nên tùy theo vào thời điểm,
nhu cầu của mỗi cá nhân, vào nhu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội mà có kế hoạch
đào tạo.

Trong thời kỳ CNH, HĐH khoa học có sự phát triển cao và xã hội có sự cải
biến lớn, con người cần được bồi dưỡng năng lực thích ứng với những biến đổi đó, con
người cần được đào tạo thêm, đào tạo lên, đào tạo lại.

Thực tế cho thấy rằng những kiến thức, kỹ năng được học ở trường lúc còn trẻ
về cơ bản là tạo cơ sở, nền tảng để lao động, để học trong lao động; còn một phần kiến
thức phải do nhu cầu công việc và đời sống mà người lao động tự tạo ra (tự đào tạo).
Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khoa học công nghệ phát triển như vũ bão làm cho
kiến thức được trang bị trong nhà trường mà người lao động đã tiếp thu những năm
trước đó, nhanh chóng bị lạc hậu, người lao động không học bồi dưỡng thêm lên, không
được đào tạo lại để thích ứng thì không thể hoàn thành tốt công việc của mình. Chính vì
vậy, Đảng, Nhà nước và tỉnh Thanh Hóa phải có cơ chế chính sách về giáo dục, đào tạo:
giáo dục đào tạo mở rộng, giáo dục - đào tạo không ngừng như: mở các lớp học bồi
dưỡng để nâng cao trình độ, đào tạo liên thông, đào tạo lại, đào tạo từ xa, đào tạo theo
chứng chỉ... phát triển nhiều hình thức học tập theo quan điểm giáo dục cả đời. Có như
vậy nguồn lao động mới không bị mai một mà luôn nâng cao về mặt chất lượng và số
lượng. Người lao động không bị cột chặt vào một nghề trong suốt cuộc đời, mà họ có
thể học tập bất kỳ lúc nào, ở đâu, họ được đào tạo bất cứ thời điểm nào để có thể thay
đổi nghề nghiệp, để có thể nâng cao tay nghề. Vì vậy học tập và được đào tạo diễn ra
trong suốt quãng đời lao động của họ, đó là một quá trình không ngừng. Để thực hiện
được điều này ở Thanh Hóa không phải là dễ, tỉnh phải có kế hoạch cụ thể, phải chuẩn
bị về trường lớp, cả đội ngũ giáo viên, cả về chương trình đào tạo, lịch trình đào tạo và
phải được sự hỗ trợ, quan tâm của Đảng, Nhà nước, được sự tiếp sức của Bộ Giáo dục -
đào tạo và sự liên kết chặt chẽ với các trường đại học khác.
Trong những năm tới Thanh Hóa có hướng chú ý đẩy mạnh mảng đào tạo và
đào tạo lại, đào tạo lên, tức hình thức đào tạo liên thôn, và mở những đợt học tích lũy
chứng chỉ cho một số ngành như tin học, ngoại ngữ, nuôi trồng thủy sản, chế biến nông
sản... tạo điều kiện cho người lao động Thanh Hóa có thể học tập vào những thời điểm
thích hợp với họ, trong bất cứ lúc nào của cuộc đời họ.

3.1.4. Nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước trong công tác đào tạo người
lao động

Trong những năm đổi mới vừa qua, sự quản lý của Nhà nước trong công tác đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực đã đem lại chuyển biến tích cực về quy mô, chất lượng và
hiệu quả, góp phần không nhỏ việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển nhân
tài.

Song bên cạnh đó còn có những yếu kém thể hiện ở chỗ do quản lý chưa chặt
chẽ, nên cơ cấu đào tạo mất cân đối; quá trình đào tạo chưa tính toán đến việc sử dụng
hết nguồn lao động đã được đào tạo đó, dẫn đến hiện tượng trôi nổi "chất xám". Để
quản lý tốt công tác đào tạo, kết hợp cả ba lĩnh vực: thị trường việc làm với chế độ sử
dụng và quy hoạch đào tạo đội ngũ nhân lực ở tầm vĩ mô. Song, cho đến nay vai trò
quản lý của Nhà nước trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chưa có sự kết
hợp chặt chẽ giữa ba mặt này. Hơn 10 năm đổi mới vừa qua cho thấy rõ là: vấn đề đào
tạo, phát triển nguồn nhân lực; việc làm và sử dụng nguồn nhân lực cũng phải chịu tác
động của các quy luật thị trường, như cung cầu, thừa thiếu... Vì thiếu sự quản lý của
Nhà nước có tính hệ thống, đồng bộ trên cả 3 mặt này, nên cả 3 mặt đều kém hiệu quả;
đặc biệt phải chịu ảnh hưởng không lợi là mặt đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, vì
hoạt động này nhằm chuẩn bị con người cho tương lai. Chính vì vậy, Nhà nước cần phải
nâng cao vai trò quản lý của mình trong công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.
Nhà nước cần sớm ban hành chính sách về chương trình quốc gia phát triển nguồn nhân
lực, kế hoạch hóa và cân đối nguồn vật chất trong kế hoạch hàng năm và dài hạn. Đặc
biệt là đưa chỉ tiêu số lượng, chất lượng đào tạo nghề và kế hoạch hàng năm. Trước mắt
phải có chính sách kiểm soát thị trường sức lao động. Hoàn thiện hệ thống cơ quan quản
lý Nhà nước về nguồn nhân lực từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố, quận, huyện, thị
xã, phường. Chính sách đó là sự định hướng, quản lý việc đào tạo người lao động sao
cho phù hợp với xu thế phát triển, từ đó vạch ra chiến lược phát triển giáo dục đào tạo,
phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quá trình CNH,
HĐH.

Trong kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa thời kỳ
2001 - 2010, đã đề cập một số nội dung cơ bản của phát triển nguồn nhân lực. Song
chưa đưa ra chiến lược và dự báo về nhu cầu, xu hướng phát triển nguồn nhân lực.
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực có liên quan chặt chẽ đến chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội, chiến lược dân số và phát triển, vì dân số là cơ sở hình thành nguồn
nhân lực. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực còn liên quan chặt chẽ với chiến lược
phát triển giáo dục và đào tạo vì giáo dục - đào tạo thực hiện việc nâng cao dân trí đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài một cách toàn diện cho CNH, HĐH của tỉnh. Chiến
lược phát triển nguồn nhân lực phải được thể hiện rõ số lượng, chất lượng và cơ cấu lao
động, trong một thời kỳ nhất định. Vì vậy, cả nước nói chung và Thanh Hóa nói riêng
cần có một chương trình đánh giá nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, nền kinh tế trong
tỉnh về mặt số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của từng ngành, từng địa phương,
trên cơ sở đó điều chỉnh cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực trong mối quan hệ hữu cơ giữa
thị trường lao động và công tác đào tạo; đào tạo cho thị trường lao động và thị trường
lao động định hướng cho công tác đào tạo. Vì đào tạo là một quá trình, nếu không dự
báo đúng nhu cầu của thị trường lao động có thể xảy ra trường hợp bão hòa của thị
trường sau khi người học tốt nghiệp (mà trước khi học vẫn còn thiếu). Điều này gây ra
nhiều hậu quả: Lãng phí tiền của trong việc đào tạo; người đào tạo bị thất nghiệp hoặc
bán thất nghiệp... từ đó dẫn đến sự mất ổn định xã hội.

Do đó, việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực cần được Nhà nước, tỉnh quản lý
và quản lý tốt thì việc đào tạo nhân lực mới có hiệu quả, chất lượng.

3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, ở Thanh Hóa
Để có nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng
cao của sự nghiệp CNH, HĐH, đất nước chúng ta phải có những biện pháp cụ thể, thiết
thực cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Việc nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực có liên quan đến rất nhiều vấn đề. Do đó, có rất nhiều giải pháp để tiến hành
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. ở đây, trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ tập
trung giải quyết một số giải pháp chủ yếu sau:

3.2.1. Nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác giáo dục - đào tạo

Giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò then chốt trong sự nghiệp "trồng người",
xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho CNH, HĐH. Nghị quyết của đại hội Đảng
lần thứ VIII khẳng định: "Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc
sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Coi trọng cả
3 mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả. Phương hướng
chung của lĩnh vực giáo dục và đào tạo trong 5 năm tới là phát triển nguồn nhân lực,
đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, tạo điều kiện cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên có việc
làm; khắc phục những tiêu cực, yếu kém trong giáo dục và đào tạo"[40 - 107].

Để thực hiện tốt chủ trương của Đảng, phát huy mặt tích cực và khắc phục
những yếu kém trong công tác giáo dục đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH,
HĐH tỉnh Thanh Hóa cần đẩy mạnh hơn nữa công tác giáo dục - đào tạo, cụ thể:

Một là, tiếp tục đổi mới công tác giáo dục - đào tạo.

Từ đổi mới toàn diện kinh tế - xã hội, sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở nước ta
cũng đã được đổi mới. Đổi mới trong nhận thức về vị trí và vai trò của giáo dục đào tạo
đã dẫn đến đổi mới trong hoạt động thực tiễn giáo dục và đào tạo. Sự nghiệp giáo dục -
đào tạo nước ta một bước tiến mới: Đã làm được nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo đội
ngũ lao động có trình độ văn hóa và kỹ năng nghề nghiệp cao phục vụ cho nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, chúng ta cần phải tiếp tục đổi mới công tác giáo dục
- đào tạo.
Đổi mới công tác giáo dục đào tạo là nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng của
giáo dục - đào tạo. Để thực hiện được điều này trước hết cần phải xây dựng đội ngũ giáo
viên - nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Sự nghiệp CHN,
HĐH của đất nước cũng như của tỉnh Thanh Hóa rất cần một đội ngũ giáo viên có đầy đủ
năng lực, phẩm chất ở nhiều ngành, nghề, bậc học khác nhau. Chính họ là người sẽ trực
tiếp đào tạo cho xã hội một đội ngũ những người lao động có chuyên môn giỏi và phẩm
chất tốt.

Thanh Hóa có đội ngũ giáo viên phần lớn là có trình độ chuyên môn vững vàng,
có tâm huyết với nghề nghiệp. Song vẫn còn một số giáo viên, chưa đạt chuẩn ở hầu hết
các ngành học, bậc học. Vì vậy, tỉnh phải có lịch trình triển khai việc chuẩn hóa đội ngũ
giáo viên cả các trường. Đối với giáo viên mầm non, tiểu học nên được đào tạo ở trình
độ cao đẳng. Hiện nay giáo viên mầm non chiếm 70% là trình độ trung cấp và sơ cấp,
giáo viên tiểu học chiếm tới một phần ba là ở trình độ 12+2. Đối với giáo viên bậc phổ
thông trung học phải tốt nghiệp đại học chính quy và phấn đấu 10% phải được đào tạo ở
trình độ cao học. ở đại học phải hầu hết có trình độ cao học, trong đó 30% phải ở trình
độ tiến sĩ. Thực tế ở trường đại học Hồng Đức Thanh Hóa hiện nay trình độ trên đại học
mới đạt 33%.

Một vấn đề cần phải tiếp tục đổi mới trong thực tiễn giáo dục - đào tạo ở Thanh
Hóa nữa là cần phải có sự phối hợp giữa các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp và dạy nghề với các cơ sở sản xuất kinh doanh trong việc hướng dẫn thực hành
nâng cao tay nghề cho người học. Bởi các cơ sở thí nghiệm thực tập trong nhà trường
"nhỏ bé" và "eo hẹp" nhất là các trường dạy nghề. Vì vậy, phần lớn người học chỉ được
đào tạo về lý thuyết và thực hành quanh quẩn trong các cơ sở thí nghiệm của nhà
trường. Kết quả điều tra phỏng vấn một số sinh viên các trường dạy nghề cho thấy sinh
viên phần lớn là được thực hành trong xưởng của trường với phương tiện hầu hết đã cũ
kỹ, thậm chí đã lạc hậu. Vì vậy, cần phải gắn kết giữa việc đào tạo của nhà trường với
các cơ sở sản xuất kinh doanh để có thể rèn luyện mặt thực hành nâng cao tay nghề cho
người học.
Một việc cần phải đổi mới ở Thanh Hóa cũng như Việt Nam là cách nhìn nhận
đánh giá chất giáo dục - đào tạo.

Từ trước đến nay chúng ta đánh giá theo chiều đạt thành tích. Trường nào thi tốt
nghiệp tỉ lệ cao là tốt, là đạt thành tích (nhất là phổ thông trung học), nếu bộ môn nào
điểm tổng kết có tỉ lệ điểm khá giỏi cao là bộ môn đó giảng dạy tốt có chất lượng, giáo
viên cũng đạt thành tích và ngược lại tỉ lệ tốt nghiệp của trường nào thấp là không đạt
thành tích là chất lượng giáo dục - đào tạo chưa cao. Ngược lại bộ môn nào điểm thấp
thì giáo viên giảng dạy chưa tốt. Do đó, trường nào cũng sợ không đạt thành tích, giáo
viên nào cũng sợ sẽ bị đánh giá là dạy không tốt nên nhiều khi đánh giá và xét kết quả
học tập không trung thực. Vì vậy, cần phải đổi mới cách nhìn nhận trong việc đánh giá
chất lượng giáo dục - đào tạo. Khi đánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo cần tìm
nguyên nhân dẫn đến kết quả thấp là do đâu.

Do cơ sở vật chất, điều kiện học tập, điều kiện học tập thiếu thốn hay do người
học không chịu học hoặc là do người dạy chưa tốt, để mà tìm ra giải pháp khắc phục
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo. Làm được điều này không phải do một
vài giáo viên nào thực hiện là được, hoặc do một vài trường thực hiện là có thể thay đổi
được cách nhìn nhận đánh giá đó. Mà điều chủ yếu là tỉnh phải có chủ trương, kế hoạch
xây dựng hệ chuẩn đánh giá kết quả học tập và triển khai thành nghị quyết, được áp
dụng trong thực tiễn giáo dục đào tạo của toàn tỉnh thì mới đem lại kết quả trung thực
trong việc đánh giá chất lượng giáo dục - đào tạo.

Hai là, tăng cường ngân sách cho giáo dục đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất
trang thiết bị phục vụ giáo dục đào tạo.

Để giáo dục - đào tạo trở thành "quốc sách hàng đầu" và xây dựng được nguồn
nhân lực thì trước hết cần phải "tăng cường các nguồn lực cho giáo dục đào tạo" [24-
37].

Sức mạnh của mỗi quốc gia trước hết là sức mạnh kinh tế - xã hội dựa trên cơ
sở nền dân trí phát triển, với nguồn nhân lực khoa học công nghệ ngày càng tăng, năng
động trong đổi mới sản xuất, nâng cao năng xuất lao động, chất lượng dịch vụ, nâng cao
các hoạt động văn hóa tinh thần. Với ý nghĩa đó, thì tốc độ phát triển của mỗi nước đều
phụ thuộc vào quy mô, chất lượng và hiệu quả của giáo dục - đào tạo. Song bản thân
lĩnh vực giáo dục - đào tạo không thể tự phát triển nếu không có sự đầu tư của Nhà
nước, của các ban ngành của các ngành kinh tế và của tổ chức xã hội.

Đầu tư cho giáo dục đào tạo là quá trình bỏ vốn nhằm tạo ra lực lượng lao động
có kiến thức khoa học- công nghệ, có khả năng phát minh sáng chế, áp dụng kỹ thuật
mới nhằm nâng cao năng suất lao động, đưa lại giá trị lớn hơn. Nếu chúng ta không tập
trung thực hiện chiến lược phát triển khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo nhằm xây
dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao có thể làm chủ được tri thức mới của
thời đại thì không thể CNH, HĐH đất nước được.

Hiện nay, cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục đào tạo của Thanh Hóa còn hạn
hẹp, lạc hậu, ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo còn ở mức thấp, chế độ chính
sách còn nhiều bất hợp... do vậy, mặc dù điều kiện kinh tế của tỉnh còn khó khăn, nhưng
cũng phải từng bước tăng cường nguồn ngân sách cho giáo dục và đào tạo, xây dựng cơ
sở vật chất trang thiết bị phục vụ giáo dục đào tạo. Vì đầu tư cho giáo dục - đào tạo cũng
là đầu tư cho phát triển.

Vậy cho nên, UBND tỉnh và các ban ngành phải hết sức chú trọng đầu tư phát
triển giáo dục - đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, phải tăng cường nguồn lực tài chính
để đầu tư cho giáo dục - đào tạo đúng với vai trò "quốc sách hàng đầu". Cho dù Thanh
Hóa đang còn nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, nhưng không thể để tổng kinh tế đầu
tư cho giáo dục - đào tạo dưới 15% trong tổng chi ngân sách. Từ nay đến 2010 tỉnh phải
phấn đấu tăng tỉ lệ ngân sách chi cho giáo dục đào tạo từ 15% đến 20%. Cần phân định
ngân sách trung ương và ngân sách địa phương trong phát triển giáo dục - đào tạo. Hội
đồng nhân dân tỉnh nên quy định trích 40% khoản thu vượt chỉ tiêu kế hoạch để bổ sung
cho giáo dục đào tạo, thực hiện đa dạng hóa các nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục -
đào tạo, huy động sự đóng góp của các tổ chức xã hội, tranh thủ sự viện trợ của các nước
và tổ chức quốc tế, phát triển tín dụng trong tỉnh vì mục đích giáo dục - đào tạo để phát
triển nguồn nhân lực phục vụ CNH, HĐH. Từ sự nhận thức đúng về sự đầu tư cho giáo
dục - đào tạo cần xây dựng ý thức trách nhiệm, ý thức chăm lo, đóng góp vào sự nghiệp
giáo dục đào tạo cho nhân dân trong tỉnh, cần kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa gia đình,
nhà trường và xã hội trong việc phát triển giáo dục và đào tạo. Việc đầu tư cho giáo dục
đào tạo không chỉ là công việc của Nhà nước. Chúng ta cần thông suốt quan điểm "Giáo
dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân". Tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa phải
đẩy mạnh hơn nữa công tác xã hội hóa giáo dục và đào tạo, coi đó là quan điểm chỉ đạo
quan trọng, góp phần phát triển giáo dục và đào tạo. Từ nhận thức đúng về sự đầu tư
cho giáo dục - đào tạo, chúng ta thấy việc tăng ngân sách cho giáo dục - đào tạo là việc
làm cần thiết. Nhưng việc sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn ngân sách, còn là việc làm
cần thiết hơn. Nếu sử dụng ngân sách cho giáo dục đào tạo không hợp lý thì sẽ gây ra
lãng phí nguồn ngân sách. Trong khi kinh phí cho giáo dục đào tạo của tỉnh còn hạn hẹp
thì chỉ nên đầu tư vào khâu chủ yếu, trọng điểm trong giáo dục đào tạo như: Chú trọng
đầu tư, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, đội ngũ giáo viên mạnh mới tạo ra được nguồn
nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp CNH, HĐH. Trong thực tế đội ngũ giáo viên của
Thanh Hóa chưa đủ mạnh. Do đó phải bồi dưỡng, chuyển hóa đội ngũ giáo viên, phấn
đấu đến năm 2010 nâng tỉ lệ giáo viên trung học phổ thông có trình độ đại học lên 15%,
tỷ lệ giáo viên trung học phổ thông có trình độ thạc sĩ lên 10%, tỷ lệ số cán bộ giảng
dạy của trường Đại học Hồng Đức có trình độ sau đại học lên 50% và có trình độ tiến sĩ
là 25%. Cùng với việc đầu tư bồi dưỡng đội ngũ giáo viên là việc đầu tư cho đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ một số ngành trọng điểm, mũi nhọn (công nghiệp chế biến nông, lâm,
thủy sản, ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng…). Đồng thời phân bổ hợp lý
ngân sách cho các cấp học, bậc học, cho các vùng, nhất là vùng sâu, vùng xa. Hiện nay,
trường lớp tranh tre ở vùng sâu, vùng xa đang còn nhiều, từ nay đến năm 2010 cần đầu
tư lớn để xây dựng các trường phổ thông đều có cơ sở kiên cố và bán kiên cố, có phòng
học và trang thiết bị cơ bản; xây dựng, cải tạo các phòng thí nghiệm, thực hành; xây dựng và
nâng cấp thư viện để tất cả các trường trong tỉnh có đủ điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng
đòi hỏi mới về nội dung, phương pháp giảng dạy trong nhà trường…

Thực hiện tốt những tiêu chuẩn trên là nhằm tạo ra mặt bằng trong giáo dục về
việc nâng cao dân trí, đồng thời bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và
nhằm phát triển nhân tài phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, và đó cũng
chính là chúng ta đã sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn ngân sách giáo dục - đào tạo.

Ba là, đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng người lao động thuộc khu vực nông
nghiệp, nông thôn.

Nền kinh tế Thanh Hóa chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp. Để thực hiện
CNH, HĐH trước hết Thanh Hóa thực hiện CNH nông nghiệp và nông thôn. Vì vậy,
phải bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực thuộc khu vực nông nghiệp, nông thôn, và phải
coi đây là nhiệm vụ đầu tiên cấp bách cần ưu tiên giải quyết.

Do nông nghiệp Thanh Hóa mang nặng tính thuần nông, trồng trọt chiếm 70%,
chăn nuôi chiếm 30%, hoạt động phi nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ hầu
như rất ít. Từ trước đến nay người dân cày cấy, gieo trồng, chăn nuôi gần như theo kinh
nghiệm. Những giống mới được đem áp dụng vào trồng trọt, chăn nuôi thì khi nào hợp
tác xã phổ biến và hướng dẫn quy trình thì người lao động sẽ làm theo một cách thụ
động. Phần lớn, lao động trong nông nghiệp không có trình độ chuyên môn, nên không
dám nghĩ, không dám làm, không dám tìm tòi sáng tạo, thậm chí thực hiện những
phương án mà tỉnh, huyện triển khai rất lúng túng. Do vậy, mà hiệu quả lao động chưa
cao. Mấy năm gần đây tỉnh huyện có mở những lớp đào tạo tại Trung tâm chính trị
huyện, tại Trung tâm giáo dục thường xuyên đó là những lớp đại học, cao đẳng, thú y,
nông học, kế toán song số người tham gia theo học chủ yếu là cán bộ quản lý, xã
phường, thị trấn. Mục đích học của họ cũng chỉ là lấy bằng cấp để làm nhiệm vụ quản
lý, còn xã viên đi học thì chiếm 1 tỷ lệ "khiêm tốn" là 0,5% và chủ yếu là học sinh phổ
thông thi chưa đậu đại học, nên theo học tại huyện nhằm cơ may tìm việc làm. Tình
hình này cho thấy, thực trạng đào tạo người lao động ở khu vực nông nghiệp đang tồn
tại một nghịch lý là: Trong khi lao động nông nghiệp qua đào tạo ít, trình độ chuyên
môn thấp thì các cơ sở đào tạo ngành nông nghiệp lại gặp khó khăn về tuyển sinh. Có
một số năm trường Đại học Hồng Đức tuyển sinh các ngành Nông nghiệp không đủ chỉ
tiêu. Tuyển sinh 2 năm được một lớp cao đẳng nông học.
Nguyên nhân của việc tuyển sinh - đào tạo lao động ngành nông nghiệp gặp khó
khăn là do sản xuất nông nghiệp ở Thanh Hóa thấp, trình độ lao động lạc hậu, lao động
vất vả mà thu nhập thấp, ít cơ hội tìm việc làm, nên không thu hút được nhiều người
theo học, nhất là thanh niên. Vì vậy, tỉnh phải có biện pháp, chính sách cụ thể để đẩy
mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng người lao động thuộc khu vực nông nghiệp nông thôn. Để
làm được điều đó trước hết tỉnh phải có kế hoạch gắn chặt việc đào tạo người lao động
khu vực này với việc ứng dụng triệt để thành tựu của khoa học - công nghệ, nhất là công
nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp. Đồng thời đầu tư thích đáng cho nông nghiệp,
mở mang ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn, đầu tư sản xuất chế biến trong nông nghiệp,
phát triển các hoạt động phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn. Tỉnh mở lớp đào tạo,
bồi dưỡng cho người nông dân những kiến thức cơ bản trong lĩnh vực phi nông nghiệp,
xây dựng phương án, lập kế hoạch triển khai sản xuất kinh doanh, tìm thị trường đầu ra
cho những sản phẩm nông nghiệp và phi nông nghiệp. Như vậy, việc phát triển các hoạt
động trên ở địa bàn nông thôn có ý nghĩa rất lớn trong giải quyết việc làm cho nông
dân. Người ta nói còn là hoạt động thu hút người nông dân tìm tòi, học hỏi, mở mang
nâng cao kiến thức liên quan đến các lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch
vụ. Đó chính là quá trình người nông dân phát triển trình độ của mình trong lao động.
Từ đó, mặt bằng chung về trình độ của nguồn nhân lực sẽ ngày càng được nâng lên.
Đồng thời với biện pháp phát triển, ngành nghề trong nông nghiệp, tỉnh cần mở mang
phát triển các loại hình đào tạo lao động trong nông nghiệp nông thôn thì mới có thể thu
hút đông đảo lao động nông nghiệp theo học để bồi dưỡng thêm cho mình những kiến
thức cần thiết trong nông nghiệp. Chúng ta có thể mở những lớp đại học, cao đẳng về
nông, lâm, ngư nghiệp tại địa bàn hoặc có thể mở những lớp trung cấp, sơ cấp, những
lớp học cấp chứng chỉ một lĩnh vực, một chuyên ngành nào đó thuộc lĩnh vực nông
nghiệp mà người lao động nông nghiệp cần, hoặc quan tâm. Ví dụ: Tỉnh mở lớp học cấp
chứng chỉ cho người lao động nông nghiệp về: Cách phòng chống dịch bệnh cho trâu,
bò, hoặc phòng chống dịch bệnh cho tôm… Nếu các loại hình đào tạo phong phú và
thiết thực như vậy, chắc chắn nhiều lao động nông nghiệp sẽ theo học và học thực sự
phục vụ cho công việc nông nghiệp của mình chứ không vì một lý do nào khác như: Để
làm lãnh đạo xã, để tìm công ăn, việc làm…

Thanh Hóa có hơn 80% dân số nông nghiệp và 73,7% lao động trong nông
nghiệp. Nếu công tác đào tạo, bồi dưỡng cho lao động nông nghiệp nông thôn phát
triển, nông thôn được quan tâm thích đáng thì sẽ góp phần vào việc thực hiện thắng lợi
mục tiêu CNH, HĐH tỉnh nhà.

3.2.2. Giải quyết việc làm

Việc làm đối với người lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất để nuôi sống
con người mà còn đảm bảo sự tồn tại, phát triển của cả xã hội. Mặt khác thông qua lao
động con người ngày càng phát triển sự khéo léo, kích thích tư duy sáng tạo, và phát
triển nhân cách của mình, nâng cao năng lực nhận thức, nâng cao kiến thức tay nghề và
để lao động tốt hơn nữa. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII chỉ rõ: "Bảo
đảm công văn việc làm cho dân là một mục tiêu xã hội hàng đầu, không để thất nghiệm
trở thành căn bệnh kinh niên. Nhà nước chú trọng đầu tư tạo việc làm, đồng thời tạo
điều kiện cho các thành phần kinh tế và người lao động. Tạo thêm chỗ làm việc và tự
tạo việc làm. Khuyết khích các tổ chức và cá nhân cùng Nhà nước tổ chức tốt giới thiệu
việc làm, đào tạo nghề nghiệp " (40-39).

Hiện nay vấn đề việc làm đang là vấn đề bức xúc của xã hội. Nó vừa là vấn đề
kinh tế vừa là vấn đề xã hội. Nguồn nhân lực có được phát huy hay không trước hết phụ
thuộc ở chỗ con người có việc làm hay không. Tìm mọi cách tạo ra việc làm cho tất cả
mọi người lao động, bảo đảm sử dụng hết sức lao động hiện có cần phải được coi là một
nhiệm vụ cấp bách. Thanh Hóa có hơn 3,6 triệu dân với hơn 1,8 triệu lao động. Đó là
nguồn nhân lực quan trọng để Thanh Hóa đẩy mạnh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Song, nguồn nhân lực ấy phải được sử dụng hết và khắc phục được những
lạc hậu, dấu ấn của cơ chế cũ, phải là nguồn nhân lực đã qua đào tạo thì mới trở thành
thế mạnh của tỉnh, mới đáp ứng được những đòi hỏi của công cuộc xây dựng đất nước
trong thời kỳ đổi mới. Do vậy, giải pháp quan trọng nhất là tỉnh, Đảng bộ cùng với toàn
dân ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình kinh tế xã hội.
Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành
nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động…

Trước hết, đối với khu vực thành thị. Trong những năm qua tỉnh đã có nhiều nỗ
lực trong việc giải quyết việc làm và đã thu được kết quả tương đối tốt. Tỷ lệ thất
nghiệp ở thành thị đã giảm liên tục qua năm, đến 2004 tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị còn
5,3%. Hiện nay, hiện tượng di dân ra thành phố ngày càng đông, gây thêm sức ép về kinh
tế - xã hội và việc làm ở khu vực thành thị. Xuất phát từ tình hình trên, chúng ta có những
giải pháp giải quyết việc làm hiện nay và trong thời gian tới ở khu vực thành thị là: Gắn
giải quyết việc làm với chương trình phát triển doanh nghiệp quy mô lớn, như hình thành
các khu công nghiệp, khu chế xuất, phát triển các tập đoàn sản xuất mạnh của Nhà nước,
các Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm, hữu hạn, các dự án thu hút vốn đầu tư nước
ngoài để tạo việc làm có giá trị kinh tế cao phù hợp với tính chất đặc thù của lao động
thành thị, phát triển hình thức gia công sản xuất hàng hóa tiêu dùng cho xuất khẩu như:
May mặc, giầy da, gốm sứ, lắp ráp điện tử.

Thứ hai, đối với khu vực nông thôn. Lực lượng lao động trong nông thôn chiếm
phần lớn: 90% với chất lượng lao động thấp, tỉ lệ thất nghiệp không phải là nhỏ, chiếm
0,72% bằng 12.240 người. Lực lượng lao động trong nông thôn hàng năm vẫn tăng gần
2% mà nền kinh tế nông nghiệp vẫn là phát triển thuần túy nông nghiệp, sự chuyển dịch
cơ cấu cây trồng đã có nhưng chưa đáng kể. Để giải quyết việc làm cho lao động thuộc
lĩnh vực nông thôn, tỉnh cần có sự đầu tư cho các chương trình phát triển nông nghiệp,
nông thôn. Chương trình phát triển việc làm thu hút nhiều lao động tại chỗ như: Đa
dạng hóa sản xuất nông nghiệp hàng hóa, đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, theo
hướng tăng tỷ trọng giống mới có năng suất cao, đầu tư thâm canh mở rộng vụ đông,
phát triển vùng cây công nghiệp thế mạnh tập trung như: Hình thành vùng nguyên liệu
mía ở Thạch Thành, Sao Vàng, Vĩnh Lộc, Hà Trung, hình thành vùng trồng cao su, cà
phê và các cây công nghiệp khác: Lạc, Đậu, Cói, Thuốc lá. Hình thành những vùng
trồng cây công nghiệp này sẽ giải quyết được việc làm cho hàng chục ngàn lao động.
Hiện nay chúng ta mới chỉ trồng được trên 40.000 ha phấn đấu đến năm 2010 chúng ta
sẽ trồng được 60.000 ha những loại cây công nghiệp chủ lực đó. Đồng thời phát triển
nuôi trồng thủy, hải sản, phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hộ gia đình, đẩy mạnh và
đầu tư cho việc chăn nuôi gia súc theo hướng sản xuất hàng hóa. Đầu tư cho việc sơ chế
bảo quản nông sản sau khi thu hoạch, có thể lập ra những tổ hợp chuyên sơ chế bảo
quản nông sản.

Việc đã dạng hóa sản xuất nông nghiệp hàng hóa, đổi mới cơ cấu cây trồng vật
nuôi chính là để tạo ra nhiều việc làm trong nông thôn, và chỉ có tạo ra nhiều việc làm
trong nông thôn thì mới giải quyết được làm việc cho lao động nông thôn.

Ngoài ra, những tiềm năng về đất trống, đồi núi trọc, tài nguyên thiên nhiên
được khai thác tốt ở các địa phương thì cũng sẽ tạo ra một khối lượng việc làm rất lớn.
Nghề rừng cần được tổ chức lại theo hướng xã hội hóa lâm nghiệp chuyển từ khai thác
là chủ yếu sang trồng khoanh nuôi, chăm sóc và bảo vệ, gắn việc trồng rừng phòng hộ
với phát triển rừng kinh tế và thực hiện theo chế độ giao khoán. Như vậy sẽ tạo thêm
được nhiều việc làm mới cho lao động nông thôn miền núi và trung du, tăng của cải xã
hội, bảo vệ được môi trường sinh thái.

Đẩy mạnh hoạt động du lịch, dịch vụ, thương mại, đầu tư, tôn tạo, nâng cấp các
điểm du lịch như: Sầm Sơn, Lam Kinh, Bến En, Hàm Rồng... nâng cao chất lượng phục
vụ khách du lịch, giải quyết được việc làm cho hàng nghìn lao động.

Thứ ba, đẩy mạnh hơn nữa việc xuất khẩu lao động. Nghị quyết Trung ương 2
khóa VIII ghi rõ: "Mở rộng xuất khẩu lao động trên thị trường đã có và thị trường mới
cho phép các thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu và làm dịch vụ xuất khẩu lao động
trong khuôn khổ luật pháp dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Việc xuất khẩu lao
động không chỉ trực tiếp tạo việc làm cho người lao động nước ta mà qua đó góp phần
thu ngoại tệ cho đất nước để đầu tư trở lại cho nền kinh tế quốc dân, tạo mở việc làm
trong nước.

Theo tính toán của chương trình giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2010 trong
10 năm Thanh Hóa phấn đấu đưa đi xuất khẩu lao động - chuyên gia và đi làm việc ở
các tỉnh trong cả nước được 62,7 ngàn người. Hiện nay số lao động thất nghiệp ở Thanh
Hóa là 221,27 người. Hầu hết trong số đó là lao động giản đơn. Trong khi kinh tế - xã
hội của Thanh Hóa chưa phát triển, Thanh Hóa chưa giải quyết hết việc làm cho người
lao động trong tỉnh, thì việc tìm kiếm thị trường lao động và xuất khẩu lao động là việc
làm cần thiết để giải quyết việc làm cho một phần lao động của tỉnh.

Nhưng hiện nay lao động Việt Nam ở nước ngoài thường bỏ trốn, tỷ lệ bỏ trốn
ngày càng cao, làm cho công xưởng của người sử dụng lao động nhỡ kế hoạch nên họ
không muốn sử dụng lao động Việt Nam nữa, họ hướng sang thị trường lao động khác.
Ví dụ: 2004 thị trường lao động ở Nhật Bản nhận 41.000 người Trung Quốc. Số lao
động của Trung Quốc sang Nhật đông nhưng tỷ lệ bỏ trốn ít, còn Việt Nam số lao động
sang Nhật năm 2004 ít (2.000 người) nhưng tỷ lệ bỏ trốn cao, lên tới 34,1%. Nguyên
nhân của việc lao động ở nước ta ngoài bỏ trốn là khi họ đang lao động ở nước ngoài,
họ có thu nhập cao hơn, đời sống vật chất đầy đủ hơn ở nhà, khi trở về nước họ sống sẽ
thiếu thốn về vật chất. Điều chủ yếu là lại không tìm được việc làm nên khi gần hết thời
hạn lao động họ bỏ trốn. Mặt khác một số người lao động năm đầu họ hưởng mức lương
tập sự thấp hơn người bản địa, họ thắc mắc và không làm nữa, hoặc do thiếu sự hiểu
biết về luật lệ và những quy định cho người lao động nước ngoài tại nước bản địa nên
họ xích mích và bỏ việc.

Ông Kasuo Yama Zaki - Phó ban tu nghiệp sinh nước ngoài của Cục phát triển
việc làm, Bộ y tế lao động Nhật Bản cho biết: Chúng tôi muốn nhận người lao động
Việt Nam vào làm việc, vì người lao động Việt Nam cần cù, tháo vát, nhanh nhẹn, mặt
khác nền văn hóa, phong tục, tập quán của người Việt Nam rất gần với Nhật Bản. Nhưng tỷ
lệ bỏ trốn của người lao động Việt Nam rất cao. Nên chúng tôi phải hướng sang nhận lao
động ở nước khác. Chúng tôi cần những người lao động có tay nghề, có phẩm chất.
Chúng tôi không thể nhận lao động ở những nước có tỷ lệ bỏ trốn cao (báo Sài Gòn giải
phóng 9/2005).

Việt Nam xuất khẩu lao động sang rất nhiều nước và tỷ lệ lao động bỏ trốn ở
các nước cũng rất nhiều. Nếu tình trạng này ngày càng gia tăng thì chúng ta sẽ không
còn thị trường để xuất khẩu lao động nữa.
Từ thực tế đó họ thấy việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động cần phải được chuẩn bị
đó là sự chuẩn bị về nguồn lao động. Để có được nguồn lao động đáp ứng yêu cầu lao
động của thị trường nước ngoài, chúng ta cần đầu tư xây dựng các trung tâm dạy nghề
dành riêng cho đối tượng đi lao động ở nước ngoài. Ngoài thực hiện những chính sách
những đã triển khai chúng ta còn phải đẩy mạnh việc trang bị cho nguồn lao động kiến
thức nghiệp vụ chuyên môn, trang bị cho họ sự hiểu biết về luật lệ sử dụng người lao
động nước ngoài của những nước sử dụng lao động, để tránh tình trạng sau này người
lao động do không nắm bắt được các thông lệ của nước sử dụng lao động đã gây xích
mích với chủ lao động và bỏ trốn. Đồng thời giáo dục đạo đức phẩm chất chính trị cho
những người đi lao động ở nước ngoài. Nếu không, sau khi sang lao động ở ngoài họ dễ
bị bọn "cò mồi" mối lái rồi bỏ trốn ra làm ngoài để mong có thu nhập cao hơn. Và để
người lao động sau khi hết hạn lao động trở về nước thì chúng ta phải xây dựng đề án
cho những người lao động ở nước ngoài khi về nước có việc làm.

Thực hiện tốt những biện pháp trên chúng ra sẽ giữ vững và mở rộng được thị
trường lao động ở nước ngoài. Và có như vậy chúng ta mới đẩy mạnh được việc xuất
khẩu lao động, tạo mở ra nhiều việc làm cho người lao động trong tỉnh.

Thứ tư, cần giải quyết lao động dôi dư. Do sắp xếp lại các doanh nghiệp hoặc
thực hiện việc cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, sẽ có thể nảy sinh tình trạng dôi
dư lao động ở ngành này, khu vực này nhưng lại thiếu lao động ở khu vực khác. Do đó
có sự điều chỉnh lao động, tạo thêm ngành nghề mới để thu hút hết lao động, tránh tình
trạng sa thải hàng loạt đẩy người lao động vào khó khăn kinh tế, làm cho vấn đề xã hội
thêm gay gắt. Đặc biệt cần tăng cường và sử dụng quỹ Nhà nước để tạo việc làm hiệu
quả hơn.

Phân bố hợp lý để sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động xã hội là một vấn đề
rất lớn, rất khó khăn kinh tế, làm cho vấn đề xã hội thêm gay gắt. Đặc biệt cần tăng
cường và sử dụng quỹ Nhà nước để tạo việc làm hiệu quả hơn.

Phân bố hợp lý để sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động xã hội là một vấn đề
rất lớn, rất khó khăn. Bước vào nền kinh tế thị trường ta không thể sử dụng chỉ biện
pháp hành chính để điều động cán bộ công nhân viên như thời kế hoạch hóa tập trung
và bao cấp trước đây, mà cần có một hệ thống các chính sách có tác dụng khuyến khích
lao động đến những nơi cần thiết như nông thôn, vùng núi, hải đảo, vùng xa, vùng sâu,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số; có chính sách ưu đãi về lương, trợ cấp tàu xe, đi lại,
nghỉ phép, ưu tiên về chế độ đào tạo, bồi dưỡng, chính sách nhà ở.

Tỉnh cần dựa vào mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội từng thời
kỳ để đưa ra chiến lược phát triển nguồn nhân lực, phù hợp, thích ứng để tránh tình
trạng lao động chỗ thừa, chỗ thiếu.

Để giải quyết lao động dôi dư phải giải quyết tận gốc. Đó là, đào tạo bồi dưỡng
cần căn cứ vào mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đồng thời
có sự điều chỉnh lao động tạo thêm ngành nghề mới để thu hút lao động vào làm. Làm
tốt những vấn đề trên là giải quyết tốt vấn đề việc làm chính là chất kích thích tốt nhất
đến nỗ lực của mỗi người lao động trong học tập công tác, rèn luyện tay nghề, do đó mà
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của xã hội.

Thứ năm, tiếp tục thực hiện chương trình định canh định cư và xây dựng vùng
kinh tế mới nhằm phân bố lại lao động, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực.

Định canh, định cư và di dân vùng kinh tế mới là một chủ trương đúng đắn của
Đảng và Nhà nước. Đây là việc làm thiết thực nhằm phân bố lại và sử dụng hợp lý
nguồn nhân lực xã hội. Khai thác thế mạnh, tiềm năng tự nhiên phát triển kinh tế và có
ý nghĩa chiến lược trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Chương
trình định canh, định cư và di dân xây dựng vùng kinh tế mới đã được thực hiện trên
toàn quốc và ở Thanh Hóa gần 40 năm qua (từ 1963). Chỉ tính 10 năm trở lại đây, từ
năm 1990 đến 2000, toàn tỉnh đã thực hiện công tác định canh, định cư cho 21.397 hộ
với tổng số vốn đầu tư là 49.513 triệu đồng và di dân xây dựng vùng kinh tế mới cho
7.119 hộ với tổng số vốn đầu tư gần 20 tỷ đồng.

Việc định canh, định cư, di dân xây dựng vùng kinh tế mới của tỉnh Thanh Hóa
đã đáp ứng được nhu cầu lợi ích của nhân dân về nhu cầu ổn định và phát triển kinh tế,
giải quyết việc làm, góp phần tích cực vào việc thực hiện sử dụng hiệu quả nguồn nhân
lực nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Tuy nhiên, Thanh Hóa vẫn là một tỉnh có dân số đông, phân bố không đều giữa
các vùng, vùng thành phố và thị xã có mật độ dân số cao: 2.046 người/km2. Hai vùng
này tập trung tới 71,5% dân số cả tỉnh, nhưng chỉ chiếm có 28,13% diện tích lãnh thổ,
còn khu vực miền núi có diện tích rộng lớn 71,87% nhưng lại có rất ít dân số sinh sống.
Sự bất hợp lý này đòi hỏi Thanh Hóa phải tiếp tục thực hiện chương trình định canh,
định cư và di dân vùng kinh tế mới, nhằm phân bố lại lao động và khai thác có hiệu quả
tài nguyên đất đai và lợi thế của miền núi.

Tiềm năng đất đai của Thanh Hóa cần được đưa vào khai thác sử dụng còn rất
lớn. Trong tổng số đất đai có khả năng canh tác nông - lâm - thủy sản: 342.494,8 ha,
gồm:

+ Diện tích được quy hoạch vào các dự án: 327, 773 là 108.792 ha.

+ Diện tích mặt nước chưa được sử dụng những năm tới như đảo Mê, Điện Sơn:
10.000 ha.

+ Các dự án định canh, định cư độc lập: 73.179 ha.

+ Còn lại đưa vào quy hoạch sử dụng là 150.523,8 ha.

Do đó, theo chúng tôi, công tác định canh định cư và xây dựng vùng kinh tế
mới đến năm 2010 của tỉnh Thanh Hóa cần tập trung thực hiện những việc sau:

+ Định canh định cư và xây dựng vùng kinh tế mới trên cơ sở khai thác tiềm
năng đất đai và nguồn lực tại chỗ kết hợp với đầu tư hỗ trợ của Nhà nước để bố trí lại
sản xuất, sắp xếp lại dân cư một cách khoa học, thực hiện định canh định cư bền vững.

+ Thực hiện định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới gắn với chương
trình 5 triệu ha rừng, chương trình hỗ trợ đồng bào đặc biệt khó khăn và chương trình
phát triển kinh tế - xã hội khác để nhanh chóng xóa đói giảm nghèo cho đối tượng định
canh định cư.
+ Thúc đẩy nông, lâm, công nghiệp và các ngành phi nông nghiệp ở vùng định
canh định cư, tạo điều kiện để vùng định canh, định cư phát triển nhanh và bền vững.
Ưu tiên đầu tư cho các hạng mục xây dựng hệ thống giáo dục, y tế, văn hóa đáp ứng tốt
nhu cầu học tập, chữa bệnh và văn hóa cho nhân dân. Hoàn thành căn bản việc xây
dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống giao thông, tạo ra mạng lưới
giao thông liên hoàn, giao lưu thuận tiện và hệ thống thủy lợi nội đồng phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt cho nhân dân.

+ Thực hiện từ nay đến năm 2010 toàn tỉnh không còn hộ du canh, du cư. Thực
hiện định canh định cư vững chắc cho 44.950 hộ (329.140 khẩu) đang sống rải rác ở 612 bản
thuộc 77 xã của 10 huyện miền núi và vùng cao, gồm:

- Huyện Mường Lát : 7 xã: 4.6661 hộ = 27.309 khẩu.

- Huyện Quan Hóa : 17 xã: 7.530 hộ = 38.591 khẩu.

- Huyện Quan Sơn : 11 xã: 5.585 hộ = 29.680 khẩu.

- Huyện Như Xuân : 10 xã: 7.031 hộ = 38.327 khẩu.

- Huyện Ngọc Lặc : 3 xã: 277 hộ = 1.441 khẩu.

- Huyện Cẩm Thủy : 4 xã: 449 hộ = 2.946 khẩu.

+ Sắp xếp lại dân cư, tạo việc làm cho người lao động, chấm dứt phá rừng đầu
nguồn, phát huy kết quả giao đất, giao rừng đến hộ, thông qua công tác trồng rừng, bảo
vệ rừng, tái sinh rừng, vừa giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vừa tạo ra môi trường
sinh thái bền vững.

+ Vốn sản xuất cho cho các hộ gia đình là điều kiện rất quan trọng để các hộ
phát triển sản xuất và ổn định đời sống. Hiện nay các hộ thuộc đối tượng định canh,
định cư đều trong tình trạng thiếu vốn sản xuất, nên không có điều kiện để phát triển sản
xuất theo hướng sản xuất thâm canh. Do đó trong quá trình thực hiện các dự án định
canh, định cư cần phải có sự kết hợp các chương trình đầu tư khác để tạo nguồn vốn sản
xuất cho đối tượng này.
Tiềm tăng đất có khả năng khai thác đưa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
ở các vùng định canh, định cư còn rất lớn cần được đầu tư khai thác để tạo việc làm,
nâng cao thu nhập cho nhân dân vùng định canh, định cư. Nhà nước hỗ trợ, nhân dân
cùng làm thì kinh tế - xã hội vùng định canh, định cư sẽ phát triển nhanh chóng và ổn
định, có thể rút ngắn dần khoảng cách chênh lệch về thu nhập và văn hóa - xã hội giữa
vùng cao và vùng thấp, miền núi và đồng bằng.

+ Xây dựng nhà máy chế biến sản phẩm nông nghiệp loại nhỏ ở miền núi, thu
hút lao động tại vùng miền núi và chế biến sản phẩm đặc trưng của vùng như sấy vải
khô, chế biến ngô, sắn, làm miến dong. Những loại sản phẩm này bán rất chạy và với số
lượng lớn hoặc có thể liên kết với nhà máy chế biến thức ăn gia súc để bán nguyên liệu.
Như vậy, vừa tạo việc làm, vừa nâng cao đời sống nhân dân vùng miền núi, đời sống
nhân dân ổn định tạo cho vùng định canh, định cư ổn định vững chắc.

+ Xây dựng thị xã miền núi với nhau, miền núi đã thiếu thốn đủ bề, nhiều thứ
cần thì phải xuống tận thị xã miền xuôi mới có. Vì vậy, lập thị xã miền núi là làm cho
kinh tế - xã hội miền núi phát triển, xóa dần sự cách biệt giữa miền núi và miền xuôi tạo
sự giao lưu giữa miền núi và miền xuôi, tạo sự thuận lợi cho việc làm ăn buôn bán giữa
miền núi và miền xuôi. Đồng thời nó sẽ làm trạm trung chuyển mua hàng hóa giữa miền
núi và miền xuôi. Như vậy kinh tế - xã hội miền núi càng ngày càng phát triển, xóa dần
sự cách biệt giữa miền núi và miền xuôi. Vùng định canh, định cư sẽ được ổn định vững
chắc, việc sắp xếp, phân bố lại lực lượng lao động của tỉnh sẽ thuận lợi và hiệu quả.

3.2.3. Đẩy mạnh phát triển khoa học công nghệ nhằm xây dựng và phát
triển đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ của tỉnh

Khoa học và công nghiệp tác động hết sức sâu sắc và mạnh mẽ đến mọi mặt của
cuộc sống con người, đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, đến đời sống chính trị và
văn hóa của xã hội, đến khả năng quốc phòng và an ninh của mọi quốc gia đến quan hệ
quốc tế và việc giải quyết những vấn đề toàn cầu của thời đại. Nhận thức rõ vai trò đó
của khoa học và công nghệ, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết quan trọng về khoa học và
công nghệ. Đặc biệt hội nghị trung ương 2 (khóa VIII) đã nhấn mạnh. "Cùng với giáo
dục - đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh
tế - xã hội là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc
lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất
nước bằng và dựa vào khoa học, công nghệ" 34-59.

Theo chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII)
về khoa học, công nghệ. Tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa đã xác định mục tiêu từ năm 2001
đến 2010 là: Phấn đấu nâng cao mặt bằng khoa học và dân trí lên một bước để có thể
tiếp thu và vận dụng các thành tựu khoa học, tiến bộ kỹ thuật trong các lĩnh vực của đời
sống xã hội.

Đây là vấn đề khá bức bách, bởi vì sự phát triển khoa học công nghệ của tỉnh
rất chậm, tuy mấy năm nay đã có một số đóng góp đáng quý trong việc triển khai áp
dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đời sống nhân dân.

Để khoa học công nghệ trở thành sức mạnh thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
thì bản thân khoa học công nghệ phải được phát triển ở một mức độ nhất định. Điều
kiện phát triển của khoa học công nghệ đó là môi trường thuận lợi. Môi trường đó vừa
bao gồm những nhu cầu nhiều mặt của sản xuất và đời sống xã hội đối với khoa học
công nghệ, có tác dụng kích thích đối với khoa học công nghệ, vừa bao gồm những điều
kiện kinh tế, văn hóa xã hội cùng các chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước, của
tỉnh. Vì vậy, để phát triển khoa học, công nghệ nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ cán
bộ khoa học, công nghệ chúng ta cần phải quan tâm đến những giải pháp sau:

Một là, tăng cường đầu tư ngân sách cho khoa học và công nghệ.

Không thể nói đến sự phát triển của khoa học và công nghệ nếu không đầu tư
hoặc đầu tư không đúng mức. Sự đầu tư nhỏ giọt vào phân tán sẽ không mang lại kết
quả mong muốn. Đã từ lâu nhiều năm nay sự đầu tư cho khoa học công nghệ quá thấp,
sự đầu tư thấp nên cơ sở nghiên cứu nhỏ bé, nghèo nàn, thiết bị lạc hậu. Người làm
khoa học không thể sống bằng nghề của mình nếu chỉ tập trung nghiên cứu. Điều đáng
nói hơn là các nhà nghiên cứu không thể phát huy khả năng của mình với cơ sở nghiên
cứu nhỏ bé, lạc hậu đó. Vì vậy, rất nhiều nhà khoa học trong tỉnh đã ra đi các tỉnh ngoài
để làm việc khắc phục tình trạng đầu tư quá thấp, đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ Thanh
Hóa lấn thứ XV đã đề ra chủ trương: "Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động khoa
học - công nghệ và môi trường vào sản xuất và đời sống. Từng bước nâng cao năng lực
nội sinh về khoa học và công nghệ, tiếp thu và vận dụng sáng tạo những công nghệ
nhập, tiến tới tạo ra công nghệ mới trên một số lĩnh vực cần thiết cho phát triển của
tỉnh" 70-49. Do đó, ngoài tăng từ ngân sách Nhà nước Thanh Hóa huy động các nguồn
lực khác, phấn đấu tăng ngân sách cho khoa học công nghệ đạt 2% tổng ngân sách.

Căn cứ vào định hướng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 2006-2010
chúng ta tập trung đầu tư cho một số lĩnh vực cơ bản sau:

+ Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học phát triển
nông - lâm - ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa thích nghi với điều kiện khí hậu,
thời tiết thổ nhưỡng từng vùng của Thanh Hóa. Chương trình này rất cần cho sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh bởi Thanh Hóa là một tỉnh sản xuất nông nghiệp là chủ
yếu. Do đó chúng ta phải đầu tư trước hết là cho khoa học - công nghệ trong sản xuất
nông nghiệp. Đầu tư cho chương trình này chúng ta sẽ tiếp cận và làm chủ được một số
công nghệ sinh học chủ yếu trong sản xuất giống cây trồng vật nuôi. Công nghệ sản
xuất hạt giống lúa lai, ngô lai, công nghệ điều khiển giới tính trong sản xuất cá rô phi,
tôm càng xanh siêu đực, công nghệ sấy phôi trong sản xuất bò giống (bò sữa và bò thịt)
để đến năm 2010 cơ bản chủ động được giống, cây trồng, vật nuôi có năng suất chất
lượng cao phù hợp với Thanh Hóa.

+ Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiên tiến, đổi mới và
hiện đại hóa công nghệ thiết bị trong công nghiệp nhằm nâng cao chất l ượng, hạ giá
thành, tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hóa, hướng trọng
tâm vào lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến bảo quản nông sản thực phẩm sau
thu hoạch và chế biến sản phẩm phục vụ xuất khẩu. Phấn đấu không để tụt hậu trong
các lĩnh vực mà tỉnh có ưu thế: Công nghiệp xi măng, công nghiệp mía đường, công
nghiệp giống, sản xuất phân bón, vật liệu xây dựng (đá ốp lát, gạch Ceramic...) công
nghiệp may mặc, giày da... đồng thời thực hiện tốt chương trình phát triển công nghiệp
thông tin, từng bước hình thành các ngành công nghiệp mới như: Công nghệ sản xuất
phần mềm ứng dụng, công nghệ lắp ráp máy tính điện tử, công nghệ khai thác và chế
biến khoáng sản.

Để thực hiện được việc tăng cường đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng khoa học -
công nghệ vào các lĩnh vực ưu thế và trọng điểm trên các cấp ủy Đảng và quản lý Nhà
nước của tỉnh phải thực hiện các giải pháp lãnh đạo và chỉ đạo xây dựng kế hoạch và
triển khai thực hiện kế hoạch khoa học công nghệ, tạo các điều kiện thuận lợi cho hoạt
động khoa học công nghệ, tăng nhanh tổng đầu tư cho khoa học công nghệ, thành lập
quỹ phát triển khoa học công nghệ tỉnh nhằm hỗ trợ hoàn thiện kết quả khoa học - công
nghệ. Tăng cường kinh phí từ ngân sách Nhà nước cho các hoạt động khoa học - công
nghệ. Phấn đấu từ năm 2006 đến 2010 kinh phí ngân sách Nhà nước mỗi năm tăng 15%
(Giai đoạn 2001-2005 là 10%, năm 2005 là 12 tỷ đồng). Bổ sung, điều chỉnh các chính
sách khuyến khích đầu tư của tỉnh. Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng
ngân hàng để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân, đồng thời tranh thủ nguồn
vốn từ các ngân hàng thương mại trung ương để cho vay đầu tư phát triển sản xuất, thực
hiện những nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, làm được những điều trên sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho các ngành khoa học công nghệ phát triển.

Hai là, tạo lập thị trường khoa học công nghệ.

Khi những sáng tạo trong khoa học càng nhiều, được áp dụng ngày càng lớn và
mang lại hiệu quả cao, thì đòi hỏi phải có thị trường khoa học và công nghệ. Chính nhu
cầu thị trường sẽ quyết định các hướng nghiên cứu và sáng tạo các loại hình công nghệ
mới, các phát minh khoa học. Vì vậy tỉnh cần phải đầu tư xây dựng trung tâm ứng dụng
chuyển giao công nghệ của tỉnh, phải xây dựng những cơ sở sản xuất với quy trình công
nghệ cao, tạo điều kiện cho việc triển khai, ứng dụng chuyển giao công nghệ, khuyến
khích các thành phần kinh tế đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất kinh
doanh. Đại hội tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa lần thứ XV đã chỉ rõ: "Ưu tiên cho việc nghiên
cứu lựa chọn khảo nghiệm đưa nhanh các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất
lượng cao vào sản xuất, ứng dụng công nghệ thông tin (trong đó chú ý công nghiệp sản
xuất phần mềm), công nghệ sinh học, công nghệ chế biến nông lâm hải sản, công nghệ
sau thu hoạch, bảo vệ môi trường. Tăng cường đầu tư cho đổi mới công nghệ, đổi mới
sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường" [70-48].

Đồng thời tỉnh cần có những chính sách khuyến khích hướng dẫn trường Đại
học trong tỉnh xây dựng các trung tâm ứng dụng chuyển giao công nghệ, cơ sở sản xuất.
Đây là bước triển khai làm cho khoa học và sản xuất xích lại gần nhau. Nghiên cứu
khoa học trong các trường đại học bước đầu tạo điều kiện phát huy tác dụng của các công
nghệ tiên tiến nhập từ nước ngoài, nghiên cứu cải tiến và tạo khả năng sáng chế ra công
nghệ mới để phát triển đất nước. Các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và các trư-
ờng dạy nghề là nơi cung cấp các dịch vụ tư vấn, ứng dụng và triển khai tiến bộ khoa học -
công nghệ vào đời sống. Trong tỉnh có trường Đại học Hồng Đức và có trung tâm ứng
dụng khoa học kỹ thuật của trường, song cũng chưa thật sự trở thành trung tâm chuyển
giao công nghệ và trường cũng chưa xây dựng được các cơ sở sản xuất. Do đó, khoa học
và sản xuất chưa gần gũi nhau, chưa tác động lẫn nhau để phát triển. Từ nay đến năm
2010 Thanh Hóa phải phấn đấu đầu tư cho trường Đại học Hồng Đức thực hiện xây
dựng trung tâm ứng dụng khoa học kỹ thuật của trường trở thành trung tâm ứng dụng
chuyển giao công nghệ điển hình của tỉnh.

Ba là, tạo động lực phát triển toàn diện đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ,
đồng thời xây dựng chính sách nhằm thu hút lực lượng lao động khoa học và công
nghệ.

Qua 10 năm từ năm 1995 đến 2005 đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của tỉnh
Thanh Hóa đã có bớc phát triển về số lợng và chất lượng, đã góp phần quan trọng cho
sự phát triển không ngừng của nền kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, khi xem xét toàn
diện trình độ học vấn, sự phân bố và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật ở Thanh
Hóa ta thấy vẫn còn nhiều bất cập. Để khắc phục những yếu kém và tạo động lực phát
triển toàn diện đội ngũ cán bộ khoa học của tỉnh thì chúng ta cần phải tạo điều kiện, môi
trường làm việc tốt cho người làm công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ. Người làm
khoa học công nghệ không thể thiếu trang thiết bị, nhất là trang thiết bị hiện đại. Nếu
trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu thì làm cho người nghiên cứu khoa học, công nghệ không
có điều kiện thuận lợi để phát huy khả năng của mình. Vì vậy ở họ sự nhiệt tình, sự say
mê nghề nghiệp bị giảm sút. Hiện nay số cán bộ nghiên cứu khoa học, cơ bản trong tỉnh
đã ít, ngày lại càng ít. Vì có một số người đã về hưu còn số người chọn nghề nghiên cứu
khoa học cơ bản cũng có rất ít người về Thanh Hóa để công tác, do điều kiện để nghiên
cứu khoa học công nghệ ở Thanh Hóa thiếu thốn. Mặt khác con người làm khoa học và
công nghệ cũng không thể sống hết mình vì khoa học nếu lương, tiền không thỏa đáng
để đảm bảo cuộc sống. Do vậy, việc cải thiện đời sống cho họ, có chế độ lương phù hợp và
thỏa đáng đối với họ là rất cần thiết. Đây cũng là một động lực quan trọng thúc đẩy sự hoạt
động và sáng tạo của các nhà khoa học. Đi liền với việc thực hiện chính sách tiền lương
thỏa đáng đó là chế độ lương, phụ cấp và trợ cấp đối với đội ngũ cán bộ khoa học, công
nghệ và cho những công trình khoa học và công nghệ có giá trị, đảm bảo thu nhập thích
đáng thông qua việc thu hút họ tham gia các hợp đồng nghiên cứu cơ bản và ứng dụng triển
khai. Trong những năm gần đây, tỉnh, Đảng bộ Thanh Hóa đã chủ động thực hiện phương
án này nhưng chưa được đẩy mạnh. Để sớm có được đội ngũ cán bộ khoa học và công
nghệ hàng đầu làm nòng cốt cho việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng và hiệu
quả, điều đó cần phải được duy trì thường xuyên và ngày càng nâng cao.

Bên cạnh những chế độ tiền lương, tiền thưởng, lợi ích vật chất, lợi ích kinh tế,
những ngời hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ còn quan tâm đến một lợi ích
khác, đó là lợi ích tinh thần là nhu cầu được thừa nhận, được động viên, khen thưởng kịp
thời. Tỉnh Thanh Hóa còn nghèo những người làm công tác khoa học hiểu rất rõ điều đó.
Vì vậy, họ không đòi hỏi phải được thưởng thật nhiều nhưng họ rất muốn được khen thởng
kịp thời. Hàng năm mở ra những cuộc hội thảo, hội nghị về khoa học, công nghệ. Đồng
thời trao các giải thưởng cho các thành tựu khoa học công nghệ trong tỉnh. Thực hiện tốt
những điều đó sẽ có tác dụng tích cực động viên các nhà khoa học hăng hái hoạt động khoa
học và sáng tạo. Cùng với những điều kiện trên, chúng ta thực hiện dân chủ, phát huy tinh
thần sáng tạo, tăng cường đoàn kết, ý thức trách nhiệm xã hội của các nhà khoa học trong
hoạt động nghiên cứu và triển khai ứng dụng. Với môi trường như vậy, chúng ta sẽ khuyến
khích họ hoạt động sáng tạo. Đồng thời với việc tạo điều kiện cho người làm công tác khoa
học, công nghệ tỉnh cần phải có chính sách thu hút nhân tài, thu hút cán bộ khoa học, công
nghệ là người Thanh Hóa về tỉnh công tác. Nhằm tăng nhanh lực lượng nghiên cứu triển
khai, từng bước hình thành đội ngũ chuyên gia giỏi trong nghiên cứu khoa học, tăng cường
cán bộ khoa học kỹ thuật về cơ sở. Để thực hiện điều đó tỉnh phải xây dựng chính sách, phải
ban hành cụ thể chủ trương "mời gọi trí thức" về tỉnh Thanh Hóa làm việc. Năm 1997, tỉnh
cũng đã có chính sách thu hút nhân tài về tỉnh, song chỉ áp dụng cho trường Đại học Hồng
Đức. Nhưng chế độ đề ra cũng chưa hấp dẫn như một số tỉnh khác (Bình Dương, Quảng Trị).
Bởi Thanh Hóa là một tỉnh nghèo cơ sở vật chất, kỹ thuật chưa phát triển, nên cũng rất khó
khăn trong việc "chiêu hiền đãi sĩ". Để có thể làm được điều này chúng ta phải xây dựng và
nâng cao cơ sở vật chất - kỹ thuật của tỉnh, phải xây dựng phát triển được các khu công
nghiệp, như phát triển hơn nữa khu công nghiệp Bỉm Sơn. Mở rộng và phát triển cảng Lễ
Môn, xây dựng khu đô thị Nghi Sơn thành một điểm phát triển kinh tế phía Bắc. Đồng thời
đẩy mạnh đầu tư, xây dựng, phát triển những điểm du lịch ở Thanh Hóa hơn nữa, như du lịch
Sầm Sơn, khu du lịch Lam Kinh, Hàm Rồng, Bến En… Muốn vậy, phải lập dự án (đây là
khâu quan trọng), kêu gọi các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước và phải được sự hỗ trợ
của trung ương. Có như vậy Thanh Hóa mới phát triển, mới xây dựng được cơ sở vật chất kỹ
thuật của tỉnh. Từ đó tạo tiền đề cho chúng ta phát triển nguồn nhân lực toàn diện, phát triển
đội ngũ cán bộ khoa học, thu hút nhân tài, thu hút được lực lượng lao động khoa học và công
nghệ.

Tóm lại, đẩy mạnh việc phát triển khoa học - công nghệ là nhằm nâng cao trình
độ học vấn, tri thức, tay nghề chuyên môn, hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp
cũng như nâng cao, mở rộng trình độ hiểu biết. Từ đó, đội ngũ lao động Thanh Hóa có
thể nhanh chóng tiếp thu các thành tựu khoa học tiến bộ kỹ thuật trong các lĩnh vực của
đời sống xã hội. Nói một cách khác đẩy mạnh phát triển khoa học cũng là để phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa.

3.2.4. Coi trọng công tác dự báo về xu hướng phát triển nguồn nhân lực

Để có được nguồn nhân lực chất lượng đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự
nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH, chúng ta không thể không nghiên cứu dự báo về xu
hướng phát triển nguồn nhân lực. Thực tế kinh nghiệm của các nước trên thế giới và ở
nước ta cho thấy: nghiên cứu về nguồn nhân lực là điều kiện không thể thiếu để quản lý
nguồn nhân lực hiệu quả. Trong những năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã có chủ trương,
chính sách tác động một cách tích cực vào con người nhằm xây dựng và phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH. Song chính sách chưa
đồng bộ, việc sử dụng nguồn nhân lực còn bất hợp lý. Nguồn nhân lực Thanh Hóa sử dụng
có hiệu quả, phân bố có hợp lý hay không đều phụ thuộc vào việc nghiên cứu dự báo xu
hướng phát triển nguồn nhân lực trong địa bàn Thanh Hóa. Vì vậy, việc nghiên cứu dự báo
xu hướng phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn Thanh Hóa là một việc làm cần thiết, việc
này nhằm tư vấn cho tỉnh ủy và ủy ban nhân dân tỉnh trong việc đề ra chủ trương, giải pháp
phát triển nguồn nhân lực. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực có liên quan chặt chẽ đến
chiến lược phát triển giáo dục- đào tạo. Nội dung quan trọng khi hoàn thiện chiến lược
phát triển nguồn nhân lực là phải giải quyết đồng bộ trong mối quan hệ mật thiết với
nhau trên ba mặt chủ yếu: giáo dục - đào tạo con người, sử dụng con người và tạo việc
làm.

Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đã được tỉnh Đảng bộ Thanh Hóa quan
tâm, song yếu tố tự phát vẫn còn chi phối. Điều đó đã tạo ra những bất hợp lý rất lớn
trong nguồn lực con người. Vậy nên tỉnh cần phải coi trọng hơn nữa công tác dự báo xu
hướng phát triển nguồn lực con người, để có chính sách sử dụng nguồn lực con người
hiệu quả hơn. Việc dự báo xu hướng phát triển nguồn nhân lực cho chúng ta nắm được
sự tăng hay giảm về dân số, nguồn nhân lực và việc làm của tỉnh. Theo số liệu điều tra
của cục thống kê Thanh Hóa năm 2004 là 3646593 người, căn cứ vào thời điểm đạt
được các chỉ tiêu đặt ra với mức sinh hàng năm thì dân số Thanh Hóa tó 2010 sẽ có
khoảng 3,98 triệu người. Dân số tăng dẫn đến số lao động tăng yêu cầu đào tạo nghề và
giải quyết việc làm rất lớn. Lao động Thanh Hóa trong 5 năm (2001-2005) có khoảng
123 ngàn lao động mới bổ sung cộng với 337 ngàn lao động (quy đổi) dôi dư thời kỳ
trước (1996-2000) chuyển sang bằng 460 ngàn chỗ làm việc cần giải quyết. Dự kiến
phân bổ nguồn nhân lực trong các ngành kinh tế quốc dân đến 2010 (xem bảng 17).
Bảng 3.1: Dự kiến phân bổ nguồn nhân lực trong các ngành
kinh tế quốc dân đến 2010

Đơn vị tính: %

Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2005 Năm 2010

Nông-Lâm - Ngư nghiệp 81,32 66,0 -72,0 52,0 - 54,0

Công nghiệp - Xây dựng 8,6 12,0 -15,0 20,0 - 22,0

Dịch vụ 10,08 13,0 - 15,0 23,0 - 25,0

Nguồn: Cục thống kê sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Thanh Hóa

Qua bảng 17 ta thấy dự kiến tỷ lệ lao động trong công nghiệp - xây dựng, dịch
vụ tăng. Từ chỗ dự báo đó mà tỉnh ủy có chủ trương chính sách tập trung vào việc
chuyển đổi cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm
dần lao động nông nghiệp. Đồng thời trên cơ sở dự kiến sự phát triển lao động của tỉnh
trong các ngành kinh tế quốc dân mà đề ra chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo, và kế
hoạch đào tạo người lao động với trình độ chuyên môn, ngành nghề phù hợp với thị
trường lao động trong tỉnh.

Nhìn chung, dự báo xu hướng phát triển nguồn nhân lực nhằm tư vấn cho tỉnh
ủy và các cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh có kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện về việc
phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc CNH, HĐH.

Quá trình hoàn thiện công tác dự báo xu hướng phát triển nguồn nhân lực ở
Thanh Hóa cần được tiến hành cùng với hoàn thiện chiến lược phát triển các ngành, vì
chiến lược phát triển nguồn nhân lực có liên quan chặt chẽ đến chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh nói chung, của các vùng các huyện thị nói riêng. Chiến lược
phát triển nguồn nhân lực còn liên quan chặt chẽ đến chiến lược giáo dục - đào tạo,
nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, nó liên quan đến số lượng, chất lượng và cơ cấu
lao động trong thời kỳ nhất định, nó liên quan và chịu sự chi phối, định hướng của chiến
lược phát triển sản xuất nông nghiệp - công nghiệp – dịch vụ.
Chính vì công tác dự báo xu hướng phát triển nguồn nhân lực có tầm quan
trọng như vậy nên chúng ta phải coi trọng công tác này. Hằng năm sở kế hoạch đầu tư
đã xây dựng kế hoạch hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh của
ngành…quy hoạch cán bộ cốt cán các cấp. Quy hoạch và phát triển nguồn nhân lực.
Song đang còn khái quát và chưa được đều trong các năm. Tỉnh cần chú trọng đầu tư
kinh phí và nhân lực khoa học cho công tác nghiên cứu có chất lượng, đủ sức là tư vấn
khoa học cho chiến lược và chính phát triển nguồn nhân lực của tỉnh. Đồng thời cần
tổng kết thực tiễn nguồn nhân lực của tỉnh và tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm
về quản lý nhân lực của các tỉnh trong nước để áp dụng vào Thanh Hóa một cách phù hợp.

Tóm lại, trên đây là một số phương hướng giải pháp chủ yếu mà tác giả luận
văn đề xuất nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
CNH, HĐH. Giữa các giải pháp có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau khi thực hiện đòi
hỏi phải có sự giải quyết một cách đồng bộ, có như vậy mới phát huy sức mạnh tổng
hợp các giải pháp và sẽ đem lại hiệu quả cao trong việc bồi dưỡng, sử dụng nguồn nhân
lực trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đó cũng chính là nhắm đến mục đích nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, của tỉnh Thanh Hóa nói riêng và của
cả nước nói chung.
Kết luận



Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được coi là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ này đòi hỏi phải
có sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố, nhiều điều kiện, nhiều nguồn lực, từ cơ sở vật
chất kỹ thuật, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, nguồn nhân lực... Trong các
nguồn lực có tính chất quyết định đối với sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại
hóa là nguồn nhân lực con người, hơn bất kỳ nguồn lực nào khác, nguồn lực con người
đóng góp vai trò quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước
ta. Khai thác, phát huy và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực con người là góp phần
thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Chúng ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa là để phát triển kinh tế - xã
hội, khắc phục nguy cơ tụt hậu của nền kinh tế. Quá trình này cần có những con người
có trí thức, có sức khỏe - người lao động chất lượng cao. Song muốn có được nguồn
nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa chúng ta không thể
có cách nào khác là phải đào tạo, tổ chức quản lý và phát huy nguồn lực con người theo
những yêu cầu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện nay. ở đây vấn đề đặt ra là
việc đầu tư phát triển giáo dục phải đi trước, việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Đó
chính là sự lựa chọn có tính quyết định cho sự phát triển.

Hiện tại, người lao động ở Thanh Hóa có nhiều phẩm chất vô cùng quý báu
như: Cần cù, chịu khó, thông minh, sáng tạo. Nhưng những bất cấp về mặt trí lực, thể
lực làm cho người lao động Thanh Hóa khó có thể hội nhập vào trào lưu phát triển của
thời đại cũng như chưa bắt kịp sự phát triển trong nước cũng như một số thành phố lớn
của nước ta. Vì vậy, để hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tất yếu
Thanh Hóa phải phát triển giáo dục - đào tạo, phải ra sức đào tạo người lao động mới có
đầy đủ những phẩm chất, năng lực trí tuệ thời đại yêu cầu. Thanh Hóa đang còn nghèo,
nên bên cạnh việc tập trung phát triển kinh tế chúng ta cần phải mạnh dạn, phải "thắt
lưng buộc bụng" huy động mọi nguồn lực nhằm tạo ra bước phát triển về chất cho giáo
dục - đào tạo và khoa học - công nghệ.

Thực tế, nguồn nhân lực ở Thanh Hóa còn bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém:
Lực lượng lao động đông nhưng yếu về chất lượng, một bộ phận không nhỏ nguồn lao
động chưa có việc làm và thiếu việc làm. Lực lượng lao động chủ yếu tập trung vào sản
xuất nông nghiệp, lực lượng lao động trong công nghiệp ít. Công tác giáo dục đào tạo
hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu cung cấp nguồn nhân lực có trình độ
chuyên môn cao cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Lực lượng cán bộ khoa học công
nghệ thiếu, lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao chủ yếu tập trung ở lĩnh vực
giáo dục quản lý Nhà nước, y tế, những ngành mũi nhọn như công nghiệp xây dựng đều
thiếu ngành. Những yếu kém, bất cập này do nhiều nguyên nhân, cả nguyên nhân chủ
quan và khách quan. Vấn đề cấp bách đặt ra là phải tìm cách khắc phục những yếu kém,
xây dựng cho được nguồn nhân lực chất lượng cao, thực sự đáp ứng cho yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh.

Những vấn đề cần giải quyết để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Thanh
Hóa hiện nay là mở rộng quy mô đào tạo trên cơ sở đa dạng hóa các nguồn vốn, điều
chỉnh cơ cấu đào tạo, đổi mới về quan niệm học tập, đào tạo; xây dựng đội ngũ cán bộ
quản lý và chuyên gia chăm sóc sức khỏe trẻ em, chuyển dịch cơ cấu lao động theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa mở rộng sản xuất, tạo công ăn việc làm cho người
lao động có chính sách khuyến khích lợi ích vật chất cho người lao động; chú trọng tổ
chức bố trí lực lượng lao động hợp lý; xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển khoa học
công nghệ. Những biện pháp đó là cần thiết, cấp bách và thực tế có khả năng thực hiện
được.

Thanh Hóa là một tỉnh lớn đứng thứ hai sau thành phố Hồ Chí Minh (xét về mặt
dân số) nhưng không có nhiều lợi thế như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng.
Vì vậy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
không chỉ là việc làm của toàn tỉnh nói chung mà còn là sự nỗ lực phấn đấu của từng
người dân Thanh Hóa. Song để thực hiện được nhiệm vụ này cần có sự chỉ đạo, hỗ trợ
to lớn của Trung ương cả về vật chất lẫn tinh thần.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn
đề có nội dung lớn liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau trong khuôn
khổ của luận văn không thể trình bày hết tất cả những nội dung về mặt lý luận và thực
tiễn của vấn đề. Tiềm năng của mỗi con người, cũng như toàn thể con người Thanh Hóa
là rất lớn. Quá trình tìm kiếm những mô hình, giải pháp nhằm khai thác và phát huy có
hiệu quả tiềm năng nguồn lực con người vẫn đang tiếp tục bằng sự nỗ lực của cả dân tộc
nói chung, nhân dân Thanh Hóa nói riêng.
danh mục Tài liệu tham khảo



1. Phạm Ngọc Anh (1995), "Nguồn lực con người - nhân tố quyết định của quá trình
công nghiệp hóa hiện đại hóa", Nghiên cứu lý luận, (2).

2. Hoàng Chi Bảo (1998), "Lý luận và phương pháp nghiên cứu về con người", Triết học,
(2).

3. Hoàng Chí Bảo (1998), "Giáo dục văn hóa lao động để nâng cao tay nghề cho công
nhân", Dân vận, (6).

4. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2005), Niên giám thống kê lao động thương
binh và xã hội năm 2004, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.

5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1999), Thuật ngữ lao động binh xã hội, Nxb
Lao động xã hội, Hà Nội.

6. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2002), Số liệu thống kê lao động việc làm ở
Việt Nam năm 2001, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.

7. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2003), Số liệu thống kê lao động việc làm ở
Việt Nam năm 2002, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.

8. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2004), Số liệu thống kê lao động việc làm ở
Việt Nam năm 2003, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.

9. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2005), Số liệu thống kê lao động việc làm ở
Việt Nam năm 2004, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.

10. Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Viện Dự báo chiến lược Khoa học và Công
nghệ (1995), Việt Nam tầm nhìn đến năm 2000, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội.

11. C. Mác - Ph.Ăngghen (1983), Tuyển tập, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội.

12. C. Mác - Ph.Ăngghen (1983), Tuyển tập, tập II, Nxb Sự thật, Hà Nội.
13. Cac Mác, F.Ăngghen, Tuyển tập, tập III, NXB Sự thật Hà Nội, 1981.

14. Cac Mác, F.Ăngghen, Tuyển tập, tập VI, NXB Sự thật Hà Nội, 1981.

15. Cac Mác, F.Ăngghen, Hệ tư tưởng Đức, tập I, NXB Sự thật Hà Nội, 1983.

16. Cac Mác, F.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, NXB Sự thật Hà Nội, 1981.

17. Cac Mác, F.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1994.

18. Cac Mác, Tư bản, phê phán khoa học kinh tế chính trị, tập 3, NXB Hà Nội 1978.

19. Cac Mác, Bộ tư bản, tập thứ nhất, quyển 1, NXB Sự thật, Hà Nội 1987.

20. Cac Mác, Sự khốn cùng của triết học, NXB Sự thật, Hà Nội 1975.

21. Nguyễn Trọng Chuẩn, Một số vấn đề cần được quan tâm: Mối quan hệ giữa các
yếu tố sinh học và yếu tố xã hội trong con người, Triết học, số 2- 1992

22. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Triết
học số 2 - 1994.

23. Cơ quan báo cáo phát triển của con người LHQ, chỉ tiêu và chỉ số phát triển, NXB
Thống kê, Hà Nội, 1990.

24. Cục thống kê Thanh Hóa, Niên giám thống kê 2000 - 2004, NXB thống kê, Hà Nội
2004.

25. Cục thống kê Thanh Hóa, Đánh giá thực trạng mức sống dân cư Thanh Hóa, NXB
thống kê, Hà Nội 2002 - 2004.

26. Cục thống kê Thanh Hóa, Tình hình kinh tế - xã hội chủ yếu tỉnh Thanh Hóa thời kỳ
2001 - 2003, Thanh Hóa tháng 8 - 2003.

27. Phạm Tất Dong, Suy nghĩ về đội ngũ trí thức nước ta, Tạp chí cộng sản số 4 - 1994.

28. Phạm Tất Dong, Trí thức Việt Nam, thực tiễn và triển vọng, Hà Nội 1995.

29. Nguyễn Quang Du, Tài liệu con người trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước, Thông tin lý luận, số 11-1994.
30. Nguyễn Hữu Dũng, Đổi mới chính sách tuyển dụng và sử dụng khoa học học kỹ
thuật trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Thông tin
lý luận số 11-1994.

31. Trương Minh Dực, Phát triển nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở Miền Trung, Tạp
chí thông tin, lý luận số 4 - 1996.

32. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần thứ 4, BCHTW (khóa VII), NXB Sự
thật Hà Nội tháng 2/1993.

33. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành TW (khóa
VII), NXB sự thật Hà Nội, 1994.

34. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần thứ 2 ban chấp hành TW (khóa
VIII), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997.

35. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu đại biểu toàn quốc lần thứ III,
Hà Nội 1960.

36. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, NXB Sự
thật, Hà Nội 1997.

37. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tập 2
NXB Sự thật, Hà Nội 1992.

38. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự
thật, Hà Nội 1987.

39. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự
thật, Hà Nội 1991.

40. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996.

41. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001.
42. Đảng cộng sản Việt Nam, Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2000, NXB Sự thật, Hà Nội 1991.

43. Tống Văn Đường, Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực ở nước ta, kinh tế và
phát triển số 5/1995.

44. Mạc Đường, "Nghiên cứu con người theo phương pháp tiếp cận dân tộc hiện đại"
"Con người Việt Nam và công cuộc đổi mới", Hà Nội 1993.

45. Nguyễn Điều, Về công nghiệp hóa ở nước ta, thông tin lý luận số 6 - 1994.

46. Lương Việt Hải, ảnh hưởng của tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ đến việc
nghiên cứu và phát triển con người và nguồn nhân lực những năm đầu thế kỷ
XXI, Chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX - 05, Hà
Nội 2003.

47. Phạm Minh Hạc, Phát triển giáo dục phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội, Nhà xuất bản KH - XH, Hà Nội 1996.

48. Đỗ Trọng Hùng, Tích cực giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo góp phần
thực hiện công bằng xã hội, tạp chí lịch sử Đảng, số 5, 1998.

49. Trần Đình Hoan, Lê Mạnh Khoa, sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở
Việt Nam, NXB sự thật, Hà Nội 1991.

50. Vũ Đình Hòe, Vấn đề vốn và nguồn nhân lực để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, thông tin lý luận 7 - 1994.

51. Nguyễn Khánh, Phát triển nguồn lực con người và thực hiện công bằng xã hội
(trình bày tại lớp nghiên cứu Nghị quyết đại hội VIII của Đảng ngày 10-9 và
19-09-1996).

52. Phan Văn Khải, Tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với các nhà khoa
học - công nghệ và các cơ quan Chính phủ để nâng cao hiệu quả và sức cạnh
tranh nền kinh tế, Báo nhân dân 11/1/1998.
53. Võ Đại Lược, chính sách phát triển CN của Việt Nam trong quá trình đổi mới, Nhà
xuất bản KH - XH, Hà Nội 1994.

54. Bùi Thị Ngọc Lan, Phát huy nội lực trí tuệ, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước, Tạp chí nghiên cứu lý luận số 6, 1998.

55. Trương Giang Long, Xem xét nhân tố lao động trong cấu trúc người lao động, tạp
chí cộng sản số 13 - 1997.

56. Hồ Chí Minh, Xây dựng con người mới, NXB Sự thật, Hà Nội 1995.

57. Đỗ Mười, Tăng cường xây dựng Nhà nước và đội ngũ cán bộ vững mạnh, thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Tạp chí cộng sản,
số 3 (7/1997).

58. Đỗ Mười, Dành ưu tiên cao nhất cho phát triển giáo dục, đào tạo và KH - CN, Tạp
chí công tác tư tưởng văn hóa, số 1 - 1997.

59. Phạm Xuân Nam (Chủ biên), Đổi mới chính sách xã hội luận cứ và giải pháp, NXB
Chính trị quốc gia - 1997.

60. GS Trần Nhâm (Chủ biên), Có một Việt Nam như thế - đổi mới và phát triển, NXB
chính trị quốc gia, Hà Nội 1997.

61. GS Trần Nhâm, Tìm hiểu chủ nghĩa duy vật lịch sử, NXB KH - XH, Hà Nội 1980.

62. Nguyễn Thế Nghĩa, Thanh Hóa với sự nghiệp CNH, HĐH, nhà xuất bản khoa học
xã hội, Hà Nội 1997.

63. Những thách thức phát triển ở Châu á - Thái Bình Dương, NXB Khoa học - xã hội,
Hà Nội 1995.

64. Nguyễn Đình Phan - Phạm Nghiêm ích, CNH, HĐH ở Việt Nam và các nước trong
khu vực, NXB thống kê, Hà Nội 1995.

65. Phan Thanh Phố - An Như Hải, Phát triển nguồn lực để CNH, HĐH đất nước, Tạp
chí kinh tế và phát triển, số 3 -1995.
66. Trần Hồng Quân, Kế hoạch phát triển GD - ĐT giai đoạn 1996 - 2000 và được
hướng đến năm 2020, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, diện đại hóa đất
nước, (Báo cáo tại lớp nghiên cứu nghị quyết Đại hội VIII - Tháng 9/1996).

67. Bùi Tất Thắng (Chủ biên), Các nhân tố ảnh hưởng tới sự chuyển dịch cơ cấu thành
phần kinh tế trong thời kỳ CNH, HĐH, NXB thống kê, Hà Nội 1997.

68. Nguyễn Thanh, Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 2005.

69. Vũ Bá Thế, Phát huy nguồn nhân lực con người, để công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhà xuất bản lao động - xã hội, 2005.

70. Tỉnh ủy tỉnh Thanh Hóa, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, NXB
Thanh Hóa 1/2001.

71. Tổng cục thống kê, Số liệu thống kê xã hội những năm đầu thế kỷ 21, Nhà xuất bản
thống kê, Hà Nội, 3/ 2004.

72. Trung tâm nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực, Từ chiến lược phát triển giáo dục
đến chính sách phát triển nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Giáo dục - 2002.

73. Trung tâm thông tin và tư vấn phát triển, Tổng quan quy hoạch phát triển kinh tế xã
hội Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2-2002.

74. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, viện triết học. Một số vấn đề về
triết học - con người - xã hội, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội 11-2002.

75. ủy ban Quốc gia dân số kế hoạch hóa gia đình và trung tâm nghiên cứu dân số
nguồn lao động, Bộ lao động thương binh xã hội, Một số vấn đề dân số, nguồn
nhân lực và việc làm ở Việt Nam, Hà Nội 1996.

76. ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Báo cáo tổng kết công tác đào tạo nghề năm học
2003 - 2004, nhiệm vụ năm học 2004 - 2005, Thanh Hóa, tháng 9 năm 2004.

77. ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, niên giám Thanh Hóa 2001 - 2004, Nhà xuất bản
thông tấn, 4-2005.
78. ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Quy hoạch phát triển sự nghiệp giáo dục và đào
tạo tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2001 - 2010, Thanh Hóa - tháng 8 năm 2002.

79. ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội tỉnh Thanh
Hóa thời kỳ 1996 - 2010, Thanh Hóa, tháng 8 năm 1995.

80. V.I. Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb tiến bộ, Maxcơva 1997.

81. Viện thống tin khoa học xã hội, CNH, HĐH những bài học thành công ở Đông á,
Xưởng in Viện thông tin KHXH, Hà Nội 1995.

82. Viện Khoa học Xã hội (1997), Triết học và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, Trung tâm Triết học tại thành phố Hồ Chí Minh.
Mục lục


Trang

1
Mở đầu

7
Chương 1: Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam

1.1. Quan điểm mácxít về nguồn nhân lực và chất l ượng nguồn 7
nhân lực

1.2. Vị trí, vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, 16
hiện đại hóa đất nước

27
Chương 2: Thực trạng vấn đề nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
tỉnh Thanh Hóa

2.1. Thực trạng nguồn nhân lực và vấn đề nâng cao chất lượng 27
nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Thanh Hóa

2.2. Đánh giá chung về việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 58
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa

76
Chương 3: P hương hư ớng và những giải pháp chủ yếu
nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh
Thanh Hóa

3.1. Phương hướng 76

3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất l ượng nguồn 92
nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa

119
Kết luận

122
danh mục Tài Liệu THAM Khảo

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản