LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:128

0
275
lượt xem
137
download

LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh thanh hóa', luận văn - báo cáo, thạc sĩ - tiến sĩ - cao học phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa

  1. LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa
  2. Mở đầu 1. Lý do chọn đề tài Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một tài nguyên, một nguồn lực. Bởi vậy, việc phát triển con người phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố chắc chắn nhất cho sự phồn vinh thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư vào con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững. Ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, nhiều nước đã tăng trưởng kinh tế thông qua quá trình công nghiệp hóa, hay nói cách khác là thông qua việc phát triển của khoa học - công nghệ gắn liền với việc phát triển nguồn nhân lực. Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh để đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định phải thông qua việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật - nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi nguồn lao động với chất lượng cao. Vận mệnh của đất nước, tương lai phát triển, khả năng đi lên của Việt Nam đều phụ thuộc vào chính bản thân con người Việt Nam. Vì vậy, để phát triển đất nước, chúng ta không thể không quan tâm đến việc phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề mà mỗi quốc gia đều phải quan tâm chăm sóc, bồi dưỡng, phát triển và tìm cách phát huy có hiệu quả trên con đường phát triển văn minh tiến bộ của mình. Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực nên Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: "Phát triển mạnh nguồn lực con người Việt Nam với yêu cầu ngày càng cao" nhằm bảo đảm nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [41, tr. 65].
  3. Cũng như cả nước, tỉnh Thanh Hóa chỉ có thể thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi phát huy được cao độ nguồn lực con người. Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XV (2001-2005) đã đề ra nhiệm vụ sau: "Phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực có chất lượng toàn diện, cả về sức khỏe thể chất, trình độ học vấn, nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, đời sống văn hóa tinh thần…" nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh nhà. Căn cứ vào nhiệm vụ trên tỉnh Thanh Hóa phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Thanh Hóa có thể trở thành một tỉnh có nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay không điều đó còn tùy thuộc vào việc xây dựng và thực hiện chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa vừa là vấn đề cấp thiết vừa căn bản và lâu dài đối với sự phát triển của tỉnh. Với ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề " Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa " làm đề tài luận văn thạc sĩ. 2. Tình hình nghiê n cứu Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển lịch sử, do đó vấn đề con người, đặc biệt là vấn đề nhân tố con người luôn luôn là đối tượng thu hút sự quan tâm của nhiều ngành khoa học. Thực tiễn ngày càng chứng minh, sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia phụ thuộc vào việc đầu tư khai thác, phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người. Từ những nghiên cứu chung về con người, các nhà khoa học Xô Viết trước đây đã đi sâu nghiên cứu về nhân tố con người và phát huy vai trò của nhân tố con người. Đã có nhiều đề tài và công trình của các nhà khoa học Xô viết đi sâu vào nghiên cứu mối quan hệ giữa nhân tố con người với các nhân tố kinh tế, vật chất kỹ thuật trong cấu trúc nền sản xuất xã hội. Công trình nghiên cứu của nữ viện sĩ Giaxlapxkai A về công bằng xã hội và nhân tố con người những năm 1986 - 1987 là một ví dụ tiêu biểu. Hội nghị khoa học giữa các nhà khoa học Xô viết và Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào năm
  4. 1988, đã tập trung trao đổi ý kiến và thảo luận xoay quanh chủ đề về nhân tố con người và phát triển kinh tế - xã hội. ở nước ta các nhà khoa học đã có những hoạt động sôi nổi về nghiên cứu vấn đề con người. Nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VIII, các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu về vấn đề nguồn lực con người, nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều bài viết đã thể hiện quan điểm coi con người là nguồn tài nguyên vô giá và sự cần thiết phải đầu tư vào việc bảo toàn, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên này, lấy đó làm đòn bẩy để phát triển kinh tế, để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những bài viết, những công trình khoa học đó được đăng trên các sách báo, tạp chí, đó là những bài viết về: "Xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hóa, tiếp tục thực hiện chiến lược xây dựng và phát triển nguồn lực con người Việt Nam" của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (đăng trên Tạp chí phát triển giáo dục 4/1998); "Tài nguyên con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của Nguyễn Quang Du (thông tin lý luận số 11/1994); "Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn (Triết học số 2 - 1994); "Nguồn lực con người, nhân tố quyết định của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Phạm Ngọc Anh (Nghiên cứu lý luận, số 2 - 1995); "Phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hóa đến năm 2010 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của TS Bùi Sĩ Lợi (Nhà xuất bản chính trị, quốc gia Hà Nội 2002); "Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Nguyễn Đình Hòa (tạp chí triết học số 1 - 2004); "Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm nước ta" (NXB chính trị quốc gia Hà Nội 1996); "Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa" (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996); "Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực" (NXB Giáo dục - 2002)… Đặc biệt là công trình khoa học cấp Nhà nước KX-05 "Nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI" (11/2003). Đề tài này có những công trình đáng chú ý như: "ảnh hưởng của tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ đến việc nghiên cứu và phát triển con người và nguồn nhân lực những năm đầu thế kỷ XXI" của TSKH Lương Việt Hải;
  5. "Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đầu thế kỷ XXI" của TS Nguyễn Hữu Dũng; "Một số những thay đổi của quản lý nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế trong cơ chế thị trường" của TS Vũ Hoàng Ngân… Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Hầu hết các đề tài đã tập trung nghiên cứu các phương diện khác nhau của sự phát triển con người Việt Nam và đề xuất những giải pháp để phát huy nguồn lực con người, từ giáo dục-đào tạo đến giải quyết việc làm, đổi mới cơ chế, chính sách nhằm phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực ở nước ta. Ngoài những công trình đó còn rất nhiều tác giả với những công trình nghiên cứu khác đã đề cập đến vấn đề nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau. Song những công trình đi sâu, phân tích nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa chưa được đề cập nhiều, đặc biệt là phân tích những điều kiện khả năng trong việc thực hiện nâng cao chất lượng, nguồn nhân lực ở Thanh Hóa. Qua luận văn này tác giả hi vọng đóng góp một cố gắng nhỏ bé, bước đầu của mình vào sự nghiên cứu, phát triển con người và nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa, cũng như cả nước. 3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài - Mục đích nghiên cứu: Xuất phát từ tính cấp bách của đề tài và lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi xác định mục đích của đề tài là: Trên cơ sở phân tích thực trạng của nguồn nhân lực Thanh Hóa hiện nay mà đề xuất một số giải pháp cấp bách nhằm xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa. - Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ quan điểm mácxít về vai trò của con người và nhân tố con người trong lực lượng sản xuất, quan niệm về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và vai trò của nó trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
  6. Đánh giá tình hình dân số, thực trạng nguồn nhân lực và việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Thanh Hóa. Từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về lực lượng lao động của Thanh Hóa; không những nghiên cứu về mặt số lượng mà còn tập trung nghiên cứu mặt chất lượng - yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. - Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các quan điểm khoa học hiện đại về nguồn nhân lực. - Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và lô gíc, quy nạp và diễn dịch, phân tích và tổng hợp. 6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn Góp phần hệ thống hóa những luận điểm nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và phương pháp luận về nhân tố con người và nguồn nhân lực. Làm rõ thực trạng nguồn nhân lực Thanh Hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  7. Làm rõ một số khía cạnh chủ yếu về xu hướng biến đổi của nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa. Đưa ra một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa. Góp phần nâng cao nhận thức về việc thực hiện nâng cao chất l ượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa. Đây là việc làm của tất cả các cấp, các ngành của mọi người, của tỉnh và của cả Trung ương. 7. ý nghĩa thực tiến của luận văn Góp phần đưa Nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống tại Thanh Hóa. Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy và học tập ở các trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp, các trung tâm đào tạo, đồng thời làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý cấp tỉnh, cấp huyện. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
  8. Chương 1 Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam 1.1. Quan điểm mácxít về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực 1.1.1. Từ quan điểm mácxít về con người đến nhân tố con người và nguồn nhân lực * Quan điểm về con người Các nhà khoa học và chính trị từ cổ chí kim, từ Đông đến Tây, trong suốt chiều dài của lịch sử luôn coi con người là vấn đề trung tâm của thế giới, là trung tâm chú ý của mọi thời đại. Song các nhà tư tưởng trước Mác đã giải thích con người một cách phiến diện, không coi con người là vị trí trung tâm của quá trình hình thành phát triển của nhân loại. Họ lý giải sai lầm về bản chất con người. Họ không thấy được bản chất con người là một bản chất xã hội, không thấy được con người là một thực thể tự nhiên - xã hội. Chỉ đến Mác và Ăng ghen thì việc nhận thức về con người mới có sự thay đổi về chất so với trước. Mác đã xuất phát từ phạm trù thực tiễn để lý giải bản chất của con người trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người và những quy luật chi phối quan hệ đó. Cống hiến quan trọng của Mác là đã vạch ra được những vai trò của các quan hệ xã hội trong những yếu tố cấu thành bản chất con người. Theo Mác "Bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng cố hữu của một cá nhân riêng biệt, trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội" [16 -11]. Bản chất con người là kết quả của sự tác động từ các nhân tố xã hội mà trước hết là của hoạt động lao động sản xuất vật chất của đấu tranh xã hội của con người. Thông qua quá trình này, con người cải tạo giới tự nhiên và xã hội, đồng thời cải tạo chính bản thân mình. Như vậy, khi tác động vào giới tự nhiên, cải tạo giới tự nhiên sáng tạo ra lịch sử, con người phát triển tư chất năng khiếu, tài năng, phẩm chất, ý chí… đó
  9. là điều kiện để mỗi cá nhân trở thành chủ thể của hoạt động sáng tạo, xây dựng thế giới mới. Họ là người sản xuất trực tiếp, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh của các quốc gia. Tóm lại, chủ nghĩa Mác quan niệm con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thấm nhuần một cách sâu sắc quan điểm của Mác - Ăngghen về con người, và đã có những kiến giải rất sâu sắc về vấn đề con người. Hồ Chí Minh không những nhận thức thấu đáo mà còn vận dụng và phát triển sáng tạo quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam. Trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc không tách rời nhau và đều nhằm mục đích đem lại tự do, hạnh phúc cho con người. Nhân tố quyết định cho sự nghiệp giải phóng con người không phải là ai khác chính lại là con người, quần chúng nhân dân, là lực lượng quý nhất, vĩ đại nhất, bởi vì "Võ luận việc gì cũng do con người làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều như thế cả" [56 -113]. Hồ Chí Minh luôn coi việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát triển con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của xã hội, là nhân tố quyết định sự thành công của cách mạng. Do đó, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến "sự nghiệp trồng người", "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người" tư tưởng chiến lược về con người của Hồ Chí Minh đã và đang được Đảng ta từng bước thực hiện. Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay từ khi mới ra đời tư tưởng giải phóng dân tộc của Đảng ta luôn gắn liền, hòa quyện với tư tưởng giải phóng con người. Thời kỳ đó, vấn đề con người được Đảng ta quan tâm trước hết là vấn đề giải phóng con người khỏi ách nô lệ. Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vấn đề con người là vấn đề được Đảng ta quan tâm hàng đầu. Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tư khóa VII đã khẳng định: "…Sự phát triển con người đã trở thành tiêu chí ngày càng quan trọng trong việc xếp hạng các nước trên thế giới"[15 - 6]. Phát triển con người, thực chất là mô hình
  10. con người phát triển toàn diện. Mục tiêu con người phát triển toàn diện - hài hòa không phải đến thời kỳ đổi mới mới được Đảng ta đặt ra, mà là mục tiêu xuyên suốt của Đảng cộng sản Việt Nam.Từ khi Đảng ra đời cho đến nay, cách nhìn toàn diện về phát triển con người của Đảng đã xây dựng nên quan điểm phù hợp với xu thế đi lên của thời đại: Con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội. Để con người thực sự trở thành động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội thì chúng ta phải phát huy được nhân tố con người. * Quan niệm về nhân tố con người Nói tới nhân tố con người là nói tới vai trò, vị trí của con người trong tổ chức quản lý xã hội thông qua hoạt động thực tiễn của nó trước hết là sản xuất vật chất. Nói tới nhân tố con người cũng có nghĩa nói đến tính chất, ý nghĩa của nó như là một động lực quan trọng nhất trong các nhân tố có quan hệ với phát triển. Nhân tố con người là một nhân tố xã hội, thể hiện sức mạnh tổng hợp của chủ thể người trong quan hệ với khách thể là xã hội mà hoạt động thực tiễn của nó đem lại sự phát triển tiến bộ cho xã hội. Vậy, nhân tố con người là toàn bộ những dấu hiệu riêng có, những yếu tố, những mặt nói lên vai trò của con người như là chủ thể hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nhân tố con người bao hàm toàn bộ tư chất, năng khiếu, tài năng, phẩm chất ý chí của con người để nó đóng được vai trò là chủ thể hoạt động sáng tạo xây dựng xã hội. Nhân tố con người bao gồm các nội dung sau: Thứ nhất, đó là một chỉnh thể các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng liên kết chặt chẽ với nhau, mà tác động qua lại và hoạt động của các giai tầng ấy bảo đảm cho sự phát triển tiến bộ của xã hội. Thứ hai, nhân tố con người được hiểu là những tiêu chí về số lượng, chất lượng, nói lên khả năng của con người, của cộng đồng người như là một tiềm năng cần bồi
  11. dưỡng, cần khai thác và phát huy. Đó là tiêu chí về số lượng lao động, tình hình sức khỏe, trình độ học vấn, nghề nghiệp chuyên môn. Thứ ba, đó là những tiêu chí về nhân cách, về chức năng xã hội của con người, những tiêu chí này nói lên mức độ, khả năng sáng tạo của cá nhân trong hệ thống các quan hệ xã hội, gồm các năng lực chuyên môn, kỹ thuật được đào tạo, lẫn thái độ lao động, ý thức xã hội chính trị và lập trường xã hội của giai cấp công nhân. Các nội dung trên của nhân tố con người có quan hệ biện chứng với nhau. Việc phát huy nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải tính đến đầy đủ những nội dung đó. Những sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xã hội trong thời gian qua, ở các mức độ khác nhau đều có nguyên nhân từ việc không tính đến một cách đầy đủ những nội dung của nhân tố con người. Do vậy, trên thực tế đã dẫn đến không phát huy được nguồn lực con người. Vì vậy, việc nhận thức một cách toàn diện những nội dung của nhân tố con người có liên quan trực tiếp đến việc xác định một tổng hợp những điều kiện, biện pháp thực tiễn mà quá trình quản lý kinh tế, xã hội phải thực hiện nhằm nâng cao và phát huy nhân tố con người. Phát huy nhân tố con người chính là quá trình đào tạo, bồi dưỡng làm tăng nhân tố con người về thể lực, trí lực, phẩm chất, đạo đức... Là quá trình khai thác yếu tố đó trong lao động, học tập, chiến đấu nhằm phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc. Nhân tố con người không khai thác không phát huy được là lãng phí lớn nhất. Vì vậy, trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, Đảng ta phải từng bước cụ thể hóa đường lối chính sách nhằm khơi dậy và phát huy nhân tố con người. * Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực hay còn gọi là nguồn lực con người, vốn người. Hiện nay có nhiều quan niệm về khái niệm nguồn nhân lực. Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động thương binh và xã hội: "Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia,
  12. suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội"[5-13]. Theo khái niệm này, nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội. Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thì nguồn nhân lực được hiểu là: - Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực (HumanRersources) là tổng thể các tiềm năng (lao động) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã được chuẩn bị ở mức độ nào đó khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể [72-22]. Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực như một bộ phận cấu thành các nguồn lực của quốc gia, như nguồn lực vật chất (trừ con người), nguồn tài chính, nguồn lực trí tuệ ("chất xám")… Những nguồn lực này có thể được huy động một cách tối ưu tạo thành động lực để phát triển kinh tế - xã hội, ta có thể biểu đạt như sau: Phát triển kinh tế xã hội Nguồn lực tài chính Nguồn lực vật chất Nguồn nhân lực
  13. Hình 1.1. Xuất phát từ khái niệm trên và qua hình 1 ta thấy nguồn lực phát triển là một hệ thống, mỗi một nhân tố trong hệ thống đó đều có vai trò riêng, trong đó nguồn lực con người nằm ở trung tâm hệ thống. Bởi vì, các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, khoa học công nghệ... mà không được con người phát hiện khai thác thì nó vẫn chỉ tồn tại ở dạng tiềm tàng mà thôi. Chính con người thông qua hoạt động của mình làm phát triển các nguồn lực khác, sử dụng nó để phát triển xã hội. Do đó, nguồn lực con người được coi là một thứ tài nguyên quý giá nhất, một nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn lực của mọi nguồn lực. Vì vậy, thực chất chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là chiến lược phát triển con người và vì con người. - Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) nghĩa là bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp [72-24]. Với khái niệm trên và căn cứ ở Việt Nam thì lực lượng lao động Việt Nam bao gồm: những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm; những người ngoài độ tuổi lao động thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp, nghĩa là không bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc. Bộ luật lao động nước ta quy định độ tuổi lao động là từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, và từ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ. Qua tiếp cận các khái niệm trên ta có thể hiểu nguồn nhân lực là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội v.v.. tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Khi chúng ta nói tới nguồn lực con người là ta nói tới con người với tư cách là chủ thể hoạt động sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã hội. Chúng ta cũng có thể hiểu đầy đủ hơn về nguồn nhân lực thông qua khái niệm phát triển nguồn nhân lực. Trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta, phát triển nguồn
  14. nhân lực được hiểu là gia tăng giá trị con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực... làm cho con người trở thành những lao động có những năng lực và phẩm chất mới ngày càng cao, để đủ sức đáp ứng những yêu cầu to lớn của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực còn bao hàm các mặt: giáo dục và đào tạo, việc làm, sử dụng lao động, chăm sóc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, xây dựng môi trường sống và lao động cho lực lượng lao động. Phát triển nguồn nhân lực còn là các hoạt động (đầu tư) nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời bảo đảm sự phát triển của mỗi cá nhân. 1.1.2. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái, thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực. Nói cách khác là trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội… của nguồn nhân lực, trong đó trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá phân loại chất lượng nguồn nhân lực [72 - 71]. Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách là một khách thể vật chất đặc biệt, đồng thời là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp những nét đặc trưng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển con người. Nói tới chất lượng nguồn nhân lực là nói tới nguồn lực con người, nguồn lực lao động, không chỉ được biểu thị về số lượng mà còn biểu thị về chất lượng, nó được thể hiện ở trình độ học vấn tay nghề, kỹ năng nghiệp vụ của người lao động, thể hiện người lao động đã được đào tạo, thể hiện ở sức khỏe của người lao động. Người lao động phải có sức khỏe tốt mới hoàn thành tốt công việc của mình được; không những thế người lao động còn phải có đạo đức, lối sống được thể hiện ra ở thái độ lao động, trách nhiệm trong công việc mình làm.
  15. Tóm lại, trong quá trình lao động sản xuất, nguồn lực lao động chất lượng cao đã đem lại hiệu quả sản xuất tốt, đem lại năng suất chất lượng thành phẩm cao. Thành quả lao động đó là sự kết tinh của sức lực và trình độ tay nghề của người lao động, mặt khác nó còn là sự kết tinh của lòng ham mê hăng say lao động, ý thức trách nhiệm của người lao động. TSKH Lương Việt Hải đã khẳng định: "Trong thời đại cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ thể lực là… một điều kiện tất yếu và tối cần thiết, là điều kiện cần của mọi quá trình lao động, nhưng nó không còn là điều kiện đủ. Trí tuệ, với năng lực tinh thần và những phẩm chất tâm lý đóng vai trò quan trọng và quyết định năng suất, hiệu quả và giá trị xã hội của lao động"[46 – 380]. Vì vậy, trình độ học vấn, tay nghề của người lao động là quan trọng, là quyết định; song cũng không thể thiếu được ý thức đạo đức và sức khỏe của người lao động. Có thể nói chất lượng nguồn nhân lực được kết hợp bởi 3 yếu tố: Thể lực, trí lực và đạo đức lối sống. + Thể lực: là trạng thái sức khỏe của con người biểu hiện ở sự phát triển sinh học, không có bệnh tật, có sức khỏe lao động trong hình thái lao động ngành nghề nào đó, có sức khỏe để học tập làm việc lâu dài... thể lực yếu sẽ hạn chế rất lớn đến sự phát triển trí lực của cá nhân và cộng đồng xã hội nói chung. + Trí lực: Là năng lực trí tuệ, tinh thần, là trình độ phát triển trí tuệ, là học vấn chuyên môn kỹ thuật, là kỹ năng nghiệp vụ, tay nghề. Nó quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người, nó càng có vai trò quyết định trong phát triển nguồn lực con người, đặc biệt trong thời đại ngày nay khi khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão. + Lối sống đạo đức: Là sự phản ánh những chuẩn mực đạo đức xã hội. Những giá trị từ chuẩn mực đó phản ánh bản chất của xã hội, lý tưởng đạo đức của xã hội vươn tới, nhất là trong hoạt động, trong lối sống, nếp sống hàng ngày. Lối sống đạo đức con người là sự thể hiện tính cách, tâm lý sự giác ngộ, các giá trị văn hóa được kết tinh trong người lao động. Đạo đức gắn liền với năng lực tạo nên những giá trị cơ bản của nhân cách chất lượng người lao động, từ phương diện cá nhân đến phương diện xã hội và biểu hiện ra ở ý thức lao động, thái độ lao động.
  16. Ngoài thể lực, trí lực, đạo đức lối sống, cái làm nên chất lượng nguồn nhân lực là kinh nghiệm sống, nhu cầu thói quen vận dụng tri thức tổng hợp và kinh nghiệm của mình vào các hoạt động sáng tạo, tạo ra các giải pháp mới đối với công việc như một sáng tạo văn hóa. Xét theo ý nghĩa đó, chất lượng nguồn nhân lực bao gồm trong đó toàn bộ sự phong phú, sâu sắc của các năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức và quản lý, tính tháo vát và sự uyển chuyển của những phản ứng của con người trước hoàn cảnh dựa trên sức mạnh của học vấn, kinh nghiệm, sự rộng mở các quan hệ xã hội, sự tiếp thu tinh tế các ảnh hưởng văn hóa truyền thống từ gia đình tới xã hội. Nó kết hợp với sức khỏe (thể lực) và dẫn dắt con người đi vào trường học thực tiễn của sáng tạo và phát triển. Nói cách khác chất lượng nguồn nhân lực là một tập hợp các chỉ số phát triển con người, là chất lượng văn hóa mà bản thân nó và xã hội có thể huy động vào sự sáng tạo tiếp theo các giá trị văn hóa của toàn xã hội, vì lợi ích của cá nhân và toàn xã hội. ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, nguồn lực con người đã được phát huy trên nhiều lĩnh vực, góp phần tạo nên nhiều thành tựu quan trọng, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ CNH, HĐH. Mặc dù nước ta đã thoát khỏi những khủng hoảng kinh tế xã hội, nhưng nhìn chung nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế còn thấp, kỹ thuật lạc hậu, đặc biệt nguồn nhân lực với tư cách là động lực của CNH, HĐH chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH. Số người được đào tạo và số người có tay nghề bậc cao còn thấp, số người có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên còn ít. Đó là một khó khăn lớn cho việc tiếp thu khoa học hiện đại, tiên tiến. Mặt khác sức khỏe của nhân dân còn nhiều mặt yếu kém. Nói tóm lại, bước vào sự CNH, HĐH ở nước ta nói chung và Thanh Hóa nói riêng, chỉ số phát triển con người chưa phù hợp với yêu cầu của CNH, HĐH. Vì vậy, cần phải phát triển nguồn nhân lực hơn nữa, phải tạo ra nguồn nhân lực với chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước. 1.2. Vị trí, vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
  17. 1.2.1. Nguồn nhân lực - nhân tố quyết định sự thắng lợi công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Theo quan điểm duy vật biện chứng về xã hội thì sản xuất vật chất là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội, trong quá trình sản xuất ấy thì lực lượng sản xuất là yếu tố quyết định. Quá trình sản xuất vật chất của nhân loại đã hình thành mối quan hệ tất yếu khách quan và phổ biến, đó là mối quan hệ giữa con người với tư cách là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với giới tự nhiên. Lực lượng sản xuất chính là biểu hiện quan hệ giữa con người với giới tự nhiên. Theo Mác lực lượng sản xuất là một thể thống nhất giữa "một bên là con người và lao động của con người; bên kia là tự nhiên và vật liệu của tự nhiên thế là đủ" [18-271]. Nhưng với tư cách là chủ thể của quá trình lao động, con người không thỏa mãn với những gì đã có sẵn trong tự nhiên mà con người kết hợp lao động của mình với những cái có sẵn tạo ra những cái không có sẵn trong tự nhiên nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình. Vậy, lao động là hoạt động có tính mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội. Theo Mác: "Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, quá trình đó bằng hoạt động của chính mình con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên " [19-20]. Nói đến sản xuất ra vật chất cho xã hội tồn tại và phát triển là phải nói đến hoạt động lao động của con người. Tức là nói đến người lao động; người lao động với sức khỏe, tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lao động, tiến hành lao động nhằm thực hiện những nhu cầu đáp ứng những lợi ích của mình trong những điều kiện kinh tế-lịch sử nhất định. Mác khẳng định: "Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người đã thay đổi phương thức sản xuất của mình và do thay đổi phương thức sản xuất, cách làm của mình, loài người đã thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình" [20 - 125]. Như vậy, loài người làm nên lịch sử xã hội của mình bằng chính sức lực của mình, bằng chính nguồn nhân lực. Lênin cũng đã đánh giá "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động" [80 - 430].
  18. Trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Đảng ta đã phân tích các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay và khẳng định: " Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thống yêu nước cần cù, sáng tạo... đó là nguồn lực quan trọng nhất" [81 - 5]. Đối với nước ta hiện nay, bước vào CNH, HĐH thì "Nguồn nhân lực" chính là "Nguồn lực con người". Chính vì nguồn lực con người là nội lực quan trọng nhất cho sự phát triển nên Đảng ta đã "lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững..." [40-85]. Việt Nam phát triển đất nước trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới. Vì vậy đòi hỏi Việt Nam phải tiến hành CNH, HĐH trong đó lấy việc phát triển con người làm trung tâm. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình phát triển kinh tế - xã hội từ thực trạng một nền sản xuất với năng suất chất lượng và hiệu quả thấp, dựa vào sản xuất nông nghiệp, sử dụng lao động thủ công là chủ yếu chuyển sang một nền sản xuất có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao dựa trên sản xuất công nghiệp và những thành tựu mới của khoa học - công nghệ. CNH, HĐH cũng chính là một quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, có giá trị tăng cao. Thực chất của CNH là sự phát triển công nghệ, là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ từ trình độ công nghệ thấp lên trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại. Trong giai đoạn hiện nay, CNH, HĐH còn bao gồm những yếu tố của nền kinh tế tri thức. Như vậy, thực chất CNH, HĐH chính là quá trình xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của nền sản xuất hiện đại, xây dựng cái cốt vật chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó, Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định CNH, HĐH: Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỉ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
  19. Công nghiệp hóa phải đi đôi với hiện đại hóa, kết hợp những bước tiến tuần tự về công nghệ với tranh thủ đi tắt, đón đầu, hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ thế giới [32-27]. Muốn đạt những yêu cầu trên chúng ta phải nỗ lực và sáng tạo rất cao, phải biết tiếp cận và vận dụng những thành tựu mới về khoa học và công nghệ của nhân loại, phải sử dụng và phát huy đến mức tối đa lợi thế vốn có của nguồn lực con người Việt Nam; và hơn nữa biến nguồn lực con người thành động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Chỉ có nguồn nhân lực với những con người có năng lực phát triển toàn diện, nắm bắt nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, đáp ứng được nhu cầu khai thác và sử dụng các nguồn lực tự nhiên cho sự phát triển xã hội, chúng ta mới có thể đưa sự nghiệp CNH, HĐH đến thắng lợi. Chính vì vậy, cần phải có nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng công cuộc CNH, HĐH đất nước. Để thực hiện CNH, HĐH đất nước cần thiết phải có một hệ thống nguồn lực. Trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Đảng ta đã đưa ra các nguồn lực như: Nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất -kỹ thuật, vị trí địa lý, nguồn nhân lực và nguồn lực nước ngoài… các nguồn lực này có quan hệ biện chứng và cùng tham gia vào quá trình CNH, HĐH, nhưng mỗi nguồn lực có vai trò vị trí và mức độ tác động riêng của chúng. Trong tổng thể các nguồn lực đó thì nguồn nhân lực có vị trí trung tâm và giữ vai trò quyết định sự thắng lợi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Ta có sơ đồ sau:
  20. Nguồn nhân lực Nguồn Nguồn tài lực nguyên nước thiên ngoài Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Các Nguồn nguồn cơ s ở lực vật khác: chất - kỹ Nguồn vốn Hình 1.2: Sơ đồ tổng thể các nguồn lực tác động đến quá trình

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản