LUẬN VĂN: Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh hà giang hiện nay

Chia sẻ: dellvietnam

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn dân công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; phát triển văn hoá; thực hiện tiến bộ công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh hà giang hiện nay

LUẬN VĂN:


Nâng cao trình độ lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
ở tỉnh hà giang hiện nay
Mở Đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Hơn 20 năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân,
công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to
lớn và có ý nghĩa lịch sử, đất nước ta đã có sự thay đổi đến cơ bản và toàn diện trên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đại hội lần thứ X của Đảng đã đề ra mục tiêu và
phương hướng tổng quát giai đoạn 2006 - 2010 là:
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, phát huy sức mạnh đoàn
kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn dân công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng
tốt nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; phát triển văn hoá;
thực hiện tiến bộ công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng và an ninh mở
rộng quan hệ đối ngoại; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định
chính trị - xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo
hướng hiện đại [20, tr.76].
Để thực hiện mục tiêu tổng quát của giai đoạn 2006 - 2010 cũng như mục tiêu
tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nói chung (xây dựng xong về
cơ bản những cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị và
tư tưởng văn hoá phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn
vinh), một trong những giải pháp quan trọng là nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, trình
độ lý luận cho đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt.
Thực tiễn cách mạng ở nước ta đã khẳng định, sau khi có đường lối đúng, nhân tố
quyết định sự thành công hay không thành công của sự nghiệp cách mạng phụ thuộc vào
vai trò, năng lực hoạt động lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực tiễn của đội ngũ cán bộ, đặc
biệt là đội ngũ cán bộ cán bộ chủ chốt - những người có vai trò trọng yếu trong các tổ
chức Đảng, Chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội Vì vậy, đội ngũ cán bộ này
phải là những người thật sự tiêu biểu, có lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị kiên
định; có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ học vấn, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ chính trị được giao. Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ và phức tạp, trong đó công tác giáo dục, bồi dưỡng cán
bộ đang đứng trước những thách thức mới, đó là:
Trong điều kiện cơ chế thị trường, kinh tế nhiều thành phần, mở cửa với
bên ngoài, cán bộ, đảng viên hàng ngày hàng giờ chịu sự tác động của nhiều
nhân tố rất phức tạp, kể cả những hoạt động chống phá Đảng, vấn đề giữ vững
bản chất giai cấp công nhân của Đảng đứng trước những thử thách mới [13,
tr.137].
Trên thực tế chất lượng, hiệu quả:
Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng,
đạo đức lối sống…chưa đúng mức, tính định hướng, tính chiến đấu, tính giáo
dục thuyết phục chưa cao… Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nhạt
phai lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu… Tình thương yêu đồng chí bị giảm
sút. Tình trạng suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ
phận cán bộ, đảng viên rất đáng lo ngại; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực còn xảy ra ở nhiều nơi, nhưng chậm được phát hiện, ngăn chặn, đẩy
lùi có hiệu quả… [19, tr 91- 92].
Vì vậy, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, và năng lực cho đội ngũ
cán bộ chủ chốt theo yêu cầu giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng là một việc
làm có ý nghĩa cấp thiết.
Trình độ lý luận chính trị của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở là một trong những
tiêu chuẩn cơ bản, có quan hệ mật thiết đến sự phát triển kinh tế, xã hội, an ninh chính trị
và trật tự an toàn xã hội ở địa phương, thúc đẩy sự phát triển chung cho cả tỉnh, vùng và
cả nước. Điều đó đòi hỏi ở người cán bộ chủ chốt cấp xã phải có một trình độ lý luận
chính trị nhất định. Cán bộ chủ chốt cấp xã có nắm vững, hiểu biết lý luận chính trị thì
mới nắm chắc các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước, từ đó mà vận dụng một cách sáng tạo vào tình cụ thể ở địa phương. Trình độ lý
luận chính trị còn giúp cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã có c ơ sở tổng kết một cách
có hiệu quả tình hình thực tiễn ở địa phương, qua đó rút ra những bài học kinh
nghiệm, những kết luận , góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung và phát triển lý luận,
đường lối, chính sách... của Đảng và Nhà nước. Do đó cán bộ chủ chốt nói chung và
cán bộ chủ chốt cấp xã nói riêng để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình thì cần phải có
trình độ, trong đó có trình độ lý luận chính trị.
Đứng trước yêu cầu và nhiệm vụ mới của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, đội ngũ lãnh đạo chủ chốt cấp xã, phường, thị trấn ở nước ta nói chung và ở tỉnh
Hà Giang nói riêng còn yếu và hạn chế nhiều mặt như: Bản lĩnh chính trị, trình độ nhận
thức chính trị, năng lực tổ chức quản lý, năng lực chỉ đạo hoạt động thực tiễn, phẩm chất
đạo đức cách mạng… Nhiều cán bộ được đề bạt, bổ sung vào những cương vị chủ chốt,
nhưng chưa qua đào tạo cơ bản về chuyên môn cũng như lý luận chính trị. Do đó, khi xử
lý công việc còn tuỳ tiện, kinh nghiệm, giáo điều, chưa vận dụng đúng với đường lối, chủ
trương, quan điểm của Đảng vào thực tiễn của địa phương, cơ sở. Để khắc phục tình
trạng trên cần phải giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, trong
đó vấn đề có ý nghĩ cấp bách là phải đổi mới, tăng cường hơn nữa công tác đào tạo nâng
cao trình độ lý luận chính trị nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách
mạng…cho họ trong quá trình chỉ đạo hoạt động thực tiễn ở địa phương. Chính vì vậy,
việc nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp cụ thể, thiết thực
nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã có ý nghĩa
hết sức quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn, nhằm góp phần đẩy nhanh quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Với những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Nõng cao trỡnh độ lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Hà Giang hiện nay”, làm đề tài luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ khoa học chính trị, chuyên ngành
Triết học.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay, vấn đề nâng cao trình độ lý luận chính trị được xác định là trọng tâm
trong công tác tư tưởng của Đảng. Đây cũng là vấn đề thu hút được sự quan tâm của rất
nhiều nhà nghiên cứu.
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đề
cập ở nhiều góc độ khác nhau với những hình thức thể hiện khác nhau được đăng tải trên
sách, báo, tạp chí cả Trung ương và địa phương, có nội dung liên quan đến đề tài này. Đó
là nguồn tư liệu quý báu giúp tác giả tham khảo, kế thừa trong quá trình nghiên cứu hoàn
thiện luận văn của
mình như:
"Quan hệ giữa lý luận và chính trị" của Nguyễn Thế Phấn, Tạp chí Cộng sản, số
8/1992; "Mấy vấn đề trong công tác lý luận" của Đỗ Nguyên Phương, Tạp chí Tư tưởng
văn hoá, số 7/1992; Hồ Bá Thâm “Phát triển năng lực tư duy của người lãnh đạo quản lý
hiện nay”, Tạp chí Cộng sản số 23/ 2002; Nguyễn Thái Sơn “Đổi mới công tác đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt” Nhà xuất bản Lý luận chính trị, 2001; Trần Thành
“Tư duy lý luận đối với người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn”, Nhà xuất bản Lý luận
chính trị, 2001; Ngô Ngọc Thắng “Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán
bộ cấp cơ sở trong thời kỳ đổi mới”, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, 2004;Luận văn thạc
sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1995, "Nâng cao trình độ tư
duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã miền núi hiện nay" của Đỗ Cao Quang;
Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1998; "Nâng
cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta hiện
nay" của Vũ Đình Chuyên; Luận văn thạc sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, năm 2001, “Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
cấp huyện ở tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay” của Nông Văn Tiềm; Luận văn thạc
sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2006, “Nâng cao trình độ lý
luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã miền Tây Nam Bộ hiện
nay” của Tô Hoàng Hiệp.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, đặt ra những vấn đề rất cơ bản cả về lý
luận lẫn thực tiễn, đề ra những phương hướng và giải pháp để nâng cao trình độ lý luận chính
trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cấp này, cấp khác. Tuy nhiên, do giới hạn về mục
tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nên cho tới nay chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách chi tiết, đầy đủ, có hệ thống và chuyên sâu về thực trạng cũng như nêu
ra những giải pháp để nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh
Hà Giang. Vì vậy, nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh
Hà Giang, từng bước góp phần khắc phục tình trạng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở
vừa thiếu lại vừa yếu như hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Luận văn làm rõ vai trò của lý luận chính trị và thực trạng trình độ lý luận chính trị
đối với hoạt động lãnh đạo, quản lí của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Hà Giang;
trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Hà Giang hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ
chủ yếu sau đây:
- Phân tích làm rõ bản chất, vai trò của lý luận chính trị đối với việc nâng cao tư
duy lý luận, năng lực, trình độ lãnh đạo, quản lý, cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã.
- Phân tích, đánh giá thực trạng, yêu cầu và nguyên nhân về trình độ lý luận chính
trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Hà Giang hiện nay.
- Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ
chủ chốt cấp xã ở tỉnh Hà Giang hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh danh Giang hiện nay bao gồm các chức danh: Bí thư, Phó bí
thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó chủ tịch Uỷ ban
nhân dân.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
- Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận
chính trị cho cán bộ.
- Các nghị quyết, chương trình hành động, quyết định, chỉ thị, báo cáo tổng kết của
tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang.
- Kế thừa, vận dụng, phát triển các công trình của các tác giả đi trước đã nghiên cứu
những nội dung liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, kết hợp sử dụng các phương pháp cụ thể như: Phân tích, tổng hợp, thống
kê, điều tra xã hội học...
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ vai trò, tầm quan trọng của lý luận chính trị đối với
cán bộ chủ chốt cấp xã và tính tất yếu phải nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp xã ở Hà Giang.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao trình độ lý luận chính trị cho
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Hà Giang qua nghiên cứu, đánh giá khái quát thực
trạng trình độ lý luận chính trị của cán bộ chủ chốt cấp xã ở Hà Giang.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Những giải pháp rút ra trong luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực
tiễn cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã của
tỉnh Hà Giang nói riêng, của các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung.
- Là tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý, giáo viên của Tr ường Chính trị trong
công tác đào tạo, bồi dưỡng, lý luận cho cán bộ, đảng viên.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2
chương, 4 tiết.
Chương 1
lý luận chính trị và vai trò của lý luận chính trị
đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã hiện nay


1.1. Lý luận chính trị và vai trò của lý luận chính trị
1.1.1. Bản chất của lý luận chính trị
Lịch sử xã hội loài người trước hết là lịch sử của thực tiễn cải tạo tự nhiên và xã
hội. Thực tiễn đã chứng minh rằng: khi xã hội phân chia thành giai cấp thì bất kỳ một giai
cấp, một chính đảng nào muốn giữ được địa vị thống trị xã hội thì trước hết phải nâng
cao trình độ trí tuệ, trình độ lý luận cho giai cấp mình.
V.I.Lênin đã chỉ rõ: không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách
mạng, chỉ có chính đảng nào có được lý luận tiên phong dẫn đường thì đảng đó mới hoàn
thành vai trò cách mạng tiền phong. Do đó, khi nói đến Đảng chính trị là đồng thời nói
đến hệ thống lý luận - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ấy.
Theo Từ điển tiếng Việt: “Lý luận là hệ thống những tư tưởng được khái quát từ
những kinh nghiệm thực tiễn, có tác dụng chỉ đạo thực tiễn. Lý luận là những kiến thức
được khái quát và hệ thống hoá trong một lĩnh vực nào đó” [38, tr.544-545].
Từ điển Triết học đã định nghĩa: “Lý luận là hệ thống những tri thức đã được khái
quát, tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và mối liên hệ cơ bản của hiện
thực” [50,tr.341].
Đọc diễn văn khai mạc tại lớp học lý luận khoá I Trường Nguyễn ái Quốc, ngày
7/9/1957, khi nói về lý luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lý luận là sự tổng kết
những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại
trong quá trình lịch sử” [36, tr.497].
Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về lý luận nhưng tất cả các định nghĩa
trên đều có điểm thống nhất ở chỗ: lý luận là sự khái quát những kinh nghiệm thực tiễn,
là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội được tích luỹ trong quá trình hoạt
động lịch sử của con người; phản ánh mối liên hệ bản chất, mang tính quy luật của sự vật,
hiện tượng trong một lĩnh vực nào đó của hiện thực khách quan và có vai trò hướng dẫn
hoạt động thực tiễn. Trong mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn thì thực tiễn chính là
yếu tố cơ sở, nền tảng, quyết định sự hình thành lý luận. Mỗi bước phát triển của hoạt
động thực tiễn lại làm nảy sinh yêu cầu mới đòi hỏi phải được nghiên cứu, khái quát và
do đó được bổ sung vào lý luận những nhận thức mới. Nhờ đó mà lý luận hoàn thiện và
phát triển hơn. Ngược lại, trong mỗi hoạt động thực tiễn, lý luận hướng dẫn, mở đường
cho thực tiễn phát triển bằng những tổng thể tri thức nhất định. Không có hoạt động thực
tiễn nào đơn thuần là kinh nghiệm cụ thể, cũng như không có hệ thống tri thức lý luận
nào không xuất phát từ sự tổng kết thực tiễn.
Quá trình nhận thức của con người có thể khái quát lại dưới hai cấp độ: tri thức
kinh nghiệm và tri thức lý luận. Tri thức kinh nghiệm là những tri thức do con người tiếp
nhận trực tiếp từ việc quan sát sự vật, hiện tượng cụ thể, khách quan; những tri thức này
còn mang tính rời rạc, bề ngoài, riêng lẻ, ngẫu nhiên chưa mang tính chặt chẽ, sâu sắc,
chưa đi sâu vào bản chất của sự vật hiện tượng. Do đó, phạm vi áp dụng cũng như tính
hướng dẫn, chỉ đạo của tri thức kinh nghiệm thường bị hạn chế trong phạm vi hẹp. Khẳng
định điều đó, Ph.Ăng ghen viết “Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ
có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” [30, tr.718]; cho nên, biện chứng của quá
trình nhận thức tất yếu vươn tới một tri thức sâu sắc hơn, bản chất hơn, đó là tri thức lý
luận.
Tri thức lý luận ở trình độ cao hơn so với tri thức kinh nghiệm. Bởi vì, tri thức lý
luận có được là dựa trên cơ sở khái quát từ những tri thức kinh nghiệm và được nâng nên
ở trình độ cao hơn, sâu sắc hơn về bản chất và quy luật của sự vật. Chính vì vậy, phạm vi
áp dụng cũng như tính hướng dẫn, cải tạo của tri thức lý luận rộng hơn so với tri thức
kinh nghiệm. Tri thức lý luận làm cho hoạt động của con người trở lên chủ động, tự giác
hơn, tránh được tình trạng mò mẫm, tự phát trong quá trình nhận thức, cũng như cải tạo
tự nhiên, cải tạo xã hội.
Mặc dù tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận có khác nhau về trình độ nhưng
giữa chúng lại có điểm chung là đều phản ánh hiện thực khách quan và có quan hệ chặt
chẽ với nhau. Kinh nghiệm thực tiễn có vai trò quan trọng đối với lý luận, là cơ sở để
tổng kết khái quát thành lý luận. Kinh nghiệm còn là căn cứ để con người xem xét, bổ
sung, sửa đổi và không ngừng phát triển lý luận; lý luận càng chính xác, khoa học hơn
nếu được xây dựng trên nhiều kinh nghiệm thực tiễn.
Tri thức lý luận được hình thành từ sự tổng kết, khái quát kinh nghiệm nhưng lại
phải thông qua sự trừu tượng hoá, khái quát hoá của tư duy; cho nên bản thân nó chứa
đựng khả năng thiếu chính xác hoặc xa rời thực tế.
Để tri thức ấy trở thành khoa học thì nó luôn luôn phải được kiểm nghiệm qua
thực tiễn nhằm bổ sung và hoàn thiện phù hợp với thực tiễn. Mặc dù lý luận có nguồn
gốc từ thực tiễn, nhưng sau khi ra đời nó có tính độc lập tương đối và tác động tích cực
trở lại thực tiễn; chỉ đạo, dự báo tương lai phát triển của sự vật, định hướng hoạt động
thực tiễn của con người để đạt hiệu quả cao nhất.
Như vậy, tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận là hai cấp độ khác nhau trong quá
trình nhận thức của con người, trong đó tri thức kinh nghiệm là căn cứ, là cơ sở để hình
thành và phát triển của tri thức lý luận. Do đó, nếu tri thức kinh nghiệm càng được tích
luỹ nhiều thì càng có cơ sở vững chắc, độ tin cậy càng cao cho sự khái quát về lý luận và
lý luận chỉ thực sự là lý luận khoa học khi nó được khái quát từ những kinh nghiệm của
thực tiễn.
Vì vậy, lý luận được hiểu theo nghĩa chung nhất là hệ thống những tri thức được khái
quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, tính
quy luật của sự vật hiện tượng trong thế giới hiện thực.
Trên thực tế, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực khoa học cụ thể, khác nhau đều có lý luận
riêng và mỗi ngành, mỗi lĩnh vực hoạt động cụ thể muốn phát triển được đều phải bắt đầu
bằng việc phát triển lý luận. Trong quá trình nghiên cứu của đề tài, tác giả luận văn tập
trung nghiên cứu vấn đề lý luận chính trị. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: chính
trị là một hiện tượng lịch sử xuất hiện và tồn tại khi xã hội phân chia giai cấp và hình thành nhà
nước.
Chính trị giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Chính trị là lĩnh
vực hoạt động phức tạp, luôn thu hút các nhà tư tưởng đi vào sâu nghiên cứu, khám phá,
cố gắng làm sáng tỏ bản chất đầy bí ẩn của chính trị.
Chính trị, theo tiếng Hylạp là “politics” có nghĩa là những công việc liên quan đến
thành bang, những công việc quốc gia. Trong đó việc cốt lõi nhất, quan trọng nhất, thực
chất nhất là tổ chức ra cơ quan cai trị (chính phủ) và sau này, từ thế kỷ XVI trở đi gọi là
nhà nước [4, tr.7].
Trong sự phát triển của lịch sử xã hội loài người từ thời kỳ cổ đại, trung đại và cận
đại các nhà tư tưởng phương Tây cũng như phương Đông đã cố gắng đi tìm một hình
thức nhà nước phù hợp để cai trị đất nước có hiệu quả nhất, hợp lý nhất. Do đó, “chính trị
theo nguyên nghĩa của nó là những công việc của nhà nước là phạm vi hoạt động gắn với
những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn
đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước” [1,tr.570]. Hơn nữa, chính trị là mối quan
hệ giữa các giai cấp là đấu tranh giai cấp trong giành, giữ, thực thi quyền lực nhà nước và
suy cho cùng là vấn đề lợi ích kinh tế. V.I.Lênin nêu ra một số nguyên tắc cơ bản trong
chính trị mà người cộng sản phải quán triệt, và đó cũng là bản chất của chính trị: “Chính
trị là biểu hiện tập trung của kinh tế” có nghĩa là: các tổ chức chính trị, các hình thức nhà
nước thay đổi và phát triển dựa trên cơ sở kinh tế của xã hội. Nhưng điều đó không có
nghĩa chính trị là biểu hiện thụ động của kinh tế. Những quan hệ chính trị, những vấn đề
chính trị có ảnh hưởng trở lại mạnh mẽ đối với kinh tế hoặc là thúc đẩy hoặc là cản trở sự
phát triển kinh tế. Chính trị biểu hiện bởi các tri thức được tích luỹ trong quá trình lịch sử
và những quan hệ kinh tế gắn với con người, với giai cấp, với dân tộc và với thời đại.
Theo V.I.Lênin, “chính trị có tính lôgíc khách quan của nó, không phụ thuộc vào
những dự tính cá nhân này hay cá nhân khác, của đảng này hay đảng khác” [24, tr.246].
Chính trị thuộc kiến trúc thượng tầng, nó luôn tồn tại và gắn liền với điều kiện lịch sử cụ
thể, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của một cá nhân hay giai cấp, chính đảng nào.
Và với tư cách là một thiết chế xã hội, chính trị luôn luôn tìm cách dẫn dắt xã hội theo tư
tưởng của giai cấp nắm quyền thống trị xã hội.
Như vậy, tuỳ theo cách tiếp cận mà có những quan niệm khác nhau về chính trị,
song theo nghĩa chung nhất: Chính trị là những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước
hoặc những hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm duy trì quyền điều hành nhà nước.
Từ góc độ tiếp cận khái niệm lý luận, khái niệm chính trị như đã trình bày ở trên,
có thể đưa ra một quan niệm về lý luận chính trị như sau: Lý luận chính trị là hệ thống
các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của một chính đảng, một giai cấp nhằm
giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước. Như vậy lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin là
lý luận chính trị của giai cấp vô sản, là hệ tư tưởng chân chính nhất chắc chắn nhất, khoa
học nhất của giai cấp vô sản và chính đảng của nó - Đảng cộng sản.
Đối với Đảng ta, lý luận chính trị đó là lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về sở hữu các thành phần
kinh tế, về đấu tranh giai cấp, về xây dựng Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân…
Đảng cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của mình. Điều đó đã được Đảng ta
khẳng định rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội được thông qua tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, năm 1991: “Đảng lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành
động” [9,tr.21].
Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết về những quy luật chung nhất của sự phát
triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy con người, là lý luận cách mạng của quần chúng lao
động trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình ra khỏi ách áp bức bóc lột, là khoa học về xây
dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những
vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Đó là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa của nhân loại, là tiêu biểu
của sự kết hợp giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, là
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội…
Thực tiễn qua hơn 20 năm đổi mới, Đảng ta luôn luôn kiên trì lấy chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động
của mình đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đất nước ta ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội và đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; kinh tế
tăng trưởng khá nhanh, bước đầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa; đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể; khối đại đoàn kết toàn dân tộc do Đảng
lãnh đạo được củng cố và tăng cường; sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng lên
nhiều; vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao… Những thành
tựu to lớn đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, là sáng tạo, con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Hiện nay, trong và
ngoài nước đã và đang xuất hiện tư tưởng phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, tư tưởng dao động, hoài nghi, đòi xem xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin và con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta gây ra sự lo lắng, xáo trộn về mặt tư tưởng trong
cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; Thấm nhuần sâu sắc bản chất cách mạng và
khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong quá trình đổi mới, Đảng kiên trì lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, làm cơ sở lý luận và phương
pháp luận trong quá trình phân tích tình hình, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự
thật, lấy đó làm cơ sở xuất phát để hoạch định và hoàn thiện đường lối đổi mới. Đảng
luôn khẳng định vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong
toàn bộ sự nghiệp của cách mạng Việt Nam đó là:
ở những bước ngoặt của cách mạng, trước những diễn biến phức tạp của
tình hình, Đảng ta kịp thời có định hướng tư tưởng chính trị đúng đắn, uốn nắn
nhận thức lệch lạc, chống những luận điều thù địch, tạo cơ sở cho sự thống
nhất tư tưởng trong toàn Đảng và trong nhân dân [14, tr.136].
Đây cũng là những định hướng chính trị quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và
phát triển đất nước, là điều kiện tiên quyết để chúng ta giành được những thắng lợi to lớn
trong những năm thực hiện công cuộc đổi mới và cũng là tiền đề quan trọng để đưa nước
ta đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Đảng và nhân dân ta
quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh [18, tr.83].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X một lần nữa tiếp tục khẳng định:
Trước những khó khăn, thử thách lớn ở trong nước, những biến động bất
lợi trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trước sự chống phá của
các thế lực thù địch. Đảng ta giữ vững bản chất cách mạng của giai cấp công
nhân, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới; tiếp tục nâng cao năng
lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng [20,tr.260].
Xuất phát từ những quan đi ểm đó, Đảng ta luôn nhấn mạnh việc học tập,
n ghiên c ứu, rèn luyện và vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm giải quyết những vấn đề
bức xúc do th ực tiễn đất n ước và thời đại đ ặt ra. Tại Đại hội IX, Đảng đã quy định:
“Toàn Đảng nghiêm túc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”
[18,tr.139]. Đ ến Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định việc học tập, nắm vững, vận
dụng sáng tạo ch ủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh : “Đảng phải nắm
vững, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin , tư tưởng Hồ Chí
Minh” [20,tr.282].
Như vậy, do việc nắm vững lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, cho nên từ tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đến nay, Đảng ta nghiên cứu,
khảo nghiệm và xây dựng nên bước đầu đã hình thành được trên những nét cơ bản một hệ
thống quan điểm lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam làm cơ sở khoa học cho đường lối của Đảng, góp phần bổ sung và phát triển quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Do vậy, Đảng ta luôn đưa ra
những quan điểm, chủ trương, đường lối phát triển đất nước một cách đúng đắn, những
chính sách hợp lòng dân, đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng về kinh tế - xã
hội và đang từng bước đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Với quan niệm như trên, lý luận chính trị có những đặc trưng chủ yếu sau:
Một là, tính trừu tượng hoá và tính khái quát hoá cao
Đây là đặc trưng cơ bản của lý luận nói chung và lý luận chính trị nói riêng. Khi
đề cập đến lý luận là chúng ta liên tưởng ngay đến tính trừu tượng và tình khái quát của
nó. Tư duy là vấn đề cốt lõi của lý luận nhận thức, nếu như không có quá trình tư duy thì
nhận thức của con người sẽ mãi mãi chỉ dừng lại ở nhận thức cảm tính, mặt bề ngoài của
đối tượng, không thể hiểu được bản chất, tính quy luật của sự vận động và phát triển của
sự vật, hiện tượng nói chung. Trong quá trình nhận thức, tư duy của con người luôn diễn
ra quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá những tri thức thu được về thế giới, những quy
luật vận động và phát triển của các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội.
Trừu tượng hoá, khái quát hoá là hai quá trình có mối liên hệ chặt chẽ với nhau
không thể tách rời, chúng xâm nhập lẫn nhau, bổ sung cho nhau. Nhờ đó mà con người
có được những tri thức về các mối liên hệ bản chất, tính quy luật trong sự vận động, phát
triển sự vật.
Các hình thức thể hiện lý luận nói chung, lý luận chính trị nói riêng như khái
niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật… đều là kết quả của quá trình trừu tượng hoá, khái
quát hoá cao của tư duy con người trong quá trình nhận thức thế giới và chúng được biểu
đạt bằng những khía cạnh, những yếu tố khác nhau nhưng chúng lại có quan hệ chặt chẽ
với nhau, bổ sung, hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Nhờ đặc trưng của trừu tượng hoá, khái quát hoá cho nên lý luận nói chung và lý
luận chính trị nói riêng đã đem lại cho con người sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính
quy luật, các mối liên hệ… trong sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng, nó giúp
con người không ngừng tìm tòi, khám phá, sáng tạo ra những cái mới đáp ứng nhu cầu
thực tiễn đặt ra.
Hai là, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Đây là một trong những nguyên tắc c ơ bản của lý luận khoa học nói chung và
của chủ nghĩa Mác - Lênin nói riêng. Theo quan đi ểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, lý
luận thuộc về lĩnh vực hoạt động tinh thần, còn thực tiễn thuộc về hoạt động vật chất.
Trong quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vật chất quyết định ý thức, hoạt động vật
chất quyết định đối với hoạt động tinh thần. V.I.Lênin khẳng định: “Thực tiễn cao hơn
nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà cả của tính
hiện thực trực tiếp” [26,tr.230].
Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn. Thực tiễn luôn luôn vận động và phát triển buộc lý
luận phản ánh đời sống thực tiễn cũng phải không ngừng được bổ sung, phát triển, đồng
thời phải thường xuyên tổng kết thực tiễn nhằm làm cho tri thức lý luận ngày càng phản
ánh chính xác hơn, sâu sắc hơn, phong phú hơn đời sống thực tiễn. Tuy nhiên, lý luận cũng
đóng vai trò tác động trở lại tích cực đối với thực tiễn; đặc biệt là lý luận cách mạng trong
cách mạng chủ nghĩa xã hội: “Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách
mạng” [25,tr.30]. Lý luận chính là kết quả nhận thức của con người, nó có vai trò chỉ đạo,
hướng dẫn thực tiễn. Do đó nếu không có nhận thức đúng thì cũng không thể có hành động
đúng. Nhờ có lý luận, hoạt động của con người trở nên tự giác, tích cực, chủ động và tránh
được tình trạng mò mẫm, tự phát.
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động, bổ sung cho nhau,
là điều kiện, tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của nhau; diễn văn khai mạc lớp học lý
luận khoá I Trường Nguyễn ái Quốc ngày 7/9/1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng; lý luận mà
không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [35, tr.496]. Như vậy, lý luận cách mạng có
vai trò to lớn trong việc nâng cao trình độ tư tưởng, lý luận cho cán bộ, đảng viên và toàn
thể nhân dân, thúc đẩy cách mạng tiến lên. Người cũng thường xuyên nhắc nhở cán bộ,
đảng viên không ngừng học tập lý luận cách mạng và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn.
Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh, nhờ nắm vững những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam,
nên Đảng ta đã lãnh đạo cách mạng vượt qua mọi khó khăn thử thách, giành được nhiều
thắng lợi. Vì thế, Đảng và Bác Hồ luôn coi trọng việc bồi dưỡng, giáo dục lý luận chính
trị, coi đó là yêu cầu cơ bản, không thể thiếu trong công tác xây dựng Đảng. Trong giai
đoạn hiện nay, việc thường xuyên tổng kết thực tiễn luôn là một đòi hỏi tất yếu đồng thời
là yêu cầu quan trọng để tiếp tục nâng cao trình độ tư duy lý luận của của Đảng:
Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hoạt động của Đảng, thường xuyên
tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn
đề do cuộc sống đặt ra [20,tr.131].
Tổng kết thực tiễn sau 20 năm đổi mới, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng
trong việc kiên định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và vận dụng một cách sáng tạo vào điều
kiện cụ thể của Việt Nam đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng về kinh tế xã hội, kinh tế
tăng trưởng nhanh, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, đời sống của các tầng lớp
nhân dân không ngừng được cải thiện.
Ba là, sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học.
Nói tới tính đảng là nói tới tính giai cấp, còn tính khoa học là sự phản ánh đúng
thực tế khách quan, tôn trọng hiện thực, khách quan. Lý luận nói chung và lý luận Mác -
Lênin nói riêng là nhằm bảo vệ lợi ích của một giai cấp trong một chế độ xã hội nhất
định. Do đó, lý luận chính trị của giai cấp cách mạng, giai cấp tiên tiến, giai cấp đại biểu
cho sự tiến bộ của lịch sử luôn có khả năng đảm bảo sự thống nhất giữa tính đảng và tính
khoa học.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống tư tưởng của giai cấp vô sản, giai cấp đại biểu
cho sự tiến bộ của thời đại, giai cấp mà lợi ích của nó phù hợp với lợi ích của quần chúng
nhân dân lao động, nó phản ánh khách quan nhu cầu và lợi ích của giai cấp công nhân và
nhân dân lao động, cho nên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đảm bảo sự thống nhất giữa
tính đảng và tính khoa học.
Trong lý luận chính trị, tính đảng và tính khoa học có mối quan hệ biện chứng với
nhau, vì thế tính đảng càng cao thì tính khoa học càng thêm sâu sắc, tính đảng và tính
khoa học là điều kiện, tiền đề tồn tại, phụ thuộc lẫn nhau, không thể xem nhẹ, hoặc loại
bỏ cái nào được. Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Khoa học càng được tiến hành một cách
dũng cảm vô tư thì nó càng phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của giai cấp công nhân”
[31,tr.451].
Lý luận chính trị không có mục đích nào khác ngoài mục đích thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ cách mạng của một đảng cách mạng, cho nên nhiệm vụ quan trọng của nó là
định hướng cho con người nhận thức và hành động để cải tạo thế giới. Khi đó tính khoa
học là tiền đề, là cơ sở và tính đảng giữ vai trò định hướng cách mạng để loại trừ cái cũ,
cái lỗi thời lạc hậu, xây dựng cái mới tiến bộ, hợp quy luật.
Lý luận chính trị của Đảng cộng sản Việt Nam được xây dựng trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn liền với tổng kết thực tiễn, có vai trò to
lớn trong việc cung cấp những luận cứ khoa học nhằm xây dựng, bổ sung và phát triển
đường lối đổi mới và thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra.
Tính đảng đòi hỏi việc nghiên cứu lý luận chính trị phải xuất phát từ tình hình cụ
thể của đất nước, đưa ra những dự báo khoa học về sự phát triển trên cơ sở đó đề ra
được những giải pháp khoa học, đúng đắn để giải quyết kịp thời, bổ sung những vấn đề
mới làm cho chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước càng hoàn thiện hơn, sát
với thực tiễn cuộc sống. Muốn vậy thì Đảng phải luôn luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn
Đảng và đồng thời không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ, chuyên môn, nghiệp vụ, trình
độ lý luận chính trị cho cán bộ đảng viên. V.I.Lênin đã khẳng định: “Chỉ Đảng nào có
một lý luận tiên hong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên
phong” [25,tr.32].
Như vậy, với ý nghĩa là lý luận tiên phong - lý luận chính trị giúp cho Đảng cộng
sản hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, nhất là trong giai đoạn hiện nay, giai cấp công
nhân cùng với đảng tiên phong của mình phải kiên định giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa. Để làm tròn vai trò lãnh đạo của mình, Đảng không ngừng bổ sung, phát triển lý
luận chính trị để không ngừng hoàn thiện và đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của xã
hội.

1.1.2. Vai trò lý luận chính trị trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước
Đảng ta đã và đang lãnh đạo toàn dân thực hiện sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” từ một đất
nước có điểm xuất phát thấp, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá
nặng nề. Do đó, ngay từ đầu, Đảng ta đã xác định rõ công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa
không thể tách rời việc thực hiện các cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất, cách
mạng tư tưởng-văn hoá, cách mạng khoa học kỹ thuật … Công nghiệp hoá xã hội chủ
nghĩa tạo tiền để giải quyết các nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì
vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngoài việc đòi hỏi một lượng vốn rất lớn, nó còn đòi
hỏi phải có một nguồn nhân lực tương ứng cả về số lượng, đặc biệt là về chất lượng.
Nước ta có tỷ trọng dân số và lao động trong công nghiệp, nông thôn khá lớn, trình độ
của lực lượng lao động ở nước ta phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước còn hạn chế, do vậy vai trò của lý luận chính trị là hệ thống các quan điểm, chủ
trương, đường lối, chính sách… không chỉ là động lực thúc đẩy trang bị về trình độ
chuyên môn mà còn nâng cao trình độ về lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân
dân để hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng, đảm nhiệm được trọng trách của mình
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Như vậy, lý luận chính trị của nước ta là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối,chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật
của nhà nước. Đảng ta đã khẳng định: sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp
của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Vì lẽ đó, để thực hiện mục tiêu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, Đảng ta đã xác định rõ:
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng và an ninh vững chắc,
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ
bản trở thành một nước công nghiệp [14,tr.18-19].
Do đó, đòi hỏi trước tiên ở người cán bộ phải có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất,
đạo đức, có tri thức khoa học, nắm bắt được quy luật vận động và phát triển của xã hội,
qua đó vận dụng vào hoạt động thực tiễn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Xây dựng chủ nghĩa xã hội thì trước hết phải có con người xã hội chủ
nghĩa mà con người đó phải có trí tuệ, phát triển toàn diện, có ý chí, nghị lực, vượt qua
những khó khăn thử thách.
Nhiệm vụ quan trọng của lý luận chính trị là phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng,
nâng cao hiểu biết và trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên. Mặt khác, trình độ lý luận
của Đảng ta còn nhiều bất cập thể hiện ở chỗ là nhiều vấn đề thực tiễn cuộc sống đặt ra
mà lý luận chưa kịp thời tổng quát và trả lời, chưa thực sự thể hiện rõ vai trò chỉ đạo hoạt
động thực tiễn. Sự bất cập về trình độ lý luận của Đảng ta còn biểu hiện nhiều vấn đề
thực tiễn chưa tổng kết kịp thời để rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm chỉ đạo thực
tiễn tiếp theo.
Đại hội VIII của Đảng đặt ra yêu cầu:
Mọi cán bộ đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt phải có kế
hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị. Học tập là
nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quy định thành
chế độ. Lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những
thông tin mới, những hiểu biết mới cũng là biểu hiện của sự thoái hoá [14,
tr.140].
Thực tế hiện nay, trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ đảng viên của nước
ta vẫn còn nhiều hạn chế, biểu hiện rõ ở một số cán bộ còn mang nặng lối t ư duy siêu
hình, còn có những biểu hiện của bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều… Một số cán bộ,
đảng viên hiện nay còn hạn chế về trình độ lý luận chính trị nên chưa vận dụng lý luận
vào giải quyết vấn đề thực tiến một cách có hiệu quả. Do vậy, trong hoạt động thực tiễn
họ vẫn còn mò mẫm. Vậy sự bất cập về trình độ lý luận chính trị hiện nay của cán bộ
đảng viên ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Mặc dù trong thời gian qua, Đảng ta tích cực nghiên cứu, tìm tòi, bổ sung, phát
triển hệ thống lý luận của Đảng, từng bước làm sáng tỏ hơn con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta. Tuy nhiên, lý luận vẫn chưa đi sâu, đi sát thực tiễn cuộc sống. Do đó,
nhiệm vụ hàng đầu và trọng tâm của công tác lý luận là nghiên cứu và tổng kết thực tiễn
nhận thức rõ hơn, đúng hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Điều này đã được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định:
Công tác lý luận chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn và yêu cầu của
cách mạng, chưa làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới
để phục vụ việc hoạch định chiến lược, chủ trương, chính sách của Đảng, tăng
cường sự nhất trí về chính trị, tư tưởng trong xã hội [18,tr.78].
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Công tác lý
luận chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề quan trọng trong công cuộc đổi mới” [20,
tr.65].
Lý luận với vai trò tiên phong, hướng dẫn, cho nên lý luận không thể chậm trễ, lạc
hậu mà phải đi trước. Lý luận càng sáng tỏ, càng nhận rõ quy luật vận động khách quan
của lịch sử , nhất là trong sự nghiệp xây dựng sáng tạo xã hội mới - xã hội chủ nghĩa thì
hoạt động thực tiễn mới thực sự trở thành tự giác. Công tác lý luận càng phải khẳng định
và làm rõ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm rõ những vấn đề cần
nhận thức cho đúng, những kinh nghiệm thực tiễn mới và những thành tựu khoa học hiện
đại. Nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời chú
trọng nghiên cứu những tinh hoa trí tuệ của dân tộc.
Thực tiễn ở nước ta trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, bên cạnh mặt tích cực, mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường đã làm nảy
sinh những vấn đề chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, cơ hội chủ nghĩa, suy thoái
về chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống … ở một bộ phận cán bộ đảng viên, đó là những
biểu hiện non kém về bản lĩnh chính trị. Cho nên để khắc phục những tiêu cực đó thì rèn
luyện bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị của nước
ta hiện nay là một vấn đề vừa cấp bách vừa lâu dài. Nhưng bản lĩnh chính trị không phải
là cái “tiên thiên” có sẵn trong từng cán bộ, đảng viên mà phải thông qua việc giáo dục,
rèn luyện của một giai cấp, một chính đảng và hoạt động của bản thân cán bộ. Vì thế, để
nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên thì phải giáo dục, bồi dưỡng,
nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.
Tóm lại, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước thì yêu
cầu Đảng phải vững vàng về tư tưởng chính trị, thống nhất về nhận thức ý chí và hành
động mới có thể đưa đất nước nhanh chóng đi lên chủ nghĩa xã hội, vai trò của lý luận
chính trị sẽ giúp cho cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân đoàn kết nhất trí cao với
những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tạo cho lý
luận có điều kiện thuận lợi để đi vào cuộc sống.

1.2. Lý luận chính trị với hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã
1.2.1. Hoạt động lãnh đạo, quản lí của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Hoạt động lãnh đạo, quản lý là một khái niệm chung. Thực tiễn hoạt động lãnh
đạo, quản lý đã xuất hiện từ thời cộng sản nguyên thuỷ. Thời kỳ này, hoạt động lãnh đạo,
quản lý tồn tại dưới nhiều hình thức như tộc trưởng - người đứng đầu thị tộc, quản lý điều
hành mọi thành viên trong thị tộc. Tiếp đến là bộ tộc, tộc trưởng là người trực tiếp quản
lý, điều hành mọi hoạt động của bộ tộc mình.
Tuy nhiên, khái niệm lãnh đạo, quản lý mang đầy đủ ý nghĩa của nó là khi xã hội
có giai cấp và nhà nước. Đây là khái niệm gồm hai từ ghép: lãnh đạo và quản lý, giữa
chúng có một đặc trưng chung, đó là chủ thể lãnh đạo, chủ thể quản lý tác động đến
khách thể, đối tượng bị lãnh đạo, bị quản lý.
Hoạt động lãnh đạo, quản lý là nhu cầu khách quan, hình thành trong xã hội loài
người. Mỗi chế độ xã hội sẽ sản sinh ra một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và có
những đòi hỏi về trình độ, năng lực và phẩm chất nhất định. Do đó, hoạt động lãnh đạo,
quản lý là sự tác động có định hướng, sự điều hành, điều chỉnh hoạt động của con người
nhằm vươn tới mục tiêu nhất định, trong đó:
Hoạt động lãnh đạo là hoạt động tác động điều khiển mang tính chất định hướng
của chủ thể lãnh đạo đến đối tượng bằng các phương pháp: động viên, giáo dục, chỉ đạo,
thuyết phục… nhằm đạt được mục đích đề ra. Theo từ điển tiếng Việt thì lãnh đạo là: “Đề
ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện” [38,tr.524].
Hoạt động quản lý là quá trình điều khiển trực tiếp thông qua sự xắp sếp, tổ chức,
chỉ huy của chủ thể quản lý đối với hoạt động của từng đối tượng theo những yêu cầu
nhất định. Theo từ điển tiếng Việt thì quản lý là: “Tổ chức và điều khiển hoạt động theo
những yêu cầu nhất định” [38, tr.772].
Hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý có đặc điểm chung giống nhau, đều là sự
tác động của chủ thể, những người có quyền uy đối với đối tượng là những người dưới
quyền để thực hiện một nhiệm vụ nào đó theo những yêu cầu, mục tiêu đã định.
Tuy nhiên, giữa hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý cũng có sự khác nhau
nhất định như:
+ Về mục tiêu: hoạt động lãnh đạo là định hướng chung, còn hoạt động quản lý là
tổ chức xắp sếp các vấn đề theo một trật tự nhất định để thực hiện có hiệu quả cao nhất
các quyết định của lãnh đạo.
+ Về nội dung: hoạt động lãnh đạo đề ra chủ trương, đường lối chung, phương
pháp triển khai, biện pháp thực hiện. Còn hoạt động quản lý là xây dựng các phương án,
chỉ tiêu, kế hoạch cụ thể, tổ chức lực lượng để thực thi nhiệm vụ.
+ Về phương pháp: hoạt động lãnh đạo thường dùng phương pháp động viên, giáo
dục, thuyết phục nhằm phát huy tính tự giác của đối tượng. Còn hoạt động quản lý
phương pháp chung là dùng mệnh lệnh có tính bắt buộc với những chế tài, biện pháp
hành chính nhất định.
Vì vậy, hoạt động lãnh đạo và hoạt động quản lý có những nội dung và tính chất
gần giống nhau nên ta thường dùng cụm từ chung là lãnh đạo, quản lý, hoạt động lãnh
đạo đồng thời cũng thực hiện chức năng quản lý và ngược lại hoạt động quản lý cũng
thực hiện luôn chức năng lãnh đạo.
Hiến pháp năm 1992 quy định cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị ở nước ta
được phân chia làm bốn cấp: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quận,
huyện; xã phường thị trấn còn gọi chung là cấp cơ sở. ở mỗi cấp, Đảng và Nhà nước ta có
những quy định cụ thể, rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tính chất hoạt động
nhất định. Nếu cương vị phụ trách của cán bộ lớn, có quy mô rộng thì chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn càng lớn, tính chất hoạt động, vị trí quan trọng và ảnh hưởng, tác động lớn.
Ngược lại, phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhỏ thì tính chất hoạt động và ảnh
hưởng, tác động cũng nhỏ hơn. Dựa trên những căn cứ này mà phân cấp cán bộ thành ba
cấp là: Cán bộ cao cấp, cán bộ trung cấp và cán bộ cấp cơ sở.
Cán bộ cao cấp là cán bộ ở tầm chiến lược có chức năng, nhiệm vụ đề ra chủ
trương, đường lối, chính sách lãnh đạo và quản lý ở tầm vĩ mô.
Cán bộ trung cấp là cán bộ ở tầm chiến thuật có chức n ăng nhiệm vụ vận dụng
đường lối, chính sách của Trung ương và của ngành, đề ra phương hướng, kế hoạch cho
phù hợp với đặc điểm của địa phương, cơ quan mình và chỉ đạo, kiểm tra việc tổ chức
thực hiện phương hướng kế hoạch đó.
Cán bộ cấp cơ sở là cán bộ có chức năng nhiệm vụ tổ chức thực hiện đường lối,
chính sách, phương hướng, kế hoạch của Trung ương, ngành, địa phương… phù hợp với
điều kiện, đặc điểm của cơ sở xã, phường, thị trấn, xí nghiệp, trường học, bệnh viện.
Như vậy, tuy khác nhau về tầm lãnh đạo, quản lý cũng như chức năng, nhiệm vụ
và tính chất của các cấp, nhưng họ đều là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt và tạo thành
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt trong hệ thống chính trị của nước ta.
Với việc xác định vị trí, vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp như trên thì
đối với cán bộ cấp cơ sở trong luận văn đề cập bao gồm: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ cấp
xã; Chủ tịch, phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã; Chủ tịch, phó Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cấp xã.
Cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) gọi chung là cấp xã, là cấp cuối cùng trong sự
phân cấp hành chính. Cấp cơ sở là nơi nhân dân cư trú, sinh sống, gắn bó chặt chẽ trong
các quan hệ kinh tế và văn hoá. Cấp cơ sở có một vị trí rất quan trọng, là nơi trực tiếp giải
quyết mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân, là địa bàn tổ chức thực hiện các chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, là nơi trực tiếp sản xuất, là nền
tảng vật chất cao độ của xã hội. Do vậy đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã là những
người trực tiếp, chủ yếu góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối, chính sách,
pháp luật của Đảng và Nhà nước ở cơ sở. Họ là những người giữ chức vụ quan trọng nhất
ở xã, là lực lượng nòng cốt trong tổ chức thuộc hệ thống chính trị cơ sở, là những người
giữ cương vị chính phụ trách trong tổ chức một tập thể, có ảnh hưởng chính, quyết định
và chi phối việc điều hành, tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
ở địa phương đã đề ra, là nhưng người chịu trách nhiệm trước nhân dân. Do đó, để thực
hiện tốt các nhiệm vụ trên thì đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã có vai trò
đặc biệt quan trọng, nó quyết định sự thành bại của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở địa phương.
Như đã đề cập, cấp cơ sở là địa bàn có vị trí hết sức quan trọng, là nơi trực tiếp tổ
chức mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa phương, bảo đảm an ninh quốc phòng,
trật tự an toàn xã hội… Do đó, để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, những người cán bộ lãnh
đạo, quản lý chủ chốt cấp xã hợp thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở
có cơ cấu đa dạng và vai trò đặc biệt quan trọng, cụ thể là:
Một là, cán bộ chủ chốt cấp xã là người lãnh đạo chính trị, làm công tác đảng chuyên
nghiệp, nắm trọng trách hàng đầu trong sự lãnh đạo toàn diện của Đảng uỷ xã. Đó là những
người giữ chức vụ quan trọng như: Bí thư Đảng uỷ , Phó Bí thư Đảng uỷ (xã không có Phó
Bí thư Đảng uỷ thì thường trực Đảng uỷ).
Hai là, cán bộ chủ chốt cấp xã là những người thay mặt Đảng và Nhà nước lãnh
đạo, quản lý Nhà nước ở cơ sở. Bao gồm các chức vụ như: Chủ tịch, phó Chủ tịch Hội
đồng nhân dân; Chủ tịch, phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân. Lãnh đạo, quản lý toàn diện
trên các lĩnh vực ở cấp mình phụ trách. Do đó, đòi hỏi họ phải có trình độ, năng lực nhìn
nhận, đánh giá khái quát các hiện tượng thực tiễn sinh động cuộc sống ở cơ sở, qua đó
đưa ra được văn bản, quyết định đúng đắn liên quan đến các vấn đề phát triển kinh tế xã
hội, văn hoá, giáo dục, y tế… nhằm đảo bảo an ninh quốc phòng và trật tự trị an ở địa
phương. Muốn thực hiện tốt vai trò đó thì cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã phải là người
có kiến thức chuyên môn, có trình độ lý luận chính trị để hiểu đúng bản chất đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có khả năng phân tích, đánh
giá tình hình thực tế ở địa phương, trong huyện, tỉnh và đất nước.
Ba là, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã là những người lãnh đạo các đoàn
thể, các tổ chức chính trị xã hội trong hệ thống chính trị cấp cơ sở như: Đoàn thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Nông dân , Hội Cựu chiến binh …
Bốn là, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã là những người đứng đầu, lãnh
đạo, quản lý các ban ngành của xã trong các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội,
tư tưởng, giáo dục, y tế… các bộ phận tham mưu cho Đảng uỷ, Uỷ ban nhân dân. So với
hoạt động lãnh đạo, quản lý của các cấp (huyện, tỉnh, trung ương) xét về phạm vi, địa bàn
không gian thì cấp xã hẹp hơn, còn xét về tính chất công việc thì nhiều hơn, rộng hơn. Vì
cấp cơ sở là cấp lãnh đạo toàn diện trên mọi lĩnh vực, chịu tác động chi phối trực tiếp của
các sở, ban, ngành, quận, huyện đến quần chúng nhân dân ở cơ sở.
Năm là, cán bộ chủ chốt cấp xã còn là người trực tiếp triển khai, cụ thể hoá đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến toàn thể nhân dân ở cơ
sở.
Do vậy, năng lực lãnh đạo, quản lý của họ ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành bại
của tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung và công
nghiệp hoá, hiện đại hoá của địa phương nói riêng. Cán bộ chủ chốt cấp xã là người có
trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị… và đội ngũ này có cả đức lẫn tài, có
quyết tâm với công việc thúc đẩy phong trào, tạo niềm tin vững chắc đối với nhân dân để
nhân dân tin theo Đảng, làm theo Đảng. Ngược lại, nếu cán bộ chủ chốt cấp xã kém tài,
đạo đức, lối sống suy thoái thì cấp dưới không phục tùng, nhân dân không tin tưởng, làm
tổn hại đến uy tín của Đảng và Nhà nước. Điều đó đồng nghĩa là nhân dân không tin
tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, không tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta. Vì hoạt động trực tiếp, tiếp xúc với quần chúng nhân dân, sát dân, gần dân nên họ trực
tiếp nắm bắt và phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân đối với
Đảng, Nhà nước, tạo nên mối liên hệ máu thịt thống nhất giữa Đảng với nhân dân. Trên
cơ sở đó xây dựng, bổ sung phát triển đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước ngày càng sát với yêu cầu của thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của chính phủ giải thích
cho dân hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng
cho chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [31, tr.269].
Sáu là, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã còn là người trực tiếp triển khai,
tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
Dân chủ là bản chất của chế độ và Nhà nước ta, đồng thời là sức mạnh để xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Do vậy để xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, một phần phụ thuộc vào những người lãnh
đạo, quản lý chủ chốt cấp xã. Bởi vì, bản chất của hoạt động lãnh đạo, quản lý là sự điều
khiển và đối tượng của sự điều khiển đó là con người cụ thể có trình độ tri thức, có năng
lực, có nguyện vọng, tâm tư tình cảm riêng.
Để thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý
chủ chốt trước hết cần phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị
nhất định, trên cơ sở đó phải biết phân tích, đánh giá, giải quyết những vấn đề thực tiễn
đang diễn ra ở địa phương, vùng miền trong cả nước, biết tập hợp, cổ vũ tạo lên sức
mạnh tổng hợp của quần chúng để tham gia các phong trào, tham gia thực hiện chủ
trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ở cơ sở.
Để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở địa
phương người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã phải thực hiện tốt quy chế dân
chủ ở cơ sở, bảo đảm nguyên tắc: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, những vấn
đề quan trọng, liên quan đến lợi ích chính đáng, thiết thân của nhân dân. Có như vậy,
người cán bộ, lãnh đạo quản lý mới phát huy được sức mạnh tổng hợp đưa ra được những
quyết định, kế hoạch, giải pháp phù hợp để tổ chức thực hiện đạt hiệu quả cao trong hoạt
động lãnh đạo của mình.
Bảy là, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã là người triển khai tổng kết, rút
kinh nghiệm việc thực hiện các quyết định để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chính trị của
địa phương, cơ sở trong giai đoạn tiếp theo.
Những đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được
triển khai ở cơ sở đạt hiệu quả cao hay thấp thì phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt cấp xã. Cấp cơ sở là cấp quan trọng nhất trong việc tổng kết thực tiễn
trên quy mô hẹp, dễ khảo sát và đánh giá quá trình triển khai thực hiện các quyết định
liên quan đến quá trình phát triển kinh tế xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục… đảm bảo an
ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội. Trên cơ sở đó xem xét các quyết định, kế
hoạch, phương hướng mà mình đưa ra để phản ánh đúng đắn quy luật vận động khách
quan của thực tiễn, được sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân ở cơ sở hay không.
Do đó, người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở cần phải thường xuyên tổng kết,
đúc rút kinh nghiệm trong quá trình ban hành quyết định và thực hiện quyết định để
những quyết định mới của giai đoạn mới khắc phục được những thiếu sót, hạn chế đã
được tổng kết.
Tám là, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã là những người trực tiếp ra các
quyết định liên quan đến vấn đề phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá, giáo dục, y tế, an
ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội… ở địa phương và đồng thời phải kiểm tra việc
thực hiện các quyết định đó. Do đó, hoạt động lãnh đạo quản lý cấp xã ngoài việc thực thi
chức năng, công việc do cấp trên giao theo thẩm quyền họ, còn là những người trực tiếp
ra quyết định và tổ chức thực hiện những quyết định đã ban hành nhằm thực hiện thắng
lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ sở.

1.2.2. Vai trò của lý luận chính trị đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Từ thực tiễn xây dựng đất nước 20 năm qua, càng chứng minh tính đúng đắn
đường lối đổi mới của Đảng, đó là: phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối đổi mới
đã đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đất nước có sự thay đổi cơ bản và
toàn diện, kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang
được đẩy mạnh. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và tăng
cường, chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững. Tuy nhiên, trong
điều kiện hiện nay, ngoài những thành tựu đạt được, nước ta đang đứng trước những
thách thức to lớn, đan xen, tác động tổng hợp lẫn nhau và diễn biến phức tạp: nguy cơ tụt
hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; tình trạng suy
thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng
viên…; những biểu hiện xa rời mục tiêu, lý tưởng chủ nghĩa xã hội chưa được khắc phục;
các thế lực thù địch vẫn đang ráo riết thực hiện âm mưu “diễn biến hoà bình”, gây bạo
loạn lật đổ, sử dụng các chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” hòng
làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.
Tất cả những khó khăn phức tạp đó nó tác động mạnh mẽ đến nhiều cấp, nhiều
ngành, đến lĩnh vực của đời sống xã hội đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý nói
chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã nói riêng phải không ngừng nâng cao
trình độ chuyên môn, năng lực lãnh đạo, quản lý, nâng cao trình độ lý luận chính trị để
giữ vững lập trường, có bản lĩnh chính hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và nhân
dân giao phó.
Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta rất coi trọng vấn đề giáo dục tư tưởng
chính trị, rèn luyện đạo đức phẩm chất cách mạng cho đội ngũ cán bộ trong hệ thống
chính trị, đó là một vấn đề có ý nghĩa quyết định đến sự lãnh đạo của Đảng, vừa mang
tính cấp bách vừa có tính chiến lược lâu dài.
Việc nâng cao trình độ lý luận chính trị thực sự có vai trò đặc biệt quan trọng đối
với người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã. Điều này được thể hiện rõ bởi những
nội dung cơ bản sau:
Một là, lý luận chính trị, trình độ lý luận chính trị góp phần trang bị nâng cao cho
cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã sự hiểu biết chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, nắm được bản chất quan điểm đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước.
Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hiện nay đang đặt đội ngũ cán bộ nói
chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng trước những thử thách mới. Thực tế
cho thấy, ở địa phương cơ sở nào mà đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt có trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị thì ở đó phát triển ổn định về an ninh
chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế… và được nhân dân đồng tình ủng hộ. Trình độ
chuyên môn và phẩm chất chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ
sở là một điều kiện tiên quyết đảm bảo giữ vững chính quyền, bảo vệ Đảng. Do vậy, nơi
nào mà đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở còn chưa được trang bị về
trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị thì hoạt động lãnh đạo, quản lý của họ bị
lúng túng, khó khăn, bất cập, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa
phương.
Muốn hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp xã đạt hiệu quả, trước hết phải nhận thức, hiểu rõ bản chất cách mạng và khoa học
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và trên nền tảng cơ sở lý luận ấy,
người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cấp xã có những được định hướng trong
việc xem xét, đánh giá và xử lý những vấn đ ề mới của thực tiễn đặt ra một cách khoa
học. Ngược lại, nếu cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cấp xã có trình độ chuyên
môn và trình độ lý luận chính trị thấp sẽ ảnh h ưởng không nhỏ đến quá trình phát triển
kinh tế - xã hội ở địa phương.
Đảng ta luôn xác định, con người vừa là mực tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội; trong đó cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp
cách mạng. Chính vì vậy, người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã không chỉ tiếp
thu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước một cách dập
khuôn, máy móc, mà họ còn phải biết xác định và chắt lọc những cái cơ bản, trọng tâm,
trọng điểm và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa phương. Như vậy, trình độ
lý luận chính trị có ý nghĩa và vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện những vấn đề
mới và bổ sung, phát triển, hoàn thiện, tích luỹ các tri thức cho quá trình hoạt động lãnh
đạo, quản lý ngày một tốt hơn.
Trình độ lý luận chính trị giúp cho người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã
nhận thức vấn đề một cách có hệ thống, hiểu thực chất của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, trên cơ sở nắm vững thế giới quan khoa học và phương pháp luận
biện chứng để nhận thức và chỉ đạo hoạt động thực tiễn.
Nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi từng bước
hiện đại hoá cơ sở vật chất, kỹ thuật, áp dụng khoa học công nghệ vào quá trình phát triển
kinh tế - xã hội. Trước những phát triển như vậy có những vấn đề không thể bằng kinh
nghiệm, bằng cảm giác mà có thể nhận thức và lý giải được mà đòi hỏi phải có trình độ lý
luận chính trị thì người cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản lý
chủ chốt cấp xã mới có thể nhận biết và giải thích được những hiện tượng đó. Trên thực
tế cho thấy, ở địa phương cơ sở nào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở
hạn chế về trình độ chuyên môn nói chung và trình độ lý luận chính trị nói riêng dẫn đến
hạn chế trong việc tiếp thu những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, nên kết quả việc tổ chức thực hiện chỉ mang hình thức
qua loa, không sáng tạo để tìm ra các giải pháp để biến khả năng thành hiện thực.
Do đó, khi tổ chức, triển khai chỉ thị, nghị quyết, chủ trương, đường lối… của cấp
trên thì họ không truyền tải hết nội dung, yêu cầu đến cán bộ đảng viên và nhân dân, dẫn
đến hiệu lực, hiệu quả của các chỉ thị, nghị quyết thấp, ảnh hưởng đến quá trình thúc đẩy
lẫn nhau phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Trong điều kiện hiện nay, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở cần
phải có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị nhất định để đảm bảo cho phong
cách làm việc mang tính khoa học, nhạy bén, quyết đoán, có khả năng xử lý kịp thời,
chính xác mọi tình huống xảy ra. Có như vậy, nhân dân mới vững tin vào đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tin vào người cán bộ lãnh đạo của
Đảng.
Qua đó cho thấy rằng, sự cần thiết phải tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả
công tác giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cấp
xã hiện nay; bởi vì, nếu không có trình độ lý luận chính trị thì hoạt động lãnh đạo, quản
lý sẽ gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong quá trình xử lý công việc dẫn đến thụ động, tự
phát, mò mẫm trong việc xác định, xử lý các vấn đề khi lãnh đạo, chỉ chỉ đạo điều hành;
điều đó cũng có nghĩa là họ đã không hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Trước
yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới đòi hỏi người cán bộ, đảng viên
phải nêu cao ý thức, trách nhiệm, tích cực nghiên cứu, học tập, nắm vững bản chất cách
mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan
điểm của Đảng, nhiệm vụ chính trị của đất nước. Lười học tập, nghiên cứu lý luận cũng
là biểu hiện cụ thể của sự thoái hoá. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã
chỉ rõ: “Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt phải có kế
hoạch thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng lực
hoạt động thực tiễn” [14, tr.140,141]. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng
tiếp tục khẳng định: “Các cấp uỷ tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra đảng viên học tập,
không ngừng nâng cao trình độ chính trị, học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức lãnh
đạo, quản lý và vận động nhân dân…” [18, tr.140].
Nhìn chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở được trang bị tốt về
chuyên môn nghiệp vụ, về lý luận chính trị sẽ đáp ứng được yêu cầu xây dựng và bảo vệ
tổ quốc trong giai đoạn mới, họ luôn luôn là lực lượng trung thành, lực lượng chính trị
nòng cốt đáng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, là nhân tố góp phần giữ vững,
củng cố sự ổn định, tạo điều kiện cho công cuộc mới ở địa phương đi đến thắng lợi.
Hai là, trình độ lý luận chính trị giúp cho cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã
vận dụng một cách sáng tạo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
vào thực tiễn địa phương, cơ sở.
Hoạt động của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cấp xã có vai trò rất
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Do đó, để đảm nhiệm và
thực hiện tốt vai trò đó, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cấp xã phải không ngừng
học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị. Bởi vì, lý luận chính trị
với những đặc trưng của nó sẽ giúp cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cấp
xã có phương pháp để nhận thức vấn đề một cách đúng đắn và tổ chức triển khai hoạt
động thực tiễn đạt hiệu quả cao.
Nhiệm vụ chính trị quan trọng của người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ
sở là lĩnh hội những đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, cụ thể là các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của cấp tỉnh, cấp huyện; trên cơ sở đó
triển khai cho quần chúng nhân dân thực hiện ở cơ sở.
Có trình độ lý luận chính trị thì người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã
mới có thể nhận thức vấn đề một cách có hệ thống, hiểu rõ bản chất khoa học và cách
mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó hình thành năng lực, định
hướng đúng đắn và phương pháp luận khoa học cho nhận thức và chỉ đạo hoạt động thực
tiễn. Khi có trình độ về lý luận chính trị thì người cán bộ lãnh đạo, quản lý mới có khả
năng tiếp thu chuẩn xác những vấn đề về khoa học kỹ thuật, về quan điểm đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trên cơ sở đó truyền thụ lại, tổ
chức triển khai trong thực tiễn đạt hiệu quả. Ngược lại, khi người cán bộ lãnh đạo, quản
lý chủ chốt ở cấp xã trình độ lý luận chính trị yếu, quá trình nhận thức lại hạn chế thì
không những tiếp thu không chuẩn xác những tinh thần cơ bản của những chủ trương,
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thậm chí tổ chức triển khai trong thực tiễn
chỉ mang tính hình thức, qua loa, chỉ đơn thuần là đọc lại thậm chí còn làm mất đi tính hệ
thống, không làm rõ được trọng tâm, bản chất của vấn đề. Như vậy, việc triển khai và tổ
chức thực hiện những chủ trương, đường lối đó ở cơ sở gặp nhiều khó khăn và kém hiệu
quả, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, cơ sở.
Do đó, có trình độ lý luận chính trị thì đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý mới có
khả năng vận dụng lý luận và thực tiễn một cách năng động, sáng tạo tự tin xuất phát từ
điều kiện, hoàn cảnh thực tế ở địa phương mà xây dựng các mô hình, các chương trình,
kế hoạch hoạt động và những giải pháp cụ thể phù hợp với thực tế ở địa phương mình
nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
Tóm lại, lý luận chính trị đóng vai trò rất quan trọng trong việc trang bị thế giới
quan và phương pháp luận, những tri thức cần thiết để vận dụng sáng tạo những đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cơ sở. Nếu không có lý
luận chính trị thì họ sẽ gặp nhiều khó khăn, lúng túng, thụ động, mò mẫm, tự phát trong
công việc khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn sẽ đạt hiệu quả chưa cao và khó có thể
hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của mình chưa cao.
Ba là, trình độ lý luận chính trị giúp cho cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã
có khả năng tiếp nhận, xử lý thông tin một cách có hiệu quả và đề ra những quyết sách
chính xác, khoa học, kịp thời.
Nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm đưa đất
nước trở thành một quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại, thì một trong những vấn
đề có ý nghĩa quyết định là phải xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ
chốt nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở nói riêng vừa có đức, vừa
có tài, vừa “hồng”, vừa “chuyên”.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng công tác đào tạo cán
bộ, nhất là cán bộ chủ chốt ở cấp xã theo phương châm vững chắc về chuyên môn,
nghiệp vụ, có trình độ lý luận chính trị nhằm khắc phục tình trạng mò mẫm, tự phát trong
quá trình quản lý, lãnh đạo. Khi người cán bộ lãnh đạo, quản lý có trình độ lý luận chính
trị vững vàng có kinh nghiệm trong lãnh đạo quản lý và xử lý tình huống thì đồng thời họ
biết cách thu thập thông tin, phân tích, xử lý thông tin để điều chỉnh, bổ sung những
quyết định lãnh đạo đúng đắn, khoa học.
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở có trình độ lý luận chính trị
vững chắc sẽ giúp họ có niềm tin khoa học, làm chủ bản thân và vận dụng lý luận chính
trị vào quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình để đảm bảo cho phong cách
làm việc mang tính khoa học, chủ động, quyết đoán, dám chịu trách nhiệm và khi đó họ
có khả năng xử lý kịp thời, chính xác mọi tình huống có thể xảy ra đối với địa phương
mình trong sự phát triển của đất nước.
Như vậy, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã có trình độ lý luận chính trị
mới có thể khơi dậy, tập hợp, phát huy và sử dụng được tiềm năng trí tuệ vô tận của
quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Bốn là, trình độ lý luận chính trị giúp cho người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp xã nâng cao được năng lực tổ chức và tổng kết thực tiễn một cách khoa học.
Một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận chính trị là nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn. Những nguyên lý, quy luật được áp dụng vào hoạt động thực
tiễn, được thực tiễn kiểm nghiệm, bổ sung, phát triển và làm phong phú thêm lý luận.
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đòi hỏi cán bộ lãnh đạo, quản lý
chủ chốt cấp cơ sở phải có trình độ lý luận chính trị thì mới có khả năng nắm bắt được
vấn đề, biết chắt lọc những thông tin cơ bản, những vấn đề chủ yếu của thực tiễn. Lý luận
Mác - Lênin trang bị cho con người thế giới quan và phương pháp luận khoa học trong
việc nhận thức và cải tạo thế giới hiện thực. Lý luận đó phản ánh một cách đúng đắn,
khoa học quy luật vận động và phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy con
người, khái quát và tổng kết có hệ thống những kinh nghiệm của phong trào vô sản trên
thế giới.
Với bản chất cách mạng và khoa học đó, chủ nghĩa Mác - Lênin đóng vai trò
không thể thiếu đối với người cộng sản trọng việc nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội.
Trên cơ sở lý giải đúng đắn các vấn đề về thế giới và vai trò của con người trong việc
nhận thức và cải tạo thế giới, chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành nền tảng lý luận quan
trọng, định hướng cho con người trong hoạt động thực tiễn của mình. Sự định hướng đó
của lý luận Mác - Lênin giúp cho người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở thấy
được phương hướng vận động của thực tiễn, cũng như mục tiêu, cách thức để đạt được
hiệu quả. Phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin còn chỉ cho người cán bộ lãnh đạo,
quản lý phải biết xuất phát từ thực tế khách quan, lấy thực tiễn làm định hướng chỉ đạo
cho con người trong hành động, từ đó tránh được những sai sót hay mò mẫm trong hoạt
động thực tiễn.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thấm nhuần sâu sắc và vận dụng sáng tạo lý luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của Việt Nam. Tư tưởng
đó đã dẫn dắt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối
cùng.
Vì thế, giáo dục lý luận chính trị là không ngừng nâng cao nhận thức về chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kịp thời bổ sung những thành tựu mới của khoa học,
công nghệ hiện đại, những tinh hoa trí tuệ của nhân loại để góp phần phát triển chủ nghĩa
Mác - Lênin trong điều kiện mới, điều đó cũng có nghĩa là tạo điều kiện để đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở không những nâng cao khả năng nhận thức mà
còn nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý trong điều kiện mới.
Lý luận chính trị đóng vai trò quan trọng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp cơ sở trong việc nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn, rút ra những bài học kinh
nghiệm quý giá để góp phần bổ sung, phát triển lý luận.
Để tiến hành tổng kết thực tiễn có hiệu quả, người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ
chốt cấp cơ sở phải đi sâu, đi sát thực tế ở cơ sở, chỉ đạo đôn đốc, kiểm tra khắc phục tình
trạng trì trệ và phong cách quan liêu xa rời thực tiễn.
Muốn vậy, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở phải có trình độ lý luận
chính trị. Mặt khác, khi có trình độ về lý luận chính trị thì người cán bộ lãnh đạo, quản lý
chủ chốt cấp cơ sở dám nhìn thẳng vào sự thật, có bản lĩnh và tự tin nhìn thẳng vào
những mâu thuẫn, kịp thời ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực, cản trở sự phát triển
chung của địa phương mình. Có trình độ lý luận chính trị thì việc tổng kết thực tiễn của
cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt mới đảm bảo tính khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ
thể. Có như vậy những kết luận, những bài học kinh nghiệm rút ra mới có giá trị khoa
học, định hướng cho sự phát triển tiếp theo của hoạt động thực tiễn
Năm là, trình độ lý luận chính trị giúp cho người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp xã có thể khắc phục bệnh kinh nghiệm, giáo điều, máy móc trong hoạt động lãnh đạo
quản lý.
Bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều biểu hiện rõ nhất trong thời kỳ bao cấp, khi
trình độ dân trí và trình độ học vấn của xã hội còn thấp, nhất là về trình độ lý luận chính
trị. Ngày nay, căn bệnh đó vẫn còn đối với những cán bộ mà trình độ lý luận cũng như
trình độ chuyên môn và sự hiểu biết nói chung còn có những hạn chế nhất định. Đó
thường là những cán bộ trưởng thành từ môi trường thực tiễn như lao động sản xuất,
quân đội… do không được đào tạo một cách có hệ thống, nên trình độ còn rất hạn chế,
thiếu những kiến thức cần thiết. Do đó, trong việc lãnh đạo, quản lý công việc họ thường
sử dụng những kinh nghiệm của bản thân một cách giáo điều, máy móc nên kết quả đạt
được không cao.
Mặc dù, dưới một góc độ nhất định nào đó thì tri thức kinh nghiệm cũng đóng vai
trò quan trọng đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Nếu không có tri
thức kinh nghiệm thì cũng không có tri thứ lý luận và cũng không thể vận dụng lý luận
vào thực tiễn một cách sáng tạo. Tri thức kinh nghiệm còn là cơ sở để con người kiểm
tra, sửa đổi, điều chỉnh và bổ sung, phát triển lý luận. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần sử
dụng tri thức kinh nghiệm để xử lý công việc thì lại không khoa học, kém hiệu quả, tri
thức kinh nghiệm chỉ có thể giải quyết được công việc cụ thể trong những trường hợp cụ
thể và nói chung thường là kết quả bị hạn chế. Như vậy, nếu chỉ dừng lại ở tri thức kinh
nghiệm thì sẽ dẫn đến căn bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động
thực tiễn.
N goài căn bệnh kinh nghiệm ra, thì b ệnh giáo đ iều cũng có ảnh h ưởng rất lớn
đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp c ơ sở. Thông thường có hai
loại giáo đi ều là giáo đ iều kinh nghiệm và giáo đ iều sách vở. Bệnh giáo điều kinh
n ghi ệm là áp dụng một cách máy móc những kinh n ghiệm, những mô hình phát triển
của ngành, một địa phương nào đó mà không biết nó có phù hợp với đi ều kiện, hoàn
cảnh của mình hay không. Còn có bệnh giáo điều sách vở th ường gặp đối với những
cán bộ đ ã học qua ch ương tr ình lý luận chính trị nh ưng với trình độ thấp, thiếu thực
tiễn nên không nắm đ ược "tinh thần xử trí" của chủ nghĩa Mác - Lênin, không hiểu
được bản chất của sự vật, hiện t ượng. Do đó họ bê nguyên xi những kiến thức lý
luận sách vở vào hoạt đ ộng thực tiễn một cách máy móc theo kiểu “sách nói sao
mình làm vậy” mà không năng động, sáng tạo, không chú ý "quan sát" thực tiễn.
Cách "vận dụng" nh ư vậy đã ả nh h ưởng đ ến kết quả của hoạt động thực tiễn, thậm
chí ho ạt động thực tiễn của họ có thể bị thất bại.
Để khắc phục hai căn bệnh này thì không có con đường nào khác là phải học tập
nâng cao trình độ nhận thức về mọi mặt, trước hết là trình độ học vấn, trình độ chuyên
môn và trình độ lý luận chính trị.
Trong những năm vừa qua, nhờ đổi mới tư duy lý luận, Đảng và Nhà nước ta đã
tăng cường các nguồn lực đầu tư cho hoạt động lý luận, dạy và học lý luận. Công tác này
cũng đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ nói
chung và trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã
nói riêng nhằm khắc phục, hạn chế được bệnh kinh nghiệm và giáo điều cho cán bộ, đảng
viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong lúc học lý luận, phải nghiên cứu công
việc thực tế, kinh nghiệm thực tế. Lúc học rồi có thể tự mình tìm ra phương hướng chính
trị, có thể làm những công việc thực tế, có thể trở lên người tổ chức và lãnh đạo. Thế là lý
luận thiết thực, có ích” [33, tr.272]. Người còn dạy: Phải biết khéo léo lợi dụng kinh
nghiệm, không thể thấy người ta làm gì cũng một mực bắt chước làm theo mà phải có sự
nghiên cứu, phân tích xem cái gì hay, cái gì nên làm, không nên làm để vận dụng vào tình
hình thực tế của địa phương làm sao có hiệu quả nhất. Điều đó không chỉ có ý nghĩa quan
trọng đối với việc học tập lý luận chính trị mà còn đối với tất cả các lĩnh vực chuyên môn
khác, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay
thì không thể làm việc theo lối kinh nghiệm, giáo điều rập khuôn, máy móc mà phải
không ngừng trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ mới đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ
mới.
Tóm lại, trình độ lý luận chính trị đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nhận thức
cũng như trong hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung và đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã nói riêng. Khi trình độ lý luận chính trị của
họ càng cao thì họ càng có khả năng tiếp thu tốt đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước và vận dụng lý luận đó vào việc phát triển kinh tế - xã hội
phù hợp với địa phương mình. Trình độ lý luận chính trị còn giúp cho người cán bộ lãnh
đạo, quản lý chủ chốt cấp xã không ngừng nâng cao năng lực khái quát, tổng kết thực
tiễn, bổ sung và phát triển lý luận.

1.2.3. Yêu cầu nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý chủ chốt cấp xã
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh:
Cán bộ là gốc của mọi công việc. Đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp có phẩm chất và năng
lực là yếu tố cơ bản làm cho sức chiến đấu của Đảng trở nên bách chiến, bách thắng.
Chất lượng cán bộ, nhất là tính tích cực xã hội của họ không ngừng được phát huy sẽ là
tấm gương cho quần chúng noi theo, tạo ra phong trào cách mạng sôi động để đưa đường
lối của Đảng vào đời sống xã hội, làm cho quần chúng nhân dân ngày càng gắn bó với
Đảng, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố và phát triển.
Nhân dân ta đã tự giác thừa nhận và đi theo Đảng. Đảng có một đội ngũ cán bộ
biết phát huy truyền thống cách mạng, tiền phong gương mẫu, gần gũi với quần chúng
nhân dân và vì nhân dân, không ngừng phấn đấu, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách
mạng, nâng cao năng lực, trình độ trí tuệ, hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng. Những
thành tựu to lớn trên tất cả các mặt của hơn hai mươi năm đổi mới đất nước cho thấy,
đa phần đội ngũ cán bộ đảng viên nói chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ
chốt cấp cơ sở nói riêng có phẩm chất chính trị vững vàng, lối sống trong sạch, có ý chí
phấn đấu kiên cường cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
Đứng trước yêu cầu và nhiệm vụ của thời kỳ mới, trong đó nhiệm vụ trung tâm là
phát triển kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Để giành được thắng
lợi trong thời kỳ này, đòi hỏi phải phát huy cao độ sự đoàn kết thống nhất của toàn dân,
phát huy thế mạnh của từng địa phương. Vì vậy, muốn biến đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trở thành hiện thực cần có một đội ngũ cán bộ
chủ chốt có đầy đủ bản lĩnh chính trị, năng lực chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Từ thực tiễn
đó, đã và đang đặt ra một loạt yêu cầu trong việc nâng cao trình độ lý luận chính trị đối
với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã, đáp ứng ngang tầm với nhiệm vụ
cách mạng đòi hỏi. Cụ thể là:
Thứ nhất, thông qua việc nâng cao trình độ lý luận chính trị, đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý chủ chốt cấp xã phải nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước. Trên cơ sở thấm nhuần một cách sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã mới có khả năng vận dụng
sáng tạo lý luận đó vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể từng lĩnh vực, từng địa bàn do mình
phụ trách, qua đó góp phần bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng bằng những kết luận mới rút ra trong quá trình hoạt động
thực tiễn.
Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc,
diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thời đại hiện nay là thời đại của cách
mạng khoa học công nghệ đã tạo ra nhiều thành tựu kỳ diệu, hàng ngày lượng thông tin
phong phú, đa dạng, nhiều chiều, đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã
phải có trình độ thu nhận, cập nhật, phân tích và xử lý đúng đắn, kịp thời, chính xác, biết
sàng lọc, sử dụng thông tin có lợi cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của mình, lắng nghe và
biết chọn lọc ý kiến của quần chúng. Do vậy, đứng trước tình hình đó, người cán bộ lãnh
đạo, quản lý chủ chốt cấp xã phải có trình độ nhất định về mặt học vấn, chuyên môn,
kinh tế, pháp luật… để không bị lạc hậu so với sự phát triển của thực tiễn.
Thực tế đã chứng minh, trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên sa sút về phẩm chất đạo đức, lối sống, mang nặng tư
tưởng chủ nghĩa cá nhân, họ lợi dụng sơ hở trong tổ chức, cơ chế, chính sách để ăn cắp
của công, lợi dụng chức quyền để thu vén cá nhân, làm giàu bất chính, chạy theo lối sống
thực dụng, quan liêu và đặc biệt là tệ tham nhũng đang có chiều hướng gia tăng. Trình độ
chuyên môn của một bộ phận cán bộ thiếu hệ thống, không cơ bản, chưa toàn diện, tư
duy lý luận còn non yếu, chưa phát triển kịp theo yêu cầu mới; năng lực nhận thức và
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhất là
đường lối đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh cấp
trên còn yếu; năng lực tổ chức, quản lý, điều hành cơ quan, đơn vị còn nhiều lúng túng,
bất cập, thiếu năng động, nhạy bén trong xử lý các tính huống phức tạp.
Học vấn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt không đồng đều, mất cân
đối. Bộ phận cán bộ được rèn luyện trong cuộc chiến tranh giải phóng đất nước rất vững
vàng lập trường chính trị, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn nhưng hạn chế về tư duy lý
luận, một số mắc phải căn bệnh “kinh nghiệm chủ nghĩa”. Một bộ phận có tri thức lý luận
nhưng lại thiếu hụt kiến thức thực tiễn nên lúng túng trong việc xử lý các tình huống thực
tiễn. Đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học còn mỏng, thiếu chuyên gia đầu
đàn ở nhiều lĩnh vực, nhất là về khoa học công nghệ mũi nhọn và quản lý kinh tế hiện
đại, chưa đáp ứng yêu cầu đi tắt đón đầu để công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập khu
vực và quốc tế.
Như vậy, đứng trước thực tiễn của đất nước, yêu cầu nắm vững những nguyên
lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm được đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm đáp ứng những yêu
cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong giai đoạn mới của cách
mạng, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở luôn luôn là lực lượng trung
thành, lực lượng chính trị nòng cốt đáng tin cậy của Đảng, của Nhà nước và nhân dân
là nhân tố góp phần giữ vững, củng cố sự ổn định chính trị, tạo điều kiện cho công
cuộc đổi mới thắng lợi.
Thứ hai, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở phải biết vận dụng sáng
tạo lý luận chính trị trong điều kiện cụ thể của địa phương mình.
Học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở nhằm xác lập, củng cố thế giới quan, phương pháp luận
khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và khả năng vận dụng, khả
năng chuyển hoá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
thành hiện thực trực tiếp ở địa phương, cơ sở. Tư duy lý luận không có mục đích tự thân
mà hướng vào thực tiễn để thực hiện hoá mình, tư duy luôn luôn hoạt động theo hướng
chuyển thành hành động, tìm biện pháp để làm cho sự sáng tạo ý thức thành sự sáng tạo
trong thực tiễn. Vì thế, khả năng cụ thể hoá, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp xã là yêu cầu cấp bách.
Công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay đang đặt đội ngũ cán bộ trước
những thử thách mới đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở phải có
niềm tin vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, phải có lập trường kiên định với mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trước những luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế
lực thù địch và của chủ nghĩa cơ hội, xét lại… thì cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt phải
tỏ rõ dũng khí của mình, bảo vệ sự thật, bảo vệ chân lý, tuyệt đối trung thành với lý
tưởng của Đảng, lợi ích của dân tộc, vững vàng trước mọi biến cố của thời đại. Không
những thế, người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở cần phải tuyên truyền, giáo
dục lý luận chính trị, nâng cao ý thức, lòng tự hào dân tộc, phát huy truyền thống yêu
nước, giữ gìn những giá trị văn hoá của địa phương, đất nước.
Đất nước đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo
định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã phải
biết vận dụng sáng tạo lý luận chính trị vào thực tiễn ở cơ sở. Trên cơ sở đó tuyên truyền,
giáo dục, giác ngộ quần chúng nhân dân, vạch rõ bản chất của các thế lực thù địch, giáo
dục tinh thần cảnh giác, đoàn kết nhân dân, góp phần đẩy lùi các nguy cơ, giữ vững ổn
định chính trị, đưa sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội ở địa phương nói riêng và cả nước
nói chung nhanh chóng, bền vững, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Thứ ba, thông qua việc học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ lý luận chính trị,
người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã phải rèn luyện được khả năng tư duy lý
luận, óc quan sát nhạy bén, tinh tường, nắm bắt và xử lý một cách khôn khéo, sáng tạo,
có hiệu quả những tình huống chính trị phức tạp có thể làm nảy sinh trong đời sống, bao
quát được toàn bộ thực tế của cơ sở. Biết phát hiện và giải quyết mâu thuẫn, khơi dậy,
phát huy và sử dụng được tiềm năng vô tận của quần chúng, tạo được bầu không khí dân
chủ, sự đồng thuận trong nội bộ nhân dân, tổ chức phong trào quần chúng giành được
hiệu quả cao nhất.
Để thực hiện yêu cầu này, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có trình độ lý
luận chính trị nhất định, có đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô
tư, có ý thức tổ chức kỷ luật, có mối liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân, nắm
chắc thực tiễn, phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu để khắc phục tác phong quan
liêu, xa rời thực tế cuộc sống, khắc phục b ệnh chủ quan duy ý chí, kiên quyết chống
b ệnh “kiêu ngạo cộng sản” nh ư V.I.Lênin đ ã t ừng cảnh báo. Do đó, t ừ hoạt động
t h ực tiễn ở cơ s ở, ngư ời cán bộ lãnh đ ạo, quản lý chủ chốt cấp x ã c ần phải đúc rút
kinh nghi ệm đ ể hoàn thiện chủ tr ương, kế hoạch, ra các quyết đ ịnh đúng đ ắn, kịp
t h ời. Khi ngư ời cán bộ lãnh đ ạo, quản lý chủ chốt ở c ơ sở đ ược trang bị lý luận
c hính tr ị giúp họ gợi mở những mô hình, biện pháp hành động có hiệu quả, tìm r a
n h ững trọng tâm, những giải pháp sát với thực tế đ ịa ph ương mình nhất để quá trình
phát triển kinh tế xã hội ở địa phương đạt hiệu quả cao nhất.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng lý luận chính trị đóng vai trò rất
quan trọng không thể thiếu trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã. Trình độ lý luận chính trị càng cao thì người cán bộ
lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã càng có khả năng tiếp thu đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; nâng cao khả năng nắm bắt, phát hiện những vấn
đề mới nảy sinh trong thực tế, nâng cao năng lực trong việc vận dụng lý luận, chủ trương,
đường lối để xây dựng phương hướng và các giải pháp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội
phù hợp với thực tế địa phương. Đồng thời, có trình độ lý luận chính trị giúp cho người
cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã sẽ nâng cao năng lực khái quát thực tiễn, đánh
giá đúng thực trạng để tổng kết thực tiễn, rút ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn
sinh động, phong phú, đa dạng. Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang đi
vào chiều sâu với những thời cơ, vận hội và những thách thức lớn, thì người cán bộ lãnh
đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở càng phải được học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ mọi
mặt, tiếp cận những tri thức mới, những tri thức khoa học có giá trị; có như vậy mới nâng
cao được năng lực lãnh đạo, quản lý của mình.
Chương 2
thực trạng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị cho
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Hà Giang hiện nay


2.1. Trình độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở Hà
Giang: Thực trạng và nguyên nhân
2.1.1. Đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội ở tỉnh Hà Giang
Hà Giang là tỉnh miền núi biên giới cực Bắc, nơi địa đầu Tổ quốc có vị trí chiến lược
quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng của đất nước. Với diện tích tự nhiên là
7.844,37 km2, phía Bắc và Tây Bắc giáp Trung Quốc, có đường biên giới dài 274km,
phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp tỉnh Lào Cai, Yên Bái, phía Nam giáp tỉnh
Tuyên Quang.
Hà Giang có địa hình rất phức tạp và hiểm trở, phía Tây nằm trên cao nguyên Bắc
Hà, có độ cao trung bình từ 1.200 đến 1.600m với nhiều dãy núi đồ sộ, cao nhất là đỉnh
Tây Côn Lĩnh (2.431m). Phía Bắc của tỉnh là cao nguyên Đồng Văn, độ cao trung bình là
1.600m. Phía Đông một phần nằm trong vòng cung sông Gâm, chạy dài trên 100km từ
Bắc đến Nam, nối liền với tỉnh Tuyên Quang. Địa hình phía Bắc của tỉnh phần lớn là
những dãy núi đá vôi hùng vĩ, nối nhau trùng điệp, xen lẫn với núi là những thung lũng
và những dải đất hẹp. Do vậy, hệ thống đường giao thông đi lại ở đây gặp nhiều khó
khăn, đường nhỏ, hẹp và dốc. Khí hậu ở Hà Giang về cơ bản thuộc vùng nhiệt đới gió
mùa. ở các huyện vùng cao phía Bắc khí hậu rất khắc nghiệt, số ngày mưa và ngày giá
lạnh chiếm phần lớn thời gian trong năm. Thấp dần về phía Nam của tỉnh là đồi núi đất
và rừng cây nhiệt đới, cùng ruộng đồng bậc thang, gò bãi, ruộng đồng chạy dọc ven bờ
sông, suối. Cấu trúc địa hình đã tạo ra cho Hà Giang có nhiều sông, suối, hồ phục vụ cho
đời sống dân cư và tưới tiêu đồng ruộng. Ngoài những sông chính chảy qua địa phận của
tỉnh Hà Giang là sông Lô (bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc) chảy qua cửa khẩu
Thanh Thuỷ về thị xã Hà Giang, huyện Bắc Quang...; sông Gâm bắt nguồn từ Trung
Quốc chảy qua Cao Bằng đến Bắc Mê rồi chảy xuống Tuyên Quang còn một số sông
ngắn, nhỏ chảy trong tỉnh như sông Nho Quế, sông Miện, sông Bạc, sông Chừng và sông
Chảy. Sông ở Hà Giang có độ nông, sâu không đều, độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh, không
thuận lợi cho giao thông đường thuỷ. Tuy nhiên, do sự phân bố không đều nên vùng cao núi
đá phía Bắc của tỉnh rất ít sông suối, hàng năm vào mùa khô thường thiếu nước nghiêm
trọng.
Giao thông đường bộ Hà Giang có 4 tuyến chính là: Quốc lộ số 2 từ cửa khẩu
Thanh Thuỷ về thị xã Hà Giang xuôi về phía nam qua Tuyên Quang về đến Hà Nội, là
mạch máu chính nối liền Hà Giang với các tỉnh đồng bằng và sang nước bạn Trung Quốc.
Đường 4C từ thị xã Hà Giang đi 4 huyện vùng cao: Quảng Bạ, Yên Minh, Đồng Văn,
Mèo Vạc. Đường số 34 từ thị xã Hà Giang đi Bắc Mê và sang Cao Bằng. Đường 179 từ
huyện Bắc Quang đi Yên Bình, Nghĩa Lộ (Yên Bái)… Hiện nay, các tuyến đường chính
này đã được nâng cấp, khắc phục căn bản việc đi lại khó khăn của những năm trước đây.
Đường ô tô đã được mở đến xã, nối với các huyết mạch giao thông chính trong tỉnh, tạo
điều kiện cho sự giao lưu đi lại và phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân
dân…
Hà Giang xưa kia nằm trong cương vực của nhà nước Văn Lang với địa danh là Bộ
Vũ Định. Trải qua lịch sử nhiều triều đại, tên gọi của Hà Giang cũng thay đổi dần theo năm
tháng: Châu Tuyên Quang, Thừa Tuyên Quang, Trấn Minh Quang…Cuối thế kỷ XIX,
Tuyên Quang lại được chia thành 3 hạt: Hạt Tuyên Quang, hạt Bắc Quang và hạt Hà
Giang. Năm 1891, tỉnh Hà Giang được chính thức thành lập trên cơ sở sáp nhập hai hạt Hà
Giang và Bắc Quang của tỉnh Tuyên Quang cũ. Năm 1976, tỉnh Hà Giang và tỉnh Tuyên
Quang sát nhập thành tỉnh Hà Tuyên. Năm 1991 Hà Giang được tách ra khỏi Hà Tuyên và
tái lập tỉnh Hà Giang.
Toàn tỉnh hiện có 195 xã, phường, thị trấn, 10 huyện và 1 thị xã, đó là huyện Quản
Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc, Bắc Mê, Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình,
Hoàng Su Phì, Xín Mần và thị xã Hà Giang. Dân số toàn tỉnh tính đến năm 2008 là
708.168, mật độ dân số trên 90 người/km2 người; bao gồm 22 dân tộc anh em. Đông nhất
là dân tộc Mông chiếm 30,8%, dân tộc Tày chiếm 26%, dân tộc Dao chiếm 15%, dân tộc
Kinh chiếm 12%, dân tộc Nùng chiếm 9,8%, còn lại là các dân tộc thiểu số khác.
Trong những năm qua, được sự quan tâm đầu tư có hiệu quả của Trung ương,
Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Hà Giang đã từng bước khắc phục khó khăn và đã
giành được những thành tựu cơ bản và toàn diện. Kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, cơ
cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp, tập trung để tăng
tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ; các lĩnh vực văn hoá - xã hội
phát triển tốt, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội được tăng cường, ổn định, biên giới hoà bình hữu nghị.
Bên cạnh những thuận lợi, Hà Giang cũng có nhiều khó khăn như: vẫn là một tỉnh
nghèo, tốc độ tăng trưởng kinh tế 2009 đạt 12,05% song quy mô còn nhỏ bé và thiếu
vững chắc, thu ngân sách mới chỉ đáp ứng một phần nhỏ, còn lại chủ yếu từ nguồn trung
ương cấp, thu nhập bình quân đầu người đã được nâng lên nhưng mới chỉ bằng 1/3 thu
nhập bình quân chung cả nước, mặt bằng dân trí thấp, đội ngũ cán bộ cơ sở còn nhiều bất
cập… Những yếu tố đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình triển khai và kết quả
thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã hội cũng như việc củng cố xây
dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh ở địa phương.
2.1.2. Thực trạng trình độ lý luận chính trị của cán bộ chủ chốt cấp xã ở Hà
Giang
Hà Giang là một tỉnh miền núi, biên giới có 22 dân tộc anh em chung sống. Từ
những năm tái thành lập tỉnh (năm 1991) đến nay, trong điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật
hạ tầng kinh tế - xã hội còn hạn chế, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn lại phải gánh
chịu hậu quả khắc nghiệt của thiên tai, bão lũ và dịch bệnh. Song, Hà Giang luôn nhận
được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, có hiệu quả của Trung ương, sự hợp tác, liên
kết kịp thời của các tỉnh bạn và sự đầu tư của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Trong những năm qua, mặc dù đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã
của tỉnh Hà Giang còn bất cập trên nhiều mặt. Song với sự quan tâm của Đảng bộ, chính
quyền tỉnh, sự giúp đỡ của Trung ương, các Đảng uỷ, bước đầu đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp xã ở Hà Giang đã có sự phát triển cả về số lượng, chất lượng và năng lực tổ chức
thực tiễn.
Do đặc thù của tỉnh vùng cao, biên giới, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp xã ở Hà Giang chủ yếu là người địa phương, sống và làm việc trong điều kiện khó
khăn, khắc nghiệt. Tuy vậy, phần lớn, họ là những cán bộ có bản lĩnh chính trị vững
vàng, không ngại khó, ngại khổ, chấp nhận mọi khó khăn; luôn kiên định lập trường, mục
tiêu, lý tưởng của Đảng, quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới của Đảng. Đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã đã và đang là lực lượng nòng cốt góp
phần quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có tinh thần trách nhiệm cao,
có phẩm chất tốt, có lối sống lành mạnh, giản dị , chăm lo xây dựng Đảng, xây dựng
chính quyền và các đoàn thể nhân dân. Họ thực sự là động lực thúc đẩy mạnh mẽ công
cuộc đổi mới toàn diện ở địa phương, được Đảng bộ và nhân dân tín nhiệm.
Phần lớn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã ở tỉnh Hà Giang bước
đầu đã có sự trưởng thành về nhiều mặt. Họ đã bắt đầu làm quen với cơ chế mới, mạnh
dạn, dám nghĩ, dám làm, đã có sự nhạy cảm về chính trị, tư duy chính trị. Những thành
tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Giang trong thời gian qua có sự đóng góp
không nhỏ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã của tỉnh. Bởi vì, khi
trình độ của đội ngũ cán bộ này được nâng lên thì khả năng tiếp thu, vận dụng, cụ thể hoá
tổ chức thực hiện mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước sẽ đúng đắn hơn, sáng tạo hơn, dân chủ hơn. Được rèn luyện trong thực tiễn, được
trang bị kiến thức lý luận chính trị giúp cho họ gần dân, sát dân hơn, biết lắng nghe và
phân biệt được ý kiến nguyện vọng chính đáng của nhân dân, trên cơ sở đó mà hoạch
định chủ trương, chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội… nhằm đảm
bảo an ninh quốc phòng ở địa phương.
Thực tế cho thấy, cán bộ chủ chốt cấp xã có trình độ và được đào tạo cơ bản về lý
luận chính trị, chuyên môn, nắm vững đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước thì bản thân họ năng động, linh hoạt khi nghiên cứu tình hình của địa
phương, cơ sở để xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội ở địa bàn. Đó là những mô
hình hay cần được nhân rộng như: thay thế cây thuốc phiện bằng cây ăn quả, lương thực,
thực phẩm như: đậu đũa…, xây dựng mô hình kinh tế trang trại, VAC… góp phần xoá
đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương; xây dựng làng
văn hoá, hạn chế các tệ nạn xã hội, chống âm mưu chia rẽ của kẻ địch, giữ vững an ninh
chính trị, trật tự an toàn biên giới của Tổ quốc.
Tuy nhiên, so với yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
chủ chốt cấp xã tỉnh Hà Giang còn hạn chế về năng lực, trình độ… chưa theo kịp yêu cầu
của sự nghiệp đổi mới đất nước nói chung và của Hà Giang nói riêng.
Theo số liệu của Sở Nội vụ tỉnh Hà Giang, tổng số cán bộ lãnh đạo chủ chốt của
195 xã, phường, thị trấn là: 1.054 người
* Về cơ cấu:
- Giới tính:
Nam: 84,9%
Nữ: 15,1%
- Độ tuổi:
Dưới 35 tuổi: 44,9%
Từ 35 tuổi đến 44 tuổi: 26,9%
Từ 45 đến 50 tuổi: 19,7%
- Dân tộc:
Dân tộc Kinh: 14,1%
Dân tộc khác: 85,9%
Về thâm niên công tác: hầu hết đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã
của tỉnh đã có quá trình công tác lâu dài, không có cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt nào
có thâm niên dưới 5 năm; Số cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã có thâm niên công
tác từ 5 đến 10 năm chiếm tỷ lệ nhỏ: 1,54%; đa số có thâm niên công tác từ 10 năm trở
lên, chiếm tỷ lệ 9,46%. Trong đó thời gian giữ các chức danh lãnh đạo chủ chốt hầu hết
được một nhiệm kỳ; dưới 5 năm có 65,13%, số lãnh đạo 2 nhiệm kỳ là 28,55% và trên 10
năm chiếm 7,32%.
Nguồn cán bộ: Cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã của tỉnh hình thành chủ
yếu từ 3 nguồn chính: Cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã tr ưởng thành từ cơ sở,
gắn bó trực tiếp với địa phương là: 68,12%; Cán bộ tăng cường: 21,53%; Các đối tượng
khác chiếm 1,55%
* Về trình độ:
+ Trình độ học vấn: Đa số cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã của tỉnh đã có
trình độ học vấn tốt nghiệp phổ thông, cụ thể:
- Số cán bộ có trình độ hết bậc tiểu học: 3,7%
- Số cán bộ có trình độ trung học cơ sở: 31,9%
- Số cán bộ có trình độ phổ thông trung học: 64,4%
+ Trình độ chuyên môn:
- Chưa qua đào tạo: 56,4%
- Sơ cấp: 6,4%
- Trung cấp: 26,3%
- Cao đẳng: 1,1%
- Đại học: 9,8%
+ Trình độ lý luận chính trị:
- Sơ cấp lý luận chính trị: 38,4%
- Trung cấp lý luận chính trị: 60,9%
- Cao cấp, cử nhân: 0,7%
+ Trình độ quản lý hành chính nhà nước:
- Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước: 52,4%
- Trung cấp hành chính: 1,2%
- Chưa qua đào tạo hành chính: 46,4%
Với những số liệu về giới tính cho thấy tỷ lệ nữ giới chiếm tỷ lệ thấp (15,1%)
trong tổng số cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã. Đây cũng là vấn đề đáng quan
tâm, suy về chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc thực
hiện bình đẳng nam và nữ trong việc lựa chọn, bồi d ưỡng, tạo điều kiện để nữ giới
tham gia nhiều hơn trong lĩnh vực quản lý xã hội.
Thực tế cho thấy, người cán bộ có trình độ học vấn càng cao thì việc tiếp thu,
nắm bắt những kiến thức nói chung và những kiến thức về lý luận chính trị nói riêng
càng dễ dàng hơn, thu ận lợi hơn cho việc tiếp thu, tổ chức thực hiện đ ường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà n ước, góp phần th ực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đ ại hoá của đất n ước. Do đ ó, ở b ất cứ địa ph ương
nào, khi có một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt có trình độ học vấn cao,
nhất là trình độ về lý luận chính trị thì họ có t ư duy biện chứng, nhạy bén trước thực
tiễn của địa ph ương và đ ất n ước thông qua đó đưa ra những quyết sách sát với địa
phương, đem l ại hiệu quả cao hơn. Vì thế, khi trình đ ộ học vấn của người cán bộ
lãnh đ ạo, quản lý chủ chốt cấp c ơ sở còn thấp sẽ cản trở việc học tập, tiếp thu lý l uận
chính trị sẽ rất khó, dẫn đến hoạt đ ộng thực tiễn kém hiệu quả.
Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay đòi hỏi đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp c ơ sở cần phải có trình độ chuyên môn nhất định.
Trình độ chuyên môn là một trong những yếu tố cơ bản có ảnh hưởng đến việc nâng
cao trình độ lý luận chính trị. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao thì càng
có cơ sở khoa học giúp người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở tiếp thu
nhanh hơn kiến thức về lý luận chính trị. Thực tế, theo số liệu điều tra của Sở Nội vụ
tỉnh Hà Giang cho thấy trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ
chốt cấp xã còn rất thấp, số cán bộ có trình độ cao đẳng và đại học chỉ chiếm có
10,9%, trình độ trung cấp chiếm 26,3%, trình độ sơ cấp chiếm 6,4%, số chưa qua đào
tạo chiếm tỷ lệ cao nhất: 56,4%. Nh ư vậy, với tỷ lệ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
chủ chốt cấp xã của tỉnh ch ưa qua đào tạo về mặt chuyên môn, nghiệp vụ chiếm một
số lượng rất lớn. Đây chính là một trong những khó khăn đối với cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt cấp cơ sở trong quá trình lãnh đạo, tổ chức, quản lý và quá trình phát
triển kinh tế xã hội ở địa phương.
Trước tình hình trên, để thực hiện thành công Nghị quyết của Đại hội Đại biểu
Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XIV(Nhiệm kỳ 2005 - 2010) là phấn đấu 2010 có: “100%
cán bộ chủ chốt cấp xã có trình độ lý luận chính trị” [7, tr.105]. Đảng bộ tỉnh đã quán triệt,
triển khai và ban hành các văn bản, chỉ thị, nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo công tác tổ
chức cán bộ trên các lĩnh vực, trong đó có phương án quy hoạch đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt cấp xã.
Để thực hiện các chương trình, kế hoạch trên, cấp uỷ và chính quyền các cấp của
tỉnh Hà Giang đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo Trường Chính trị tỉnh và trung tâm bồi
dưỡng chính trị các huyện trong việc đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở; đồng thời đã có những chính sách cụ thể cho
người dạy và người học lý luận chính trị, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất… đáp ứng nhu
cầu đào tạo lâu dài
Xuất phát từ vai trò và ý nghĩa to lớn của công tác đào tạo cán bộ nhất là với đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã, cần phải xây dựng được quy hoạch về đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ một cách hoàn chỉnh, có cơ sở khoa học. Trên cơ sở quán triệt sâu
sắc và vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng về việc “đầu tư thích đáng cho việc đào
tạo, bồi dưỡng những người ưu tú trở thành cán bộ chủ chốt” [17, tr.87] và “dành kinh
phí thoả đáng cho việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở” [14, tr.148] vào tình
hình cụ thể của địa phương. ý thức được vai trò, vị trí và tầm quan trọng của vấn đề này,
Tỉnh uỷ Hà Giang đã có các quy định về chế độ chính sách đãi ngộ đối với cán bộ như:
Quyết định số 348/QĐ TU ngày 02/01/1999 và Quyết định số 15-QĐ/TU ngày
08/01/2001 quy định về chính sách cán bộ tỉnh Hà Giang… nhằm khuyến khích, động
viên, thu hút cán bộ cơ sở đi học để nâng cao trình độ nói chung và trình độ lý luận nói
riêng. Qua số liệu của Sở Nội vụ tỉnh Hà Giang cho thấy cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ
chốt cấp xã có trình độ trung cấp lý luận chính trị còn thấp, mới chỉ đạt 60,9%, cao cấp
và cử nhân chỉ có 0,7% còn lại là trình độ sơ cấp và chưa qua đào tạo.
Hà Giang là một tỉnh biên giới nghèo, có nhiều khó khăn, điều kiện tự nhiên
không thuận lợi, địa hình, trình độ phát triển kinh tế giữa các vùng không đồng đều, tỉnh
có nhiều dân tộc anh em sinh sống, trình độ dân trí còn thấp. Do đó, để xây dựng được
một đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở có trình độ chuyên môn, nhất là
trình độ về lý luận chính trị là vấn đề rất khó khăn. Tỉnh uỷ Hà Giang đã ban hành quyết
định số 454/QĐ - TU ngày 17/03/1999 của Ban Thường vụ tỉnh uỷ Hà Giang: “Mở lớp
đặc biệt đào tạo cán bộ cơ sở năm 1999 và sự phối kết hợp giữa Trường Chính trị tỉnh các
ban, ngành có liên quan. Đối tượng được tuyển dụng là cán bộ xã biên giới và các xã
vùng 3 (xã đặc biệt khó khăn) được đào tạo trong thời gian 30 tháng đối với học viên có
trình độ lớp 3 và lớp 4; thời gian 24 tháng đối với học viên tốt nghiệp lớp 5, lớp 6 và
trung học cơ sở, trong đó cán bộ đương chức, cán bộ dự nguồn là lãnh đạo, quản lý chủ
chốt cấp xã chiếm tỷ lệ cao. Cho đến nay, Trường Chính trị tỉnh đã phối hợp với các ban
ngành đào tạo được 4 khoá hệ đặc biệt:
Khoá I: đối tượng có trình độ văn hoá học xong chương trình xoá mù chữ (1999 -
2002) là dân tộc ít người, tuổi đời: dưới 40 tuổi đối với cán bộ đương chức, 18 tuổi đến
25 tuổi đối với cán bộ dự nguồn.
Khoá II và khoá III: có trình độ tốt nghiệp bậc tiểu học, độ tuổi từ 18 đến đến 25
tuổi.
Khoá IV: có trình độ tốt nghiệp bậc THCS, đối với cán bộ đương chức từ 25 đến
40 tuổi, độ tuổi đối với cán bộ dự nguồn là 20 đến 25 tuổi.
Như vậy, qua 4 khoá đào tạo chương trình đặc biệt cho thấy do trình độ văn hoá
của đội ngũ cán bộ còn quá thấp cho nên khi đào tạo chương trình lý luận chính trị theo
chương trình trung học chính trị của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí
Minh, thời hạn 14 tháng là quá nặng so với đội ngũ cán bộ này.
Ngoài chương trình đào tạo hệ đặc biệt cho đội ngũ cán bộ chủ chốt vùng đặc biệt
khó khăn, biên giới, Trường Chính trị tỉnh Hà Giang còn phối kết hợp với trung tâm bồi
dưỡng chính trị các huyện, thị không ngừng đầu tư về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên
để đáp ứng ngày càng cao hơn nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị của đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở.
Trường Chính trị tỉnh Hà Giang là trung tâm đào tạo cán bộ của tỉnh có nhiệm vụ
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân
cấp cơ sở và đào tạo cán bộ dự nguồn chức danh nêu trên. Trên cơ sở chức năng, nhiệm
vụ, xác định rõ mục tiêu, đối tượng đào tạo, với điều kiện và khả năng hiện có. Trong
những năm qua, Trường Chính trị đã tập trung mở các lớp đào tạo về trung cấp lý luận
chính trị (hệ tập trung, tại chức, trung cấp lý luận chính trị ngắn hạn - 7 tháng), trung cấp
hành chính, các lớp bồi dưỡng… Cùng với việc tập trung mở các lớp đào tạo về lý luận
chính trị của trường theo số liệu thống kê kết quả đào tạo cho thấy: tính từ năm 1995 trở
lại đây, trường đã mở cả hệ tập trung và không tập trung được 45 lớp với tổng số 3.522
học viên.
Cùng với việc tăng cường về số lượng, thực hiện đa dạng hoá hình thức mở lớp để
tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị thì nội dung chương
trình đào tạo của trường đã từng bước được bổ sung, đổi mới nhằm trang bị một cách cơ
bản, tương đối có hệ thống những vấn đề lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, kiến thức về xây dựng Đảng, quản lý Nhà nước, về công tác dân vận… Với cơ
cấu môn học và lượng kiến thức trên, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã đã
nâng cao được năng lực tư duy lý luận, khả năng nắm bắt và triển khai tổ chức thực hiện
các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ngày càng tốt
hơn.
Thực tế cho thấy, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cấp xã đã được đào tạo,
bồi dưỡng về lý luận chính trị đã cơ bản giúp họ có thể vận dụng hiệu quả trong việc lãnh
đạo, chỉ đạo thực tiễn ở cơ sở. Hiệu quả của việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở không chỉ thể hiện ở chứng chỉ, bằng
cấp mà chính là năng lực thực tế của họ. Trình độ về lý luận chính trị là cơ sở để cán bộ
lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã quán triệt một cách sâu sắc đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đánh giá, nhận xét, giải quyết công việc cụ
thể, khách quan, toàn diện hơn, giúp cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo đạt hiệu quả cao hơn.
Ngoài ra, khi người cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã được trang bị những kiến thức về lý
luận chính trị giúp cho bản thân họ tự tin hơn, có bản lĩnh, lập trường rõ ràng hơn trong
quá trình công tác.
Hiện nay, ở tỉnh Hà Giang, số lượng cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở có
trình độ trung cấp lý luận chính trị chiếm tỷ lệ chưa nhiều (60,9%). Trong giai đoạn hiện
nay, đi liền với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, trình độ học vấn, đời sống nhân dân
ngày càng được cải thiện thì cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã nói
riêng cần phải được đào tạo cơ bản, toàn diện về mọi mặt, nhất là về trình độ lý luận
chính trị. Trong điều kiện của tỉnh còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí còn thấp, để đào
tạo được số cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã có trình độ trung cấp lý luận chính
trị, đòi hỏi phải quy hoạch, có thời gian và được tiến hành thường xuyên, liên tục.
Như vậy, để đáp ứng nhu cầu đào tạo trước mắt và lâu dài, Trường Chính trị tỉnh
Hà Giang ngoài việc đầu tư về cơ sở vật chất cho Nhà trường thì việc đào tạo đội ngũ cán
bộ giảng viên lý luận chính trị đã được coi trọng. Trong điều kiện mới tái lập, (tách từ
trường chính trị Hà Tuyên từ năm 1991 đến nay) nhà trường đặc biệt quan tâm tăng
cường, bổ sung lực lượng giảng viên trẻ, có trình độ cao, tích cực đào tạo, đào tạo lại đội
ngũ giảng viên hiện có, thường xuyên cử giảng viên đi tham gia đào tạo sau đại học, tích
cực bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy tích cực cho đội ngũ
giảng viên. Về đội ngũ giảng viên tính đến nay toàn trường có 47 người, trong đó 32
người giảng viên (có 11 giảng viên kiêm chức), 100% giảng viên có trình độ đại học, 5
thạc sỹ và 9 giảng viên đang được đào tạo sau đại học. Nhìn chung đội ngũ giảng viên lý
luận chính trị của nhà trường năng động, nhiệt tình, trách nhiệm, tâm huyết với nghề, có
trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức tốt.
Cùng với những kết quả đạt được tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh tăng cường đầu tư
cơ sở vật chất cho nhà trường và trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ giảng viên lý luận chính trị. Tuy nhiên, việc giảng
dạy lý luận chính trị còn chậm được đổi mới, vẫn còn nặng về phương pháp giảng dạy
truyền thống, chủ yếu là thuyết trình, việc áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực đối
với người học còn hạn chế. Do vậy, học viên tiếp thu kiến thức lý luận chính trị vẫn còn
thụ động, rời rạc, chưa phát huy được tính độc lập, tích cực, sáng tạo của người học. Vì
thế, bên cạnh những mặt đã đạt được đối với người học là được trang bị về lý luận chính
trị thì nhìn chung trình độ, năng lực, nhất là trình độ về lý luận chính trị của một bộ phận
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã vẫn còn thấp kém so với yêu cầu, đây
cũng là một trong những thách thức lớn của tỉnh nhà. Một bộ phận không nhỏ trong đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã còn hạn chế do mới được bồi dưỡng về lý
luận chính trị, trình độ học vấn mới chỉ hết bậc tiểu học. Do trình độ học vấn thấp, trình
độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ
chốt còn hạn chế, cho rằng họ thường dựa vào kinh nghiệm và sự từng trải của bản thân
để giải quyết công việc theo cảm tính chủ quan. Việc tiếp thu, quán triệt đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước gặp nhiều khó khăn; trong hoạt
động lãnh đạo quản lý thì thiếu tính khoa học, tầm nhìn còn hạn hẹp do đó hiệu quả của
công việc chưa cao.
Trình độ, năng lực và hiệu quả đạt được trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội của tỉnh. Đồng thời, đây cũng là sự khẳng định mức độ trưởng thành của đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở.
Mục tiêu của Đảng bộ tỉnh từ nay đến năm 2010: “Xây dựng đội ngũ cán bộ chủ
chốt ở cơ sở có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong đáp ứng
với yêu cầu, đòi hỏi trong sự nghiệp đổi mới đất nước, bảo đảm tiêu chuẩn theo từng
chức danh đã được trung ương quy định” [7, tr.4].
Để thực hiện mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, từng bước nâng cao
trình độ, nâng cao năng lực nhận thức và vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn, cũng
như nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công
cuộc đổi mới. Tỉnh uỷ Hà Giang đã xác định nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ từ nay
đến Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Đại hộ lần thứ XI của Đảng và đến năm 2020:
Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ
ngắn hạn và dài hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành
thực sự vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống,
có trình độ chuyên môn, chính trị đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của sự
nghiệp đổi mới [45, tr.17]
Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, coi trọng
cán bộ tại chỗ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, cán bộ trẻ, đặc biệt
là cán bộ cơ sở. Tiếp tục tăng cường đào tạo cán bộ có trình độ đại học và trên
đại học, cân đối giữa các ngành, các huyện, thị về cán bộ có trình độ đại học và
trên đại học về chuyên môn, trình độ chính trị, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học
kỹ thuật, cán bộ làm công tác đối ngoại… để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong
tình hình mới [45, tr.17]
2.1.3. Nguyên nhân về thực trạng trình độ lý luận chính trị của cán bộ chủ
chốt cấp xã ở Hà Giang
2.1.3.1. Nguyên nhân của những kết quả đạt được
Dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, thực hiện những chủ trương,
nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết trung ương 3, khoá VIII về chiến lược cán
bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nghị quyết trung ương 5
khoá IX: “ Về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị
trấn”; các cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương đã từng bước xây dựng chương trình
hành động, cụ thể hoá chiến lược cán bộ vào các cấp, các ngành, đặc biệt là đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở.
Những chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước đã góp phần
tạo nên sự thống nhất về nhận thức, nâng cao trách nhiệm cho các cấp uỷ và chính quyền
các cấp trong tỉnh. Trên cơ sở đó, tạo được sự phối hợp nhịp nhàng giữa các ban, ngành,
đoàn thể trong việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý chủ chốt ở cơ sở.
Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang không ngừng quan tâm chỉ đạo, đầu tư
đồng bộ cơ sở vật chất, nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy và nâng cao chất
lượng đội ngũ đảng viên cho Trường Chính trị tỉnh, trung tâm bồi dưỡng chính trị của các
huyện, thị xã nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị, gắn lý luận với thực tiễn, đổi mới
chương trình, phương pháp giảng dạy, đầu tư trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt
động dạy và học qua đó tạo nên sự hứng thú đối với người học.
Ban thường vụ tỉnh uỷ Hà Giang đã chỉ đạo các cơ quan phối hợp với Trường
Chính trị tỉnh tập trung mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị theo từng đối
tượng, từng vùng khác nhau như: hệ đào tạo cán bộ đặc biệt; Lớp trung cấp lý luận ngắn
hạn; Lớp trung cấp chính trị tập trung, không tập trung. Do vậy, trong một thời gian ngắn,
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở được đào tạo qua chương trình trung
cấp lý luận chính trị đã đạt 60,9%. Mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ
XIV là: “Phấn đấu đến năm 2010, số đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở
có trình độ trung cấp lý luận chính trị là 70%” [7,tr.105].
Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần phải xây
dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp xã có trình độ về chuyên môn, trình độ về lý luận chính trị, có phẩm chất tốt, bản lĩnh
chính trị vững vàng, có tinh thần trách nhiệm, vượt qua mọi khó khăn thử thách. Vì thế,
trong những năm qua, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước về công tác cán bộ, Đảng bộ, chính quyền tỉnh từng bước xây dựng các chương
trình hành động, cụ thể hoá chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ cho các cấp, các ngành
nhằm thực hiện mục tiêu của Đại hội lần thứ XIV của tỉnh Hà Giang.
Hiện nay, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, kinh tế - xã hội của tỉnh Hà
Giang đã có những bước phát triển vượt bậc. Nhờ đó, chính quyền địa phương có điều
kiện để xây dựng chế độ, chính sách ưu đãi cho cán bộ đi học, động viên về vật chất và
tinh thần cho cán bộ, đảng viên đi học trong đó có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ
chốt cấp xã. Đây cũng là một trong những yếu tố góp phần tạo nên những kết quả trong
công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Hà Giang hiện nay.
2.1.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém
Bên cạnh những mặt đạt được trong việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã. Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao
trình độ lý luận chính trị cho họ còn có những hạn chế, yếu kém. Nguyên nhân của những
hạn chế, yếu kém là do:
Một là, điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường sống… đã ảnh hưởng trực tiếp
đến việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ.
Hà Giang là một tỉnh miền núi biên giới, cực bắc của Tổ quốc, có vị trí quan trọng
về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, nền kinh tế của tỉnh chủ yếu là sản
xuất lâm nghiệp, nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp là. Canh tác chủ yếu là trồng ngô
trên các triền núi đá, làm lúa nương trên ruộng bậc thang…, đời sống của nhân dân còn
gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Hiện nay, toàn tỉnh vẫn còn trên 50% tỷ lệ hộ nghèo đói
và tập trung chủ yếu ở các huyện vùng cao biên giới.
Hà Giang có địa hình phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, dân cư sinh sống thưa
thớt cho nên đời sống nhân dân về mọi mặt còn rất nhiều khó khăn. Mặt khác, do trình độ
dân trí còn thấp kém, Hà Giang tuy đã đạt chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập giáo
dục tiểu học năm 1999, song kết quả này còn thiếu ổn định và hiện nay, hiện tượng tái
mù còn chiếm tỷ lệ cao. ở các huyện vùng cao của tỉnh người dân chỉ dừng lại ở mức biết
đọc, biết viết, học sinh có điều kiện tiếp tục học lên trung học cơ sở và phổ thông trung
học là rất ít do điều kiện kinh tế gia đình, do địa hình giao thông đi lại cách trở. Vì thế,
hiện nay vẫn còn có quan niệm của một số người cho rằng: không cần đào tạo, bồi dưỡng
vẫn làm được việc, gần giống với quan niệm muôn thủa của đồng bào dân tộc vùng cao
đó là: “học cũng ăn ngô, không học cũng ăn ngô”.
Từ thực tế cho thấy, đây cũng là một trong những khó khăn lớn cho công tác đào
tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ về lý luận chính trị cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý chủ
chốt cấp cơ sở. Theo quy chế chung của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ
Chí Minh, đối tượng được tuyển chọn học lớp trung cấp lý luận chính trị phải có trình độ
tốt nghiệp phổ thông trung học. Với đặc điểm của tỉnh là có gần 90% dân số là người dân
tộc thiểu số, đặc điểm tâm lý chung của họ là tính tự ti, tự ái, và lòng tự trọng rất cao,
trình độ văn hoá thấp, lại bị ràng buộc bởi những phong tục tập quán lạc hậu cho nên khó
thoát ly khỏi điều kiện gia đình để đi học, đối với phụ nữ lại càng khó khăn hơn.
Với những điều kiện như vậy, để động viên cán bộ chủ chốt ở cấp xã đi học nhằm
nâng cao trình độ lý luận chính trị là vấn đề rất khó khăn, trong khi đó, một bộ phận đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã có trình độ văn hoá còn hạn chế, chưa được
đào tạo về chuyên môn, trình độ lý luận chính trị. Đây là hạn chế lớn, cản trở quyết tâm
thực hiện mục tiêu đã đặt ra tại Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV là: phấn đấu đến năm
2010 có 100% tỷ lệ cán bộ xã vùng thấp có trình độ phổ thông trung học, trung cấp
chuyên môn và trung cấp chính trị, 70% cán bộ xã vùng cao có trình độ phổ thông trung
học, trung cấp chuyên môn và trung cấp chính trị; đòi hỏi sự nỗ lực phối hợp của các cấp
uỷ đảng, chính quyền địa phương và các sở, ban, ngành, đoàn thể để thực hiện nghị quyết
của Đảng bộ tỉnh.
Hà Giang là tỉnh thuần nông, có địa hình phức tạp, nhiều núi cao, vực sâu, độ dốc
lớn, vì thế nó ảnh hưởng lớn đến việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, là một
tỉnh có 22 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Mông chiếm 30,8%, trình độ văn
hoá của các dân tộc thiểu số thấp. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã chủ
yếu xuất thân từ nông dân, là lao động chính, là chủ gia đình, có trách nhiệm chăm lo
phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội… của địa phương, tăng thu nhập cho gia đình.
Khi được cử đi đào tạo, bồi dưỡng bản thân họ đắn đo, suy nghĩ trước công việc
chung và lợi ích riêng, bởi vì đi học có điều kiện nâng cao năng lực, trình độ cho bản
thân; sử dụng kiến thức đã học và thực tiễn công tác của mình làm lợi cho địa phương,
song thu nhập của gia đình lại bị giảm sút vì thiếu lao động, hơn nữa đi học lại phải chi
phí tốn kém…
Từ thực tế trên cho thấy, mặc dù trong những năm qua, tỉnh đã có nhiều chế độ,
chính sách nhằm khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý chủ chốt cấp xã đi học và chính bản thân họ cũng ý thức được đi học là mang lại hiệu
quả thiết thực, song nhiều người vẫn còn tâm lý ngại học do còn mang tính bảo thủ, trì
trệ, trông chờ, ỷ lại, thiếu năng động, thiếu tinh thần trách nhiệm, ngại khó, ngại khổ.
Một trong những khó khăn có tác động không nhỏ đến việc học tập để nâng cao
trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã ở Hà
Giang hiện nay là do trình độ học vấn còn thấp, số cán bộ chưa tốt nghiệp phổ thông
trung học là 3,7%, trong khi có trình độ trung học phổ thông là điều kiện bắt buộc để
được tuyển chọn vào học chương trình trung cấp lý luận chính trị. Do đó, từ thực tế trên,
tỉnh Hà Giang đã thực hiện nhiều chương trình đào tạo lý luận chính trị khác nhau như:
Hệ đào tạo đặc biệt (dành cho cán bộ vùng đặc biệt khó khăn, vùng biên giới); Hệ đào tạo
ngắn hạn 7 tháng; Hệ tại chức tập trung. Với mặt bằng trình độ học vấn như vậy sẽ ảnh
hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt cấp xã.
Trong hoàn cảnh mới hiện nay, đội ngũ cán bộ ở tỉnh Hà Giang nói chung và đội
ngũ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã nói riêng về cơ bản có quan điểm,
lập trường kiên định, vững vàng, không dao động trước biến động của thời cuộc, trước
mặt trái của nền kinh tế thị trường, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và
nhân dân, vận dụng sáng tạo và tổ chức thực hiện thắng lợi các đường lối, chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào tình hình thực tế của địa phương. Tuy
nhiên, do hạn chế về trình độ học vấn nên một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp xã còn ngại học lý luận chính trị, ngại nghiên cứu, coi học tập lý luận chính trị là bắt
buộc, chỉ là vấn đề liên quan đến đề bạt, bổ nhiệm, đến chế độ chính sách được hưởng.
Một số người còn cho rằng, lý luận chính trị không phải là chuyên môn nên có cũng tốt,
không có cũng không sao miễn là làm tốt công tác chuyên môn. Một số ít cán bộ đi học
lý luận chính trị với động cơ, mục đích cốt chỉ để lấy bằng cấp, chứng chỉ nhằm củng cố
địa vị của mình. Bên cạnh đó còn có quan niệm cho rằng lý luận chính trị là lĩnh vực khó,
mang tính trừu tượng nên khó tiếp thu, khó nhớ… cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp
xã hoạt động trong lĩnh vực thực tiễn, tuổi cao, hạn chế về trình độ học vấn về sức khoẻ,
về gia đình, điều kiện công tác… Vì thế, khi cán bộ này được cử đi học lý luận chính trị
thì thường học tập mang tính đối phó, học qua loa, đại khái, không tập trung tư tưởng
nghiên cứu, rèn luyện cho nên hiệu quả đạt được rất thấp.
Như vậy, do hạn chế về điều kiện kinh tế - x ã hội, điều kiện vật chất, tinh thần
trong việc nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt ở c ơ sở chỉ có thể
được khắc phục khi bản thân mỗi cán bộ phải tự rèn luyện, tự nâng cao ý thức, nỗ lực
vươn lên, khắc phục mọi hoàn cảnh khó khăn, phức tạp để nâng cao trình độ lý luận
chính trị của mình, đáp ứng nhiệm vụ được giao.
Hai là, do công tác quy hoạch đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở
còn chưa hợp lý; chế độ chính sách đối với người học lý luận chính trị còn nhiều hạn chế,
bất cập.
Trước yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhận thức được tầm quan trọng của lý luận
chính trị đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở. Trong những năm
gần đây, các cấp uỷ đảng và chính quyền tỉnh Hà Giang đã có nhiều cố gắng, quan tâm
sát sao hơn tới công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí sử dụng cán bộ, tạo sự ổn định và từng
bước nâng cao trình độ về mọi mặt cho đội ngũ này. Tuy nhiên, công tác này còn bộc lộ
nhiều hạn chế: “Công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí,
sử dụng cán bộ còn thiếu tính chiến lược; chưa có quy hoạch chiến lược đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ các cấp là người địa phương, dân tộc thiểu số và cán bộ nữ” [7, tr.51].
Thực tế cho thấy, có chuẩn bị tốt nguồn cán bộ ở cơ sở, nhất là cán bộ nguồn giữ
các chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt thì mới xây dựng được kế hoạch cụ thể, sát,
hợp cho công tác đào tạo đúng đối tượng mới có được đội ngũ cán bộ dự nguồn đủ điều
kiện, tiêu chuẩn về mọi mặt trong đó có trình độ về lý luận chính trị, để thay thế khi cần
thiết. Vì thế, việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho họ phải được xây dựng thành
kế hoạch một cách đồng bộ, toàn diện. Tình trạng phổ biến ở Hà Giang hiện nay vẫn là
đề bạt, bổ nhiệm hoặc bầu cử rồi mới cho đi đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Do đó,
tạo ra một tâm lý chung là chưa được quy hoạch thì không cần đi đào tạo về lý luận chính
trị. Chính bởi vậy, việc đào tạo chưa gắn với quy hoạch và sử dụng, nên không khuyến
khích được tinh thần tự giác, chủ động, tích cực học tập nâng cao trình độ lý luận chính
trị.
Để động viên, khuyến khích cán bộ tích cực học tập, rèn luyện không ngừng nâng
cao trình độ về mọi mặt nhằm đáp ứng nhu cầu, đòi hỏi của công cuộc đổi mới thì chế độ
chính sách, kinh phí hỗ trợ cán bộ đi học cũng có tác động không nhỏ tới động cơ, thái
độ, tinh thần tự giác học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, tạo điều kiện thuận lợi
cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở yên tâm học tập, rèn luyện.
Trong những năm qua, tỉnh Hà Giang đã có những quy định cụ thể về chế độ trợ cấp cho
các đối tượng được tuyển chọn đi đào tạo, bồi dưỡng như:
Đối với hệ đào tạo đặc biệt từ 24 tháng đến 30 tháng tại trường Chính trị tỉnh được
hưởng sinh hoạt phí: 250.000đ/tháng đối với nam giới và 300.000đ/tháng đối với nữ giới.
Đối với học viên tham gia đào tạo tập trung tại Trường Chính trị tỉnh thì học viên
nam được trợ cấp 100.000đ/tháng và 120.000đ/tháng đối với nữ.
Những chính sách trên đã thể hiện sự quan tâm của tỉnh đối với công tác đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở nói riêng.
Đây là nguồn động viên, hỗ trợ lớn đối với cán bộ được cử đi học, giúp họ bớt một phần
khó khăn về kinh tế trong quá trình học tập. Tuy nhiên, so với các tỉnh khác thì mức trợ
cấp này còn quá thấp, chưa thực sự tạo được động lực tích cực, tự giác để cán bộ học tập,
nâng cao trình độ chuyên môn và lý luận chính trị.
Ba là, công tác đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị cho cán bộ của tỉnh trong
thời gian qua còn nặng về lý thuyết, chưa bám sát thực tế.
ở Hà Giang, trình độ dân trí không đồng đều nên việc đào tạo chương trình lý luận
chính trị cũng phải theo đặc thù của tỉnh với nhiều hệ đào tạo khác nhau. Hệ đặc biệt (vừa
học chương trình văn hoá, lý luận chính trị, quân sự và khuyến nông); Chương trình đào
tạo ngắn hạn 7 tháng (nội dung chương trình được rút ngắn); Hệ trung cấp chính trị 14
tháng (tập trung, tại chức). Do học viên có trình độ học vấn khác nhau nên việc truyền tải
kiến thức về lý luận chính trị cũng cần phải có phương pháp.
Trường Chính trị tỉnh Hà Giang có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính
trị cho cán bộ trong hệ thống chính trị của tỉnh, huyện, xã, phường, thị trấn. Đại hội Đảng
bộ tỉnh lần thứ XII đã xác định nhiệm vụ cho các trường trong công tác đào tạo cán bộ:
Trường Chính trị tỉnh tăng cường công tác chăm lo bồi dưỡng đào tạo
và đào tạo lại đội ngũ cán bộ đương chức, tiếp tục kiện toàn hệ thống các
trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh, huyện, đảm bảo nâng cao chất
lượng dạy và học, cải tiến nội dung và hình thức đào tạo cho phù hợp với đặc
điểm của cán bộ cơ sở, coi trọng đào tạo cán bộ nữ, cán bộ dân tộc ít người,
cán bộ phường và các doanh nghiệp [5, tr.52].
Tuy nhiên, thực tế hiện nay ở Trường Chính trị của tỉnh, đội ngũ giảng viên lớn
tuổi, có kinh nghiệm thực tiễn thì rất ít, phần đông là giảng viên trẻ, mới được đào tạo
hoặc đào tạo lại về tham gia công tác giảng dạy nên kiến thức thực tiễn còn hạn chế, điều
đó làm giảm sự hứng thú và chất lượng của bài giảng cho từng đối tượng học viên. Nội
dung chương trình và phương thức đào tạo, bồi dưỡng còn chậm được đổi mới, chưa đáp
ứng được yêu cầu thực tiễn sinh động; phương pháp giảng dạy còn mang nặng tính diễn
giảng, thuyết trình, chưa phát huy được tính tích cực của người học. Do đó, chưa khắc
phục được tư tưởng ngại học, ngại nghiên cứu; học lý luận chính trị chỉ là một hình thức
bắt buộc đối với người học.
Trên đây là một số nguyên nhân chủ yếu, về những hạn chế, yếu kém về trình độ
lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Hà Giang; những nguyên nhân
này có quan hệ, tác động lẫn nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến công tác đào
tạo để nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp xã ở tỉnh Hà Giang hiện nay, ảnh hưởng không nhỏ tới nhận thức và vận dụng lý luận
vào thực tiễn. Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trên đòi hỏi phải có một hệ thống
các giải pháp đồng bộ, toàn diện và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban, ngành,
đoàn thể, các cấp chính quyền và ngay bản thân đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ
chốt cấp cơ sở.
2.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trình độ lý luận chính trị cho
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở tỉnh Hà Giang hiện nay
2.2.1. Tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức về vai trò, tầm quan
trọng của lý luận chính trị đối với hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt
cấp xã
Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đổi mới đất nước đòi hỏi cán bộ,
đảng viên nói chung, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở phải có
trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, có lập trường giai cấp
và bản lĩnh chính trị kiên định, có phẩm chất đạo đức tốt mới đáp ứng được yêu cầu của
công cuộc đổi mới.
ở nước ta hiện nay, trong điều kiện cơ chế thị trường, với nền kinh tế nhiều thành
phần, hội nhập, mở cửa hợp tác với tất cả các nước trên thế giới. Do đó, cán bộ, đảng
viên hàng ngày, hàng giờ chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố phức tạp, tiêu cực, trái với gì
là "truyền thống" đã được tạo lập; âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù
địch…, nên không ít cán bộ, đảng viên bị suy thoái về phẩm chất đạo đức, tham ô, tham
nhũng … Vì vậy, để nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nói
chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã ở tỉnh Hà Giang nói riêng một
cách có hiệu quả trước hết phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho họ
thấy được sự cần thiết phải học tập, nghiên cứu lý luận chính trị. Bởi vì, để có hành động
đúng thì trước hết phải có nhận thức đúng mà muốn có nhận thức đúng thì trước hết phải
có trình độ học vấn, có tri thức như về văn hoá, chuyên môn, về lý luận chính trị - đó là chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chỉ có học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị mới thấu
hiểu được bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, đường lối, nghị quyết của Đảng… từ đó hình thành niềm tin, tư tưởng và tình cảm
cách mạng, từ đó củng cố nâng cao phẩm chất, bản lĩnh chính trị, năng lực công tác để vận
dụng chúng vào trong hoạt động thực tiễn có hiệu quả. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
“Làm người gì cũng phải học, nếu không giáo dục cho đảng viên làm cách mạng mà chỉ
yêu cầu họ làm cách mạng thì họ không làm tròn được nhiệm vụ” [33, tr.224] và Người
cho rằng: “Học để sửa chữa tư tưởng, hăng hái theo cách mạng, vì thế cần phải học tập để
sửa chữa cho đúng, tư tưởng đúng thì hành động mới khỏi sai lạc và mới làm tròn nhiệm
vụ cách mạng được” [33, tr.373].
Đối với Hà Giang, hơn bao giờ hết, việc tuyên truyền, giáo dục nhằm làm cho cán
bộ, đảng viên nói chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã nói riêng
nhận thức rõ tầm quan trọng của việc học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị có vai
trò rất quan trọng trong công tác và xem đó như là nghĩa vụ bắt buộc, đồng thời cũng là
quyền lợi của bản thân họ cần nâng cao sự nhận thức, sự hiểu biết. Trên cơ sở đó nhằm
củng cố, kiên định lập trường giai cấp và bản lĩnh chính trị, khắc phục được sự thoái hoá,
biến chất trước những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường hiện nay. Đặc biệt, trong
thời điểm nhạy cảm hiện nay, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng nhiều chiêu bài
chống phá chế độ trong đó có vấn đề dân tộc, tôn giáo. Cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp cơ sở gần dân, sát dân nhưng cũng chính một trong những số họ đã bị kẻ xấu lợi
dụng, lôi kéo gây lên tình trạng lộn xộn, ảnh hưởng đến trật tự an ninh ở địa phương.
Vì vậy, công tác tuyên truyền giáo dục nhằm làm cho cán bộ chủ chốt thấy được
vai trò của lý luận chính trị và cần thiết phải trang bị lý luận chính trị đối với hoạt động
lãnh đạo, quản lý là vấn đề tất yếu, không thể thiếu. Do đó, công tác tuyên truyền, giáo
dục còn nhằm mục đích nâng cao ý thức tự giác khiến cho chính bản thân đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý chủ chốt xem việc học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị là một
nhu cầu thực sự, thúc đẩy họ luôn có tinh thần tự giác, tự học, tự nghiên cứu tài liệu, học
tập nâng cao trình độ lý luận chính trị cũng như trình độ chuyên môn…, khắc phục tình
trạng ngại học, ngại nghiên cứu, học để đối phó, học lý luận chính trị để hoàn chỉnh bằng
cấp. Cách học như vậy là hạ thấp vai trò của lý luận chính trị trong hoạt động thực tiễn.
Từ vai trò, ý nghĩa to lớn của công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao trình độ
lý luận chính trị giúp cho các cấp uỷ đảng, chính quyền sớm đổi mới quan điểm, nhận
thức về việc đào tạo, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt cấp xã. Cần thực hiện chế độ phân công, phân cấp rõ ràng, nâng cao
tính chủ động, sáng tạo cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh, phù
hợp với những điều kiện cụ thể ở từng xã, người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp xã phải chủ động vạch ra được những kế hoạch, phương hướng, biện pháp cụ thể,
phù hợp với địa phương và tổ chức thực hiện. Có nh ư vậy mới tránh được sự chồng
chéo và phát huy tính chủ động, tính tự quyết, tự chịu trách nhiệm với mọi quyết định
của mình. Do đó, khi thực hiện tốt sự phân cấp rõ ràng thì đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt cấp xã phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm của mình đối với
công việc, không còn tư tưởng dựa vào cấp trên. Bởi vậy, để hoàn thành nhiệm vụ
lãnh đạo, quản lý của mình thì nhất thiết phải nâng cao trình độ về mọi mặt, nhất là
trình độ về lý luận chính trị, quyết tâm xây dựng địa phương: dân chủ, văn minh, giàu
mạnh và phồn thịnh.
2.2.2. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nâng cao trình độ học vấn
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã
Để nâng cao trình độ lý luận, trình độ học vấn văn hoá cho đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý chủ chốt cấp xã ở Hà Giang có hiệu quả, về lâu dài phải coi trọng việc đẩy
mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt chú trọng phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện
vùng núi cao, vùng dân tộc thiểu số của tỉnh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
nhân dân.
Hà Giang là một tỉnh miền núi nghèo nhất cả nước, hoạt động kinh tế chủ yếu
xoay quanh nông nghiệp và lâm nghiệp; kết cấu hạ tầng tuy đã được cải thiện nhưng hệ
thống giao thông, trường học, y tế và các dịch vụ xã hội khác đều kém phát triển so
với các tỉnh khác. Trong những n ăm qua, với sự nỗ lực của Đảng bộ, Chính quyền và
nhân dân Hà Giang đã từng bước khắc phục khó khăn, thực hiện các chiến lược phát
triển kinh tế xã hội, các chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình phát triển
nông nghiệp và kinh tế nông thôn… tạo tiền đề quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội. Với sự nỗ lực đó, hiện nay, tốc độ tăng trưởng GDP của Hà Giang đạt
12,05%, thu nhập bình quân đầu người là 5,18 triệu đồng/năm, tăng 1,15 triệu đồng so
với năm 2007.
Để từng bước thoát khỏi cảnh đói nghèo, khắc phục tình trạng lạc hậu về cơ sở vật
chất, hạ tầng kỹ thuật, đời sống vật chất và tinh thần ở nông thôn, Đảng và Nhà nước ta
đã có nghị quyết quan trọng về nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Nghị quyết đó là cơ sở
lý luận quan trọng cho công cuộc đổi mới phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng nông
thôn mới, nâng cao đời sống mọi mặt của nông dân. Thực hiện chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội nói chung của đất nước, căn cứ vào địa hình, khí hậu của tỉnh Hà Giang so với
các tỉnh khác, tỉnh đang từng bước chuyển nền kinh tế từ tự cung tự cấp sang nền kinh tế
hàng hoá:
Quyết tâm vượt ra khỏi tình trạng là một tỉnh đặc biệt khó khăn, rút ngắn
khoảng cách phát triển so với các tỉnh trong khu vực để sớm thoát khỏi tỉnh nghèo;
đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, công nghiệp
hoá, hiện đại hoá để đến năm 2010 có cơ cấu: dịch vụ - công nghiệp - nông lâm
nghiệp [7, tr.57-58].
Thực tế ở Hà Giang hiện nay, sự chuyển biến tích cực của nền kinh tế từ tự cung
tự cấp sang nền kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá ngày càng rõ nét và hiệu quả góp
phần quan trọng đảm bảo ổn định chính trị xã hội, xoá đói, giảm nghèo và xây dựng nông
thôn mới. Đồng thời sự chuyển biến đó còn thúc đẩy mạnh mẽ việc mở rộng giao lưu
kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, xoá bỏ tình trạng biệt lập của các quan hệ kinh tế
giữa các huyện trong tỉnh và giữa tỉnh Hà Giang với các tỉnh khác. Đây cũng là điều kiện
khách quan để đội ngũ cán bộ nói chung, trong đó có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
chủ chốt cấp xã nâng cao trình độ, năng lực của mình, cả trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn, trình độ lý luận chính trị. Mặt khác, phát triển kinh tế nông nghiệp nông
thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn khắc phục được sự trì trệ, bảo thủ
trong tư duy của người sản xuất nhỏ, cũng như tập quán lạc hậu, làm hạn chế đến tư duy,
tầm nhìn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở. Vì thế, phát triển
kinh tế còn là cơ sở, tiền đề quan trọng để mở rộng việc giao lưu, hợp tác về kinh tế,
văn hoá, khoa học giữa các tỉnh trong nước và giữa tỉnh Hà Giang với tỉnh Vân Nam -
Trung Quốc. Việc mở rộng giao lưu, hợp tác về kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật
trong nền kinh tế thị trường giúp cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã
có điều kiện tiếp xúc, đối mặt, cọ xát những vấn đề thực tiễn từ đó đúc rút kinh nghiệm,
khắc phục những mặt hạn chế để không ngừng hoàn thiện bản thân.
Tuy nhiên, phát triển kinh tế thị trường có những tác động tiêu cực như: sự phân
hoá giàu nghèo, cạnh tranh gay gắt, nảy sinh các loại tệ nạn xã hội, khai thác cạn kiệt tài
nguyên thiên nhiên… Mặt khác, chính nền kinh tế thị trường đã đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của con người, đồng thời đây cũng là đòn bẩy thúc đẩy con người không ngừng
cố gắng vươn lên nâng cao trình độ của bản thân mới đáp ứng được yêu cầu ngày càng
cao của cơ chế mới, nếu không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt sẽ bị tụt hậu hoặc tự
đào thải mình. Đây cũng là điều kiện quan trọng để khắc phục bệnh thành tích, chủ quan,
duy ý chí, ngại học lý luận, sùng bái kinh nghiệm của người cán bộ trong cơ chế cũ.
Hiện nay, ở Hà Giang ngoài việc phát triển kinh tế cần chú trọng xây dựng và
hoàn chỉnh kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh như: điện, đường, trường học, trạm
xá, chợ… Đồng thời, phát huy thế mạnh của từng vùng, từng lĩnh vực. Cụ thể: các huyện
vùng núi thấp như: Vị Xuyên, Bắc Quang, Quang Bình, Hoàng Su Phì, Xín Mần ngoài
cây lương thực, chủ yếu phát triển mạnh cây chè, cam, quýt, đậu tương, cao su…; các
huyện vùng cao phía bắc, ngoài những cây công nghiệp ngắn ngày như: Thảo quả, quế,
sở … cũng đồng thời phát triển mạnh các cây công nghiệp dài ngày, chăn nuôi đại gia
súc… Phấn đấu đến năm 2010 đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là từ 15% trở lên,
thu nhập bình quân đầu người đạt 6,5 triệu đồng/người/năm. Do đó, phải xác định đúng
tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từ đó tỉnh có phương hướng đầu tư, hỗ trợ một cách
có hiệu quả nhất, có như vậy mới thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội đạt
hiệu quả, phù hợp với thực tế của từng huyện. Khi đời sống nhân dân được ổn định và
nâng cao thì đời sống của bản thân và gia đình người cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp cơ sở cũng được cải thiện, làm cho họ yên tâm hơn trong học tập nâng cao trình độ
cũng như dồn sức, toàn tâm, toàn ý trong công tác.
Tuy nhiên, nếu chỉ chú trọng đến phát triển kinh tế - xã hội, chỉ quan tâm đến
đời sống kinh tế, đời sống vật chất thì chưa đủ mà còn phải nâng cao trình độ văn hoá,
khoa học kỹ thuật, sự hiểu biết nói chung cho cán bộ đảng viên và nhân dân đặc biệt
là nâng cao trình độ học vấn cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở.
Vì thế, Đảng và Nhà nước ta luôn đưa ra những chủ trương, chính sách quan trọng để
khuyến khích nhân dân học tập, nâng cao trình độ dân trí, phát triển giáo dục và đào
tạo cũng là một trong những tiền đề để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh theo
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đảng ta khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào
tạo là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá là điều kiện để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát
triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [18, tr.109].
Để cụ thể hoá chủ trương đó của Đảng, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Giang
lần thứ XIV xác định: “Đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện ở tất cả các cấp học, bậc học, phát triển các trung tâm học tập cộng đồng,
xây dựng xã hội học tập” [7, tr.66].
Với vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của giáo dục và đào tạo là yếu tố cơ bản để
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, xây dựng con người có trình độ
học vấn, hoàn thiện về nhân cách, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Trình độ học vấn đối với người cán bộ, lãnh đạo, quản lý giữ
vai trò quan trọng, nó là cơ sở, nền tảng để tiếp thu kiến thức về lý luận chính trị và kiến
thức chuyên môn. Trình độ học vấn càng cao thì khả năng tiếp thu các tri thức khác càng
nhanh và chính xác. Ngược lại, không có trình độ học vấn hoặc trình độ học vấn thấp sẽ
ảnh hưởng trực tiếp đến việc tiếp thu các tri thức khác.
Xuất phát từ thực trạng về trình độ dân trí hiện nay của tỉnh còn thấp, chưa đồng
đều, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Đảng bộ và
Chính quyền tỉnh đã có quan điểm chỉ đạo ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất cho sự nghiệp
giáo dục và đào tạo của tỉnh, chú trọng mở các loại hình lớp nhằm duy trì vững chắc kết
quả xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, khắc phục dần tình trạng
thất học, mù chữ phổ biến lâu nay ở các vùng dân tộc thiểu số, từng bước phấn đấu hoàn
thành mục tiêu của Đảng bộ tỉnh từ nay đến năm 2010 có trên 50 xã, phường, thị trấn đạt
bậc học phổ cập phổ thông trung học.
Tuy nhiên, để nâng cao trình độ văn hoá có hiệu quả thì ngoài những điều kiện về
kinh tế - xã hội thì đòi hỏi cần phải có sự đổi mới tư duy, sự chuyển biến tích cực trong
nhận thức của mỗi cán bộ đảng viên nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp
cơ sở nói riêng. Làm sao để đội ngũ này nhận thức được việc nâng cao trình độ học vấn
là điều kiện bắt buộc để nâng cao trình độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn. Do đó,
việc nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn và trình độ về lý luận chính trị vừa
là yêu cầu vừa là quyền lợi, đồng thời cũng là trách nhiệm của cán bộ chủ chốt cấp xã
nhằm đáp ứng với yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của công việc.
Như vậy, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ học vấn cho cán bộ, đảng
viên và nhân dân nói chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở nói
riêng ở Hà Giang là việc làm vừa cấp bách, vừa thường xuyên và mang tính chiến lược,
nó đòi hỏi phải có sự nỗ lực, phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành và các đoàn thể
nhân dân. Đây là vấn đề rất quan trọng, có quan hệ biện chứng với nhau, tạo điều kiện để
nâng cao trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt cấp xã ở Hà
Giang và góp phần thúc đẩy kinh tế của địa phương phát triển theo hướng bền vững.

2.2.3. Tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị
Muốn nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên nói chung và cho
đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã nói riêng thì điều quan trọng là phải đổi
mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo hướng ngày càng đi vào chiều sâu,
chú ý đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá được hiệu quả công việc của người
học sau khi được đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị. Để đổi mới công tác đào tạo, bồi
dưỡng về lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh
Hà Giang cần chú trọng một số nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, cần đổi mới căn bản về nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý
luận chính trị.
Xuất phát từ thực tế đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã ở Hà Giang
còn hạn chế về trình độ học vấn, trình độ về lý luận chính trị, ảnh hưởng lớn đến công
việc chuyên môn, đến việc tiếp thu và vận dụng đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước vào tình hình thực tế của địa phương. Vì thế, trước yêu
cầu bức xúc hiện nay của tỉnh là rất cần đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung và đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã nói riêng phải có trình độ chuyên môn, trình độ
lý luận chính trị góp phần làm chuyển biến quá trình phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói,
giảm nghèo ở địa phương.
Để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đó của tỉnh, cần phải tiếp tục đào tạo để nâng
cao trình độ về mọi mặt cho đội ngũ cán bộ này, trong đó phải chú trọng đào tạo, bồi
dưỡng về lý luận chính trị. Nội dung chương trình đạo tạo luôn là vấn đề cơ bản trong
công tác đào tạo, bồi dưỡng, nó có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng
và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế ở Hà Giang thời gian qua, công tác đào tạo, bồi
dưỡng lý luận chính trị của Trường Chính trị tỉnh đã chủ động, tích cực trong việc đổi
mới, cụ thể hoá nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho học viên của nhà trường.
Những đối tượng được đào tạo về lý luận chính trị rất đa dạng về trình độ học vấn, cụ thể:
số cán bộ chưa tốt nghiệp bậc tiểu học, số cán bộ chưa tốt nghiệp bậc trung học cơ sở
được đào tạo với nội dung chương trình khác so với những đối tượng đào tạo có trình độ
tốt nghiệp phổ thông trung học; đối tượng có trình độ học vấn tốt nghiệp trung học cơ sở
được đào tạo chương trình trung cấp lý luận chính trị ngắn hạn 7 tháng, hầu như những
đối tượng này chưa có trình độ về chuyên môn nghiệp vụ.
Mặc dù nhà trường đã có sự bổ sung, cải tiến đúng mức nhằm phù hợp với năng
lực, trình độ học vấn của người học, song do trình độ của học viên không đồng đều, nên
nội dung chương trình vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu công tác của
chính đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, như: nội dung chương trình đào tạo đối với hệ đặc
biệt còn quá dài; phần lớn trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị của nhà
trường còn biểu hiện dàn trải, nặng về lý thuyết, chưa gắn nhiều với thực tế địa phương,
thực tiễn công tác của người học. Do đó, để tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng về lý luận chính trị thì nội dung chương trình đào tạo cần được tiếp tục đổi mới.
Để xây dựng nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị một cách hiệu
quả, khoa học cần tập trung vào một số yêu cầu sau:
- Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã đặt ra yêu cầu và
nhiệm vụ mới . Vì thế, để nâng cao trình độ lý luận chính trị phải căn cứ vào những quan
điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, căn cứ vào nội dung
chương trình đào tạo về lý luận chính trị của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh. Từ đó, xuất phát từ tình hình cụ thể của địa phương để cụ thể hoá chương
trình cho phù hợp.
Thực tế hiện nay trong công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ
đảng viên nói chung và cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã ở Hà Giang
nói riêng không thể áp dụng cứng nhắc tiêu chuẩn quy định của Học viện Chính trị -
Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh mà phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của tỉnh, nhà
trường cần phải lấy tiêu chuẩn đối tượng được đào tạo làm căn cứ cho việc bổ sung, đổi
mới và xây dựng mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo tinh thần
Nghị quyết trung ương 3 khoá VIII: “Lấy tiêu chuẩn cán bộ làm căn cứ xây dựng chương
trình đào tạo, bồi dưỡng” và “nội dung đào tạo phải thiết thực, phù hợp với từng loại cán
bộ; chú trọng cả phẩm chất đạo đức và kiến thức, cả lý luận và thực tiễn; bồi dưỡng kiến
thức cơ bản và kỹ năng thực hành”, “cán bộ lãnh đạo phải được đào tạo, bồi dưỡng toàn
diện, trước hết về đường lối chính trị, về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội”.
Do đó, việc đổi mới nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị
ngoài việc kế thừa những ưu điểm của các chương trình đã và đang sử dụng, cần phải căn
cứ vào đối tượng, vào tình hình thực tiễn của địa phương để cụ thể hoá nội dung chương
trình đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp, cần tránh sự dàn trải, chưa xác định rõ mục tiêu
trọng tâm, trọng điểm, nặng về lý thuyết, chưa bám sát thực tiễn cơ sở.
- Trên cơ sở tổng kết công tác đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị cho cán bộ,
đảng viên của nhà trường trong thời gian qua, đổi mới nội dung chương trình phải đảm
bảo trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản, có hệ thống về lý luận chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiến thức về xây dựng Đảng, Chính quyền, đoàn thể, các
quan điểm cơ bản trong đường lối, chính sách về kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh
quốc phòng, đối ngoại… của Đảng và Nhà nước.
Đổi mới nội dung chương trình phải đảm bảo tính thiết thực, góp phần nâng cao
trình độ, năng lực lãnh đạo quản lý cho cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã, qua đó
trang bị cho học viên thế giới quan, phương pháp luận khoa học, trên cơ sở đó củng cố
niềm tin vào Đảng cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, giúp cho
cán bộ, đảng viên giữ vững bản lĩnh chính trị, quyết tâm đấu tranh chống lại mọi quan
điểm sai trái của các thế lực thù địch chống phá Đảng và chế độ.
Đổi mới nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị phải đảm bảo
sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, gắn việc giảng dạy lý luận với việc xử lý, giải
quyết những tình huống cụ thể đang diễn ra ở cơ sở.
Thứ hai, đổi mới phương pháp giảng dạy và đa dạng hoá các loại hình đào tạo, bồi
dưỡng lý luận chính trị.
Để nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, ngoài việc đổi mới
nội dung, chương trình đào tạo thì việc đổi mới phương pháp giảng dạy cũng giữ vị trí
quan trọng trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng.
Trong những năm qua việc giảng dạy lý luận chính trị của nhà trường được thực
hiện theo phương pháp thuyết trình, diễn giải là chủ yếu. Người học ghi chép theo những
lời truyền đạt của giảng viên. Cách dạy theo truyền thống này nặng về lý thuyết, người
dạy chủ yếu độc thoại làm cho không khí học tập trong lớp đơn điệu; người học trở nên
thụ động, nhớ máy móc, học chỉ để đối phó, học chỉ lo thi có điểm cao mà không cần
quan tâm đến kiến thức đó có giúp ích gì cho công việc, có thiết thực với mình không.
Cần đổi mới phương thức đào tạo theo hướng lấy người học làm trung tâm, lấy
chất lượng và hiệu quả làm mục tiêu chính. Thực hiện phương pháp giảng dạy: gắn lý
luận liên hệ với thực tiễn; khắc phục phương pháp giảng dạy nặng về lý thuyết, nhẹ về
những vấn đề thực tiễn địa phương. Qua đó, để học tập lý luận chính trị có hiệu quả cần
tăng số giờ và phương pháp tổ chức các buổi xêmina trong các môn học. Bởi vì, các buổi
xêmina đó nếu các giảng viên chuẩn bị chu đáo, có phương pháp và cách thức điều hành
tốt, tạo ra được những tình huống có vấn đề liên quan đến thực tiễn địa phương và để giải
quyết được những tình huống đó phải vận dụng những kiến thức lý luận vào giải quyết
những vấn đề của thực tiễn cơ sở. Qua đó, đòi hỏi người học phải nắm vững các nguyên
lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật
của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện cho người học có môi trường học tập, rèn luyện,
trau dồi phương pháp tư duy biện chứng giúp cho quá trình học tập lý luận chính trị đạt
hiệu quả cao hơn.
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy lý luận chính trị ngoài việc đảm bảo tính
khoa học, tính hệ thống thì còn phải căn cứ vào trình độ của người học. Đối với học viên
là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn có trình độ
học vấn thấp như: học bổ túc, trình độ học vấn bậc trung học cơ sở thì thuyết trình vẫn là
phương pháp giảng dạy thiết thực, song phải chú trọng thời gian lên lớp, thời gian thảo
luận, hướng dẫn chuẩn bị đề cương thảo luận với những vấn đề đơn giản, dễ hiểu, gắn với
truyền thống, tâm lý dân tộc và những vấn đề bức xúc đang nổi lên ở địa phương, đơn vị
công tác. Đối với học viên là cán bộ công tác ở các cơ quan, đoàn thể thuộc khu vực thị
trấn, thị xã có trình độ học vấn cao, được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp
trở lên thì cần áp dụng phương pháp giảng dạy tích cực, khuyến khích sự chủ động, phối
hợp giữa người dạy và người học, tạo ra không khí học tập sôi nổi, tăng cường số giờ
xêmina, khuyến khích học viên thành lập các tổ, nhóm để chuẩn bị các giờ thảo luận đạt
hiệu quả. Để có một bài giảng lý luận chính trị hấp dẫn, thực sự nâng cao được nhận thức
cho người học, đòi hỏi người giảng viên phải nắm vững lý luận có kiến thức sâu rộng, am
hiểu tình hình thực tế địa phương, có phương pháp sư phạm tốt và có nhiều kinh nghiệm
trong giảng dạy. Nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị nhằm mục
đích giúp cho người học nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, tránh cho người học lý luận chính trị theo kiểu đối phó, tiếp thu kiến thức theo
kiểu học thuộc lòng mà quá trình lên lớp phải khiến cho người học chủ động phối hợp
với giảng viên, tích cực, tự giác, thực sự cả người dạy và người học phải làm việc, phải
đầu tư để mỗi tiết học có hiệu quả cao nhất. Có như vậy, học lý luận chính trị mới giải
quyết tốt mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn, thiết thực và hiệu quả.
Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết trung ương 3 khoá VIII, Đảng bộ tỉnh Hà
Giang đã tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của Trung ương về
chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong đó công
tác đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị của tỉnh đã có những chuyển biến đáng kể.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh; căn cứ vào thực tiễn địa phương, Trường Chính trị
tỉnh đã mở nhiều loại hình lớp học đáp ứng với nhiều loại đối tượng, tạo điều kiện cho
cán bộ, đảng viên nói chung nâng cao trình độ lý luận chính trị và đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý chủ chốt cấp xã nói riêng, đặc biệt đối với cán bộ là người dân tộc thiểu số
sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn an tâm học tập, tu dưỡng, rèn luyện
khắc phục mọi khó khăn nâng cao trình độ về lý luận chính trị, về năng lực công tác và
hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công.
Thứ ba, tiếp tục xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị
Đội ngũ giảng viên có trình độ cao, có kinh nghiệm thực tế, có phương pháp sư
phạm tốt… là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định cho việc nâng cao chất
lượng đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Đứng trước yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra với công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận
chính trị cho cán bộ, đảng viên nói chung và cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ
chốt cấp xã nói riêng có trình độ nhận thức về lý luận chính trị ngày càng cao và vận
dụng kiến thức đã học phục vụ có hiệu quả cho quá trình công tác là nhiệm vụ vô cùng
khó khăn. Để thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cần có đội ngũ
giảng viên lý luận chính trị đảm bảo cả về số lượng và chất lượng.
Như đã trình bày ở phần thực trạng, đội ngũ giảng viên lý luận chính trị của
trường hiện nay có 32 người (trong đó có 11 giảng viên kiêm chức), 100% giảng viên có
trình độ đại học, 5 giảng viên có trình độ thạc sỹ, 9 giảng viên hiện đang theo học sau đại
học. Để có được kết quả này là do sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Uỷ ban
nhân dân tỉnh, Ban Giám hiệu nhà trường và sự nỗ lực khắc phục khó khăn về điều kiện
gia đình, điều kiện công tác của chính bản thân giảng viên. Hiện nay, vẫn còn số lượng
lớn giảng viên chưa được đào tạo sau đại học. Do đó, cần tiếp tục nâng cao chất lượng
cho đội ngũ giảng viên, nhất là đối với đội ngũ giảng viên trẻ, kinh nghiệm công tác ít.
Ngoài việc nâng cao về trình độ chuyên môn, cần tăng cường công tác nghiên cứu thực tế
ở cơ sở để tích luỹ kiến thức thực tiễn phục vụ quá trình giảng dạy ngày càng tốt hơn.
Cần thực hiện việc tiêu chuẩn hoá đội ngũ giảng viên theo quy chế của Học việc Chính trị
- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Nhà trường căn cứ vào điều kiện và khả năng hiện
có, tích cực hỗ trợ giảng viên đi đào tạo sau đại học, dự các lớp tập huấn bồi d ưỡng
nghiệp vụ, động viên, khuyến khích giảng viên tích cực nghiên cứu, tự giác học tập, rèn
luyện, tích luỹ kiến thức chuyên môn và kiến thức thực tiễn, có sáng kiến hay về ph ương
pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học.
Đội ngũ giảng viên của Trường Chính trị tỉnh Hà Giang hiện nay chiếm 2/3 là
giảng viên trẻ, phần lớn mới bước vào nghề, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, con nhỏ.
Vì thế, nhà trường cần chủ động tham mưu với Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh có chính
sách hỗ trợ, khen thưởng, động viên đội ngũ giảng viên yên tâm học tập nâng cao trình
độ lý luận chính trị, tích cực xây dựng đội ngũ giảng viên đầu đàn, có quy định và cơ chế,
chính sách cần thiết để khuyến khích, động viên những giảng viên có trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ tốt, giảng viên dạy giỏi, giảng viên có nhiều công trình khoa học có chất
lượng được áp dụng vào quá trình giảng dạy.
Như vậy, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị trong Trường
Chính trị cần quan tâm đầu tư xây dựng, đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, phương
pháp giảng dạy và đội ngũ giảng viên đảm bảo về số lượng và chất lượng… là một trong
những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu góp phần nâng cao trình độ lý luận chính
trị cho đảng viên nói chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã nói
riêng.

2.2.4. Đổi mới cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ
Cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ về mọi mặt cho cán bộ,
đảng viên nói chung và cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã nói riêng
đóng vai trò rất quan trọng, nó không những thúc đẩy hoặc kìm hãm công tác đào tạo, bồi
dưỡng nói chung và đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị nói riêng. Những chính sách
đúng, phù hợp sẽ có tác động thúc đẩy, khuyến khích cán bộ, đảng viên tự giác học tập,
nghiên cứu. Ngược lại, đối với cán bộ chủ chốt, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số kinh tế
còn khó khăn, nếu chính sách không đóng vai trò hỗ trợ, khuyến khích, động viên họ thì
vấn đề nâng cao trình độ lý luận chính trị sẽ không đạt mục tiêu đề ra.
Cơ chế, chính sách đối với cán bộ đi học được căn cứ vào chế độ chính sách của
Trung ương ban hành; mặt khác, rất quan trọng là căn cứ vào đối tượng được đào tạo, bồi
dưỡng vào việc cụ thể hoá của địa phương. Những đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng
nâng cao trình độ nói chung và trình độ về lý luận chính trị nói riêng là cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt cấp xã được hưởng những chế độ: cán bộ là lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp xã (nếu cán bộ là người dân tộc thiểu số), cán bộ là người dân tộc kinh. Thực tế
những năm gần đây ở tỉnh Hà Giang việc thực hiện cơ chế chính sách vẫn còn nhiều
vướng mắc. Theo quyết định 438-QĐ/TU ngày 02 tháng 01 năm 1999 của Tỉnh uỷ Hà
Giang quy định:
- Cán bộ đang công tác được cử đi học tại các trường Đảng, Đoàn thể trung ương
và nghiên cứu sinh tại các trường Đại học quốc gia trợ cấp 100.000/người/tháng là cán bộ
nam, và 120.000/người đối với cán bộ nữ (đối với trường Đảng, đoàn thể tập trung 8
tháng trở lên).
- Cán bộ cơ sở (xã, phường, thị trấn) đang công tác và hưởng sinh hoạt phí được
trợ cấp 100.000đ/tháng đối với nam giới và 120.000đ đối với nữ giới được cử đi học các
trường của tỉnh (Trường chính trị, Trường chuyên nghiệp) thời gian đào tạo từ 6 tháng trở
lên.
- Cán bộ trong diện quy hoạch, đào tạo nguồn của cơ sở chưa có sinh hoạt phí
được trợ cấp 250.000đ/tháng đối với nam giới và 300.000đ/tháng đối với nữ giới.
- Cán bộ trong biên chế nhà nước (có lương) được trợ cấp 50.000đ/người/tháng.
Những chính sách trên thể hiện sự quan tâm của tỉnh đối với công tác đào tạo để
nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ. Mức hỗ trợ đó tuy còn hạn chế, song cũng là nguồn
động viên cán bộ khi được lựa chọn cử đi học phần nào giải quyết được khó khăn trong
quá trình học tập của họ. Với mức trợ cấp này, so với các tỉnh khác còn thấp, từ đó gây
tâm lý kém phấn khởi đối với một số cán bộ được cử đi học.
Do đó, nhu cầu bức xúc hiện nay trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần
phải đổi mới và thực hiện nhất quán chế độ, chính sách cho người học. Khi giải quyết tốt
về mặt tư tưởng, có cơ chế chính sách thoả đáng sẽ tạo động lực khuyến khích cán bộ
hăng say tự giác học tập. Xuất phát từ thực tế của địa phương, một số điểm quy định về
chế độ, chính sách đối với cán bộ đi học của tỉnh Hà Giang hiện nay không còn phù hợp,
Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đang chỉ đạo các sở, ngành chức năng từng bước sửa đổi
cho phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh.
Cơ chế, chính sách đối với việc học tập của cán bộ là những chính sách có liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc học tập và nâng cao trình độ, đó là cơ chế chính
sách về đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ, công tác quy hoạch cán bộ sau
khi đào tạo, về lợi ích vật chất và tinh thần đối với cán bộ…
Để thực hiện tốt công tác về đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng cán bộ thì trước
hết phải làm tốt công tác quy hoạch, đánh giá cán bộ. Vì, quy hoạch, đánh giá cán bộ là
việc hệ trọng, là khâu mở đầu, có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ và cũng là cơ
sở để thực hiện tiêu chuẩn hoá, lựa chọn, bố trí và sử dụng cán bộ. Nếu quy hoạch, đánh
giá đúng cán bộ sẽ phát huy được tiềm năng, thế mạnh của từng cán bộ; ngược lại nếu
đánh giá không đúng cán bộ sẽ dẫn đến sự lựa chọn nhầm những cán bộ không đủ phẩm
chất, năng lực để giao những cương vị có trọng trách dẫn đến hỏng việc, làm ảnh hưởng
đến cơ quan đơn vị. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng đã khẳng định: “Đánh
giá, bồi dưỡng, lựa chọn, sử dụng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn lấy hiệu quả công tác thực
tế và sự tín nhiệm của nhân làm thước đo chủ yếu” [18, tr.54]. Vì thế, bố trí, sử dụng cán
bộ đúng vị trí, thế mạnh của họ cần phải làm tốt công tác đánh giá cán bộ. Để đánh giá
cán bộ, phải lấy tiêu chuẩn cán bộ và hiệu quả công việc làm thước đo, đảm bảo đúng
nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể…
Trong đánh giá cán bộ cần tránh quan điểm phiến diện, một chiều, hời hợt, chủ quan, cảm
tính cá nhân; rà soát toàn bộ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý để đánh giá cụ thể từng cán
bộ xem ai phát huy tốt năng lực, sở trường thì tiếp tục được bố trí, sử dụng, loại bỏ những
cán bộ sa sút về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực yếu kém..
Trong quy hoạch và sử dụng cán bộ phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ
tổ chức, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, nhu cầu và khả năng của đội ngũ cán bộ.
Đặc biệt là chú trọng đào tạo nguồn cán bộ đủ tiêu chuẩn để kịp thời đáp ứng yêu cầu,
cần tập trung vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở.
Cần có kế hoạch tạo nguồn, chú trọng cán bộ xã, phường, thị trấn có thành tích
xuất sắc khi thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ sở, tuổi đời dưới 40, những
người ưu tú trưởng thành từ công tác và hoạt động trong những phong trào quần chúng ở
địa phương, con em gia đình có công với cách mạng, có triển vọng, có thành tích, sáng
kiến trong lao động và công tác; chú trọng phát hiện nhân tài, những người có năng khiếu
hoạt động xã hội, lãnh đạo và quản lý để có kế hoạch, chính sách đào tạo, sử dụng lâu
dài.
Cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở phải tiến hành lựa chọn cán bộ, cán bộ
dự bị cho vị trí lãnh đạo, quản lý của mình và có phương án trình cấp uỷ xem xét, quyết
định. Mỗi chức vụ lãnh đạo, quản lý có ít nhất 2 cán bộ dự nguồn để bồi dưỡng, đào tạo
và tuyển chọn (trong đó, một cán bộ dự nguồn có thể sử dụng và thay thế được ngay,
thường là cán bộ đương chức đã qua đào tạo, bồi dưỡng và thử thách, là cấp phó của chức
danh đó. Loại dự nguồn thứ hai theo quy hoạch lâu dài độ tuổi còn trẻ, có học vấn, có sức
khoẻ và có khả năng phát triển tốt) có kế hoạch đưa cán bộ dự bị vào các vị trí công tác
để rèn luyện, thử thách, chuẩn bị cho những năm tiếp theo và coi đây là trách nhiệm của
cấp uỷ và trách nhiệm trực tiếp của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trên. Trong quá trình
thực hiện việc quy hoạch, sử dụng cán bộ cần quản lý, theo dõi sát, đánh giá, phân tích
kịp thời, phát hiện nguồn mới để bổ sung hoặc đưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ
không còn đủ điều kiện, tiêu chuẩn. Qua tổng kết thực tiễn của Ban thường vụ Tỉnh uỷ
Hà Giang cho thấy, khi chất lượng quy hoạch, sử dụng cán bộ đúng vị trí, đúng sở trường
công tác thì việc lựa chọn, cử cán bộ đi học càng chính xác, đúng đối tượng và việc sắp
xếp, bố trí sử dụng cán bộ càng thuận lợi. Khi cán bộ đã được lựa chọn vào quy hoạch
cần xem xét, quyết định cử đi đào tạo kịp thời; phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của
địa phương và mục đích sử dụng để lựa chọn cán bộ đi học gắn với việc bố trí sử dụng
cán bộ được cử đi học, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng sắp xếp, bố trí, sử dụng cán
bộ chưa được đào tạo, bồi dưỡng.
Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần phải gắn liền với chính sách bố trí và sử
dụng cán bộ. Trên cơ sở đó có kế hoạch đào tạo đúng đối tượng, đúng chuyên môn, phù
hợp với yêu cầu của cơ quan, đơn vị, tránh tình trạng đào tạo tràn lan, tuỳ tiện, chắp vá,
không đúng đối tượng. Thực tế có những cán bộ khi học xong không được bố trí sử dụng
gây lãng phí, ảnh hưởng đến tâm lý cán bộ, làm mất tác dụng động viên, khuyến khích
cán bộ nâng cao trình độ. Để công tác đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng cán bộ ngày
càng có hiệu quả, đòi hỏi cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp, trước hết là lãnh đạo tỉnh
không ngừng hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên,
khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần làm cho cán bộ được cử đi học phấn khởi, an
tâm học tập, rèn luyện nâng cao trình độ.
Một trong biện pháp nhằm nâng cao năng lực, trình độ cả về chuyên môn lẫn lý
luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã đã và đang được
áp dụng hiệu quả ở Hà Giang đó là đưa cán bộ chủ chốt cấp xã lên huyện học tập.
Xã Sủng Là, huyện Đồng Văn là đơn vị được thực hiện đầu tiên việc đưa cán bộ
chủ chốt cấp xã lên huyện học tập (đến thời điểm này Hà Giang đã thực hiện ở tất cả các
huyện, thị trong tỉnh). Đảng bộ xã Sủng Là nhiều năm xếp loại không hoàn thành nhiệm
vụ. Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ của đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế (thời điểm
năm 2005 phần lớn cán bộ ở đây chỉ có trình độ học vấn phổ thông); cán bộ lãnh đạo có
biểu hiện mất dân chủ, nội bộ mất đoàn kết. Cuộc sống của nhân dân rất khó khăn. Hai
cán bộ chủ chốt của xã được cử lên huyện học tập đợt đầu là đồng chí Chủ tịch Hội đồng
nhân dân xã và Trưởng công an xã. Trước khi được cử lên huyện học tập, cả hai đồng chí
đều chưa có kinh nghiệm công tác, trình độ còn hạn chế, rất lúng túng trong việc chủ trì
cuộc họp, không xây dựng được nghị quyết, khi triển khai nghị quyết còn gặp nhiều khó
khăn… Sau khi được học tập ở huyện trở về, các đồng chí đã có những tham gia chuẩn bị
các văn bản phục vụ kỳ họp Hội đồng nhân dân huyện, tham gia xây dựng nghị quyết,
tham gia xây dựng các phương án và tổ chức thực hiện các phương án về bảo vệ an ninh
Tổ quốc, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở, sử dụng máy vi tính thành thạo.
Cán bộ chủ chốt cấp xã lên huyện không chỉ được học tập về chuyên môn mà còn
được tiếp cận các chương trình phát triển kinh tế xã hội. Các cơ quan chuyên môn như
ngân hàng, tài chính, lao động, thương binh và xã hội, nội vụ, nông nghiệp đã chọn, cử
cán bộ hướng dẫn cho họ phương pháp xây dựng dự án phát triển kinh tế, dự án vay vốn
và kỹ thuật chăn nuôi, sản xuất. Vì vậy, những cán bộ này khi trở về địa phương đã
truyền đạt kiến thức với tập thể lãnh đạo xã đồng thời là nhân tố tích cực trong hoạt động
công tác và tuyên truyền vận động nhân dân phát triển kinh tế; qua đó góp phần đáng kể
nâng cao năng lực lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng ở địa
phương của đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở.
Sau gần hai năm Hà Giang triển khai đưa cán bộ từ cơ sở lên huyện học tập, chất
lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt xã từng bước được nâng lên, dần đáp ứng được yêu cầu
của tình hình và nhiệm vụ ở cơ sở. Điều này khẳng định đây là một biện pháp hiệu quả
cần sớm được tổng kết để nhân rộng. Biện pháp này cần tiến hành đồng thời với việc làm
tốt công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ
sở xã, phường, thị trấn một cách bài bản theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khoá
IX).
2.2.5. Hiện đại hoá cơ sở đào tạo, bồi dưỡng
Nâng cao trình độ lý luận chính trị còn phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cơ sở vật
chất của trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, Trường Chính trị tỉnh. Cơ sở vật chất
phục vụ quá trình dạy học như: phòng học và các phương tiện điều kiện phục vụ cho
giảng dạy, học tập, phục vụ sinh hoạt của giảng viên và học viên. Những điều kiện này có
tác động rất lớn đến công tác giáo dục, đào tạo. Vì thế, muốn nâng cao chất lượng, hiệu
quả trong các quá trình đào tạo cần phải hiện đại hoá các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng.
Thực tế hiện nay, toàn bộ cơ sở vật chất của trung tâm bồi dưỡng chính trị các
huyện, trường Chính trị tỉnh Hà Giang còn thấp, chưa quy hoạch mang tính đồng bộ, hiện
đại, một số nhà cửa, phòng học đã được xây mới hoặc sửa chữa, cải tạo những khu nhà đã
xuống cấp… tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo theo đúng tiêu chuẩn về giảng đường, nhà ở,
phòng làm việc cho cán bộ giảng viên và học viên của trường chính trị. Giảng đường và
nhà ở cho học viên chưa đủ để đào tạo cả hai hệ tập trung và tại chức ở trường Chính trị
tỉnh, vì thế hệ đào tạo tại chức thường học tại các trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện.
Điều đó đòi hỏi sự quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất cho trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp
huyện, nhất là đối với Trường Chính trị tỉnh để đáp ứng nhiệm vụ chính trị của tỉnh, Uỷ
ban nhân dân tỉnh và Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân các huyện giao.
Cơ sở vật chất của nhà trường khi đã được hiện đại hoá (về công nghệ, phương
tiện…) tạo điều kiện thuận lợi cho học viên tiếp xúc với những phương pháp giảng dạy
mới, những thông tin khoa học mới, hệ thống tổ chức quản lý mới… góp phần nâng cao
trình độ hiểu biết cũng như năng lực công tác phục vụ cho hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo
trong thực tiễn sau này. Vì vậy, hiện đại hoá cơ sở vật chất, điều kiện giảng dạy ở trường
chính trị là một nhu cầu cấp thiết hiện nay.
Để từng bước tiến hành hiện đại hoá cơ sở vật chất cho Trường Chính trị, trước
hết phải căn cứ vào nội dung chương trình đào tạo, đối tượng đào tạo, nhu cầu cụ thể về
phương tiện vật chất nhằm phục vụ công tác giảng dạy, nội dung ch ương trình, tránh
được sự đầu tư tràn lan, không trọng tâm, trọng điểm, lãng phí mà hiệu quả không cao.
Việc đầu tư để hiện đại hoá cơ sở vật chất của Trường Chính trị còn phụ thuộc vào
điều kiện cụ thể của từng địa phương. Thực tế hiện nay, tỉnh Hà Giang vẫn là một tỉnh
nghèo nhất nước, ngân sách chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách trung ương cấp, tỉnh có
nhiều dân tộc khác nhau, địa hình phức tạp. Do đó, để tập trung đầu tư vào việc xây dựng
Trường Chính trị sẽ còn khó khăn cho tỉnh trong khi tỉnh cũng cần phải đầu tư vào một số
lĩnh vực thiết yếu khác như: xoá đói giảm nghèo, xây dựng kết cấu hạ tầng ở vùng sâu,
vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Vì vậy, việc hiện đại hoá cơ sở đào tạo, bồi dưỡng ở
Trường Chính trị cần căn cứ vào nhiệm vụ đào tạo và điều kiện thực tế của tỉnh để đầu tư
cho phù hợp.
Hiện đại hoá cơ sở vật chất đối với Trường Chính trị tỉnh có thể chia thành hai lĩnh
vực như: Những cơ sở và phương tiện phục vụ cho quá trình giảng dạy, học tập và những
cơ sở, phương tiện phục vụ cho sinh hoạt, giải trí
Thứ nhất, đối với những cơ sở và phương tiện phục vụ cho quá trình giảng dạy,
học tập bao gồm: hội trường, phòng học, phòng họp, thư viện. Để hiện đại hoá các
phương tiện cho hoạt động này cần được quan tâm trên hai mặt quy mô và các phương
tiện được trang bị.
Đối với hội trường và phòng học: hiện nay, nhà trường có một hội trường lớn và 7
phòng học nhỏ, về số lượng còn ít so với nhu cầu và số lượng học viên. Vì vậy, để xây
dựng hội trường và phòng học về quy mô phải dựa trên nhu cầu và số lượng học viên
được đào tạo. Do đó, ngoài những hội trường nhỏ cần có những hội trường lớn dùng để
hội họp, cần có một hội trường lớn có khả năng tập trung được toàn trường phục vụ
những buổi sơ kết, tổng kết, báo cáo chuyên đề, nghe thời sự, học nghị quyết… Trong
hội trường, cần được trang bị những phương tiện về âm thanh, ánh sáng… Cùng với
những phương tiện cơ bản này, các hội trường, phòng học cần được trang bị các trang
thiết bị hiện đại như: máy tính, Projector, micro không dây…(hiện nay, nhà trường mới
trang bị được một máy Projector) phục vụ cho giảng dạy. Những trang, thiết bị này hết
sức cần thiết vì với những thiết bị trợ giảng không những tạo điều kiện thuận lợi cho
giảng viên trong quá trình giảng dạy mà còn giúp cho người học tiếp thu bài giảng dễ
dàng và đạt hiệu quả cao nhất. Về các phòng học: hiện nay nhà trường có 5 phòng học
nhỏ và 2 phòng học lớn nhìn chung về chất lượng và số lượng phòng học chưa đáp ứng
được nhu cầu của học viên. Theo xu hướng giáo dục hiện đại, để đạt chất lượng và hiệu
quả giáo dục cao, mỗi phòng chỉ nên xây dựng quy mô từ 30 - 40 học viên. Số phòng học
tuỳ thuộc vào số lượng học viên và nhu cầu đào tạo tập trung quy định trong phòng học
phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản về âm thanh, ánh sáng và những phương tiện khác
phục vụ cho giảng dạy.
Đối với thư viện: Hiện nay, nhà thư viện đã được xây dựng, xong do nhu cầu đào
tạo, thiếu phòng học, trường đã sử dụng thành 2 phòng học lớn. Do đó, hệ thống phòng
thư viện, phòng đọc sách báo chưa đáp ứng với quy định chung. Để thư viện là nơi đảm
bảo phục vụ các nguồn thông tin, tài liệu tham khảo cho quá trình giảng dạy và học tập
cần được quan tâm đầu tư, đây cũng chính là yếu tố hết sức quan trọng quyết định đến
chất lượng đào tạo. Thông qua những tư liệu sách, báo của thư viện nhằm giúp cho giảng
viên, học viên có thể tham khảo phục vụ giảng dạy và học tập (hệ thống tư liệu sách báo
của trường chính trị làm tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy và học tập rất ít hoặc
không đủ).
Để đáp ứng được yêu cầu này, đòi hỏi thư viện cần được quan tâm đầu tư các loại
sách, báo hoàn chỉnh đáp ứng nhu cầu của người dạy và người học, ngoài hệ thống sách,
báo cần đầu tư những trang thiết bị khác như: băng, đĩa, vi tính… Tuy nhiên, một số
phương tiện còn tuỳ thuộc vào điều kiện, khả năng cụ thể của từng tỉnh.
Trong hệ thống thư viện còn một yếu tố khác rất được quan tâm đó là phòng đọc
sách báo (hiện nay, nhà trường chưa có phòng đọc). Do đó, đối với phòng đọc không chỉ
là nơi đọc sách, báo mà còn là nơi có thể nghiên cứu, học tập. Phòng đọc đòi hỏi những
yêu cầu cơ bản như: ánh sáng, sự yên tĩnh, không khí thoáng mát, tiện lợi khi tra cứu…
Thứ hai, về các điều kiện, phương tiện phục vụ cho sinh hoạt vật chất và tinh thần.
Đây cũng là những yếu tố hết sức quan trọng quyết định đến chất lượng đào tạo bao gồm:
nhà ăn, phòng ở cho học viên và các phương tiện giải trí khác.
Đối với phòng ở: phòng ở cho học viên hiện nay của trường được xây dựng từ
năm 2002, một số trang thiết bị đã cũ, mỗi phòng có 8 học viên, do đó chưa đáp ứng nhu
cầu về phòng ở theo đúng quy định đối với cán bộ đi học. Phòng ở cho học viên là cán bộ
đi học khác xa so với yêu cầu về phòng ở của sinh viên. Mặt khác, cần xoá bỏ quan niệm
cho rằng phòng ở chỉ là nơi để nghỉ ngơi, mà cần thấy rằng phòng ở còn là môi trường để
học viên tự học, tự nghiên cứu trao đổi, thảo luận sau các giờ học, thảo luận trên lớp... Vì
vậy, trong phòng ở cần được bố trí đầy đủ những phương tiện tối thiểu phục vụ cho việc
nghỉ ngơi và học tập.
Đối với nhà ăn: hệ thống nhà ăn của Trường Chính trị được xây dựng mới cùng
với hệ thống phòng ở vào n ăm 2002. Để nâng cao chất lượng phục vụ, nhà trường đã
tích cực mua sắm, đổi mới trang thiết bị, cải tiến bữa ăn… song vẫn chưa đáp ứng
được nhu cầu đa dạng của học viên. Do đó, đối với hệ thống nhà ăn cần được đầu tư
xây dựng khang trang hơn, đảm bảo vệ sinh và chế độ ăn uống tốt hơn. Đây cũng là
vấn đề hết sức quan trọng vì chế độ ăn uống hợp vệ sinh sẽ đảm bảo sức khoẻ cho học
viên học tập, nghiên cứu tốt hơn.
Đối với các sân chơi thể thao: Thực tế hiện nay, hệ thống sân chơi thể thao phục
vụ cán bộ, giáo viên và học viên của nhà trường vẫn còn thiếu và được đầu tư ít; do đó
chưa đáp ứng được nhu cầu rèn luyện thể thao bảo vệ sức khoẻ. Hệ thống sân chơi thể
thao, cần đảm bảo xây dựng, phục vụ cho các môn chơi thể thao chính: cầu lông, bóng
chuyền, bóng bàn… rèn luyện sức khoẻ cũng là vấn đề cần thiết, có sức khoẻ, tinh thần
thoải mái thì việc học tập càng có hiệu quả.
Tóm lại, để đảm bảo nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo, bồi
dưỡng về lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên nói chung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt cấp cơ sở của Trường Chính trị cần phải được đổi mới đầu tư, hiện đại
hoá về cơ sở đào tạo, bồi dưỡng. Tuy nhiên, để có thể thực hiện tốt được vấn đề này, điều
quan trong nhất là phải có sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, sự quan tâm đầu tư đúng mức
của Uỷ ban nhân dân tỉnh tạo điều kiện hỗ trợ về kinh phí, sự quan tâm, phối hợp của các
ban ngành, đoàn thể. Có như vậy mới từng bước hiện đại hoá được cơ sở đào tạo, bồi
dưỡng của nhà trường.
Kết luận

Đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã nói riêng
luôn là lực lượng nòng cốt trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Để phát huy được tính tích
cực của nhân tố con người đối với đội ngũ này là một vấn đề có ý nghĩa then chốt quyết
định đến thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước. Trong những nội dung cần trang bị
cho họ, lý luận chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nhận thức và hoạt động
thực tiễn của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã. Bởi vì, trình độ lý luận chính trị
giúp cho họ có thể nhận thức sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, từ đó vận dụng
sáng tạo những lý luận đó vào thực tiễn ở địa phương, cơ sở.
Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khoá VIII, Ban chấp hành
Đảng bộ tỉnh Hà Giang tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của
trung ương về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Trong đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã trong những năm qua đã có nhiều kết quả tốt, nhiều cán
bộ lãnh đạo chủ chốt sau khi được đào tạo, bồi dưỡng đã biết phát huy tác dụng đối với
cơ sở. Tuy nhiên, so với yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Hà Giang hiện nay thì trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt
cấp xã còn nhiều mặt hạn chế, bất cập. Do đó, việc nâng cao trình độ lý luận chính trị là
yêu cầu cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với cán bộ, đảng viên nói chung và cán bộ
lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã nói riêng.
Để nâng cao trình độ lý luận chính trị, phát huy vai trò tích cực của họ cho sự phát
triển chung của tỉnh trong thời kỳ đổi mới, trước hết cần phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ
đạo của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội,
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã nói riêng và
nhân dân Hà Giang nói chung. Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với
cán bộ, chú trọng công tác đào tạo, quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ… coi trọng cán bộ tại
chỗ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, cán bộ trẻ. Tạo động lực khuyến khích tinh
thần tự giác, hăng say học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ về mọi mặt.
Thực hiện đồng bộ, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương hướng và giải pháp
chủ yếu trên chính là tạo ra những điều kiện khách quan cần thiết cho việc học tập, rèn
luyện, nâng cao trình độ nói chung và trình độ lý luận chính trị nói riêng. Điều đó có ý
nghĩa quan trọng nhằm xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở cơ sở
có đầy đủ phẩm chất đạo đức, có trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, có bản
lĩnh chính trị vững vàng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, khắc phục những
hạn chế, tồn tại trong công tác xây dựng cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước.
Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp xã đóng vai trò là lực lượng nòng
cốt trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, xã hội,
góp phần cơ bản giúp cho tỉnh Hà Giang thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu, từng bước xây
dựng tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ các cấp đề ra, đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Danh mục tài liệu sách tham khảo


Bách khoa Triết học (1983), Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
1.
Nguyễn Đức Bình (1992), “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”, Cộng
2.
sản, (6).
Nguyễn Đình Chuyên (2000), Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ
3.
lãnh đạo, quản lý cấp huyện của nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
4. Vũ Hoàng Công (2003), “Những vấn đề cơ bản trong tư tưởng chính trị của chủ
nghĩa Mác - Lênin”, Thông tin chính trị học, (4), tr.7-11.
Đảng bộ tỉnh Hà Giang (1995), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XII,
5.
nhiệm kỳ 1995-2000.
Đảng bộ tỉnh Hà Giang (2000), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII,
6.
nhiệm kỳ 2000-2005.
Đảng bộ tỉnh Hà Giang (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng Bộ tỉnh lần thứ XIV,
7.
nhiệm kỳ 2005-2010.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
8.
Nxb Sự thật, Hà Nội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
9.
độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội.
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
Nxb Sự thật, Hà Nội.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1992), Nghị quyết 01 của Bộ Chính trị, BCHTW, Khoá VII
về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay, Hà Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 BCHTW khoá VII,
Nxb Sự thật, Hà Nội.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Quyết định số 88-QĐ/TW của Ban Bí thư về việc
thành lập trường chính trị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) BCHTW
khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy BCHTW, khoá VII,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Các Nghị quyết của Trung ương Đảng (1996 -
1999) (Nghị quyết TW 3 khoá VIII), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đại hội đại biểu Hội nghị lần thứ năm
BCH TW khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 BCHTW Khoá X,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Vũ Nhật Khải (1999), “Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý...” , Nghiên cứu lý luận, (9).
23. V.I.Lênin (1974), Toàn tập, tập 1, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva
24. V.I.Lênin (1980), Toàn tập, tập 14, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
25. V.I.Lênin (1975), Toàn tập, tập 6, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
26. V.I.Lênin (1981), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
27. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 43, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva
28. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
29. Nhị Lê (1996), “Để lựa chọn, bố trí đúng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”, Xây
dựng Đảng, (4).
30. C.Mác - Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
31. C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
32. Nông Đức Mạnh (1992), “Mấy vấn đề bức thiết đối với các vùng dân tộc thiểu số
hiện nay”, Cộng sản, (8).
33. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
34. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
35. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
36. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
37. Nguyễn Quốc Phẩm (1999), “Những nhân tố tác động đến việc xây dựng đội ngũ
cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện các tỉnh vùng cao miền núi phía Bác”,
Nghiên cứu lý luận, (6).
38. Hoàng Phê (chủ biên) (1997), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Trung tâm từ điển
Hà Nội, Đà Nẵng.
39. Đỗ Cao Quang (1996), Nâng cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã miền núi hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
40. Tô Huy Rứa (1998), “Đào tạo, bồi dưỡng, phục vụ công tác quy hoạch cán bộ”,
Cộng sản, (21).
41. Trần Xuân Sầm (1998), Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong
hệ thống chính trị mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
42. Tỉnh uỷ Hà Giang (1999), Quy định tạm thời về chính sách cán bộ tỉnh Hà Giang.
43. Tỉnh uỷ Hà Giang (1999), Công văn số 1020-CV/TU về việc trích kết luận số 70-
KL/TU ngày 26/5/1999 của Thường vụ Tỉnh uỷ về lớp đặc biệt đào tạo cán bộ
cơ sở xã khoá I.
44. Tỉnh uỷ Hà Giang (2006), Quyết định Ban hành quy định tạm thời về chế độ, chính
sách cán bộ tỉnh Hà Giang.
45. Tỉnh uỷ Hà Giang (2008), Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết TW3 khoá VIII về
chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
46. Lê Hanh Thông (2000), “Hồ Chí Minh về công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận cho
cán bộ”, Nghiên cứu lý luận.
47. Phan Văn Tích (1999), “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp
huyện miền núi”, Nghiên cứu lý luận.
48. Nguyễn Phú Trọng (1999), “Tạo chuyển biến mới trong việc học tập lý luận chính
trị của cán bộ, đảng viên”, Cộng sản, (11).
49. Trường Chính trị tỉnh Hà Giang (2003), Báo cáo Công tác đào tạo cán bộ đặc biệt
tại Trường Chính trị tỉnh.
50. Từ điển Triết học (1986) (bản dịch tiếng Việt có sửa đổi và bổ sung), Nxb Tiến bộ
Mátxcơva và Nxb Sự thật.
51. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang - Sở Nội vụ (1999), Báo cáo kết quả thực hiện
nhiệm vụ theo Nghị quyết 14-NQ/TU ngày 26/9/1999 của Ban thường vụ Tỉnh
uỷ (phần về chính quyền cơ sở xã và thôn bản).
52. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang – Ban Dân tộc tôn giáo - Định canh định cư (2008),
Báo cáo đánh giá thực trạng tình hình cán bộ dân tộc thiểu số cấp xã tỉnh Hà
Giang.
53. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang– Sở Nội vụ (2008), Báo cáo thực trạng cán bộ
HĐND các cấp và đội ngũ cán bộ chuyên trách cơ sở.
54. Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang – Sở Nội vụ (2008), Báo cáo tình hình tổ chức và
hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở.
Phụ lục
Cơ cấu và trình độ của đội ngũ cán bộ lãnh đạo,
quản lý chủ chốt cấp cơ sở của tỉnh Hà Giang
(Nhiệm kỳ 2005 - 2010)

(bao gồm các chức danh: Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng
nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân)


Tổng số cán bộ
Tiêu chí phân loại Tỷ lệ [%] Số cán bộ Ghi chú
[1054]
Nam giới 84,9 895
Cơ cấu giới tính
Nữ giới 15,1 159
Dân tộc thiểu số 85,9 905
Cơ cấu thành phần
dân tộc Dân tộc kinh 14,1 149
Dưới 35 44,9 473
Từ 35 đến 44 26,9 315
Cơ cấu độ tuổi
Từ 45 đến 50 19,7 207
Trên 50 8,5 89
Dưới 5 năm 0 0
Thâm niên công
Từ 5 đến 10 năm 1,54 16
tác
Trên 10 năm 98,46 1038
Thời gian giữ chức Dưới 5 năm 65,13 686
danh lãnh đạo, Từ 5 đến 10 năm 28,55 301
quản lý chủ chốt ở Trên 10 năm 7,32 77
cơ sở
Tại chỗ 68,12 718
Nguồn cán bộ Tăng cường 10,35 109
Cán bộ khác 21,53 227
Trình độ học vấn Tốt nghiệp tiểu học 3,7 39
Tốt nghiệp THCS 31,9 336
Tốt nghiệp PTTH 64,4 679
Chưa qua đào tạo 56,4 594
Sơ cấp 6,4 68
Trình độ chuyên
Trung cấp 26,3 227
môn
Cao đẳng 1,1 12
Đại học 9,8 103
Sơ cấp 38,4 405
Trình độ lý luận
Trung cấp 60,9 642
chính trị
Cao cấp, cử nhân 0,7 7
Chưa qua đào tạo 46,4 489
Quản lý hành chính
Bồi dưỡng 52,4 522
nhà nước
Trung cấp 1,2 43

Nguồn: Sở Nội vụ tỉnh Hà Giang.


MỤC LỤC




Trang

1
MỞ ĐẦU

Chương 1: Lí LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRề CỦA Lí LUẬN CHÍNH
TRỊ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ
CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ HIỆN
8
NAY

1.1. Lý luận chớnh trị và vai trũ của lý luận chớnh trị 8

1.2. Lý luận chính trị với hoạt động lónh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ
chủ chốt cấp xó 24
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM
NÂNG CAO TRèNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ Ở TỈNH HÀ
49
GIANG HIỆN NAY

2.1. Trỡnh độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó ở Hà
Giang: Thực trạng và nguyờn nhõn 49

2.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trỡnh độ lý luận chính trị
cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xó ở tỉnh Hà Giang hiện nay 71

96
KẾT LUẬN

98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản