Luận văn: Ô nhiễm môi trường

Chia sẻ: luuhuong0402

Vấn đề ô nhiễm môi trường trong quá trình toàn cầu hóa về kinh tế Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu, song nó mang lại cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Thế giới ngày càng có tính liên kết và tác động tương hỗ lẫn nhau. Thế giới được liên kết bởi các tổ chức kinh tế, thương mại, các tổ chức xã hội,...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn: Ô nhiễm môi trường

Luận văn
Ô nhiễm môi trường
1



CHƯƠNG 1
VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TRONG GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. Vấn đề ô nhiễm môi trường trong quá trình toàn cầu hóa về kinh tế
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu, song nó mang lại cả hai mặt tích cực và tiêu cực.
Thế giới ngày càng có tính liên kết và tác động tương hỗ lẫn nhau. Thế giới được liên kết bởi
các tổ chức kinh tế, thương mại, các tổ chức xã hội, và ngày càng hướng tới một cộng đồng
kinh tế chung cho cả một khu vực, nhưng đồng thời thế giới cũng được liên kết bởi các loại
bệnh dịch, chủ nghĩa khủng bố, di cư và cả nạn ô nhiễm - trong đó có vấn đề “hiệu ứng nhà
kính” và sự biến đổi môi trường toàn cầu, v.v...
Qua một số nghiên cứu cho thấy, một trong các vấn đề nổi cộm của nạn ô nhiễm toàn
cầu hiện nay chính là tình trạng ô nhiễm môi trường từ các KCN, KCX do công tác thu gom,
xử lý và đổ thải các loại rác công nghiệp yếu kém, các khí đốt từ các nhà máy thải ra vượt quá
mức cho phép, gây ô nhiễm nguồn nước trầm trọng, chất lượng không khí bị suy giảm… Tại
các nước đang phát triển, chỉ 30-50% lượng rác thải được giải quyết. Thậm chí ở một số nước
có nền kinh tế đang phát triển, tốc độ tăng lượng rác thải còn lớn hơn tốc độ tăng dân số. Tại
Ấn Độ, chỉ 217/3119 thành phố có hệ thống cống thải; và sông Hằng là một trong những con
sông ô nhiễm nhất thế giới do hứng chịu chất thải từ 115 thành phố công nghiệp. Theo Tổ
chức Y tế thế giới (WHO), hiện đang có 1,2 tỷ người sống trong môi trường ô nhiễm quá tiêu
chuẩn vệ sinh hiện hành; 2 tỷ người đang khát; hơn 2 tỷ người vẫn thiếu nước sạch và điều
kiện sử dụng nước vệ sinh. Nghiên cứu cũng cho thấy biến đổi khí hậu chịu 20% trách nhiệm
đối với việc thiếu nước sạch, trong khi sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế chịu trách
nhiệm đến 80%.
Xu hướng phát triển công nghiệp đa ngành, đặc biệt là công nghiệp nặng, công nghiệp
hóa chất là nguyên nhân phát sinh phần lớn chất thải độc hại. Theo Ngân hàng Phát triển Châu
Á (ADB), ô nhiễm không khí và nước tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á sẽ tiếp tục
tăng gấp 5 - 10 lần ở giai đoạn 2005-2010. Ô nhiễm đô thị và công nghiệp hiện này đang là
tác nhân gây ô nhiễm nặng nề đến các vùng nông nghiệp lân cận. Vấn nạn ô nhiễm môi trường
không của riêng một quốc gia nào mà đang là mối quan tâm chung của toàn thế giới. Trước
2



sức ép của phát triển kinh tế, nhiều quốc gia đã xem nhẹ việc QLMT, làm cho môi trường sinh
thái bị tàn phá nặng nề, điều này không những ảnh hưởng ngược lại tới đời sống xã hội mà còn
đến cả chính trị, kinh tế. Toàn cầu hóa kinh tế mang màu sắc tích cực, sẽ đưa quốc gia phát
triển bền vững đi đôi với việc có được một môi trường sống lành mạnh và ngược lại sẽ là
“ con dao hai lưỡi” nếu một quốc gia quá chú trọng vào nó mà không để ý đến những mặt trái
mà việc hủy hoại, tàn phá môi trường là một ví dụ điển hình.
1.2. Xu hướng chuyển dịch tư bản dẫn tới ô nhiễm ở các nước nghèo
Chuyển dịch tư bản (CDTB) từ ngành này sang ngành khác trong phạm vị lãnh thổ một
nước, cũng như từ nước này sang nước khác chủ yếu nhằm để tìm kiếm lĩnh vực đầu tư có
nhiều lợi nhuận hơn. Tỉ suất lợi nhuận cao trước mắt hoặc dự đoán có thể có trong tương lai
bao giờ cũng là động lực thúc đẩy CDTB.
Trong hệ thống kinh tế xã hội, hàng hoá được di chuyển từ sản xuất, lưu thông, phân
phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của vốn, nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, phế
thải. Các thành phần đó luôn ở trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của
hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó. Hiện nay xu hướng CDTB dẫn tới ô nhiễm
môi trường nặng nề từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển thể hiện rõ thông qua
FDI. Có thể thấy cùng với những lợi ích do FDI mang lại, các nước đang phát triển phải đối
mặt với những thách thức, trong đó đặc biệt nghiêm trọng là nạn "xuất khẩu" ô nhiễm môi
trường từ các nước phát triển trên thế giới đang ngày càng gia tăng.
Trong quá trình thị trường của thời buổi hội nhập ngày càng yêu cầu phải thay đổi tư
duy quan niệm về sản xuất sạch và BVMT, thì vai trò của các DN đầu tư nước ngoài, nhất là
các MNCs có tầm quan trọng rất lớn trong quá trình tạo lập tính bền vững môi trường của các
dự án FDI. Thông thường MNCs có công nghệ sạch, áp dụng những chuẩn môi trường cao
hơn so với yêu cầu của nước chủ nhà, do vậy có khả năng góp phần vào quá trình phát triển
bền vững môi trường của nước chủ nhà. Tuy nhiên, có trường hợp MNCs đưa các dây chuyền
sản xuất ô nhiễm, hoặc chuyển giao các công nghệ lạc hậu tới nước chủ nhà, mà những công
nghệ này không được chấp nhận tại nước đầu tư. Việc “xuất khẩu” ô nhiễm đã mang lại cho
các MNCs một lợi thế cạnh tranh mới nhờ giảm chi phí sản xuất. Nguyên nhân của tình trạng
này là do chi phí để khắc phục ô nhiễm môi trường tại các nước phát triển rất cao. Các DN của
3



các nước này buộc phải tìm đến giải pháp chuyển lĩnh vực sản xuất gây ô nhiễm của họ ra
nước ngoài. Các nước phát triển như: Đức, Áo, Bỉ, Đan Mạch... đang đánh thuế mạnh vào các
ngành gây ô nhiễm, trong khi đó các nước đang phát triển lại có mức thuế thấp hơn nhiều do
khát vốn. Vô hình chung, các nước nghèo này trở thành những nước “nhập khẩu” ô nhiễm.
Từ những nhận định và phân tích trên đây, quả thật các nước nghèo đang phải hứng
chịu nhiều hệ quả của việc bành trướng và phát triển kinh tế và kỹ nghệ của các nước phát
triển. Nếu chính phủ các nước đang phát triển không tỉnh táo trước mặt trái của chu trình
CDTB này thì vấn nạn “nhập khẩu” ô nhiễm là càng trở nên nghiêm trọng hơn bao giờ hết và
vô hình chung một lần nữa lại đẩy nhanh, đẩy mạnh cho việc chuyển dịch ô nhiễm mà hệ lụy
chính là môi trường của chính quốc gia mình.
1.3. Các vòng đàm phán của WTO và các Hiệp định đa phương (MEAs) có liên quan
đến bảo vệ môi trường và sự hưởng ứng của các nước
1.3.1. Vấn đề môi trường ra đời trước khi hình thành WTO:
Bước vào những năm đầu của thập kỷ 70, các nước ký kết Hiệp định chung về Thuế
quan và Thương mại (GATT) bắt đầu nhận thấy rằng các vấn đề môi trường cần được giải
quyết trong khuôn khổ GATT vì chúng liên quan đến thương mại. Sự khởi đầu này gắn liền
với Hội nghị về Môi trường Con người (Conference on Human Environment) được tổ chức tại
Stockhom năm 1972. Mối quan tâm ban đầu trong GATT là cần hạn chế ảnh hưởng của chính
sách môi trường đối với tự do hoá thương mại trong khuôn khổ của GATT. Tuy nhi ên vấn đề
này vẫn chưa được giải quyết ổn thỏa và vẫn còn được tranh luận trong các cuộc đàm phán
của GATT, nhất là ở vòng đàm phán Uruguay.
1.3.2. Diễn biến vấn đề môi trường qua các Hội nghị của WTO
Sau khi kết thúc vòng đàm phán Uruguay, WTO được thành lập, hội nghị Bộ trưởng
WTO lần thứ nhất tại Singapore từ ngày 9-13/12/1996 đã ra tuyên bố ủng hộ những diễn biến
thảo luận về thương mại và môi trường (TM&MT) trong WTO vào thời điểm này, đồng thời
yêu cầu Uỷ Ban Thương mại Môi trường tiếp tục phát huy chức năng của mình trong việc xúc
tiến thảo luận các chủ đề liên quan tới lĩnh vực môi trường.
Tới Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 3 từ ngày 30/11- 3/12/1999 tại Seatle, Hoa Kỳ,
các Bộ trưởng tiếp tục thảo luận về vấn đề TM&MT trong khuôn khổ phiên thảo luận về các
4



vấn đề nông nghiệp và các vấn đề liên quan tới quy định của WTO. EU lên tiếng ủng hộ các
cuộc đàm phán đối với vấn đề thương mại có liên quan tới môi trường. Tuy nhiên, các thành
viên đã không đi tới kết luận hay tuyên bố nào về vấn đề này .
Tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 4 từ ngày 9-14/11/2001 tại Doha, Quatar, Bộ
trưởng các nước Thành viên đã ra tuyên bố chung về các vấn đề TM&MT, trong đó chủ yếu là
phát động cuộc đàm phán về những vấn đề có liên quan và xác định những vấn đề cần tiếp tục
thảo luận để đưa vào chương trình đàm phán. Song song với những nội dung được nhất trí đưa
vào chương trình nghị sự, Hội nghị Doha cũng nhất trí rằng các nước sẽ quan tâm đặc biệt tới
những vấn đề TM&MT khác không thuộc nội dung của chương trình đàm phán.



“Chúng tôi chỉ thị cho Uỷ ban TM&MT dành sự quan tâm đặc biệt tới những
vấn đề sau trong quá trình theo đuổi các nội dung của Chương trình hành động trong
khuôn khổ các điều khoản nghĩa vụ của Uỷ ban này:
 Tác động của các biện pháp môi trường đối với tiếp cận thị trường, đặc
biệt là việc tiếp cận thị trường của các nước đang phát triển và kém phát
triển, và xem xét những trường hợp mà việc tự do hoá thương mại có lợi
cho thương mại, môi trường và sự phát triển.
 Các quy định liên quan trong Hiệp định WTO về Các vấn đề Sở hữu trí
tuệ có liên quan tới Thương mại (TRIPs).
 Các yêu cầu về dán nhãn vì mục đích BVMT.
 Xây dựng năng lực và rà soát môi trường. ”
( Đoạn 32, Tuyên bố Hội nghị Bộ trưởng Doha, tài liệu WTO số WT/MIN(01)/DEC/)




Các Bộ trưởng đã thừa nhận tầm quan trọng của công tác hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng
năng lực trong lĩnh vực TM&MT đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là đối với các
nước kém phát triển. Các Bộ trưởng cũng khuyến khích việc trao đổi kiến thức và kinh
nghiệm giữa các Thành viên WTO để có thể tiến h ành các cuộc rà soát về môi trường ở cấp độ
quốc gia.
5



Cho đến nay, do có nhiều quan điểm khác nhau nên chương trình đàm phán về môi
trường chỉ giới hạn với những quy định hiện hành của WTO (Phụ lục 1) và những nghĩa vụ
mang tính chất thương mại trong MEAs. Ngoài ra, nội dung đàm phán được quy định là không
ảnh hưởng tới quyền lợi của các Thành viên WTO không tham gia MEAs, đồng thời cũng làm
thay đổi quyền và nghĩa vụ của các thành viên theo các Hiệp định hiện hành của WTO.
1.3.3. Các hiệp định đa phương về môi trường (MEAs) liên quan tới thương mại
Trong hơn 20 năm qua có hơn 200 MEAs được biết đến. Một số ít là các hiệp ước toàn
cầu, mở ra cho tất cả các quốc gia. Rất nhiều các hiệp ước song phương không được biết đến,
ước lượng khoảng hơn 1000 hiệp ước. Điều này cho thấy một cấu trúc quốc tế về QLMT là
gồm nhiều loại khác nhau và nó phản ánh phạm vi khác nhau của các hiệp ước và tiêu chí của
các hiệp ước. Nhìn tổng thể chúng ta có thể nhận thấy rằng sự liên quan giữa thương mại và
các MEAs là không phổ biến, chỉ khoảng 1/10 các hiệp định có đề cập đến TM&MT đáng chú
ý. Nguyên nhân là do các đo lường của MEAs không ảnh hưởng quan trọng đến lưu chuyển
thương mại hay giá trị của các lưu chuyển thương mại mà chúng có ảnh hưởng thì không quan
trọng trên phương diện toàn cầu. Tuy vậy, những hiệp định này đã tồn tại có ảnh hưởng quan
trọng đến các dòng lưu chuyển thương mại quốc tế. Theo Uỷ ban TM&MT của WTO, chỉ có
khoảng 14 MEAs (Phụ lục 2) trong đó sử dụng các quy định và biện pháp thương mại. Bên
cạnh hệ thống phân loại này của WTO, chương trình môi trường của liên hiệp quốc (UNEP)
cũng đưa ra một danh mục khoảng gần 30 Hiệp định đa phương về môi trường trong đó có thể
có các quy định liên quan đến thương mại.
Nhìn chung trong giai đoạn hội nhập kinh tế toàn cầu, ô nhiễm môi trường luôn là chủ
đề tranh luận nóng bỏng trên các diễn đàn quốc tế. Các nước có nhiều quan điểm khác nhau,
hầu hết đều phản ánh quyền lợi của họ trong thương mại quốc tế. Mặc dù chưa có nhiều tiến
triển nhưng một khi đã được đưa vào chương trình nghị sự đàm phán thì vấn đề môi trường
trong thương mại quốc tế đã được chính thức thừa nhận và tất yếu sẽ diễn biến và ảnh hưởng
đáng kể đối với các bên liên quan.
6



1.4. Nghiên cứu vấn đề chống ô nhiễm ở các nước và các bài học kinh nghiệm rút ra
cho phát triển các KCN Việt Nam ( những bài học thành công và thất bại )
1.4.1. Trung Quốc (TQ) với ô nhiễm môi trường và bài học “cái bắt tay hiệu quả
với cộng đồng”
Trung Quốc trong những năm gần đây được biết đến như một cường quốc với tốc độ
tăng trưởng kinh tế chóng mặt. Nhưng cùng với tăng trưởng kinh tế cao, tình trạng ô nhiễm
nói chung và ô nhiễm tại các đô thị, KCN, KCX ở TQ cũng tăng đến mức báo động. Trong
danh sách 20 đô thị ô nhiễm nhất thế giới (điều tra năm 2006), TQ đã chiếm đến 16. Mặc dù
Chính phủ TQ đã tiến hành nhiều biện pháp nhưng môi trường tại một số khu vực vẫn tiếp tục
xấu đi, đặc biệt là tại tỉnh Quảng Đông, tình trạng ô nhiễm môi trường từ các KCN, KCX ngày
càng tồi tệ. Năm 2003, lượng CTCN tại đây đã lên đến 68 tấn/người, so với 56 tấn/người ở
Giang Tô và Chiết Giang, 27 tấn/người ở Sơn Đông. Mưa axit - hậu quả của lượng khí sulfuric
thải ra từ than đốt của các nhà máy điện công nghiệp – ngày càng nhiều và đậm đặc hơn. Đến
năm 2005, ước tính thiệt hại do ô nhiễm nguồn nước và không khí – 2 nguồn ô nhiễm chính ở
TQ mất từ 8-15% GDP của nước này (GDP-2005 là 1.800 tỷ USD), chưa kể đến thiệt hại đối
với sức khỏe. Nhìn chung, ngân sách cho công tác làm sạch môi trường ở TQ ngày càng tăng
lên. Chi phí cho môi trường năm 2003 tăng gần 20% so với năm 2002, đạt 20,1 tỷ USD, chiếm
1,4% GDP của nước này. Năm 2006, Chính phủ đã thông qua một kế hoạch tốn kém chi tới
175 tỷ USD, tương đương khoảng 1,5% GDP để khắc phục ô nhiễm nguồn nước, không khí
tại các thành phố và ngăn chặn nạn xói mòn tài nguyên đất. Cũng trong năm này, TQ phải bỏ
ra khoảng 135 tỉ đô la Mỹ (tương đương với 7% GDP, 2006) để đầu tư vào các công nghệ
kiểm soát ô nhiễm tiên tiến nhất. (Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn, ngày 2/12/2004, tr.53)
Trước sự cảnh báo của các tổ chức thế giới về nạn ô nhiễm, chính phủ TQ đã phải xem
xét lại toàn bộ hệ thống QLMT nói chung và vấn nạn ô nhiễm từ các KCN; từ chỗ thay vì chờ
xử lý hậu quả của ô nhiễm, Chính phủ chỉ đạo nắm rõ nguồn gốc gây ô nhiễm và điều khiển
toàn bộ quy trình xử lý ô nhiễm; từ chỗ chỉ tập trung quản lý những thành phần DN gây ô
nhiễm trong các KCN, KCX sang tập trung quản lý một cách đồng bộ và điều chỉnh quy hoạch
lại KCN, KCX, khuyến khích “Sản xuất sạch” và hướng tới một “nền kinh tế tuần hoàn”.
Ngoài ra, Chính phủ còn kêu gọi các tỉnh, thành phố cùng với nhân dân vùng bị ô nhiễm bắt
7



tay nhau cùng giải quyết vấn nạn. Và điều này đã phát huy tác dụng. Chính quyền các tỉnh
cam kết sẽ đầu tư đến năm 2010 khoảng 5,5 tỷ đô-la Mỹ mỗi năm để làm sạch các con sông và
2,2 tỷ đô-la nữa để XLCT sinh hoạt và CTCN. Chính quyền các địa phương còn củng cố và
cải thiện hệ thống pháp lý, thắt chặt hơn công tác kiểm soát khí thải. Bên cạnh đó, Chính phủ
còn thông qua dự Luật đánh giá tác động môi trường đòi hỏi có sự tham gia góp ý kiến của
cộng đồng dân cư, những tổ chức phi chính phủ và các tình nguyện viên trong dân chúng.
Hiện nay, Trung Quốc có hơn 1000 tổ chức hoạt động vì môi trường như vậy. Công chúng ở
đây có quyền kiểm soát, giám sát ô nhiễm và báo cáo xử lý cho lực lượng quản lý. Điều này
đã làm phát huy sức mạnh BV&QLMT từ phía người dân, khiến họ tích cực hơn trong công
tác chống ô nhiễm. Nhờ đó lượng nước thải, Oxigen từ hóa chất, Sunfur dioxit, khói và bụi
công nghiệp thải ra tính trên GDP đầu người vào năm 2004 giảm đáng kể lần lượt 58%, 72%,
42%, 55% and 39% kể từ năm 1995 ( theo: SCIO). Các thành phố ở TQ cũng kêu gọi đầu tư
từ khu vực tư nhân cho các hoạt động môi trường. Kể từ năm 2001, chính quyền các tỉnh đã
đưa ra kế hoạch tư nhân hoá các hoạt động cải tạo môi trường. Và đến nay, công tác xử lý
nước thải, chất thải rắn, chất thải công nghiệp và giao thông công cộng đang là các dịch vụ tư
nhân được phép đầu tư. Mục tiêu cuối cùng của việc làm này là để hướng tới việc “chính
quyền sẽ không cần phải đầu tư vào các lĩnh vực này nữa”.
1.4.2. Các “biện pháp cứng rắn” trong việc chống ô nhiễm môi trường tại
Singapore
Hiện Singapore được đánh giá là quốc đảo sạch vào bậc nhất thế giới, và điều này
không đến một cách ngẫu nhiên. Chính từ những hậu quả do sự công nghiệp hóa mạnh mẽ làm
gia tăng ô nhiễm không khí, rồi chất thải lỏng và chất thải rắn làm môi trường xuống cấp rõ rệt
vào ba bốn thập kỷ trong thế kỷ trước, đã làm Singapore sớm nhận thức được không có con
đường nào khác là phải tự mình thực hiện tốt các chương trình BVMT. Đến nay, một cách
nhìn toàn diện, chưa có nước nào có được môi trường đô thị tốt hơn Singapore. Đó là do đất
nước này có một chiến lược QLMT rất cứng rắn, thực hiện nghiêm chỉnh kế hoạch hoá việc sử
dụng đất đai, biết kiểm soát kế hoạch xây dựng và phát triển đô thị, đặc biệt là các KCN, KCX.
Và điều quan trọng là đặc biệt chú trọng quản lý hạ tầng cơ sở, đi đôi với việc ban hành luật và
kiểm tra giáo dục nghiêm ngặt. Singapore đã chọn “con đường tổng hợp” để kiểm soát mọi sự
8



phát triển về kế hoạch sử dụng đất đai, các giai đoạn kiểm tra, mở rộng và xây dựng mới nhằm
giảm thiểu những tác động gây ô nhiễm môi trường. Ưu điểm về các hệ thống thoát nước và
thu gom, xử lý chất thải tại đây đã loại trừ và giảm thiểu được nguy cơ ô nhiễm nước và đất
đai. Tất cả những biện pháp nêu trên đã phát huy tác dụng và làm cho quốc đảo này dần phục
hồi và hiện nay là nước được đánh giá là có một môi trường trong sạch nhất thế giới.
( Xem phụ lục 3 - Phân tích cách thức quản lý hiệu quả nhằm chống ô nhiễm môi trường tại
Singapore )
1.4.3. Nhật Bản chống ô nhiễm môi trường – “Cần sự đồng lòng và các biện pháp
nghiêm ngặt ”
Cũng như ở nhiều nước trên thế giới, ô nhiễm là vấn đề gây lo ngại ở Nhật Bản. Ô
nhiễm môi trường ở Nhật xuất hiện cùng với quá trình công nghiệp hóa từ thời Minh Trị
(1868-1912) mà trường hợp nhiễm độc đồng do nước thải từ mỏ đồng Ashio ở tỉnh Tochigi
năm 1878 được đánh giá là rất nghiêm trọng.Việc phát triển các ngành dệt, giấy và bột giấy đã
dẫn đến ô nhiễm nước, còn việc sử dụng than làm nhiên liệu chính trong công nghiệp là một
trong những nguyên nhân gây ô nhiễm không khí. Trong thời kỳ phát triển cao độ sau Thế
chiến 2, Nhật Bản trở thành một trong những nước ô nhiễm nhiều nhất trên thế giới. Nhật Bản
bị ô nhiễm môi trường nặng nề vì dân quá đông đúc trên các khu vực diện tích hẹp, khiến cho
các KCN, KCX và khu dân cư nằm liền kề nhau.
Có thể nói ô nhiễm nước là một trong những vấn đề ô nhiễm nghiêm trọng nhất ở Nhật
Bản mà 4 nguyên dân chính là: công nghiệp hóa nhanh chóng, đô thị hóa nhanh chóng, sự tụt
hậu trong việc xây dựng các CSHT xã hội như hệ thống thoát nước, cũng như chính sách một
thời coi trọng phát triển kinh tế hơn là sức khỏe nhân dân và môi trường trong sạch. Những
quy định nghiêm ngặt về nước thải công nghiệp đã giảm bớt phần nào tình trạng ô nhiễm chất
độc hại. Tuy nhiên, các con sông và đường biển tại những khu vực đô thị vẫn bị ô nhiễm nặng
nề do các chất hữu cơ và sinh vật phù du. Bên cạnh đó, ngoài ô nhiễm do nước thải công
nghiệp và sử dụng gia đình, dầu loang từ các con tàu chở dầu bị tai nạn cũng là một nguyên
nhân lớn gây ô nhiễm nước. Một vấn đề ô nhiễm nguồn nước khác là do nhiệt từ các nhà máy
điện. Nhiều nhà máy được xây dựng với quy mô ngày càng lớn và nhiệt thải ra là mối đe dọa
đối với sinh vật biển và các con sông gần đó.
9



Nhận ra vấn đề không phải là ở chỗ chỉ ban hành thật nhiều các văn bản luật hay thực
hành thật nhiều chính sách, mà từ sự thống nhất quyết tâm đẩy lùi ô nhiễm trong chính nội bộ
các nhà cầm quyền, Nhật Bản đã nỗ lực tạo dựng sự nhất trí, đồng lòng trong BMNN về công
tác đẩy lùi vấn nạn này. Và từ đó, nhiều biện pháp đã được tiến hành để cải thiện chất lượng
nước ở Nhật Bản phát huy có hiệu quả, trong đó có việc đề ra các tiêu chuẩn quốc gia về chất
độc hại, các tiêu chuẩn khác về môi trường sống, cũng như các biện pháp kiểm soát và giám
sát gắt gao. Các luật quy định trách nhiệm gây ô nhiễm được thông qua, nhiều dự án được tiến
hành để cải thiện hệ thống thoát nước cho phù hợp với tỉ lệ dân cư. Ngoài ra, chính phủ đã có
các biện pháp đối phó với nhiều hình thức ô nhiễm môi trường, trong đó có ô nhiễm tiếng ồn,
độ rung, rác thải, lún đất, các mùi khó chịu, ô nhiễm đất và ô nhiễm do hóa chất nông nghiệp...
Năm 1967, Luật cơ bản phòng chống ô nhiễm môi trường bắt đầu có hiệu lực, đề ra
những chính sách và nguyên tắc chung về kiểm soát ô nhiễm, đồng thời khuyến khích nỗ lực
làm sạch môi trường. Luật cơ bản nêu rõ trách nhiệm của chính phủ TW, các chính quyền địa
phương, các công ty, nhà máy, đồng thời quy định những tiêu chuẩn chất lượng môi trường,
vạch ra các chương trình kiểm soát ô nhiễm và giúp đỡ nạn nhân nhiễm bệnh do ô nhiễm. Rồi
luật Bảo tồn thiên nhiên được thông qua năm 1972, tạo cơ sở cho mọi biện pháp pháp lý
BVMT. Tuy nhiên, các luật chỉ có thể quy định mức ô nhiễm từ những nguồn đã được xác
định, còn ô nhiễm từ những nguồn mà con người không biết hoặc ít biết đến vẫn là điều đang
gây nhiều lo ngại ở Nhật Bản. Chẳng hạn ô nhiễm tiếng ồn ở các nhà máy, KCN, công trường
xây dựng, …; ô nhiễm nguồn nước do các đám mưa có nồng độ axit cao…
1.4.4. Bài học kinh nghiệm rút ra cho phát triển các KCN, KCX Việt Nam
Trên đây là một số kinh nghiệm chống ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển
kinh tế ở các nước Trung Quốc, Singapore, Nhật Bản (xem thêm Phụ lục 4 : Kinh nghiệm
chống ô nhiễm công nghiệp của các nước Châu Âu). Nghiên cứu vấn đề ô nhiễm môi trường
và kinh nghiệm thực tế chống ô nhiễm công nghiệp ở các nước này, ta có thể rút ra những bài
học thực tế đối với Việt Nam như sau:
Trên thực tế trong nhiều năm qua, kinh tế Việt Nam có nhiều chuyển biến tích cực, từ
một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chúng ta đã và đang hướng tới một nền công nghiệp và
dịch vụ hiện đại trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của các KCN, KCX là nơi thu hút
10



lượng lớn đầu tư trong và ngoài nước, và là nơi tạo hàng ngàn việc làm cho người lao động.
Hoạt động của các KCN, KCX những năm qua đã khẳng định đường lối, chủ trương đúng đắn
của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển các KCN, KCX. Song
bên cạnh đó, do quá chú trọng mục tiêu kinh tế, đặt lợi nhuận lên hàng đầu, cộng với sự quản
lý lỏng lẻo từ phía các ban ngành, Nhà nước, không ít các CSSX, các KCN, KCX đã gạt đi sự
quan tâm đối với vấn đề XLCT, gây ô nhiễm môi trường nặng nề, đặc biệt tại 2 khu vực Hà
Nội và TP.HCM. Tình trạng này cần phải được khắc phục ngay.
Ở các nước phát triển đã trải qua quá trình chống chọi gay gắt với vấn đề ô nhiễm đã
đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của QLNN về hệ thống pháp luật, đặc biệt là Luật môi trường.
Kinh nghiệm thực tế từ các nước cho thấy, chỉ những biện pháp cứng rắn, xử phạt nghiêm
minh, rõ ràng mới có thể ngăn chặn và hạn chế được tình trạng ô nhiễm. Ở Việt Nam, không
thể phủ nhận những nỗ lực và thành công trong việc tổ chức kiểm tra, phát hiện và xử lý các
trường hợp vi phạm ô nhiễm từ các KCN, KCX thời gian gần đây. Song dễ dàng nhận thấy có
hai vấn đề cần phải nghiêm túc xem xét chính là mức độ nghiêm ngặt, sự tương hợp trong việc
QLNN về ô nhiễm và việc giáo dục trình độ nhận thức của chủ đầu tư lẫn công dân đối với
vấn nạn ô nhiễm như thế nào. Có thể khẳng định rằng có thống nhất quyết tâm trong nội bộ cơ
quan Nhà nước về ô nhiễm và phòng chống ô nhiễm thì mới có thể tiến hành các biện pháp
một cách có hiệu quả như ban hành các luật định nghiêm ngặt, quy hoạch sát sao, nghiên cứu
áp dụng việc đánh thuế đối với những tập thể, cá nhân trong việc tiến hành sản xuất cố tình
gây ô nhiễm, ban hành chính sách khuyến khích, ưu tiên, tạo điều kiện cho các CSSX trong
các lĩnh vực BVMT như các cơ sở xử lý nước thải, rác thải, vệ sinh môi trường, sản xuất phân
vi sinh, chống ô nhiễm…Thứ hai là tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục để cả các chủ
đầu tư lẫn người dân tham gia có ý thức hơn nữa trong việc BVMT. Vì nếu xét cả về mặt nhận
thức và thực tiễn công tác BVMT nói chung và ô nhiễm công nghiệp nói riêng ở Việt Nam
chưa theo kịp tốc độ phát triển kinh tế. Giải quyết tốt hai vấn đề này, thiết nghĩ vấn nạn ô
nhiễm từ các KCN, KCX sẽ không còn là bài toán không có lời giải.
11



KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Vấn đề ô nhiễm môi trường không phải là vấn đề riêng của bất cứ một quốc gia nào mà
là vấn đề chung của toàn xã hội. Trong những năm vừa qua, nhiều Hiệp định, ký kết về phát
triển bền vững và hợp tác BVMT đã được các nước bàn bạc, thông qua. Phát triển kinh tế
mang lại nhiều mặt tích cực song bên cạnh đó cũng tàn phá mạnh mẽ môi trường sống của con
người. Các quốc gia phát triển cũng như các nước nghèo, đang trong quá trình chuyển mình
đều phải đối mặt với vấn đề cấp bách này. Kinh nghiệm về ô nhiễm và chống ô nhiễm ở các
nước tiên tiến đã trở thành những bài học quý giá cho những quốc gia đang phải chống chọi
gay gắt với ô nhiễm, đặc biệt là loại ô nhiễm được gây ra bởi các KCN, KCX. Việt Nam là
một trong số các nước đang phải đối mặt với thực trạng ô nhiễm nguồn nước, nguồn đất
nghiêm trọng mà nếu không sớm nhận thức và rút tỉa kinh nghiệm từ các nước đã trải qua việc
chống chọi và giải quyết tình trạng này thì những hệ lụy về môi trường sẽ rất khó lường trước.
Nền kinh tế dù có được đánh giá là có tốc độ tăng trưởng cao (7-8%/năm) nhưng đây vẫn chưa
đủ để được gọi là phát triển bền vững bởi còn xét đến nhiều khía cạnh khác, trong đó có vấn
đề môi trường. Rút tỉa kinh nghiệm từ Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore là các nước lân cận
điển hình cho công tác đẩy lùi vấn nạn ô nhiễm công nghiệp thì, “sự quyết tâm thống nhất
trong Chính phủ”, “sự thực hiện cứng rắn và nghiêm ngặt các biện pháp” và “sự kêu gọi nhân
dân vào cuộc” chính là 3 yếu tố cốt lõi để giảm thiểu ô nhiễm do các KCN, KCX trong quá
trình phát triển gây nên. Nhận thức được vai trò của môi trường trong phát triển kinh tế, chúng
ta cũng đã có tính đến yếu tố này trong quy hoạch kinh tế đô thị, trong các KCN-KCX, nỗ lực
tiếp thu KHCN xử lý chất thải công nghiệp và ban hành các quy chế hoạt động, đầu tư có tính
toán đến môi trường và tổ chức phân cấp quản lý. Song, chính vì nhận thức chưa sâu sắc và
tình trạng quản lý buông lỏng nên thực tế có đi chệch hướng so với quy ho ạch. Sự thành công
trong công cuộc đổi mới và thu hút mạnh mẽ lượng đầu tư nước ngoài vào trong nước là một
tín hiệu đáng mừng. Nhưng bên cạnh đó còn có một tín hiệu khác, tín hiệu kêu cứu từ môi
trường sinh thái, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế sôi nổi. Một câu hỏi lớn đang đặt ra, phải
chăng chúng ta đang đánh đổi môi trường để phát triển kinh tế?
12



CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT TP.HỒ CHÍ MINH
2.1. Đặc điểm phát triển các KCN, KCX TP HCM trong tiến trình hội nhập và trong
sự tác động đến việc gây ô nhiễm môi trường
2.1.1. Vài nét khái quát về KCN, KCX trên địa bàn TP HCM:
Sau khi Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành năm 1987, đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam tăng lên nhanh chóng, phần l ớn tập trung vào lĩnh vực dịch vụ như khách
sạn, văn phòng làm việc ở các thành phố lớn. Tuy nhiên, đầu tư nước ngoài vào công nghiệp,
nhất là công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu gặp hai khó khăn chính, đó là: CSHT yếu kém;
thủ tục xin giấy phép đầu tư và triển khai dự án đầu tư phức tạp, mất nhiều thời gian. Trước
yêu cầu phát triển kinh tế, qua kinh nghiệm của nước ngoài và thực hiện Nghị quyết của Đại
hội Đảng lần thứ VI năm 1986, Chính phủ (Lúc đó là Hội đồng Bộ trưởng) chủ trương thành
lập KCX để làm thí điểm một mô hình kinh tế nhằm thực hiện chủ trương đổi mới, mở cửa
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngày 25/11/1991, KCX Tân Thuận – KCX đầu
tiên của cả nước được thành lập theo Quyết định số 394/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Đến năm 1992, KCX Linh Trung ra đời và các năm tiếp theo Chính phủ ra quyết định thành
lập các KCN trên 7 Quận/Huyện của thành phố. Kể từ đó thành phố chủ trương xây dựng
ngày càng nhiều KCN, KCX. Hiện nay, đã có 3 KCX, 10 KCN đi vào hoạt động với 1.149 dự
án đầu tư còn hiệu lực có tổng vốn đầu tư đăng ký là 4,26 tỷ USD (Trong đó đầu tư nước
ngoài 472 dự án, vốn đầu tư là 2,55 tỷ USD; đầu tư trong nước 677 dự án, vốn đầu tư là
25.626,65 tỷ đồng Việt Nam, tương đương 1,71 tỷ USD). Tổng diện tích đất thuê lũy kế là
1.124,80 ha/1.229,92 ha đất thương phẩm được phép cho thuê của các KCX, KCN đang hoạt
động (Tỉ lệ lấp đầy 91% đất thương phẩm).
Trong tổng số 1.149 dự án đầu tư còn hiệu lực, có 949 dự án đầu tư đang hoạt động
(Tổng vốn đầu tư đăng ký là 2,99 tỷ USD); 52 dự án đang trong giai đoạn xây dựng (Vốn đầu
tư đăng ký 770 triệu USD); 89 dự án chưa triển khai trong thời hạn cho phép (Vốn đầu tư đăng
ký 353,94 triệu USD); 73 dự án không có khả năng triển khai (Vốn đầu tư đăng ký 146,6 triệu
13



USD). Tổng số lao động hiện có là 250.000 lao động; kim ngạch xuất khẩu lũy kế đến nay là
hơn 16 tỉ USD.
BQL KCX Tân Thuận, sau đổi tên là BQL các KCX TP. HCM và nay là BQL các
KCN, KCX TP HCM (HEPZA) được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ để
thực hiện quản lý hành chánh nhà nước hoạt động của các KCX, KCN trên địa bàn thành phố
theo cơ chế “Một cửa, tại chỗ” (đó là cơ chế mà: tất cả các nhà đầu tư trong ngoài nước nếu
đầu tư vào KCN-KCX mọi thủ tục chỉ qua một cửa là BQL KCN-KCX và thời gian cấp phép
tối đa là 5 ngày).




Hình 2.1 – Bản đồ vị trí các Khu công nghiệp, Khu chế xuất TP. Hồ Chí Minh
14



2.1.2. Đặc điểm phát triển các KCN, KCX TP HCM trong tiến trình hội nhập và
trong sự tác động đến việc gây ô nhiễm môi trường
Qua 18 năm phát triển, các KCN, KCX TP.HCM đã thực hiện được những mục tiêu
kinh tế, chính trị của Chính phủ đề ra trên các mặt: thu hút vốn đầu tư, giải quyết việc làm, du
nhập kỹ thuật, kinh nghiệm, tăng năng lực xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ, góp phần tích
cực vào sự phát triển chung của thành phố. KCN, KCX đang trở thành động lực cho sự phát
triển, có vai trò dẫn dắt công nghiệp quốc gia, là địa bàn hấp dẫn với sức hút lớn làn sóng đầu
tư nước ngoài trên cả ba phương diện: nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản trị. Bình
quân 1 ha đất trong các KCX, KCN đóng góp ngân sách khoảng 40.000 USD/năm; góp phần
tích cực vào sự phát triển chung của thành phố. Tuy nhiên xét về khía cạnh môi trường, đặc
điểm phát triển của các KCN, KCX hiện là vấn đề cần được bàn luận vì trong đó yếu tố môi
trường và ô nhiễm môi trường dường như đang đối lập với tốc độ tăng trưởng của KCN, KCX
trong quá trình hội nhập.
Dưới đây là một số đặc điểm phát triển đúc kết được qua quá trình nghiên cứu trong
sự lồng ghép với vấn nạn ô nhiễm môi trường:
2.1.2.1. Các cơ sở công nghiệp, KCN, KCX đan xen các khu dân cư gây ô
nhiễm đến môi trường lân cận và đến môi trường của cả vùng
 Ô nhiễm môi trường từ các CSSX công nghiệp
Theo số liệu được công bố tại hội thảo khoa học về “ BVMT và phát triển bền vững tại
Việt Nam” (Hà Nội, tháng 9/2003), thì TP. HCM có 28.573 cơ sở sản xuất, trong đó có gần
3.000 cơ sở gây ô nhiễm, riêng cơ sở gây ô nhiễm nặng phải di dời có gần 1.000. Tính đến
năm 2008, TP.HCM đã di dời 1.261 CSSX, chiếm gần 90% các xí nghiệp gây ô nhiễm trong
khu dân cư ra ngoại thành nhưng tình hình ô nhiễm vẫn diễn biến xấu. Như vậy, vẫn còn hơn
10% doanh nghiệp gây ô nhiễm nặng môi trường chưa di dời và đều là những doanh nghiệp
lớn gây ô nhiễm rất nặng nhưng chưa có giải pháp xử lý và hầu như tập trung tại các khu vực
các quận Tân Bình, Bình Tân, quận 6, quận 10. Có nhiều cơ sở công nghiệp nằm đan xen các
khu dân cư, nhất là khu vực lưu vực kênh Tân Hóa - Lò Gốm, Kênh Đen, Kênh Nhiêu Lộc -
Thị Nghè. Theo thống kê của dự án kênh Tân Hóa - Lò Gốm, chỉ riêng trong khu vực lưu vực
15



kênh khoảng 1.700 ha, có đến 30 cơ sở công nghiệp xen lẫn vào khu dân cư, và đa số trong số
đó là các cơ sở gây ô nhiễm.
Từ các cơ sở công nghiệp này nước thải công nghiệp không được xử lý, thải trực tiếp
xuống kênh gây ô nhiễm nguồn nước kênh. Khu vực dân cư quanh đó luôn bị sự ô nhiễm tiếng
ồn, không khí (bụi, mùi hôi, khói…) ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và sức khỏe. Nhịp sống
người dân tại chỗ bị xáo trộn vì những ô nhiễm này diễn ra ngày đêm, nhất là vào thời gian
cao điểm.
 Sự tập trung quá nhiều KCN, KCX dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng,
nhất là nguồn nước.
Tại TP. Hồ Chí Minh chỉ có khoảng 65% lượng nước thải công nghiệp đã qua xử lý
trước khi thải ra môi trường. Kết quả kiểm tra đột xuất mới đây (năm 2008) của thanh tra Bộ
Tài nguyên và Môi trường tại các KCN-KCX Tân Thuận, Tân Bình, Hiệp Phước, Cái Lái 2,
Tây Bắc - Củ Chi, cho thấy trong số 48 mẫu nước thải đã qua xử lý có 45 mẫu không đạt tiêu
chuẩn, nồng độ các chất BOD, COD vượt tiêu chuẩn cho phép gần 10 lần…
Kênh Tàu Hũ - Bến Nghé, mỗi ngày phải hứng hàng trăm nghìn mét khối nước thải từ
sản xuất công nghiệp và khoảng 500 tấn rác sinh hoạt. Nồng độ SS trong nước thải đổ vào
kênh là 845mg/lít - một chỉ số mà các nhà khoa học cho là không có khả năng duy trì sự sống.
Một số con kênh TP. HCM hiện là “kênh độc”, “kênh chết”…
 Nhiều cở sở công nghiệp, KCN chưa có hệ thống xử lý rác thải công nghiệp tập
trung và nếu có thì hoạt động kém hiệu quả
Tình trạng hoạt động trước rồi mới xây dựng hệ thống XLCT công nghiệp sau là điều
dễ thấy ở các KCN, KCX ở TP.HCM. Mặc dù với bề dày hoạt động khá lâu (từ năm 1991-
1992, với sự ra đời của KCX Tân Thuận) nhưng phải đến tháng 9/2008, 12/13 KCX - KCN
mới có nhà máy XLNT đi vào vận hành. Nhưng vận hành kém hiệu quả, chất lượng nước sau
xử lý của một số DN không đạt tiêu chuẩn đấu nối của KCN. Bên cạnh đó còn có hàng trăm
cơ sở công nghiệp lớn trong vùng hàng ngày thải ra trên 200 tấn chất thải độc hại mà không có
cơ chế xử lý cộng với vị trí đan xen với khu dân cư thì ô nhiễm môi trường sống là không thể
tránh khỏi. Sự ô nhiễm này một phần là do các KCN hình thành, nhưng thiếu kế hoạch phát
triển đồng bộ các hạng mục hạ tầng xã hội khác như hệ thống nước thải, và xử lý nước thải.
16



Mặt khác, tiềm năng hạ tầng, nguồn nước, năng lượng hiện hữu của thành phố có hạn và
không theo kịp tốc độ phát triển các KCN. Ví dụ do sự chậm trễ của công trình cấp thoát nước
cho KCN Hiệp Phước, Trạm điện cho KCN Vĩnh Lộc, Lê Minh Xuân, đã ảnh hưởng không tốt
đến hoạt động của các doanh nghiệp KCN và ảnh hưởng không tốt đến việc XLNT của các
KCN TP. Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn do quá trình chuyển đổi chức năng sử dụng đất: các loại
đất khác thu hẹp, do bị chuyển đổi thành đất công nghiệp. Ở Bình Dương, những KCN phát
triển mở rộng đã trở thành những lò xả chất thải tàn phá những vườn tược trù phú cả trăm năm
nay ở vùng Lái Thiêu và dọc sông Sài Gòn. Điều này không phù hợp và không chấp nhận
được đối với quy hoạch kinh tế vùng.
2.1.2.2. Các cơ sở công nghiệp, KCN tập trung quá nhiều trong khu vực
trung tâm và các cửa ngõ vào TP. Hồ Chí Minh làm ô nhiễm tập trung và gia tăng ở mức
độ khó xử lý
Các cơ sở công nghiệp và các KCN, KCX phần lớn tập trung ven các quốc lộ 1A, 22,
13, 51… và gần cửa ngõ vào TP. HCM và các tỉnh lân cận TP. HCM trong bán kính từ 30km
đến 50km. Trong khi đó các tỉnh như Bình Phước, Tây Ninh, Tiền Giang có nhiều dư địa để
xây dựng KCN thì lại có rất ít KCN. Có nhiều nguyên nhân liên quan đến sự tập trung mật độ
cao các cơ sở công nghiệp trên địa bàn TP.HCM, nhưng chủ yếu là do những lợi thế về thị
trường, về dịch vụ sẵn có (ngân hàng, văn phòng); về đầu mối giao thông, cảng biển, hàng
không, các cửa ngõ đi các nước láng giềng và thế giới. Bên cạnh đó, một lý do cũng khá quan
trọng đó là sự đổi mới và năng động trong các chính sách thu hút đầu tư của thành phố.
Song sự tập trung quá gần thành phố và bám vào các trục quốc lộ, trong khi những
đường vành đai của thành phố còn quá ít này (hiện nay mới chỉ có đường vành đai Xa Lộ Đại
Hàn) đã tạo nên những luồng người và hàng ra vào và đi xuyên qua thành phố không những
gây ách tắc giao thông trong đô thị và còn gây ô nhiễm không khí và tiếng ồn cho cả
vùng( chưa kể đến các loại ô nhiễm khác).
17




Hình 2.2 – Vị trí phân bố các KCN, KCX trên địa bàn TP.HCM
( Xem thêm Phụ lục 5: Một số thông tin về các KCN, KCX trên địa bàn TPHCM tính đến cuối
năm 2008)
2.1.2.3. Đa số các KCN, KCX gần sông nước đề tiện lợi về vận tải và xả
nước thải cho nên ô nhiễm nguồn nước lan rất nhanh, rất xa.
Tính đến nay, TP.HCM có 15 KCX, KCN đang hoạt động với khoảng 949 doanh
nghiệp, trong đó hầu như các KCN đều nằm trong các lưu vực sông chính và là nguồn gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng cho các lưu vực sông Đồng Nai - Sài gòn. Theo ông Võ
Quang Châu, Phó tổng GĐ Tổng Công ty cấp nước Sài Gòn (Sawaco), sự suy giảm chất lượng
18



nước sông Sài Gòn đã đến mức báo động. Nguồn nước từ sông Đồng Nai dù chưa đến mức
báo động nhưng cũng đang có chiều hướng xấu đi. Sông Sài Gòn đang xấu đến mức báo động
do nước thải từ các KCN Tân Quy và Tân Phú Trung (Củ Chi). Trong các KCN này, có nhiều
nhà máy thải ra một hàm lượng lớn chất amoni (N/NH4), các chất hữu cơ và vi sinh, có chất
hàm lượng vượt đến 40-50 lần tiêu chuẩn quy định. Dù rằng các KCN này nằm ở hạ nguồn
của trạm cấp nước thô Hòa Phú (huyện Củ Chi), nơi bơm nước về Nhà máy nước Tân Hiệp,
nhưng vẫn gây ảnh hưởng đến chất lượng nước tại trạm bơm, đặc biệt là vào những lúc thủy
triều lên. Do lưu lượng nước và tốc độ chảy tại hạ lưu lưu vực sông Sài Gòn-Đồng Nai gần
đây là rất lớn (nguyên nhân một phần là ở việc khai thác cát bừa bãi trên thượng nguồn sông
Sài Gòn, Đồng Nai và việc xả lũ trên thượng nguồn) nên một khi xả thải không qua xử lý thì
mức độ lan tỏa ô nhiễm là rất xa và nghiêm trọng.
2.1.2.4. Sự phân bố về chức năng của hệ thống các KCN, KCX trên địa bàn
chưa hợp lý, đa số các KCN-KCX là các khu tổng hợp ngành nào cũng có, đan xen lẫn
nhau và mỗi loại hình sản xuất có những loại ô nhiễm khác nhau, gây hại cho nhau dẫn
đến xử lý ô nhiễm khó và tốn kém.
Một đặc điểm khác trong sự phân bố các KCN, KCX trên địa bàn TP.HCM là về cơ
cấu của hệ thống các KCN, KCX chưa được định hình. Cụ thể là không có sự phân chia chức
năng và xác định vai trò của từng khu trong hệ thống. Tuy thành phố, và các tỉnh ven TP.HCM
đều có quy hoạch tổng thể phát triển các cơ sở công nghiệp riêng, nhưng toàn vùng lại thiếu
quy hoạch chung, thiếu định hướng của cả vùng. Mỗi tỉnh thành đều cố gắng “thu hút dự án
đầu tư” theo cách của mình mà không quan tâm đến định hướng vùng, ưu tiên vùng.
Vì vậy về tổng thể số KCN vừa thừa lại vừa thiếu: thừa vì có quá nhiều KCN có tính
chất giống nhau; mà thiếu những KCN có chức năng chuyên biệt. Chính vì sự “ đa chức năng”
này nên tình trạng chất thải thải ra cũng là tổng hợp của của các nhà máy trong KCN. Chẳng
hạn như DN sản xuất nước mắm đặt gần DN chế biến cao su ( KCN Tân Tạo, KCN Lê Minh
Xuân,…), DN chế biến thực phẩm gần với DN nhuộm…Với các ngành, lĩnh vực sản xuất
khác nhau thì chất thải cũng khác nhau, đôi khi gây hiệu ứng không tốt cho nhau (như mùi cao
su sẽ lẫn trong mùi nước mắm và ngược lại,…rất khó chịu và mất mỹ quan). Hơn nữa loại ô
nhiễm khác nhau phải sử dụng công nghệ xử lý ô nhiễm khác nhau làm cho công tác x ử lý tốn
19



kém và không hiệu quả. Một thực tế cho thấy là dù biết như vậy nhưng hầu như các KCN-
KCX vẫn chưa xem trọng và đánh giá cao về vấn đề này.
2.2. Thực trạng ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển các KCN, KCX trên
địa bàn TP HCM
2.2.1. Thực trạng ô nhiễm tại các KCN, KCX TPHCM trước 1/7/2006
Từ 02/7/2002 đến trước ngày 1/7/2006, công tác QLNN về BVMT tại các KCN, KCX
do HEPZA đảm trách. Tính đến cuối năm 2005, TP.HCM có tất cả 12 KCN, 3 KCX, 1 khu
công nghệ cao và gần 23.000 cơ sở sản xuất vừa và nhỏ. KCX Tân Thuận là đơn vị tiên phong
trong công tác BVMT và xây dựng nhà máy XLNT tập trung (khởi công tháng 3/1996) với
công suất thiết kế 10.000 m3/ngày. Tiếp theo từ năm 1999 đến năm 2005, 05 KCX và KCN
bao gồm: Linh Trung, Linh Trung 2, Lê Minh Xuân, Tân Tạo (Giai đoạn1), Tân Bình tiếp tục
tiến hành xây dựng và hoàn thành nhà máy XLNT tập trung.
Tuy nhiên, ngay cả ở những KCN đã có trạm XLNT tập trung, thì chất lượng thực tế
của các công trình này vẫn còn hạn chế, chưa đạt được những tiêu chuẩn quy định, gây ô
nhiễm môi trường, đặc biệt là ở một số KCN tập trung các ngành công nghiệp nhẹ như dệt
may, thuộc da, hoá chất… Theo đại diện của BQL tại mỗi KCN, mỗi lần kiểm tra luôn có
nhiều DN vi phạm việc xả thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm. Doanh nghiệp đầu tư xây
dựng hệ thống xử lý nhưng không vận hành vì tiêu hao thêm nhiều chi phí. Theo ước tính, mỗi
KCN lúc bấy giờ thải khoảng từ 3.000-10.000 m3 nước thải/ngày đêm. Riêng lượng chất thải
rắn công nghiệp của thành phố đo được khoảng 1.500 - 1.800 tấn/ngày (nguồn: BQL KCX,
KCN TPHCM). Phần lớn chất thải công nghiệp có khả năng tái sử dụng nên được thu gom,
phân loại và tái chế; các CTNH được xử lý tiêu huỷ bằng phương pháp đốt hoặc đóng rắn,. . . ;
phần còn lại (không có khả năng tái chế hoặc CTNH) được nhập chung chôn lấp cùng chất
thải rắn sinh hoạt.
Việc giám sát chất lượng môi trường được triển khai định kỳ nhưng không phản ánh
trung thực mức độ ô nhiễm do HĐSX tại các DN gây ra (do khi kiểm tra phải có văn bản
thông báo đến các DN). Các DN chưa thực hiện chế độ báo cáo chất lượng môi trường một
cách đều đặn và đúng thời gian. Đồng thời khó khăn lớn nhất là còn ít DN thực hiện chế độ
này, ngoại trừ những DN đã được cấp Chứng nhận về Hệ thống quản lý chất lượng (ISO). Lúc
20



này việc ra quyết định xử lý vi phạm hành chính vẫn phải do Thanh tra Sở TNMT đảm trách
trong khi đó lực lượng thanh tra môi trường của Sở rất ít, điều này đã tạo điều kiện cho các
DN tiếp tục vi phạm nhiều hơn. Ngoài những vấn đề trên, thực tế còn tồn đọng rất nhiều bất
cập khác như:
 Không có quy chế cụ thể trong việc quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại phát sinh
trong quá trình HĐSX của DN.
 Bộ KH-CN&MT đã ban hành “Các tiêu chuẩn nhà nước Việt Nam về môi trường”
theo Quyết định số 35/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 25/6/2002 (Phụ lục 6), theo đó thì các Tiêu
chuẩn này sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2003 nhưng việc áp dụng đã gặp khó khăn do chất
lượng nước thải đầu ra của hệ thống XLNT tập trung tại KCX, KCN phụ thuộc vào lưu lượng
dòng chảy của nguồn tiếp nhận. Thực tế thì việc xác định lưu lượng dòng chảy sông, rạch…
rất khó khăn.
 Lực lượng cán bộ/nhân viên (CBNV) chuyên trách môi trường tại từng KCX, KCN,
DN còn rất mỏng. Một số lượng lớn các DN hoàn toàn không có CBNV phụ trách về mảng
quan trọng này, chủ yếu là kiêm nhiệm.
 Chủ DN còn mang tư tưởng đối phó với cơ quan quản lý nhà nước trong vấn đề
BVMT, vô hình chung làm cho môi trường xấu đi.
 Hoạt động nâng cao nhận thức BVMT cho các DN trong KCX, KCN chưa được
thường xuyên, liên tục. Chủ DN hầu như không quan tâm nhiều đến hoạt động này.
Bên cạnh KCN, KCX còn phải kể đến sự tham gia ô nhiễm của các cơ sở công nghiệp
nằm ngoài KCN, KCX. Tháng 8/2005, KCN Tân Phú Trung vừa được thành lập hơn 1 năm,
vẫn chưa có DN nào vào nhưng lại trở thành điểm bức bách nhất trong các KCN bị ô nhiễm tại
TPHCM. Song, nguyên nhân chính lại từ 43 DN vây quanh, mà 2/3 số DN này đều hoạt động
trong những ngành sản xuất gây ô nhiễm như cao su, than đá... mà không nằm trong sự quản
lý của KCN. Hầu hết các DN này đã tự di dời từ nội thành ra bám vào trục khu vực kênh Thầy
Cai, ngoài việc gây ô nhiễm mùi trong không khí, các DN này đều x ả chất thải, nước thải trực
tiếp ra khu vực kênh khiến dòng kênh suốt chiều dài huyện Củ Chi bị đen ngòm và hôi thối mà
đến nay vẫn chưa thể khắc phục được.
21



2.2.2. Thực trạng ô nhiễm môi trường tại các KCN, KCX TPHCM sau 1/7/2006
Đến khi Luật BVMT số 52/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và
áp dụng vào ngày 01/7/2006 cùng một số Nghị định có liên quan thì chức năng QLNN của
HEPZA về BVMT không còn hiệu lực nữa; các công việc phần lớn do UBND Thành phố ủy
quyền cho Sở TNMT và UBND cấp Quận/Huyện đảm trách. Công tác QL&BVMT tại các DN
KCX, KCN trên địa bàn tính đến nay cơ bản như sau (theo Tham luận Công tác QLMT tại các
KCX, KCN TP.HCM – Ngô Anh Tuấn – phó Trưởng ban BQL KCX, KCN TPHCM, 10/2008):
2.2.2.1. Hệ thống xử lý nước thải tập trung.
 Nhà máy xử lý nước thải tập trung:
Từ năm 2006 đến nay, các KCN còn lại bao gồm: Tân Thới Hiệp, Tây Bắc Củ Chi,
Hiệp Phước, Tân Tạo (GĐ2), Vĩnh Lộc, Bình Chiểu đang được chỉ đạo xây dựng nhà máy
XLNT tập trung. Đến tháng 9/2008, 12/13 KCX - KCN đã có nhà máy XLNT đi vào vận hành.
Riêng KCN Tân Phú Trung đang trong giai đoạn lắp dặt thiết bị cho nhà máy XLNT tập trung.
Hiện nay, tổng công suất có khả năng xử lý của các nhà máy tại các KCX, KCN là 53.000
m3/ngày.
 Mạng lưới thu gom nước thải:
Có 10 KCX, KCN đã hoàn chỉnh mạng lưới thu gom nước thải để đưa toàn bộ nước
thải của các DN về nhà máy XLNT tập trung, bao gồm các khu: Tân Thuận, Linh Trung I,
Linh Trung II, Tân Bình, Lê Minh Xuân, Tân Tạo, Tân Thới Hiệp, Cát Lái 2, Hiệp Phước,
Bình Chiểu.
Còn 2 KCN chưa xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới thu gom, cụ thể: KCN Vĩnh Lộc đã
hoàn chỉnh cơ bản 80% chiều dài mạng lưới nhánh trên các tuyến đường trong KCN, còn 20%
chưa thi công do nằm trên phần đất diện tích 10ha chưa giải tỏa. Ngoài ra, tuyến cống thu gom
nước thải chính (dọc Hương lộ 2) dẫn về nhà máy xử lý nước thải tập trung còn vướng 200m2
chưa giải tỏa được của 1 hộ dân. Đối với KCN Tây Bắc Củ Chi, đã hoàn chỉnh 85% mạng lưới
thu gom nước thải, còn lại 1.626m cống đang thi công. Riêng KCN Tân Phú Trung, mạng lưới
đường ống thu gom nước thải vẫn chưa được xây dựng do quy hoạch điều chỉnh 1/2000 của
KCN chưa được phê duyệt nên tuyến cống thu gom được thiết kế tạm nằm dọc đường Tam
Tân để đưa nước thải của các DN hiện hữu về nhà máy XLNT tập trung. Tuy nhiên, tuyến
22



cống nằm trong lộ giới quy hoạch của dự án sửa chữa, nâng cấp đường Tam Tân trong năm
2009 – 2010, do vậy phải xây dựng phương án tuyến cống thu gom dọc bên hông các DN hiện
hữu. Ban quản lý đã chỉ đạo Công ty phát triển hạ tầng (PTHT) KCN khẩn trương xây dựng để
vận hành.
2.2.2.2. Xử lý nước thải cục bộ và đấu nối nước thải của các DN:
Hiện nay, trong tổng số 949 DN đang hoạt động, có 330 DN có phát sinh nước thải
(chiếm 34,7%). Trong đó có: 253 DN phát sinh nước thải sản xuất qui mô lớn, nước thải ô
nhiễm đã lắp đặt hệ thống XLNT cục bộ và được Sở TNMT nghiệm thu; 77 DN chưa xây
dựng hệ thống XLNT cục bộ (Hầu hết những DN này có phát sinh lưu lượng nước thải sản
xuất thấp, phát sinh không thường xuyên như: nước thải từ các hệ thống xử lý khí thải, vệ sinh
thiết bị và nước thải sinh hoạt, nước thải từ nhà ăn).
Mặc dù hầu hết các DN phát sinh nước thải sản xuất qui mô lớn, nước thải ô nhiễm đã
xây dựng hệ thống XLNT cục bộ nhưng chất lượng nước sau xử lý của một số DN không đạt
tiêu chuẩn đấu nối của KCN. Nhiều DN xây dựng hệ thống XLNT cục bộ để đối phó với cơ
quan chức năng, chỉ vận hành khi có kiểm tra; hoặc có hệ thống xử lý nhưng đã xuống cấp,
hiệu quả xử lý không cao hoặc không vận hành, dẫn đến nhà máy XLNT tập trung của KCN bị
quá tải về nồng độ.
Về tình hình đấu nối nước thải, cho đến nay, còn 87 DN chưa thực hiện đấu nối hệ
thống thoát nước thải vào mạng lưới thu gom chung dẫn về nhà máy XLNT tập trung của
KCN. Cụ thể KCN Tân Bình: 2/139 DN đang hoạt động, KCN Tân Tạo (giai đoạn 1): 4/128
DN, KCN Tân Tạo (giai đoạn 2): 18/62 DN, KCN Vĩnh Lộc: 40/88 DN, KCN Lê Minh Xuân:
2/156 DN, KCN Hiệp Phước (khu A): 20/49 DN; KCN Tây Bắc Củ Chi: 01/41 DN. Nguyên
nhân chủ yếu của việc chưa thực hiện đấu nối là do giai đoạn đầu thành lập KCN chưa có qui
định cụ thể về việc DN phải xây dựng riêng biệt hệ thống thoát nước thải và hệ thống thoát
nước mưa, do đó một số DN xây dựng một hệ thống chung cho thoát nước thải và thoát nước
mưa gặp khó khăn khi triển khai thi công tách rời 2 hệ thống. Mặt khác, tại một số KCN mạng
lưới đường ống thu gom nước thải chưa thi công do vướng một số khu vực chưa giải tỏa nên
chưa đấu nối cho một số DN (KCN Vĩnh Lộc, KCN Tân Tạo).
23



(Xem thêm:  Phụ lục 7 - Bảng tổng hợp tình hình XLNT tập trung và đấu nối thoát nước các
KCX, KCN TP.HCM
 Phụ lục 8 - Tình hình trạm xử lý nước thải cục bộ tại các KCX, KCN TP. HCM)
2.2.2.3. Tình hình xử lý khí thải tại các KCX, KCN:
Trong tổng số 949 DN đang hoạt động, có 170 trường hợp phát sinh khí thải đặc trưng,
chủ yếu bao gồm các tác nhân chính như: Khí thải lò hơi, hơi axít từ quá trình xi mạ, hơi dung
môi của công đoạn sơn (nhà máy gỗ, nhà máy giày), mùi hôi của quá trình thuộc da…và bụi từ
các công đoạn sản xuất gỗ, đánh bóng. Hiện đã có 89 trường hợp áp dụng biện pháp thu gom
xử lý bụi thải, khí thải đặc trưng, số còn lại không trang bị hệ thống xử lý khí thải do công suất
nhỏ, lò hơi vận hành sử dụng dầu DO và quá trình đốt hiệu quả, đồng thời tác nhân phát sinh ô
nhiễm ngay tại nguồn xả đạt tiêu chuẩn cho phép.
2.2.2.4. Tình hình thu gom và xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại
(CTNH) tại các KCX, KCN:
Hiện trên địa bàn TP.HCM có khoảng hơn 20 DN thực hiện công việc thu gom, trung
chuyển, phân loại và xử lý chất thải rắn, CTNH. Các DN này đều được Bộ/Sở TNMT cấp
Giấy phép hành nghề và thực hiện công tác thu gom chất thải trong KCX, KCN.
Tuân thủ theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26/12/2006 và của Bộ
TN&MT quyết định về việc ban hành Danh mục CTNH và Thông tư của Bộ TN&MT số
12/2006/TT-BTNMT ngày 26/12/2006 hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ,
đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH, các DN KCX-KCN đã từng bước xác lập
cho Công ty mình một quy trình thu gom, lưu trữ, chuyển giao chất thải theo đúng quy định
hiện hành.
Việc xử lý rác thải (Sinh hoạt, công nghiệp và CTNH) tại các KCX, KCN thành phố
hầu hết đều có trạm chứa và phân loại rác, nhà làm việc cho đội vệ sinh và lực lượng quét dọn
đường, nạo vét mương cống thoát nước, trồng cây xanh, cụ thể là:
 Rác công nghiệp còn giá trị sử dụng do các lực lượng dịch vụ tiếp nhận thu gom, vận
chuyển, tiêu thụ.
24



 Rác thải công nghiệp và rác sinh hoạt do các Công ty Dịch vụ KCX-KCN ký hợp đồng
với xí nghiệp công trình công cộng bên ngoài tiếp nhận vận chuyển và đổ đúng nơi quy định
của thành phố.
 Các loại rác thải phát sinh trong quá trình sản xuất như dầu cặn, bùn lắng sau quá trình
xử lý nước thải được kiểm nghiệm phân tích kỹ và giao đơn vị chức năng bên ngoài tiêu hủy
 Trường hợp chất thải phát sinh không thường xuyên, BQL phối hợp với cơ quan
chuyên ngành, trực tiếp chỉ đạo giải quyết.
Tính đến nay, trong tổng số 13 KCX, KCN đang hoạt động trên địa bàn thành phố thì
đã có 03 KCX (Tân Thuận, Linh Trung và Linh Trung II) và 02 KCN (Tân Bình, Lê Minh
Xuân) có đầu tư trạm phân loại, trung chuyển rác thải các loại; các KCN còn lại thì phần lớn
do các đơn vị có chức năng trên địa bàn thành phố thu gom trực tiếp tại các nhà máy có phát
sinh. Ngoài ra các trạm XLNT tập trung phát sinh lượng bùn thải sẽ được Công ty PTHT KCN
thu gom giao Công ty Môi trường đô thị Thành phố xử lý.
Đối với các DN có ý thức cao về công tác quản lý, xử lý CTNH thì tuân thủ đúng quy
trình thu gom phân loại đúng quy định và ký kết Hợp đồng với các đơn vị có chức năng để xử
lý triệt để. Đối với lượng rác công nghiệp, phế liệu thì DN ký hợp đồng với các đơn vị có chức
năng thu gom vận chuyển để đưa về các trạm trung chuyển. Phần lớn các DN này đều tuân thủ
đúng theo các nội dung yêu cầu của Sổ Đăng ký chủ nguồn thải CTNH đã được Sở TNMT cấp.
Từ năm 2008 đến nay, vấn nạn ô nhiễm do các KCN, KCX đã trở thành nỗi bức xúc
của người dân. Đã có nhiều đơn khiếu kiện gửi đến cơ quan chức năng song việc giải quyết ô
nhiễm vẫn còn trong vòng luẩn quẩn. KCN Lê Minh Xuân - một trong những KCN đầu tiên
của TP.HCM, tiếp tục là điểm nóng về ô nhiễm môi trường. Kết quả mới nhất do Thanh tra Sở
TN&MT công bố cho thấy thực tế công tác QLMT tại đây khác xa so với báo cáo của chủ đầu
tư là Công ty CP Đầu tư xây dựng Bình Chánh. Tình trạng cây cỏ bị mất màu xanh do ảnh
hưởng của hóa chất độc hại thải ra từ các DN hoạt động của KCN Lê Minh Xuân, Tân Tạo,
Hiệp Phước, Vĩnh Lộc,… xả chất thải chưa qua xử lý ra thẳng các dòng sông, ảnh hưởng đến
đời sống và sức khỏe của người dân vẫn tiếp tục là vấn nạn lớn cho các cơ quan chức năng, là
tâm điểm của báo chí và xã hội.
25



2.3. Nghiên cứu các nhân tố tác động đến tình trạng ô nhiễm có liên quan đến phát
triển các khu công nghiệp
2.3.1. Các nhân tố có liên quan đến hệ thống pháp lý và tổ chức quản lý
Nhà nước đối với vấn đề ô nhiễm.
Nhằm đối phó với vấn nạn ô nhiễm, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản Luật, quy
định và tiêu chuẩn về môi trường, đó là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để QLMT và BVMT.
Có thể nói nhân tố hệ thống pháp lý và tổ chức QLNN đối với vấn đề ô nhiễm là một trong
những biện pháp cơ bản của hoạt động BVMT ở mỗi quốc gia. Tại các BQL KCN, KCX trên
địa bàn TP HCM hiện nay, các văn bản pháp lý được xem là cơ sở cho công tác QLMT bao
gồm: (xem chi tiết Phụ lục 9 - 17)
1.Luật bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005
2.Nghị định 80/2006/NĐ-CP (ban hành ngày 09/08/2006)
3.Nghị định số 21/2008/NĐ-CP (28/02/2008) sửa đổi bổ sung Nghị định 80
4.Thông tư 08/2006/TT-BTNMT ( ban hành ngày 08/09/2006)
5.Nghị định 81/2006/NĐ-CP (ban hành ngày 09/08/2006)
6.Thông tư 07/2007/TT-BTNMT
7.Nghị định 81/2007/NĐ-CP (23/05/2007)
8.Nghị định 88/2007/NĐ-CP
9.Quyết định 23/2006/QĐ-BTNMT
( Nguồn: Theo tài liệu cung cấp của Phòng Quản lý môi trường – HEPZA)
Ngoài những văn bản chính kể trên, theo thống kê của Bộ Tư Pháp, đến nay Việt Nam
đã ban hành khoảng 300 văn bản pháp luật BVMT khác, tuy nhiên, hệ thống văn bản này vẫn
còn chưa chặt chẽ thậm chí còn thiếu nhiều quy định quan trọng, cụ thể. Ví dụ như: qui định
về thuế BVMT; kiểm toán môi trường; quy định chi tiết chế độ bảo hiểm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại môi trường; thiếu chính sách cụ thể khuyến khích ngành công nghiệp môi
trường, xã hội hóa BVMT ... và chưa có quy định đặc thù về nguyên tắc bồi thường trong lĩnh
vực môi trường. Ngoài ra đối với các hoạt động thu gom lưu chứa CTNH trong các KCN còn
bị hạn chế do thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể của Nhà nước, như là: “Quy chế quản lý
CTNH” mặc dù đã được ban hành từ năm 1999, nhưng chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện
26



cụ thể; chưa có các quy định quy phạm kỹ thuật đối với phương tiện thu gom và lưu giữ tạm
thời CTCNNH; chưa có quy định về thủ tục xin phép vận chuyển hoặc quá cảnh CTNH…
Một vấn đề khác nữa là tính ổn định văn bản pháp luật BVMT của Việt Nam không
cao. Có văn bản mới ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung như Nghị định 80/2006/NĐ-
CP ban hành năm 2006, qua 1 năm áp dụng đã phải sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định
21/2008/NĐ-CP. Các văn bản luật và các quy phạm pháp luật hiện nay có thể nói vừa thiếu
vừa không đồng bộ. Ngoài ra, ngay Luật BVMT cũng còn nhiều bất cập. Theo luật này, chỉ có
1 tội danh không phải xử lý hành chính mà được khởi tố ngay, nhưng 9 tội còn lại để có thể
khởi tố cần phải có 2 điều kiện bắt buộc là đã xử lý hành chính cơ sở vi phạm nhưng tái phạm
hoặc cơ sở để xảy ra hậu quả nghiêm trọng trong khi thế nào là để xảy ra hậu quả nghiêm
trọng lại hết sức mơ hồ. Vậy phải chăng Pháp luật đang để lọt lưới nhiều tội danh? Thực tế
nhiều vụ việc gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhưng hậu quả ngay tức thì không thể
nhìn thấy được mà kéo dài dai dẳng hàng chục năm sau mới bùng phát thành dịch bệnh trong
khi chế tài xử phạt còn quá nhẹ, chỉ là giải pháp tạm thời có tính chất cảnh cáo. Mức phạt cao
nhất là 70 triệu đồng trong khi phải đầu tư thiết bị xử lý môi trường hàng t ỷ đồng, rõ ràng với
mức phạt này các doanh nghiệp sẵn sàng chịu phạt.
Theo ông Nghiêm Vũ Khải - phó Chủ nhiệm ủy ban KH, CN&MT, việc chưa có vụ vi
phạm về môi trường nào được xử lý nghiêm, phần lớn là còn vướng về pháp luật, trong đó
khâu yếu nhất trong xử lý vi phạm về môi trường là năng lực của cơ quan quản lý Nhà nước
trong lĩnh vực này còn yếu kém. Ở đây, rõ ràng các nhân tố về pháp lý và quản lý Nhà nước về
môi trường đóng một vai trò rất to lớn trong việc kiểm soát ô nhiễm nói chung và ô nhiễm
công nghiệp nói riêng, là công cụ cần thiết và hữu hiệu nhất góp phần quan trọng trong việc
điều chỉnh và xử lý những hành vi của con người trong mối quan hệ với môi trường.
2.3.2. Các nhân tố có liên quan đến quy hoạch phát triển kinh tế.
Quy hoạch phát triển kinh tế hay rõ hơn là quy hoạch phát triển các KCN, KCX là
nhân tố tiền đề cho hoạt động về sau của các KCN, KCX. Quy hoạch gồm có xác định vị trí
các khu, cụm công nghiệp; xác định địa hình, hướng gió, nguồn nước; mật độ phân bố,… có
ảnh hưởng lớn đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp KCN, KCX lẫn môi trường sống
của dân cư khu vực lân cận. Trong quy hoạch các KCN, KCX trước đây chưa thực sự gắn phát
27



triển KCN, KCX với công tác BVMT , tức là chưa phát triển hoạt động của KCN, KCX song
hành với sự phát triển của hạ tầng XLNT, công nghệ xử lý thải tiên tiến... mà thực tế trong
thời gian qua trên địa bàn thành phố diễn ra thường xuyên tình trạng “ hoạt động trước, báo
cáo sau”, xây dựng trái với quy hoạch và không đặt sự phát triển của các KCN, KCX trong
mối tương quan với phát triển đô thị bền vững.
Như ở phần 2.1 đã đề cập, chính những đặc điểm phát triển của các KCN, KCX có liên
quan chặt chẽ đến khâu quy hoạch là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm công nghiệp nặng nề.
Chỉ cần sơ suất dù là nhỏ trong quy hoạch cũng có thể sẽ dẫn tới những thiệt hại đáng kể sau
này. Khó khăn hiện tại trên địa bàn TPHCM là công tác quy hoạch tổng thể chưa đảm bảo tính
“đi trước” do được xây dựng khá muộn, khi đã hình thành một loạt KCN, KCX. Nói cách khác,
quy hoạch trên thực tế là chạy theo để khắc phục việc đã rồi, thiếu sự đồng bộ giữa qui hoạch
tổng thể và qui hoạch chi tiết các hạng mục hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phục vụ cho các
KCN, KCX như nhà ở cho công nhân, điện, nước, đường xá, hệ thống thoát nước, hệ thống xử
lý nước thải….Nhân tố quy hoạch được xem là khởi đầu cho quá trình hoạt động của DN
KCN, KCX và cho cả sự phát triển sau này. Quy hoạch còn biểu hiện trình độ quản lý và khả
năng thu hút nhà đầu tư vào KCN, KCX. Do đó nhân tố này cần phải được đầu tư quan tâm
đúng mức hơn nữa.
2.3.3. Các nhân tố có liên quan đến quản lý hành chính, kiểm tra, kiểm
soát
Các nhân tố liên quan đến quản lý hành chính về vấn đề môi trường nói chung thường
dựa vào các biện pháp chỉ huy và kiểm soát từ trên xuống, hoặc kiểm soát trực tiếp bằng luật
lệ do cảnh sát môi trường trực tiếp tiến hành. Tác động tích cực vào nhân tố này cho phép các
cơ quan QLMT kiểm soát hành vi của các cá nhân hay tập thể trong khu vực mình quản lý,
giám sát hậu quả của các hành vi đó đối với môi trường vì nhân tố quản lý hành chính, kiểm
tra, kiểm soát luôn có tính cưỡng chế, bắt buộc đối với việc tuân thủ các quy định của pháp
luật về BVMT. Tuy nhiên nhân tố này thường chỉ áp dụng đối với các hành vi đang ở mức độ
nhẹ, nghĩa là chưa tới mức phải đưa ra truy tố trước pháp luật về các tội danh quy định như
trong Luật BVMT. Cho nên ở một khía cạnh nào đó, vai trò của quản lý hành chính, kiểm tra,
kiểm soát đảm bảo vừa rất kịp thời trong việc thực thi áp dụng, vừa phù hợp với tầm quản lý
28



và quyền hạn của cấp cơ sở, cơ quan quản lý môi trường. Hiện nay, công tác thanh tra, kiểm
tra, giám sát hoạt động của các KCN, KCX vẫn còn hạn chế xét về nhiều khía cạnh (lĩnh vực
hoạt động, phạm vi hoạt động, chất lượng kết quả thanh tra, chế tài thanh tra, kiểm tra…). Sự
phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong công tác thanh tra còn chưa thật chặt chẽ, chưa có
sự phân công, phân nhiệm rõ ràng. Đội ngũ cán bộ thanh tra, kiểm tra còn mỏng, phương tiện
làm việc còn hạn chế. Các chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động của KCN về các lĩnh vực kế
hoạch, đầu tư, môi trường… còn thiếu và chưa đảm bảo tính cương quyết. Người thực thi
nhiệm vụ chưa dám mạnh tay với DN (như cúp điện, cúp nước, đình chỉ hoạt động…) vì ngại
ảnh hưởng đến công ăn việc làm của người lao động…Việc thanh tra, kiểm tra còn chồng chéo,
cùng một nội dung chấp hành Luật BVMT nhưng có khi cùng lúc hoặc liên tiếp có các đoàn
đến kiểm tra. Có hiện tượng như vậy là do hiện nay có đến 6 cơ quan có trách nhiệm và thẩm
quyền được kiểm tra giám sát doanh nghiệp thực hiện Luật BVMT. Đó là: Thanh tra Bộ TN-
MT, Thanh tra Sở TN-MT, Phòng TN-MT các quận huyện, Thanh tra môi trường của Ban
quản lý KCN, KCX, Cục Cảnh sát môi trường thuộc Bộ Công an, Phòng cảnh sát môi trường
thuộc công an tỉnh, thành. Nếu nhân tố pháp lý và QLNN về môi trường được xem là đặt
khuôn khổ cho mọi hoạt động hay nhận thức của DN về vấn đề môi trường, còn nhân tố quy
hoạch là nền móng, là khởi đầu cho HĐKDSX của DN thì nhân tố quản lý hành chính, kiểm
tra, kiểm soát được ví như chất xúc tác trực tiếp thúc đẩy hành vi BVMT, khiến cho DN có
thái độ, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với công tác xử lý chất thải tại cơ sở của mình.
2.3.4. Các nhân tố có liên quan đến nội tại doanh nghiệp, cơ sở kinh
doanh sản xuất.
Các nhân tố có liên quan đến nội tại DN, cơ sở KDSX bao gồm: quy mô hoạt động,
ngành nghề kinh doanh, cơ sở, cấu trúc hạ tầng, trình độ quản lý tại DN, cơ sở SX... Chính
những nhân tố này quy định mức độ vận hành và thải loại các loại chất thải ra môi trường
ngoài. Tại các KCN, KCX TP.HCM hơn 80% DN hoạt động là các DN vừa và nhỏ, quy mô
vốn không nhiều trong khi việc xây dựng h ệ thống XLCT lại tốn kém nhiều chi phí (chiếm 15
- 20 % số vốn của DN, quá lớn so với chi phí kinh doanh), lắp đặt lại khó khăn thì việc vận
hành lại càng khó khăn hơn. Có nhiều DN đã có hệ thống XLCT nhưng không vận hành hoặc
vận hành không đạt tiêu chuẩn, nhiều DN không xây dựng hệ thống XLCT mà cố ý thải trực
29



tiếp ra sông, kênh, rạch… Đó chính là nguyên nhân chủ quan gây ô nhiễm cho các con sông
và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân xung quanh KCN, KCX. Kiểm soát,
tác động vào chính các nhân tố nội tại của DN là cách chữa bệnh trực tiếp nhất để làm giảm
ngay tức khắc việc xả thải gây ô nhiễm môi trường KCN, KCX và các khu vực lân cận.
2.3.5. Các nhân tố có liên quan đến con người và đào tạo nguồn nhân lực
(NNL).
Nếu con người được được định nghĩa là tổng hòa các mối quan hệ, là chủ thể tác động
đến mọi sự vật thì trong vấn đề môi trường, chính con người là chủ thể phải chịu nhiều trách
nhiệm nhất cho những hành vi gây ô nhiễm môi trường sinh thái. Con người càng cố gắng
phát triển kinh t ế bao nhiêu thì dường như chất lượng môi trường lại là con số nghịch đảo bấy
nhiêu.
NNL tác động đến yếu tố môi trường tại các KCN, KCX bao gồm 2 thành phần chính
là đội ngũ công nhân lao động và tầng lớp quản lý (bao gồm: chủ DN và cán bộ QLMT tại
KCN, KCX). Xét về đội ngũ công nhân lao động tại các KCN, KCX TPHCM, đa số đều ở độ
tuổi thanh niên, có sức khỏe, khả năng làm việc tốt, song trình độ phần lớn chỉ ở mức phổ
thông, chưa qua đào tạo nghề chiếm đến 70%. Chính vì trình độ thấp nên đa số công nhân có ý
thức tự giác chưa cao, hành xử tùy tiện, thêm vào đó là mức độ hiểu biết pháp luật tương đối
thấp. Trong năm 2008, năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị nhưng nhiều công nhân vẫn
vứt rác vô tư ngoài đường, trước cổng KCN, KCX gây ô nhiễm và mất mỹ quan KCN, KCX.
Trong quá trình làm việc, chính vì không có ý thức về môi trường, về chất độc hại mà DN
mình đang phục vụ đang thải loại ra môi trường nên không thể và nếu có cũng không dám
phản ánh kịp thời đến BQL của KCN, KCX. Xét về tầng lớp quản lý, phần lớn mặc dù được
đào tạo một cách chính quy và là tầng lớp quản lý lãnh đạo nhưng ý thức về BVMT của chủ
DN còn yếu kém, thậm chí có thái độ làm ngơ, không đầu tư xây dựng hệ thống xả thải đạt
tiêu chuẩn mà cố ý xả thẳng ra bên ngoài. Trong khi lực lượng QLMT tại các KCN, KCX còn
quá mỏng, chưa xâu sát toàn bộ hoạt động x ử lý thải của DN, cộng thêm trình độ chuyên môn
chưa đáp ứng tốt công tác rà soát, kiểm tra,…Theo Th.S Lê Thị Thu Hương - GV Khoa Môi
trường - Trường ĐH Lạc Hồng thì: “Phát triển kinh tế đi đôi với vấn đề bảo vệ môi trường bền
vững và để tham gia thực hiện các giải pháp công nghệ, tham gia QLMT có hiệu quả, một đội
30



ngũ cán bộ, kỹ sư, kỹ thuật viên có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực môi trường phải được
đào tạo và cung cấp cho các KCN”. Hiện tại nguồn nhân lực phục vụ trong lĩnh vực công nghệ
quản lý môi trường hướng tới phục vụ cho các KCN, KCX TP.HCM đang rất thiếu hụt. Theo
thống kê của Bộ Tài nguyên - Môi trường hiện nay nguồn nhân lực cho ngành QLMT nói
chung chỉ chiếm 20-30% nhu cầu. Đây là một tỉ lệ đáng phải xem xét vì nhân tố con người và
đào tạo NNL có quan hệ mật thiết chặt chẽ với việc tổ chức quản lý hành chính, kiểm tra, kiểm
soát ô nhiễm công nghiệp, nó được xem như một yếu tố đầu vào để bổ sung và tăng cường
hiệu quả cho nhân tố kia.
2.3.6. Các nhân tố khác.
Ngoài những nhân tố chính kể trên, còn có một số nhân tố khác như khó khăn trong
việc đền bù, giải phóng mặt bằng để xây lắp hệ thống xử lý thải của KCN, KCX, Bộ KH-CN
& MT vẫn chưa đưa ra mô hình XLNT nào phù hợp với DN, công tác quản lý, xử lý ô nhiễm
trên lưu vực sông Sài Gòn-Đồng Nai còn gặp quá nhiều khó khăn khiến công tác quản lý và
giải quyết ô nhiễm công nghiệp trên địa bàn thành phố cũng bị vướng mắc theo, quy trình thu
hút đầu tư còn nhiều bất cập mà điển hình là quy trình “đầu tư ngược”. Ngược là ở chỗ, thành
phố cho phép mỗi KCN chỉ khi nào số DN đầu tư vào lấp đầ y 50% diện tích đất thì chủ đầu tư
KCN mới phải xây dựng hệ thống XLCT. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xử
thải ngay giai đoạn ban đầu và trong các giai đoạn tiếp theo do có sự không đồng bộ và gián
đoạn do cần có thời gian thăm dò và quy hoạch xây dựng cho hệ thống xử lý thải chung của cả
KCN. Ngoài ra trên phạm vi toàn thành phố thì cho đến nay vẫn chưa có bãi chôn lấp hoặc nhà
máy xử lý CTNH, hệ quả là CTNH trong sản xuất công nghiệp có thải mà không có thu gom,
xử lý, gây ô nhiễm nặng nề.
31



 Thực tế khảo sát tại các khu công nghiệp TP.HCM về vấn đề ô nhiễm môi trường.
Nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn tay đôi (PVTĐ) với một số cán bộ QLMT tại
BQL KCN, KCX TP.HCM, và tại hai khu KCN Tân Tạo và KCX Tân Thuận về thực trạng
QLMT tại các KCN, KCX TPHCM hiện nay và hướng giải pháp khắc phục. Đồng thời nhóm
cũng tiến hành phát phiếu khảo sát hộ dân cư xung quanh KCN Tân Tạo để tìm hiểu tác động
ô nhiễm đến đời sống.


Kết quả thực tế cho thấy:
 Đối với phương pháp PVTĐ:
Qua một số câu hỏi phỏng vấn (xem chi tiết Phụ lục 18), được biết đến nay HEPZA đã
chính thức có bộ phận thanh tra riêng trực tiếp kiểm soát ô nhiễm tại các DN KCN, KCX định
kỳ 2 lần/năm, ngoài ra có phối hợp các đợt kiểm tra đột xuất với Cảnh sát môi trường hay bộ
phận thanh tra của Sở TN&MT. Theo Anh Hồ Trung Hiếu - Phó phòng QLMT tại HEPZA,
hàng năm BQL có xếp hạng doanh nghiệp xanh để vừa kiểm tra vừa khuyến khích các doanh
nghiệp thực hiện tốt công tác QLMT hơn nữa. Theo kiến nghị chung của các cán bộ làm công
tác QLMT thì bên cạnh việc tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, kiến nghị cần tăng mức
chế tài xử phạt đối với các hành vi gây ô nhiễm, từ mức phạt cao nhất hiện nay là 70 triệu
đồng lên mức gấp 10 lần.
 Đối với phương pháp khảo sát:
Khảo sát thực tế cho thấy loại ô nhiễm gây tác động nhiều nhất đến đời sống khu dân
cư xung quanh KCN Tân Tạo chủ yếu là các khí thải từ các nhà máy và mùi hôi bốc lên từ các
kênh dẫn thải của KCN khi trời nắng gắt hoặc gió lộng. Đồng thời qua cuộc khảo sát nhận
thức về ô nhiễm và tác động của ô nhiễm cũng như ý thức BVMT của người dân khu vực rất
hạn chế.
(Xem chi tiết đợt khảo sát thực tế, báo cáo đánh giá tác động ô nhiễm, danh sách doanh
nghiệp vi phạm ô nhiễm và bị phạt hành chính tại Phụ lục 19-21)
32



KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Không thể phủ định vai trò to lớn của các KCN, KCX trong quá trình CNH-HĐH của
nước ta nhưng chính những đặc điểm phát triển chung hiện nay của các KCN, KCX đã mang
lại những hệ lụy nghiêm trọng về môi trường trong và ngoài KCN, KCX, ảnh hưởng trầm
trọng đến sinh hoạt và sức khỏe của người dân mà đặc biệt với 2 loại ô nhiễm chính là ô nhiễm
không khí và nguồn nước. Qua nghiên cứu các KCN, KCX trên địa bàn, có 2 đặc điểm lớn bao
trùm, là tác nhân, nguyên nhân gây ô nhiễm công nghiệp tại thành phố đó chính là các đặc
điểm về quy hoạch ( vị trí; phân bố KCN, KCX; phân bố các DN trong KCN, KCX,…) và đặc
điểm từ chính nội tại DN ( quy mô, cấu trúc, cơ sở hạ tầng, ngành nghề kinh doanh và ý thức
về môi trường của chủ đầu tư,…). Thực trạng ô nhiễm tại các KCN, KCX đã trở thành vấn
nạn lớn khi càng ngày có càng nhiều các DN KCN vi phạm hơn ( nổi cộm lên gần đây là tình
trạng vi phạm gây ô nhiễm của các DN KCN Lê Minh Xuân & Tân Tạo) và cách thức vi phạm
càng tinh vi hơn. Thực trạng này có các nhân tố tác động khách quan và chủ quan đến từ nhiều
phía mà theo nhóm nghiên cứu thuộc 5 nhóm chính là : về hệ thống pháp lý, thể chế; về quy
hoạch phát triển kinh tế; về quản lý hành chính, kiểm tra, kiểm soát; nhân tố về nội tại DN; và
về con người và đào tạo NNL. Ngoài ra còn một số nhân tố tác động khác (đền bù, giải tỏa,
quản lý ô nhiễm trên lưu vực rộng, về quy trình đầu tư,…) cũng có ảnh hưởng không kém.
Nhân tố nào cũng đóng một vai trò riêng mà nếu xử lý tác động không khéo léo và đồng bộ thì
sẽ ảnh hưởng dây chuyền đến việc thúc đẩy hiệu quả tác động của các nhân tố kia. Nhóm
nghiên cứu xin đưa ra sơ đồ tác động tương hỗ giữa các nhân tố như sau:

Ô nhiễm

Tác nhân trực tiếp


Nội tại doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh
Giám sát, thúc đẩy
Nền móng
Con người &
Quản lý hành
đào tạo nguồn
Quy hoạch phát chính, kiểm tra,
nhân lực
triển kinh tế kiểm soát,…
Khuôn khổ
Hệ thống pháp lý & QLNN đối với ô nhiễm


Hình 2.3 – Sơ đồ tác động tương hỗ giữa các nhân tố có ảnh hưởng đến ô nhiễm môi trường
33



CHƯƠNG 3
NHỮNG GIẢI PHÁP NGĂN NGỪA VÀ KHẮC PHỤC HIỆN TƯỢNG Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
3.1. Các quan điểm đề xuất giải pháp:
3.1.1. Duy trì thế kiềng 3 chân trong phát triển bền vững: phát triển kinh tế - xã
hội và môi trường
Thuật ngữ “Phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm
“Chiến lược bảo tồn thế giới”
do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên
và tài nguyên thiên nhiên quốc tế
công bố. Tuy nhiên cho tới năm
1987 thì thuật ngữ này mới được
phổ biến rộng rãi thông qua bản
báo cáo có tựa đề “Tương lai
của chúng ta” do Ủy ban môi
trường và Phát triển thế giới đưa
ra. Trong báo cáo này đã nêu rõ
“Phát triển bền vững là sự phát
triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hi ện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến khả năng
đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”. Phát triển bền vững như một chiếc kiềng được giữ
vững bởi 3 “chân” : kinh tế - xã hội – môi trường. Như vậy, sự phát triển bền vững có thể nói
theo cách khác: là sự phát triển đảm bảo tính hiệu quả về kinh tế, tính công bằng xã hội và môi
trường được bảo vệ, gìn giữ...Thế nhưng thực tế cho thấy, do tốc độ phát triển khá nhanh,
nhiều nước đã và đang khập khiễng trong cái thế kiềng này. Ý tưởng về tính bền vững hiện chỉ
nhằm mục đích kết nối con người trong các lĩnh vực hoà bình và dân chủ, nâng cao đời sống,
cải thiện môi trường sinh thái, và quyền con người. Như vậy, câu hỏi đặt ra là có thể đạt được
tính bền vững như thế nào? Các giải pháp đưa ra trong bài nghiên cứu này dựa trên sự hoà giải
các mục đích phát triển xã hội và các sức ép môi trường trong khung thời gian dài nhằm duy
trì thế đứng: “kinh tế - xã hội – môi trường”.
34



3.1.2. Không hy sinh môi trường để đổi lấy sự phát triển
Phát triển kinh tế mù quáng sẽ huỷ hoại môi trường. Song, phát triển một nền kinh tế
với phương châm công nghiệp hoá, hiện đại hoá một cách có ý thức, sáng suốt, có sự kiểm
soát chặt chẽ của Nhà nước, của toàn thể xã hội thì việc BVMT sẽ được đảm bảo. Đã có rất
nhiều bài học cho các nước vì quá coi trọng tăng trưởng kinh tế nhanh, tạo được sự bứt phá
lớn về kinh tế, mong vượt lên các nước khác về kinh tế, đã phải trả giá đắt về việc làm cạn kiệt
và suy thoái môi trường. Trung Quốc – quốc gia có sự phát triển thần kỳ về nền kinh tế đã trở
thành gánh nặng cho môi trường chính là một ví dụ điển hình.
Cũng giống như một số nước đang phát triển khác, tình trạng ô nhiễm môi trường do
tăng trưởng kinh tế gây ra ở Việt Nam là điều không tránh khỏi, đang là một trong những vấn
đề bức xúc đòi hỏi phải giải quyết hiện nay. Bộ trưởng Bộ TN&MT Phạm Khôi Nguyên đã
nhấn mạnh: “20 năm tăng trưởng kinh tế liên tục, nhưng cứ tăng 1 GDP mà không có chiến
lược môi trường thì sẽ mất đi 3GDP về môi trường”. Vì vậy, chúng ta không thể chạy theo các
chỉ số tăng trưởng kinh tế mà bất chấp tình trạng môi trường sống đang bị hủy diệt quá nhanh.
Đứng trên những sự phân tích này, quan điểm thứ hai của việc đề xuất giải pháp chính
là “ không hy sinh môi trường để đổi lấy sự phát triển”. Bởi vì sự đánh đổi môi trường sống
của chính mình để đổi lấy sự tăng trưởng kinh tế thì đó là một sự đánh đổi vô nghĩa.
3.1.3. Quan điểm phát huy dân chủ trong kiểm soát, kiểm tra ô nhiễm môi
trường
Một trong những nguyên nhân khiến cho DN xem nhẹ việc quản lý BVMT tại các
KCN, KCX là do công tác kiểm tra, kiểm soát thiếu tính minh bạch, những cuộc khảo sát kiểm
tra chỉ mang tính chất hành chính, các DN đã móc nối với nhau để che đậy cho hành vi gây ô
nhiễm của mình. Thực tế ở các DN không chỉ thiếu hạ tầng XLNT, CTNH, công tác kiểm tra
xử lý vi phạm ô nhiễm môi trường gần như đã bị buông lỏng trong một thời gian dài. Ngay cả
việc kiểm soát hoạt động xử lý rác thải nguy hại của nội bộ DN cũng không được thực hiện
chặt chẽ nên các nhà máy cũng vi phạm hàng loạt qui định về lưu giữ và xử lý CTNH. Vì vậy,
các giải pháp đề ra trong bài nghiên cứu này còn dựa trên quan điểm phát huy tính dân chủ
trong kiểm tra kiểm soát nhằm minh bạch hóa, và hiệu quả hóa công tác QLMT tại các KCN,
KCX nói chung.
35



3.2. Cơ sở đề xuất giải pháp
3.2.1. Cơ sở mang tính yếu tố quốc tế
“Làm thế nào để giải quyết vấn đề môi trường đi đôi với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và đảm bảo tiến bộ xã hội nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững” vẫn là một trong
những thách thức của thời đại mới. Nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế
nhưng không gây tổn hại đến môi trường, chính phủ các nước trên thế giới đã nhiều lần quy tụ,
đề xuất các nguyên tắc, kế hoạch chiến lược nhằm giải quyết những mối đe dọa cho môi
trường sống. Đây được coi là vấn đề toàn cầu, nhất thiết phải có sự hợp tác giữa các nước phát
triển cũng như đang phát triển, là vấn đề ưu tiên đối với tất cả các quốc gia, các tổ chức quốc
tế, các thành phố cũng như các công dân.
3.2.2. Cơ sở thực tiễn
Dựa vào những nghiên cứu được đúc kết ở chương 2 và kết quả nghiệm thu thực tế
khảo sát KCN Tân Tạo, TP.HCM, các giải pháp của nhóm nghiên cứu đề xuất nhằm giải quyết
những tồn đọng dựa trên những đặc điểm và tình hình hiện tại của các KCN, KCX trên địa bàn
TP.HCM. Lấy cơ sở từ việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến vấn đề ô nhiễm tại các KCN,
KCX trên địa bàn, giải pháp đề xuất nhấn m ạnh đến tính thực tiễn áp dụng và tính đồng bộ có
trọng tâm trong việc thực thi các biện pháp.
3.3. Các giải pháp đề xuất
3.3.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện luật và thể chế liên quan đến quản lý môi
trường trong phát triển các KCN, KCX của TP. HCM
Càng ngày tội phạm vi phạm pháp luật về BVMT đang có diễn biến phức tạp, nhất là
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khai thác tài nguyên, KCN, khu đô thị. Do vậy, trong bối
cảnh môi trường nước ta đang xuống cấp nghiêm trọng, hệ thống văn bản Luật và các thể chế
cần phải được xem xét, bổ sung và sửa đổi theo một số hướng như sau:
 Điều chỉnh và cơ cấu lại một số quy định trong văn bản Luật Môi trường, thêm các quy
định về thuế BVMT; kiểm toán môi trường; quy định chi tiết chế độ bảo hiểm trách
nhiệm bồi thường thiệt hại môi trường; chính sách cụ thể khuyến khích ngành công
nghiệp môi trường, xã hội hóa BVMT...
36



 Cần làm rõ các khái niệm về hành vi gây ô nhiễm môi trường cũng như mức độ ảnh
hưởng và hậu quả để lại, làm rõ thế nào là gây tác hại nghiêm trọng và lượng hóa được
các mức thiệt hại đó.
 Tăng cường mức chế tài xử phạt, cần cứng rắn và mạnh tay trong v ấn đề xử phạt hành
chính cũng như xử phạt hình sự đối với các tội danh vi phạm luật BVMT, có các hành
động gây ô nhiễm và tái vi phạm gây ô nhiễm.
 Nâng cao tính ổn định của các văn bản Luật bằng cách đầu tư sâu hơn nữa cho công
tác xây dựng các văn bản này trước khi văn bản có hiệu lực.
Ngoài ra, việc nghiên cứu đề xuất các chương trình nghị sự, tìm hiểu và phổ biến văn
bản Luật liên quan đến môi trường cho các cán bộ DN, CSSX; có chế độ khen thưởng bằng
vật chất hoặc những ưu đãi cụ thể cho DN có ý thức tốt trong công tác BVMT bên cạnh các
chế tài xử phạt nghiêm khắc cũng là một giải pháp thiết thực nhằm khơi gợi mối quan tâm,
tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình của DN trong công tác quản lý và BVMT tại KCN,
KCX.
3.3.2. Nhóm giải pháp về quy hoạch phát triển trong và ngoài khu công nghiệp
Vấn đề quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và phát triển các KCN, KCX đóng
vai trò không nhỏ trong vấn đề phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm. Quy hoạch có tính đến các
yếu tố môi trường s ẽ cho phép giảm thiểu được những tác động gây ô nhiễm môi trường. Đúc
kết từ chương 2, bất cập lớn nhất trong quy hoạch là quy hoạch không đảm bảo tính “đi trước”
và không đồng bộ trong việc xây lắp cấu trúc hạ tầng, các hạng mục, vì mục tiêu lợi nhuận
trong thu hút đầu tư mà quy hoạch tràn lan gây ô nhiễm nguồn nước, nguồn đất qua việc DN
xả thải vô tội vạ không qua xử lý do không đầu tư xây dựng hệ thống XLNT, CTNH.
Trước thực trạng trên, một yêu cầu cấp bách đặt ra là quy hoạch làm sao để các KCN
phát triển mà không ảnh hưởng đến môi trường và cuộc sống của người dân, cần hoạch định
rõ ràng về một chiến lược phát triển KCN gắn với quy hoạch phát triển tổng thể, cảnh quan
kiến trúc và môi trường trong việc xây dựng và phát triển các KCN ở Việt Nam. Cụ thể là
theo các hướng sau:
Một là, theo hướng lâu dài, bền vững; chuyển đổi các KCN, KCX dần sang mô hình
“công viên công nghiệp”, “khu công nghiệp sinh thái” (xem phụ lục 22) theo điều kiện phát
37



triển riêng của nước ta; chuyển đổi cơ cấu kinh tế để hình thành những đô thị mới, những đô
thị vệ tinh phục vụ cho phát triển các KCN-KCX.
Hai là, việc quy hoạch mới và mở rộng KCN-KCX phải gắn với quy hoạch các ngành
công nghiệp mũi nhọn của thành phố như lắp ráp ô tô, sản xuất các phương tiên vận t ải đường
thuỷ và các nhà máy vệ tinh; máy móc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, công nghiệp chế
biến; công nghệ thông tin ưu tiên sản xuất linh kiện, phụ tùng, các sản phẩm điện tử công
nghiệp điện tử viễn thông, máy tính thương hiệu Việt, điện, điện tử, hóa chất cơ bản, cơ khí,
chế biến thực phẩm... và công nghiệp phụ trợ, quy hoạch tổng thể từng khu vực chức năng
trong KCN: khu các xí nghiệp công nghiệp, khu kỹ thuật đầu mối, khu văn phòng, khu xử lý
chất thải, khu vực cây xanh,…
Ba là, đồng bộ trong xây dựng hạ tầng kỹ thuật (đường xá, hệ thống điện, cấp thoát
nước, bến bãi, kho tàng…) và hạ tầng xã hội (khu nhà ở chuyên gia, nhà lưu trú công nhân,
phòng khám y tế, trung tâm sinh hoạt – văn hóa công nhân, trạm xăng, kho ngoại quan, dịch
vụ ngân hàng và hệ thống ATM, khu ăn uống vui chơi giải trí thể thao, văn phòng cho thuê,
khu dân cư – tiểu đô thị phụ cận….). Điều này đòi hỏi sự kết hợp, phối hợp chặt chẽ từ giữa
các cơ quan chức năng trên địa bàn. Để có quy hoạch tối ưu, trong điều kiện cần thiết có thể
thuê chuyên gia quy hoạch nước ngoài.
Bốn là, việc phát triển các KCN-KCX, cụm công nghiệp, khu dịch vụ ở TP.HCM phải
chú ý đến mối quan hệ liên kết với nhau và với KCN-KCX các tỉnh lân cận nhằm khắc phục
nhược điểm manh mún, dàn trải, cạnh tranh không hiệu quả.
Năm là, thường xuyên rà soát và bổ sung quy hoạch đối với các KCN, KCX, CCN để
có thể khắc phục ngay tình trạng xuống cấp cơ sở hạ tầng, đặc biệt là đối với hệ thống cấp
thoát nước có liên quan đến việc xả thải của doanh nghiệp.
(Xem phụ lục 23: Bảng tổng hợp dự kiến điều chỉnh quy hoạch các KCN, KCX TPHCM đến
năm 2020, có tính đến năm 2025)
38



3.3.3. Giải pháp có liên quan quản lý hành chính (điều kiện cấp giấy chứng nhận
đầu tư; điều kiện vận hành dự án…)
Muốn phát huy hiệu quả của quá trình quản lý hành chính có liên quan đến kiểm soát ô
nhiễm thì cần chủ trương thực hiện “ Đúng và chặt chẽ ngay từ đầu” theo quy trình sau:
 Tất cả các dự án đầu tư vào KCN đều phải lập hồ sơ và phải được Hội đồng thẩm định
thông qua (Hội đồng này do BQL KCN chỉ định và có đại diện của Sở KHCN&MT địa
phương). Trong hồ sơ dự án có phần giải trình riêng về khía cạnh môi trường và các
biện pháp bảo vệ môi trường của dự án.
 Sau khi được cấp phép đầu tư, chủ đầu tư phải tiến hành lập Bản đăng ký đạt tiêu
chuẩn môi trường theo mẫu quy định tại Thông tư 490/1998/TT-BKHCNMT trình Bộ
KHCN&MT hoặc Sở KHCN&MT xem xét. Sau khi bản đăng ký này được cơ quan
quản lý nhà nước về BVMT chấp thuận dự án mới được phép khởi công xây dựng.
 Sở KHCN&MT phối hợp với BQL KCN tiến hành kiểm tra thẩm định các hệ thống và
thiết bị XLCT của các nhà máy đầu tư vào KCN trước khi nhà máy đi vào vận hành
Ngoài ra cần:
 Khuyến khích và ưu tiên các nhà đầu tư vào KCN với các ngành sản xuất có công nghệ
sạch, ít ô nhiễm. Bảo đảm cơ cấu ngành nghề phù hợp với thực tế và khả năng giải
quyết ô nhiễm của địa phương.
 Tiến hành thống nhất các quy định về thẩm định môi trường đối với các dự án trong
KCN, nếu cần thiết cần đổi mới các quy định cho phù hợp với tình hình thực tế
 Cần nâng cao chất lượng công tác thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động
môi trường theo 2 cấp: cấp toàn KCN và cấp từng DN KCN.
3.3.4. Giải pháp tổ chức quản lý môi trường trong các KCN, KCX
Các KCN, KCX thuộc hệ thống quản lý theo ngành dọc là BQL KCN Việt Nam trực
thuộc Chính phủ và BQL KCN ở địa phương (thuộc UBND các tỉnh, thành phố có các KCN).
Ngoài ra về lĩnh vực môi trường các KCN, KCX chịu sự quản lý của cơ quan QLNN ở cấp
TW là Bộ KHCN&MT và địa phương là UBND các tỉnh/thành phố mà trực tiếp là Sở KHCN.
Thực tế cho thấy Sở TNMT chỉ đáp ứng phần nào việc quản lý các vấn đề môi trường
bên ngoài hàng rào KCN như việc quản lý chất lượng các dòng nước thải đổ ra từ các KCN,
39



chất lượng môi trường nước và không khí xung quanh các KCN, còn các vấn đề bên trong
hàng rào chỉ có thể quản lý tốt bởi chính bộ phận chức năng quản lý môi trường của từng
KCN (phòng QLMT). Do đó để kiểm soát vấn đề ô nhiễm trong các KCN, KCX cần tổ chức
quản lý môi trường theo các hướng sau:
 Thực hiện chặt chẽ và đúng theo quy chế Bảo vệ môi trường KCN do Bộ trưởng Bộ
Khoa học, Công nghệ và Môi trường ra quyết định ban hành ngày 9/8/2002. (xem Phụ
lục 24).
 Việc phân cấp QLMT KCN phải được thực hiện hợp lý, phân công cụ thể trách nhiệm,
quyền hạn trong công tác QLNN về BVMT đối với các phòng, ban có chức năng trong
các KCN, KCX và thường xuyên có kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện theo chức
năng và thẩm quyền được phân công;
 Xây dựng l ại các quy định, thủ tục về BVMT theo hướng gỡ bỏ tính chất rườm rà, gây
tâm lý e ngại cho doanh nghiệp trong việc liên hệ chấp hành quy định BVMT
 Tăng cường công tác hậu kiểm thực hiện đánh giá tác động môi trường hay cam kết
BVMT mà doanh nghiệp đã đăng ký với cơ quan chức năng.
3.3.5. Giải pháp giám sát, kiểm tra môi trường
Năm 2008 là năm Bộ TN&MT coi việc thanh tra, kiểm tra là một hoạt động trọng tâm.
Kết quả là nhiều doanh nghiệp đã bị bắt quả tang trong việc đổ chất thải chưa qua xử lý ra môi
trường. Để phát huy tính hiệu quả của công tác thanh tra, giám sát môi trường cần tiến hành
một số giải pháp như sau:
 Xây dựng và hoàn thiện Tổ kiểm tra liên ngành về môi trường phục vụ công tác lên kế
hoạch và chương trình kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về BVMT tại
các KCN, KCX trên địa bàn.
 Tăng số lần tổ chức thanh tra định k ỳ và xử lý nghiêm ngặt (cảnh cáo, phạt hành chính
và gửi công văn yêu cầu DN chấm dứt ngay hành vi gây ô nhiễm,…)
 Tăng cường tiến hành rà soát, lên danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng và giám sát chặt chẽ các hoạt động XLCT của các DN đó.
 Có kế hoạch tiến hành kiểm tra đột xuất (kể cả ngoài giờ) đối với doanh nghiệp trong
diện bị tình nghi là có khả năng gây ô nhiễm môi trường tại KCN, KCX.
40



 Phối hợp liên ngành, nhất là lực lượng cảnh sát môi trường (CSMT), song cần phân
định rõ nhiệm vụ của CSMT và thanh tra môi trường. Cần có các cơ chế tăng cường
năng lực và quyền hạn của lực lượng CSMT trong công tác phát hiện và truy tố
 Tăng cường năng lực (ưu tiên bố trí biên chế, cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên
ngành môi trường) phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
 Tổ chức kiểm tra, thanh tra đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng,
các khu (cụm) công nghiệp và làng nghề, các cơ sở sản xuất và chế biến: tinh bột sắn,
mủ cao su, hoá chất, nhuộm, thuộc da, mạ kim loại, thuỷ sản, rượu bia và nước giải
khát, giấy,… đặc biệt là các doanh nghiệp ho ạt động trên các lưu vực sông và vùng ưu
tiên bảo vệ môi trường;
 Xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định pháp luật về BVMT. Đối với các
doanh nghiệp hoạt động sau ngày Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có hiệu lực, kiên
quyết xử lý nghiêm theo quy định, đặc biệt là áp dụng các biện pháp tạm thời đình chỉ
hoạt động sản xuất, cấm hoạt động hoặc buộc di dời ra khỏi khu dân cư. Đối với các
doanh nghiệp hoạt động trước ngày Luật BVMT năm 2005 có hiệu lực, đưa ra lộ trình
cụ thể nhằm xử lý các nguồn thải đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về chất thải;
 Tổ chức đánh giá mức độ và khoanh vùng các KCN, KCX và các vùng lân cận có môi
trường bị ô nhiễm để công khai cho nhân dân biết và phòng tránh thiệt hại; chỉ đạo và
tổ chức thực hiện các biện pháp xử lý cụ thể để phục hồi môi trường bị ô nhiễm.
3.3.6. Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho công tác môi trường
Dựa trên thực tế tình hình nhân lực phục vụ cho công tác môi trường hiện nay, nhóm
nghiên cứu xin đưa ra một số giải pháp cơ bản như sau:
 Cùng với việc đào tạo NNL mới có chất lượng phục vụ nhu cầu phát triển của
các KCN, cần xây dựng kế hoạch định kỳ đào tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện cho cán bộ, công
chức làm công tác QLMT tại các KCN tham dự các lớp tập huấn, tham gia các hội thảo
chuyên đề về chuyên môn QLMT, các giải pháp kinh tế và công nghệ …nhằm giảm thiểu ô
nhiễm môi trường tại các KCN.
41



 Xã hội hoá giáo dục môi trường cần được thực hiện và triển khai nhanh chóng
đối với các chủ thể kinh tế. Bởi lẽ, sự tác động vào môi trường tự nhiên một cách tự phát và
gây thảm hoạ không chỉ cho môi trường tự nhiên mà còn tác động xấu đến sự tăng trưởng kinh
tế khi những chủ thể này chưa nhận thức đúng đắn vai trò của môi trường, của công tác bảo vệ
môi trường trong hoạt động kinh tế.
 Ưu tiên bố trí kinh phí từ nguồn ngân sách cho nghiên cứu khoa học - công
nghệ ( KHCN) ngành kinh tế môi trường nhằm xây dựng và phát triển thị trường này. Khuyến
khích các doanh nghiệp, đặc biệt khu vực ngoài quốc doanh đầu tư cho KHCN xử lý các loại
chất thải công nghiệp và hệ thống x ử lý chất thải. Đồng thời tăng cường bảo hộ sở hữu trí tuệ,
phát minh, sáng chế để tạo động lực cho đầu tư nghiên cứu khoa học.
 Có chế độ ưu đãi đặc biệt nhằm thu hút các trí thức, chuyên gia giỏi, thợ lành
nghề đến làm việc tại vùng khó khăn về kinh tế - xã hội. Khuyến khích đào tạo chuyển giao
kinh nghiệm và phát triển nguồn nhân lực. Thiết lập trung tâm cung cấp thông tin, tư vấn và
chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại cho các doanh nghiệp.
3.3.7. Giải pháp đặc thù kiểm soát, giám sát để hạn chế ô nhiễm môi trường ở
vùng nông nghiệp Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)
ĐBSCL chiếm 1/3 đất nông nghiệp của cả nước, là một vùng sinh thái đặc biệt, một
vùng đất bảo đảm chiến lược về an ninh lương thực quốc gia. Trong những năm gần đây, vùng
ĐBSCL có tốc độ tăng trưởng nhanh, cao hơn bình quân chung của cả nước. Bên cạnh những
thành tựu khả quan về mặt kinh tế trong hai thập niên qua, do thiếu chiến lược và giải pháp
BVMT hiệu quả, tình trạng ngập lụt và ô nhiễm nguồn nước do chất thải công nghiệp tại nhiều
KCN, KCX ở khu vực ĐBSCL thải ra một cách bừa bãi. Các sông bị ô nhiễm nặng hiện nay
được ghi nhận là sông Tiền, Vĩnh Tế, Trà Sư (An Giang), sông Hậu, Cổ Chiên (Vĩnh Long),
Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, Cần Giuộc (Long An), Phụng Hiệp (Hậu Giang), Khánh Hội,
Bảy Háp, Sông Đốc (Cà Mau)… Ô nhiễm ngày càng gia tăng theo tỷ lệ thuận với quá trình đô
thị hoá, CNH-HĐH của vùng. Trên bình diện rộng, kiểm soát ô nhiễm vùng ĐBSCL tác động
tương hỗ đến công tác chống ô nhiễm trên địa bàn lưu vực sông Sài Gòn – Đồng Nai. Một số
giải pháp được đề xuất nhằm kiểm soát ô nhiễm như sau:
42



 Ưu tiên phát triển các ngành kinh tế chủ lực vùng ĐBSCL theo hướng nông
ngư nghiệp, du lịch và công nghiệp nhẹ ít gây ô nhiễm. Các vùng đã thường xuyên bị lũ lụt
vẫn nên phát triển thế mạnh của mình về nông - ngư nghiệp và các ngành kinh tế không gây ô
nhiễm. Bởi vì, tại đây nguy cơ ô nhiễm lan rộng đến mức không kiểm soát nổi khi có lũ lụt
xảy ra là rất lớn, và chi phí cải tạo sau lũ sẽ cao hơn rất nhiều lần lợi ích mà phát triển công
nghiệp có thể đem lại.
 Chú trọng đến việc xây dựng và phát huy hiệu quả các hệ thống và công trình
thủy lợi đã có, làm tốt hơn nữa công tác quy hoạch, thực hiện các dự án phát triển kinh tế
trong tương lai
 Tăng cường công tác giáo dục, nâng cao ý thức cộng đồng về BVMT khu vực
sinh sống, đặc biệt là bảo vệ nguồn tài nguyên nước.
 Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong quản lý quy hoạch kiến trúc cho phép các
sở và ban, ngành chia sẻ thông tin về hiện trạng lẫn các dự án trong nhiều lĩnh vực đặc biệt là
lĩnh vực quản lý quy hoạch kiến trúc sao cho phù hợp với tổng thể vùng và những vấn đề liên
quan đến môi trường để kịp thời can thiệp và giải quyết.
Khi thực hiện những giải pháp trên, các tỉnh, thành phố trong vùng ĐBSCL cần phối
hợp với nhau để cùng đi đến những giải pháp chung cho toàn vùng, trong đó có tính đến các
nhu cầu và điều kiện riêng biệt của từng địa phương. Các giải pháp chung phải có chuẩn mực
chung mang tính quốc gia hoặc vùng để việc chia sẻ thông tin giữa các địa phương được thuận
tiện. Như vậy, việc ứng dụng công nghệ tiên tiến trong quản lý quy hoạch kiến trúc theo xu
hướng đa ngành mới có thể đạt hiệu quả cao; việc phân công, phân vùng phát triển các chức
năng kinh tế giữa các địa phương trong toàn vùng mới bảo đảm phù hợp nhằm giúp đỡ nhau
cùng phát triển.
3.3.8. Giải pháp đặc thù áp dụng trong KCN, KCX, cụm công nghiệp tập trung
để kiểm soát ô nhiễm môi trường.
 Sản xuất sạch hơn
Trong điều kiện nền công nghiệp của nước ta còn lạc hậu, yếu tố quản lý cũng như
những yếu tố kỹ thuật còn yếu kém, thì sản xuất sạch hơn chính là một giải pháp vừa giải
quyết được vấn đề kinh tế vừa có lợi cho môi trường. Giải pháp này có thể không yêu cầu đầu
43



tư lớn nhưng lại mang lại hiệu quả nhanh và thiết thực. Nước ta có Trung tâm Sản xuất sạch
thuộc mạng lưới các trung tâm sản xuất sạch của toàn cầu. Tính đến năm 2002, Việt Nam đã
có hơn 100 doanh nghiệp tham gia các dự án thí điểm về sản xuất sạch với sự hỗ trợ từ các dự
án nước ngoài và trong nước, chưa kể đến các hoạt động tự nguyện diễn ra ở nhiều doanh
nghiệp với các quy mô khác nhau.(xem thêm Phụ lục 25)
 Hệ thống quản lý môi trường ISO 14000:
Hệ thống quản lý môi trường mặc dù đã được đề cập đến rất nhiều trong những năm
gần đây, các DN, đặc biệt là các DN trong nước vẫn chưa mặn mà với giải pháp này do còn có
quá nhiều rào cản. Rào cản lớn nhất đó là vấn đề ưu tiên của các DN, chưa phải là vấn đề môi
trường, trừ những DN xuất khẩu sản phẩm sang các nước tiên tiến có xu hướng áp dụng giải
pháp này, vì đây là một trong những yêu cầu để xuất khẩu hàng hóa. Tuy nhiên, từ kinh
nghiệm những DN đã áp dụng giải pháp này, hệ thống QLMT là một công cụ khá tiện lợi và
có ích cho chính bản thân DN rất nhiều. (xem thêm Phụ lục 26)
 Xử lý chất thải tập trung (nước thải, chất thải rắn, chất thải nguy hại):
Xử lý chất thải tập trung cho phép các doanh nghiệp giảm chi phí XLCT, vì công trình
XLCT thường yêu cầu đầu tư lớn, nếu xây dựng hệ thống XLCT đơn lẻ các doanh nghiệp
thường không sử dụng hết công suất. Mặt khác giá thành xử lý trên một đơn vị chất thải sẽ
giảm khi công suất xử lý chất thải tăng. Hình thức XLCT tập trung phổ biến nhất hiện nay là
XLCT tập trung trong các KCN. Ngoài ra, xử lý chất thải rắn và CTNH công nghiệp tập trung
cũng là những giải pháp cần thiết. Ở nước ta hiện còn rất thiếu loại hình xử lý tập trung này.
 Thực hiện các dự án về cải tạo, bảo vệ môi trường
Thực hiện các chương trình trồng cây xanh, giữ gìn đa dạng sinh học, xây dựng các
công trình làm s ạch môi trường ngay trong các KCN, KCX. Phát triển các dịch vụ môi trường
như trồng vườn hoa, thu gom rác thải, cung cấp nước sạch, xây dựng các vườn sinh thái, vườn
cây cảnh...


3.4. Các kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền
Qua một số giải pháp được đề xuất ở trên, nhóm nghiên cứu xin đưa ra một số kiến
nghị cơ bản đối với các cơ quan thẩm quyền như sau:
44



3.4.1. Với các cơ quan Chính phủ
 Tiếp tục hoàn thiện, đẩy nhanh việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật BVMT; hoàn thiện dự án Luật Đa dạng sinh học để trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến;
sửa đổi, bổ sung phần Tội phạm môi trường Bộ luật Hình sự 1999, Pháp lệnh x ử phạt vi phạm
hành chính theo hướng tăng tính cưỡng chế, nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm pháp
luật về BVMT.
 Kiến nghị tăng chi từ ngân sách cho các hoạt động BVMT, phấn đấu đến năm
2010, đầu tư cho sự nghiệp BVMT đạt mức 2% tổng chi ngân sách nhà nước; xã hội hoá mạnh
mẽ các nguồn đầu tư cho BVMT; tăng tỷ lệ đầu tư cho môi trường từ nguồn vốn đầu tư phát
triển và vốn ODA...
 Kiến nghị Quốc hội, Chính phủ xem xét, nghiên cứu bổ sung nội dung quy định
về thẩm quyền, điều kiện rút giấy chứng nhận đầu tư đối với các DN KCN để nâng cao tính
hiệu quả của công tác quản lý.
 Kiến nghị Chính Phủ đưa ra những chương trình nghiên cứu về kinh nghiệm
chống ô nhiễm công nghiệp tại các nước trên thế giới, khuyến khích nghiên cứu thực trạng ô
nhiễm tại các vùng, miền trên cả nước, đặc biệt là tại 2 địa bàn trọng điểm là Hà Nội và
TPHCM và có chương trình phổ biến sâu rộng các chương trình này.
 Đối với Bộ Tài nguyên và Môi trường:
 Ban hành các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải và quy định lộ trình, hệ
số áp dụng theo khu vực, vùng, ngành phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của
từng địa phương.
 Nghiên cứu, xem xét điều chỉnh việc quy định KCN, KCX phải xây dựng hệ
thống XLNT tập trung trước khi tiến hành công tác thu hút đầu tư vào KCN, KCX vì sẽ gây
trở ngại đến hiệu quả về đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng và kêu gọi đầu tư hạ tầng KCN,
KCX.
 Phối hợp với Bộ Xây dựng sớm thiết lập trung tâm xử lý CTNH tập trung để xử
lý CTNH phát sinh, hạn chế các vi phạm của một số đơn vị XLCT trong thời gian qua.
 Tăng cường tổ chức đào tạo, tập huấn kiến thức, nghiệp vụ về công tác BVMT
nhằm nâng cao hiệu quả công tác QLMT KCN.
45



3.4.2. Với các cơ quan quản lý địa phương
 Đối với Sở TN&MT
 Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm soát tình hình ô nhiễm của thành phố,
đặc biệt là đối với ô nhiễm từ các KCN, KCX đang là vấn đề nhức nhối của xã hội.
 Đề xuất hoàn thiện hơn nữa tiêu chí phân hạng xanh của DN về vấn đề BVMT, xem
xét kết quả phân hạng và ra quyết định công bố đến cộng đồng.
 Tiếp tục triển khai thực hiện, hoàn thành chương trình khảo sát, đánh giá, xác lập danh
mục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trên toàn địa bàn thành phố từ nay đến
năm 2010.
 Xem xét toàn diện hiệu quả hoạt động của các cơ sở bị liệt kê trong danh sách các cơ
sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng để đề xuất UBND TPHCM các chính sách xử lý
đồng bộ
 Tăng cường tổ chức quản lý công tác thu phí BVMT đối với nước thải công nghiệp
theo Nghị định số 67/2003/NĐ-CP của Chính phủ và đưa quỹ bảo vệ môi trường địa phương
đi vào hoạt động nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong phương án nâng cấp và hoàn thiện
các hạng mục công trình về môi trường nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước và tiết
kiệm trong việc sử dụng tài nguyên nước.
 Phối hợp với các cơ quan ban, ngành liên quan tổ chức nhiều buổi tọa đàm, hội thảo
tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận và áp dụng các công nghệ sản xuất sạch, công nghệ
XLNT đạt tiêu chuẩn môi trường và tiết kiệm trong việc sử dụng tài nguyên nước.
 Đối với UBND Quận, Thành phố
 Đề nghị UBND Quận chỉ đạo, giám sát và kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ tình hình ô
nhiễm môi trường và xử lý dứt điểm các cơ sở được liệt kê, có báo cáo kịp thời để Sở
TN&MT phúc tra; lập danh mục các nguồn nước bị ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt và đề xuất
giải pháp xử lý, khôi phục; thực hiện kiểm soát đối với việc thải nước thải sinh hoạt và công
nghiệp vào các nguồn nước mặt, xây dựng các hệ thống XLNT cho các khu dân cư tập trung
để giảm tải và cải thiện chất lượng của hệ thống sông ngòi, kênh rạch trên địa bàn;
 Đề nghị UBND cấp Thành phố chỉ đạo việc bố trí đủ cán bộ QLMT cấp quận/huyện;
chỉ đạo kiểm tra việc bố trí ngân sách chi thường xuyên cho sự nghiệp môi trường; tổ chức
46



công tác kiểm tra, thanh tra, thẩm định theo quy định về thẩm định dự án, xác nhận việc thực
hiện quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc thẩm quyền;
 Đề nghị UBND các Quận họp bàn tới một thị trường trao đổi và tái chế chất thải (xem
phụ lục) như là một cách khả thi nhất để giải quyết lượng chất thải khổng lồ.
 Đề nghị UBND Thành phố xóa bỏ tên của các cơ sở khỏi danh sách DN gây ô nhiễm
môi trường và các DN gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nếu các hành động BVMT của
họ được cải thiện và đồng thời bổ sung những cơ sở gây ô nhiễm môi trường khác.
3.4.3. Với ban quản lý KCN, KCX.
 Đề nghị các Ban Quản lý KCN, KCX tiếp tục tăng cường quản lý, phổ biến, hướng dẫn,
kiểm tra, giám sát, thanh tra và xử phạt vi phạm hành chính việc thực hiện quy định, quy
hoạch, kế hoạch có liên quan tới BVMT trong và ngoài KCN, KCX.
 Chủ động chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng Quy chế phối hợp
làm việc với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp thành phố hoặc các cơ quan
có liên quan để thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao theo cơ chế “một cửa”.
 Có kế hoạch phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để nhanh tiến độ lập quy
hoạch phát triển dài hạn các KCN, KCX.
 Xây dựng chương trình, kế hoạch về xúc tiến đầu tư phát triển các KCN, KCX bên
cạnh đảm bảo việc vận hành hiệu quả các hệ thống XLCT của từng DN và của cả KCN, KCX.
 Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc xây dựng và quản lý hệ thống thông
tin, đặc biệt là hệ thống thông tin về quản lý môi trường của các KCN, KCX thuộc thẩm quyền
quản lý;
 Tổ chức phong trào thi đua và khen thưởng cho DN trong KCN, KCX hoàn thành tốt
và xuất sắc công tác BVMT tại KCN, KCX.
 Tổ chức và phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thanh tra, kiểm tra,
giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và xử lý các hành vi
vi phạm hành chính trong khu.
47



KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Đề giải quyết vấn nạn ô nhiễm môi trường ngày càng có xu hướng gia tăng tại các
KCN, KCX TPHCM, các giải pháp đưa ra dựa trên 3 quan điểm đó là: duy trì thế kiềng 3 chân
trong phát triển kinh tế (kinh tế – xã hội – môi trường), không hy sinh môi trường để đổi lấy
sự phát triển và quan điểm phát huy dân chủ trong kiểm tra, kiểm soát. Các nhóm giải pháp
chủ yếu xoay quanh việc hoàn thiện hệ thống pháp lý và thể chế trong QLNN đối với vấn đề ô
nhiễm, hoàn thiện hệ thống thu thuế, phí BVMT; nhóm giải pháp về quy hoạch các KCN,
trong đó nhấn mạnh tính “đi trước” và “đồng bộ” trong thực hiện kết cấu các hạng mục hạ
tầng, dần chuyển đổi sang các mô hình “ khu công nghiệp sinh thái”, “công viên công nghiệp”;
nhóm giải pháp về quản lý hành chính trong đó nhấn mạnh đến vai trò của việc thẩm định và
cấp phép đầu tư có tính đến yếu tố môi trường, tuân thủ nguyên tắc “làm đúng ngay từ đầu”;
giải pháp tổ chức QLMT trong các KCN, KCX đề cao công tác phân cấp quản lý rõ ràng và
quản lý chặt chẽ theo quy chế BVMT KCN do Bộ trưởng Bộ KH-CN&MT ra quyết định ban
hành ngày 9/8/2002; nhóm giải pháp giám sát, kiểm tra ô nhiễm; giải pháp về đào tạo nguồn
nhân lực phục vụ cho công tác môi trường, giải pháp kiểm soát ô nhiễm tại vùng nông nghiệp
ĐBSCL với việc chú trọng thực hiện tốt hệ thống thủy lợi và quy hoạch phát triển các ngành
nông ngư nghiệp, công nghiệp nhẹ, ít gây ô nhiễm; và nhóm giải pháp đặc thù áp dụng trong
các KCN, KCX, cụm công nghiệp như khuyến khích các DN sản xuất theo công nghệ sạch,
tiên tiến, áp dụng quản lý theo tiêu chuẩn ISO 14000,…nhằm giảm thiểu ô nhiễm. Các giải
pháp này không đứng riêng lẻ mà phải được phối hợp đồng bộ với nhau. Có như vậy mới phát
huy được hết hiệu quả của các giải pháp. Song điều quan trọng là phải xác định mức độ ưu
tiên áp dụng các giải pháp. Trước thực trạng ô nhiễm công nghiệp nghiêm trọng hiện nay,
chúng ta cần một khung pháp lý vững chắc và hoàn thiện để có thể chi phối mọi hoạt động
kiểm soát ô nhiễm, có chương trình cảnh báo rộng rãi nguy cơ phát triển mất cân đối của nền
kinh tế và “tín hiệu kêu cứu từ môi trường” bằng cách phổ biến, giáo dục ý thức BVMT sâu
rộng trong cộng đồng.
48



KẾT LUẬN CHUNG
Trải qua 18 năm phát triển, hệ thống các KCN đã khẳng định được vai trò to lớn của
nó trong sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước, là nhân tố góp phần thúc đẩy công nghiệp
phát triển, tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
CNH-HĐH để hình thành các trung tâm công nghiệp gắn liền với phát triển đô thị, góp phần
giải quyết việc làm cho lao động địa phương.
Tuy nhiên, sự phát triển của các KCN, KCX trong thời gian qua đã bộc lộ nhiều hạn
chế và yếu kém cần được nghiêm túc khắc phục, đó chính là tình trạng ô nhiễm môi trường do
các KCN, KCX gây ra, trong đó đáng kể đến là vấn nạn ô nhiễm nguồn nước và không khí.
Trong quá trình vận hành máy móc, thiết bị nhằm phục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình, một bộ phận lớn các DN đã thiếu đi sự quan tâm đúng mức đến vấn đề
BVMT trong và ngoài KCN, KCX, đã gây ra những hệ lụy về môi trường nghiêm trọng. Bên
cạnh đó sự tồn đọng nhiều bất cập trong hệ thống pháp lý và quản lý lỏng lẻo của các cơ quan,
ban, ngành tạo điều kiện cho ô nhiễm càng
BVMT sinh thái trong quá trình tăng trưởng kinh tế chính là yếu tố đảm bảo sự bền
vững trong phát triển các KCN, KCX; là điều kiện tiên quyết để phát triển sản xuất, kinh
doanh, đem lại hiệu quả kinh tế cao, bảo đảm cho sự thắng lợi của công cuộc CNH-HĐH và
hội nhập thành công. Do đó trong thời gian tới, bên cạnh việc khắc phục những tồn đọng và
đẩy nhanh sự phát triển của các KCN một cách toàn diện theo hướng CNH-HĐH và hội nhập
kinh tế quốc tế, cần coi trọng và giải quyết tốt hơn nữa vấn đề BVMT để đảm bảo cho các
KCN có thể phát triển một cách bền vững.
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản