LUẬN VĂN: Những vấn đề kinh tế, xã hội nảy sinh trong thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: vascaravietnam

Các nước chậm phát triển như nước ta, công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn luôn luôn chiếm vị trí quan trọng trong quá trình phát triển. Chỉ có HĐH nông nghiệp, nông thôn, mới tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi sự nghiệp HĐH đất nước. Trên cơ sở tính quy luật đó, Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam (2006) xác định: "Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn", giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp,...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Những vấn đề kinh tế, xã hội nảy sinh trong thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện nay

LUẬN VĂN:


Những vấn đề kinh tế, xã hội nảy sinh trong
thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện nay




MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Các nước chậm phát triển như nước ta, công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH)
nông nghiệp, nông thôn luôn luôn chiếm vị trí quan trọng trong qu á trình phát triển. Chỉ có
HĐH nông nghiệp, nông thôn, mới tạo tiền đề vững chắc để th ực hiện thắng lợi sự nghiệp
HĐH đất nước. Trên cơ sở tính quy luật đó, Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam (2006)
xác định: "Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn", giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Đến nay, việc thực hiện đường lối CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã đạt được những thành tựu đáng kể,
tạo sự chuyển biến tích cực phát triển kinh tế nông thôn, đồng thời kéo theo nhiều đổi thay
ở các lĩnh vực khác của đời sống xã hội nông thôn. Tuy nhiên, cũng từ đó, nhiều vấn đề
kinh tế, xã hội bức xúc nảy sinh, thể hiện sự bất cập, hạn chế của quá trình thực hiện
CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn, từ chủ trương, chính sách, mối quan hệ lợi ích giữa
công nghiệp, với nông nghiệp, giữa thành thị với nông thôn, cũng như sự vươn lên của bản
thân nông dân. Nó đã nảy sinh những vấn đề kinh tế, xã hội và diễn biến rất phức tập, mà
đòi hỏi phải được nhận thức rõ tình hình, nguyên nhân của thực trạng ấy, từ đó xác định
giải pháp khắc phục, nếu không sẽ có nguy cơ mất ổn định chính trị không thể lường trước
được. Cụ thể là:
1 / Kinh tế nông thôn phát triểnn còn rất chậm. Thực hiện CNH về cơ bản chưa thúc
đẩy mạnh nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng hiện đại. Thực tế, kinh tế nông
thôn Việt Nam trong thời gian qua, cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng hiện
đại rất chậm chạp. CNH đã góp phần đô thị hoá nông thôn nhiều hơn là hiện đại hoá nông
nghiệp. Một số năm gần đây, Chính phủ đã tăng ngân sách đầu tư phát triển nông thôn như
đầu tư để giảm nhẹ thiên tai, đầu tư khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư xoá
đói giảm nghèo, tạo việc làm, nâng cao mức hưởng thụ dịch vụ giao thông, truyền hình, y
tế, giáo dục, nước sinh hoạt....
Song, nhìn chung tỷ trọng đầu tư còn thấp so với tổng đầu tư xã hội. Điều đó dẫn đến
cơ sở hạ tầng nông thôn còn ở mức thấp kém, khoa học & công nghệ (KH & CN) chậm
phát triển. Mặc dù, Chính phủ khuyến khích sự hợp tác giữa “bốn nhà” trong quá trình phát
triển nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá hiện đại, nhưng trên thực tế, sự hợp tác này vẫn
chưa có hiệu quả. Trong khoảng 15 năm gần đây, một số thành tựu công nghệ sinh học đã
được ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp, song còn hạn chế về quy mô, mức độ. Do vậy,
chưa thực sự nâng cao năng suất, chất lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp
trên thị trường; việc cơ giới hoá cũng được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp, nhưng lao
động thủ công vẫn phổ biến và chiếm khoảng 70%.

2 / Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm ngày càng nghiêm trọng, hiện tượng ly nông
ra các trung tâm đô thị kiếm sống rất lớn. Do phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, đẩy
mạnh CNH, HĐH và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, việc xây dựng các khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị... nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển là một thực tế
khách quan. Tuy nhiên, quá trình CNH, HĐH đã và đang làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh
tế, xã hội rất bức xúc ở các địa phương, nhất là ở những địa phương có tốc độ CNH và đô
thị hoá diễn ra nhanh chóng. Trong đ ó, vấn đề việc làm của người nông dân sau khi bị thu
hồi chuyển đổi mục đích s ử dung đất nông nghiệp, nông dân rơi vào tình trạng thiếu việc
làm hoặc thất nghiệp, mà ồ ạt kéo ra các đô thị lớn Hà Nôị, thành phố Hồ chí Minh, thành
phố Đà Năng làm thuê rất lớn. Đây được coi là vấn đề bức xúc nhất.

Những năm qua, công tác giải quyết việc làm cho lực lượng lao động thất nghiệp
thuộc khu vực nông nghiệp và nông thôn chưa được các cấp, các ngành chức năng quan
tâm đúng mức. Tỉ lệ nông dân và con em của họ vào làm việc ở các doanh nghiệp trong các
khu, điểm công nghiệp rất thấp, chỉ khoảng 15 - 20%. Tình trạng thất nghiệp trong nông
thôn đang trở nên phổ biến và là vấn đề xã hội bức xúc cần được quan tâm giải quyết, nếu
không sẽ tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị.

3 / Phân hoá giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội ngày càng gia tăng. Chênh lệch về lợi
ích giữa công nghiệp và nông nghiệp rất lớn, dẫn đến chênh lệch thu nhập và mức sống
giữa dân cư nông thôn với thành thị đang doãng ra khá mạnh. Nếu như trong thời kỳ bao
cấp, chênh lệch lợi ích giữa công nghiệp và nông nghiệp, chênh lệc về thu nhập giữa nông
thôn và thành thị không đáng kể, hầu như chưa có sự phân hoá giàu nghèo, thì khi chuyển
sang cơ chế thị trường, quá trình phân hoá giàu nghèo trong xã hội Việt Nam đã diễn ra với
tốc độ khá nhanh. Khoảng cách giữa thu nhập của nhóm hộ giàu nhất và nhóm hộ nghèo
nhất ngày càng lớn. Mức chênh lệch này ở miền Bắc và miền Trung thấp hơn so với miền
Nam và Tây Nguyên. Dân số ở nông thôn chiếm khoảng 70% dân số cả nước, nhưng thu
nhập chỉ bằng một nửa tổng thu nhập quốc dân của 20% dân số sống ở thành thị. Đó cũng là
cơ sở nảy sinh vấn đề chính trị trong xã hội Việt Nam....
4 / Môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoát nghiêm trọng . Những năm qua, hoạt
động của nhiều nhà máy trong các khu công nghiệp, các làng nghề đã gây ô nhiễm môi
trường rất lớn. Hiện nay, tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu công nghiệp, các làng
nghề đang có những diễn biến hết sức phức tạp, thậm chí đã tạo nên làng ung thư. Do các
nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhiều doanh nghiệp, làng nghề chưa chú trọng đúng
mức nhiệm vụ bảo vệ môi trường, các chất độc hại được thải trực tiếp ra môi trường xung
quanh, mà không qua xử lý, hoặc có xử lý nhưng không đảm bảo yêu cầu về vệ sinh môi
trường.
5 / Đời sống văn hoá, tinh thần ở nông thôn có nhiều bất cập. Nông thôn truyền thống
là nơi phát sinh và lưu giữ nền văn hoá truyền thống của dân tộc. Văn hoá truyền thống, xét
cho cùng, là nhân tố quan trọng của sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Tuy nhiên,
những năm qua, do CNH, HĐH, đô thị hoá, nhiều giá trị văn hoá, đạo đức truyền thống tốt
đẹp ở nông thôn đã và đang bị xâm hại, làm biến dạng, ảnh h ưởng tiêu cực đến đời sống
văn hoá tinh thần của cộng đồng dân cư ở nông thôn.
Trong những năm qua, quá trình CNH diễn ra nhanh chóng, cùng với sự xuất hiện
nhiều thị trấn, thị tứ, những trục đường giao thông mới ở các vùng nông thôn. Sự thay đổi
này tác động mạnh mẽ tới an ninh trật tự ở nông thôn. Đời sống vật chất được cải thiện, sự
phát triển của các phương tiện nghe nhìn… đã tạo điều kiện cho một bộ phận trong nông
dân, nhât là số thanh niên lười biếng, “học đòi” trở nên hư hỏng. Nhiều loại tội phạm và tệ
nạn xã hội đã xuất hiện và đang có diễn biến phức tạp. Một số loại tội phạm nguy hiểm
trước đây chưa từng xảy ra ở nông thôn, thì nay đã xuất hiện và diễn biến phức tạp trên
diện rộng.
Ngoài ra, những rủi ro trong làm ăn kinh tế, những bất hạnh trong cuộc sống của
người nông dân cũng là một trong những lý do khiến các hoạt động mê tín dị đoan có chiều
hướng gia tăng, nhiều hủ tục lạc hậu được khôi phục, phát triển ở nông thôn.
Tình trạng này nảy sinh có phải chỉ là nguyên nhân chủ quan của người nông dân hay
còn là quan điểm, chủ trương, chính sách, biện pháp không đồng bộ của Nhà nước và chính
quyền địa phương ? Phải chăng những “điểm nóng” nảy sinh, nguyên nhân của nó là cả từ
trên xuống và cả từ dưới lên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Từ sau Đại hội VIII (1996), chúng ta đã có nhiều chương trình, đề tài cấp nhà nước,
cấp bộ và cấp cơ sở, luận án, dự án, hội thảo khoa học và sách, báo và tạp chí nghiên cứu
về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, trong đó cũng đã nêu ra những
bức xúc kinh tế, xã hội, văn hoá tiền đề nảy sinh những vấn đề chính trị xã hội trong thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nông thôn.
a ) Về chương trình, đề tài, luận án và các dự án cụ thể ở các địa phương. Từ khi đổi
mới đến nay, nhất là từ năm 1996, Nhà nước ta đã đề ra các chương trình nghiên cứu khoa
học xã hội, như Chương trình KHXH.02: “Phương hướng, mục tiêu, tiến trình và những
g iải pháp nhằm công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (1996- 2000), Chương trình KX.02: “Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá định h ướng xã hội chủ nghĩa: con đường và bước đi” (2001-
2005); Đề tài cấp nhà nước KX.02.01, “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn. Những
vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới ” (2001), do TS Lê Cao Đoàn làm chủ nhiệm. Đề tài
cấp nhà nước KX.02.02: “Tác động của xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
đến tiến trình công nghiệp hoá, hiện đ ại hoá của Việt Nam ” (2003) do TS Nguyễn Xuân
Thắng làm chủ nhiệm. Đề tài cấp nhà nước “Vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt
Nam trong quá trình phát triển đất nước theo h ướng hiện đại” (2007), do PGS.TS Nguyễn
Danh Sơn làm chủ nhiệm. Đề tài khoa học cấp nhà nước “Mô hình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa ” (KX.02.04), do GS.TS Đỗ Hoài Nam làm chủ
nhiệm.
Nhiều đề tài cấp bộ, cấp cơ sở về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn đã được triển khai nghiện cứu ở nhiều cơ sở, như ở trung tâm Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh),
các Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh khu vực 1, 2, 4, 4, Viện Khoa
học Xã hội Việt Nam, các Viện nghiên cứu Kinh tế, trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà
Nội, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thành phố Hồ Chí Minh và các trường và các viện
Kinh tế khác trong nước.
Nhiều luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ, nhiều chương trình và dự án về công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn cũng đ ã được cụ thể hoá ở 63 tỉnh thành và các
huyện trong cả nước.
b) Về Hội thảo khoa học quốc tế và trong nước: năm 2007 tại Hà Nội, Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện Trung Quốc
tổ chức Hội thảo quốc tế về “Vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân kinh nghiệm của
Trung Quốc và Việt Nam”. Hội thảo quốc tế giữa Việt Nam và Đài Loan tại Việt Nam nă m
2008 với chủ đề: “Công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn Đài Loan và Việt Nam:
Nghiên cứu so sánh”.
c) Về sách, báo và tạp chí: Cuốn sách “Chuyển dịch c ơ cấu kinh tế công - nông
nghiệp ở đồng bằng sông Hồng: thực trạng và giải pháp” của tác giả TS Đặng Văn Thắng,
TS Phạm Ngọc Dũng, do Nxb Chính trị Quốc gia, HN phát hành (nă m 2003). Cuốn sách
''Một số vấn đề về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam'' (2005) của Viện Kinh tế
học. Cuốn sách “Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn ở Đài Loan” của
tác giả Nguyễn Đình Liên, Viện Nghiên cứu Trung Quốc. Xuất bản năm 2006 do Nhà xuất
bản Khoa học Xã hội phát hành. Cuốn sách “Những biến đổi kinh tế - xã hội của hộ gia
đ ình”, tác giả: Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Xuân Mai. “Xã hội học nông thôn” (2006) của tác
giả Bùi Quang Dũng, do nhà xuất bản Khoa học Xã hội phát hành. “Vấn đề môi trường
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, chủ biên: GS-TSKH Vũ Hy Ch ương, Nhà
xuất bản Khoa học Xã hội phát hành năm 2006. Cuốn sách “Công nghiệp hoá hiện đại hoá
nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam – Con đường và bước đi” của GS.TS. Nguyễn Kế
Tuấn chủ biên do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia cho xuất bản năm 2007...
Ngoài ra, có rất nhiều bài viết đăng trên báo và tập chí như: tạp chí Cộng sản, tạp chí
Triết học, tạp chí Nông thôn ngày nay, tạp chí Khoa h ọc công nghệ và môi trương, tạp chí
Nghiên cứu lý luận, tạp chí Lý luận chính tr ị, tạp chí Báo chí và Tuyên truyền, tạp chí Th ời
đại, tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội.
Nhìn chung, trong các chương trình nghiên cứu, đề tài khoa học, luận án, đề án, sách,
báo và tạp chí đã nghiên cứu, viết về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đều có đề cập
đến vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc nảy sinh trong triển khai thực hiện, nhưng ch ưa đầy đủ,
sâu sắc và ch ưa có hệ thống, nhất là giải pháp để khắc phục có hiệu quả các vấn đề kinh tế,
xã hội bức xúc. Trên thực tế chưa có đề tài nào chuyên nghiên cứu về những vấn đề kinh
tế, xã hội nảy sinh trong thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam.
Từ tính cấp thiết của vấn đề và tình hình đã nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, nghiên
cứu khoa học: “Những vấn đề kinh tế, xã hội nảy sinh trong thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện nay” là rất cần thiết.
3. Mục tiêu của đề tài:
Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận kinh tế, xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn.
Thứ hai, đánh giá đúng thực trạng và nguyên nhân nảy sinh vấn đề kinh tế, xã hội bức
xúc trong thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam hiện
nay;
Thứ ba, đưa ra được định hướng giải pháp hợp lý có tính thực tiễn cao nhằm góp phần
khắc phục tình hình kinh tế, xã hội bức xúc ở nông thôn Việt Nam trong những năm tới.
4. Đối tượng và giới hạn nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường
bức xúc khi thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam. Nội dung nghiên
cứu của đề tài rất rộng. Trong khuôn khổ đề tài cấp bộ, nghiên cứu trong 15 tháng, đề tài
tập trung nghiên cứu một số vấn đề kinh, tế xã hội bức xúc nhất ở nông thôn Việt Nam bị
thu hồi đất để thực hiện CNH, HĐH.

5. Phương pháp nghiên cứu:
Về ph ương pháp luận:
Dựa trên cơ sở phương hướng lý luận và ph ương pháp luận Mác - Lênin và những
chỉ dẫn của Hồ Chí Minh. Trước hết, đề tài vận dụng ph ương pháp luận Mác - Lênin với 3
quan điểm rất cơ bản: quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm vận động và phát triển và quan
điểm về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Đồng thời, vận dụng 2 ch ỉ dẫn hiện đại của
Hồ Chí Minh: tổng thể hoá, thiết thực và hành động.
Ph ương pháp tiếp cận trong nghiên cứu:
a) Kết hợp phương pháp ngành và đa ngành với phương pháp phỏng vấn sâu, phương
pháp lôgic và lịch sử, phương pháp đối chiếu và so sánh, phương pháp phân tích và tổng
hợp để giải quyết nội dung nghiên cứu của đề tài;
b) Kết hợp nghiện cứu quan điểm Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối,
chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam với thực tế thời đại;
c) Tổ chức đi khảo sát thực tế ở một số địa phương.
6. Đóng góp khoa học của đề tài về lý luận và thực tiễn:
1/ Đề tài đã hệ thống, làm rõ một số vấn đề lý luận mới nhất về kinh tế, xã hội trong
thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn;
2/ Đề tài đã đi sâu phân tích những vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc nhất và nguyên
nhân mà nó nảy sinh trong thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện
nay;
3/ Đưa ra một số định h ướng giải pháp có ý nghĩa thực thi góp phần khắc phục và
phát triển kinh tế, xã hội trong việc thực hiện CNH, HĐH ở nông thôn Việt Nam theo
hướng bền vững trong thời gian tới.
7. Lực lượng nghiên cứu: Tham gia nghiên cứu đề tài gồm có các PGS, TS, NCS,
Th.s, học viên cao học trong và ngoài Viện Kinh tế và các nhà hoạt động thực tiễn ở một số
tỉnh thành như Lạng Sơn, Phú Thọ, Hà Nam, Hà Tĩnh, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang.
8. Những công trình đã xã hội hóa: trong quá trình nghiên cứu, các cộng tác viên đã
xã hội hóa được 4 bài:
1. Nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở Bắc Giang - thành tựu và những vấn đề
đang đặt ra.
2. Lao động nữ và việc làm trong các khu công nghiệp ở Hà Nam - vấn đề và giải
pháp.
3. Phân phối thu nhập ở Việt Nam - vấn đề bức xúc cần giải quyết.
4. Tam nông ở Bắc giang - thành tựu và vấn đề.
9. Nội dung:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, đề tài tập trung nghiên
cứu 3 chương cơ bản sau đây:
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XEM XÉT, ĐÁNH GIÁ
KINH TẾ, XÃ HỘI TRONG THỰC HIỆN
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NÔNG THÔN
HĐH bền vững là cơ sở lý luận xem xét, đánh giá, khắc phục những vấn đề kinh tế,
xã hội bức xúc nảy sinh trong thực hiện HĐH nông nghiệp, nông thôn.
1.1. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
1 .1.1. Quan niệm hiện đại về công nghiệp hoá
CNH là quá trình nâng cao tỷ trọng công nghiệp cả về lao động, giá trị toàn bộ các
ngành kinh tế của một địa phương, một quốc gia. Đây là quá trình chuyển biến kinh tế, xã
hội từ nền kinh tế nông nghiệp với mức tập trung t ư bản nhỏ sang nền kinh tế công nghiệp
với mức tập trung tư bản cao. CNH là một phạm trù lịch sử. CNH là một phần của quá
trình HĐH. Theo từ điển Bách bách khoa toàn thư Việt Nam: “Công nghiệp hoá là quá
trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý
kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức
lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự
phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học & công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã
hội cao. Quá trình xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật, xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí
hoá có khả năng cải tạo, trước hết là nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhằm
biến một nước kinh tế chậm phát triển, sản xuất nhỏ là phổ biến sang nền sản xuất lớn
chuyên môn hoá. HĐH là quá trình xây dựng cơ cấu kin h tế mới, mà nòng cốt là cơ cấu
kinh tế công - nông nghiệp hiện đại.”1.
Như vậy, CNH là quá trình nâng cao giá trị tuyệt đối sản lượng và lao động công
nghiệp, đồng thời CNH gắn với phát triển văn hóa xã hội để đạt tới xã hội công nghiệp.
CNH, HĐH có vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế, xã hội. Thời Hậu Lê, Lê Quý Đôn 2
có câu: "Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng". Cùng
với đổi mới các chu kỳ đầu tư thiết bị, rút ngắn thời gian lưu kho, chu kỳ kinh doanh, thực
hiện “tuần hoàn của tư bản”3, “chu chuyển tư bản”4, công nghiệp hóa sẽ được rút ngắn.
Công nghiệp phát triển nảy sinh nhiều ngành nghề mới, nhất là lĩnh vực dịch vụ, từ đó thu
hút nhiều lao động hơn, làm tăng thu nh ập, nhưng cũng dễ làm họ mất việc hơn nếu b ước
đi, cách làm CNH sai.

Cùng với quá trình CNH, đô thị hóa sẽ phát triển. Sự hình thành và phát triển các đô
thị sẽ dẫn tới xã hội hiện đại, xã hội dịch vụ. Cũng từ đó, chế độ chính trị và pháp luật cũng
có những thay đổi. Những tập quán và truyền thống của xã hội nông nghiệp biến đổi theo
hướng hiện đại.

Kế thừa, biến cải kinh nghiệm c ủa các nước trong lịch sử trên cơ sở thực tiễn CNH ở
Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã xác định: CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản,
toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng
1
http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/
2
Lê Quý Đôn (năm 1726 - năm 1784) tên thật Lê Danh Phương là quan của nhà Hậu Lê, là một nhà khoa học trong
nhiều lĩnh vực. Ông sinh ngày 5 tháng 7 năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái ( Lê Dụ Tông) thứ 7, quê tại làng Diên Hà,
trấn S ơn Nam Hạ, nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và mất ngày 14 tháng 4 năm
Giáp Thìn niên hiệu Cảnh Hưng thứ 45.
3
C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2002, t. 24, tr. 45.
4
C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2002, t. 24, tr. 231.
sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với
công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công
nghiệp và tiến bộ KH & CN nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Đại hội đại biểu
toàn quốc giữa nhiệm kỳ (1/1994) chỉ rõ: “đẩy tới một bước công nghiệp hóa đất
nước…đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân”5

Khái niệm CNH trên được Đảng ta xác định rộng hơn so với những quan niệm tr ước
đó, bao hàm cả về hoạt động sản xuất, kinh doanh, cả về dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội
và được sử dụng bằng các phương tiện và các phương pháp tiên tiến, hiện đại với công
nghệ cao. Như vậy, CNH theo tư tưởng mới là không bó hẹp trong phạm vi nâng cao trình
độ lực lượng sản xuất (LLSX), kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao
động cơ khí như quan niệm trước đây.

Do những biến đổi của nền kinh tế thế giới và điều kiện cụ thể hiện thời, CNH, HĐH
ở Việt Nam hiện nay gồm các đặc điểm chủ yếu: 1. Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện
đại hoá; 2. CNH, HĐH trong điều kiện cơ ch ế thị trường có sự điều tiết, quản lý của Nhà
nước. 3. CNH không xuất phát từ chủ quan của Nhà nước, mà nó phải trên cơ sở các quy
luật kinh tế khách quan; 4. CNH, HĐH trong bối cảnh toàn cầu hoá, vì thế mở cửa là tất
yếu. CNH trong điều kiện “chiến lược” kinh tế mở có thể đi nhanh nếu chúng ta biết tận
dụng, tranh thủ được thành tựu của thế giới và sự giúp đỡ quốc tế, nhưng phải là CNH,
HĐH bền vững.

1 .1.2. Công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn bền vững

CNH, HĐH nông nghiệp ở thế kỷ hiện nay, một mặt là HĐH phương cách sản xuất
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất thích ứng với sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ.
Mặt khác, kỹ thuật sản xuất nông nghiệp phải được HĐH. Tiếp nữa là, HĐH phương thức
sản xuất nông nghiệp còn là chuyển nông nghiệp từ sản xuất cá thể phân tán và tách rời
sang sản xuất mang tính xã hội quy mô lớn có sự phân công và hiệp tác.

5
Đảng cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của BCH TƯ tại hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng,
T/C Cộng sản 2/1994, tr.14-15.
Trong điều kiện KH & CN hiện nay, CNH, HĐH nông nghiệp là: “nông nghiệp phải
được tự động hóa, nghĩa là dựa vào kỹ thuật vi điện tử hiện đại, sử dụng máy móc có thể
điều chỉnh, kiểm tra, gia công và khống chế tự động. Thực tế phải công xưởng hóa sản xuất
nông nghiệp, nghĩa là sản xuất các loại cây trồng vật nuôi bằng việc khống chế nhân lực
trong sản xuất; sử dụng kỹ thuật và trang bị hiện đại nhằm tiến hành cung cấp không khí,
nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng và nước cho sự sinh trưởng động và thực vật…hình thành môi
trường sinh trưởng hoàn toàn do con người không chế, trên thực tế đã sáng tạo ra một loại
nhà máy nông nghiệp. Sinh vật hóa, tức là kỹ thuật gen hóa, nuôi cấy tế bào hóa, xúc tác
hóa, lên men hóa….Thực vật đa nguyên hóa, tức là phát triển nông nghiệp sa mạc, nông
nghiệp biển, nông nghiệp khoảng không vũ trụ. Điện khí hóa; quản lý khoa học hóa và phát
triển liên tục hóa, tức là đảm bảo cho ruộng đất, cây trồng và nguồn tài nguyên di truyền
của động vật, không gây ra sự xuy giảm của môi trường, giữ cho kỹ thuật phù hợp, có thể
thực hiện về kinh tế và xã hội vẫn tiếp tục phát triển”6. Quan niệm HĐH nông nghiệp như
vậy đã hàm chứa phát triển nông nghiệp bền vững.

Vậy phát triển bền vững kinh tế nông thôn là "sự phát triển có thể đáp ứng được
những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu
cầu của các thế hệ tương lai.."7. Phát triển bền vững, thì phải có tính liên tục, các lợi ích
trước mắt và lợi ích lâu dài phải được duy trì. Việc xem xét một hoạt động kinh doanh có
bền vững hay không chỉ là một dự báo, là một hoạt động có tính rủi ro cao, vì nó có thể bền
vững và cũng có thể không bền vững. Nói cách khác, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
bền vững phải bảo đảm sự phát triển kinh tế có hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường
được bảo vệ. Để đạt được mục tiêu này, hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội, tất cả các
thành phần kinh tế và mọi người dân phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hợp
3 lĩnh vực chính: kinh tế - văn hóa xã hội - môi trường. Điều này nghĩa là: tăng trưởng kinh
tế bền vững; xã hội công bằng và môi trường thiên nhiên được bảo tồn.

1 .1.2.1. Tăng trưởng kinh tế bền vững (sustained growth). Kinh tế là tổng thể các yếu
tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mỗi quan hệ trong quá trình sản xuất và

6
Xem thên Dự báo thế kỷ 21, Nxb Thống kê, 1998, tr.377-390.
7
Báo cáo Brundtland năm 1987 (còn gọi là Báo cáo Our Common Futur) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế
giới - WCED (nay là Ủ y ban Brundtland).
tái sản xuất xã hội. Nói đến kinh tế suy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích. Nghĩa
hẹp của kinh tế chỉ "hoạt động sản xuất và làm ă n của cá nhân hay hộ gia đình". Nghĩa
rộng của nó chỉ "toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông"8 của cả
một cộng đ ồng dân cư, một quốc gia hay quốc tế. Khái niệm kinh tế đề cập đến các hoạt
động của con người có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu thụ hàng hóa và
dịch vụ, nó là phạm trù lịch sử. Vậy, kinh tế là tổng thể các hoạt động của một cộng đồng
người, một nước, mà nó liên quan đến toàn bộ quá trình hay một phần của tổng quá trình
bao gồm sản xuất, trao đổi, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm xã hội; là tổng thể những
mối quan hệ trong quá trình sản xuất của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, trong tổ
chức và hoạt động của cơ cấu hạ tầng của xã hội, bao gồm các ngành kinh tế - kỹ thuật, các
loại hình sản xuất tương ứng.

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP Gross Domestic
Products) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP Gross National Products) hoặc thu nhập
bình quân đầu người (PCI Per Capita Income ) trong một thời gian nhất định, thường là
một năm. Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế. Phát triển
kinh tế trên cơ sở CNH, HĐH mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế. Nó bao gồm
tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã hội,
tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế. Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn
thiện về mọi mặt của xã hội, mà nó bao gồm kinh tế, văn hoá xã hội, môi trường và thể chế
trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo GDP cao hơn, đồng nghĩa với mức độ hạnh
phúc hơn cho mọi người. Kinh tế là một hệ thống của LLSX và quan hệ sản xuất QHSX.
Trong các tác phẩm “Tư bản ” (Karl Marx), “Chống Duyring” (Fh. Engels), “Ch ủ nghĩa đế
quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản” (V.I.Lenin), khi nghiên cứu các quá trình
kinh tế, các nhà kinh điển không chỉ nêu rõ các biểu hiện bên ngoài, mà còn liên hệ chúng
với bản chất xã hội trong các giai đoạn lịch sử nhất định đ ể “phát triển thực sự con
n gư ời”9




8
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 23.
9
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập2, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002, tr.75.
Tăng trưởng kinh tế bền vững là khái niệm hiện đại. Theo đó, tăng trưởng không chỉ
hiểu đơn thuần là tăng thu nhập bình quân đầu người, mà phải gắn với phát triển xã hội. Để
duy trì tốc độ tăng trưởng trong dài hạn, tăng thu nhập cần phải gắn với tăng chất lượng
sống hay tăng phúc lợi và xóa đói nghèo. Theo quan điểm trong cuốn Chăm lo cho trái đất
(Caring for the Earth) n êu rõ: “Cải thiện chất lượng sống con người trong khuôn khổ phạm
vi sức chứa của hệ sinh thái trợ giúp”10, các nhân tố tăng trưởng bền vững là: bảo vệ môi
trường, dựa vào sức mạnh nội tại, bình đẳng trong thu nhập, người giàu cần đóng thuế
nhiều, xây dựng một hệ thống an sinh xã hội.

1.1.2.2. Xã hội bền vững (sustained society). Xã hội là một tập thể hay một nhóm
những n gười được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc
trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa11. Từ society xuất hiện vào thế kỷ 14,
có nghĩa là "bầu bạn, kết giao, đồng chí hoặc đối tác". Vì thế, nghĩa của từ xã hội có quan
hệ gần gũi với những gì được coi là thuộc quan hệ giữa người và người. Xã hội, theo
nghĩa hẹp, là khái niệm chỉ một loại hệ thống xã hội cụ thể trong lịch sử, một hình thức
nhất định của những quan hệ xã hội, là một xã hội ở vào một trình độ phát triển lịch sử
nhất định, là một kiểu loại xã hội nhất định đã hình thành trong lịch sử. Theo nghĩa rộng,
xã hội là toàn bộ các hình thức hoạt động chung của con người, đã hình thành trong lịch sử.
Karl Marx (1818-1883) là Nhà triết học, kinh tế học người Đức. Lúc sinh thời, những tư
tưởng của Marx đã ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển lý luận về xã hội học,
ngày nay mặc nhiên ai cũng coi ông là một trong những người sáng lập ra xã hội học. Các
nhà xã hội học "đều vay mượn của Marx các lý giải về giai cấp, n gay cho dù nhà xã hội
học đó kết thúc bằng cách bài bác Marx như là sai lầm và bị lịch sử vượt qua". K.Marx chủ
yếu sử dụng lý thuyết mâu thuẫn để làm sáng tỏ biến chuyển xã hội. Đó là mâu thuẫn giữa
LLSX và QHSX, giữa hai giai cấp cơ bản kiến tạo nên xã hội. Tư tưởng lý luận xã hội học
của Marx thể hiện trong các tác phẩm: Gia đình thần thánh (1845), Hệ tư tưỏng Đức
(1846), Sự khốn cùng của triết học (1847), Tư bản (1875). Xã hội bền vững thể hiện ở sự
đồng đều nuôi dưỡng vốn xã hội (social capital); bảo tồn và phát triển văn hóa; công bằng
xã hội.

10
A Strategy for Sustainable Living. G land, Switzerland. IUCN. 1992 (UNEP/WWF 1991).
11
WikipediA, Bách khoa toàn thư mở.
Xã hội bền vững, theo ý niệm về vốn xã hội12, là tiêu chuẩn và quan hệ xã hội cho
phép nhân dân có khả năng phối hợp các hành động tập thể. Theo Coleman, "vốn xã hội"
có ba đặc tính: 1. Nó tùy thuộc vào mức độ các thành viên trong xã hội tin cậy nhau. Nói
cách khác, nó tùy thuộc vào nghĩa vụ, mà mỗi người tự ý thức và kỳ vọng của người này ở
người khác; 2. Nó có giá trị thông tin, vì qua liên hệ tiếp xúc với bà con hàng xóm, bạn bè,
mỗi người có thể thu thập nhiều thông tin h ữu ích cho cuộc sống của mình; 3. Vốn xã hội
càng lớn nếu xã hội càng có nhiều lề thói, phong tục, tập quán.

Chính vốn xã hội đã biến thành xã hội cộng đồng, phát triển không đồng thời nuôi
dưỡng vốn xã hội là phát triển không bền vững. Dù rằng, như nhà kinh tế Kenneth Arrow
(được giải thưởng Nobel 1972) đã chỉ rõ, ưu điểm của vốn xã hội là nó không cạn kiệt qua
sử dụng, song cái nguy hiểm là loại vốn này dễ bị suy mòn nếu đường lối phát triển không
đúng và không thể một sớm một chiều tái tạo hay vay mượn nó được. Chính sách phát
triển, mà chỉ hô hào làm giàu, đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn sẽ hủy hoại
tính cộng đồng, làm mất sự tin cẩn lẫn nhau, do đó làm suy giảm vốn xã hội. Khó nghĩ
hơn, hầu như bất cứ phát triển kinh tế nào cũng cần những luồng lao động đi và đến thông
thoáng, tuy nhiên sự di cư này sẽ ảnh hưởng trực tiếp (có phần tiêu cực) đến mối quan hệ
gắn bó trong gia đình, do đó tới vốn xã hội. "Phát triển bền vững" đòi hỏi sự đánh đổi tối
ưu, ăn khớp, giữa nhiều diễn biến xã hội và kinh tế khác nhau.

Công bằng xã hội: với cách nhìn tổng thể, có thể hiểu công bằng xã hội là các giá trị
định hướng để con người sinh sống và phát triển trong các quan hệ giữa các thành viên
trong cộng đồng về vật chất cũng như về tinh thần. Đó là những giá trị cơ bản trong các
quan hệ xã hội như: quan hệ giữa mức độ lao động và mức độ thu nhập; quan hệ giữa
quyền sở hữu và quyền định đoạt sản xuất và phân phối; quan hệ giữa mức độ phạm tội và
mức độ bị trừng phạt; quan hệ giữa các thành viên của xã hội với hoàn cảnh kinh tế, mức
độ phát triển trí lực khác nhau và cơ hội tham gia vào quá trình giáo dục, khám chữa bệnh,
hưởng thụ các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, thể dục - thể thao...



12
Theo nhà xã hội học người Mỹ James Coleman (1926 - 1995).
Quan niệm công bằng xã hội theo chủ nghĩa bình quân hoặc cho mọi thứ bất công
hoành hành, có hại cho lợi ích của đại đa số nhân dân càng không thể chấp nhận được. Có
người đặt vấn đề, để đạt được sự tăng trưởng kinh tế, thì tất yếu phải hy sinh công bằng xã
hội, cần chấp nhận đạt tăng trưởng kinh tế tr ước rồi giải quyết những vấn đề xã hội sau.
Quan niệm đó trong xã hội văn minh không thể chấp nhận được. Công bằng xã hội không
chỉ là một vấn đề lợi ích vật chất và tinh thần đơn thuần, mà còn có chiều kích xã hội và
chính trị quan trọng. Trong lâu dài, bình đẳng (bất bình đẳng) xã hội có ảnh hưởng rất lớn
đến sự ổn định (bất ổn định), thậm chí đến sự tồn vong của một cơ cấu xã hội hay thể chế
chính trị. Bình đẳng không chỉ là biểu hiện kết quả của tăng trưởng kinh tế, mà còn là một
đại lượng biến đổi quan trọng quyết định kinh tế tăng trưởng. Chỉ có kinh tế tăng trưởng
bền vững mới có thể đem lại thu nhập tốt cho đại đa số dân cư, mới có thể trở thành một
quá trình phát triển liên tục và lâu dài. Tiêu chí hàng đầu của công bằng xã hội ở nước ta
hiện nay là xem nó có lợi hay hại cho đời sống đa số nông dân, công nhân và sự phát triển
của đất nước. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, đặt công bằng xã hội lên hàn g đầu sẽ dẫn tới
chỗ triệt tiêu những yếu tố đônghj lực phát triển kinh tế, nhưng đặt hiệu quả kinh tế lên
hàng đầu theo lối "chủ nghĩa tự do mới" lại dẫn tới những hố khoét sâu những ngăn cách
xã hội và nhất là dồn một số người không nhỏ vào tình trạng nghèo khổ và bế tắc. Cuối
cùng cũng sẽ tạo ra những trở ngại lớn cho phát triển kinh tế, những nguy cơ bùng nổ
chính trị xã hội.

Phải đi tìm một công thức mới, trong đó hai mặt công bằng xã hội và phát triển kinh
tế không đối kháng nhau, loại bỏ nhau, mà làm cho hai mặt đó trở thành tiền đề của nhau,
hơn nữa để cho mặt này bao hàm cả mặt kia ở mức độ hợp lý nhất. Điều đó càng cần thiết,
vì ngày nay mọi lý luận về sự phát triển đều bác bỏ cách hiểu phát triển đồng nghĩa với
tăng trưởng kinh tế và nhấn mạnh nội dung cơ bản và mục tiêu cao nhất của sự phát triển là
vì con người với tư cách cá nhân trong một cộng đồng đầy nhân tính. Sự kết hợp, sự giao
thoa của hai mặt đó phải được tính toán theo những điều kiện cụ thể của địa phương nông
thôn, mỗi nước, chủ yếu là theo trình độ phát triển kinh tế và theo truyền thống, những tâm
lý dân tộc. Ở đây, tuyệt đối không có mô hình thống nhất.
Bảo tồn và phát triển văn hóa bền vững: Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong
phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hóa cũng đa nghĩa. Khi đề cập đến nó mỗi người có
một cách hiểu riêng tùy thuộc vào góc độ tiếp cận. Theo cựu Tổng Giám đốc UNESCO
Federico Mayor: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt
của cuộc sống đã diễn ra trong quá khử cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao
thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thông các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống, mà dựa
trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình". Văn hóa là một hiện tượng
khách quan, là tổng hoà của tất cả các khía cạnh của đời sống. Phát triển bền vững đòi hỏi
phải bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống, vì đời sống của chúng ta không thể coi là
"khá hơn" nếu thiếu một nền văn hóa tốt đẹp. Nhà xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu
(1930-2002) cho rằng, muốn hiểu văn hóa như một nhân tố trong đời sống kinh tế và nhất
là muốn đánh giá vai trò của nó trong tiến trình CNH, HĐH, thì nên nhìn nó như một loại
vốn - tương tự như ba loại vốn thường biết khác. Đó là vốn vật thể (như máy móc, thiết bị);
vốn con người (như kỹ năng, kiến thức) và vốn thiên nhiên (gồm những tài nguyên do
thiên nhiên cống hiến và môi trường sinh thái).

Thêm một bước, có thể phân biệt tương đối hai dạng vốn văn hóa: vốn vật thể và vốn
phi vật thể. Vốn văn hóa vật thể gồm những công trình kiến trúc, đền đài cung miếu, di tích
lịch sử, những địa điểm có ý nghĩa văn hóa. Loại vốn này cung cấp một luồng dịch vụ có
thể hưởng thụ n gay, hoặc là "đầu vào" cho sản xuất những sản phẩm và dịch vụ trong
tương lai. Dạng kia, vốn văn hóa phi vật thể, là những tập quán, phong tục, tín ngưỡng và
các giá trị khác của xã hội. Loại vốn văn hóa này là một thứ keo gắn kết cộng đồng. Nó
cũng cung cấp một luồng dịch vụ có thể hưởng thụ ngay, hoặc dùng để sản xuất những sản
phẩm văn hóa trong tương lai.

Những nhận xét trên cho thấy một số mối liên hệ giữa kinh tế, xã hội, văn hóa trong
phát triển bền vững. Thể hiện: a. giá trị kinh tế có thể tăng lên nhờ giá trị văn hóa. Lấy ví
dụ một ngôi nhà có tính di tích lịch sử. Ngôi nhà ấy có giá trị kinh tế như một kiến trúc
(ngụ cư hoặc thương mại), biệt lập với giá trị văn hóa. Song nhiều người sẽ sẵn sàng mua
ngôi nhà đó một giá cao hơn giá trị vật thể thuần túy của nó. Hầu như mọi loại vốn văn hóa
vật thể đều có thể được nghĩ đến như ngôi nhà lịch sử, tức là chúng bơm thêm giá trị văn
hóa vào giá trị kinh tế của vật thể, làm tăng thêm, có thể gấp nhiều lần giá trị của vật thể
ấy; b. Vốn văn hóa giúp ta hiểu sâu hơn về ý niệm, tính bền vững của phát triển. Đóng góp
của nó vào khả năng phát triển dài hạn không khác gì đóng góp của vốn thiên nhiên. Vì
môi trường sinh thái đóng vai trò thiết yếu cho hầu hết hoạt động sản xuất cũng như tiêu
dùng, bỏ bê môi trường đó, khai thác quá đáng tài nguyên sẽ làm giảm năng suất và phúc
lợi kinh tế. Không bảo tồn vốn văn hóa cũng có những hậu quả tai hại như vậy. Hãy nhìn
xem đường lối phát triển CNH, HĐH của Việt Nam hiện nay có hại gì đến văn hóa không,
có hại gì đến công bằng xã hội không, có hại gì đến vốn xã hội không. Sự hủy hoại này có
thể dễ thấy như sự xuống cấp hay phá đi các di tích lịch sử, những cảnh quan thu hút khách
du lịch, nhưng nó c ũng có thể không dễ thấy, như vốn xã hội, công bằng xã hội, sự suy
thoái văn chương, nghệ thuật, ngôn ngữ bản xứ…

Cái nguy hiểm là, trong cuộc chạy đua CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, ta quên
đi những giá trị văn hóa của bản làng. Nên nói rõ rằng, đây không phải chỉ là bảo tồn văn
hóa vì cái hay, cái đẹp của nó, nhưng mà giữ gìn tính kế thừa của văn hóa từ thế hệ này
sang thế hệ khác, bảo tồn vai trò của nó trong những giai đoạn phát triển về sau. Không có
nó thì sự phát triển hôm nay chẳng những què quặt, mà còn là sự phát triển không bền
vững. Hiện nay, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhằm vào tiện nghi "sao
cũng được, miễn là tiện lợi" như nhà phê bình mỹ học Virginia Postrel đã nhận xét. Một
khi cảm quan thẩm mỹ bị "tầm th ường hóa" thì tính sáng tạo cũng sẽ bị ảnh hưởng, không
ai có thể nghi ngờ rằng điều này sẽ là m tốc độ phát triển chậm lại. Nói khác đi, lối phát
triển chỉ nhằm tăng tiện nghi sinh hoạt, bất chấp mỹ quan văn hóa, là không bền vững.

Nếu ta khẳng định có một mối liên kết giữa vốn kinh tế với vốn xã hội (trong đó có
vốn con người) và vốn văn hóa, thì hủy hoại vốn văn hóa và vốn xã hội cũng là hủy hoại
vốn kinh tế. Nói cách khác, những mất mát, suy đồi không thể phục hồi của văn hóa và xã
hội sẽ đe dọa sự bền vững của CNH, HĐH.

1 .1.2.3. Bảo tồn môi trường thiên nhiên
1 /Khái niệm môi trường: Môi trường là một tổ hợp các yếu tố bên ngoài của một hệ
thống. Chúng tác động lên hệ thống và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của hệ
thống. Môi trường có thể coi là tổng một tập hợp, trong đó hệ thống là một tập hợp con.
Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính t ương tác với hệ thống đó.
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật
thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát
triển của con người và thiên nhiên.

Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm vật chất, điều kiện hoàn cảnh, các
đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh khách thể này hay các hoạt
động của khách thể diễn ra trong chúng. Trong phần này, chúng tôi giới hạn nghiên cứu
trong sinh vật học. Môi trường có thể định nghĩa như là tổ hợp của các yếu tố khí hậu, sinh
thái học, xã hội và thổ nhưỡng tác động lên cơ thể sống và xác định các hình thức sinh tồn
của chúng. Vì thế, môi trường bao gồm tất cả mọi thứ, mà nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự
trao đổi chất hay các hành vi của các cơ thể sống hay các loài, bao gồm ánh sáng, không
khí, nước, đất và các cơ thể sống khác. "Luật bảo vệ môi trường" của Việt Nam quy định
những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường, bảo đảm
cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây
ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên” 13.

2 / Các hình thức ô nhiễm môi trường sinh vật học. Ba hình thức ô nhiễm môi trường
mà đề tài quan tâm: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước và ô nhiễm đất.

a) Ô nhiễm không khí là việc xả khói chứa bụi và các chất hóa học vào bầu không
khí. Ví dụ: các khí độc là cacbon mônôxít, điôxít lưu huỳnh, các chất cloroflorocacbon
(CFCs); ôxít nitơ là chất thải của công nghiệp và xe cộ. Ôzôn quang hóa và khói lẫn sương
(smog) được tạo ra khi các ôxít nitơ phản ứng với ánh sáng mặt trời. Ô nhiễm không khí là
sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm
cho không khí không sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bui. Hiện
nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới. Môi trường khí quyển
đang có nhiều biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật. Con
người thải vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải khác nhau, làm cho hàm l ượng

13
http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param.
các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng. Hàng năm có 20 tỷ tấn cacbon điôxít, 1,53 triệu
tấn SiO2, hơn 1 triệu tấn niken, 700 triệu tấn bụi, 1,5 triệu tấn asen, 900 tấn coban, 600.000
tấn kẽm (Zn), hơi thuỷ ngân (Hg), hơi chì (Pb) và các chất độc hại khác đưa vào không khí.

Ô nhiễm môi trường khí quyển tạo nên sự ngột ngạt và "sương mù", gây nhiều bệnh
cho con người. Nó còn tạo ra các cơn mưa axít làm huỷ diệt các khu rừng và các cánh
đồng. Điều đáng lo ngại nhất là con người thải vào không khí các loại khí độc như: CO2,
NOX, CH4, CFC đã gây hiệu ứng nhà kính. Theo nghiên cứu, thì chất khí quan trọng gây
hiệu ứng nhà kính là CO2, nó góp 50% vào việc gây hiệu ứng nhà kính, CH4 là 13%, ôzôn
tầng đối lưu là 7%, nitơ 5%, CFC là 22%, hơi nước ở tầng bình lưu là 3%.

Biểu đồ 1.1: Lượng khí thải CO2 của một số nước




Nguồn: mongabay.com.

Có nhiều khả năng lượng CO2 sẽ tăng gấp đôi vào nửa đầu thế kỷ sau. Điều này sẽ
thúc đẩy quá trình nóng lên của Trái Đất diễn ra nhanh chóng. Nhiệt độ trung bình của Trái
Đất sẽ tăng khoảng 3,60°C (G.I.Plass), và mỗi thập kỷ sẽ tăng 0,30°C. Theo các tài liệu khí
hậu quốc tế, trong vòng hơn 130 năm qua nhiệt độ Trái Đất tăng 0,40°C. Tại hội nghị khí
hậu tại Châu Âu, các nhà khí hậu học trên thế giới đã đưa ra dự báo rằng đến năm 2050
nhiệt độ của Trái Đất sẽ tăng thêm 1,5 – 4,50°C, nếu như con người không có biện pháp
hữu hiệu để khắc phục hiện tượng hiệu ứng nhà kính.
Một hậu quả nữa của ô nhiễm khí quyển là hiện tượng lỗ thủng tầng ôzôn. CFC là "kẻ
phá hoại" chính của tầng ôzôn. Sau khi chịu tác động của khí CFC và một số loại chất độc
hại khác, thì tầng ôzôn sẽ bị mỏng dần rồi thủng, không còn làm tròn trách nhiệm của một
tấm lá chắn bảo vệ mặt đất khỏi bức xạ tia cực tím, làm cho lượng bức xạ tia cực tím tăng
lên, gây hậu quả xấu cho sức khoẻ của con người và các sinh vật sống trên mặt đất. Không
khí ô nhiễm có thể giết chết nhiều cơ thể sống trong đó có con người. Ô nhiễm ôzôn có thể
gây bệnh đường hô hấp, bệnh tim mạch, viêm vùng họng, đau ngực, tức thở. Ô nhiễm tiếng
ồn gây điếc, cao huyết áp, trầm cảm, và bệnh mất ngủ.

b) Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: nước ngầm, nước ở
các sông hồ, tồn tại ở thể hơi... Ô nhiễm nước là thành phần nước có các chất gây hại cho
con người và cuộc sống các sinh vật bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm.

Trong quá trình sinh hoạt hàng ngày, với tốc độ phát triển như hiện nay, con người vô
tình đã làm ô nhiễm nguồn nước. Các đơn vị cá nhân sử dụng nước ngầm dưới hình thức
khoan giếng, sau khi ngưng không sử dụng không bịt kín các lỗ khoan lại làm cho n ước
bẩn chảy lẫn vào làm ô nhiễm nguồn nước ngầm. Các nhà máy, xí nghiệp xả khói bụi công
nghiệp vào không khí làm ô nhiễm không khí, các chất ô nhiễm này sẽ lẫn vào trong nước
khi mưa cũng góp phần làm ô nhiễm nguồn n ước. Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều
xấu đi các tính chất vật lý - hoá sinh của nước.

Nước bị ô nhiễm là do sự phủ dưỡng xảy ra chủ yếu ở các khu vực n ước ngọt và các
vùng ven biển, vùng biển khép kín. Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất hữu cơ
quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng hoá được. Kết quả là
làm cho hàm lượng ôxy trong nước giảm đột ngột, các khí độc tăng lên, tăng độ đục của
nước,... Ô nhiễm nước do rác của công nghiệp thải ra lưu vực các con sông, mà chưa qua
xử lý đúng mức; các loại phân bón hoá học và thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm
và nước ao hồ; rác thải ra từ các khu dân cư ven sông. Xét về tốc độ lan truyền và quy mô
ảnh hưởng, thì ô nhiễm nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm môi trường đất.

c) Ô nhiễm môi trường đất. Đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật
cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con
người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vào hoạt
động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm. Nhưng với
nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như hiện
nay, thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái.
Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người làm thay đổi các nhân tố
sinh thái vượt qua những giới hạn của các quần xã sống trong đất.

1.2. Những nhân tố chi phối đến khả năng khắc phục những bức xúc kinh tế, xã
hội ở nông thôn hiện nay

Nhân tố chi phối đến khả năng khắc phục những bức xúc kimh tế, xã hội nông nghiệp
nông thôn có nhiều, song trong phần này, đề tài tập trung phân tích 2 nhân tố quan trọng
nhất:

1.2.1. Cơ chế c hất lượng cao là nhân tố quan trọng nhất c hi phối đến khả năng
k hắc phục những b ức xúc kinh tế, xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay

Cơ chế chất lượng cao” 14 (high quality institutions) là nhân tố quan trọng nhất có khả
năng khắc phục những bức xúc kinh tế, xã hội nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền
vững. Cơ chế ở đây là các luật chơi (rules of the games) gồm những thể lệ có tính cách
pháp lý hoặc những chủ trương, chính sách, những quy định của nhà nước làm nền tảng
cho hoạt động của các tác nhân trong nền kinh tế.

Cơ chế được quan niệm như vậy có vai trò quan trọng có khả năng khắc phục nh ững
bức xúc kinh tế, xã hội vì: 1. Hoạt động kinh tế thường đi liền với sự bất xác định nên đầu
tư dễ gặp rủi ro; cần xây dựng cơ chế để giảm sự bất xác định, hạn chế rủi ro, thúc đẩy
khắc phục nh ững bức xúc kinh tế, xã hội nông nghiệp, nông thôn để phát triển theo hướng
bền vững. 2. Tùy theo cơ chế xấu hay tốt có thể làm nản chí hoặc khuyến khích hành động
của các tác nhân kinh tế (doanh nghiệp, lao động,…). 3. Sự phân công xã hội càng cao, sự
hội nhập với thế giới càng sâu, thì chi phí giao dịch (transaction costs) giữa nhà nước với
doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp với nhau và giữa doanh nghiệp, nhà nước với các cá

14
Trần V ăn Thọ: Giáo sư Đại học Waseda và Visiting Scholar Đại học Harvard.
nhân trong xã hội càng cao. Cần có cơ chế tốt để giảm chi phí giao dịch, nâng cao hiệu suất
họat động sản xuất. Vì các lý do đó, “vấn đề cơ chế trở thành trung tâm nghiên cứu về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa” 15 hiện nay. Cơ chế có thể chia làm 4 lọai: công, tư, chính thức và
phi chính thức16. Cơ chế công và cơ chế chính thức là các lọai cơ chế do nhà nước xây
dựng, vì vậy có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khắc phục và phát triển kinh tế, xã hội
bền vững hay không bền vững. Nhìn chung, kinh tế càng phát triển, cơ chế chính th ức thay
thế dần cơ chế phi chính thức và cơ chế cộng đồng ngày càng xuất hiện. Vậy, nhà nước cần
chủ động xây dựng cơ chế như th ế nào để thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển một cách bền
vững.

Nền kinh tế của một nước thường phát triển qua nhiều giai đọan. Rostow (1960) chia
quá trình phát triển thành 5 giai đọan: xã hội truyền thống, giai đọan chuẩn bị các tiền đề
để cất cánh, giai đọan cất cánh, giai đọan phát triển mạnh đưa đến sự thành thực của nền
kinh tế, cuối cùng là thời đại tiêu thụ đại chúng. Kuznets (1966) nhấn mạnh sự khác nhau
về bản chất giữa hai giai đọan tăng trưởng theo yếu tố truyền thống và giai đọan phát triển
hiện đại, mà chúng ta cần vận dụng. Ngoài ra, còn nhiều cách khảo sát khác nữa, qua đó có
thể nhìn nhiều mặt khác của các giai đọan phát triển. Chẳng hạn, thay đổi về sự dịch
chuyển lao động từ khu vực truyền thống sang khu vực hiện đại, từ sự phát triển chủ yếu
tăng đầu vào (nh ư tư bản, lao động) sang phát triển theo năng suất tổng hợp dựa trên công
nghệ, kỹ thuật, từ phân phối thu nhập bất bình đẳng sang phân phối bình đẳng hơn, v.v..

Đối với Việt Nam trước đổi mới là thời kỳ kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (chiếm hơn
70% lao động), nh ưng năng suất rất thấp. Tỉ lệ tiết kiệm (trong GDP) hầu như bằng không
và tỉ lệ đầu tư rất thấp, vốn đầu tư chủ yếu nhờ viện trợ của Liên Xô cũ và các nước Đông
Âu. Hơn nữa, ít nhất 60% dân số là nghèo (poverty line). Từ cuối thập niên 1980 đến nay,
Việt Nam vừa phải giải quyết các vấn đề phát triển (development), vừa nỗ lực chuyển sang
kinh tế thị truờng (transition) định hướng XHCN. Hơn 20 năm đổi mới, cơ bản Việt Nam
đã vượt khỏi cái bẫy nghèo và quá trình cải cách chuyển sang kinh tế thị truờng đã đạt
được một số thành quả.

15
Douglass C. North, nhà kinh tế đọat giải Nobel năm 1993, là người tiên phong trong nghiên cứu về sự liên hệ giữa
cơ chế và thành quả phát triển kinh tế.
16
Xem World Bank (2003), Ch. 3, nhất là Figure 3.1 ở trang 38.
Về mặt cơ chế, giai đoạn 1986-2009 là thời kỳ có tính chất cởi trói những ràng buộc
để các tác nhân, các chủ thể kinh tế có điều kiện phát huy năng lực sản xuất. §¹i héi
§¶ng toµn quèc lÇn thø VI (1986), kinh tế tư nhân ®· ®­îc nhËn
thøc d­íi ¸nh s¸ng míi. LuËt Doanh nghiÖp t­ nh©n ®­îc ban
hµnh n¨m 1990, NghÞ ®Þnh sè 221/H§BT n¨m 1991, Khoán 10 trong
nông nghiệp (Nghị quyết số 10 của Bộ Chính Trị năm 1988), Luật đầu tư nước ngoài (tu
chỉnh nhiều lần) và Luật doanh nghiệp (tu chỉnh nhiều lần) đều nhằm cởi trói dần các ràng
buộc đối với họat động của doanh nghiệp. Do đó, cơ chế được xây dựng không khó khăn,
phần lớn chỉ là quyết tâm chính trị của lãnh đạo. Nhưng nếu các chính sách, cơ chế này
được xây dựng và thực thi nhanh hơn, dứt khóat hơn, thì tốc độ tăng trưởng cao hơn nhiều.
Mặt khác, nếu chiến lược đổi mới được thực hịện trong thời gian ngắn hơn và chuẩn bị một
cơ chế mới chất lượng cao hơn, thì kinh tế Việt Nam sẽ tránh được các khó khăn trên con
đường CNH, HĐH bền vững. Từ thực tiễn đ ó, xây dựng một hệ thống cơ chế mới nhằm
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn bền vững là nhân tố rất quan trọng. Ba tiền đề quan
trọng để có cơ chế mới chất lượng cao.

Một là, bảo đảm tính dân chủ trong việc họach định các chiến lược, chính sách. Lãnh
đạo chính trị quyết định cuối cùng và chịu trách nhiệm về quyết định, nhưng phải trên cơ
sở bàn bạc rộng rãi giữa các chuyên gia, giới ngôn luận và các thành phần khác của xã hội.
Tham gia là một thuật ngữ được các nhà nghiên cứu về cơ chế nhấn mạnh và nghiên cứu
thực chứng cho thấy, chiến lược, chính sách về các vấn đề phát triển kinh tế, xã hội nếu có
sự tham gia của các thành phần xã hội liên quan đều mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao.
Ngay cả những dự án nhỏ trong viện trợ (như xây đường, xây cầu), hiệu quả và tính bền
vững cũng được bảo đảm nếu có sự tham gia của cư dân liên hệ trong quá trình thiết kế,
thực thi dự án. Cơ chế bảo đảm sự tham gia (participatory institutions) có chức năng ngăn
ngừa những quyết định, những chính sách phục vụ các nhóm lợi ích, đi ngược lại lợi ích
chung của đất nước, của đông đảo nông dân và công nhân.

Hai là , ý kiến của chuyên gia được các chính khách tôn trọng và vận dụng. Chính trị
gia không đưa ra kết luận trước, mà quy trình cần phải ngược lại để các chuyên gia, công
luận tìm cách chứng minh rồi chính trị gia đưa ra kết luận đó.
Thứ ba, p hải có đội ngũ cán b ộ lãnh đạo, quản lý giỏi thật sự để quá trình đặt ra các
chính sách và th ực hiện chính sách có hiệu quả . Chế độ thi tuyển công khai, nghiêm minh
và chế độ đãi ngộ thỏa đáng là điều kiện để có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có năng
lực.

2.2.2. Bình đẳng trong phân phối thu nhập là nhân tố quan trọng khắc phục bức
xúc kinh tế, xã hội nông thôn theo hướng bền vững

Giống như toàn cầu hóa, phát triển bền vững có nhiều nghĩa khác nhau, tùy theo từng
trường hợp và người dùng. Riêng trong bộ môn kinh tế, Pezzey (1989) đã tìm thấy 61 định
nghĩa phát triển bền vững khác nhau. Một định nghĩa hay được nhắc đến, do Hội đồng Thế
g iới về Môi trường và Phát triển (World Commission on Environment and Development
1987) đưa ra: Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại, mà không làm tổn
hại khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn nhu cầu của chính họ. Tổ chức
Hợp tác Kinh tế và Phát triển (Organisation for Economic Co-operation and Development
2003) đã chú giải định nghĩa trên: phát triển bền vững là đường lối phát triển trong đó sự
cực đại hóa phúc lợi con người của thế hệ ngày nay không làm giảm phúc lợi tương lai.

Những định nghĩa trên đều phản ánh đặc tính cơ bản của phát triển bền vững. Đây là
quan điểm lấy con người là trung tâm; các định nghĩa đều áp dụng lý thuyết công bằng xã
hội của Rawls17 vào phân phối tài sản và thu nhập giữa các thế hệ, các giai tầng trong xã
hội với nhau. Phát triển bền vững có thể xem là một ràng buộc cao nhất trong bài toán tối
ưu kinh tế. Hàm ý của các định nghĩa trên là thế hệ hiện tại có thể khai thác tài nguyên cho
sản lượng ngày nay và đền bù các thế hệ tương lai với vốn nhân tạo (physical capital).
Trong lĩnh vực kinh tế, phát triển bền vững có ít nhất là ba chiều kích khác nhau.

Thứ nhất, phát triển bền vững là sự tăng trưởng bền bỉ của phúc lợi vật chất cho con
người. Phát triển được xem là bền vững nếu đa số nhân dân có thể hưởng thụ mức sống
ngày càng cao hơn, bao gồm cả số lượng, chất lượng hàng hóa tiêu thụ lẫn sự th ư nhàn
(leisure). Hiểu phát triển bền vững rộng hơn là dùng chỉ số phát triển con người (HDI)

17
John Bordley Rawls (February 21, 1921 – N ovember 24, 2002) was an American philosopher and a leading figure
in moral and p olitical philosophy.
công bằng thay vì sản lượng hay tiêu thụ. Chỉ số này bao gổm ba thành phần: tổng sản
phẩm chia đầu người điều chỉnh cho sức mua, tuổi thọ và kiến thức. Như vậy, phát triển
bền vững phải đ ược hiểu là giữ vững tốc độ tăng trưởng vế sản xuất lẫn y tế và giáo dục
qua một thời gian dài cho mọi thành viên trong xã hội.

Thứ hai của phát triển bền vững liên quan đến sự tiến hóa của môi trường thiên nhiên
v ì những hoạt động kinh tế của con người. Trong nghĩa này, phát triển được xem là bền
vững nếu tổng giá trị của môi trường thiên nhiên không suy giảm qua thời gian. Khía cạnh
này, phù hợp với các định nghĩa nêu trên, nhấn mạnh đến vai trò của môi sinh trong quá
trình phân phối thu nhập và tài sản giữa các thế hệ.

Thứ ba của phát triển bền vững liên hệ đến cấu trúc và tổ chức xã hội. Từ quan điểm
này, phát triển được xem là bền vững nếu xã hội luôn giữ được ổn định và hài hòa. Nếu
nghèo đói di truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác và nếu khoảng cách giàu nghèo càng
ngày càng tăng, xã hội không thể ổn định trong lâu dài.

Nhận thức của các nhà kinh tế về liên hệ nhân quả giữa phân phối thu nhập và phát
triển bền vững thay đổi theo thời gian. Trước dây, theo lập luận của các nhà kinh tế như
Simon Kuznets18 (đoạt giải Nobel kinh tế học n ăm 1971) và Nicholas Kaldor19, sự gia tăng
chênh lệch trong phân phối thu nhập và tài sản là điều tất yếu trong bước đầu của phát triển
kinh tế. Biểu đồ Kuznets cho thấy sự liên hệ giữa chỉ số Gini và thu nhập chia đầu người
có hình chữ U ngược, nghĩa là chỉ số Gini là hàm tăng (giảm) của thu nhập chia đầu người
khi thu nhập chia đầu người nhỏ (lớn) hơn một mức tới hạn nào đó. Tuy nhiên nhiều công
trình nghiên cứu gần đây, dựa trên số liệu tốt hơn, cho thấy chênh lệch thu nhập làm giảm



18
Simon Smith Kuznets (April 30, 1901 – July 8, 1985) was a Russian American
economist at the Wharton School of the University of Pennsylvania who won the
1971 Nobel Memorial Prize in Economic Sciences "for his empirically founded
interpretation of economic growth which has led to new and deepened insight
into the economic and social structure and process of development".
19
Nicholas Kaldor, Baron Kaldor (Budapest, 12 May 1908 ­ Papworth Everard,
Cambridgeshire, 30 September 1986) was one of the foremost Cambridge economists
in the post­war period. He developed the famous "compensation" criteria called
Kaldor­Hicks efficiency for welfare comparisons (1939), derived the famous
cobweb model and argued that there were certain regularities that are
observable as far as economic growth is concerned (Kaldor's growth laws).
mức tăng trưởng kinh tế, và ngược lại, tăng trưởng kinh tế không có tác động tiêu cực trên
sự thay đổi của mức phân hoá giàu nghèo.

1.3. Kinh nghiệm thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong phát triển
bền vững ở một số nước
Trong lịch sử phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của thế giới, có nhiều vấn đề
lặp lại ở các quốc gia khác nhau. Thành công và thất bại của quốc gia đi trước là tài sản vô
giá cho quốc gia đi sau. Hồ Chí Minh (19/5/ 1890 – 2/9/1969), Chulalongkorn Đại đế
(20/9/1853 – 23/1/ 1910)20 bôn ba năm châu bốn biển tìm đường cứu nước. Thậm chí có
một số quốc gia đã tổ chức đi học tập kinh nghiệm quốc tế một cách hệ thống như Pyotr
Đại Đế21. Triều đình nhà Nguyễn (triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam,
bắt đầu khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802, chấm dứt khi vua Bảo Đại thoái vị vào năm
1945) đã bác bỏ đề nghị chương trình phát triển theo kinh nghiệm phương Tây của Nguyễn
Trường Tộ22.

Hơn 140 năm nay, tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ vẫn để lại cho chúng ta bài học
quý giá: “Thời thế vận hội trong thiên hạ đã đến lúc tiến dần thời tráng thịnh, tung hoành
bốn phương. Giả sử như có một nước nào ngày nay muốn đóng c ửa, không tiếp khách để
hưởng yên vui một mình cũng không thể được. Bởi vì, không đến với người, người cũng
đến với ta. Nếu ta không thể chặn bước người tiến tới, thì chúng ta phải cất bước tiến
lên”23. Trong tác phẩm Nh ững nhiệm vụ trước mắt của chính quyền xôviết, V.I.Lenin đã
kêu gọi phải học chủ nghĩa tư bản, ‘‘phải áp dụng rất nhiều yếu tố khoa học và tiến bộ
trong phương pháp Taylo’’ 24. Lênin cho rằng, không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am
hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm tổ chức quản lý, thì không thể nào
chuyển lên CNXH được, vì CNXH đòi hỏi một bước tiến có ý thức và có tính chất quần
chúng để đi tới một năng xuất lao động cao hơn năng suất của CNTB dựa trên cơ sở những


20
Chulalongkorn Đại đ ế là vị vua thứ 5 của triều Chakri của Thái Lan. Ông được xem là một trong những vị vua vĩ
đ ại nhất của Xiêm La và cũng được thần dân gọi là "Đức vua vĩ đại kính yêu".
21
P yotr I (10 tháng 6, 1672 tại Moskva – 8 tháng 2, 1725 tại Sankt-Peterburg) là Sa hoàng của nước Nga cũ và sau
đó là Hoàng đế của Đế quốc Nga, được tôn là P yotr Đại đ ế ( hay Pi-e Đại đế, Pie Đ ại đế, Pyotr Velikiy).
22
Nguyễn Trường Tộ: (1828 – 1871) là một chí sĩ, danh sĩ, kiến trúc sư và là một tín đồ Công giáo yêu nước.
23
Xem "Nguyễn Trường Tộ: Con người và di thảo", Trương Bá Cần, NXB TP.HCM, 1998.
24
V.I.Lênin: Toàn tập, Tập.36, Nxb. TB, Mátxcơva, 1977, tr.231.
kết quả, mà CNTB đã đạt được. Lênin nhấn mạnh, phải học KH & CN, tổ chức lãnh đạo
quản lý, giáo dục và đào tạo. Đó là nhiệm vụ mà chính quyền xôviết phải đặt ra trước nhân
dân với tất cả tầm vóc của nó. Nước cộng hòa Xôviết phải tiếp thu cho bằng được tất cả
những gì quý giá nhất của CNTB.

1 .3.1. Kinh nghiệm Trung Quốc: Trung Quốc là một n ước ở khu vực Đông Á, nước
đông dân nhất thế giới (1,306.313.812 tỷ người). là nước lớn nhất trong khu vực Đông Á.
Sau những thất bại bi thảm về kinh tế đầu thập niên 1960, Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn
quốc đã bầu Lưu Thiếu Kỳ làm chủ tịch nước, nhưng Mao Trạch Đông vẫn nắm chức chủ
tịch Đảng. Dưới ảnh hưởng chủ yếu của Lưu Thiếu Kỳ, Tổng bí thư Đặng Tiểu Bình khởi
xướng cải cách kinh tế, mở đầu từ Hội nghị Trung ương 3 khóa XI của Đảng cộng sản
Trung Quốc (12/1978). Đây là cuộc cải tổ nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập
trung sang kinh tế thị trường XHCN mang đặc sắc Trung Quốc theo hình thức kinh tế hỗn
hợp.

CNH nói chung và CNH nông nghiệp, nông thôn nói riêng ở Trung Quốc kể từ sau
cải cách năm 1978 đã mang lại rất nhiều thành tựu. Nông nghiệp đã đạt được tốc độ tăng
trưởng rất cao. Giai đoạn 1983-2000, GDP của nông nghiệp Trung Quốc tăng tới 7,1 lần.
Sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp Trung Quốc đã cho phép không những đảm bảo
được an ninh lương thực, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu và phát triển công
nghiệp.

Để thúc đẩy phát triển nông nghiệp, Trung Quốc đã tập trung phát triển kết cấu hạ
tầng nông thôn, nhất là giao thông đường cao tốc, đường sắt và đường biển. Nhờ đó, chi
phí vận tải từ miền Tây sang miền Đông giảm xuống chỉ còn ở mức 20-30% so với trước
đây, thúc đẩy nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Trung Quốc. Những chính sách mới từ
năm 1984 như phi tập thể hóa, nâng giá nông sản, cho phép và mở rộng buôn bán vật tư tư
do đã góp phần thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng. Theo đánh giá của các nhà kinh tế
Trung Quốc 40% đóng góp cho tăng trưởng nông nghiệp là do đổi mới hình thức tổ chức
sản xuất; 40% là do áp dụng tiên bộ kỹ thuật, cải tiến quản lý và kết cấu hạ tầng; 20% là
nâng cao giá nông sản. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Trung Quốc có thể rút ra
một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
1 /Kinh nghiệm giải quyết việc làm thành công ở nông thôn Trung Quốc. Quá trình
CNH nông nghiệp, nông thôn, việc làm là một trong những vấn đề bức xúc của Trung
Quốc. Trong giai đoạn 1985-1990 đã có khoảng 15 triệu người di cư từ nông thôn ra thành
thị. Trong giai đoạn 2000-2008 con số này từ 78 triệu người lên 132 triệu người, làm cho
tỷ lệ lao động nông thôn di cư ra thành thị trong tổng lao động đang làm việc ở đô thị tăng
từ 36,9% lên 46,7%. Những bức xúc về việc làm ở nông thôn đôi dư đã buộc Chính phủ
phải tìm cách giải quyết. Bài học kinh nghiệm lớn nhất là Chính phủ, chính quyền các cấp
và nông dân đã tập trung phát triển xí nghiệp hương trấn25, đồng thời xây dựng thêm nhiều
thành phố trên địa bàn nông thôn. Trong giai đoạn 1990-2000 số lượng thành phố tăng từ
479 lên 667, số lượng thị trấn từ 11.000 lên 19.000. Sự hình thành và phát triển của hệ
thống doanh nghiệp hương trấn đã thu hút nhiều lao động, tạo thu nhập cho nông thôn. Tỷ
lệ đóng góp của công nghiệp hương trấn vào công nghiệp quốc gia tăng từ 20% năm 1988
lên 40% năm 1994. Trong giai đoạn 1978-1995 tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm
của công nghiệp hương trấn đạt mức 24,7%/năm, thu hút khoảng 130 triệu lao động.
2 /Kinh nghiệm rút lao động khỏi nông nghiệp. Những thay đổi trong cơ cấu kinh tế và
thực hiện ứng dụng tiến bộ KH & CN, số lượng và tỷ trọng lao động nông nghiệp ở Trung
Quốc đã không ngừng giảm từ 391 triệu người năm 1991 còn 340 triệu người năm 2005.
Tỷ trọng lao động nông nghiệp cũng không ngừng giảm từ 68% năm 1990 còn 50% (năm
1998), 45% năm 2007. Sự phát triển của nông nghiệp, nhất là các ngành nghề phi nông
nghiệp ở nông thôn đã góp phần giảm lao đ ộng nông nghiệp, tăng thu nhập cho dân cư
nông thôn. Thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng từ 380 USD năm 1990 lên tới
800 USD (1998), 1.700 USD năm 2008.
Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng thừa lao động nông thôn. Quá trình CNH, đô thị hóa
nông thôn nhanh chóng đã và đang đặt ra nhiều thách thức cần giải quyết như nguồn lực tài
chính để tạo việc làm thu hút lao động, phát triển giáo dục đào tạo, xây dựng kết cấu hạ
tầng. Tình trạng khiếu kiện, biểu tình phản đối lấy đất, chống tham nhũng, chống gánh
nặng thuế khóa, số vụ việc tăng 8,7 nghìn vụ năm 1993 lên 32 nghìn vụ (1999), 60 nghìn
vụ (2003) 87 nghìn vụ năm 2005. Nông dân đã trở thành vấn đề thời sự nóng bỏng của xã



25
Xí nghiệp hương trấn là những doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc rất nhỏ. Có tới 99% xí nghiệp hương trấn có không
q uá 50 lao đ ộng, thành lập từ sau cải cách 1978.
hội Trung Quốc. Sức hút của đô thị đang đe dọa sự đổ vỡ của các cộng đồng nông thôn đặc
biệt ở miền Tây.
3 / Vấn đề cần tránh là ô nhiễm môi tr ường . Quá trình CNH với tốc độ cao ở Trung
Quốc đã có tác động tiêu cực rất lớn tới môi trường. Hiện nay, Trung Quốc đang là quốc
gia đứng đầu thế giới về mức độ ô nhiễm không khí và nguồn nước, gây ra nhiều vấn đề
kinh tế, xã hội bức xúc. (Xem thêm biểu đồ 1.1). 70% sông ngòi và 90% các con sông
trong thành phố bị ô nhiễm, 150 triệu tấn rác được tư do thải về nông thôn, các vấn đề vệ
sinh an toàn th ực phẩm, sa mạc hóa, lũ lụt, hạn hán quy mô lớn đang ngày càng trở thành
nghiêm trọng, làm gia tăng b ức xúc xã hội. Chỉ riêng trong năm 2005 đã có 51.000 vụ mâu
thuẫn dân sự về môi trường.

1 .3.2. Kinh nghiệm Nhật Bản. Nhật Bản là một trong những quốc gia Đông Á sớm
phát triển theo con đường CNH, trước hết CNH nông nghiệp nông thôn. Trong thời kỳ đầu
của CNH, nông nghiệp được chú trọng với t ư cách là ngành kinh tế tạo cơ sở cho CNH.
Trong giai đoạn 1889-1940, nông nghiệp tăng trưởng liên tục với tốc độ trung bình hàng
năm là 1,3%, nhờ đó đã cung cấp vốn, lương thực, nguyên liệu và lao động cho phát triển
công nghiệp, mà không ảnh hưởng xấu đến thu nhập của nông dân. Đồng thời sự phát triển
của nông nghiệp còn tạo ra nguồn nông sản lớn cho xuất khẩu để thu ngoại tệ và nhập khẩu
công nghệ đẩy nhanh CNH. Từ CNH nông nghiệp nông thôn ở Nhật Bản có thể rút ra một
số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:

1 /CNH của Nhật Bản, trước hết thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, nhờ
chủ trương đúng đó, năng suất lao động nông nghiệp đac tăng nhanh và đẩy nhanh chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, đảm bảo việc làm và thu nhập cho nông dân.
Quá trình CNH nông nghiệp, nông thôn diễn ra theo hướng chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh
tế ngành nông nghiệp, trong đó đặc biệt chú trong phát triển tương đối nhanh ngành chăn
nuôi và các ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn.
2 / Kinh nghiệm phát triển KH & CN nông nghiêp theo hướng nghiên cứu, ứng dụng
các công nghệ tiết kiệm đất. Trong điều kiện của một quốc gia có quỹ đất nông nghiệp rất
hạn hẹp, Nhật bản đã chú trọng phát triển KH & CN nông nghiêp theo hướng nghiên cứu,
ứng dụng các công nghệ tiết kiệm đất. Đồng thời, đẩy mạnh công tác khuyến nông và đào
tạo tay nghề cho nông dân nhằm phổ biến rộng rãi trong nông dân các công nghệ canh tác
tiết kiện ruộng đất. Để phát triển KH &CN và giáo dục đào tạo cho nông dân ở nông thôn,
Nhật bản đã khuyến khích phát triển các mô hình liên kết đào tạo có địa chỉ giữa các chủ
thể sản xuất nông nghiệp với các cơ sở đào tạo như các trường đại học, cao đẳng, dậy nghề.
3 / Kinh nghiệm đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn.
Để phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, phục vụ cho xuất khẩu, Nhật
Bản đã đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn. Trong đó, ban
đầu đã chú trọng xây dựng hệ thống giao thông, điện, thông tin liên lạc, nhờ đó đã tạo ra
những thuận lợi lớn cho hoạt động sản xuất của nông dân. Nỗ lực lớn của Chính phủ và
chính quyền các cấp là thực hiện các chính sách có lợi cho nông dân.
4/Chính sách đất đai được thực hiện theo chủ tr ương chia đều đất cho nông dân.
Chính sách đó đã góp phần tạo ra nền sản xuất nông nghiệp với quy mô nhỏ là chủ yếu.
Sau đó, HTXNN đã trở thanh chủ thể hỗ trợ đắc lực đối với việc nâng cao sức cạnh tranh
của các hộ nông dân. Hiện nay, 100% nông dân Nhật Bản đã vào HTXNN, vốn đầu tư
trung bình của một HTX là 5 triệu USD. Tổng vốn đầu tư của các HTXNN là 12,52 tỷ
USD. HTXNN được tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, dân chủ, đảm bảo lợi
ích ngày càng tăng cho nông dân.
5 /Kinh nghiện đ ưa công nghiệp lớn từ đô thị về nông thôn. Quá trình CNH nông
nghiệp, nông thôn ở Nhật Bản thực hiện son g hành với quá trình giải phóng lao động nông
nghiệp. Do đó, số lao động được rút ra từ nông thôn đến các đô thị lớn rất ít. Trong giai
đoạn đẩy mạnh CNH (1878-1912) công nghiệp chỉ thu hút số lao động bổ sung ngang bằng
mức tăng dân số tự nhiên. Lao động nông nghiệp giảm từ 15,5 triệu người xuống 14,5 triệu
người. Để giải quyết vấn đề lao động dôi dư ở nông thôn, Chính phủ Nhật Bản đã chủ động
thực hiện chính sách đưa công nghiệp lớn từ đô thị về nông thôn trên cơ sở đặc thù của
từng vùng nông thôn, bao gồm cả các ngành công nghiệp chế biến, cơ khí, hóa chất. Ngay
từ năm 1883 đã có tới 80% số nhà máy lớn được xây dựng ở nông thôn. Để tạo thuận lợi
đưa công nghiệp, Chính phủ đã tập trung phát triển kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực nông
thôn, nhất là giáo dục đào tạo chuyên môn kỹ thuật cho nông dân. Đồng thời khuyến khích
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn.
Nhờ đó, tỷ lệ lao động nông thôn tham gia hoạt động sản xuất phi nông nghiệp của Nhật
Bản tăng từ 30% năm 1883 lên 66% năm 1960. Tỷ trọng thu nhập từ các hoạt động phi
nông nghiệp tăng từ 30% năm 1950 lên 90% năm 1995, thu nhập từ các hoạt động phi
nông nghiệp đã trở thành nguồn thu nhập chủ yếu của nông dân Nhật Bản.
6 / Kinh nghiệm công nghiệp hóa nông ngh iệp, nông thôn với bảo tồn và phát triển
văn hóa dân tộc, tiếp biến kinh nghiệm quốc tế. Năm khởi đầu của cải cách Minh Trị
(1868)26 là thời điểm xuất phát của quá trình CNH, HĐH ở Nhật Bản. Một trong những đặc
trưng của văn hoá Nhật Bản khác với phương Tây là tính chất cộng đồng khép kín trong
ứng xử xã hội, tính cạnh tranh cá thể tương đối yếu . Với đặc trưng đó, Nhật Bản tìm con
đường đi riêng của mình. Đó là phát huy đến mức tối đa sức mạnh văn hoá dân tộc. Trong
giai đoạn đầu của thời kỳ Minh Trị đã từng hình thành hai quan điểm đối nghịch nhau. Một
bên gay gắt phê phán văn hoá dân tộc là bảo thủ, lạc hậu. Điển hình cho quan điểm này là
Arinori Mori27. Dưới ảnh hưởng của khuynh hướng này, đã có thời người Nhật rất tích cực
cổ vũ cho tư tưởng "thoát Á nhập Âu". Trái ngược với A. Mori, khuynh hướng do N.
Motoda đứng đầu, đề cao đến mức cực đoan những giá trị văn hoá truyền thống. Chính nhờ
sự cọ xát của những quan điểm cực đoan ấy, người Nhật đã dần dần nhận ra phương thức
cần thiết cho họ, tiêu biểu là Yukichi Eukuzawa28 và Keyu Nakamura. Khác với khuynh
hướng cực đoan, Yukichi Fukuzawa th ừa nhận những hạn chế, lạc hậu của văn hoá truyền
thống, nhưng lại coi đó chính là cái nền để HĐH Nhật Bản, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Từ những tư tưởng đó, người Nhật đã tìm ra một phương châm chung cho công cuộc cải
cách, gói gọn trong 4 chữ Hoà Thần Dương Khí (tinh thần/thần thái Nhật Bản kết hợp với
khí cụ/ phương thức Tây phương).
7 / Kinh nghiệm khai thác triệt để nhân tố con người. Nhân tố con người được người
Nhật khai thác triệt để trong việc tổ chức công ty và các xí nghiệp sản xuất kinh doanh.
Tiến sĩ Wiliam Ouchi, giáo sư trương đại học Los Anggeles (Mỹ) đã từng nhận xét sát
đáng: Người phương Tây có ý thức thuộc về công nghệ và khoa học, nhưng không có sự
thay đổi lớn quan niệm về con người. Chính phủ có thể cấp hàng trăm triệu đôla cho
nghiên cứu khoa học, ủng hộ sự phát triển tư tưởng kinh tế phức tạp, nhưng trong thực tế
không có kinh phí cho việc nghiên cứu tính cách về cách quản lý và tổ chức lao động của

26
Minh Trị Thiên Hoàng (Meiji Tennô) là biệt hiệu của hoàng đế Nhật Bản Mưtxưhitô (Mutsuhito) người tiến hành
cuộc duy tân ở Nhật Bản năm 1868, mở đ ầu thời kỳ chuyển biến từ chế đ ộ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa.
27
M ori Arinori (August 23, 1847 – February 12, 1889) was a Meiji period Japanese statesman, diplomat and
founder of Japan's modern educational system.
28
Fukuzawa Yukichi (1835­1901) là một nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu và rộng nhất đến xã hội Nhật
Bản cận đ ại. Những tư tưởng về chính trị, xã hội, kinh tế mà Fukuzawa truyền bá đã góp phần thúc đ ẩy sự phát triển
của Nhật Bản cận đ ại.
con người. Đó chính là điều chúng ta phải học tập người Nhật. Trên cơ sở nắm vững những
nguyên tắc khoa học tổ chức doanh nghiệp của phương Tây và thấu hiểu tính cách con
người, Nhật Bản đã không chạy theo giải toả sức sáng tạo cá nhân, khuyến khích phát triển
thị trường lao động tự do, mà phát huy tối đa sức mạnh cộng đồng. Họ dung hợp quy luật
cạnh tranh với những chuẩn mức trương trợ cộng đồng vốn có trong xã hội nông nghiệp
truyền thống để xây dựng mô hình công ty mẹ - công ty con theo nguyên tắc gia đạo. Để
xây dựng mô hình này, các doanh nghiệp Nhật đã sử dụng hàng loạt các chuẩn mực của
văn hoá truyền thống. Các doanh nghiệp, trang trại Nhật Bản xây dựng chế độ làm việc
suốt đời và khuyến khích cha truyền con nối. Với cách làm này họ đã biến các doanh
nghiệp, trang trại thành một tập thể, mà mỗi thành viên đều thấy mình phải đem hết tài
năng và công sức ra để xây dựng. Trong từng doanh nghiệp, giá trị tập thể luôn luôn được
đề cao, không phải bằng khẩu hiệu mà bằng cơ chế điều tiết. Một trong những biểu hiện rõ
nhất là chế độ quyết định tập thể (ringi). Khi cần có một quyết định quan trọng, lãnh đạo
doanh nghiệp tạo điều kiện để tất cả các thành viên đều có c ơ hội tham gia. Ông chủ không
nêu ý định của mình, mà giao việc làm quyết định cho bộ phận hữu quan. Người nhận
trách nhiệm khởi thảo là một nhân viên trẻ. Quyết định khởi thảo đó được truyền tay tất cả
mọi thành viên để góp ý kiến, theo nguyên tắc từ dưới lên. Quá trình xây dựng quyết định
theo kiểu ringi tuy mất thời gian, kinh phí và sức lực, nhưng là cách làm độc đáo của người
Nhật và thực tế có hiệu quả rất cao. Điều quan trọng nhất là tất cả mọi thành viên đều có
cảm giác mình được trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng quyết định. Khi đem ra triển
khai, chắc chắn sẽ có sự thống nhất và quyết tâm th ực hiện cao của cả tập thể. Mặt khác,
đây còn là phương thức đào tạo cán bộ trẻ. Lối trả l ương ở Nhật Bản cũng khá đặc biệt. Ở
Nhật Bản, lương chỉ thể hiện ở "phần cứng" và kèm theo đó là nguyên tắc mở: nếu cá nhân
trong tháng, trong năm làm ăn tốt, thì mỗi thành viên sẽ còn được những khoản tiền thường
với giá trị tuỳ thuộc vào mức độ hiệu quả công việc đ ược giao. Chính nguyên tắc mở này
là động lực kích thích mọi người dốc sức làm việc gắn chặt với lợi ích. Cùng với những
biện pháp kích thích vật chất, các công ty Nhật rất chú trọng xây dựng triết lý doanh
nghiệp, tạo dựng văn hoá doanh nghiệp, lấy đó là bệ đỡ tinh thần cho mối quan hệ thân
mật, gắn bó với nhau trong công việc. Nhìn trên bình diện rộng, Người Nhật đã khai thác
và phát triển triệt để những truyền thống tích cực của văn hoá truyền thống ở nông thôn.
Trong số đó phải kể đến hiếu học và trọng học. Trình độ nguồn nhân lực Nhật Bản đ ược
xếp vào loại cao nhất thế giới và là một nhân tố cực kỳ quan trọng dẫn tới thành công của
họ trong công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Trong quá trình CNH, HĐH, điều
quan trọng là tìm hiểu xem họ có xử lý vấn đề này theo quan niệm và phương thức nào.
Nhận thức người Nhật có quan niệm khá độc đáo về con người và sản phẩm sáng tạo ra nó
- văn hoá. Họ cho rằng văn hoá như một thứ gien của một dân tộc, "di truyền" từ thế hệ này
sang thế hệ khác và là cái phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Giống như trong đời
sống sinh học gien - văn hoá không phải nhất thành bất biến, mà được hình thành do một
quá trình lâu dài, trong ứng xử thường xuyên (counteration), thích ứng (adaptation) với
môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và hoàn cảnh lịch sử. Gien - văn hoá có thể biến
đổi, thậm chí đột biến. Nhưng đã là gien, thì luôn chứa những nhân tố trường tồn. Với ý
nghĩa đó, một mặt phải coi bản sắc văn hoá là một thực thể khách quan. Nhưng mặt khác,
không nên coi đó là cái ngưng đọng bất biến. Bởi vậy một cách làm phù hợp khoa học là
nghiên cứu để hiểu thật thấu đáo bản sắc văn hoá dân tộc để rồi chủ động tác động vào
những mặt hạn chế để chúng cũng có thể phục vụ được cho cuộc sống hiện tại. Cách đó
được gọi là xử lý văn hoá theo quan điểm Hightech (công nghệ cao). Theo quan điểm này,
với trình độ của công nghệ hiện đại, ngay cả rác thải cũng có thể tái chế lại thành vật dụng
hữu ích, huống hồ những giá trị văn hoá đã từng được kết tinh, truyền lại từ bao thế hệ. Từ
suy nghĩ đó có thể rút ra một nhận xét có tính phương pháp luận là con người là vốn quý và
mỗi dân tộc đều có một nền văn hoá riêng của mình, nếu biết khai thác tối đa nguồn lực
con người, biến tất cả những gì có trong di sản văn hoá truyền thống, thì sức mạnh của dân
tộc trong sự nghiệp CNH, HĐH sẽ tăng lên gấp bội.

1 .3.3. Kinh nghiệm Hàn Quốc . Hàn Quốc nằm ở nửa phía Nam của bán đảo Triều
Tiên. Địa hình phân hoá thành hai vùng rõ rệt: vùng rừng núi chiếm khoảng 70% diện tích
nằm ở phía đông; vùng đồng bằng duyên hải ở phía Tây và Nam. Bãi bồi ven biển
Saemangeum là bãi nổi ven biển lớn thứ hai thế giới. Khí hậu ôn hoà. 51% dân số Hàn
Quốc có tín ngưỡng tôn giáo. Trong số này 49% theo đạo Phật, 49% theo Kitô giáo, 1% là
tín đồ đạo Khổng, 1% còn lại theo các tôn giáo khác. Kể từ bậc tiểu học, người ta bắt đầu
dạy tiếng Anh cho học sinh. Sau này tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật cũng trở thành ngoại
ngữ chính.

Sau Chiến tranh Triều Tiên (1953), kinh tế Hàn Quốc phát triển nhanh chóng, là một
trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong lịch sử thế giới hiện đại.
Từ một nước nghèo trở thành một trong những nước giàu. GDP bình quân đầu người tăng
từ 100 USD (1963) lên 10.000 USD (1995), 25.000 USD (2007), 30.000 USD năm 2008.
Sự phát triển thần kỳ về kinh tế của Hàn Quốc như là "Huyền thoại sông Hàn", hiện nay,
huyền thoại này vẫn tiếp tục được khẳng định. Theo Goldman Sachs29, Hàn Quốc sẽ trở
thành nước giầu thứ 3 trên thế giới vào năm 2025 với GDP bình quân đầu người là 52.000
USD và tiếp 25 năm sau nữa sẽ vượt qua tất cả các nước ngoại trừ Hoa Kỳ để trở thành
nước giầu thứ hai trên thế giới, với GDP bình quân đầu người là 81.000 USD. Cùng với sự
phát triển về kinh tế, đời sống của nhân dân được nâng cao rất nhanh trở nên ngang bằng
thậm chí cao hơn các quốc gia phát triển khác ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ. Chỉ số phát
triển con người (HDI) đạt 0,912 vào năm 2006. Đặc điểm nổi bật của nền kinh tế Hàn
Quốc là kinh tế thị trường, nhưng sự điều tiết của nhà nước đóng vai trò quan trọng.

Với những thành công của quá trình CNH dồn nén (compressed industrialization),
Hàn Quốc là một mẫu hình phát triển cho những quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
Những bài học của Hàn Quốc, cả những bài học thành công và những bài học thất bại đều
giúp ích cho Việt Nam một nước đang bắt đầu bước vào quá trình CNH đất nước. Trong
thập kỷ 1960-1970, quá trình đẩy mạnh CNH với chiến lược tạm thời bỏ rơi nông nghiệp
đã làm cho nền kinh tế Hàn Quốc trở thành nền kinh tế mất cân đối: thành thị phát triển rất
nhanh trong khi nông thôn ngày càng lạc hậu. Bức tranh nông nghiệp Hàn Quốc khá ảm
đạm với những cánh đồng khô cằn, hiệu quả kinh tế thấp; t ư duy canh tác của người nông
dân vẫn manh mún, lạc hậu. Tình trạng mất cân bằng trong phát triển kinh tế thúc đẩy quá
trình di cư ra thành thị của dân cư nông thôn.

Từ 1971-1976, việc thực hiện chính sách tăng trưởng cân đối, sử dụng đầu tư để kích
thích tinh thần, phát huy nội lực nông dân, đã thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng
tăng năng suất lao động và đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển mạnh chăn
nuôi và ngành n ghề phi nông nghiệp ở nông thôn. Nhờ đó, vừa đảm bảo việc làm và thu
nhập cho nông dân vừa làm cho khoảng cách phát triển giữa nông nghiệp và công nghiệp,
thành thị và nông thôn được thu hẹp dần.


29
Goldman Sachs was founded in 1869 by German immigrant Marcus Goldman.
Thời đại CNH, HĐH của Hàn Quốc bắt đầu từ khi Park Chung-hee30 nắm chính
quyền (năm 1961). Chế độ Park Chung-hee kéo dài đến hết thời Chun Doo-hwan, trải qua
mấy biến cố chính trị sôi động, đến năm 1987, Hàn Quốc đã thành công trong việc chuyển
sang thể chế dân chủ bằng cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên. Năm 1988, Hàn Quốc tổ chức
thành công Thế vận hội Seoul và năm 1996 được kết nạp vào khối OECD. Từ lúc bắt đầu
kế họach phát triển đến khi trở thành thành viên của tổ chức các nước tiên tiến, Hàn Quốc
chỉ mất có 35 năm! Nếu kể từ khi chiến tranh Triều Tiên chấm dứt, thì cũng chỉ có 43 năm.
Tại sao Hàn Quốc thành công trong quá trình CNH, HĐH, chuyển từ giai đọan tăng trưởng
ban đầu sang giai đọan tăn g trưởng bền vững. Từ góc độ tham khảo cho Việt Nam, có thể
rút ra một số bài học cho Việt Nam sau đây:

1 /Bài học phát triển KH &CN, dạy nghề, cung cấp tín dụng cho nông thôn. Để thúc
đẩy tăng năng suất lao động trong nông nghiệp, Chính phủ Hàn Quốc đã dành 30% vốn
viện trợ tái thiết của Mỹ đầu tư cho KH & CN, dạy nghề, cung cấp tín dụng cho nông thôn.
Đồng thời, tăng cường phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ nông nghiệp, nông thôn
như xây dựng các viện nghiên cứu về nông nghiệp, hệ thống đường sắt, đường bộ, thủy lợi,
thông tin liên lạc, hệ thống điện nông thôn. Đến năm 1960 đã có tới 70% nông dân được
dùng điện với giá ngang mức thành thị.
2/Kinh nghiệm xây dựng mô hình tổ chức Làng Mới (Saemaul Undong).
Hộp1.1: Chương trình Làng Mới (Saemaul Undong) Tại Hàn Quốc




30
Park Chung-hee (1917 - 1979) là tổng thống thứ ba của Hàn Quốc, từ 17 tháng 12 , 1963 đến 26 tháng 10 , 1979.
Mỗi làng bàu ra “Ủy ban Phát triển Làng mới gồm 5 đến 10 người”. có 2 người (một nam, một nữ) có
uy tín nh ất được bàu là đồng chủ tịch. Đ ể đảm bảo thực sự của dân, cá nhân lãnh đ ạo nông dân không là
thành viên đảng phái chính trị, ủy ban đ ộc lập với cơ quan hành chính nhà nước. Ủy ban tổ chức họp
bàn để lập kế hoạch và quản lý dự án phát triển mọi vấn đ ề liên quan đến chương trình phát triển nông
thôn. Ở Trung ương, Bộ trưởng bộ Nội vụ đứng đầu Ủy ban với 12 thành viên là Thứ trưởng các Bộ Kế
hoạch Kinh tế, Ngoại giao, Giáo dục, Nông nghiệp và Thủy sản, Thương mại và Công nghiệp, Xây
dựng, Y tế và các vấn đề xã hội, Thông tin và Văn hóa.
Tùy khả năng nhà nước đầu tư, tất cả các làng được chọn ngẫu nhiên và nhận tiền hỗ trợ của nhà nước
rót trực tiếp cho làng. Thông qua điều hành của Ủy ban phát triển làng, tiền hỗ trợ của nhà nước được
phối hợp với sự đóng góp của dân, do dân quản và sử dụng. Sau một năm, chương trình đ ược tiến hành
đánh giá khách quan do các đại diện các làng đ ược nhà nước đ ầu tư b ầu chọn và công khai công bố
danh sách các làng thực hiện tốt trên các phương tiện thông tin. Làng làm tốt đ ược nhà nước tiếp tục hỗ
trợ. Quá trình đ ầu tư từng bước từ thấp đến cao tùy theo hiệu quả của mỗi làng. Thực tế làng làng thi
đua, ai cũng muốn làm tốt. Cuối cùng, tất cả các vùng nông thôn đều phát triển. Ủy ban phát triển làng
hoạt đ ộng mạnh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng thống, nhà nước phối hợp chặt chế với dân cả về
đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội văn hóa tinh thần. Chương trình vừa là phong trào q uần chúng vừa là
kế hoạch của nhà nước.
S au 20 năm, phong tào S aemaul Undong xây dựng xong nền tảng nông thôn hiện đại với kết cấu hạ
tầng kinh tế, xã hội phát triển. 84 % rừng của Hàn Quốc đ ược phủ kín cây xanh trong giai đ oạn đó.. sau
30 năm môi trường và cuộc sống của nông dan nông thôn Hàn Quốc đã được cải thiện rõ rệt, sản xuất
kinh doanh phát triển. Xã hội nông thôn phát triển bền vững có khả năng tự tích lũy, đầu tư và tự phát
triển.


Nguồn: Jin – Hwan Park, “the History of Saemaul Undong”, Saemaul Undong
training Saemaul Undong Central training Institute, nawm 1999.
CNH nông nghiệp ở Hàn Quốc đã có tác động làm giảm tỷ trọng nông nghiệp, thúc
đẩy quá trình di dân nông thôn ra thành thị và gây ô nhiễm môi trường, đe dọa mất ổn định
chính trị - xã hội. Trước tình hình đó, Chính phủ đã tăng cường hỗ trợ nông thôn xây dựng
mô hình tổ chức ‘làng mới’ bằng cơ chế để nông dân tự bầu Ủy ban phát triển làng. Xem
hộp 1.1.
3/Kinh nghiệm xây dựng kết cấu hạ tầng cho từng hộ nông dân, phát triển xí nghiệp
làng mới, giải quyết vấn đề lao đ ộng nông thôn. Thực hiện chính sách thúc đẩy phát triển
nông thôn bằng những việc rất cụ thể: xây dựng kết cấu hạ tầng cho từng hộ nông dân
thông qua các chương trình như ngói hóa nhà ở, dựng hàng rào.... ; chính sách phát triển
kết cấu hạ tầng cộng đồng như đầu tư xây dựng cầu, đường giao thông, hệ thống cung cấp
điện, điện thoại, hệ thống cung cấp nước sạch... Lúc đầu Nhà nước là nhà đầu tư chủ yếu,
về sau thực hiện chính sách nhà nước và dân cùng làm. Đến 1973, đầu tư của nông dân cho
phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn đã tăng gấp 10 lần đầu tư nhà nước. Hỗ trợ của nhà
nước cho nông thôn dần được chuyển sang các hình thức cho vay và trợ cấp. Phát triển
công nghiệp nông thôn dựa vào phát triển các nhà máy vệ tinh cho các tập đoàn kinh tế.
Đây chính là sự nối kết giữa nông thôn và thành thị theo nguyên tắc thành thị phát triển sẽ
đem đến sự phồn thịnh cho nông thôn. Đầu tư của Chương trình làng mới được tập trung
vào xây dựng hạ tầng cơ sở nhằm giúp hình thành các doanh nghiệp nhỏ, đồng thời làm
tăng năng suất nông nghiệp, làm ổn định đời sống của người dân làm nông nghiệp, không
tạo ra các mâu thuẫn khi lao động được rút sang hoạt động phi nông nghiệp. Nhờ sự hỗ trợ
tích cực của Nhà nước, đến năm 1970 Hàn Quốc đã có 80% nông h ộ nhà lá, 27% nông hộ
có điện. Đến năm 1975, 100% nông hộ đã ngói hóa, 98% có điện. Đến năm 1982 hạ tầng
nông thôn đã hoàn thành. Kinh tế hợp tác phát triển, doanh thu tăng 50 lần trong giai đoạn
1972-1980. Nhờ Chính phủ cung cấp tín dụng, vật tư, tiếp thị, bảo hiểm, cho vay ưu đãi,
ưu tiên cấp điện, hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức hiệp hội, thành lập các xí nghiệp làng mới ở
nông thôn. Đầu thập kỷ 1990, gần 6.700 xí nghiệp công nghiệp nông thôn ra đời thu hút
nhiều lao động nông thôn góp phần giải quyết về cơ bản vấn đề lao động nông nghiệp dôi
dư.
4/ Kinh nghiệm tăng trưởng kinh tế bền vững. Trong bối cảnh tác động của khủng
hoảng tài chính từ Mỹ, Chính phủ Hàn Quốc vẫn khẳng định sẽ xây dựng một nền nông
nghiệp bền vững trong thế kỷ 21, làm động lực để góp phần khôi phục kinh tế. Nông
nghiệp được coi là lĩnh vực trọng yếu trong việc duy trì sự tồn tại của quốc gia, bảo vệ môi
trường và đảm bảo an ninh l ương thực. Chính phủ xác định: cần có những hỗ trợ cụ thể để
ngành nông nghiệp đạt được mục tiêu áp dụng các KH & CN hiện đại. Chính phủ sắp xếp
lại mạng lưới sản xuất nông nghiệp; phát triển công nghiệp thực phẩm; cải thiện hệ thống
phân phối nông thủy sản; phát triển giao dịch trên mạng Internet giữa nông dân và khách
hàng và thành lập những khu đô thị mới tại nông thôn.

Ngay từ đầu đã có sự đồng thuận của xã hội về sự cần thiết phải phát triển, phải theo
kịp các nước tiên tiến, nhất là theo kịp Nhật. Để có sự đồng thuận, năng lực, ý chí và chính
sách của lãnh đạo là quan trọng nhất. Dù dưới chế độ độc tài, quyết tâm phát triển của lãnh
đạo chính trị được thể hiện bằng các chiến lược, chính sách do lớp kỹ trị xây dựng, quan
chức được tuyển chọn theo năng lực, người tài được trọng dụng. Đặc biệt, Park Chung-hee
lập Hội đồng họach định kinh tế (Economic Planning Board) quy tụ những chuyên gia,
được giao toàn quyền họach định chiến lược.

Trong bối cảnh chung đó, tinh thần doanh nghiệp, nỗ lực học tập kinh nghiệm n ước
ngoài của giới kinh doanh rất lớn. Về chiến lược đuổi bắt công nghệ, ấn tượng nhất là giới
doanh nghiệp Hàn Quốc đưa ra khẩu hiệu phải theo kịp khả năng công nghệ của công ty
hàng đầu của Nhật. Quốc sách theo kịp nước tiên tiến không phải là khẩu hiệu chung
chung, mà từng thành phần trong xã hội đều nỗ lực thực hiện.
Hàn Quốc xây dựng được một cơ chế rất hiệu quả về quan hệ giữa nhà nước và doanh
nghiệp. Trong quá trình đuổi theo các nước tiên tiến, mục tiêu cụ thể là tích cực đầu tư, tích
lũy tư bản, đồng thời bảo hộ các ngành công nghiệp còn non trẻ và đẩy mạnh xuất khẩu để
nhập khẩu nguyên liệu, công nghệ. Thực hiện vấn đề này, vai trò của nhà nước rất lớn.
Cũng cơ chế đó, ở nhiều nước khác, doanh nghiệp cấu kết với quan chức để được tiếp cận
với vốn vay ưu đãi, với ngoại tệ khan hiếm và với các nguồn hỗ trợ cho xuất khẩu nhằm
tham nhũng. Nhưng Hàn Quốc đã tránh được tệ nạn đó nhờ có cơ chế minh bạch, nhất
quán, công minh có tính kỷ luật cao (discipline). Cụ thể là doanh nghiệp đuợc nhận ưu đãi
phải có nghĩa vụ tăng năng lực cạnh tranh. Nếu không hòan thành nghĩa vụ sẽ không được
hưởng ưu đãi trong giai đọan sau. Nói chung, các doanh nghiệp phải cạnh tranh nhau, đưa
ra mục tiêu phấn đấu khả thi mới nhận được ưu đãi của nhà nước.

Biểu đồ 1.2: Tỷ lệ sinh viên vào đại học năm 2005 (%)



South Korea 91

Taiwan 82

Thailand 43

Malaysia 32

China 21

Indonesia 17

Vietnam 16

India 11


Nguồn: Asian Development Bank, Online Development Database.

Hàn Quốc thực hiện CNH, HĐH trên cơ sở của học tập (industrialization on the basis
of learning). Chính phủ rất nỗ lực trong giao dục, đào tạo, trong việc tạo ra cơ chế để đẩy
mạnh nghiên cứu KH &CN và nỗ lực của doanh nghiệp trong quá trình học hỏi nước
ngoài. Tỷ trọng dành cho giáo dục vào cuối thập niên 1950 dưới 10% ngân sách nhà nước,
nhưng đã tăng liên tục lên 15-18% trong thập niên 1960, và 19-21% trong đầu thập niên
1980. Tỉ lệ học sinh cấp ba trong độ tuổi thanh thiếu niên tăng từ 34% năm 1965 lên 56%
(1975), 91% năm 1984. Tỉ lệ sinh viên đại học trong thời gian đó là 6%, 10% và 26%.

Hàn Quốc là một trong những nước có tỉ lệ rất cao trong hai chỉ tiêu: tỉ lệ của sinh
viên du học trên tổng số sinh viên trong nước và tỉ lệ nguời du học trở về trên tổng số sinh
viên đi du học. Tỷ lệ sinh viên vào đại học rất cao so với nhiều nước châu Á như Taiwan,
Thailand, China…, xem thêm biểu đồ 1.2. Thành quả này nhờ có các cơ chế liên quan đến
việc thi tuyển và đãi ngộ người tài.

1 .3.4. Kinh nghiệm của Đài Loan. Đài Loan là nước lâu nay tự coi mình ở tư thế độc
lập như các quốc gia khác. Tuy nhiên, Trung Quốc không công nhận điều này, mà coi Đài
Loan là một tỉnh, chờ ngày tái thống nhất với Hoa Lục. Từ thập niên 1970 tới nay, Đài
Loan lâm tình trạng bị cô lập trên trường ngoại giao. Hiện thời, chỉ có 30 nước còn duy trì
quan hệ với đảo quốc. Những thập niên gần đây, nhờ kinh tế phát triển nhanh chóng, Đài
Loan trở thành một trong những nước giàu nhất châu Á, đứng vào hàng ‘‘mãnh hổ kinh
tế’’ của vùng. Dân số có 22.700.000 người. Đối với Việt Nam, bài học kinh nghiệm cụ thể
là:

1 / Kinh nghiệm phát triển các ngành sản xuất vật tư nông nghiệp và phát triển công
nghiệp chế b iến nông sản. Trong quá trình CNH nông nghiệp, nông thôn, Chính phủ Đài
Loan đã tập trung phát triển các ngành sản xuất vật t ư nông nghiệp và phát triển công
nghiệp chế biến nông sản phục vụ xuất khẩu. Vào năm 1950, nông nghiệp đóng góp tới
90% giá trị kim ngạch xuất khẩu, trong đó 70% là nông sản chế biến. Giai đoạn 1950-
1960, tỷ trọng nông sản trong giá trị kim ngạch xuất khẩu luôn chiếm tỷ lệ 70%. Các nhà
máy chế biến nông sản hoạt động trên cơ sở ký hợp đồng sản xuất nguyên liệu với nông
dân. Nông nghiệp phát triển làm tăng thu nhập của nông dân, từ đó cũng tạo ra thị trường
nội địa lớn cho công nghiệp.
2 / Kinh nghiệm phát triển các nông hội với tư cách là hình th ức tổ chức kinh tế hợp
tác của nông dân. Để bảo vệ và nâng cao lợi ích của nông dân trong sản xuất nông nghiệp,
Chính phủ đã khuyến khích phát triển các nông hội với tư cách là hình thức tổ chức kinh tế
hợp tác của nông dân. Nông hội ngày nay đã và đang cung cấp khoảng 40% tổng vốn tín
dụng cho nông dân, đảm nhận độc quyền mua bán một số nông sản như nấm, măng tây, dự
trữ, gạo, phân phối phân bón, vật tư nông nghiệp và tổ chức quản lý 50% số chợ bán buôn
nông sản và 62% số chợ thủy sản.
3 / Kinh nghiệm đưa công nghiệp lớn từ đô thị về nông thôn. Để giải quyết vấn đề lao
động nông nghiệp dôi dư, Chính phủ Đài Loan đã chủ động thực hiện chính sách đưa công
nghiệp lớn từ đô thị về nông thôn, ưu tiên cho nông thôn phát triển các ngành công nghiệp
thu hút nhiều lao động. Trong giai đoạn đầu của CNH, số lao động nôn g thôn ra thành phố
hàng năm chỉ chiếm khoảng 0,3% đến 2,3% lao động nông thôn. Nhờ đó, trong quá trình
CNH của Đài Loan, mức tăng dân cư đô thị rất thấp. Trong hơn 20 năm dân số của 5 thành
phố lớn nhất chỉ tăng từ 18% lên 27%. Tỷ trọng lao động công nghiệp ở thành phố giảm từ
43% năm 1956 xuống 37% năm 1966. Đến năm 1971 có tới 61% hàng công nghiệp được
sản xuất ở nông thôn. Tính đến năm 1990 có tới 57% nông dân đi làm công nhân theo thời
vụ, Nhờ vậy, thu nhập của nông dân không ngừng tăng lên.
Để đưa công nghiệp về nông thôn, Chính phủ đã tập trung phát triển hệ thống kết cấu
hạ tầng và nguồn nhân lực nông thôn, đặc biệt là đẩy mạnh giáo dục đào tạo cho nông dân.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là giải pháp ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển công
nghiệp nông thôn. Chính phủ thành lập và hỗ trợ phát triển 17 khu công nghiệp nông thôn
về tín dụng, công nghệ và ký kết hợp đồng với nông dân để thu mua nguyên liệu và tiêu
thụ nông sản. Các doanh nghiệp này trở thành vệ tinh cho các doanh nghiệp xuất khẩu lớn.
Tỷ lệ xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng từ 56% năm 1972 lên 76%
năm 1982, thu hút trên 60% lao động ngành công nghiệp chế tạo máy. Từ kinh nghiệm của
các nước có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế bằng con đường CNH, HĐH bền vững. Đáng lưu ý là
kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan: trước hết thực hiện CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn; đưa công nghiệp lớn từ đô thị về nông thôn, song hành với quá trình
giải phóng lao động nông nghiệp. Đồng thời, khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở nông thôn làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn. Ở Nhật Bản, ngay từ năm 1883 đã
có tới 80% số nhà máy lớn được xây dựng ở nông thôn; phát triển KH & CN nông
nghiêp theo hướng nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ tiết kiệm đất; đầu tư phát triển hệ
thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn. Kinh nghiệm xây dựng mô hình tổ chức
Làng Mới (Saemaul Undong) đã làm cho xã h ội nông thôn phát triển bền vững có khả năng
tự tích lũy, đầu tư và tự phát triển. Hạn chế lớn nhất của quá trình CNH với tốc độ cao ở
Trung Quốc là đã tác động tiêu cực tới môi trường về mức độ ô nhiễm không khí và nguồn
nước, gây ra nhiều vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc. Kinh nghiệm của Hàn quốc là xây dựng
được một cơ chế rất hiệu suất cao về quan hệ giữa nhà nước và doanh nghiệp, minh bạch,
nhất quán, công minh có tính cách kỷ luật (discipline). “Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy
cơ chế động viên mọi nguồn lực của xã hội vào mục tiêu được xã hội đồng thuận, nhất là
xây dựng và s ử dụng nguồn nhân lực, tạo quan hệ lành mạnh giữa nhà nước với doanh
nghiệp là điều kiện để phát triển bền vững”31.
Thứ hai, kinh nghiệm giải quyết việc làm, rút lao động khỏi nông nghiệp, ly nông bất
ly hương. Bài học kinh nghiệm lớn nhất của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan
là chính phủ, chính quyền các cấp và nông dân đã tập trung phát triển xí nghiệp hương trấn
(Trung Quốc), doanh nghiệp làng mới (Hàn Quốc), phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ,
xây dựng thêm nhiều thành phố trên địa bàn nông thôn (Nhật Bản), đã góp phần tạo việc
làm và thu nhập cho dân cư nông thôn. Để đáp ứng với yêu cầu hội nhập WTO, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Đài Loan đặc biệt quan tâm đầu tư giáo dục, đào tạo, trong việc tạo ra cơ chế để
đẩy mạnh nghiên cứu KH & CN và nỗ lực của doanh nghiệp, nông dân trong quá trình học
hỏi nước ngoài.

Thứ ba, bài học kinh nghiệm về CNH nông nghiệp, nông thôn bền vững với việc bảo
tồn và phát triển văn hóa dân tộc, tiếp biến kinh nghiệm quốc tế. Trên cơ sở tính chất cộng
đồng khép kín trong ứng xử xã hội, tính cạnh tranh cá thể t ương đối yếu, Nhật Bản phát
huy đến mức tối đa sức mạnh văn hoá dân tộc bởi 4 chữ Hoà Thần Dương Khí. Đặc biệt,
khai thác triệt để nhân tố con người, phát huy tối đa sức mạnh cộng đồng bằng việc dung
hợp quy luật cạnh tranh với những chuẩn mức trương trợ cộng đồng vốn có trong xã hội
nông nghiệp truyền thống để xây dựng mô hình công ty mẹ - công ty con theo nguyên tắc
gia đạo. Các doanh nghiệp, trang trại Nhật Bản xây dựng chế độ làm việc suốt đời và
khuyến khích cha truyền con nối. Giá trị tập thể luôn luôn được đề cao, không phải bằng
khẩu hiệu mà bằng cơ chế điều tiết. Một trong những biểu hiện rõ nhất là chế độ quyết định

31
Trần Văn Thọ GS.Đại học WasedaTokyo, Nhật Bản: Từ cải cách tiệm tiến đ ến xây dựng cơ chế chất lượng cao:
Đ iều kiện để phát triển bền vững ở Việt Nam, Thời đ ại mới, số 14 tháng 7/2008
tập thể (ringi). Kinh nghiệm của Hàn Quốc là ngay từ đầu đã có ngay sự đồng thuận của xã
hội về sự cần thiết phải phát triển, phải theo kịp các nước tiên tiến.

Kết luận chương 1, trong chương một, trước hết đề tài đã hệ thống hóa các khái niệm
mới nhất, công cụ nhận thức, phân tích, nhận xét, đánh giá, định hướng giải quyết những
vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc trong thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo
hướng phát triển bền vững: công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn bền
vững, tăng trưởng kinh tế bền vững; xã hội bền vững và môi trường thiên nhiên bảo tồn.
Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng thu nhập bình quân đầu người và phải gắn với phát
triển xã hội bằng việc “Cải thiện chất lượng sống con người trong khuôn khổ phạm vi sức
chứa của hệ sinh thái trợ giúp”. Xã hội bền vững là xã hội phát triển đồng thời với việc
nuôi dưỡng vốn xã hội, là công bằng xã hội, là sự bảo tồn và phát triển văn hóa. Về môi
trường, đề tài làm rõ khái niệm môi trường, nêu rõ các hình thức ô nhiễm trong sinh vật
học: ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm môi trường đất;
Thứ hai, đề tài đã tập trung phân tích 2 nhân tố quan trọng nhất góp phần khắc phục
những bức xúc để phát triển kinh tế, xã hội theo hướng hiện đại dồn nén, nhưng bền vững
ở nông thôn Việt Nam hiện nay. Đó là xây dựng cơ chế bền vững, cơ chế chất lượng cao và
bình đẳng trong phân phối thu nhập, trong đó ba tiền đề quan trọng nhất để xây dựng cơ
chế chất lượng cao là bảo đảm tính dân chủ trong việc họach định các chiến lược, chính
sách; ý kiến của chuyên gia được các chính khách tôn trọng và vận dụng; phải có đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi để đặt ra các chính sách và thực hiện chính sách có hiệu quả
nhất. Có thể khẳng định, phát triển bền vững là đường lối phát triển, trong đó sự cực đại
hóa phúc lợi con người của thế hệ ngày nay không làm giảm phúc lợi tương lai.

Thứ ba, đề tài đã nêu bật kinh nghiệm thành công và không thành công thực hiện
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong phát triển bền vững ở một số nước. Từ kinh
nghiệm của Trung Quốc, đề tài rút ra hai bài học kinh nghiệm quan trọng cho Việt Nam:
kinh nghiệm giải quyết việc làm thành công và kinh nghiệm rút lao động khỏi nông nghiệp.
Từ Nhật Bản, đề tài rút ra sáu bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: CNH đất nước, trước
hết thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; kinh nghiệm phát triển KH & CN nông
nghiêp theo hướng nghiên cứu, ứng dụng các công nghệ tiết kiệm đất; kinh nghiệm đầu tư
phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn; kinh nghiện đưa công nghiệp
lớn từ đô thị về nông thôn; kinh nghiệm công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn với bảo
tồn và phát triển văn hóa dân tộc, tiếp biến kinh nghiệm quốc tế; kinh nghiệm khai thác
triệt để nhân tố con người. Từ Hàn Quốc, đề tài rút ra bốn bài học kinh nghiệm càn thiết
cho Việt Nam: phát triển KH &CN, dạy nghề, cung cấp tín dụng cho nông thôn; kinh
nghiệm xây dựng mô hình tổ chức Làng Mới; kinh nghiệm xây dựng kết cấu hạ tầng cho
từng hộ nông dân, phát triển xí nghiệp làng mới, giải quyết vấn đề lao động nông thôn;
kinh nghiệm tăng trưởng kinh tế bền vững. Từ Đài Loan, đề tài rút ra ba bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam: kinh nghiệm phát triển các ngành sản xuất vật tư nông nghiệp và
phát triển công nghiệp chế biến nông sản; kinh nghiệm phát triển các nông hội với tư cách
là hình thức tổ chức kinh tế hợp tác của nông dân; kinh nghiệm đưa công nghiệp lớn từ đô
thị về nông thôn. Căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể, mỗi địa phương có thể tiếp biến những kinh
nghiệm đó. Nhìn chung, những bài học kinh nghiện cho Việt Nam: bài học kinh nghiệm
tăng trưởng kinh tế nông thôn bằng con đường CNH, HĐH bền vững; bài học kinh nghiệm
giải quyết việc làm, rút lao đ ộng khỏi nông nghiệp, ly nông bất ly hương; bài học kinh
nghiệm về CNH nông nghiệp, nông thôn với bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống.
Chương II
THỰC TRẠNG KINH TẾ, XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
TRONG THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Việt Nam còn là nước chậm phát triển, nên HĐH nông nghiệp, nông thôn luôn luôn
chiếm vị trí quan trọng trong quá trình phát triển. Chỉ có CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn, mới tạo tiền đề vững chắc để thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
2.1. Tình hình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam

Lịch sử phát triển thế giới cả trong giai đoạn đầu CNH ở Tây Âu, Mỹ, Nhật bản và
sau này ở Trung Quốc, Hàn Quốc đã minh chứng, chính việc tăng năng xuất lao động nông
nghiệp đủ mức tạo ra thặng dư nông nghiệp là nhân tố tiên phong phát triển công nghiệp.
Ngân hàng thế giới (World Bank) nhận định: “Tăng trưởng nông nghiệp chính là yếu tố
tiên phong của các cuộc cách mạng công nghiệp, mà đã xảy ra trên khắp thế giới từ Anh
(giữa thế kỷ XVIII) cho đến Nhật Bản (cuối thế kỷ XIX), gần đây tốc độ tăng trưởng nông
nghiệp nhanh của Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam cũng là tiền đề cho phát triển công
nghiệp” 32.

2 .1.1. Chủ trương CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng Cộng sản Việt
Nam trong những năm qua
Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (tháng 9 n ăm1960), ĐCS Việt Nam lần đầu tiên đề
ra: “Xây dựng một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối và hiện đại, kết hợp công nghiệp
v ới nông nghiệp và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp

32
World Bank (2008), World Development Report 2008: Building Institutions for Markets, New York: Oxford
U niversity Press (Báo cáo phát triển thế giới 2008 của ngân hàng Thế giới).
nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm
b iến n ước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một n ước công nghiệp hiện đại và
nông nghiệp hiện đại”33. Quán triệt Nghị quyết Đại hội, Hội nghị lần thứ 7 BCH trung
ương khóa III (6/1962) đã đề ra phương hư ớng chung về xây dựng và phát triển công
nghiệp ở Việt Nam: ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý; kết hợp chặt chẽ
phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp; ra sức phát triển công nghiệp nhẹ, song
song với ưu tiên phát triển công nghiệp nặng; ra sức phát triển công nghiệp trung ương,
đồng thời phát triển công nghiệp địa phương.
Quan điểm này tiếp tục đ ược nêu lên ở các Đại hội sau, Đại hội lần thứ IV (12/1976)
đã chỉ ra: “Điều có ý nghĩa quyết định là phải thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa,
tạo ra một cơ cấu công - nông nghiệp hiện đại. Con đường cơ bản để tạo ra cơ cấu ấy là ưu
tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ”34. Đại hội cũng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho kế hoạch 5 năm 1976-
1980, trong đó có các nhiệm vụ chủ yếu: tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nông
nghiệp; ra sức đẩy mạnh lâm nghiệp, ngư nghiệp; phát triển công nghiệp nhẹ và công
nghiệp thực phẩm; phát huy năng lực sẵn có và xây d ựng thêm về công nghiệp nặng, đặc
biệt là cơ khí. Những mục tiêu lớn cần phải đạt là 21 triệu tấn lương th ực, 1 triệu tấn cá
biển, 10 triệu tấn than sạch, 5 tỷ kwh điện, 2 triệu tấn xi năng…” 35. Do, chủ trương mang
nặng tính chủ quan, duy ý chí, công với nh ững sai lầm trong tổ chức thực hiện, trong cơ
chế quản lý và chính sách. Đồng thời lại phải đương đầu với 2 cuộc chiến tranh lấn chiếm,
xâm lược của nước ngoài ở biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc, cho nên “tất cả
các của kế hoạch 5 năm (1976-1980) đều không đạt được” 36. Sản xuất nông nghiệp trì trệ
không đáp ứng được yêu cầu trong nước. Công nghiệp nặng đầu tư lớn, nhưng hiệu quả
thấp. Nhiều mặt hàng tiêu dùng cho nhân dân thiếu nghiêm trọng.
Trước sai lầm về chủ trương, chính sách phát triển công nghiệp, Đại hội V (3/1982)
đã điều chỉnh một bước: “Trong 5 năm 1981-1985 và những năm 80, cần tập trung sức
phát triển nông nghiệp, c oi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu…, ra sức đẩy mạnh sản xuất

33
Đảng Lao đ ộng Việt Nam: Báo cáo chính trị của BCH TW Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quố c lần thứ III, Văn
kiện Đại hội, tập I, Hà Nội, năm 1960, tr.66 -67.
34
ĐCS V iệt Nam (1976): Nghị quyết, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần tứ IV, , Nxb Sự thật, HN, tr.24.
35
ĐCS V iệt Nam (1976): Nghị quyết, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần tứ IV, , Nxb Sự thật, HN, tr.34.
36
Phạm Xuân Nam: Quá trình phát triển công nghiệp ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà nội, năm 1994, tr.89.
hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng; kết hợp
nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công -
nông nghiệp hợp lý”37. Do nhiều khó khăn khách quan và chủ yếu do những khuyết điểm,
sai lầm chủ quan cho nên từ cuối những năm 70 đến năm 1986, nền kinh tế lâm vào khủng
khoảng. Sau Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương (khóa IV), nhất là sau Đại hội V của
Đảng, một số chủ trương, biện pháp đã được đề ra nhằm sửa chữa những khuyết điểm, sai
lầm. Song, trong chỉ đạo thực hiện đã không “kiên quyết khắc phục chủ quan nóng vội và
bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế”38.

Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng s ự thật và nói rõ sự thật”, Đại
hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã nghiêm khắc tự phê bình về những sai lầm mang
nặng tính giáo điều, chủ quan, duy ý chí, xem đó là “ những sai lầm nghiêm trọng và kéo
dài về chủ tr ương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”39. Đồng
thời, Đại hội đã chỉ ra đường lối đổi mới toàn diện nhằm đưa nước ta ra khỏi khủng
khoảng, đi vào thế ổn định và phát triển, chỉ ra nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục xây dựng
những tiền đề cần thiết cho CNH, HĐH, “Trong những năm còn lại của chặng đường đầu
tiên, trước mắt là kế hoạch 5 năm 1986-1990, phải thật sự tập trung sức người, sức của vào
việc thực hiện được ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu”40.

Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (1981), nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, khóa VI (4/1988)
về Phát triển kinh tế hộ tự chủ và đổi mới quản lý nông nghiệp (Khoán 10) đã thật sự tạo ra
một giai đoạn mới trong phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nghị quyết Trung ương 5 về
“Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ” (1993) đã tạo ra những đột phá
về sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
nông dân, cơ chế quản lý ngày càng được hoàn thiện tạo ra động lực mạnh mẽ cuốn hút
hàng triệu hộ nông dân vào mặt trận nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Cuối năm
1998, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 06 về “Một số vấn đề phát triển nông nghiệp và


37
ĐCS V iệt Nam (1982): Văn kiện, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, HN, tr.62.
38
Đ CS Việt Nam (1987):Văn kiện, Đ ại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, , Nxb Sự thật, HN, tr.212.
39
Đ CS Việt Nam (1987): Văn kiện, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, , Nxb Sự thật, HN, tr.213.
40
Đ CS Việt Nam (1987): Văn kiện, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, , Nxb Sự thật, HN, tr.47.
nông thôn ” đã làm rõ hơn vai trò của CNH nông nghiệp, nông thôn trong toàn bộ đường lối
CNH đất nước: “đưa nông nghiệp, kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ
quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở ổn định tình hình kinh tế, chính trị và xã hội,
củng cố liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”41.

Đại hội lần thứ VII (1991), thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên CNXH. Cương lĩnh đã nêu rõ phương hướng cơ bản: phát triển lực lượng sản xuất,
CNH đất nước theo hướng hiện đại, gắn liền với phát triển nền nông nghiệp toàn diện là
nhiệm vụ trung tâm. Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ (12/1994) đã nêu bật 3 thành tựu nổi
bật: khắc phục một bước rất quan trọng về khủng khoảng kinh tế, xã hội; tiếp tục giữ vững
ổn định chính trị; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho
công cuộc đổi mới. Mặt khác, hội nghị cũng đã nêu những mặt yếu kém về kinh tế, xã hội.
Lần đầu tiên, ĐCS Việt Nam đã vạch ra bốn nguy cơ. Ba nguy cơ bên trong: tụt hậu xa hơn
về kinh tế so với các nước trong khu vực và thế giới; tệ tham nhũng quan liêu; chệch
hướng XHCN. Một nguy cơ bên ngoài: diễn biến hòa bình. Sự lãnh đạo của Đảng, đã phạm
2 sai lầm cần phải kiên quyết khắc phục: sai lầm về đường lối, sai lầm về công tác quản lý.
Những nguy cơ và sai lầm có thể làm cho sự nghiệp cách mạng bị đổ vỡ và thất bại.

Từ sự đánh giá đúng đắn những thành tựu đã đạt được, những hạn chế yếu kém phải
khắc phục, Đảng đã nhận định một cách cân nhắc thận trọng hơn để tránh chủ quan duy ý
chí trong việc thực hiện nhiệm vụ trung tâm: “chuyển dần sang thời kỳ phát triển mới, thời
kỳ đẩy tới từng bước công nghiệp hóa, hiên đại hóa” và rất quan tâm đến CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn.

Đại hội lần thứ VIII (1996) mở đầu thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đã quyết định và
chỉ đạo phải coi trọng và đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đại hội IX
(4/2001) nêu rõ: “công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời
gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt”. Đối với nông nghiệp, nông thôn:
“Tăng cường sự chỉ đạo và huy động các nguồn lực cần thiết để đẩy nhanh công nghiệp

41
Đảng Cộng sản Việt Nam (1987): Nghị quyết 06-NQ/TW, ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị.
hoá, hiện đ ại hoá nông nghiệp và nông thôn”42. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5
BCH TW (khóa IX) ra nghị quyết chuyên đề về “đ ẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 -2010”. Nghị quyết nêu bật quan điểm, mục tiêu phát
triển, chủ trương, những nội dung tổng quát và giải pháp lớn để đẩy nhanh CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn ở nước ta phải là “quá trình chuyển dịch kinh tế nông nghiệp theo
h ướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị tr ường; thực hiện cơ khí
hóa, hiện đại hóa, thủy lợi hóa, đưa ứng dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất nhằm
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên
thị trường; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và
lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông
nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, quy hoạch và phát triển nông thôn, tổ
chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; xây dựng nông thôn dân chủ, văn
minh, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nông dân”43, song chủ
trương còn xa thực tế, chính sách lại không đảm bảo được chủ trương của Đảng.

Đại hội X (4/2006) chủ trương: tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra
và tiềm năng, lợi thế của n ước ta để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước gắn với phát
triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là xu hướng tất yếu của nền kinh tế. Phát triển
mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; kết hợp
việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức mới nhất của nhân
loại. Coi trọng cả số lượng và chất lượng, tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển
của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, trong từng dự án kinh tế - xã hội.

Về nông nghiệp, nông thôn, Đại hội X khẳng định: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn
và nông dân”44. Lần đầu tiên Đại hội đã tập trung làm rõ nội dung CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn và giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân,
với các nội dung chủ yếu:

42
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr
91-93.
43
Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 79
44
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.88.
a) Chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá
trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí
hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, đ ưa nhanh tiến bộ KHKT và công nghệ sinh học vào sản
xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp đặc điểm từng vùng, từng
địa phương. Tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và
dịch vụ; giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp. Sớm khắc phục tình trạng
manh mún về đất canh tác của các hộ nông dân, khuyến khích việc dồn điền đổi thửa, cho
thuê, góp vốn cổ phần bằng đất; phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao, vùng trồng
trọt và chăn nuôi tập trung, doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ gắn với hình thành các
ngành nghề, làng nghề, trang trại, hợp tác xã, tạo ra những sản phẩm mà thị trường cần và
hiệu quả kinh tế cao;
b) Thực hiện tốt chương trình bảo vệ và phát triển rừng; đổi mới chính sách giao đất,
giao rừng, bảo đảm cho người làm nghề rừng có cuộc sống ổn định và cải thiện. Phát triển
rừng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến lâm sản với công nghệ hiện đại;
c) Phát triển đồng bộ và có hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và bảo vệ nguồn
lợi thuỷ sản. Coi trọng khâu sản xuất và cung cấp giống tốt, bảo vệ môi trường, mở rộng
thị trường trong nước và xuất khẩu;
d) Tăng cường các hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm, khuyến ngư,
công tác thú y, bảo vệ thực vật và các dịch vụ kỹ thuật khác ở nông thôn. Chuyển giao
nhanh và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ sinh học vào sản xuất nông
nghiệp; chú trọng các khâu giống, kỹ thuật canh tác, nuôi trồng, công nghệ sau thu hoạch
và công nghệ chế biến;
e) Khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn. Thực hiện ch ương trình
xây dựng nông thôn mới. Xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh,
môi trường lành mạnh. Hình thành các khu dân cư đô thị với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội đồng bộ. Phát huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hoá, nâng
cao trình độ dân trí, bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục, mê tín dị đoan; bảo đảm an ninh, trật
tự an toàn xã hội.
f) Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước hết ở các vùng thu hồi
quyền sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, giao thông,
các khu đô thị mới. Chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ
trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động phi nông nghiệp. Tạo điều kiện để
lao động nông thôn có việc làm trong và ngoài khu vực nông thôn, kể cả ở n ước ngoài.
Đầu tư mạnh hơn cho các chương trình xoá đ ói giảm nghèo, nhất là ở các vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Từ định hướng của Đảng về quan hệ công - nông nghiệp, qua các Đại hội và các Nghị
quyết của Ban chấp hành Trung ương, chúng ta thấy sự thay đổi tư duy lãnh đạo của Đảng
qua các thời kỳ. Bắt đầu từ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời
phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ (1960) đến tập trung sức phát triển mạnh nông
nghiệp, nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu (1982), rồi phát triển toàn diện
k inh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng để ổn định tình hình
kinh tế, xã hội (1991), tiếp đến công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, giải
quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân (2006). Phát triển toàn diện
nông nghiệp, chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo
ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ
khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, đưa nhanh tiến bộ KHKT và công nghệ sinh học vào
sản xuất, nâng cao năng xuất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp với đặc điểm từng
vùng, từng địa phương.

Việc xác định vị trí quan trọng của nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong quá
trình HĐH đất nước trong thời kỳ đổi mới là thực tế khách quan. Với tỷ lệ lớn dân c ư nông
thôn Việt Nam hiện nay, không có sự giàu có của nông dân, thì không có sự giàu có của
đất nước, không có HĐH nông thôn, thì không có HĐH quốc gia.

Trên cơ sở những quyết sách quan trọng của Đảng, nhiều văn bản pháp luật và chính
sách của Nhà nước đã được ban hành, nhằm thể chế hóa những chủ tr ương của Đảng, như:
thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, giao đất, giao rừng lâu dài cho hộ nông
dân, không thu thuế sử dụng đất nông nghiệp, thủy lợi phí...Những chính sách vĩ mô đó và
sự điều hành của chính quyền các cấp đã giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, tạo
động lực mới góp phần tạo ra những thành quả nông nghiệp, nông thôn trong những năm
qua.

2 .1.2. Thành quả thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn

Cùng với đổi mới nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn đã góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội đất nước.

2.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế nông nghiệp cao và liên tục trong nhiều năm, đảm bảo
phát triển ổn định kinh tế đất nước

Bảng 2.1: tăng trưởng GTSX nông nghiệp theo giá so sánh 1994

GTSX (tỷ đồng) Tốc độ tăng
(%/năm)
1985 1989 2000 2006 (1985 (2000 (1985
2008 2008
1989) 2006)
2006)
NLN 52677 62643 119280 163790 5,4 9,3 8,8
nghiệp 146811 3,4
NN(T-C- 43358 51268 94510 120627 4,4 5,4 5,6
A.
146811 2,9
DV)
Trồng trọt 34018 39653 73677 89865 3,9 3,4 4,7
114333 2,4
Chăn nuôi 8150 10129 18668 28248 5,6 5,7 6,1
29201 4,6
Dịch vụ 1190 1486 2165 2514 5,7 2,5 3,6
NN 3276 2,7
3626 4306 5146 5576 4,4 1,6 2,1
B.Lâm nghiệp
2700 1,9
5693 7069 19624 37587 5,6 9,7 9,4
C.Ngư nghiệp
12111 8,3
biến 9088 13645 93781 200431 10,7 19,2 15,9
D.chế
113282 14,2
NLN
Nguồn: CAP-IPSARD, và Tổng cục Thống kê năm 2009.
Trong thời kỳ đổi mới, nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng cao là nền tảng phát triển
ổn định kinh tế đất nước. Xét về tốc độ tăng trưởng, giá trị sản xuất (GTSX) nông, lâm,
ngư nghiệp 45 trong giai đoạn 1986-2009 liên tục tăng với tốc độ bình quân 8,8%, GTSX
nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp) tăng trung bình 5,5%, GTSX
lâm nghiệp tăng thấp nhất 2,1%, GTSX ngư nghiệp tăng cao 9,4%, đặc biệt GTSX chế biến
nông lâm ngư nghiệp tăng rất cao 15,9%. Năm 2008, do ản hưởng của suy thoái kinh tế
toàn cầu, nông lâm - ngư nghiệp vẫn tăng 3, 4% (xem bảng 2.1).

Xét về kết cấu tăng trưởng trong nông, lâm và ngư nghiệp, GTSX ngành ngư nghiệp
tăng mạnh và ổn định từ 5.693 tỷ đồng năm 1985 lên 19.624 tỷ đồng (2000), 37.587 tỷ
đồng (2006), 12.111 tỷ đồng năm 2008. Xem biểu đồ 2.1.

Biểu đ ồ 2.1: GDP nông nghiệp 1986-2008 theo giá so sánh 1994




Tăng trưởng nông nghiệp (1986-2008)
1986dd




Nguồn: CAP-IPSARD,2008

Xét về kết cấu tăng trưởng trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, GTSX toàn
ngành nông nghiệp, tăng từ 43.358 tỷ đồng năm 1985 lên 94.510 tỷ đồng (2000), 120.627
tỷ đồng (2006), 146.811 tỷ đồng năm 2007, đ ặc biệt dịch vụ nông nghiệp tăng từ 1.190 tỷ



45
Tính theo giá 1994.
đồng năm 1985 lên 5.146 tỷ đồng (2000), 3.276 tỷ đồng năm 2007. Nhìn toàn cảnh chúng
ta thấy sự thăng trầm của tăng trưởng nông nghiệp trong giai đoạn 1986-2008.

Xét về kết cấu tăng trưởng GTSX trong phân ngành trồng trọt giai đoạn 1986-2008
của cây lương thực, rau đậu, cây công nghiệp và cây ăn quả cho thấy, cây lương th ực tăng
từ 49.604 tỷ đồng năm 1990 lên 66.183 tỷ đồng (1995), 90.858 tỷ đồng (2000), 107.897 tỷ
đồng (2005), 114.333 tỷ đồng năm 2008; cây công nghiệp tăng từ 6.692 tỷ đồng năm 1990
lên 12.119 tỷ đồng (1995), 21.782 tỷ đồng (2000), 25.585 tỷ đồng (2005), 29.148 tỷ đồng
năm 2008; cây ăn quả tăng từ 5.028 tỷ đồng năm 1990 lên 6.105 tỷ đồng (2000), 8.706 tỷ
đồng năm 2008; rau quả tăng từ 3.477 tỷ đồng năm 1990 lên 6.332 tỷ đồng (2000), 10.156
tỷ đồng năm 2007. Sau 17 năm, cây công nghiệp tăng 4,4 lần, cây lương thực tăng 2,3 lần,
cây ăn qủa tăng 1,7 lần, cây rau quả tăng 1,6 lần. Cây công nghiệp và cây lương thực tăng
trưởng cao hơn cây rau quả và cây ăn quả nhờ tăng diện tích và năng xuất. Cây lương thực
và cây công nghiệp đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GTSX trồng trọt.

Từ biểu đồ 2.1 cho thấy, GDP nông, lâm và thủy sản tăng liên tục từ năm 1988 đến
2008 là 4,1%, có nhiều năm tăng cao như năm 1992 (8,2%), 1997 (7%), 1999 (7,3%), 2002
(6,2%), nhưng những năm gần đây giảm còn 4,1% (2004), 3,2% (2005), 2,9% năm 200746.
Nhờ phát triển nhanh, nông nghiệp Việt Nam đã từ tình trạng thiếu lên đảm bảo an ninh
lương thực và trở thành một quốc gia xuất khẩu mạnh nông sản hàng hóa. Tăng trưởng sản
xuất giá trị thặng dư nông nghiệp trong một thời gian dài đã tạo tiền đề quan trọng chuyển
sang giai đoạn phát triển cao, phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững.

Sản xuất nông nghiệp phát triển, nhất là sản xuất lương thực đã tạo ra cơ sở vững chắc
cho mức lương thực thực tế hợp lý đáp ứng đủ nhu cầu của số lượng lớn lao động chuyển
từ nghề nông sang các nghề hoạt động phi nông nghiệp. GTSX nông lâm ngư nghiệp ở các
vùng, miền, địa phương trong cả nước đều tăng nhanh. Chẳng hạn GTSX nông nghiệp của
các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tăng từ 31.247 tỷ đồng năm 1995 lên 48.725 tỷ đồng
năm 2007; Đồng bằng sông Hồng tăng từ 18.576 tỷ đồng năm 1995 lên 20.898 tỷ đồng
(2000), 25.145 tỷ đồng năn 2006; Duyên hải Nam Trung bộ tăng từ 5.150 tỷ đồng nă m
1995 lên 6.154 tỷ đồng (2000), 7.673 tỷ đồng năm 2007; các tỉnh Tây Bắc cũng tăng từ

46
Sô liệu tổng hợp từ niên giám thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam các năm.
1.567 tỷ đồng năm 1995 lên 2.063 tỷ đồng (2000), 3.450 tỷ đồng năm 2007; Tây Nguyên
4.725 tỷ đồng năm 1995 lên 11.448 tỷ đồng (2000), 18.381 tỷ đồng năm 2007.

Trong 3 khu vực lớn của nền kinh tế Việt Nam (công nghiệp - xây dựng, nông nghiệp
và dịch vụ), khu vực nông nghiệp tuy tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với 2 khu vực công
nghiệp - xây dựng và dịch vụ, nhưng tăng trưởng lại ổn định hơn.
Biểu 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP (%) 3 lĩnh vực lớn


16
14
12
10
8
%




6
4
2
0
-2 1986 1988 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2008
-4
Tổng Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ



Nguồn: số liệu từ Tổng cục Thống kê các năm

Trong khi khu vực công nghiệp - xây dựng và khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng
năm 2008 thấp hơn so với năm 2006 và 2007, nhưng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản
vẫn có tốc độ tăng trưởng cao (3,79% của năm 2008 so với 3,4% của năm 2007 và 3,69%
của năm 2006)47 (xem biểu đồ 2.2).
GDP nông nghiệp mở rộng (gồm trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp, chế biến nông lâm ngư nghiệp) tăng liên tục từ 1988 đến năm 2008
với tốc độ 4,2%, giai đoạn 1990-2000 tăng bình quân 5,4%; giai đoạn 2001-2005 tăng
5,5%. Nhờ phát triển nhanh nông nghiệp với “Mức tăng trưởng nông nghiệp mở rộng cao
so với tốc độ tăng trưởng bình quân trên thế giới”48, Việt Nam từ tình trạng thiếu lương
thực thành nước tăng xuất khẩu lương thực liên tục (1,988 triệu tấn năm 1995 lên 3,4767
triệu tấn (2000), 5,2548 triệu tấn (2005), 4,5575 triệu tấn năm 2007).

Xét về giá trị gia tăng nông nghiệp Việt Nam (gồm trồng trọt và chăn nuôi và dịch vụ
nông nghiệp), GTSX so với giá 1994, giai đoạn 1986 -2008 liên tục tăng, từ 43.358 tỷ

47
Tổng cục Thống kê Việt Nam: Thông cáo báo chí bổ sung kết quả năm 2008, http://www.gso.gov.vn/
48
Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việtt Nam,
N xb chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008, tr.23.
đồng năm 1986 lên 119.280 tỷ đồng (2000), 146.811,0 tỷ đồng (2007), 152.375 tỷ đồng
năm 2008. Ngư nghiệp tăng nhanh với tốc độ 9,3% (1985-2008), trong khi mức tăng sản
lượng lâm nghiệp giai đoạn 1985-2006 là 2,1%49.

Trong ngành trồng trọt, diện tích gieo trồng lúa giảm từ 7,67 triệu ha năm 2000 còn
7,20 triệu ha năm 2007, nhưng sản lượng lúa tăng từ 32,529 triệu tấn năm 2000 lên 35,867
triệu tấn năm 2007, 7 năm tăng 3,338 triệu tấn. Năm 2007, sản lượng ngô tăng từ 671
nghìn tấn (1990) lên 2.005,9 nghìn tấn (2000), 4.107 nghìn tấn năm 2007. Sản lượng cây
lương thực có hạt tăng từ 26.141 nghìn tấn năm 1995 lên 34.539 nghìn tấn (2000), 39.977
nghìn tấn năm 2007, sau 12 năm tăng 13.863 nghìn tấn. Các cây công nghiệp xuất khẩu
như lạc, đậu tương, cao su, cà phê, chè tăng cả diện tích và năng xuất. Cây ă n quả tăng
nhanh diện tích từ 281 nghìn ha năm 1990, lên từ 565 nghìn ha (2000), lên 767 nghìn ha
(2005), 775 nghìn ha (2007), 782 nghìn ha năm 2008 50.

Trong ngành chăn nuôi đang diễn ra quá trình tăng quy mô sản xuất. Từng bước hình
thức sản xuất theo mô hình gia trại, trang trại. Chăn nuôi công nghiệp đang thay thế hình
thức chăn nuôi gia đình nhỏ lẻ. Năm 2001 toàn quốc mới có 1.761 trang trại chăn nuôi,
năm 2007 đã tăng lên 16.757 trang trại, phát triển rộng khắp các địa phương trong cả nước
từ Tây Bắc, đến Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên,
Đông Nam Bộ đến các tỉnh cực nam Đồng bằng sông Cửu Long. Chẳng hạn, Điện Biên từ
94 trang trại (2000) lên 138 trang trại (2005), 254 trang trại năm 2007; Quảng Ninh từ 562
(2000) lên 1.323 (2005), 1.352 năm 2007, Thái Bình, phát triển từ 155 trang trại năm 2000
lên 1.182 trang trại (2005), 3.087 trang trại năm 2008; Bạc Liêu từ 6.111 (2000) lên 12.386
(2005), 13.281 trang trại năm 2007.

Nhìn chung, chăn nuôi toàn quốc phát triển với tốc độ 7-8% năm, sản lượng thịt hơi
từ 1.856 nghìn tấn năm 2000 tăng lên 3.510 nghìn tấn (2006), đưa giá trị sản lượng ngành
chăn nuôi trong nông nghiệp từ 17,3% năm 2000 lên 26,5% năm 200851. Cùng với nhu cầu


49
V iện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việtt Nam,
N xb chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008, tr.22.
50
Tổng cục Thống kê Việt Nam: Niên giám thống kê các năm.
51
Tổng cục Thống kê Việt Nam: Niên giám thống kê năm 2009.
phát triển chăn nuôi, sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp tăng từ 1,7 triệu tấn năm
2000 lên 2,5 triệu tán năm 2008.

Trong ngành thủy sản Việt Nam, có sự chuyển hướng tích cực cả về khai thác và nuôi
trồng. Tỷ trọng GDP thủy sản tăng nhanh từ 5,1% năm 1985 lên 14,4% (2006); chế biến
nông lâm thủy sản cùng thời gian đó tăng từ 11,1% lên 25,1%; trong khi ngành trồng trọt
giảm từ 61,9% còn 44,5%. Đặc biệt, sản lượng nuôi trồng tăng gấp 4 lần từ 525 nghìn tấn
năm 2000 lên 2.100 nghìn tấn năm 2008.

Ngành lâm nghiệp, GTSX tăng từ 3.626 tỷ đồng năm 1985 lên 5.146 tỷ đồng (2000),
5.576 tỷ đồng năm 2006, nhưng tăng trưởng chậm. Công tác bảo vệ và phát triển rừng
được chú trọng hơn. Diện tích rừng tăng từ 11,31 triệu ha năm 2000 lên 12,8 triệu ha năm
2006. “Diện tích rừng trồng tập trung quý I năm 2009 cả nước ước tính đạt 25,3 nghìn ha,
tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 494 nghìn m3, tăng 2%.
Tính chung 3 tháng đầu năm 2009, tổng diện tích rừng bị thiệt hại là 489 ha, tăng 77% so
với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 244 ha, tăng 68,2%”52. Đặc biệt,
sản xuất gỗ đã trở thành một sản phẩm xuất khẩu quan trọng, lượng ngoại tệ thu được từ
311,4 triệu USD năm 2000 lên 1.561,4 triệu USD (2005), 2.404 triệu USD năm 2007.
Giá trị gia tăng càng chuyển dọc lên các nấc thang cao hơn của chuỗi gia trị. Từ sản
xuất nguyên liệu lên sơ chế, rồi chế biến thành những nông phẩm hàng hóa. Tính chung cả
nền kinh tế, thì giá trị tăng thêm của sản xuất nông nghiệp có xu hướng chuyển dần từ khu
vực sản xuất nguyên liệu sang khu vực sơ chế và công nghiệp chế biến. Do tích tụ tập
trung được TLSX và lao động, áp dụng KH & CN, nên nhiều vùng nông sản hàng hóa sản
xuất tập trung được hình thành, như vùng lúa Đồng bằng sông Cửu Long, vùng cà phê Tây
Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, vùng rau Lâm Đồng và ở một số tỉnh
Đồng bằng sông Hồng.
Nông nghiệp phát triển mạnh theo hướng xuất khẩu. Gạo, cà phê, hồ tiêu, hạt điều,
sản phẩm gỗ, thủy sản của Việt Nam ngày càng chiếm thị phần trên thị trường khu vực và
thế giới. Tỷ lệ hàng thô hoặc sơ chế (lương thực thực phẩm và động vật sống) tăng hàng
năm từ 3.664,1 triệu USD năm 1995 lên 8.009,8 triệu USD năm 2000, 19.226 triệu USD

52
www.gso.gov.vn/default/
năm 2007. Các nông phẩm chiếm tỷ lệ lớn là: gạo 18,5%, hạt điều 49% và hầu hết sản
lượng cà phê, cao su, hồ tiêu. Nhìn chung, tăng trưởng nông nghiệp đã đảm bảo ổn định
cho sự phát triển kinh tế.
Trong hơn 20 năm đổi mới, đầu tư vật tư nông nghiệp và số lượng lao động nông
nghiệp có vai trò quan trọng nhất. Theo CAP-IPSARD, thì giai đoạn 1985-2005, phân bón
đóng góp 26,1%, lao động nông nghiệp đóng góp 22,4%, việc tăng diện tích cây hàng năm
đóng góp 16,7%, máy bơm nước đóng góp 10,2%, chỉ số năng suất tổng hợp (TFP) đóng
góp 8,8%, máy kéo đóng góp 8,2%... Để có được sự đóng góp của các yếu tố đầu vào,
công tác thủy lợi đã đóng vai trò quan trọng. Trong thời gian gần đây, mức đóng góp vào
tăng trưởng của thế hệ trẻ giảm do lực lượng này đã rút ra khỏi nông nghiệp. Diện tích sản
xuất nông nghiệp bị thu hẹp và manh mún, vốn ít nên hạn chế nông dân đầu tư vào máy
móc. Do đó, phần đ óng góp chính cho việc duy trì tăng trưởng sản xuất nông nghiệp phải
là KH & CN. Thực tế, TFP đã đảm nhận 63,4% tăng trưởng nông nghiệp.

2.1.2.2. Chuyển dịch c ơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng hiện đại,
tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao

Cơ cấu kinh tế là khái niệm rộng, bao gồm cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế
và cơ cấu thành phần kinh tế. Sự hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu
kinh tế công - nông nghiệp và dịch vụ nói riêng theo hướng HĐH là nhân tố quan trọng
nâng cao tốc độ và chất lượng tăng trưởng. Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý
thuyết hệ thống, trong bộ Tư bản, C Mác đã chỉ rõ: toàn bộ các quan hệ giữa những người
làm nhiệm vụ sản xuất với nhau và giữa họ với tự nhiên, xét về mặt cơ cấu kinh tế là một
hệ thống quan hệ xã hội. Trong phần này, đề tài tập trung xem xét cơ cấu ngành nông
nghiệp.
Trong quá trình đổi mới, cơ cấu công - nông nghiệp - dịch vụ cả nước chuyển dịch
đúng theo quy luật, tỷ trọng GTSX nông lâm ngư nghiệp đóng góp trong toàn bộ các ngành
kinh tế của Việt Nam giảm từ 39,28% năm 1986 còn 27,18% (1995), 23,98% (2005), 20%
năm 2008, nhưng GTSX của nó theo giá so sánh 1994 vẫn tăng hàng năm từ 6.1817,5 tỷ
đồng năm 1990 lên 489.800 tỷ đồng năm 2008 (giá hiện hành). GTSX nông, lâm nghiệp và
thuỷ sản năm 2008 theo giá so sánh tăng 6% so với năm 2007 53. Tỷ trọng về lao động giảm
từ 65,09% (2000), 57,10% (2005), 53,92% năm 2007. Trong quá trình HĐH, mối quan hệ
giữa công nghiệp và nông nghiệp có tầm quan trọng chiến lược, quyết định tốc độ và quy
mô của tiến trình CNH, sự phát triển bền vững kinh tế, xã hội. Theo Tổng cục Thống kê
Việt Nam, năm 2008, kinh tế thế giới rơi vào suy thoái, nền kinh tế Việt Nam suy giảm tốc
độ tăng trưởng, các ngành công nghiệp xuất khẩu giảm mạnh, duy nhất ngành nông nghiệp
tiếp tục duy trì được tăng trưởng.
1 /Cơ cấu nông - lâm - thủy sản. Trong quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế công nông
nghiệp, cơ cấu nông, lâm, thủy sản là một bộ phận quan trọng ở Việt Nam. Trong ba
ngành, thủy sản có tốc độ chuyển dịch nhanh nhất. Tỷ trọng GDP thủy sản tăng từ 5,6%
năm 1986 lên 24,3% năm 2008. Sản xuất phân ngành nông nghiệp (trồng trọt-chăn nuôi
dịch vụ nông nghiệp) tăng trưởng đều, nh ưng chậm hơn thủy sản. Từ năm 1990 đến năm
2008, tỷ trong phân ngành nông nghiệp giảm từ 81% năm 1986 còn 73,21% năm 2008.
Lâm nghiệp trong thời gian qua có tốc độ tăng trưởng rất thấp, nên tỷ trọng giảm nhanh từ
13,5% năm 1986 còn 2,49% năm 2008.
2 /Cơ cấu phân ngành nông nghiệp (trồng trọt-chăn nuôi-dịch vụ). Tỷ trọng GDP
ngành trồng trọt giảm từ 80% năm 1986 xuống còn 73% năm 2008, song vẫn là ngành
chính trong phân ngành nông nghiệp. Chăn nuôi tăng trưởng bình quân 6,8% trong thời kỳ
1988-2008, riêng năm 2008, tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp là 25,5%. Giai
đoạn 1988-2008, dịch vụ tăng trưởng rất chậm, tộc độ bình quân là 3,5%/năm, năm 2008,
dịch vụ chỉ chiếm 1,5%.
3 /Cơ cấu ngành nông nghiệp mở rộng chuyển dịch diễn ra rõ rệt, nhưng không đều.
Trong 6 ngành, chế biến nông lâm nghiệp (NLN) chuyển dịch nhanh nhất từ 11,1% năm
1985 lên 25,1% năm 2006; thủy sản chuyển dịch từ 5,1% năm 1985 lên 14,4% năm 2006;
chăn nuôi tăng từ 8,9% năm 1985 lên 10,9% năm 2006; trồng trọt giảm từ 61,9% năm
1985 còn 44,5% năm 2006, lâm nghiệp giảm từ 11,7% năm 1985 còn 4,1% năm 2006, dịch
vụ nông nghiệp giản trong nền kinh tế thị trường từ 1,3% năm 1985 còn 1% năm 2006.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đ úng hướng. Tuy vậy, kinh tế nông thôn
Việt Nam vẫn nặng về nông nghiệp, còn nông nghiệp vẫn nặng về trồng trọt. Lúa vẫn

53
Tổng cục Thống kê Việt Nam: số liệu thống kê các năm
chiếm 55% diện tích gieo trồng, cung cấp 75% năng lượng dinh dưỡng, đóng góp 15% cho
xuất khẩu nông, lâm, thủy sản và còn là nguồn sống quan trọng cho 80% hộ nông dân.
Chăn nuôi đã có nhiều nỗ lực, nhưng mới chiếm 25% toàn ngành nông nghiệp, còn khá xa
mới trở thành một ngành sản xuất chính. Trong chăn nuôi, con lợn đóng vai trò quan trọng
nhất. Hoạt động kinh tế phi nông nghiệp có cải thiện, nhưng tốc đ ộ tăng công nghiệp và
dịch vụ ở nông thôn còn rất chậm, chính vì thế không đáp ứng việc làm và thu nhập cho
nông dân.
2.1.2.3. Đời sống kinh tế, xã hội nông thôn có nhiều cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành nghề ở nông thôn có nhiều tiến bộ, tuy tốc độ chuyển
dịch diễn ra chậm và khác nhau giữa các địa phương. Về kết cấu ngành nghề, đến tháng
10/2008, số hộ nông lâm, thủy sản ở nông thôn là 9,59 triệu hộ, giảm 0,99 triệu hộ; số hộ
công nghiệp và dịch vụ là 3,65 triệu hộ, tăng 1,5 triệu hộ so với năm 2001. Sau 7 năm, tỷ
trọng hộ nông nghiệp giảm từ 80,9% còn 68,9%, tỷ trọng hộ công nghiệp và xây dựng tăng
8,5% lên 12,1%; tỷ trọng hộ dịch vụ tăng từ 10,6% lên 19%. Tổng tỷ trọng hộ công nghiệp
và dịch vụ đã tăng từ 19,1% lên 31,1%. Chuyển dịch cơ cấu hộ theo hướng hiện đại với giá
trị gia tăng nhanh và rõ hơn. Tuy vậy, kết cấu hộ nông dân Việt Nam vẫn mang tính nông
nghiệp. Năm 2008, số hộ nông nghiệp vẫn chiếm 68,9%.
Trong các vùng kinh tế, Đồng bằng sông Hồng biến đổi kết cấu hộ nông thôn diễn ra
nhanh nhất, hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng từ 17,8% năm 2001 lên 35,6% năm
2008. Sau đó là vùng Đông Nam Bộ, tỷ trọng hộ nông nghiệp giảm từ 67,1% còn 56,3%.
Đây là vùng có mức thu hút đầu tư nước ngoài lớn nhất. Theo sự phân tích của Ipsard:
“Thu từ trồng trọt vẫn chiếm 68,5%, thu từ chăn nuôi chiếm 30%, thu từ dịch vụ nông
nghiệp mới có 1,5%. Trong trồng trọt, thu từ lương thực vẫn chiếm cao (61%). Cơ cấu thu
của hộ trong thủy sản thể hiện rõ sự chuyển biến tích cực trong tổ chức sản xuất. Hoạt
động nuôi trồng chiếm tỷ lệ (55,3%) cao hơn so với hoạt động đánh bắt (44,7%). Cơ cấu
thu của lâm nghiệp ở cấp hộ chậm thay đổi, trong tổng thu, hoạt động khai thác lâm sản
vẫn chiếm 78%, thu hái lâm sản 13%, so với thu từ trồng mới, chăm sóc, khoanh nuôi, tu
bổ rừng chỉ chiếm 7,9%”54. Như vậy cơ cấu tổng thu của hộ nông nghiệp trên toàn quốc
vẫn thể hiện mức độ thuần nông cao.
1 /Thu nhập và khả năng tích lũy của nông dân tăng lên theo th ời gian, tỷ lệ hộ nghèo
g iảm. Theo TCTK năm 2006, 94% số dân trong tuổi lao động có việc làm và 90% tham gia
hoạt động thu nhập. 60% số thành viên hộ hoạt động nông nghiệp, 23% làm thuê lấy tiền
công và 17% hoạt động phi nông nghiệp. Tỷ lệ làm nội trợ cao, trong đó 86% là phụ nữ55.
Nhóm hộ giàu ít tham gia hoạt động nông nghiệp và khai thác tài nguyên, mà chủ yếu tham
gia hoạt đ ộng phi nông nghiệp. Các tỉnh miền núi như Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai… có
tới 90% người làm nông nghiệp. Các tỉnh Khánh hòa, Đắc Lắk, Long An…số người đi làm
thuê đông nhất và tỷ lệ tham gia hoạt động khai thác tài nguyên cao nhất. Hà Tây, nơi có
nhiều làng nghề, 43% lao động hoạt động phi nông nghiệp, 28% làm thuê lĩnh lương, tỷ lệ
làm nông nghiệp rất thấp.
Nguồn thu chính của các hộ nông dân Việt Nam chủ yếu vẫn từ nông nghiệp (40%).
Theo Bộ KH & ĐT, trong giai đoạn1996-1998, dân cư nông thôn chiếm 80% dân số cả
nước, mà chỉ chiếm 29-33% chi phí tiêu dùng xã hội56. Năm 1994, bình quân một người ở
nông thôn ch ỉ để giành được 172.000 đồng (hầu như không có tích lũy). Chính thu nhập
thấp, nên sức mua của nông dân yếu. Từ năm 2002, thu nhập bình quân chung của cư dân
nông thôn Việt Nam đã từ 275.000 đ ồng/người/tháng tăng lên 636.000 nghìn
đồng/người/tháng (2006). Đến năm 2006, mức tích lũy đã có, trung bình một người ở nông
thôn có thể để dành được 1.592.000 đồng/năm. Song số tích lũy đó còn quá nhỏ, khó có thể
đầu tư sản xuất có hiệu quả. Theo điều tra của Trung tâm nghiên cứu khoa học gia đình và
phụ nữ ở Đồng bằng sông Hồng trong 3 năm (2001-2003), cho biết: do mức sống khởi
điểm thấp, chưa có hệ thống an sinh xã hội, môi trường đầu tư ở nông thôn rủi ro cao, lợi
nhuận thấp và nông dân chủ yếu đầu tư xây dựng và nâng cấp nhà ở, chi cho ăn uống, mua
sắm tiêu dùng, hiếu hỷ, chi phí học tập nên rất ít gia đình đầu tư tái sản xuất mở rộng. Đây
là tình trạng vẫn đang diễn ra ở ngay cả các vùng nông thôn có thu nhập cao như vùng




54
Viện Chính sách và Chiến lược phát triển Nông nghiệp Nông thôn, Nxb Chính trị quốc gia, HN, năm 2008, tr.124-
125.
55
Đặng Kim Sơ n: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam Hôm nay và ngày mai, Nxb CTQG, HN, 2008, tr.78.
56
Báo kinh tế Sài gòn, ngày 10/6/1999.
trồng cà phê Tây Nguyên, vùng nuôi tôm ven biển, ven đô thị khi nông dân được bồi hoàn
đất đai.
Trị giá đồ dùng lâu bền bình quân 1 hộ nông dân, tăng 6.025 nghìn VNĐ (2002), lên
10.026 VNĐ năm 2006 57. Trong 10 triệu hộ nông dân, tỷ lệ hộ có tài sản sản xuất cố định
thấp. Các chuồng trại chăn nuôi nhiều nhất cũng chỉ chiếm 30%. Các tài sản cố định khác
như vườn cây, trâu bò, ngựa kéo/sinh sản, lợn nái, lợn đực giống, bình bơm thuốc trừ
sâu…mới chiếm 15%58. Các tài sản cố định khác như nhà xưởng, ôtô, máy kéo… chiếm tỷ
lệ rất nhỏ. Với nguồn vốn tích lũy nhỏ, nên khả năng mở rộng và HĐH kinh doanh nông
nghiệp rất hạn hẹp. Năm 2008, vốn tích lũy bình quân của một hộ nông dân (7 triệu đồng)
và sử dụng 0,6 ha đất sản xuất rất khó tiến hành sản xuất lớn, hiện đại. Năm 2008 cả n ước
có 120.699 trang trại, nhưng chỉ chiếm 1% tổng số hộ nông dân. Bình quân một trang trại
sử dụng 4,5 ha đất nông nghiệp, tương đương với một hộ nông dân nhỏ của Thái Lan.
Theo chuẩn mực của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ nghèo ở nông thôn Việt Nam đã giảm
từ 44,9% năm 1998 xuống còn 21,2% năm 2004, 16,2% năm 2008 (xem thêm Biểu đồ
2.3).
Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ hộ nghèo chung của cả nước qua các năm (%)

50
44.9
40 37.4
35.6
28.9
30

19.5 21.2
20 18 17.7 16.2
15.5 14.8 13.5
9
10 8.6 7.7 7.4 6.7
6.6
0
1998 2002 2004 2006 2007 2008

Cả nước Thành thị Nông thôn

Nguồn: Niên giám Thống kê Việt Nam, 2009.
2 /Điều kiên sống của các hộ nông thôn có nhiều đổi mới.



57
Tổng cục Thống kê: Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đ ình năm 2006, Nxb Thống kê.
58
Tổng cục Thống kê: Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đ ình năm 2006, Nxb Thống kê.
Thu nhập của các hộ nông dân tăng và tác động của chính sách an sinh xã hội của
Đảng và Nhà n ước, nên điều kiện sống của các hộ nông thôn đã được cải thiện rõ rệt trong
những năm gần đây. Năm 2002, ở khu vực nông thôn tỷ lệ nhà kiên cố là 12,6%, nhà bán
kiên cố 59%, đến năm 2006 đã tăng lên 17% và 61%. Tỷ lệ nhà tạm giảm từ 28% năm
2002 còn 19% năm 2006 59. Về cung cấp điện cho nông thôn, trong những năm gần đây đã
có những bước tiến rõ rệt. Nếu năm 1994, cả nước có 60% xã, 50% thôn, 53% số hộ có
điện, thì đến năm 2006 có 99% số xã, 92% số thôn, 94% số hộ nông dân đã sử dụng điện.
Nhưng, điện ở nông thôn chủ yếu dùng để thắp sáng. Tỷ lệ sử dụng điện để sản xuất và
sinh hoạt khác chỉ có 0,8% số hộ.
Các tỉnh nghèo ở vùng sâu, vùng xa sống rất xa trung tâm xã là trở ngại cho việc tiếp
cận dịch vụ đi lại, y tế, giáo dục, thông tin, mua bán…. Chính khoảng cách này là sự cách
biệt điều kiện sống của các hộ dân giữa các tỉnh miền núi và miền suôi, giữa vùng Đồng
bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Nông thôn Việt Nam, hiện nay có khoảng
70% số hộ nông dân dùng nước sạch tương đối cho ăn uống. Những hộ rất nghèo chỉ có
60% nước sạch dùng cho sinh hoạt, khi đó hộ giàu dùng nước sạch là 83%. Giữa các tỉnh
có sự khâc biệt rất lớn, các xã ở Đắk Nông chỉ có 9% hộ nông dân được dùng nước sạch,
còn Hà Tây là 90%, Lai Châu là 41%, Khánh Hòa là 56%. Về công trình vệ sinh, số lượng
những loại nhà vệ sinh tiên tiên đang tăng lên. Số hộ có nhà vệ sinh không hợp vệ sinh
giảm nhanh từ 20% năm 2002 còn 16% (2004), 14% năm 2006, 10% năm 2008.
Việt Nam là quốc gia thành công nhất trong công tác xóa nạn mù chữ ngay từ năm
1945. Tỷ lệ biết chữ luôn được duy trì ở mức cao đối với nông thôn cả phụ nữ và nam giới.
Theo số liệu của TCTK, năm 2006 tỷ lệ biết chữ từ 10 tuổi trở lên cả nước là 93%, thành
thị là 96%, nông thôn là 92%. Với quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, Nhà nước và
nhân dân Việt Nam ưu tiên đầu tư cho giáo dục, nhất là ở nông thôn. Đến năm 2008, 99%
số xã có trường tiểu học, 92% số xã có trường trung học cơ sở, 11% số xã có trường trung
học phổ thông, 98% số xã có trường mầm non. Ngoài ra, nhà nước còn ban hành nhiều
chính sách tạo điều kiện cho con em các hộ nghèo nông thôn được vay vốn tiếp tục học tập
ở các bậc học cao hơn, con em các dân tộc được ưu tiên trong thi c ử và cấp sách giáo khoa,
miễn học phí…

59
Tổng cục Thống kê (2008): Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình.
Trong thời gian gần đây, Việt Nam đã đầu tư lớn để phát triển hệ thống y tế cơ sở,
nhất là ở các vùng nông thôn. Đến năm 2006 có 9.013 xã có trạm y tế, chiếm 99%, trong
đó có 44% trạm được xây dựng kiên cố. Cả n ước có 45% trạm xá đạt tiêu chuẩn quốc gia
về y tế, trung bình 1 xã có 0,7% bác sỹ (1 vạn dân có một bác sỹ). 90% số thôn có cán bộ
y tế. Tỷ lệ người được khám, chữa bệnh tăng nhanh từ 18% năm 2002 lên 38% trong năm
2006, 45% năm 2008. Trong 2 năm gần đây, ngân sách trung ương đã hỗ trợ hơn 1.000 tỷ
đồng cho việc khám chữa bệnh. Thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế, hiện nay có 3.348 xã
có cơ sở khám tư nhân. Nhờ những nỗ lực đ ó, nhiều bệch dịch được phát hiện và không
chế kịp thời, mức độ cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em ở Việt Nam đạt trình
độ khá so với nhiều nước trên thế giới.
Kết cấu hạ tầng thông tin, tài chính ngân hàng … ở nông thôn cũng đã được cải thiện
rõ rệt. Theo số liệu TCTK, đến năm 2008 đã có 89% số xã có điểm bưu điện văn hóa, trong
đó 18% xã có Internet, 13% xã có ngân hàng và chi nhánh ngân hàng, 59% xã có chợ, 99%
xã có điện, 95% hộ sử dụng đ iện, 75% xã sử dụng nước sạch, 97% xã có đường ô tô đến
trung tâm xã, 96% xã có điện thoại. Nhưng, chất lượng sử dụng các kết cấu hạ tầng kinh tế,
xã hội còn thấp so với thành thị.

Các nhà kinh tế Việt Nam và nước ngoài cho rằng, mức sống tại nông thôn Việt Nam
có xu hướng tăng lên sau đổi mới, mức độ chênh lệch tiêu dùng bằng USD trong một tháng
giữa nhóm 20% người giàu nhất (top) và nhóm 20 % người nghèo nhất (bottom) tại nông
thôn Việt Nam (80/20) tương đối thấp so với nhiều nước láng giềng, chỉ kém một số nước
như, Malaysia (120/30), Thailand (25/20)… xen thêm biểu đồ 2.4. Kinh tế phát triển, mức
thu nhập và tiêu dùng của người dân được cải thiện và nâng cao rõ rệt. Trong lĩnh vực phân
phối thu nhập đã khắc phục một bước quan trọng chủ nghĩa bình quân, tăng cường cơ chế
kích thích, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Biểu đồ 2.4:chênh lệch tiêu dùng tháng giữa nhóm giàu nhất và nhóm
nghèo nhất ở Việt Nam và một số nước




(Arikoko
2008)




Nguồn : Đặng Kim Sơn IPSARD.

2 .1.2.4. Văn hóa xã hội nông thôn Việt Nam biến đổi theo hướng tích cực
“Trong hệ thống các mối quan hệ, bất cứ người nào cũng tìm thấy vị trí của mình
trong một mảng của cộng đồng và có thể thỏa mãn nhu cầu về mặt này hay mặt khác” 60.
Trong quan hệ ứng sử giữa người với người ở nông thôn Việt Nam, các hành vi của cá
nhân vẫn được đặt trong các thiết chế xã hội (gia đình, dòng họ, làng xã) làm cho vai trò
của cộng đồng vẫn giữ được. Đến nay, nông dân Việt Nam về cơ bản vẫn giữ được kết cấu
xã hội đa dạng, có khả năng thích nghi cao với quá trình lịch sử đầy biến động. Chính vì
vậy, trong nông thôn Việt Nam đã xuất hiện nhiều cách tổ chức và ứng sử vừa uyển
chuyển, vừa bền bỉ để tự vệ mình. Đặc điểm này đã tạo nên sức sáng tạo và tinh thần ủng
hộ đổi mới của Đảng.

60
Phan H. L. : Làng xã cổ truyền của người Việt, tiến trình lịch sử và kết cấu kinh tế xã hội, Hà nội, năm 1996, tr.
136-137.
Song kết cấu chặt chẽ và đóng kín của cộng đ ồng làng xã Việt Nam cổ truyền là nhân
tố cản trở sự kết hợp với nhau quy mô lớn. Đó là đặc điểm có tính phổ biến của người nông
dân ở phần lớn các nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Tiếp biến đặc điểm này, các nước
Nhật bản, Đài Loan, Hàn Quốc đã tổ chức các hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã tín dụng,
hợp tá xã khuyến nông trên cơ sở huyết thống, lãnh thổ, nghề nghiệp rất thành công, có thể
là bài học quý cho Việt Nam…
Nếp sống làng, tĩnh, hài hòa giữa con người với con người, giữa vật chất và tinh thần,
giữa thiên nhiên và con người là phần quan trọng của văn hóa làng Việt phần lớn vẫn giữ
được, có tác dụng điều chỉnh sự ứng xử trong mọi quan hệ của con người trong xã hội hiện
đại và tạo nên sự cân bằng, sự vững bền của mỗi con người trong mọi biến động của xã hội
và tự nhiên.
1/Về văn hóa phi vật thể làng, bản ở nông thôn Việt Nam. Dưới ánh sáng đổi mới của
Đảng, văn hóa phi vật thể ở nông thôn Việt Nam dần dần khôi phục và hoạt động trở lại.
Giá trị văn hóa của xóm làng Bắc bộ vẫn giữ được và gói gọn trong mấy chữ “trọng”:
“trọng tĩnh, trọng tình, trọng tước, trọng hoan, trọng mẫu…” 61. Các giá trị văn hóa này
được các hương ước duy trì và dư luận xã hội là chế tài bảo vệ. Các vị thành hoàng được
thờ trong đình là những danh nhân lịch sử, văn hóa, người có công với làng hay có công
lập làng. Đình hiện nay vẫn là nơi diễn ra lễ hội, mà lễ hội mở vào ngày giỗ thành hoàng
của làng là để tưởng nhớ các vị thành hoàng. Hiện vẫn có tác dụng quan trọng giáo dục,
quy tụ nhân tâm, giữ gìn nếp làng rất cao.
Tất cả các làng, bản Việt Nam đều ẩn chứa một kho tàng khổng lồ văn hóa phi vật thể
quý như các chuyện cổ tích, chuyện ngụ ngôn, ca dao tục ngữ, trường ca, dân ca…. Trong
các dịp lễ hội, ma chay cưới xin… hiện nay, các hoạt động văn hóa được tiến hành với sự
tham gia của toàn cộng đồng tạo nên không khí gắn bó và sự kết nối giữa các thế hệ. Trong
văn hóa của làng, tôn giáo, sinh hoạt tâm linh, sinh hoạt cộng đồng, giải trí văn hóa gắn với
nhau một cách hài hòa. Thông qua các hoạt động văn hóa cộng đồng, các khía cạnh khác
nhau của văn hóa ẩm thực, văn nghệ…. được khôi phục và phát triển. Chính nó đã ẩn chứa
đằng sau vẻ đẹp của văn hóa phi vật thể làng truyền thống Việt Nam. Đó là sự hài hòa với
thiên nhiên và các giá trị khoa học của kiến thức bản địa được đúc kết trong lịch sử. Đó là

61
Vũ Hữu Sự (2008): Cần một khoán mười nữa cho nông thôn, http://nongnghiep.vn/
tính hiệu quả của hệ thống sản xuất “vườn ao chuồng“ của nông thôn Đồng bằng sông
Hồng; hay “văn minh mượt vườn” của Đồng bằng sông Cửu Long.
Nhìn chung, phần lớn các làng bản ở nông thôn Việt Nam hiện về cơ bản vẫn giữ
được mối quan hệ cộng đồng gắn bó chặt chẽ, tạo nên cơ chế ràng buộc tự nhiên, giám sát
các cá nhân về đạo đức, tâm lý, hình thành nên kỷ luật chung trong làng bản và tạo ra sự
thống nhất trong hành động.
2/Về v ăn hóa vật thể: Hiện nay, các công trình văn hóa vật thể truyền thống về cơ bản
vẫn được bảo tồn, đồng thời đã xuất hiện hệ thống điện, hệ thống cấp nước sinh hoạt, hệ
thống thông tin liên lạc, hệ thống đường giao thông. Trường học, bệnh viện, nhà văn hóa -
bưu điện đã và đang trở thành công trình công cộng mới đem lại cuộc sống văn minh cho
người dân nông thôn từ miền suôi đến vùng cao. Trong các gia đình nông dân hiện nay,
công trình vệ sinh, nguồn nước sạch… đã trở thành nếp sinh hoạt mới.
Cùng với mức cải thiện điều kiện sinh hoạt, được sự quan tân đầu tư của Đảng và
Chính quyền các cấp, các công trình văn hóa vật thể làng như đền, chùa, đình, miếu…được
bảo vệ và tôn tạo. Các sinh hoạt lễ hội được khôi phục và phát triển, hoạt động tôn giáo
được tôn trọng, các làng nghề truyền thống được bảo tồn và phát triển. Nhiều công trình
văn hóa làng vật thể như: Hội An, Bát Tràng, Chùa Hương…hoạt động tôn giáo vật thể và
phi vật thể đã gắn liền với dịch vụ du lịch. Sự hoạt động ấy đang trở thành hoạt động kinh
tế, xã hội quan trọng của các địa phương.
Trong kho tàng văn hóa vật thể của làng Việt Nam, các công trình công cộng đóng vai
trò tâm linh và sinh hoạt cộng đồng quan trọng về cơ bản vẫn được bảo tồn. Trung tâm của
các làng ở Đồng bằng sông Hồng là đình làng ( 90%). Làng ở Bắc Bộ có đình thờ thành
hoàng. Đình còn là nơi sinh hoạt cộng đồng. Ngoài ra còn có tới 60% làng có chùa thờ
Phật hoặc điên thờ Mẫu. Đình thường gắn với cây đa như một biểu tượng trường tồn về
thời gian không gian, bên cạnh thường có ao làng hoặc hồ lớn tạo cảnh quang yên tĩnh và
hài hòa cho nơi quy tụ tam linh của cả làng. Các ngả vào làng đều được giới hạn bằng cổng
làng.
Văn hóa làng vật thể Tây Nguyên về cơ bản vẫn được bảo tồn: có nguồn nước chung,
một nghĩa địa chung, một khu săn bắn chung, một khu đất đai chung, mà mọi thành viên
đều có quyền khai thác và canh tác. Các Nhà Rông của người Xơđăng, Bana cao vút và
kiên cố, nhà Âng hay căn phòng dài nhà khách của người Êđê làm nơi tụ họp cộng đồng,
tiến hành các lễ thức tôn giáo, vui chơi giải trí.
Tuy nhiên, do sự tàn phá của chiến tranh, thiên tai, chủ trương, nhận thức sai lạc trong
các giai đoạn phát triển đã làm mất đi nhiều vốn quý của văn hóa vật thể ở nông thôn Việt
Nam như đền chùa, nhà thờ, đình làng. Hơn 20 năm đổi mới, bên cạnh sự phục hồi mạnh
mẽ, bảo trì, tôn tạo vốn quý của văn hóa vật thể làng xã Việt Nam truyền thống. Song xuất
hiện những xu hướng chạy theo lợi ích vật chất trước mắt, mà làm mất đi những giá trị văn
hóa vật thể làng chân chính lâu dài. Các khu nhà mới, các công trình hiện đại mọc lên
chen lẫn vào không gian, thậm chí xóa đi nh ững công trình văn hóa vật thể truyền thống
làng xã có giá trị.
Trong quá trình CNH, đô thị hóa, nhiều nhà sàn gỗ, các khu rường cổ, nhà vườn ở
Tây Bắc, Tây Nguyên… tháo ra đem bán. Ở vùng miền núi Tây Bắc, những dãy nhà san
sát bằng bê tông lợp tôn xếp ngay ngắn, thẳng lối, không có rừng, không có suối, sản xuất
nông nghiệp theo một cách… Khu định cư mới của công trình thủy điện Sơn La khó có thể
hiểu đây là nơi quy tụ của c ư dân nhiều dân tộc với sự đa dạng về tôn giáo, văn hóa, hệ
thống canh tác.
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, nếu đến thăm một khu định cư với hàng trăm ngôi nhà
nhỏ vuông vắn, lợp tôn cùng một kiểu nằm sát nhau xen kẽ các trục đường thẳng như bàn
cờ, không có cây cối, không có vườn, không có ao hồ, không có đình chùa, thì khó hiểu
rằng đây là cộng đồng định cư của đồng bào nhiều dân tộc, nhiều tôn giáo, nhiều ngành
nghề.
2.2. Thực trạng một số vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc nảy sinh trong thực hiện
công nghiệp hóa ở nông thôn Việt Nam
Đến nay, việc thực hiện đường lối CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN đã đạt được những thành tựu đáng kể, tạo sự chuyển biến
tích cực kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, cũng từ đó, nhiều vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc nảy
sinh, thể hiện sự bất cập, hạn chế của quá trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn, từ chủ trương, chính sách, mối quan hệ lợi ích giữa công nghiệp, với nông nghiệp,
giữa thành thị với nông thôn, cũng như sự vươn lên của bản thân nông dân. Trong quá trình
HĐH, đã nảy sinh những vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc, mà nó diễn biến rất phức tạp, đòi
hỏi phải được nhận thức rõ tình hình, nguyên nhân của thực trạng ấy, từ đó xác định
phương hướng giải pháp khắc phục, nếu không sẽ có nguy cơ mất ổn định chính trị không
thể lường trước được. Cụ thể là:
2.2.1.Tình trạng mất đ ất, thiếu việc làm ở nông thôn ngày càng nghiêm trọng, hiện
tượng ly nông ra các đô thị kiếm sống rất lớn
Trong nhiều năm quá, thực hiện chủ trương của Đảng về đẩy mạnh CNH, HĐH, trên
khắp các vùng, miền của đất nước, nhiều khu công nghiệp, khu đô thị, các công trình công
cộng, phục vụ lợi ích quốc gia với quy mô khác nhau được hình thành và đi vào hoạt động.
Việc xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế, xã hội,... nhằm đáp ứng các nhu cầu phát triển là một thực tế khách quan. Tuy
nhiên, quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn dẫn đến tình trạng thiếu việc làm trầm
trọng, nhất là ở các vùng nông thôn đã và đang có những dự án chuyển đổi mục đích sử
dụng đất để phục vụ cho việc phát triển những khu công nghiệp hoặc khu đô thị mới.

2 .2.1.1. Tình hình thu hồi đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến việc làm ở nông thôn trong
những n ăm gần đây.

Đất đai của các hộ nông dân Việt Nam manh mún với diện tích rất nhỏ, nhất là các
tỉnh Đồng bằng sông Hồng. Ở Hà Tây, mỗi hộ có khoảng 5 - 6 mảnh, diện tích mỗi mảnh
là 331 m2, ở Phú Thọ, mỗi hộ có 6 - 7 mảnh, diện tích mỗi mảnh có 559m2, ở Điện Biên,
mỗi hộ có 4 - 5 mảnh, diện tích mỗi mảnh là 3.498m2. Những nơi có diện tích rộng hơn
như Quảng Nam, Đắc Lắc, Lâm Đồng diện tích mỗi mảnh cũng chỉ có 2.583m2 (Vạn Linh,
Khánh Vĩnh, Khánh Sơn, Khánh Hòa), 6.899m2 (Cư Jút, Đắk R'Lấp, Đắc Nông). Theo Bộ
Lao động, Thương binh & Xã hội (LĐ, TB&XH), từ năm 1990 đến năm 2003, diện tích đất
bị thu hồi để phục vụ cho mục đích phi nông nghiệp đã lên tới 697.410 ha. Những năm sau
đó, trung bình mỗi năm cả nước mất khoảng 40.000 ha đất nông nghiệp cho các nhu cầu
phi nông nghiệp.
Kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tại 16
tỉnh, thành phố trọng điểm cho thấy, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm 89% và
diện tích đất thổ cư chiếm 11%, hầu hết là đất lúa, thuộc diện bờ xôi, ruộng mật. Với diện
tích đất này, hàng năm sản lượng lúa của cả nước có thể giảm trên 1 triệu tấn. Các vùng
kinh tế trọng điểm Đôn g Bắc Bộ, Miền Trung, Đông Nam Bộ có diện tích đất nông nghiệp
thu hồi lớn, chiếm 50% diện tích đất bị thu hồi trên toàn quốc. Đồng bằng sông Hồng là
vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp, tỷ lệ
này ở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác 0,5%. Diện tích đất nông nghiệp bị thu
hồi phần lớn là đất tốt, có cơ sở hạ tầng thuận lợi cho việc canh tác, lại tập trung vào một
số xã có mật độ dân số cao. Ở Gia Lâm, Thanh trì, Đông Anh, (Hà Nội), Duy Tiên, Bình
Lục (Hà Nam), vùng ven đường quốc lộ 5 như Hải Phòng, Hải Dương... có xã bị thu hồi 70
- 80% tổng diện tích đất canh tác. Kết quả tổng hợp từ các địa phương cho thấy, có khoảng
10 - 20% số hộ bị thu hồi 100% đất sản xuất, 20% số hộ bị thu hồi 2/3 đất sản xuất, còn lại
60% số hộ bị thu hồi 1/2 diện tích. Chỉ các tỉnh nằm ngoài những vùng trọng điểm phát
triển kinh tế, thì diện tích đất sản xuất và đất ở bị thu hồi còn tương đối nhỏ.

Mặc dù Quốc hội đã có Nghị quyết số 29/2004/QH (khóa 11) thông qua quy hoạch sử
dụng đất đến năm 2010 và Nghị quyết số 57/2006/QH khóa 11 thông qua kế hoạch sử dụng
đất 5 năm (2006 - 2010) của cả nước, theo đó đến năm 2010 diện tích đất trồng lúa cả nước
là 3.861.380 ha, trong đó đất trồng lúa 2 vụ trở lên (đất chuyên trồng lúa nước) là
3.311.770 ha, nhưng khi rà soát, kiểm tra đất nông nghiệp trên phạm vi toàn quốc trên cơ
sở quyết định của Thủ tướng Chính phủ (cuối tháng 4-2008), thì diện tích đất trồng lúa đã
bị giảm 34.330 ha. Số lượng đất giảm tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long là 15.000 ha,
ở đồng bằng sông Hồng là 8.000 ha, Đông Nam Bộ là 6.600 ha, Bắc Trung Bộ là 2.340 ha.
Các tỉnh có diện tích lúa bị giảm nhiều nhất trong hơn 2 năm qua là Bạc Liêu (8.597 ha),
Sóc Trăng (3.600 ha), Vĩnh Long (3.024 ha), Hà Tây (2.232 ha), Tiền Giang (2.065 ha),
Tây Ninh (1675 ha), Thành phố Hồ Chí Minh (1.599 ha), Hải Dương (1.118 ha), Bắc Ninh
(997 ha), Vĩnh Phúc (820 ha), Hà Nội (647 ha), Hải Phòng (637 ha), Hưng Yên (627 ha),
Nam Định (550 ha), ... Điều đáng lo ngại là diện tích đất trồng lúa bị giảm chủ yếu ở châu
thổ sông Hồng và sông Cửu Long, ở Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Trị) chỉ
bị giảm có 800 ha. Chỉ tính riêng khu công nghiệp Bình Minh ở Vĩnh Long đã làm xóa sổ
130 ha đất trồng bưởi Năm Roi vốn có giá trị kinh tế rất cao.

Tốc độ phát triển công nghiệp đã dẫn đến tại một số địa phương đất nông nghiệp bị
xóa sổ hoàn toàn. Chẳng hạn xã Quang Minh, Mê Linh, Vĩnh Phúc, chỉ sau 2 năm kể từ khi
khu công nghiệp hình thành (từ năm 2002 đến 2004) toàn xã có 600 ha đất thu hồi. Hiện
tại, trên địa bàn xã có tới 300 doanh nghiệp hoạt động, hơn 200 ha đất còn lại cũng đã
thuộc quy hoạch khu công nghiệp 2. Từ khi đường cao tốc Láng - Hòa Lạc khánh thành
giai đoạn I (năm 2001), An Khánh - nơi chỉ cách trung tâm Hà Nội 15km, trở thành "điểm
ngắm" lý tưởng của các doanh nghiệp. Năm 2007, khi dự án xây dựng hai khu đô thị Nam -
Bắc An Khánh khởi công, thì gần 100% đất nông nghiệp ở đây bị thu hồi. Người dân
quanh năm bộn bề với việc đồng áng. Bây giờ, trên cánh đồng ấy chỉ còn màu vàng quạch
của những thớ đất bị cày xới; những khu biệt thự, nhà chung cư cao ngất mọc lên, thay
đồng lúa bát ngát. Những đồng ruộng, vườn cây, ao cá nay trở thành công trường ngổn
ngang gạch, đá. Thành phố Hà Nội bình quân một năm giải phóng mặt bằng gần 1.000 ha,
với khoảng trên 300 dự án/năm, trong đó 80% là đất nông nghiệp. Theo dự án quy hoạch
sử dụng đất của Hà Nội, diện tích đất nông nghiệp giảm từ 41.976 ha (năm 2000) xuống
còn 28.718 ha vào năm 2010.
Tạ i cuộc Hội thảo Nông dân bị thu hồi đấ t - thực trạng và giải pháp do Bộ
NN&PTNT chủ trì hồ i tháng 7 -2007 cho biế t, 50% số đất nông nghiệp bị thu hồi trong thời
gian qua nằ m trong những vùng kinh tế trọng điể m. Trong đó, 80% diện tích đất này thuộc
loạ i “bờ xôi, ruộng mật” cho 2 vụ lúa/năm với cơ sở hạ tầng, thủy lợi rấ t tốt. Như vậy, Việt
Nam đã mất khoảng 500.000 tấn lúa mỗi vụ . Nhiều cánh đồng lúa “bờ xôi, ruộng mậ t”,
mênh mông, bát ngát, trên dọc Quốc lộ 5 từ Gia Lâm, Hà Nộ i - Hải Dương - Hải Phòng,
rồi Quốc lộ 1 từ Hà Nội qua Hà Nam vào Ninh Bình, từ Hà Nộ i qua Quốc lộ 2 lên Mê
Linh, Vĩnh Phúc… đã biến mất, thay vào đó là các khu công nghiệp mọ c lên “như nấ m”.
Nh ững cánh đồng giao thông thuận tiện đã hoặc sẽ vào quy hoạch, chỉ còn những khu
ruộng nằm sâu bên trong, xa trục giao thông hoặc đường quốc lộ hay những vùng nông
thôn thuần túy, thì mới chưa được nằm trong quy hoạch thu hồi. “Trong đó những con số
về tình trạng mất đất của người nông dân theo kết quả điều tra của Viện Chính sách và
Chiến lược Phát triển nông nghiệp & nông thôn trên 12 tỉnh với 2.324 hộ thì có 13% hộ bị
mất đất, tỉ lệ đất bị thu hồi chiếm 44,2%, đất bán chỉ chiếm 8,9%, đất trao đổi là 10%”62.

Điều đáng bàn, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồ i không phả i lúc nào cũng được sử
dụng hiệu quả. Có rất nhiều diện tích đất ở trong tình trạng thu rồi lại để hoang. Trong khi,
n gười nông dân không có đấ t để sản xuất nông nghiệp, thì đất thu hồ i do doanh nghiệp, chủ

62
Hội thảo: Người dân nông thôn trong quá trình CNH do Viện Chính sách và Chiến lược PTNN NT, Tạp chí Tia
S áng và Báo Nông thôn ngày nay phối hợp tổ chức, Ngày 27/6/2009 tại Hà Nội, Tia Sáng.
đầu tư chưa đủ năng lực để san lấp mặt bằng, xây dựng hạ tầng cơ s ở lại để hoang. Ngặ t
mộ t nỗi, những dự án dang dở, bỏ hoang lại thường dựng rào bao xung quanh, rồ i đổ mấy
xe đất như kiểu xí phần, giữ chỗ . Thành thử, người nông dân chỉ còn biế t đứng nhìn ruộng
đất bỏ h oang, thậm chí có nơi bỏ hoang đến gần chục năm rồi.
Tình trạng này không riêng một tỉnh nào, nó tồn tại ở khắp nơi trong cả nước, đặc biệ t
những tỉnh “ưu ái” ồ ạt cho các doanh nghiệp vào đầu tư mà không cân nhắc, xem xét kỹ.
Ngay trên địa bàn thành phố Hà Nộ i, cũng có không ít dự án dang dở, bỏ không ra bỏ, xây
dựng cũng chẳng thành xây dựng. Trong khi những thửa ruộng màu mỡ nhất thường được
bà con gọi là "bờ xôi ruộng mật" bị lấy đi để xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất,
sân golf hoặc xây các khu nhà nhằm mục đích kinh doanh. Điều đáng tiếc là nhiều khu
công nghiệp mặc dù được cấp giấy phép từ lâu, nhưng ruộng đất vẫn bị bỏ không một cách
vô cùng lãng phí. Theo thống kê của Bộ KH & ĐT, tính đến tháng 6/2008, cả nước có 158
khu công nghiệp, khu chế xuất với tổng diện tích đất tự nhiên là 82.120 ha, được phân bố
trên 49 địa phương. Tuy nhiên, mới chỉ có 90 khu công nghiệp đi vào hoạt động với tổng
diện tích đất tự nhiên là 29.790 ha, 68 khu công nghiệp đang trong giai đoạn đền bù giải
phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản. Nhiều khu công nghiệp có tỷ lệ lấp đầy rất thấp.
Chẳng hạn, khu công nghiệp Tân Hương (Tiền Giang) rộng 197 ha, từ năm 2004 đến nay
mới cho thuê được 1ha; khu công nghiệp Nam Đông Hà (Quảng Trị) rộng 99 ha, từ năm
2004 đến nay mới cho thuê được 3 ha; khu công nghiệp Ninh Phúc (Ninh Bình) rộng 334
ha, từ năm 2003 đến nay mới cho thuê được 48 ha, khu công nghiệp Bình Minh (Vĩnh
Long) quy hoạch 130 ha trên đất nông nghiệp, nhưng cho đến nay vẫn chưa rõ hình hài ra
sao; khu công nghiệp Nam sông Cần Thơ đã có 2.000 ha đất nông nghiệp bị quy hoạch,
nhưng vẫn đang bỏ hoang nhiều năm; khu công nghiệp Phố Nối B (Hưng Yên) được cấp
giấy phép từ năm 2003, nhưng mới cho thuê được 37,31% /95 ha diện tích; khu công
nghiệp Hà Nội – Đại Từ được cấp giấy phép từ năm 1995, mới cho thuê được 18,75%/40
ha diện tích...
Mặt khác, việc dùng đất nông nghiệp để xây dựng rất nhiều sân golf cho mục đích
giải trí của một thiểu số ng ười thật đ áng báo đ ộng. Theo chất vấn trước Quốc hội của
Bộ KH&ĐT, vào đ ầu tháng 6-2008, cả nước đã có 141 sân golf ở 39 tỉnh, sử dụng tới
4 9.268 ha đất đai - trong đó có 2.625 ha đất trồng lúa. Nếu như trong suốt 16 n ăm chỉ
c ấp phép cho 34 dự án sân golf, thì ch ưa đầy 2 năm (7-2006 - 5-2008) các đ ịa ph ương
sau khi được phân cấp đã c ấp phép cho 104 dự án, nghĩa là cứ bình quân sau mỗi tuần
lại xuất hiện thêm 1 sân golf.

Trong khi đất khu công nghiệp bị bỏ hoang hoá hoặc làm sân golf, thì người nông dân
lại trở thành “tha nhân”. Tất cả những cái đó đã gây tâm lý ức chế, bất bình trong nông
dân, cơ sở nảy sinh vấn đề chính trị, khi có sự tác động khách quan hoặc chủ quan. Rõ ràng
do chủ trương, chính sách của Chính phủ, việc làm cụ thể ở địa phương làm nảy sinh
những vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc.

HĐH nông thôn để đưa nước ta “vư ợt ngưỡng” chậm phát triển, nâng cao đời sống
của người nông dân là điều cần thiết mà toàn Đảng, toàn dân phải làm. Tuy nhiên, CNH
nông nghiệp nếu không có những bước đi phù hợp sẽ tạo ra những mặ t trái với mức độ
n ghiêm trọng. “Để chiều lòng các nhà đầu tư, thay vì dành những nơi đất bạc màu, không
thuận cho canh tác để quy hoạch các khu công nghiệp, nhằm tránh phải đi xa hơn một chút,
người ta chào mời ngay những thửa ruộng trồng lúa bên vệ đường. Tốt quá còn gì, đỡ phải
chi phí cho đầu tư hạ tầng cơ sở. Thế nhưng, đừng quên rằng, cứ ưu đãi nhà đầu tư kiểu ấy
thành ra bạc đãi người nông dân”. Được đền bù, một khoản tiền mà xưa nay, người nông
dân, từ đời ông, đời cha của họ chưa bao giờ mơ thấy. Nhưng không phải ai cũng biết cách
làm cho đống tiền đó sinh sôi, nảy nở khi mà bao đời nay, họ chỉ biết kiếm sống từ đất.
Thế là, đối với không ít người, đống tiền “đền bù” đã cạn dần vào những chi phí tiêu dùng
không hợp lý, đất thì đã mất, không ít gia đình nông dân điêu đứng, thất cơ lỡ vận. Lại nữa,
ở nhiều nơi, nhất là ở đồng bằng sông Hồng, do chi phí sản xuất quá cao, nông dân phải bỏ
ruộng như ở Nam Định, Thái bình…. Trồng lúa không kiếm sống được, người ta buộc phải
cầm cố hoặc bán đứt mảnh ruộng vốn là khát vọng bao đời của họ để “ra tỉnh” tìm việc
làm. Ruộng đất bị mất dần, mà việc làm mới thì quá khó kiếm. Đấy là chưa nói đến chuyện
đất nông nghiệp tham gia thị trường đầu cơ thiếu biện pháp bảo vệ. Những người thiếu
việc làm ở nông thôn sẽ đến kiếm việc làm ở đô thị nảy sinh ra sự dịch chuyển cái nghèo từ
nông thôn ra đô thị.

2 .2.1.2. Việ c làm và lao động di cư từ nông thôn Việt Nam
1 /Th ực trạng về việc làm của nông dân. Tính bình quân cứ 1 ha đất bị thu hồi sẽ làm
cho 13 lao động nông nghiệp bị mất việc; riêng vùng đồng bằng sông Hồng là 15 người.
Trong 5 năm (2001-2005), s ố người bị mất việc do bị thu hồi đất phục vụ cho các nhu cầu
phi nông nghiệp ở Hà Nội là gần 800.000 người; Hải Phòng: 13.274 người; Hà Nam:
12.360 người; Hải Dương: 11.964 người; Bắc Ninh: 2.222 người; Tiền Giang: 1.459
người; Quảng Ninh: 997 người v.v... Theo tính toán của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Hà Nội, giai đoạn từ 2006-2010, tổng diện tích đất nông nghiệp sẽ bị thu hồi để xây dựng
các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, nhu cầu công
cộng sẽ là 192.212 ha và theo đó sẽ ảnh hưởng tới đời sống của 627.495 hộ gia đình,
khoảng 950.000 lao động và 2.498.756 lao động nông thôn mất việc.

Trên thực tế, diện tích đất nông nghiệp chỉ còn hơn 9 triệu ha, chiếm khoảng 28%
diện tích của cả nước, lực lượng lao động ở khu vực nông thôn hiện có khoảng 33.971.000
và sau mỗi năm lại tăng thêm khoảng 450.000 lao động. Vì vậy, những hộ gia đ ình nông
thôn đã bị thu hồi đất có rất ít cơ hội được cấp lại đất để tiếp tục sinh sống bằng nghề cũ.
Do đó, hàng triệu người, chủ yếu là nông dân lâm vào cảnh thất nghiệp hoặc thiếu việc
làm, thu nhập giảm hoặc không có thu nhập.
Điều đáng chú ý là trong số những người bị mất việc, nhóm người bị ảnh hưởng nhiều
nhất ở độ tuổi từ 35 trở lên (chiếm khoảng 50%) - nhóm người này thường có trách nhiệm
tạo thu nhập chính cho gia đình, ở độ tuổi của họ vấn đề học và chuyển đổi nghề mới
không dễ dàng. Theo thống kê, trung bình mỗi ha đất nông nghiệp thu hồi sẽ ảnh hưởng tới
việc làm của trên 10 lao động nông nghiệp. Trong 5 năm qua, việc thu hồi đất nông nghiệp
đã ảnh hưởng tới đời sống của 2,5 triệu nông dân. Tại Bắc Ninh, từ năm 2001 - 2005, các
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh mới thu hút được 60.000 lao động, trong đó, số
lao động tại các địa phương có đất bị thu hồi được tuyển dụng là 3.200 người. Tại Vĩnh
Phúc, để có đất mở khu công nghiệp dịch vụ và đô thị Quang Minh, 2/3 diện tích đất canh
tác nông nghiệp của trên 3,5 ngàn hộ dân thuộc xã này đã bị thu hồi. Thế nhưng, theo điều
tra của Sở LĐ, TB &XH tỉnh Vĩnh Phúc về thực trạng lao động việc làm và đào tạo nghề
của xã Quang Minh cho thấy, trong số 203 dự án đầu tư vào khu công nghiệp Quang Minh,
chỉ có 87 dự án đang sử dụng 11,7 ngàn lao động, nhưng chỉ có 1.000 lao động là người
địa phương.
2/Tình hình lao động di cư của nông dân mất đất từ nông thôn Việt Nam và nguyên
nhân.

a) Tình hình: thực tế, một bộ phận rất lớn nông dân mất đất phải tự tìm việc làm giản
đơn một cách tự phát không ổn định với rất nhiều nghề để kiếm sống, trong đó phổ biến là
di cư lên thành phố, các khu công nghiệp, các đô thị để làm thuê bằng các loại dịch vụ với
tiền công rẻ ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng. Theo khảo sát của
IPSARD năm 2006 ở 8 xã thuộc Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông
Cửu Long cho thấy nhiều thôn gần như không còn lao động dưới 40 tuổi. Hầu hết lao động
di cư là những người trẻ, từ 15-25 tuổi. Đa số lao động di cư từ nông thôn chỉ học hết cấp 2
hoặc cấp 3, vì thế thường chỉ làm lao động giản đơn với mức lương thấp. Ở các địa bàn
trọng điển như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, khu kinh tế Tây Bắc, Tây Nguyên, khu
công nghiệp Đông Nam Bộ cho thấy nữ giới tham gia đông nhất cả 2 luồng di cư từ nông
thôn ra thành thị (21%), từ nông thôn đến nông thôn (16%). Nhóm tuổi di c ư tìm được việc
làm nhiều nhất là người có độ tuổi từ 18 đến 25 và chủ yếu là người chứa kết hôn.
b) Nguyên nhân: tình trạng lao động và việc làm ở nông thôn do các nguyên nhân cơ
bản là: kế hoạch phát triển khu công nghiệp không gắn với kế hoạch đào tạo nghề. Hầu hết
nông dân đều bị động khi phải chuyển đổi mục đích đất sản xuất. Ở một số trung tâm đào
tạo nghề cơ sở vật chất và nguồn nhân lực còn yếu, kinh phí phục vụ dạy nghề và hỗ trợ
việc làm cho nông dân thiếu, có nơi hầu như chưa có đội ngũ giáo viên đạt tiêu chuẩn, tài
liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập vẫn còn thiếu, đào tạo nghề cho người lao
động diễn ra không có bài bản. Số lao động mất đất, không có nghề cần đào tạo thì nhiều
song thực tế đào tạo không được bao nhiêu. Cụ thể, tỷ lệ lao động mất đất được doanh
nghiệp (nhận đất) đào tạo ở Hà Nội là 0,01%, Hà Tây: 0,02%; Hải Phòng: 0%; Bắc Ninh:
0%.; Đà Nẵng 0%, Thành phố Hồ Chí Minh 0%; Cần Thơ 0%. Trong khi đó, lao động do
Nhà nước đào tạo nghề cho nông dân vùng mất đất cũng không đáng kể: Hà Nội: 0,01%;
Hải Phòng: 0%; Bắc Ninh: 1,2%; Hà Tây: 0%; Đà Nẵng 0%; Cần Thơ 0%; thành phố Hồ
Chí Minh 0% . Tỷ lệ lao động do gia đình tự đào tạo có cao hơn nhưng cũng còn xa so với
yêu cầu tạo việc làm mới phi nông nghiệp: Hà Nội: 0,19%, Hải Phòng: 0,01%; Bắc Ninh:
0,3% và Hà Tây: 0,09%, Đà Nẵng 0.07%, thành phố Hồ Chí Minh 0,13%, Cần Thơ 0.41%.
Thiếu chiến lược và kế hoạch rõ ràng chỉ biết đào tạo không dựa trên nhu cầu thị trường
sức lao động. Trình độ lao động không đáp ứng được yêu cầu về tay nghề, thời gian đào
tạo ngắn, năng lực lao động không cao nên một bộ phận lao động sau một thời gian được
nhận vào khu công nghiệp, doanh nghiệp công nghiệp lại xin thôi việc, rơi vào tình trạng
thất nghiệp toàn phần hoặc từng phần. Phần lớn lao động không đáp ứng yêu cầu về tay
nghề, chỉ có 27,23% lao động bị thu hồi đất tốt nghiệp trung học phổ thông và 14% lao
động được đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp hoặc học nghề trở lên. Công tác đào tạo
nghề của doanh nghiệp nhận đất không được quan tâm đúng mức. Công tác giải quyết việc
làm cho lực lượng lao động thất nghiệp thuộc khu vực nông nghiệp và nông thôn chưa
được các cấp, các ngành chức năng quan tâm đúng mức. Nhận thức của người lao động
còn ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của Nhà n ước, vào tiền đền bù mà ch ưa tự mình tìm kiếm
việc làm. Sự quản lý nhà nước về chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân mất đất còn nhiều
vấn đề bất cập…

2.2.2. Phân hóa giàu – nghèo bất bình đẳng xã hội gia tăng
2 .2.2.1. Tình hình: hơn hai mươi năm đổi mới (1986- 2009), nhờ những đột phá quan
trọng về lý luận kinh tế, trong đó có lý luận về phân phối thu nhập, công cuộc đổi mới ở
Việt Nam đã đạt được “nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử” 63. Việt Nam là nước
đã từng chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng bình quân trong văn hoá truyền thống
"không sợ ít chỉ sợ chia không đều" và tồn tại lâu dài một xã hội có trình độ bình quân hoá
rất cao. Vì vậy, đổi mới trong lĩnh vực kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã rất coi trọng đổi
mới trong lĩnh vực phân phối thu nhập, coi đây là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế,
thậm chí là một đại lượng biến đổi quan trọng quyết định kinh tế tăng trưởng bền vững.
Trong thực tiễn, Việt Nam đã triển khai một loạt chính sách khác nhằm thu hẹp phân
hoá giàu nghèo giữa các vùng như: Chương trình phát triển kinh tế, xã hội các xã đặc biệt
khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ Việt Nam và được triển khai từ năm 1998); Chương trình 134; Chương
trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo64; Đề án “Chính sách
khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn”65. Kinh tế phát triển, mức


63
, Đảng cộng sản Việt Nam: văn kiên đ ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ x, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2006, tr.67.
64
http://vi.wikipedia.org/
65
http://www.vietnamplus.vn/
thu nhập và tiêu dùng của người dân được cải thiện và nâng cao rõ rệt. Nhờ vào tăng
trưởng kinh tế, tỷ lệ hộ nghèo tại nông thôn Việt Nam giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống
19,5% năm 2004, theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã về đích trước 10 năm so
với mục tiêu xoá đói nghèo trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ66. Căn cứ theo Living
S tandards Measurement Survey, nếu dùng tiêu chuẩn lương thực của Việt Nam (2.100
calorie mỗi người một ngày), thì tỷ lệ hộ nghèo đói là 9% năm 2008, phần lớn tập trung
vào các vùng cao thôn quê và miền núi. Các thành quả phát triển kinh tế, nhất là xoá đói
giảm nghèo của Việt Nam đã được các nhà quan sát quốc tế, nh ư Giáo sư Joseph Stiglitz,
người đoạt giải Nobel kinh tế học năm 2001 công khai khen ngợi.

Tuy nhiên, hơn 20 năm qua do tình hình rất phức tạp xuất hiện trong quá trình chuyển
đổi thể chế kinh tế từ kế hoạch, tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường, những thay đổi về
phân phối thu nhập cũng trở nên phức tạp rất nhiều so với trước đây. Hình thức thu nhập tài
sản ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng, đáng chú ý nhất là tiền cho thuê nhà, sau đó là tiền lãi
suất cho vay, tiền hoa hồng… Về chênh lệch thu nhập (economic inequality) và bất bình
đẳng kinh tế (economic inequity) giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa các
ngành, giữa công nhân viên chức thuộc các chế độ sở hữu khác nhau, giữa các ngành nghề
khác nhau ngày càng mở rộng hơn rất nhiều so với trước đây. Điều tra mức sống dân cư năm
2002 cho thấy “thu nhập bình quân một nhân khẩu /tháng giữa thành thị và nông thôn chêch
lệch 2,3 lần, năm 2004 là 2,2 lần, năm 2006 là 2,1 lần”67.

Biểu đồ 2.5: bất bình đẳng thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất
trong thực hiện CNH nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam




66
Theo số liệu đ iều tra mức sống dân cư do Tổng cục Thống kê thực hiện.
67
Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp thôn: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam, Nxb
chính trị Quốc gia, Hà nội, 2008, tr.178.
16
14 13.7
9.8
12 11.3
8
10 7.7
6.9 8.9
8 7.7
7.3
7
6.5
6
6.1 6.3
4 5.8
5.4
2
0
1994 1995 1996 1999 2008

Cả nước Thành thị Nông thôn


Nguồn: Niên giám Thống kê Việt Nam, Hà Nội 2009.
Quá trình phân hoá giàu nghèo trong xã hội Việt Nam đã và đang diễn ra với tốc độ
nhanh. Dân số ở nông thôn chiếm gần 70% dân số cả nước, nhưng thu nhập chỉ bằng một
nửa tổng thu nhập quốc dân của 20% dân số sống ở thành thị, thu nhập thấp làm cho một bộ
phận nông dân không đủ tiền chi trả những dịch vụ y tế, giáo dục, không có điều kiện nâng
cao trình độ nhận thức về chính trị, xã hội, về đời sống văn hoá tinh thần. Trong nông thôn,
khoảng cách giữa người giàu và nghèo tiếp tục doãng ra, “năm 2002 là 6 lần, năm 2004 là
6,4 lần và năm 2006 là 6,5 lần”68. Chênh lệch thu nhập và bất bình đẳng kinh tế về tài sản
của cư dân, nhất là cư dân thành phố tăng lên rất nhanh và phân bố không đồng đểu, đang
trở thành một vấn đề thu hút sự chú ý của xã hội.

Biểu đồ 2.5 cho biết mức độ chênh lệch và bất bình đẳng thu nhập chung của cả nước là
6,5 lần năm 1994 lên 8,9 lần (1999), 13,7 lần năm 2008. Mức độ chênh lệch và bất bình đẳng
thu nhập giữa dân cư thành thị tăng từ 6,9 lần năm 1994 lên 9,8 lần (1999), 11,3 lần năm
2008. Nếu như nă m 1994, mức độ bất bình đẳng thu nhập trong khu vực nông thôn giữa
nhóm dân cư có thu nhập cao nhất và nhóm dân cư có thu nhập thấp nhất là 5,4 lần thì đến
năm 2008 là 7,7 lần.

Bất bình đẳng giữa các vùng trong quá trình thực hiện CNH, HĐH cũng ngày càng
gia tăng. Tỷ lệ hộ nghèo ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, đồng bằng Sông
Cửu Long gấp 5,86 lần so với mức chung bình cả nước.

68
Sđd: tr.178.
Bất bình đẳng thu nhập giữa các vùng có thể được đo bằng tốc độ tăng chi tiêu dùng
thực tế giữa các vùng. Nếu vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng tăng chi tiêu
dùng mức 133% và 117% giai đoạn 1993 đến 2007 thì tốc độ này ở vùng Tây Bắc, đồng
bằng sông Cửu Long và Nam Trung Bộ thấp hơn nhiều, chỉ là 52%, 63% và 67%.
Sau khi gia nhập WTO, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hơn.
Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế cao tất yếu làm thay đổi nhiều về mặt xã hội, trong đó có thể
làm gia tăng bất bình đẳng xã hội bởi sự chênh lệch trong đầu tư FDI giữa các vùng, bởi cơ
hội việc làm và thu nhập là khác nhau giữa các vùng và các nhóm xã hội, sự khác biệt về
vốn xã hội, vốn vật chất, vốn tài nguyên, vốn con người. Các nhóm nông dân thiếu đất hay
bị mất đất canh tác, bị tổn thương bởi thiên tai, dịch bệnh hay các rủi ro cá nhân, đồng bào
tộc người thiểu số các vùng sâu, vùng xa, người di cư tự do vào các đô thị, người nghèo và
cận nghèo là nhóm những người dễ rơi xuống đáy xã hội. Đây là hệ quả không tích cực nảy
sinh do thực hiện CNH, HĐH.

Sự phân hoá giàu nghèo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường là điều không thể
tránh khỏi. Sự phân hoá này có ý nghĩa tích cực nhất định đối với sự phát triển kinh tế. Bởi
vì, nó kích thích các cá nhân ph ải phát huy tính chủ động, sáng tạo, làm việc chăm chỉ, cần
mẫn và tìm cách vươn lên nhằm tăng thu nhập, nâng cao mức sống của mình để tránh rơi vào
tình trạng nghèo khó. Do vậy, trên một ý nghĩa nhất định, sự phân hoá giàu nghèo hợp lý là
một biểu hiện của công bằng xã hội được thiết lập, là một động lực thúc đẩy xã hội phát
triển. Nó kích thích người lao động tự nâng cao địa vị xã hội, mức sống… bằng chính năng
lực của bản thân họ. Điều này khác hẳn với sự cào bằng thu nhập trong thời kỳ bao cấp dẫn
đến triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, vì kẻ lười nhác và người chăm chỉ, kẻ bất tài và
người có năng lực đều được hưởng kết quả gần như ngang nhau. Tuy nhiên, sự phân hoá
giàu nghèo quá lớn giữa các dân cư Việt Nam đang tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến những phân hoá
xã hội sâu sắc hơn về lối sống và vị thế xã hội, về đẳng cấp và giai tầng, gia tăng các mâu
thuẫn xã hội, làm xói mòn và suy giảm quan hệ gắn kết cộng đồng làng xã vốn rất bền vững;
tiềm ẩn nguy cơ làm nảy sinh vấn đề chính trị - xã hội.

2 .2.2.1. Nguyên nhân: những tồn tại nêu trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nh ững
nguyên nhân chủ yếu như:
1. Thể chế chưa hoàn thiện, quan điểm chưa rõ ràng và minh bạch về các yếu tố sản
xuất tham gia vào phân phối thu nhập nên ch ưa khuyến khích mọi nguồn lực vào phát triển
kinh tế - xã hội;

2. Chưa phân biệt rõ khái niệm chênh lệch kinh tế và bất bình đẳng kinh tế trong kinh
tế thị trường định hướng XHCN, nên chính sách, biện pháp khắc phục, điều tiết còn chung
chung, chưa rõ ràng, cụ thể, nhất là chưa có những biện pháp cứng rắn đối với tình hình bất
bình đẳng kinh tế;
3. Trong phân phối thu nhập còn tồn tại hiện tượng bất hợp lý, bất chính, không hợp
pháp… Tất cả những điều đó đã làm cho chênh lệch thu nhập và bất bình đẳng kinh tế
ngày càng mở rộng, gây nên những bất bình trong xã hội. Điều này cho thấy, vấn đề chênh
lệch và bất bình đẳng kinh tế trong phân phối thu nhập nếu không được giải quyết tốt sẽ là
một trong những nhân tố gây mất ổn định chính trị - xã hội, ảnh hưởng đến tiến trình đổi
mới.

2 .2.3. Môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoát nghiêm trọng

CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn không bền vững gây ô nhiễm và suy thoát môi
trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư
nông thôn. Những năm qua, hoạt động của nhiều doanh nghiệp trong các khu công nghiệp,
các làng nghề, khu đô thị đ ã gây ô nhiễm môi trường rất lớn. Hiện nay, tình trạng ô nhiễm
môi trường đang diễn biến hết sức phức tạp, thậm chí có nơi đã tạo nên cả làng ung thư.
Tốc độ CNH và đô thị hoá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề trong
vùng lãnh thổ. Môi trường ở nhiều đô thị, khu công nghiệ p và làng nghề n gày càng bị ô
nhiễm b ởi nước thải, khí thải và chấ t thải rắn.

2 .2.3.1. Mức độ ô nhiễm nước ở c ác khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp
tập trung là rấ t lớn. Tại cụm công n ghiệp Tham Lương, thành phố Hồ Chí Minh, nguồn
nước bị nhiễm bẩn bởi lượng nước thải ước tính 500.000 m3/ngày từ các nhà máy giấy,
bột giặt, nhuộm, d ệt. Ở thành phố Thái Nguyên, công nghiệp thả i nước bẩn từ các cơ s ở
sản xuất giấy, luyện gang thép, luyện kim màu, khai thác than rất lớn. Về mùa cạn, tổng
lượng nước bẩn thải ở khu vực thành phố Thái Nguyên chiế m khoảng 15% lưu lượng sông
Cầu. Nước thả i từ sản xuấ t giấy có PH từ 8,4-9 và hàm lượng NH4 là 4mg/1, hàm lượng
chất hữu cơ cao, nước thải có màu nâu, mùi khó chịu…


Hộp 2.1: Sông Hương đổi màu


S au cơn lũ nhỏ đ ầu mùa (hôm 19-8), nướ c sông Hương b ắt đầu bị đục. Tưở ng như mọi năm
nướ c sẽ trong trở lại sau vài ngày lũ rút, nhưng từ đó đến nay nước sông vẫn cứ đỏ quạch.
TS Hồ Ngọc Phú, nguyên trưởng ban quản lý dự án sông Hương, cho biết mọi năm nướ c
sông chỉ đ ục khi có lũ báo đ ộng 2 trở lên, và chỉ có màu vàng do đất cát trên b ề mặt gò đồi
b ị rửa trôi; còn lần này là màu đỏ với những hạt đ ất đỏ bazan r ất mịn nằm lơ lửng trong
nướ c tạo thành thứ dung dịch huyền phù, không lắng đượ c ngay cả khi dòng chảy chậm.
Kết quả khảo sát của Sở Khoa học - Công nghệ môi trường Thừa Thiên - Huế (hôm 6-10)
đ ã cho thấy rõ hơn sự b ất thường đó. Tại vị trí Đập Đá ở trung tâm thành phố, đ ộ đục trên
lớp nước mặt đo được là 81 NTU (đơn vị quốc tế đo đ ộ đ ục của nướ c, chỉ số của nước bình
thường khoảng 20 - 40 NTU), trong khi nước bên nhánh sông Như ý cạnh đó chỉ 19 NTU.
Khi chiếc thuyền đi đ ến ngã ba Tuần, tất cả thành viên đoàn khảo sát đ ều ồ lên trước hình
ảnh tương phản: một bên là dòng nướ c trong xanh của dòng Tả Trạch, một bên là dòng nướ c
đ ỏ ngầu đ ổ ra từ dòng Hữu Trạch. Khúc sông Hương ở ngã ba (do hai nhánh Tả Trạch và
Hữu Trạch hợp thành) chia thành hai phần xanh - đỏ rất rõ nét. Ở trướ c lăng Minh Mạng đ ộ
đ ục của tầng nướ c mặt là 240 NTU, nhưng đến chân cầu Bình Thành đã lên đến 704 NTU.
Rõ ràng đang có sự tác động môi trườ ng rất lớ n ở p hía thượng nguồn Hữu Trạch.
N ếu như ngườ i dân cố đố ngậm ngùi vì sông Hương, con sông tâm hồn của ngươi Huế, đ ã
đ ổi màu thì liền đó là những âu lo về nguồn nướ c sinh hoạt. Theo phòng hóa nghiệm của
Công ty Cấp thoát nước Huế, chi phí đ ể sản xuất nước sinh hoạt phải tăng lên do phải thêm
hóa chất lọc cũng như chu k ỳ súc lọc bể chứa phải gia tăng. Anh Võ Đại Thu, sống bên sông
Hữu Trạch (thuộc xã Hương Thọ, Hương Trà), cho biết xưa nay người dân ở đây quen uống
nướ c sông nên cả tháng nay phải khổ cực vì không có nước; áo quần giặt xong là như
nhuộm màu vàng. Vào những hôm có mưa lớn đầu nguồn, dòng nước đ ỏ đó kéo dài ra tận
cửa sông, nhuộm đỏ mặt phá Tam Giang. TS Võ Văn Phú, chủ nhiệm bộ môn tài nguyên và
môi trường (khoa sinh học ĐH Khoa học Huế), cho biết chất huyền phù đó ắt sẽ gây ô
nhiễm môi trườ ng và tổn h ại đến nguồn tài nguyên sinh vật trong đ ầm phá.




Nguồn: Tuổi trẻ - Minh Tự baovietnam.vn


Khảo sát một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộ m ở Bắc Ninh
cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ngày không qua x ử lý, gây ô nhiễm môi trường
trong khu vực nghiêm trọ ng.
Tình trạng ô nhiễm rõ nhất ở Hà Nội và Hồ Chí Minh. Ở các tỉnh này, nước thả i sinh
hoạt không có hệ thống xử lý tập trung, mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận. Mặ t khác, còn
rất nhiều cơ sở sản xuấ t không xử lý, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ
thống xử lý; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết được… là
những nguồn chính gây ra ô nhiễm. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở
các thành phố lớn rất nặng. Ở thành phố Hà Nội, tổng lượng nước thả i của thành phố lên
tới 300.000 - 400.000 m3/ngày. Hiệ n mới ch ỉ có 5/31 bệnh viện ở Hà Nội có hệ thống x ử lý
nước thải, chiế m 25% lượng nước thải bệnh viện; 36/400 cơ s ở sản xuất có xử lý nước thải;
lượng rác thả i sinh hoại chưa được thu gom khoảng 1.200m3/ngày đang xả vào các khu đấ t
ven các hồ, kênh, mương trong nội thành; chỉ số BOD, oxy hoà tan, các chấ t NH4, NO2,
NO3 ở các sông, hồ , mương nội thành đều vượt quá quy đ ịnh cho phép. Ở thành phố Hồ
Chí Minh, thì lượng rác thải lên tới gần 4.000 tấn/ngày; chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có
xử lý nước thải; khoảng 3.000 cơ sở sản xuấ t gây ô nhiễm thuộc diện phải di dời.
Không ch ỉ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, mà ở khu công nghiệp, đô th ị khác như
Hả i Phò ng, Huế, Đà Nẵng, Nam Định, Hả i Dương… nư ớc thải cũng không được xử lý, độ
ô nhiễ m nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép (TCCP),
các thông số chấ t lơ lửng (SS), BOD; COD; Ô xy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậ m
chí 20 lần TCCP.
Theo báo cáo của Bộ KH & ĐT, đến cuối năm 2007, trong số 158 khu công nghiệp
hiện đang hoạt động, chỉ có 33 khu công nghiệp đã xây dựng xong công trình xử lý nước
thải tập trung, 10 khu công nghiệp đang xây d ựng, các khu công nghiệp còn lại và các làng
nghề chưa có công trình xử lý nước thải. Bình quân một ngày đêm các khu công nghiệp,
làng nghề thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và các chất thải độc hại khác.
“Tình trạng ô nhiễm môi trường xảy ra nghiêm trọng hơn ở nhiều địa phương trong cả
nước, nhất là thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Ðồng Nai... ảnh hưởng đến đời sống của
nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước. Ðặc biệt, nhân dân bức xúc, bất bình
trước tình trạng nhiều nhà máy, xí nghiệp nh ư Công ty Vedan ở tỉnh Ðồng Nai, Công ty
Miwon ở tỉnh Phú Thọ, Công ty cổ phần thuộc da Hào Dương ở hành phố Hồ Chí Minh,
Công ty khai thác vàng Bồng Miêu ở tỉnh Quảng Nam... xả chất thải chưa qua xử lý, gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng.”69.
2 .2.3.2. Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xu ất nông nghiệp,
h iện nay Việt Nam có gần 70% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi hạ tầng cơ sở còn


69
HUỲNH ÐẢM, Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam: Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cửchi và nhan dân
tại kỳ họp thứ tư QH khóa XII, ngày 16 -10-2008.
lạc hậu, phần lớn các chấ t thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấ m xuống
đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm về mặ t hữu cơ và vi sinh vật ngày càng
cao. Theo báo cáo của Bộ NN & PTNT, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ
1 .500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới 3.800 -
12.500MNP/100ML ở các kênh tưới tiêu. Trong sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các
loạ i thuốc bảo vệ thực vậ t, các nguồn nước ở sông, hồ , kênh, mương bị ô nhiễ m, ảnh
hưởng lớn đến môi trường và sức khoẻ n hân dân. “Tại đồng bằng sông Hồng và đồng bằng
sông Cửu Long lượng thuốc BVTV sử dụng tập trung ở mức cao đã gây ô nhiễm nguồn
nước ở các kênh, sông. Khối lượng vỏ bao thuốc BVTV trung bình là 19.637 tấn/năm, chủ
yếu là các loại vỏ bao giấy tráng kẽm, túi ni-lon”70. Vỏ bao thuốc BVTV hầu như không
được thu gom, mà vương vãi trên đồng ruộng, kênh mương là nguồn ô nhiễm khá nghiêm
trọng. Cùng với vấn đề BVTV, tổng khối lượng chất thải chăn nuôi bình quân khoảng hơn
73 triệu tấn/năm (trong đó chất thải của trâu chiếm 21,9%, bò chiếm 32,5%, lợn chiếm
33,4%) cũng là nguồn gây ô nhiễm lớn. Mặt khác, thuốc thú y sử dụng, không theo hướng
dẫn của chuyên môn, bị lạm dụng tạo nên d ư lượng trong sản phẩm chăn nuôi gây hiện
tượng kháng thuốc của nhiều loại mầm bệnh nguy hiểm đối với con người. Trong khi đó,
do không có quy hoạch ban đầu, nhiều xí nghiệp chăn nuôi, lò mổ, xí nghiệp chế biến thực
phẩm nằm lẫn trong khu dân cư, sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún thiếu các giải pháp giảm
thiểu ô nhiễm môi trường. Không chỉ trồng trọt, chăn nuôi mà tình trạng phát triển nuôi
trồng thủy sản tự phát, thiếu quy hoạch, thức ăn thừa không được xử lý, việc sử dụng
kháng sinh tùy tiện cũng dẫn tới ô nhiễm môi trường xảy ra nghiêm trọng ở một số nơi.
Hiện tượng vi phạm các quy định của Nhà n ước trong khai thác thủy sản xảy ra ở nhiều
nơi. Ðáng kể là dùng ánh sáng đèn có cường độ quá lớn, xung điện, chất độc, chất nổ, lưới
cào "tàu bay"... để đánh bắt cá, khai thác vào mùa vụ cấm, không tuân thủ đúng quy định
về mắt lưới và loại nghề cho phép dẫn đến tình trạng nguồn lợi hải sản bị giảm sút, một số
loài hải sản quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Nguy hiểm hơn, hành động tàn phá môi
trường sống và nơi sinh cư tự nhiên của các loài sinh vật biển còn biểu hiện rộng khắp và
chưa có khả năng ngăn chặn. Một số hệ sinh thái biển tiêu biểu, nơi sinh cư của hơn ba


70
http://www.nhandan.com.vn/tinbai: Xuân Kỳ, Xử lý ô nhiễm môi trường, phát triển bền vững nông
nghiệp, nông thôn.
nghìn loài hải sản và chim nước như rạn san hô, cỏ biển, cũng bị phá hủy nghiêm trọng,
vượt quá khả năng phục hồi hoặc sẽ phục hồi chậm.
2 .2.3.3. Ô nhiễm môi trường ở các làng nghề. Theo số liệu gần đây nhất, cả nước có
khoảng 1.450 làng nghề phân bố ở 58 tỉnh, thành phố trong cả nước, riêng vùng đồng bằng
sông Hồng có khoảng 800 làng. Trong đó, làng chế biến nông sản thực phẩm là loại hình
làng nghề có nhu cầu nước rất lớn và lượng nước thải hữu cơ gây ô nhiễm môi trường. Kết
quả khảo sát ở một số làng nghề cho thấy, hầu hết nước thải đều có BOD vượt chỉ tiêu cho
phép từ 12,8 đến 140 lần, COD vượt từ 9,7 đến 87 lần, nước thải có pH thấp. Trong quá
trình sản xuất, chế biến của nhiều doanh nghiệp, khu công nghiệp có sử dụng nhiều nguyên
liệu thủy sản, nước, nhiên liệu, năng lượng, hóa chất tẩy rửa, khử trùng, môi chất lạnh.. dẫn
đến lượng chất thải rắn, nước thải, khí thải sinh ra nhiều, đặc biệt là nước thải hữu cơ gây ô
nhiễm môi trường. Trong các loại chất thải, nước thải trong chế biến thủy sản có hàm
lượng các chất ô nhiễm hữu cơ rất cao, các chỉ tiêu BOD5, tổng Nitơ và Coliform cao hơn
tiêu chuẩn cho phép từ vài lần, đến hàng trăm lần...

Điều này làm cho cộng đồng dân cư nơi có khu công nghiệp, khu đô thị, làng nghề
đang hoạt động và các cộng đồng dân cư lân cận phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm môi
trường. Từ đó, gây bất bình nảy sinh vấn đề chính trị, dẫn đến những phản ứng và đấu
tranh quyết liệt của nông dân. Nhiều nơi, hàng trăm người dân tập trung để phản đối, thậm
chí có hành động quá khích cản trở hoạt động của các nhà máy gây ô n hiễm môi trường,
không cho lập bãi đổ chất thải, rác thải. Có lúc mâu thuẫn này bùng phát gay gắt, trở thành
“điểm nóng” về an ninh, trật tự. Nếu hoạt động gây ô nhiễm môi trường không được ngăn
chặn, khắc phục kịp thời và kiên quyết sẽ tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ thành các xung đột chính
trị gay gắt giữa cộng đồng dân cư ở nông thôn với doanh nghiệp, cản trở sự phát triển kinh tế
- xã hội.

2 .2.3.4. Nguyên nhân: có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến tình
trạng ô nhiễm môi trường, như sự gia tăng dân số , mặt trái của quá trình CNH, HĐH, hạ
tầng c ơ s ở yếu kém, lạc hậu, nhận th ức của doanh nghiệp và người dân về vấn đề môi
trường còn chưa cao…
Đáng chú ý là sự bất cập trong hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường. Phó Chủ tịch
UBND thành phố Hà Nội Hoàng Mạnh Hiển cho rằng: những hạn chế có phần do "sự thiếu
tập trung kiên quyết trong chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện". Thành ủy Hà Nội nhận
định “có thực trạng chính quyền cơ sở một số nơi làm chưa hết trách nhiệm trong khi năng
lực nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ công chức ch ưa đáp ứng yêu
cầu trong công tác thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của thành phố” 71. Nhận thức của
nhiều cấp chính quyền, cơ quan quản lý, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm về nhiệm vụ
bảo vệ môi trường chưa sâu sắc và đầy đủ ; chưa thấy rõ ô nhiễ m môi trường gây nguy
h iể m trực tiếp, hàng ngày và khó khắc phục đố i với đời sống con người cũng như sự phát
triển bền vững của đấ t nước. Các quy định về quản lý và bảo vệ môi trường còn thiếu. Cơ
chế phân công và phố i hợp giữa các cơ quan, các ngành và đ ịa phương chưa đồng bộ, còn
chồng chéo, chưa quy định trách nhiệm rõ ràng. Chưa có chiến lược, quy hoạch khai thác,
sử dụng và bảo vệ tài nguyên theo lưu vực và các vùng lãnh thổ lớn. Chưa có các quy định
h ợp lý trong việc đóng góp tài chính để quản lý và bảo vệ môi trường, gây nên tình trạng
thiếu hụ t tài chính, thu không đủ chi cho bảo vệ môi trường.

Ngân sách đầu tư cho bảo vệ môi trường còn rấ t thấp (mộ t số nước ASEAN đã đầ u tư
n gân sách cho bảo vệ môi trường là 1% GDP, còn ở Việ t Nam mới chỉ đạt 0,1%). Các
chương trình giáo dục cộng đồng về môi trường nói chung và môi trường nư ớc nói riêng
còn quá ít. Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường còn thiếu về số lượng, yế u về chấ t lượng
(Hiệ n nay ở Việt Nam trung bình có khoảng 3 cán bộ quản lý môi trường/1 triệu dân, trong
khi đó ở một số nước ASEAN trung bình là 70 người/1 triệu dân). “Nhiều cơ quan Chính
phủ đưa ra những dự báo "sai thực tế" , ngay cả những dự báo "trong tầm tay cũng không
chính xác "72.
2.2.4. Đời sống văn hóa xã hội có nhiều biểu hiện xuống cấp
2 .2.4.1. Thực trạng: Từ cách mạng Tháng Tám đến nay, kết cấu quan hệ cộng đồng
làng bản trong nông thôn Việt Nam trải qua nhiều biến đổi sâu sắc. Sự ràng buộc theo trật
tự, sự đè nén và mất bình đẳng giữa các nhóm người trong xã hội phong kiến ở nông thôn


71
Theo đánh giá Hội nghị lần thứ 13 BCH Đảng bộ thành phố Hà Nội khóa XIV ngày 7/10,
72
http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2009/06/: Đại biểu Quốc Hội Nguyễn Minh Thuyết phỏng
vấn
được loại bỏ. Song suốt một thời gian dài nhiều địa phương đã phá đình, dỡ chùa, cấm
đoán lễ hội, nhiều thuần phong mỹ tục bị lên án, bài trừ. Đồng thời quá trình CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn không bền vững đang tác động tiêu cực đến đời sống văn hoá, tinh
thần của cộng đồng dân cư ở nông thôn. Trước đây, nếp sống trong sạch được nông dân coi
trọng, thì bây giờ lại xem nhẹ. Trước, những kẻ giàu bất chính còn giấu giếm và bị cả làng
khinh gét. Giờ, không những người ta không cần giấu, mà còn vênh vang”73.
Có thể nói, nhiều quan hệ cộng đồng làng bản tốt đẹp được hình thành ngàn năm đã bị
phá vỡ, làng xóm trở nên mất sức đề kháng khi tình huống có vấn đề. Nhiều giá trị văn
hoá, đạo đức truyền thống tốt đẹp ở nôn g thôn đã và đang bị xâm hại, làm biến dạng, ảnh
hưởng tiêu cực đến đời sống văn hoá tinh thần của cộng đồng dân cư ở nông thôn. Sự gắn
kết cộng đồng bị phá vỡ, vai trò phòng chống tệ nạn xã hội, bảo vệ an toàn cho làng xã
được giao cho chính quyền địa phương. Sự thay thế cơ chế tự bảo vệ của làng bản bằng cơ
chế quản lý từ trên, từ bên ngoài làm giảm sút tính chủ động và làm thay đổi thái độ tâm lý
của nông dân. “Thật đau lòng khi thấy người dân Tây Nguyên trước đây giữ đất, bảo vệ
rừng, coi rừng là nhà, là bản thân mình, thì ngày nay nhiều người sẵn sàng mở cửa che dấu
lâm tặc, che dấu người đào vàng trốn tránh các lực lượng kiểm lâm và công an. Thậm chí
thản nhiên chặt cây, giết thú, bán đất cho người lạ”74.
Mặt khác, một bộ phận nông dân bị tha hoá về đạo đức, bắt đầu có dấu hiệu của lối
sống thực dụng, coi trọng vật chất hơn tình nghĩa, chạy theo lợi nhuận đơn thuần, mà
không tính đến lợi ích của người khác hoặc của cộng đồng. Quan hệ giữa các thành viên
trong cộng đồng làng xã vốn hồn nhiên và chân chất dần bị chi phối bởi sự tính toán hơn
thiệt. Thậm chí, đã xảy ra nhiều mâu thuẫn xã hội, tranh chấp, xung đột nghiêm trọng giữa
anh em, bà con ruột thịt chỉ vì những lợi ích vật chất thuần tuý.
Trong những năm qua, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, cùng
với sự xuất hiện nhiều thị trấn, thị tứ, những trục đường giao thông mới ở các vùng nông
thôn. Sự thay đổi này tác động mạnh mẽ tới an ninh trật tự ở nông thôn. Đời sống vật chất
được cải thiện, sự phát triển của các phương tiện nghe nhìn… đã tạo điều kiện cho một bộ
phận trong nông dân, nhât là số thanh niên lười biếng, “học đòi” trở nên hư hỏng. Nhiều


73
Vũ Hữu Sự (2008): Cần một khoán nữa cho nông thôn: làng quê đang vỡ, http://nongnghiep.vn/
74
Đặng Kim Sơ n: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam Hôm nay và ngày mai, Nxb CTQG, HN, 2008, tr.168.
loại tội phạm và tệ nạn xã hội đã xuất hiện và đang có diễn biến phức tạp. Một số loại tội
phạm nguy hiểm trước đây chưa từng xảy ra ở nông thôn, thì nay đã xuất hiện và diễn biến
phức tạp trên diện rộng.

Ngoài ra, những rủi ro trong làm ăn kinh tế, những bất hạnh trong cuộc sống của
người nông dân cũng là một trong những lý do khiến các hoạt động mê tín dị đoan có chiều
hướng gia tăng, nhiều hủ tục lạc hậu được khôi phục, phát triển ở nông thôn. Những hiện
tượng này đôi khi hoà lẫn vào trong các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng. Đặc biệt, nạn
“buôn thần, bán thánh” xảy ra khá phổ biến trong đời sống tôn giáo - tín ngưỡng và trong
một số lễ hội làng. Những hiện tượng này không những làm giảm tính thiêng liêng, sự trong
sáng của các sinh hoạt văn hoá, tôn giáo và tín ngưỡng cộng đồng, mà còn tác động tiêu cực
đến đời sống văn hoá tinh thần ở nông thôn.

2 .2.4.2. Nguyên nhân: Tình trạng này nảy sinh có phải chỉ là nguyên nhân chủ quan của
người nông dân hay còn là quan điểm, chủ trương, chính sách, biện pháp không đồng bộ,
kiên quyết của Nhà nước và chính quyền địa phương. Phải chăng những “điểm nóng” nảy
sinh, nguyên nhân của nó là cả từ trên xuống và cả từ dưới lên.

Kết luận chương 2. Chương hai, đề tài đã làm rõ thực trạng thực hiện CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam. Trước hết, đề tài dánh giá cao thành tựu đổi mới chủ
trương CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng Cộng sản Việt Nam từ đại hội III,
nhất là sự đổi mới chủ trương của Đảng ở Đại Hội VI, IX và X. Qua các Đại hội và các
Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương, chúng ta thấy sự đổi mới tư duy lãnh đạo của
Đảng qua các thời kỳ. Bắt đầu từ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý,
đồng thời phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ đến tập trung sức phát triển mạnh
nông nghiệp, nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, rồi phát triển toàn diện
kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng để ổn định tình hình
kinh tế, xã hội, tiếp đến CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề
nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Phát triển toàn diện nông nghiệp, chuyển dịch mạnh
cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao,
gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi
hóa, đưa nhanh tiến bộ KHKT và công nghệ sinh học vào sản xuất nhằm nâng cao năng
xuất, chất lượng và sức cạnh tranh, phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương.
Tiếp đến, đề tài nêu bật thành quả thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong thời
kỳ đổi mới: tăng trưởng kinh tế nông nghiệp cao và liên tục trong nhiều năm, đảm bảo phát
triển ổn định kinh tế đất nước, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo
hướng hiện đại, tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao cả về giá trị và lao động, đời sống vật
chất, văn hóa tinh thần nông dân có nhiều cải thiện, thể hiện thu nhập và khả năng tích lũy
của nông dân tăng lên theo thời gian, điều kiên sống của các hộ nông thôn có nhiều đổi
mới, văn hóa xã hội nông thôn Việt Nam biến đổi theo hướng tích cực.

Thứ hai, đề tài đã làm rõ những vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc nảy sinh trong thực
hiện CNH, HĐH ở nông thôn Việt Nam hiện nay, thể hiện: tình trạng mất đất, thiếu việc
làm ở nông thôn ngày càng nghiêm trọng, hiện tượng ly nông ra các trung tâm đô thị kiếm
sống rất lớn. Đất nông nghiệp bị thu hồi hầu hết là đất lúa, thuộc diện bờ xôi, ruộng mật.
Thậm chí ở một số địa phương đất nông nghiệp bị xóa sổ hoàn toàn. Chẳng hạn xã Quang
Minh, Mê Linh, Vĩnh Phúc. Đáng lưu ý là, thu hồi đất nông nghiệp ồ ạ t làm khu công
n ghiệp rồi... để hoang đã tạo nên một nghịch lý người nông dân không có đất để sản xuất.
Từ c hỗ không có việc làm và th u nhập, lao động di cư của nông dân mất đất từ nông thôn
ra các trung tâm đô thị lớn Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ chí Minh. Thu nhập tại Việt
Nam tương đối thấp so với các nước láng giềng, nhưng phân hóa giàu nghèo giữa thành thị
và nông thôn, giữa các vùng tại Việt Nam đang doãng ra khá mạnh. Hàng ngày khu công
nghiệp, làng nghề thải hàng vạn tấn chất thải rắn, lỏng, khí và các chất thải độc hại khác,
nên môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoát nghiêm trọng. Đời sống văn hóa xã hội ở
nông thôn có nhiều biểu hiện xuống cấp: nhiều quan hệ cộng đồng làng bản tốt đẹp đ ược
hình thành ngàn năm đã bị phá vỡ; một bộ phận nông dân bị tha hoá về đạo đức, bắt đầu có
dấu hiệu của lối sống thực dụng, coi trọng vật chất hơn tình nghĩa, chạy theo lợi nhuận đơn
thuần, mà không tính đến lợi ích cộng đồng. Nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội đã xuất
hiện và đang có diễn biến phức tạp. Các tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, số đề, mê tín
dị đoan, mại dâm cũng có chiều h ướng gia tăng, đang tàn phá sự bình yên của xã hội nông
thôn và các gia đình nông dân….Từng vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc nảy sinh trong thực
hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đều được đề tài phân tích thực trạng, nguyên nhân
làm cơ sở thực tiễn để đề ra quan điểm, định hướng và giải pháp khắc phục trong phần tiếp
theo.




Chương III
MỘT SỐ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG BỨC XÚC KINH
TẾ, XÃ HỘI NÔNG THÔN VIỆT NAM THEO HƯỚNG CÔNG HIỆP HÓA, HIỆN
ĐẠI HÓA BỀN VỮNG

Trước kia, CNH ở hầu hết các nước phát triển đều chấp nhận hy sinh một số lĩnh vực
trước và bồi đắp về sau. Chiến lược này được áp dụng cả về kinh tế, chính trị và môi
trường. Rất nhiều nước chỉ đến khi GDP bình quân đầu người đạt 800 USD/năm mới đủ
tiềm lực để sử lý vấn đề môi trường, khôi phục cân bằng sinh thái, phát triển kinh tế, xã hội
bền vững. Nhưng, trong hoàn cảnh hiện nay, KH & CN phát triển nhanh, vốn đầu tư qu ốc
tế dồi dào sẵn sàng đổ đến quốc gia, địa phương, ngành hàng trên thế giới, thông tin, giao
thông phát triển thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội; Trình độ
dân trí tăng cao, xã hội cộng đồng phát triển, thuận lợi trao quyền cho cộng đồng, xây dựng
các tổ chức tự quản, phát huy dân chủ cơ sở,… Đó là những điều kiện thuận lợi cho quá
trình CNH, HĐH đất n ước, nông nghiệp, nông thôn nói riêng theo hướng bền vững dồn
nén hiện nay.
Việt Nam hiện nay còn là nước vẫn đậm nét nông nghiệp, nông thôn và điều kiện
sống của cư dân thấp. Xem biểu đồ 3.1. Thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 1200
USD/năm. Tỷ lệ dân số nông thôn chiếm trên 60% dân số của cả nước và lực lượng lao
động của toàn quốc gia đang làm việc trong khu vực nông thôn chiếm trên 50%. Quá trình
chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra chậm và không đồng đều giữa các vùng. Khoảng cách
thu nhập, điều kiện sống và năng suất lao động giữa nông thôn và thành thị, giữa ngành
nông nghiệp và các ngành khác còn khá cách biệt. Tận dụng tất cả các cơ hội thuận lợi
trong nước và quốc tế để khắc phục khó khăn và phát triển kinh tế, xã hội nông thôn Việt
Nam theo hướng bền vững dồn nén, cần quán triệt một số quan điểm cơ bán sau:

Biểu đồ 3.1: Vẫn còn đậm nét nông nghiệp và nông thôn



90
80
70
60
50
Tỷ lệ dân số
40
nông thôn (%)
30
Tỷ lệ lao động
20
nông nghiệp (%)
10
0

89 991 993 995 997 999 001 003 005 007 009
19 1 1 1 1 1 2 2 2 2 2


Nguồn: PGS.TS Trần Đình Thiên, Viện Kinh tế Việt Nam
3.1. Một số quan điểm khắc phục những bức xúc kinh tế, xã hội nông thôn theo
hướng hiện đại hóa bền vững
Từ nay đến năm 2020 là thời gian để Việt Nam vượt qua xã hội nông nghiệp, mà
nhiều nước đã phải trải qua hàng trăm năm. Đó là quá trình chuyển một nền sản xuất nông
nghiệp tự cung tự cấp lên nền sản xuất công nghiệp hàng hóa mở ra toàn cầu, một xã hội
nông thôn sang xã hội đô thị và xã hội dịch vụ. Với tốc độ phát triển nhanh, năng lực quản
lý của Nhà nước và khả năng thu ngân sách hiện nay không đủ sức bù đắp những khoảng
trống trong cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và sự bền vững xã hội và bảo tồn môi
trường, giữa phát triển nhanh ở đô thị và sự chuyển hóa chậm chạp ở nông thôn. Đứng
trước mâu thuẫn đó, tận dụng cơ hội quốc tế mới, nông thôn Việt Nam cần tập trung
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, không ngừng hoàn thiện quan hệ sản xuất, phát triển kinh tế
nông thôn hàng hóa mở bền vững; nâng cao n ăng xuất, chất lượng, hiệu quả sản xuất nông
nghiệp bằng con đường HĐH, làm cho nền nông nghiệp Việt Nam đảm bảo an ninh lương
thực, đủ sức cạnh tranh trong hội nhập WTO. Xây dựng giai cấp nông dân thật sự vững
mạnh, đồng minh của giai cấp công nhân, củng cố liên minh công nông và trí thức tạo
thành nền tảng vững chắc cho nền dân chủ XHCN. HĐH nông nghiệp, nông thôn bền vững
ở Việt Nam phải lấy nông dân làm trung tâm, mà họ phải là người đứng ra chủ động tổ
chức quản lý, th ực hiện sáng tạo quá trình phát triển, không ngừng cải thiện đời sống và
phát triển nguồn lực nông thôn xây dựng nông thôn mới có môi trưởng tự nhiên trong sạch,
xã hội lành mạnh, giữ gìn, phát huy những nhân tố tích cực của truyền thống văn hóa nông
thôn, xóa bỏ hủ tục, ngăn chặn tệ nạn xã hội, cần quán triệt một số quan điểm sau đây:

3.1.1. Cần khẳng định công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là
con đường tất yếu hiện đại hóa đất nước. Với tỷ lệ lớn dân cư nông thôn Việt Nam hiện
nay, không có sự giàu có của nông dân, thì không có sự giàu có của đất nước, không có
HĐH nông thôn, thì không có HĐH quốc gia.

3.1.2. Nhận thức rõ tầm quan trọng và bản chất của phát triển kinh tế, xã hội
nông thôn bền vững.

Trước hết cần hiểu ý nghĩa khái niệm CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn bền vững
và tổ chức thực hiện trong thực tế như thế nào. Coi HĐH nông nghiệp, nông thôn bền vững
là nguyên tắc chỉ đạo khắc phục, xây dựng và thực hiện chủ trương, chính sách phát triển
kinh tế, văn hóa xã hội và chính sách bảo tồn môi trường thiên nhiên.

3 .1.3. CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn bền vững phải là cơ sở của các giải
p háp khắc phục những bức xúc kinh tế, xã hội

Dù giải pháp gì và phấn đ ấu cho mục tiêu nào, thì cũng phải trên cơ sở quan niệm
đúng đắn về sự phát triển bền vững, tức là vì con người, vì: “t ồn tại của con người, là đ ời
s ống hiện thực của con ng ười”75. Phát triển vì số đông người Việt Nam, mà hiện nay chủ
yếu là nông dân đòi hỏi, mà trước hết phải tăng trưởng kinh tế. Nh ưng nếu chỉ chú trọng
tăng trưởng kinh tế, thì dẫn đến hệ luỵ là mất việc làm hay thất nghiệp ngày càng tăng;
phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc, bất bình đẳng xã hội nghiêm trọng; ô nhiễm môi
trường; sự giảm sút nghiêm trọng về lối sống, đạo đức, nhân phẩm và tình người. Xây
dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, trên cơ sở tuân theo những quy luật của cơ
chế thị trường, trong đó quy luật cung - cầu và quy luật cạnh tranh là những đặc trưng cơ
bản. Mỗi một thực thể tham gia vào nền kinh tế đều phải tuân theo những quy luật “bất
biến” của nền kinh tế thị trường; trong đó, quy luật cạnh tranh có tác động rất lớn đến việc
xác định chiến lược kinh doanh;
3 .1.4. Phải xuất phát từ nhu cầu nội tại của bản thân các địa phương, tìm những
g iải pháp ở trong nông thôn Việt Nam mà CNH, HĐH
Quan điểm chính yếu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam là phải lấy
nông dân làm trung tâm, gắn liền và phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất n ước, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và đ ổi mới cơ chế quản lý kinh tế quốc dân theo
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập. Phải xuất phát từ nhu cầu nội tại của
bản thân địa phương, người nông dân, mà CNH, HĐH, Nhà nước chỉ đóng vai trò hỗ trợ,
xúc tiến, mà không nên là người quyết định, trước hết phải tuân thủ nguyên tắc tự nguyện
và tự lực chủ động sáng tạo của nông dân;
Muốn có được một bước ngoặt, một sự bức phá để giải quyết những bức xúc kinh tế,
xã hội trong quá trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, phải tìm những giải pháp ở trong nông thôn Việt Nam, mà xuất

75
C. Mác và Ph.Ăngghen (2002): Toàn tập, T.3, Nxb CTQG, Hà nội, tr.37.
phát từ lịch sử và hiện trạng nông thôn Việt Nam, tiếp biến kinh nghiệm của thế giới, của
thời đại, tiếp thu có biến cải. Theo nhà nghiên cứu Trần Việt Phương76, “giải pháp cho Việt
Nam phải là giải pháp Việt Nam, con đường của Việt Nam phải là con đường Việt Nam,
phù hợp với xu thế chung của loài người và chiều hướng tiến bộ của thời đại”77. Phải coi
nông dân Việt Nam là chủ thể làm nên sự nghiệp gắn với sự lãnh đạo của Đảng. Bởi lẽ, họ
được hưởng thành quả, nhưng phải chịu hệ luỵ của mọi việc làm. Nông dân là người sát
thực tế, thường xuyên tiếp xúc với hơi thở của cuộc sống, lại có quyền lợi sát sườn và bị
tác động tức khắc bởi đường lối, những chính sách, luật pháp, nên rất nhạy cảm với cái
đúng, cái sai và có nhiều sáng kiến. B¸c Hå tõng nãi "D©n chóng biÕt gi¶i
quyÕt nhiÒu vÊn ®Ò mét c¸ch ®¬n gi¶n, mau chãng, ®Çy ®ñ, mµ
nh÷ng ng­êi tµi giái, nh÷ng ®oµn thÓ to lín nghÜ m·i kh«ng
ra"78. Khi bøc xóc th× xÐ rµo ®Ó s¸ng t¹o. Lịch sử Việt Nam, nhất là
thực tế lịch sử hơn 20 đổi mới đã chứng minh điều đó. Chẳng hạn, trong bối cảnh nền kinh
tế khủng khoảng, nhân dân ở một số địa phương đã “Lµm chui”, “ph¸ rµo”, luồn
lách qua những kẽ hở của cơ chế hiện hành để hoạt động kinh tế có hiệu quả hơn. ViÖc
thùc hiÖn kho¸n ë tØnh VÜnh Phó do Bí thư tỉnh ủy Kim Ngọc ®øng
®Çu, thùc hiÖn kho¸n ë các hîp t¸c x· n«ng nghiÖp §å S¬n, H¶i
Phßng, hợp tác xã Sơn Công, Ứng Hòa, Hà Sơn Bình, Nghệ Tĩnh….Chính thực tiễn đổi
mới ở cơ sở đã cung cấp những tư liệu hoạt động tư duy của Đảng và Nhà nước trong việc
đề ra chủ trương, chính sách cụ thể. Từ thực tế thí điểm khoán sản phẩm trong nông
nghiệp, mà sáng kiến trước hết là “từ dưới”, Chỉ thị 100 CT/TƯ (khoán 100) năm 1981 của
Ban Bí thư về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán đến nhóm và người lao động trong
h ợp tác xã nông nghiệp” và Nghị quyết “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” (Nghị
quyết 10), ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị ra đời. Do vậy, các giải pháp đúng nhất phải
xuất phát từ tổng kết kinh nghiệm thực tế của cơ sở, các địa phương, rồi được khái quát,
chuyển thành đường lối của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước;
3 .1.5. Phải có cách nhìn mới về quá trình tiến hoá
76
Trần Việt Phương, sinh 6/12/1928, hoạt đ ộng trong Việt Minh, từ 1944, đảng viên Đ ảng Cộng sản Việt Nam
(1946). Bộ đ ội Nam tiến ở chiến trường Nam Bộ, Nam Trung Bộ từ 9/1945 đến 7/1947. Từ năm 1947 đến 2009, hoạt
đ ộng trong các cơ quan nhà nước, chuyên gia cao cấp.
77
Đào Xuân Sâm, Vũ Quốc Tuấn: Đổi mới ở V iệt Nam, nhớ lại và suy ngẫm, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008, tr.11.
78
Hå ChÝ Minh(2002): Toµn tËp, Nxb CTQG, HN, t.5, tr. 225.
Với sự phát triển của cuộc cách mạng KH & CN của thế kỷ XXI, thì phải có cách
nhìn mới về quá trình tiến hoá. Tiến hoá không chỉ gồm “cái nọ” sau “cái kia”, “cái nọ” do
“cái kia”, mà phải là quá trình vận động, thay đổi liên tục, làm tăng thêm độ phức tạp toàn
thể của hệ thống với việc nảy sinh thêm nhiều thuộc tính hợp trội mới. “Với độ phức tạp
toàn thể của hệ thống, thì mục tiêu là bất định, theo nghĩa là không xác định được trước
một cách chắc chắn, không dự đoán được mọi thành phần của của hệ thống, luôn luôn ở
tình trạng đ ứng trước một miền đất chưa khai phá, do đó luôn cần có tầm nhìn và năng lực
thích nghi, sáng tạo tự vạch đường mà đi, tự bươn chải trong môi trường của những cạnh
tranh và hợp tác v.v... Để rồi cùng nhau sáng tạo nên những chất lượng mới của những
thuộc tính hợp trội mới, của trật tự mới”. Trật tự mới, tổ chức mới là do các thành phần
liên kết, tương tác với nhau mà cùng tạo thành, chứ không được lập nên do mệnh lệnh nào
từ bên ngoài, từ bên trên quyết định. Rủi ro thì nhiều, nhưng rủi ro có thể dự báo trước
được là tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, phân hoá giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội,
môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoát vốn văn hóa ở nông thôn. Trên cơ sở các
quan điểm định hướng đó, theo chúng tôi cần thực hiện một số nhóm giải pháp cơ bản sau
đây:
3.2. Một số nhóm giải pháp cơ bản

Để giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc hiện này, cần phải tiến hành đồng
bộ nhiều giải pháp với nhiều khâu và xuất phát từ chính lợi ích của nông dân, tạo cơ hội để
nông dân được thực sự hưởng lợi từ quá trình CNH, HĐH, Việt Nam cần tiếp tục thực hiện
một số nhóm giải pháp chủ yếu sau đây:

3.2.1. Nhóm giải pháp chung, đổi mới và hoàn thiện hơn nữa môi trường pháp lý
và môi trường kinh tế
Môi trường là nguồn lực quan trọng vừa tác đ ộng tích cực, vừa tác động tiêu cực đến
kinh tế, xã hội. Vì lẽ đó, tạo môi trường để khắc phục những bức xúc kinh tế, xã hội để
phát triển nông thôn theo hướng HĐH bền vững dồn nén là đòi hỏi búc xúc và quan trọng
nhất hiện nay. Nội dung của môi trường để khắc phục b ức xúc kinh tế, xã hội nông thôn
theo hướng HĐH bền vững gồm môi trường pháp lý và môi trường kinh tế. Môi trường pháp
lý là cơ chế, hệ thống pháp luật và các văn bản pháp quy, trong đó đặc biệt quan trọng là
chủ trương, đường lối của Đảng, các luật, các quy chế khung, chính sách và sự điều hành
của Nhà nước. Môi trường kinh tế là sự phát triển của các loại thị tr ường, các mối quan hệ
lãnh đạo quản lý giữa nhà nước với chính quyền địa ph ương, nhà nước với doanh nghiệp,
nhà nước với các tổ chức xã hội (xã hội cộng đồng).
3 .2.1.1. Hoàn thiện cơ chế79 là nguồn lực quan trọng khắc phục những bức xúc kinh
tế, xã hội ở nông thôn để phát triển theo hướng HĐH bền vững
Việt Nam tăng truởng khá cao trong một thời gian tương đối dài. Thu nhập bình quân
đầu người đạt ngưỡng 1.200 USD năm 2009, các chỉ tiêu về đói nghèo đã được cải thiện.
Thời gian thực hiện đổi mới từ năm 1986, đến nay về cơ bản đã thóat khỏi nguy cơ đói
nghèo, từ nay trở đi là một giai đọan khác về chất, giai đọan hướng đến việc phát triển kinh
tế, xã hội bền vững, giai đoạn mà Việt Nam phấn đấu trở thành một nước công nghiệp tiên
tiến. Theo kinh nghiệm phát triển của các nước, có nhiều nước phát triển trong thời gian
khá dài, trên căn bản đã thóat khỏi nguy cơ đói nghèo, nhưng sau đó trì trệ và tụt hậu (như
Philipiines80, Indonesia 81), nhưng cũng có nhiều nước sau đó phát triển bền vững và trở
thành nước công nghiệp tiên tiến (như Hàn Quốc, Đài Loan…).
Quá trình phát triển kinh tế có thể chia thành nhiều giai đọan và có nhiều cách phân
chia tùy theo góc độ phân tích, mỗi giai đọan có một số đặc tính cơ bản và các đặc tính đó
lại liên quan mật thiết với hệ thống các cơ chế (institutions). Hệ thống cơ chế điều chỉnh
quan hệ kinh tế, xã hội ấy là cơ chế thị trường (bàn tay vô hình), cơ chế nhà n ước (bàn tay
hữu hình) và cơ chế cộng đồng (bàn tay bán vô hình). Cơ chế nhà nước ở đây được định
nghĩa là các luật chơi (rules of the games) gồm những thể lệ có tính cách pháp lý hoặc
những chính sách, những quy định của nhà n ước làm nền tảng cho họat động của các tác
nhân trong nền kinh tế (như doanh nghiệp, lao động,…). Trong quá trình phát triển kinh tế,
giai đọan sau được thực hiện do những tiền đề cơ bản về cơ chế đã được chuẩn bị từ giai
đọan trước và hoàn thiện ở giai đoạn sau.
Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đang chuyển từ kinh tế kế hoạch, tập trung sang
kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế và phát triển theo hướng bền vững,
do vậy yêu cầu đổi mới, thiết lập và hoàn thiện cơ chế có vai trò hết sức quan trọng, đặc

79
Cơ chế là cách thức theo đó một quá trình được thực hiện.
80
Cộng hoà Philippines là một nước ở Đông Nam Á có thủ đô là Manila. Nước này trải dài 1.210 kilômét từ lục địa
châu Á và gồm 7.107 hòn đảo được gọi là Quần đảo Philippines, gần 700 đảo có người ở.
81
Cộng hòa Indonesia là một quốc gia nằm giữa hai lục địa Đông Nam Á và Châu Đại Dương. Indonesia gồm 17.508
hòn đ ảo và với dân số khoảng 237 triệu người, đ ứng thứ tư thế giới về dân số.
biệt cơ chế nhà nước. Việt Nam đã sửa đổi Hiến pháp, đã ban hành nhiều đạo luật từ các bộ
Luật dân sự, đến các Luật thương mại, Ngân hàng, Luật đầu tư nước ngoài, Luật doanh
nghiệp… Nhưng cho đến nay: “hệ thống luật pháp về kinh tế vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu
nhất quán, nhiều đạo luật quan trọng chưa được hình thành hoặc chưa phù hợp với nền
kinh tế thị trường”82. Thực tế thiếu không ít luật quan trọng, nhiều luật tuy đã ban hành,
nhưng so với yêu cầu phát triển kinh tế thị trường, hội nhập và phát triển bền vững còn
nhiều điều khoản bất cập cần sửa đổi. Đồng thời bộ máy thực thi luật pháp và giám sát thực
thi luật pháp ở nông thôn Việt Nam còn nhiều yếu kém. Do vậy, tuy có luật pháp, nh ưng
hiệu lực của luật pháp không cao. Phần này, chúng tôi tập trung đưa ra một số giải pháp
hoàn thiện cơ chế phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam.
1 / Hoàn thiện cơ chế HĐH nông nghiệp, nông thôn bền vững trên cơ sở các nguyên
tắc của kinh tế thị trường và hội nhập WTO
Thực tế ở Việt Nam, những đạo luật nào được soạn thảo theo đúng nguyên tắc này,
thì nhanh chóng đi vào cuộc sống khắc phục tình trạng kinh tế, xã hội bức xúc và phát huy
hiệu quả rõ rệt, chẳng hạn như: Luật doanh nghiệp (29/11/2005), Luật đầu tư nước ngoài
(12/2003)…..Nhưng cũng có không ít đạo luật phát huy tác dụng rất yếu, như Luật Đất
đai (1993, luật đất đai sửa đổi năm 2003), Luật Bảo vệ môi trường (27/12/1993), Luật
Thương mại (1997, 2005), Luật Xây dựng (số 16/2003/QH11), Luật Ðấu thầu (số
61/2005/QH11), Luật Khiếu nại tố cáo (1998, sửa đổi 24/06/2004), Luật phòng, chống
tham nhũng (số 55/2005/QH11); nhiều luật còn mang tính luật khung, luật ống, phải chờ
hướng dẫn của Chính phủ, thậm chí của bộ, ngành mới thực hiện được. Luật Đất đai đã
được sửa nhiều lần, nhưng thị trường đất đai vẫn chưa thể vận hành theo luật... Luật sư
Phạm Duy Nghĩa (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng: “Vấn đề Nhà nước ứng xử với
quyền sử dụng đất đai của người nông dân tiềm ẩn ba nguy cơ lớn: người dân bị mất đất,
chán đất, chán quê. Theo Luật sư Phạm Duy Nghĩa, Hiến pháp năm 1992 và Luật đất đai
năm 2003 cần được viết lại vì quyền lợi của người dân”83. Phó Thủ tướng Nguyễn



82
GS.TSKH Lương Xuân Quỳ: Quan điểm chiến lược hoàn thiện thể chế kinh tế của nhà nước Việt Nam, T/C Kinh
tế và Phát triển đ iện tử, Đại học kinh tế Quốc dân, Hà Nội, /ktpt.edu.vn/website/
83
Hội thảo: Người dân nông thôn trong quá trình CNH do Viện Chính sách và Chiến lược PTNN NT, Tạp chí Tia
S áng và Báo Nông thôn ngày nay phối hợp tổ chức, Ngày 27/6/2009 tại Hà Nội.
Sinh Hùng cũng cho rằng: “sẽ sửa Luật Đất đai một cách căn bản” 84. Vậy, những nguyên
tắc của kinh tế thị trường và hội nhập có thể lấy gì làm chuẩn. Các cam kết quốc tế song
phương và đa phương của Việt Nam về nông nghiệp với các đối tác nước ngoài là những
chuẩn mực thể hiện các nguyên tắc của thị trường và hội nhập quốc tế. Những điều kiện
kinh tế, xã hội cụ thể nông thôn Việt Nam và tham khảo các luật kinh tế của các nước có
nền kinh tế thị trường phát triển cũng là căn cứ chuẩn mực để xem xét và xây dựng các
điều luật cho phù hợp. Không ít luật và các chế định về nông nghiệp của Việt Nam tuy đã
được ban hành, nhưng nội dung của chúng vẫn chứa đựng những yếu tố của kinh tế kế
hoạch hóa tập trung, bao cấp. Chẳng hạn, Điều 56 Luật đất đai 2003 quy định “Giá đất do
Nhà nước quy định”85. Song giá đất theo luật đó còn nhiều điều bất cập so với thực tế,
không phù hợp với nguyên tắc của thị trường và hội nhập WTO.
2 / Hoàn thiện hệ thống luật pháp theo những cam kết quốc tế song ph ương và đa
phương, đặc biệt là những cam kết gia nhập WTO về nông nghiệp như: Hiệp định chung
về Thuế quan và Thương mại 1994 (GATT 1994), Hiệp định chung về Thương mại Dịch
vụ (GATS), Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến Thương mại của Quyền Sở hữu Trí
tuệ (TRIPS), Hiệp định về các Biện pháp Đầu tư liên quan đến Thương mại (TRIMS),
Hiệp định về Nông nghiệp (AoA), Hiệp định về Hàng Dệt may (ATC), Hiệp định về
Chống bán Phá giá, Hiệp định về Trợ cấp và các Biện pháp đối kháng, Hiệp định về Tự vệ,
Hiệp định về Thủ tục Cấp phép Nhập khẩu, Hiệp định về các Biện pháp Vệ sinh và Kiểm
dịch (SPS), Hiệp định về các Rào cản Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT), Hiệp định về
Định giá Hải quan, Hiệp định về Kiểm định Hàng trước khi Vận chuyển, Hiệp định về
Xuất xứ Hàng hóa (ROO)….
Những cam kết quốc tế song phương và đa phương khi đã đ ược Quốc hội Việt Nam
thông qua, sẽ là luật pháp của Việt Nam, tất cả các Luật pháp khác phải phục tùng những
luật pháp này. Có thể nói, trong tiến trình hội nhập quốc tế về nông nghiệp, Việt Nam sẽ


84
http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2009 “Sẽ sửa Luật Đất đai để chấm dứt sai phạm đất công ”.

85
http://giadinh.net.vn/home: Luật Đất đ ai năm 2003: luật số 13/20034/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa
X HCN V i ệ t N am v ề đ ất đ a i.
ngày càng có nhiều cam kết song phương và đa phương hơn, do vậy ngay từ bây giờ Việt
Nam đã phải chuẩn bị một chương trình hoàn thiện tiếp theo hệ thống pháp luật có tính dự
báo tới những cam kết quốc tế với WTO, hay những cam kết của các hiệp nghị thương mại
tự do song phương và đa phương. Chương trình sửa đổi và ban hành pháp luật mới của
Việt Nam hiện là rất lớn, nhưng có thể sẽ chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế nếu
chương tr ình này không có tính dự báo, không tính tới những cam kết, mà Việt Nam sẽ ký
kết. Mặt khác, cách làm luật của Việt Nam hiện nay (từ nghiên cứu, biên soạn, thông qua)
còn bất cập với yêu cầu. Cần có sự đổi mới cách làm luật hiện nay theo hướng chuyên môn
hơn và thông qua luật cũng phải có tri thức, thông tin, chuyên nghiệp hơn.
3 .2.1.2. Đổi mới hơn nữa sự điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp
c ũng là một nguồn lực HĐH nông nghiệp, nông thôn bền vững
Sự điều hành của Chính phủ Việt Nam từ thập kỷ 90 đã có nhiều đổi mới từ việc ban
hành chính sách, đến đổi mới chức năng nhiệm vụ, bộ máy tổ chức chính quyền các cấp.
Tuy nhiên nếu so với yêu cầu CNH, HĐH bền vững dồn nén nông nghiệp, nông thôn, hoàn
thiện kinh tế thị tr ường định h ướng XHCN và hội nhập, thì còn nhiều vấn đề cần phải tiếp
tục đổi mới hơn nữa, đặc biệt là đ ổi mới những vấn đề liên quan đến chức năng của Chính
phủ và chính quyền các cấp.
a) Đổi mới hơn nữa quan hệ giữa Chính phủ, chính quyền các cấp và thị trường.
Trong điều kiện cơ chế thị trường đã phát triển, thị trường làm được các chức năng huy
động và phân bổ các nguồn lực phát triển của xã hội nông thôn có hiệu quả hơn, Chính
phủ, chính quyền chỉ làm những gì, mà thị trường nông thôn chưa và không làm được.
Hiện nay ở nông thôn Việt Nam, cơ chế thị trường chưa hoàn thiện, các loại thị trường mới
hình thành sơ khai… Do vậy, Chính phủ, chính quyền các cấp không thể không làm những
việc mà đáng ra là của thị trường. Để Chính phủ và chính quyền các cấp có thể làm đúng
các chức năng của mình, trước hết Chính phủ Việt Nam cần tạo dựng “bàn tay vô hình”,
hoàn thiện cơ chế thị trường, xây dựng và phát triển đồng bộ các loại thị trường để chúng
có thể gánh vác trách nhiệm huy động và phân bổ các nguồn lực, nghĩa là thị trường nông
thôn phát triển đến đâu bàn tay h ữu hình lui về vị trí đúng của mình đến đó. Một khi các
loại thị trường nông thôn ch ưa phát triển, cơ chế thị trường chưa hoàn thiện, chính quyền
các cấp chưa thể rút lui để tránh tạo ra một khoảng trống quyền lực. Chính quyền các cấp
phải đảm trách những việc không phải của Chính quyền. Điều đó giải thích Việt Nam tại
sao đã chuyển sang kinh tế thị trường, mà chính quyền các cấp vẫn thực thi không ít các
biện pháp hành chính trong việc huy động và phân bổ các nguồn lực. Chính phủ, chính
quyền các cấp chỉ có thể từ bỏ các biện pháp quản lý hành chính, cơ chế “xin-cho”, cấp
phát..., khi thị trường phát triển, hoàn thiện và đảm trách được những cô ng việc đó. Ở các
nước có nền kinh tế thị trường phát triển, quá trình này đã diễn ra rất lâu dài, hoàn toàn tự
phát, tự do tác động tới sự phát triển thị trường. Thị trường phát triển, Chính phủ, chính
quyền các cấp dường như không can thiệp. Nhưng ở những nước đi sau như Việt Nam,
Chính phủ, chính quyền các cấp có thể tác động, tạo dựng ra thị tr ường theo một lộ trình
với những giải pháp Việt Nam phù hợp tình hình trong nước và quốc tế. Một khi thị trường
đã phát triển và hoàn thiện và phát huy được các chức năng của “bàn tay vô hình”, thì
Chính phủ, chính quyền có thể tập trung làm tốt những việc đích thực của mình, nghĩa là
giữ vai trò của người cầm lái, người trọng tài, người hỗ trợ, chứ không phải là người chèo
thuyền, người đá bóng... Những việc của Chính phủ, chính quyền các cấp có thể là: định ra
chiến lược, chính sách phát triển và quản lý kinh tế, xã hội; xác định các chương trình phát
triển, khai thác, bảo vệ tài nguyên, phát triển KH & CN, giáo dục, y tế…; xây dựng quy
hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo sự cân đối giữa các ngành và các vùng;
bố trí các công trình trọng điểm quốc gia, trọng điển kinh tế, xã hội của địa phương mình,
đặc biệt là những hạ tầng cơ sở, những công trình năng lượng, giao thông, liên lạc; thu thập
và phổ biến các thông tin kinh tế; giám sát việc thực thi pháp luật, các nhiệm vụ kinh tế, xã
hội; quản lý các quan hệ kinh tế đối ngoại; giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc và
bảo vệ môi trường v.v.
Chừng ấy vấn đề đã là một khối lượng công việc quá lớn và trong không ít trường hợp
đã là quá sức đối với một Chính phủ, chính quyền các cấp theo địa giới hành chính của
mình. Tuy nhiên, trên thực tế các quan chức Chính phủ, chính quyền các cấp lại ít hứng thú
làm những công việc đích thực của Chính phủ, chính quyền, vì những công việc này khó
khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có trí tuệ, bản lĩnh v.v…, họ rất thích thú với những phần việc
của “bàn tay vô hình”, đặc biệt là trong phân bổ các nguồn lực, duy trì cơ chế “xin - cho”
v.v.., vì những công việc này ít phức tạp hơn, dễ mang lại những lợi ích cá nhân hơn. Đây
chính là lý do, vì sao các quan chức Chính phủ, chính quyền các cấp không dễ từ bỏ việc
phân bổ các nguồn lực, từ bỏ cơ chế “xin - cho”. Do vậy, việc Chính phủ thu về thực hiện
các chức năng đích thực của nó phải được định thành luật, nghiêm cấm các quan chức
Chính phủ, chính quyền các cấp tiếp tục làm thay thị trường.
b ) Đổi mới hơn nữa quan hệ giữa Chính phủ, chính quyền các cấp với doanh
nghiệp. Quan hệ giữa Chính phủ, chính quyền và các doanh nghiệp nói chung, doanh
nghiệp ở nông thôn nói riêng ở Việt Nam cho đến nay đã có nhiều đổi mới cả về chính
sách cũng nh ư cách ứng xử theo hướng các doanh nghiệp ngày càng có nhiều quyền kinh
doanh hơn và cũng đ ược xem trọng hơn. Tuy nhiên hiện vẫn còn có vấn đề cần tiếp tục
nghiên cứu và đổi mới những vấn đề sau:
Trước hết, cần tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho việc thành lập doanh nghiệp mới
và giải thể doanh nghiệp thua lỗ. Chủ thể quan trọng của mọi nền kinh tế, kinh tế nông
thôn nói riêng là doanh nghiệp, đặc biệt là vấn đề thành lập các doanh nghiệp mới và giải
thể các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Các doanh nghiệp công, nông nghiệp và dịch
vụ mới thành lập ở nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế nông
nghiệp, nông thôn, vì nó mang lại luồng sinh khí mới, sức sống mới cho kinh tế, xã hội
nông thôn. Các doanh nghiệp mới càng xuất hiện nhiều càng làm cho kinh tế, xã hội nông
thôn phát triển năng động. Tại §¹i héi §¶ng toµn quèc lÇn thø VI
(1986), kinh tế tư nhân (KTTN) ®· ®­îc nhËn thøc d­íi ¸nh s¸ng
míi. LuËt Doanh nghiÖp t­ nh©n ®­îc ban hµnh n¨m 1990, NghÞ
®Þnh sè 221/H§BT n¨m 1991, cïng víi c¸c chÝnh s¸ch cña §¶ng
vµ Nhµ n­íc ®· khuyÕn khÝch, mµ KTTN ®· ph¸t triÓn nhanh vÒ
doanh nghiệp
sè l­îng, tõ 800.000 (DN) n¨m 1990 t¨ng lªn
2.215.000 DN (1998), 2.600.000 DN n¨m 2007. Từ năm 2000 đến năm
2002 số lượng doanh nghiệp Việt Nam đã tăng từ 42.288 doanh nghiệp lên đến 62.908
doanh nghiệp, nghĩa là tăng 48,8% doanh nghiệp mới trong 3 năm. Có thể nói đó là một
bước tiến đáng kể nhờ có Luật doanh nghiệp. Tuy nhiên, một quốc gia như Việt Nam với
85 triệu dân, mà chỉ có 260 vạn doanh nghiệp, thì vẫn còn là con số nhỏ bé so với các quốc
gia trong khu vực. Chính phủ Việt Nam đã bãi bỏ hàng trăm giấy phép hạn chế sự ra đời
của các doanh nghiệp, nhưng hiện vẫn còn tới 290 giấy phép đang có hiệu lực, mà các cấp
chưa muốn bỏ. Do vậy, vẫn còn cần tiếp tục bãi bỏ các giấy phép hơn nữa và tạo điều kiện
thuận lợi hơn nữa cho sự ra đời của các doanh nghiệp công, nông nghiệp và dịch vụ mới ở
nông thôn. Trong cộng đồng các doanh nghiệp, các doanh nghiệp mới ra đời rất quan
trọng, nhưng các doanh nghiệp ốm yếu, thua lỗ cần loại bỏ cũng có tầm quan trọng không
kém. Cần phải tiếp tục sửa đổi Luật phá sản để luật này có hiệu lực.
Thứ hai, cần bỏ chế độ “chủ quản”, cấp hành chính chủ quản đối với các doanh nghiệp
nhà nước. Quan hệ giữa chính phủ với các doanh nghiệp Nhà nước ở thành thị và nông
thôn đã có nhiều đổi mới. Trong thời kỳ CNH, HĐH và chủ động hội nhập ngày càng sâu
vào nền kinh tế thế giới, việc cơ cấu, sắp xếp lại các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, hoạt
động manh mún thành những doanh nghiệp lớn không chỉ để có đủ khả năng đối tác, mà
còn có thể cạnh tranh với các Cônglômêrát (conglomerate), Systems Incorporated, Group,
Business group, Corporate group, hay Alliance... của nước ngoài. Đó là một yêu cầu hết
sức cấp thiết và phù hợp với quy luật phát triển. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
(24-27/6/1991) đã chỉ rõ: phải sắp xếp lại các Liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty (TCT) phù
hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, xây dựng một số công ty hoặc
Liên hiệp xí nghiệp lớn. Tại Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 7 khoá VII, Đảng ta khẳng
định: “Hình thành một số tổ chức kinh tế lớn, với mức tích tụ, tập trung cao về vốn, đủ sức
cạnh tranh trên thị trường thế giới. Từng bước xoá bỏ chế độ bộ chủ quản, cấp hành chính
chủ quản đối với các doanh nghiệp nhà nước”.
Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, mà một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường là phải chấp nhận
cạnh tranh và hợp tác. Tính chất cạnh tranh và hợp tác giữa các doanh nghiệp trong mọi
thành phần kinh tế tất yếu dẫn đến quá trình tích tụ và tập trung theo Lênin ‘‘S ự cạnh
tranh biến thành độc quyền, đ ó là một trong n hững hiện tượng quan trọng nhất trong
n ền kinh tế’’86 hiện đại. Việc tích tụ và tập trung các loại vốn tất yếu dẫn đến việc thành
lập các doanh nghiệp lớn. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và bối cảnh quốc tế, các
doanh nghiệp lớn không chỉ ra đời, mà còn phát triển mạnh thành những TĐKT hoạt động
đa ngành, đa lĩnh vực trong nước và quốc tế.




86
V .I.Lênin: Toàn tập, tập 27, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.398.
Theo hướng đó, Chính phủ ngày càng để cho doanh nghiệp Nhà nước, các tập đoàn
kinh tế Nhà nước tự chủ kinh doanh, tuy nhiên cơ chế chủ quản vẫn còn khá nặng nề. Về
pháp lý, các doanh nghiệp Nhà nước ở nông thôn được tự chủ kinh doanh, nhưng lại chịu
sự quản lý trực tiếp của các bộ, các ngành, các chính quyền địa phương... Thực chất của
mối quan hệ “chủ quản” là hai bên dựa dẫm và lợi dụng lẫn nhau. Các doanh nghiệp Nhà
nước dựa vào quyền lực và uy tín của các cấp chủ quản để có thể tín chấp vay ngân hàng,
xin cấp đất... Đương nhiên các quan chức của các cấp chủ quản cũng có lợi nhờ những
quan hệ này. Trung Quốc đã chủ trương chính quyền tách khỏi xí nghiệp; “Chính, xí phân
khai” là muốn nhằm giải quyết vấn đề này. Từ thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế,
Chính phủ Việt Nam cần bỏ chế độ “chủ quản” trên cơ sở cơ chế thay thế hữu hiệu.

c ) Đổi mới hơn nữa quan hệ giữa Chính phủ, chính quyền các cấp và các tổ chức xã
hội.
Các tổ chức xã hội dân sự (civil society) ở nông thôn có vai trò rất quan trọng trong
một nền kinh tế thị trường, vì tiếng nói, nguyện vọng, yêu cầu của các tầng lớp dân chúng,
của các doanh nghiệp ở mọi ngành nghề. Tín hiệu chính của của các tổ chức xã hội nông
thôn (bàn tay bán vô hình) là giá trị xã hội mang tính chế tài. Môi trường lan truyền thông
tin của các tổ chức xã hội ảnh hướng rất lớn đến hoạt động xã hội của các cá nhân và tập
thể doanh nghiệp có quan hệ. Thông tin lan truyền theo nguyên tắc “tương tác tự nhiên”
giữa các tác nhân trong tr ường thông tin để đạt tới một sự phối hợp linh động. Ở nông thôn
Việt Nam có nhiều tổ chức xã hội trên cả 3 khu vực quản lý nhà nước, khu vực kinh doanh
và khu vực dân sự87. Các tổ chức xã hội khu vực quản lý nhà nước gồm: đại diện chính
quyền địa ph ương (UBND xã, Trưởng thôn); các đoàn thể quần chúng ở xã (Hội Phụ nữ,
Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên, Mặt trận Tổ quốc); các tổ chức cung
cấp dịch vụ xã (trạm xá, trường học, khuyến nông, thú y,…); các tổ chức phát triển bán
chính thức (ban dự án, ban xóa đói giảm nghèo, ban phát triển xã thôn bản). Các tổ chức
khu vực kinh doanh gồm: các tổ chức của nhà nước (ngân hàng NN & PTNT, ngân hàng
Chính sách xã hội), các tổ chức kinh doanh tư nhân nông, lâm nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ có đăng ký kinh doanh và không có đăng ký kinh doanh. Khu vực


87
Trung tâm dịch vụ phát triển nông thôn Hà Nội, 2001.
xã hội dân sự gồm các tổ chức tự quản (Hội làm vườn, Hội đồng h ương, hội đồng lớp, Hội
cha mẹ học sinh, Tổ tiết kiệm tín dụng, Câu lạc bộ gia đình). Việt Nam, hiện nay có 6 loại
tổ chức xã hội đăng ký chính thức để hoạt động. Đó là các tổ chức chính trị - xã hội, gồm
tổ chức Công đoàn, Nông dân, Phụ nữ, Thanh niên, Cựu chiến binh với hơn 31 triệu hội
viên và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với 29 tổ chức thành viên; các hiệp hội nghiên cứu và
phát triển KH & CN, bảo tồn di sản văn hoá truyền thống và môi trường thiên nhiên gồm
hơn trăm tổ chức với hàng chục nghìn thành viên; các tổ chức dân lập, tự quản gồm hàng
chục nghìn quỹ, hội tín dụng, tiết kiệm, hỗ trợ người nghèo, tàn tật..., và các tổ, đội, câu lạc
bộ văn hoá - nghệ thuật, thể dục - thể thao v.v... với sự tham gia của hàng triệu người; các
tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng (Đạo Phật, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, Hoà Hảo, Cao Đài)
với khoảng 18 triệu tín đồ.

Ngoài ra, ở nông thôn Việt Nam còn có nhiều tổ chức không đăng ký chính thức, như
tổ chức tín ngưỡng mê tín dị đoan, xã hội đen v.v... Tại Việt Nam còn có 530 tổ chức phi
chính phủ (NGO) của các nước đang hoạt động. Các tổ chức này hiện có 150 văn phòng
trong cả nước, và thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức và công dân Việt Nam. Đến nay,
trong tổng số 85 triệu dân, ước tính có khoảng 60 triệu người cả nông thôn và thành thị
tham gia từ một đến nhiều tổ chức xã hội. Các tổ chức xã hội (cả chính thức và không
chính thức) tạo thành lực lượng xã hội dân sự thực sự rộng lớn. Các cá thể trong cơ chế
cộng đồng không mang ý nghĩa là các tổ chức mà là các tác nhân (actors, stakeholders)
khác nhau trong xã hội.

Chính phủ Việt Nam hiện đang soạn thảo, chuẩn bị ban hành một bộ luật về các tổ
chức xã hội, đây sẽ là một khuôn khổ pháp lý quan trọng cho các tổ chức xã hội Việt Nam
ra đời và hoạt động phù hợp với kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt
Nam định hướng XHCN. Một mặt phải thúc đẩy quá trình phát triển của các tổ chức này
rộng khắp ở hầu hết các ngành và lĩnh vực, đồng thời phải hướng dẫn để các tổ chức này
hoạt động theo luật định.

Một khi các tổ chức này phát triển, thì Chính phủ, chính quyền các cấp phải giao
những việc vốn khôn g phải của Chính phủ, chính quyền cho các tổ chức này thực hiện
như: cấp giấy chứng chỉ hành nghề, giám sát về nghề nghiệp, bảo vệ lợi ích cho các nhóm
ngành nghề, kế toán, kiểm toán, đánh giá tài sản, nhà đất…Những tổ chức này thực sự là
những tổ chức xã hội dân sự, do các nhóm dân cư, nghề nghiệp tư tổ chức ra, tự quản lý, tự
bảo vệ lấy những lợi ích của mình.

d ) Đổi mới quan hệ giữa Chính phủ trung ương và các cấp chính quyền địa phương
Cần đổi mới mối quan hệ giữa Trung ương và chính quyền địa phương theo nguyên
tắc, tất cả các công việc mang tính toàn quốc, có liên quan tới lợi ích tổng thể của quốc gia,
thì Chính phủ Trung ương quyết định, còn những việc chỉ liên quan đến lợi ích khu vực,
địa phương sẽ do chính quyền địa phương quyết định. Ở Việt Nam cho đến nay đã có
nhiều lần phân cấp cho các chính quyền địa phương, chi tiêu của chính quyền cấp tỉnh,
thành phố đã tăng đều từ 26% năm 1992 lên 43% năm 1998 và gần 44% hiện nay. Theo
tiêu chuẩn quốc tế, Việt Nam đã là một quốc gia phân quyền cho địa phương khá cao.
Trong số 63 tỉnh thành của Việt Nam, có 49 tỉnh nghèo nhất được giữ lại 100% nguồn thu
từ phần thuế phân chia. Chỉ có Thành phố Hồ Chí Minh được giữ lại 24 %, Hà Nội 30%,
Vũng Tầu 48%, Bình Dương 52%, Đồng Nai 53%. Chính quyền các địa phương còn có
các quyền: quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội địa phương mình trình chính phủ phê duyệt,
quyền cấp phép cho các dự án đầu tư nước ngoài với quy mô nhất định, quyền phát hành
công trái địa phương (Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh) .v.v.. Vấn đề đặt ra hiện nay
là mức độ phân quyền cho các địa ph ương tuỳ thuộc vào trình độ phát triển. Ở trình độ
phát triển kinh tế còn thấp, quan hệ kinh tế chưa phát triển, trình độ của cán bộ các cấp
chính quyền địa phương còn nhiều hạn chế…, thì Chính phủ Trung ương không nên phân
quyền nhiều cho chính quyền địa phương tỉnh, huyện, xã. Nhưng một khi trình độ phát
triển kinh tế đã đạt cao hơn, các quan hệ kinh tế phát triển phong phú và đa dạng, trình độ
cán bộ địa phương đã được nâng cao, thì việc phân quyền cao hơn cho địa phương lại là rất
cần thiết. Vấn đề đặt ra là mức phân quyền ở Việt Nam đã là phù hợp chưa? Theo chúng
tôi, mức phân quyền cho địa phương ở Việt Nam hiện có mặt còn ch ưa phù hợp. Về phân
chia ngân sách, chính quyền các cấp địa phương được quyền tự chủ tới 44% ngân sách là
mức khá cao, vì trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam nói chung còn thấp, bình quân
đầu người mới khoảng hơn 1200 USD, yêu cầu đầu tư xây dựng các kết cấu hạ tầng chung
của cả n ước còn rất lớn, do vậy nếu giành cho các địa phương tới 44% ngân sách quốc gia,
thì Trung ương sẽ phải hạn chế việc đầu tư xây dựng các hạ tầng cơ sở có tầm cỡ như: các
bến cảng quốc gia, các đường cao tốc quốc gia, các cơ sở cung cấp điện nước, thuỷ lợi
quốc gia v.v. Tuy nhiên có những mặt, Trung ương có thể phân quyền cho địa phương cao
hơn như quản lý giáo dục phổ thông, dạy nghề, y tế dự phòng v.v.
3.2.2. Nhóm giải pháp khắc phục bức xúc về kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường
3 .2.2.1. Phát huy những nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giải pháp k hắc
p hục chênh lệch và bất bình đẳng kinh tế ở nông thôn
3 .2.2.1.1. Phát huy những nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hiên nay, CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đang gặp không ít thách thức: để tích lũy tư bản
cho công nghiệp và đô thị, vì mâu thuẫn quyền lợi đã gây nên những bức xúc về kinh tế và
xã hội ở nông thôn; 11/1/năm 2007 Việt Nam gia nhập WTO, cam kết hội nhập kinh tế
quốc tế về mở cửa thị trường không cho phép trợ cấp và bảo vệ quá mức cho nông nghiệp;
môi trường nông thôn bị ô nhiễm đến giới hạn, diễn biến khí hậu và cân bằng sinh thái
không cho phép khai thác cạn kết tài nguyên làm ô nhiễm môi trường; tự do hóa thương
mại tạo môi trường cạnh tranh quyết liệt không thể bán nông sản chất l ượng thấp, giá rẻ
ngay cả thị trường trong nước; cạnh tranh công nghệ đang diễn ra theo xu hướng thu hút
nhiều vốn, giảm lao đông, không thể phát triển công nghiệp thu hút nhiều lao động.
Nhưng, trong thế giới hiện đại, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn cũng có nhiều cơ hội
mới: KH & CN phát triển nhanh, dễ tiếp thu và mua bán mở ra cơ hội tăng trưởng kinh tế
nhanh; vốn đầu tư toàn cầu dồi dào và linh hoạt sẵn sàng đổ đến những địa phương, ngành
tổ chức có khả năng tiếp nhận với lợi nhuận cao, rủi ro thấp và thủ tục không rườm rà; thị
trường rộng với giá nông sản cao.
Đối với Việt Nam, nông thôn còn có nhiều tiềm năng có thể đạt được tốc độ tăng
trưởng cao, vì nó vẫn còn là vùng kém phát triển, khả năng phát triển theo chiều rộng còn
lớn, khả năng khai mở thị trường trong và ngoài nông thôn còn nhiều, các tài nguyên thiên
nhiên, nhất là tài nguyên đất chưa khai thác còn lớn v.v.. Phát huy tốt những vấn đề trên,
kinh tế nông thôn sẽ tăng trưởng nhanh:
1 . Về tiềm năng lao động. Năm 2008 nông thôn Việt Nam có 23,810 triệu lao động
trong nông lâm nghiệp và thuỷ sản, chiếm 53% tổng số lao động cả nước. Thời gian nhàn
rỗi của lao động nông thôn hiện khoảng 25%. Nông dân Việt Nam về cơ bản đã xoá nạn
mù chữ, đang phấn đấu phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Thu nhập của lao
động nông thôn Việt Nam còn thấp hơn các quốc gia trong khu vực. Nhược điểm căn bản
của lao động nông thôn Việt Nam, mà cần khắc phục là thiếu đào tạo về chuyên môn kỹ
thuật, số lao động không có chuyên môn kỹ thuật chiếm tới 74,2% tổng số lao động (2008).
Số lượng lao động nông thôn Việt Nam đông đảo có văn hoá, nếu được đào tạo chuyên
môn kỹ thuật tốt, sẽ là một nguồn lực phát triển rất cơ bản ở nông thôn Việt Nam.
2 . Về nguồn vốn . Nguồn vốn tiền tiết kiệm của dân cư trên GDP của nông dân Việt
Nam vào loại cao (khoảng 20% GDP). Các loại thu nhập ngoại tệ do xuất khẩu lao động,
kiều hối… hàng năm ước tính khoảng 6 -7 tỷ USD. Nguồn vốn ODA hàng năm được các
nhà tài trợ cam kết trên 2 tỷ USD. Vốn đầu tư FDI và ODA vào nông thôn Việt Nam chưa
có chủ trương tiếp nhận rõ rệt. Nếu Việt Nam có cơ chế sử dụng vốn hiệu quả, khả năng
gia tăng nguồn vốn cho đầu tư phát triển nông thôn Việt Nam còn lớn.
3 . Về thị trường. Nông thôn Việt Nam về cơ bản mới có thị trường hàng hoá nông
sản, còn thị trường dịch vụ, thị trường tài chính tiền tệ, vốn, bất động sản thực sự mới
manh nha. Một khi những thị trường này phát triển, sẽ là một nguồn lực hết sức to lớn cho
sự phát triển. Việt Nam sau khi là thành viên của WTO, cánh cửa của các thị trường nông
thôn với các quốc gia thành viên WTO còn chưa thực sự được mở. Việt Nam gia nhập
WTO, ký kết được các Hiệp nghị thương mại tự do song phương với các nền kinh tế lớn sẽ
là một cơ hội mở rộng thị trường bên ngoài vô cùng lớn.
4 . Về công nghệ. Trình độ công nghệ ở nông thôn Việt Nam hiện còn thấp xa so với
những nước tiên tiến. Nước đi sau có những lợi thế so sánh do nhập khẩu công nghệ mang
lại. Cho đến nay, nông thôn Việt Nam chủ yếu nhập khẩu một số máy móc thiết bị, chưa
nhập các bằng sáng chế, phát minh, các ý tưởng công nghệ… do vậy tiềm năng này còn rất
lớn.
5 . Về tài nguyên. Các nguồn tài nguyên ở nông thôn Việt Nam còn rất lớn, vị trí địa lý
thuận lợi chưa được thăm dò khai thác bao nhiêu. Đó là một nguồn lực quan trọng cho
CNH, HDH nông nghiệp nông thôn.
6 . Về thể chế. Có thể nói nguồn lực về thể chế ở nông thôn Việt Nam hiện còn rất lớn,
vì các thể chế thị trường, nhà nước, cộng đồng và hội nhập quốc tế ở nông thôn Việt Nam
hoặc còn chưa hoàn thiện, hoặc thiếu vắng. Chỉ cần Việt Nam xem xét, ban hành các thể
chế pháp luật phù hợp với các thông lệ quốc tế cũng đã đủ tạo ra một hành lang phát triển
thông thoáng cho kinh tế, xã hội nông thôn. Ngoài những nguồn lực trên, còn có thể có
những nguồn lực khác như văn hóa truyền thống… Nếu biết phát huy sử dụng theo kinh
nghiệm của Nhật bản, Hàn Quốc, cũng sẽ là một nguồn lực to lớn.
3 .2.2.1.2. Giải pháp khắc phục chênh lệch và bất bình đẳng kinh tế, thực hiện công
bằng xã hội trong phân phối thu nhập. Nông thôn Việt Nam hoàn toàn có đủ những nguồn
lực cho một sự tăng trưởng và phát triển với nhịp độ cao, vấn đề là cần có những chính
sách, thể chế, chiến lược phát triển thích hợp để tận dụng có hiệu quả các nguồn trên. Để
tăng trưởng bền vững, khắc phục chênh lệch và bất bình đẳng kinh tế, thực hiện công bằng
xã hội trong phân phối thu nhập cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, cần phải kiên trì phân phối theo vốn con người, cần dựa trên nguyên tắc,
“quyền ngang nhau là một quyền không ngang nhau đối với một lao động không ngang
nhau”88 là chính. Đồng thời, kết hợp giữa phân phối theo vốn con người với phân phối theo
các yếu tố sản xuất khác, cho phép và khuyến khích các yếu tố sản xuất như vốn, kỹ thuật
tham gia vào phân phối. Điều đó có lợi cho việc phát huy mọi nguồn lực và lực lượng xã
hội tham gia vào phát triển kinh tế theo hướng hiện đại bền vững. Nghĩa là sự tăng trưởng
đồng bộ và hài hòa của các nhân tố sản xuất: vốn con người, vốn nhân tạo, vốn xã hội, vốn
văn hóa và vốn môi sinh;

Thứ hai, cần khắc phục chênh lệc kinh tế theo h ướng ưu tiên hiệu quả. Trong Phê phán
Cương lĩnh Gôtha, C. Mác khẳng định công bằng nhất trong phân phối thu nhập là phân phối
theo vốn con người, mà người ấy đã đã đóng góp. Nó mặc nhiên thừa nhận sự không ngang
nhau về “năng khiếu cá nhân”, về năng khiếu lao động, mà coi đó là “đặc quyền tự nhiên”89
của mọi cá nhân người lao động. Chênh lệch kinh tế là một ý niệm thực chứng, mà nó mô tả
sự phân phối thu nhập hợp pháp không đồng đều của vốn con người (trình độ giáo dục và
kinh nghiệm nghề nghiệp) trong xã hội. Chênh lệch kinh tế tự nó không hàm ý đạo đức,
chênh lệch nhiều hay ít không phải là xấu hay tốt. Nguyên nhân của chênh lệch kinh tế là do
năng khiếu cá nhân trời ban, trí tuệ và sự cố gắng của lao động của mỗi con người khác
nhau. Ưu tiên hiệu quả chính là tiến hành phân phối thu nhập theo số lượng, chất lượng, giá

88
C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2002, tr. 35.
89
C. Mác và Ph.Ăngghen: T oàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2002, tr.34.
cả hàng hoá sức lao động và hiệu suất lao đ ộng sống, mà người lao động cống hiến, làm
nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít; cũng chính là tiến hành phân phối lợi nhuận theo tư bản,
mà người đầu tư bỏ vốn và các yếu tố sản xuất khác thu được, đầu tư nhiều được lợi nhuận
nhiều, đầu tư ít được lợi nhuận ít, không đầu tư không hưởng. Giải pháp cơ bản khắc phục sự
chênh lệch kinh tế ưu tiên hiệu quả là tạo cơ hội giáo dục, việc làm cho những người có thu
nhập thấp và thực hiện luật thuế thu nhập, mà Việt Nam thực hiện vào tháng 7 năm 2009;

Thứ ba, loại bỏ bất bình đẳng kinh tế (economic inequity) giữa các vùng, giữa thành thị
và nông thôn, giữa các ngành, giữa công nhân viên chức thuộc các chế độ sở hữu khác
nhau, giữa các ngành nghề khác nhau theo hướng công bằng. Bất bình đẳng kinh tế là một ý
niệm chuẩn tắc. Nó mô tả sự sai lệch của phân phối thu nhập thực tế so với chuẩn tắc (quy
định xã hội), nếu sự sai lệch nhiều hay ít, thì mức độ bất bình đẳng cao hay thấp. Bất bình
đẳng kinh tế hàm chứa phẩm chất đạo đức, theo nghĩa bất bình đẳng kinh tế nhiều (ít) là xấu
(tốt). Trong số dân cư giàu có lên nhanh chóng nhờ quá trình đổi mới, đa số họ đã làm ăn
theo pháp luật, có các nguồn thu hợp pháp. Phải ủng hộ, khuyến khích, động viên tầng lớp
giàu có chân chính này. Sự giàu có của họ sẽ góp phần làm gia tăng sự giàu có của đất nước.
Tuy nhiên trong số đó cũng có không ít kẻ đã giàu có lên nhờ tham nhũng, buôn lậu, làm ăn
bất hợp pháp, phải có những biện pháp răn đe, ngăn chặn và trừng trị thích đáng. Khắc phục
bất bình đẳng kinh tế này theo hướng công bằng, chính là bảo hộ thu nhập hợp pháp, thôn
tính thu nhập phi pháp, chấn chỉnh thu nhập bất hợp lý như thu nhập kinh tế ngầm (kinh tế
không được kiểm soát): buôn lậu, trộm cắp, hàng giả. Giải pháp trước hết là phải đổi mới
hoàn thiện thể chế và chính sách, giảm bớt và loại bỏ những khe hở cho tham nhũng và buôn
lậu. Sau đó mới đến những công tác giáo dục ý thức tôn trọng luật pháp, giám sát, phát hiện
và trừng trị những kẻ làm trái pháp luật.

Thứ tư, xây dựng và kiện toàn hệ thống bảo hiểm xã hội thích ứng với nền kinh tế thị
trường. Xây dựng một xã hội có nhiều người giàu, không có người nghèo đói, hoặc có người
nghèo đói nhưng được xã hội trợ giúp, quan tâm - đó là một định hướng mà Việt Nam lựa
chọn. Chương trình xoá đói giảm nghèo đã được Chính phủ Việt Nam thực hiện có kết quả
trong nhiều năm là một sự thể hiện rõ quyết tâm đó. Kết quả thu được là rõ rệt - đã giảm
được một nửa số người nghèo trong vòng 10 năm. Có thể nói, chương trình xoá đói giảm
nghèo theo nghĩa rộng nhất đã bao gồm toàn bộ chương trình phát triển của Việt Nam,
nhưng theo nghĩa hẹp nó chỉ tập trung vào những trợ giúp cho các vùng, các tầng lớp nghèo
đói. Tuy nhiên, có thể còn phải có những cố gắng tiếp tục hoàn thiện chương trình này theo
hướng xây dựng một hệ thống an sinh xã hội hoàn thiện hơn, đảm bảo an toàn hơn cho
những người gặp rủi ro, cơ lỡ, hỗ trợ tốt hơn cho những vùng nghèo90. Căn cứ vào tình hình
thực tế của mình, Việt Nam cần phải xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội hoá, nhiều tầng,
nhiều nấc. Bảo hiểm dưỡng lão, y tế, giáo dục...cần phải xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa xã
hội và cá nhân, giữa công bằng và hiệu quả, thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN, góp phần thúc đẩy tiến trình đổi mới hơn nữa ở Việt Nam;

Thứ năm, trong quá trình sản xuất, lĩnh vực phân phối thu nhập phải kiên trì nguyên
tắc "hiệu quả", còn trong lĩnh vực tái phân phối thu nhập thì phải chú ý nguyên tắc "công
b ình". Công bình phải trên cơ sở phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả, không thể đặt
công bình ở vị trí làm tổn hại đến hiệu quả, nếu làm tổn hại đến hiệu quả, thì cũng sẽ tổn hại
đến cơ sở vật chất của sự công bình. Nhưng nếu chênh lệch quá lớn, xã hội không thể chấp
nhận được, tất nhiên sẽ phá hoại công bình và cuối cùng là phá hoại hiệu quả. Vì vậy, xử lý
tốt, biện chứng mối quan hệ giữa hiệu quả và công bình, sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với
việc đổi mới cơ chế phân phối thu nhập trong thực tiễn. Công bình xã hội trong phân phối
thu nhập chính là thực hiện tiến bộ xã hội trong lĩnh vực phân phối thu nhập. Đó là một trong
những tiêu chí cơ bản cấu thành nên sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của mỗi quốc
gia. Công bình không chỉ là sự công bình xã hội trong thu nhập về tiền lương danh nghĩa, mà
chính là thu nhập thực tế về tất cả các quyền lợi vật chất và tinh thần được hưởng như; tiền
lương, khả năng được hưởng thụ các nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, phương tiện đi lại, điều kiện
học hành để nâng cao tri thức, các chế độ bảo hiểm xã hội, y tế, các hoạt động hưởng thụ,
vui chơi giải trí văn hoá, văn nghệ, thể thao, du lịch.

3 .2.2.2. Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH
nông thôn



90
X em thêm http://www.tapchithoidai.org/, PGS.TSKH Võ Đại Lược: Những vấn đề phát triển Việt Nam - Giải pháp,
Thời đại mới, số 6, 11/2005.
3.2.2.2.1. Một số đặc điểm lao động nông nghiệp: lao động nông nghiệp là
những người gắn bó với nông thôn làm việc trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nông
nghiệp. Hoạt động sản xuất kinh doanh của lao động nông nghiệp gắn với cây trồng, vật
nuôi. Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp cần phải căn cứ đặc điểm lao động
nông nghiệp đặc thù Việt Nam, thậm chí đặc thù của từng gia đình, tộc người và tôn giáo:
1. Ý thức kỷ luật thời gian lao động yếu. Lao động nông nghiệp là sản phẩm của cư
dân nông thôn có độ thuần nhất và đồng đều thấp. “Dấu ấn mà mỗi lao động trưởng thành
từ vùng nông thôn mang nặng tính riêng biệt của vùng xuất cư hàm chứa nhiều mặt tích
cực, nhưng cũng có vô vàn hạn chế của làng xã, dòng họ, tộc người, tôn giáo, gia đình” 91;
lao động nông nghiệp có tính thời vụ, tính đơn biệt với phong tục tập quán đa dạng, nhất là
những nước đang phát triển như Việt Nam nên ý thức kỷ luật thời gian lao động thấp;
2. Chất lượng nguồn lực lao động nông thôn thấp không chỉ thể hiện ở trình độ tay
nghề, mà còn ở thể chất, thái độ, thói quen lao động tùy tiện. “Đến năm 2006 cả nước có
35,6 triệu lao động ở nông thôn, trong đó 91% chưa q ua đào tạo, 3% đ ược đào tạo ở mức
sơ cấp, công nhân kỹ thuật, 4% có bằng trung cấp và cao đẳng, khoảng 1% có trình độ đại
học trở lên”92. Theo kết quả điều tra của Bộ LĐ, TB & XH cho thấy, chất lượng thấp của
nguồn lực lao động ở nông thôn không chỉ thể hiện ở trình độ tay nghề, mà còn ở thể chất,
thái độ, thói quen lao động;
3. Khả năng tự tạo việc làm của lao động ở nông thôn còn rất hạn chế . Trên cơ sở
những đặc thù lao động ở nông thôn Việt Nam hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp:
3.2.2.2.2. Giải pháp chung
Một là, phải gắn chương tr ình giải quyết việc làm với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Giải quyết việc
làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình HĐH nông nghiệp, nông thôn là vấn đề cơ
bản, lâu dài đòi hỏi phải được quy hoạch cụ thể ở từng địa phương. Việc làm của lao đông
nông nghiệp chỉ có thể giải quyết được một cách căn bản khi gắn với quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh HĐH nông nghiệp, nông thôn trong nền kinh tế thị trường nhiều
thành phần. Đây là biện pháp cơ bản và lâu dài nhằm giải quyết vấn đề lao động dôi dư

91
PGS.TS Nguyễn thị Thơm, Ths Phí Thị Hằng: Giải quyết việc làmcho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị
hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2009, tr.10.
92
Đặng Kim Sơ n: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển, N xb CTQG, HN, 2006, tr.75.
trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp. Một mặt đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế trong nông nghiệp theo hướng hiện đại. Đồng thời, phát triển các khu cụm công
nghiệp, các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên cơ sở tiểu thủ công nghiệp và làng nghề, xây
dựng, thương mại dịch vụ, du lịch. Phải gắn chương trình giải quyết việc làm với quá trình
đô thị hóa nhằm tạo ra sự gắn kết giữa phát triển đô thị với phát triển kinh tế và giải quyết
việc làm. Chương trình giải quyết việc làm phải gắn với quy hoạch đào tạo, chuyển đổi
nghề cho cư dân, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội, kế hoạch thu hồi sử dụng đất để xây
dựng khu cụm công nghiệp và đô thị mới. Quy hoạch các khu, cụm công nghiệp, khu đô
thị mới, quy hoạch kinh tế, xã hội, quy hoạch đào tạo dạy nghề cho nông dân … phải đ ược
chuẩn bị đồng bộ, phải được thông tin công khai, minh bạch cho mọi người dân ở các vùng
thu hồi đất;

Hai là, cần khắc phục tình trạng dự “án treo”, bảo vệ quỹ đất nông nghiệp. Đất đai là
tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế được và có hạn. V.V.Dokuchaev, nhà khoa học
người Nga tiên phong trong lĩnh vực khoa học đất cho rằng: “Đất như là một thực thể tự
nhiên có nguồn gốc và lịch sử phát triển riêng, là thực thể với những quá trình phức tạp và
đa dạng diễn ra trong đó”93. Đất đai có ưu th ế hơn các tư liệu sản xuất khác ở chỗ nếu
biết sử dụng hợp lý, thì sức sản xuất của nó sẽ không bị suy giảm hay bị đào thải theo thời
gian sử dụng và do sự tiến bộ của KH & CN. Đất đại có vị trí quan trọng, không có nó, thì
cũng không có sản xuất nông nghiệp. Mà không có sản xuất nông nghiệp, thì con người
không có lương thực, thực phẩm để duy trì cuộc sống và phát triển. Ngày nay, tốc độ HĐH
và gia tăng dân số quá nhanh trong khi đất nông nghiệp có hạn, do đó cần phải bảo vệ quỹ
đất nông nghiệp nhằm sản xuất đảm bảo nhu cầu lương thực thực phẩm để nuôi sống con
người. Cho nên, đất đai ngày càng trở nên quý giá. Đối với một quốc gia “đất chật, người
đông” như Việt Nam, thì giữ quỹ đất nông nghiệp để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
và đảm bảo quỹ đất phục vụ nhu cầu môi trường theo yêu cầu phát triển bền vững là điều
cần phải quán triệt sâu sắc trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của Nhà nước và mọi
người dân. Đất nông nghiệp đã thu hồi nhằm phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,
xây dựng hạ tầng cơ sở kinh tế, xã hội cần khắc phục tình trạng “dự án treo” như ở khu


93
http://vi.wikipedia.org/wiki/: V.V.Dokuchaev(Василий Васильевич Докучаев) (1846 – 1903) was a Russian
geographer who is credited with laying the foundations of soil science:
công nghiệp Xuyên Á, khu công nghiệp Đức Hòa (Long An), khu công nghiệp Tân Hương
(Tiền Giang), khu công nghiệp Bình Minh (Vĩnh Long), khu công nghiệp Nam sông Cần
Thơ, khu công nghiệp Phố Nối B (Hưng Yên), khu công nghiệp Đại Từ (Hà Nội)…

Ba là, xác định giá trị quyền sử dụng đất và hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động
nông nghiệp bị thu hồi đất theo nguyên tắc thị trường.

Trong những năm qua, thực tế diễn ra ở nhiều địa phương trên cả nước cho thấy, lợi
ích của những lao động nông nghiệp bị thu hồi đất chưa được giải quyết thỏa đáng. Đời
sống của họ gặp nhiều khó khăn, có nhiều nguyên nhân, trong đó do bị thu hồi đất. Các cơ
quan chức năng của Nhà nước chưa thống nhất và quán triệt nguyên tắc này trong đền bù,
giải phóng mặt bằng cũng như trong hỗ trợ giải quyết việc làm. Đền bù giá trị quyền sử
dụng đất không đảm bảo ngang giá thị trường và chưa đảm bảo tính công khai, minh bạch,
bình đẳng trong thực hiện chính sách đền bù. Vì ch ưa quán triệt nguyên tắc thị trường
nên nhiều lúc, nhiều nơi quá nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong giải quyết việc làm
và đảm bảo thu nhập cho những người lao đ ộng nông nghiệp bị thu hồi đất. Do đó, làm
cho những người có đất bị thu hồi thiếu chủ động trong tìm kiếm việc làm, thiếu kế hoạch
trong việc sử dụng tiền đền bù để tạo việc làm đem lại thu nhập, đảm bảo ổn định đời
sống. Vì thế trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, việc xác định giá trị quyền sử
dụng đất để đền bù, hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm và đảm bảo đời sống cho
n gười lao động có đất bị thu hồi phải được thực hiện theo cơ chế thị trường trên cơ sở
quy định của pháp luật và phải có hệ thống chính sách đồng bộ, phù hợp. Chính vì thế, hỗ
trợ giải quyết việc làm nhằm đảm bảo thu nhập và đ ời sống cho người lao động bị thù hồi
đất phải tuân thủ yêu cầu:

a) Tuân theo nguyên tắc thị trường trong việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ xây dựng
các khu tái định cư, hỗ trợ giải quyết việc làm nhằm đảm bảo thu nhập và đời sống của
những lao động nông nghiệp bị thu hồi đất. Điều này thể hiện trước hết ở giá cả đền bù
quyền sử dụng đất, giá nhà tái định cư được hỗ trợ phải hình thành dựa trên nguyên tắc có
sự thỏa thuận giữa Nhà nước với người dân, giữa các doanh nghiệp với người dân. Đồng
thời cũng đòi hỏi người lao động bị thu hồi đất chuyển đổi nghề nghiệp phải nâng cao tính
chủ động trong tìm việc làm, sử dụng tiền đền bù đúng mục đích, tạo ra thu nhập ổn định
và Nhà nước phải có trách nhiệm giải quyết những vấn đề bức xúc về việc làm, thu nhập để
sớm ổn định đời sống của người dân;
b) Phải tăng cường vai trò quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước thông qua việc hoàn
thiện hệ thống pháp luật, cơ chế và hệ thống các chính sách kinh tế, xã hội hợp lý bằng
việc đảm bảo hài hòa lợi ích cho người dân bị thu hồi đất và các doanh nghiệp có liên
quan. Để phát triển việc làm, theo TS. Lê Đăng Doanh, “việc doanh nhân hóa nông dân,
doanh nghiệp hóa nông thôn cần được đẩy mạnh, cần có cơ chế, chế tài rõ ràng trong việc
xử lý mối quan hệ lợi ích giữa doanh nghiệp và các hộ nông dân”. Hàn Quốc có kinh
nghiệm quý là “nông dân được tham gia mua cổ phần, đóng bảo hiểm trong các doanh
nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn (có sử dụng đất nông nghiệp) thay vì đền bù
ngay lập tức bằng một khoản tiền lớn. Điều này sẽ làm giảm độ “sốc” cho người nông dân
khi họ chưa tìm ra được một phương thức hoạt động kinh tế mới thay cho hoạt động nông
nghiệp truyền thống”94.
3 .2.2.2.3. Giải pháp mở rộng cầu lao đông ở nông thôn thực hiện ly nông bất ly
h ương. Đây là giải pháp nhằm tạo nhiều việc làm cho lao động nông thôn, lý nông bất ly
hương, thúc đẩy chuyển dịch lao động tương thích với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp và dịch vụ. Để tạo việc làm cho lao động ở nông thôn cần:

a . Mở rộng cầu lao động bằng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng
tập trung, phát triển thị trường ở nông thôn. Theo đánh giá của Bộ Công th ương, hiện tại
thị trường nông thôn phát triển vừa chậm vừa yếu, nhất là thị trường vốn, thị tr ường công
nghệ và thị trường lao động; sức mua của thị trường nông thôn thấp, chênh lệch lớn giữa
các vùng; nhất là vùng sâu, vùng xa. Đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Vai trò
thương mại nhà nước và các cơ sở kinh doanh vừa thiếu vừa nghèo nàn lạc hậu. Nạn kinh
doanh hàng giả, hàng kém chất lượng và hành vi gian lận thương mại còn phổ biến. Việc
chấp hành pháp luật của doanh nghiệp về đăng ký kinh doanh, thuế, báo cáo tài chính,
nhãn mác hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường …còn lỏng lẻo và tùy
tiện.



94
Lê Huy Ngọ trong Hội thảo Nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong quá trình hội nhập, Viện Chính sách Chiến lược
P hát triển NNNT, 12/4/2007.
Lực lượng tham gia thị trường lao động yếu. Năm 2000, trong khi khă năng tạo việc
làm ở lĩnh vực công nghiệp khoảng 2%, lĩnh vực dịch vụ đóng góp được 33% việc làm
mới, số lao động còn lại chủ yếu làm trong lĩnh vực nông nghiệp, mỗi năm phải thu hút
600 nghìn người, chiếm 50% lao động tăng thêm. Song, mới có 85% lao động có việc
làm95. Thời gian lao động chưa được sử dụng là 23%, tương đương 7 triệu lao động.

b . Mở rộng cầu lao động bằng việc hình thành các vùng sản xuất tập trung chuyên
canh nhằm tạo ra khối lượng hàng hóa lớn đáp ứng yêu cầu nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến và xuất khẩu, hàng nông sản tiêu dùng cho thành thị và nông thôn. Xây dựng quy
hoạch phát triển nông nghiệp quy mô lớn theo hướng sản xuất hàng hóa, mở rộng thâm
canh tăng vụ nhằm tạo thêm nhiều việc làm trong nông nghiệp. Khai thác lợi thế thổ
nhưỡng, khí hậu từng vùng để hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung như vùng
vải thiều Lục Ngạn, vùng bưởi Nam Roi, vùng trồng lạc ở Chí Linh…. Giảm diện tích
trồng lúa, tăng diện tích trồng màu và cây rau, củ quả sạch, cây công nghiệp, hoa cây cảnh;

Phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung, đưa chăn nuôi thành
ngành sản xuất chính. Hiện nay, ngành chăn nuôi Việt Nam còn nhỏ bé, tỷ trong chăn nuôi
trong cơ cấu trồng trọt chăn nuôi dịch vụ còn thấp. Để tạo nhiều việc làm trong ngành chăn
nuôi, đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính bằng việc: đ ưa nhanh các giống mới có
năng xuất, chất lượng vào sản xuất. Tiếp tục nạc hóa đàn lợn, sind hóa đàn bò, phát triển
đàn gia cầm; hình thành các trang trại, gia trại chăn nuôi tập trung; tăng cường công tác thú
y, phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc gia cầm; tăng cường quản lý, bảo vệ phát triển
rừng. Thực hiện các giải pháp phát triển trồng trọt, mở rộng chăn nuôi, phát triển rừng.

c . Mở rộng cầu lao động thông qua phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây
d ựng hạ tầng cơ s ở. Đây là giải pháp quan trọng để thu hút lao đ ộng và thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang công nghiệp, tận dụng thời gian nông nhàn. Để đạt
mục tiêu trên, Việt Nam cần đầu tư phát triển công nghiệp. Đầu tư công nghiệp không chỉ
nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướn tăng tỷ trọng GDP công nghiệp, mà
quan trong hơn đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động theo h ướng công nghiệp và dịch vụ.

95
Lao động được phân tích bao gồm những cá nhân trong độ tuổi lao động (16-59 tuổi).
Nhiều ngành công nghiệp có thể phát triển ở nông thôn Việt Nam như: công nghiệp cơ khí
và điện tử, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế biến nông lâm, thủy
hải sản; công nghiệp dệt may, giày da, công nghiệp hóa chất, công nghiệp điện nước; đầu
tư phát triển thủ công nghiệp và làng nghề. Phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề là
một trong những hướng quan trọng để tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động sang các
ngành phi nông nông nghiệp, thực hiện ly nông bất ly hương. Để phát triển tiểu thủ công
nghiệp và làng nghề, lãnh đạo các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành, các tổ chức chính
trị xã hội, các đoàn thể địa phương các cấp coi đó là nhiệm vụ chính trị trọng tâm và
thường xuyên. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới công tác quản lý nhà n ước
đối với sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề. Đơn giản hóa thủ tục hành
chính theo mô hình một cửa. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến và triển khai thực hiện các
chế độ chính sách nhà nước như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Nghị định số
134/2004/NĐ-CP ngày 9/6/2004 về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn, Nghị
định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn; Quy hoạch
đất đai, xây dựng hạ tầng cơ sở để phát triển thủ công nghiệp, làng nghề; giữ vững và phát
triển làng nghề truyền thống, mở thêm các làng nghề mới, tạo điều kiện hình thành nhiều
loại hình cơ sở sản xuất kinh doanh và nhiều quy mô khác nhau ở nông thôn…

d . Mở rộng cầu lao động thông qua phát triển các ngành dịch vụ ở nông thôn. Đây
cũng là giải pháp quan trọng để giải quyết việc làm cho lao đông nông nghiệp dôi dư. Để
thực hiện giải pháp này cần: tập trung phát triển nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ
còn nhiều tiềm năng ở nông thôn như du lịch, bảo hiểm, vận tải, kho bãi, bưu chính viễn
thông. Cần tạo môi trường thuận lợi phát triển các ngành dịch vụ mới như tài chính, ngân
hàng, kiểm toán, kinh doanh bất động sản, tư vấn pháp luật; mở rộng đa dạng hóa các loại
hình du lịch, kết nối các hành trình du lịch trong nước và quốc tế, xây dựng các khu du
lịch, đặc biệt du lịch sinh thái, tiếp tục nâng cấp, trùng tu các khu di tích lịch sử…

3 .2.2.2.4. Giải pháp nâng cao chất lượng cung lao đông ở nông thôn trong hội nhập
TWO. ĐCS Việt Nam khẳng định: Con người là vốn quý nhất, chăm lo hạnh phúc con
người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta, coi việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng và
phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi công
cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Để thực hiện quan điểm của Đảng, phát triển
nguồn nhân lực, tạo việc làm trong cam kết gia nhập TWO, cần thực hiện một số giải pháp
sau:

Một, là thành viên của WTO, chính sách của Chính phủ Việt Nam phải đồng thời giải
quyết hai việc: Thứ nhất, tiếp tục thực hiện chính sách đào tạo và tạo việc làm dù có là
thành viên WTO hay không, vì đây là chính sách cơ bản giúp nông dân nâng cao chất
lượng sống. Thứ hai, thực hiện một số chính sách mới trong tư cách thành viên WTO với
tính cách là chính sách phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm đáp ứng là thành viên
WTO. Hai công việc này hỗ trợ lẫn nhau, cái sau thúc đẩy cái trước và cái trước tạo điều
kiện cho cái sau. Điều đó có nghĩa là, Chính phủ cần tiến tới một phương án mang tính cơ
bản, lâu dài với một chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hoàn chỉnh đối với
nông dân. Chính sách đó cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn bền vững, nh ưng được đặt trong điều kiện thực tiễn mới - các nội dung
đã cam kết khi gia nhập TWO.

Tuy WTO cấm các hình thức trợ cấp, trợ giá xuất khẩu song, họ không cấm đầu tư
đào tạo nâng cao năng xuất cây trồng vật nuôi, Chính phủ vẫn có thể tiếp tục đầu tư phát
triển kết cấu hạ tầng, hỗ trợ nghiên cứu triển khai, khuyến nông, chuyển giao công nghệ,
đào tạo phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm. Vai trò của Nhà nước ngay cả khi hội nhập
WTO đối với nông nghiệp, nông thôn và nông dân vẫn rất quan trọng. Vấn đề là, tư duy và
cách thức hỗ trợ phải thay đổi cho phù hợp. Nhà nước phải phát huy tốt vai trò “cầm cân
nảy mực” đảm bảo cho các hợp đồng thỏa thuận và cho các tổ chức thực hiện cung cấp
thông tin và các chức năng về mặt xã hội.

Hai, cần tăng cường hơn nữa chính sách hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu khoa học, dịch vụ
kiểm tra giám sát dịch và sâu bệnh. Theo đánh giá của các chuyên gia, hầu hết các chính
sách hỗ trợ trong nước đều thuộc chính sách “hộp xanh” và hộp phát triển, mà WTO cho
phép các nước đang phát triển áp dụng. Theo số liệu thống kê, cơ cấu chính sách hỗ trợ
trong nước cho ngành nông nghiệp (giai đoạn 1999-2001) cho thấy, các chính sách thuộc
nhóm “hộp xanh” của Việt Nam chiếm 84,5% tổng nhóm hỗ trợ trong nước, tập trung chủ
yếu trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, dịch vụ khuyến nông, các chương trình
hỗ trợ vùng, hỗ trợ khắc phục thiên tai, dự trữ công vì mục đích đảm bảo an ninh lương
thực. Nhưng, chính sách hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu khoa học, dịch vụ kiểm tra giám sát
dịch bệnh chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số chi hỗ trợ trong nhóm “hộp xanh”, mới chỉ
là 1 - 3%. Các chính sách hỗ trợ trong nhóm chương trình phát triển Việt Nam đang áp
dụng mới chiếm 10,7% tổng nhóm hỗ trợ trong nước.

Kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy, trước khi vào WTO cũng nhận được rất nhiều
cảnh báo về một “kịch bản” xấu cho nông nghiệp, nông thôn. Nhưng thực tế không hoàn
toàn như vậy. Sau hội nhập WTO, một số ngành nông sản xuất khẩu của nước này tăng
vọt. Điều quan trọng là Trung Quốc đã có chính sách đào tạo nguồn nhân lực và tạo việc
làm cho nông dân phù hợp, không chỉ đầu tư mạnh vào nông nghiệp về hạ tầng, vốn, kỹ
thuật, bãi bỏ thuế và giảm phí, mà đầu tư mạnh hơn đào tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm.
Chúng ta cũng cần theo lộ trình này. Chính sách “hộp xanh lá cây” mới có thể áp dụng cho
đào tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm ở nông thôn Việt Nam sau gia nhập WTO: Tăng
cường phạm vi và áp dụng các dịch vụ tư vấn (áp dụng GAP). Huấn luyện, đào cho nhà
chế biến; cải thiện các công cụ, đào tạo nhân viên tiếp thị; nâng cao hiệu quả các kênh
phân phối, trong đó cần đào tạo nhân viên phân phối; thực hiện khả năng truy tìm nguồn
gốc, đẩy mạnh các dịch vụ tẩy trùng, thanh tra; đẩy mạnh các chính sách nhằm gia tăng giá
trị cho các sản phẩm của nông dân; đẩy mạnh việc tập hợp các thửa ruộng nhỏ lẻ thành các
trang trại lớn; bổ sung khối lượng thức ăn chăn nuôi để tăng sản lượng và chất lượng. Nhìn
chung, muốn thay đổi những điều kiện xã hội phải có một chế độ giáo dục thích hợp.

Ba, chính sách đào tạo nhân lực để rút khỏi sản xuất nông nghiệ p. Kết quả hoạt động
rà soát các nghĩa vụ của Việt Nam đối với Hiệp định nông nghiệp và đề xuất chính sách
phù hợp với quy định của WTO do Dự án hỗ trợ thương mại đa biên giai đoạn II (Bộ Công
Thương hợp tác với Uỷ ban châu Âu) cho thấy, có nhiều chính sách WTO không cấm,
nhưng chúng ta chưa tận dụng để sử dụng, ví dụ: để đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ cấu
kinh tế, việc trợ cấp để điều chỉnh cơ cấu thông qua chương trình đào tạo rút các nguồn
lực, trong đó có nhân lực khỏi sản xuất nông nghiệp là chính sách WTO không cấm, nhưng
Việt Nam lại chưa sử dụng nhiều. Bên cạnh đó, để hỗ trợ nông dân sản xuất giảm thiểu các
thiệt hại, Việt Nam được phép áp dụng các chính sách chi trả trực tiếp cho người sản xuất
nông nghiệp thông qua việc hỗ trợ riêng cho thu nhập, các chương trình bảo hiểm thu nhập
và mạng lưới an sinh thu nhập. Chính phủ cấp thêm thu nhập hoặc miễn thuế cho nông
dân, chi trả cho các chương trình môi trường để hỗ trợ sản xuất tại các vùng khó khăn.
Theo ông Antonio Berenguer, Tham tán Thương mại, Phái đoàn Uỷ ban châu Âu tại Việt
Nam, Việt Nam cần xây dựng các chính sách bồi dưỡng và đào tạo nhằm nâng cao khả
năng cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp trong nước bằng nâng cao năng xuất lao động,
cách cắt giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng; tập trung nhiều hơn vào nâng cao kiến thức
tổ chức quản lý, kinh doanh cho các chủ trang trại; kiến thức xúc tiến thương mại và cung
cấp khả năng tiếp cận thông tin tới nông dân; nâng cao chất lượng cây trồng - vật nuôi.

Bốn, chính sách đào tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm về thực chất là ngày càng phải
làm tốt hơn việc giải phóng con người. Đòi hỏi này đặt ra hai yêu cầu cùng một lúc: phải
tập trung trí tuệ và nguồn lực cho phát triển nguồn nhân lực, mặt khác phải đồng thời
thường xuyên cải thiện và đổi mới môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, gìn giữ
môi trường tự nhiên của xã hội nông thôn.

Vấn đề lớn nhất đặt ra cho nông thôn nước ta không phải là cái nghèo, mà là ý chí
phấn đấu với tất cả trí tuệ và nguồn lực có trong tay hướng vào phát huy những giá trị chân
chính của con người, trước hết là tự do và nghị lực sáng tạo của nó; kế thừa tiếp biến
những thành tựu của văn minh nhân loại.

Năm, trong hội nhập WTO không thể quan niệm đơn thuần nguồn nhân lực là lực
lượng lao động với nghĩa đơn giản chỉ là những người làm nông nghiệp, những người nông
dân ít có điều kiện học hành. Cuộc sống ngày nay đòi hỏi phải nhìn nhận nguồn nhân lực
bao gồm tất cả mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội và nghề nghiệp khác nhau, mọi địa vị
xã hội từ thấp nhất đến cao nhất ở nông thôn - kể từ người lao động đơn giản nhất, nông
dân, công nhân, người làm công việc chuyên môn, người làm khoa học, người làm nhiệm
vụ quản lý, nhà kinh doanh, người chủ doanh nghiệp, giới nghệ sỹ, người hoạch định chính
sách, quản lý đất nước... Tất cả đều nằm trong tổng thể của cộng đồng xã hội nông thôn,
từng người đều phải được đào tạo, phát triển và có điều kiện để tự phát triển, phải làm mọi
việc để từng người đứng đúng chỗ của mình và chịu sự sàng lọc của cuộc sống.

Sáu, chính sách đào tạo nguồn nhân lực trong bộ máy công quyền ở nông thôn cũng
phải đặt thành một ưu tiên. Nâng cao “quan trí”, nâng cao ý thức công bộc của đội ngũ cán
bộ viên chức ăn lương nhà nước ở nông thôn. Người ta hay nói nhiều đến ý thức, trình độ
nghề nghiệp thấp kém của nông dân, song hiện tượng đáng lo lắng hơn lại là cuộc sống có
không biết bao nhiêu ví dụ về tắc trách, về vận dụng hay thi hành sai luật pháp và những
chính sách đúng đắn.

Bảy, nhìn nhận như vậy, chính sách đào tạo nguồn nhân lực, phát huy và sử dụng con
người và người tài đ òi hỏi phải gắn liền với việc đẩy mạnh đổi mới trên nhiều phương diện
- về lâu dài là đổi mới toàn diện cả thể chế và xã hội. Với việc gia nhập WTO, đào tạo
nguồn nhân lực, tạo việc làm ở nông thôn ngày nay không thể chỉ đơn thuần một chiều
hiểu theo nghĩa phát triển lực l ượng lao động như lâu nay thường làm: mở thêm các
trường, các cơ sở đào tạo nghề, cải tiến nội dung dạy, đổi mới chính sách lao động tiền
lương, cải tiến công tác công đoàn, phổ biến kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân…

Đặt vấn đề với cách nhìn toàn diện trong đào tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm, có
nghĩa, phải đồng thời và từng bước làm rất nhiều việc khác - ví dụ những việc đã liệt kê ra
được như cải cách hành chính, xóa bỏ chủ quản, xóa bỏ bao cấp.., giảm biên chế, bổ túc và
đào tạo lại đội ngũ cán bộ viên chức các cấp, mở rộng và nâng cao đội ngũ cán bộ quản lý,
người làm chính sách, đổi mới chính sách phát huy con người và dùng người…; còn biết
bao nhiêu việc chưa liệt kê ra được như trong phát huy dân chủ, trong đổi mới thể chế quốc
gia, trong hội nhập sân chơi toàn cầu...

Chính sách đào tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm hiển nhiên đòi hỏi phải đồng thời đổi
mới triệt để toàn xã hội hướng thiện - theo nh ững giá trị chân chính - ví dụ, để có một môi
trường xã hội tron g công bằng, kỷ cương, đạo đức; pháp luật được coi làm chuẩn mực; xã
hội nông thôn trở thành xã hội học tập.
Bất luận lựa chọn và quyết định chính sách và giải pháp đào tạo nguồn nhân lực, tạo
việc làm ở nông thôn hiện nay và trong hoàn cảnh tham gia WTO, ý chí muốn học, tinh
thần ham học, quyết tâm chịu đựng mọi hy sinh khốn khó để học và học cho đến cùng của
người dân cần được gìn giữ, nâng niu, cổ vũ. Mặt khác, bình đẳng về cơ hội cho mọi
người là một trong những tiêu chí quan trọng nhất của xã hội văn minh, trong đó bình đẳng
về cơ hội trong giáo dục và tạo việc làm là quan trọng bực nhất.

Tóm lại, trong giáo dục cần đổi mới tư duy các điểm cơ bản sau: sự thiếu hụt lao động
và chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn không phải là hậu quả của việc thiếu đầu tư mà
một phần là do sự lãng phí và kém hiệu quả trong chi tiêu giáo dục. Do vậy, cần minh bạch
trong phân bổ ngân sách. Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng ở nông thôn Việt Nam
cần thực hiện Quyết định 14 của Chính phủ phải “cải cách toàn diện” đối với hệ thống giáo
dục, trong đó bao gồm những cải cách then chốt cần thiết để thổi một luồng sinh khí mới
vào hệ thống đào tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm cho nông dân nông thôn Việt Nam phù
hợp với cam kết gia nhập WTO.

3 .2.2.3. Giải pháp k hắc phục ô nhiễm và bảo vệ môi trường

Trước hết là, bồi thường thiệt hại cho các vùng bị thiệt hại theo luật định. Theo Điều
4. Nguyên tắc bảo vệ môi trường, mục 5, Luật Bảo vệ Môi trường số: 52/2005/QH11 quy
định: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách nhiệm
khắc phục, bồi thường thiệt hại và chịu các trách nhiệm khác theo quy định của pháp
luật”96. Phát triển kinh tế phải song hành cùng phát triển xã hội, bảo vệ môi trường bền
vững. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với xã hội là tạo việc làm, chăm sóc đời
sống người lao động, đồng thời bảo vệ môi tr ường... Trong tiến trình hội nhập nền kinh tế
toàn cầu, uy tín cũng như sức mạnh cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào
nhưng việc làm cụ thể mang tính xã hội của doanh nghiệp đó.

Hai là, cần phối hợp liên vùng trong khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường. Tình
hình ô nhiễm do sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và sinh hoạt gây ra: tr ước hết


96
http://www.donre.hochiminhcity.gov.vn/
các đơn vị sản xuất kinh doanh và các cơ sở sinh hoạt ở từng địa phương phải kiểm soát
được và cải thiện từng bước ô nhiễm môi trường; tăng cường thanh kiểm doanh nghiệp về
lĩnh vực bảo vệ môi trường; buộc các khu chế xuất, khu công nghiệp (KCX-KCN) gấp rút
hoàn thiện và đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung (HTXLNTTT); buộc
doanh nghiệp trong KCX-KCN th ực hiện tách riêng hệ thống thoát nước mưa và nước thải,
đấu nối nước thải vào HTXLNTTT; xây dựng đề án giám sát chất thải nguy hại; hỗ trợ các
bệnh viện xây dựng hệ thống xử lý nước thải… Tuy nhiên, những biện pháp, mà các địa
phương làm chỉ có thể ngăn chặn, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường ở một khu vực
nhất định. Còn về cải thiện chất lượng môi trường toàn lưu vực phải có sự phối hợp liên
vùng. Chẳng hạn, lưu vực sông Đồng Nai thì rất cần sự chung tay của lãnh đạo 12 tỉnh -
thành (Lâm Đồng, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh và một
phần các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Biên Hòa. Lưu vực sông Hồng - sông Thái
bình mà nó được hình thành từ 3 sông nhánh lớn là sông Đà, sông Lô và sông Thao. Sông
Thái Bình cũng được hình thành từ 3 nhánh sông lớn là sông Cầu, sông Thương và sông
Lục Nam cần được phối hợp liên vùng. Hai hệ thống sông được nối thông với nhau bằng
sông Đuống và sông Luộc tạo thành l ưu vực sông Hồng - sông Thái Bình. Để có thể cải
thiện được chất lượng n ước lưu vực các sông, các tỉnh - thành phải xác định lại vai trò bảo
vệ môi trường là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách. Các tỉnh - thành ngoài việc tự đánh giá
mức độ ô nhiễm lưu vực sông tại tỉnh mình, hoàn thiện hơn hạ tầng xử lý chất thải, đồng
thời cần phối hợp chặt chẽ với các tỉnh - thành khác trong phối hợp và thống nhất biện
pháp cải thiện chất lượng nguồn nước, hệ sinh thái liên vùng; xử lý triệt để những doanh
nghiệp cố tình xả thải chưa qua xử lý ra sông rạch… Có như vậy mới mong cải thiện hiện
trạng suy thoái và bảo vệ môi trường các lưu vực sông hiện nay.

Ba là, lồng ghép quy hoạch sử dụng đất (QHSDĐ) với các yếu tố bảo vệ môi trường
(BVMT). Lồng ghép các yếu tố BVMT trong QHSDĐ; nâng cao năng lực của cán bộ trong
việc lập và thẩm định các dự án về quy hoạch, cũng như khả năng đánh giá tác động môi
trường trong QHSDĐ; đề xuất các giải pháp QHSDĐ thay thế thích hợp nhằm SDĐ hiệu
quả và bền vững. Quan trắc môi trường đối với các yếu tố môi trường cần quan tâm lên
bản đồ nền của huyện để phục vụ việc xây dựng bản đồ các yếu tố môi trường cần quan
tâm; phân tích, đánh giá các xu hướng cơ bản về đất đai và môi trường; đánh giá tình hình
thực hiện QHSDĐ. Để thực hiện mục tiêu đó, cần thực hiện nội dung gồm nhiều bước
được phân chia thành 3 nhóm: Nhóm truyền thông (thực hiện truyền thông có sự tham gia
của cộng đồng), Nhóm đất đai (thực hiện các nội dung về đất đai) và Nhóm Môi trường
(thực hiện các nội dung về môi trường). Trong quá trình thực hiện phải có sự phối hợp chặt
chẽ giữa các nhóm để sử dụng có hiệu quả nguồn thông tin tại địa phương cũng nh ư sản
phẩm đầu ra của nhóm. Mặt khác, việc bố trí nhân sự trong các nhóm thực hiện các bước
lồng ghép cũng cần có cán bộ quy hoạch hiểu về môi trường và ngược lại.

Biểu đồ 3.2: không lời




A g rofores try




88
88




Bốn là, xây dựng Hương ước bảo vệ môi trường (BVMT) góp phần thúc đẩy nhân dân
đ ịa phương tích cực xây dựng thôn, xóm ngày càng khang trang, xanh - sạch - đẹp.
Khuyến khích những việc làm tốt, ngăn chặn, xóa bỏ những việc làm xấu, những hủ tục lạc
hậu mất vệ sinh... Hương ước BVMT được các địa phương hoàn thiện để phù hợp với đặc
thù, phong tục tập quán của từng nơi. Để có một bản hương ước, người dân phải trực tiếp
góp ý xây dựng, điều chỉnh, sửa đổi và hoàn thiện từng nội dung, điều khoản cụ thể của
bản Hương ước môi trường. Tự nguyện cam kết để thực hiện và tuân thủ Hương ước.
Năm là, phát triển nguồn nhân lực của ngành TNMT. Phát triển nguồn nhân lực nhằm
trang bị các năng lực cơ bản cho phép các cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn của
Ngành thực hiện có chất lượng chức năng quản lý Nhà nước và cung cấp dịch vụ công về
tài nguyên và môi trường, đồng thời sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu, thách thức đặt ra cho
ngành TNMT trong tương lai", cần nâng cao một cách toàn diện và hệ thống năng lực quản
lý của đội ngũ quản lý làm việc tại các cơ quan Trung ương và địa phương của ngành
TNMT; tiếp tục bổ sung những thiếu hụt về các năng lực mới hoặc năng lực mũi nhọn cho
cán bộ ngành TNMT. Các hình thức tổ chức đào tạo các lớp riêng cho từng loại đối tượng
(cán bộ làm việc tại cơ quan Trung ương, địa phương), tạo thuận lợi cho học viên nghiên
cứu thực tiễn của mình, áp dụng lý thuyết để giải quyết tình huống nảy sinh trong thực tiễn
công tác.

Sáu là, tăng cường Quản lý Nhà nước về Đất đai và Môi trường . Tăng cường năng
lực cho các cơ quan quản lý môi trường. Xây dựng một hệ thống quản lý môi trường và tài
nguyên hiệu quả góp phần đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững đất nước, tăng trưởng kinh
tế đi đôi với xóa đói giảm nghèo, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường. Đồng thời đổi
mới hệ thống quản lý theo h ướng cải cách hành chính, xây dựng hệ thống hành chính gần
dân và khuyến khích người dân giám sát việc thực thi pháp luật, đóng góp vào các quá
trình ra quyết định. Thực hiện hướng tiếp cận tổng hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên
bao gồm quản lý đất đai và môi trường. Hai tiến trình kết nối giữa đất đai và môi trường là
quy hoạch sử dụng đất (LUP) và đánh giá môi trường chiến lược & tác động môi trường
(SEA & EIA). Chương trình cũng hướng đến việc xây dựng chính sách cấp quốc gia, một
mặt soạn thảo đề cương hướng dẫn kỹ thuật, mặt khác áp dụng chính sách pháp luật tại cấp
cơ sở (tỉnh, huyện, xã). Các hoạt động này được thực hiện thông qua các mô hình và dự án
điểm nhằm đúc rút kinh nghiệm cho các nhà hoạch định chính sách.

3 .2.2.4. Giải pháp giữ gìn và phát triển bản sắc v ăn hóa truy ền thống nông thôn
Việt Nam

C.Mác đã từng khẳng định, một xã hội chỉ có thể phát triển cao với một nền đại công
nghiệp. Để thực hiện lý tưởng đó, Đại hội lần thứ VIII ĐCS Việt Nam đã đề ra: từ nay đến
năm 2020 chúng ta phải phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp. Đồng
thời, Đại hội X khẳng định phải: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với
phát triển kinh tế - xã hội”97. CNH, HĐH không phải chỉ là phát triển công nghiệp, đưa KH
&CN vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế, mà còn HĐH mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và
dịch vụ của nền kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác phong
lao động, kỹ năng sản xuất. Như vậy, quá trình CNH, HĐH tự bản thân là một quá trình cải
biến mọi hoạt động văn hóa trên các lĩnh vực, đặc biệt là hoạt động sản xuất tinh thần và
đời sống văn hóa theo hướng từng bước lên trình độ tiên tiến và hiện đại. Đó là quá trình
văn hoá hoá đời sống xã hội và văn hoá hoá ngày càng cao bản thân con người. Bởi theo
Mác, văn hoá là hiện thân sức mạnh bản chất người được thể hiện trong "Thiên nhiên thứ
hai" của con người. Để chuyển hóa tư tưởng của Mác, quan điểm của ĐCS Việt Nam vào
cuộc sống cần thực hiện một số giải pháp có tính định hướng sau:
Một là, phải bảo tồn văn hóa truyền thống trên nguyên tắc phát triển, vì mục tiêu
phát triển. Trong lịch sử bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, Việt Nam luôn thể hiện
bản lĩnh vững vàng trước sự du nhập của những trào lưu văn hóa ngoại.
Trong xu thế CNH, HĐH, hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, việc bảo tồn văn hóa
truyền thống phải đặt trên nguyên tắc phát triển và vì mục tiêu phát triển. Nói cách khác,
cái gì trong kho vốn giá trị văn hóa truyền thống ở nông thôn đóng vai trò động lực thúc
đẩy phát triển thì phải bảo tồn, phát huy, còn cái nào cản trở, kìm hãm sự phát triển thì cần
hạn chế, loại trừ. Do vậy, phát triển phải là nguyên tắc mang ý nghĩa chỉ đạo cho việc bảo
tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống.

Trong điều kiện HĐH và hội nhập cần có tầm nhìn và giải pháp tác động đồng bộ với
các giải pháp kinh tế, thì giá trị văn hóa truyền thống ở làng, bản mới được bảo tồn, phát
huy và trở thành sức mạnh nội sinh của dân tộc, phát triển phù hợp với xu thế thời đại,
nhưng vẫn giữ được nét bản sắc của văn hóa truyền thống. Để giữ gìn, kế thừa, phát triển
bản sắc văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự coi đó vừa là mục tiêu, vừa là
động lực phát triển kinh tế, xã hội. Mỗi dân tộc, mỗi vùng quê cần phải có thái độ biện

97
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006,
tr.106.
chứng “gạn đục, khơi trong” những giá trị văn hóa truyền thống. Văn hóa luôn là hệ thống
mở, những giá trị đích thực tiêu biểu cho cốt cách, phẩm chất dân tộc Việt Nam cần phải
được bồi đắp nội dung mới cho phù hợp với thời đại, những mặt hạn chế cần phải được
khắc phục, đổi thay. Những giá trị bên ngoài đã được “Việt Nam hoá”, được các thế hệ con
người Việt Nam thâu lượm, chọn lọc biến “cái của người”, thành “cái của ta” cũng là văn
hóa dân tộc. Trên tinh thần ấy, cần phải quán triệt sâu sắc những định hướng mà Đại hội X
của Đảng đã chỉ ra về kế thừa, phát huy và phát triển giá trị văn hóa trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo
vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế.
Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý tưởng
sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam”98.

Hai là, phát huy văn hóa truyền thống, nguồn sức mạnh nội sinh của đất nước trong
quá trình HĐH và hội nhập. CNH, HĐH hiện nay ở nông thôn nước ta thực sự đang là một
cuộc cách mạng lớn lao. Làm thế nào để thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, mà
vẫn giữ gìn và phát triển đ ược bản sắc văn hoá dân tộc đang là vấn đề bức xúc đặt ra cho
toàn Đảng, toàn dân hiện nay. Điều đầu tiên, một trong những biện pháp để CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn không chỉ đơn giản là nhập nội khoa học - kỹ thuật - công nghệ
tiên tiến từ bên ngoài, mà là biết kết hợp các yếu tố nội sinh và ngoại sinh, trong đó, yếu tố
nội sinh văn hóa là gốc, là nền tảng thực hiện CNH, HĐH.

Ba là, giữ gìn bản sắc văn hóa làng, bản một giải pháp quan trọng HĐH n ông thôn
theo bản sắc Việt Nam. Nông thôn Việt Nam lưu giữ một kho tàng văn hóa dân gian đồ sộ,
đa dạng và phong phú. Trong quá trình xây dựng nông thôn mới hiện đại, việc giữ gìn bản
sắc văn hóa làng ở nông thôn rất quan trọng. Mặt trái của CNH, HĐH cùng những sản
phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài tràn vào đang hằng ngày, hằng giờ tiến công vào các
gia đình truyền thống, đạo đức lối sống, thuần phong mỹ tục làng, bản Việt Nam. Các tệ
nạn xã hội đang len lỏi đến tận vùng quê, nhất là những nơi bị thu hồi ruộng đất, nông dân
chưa có việc làm. Quá trình CNH, đô thị hóa thiếu quy hoạch cũng đang phá vỡ cảnh quan

98
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đ ại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm
2006, tr. 106.
gắn bó với thiên nhiên của làng quê. Ðô thị cùng với các khu công nghiệp mọc lên khiến
cho không ít vùng nông thôn bị ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Trong bối cảnh "tấc đất tấc vàng" khắp nơi đua nhau xây d ựng, nhưng p hải bảo vệ
những di tích lịch sử - văn hóa, những đền chùa, lăng tẩm, miếu mạo đã được Nhà nước
xếp hạng, thực hiện nghiêm Luật Di sản văn hóa. Những làng cổ như Ðường Lâm, Sơn
Tây; nhà vườn Huế; những bản làng dân tộc thiểu số tiêu biểu cần giữ nguyên trạng trước
làn sóng "xi-măng cốt thép". Tiếp tục khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, tôn
vinh bàn tay vàng của các nghệ nhân để có nhiều hàng hóa thủ công mỹ nghệ độc đáo, chất
lượng cao phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Khai thác triệt để vốn văn hóa dân
gian thông qua các lễ hội truyền thống. Mỗi làng cần có hương ước văn hóa vừa giữ trật tự
an ninh xã hội vừa giữ thuần phong mỹ tục có từ nghìn xưa. Mỗi gia đình nông dân vừa
tiếp thu nếp sống đô thị, nếp sống công nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới
vừa bảo vệ, phát huy giá trị của gia đình truyền thống lấy đạo hiếu làm đầu, trên kính dưới
nhường, anh em hòa thuận. Một trong những giải pháp quan trọng là đưa hệ thống giá trị
văn hóa truyền thống vào hệ thống giáo dục quốc dân, trong đó có đội ngũ doanh nhân.

Bốn là, phát triển du lịch làng nghề - một giải pháp quan trọng giữ gìn bản sắc văn
hoá truyền thống nông thôn Việt Nam trong xã hội hiện đại. Trong xu thế HĐH và mở cửa
hiện nay, làng nghề truyền thống đang dần lấy lại vị trí quan trọng của mình trong đời sống
kinh tế, văn hoá, xã hội của dân tộc. Những làng nghề này như một hình ảnh đầy bản sắc,
khẳng định nét độc đáo riêng không thể thay thế. Đó là một cách giới thiệu sinh động về
đất, nước và con người của mỗi vùng miền, địa phương. Phát triển du lịch làng nghề chính
là một một giải pháp đúng và phù hợp cần ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển
du lịch.

Những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ thể hiện ở những
con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyết nguồn lao động địa phương mà hơn
thế, là một cách thức gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thốn g làng, bản. Đó là
những lợi ích lâu dài không thể tính đếm trong ngày một ngày hai.
Năm là, tiếp biến văn hóa nhân loại là giải pháp làm phong phú văn hóa truyền
thống nông thôn Việt Nam. HĐH, hội nhập trên cơ sở định hướng với sự lựa chọn tối ưu là
làm sao tích hợp được nhiều tinh hoa đặc sắc của nhiều nền khoa học - kỹ thuật - công
nghệ và cách điều tiết nền kinh tế - xã hội của nhiều nước một cách hợp lý, phù hợp với
đặc điểm và điều kiện nông nghiệp, nông thôn Việt Nam là một hướng đi đúng. Nếu nhân
danh sự tiếp thu, mà bê nguyên xi những cái bên ngoài thì văn hoá sẽ bị mất gốc, bị đồng
hoá. Mất nước, chúng ta còn giành lại được nước, nhưng mất bản sắc văn hoá truyền
thống, thì sẽ mất tất cả!
Tiếp thu trên tư thế chủ động là điều kiện của việc xử lý mối quan hệ biện chứng nội
sinh, ngoại sinh. Điều đó có nghĩa, chủ thể tiếp nhận phải có đủ kiến thức và trình độ với
đối tác một cách tự tin. Nguyên tắc tiếp thu là lấy bản sắc văn hoá nông thôn làm gốc, lấy
tiêu chí văn hoá dân tộc làm bộ lọc, tiếp thu các giá trị văn hoá hiện đại của thế giới, lấy cái
tiến bộ bổ sung cho những thiếu hụt trong văn hoá truyền thống, tạo thuận lợi cho văn hoá
truyền thống phát triển.

Chúng ta thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là nhằm làm phong phú và
HĐH văn hoá truyền thống nông thôn Việt Nam, làm đậm đà và bền vững bản sắc văn hoá
của mình, chứ không để cho nó bị hoà tan, làm sao để vào khoảng những năm 20 của thiên
niên kỷ tới, dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam được sống trong một xã hội hiện đại
với nền văn hoá đặc sắc của chính mình.

Tóm lại, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc không những góp phần phát
triển kinh tế nông thôn bền vững, giữ được diện mạo, môi trường lành mạnh của làng, bản,
đồng thời xây dựng người nông dân mới với trình độ KH & CN tiên tiến vừa có bản lĩnh,
cốt cách của con người Việt Nam, mà còn là một nhân tố quan trong góp phần phát triển
kinh tế xã hội nông thôn bền vững.
KẾT LUẬN

Thực hiện đường lối CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của ĐCS Việt Nam, kinh tế
nông thôn Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo sự chuyển chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng hiện đại, đồng thời kéo theo nhiều đổi thay ở các lĩnh vực khác của đời
sống xã hội nông thôn. Tuy nhiên, cũng từ đ ó, nhiều vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc nảy
sinh. Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ đã ký trong Hợp đồng, đề tài đã:
Thứ nhất, hệ thống hóa các khái niệm mới nhất, công cụ nhận thức, phân tích, nhận
xét, đánh giá, định hướng khắc phục những vấn đề kinh tế, xã hội trong việc thực hiện
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững; Điều quan trọng, đề tài đã phân
tích 2 nhân tố ảnh hưởng sâu sắc đến khả năng khắc phục những bức xúc kinh tế, xã hội để
phát triển theo hướng bền vững ở nông thôn Việt Nam hiện nay. Đó là xây dựng cơ c hế
bền vững - cơ chế chất lượng cao và bình đẳng trong phân phối thu nhập.

Mặt khác, đề tài đã nêu kinh nghiệm thành công và không thành công thực hiện CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn trong phát triển bền vững ở một số nước: Trung Quốc, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan. Từ đó rút ra những bài học kinh nghiện bổ ích cho Việt Nam
tiếp tục thực hiện HĐH nông nghiệp, nông thôn trong những năm tới. Từ kinh nghiệm của
các nước, đề tài đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích cho Việt Nam. Trong đó, đề tài
khái quát 3 bài học có tính chung nhất. Đó là bài học kinh nghiệm tăng trưởng kinh tế nông
thôn bằng con đường CNH, HĐH bền vững ở Nhật Bản, Hàn Quốc; bài học kinh nghiệm
giải quyết việc làm, rút lao động khỏi nông nghiệp, ly nông bất ly h ương ở Trung Quốc,
Nhật Bản, Hàn Quốc….; bài học kinh nghiệm về CNH nông nghiệp, nông thôn với bảo tồn
và phát triển văn hóa dân tộc, tiếp biến kinh nghiệm quốc tế ở Nhật Bản.

Thứ hai, đề tài đã làm rõ thực trạng thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở
Việt Nam. Trước hết, đề tài nêu bật thành tựu đổi mới chủ trương CNH, HĐH hóa nông
nghiệp, nông thôn của ĐCS Việt Nam từ đại hội III (năm1960) đến nay. Qua các Đại hội
và các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương, chúng ta thấy sự đổi mới tư duy lãnh
đạo nông nghiệp, nông thôn của Đảng qua các thời kỳ. Bắt đầu từ ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ đến tập
trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu
(1982), rồi phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ
quan trọng để ổn định tình hình kinh tế, xã hội, tiếp đến CNH, HĐH nông nghiệp nông
thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân (2006).
Đề tài nêu bật thành quả thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ
đổi mới như tăng trưởng kinh tế nông nghiệp cao và liên tục trong nhiều năm, đảm bảo
phát triển ổn định kinh tế đất nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng hiện
đại, tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao cả về giá trị và lao động, đời sống vật chất, văn
hóa tinh thần nông dân có nhiều cải thiện, thể hiện thu nhập và khả năng tích lũy của nông
dân tăng lên theo thời gian, điều kiện sống của các hộ nông thôn có nhiều đổi mới, văn hóa
xã hội nông thôn Việt Nam biến đổi theo hướng tích cực.
Đặc biệt, đề tài đã làm rõ những vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc nảy sinh trong việc
thực hiện CNH ở nông thôn Việt Nam hiện nay cần phải khắc phục. Theo đề tài, có 4 vấn
đề kinh tế xã hội bức xúc nhất là: tình trạng mất đất, thiếu việc làm ở nông thôn ngày càng
nghiêm trọng, hiện tượng ly nông ra các trung tâm đô thị kiếm sống rất lớn. Thu nhập nông
dân Việt Nam tương đối thấp so với các nước láng giềng, nhưng phân hóa giàu nghèo giữa
thành thị và nông thôn, giữa các vùng tại Việt Nam đang doãng ra khá mạnh. Với tốc độ
CNH và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số, h àng ngày khu công nghiệp, đô thị,
làng nghề thải ra khoảng 30.000 tấn chất thải rắn, lỏng, khí và các chất thải độc hại khác
không được sử lý, nên môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoát nghiêm trọng. Đời
sống văn hóa xã hội ở nông thôn có nhiều biểu hiện xuống cấp.

Thứ ba, từ cơ sở lý luận và thực trạng kinh tế, xã hội bức xúc trong việc thực hiện
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam, đề tài đã nêu 5 quan điểm cần quán triệt
để khắc phục những bức xúc kinh tế, xã hội trong thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông
thôn để phát triển theo hướng bền vững.
Để giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc hiện này, cần phải tiến hành đồng
bộ nhiều giải pháp với nhiều khâu và xuất phát từ chính lợi ích của nông dân, tạo cơ hội để
nông dân được thực sự h ưởng lợi từ quá trình CNH, HĐH, đề tài cho rằng, Việt Nam cần
tiếp tục thực hiện các nhóm giải pháp cơ bản sau đây:
1/ Nhóm giải pháp chung, đổi mới và hoàn thiện hơn nữa môi trường pháp lý và môi
trường kinh tế, trong đó cần tập trung những vấn đề cốt lõi: hoàn thiện cơ chế, là nguồn lực
quan trọng nhất khắc phục và phát triển kinh tế, xã hội nông thôn theo hướng hiện đại bền vững;
đổi mới hơn nữa sự điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp đối với nông nghiệp,
nông thôn cũng là một nguồn lực hiện đại hóa bền vững: đổi mới quan hệ giữa Chính phủ,
chính quyền các cấp và thị trường, đổi mới quan hệ giữa Chính phủ, chính quyền các cấp
với doanh nghiệp, đổi mới quan hệ giữa Chính phủ, chính quyền các cấp và các tổ chức xã
hội, đổi mới quan hệ giữa Chính phủ trung ương và các cấp chính quyền địa phương.
2 / Nhóm giải pháp khắc phục những bức xúc về kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường:
giải pháp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở nông thôn; giải quyết việc làm cho lao
động nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH nông thôn; giải pháp khắc phục ô nhiễm và
bảo vệ môi trường và giải pháp công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông thôn phải gắn liền với
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
a ) TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
1 . Thành Tự Anh: Tránh vết xe của các đô thị Đông Nam Á, 2008
3 . GS. TS. Vũ Đình Bách - GS.TS. Trần Minh Đạo (Đồng chủ biên Đặc trưng của nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 3 64 tr. Nxb CTQG, HN, 2006.
4 . Trần Nam Bình: Vai trò của bất bình đẳng kinh tế, ghen tị và thiếu thốn tương đối
trong phát triển bền vững tại Việt Nam, Bài viết cho Hội thảo Mùa hè “Trách nhiệm Xã
hội, Ổn đ ịnh và Phát triển” tổ chức tại Đại học Nha trang, Việt Nam, 29–31 tháng 7 năm
2008.
5 . PASCAL BERGERT: Nông dân, nhà nước và thị tr ường ở Việt Nam: Mười
nămhợp tác nông nghiệp trong lưu vực sông Hồng. 288 tr. Nxb CTQG, HN, 2005.
6 . Báo cáo Brundtland n ăm 1987 (còn gọi là Báo cáo Our Common Futur ) của Ủy
ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED.
7. TS. Mai Văn Bảo, Viện Kinh tế, chuyên luận đề tài: Những giải pháp c ơ bản phát
triển nền nông nghiệp bền vững ở nước ta hiện nay, Kỷ yếu đề tài, Hn, 2009.
8. Nguyễn Đức Bình, học viên cao học KTCT, chuyên luận đề tài: Lý luận về công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trong phát triển bền vững, Kỷ yếu đề tài,
Hn, 2009..
9. Vũ Đình Cự: Đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế
tri thức, Nxb CTQG, HN, 2007.
10. PGS. TS. Trần Thị Minh Châu: Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện
nay. 320 tr. Nxb CTQG, HN, 2007.
11. An Châu. Trung Vinh: Đất Nước Hàn Quốc . Nxb Từ điển Bách khoa, năm 2007.
12. Dự báo thế kỷ 21, Nxb Thống kê, HN, 1998.
13. TS. Lê Đăng Doanh: Hình thành đồng bộ hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô thúc
đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 304 tr. Nxb CTQG, HN, 2003.
14. Phạm Quang Diệu: Chiến lược công nghiệp hoá lan toả - Chuyển đổi nền kinh tế
từ nông nghiệp sang công nghiệp, T/C Thời đại mới, 2008.
15. TS. Phạm Ngọc Dũng: Nông nghiệp, nông thôn và nông dân ở Bắc giang: thành
tựu và một số vấn đề đang đặt ra, T/C Lao động và Công đoàn, s ố 423, tháng 3 (kỳ 1)-
2009.
16. TS. Phạm Ngọc Dũng, Hà Thị Tâm: Lao động nữ và việc làm trong các khu công
nghiệp ở Hà Nam-vấn đề và giải pháp, T/C Lao động và Công đoàn, số 430, tháng 6 (kỳ
2)-2009.
17. TS. Phạm Ngọc Dũng: Phân phối thu nhập ở Việt Nam -Vấn đề bức xúc cần giải
quyết, T/C Kinh tế & Phát triển, số 149, tháng 11/2009.
18. Nguyễn Trí Dũng, QUV / Bí thư Đảng ủy Phường 6, Quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí
Minh, chuyên luận đề tài: Những vấn đề cần giải quyết sau khi thu hồi đất của nông dân ở
các vùng ven đô thị, Kỷ yếu đề tài, Hn, 2009.
19. Đảng Lao động Việt Nam: Báo cáo chính trị của BCH TW Đảng tại Đại hội đại
b iểu toàn quốc lần thứ III, Văn kiện Đại hội, tập I, Hà Nội, năm 1960, tr.66-67.
20 . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2001.
21 . Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV,
Nxb Sự thật, HN, 1976.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần tứ V, Nxb Sự
thật, HN, 1982.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb
Sự thật, HN, 1987.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết 06-NQ/TW, ngày 10/11/1998 của Bộ
Chính trị, Nxb Sự thật, HN,1987.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb.
Sự thật, Hà Nội, 1991.
26. Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991.
27. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ
khoá VII, Hà Nội, 1994.
28. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung
ương khoá VII, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995.
29. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung
ương khoá VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
30. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành
Trung ương khoá VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.
31. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
32. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương
khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
33. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2006.
34. PGS. TS. Nguyễn Văn Đặng (Chủ biên): Phấn đấu đưa nước ta c ơ bản trở thành
mộ t nước công nghiệp theo h ướng hiện đ ại vào năm 2020. 764 tr. Nxb CTQG, HN, 2007.
35. TS. Lê Huy Đức: Nâng cao chất lượng tăng trưởng của ngành công nghiệp Việt
Nam trong quá trình CNH - HĐH, Nxb CTQG, Hà Nội 2005.
36. Hội thảo: Người dân nông thôn trong quá trình CNH do Viện Chính sách và
Chiến lược PTNN NT, Tạp chí Tia Sáng và Báo Nông thôn ngày nay phối hợp tổ chức,
Ngày 27/6/2009 tại Hà Nội.
37. GS,TS. Hoàng Ngọc Hoà: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội, 2008.
38 . Nguyễn Quốc Hùng: Đổi mới chính sách về chuyển đ ổi mục đ ích sử dụng đất đai
trong quá trình công nghiệp hoá đô th ị ở Việt Nam (Chủ yếu từ thực tiễn Hà Nội). 1 72 tr.
Nxb CTQG, HN, 2006.
39. PGS.TS Nguyễn Thị Như Hà, chuyên luận đề tài: Những vấn đề kinh tế nảy sinh
trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, Kỷ yếu đề tài, HN,
2009.
40. TS Vũ Ngọc Kỳ: Nông dân và Hội nông dân Việt Nam trên đường hội nhập kinh
tế quốc tế. 236 tr. Nxb CTQG, HN, 2007.
41.Thiếu Quang Hạnh, Phó Chủ tịch UBND huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ, chuyên
luân đề tài: Th ực trạng thu hồi đất trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
thôn huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ hiện nay và giải pháp, Kỷ yếu đề tài, HN, 2009.
42. Phạm Mạnh Hùng, Trưởng phòng nghiệp vụ 2, Thanh tra tỉnh Hà Nam, chuyên luân đề
tài: Khiếu nại, tố cáo trong hỗ trợ, bồi thường, tái định cư giải phóng mặt bằng khi Nhà
n ướcthu hồi đất xây dựng các khu công nghiệp - nguyên nhân và giải pháp, Kỷ yếu đề tài,
HN, 2009.
43. Tôn Đức Hải, PGĐ Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Tĩnh, chuyên luận đề tài: Giải pháp
tăng trưởng kinh tế bền vững trong thực hiện CNH-HDH ở nông thôn Việt Nam hiện nay ,
Kỷ yếu đề tài, HN, 2009.
44. Đinh Thị Thu Hương, UVTV, Trưởng ban Tuyên giáo thành ủy Việt Trì, tỉnh Phú
Thọ, chuyên luận đề tài: Những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong thực hiện công
nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Phú Thọ, Kỷ yếu đề tài, HN, 2009.
45. Dương Thị Tuyết Hồng, Cao học KTCT-Thành phố Hồ Chí Minh, chuyên luận đề
tài: Những vấn đề kinh tế nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Kỷ yếu
đề tài, HN, 2009.
46. V.I.Lênin: Toàn tập, tiếng Việt, tập 26, 27, 33, 36, 37, 38, 39, 45, Nxb. Chính trị
quốc gia, HN, 2005.
47. PGS.TSKH Võ Đại Lược: Những vấn đề phát triển Việt Nam - Giải pháp , T/C
Thời đại mới, số 6, 11/2005.
48. Luật Đất đai năm 2003: luật số 13/20034/QH11 của Quốc hội nước Cộng hòa
XHCN V i ệt Nam về đ ất đ ai , Nx . b CTQG, HN, 2003 .
49. C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 1, 2, 3, 4, 5, 6, 16, 17, 19, 20, 21, 22, 42,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
50. Hồ Chí Minh: toàn tập, T. 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2002.
51. TS Vũ thị Mai: Tạo việc làm cho người lao động bị ảnh hưởng trong quá trình đô
thị hoá Hà Nội. 160 tr. Nxb CTQG, HN, 2007.
52. Phạm Xuân Nam: Quá trình phát triển công nghiệp ở Việt Nam, Nxb Khoa học
Xã hội, Hà nội, năm 1994.
53. Đỗ Hoài Nam: CNH-HĐH nông nghiệp - nông thôn: Nh ững thành tựu đạt được ,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.
54. Đỗ Hoài Nam, Trần Đình Thiên: Mô hình công nghiêp hoá, hiện đại hoá rút ngắn
theo đ ịnh hướng XHCN của Việt Nam trong giai đoạn tới, Nxb CTQG, HN, 2003.

55. NHIỀU TÁC GIẢ : Một số vấn đề về bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế ở
n ước ta hiện nay. 168 tr. Nxb CTQG, HN, 2004. Công trình tập thể của các tác giả Trung
Quốc: Dự báo thế kỷ 21 , Nxb Thống kê, HN, 1998.

56. Hoàng Văn Nghiên, Phó giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Lạng Sơn,
chuyên luận đề tài: Một số lý luận về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn trong phát triển bền vững , Kỷ yếu đề tài, HN, 2009.

57. NCS Ngô Tuấn Nghĩa, chuyên luận đề tài: Phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng
thu nhập trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
h iện nay, Kỷ yếu đề tài, HN, 2009.

58. Phan H. L. : Làng xã cổ truyền của người Việt, tiến trình lịch sử và kết cấu kinh tế
xã hội, Nxb CTQG, Hà nội, năm 1996.
59. TS. Lê Quang Phi: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông
thôn trong thời kỳ mới. 288 tr , Nxb CTQG,HN, 2007.
60. GS.TS Lê Du Phong: Thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để
xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình
công cộng phục vụ lợi ích quốc gia. 2 96 tr. Nxb CTQG, HN, 2007.
61. Xứng Cao Quang: CNH-HĐH nông nghiệp - nông thôn: tình hình phát triển 5
năm qua và một số giải pháp , Nxb CTQG, Hà nội, 2 007.
62. TS. Nguyễn Minh Quang, Viện Kinh tế: Một số giải pháp phát triển văn hóa
bền vững trong thực hiện CNH-HDH ở nông thôn Việt Nam hiện nay, Kỷ yếu đề tài, HN,
2009.
63. Vũ Hữu Sự (2008): Cần một khoán mười nữa cho nông thôn: làng quê đang
“vỡ”, http://nongnghiep.vn/
64. Đào Xuân Sâm, Vũ Quốc Tuấn: Đổi mới ở Việt Nam, nhớ lại và suy ngẫm, Nxb
Tri thức, Hà Nội, 2008.
65. Đỗ Quốc Sam: Về công nghiệp hóa - h iện đại hóa ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà
nội, 2006.
66. Đặng Kim Sơn: Ba cơ chế: thị trường, nhà nước và cộng đồng, ứng dụng cho Việt
Nam, 294 tr. Nxb CTQG, HN, 2008.
67. Đặng Kim Sơn: Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn, nông dan trong
quá trình công nghiệp hoá. Nxb CTQG, HN, 2008.
68. Đặng Kim Sơn: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam- Hôm nay và ngày
mai. 222 tr. Nxb CTQG, HN, 2008.
69. Đặng Kim Sơn: Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển.
244 tr. Nxb CTQG, HN, 2006.
70. GS. TS. Lưu Văn Sùng : Một số kinh nghiệm điển hình về phát triển nông
nghiệp nông thôn theo h ướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá . 132 tr. Nxb CTQG,
HN, 2004.

71. GS. Trần Văn Thọ: Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hoá Việt
Nam. 302 tr. Nxb CTQG, HN, 2005.
72. Trần Văn Thọ: Công nghiệp hóa Việt nam trong thời đại châu Á Thái bình
d ương, NXB TP Hồ Chí Minh, VAPEC, 1997.

73. PGS.TS Nguyễn Thị Thơm, Ths Phí Thị Hằng: Giải quyết việc làm cho lao động
nông nghiệp trong quá trình đô th ị hóa , Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 2009.

74. Tổng cục Thống kê Việt Nam: Thông cáo báo chí bổ sung kết quả năm 2008,
h ttp://www.gso.gov.vn/
75. Tổng cục Thống kê: Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2006, Nxb
Thống kê , HN, 2007.
76. GS. TS. Nguyễn Kế Tuấn: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn ở Việt Nam: Con đường và bước đi. 244 tr. Nxb CTQG, HN, 2006.
77. GS. TS. Nguyễn Văn Thường: Một số vấn đề kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ đ ổi
mới. 760 tr. Nxb CTQG, HN, 2004.
78. TS. Nguyễn Từ: Nông nghiệp Việt Nam trong phát triển bền vững. 170 tr. Nxb
CTQG, HN, 2004.
79. PGS. TS. Nguyễn Chơn Trung - PGS. TS. Trương Gia Long: Phát triển các khu
công nghiệp, khu chế xuất trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. 468 tr. Nxb
CTQG, HN, 2004.
80. TS. Đặng Văn Thắng - TS. Phạm Ngọc Dũng: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế công -
nông nghiệp ở Đồng bằng sông Hồng - Thực trạng và triển vọng. 216 tr. Nxb CTQG, HN,
2003.
81. ThaddeusC.Trzyna: Th ế giới bền vững, đ ịnh nghĩa và trắc lượng phát triển bền
v ững, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học & công nghệ, Nxb CTQG, Hà
Nội, 2001.
82. TS. Vũ Thị Thoa, Viện Kinh tế, chuyên luân đề tài: Công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn trong phát triển bền vững- một số vấn đề lý luận , Kỳ yếu khoa
học, 2009.
83. TS. Đoàn Xuân Thủy, Viện Kinh tế, chuyên luận đề tài: Kinh nghiệm công nghiệp
hóa, hiện đ ại hóa nông nghiệp nông thôn trong phát triển bền vững ở một số n ước: thành
công và thất bại, Kỳ yếu khoa học, 2009.
84. Th.s Hồ Thanh Thủy, Viện Kinh tế, chuyên luận đề tài: Thực trạng thu hồi đất,
mất việc làm trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp ở nông thôn ở
v iệt Nam hiện nay , Kỳ yếu khoa học, 2009.
85. Th.s Nguyễn Hữu Thịnh, Trường Chính trị Tôn Đức Thắng tỉnh An Giang,
chuyên luân đề tài: Thực trạng và giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn An Giang , Kỳ yếu khoa học, 2009.
86. Hà Thị Minh Tâm, Chánh văn phòng LHPH tinh Hà Nam, chuyên luận đề tài:
Tác động của sự phát triển khu công nghiệp, đo thị đến việc làm, thu nhập và đời sống của
lao động nữ vùng thu hồi đất canh tác; Những vấn đề đặt ra và giải pháp tại đ ịa bàn tỉnh
Hà Nam, Kỳ yếu khoa học, 2009.
87. Đặng Thị Phương Thảo, Trưởng ban Tư tưởng VHTƯ Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chính Minh, chuyên luận đề tài: Thực trạng nguồn nhân lực thanh niên trong giai
đoạn hiện nay, Kỳ yếu khoa học, 2009.
88. TS. Mai Thị Thanh Xuân: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn
ở Bắc Trung Bộ (Qua khảo sát các tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh). 300 tr. Nxb CTQG, HN,
2004.

89. Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam: Báo cáo cập nhật nghèo 2006 - Nghèo và
g iảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993-2004. 84 tr. Nxb CTQG, HN, 2007.
b) TÀI LIỆU NƯỚC NGOÀI
90. Amsden, Alice, Asia’s Next Giant: South Korea and the Late Industrialization,
New York: Oxford University Press, 1989.
91. Lin, Yustin Yifu and Yang Yao. Chinese Rural Industrialization in the Context of
East Asian Miracle, Ch. 4 trong Stiglitz and Yussuf eds. 2001.ed.,
92. The institutional foundations of structural reform in the Asia -Pacific Region , East
Asian Bureau of Economic Research, Crawford School of Economics and Government,
Australian National University, January 2008.
Douglass C.: Institutions, Institutional Change and Economic
93. North,
Performance, New York: Cambridge University Press, 1990.
94. Tran Van Tho and Yoko Koseki: Aid Effectiveness to Infrastructure:
A Comparative Study of East Asia and Sub-Saharan Africa, a Case Study of Vietnam,”
J BICI Research Paper No. 37-4, July, 2008.
95. Jin – Hwan Park, “the History of Saemaul Undong”, Saemaul Undong, 2000.
96. World Bank: The East Asian Miracle: Economic Growth and Public Policies ,
New York: Oxford University Press, 1993.
97. World Bank: World Development Report 2003: Sustainable Development in a
Dynamic World, New York: Oxford University Press, 2003.
98. World Bank: World Development Report 2008: Building Institutions for Markets,
New York: Oxford University Press (Báo cáo phát triển thế giới 2008 của ngân hàng Thế
giới).


c) TƯ LIỆU TRÊN MẠNG INTERNET
99. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 21/05/2008.
bachkhoatoanthu.gov.vn/
100. http://www.donre.hochiminhcity.gov.vn/
101. http://giadinh.net.vn/home/
102. http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid/
103. http://hanoi.vnn.vn/:
104. http://www.ios.ac.vn/
105. http://www.nhandan.com.vn/tinbai
106. http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2009/

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản