Luận văn "Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp"

Chia sẻ: cuulongvhit

Vốn là một phạm trù kinh tế hàng hoá, là một yếu tố quan trọng trong việc quyết định đến vấn đề sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào. Vì vậy nên bất kỳ một Doanh nghiệp nào muốn tồn tại, phát triển đều phải quan tâm đến vấn đề tạo lập, quản lý và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhằm đạt mục tiêu hoá lợi nhuận.

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn "Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp"

 

  1. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên ---------- ĐỀ TÀI “ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP ” Giáo viên hướng dẫn : Trần Đình Khôi Nguyên Họ tên sinh viên : Lê Thị Thu Hà ---------- SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 1
  2. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên ĐỀ TÀI................................................................................................................1 LỜI MỞ ĐẦU......................................................................................................3 PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG................................................4 I. Vốn lưu động là gì?.........................................................................................4 II/ Vai trò và đặc điểm của vốn lưu động:.........................................................5 III/ Kết cấu vốn lưu động và đặc điểm của các yếu tố :....................................7 PHẦN II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VỐN TẠI DOANH NGHIỆP .............................................................................................................9 I/ Phân tích cơ cấu vốn lưu động của doanh nghiệp:........................................9 II/ Phân tích tốc độ lưu chuyển của vốn lưu động: .........................................11 III. Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn:................................................16 Tiền ...................................................................................................................17 IV. Phân tích vốn lưu động ròng, nhu cầu vốn lưu đồng ròng và ngân quỹ ròng:..................................................................................................................17 CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY NHANH TỐC ..............20 ĐỘ LƯU CHUYỂN CỦA VỐN LƯU ĐỘNG .................................................20 1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động: ......................20 2. Các biện pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển của vốn lưu động: .................................................................................................................21 KẾT LUẬN ......................................................................................................23 TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................24 SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 2
  3. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên LỜI MỞ ĐẦU Vốn là một phạm trù kinh tế hàng hoá, là một yếu tố quan trọng trong việc quyết định đến vấn đề sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào. Vì vậy nên bất kỳ một Doanh nghiệp nào muốn tồn tại, phát triển đều phải quan tâm đến vấn đề tạo lập, quản lý và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhằm đạt mục tiêu hoá lợi nhuận. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là mục tiêu phấn đấu lâu dài của mỗi Doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp. Nhà nước tạo môi trường hành lang kinh tế cho các Doanh nghiệp hoạt động đồng thời cũng tạo áp lực cho các Doang nghiệp. Để tồn tại và đứng vững trên thị trường các Doanh nghiệp phải chú trọng đến đến vấn đề sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất. Trên thực tế có rất nhiều Doanh nghiệp đã đưa ra những phương thức, biện pháp huy động vốn và sử dụng vốn một cách năng động có hiệu quả, bên cạnh đó cũng có những doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn, mất dần vốn do công tác quản lý và sử dụng vốn không hiệu quả, thiếu chặt chẽ... Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của công tác sử dụng vốn lưu động tại Doanh nghiệp. Em đã quyết định chọn đề tài: “ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP ”. Nội dung của đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo đề tài gồm ba phần : Phần I : Tổng quan về vốn lưu động. Phần II : Phân tích tình hình quản lý vốn tại doanh nghiệp. Phần III: Những giải pháp nhằm đấy nhanh tốc độc lưu chuyển vốn lưu động trong doanh nghiệp. Em xin cảm ơn thầy Trần Đình Khôi Nguyên đã tận tình hướng dẫn em thực hiện đề tài này. Với thời gian nghiên cứu và lượng kiến thức tích luỹ còn có hạn, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng đề tài này không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn. Đà Nẵng, tháng 8 năm 2007 SVTH: Lê Thị Thu Hà SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 3
  4. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG I. Vốn lưu động là gì? Để tìm hiểu vốn lưu động là gì trước hết chúng ta hãy tìm hiểu xem vốn lưu động được xuất phát từ đâu. Như chúng ta biết ở Việt Nam, theo luật doanh nghiệp thì: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Với cách hiểu như trên thì doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh, mục đích chính là thực hiện các hoạt động kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trường, với sự đa dạng của các thành phần kinh tế và quyền tự do kinh doanh của cá nhân, tập thể đã tạo ra sự đa dạng của các loại hình doanh nghiệp. Điều này đã đặt ra cho các doanh nghiệp những trăn trở, thách thức, không ngừng tìm hiểu nhu cầu của thị trường. “ Bán ra cái gì thị trường cần chứ không phải bán cái gì của doanh nghiệp có”. Để tiến hành sản xuất kinh doanh bao giờ cũng cần ba yếu tố: Đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Có thể nói quá trình sản xuất kinh doanh chính là sự kết hợp các yếu tố đó để tạo ra hàng hoá, dịch vụ. Khác với tư liệu lao động thì đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, đối tượng lao động không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, mà giá trị của nó chuyển dịch một lần vào giá trị của sản phẩm, và được bù đắp khi doanh nghiệp bán được sản phẩm thu tiền về. Đối tượng sản xuất: Gồm những vật tư dự trữ để phục vụ cho quá trình sản xuất được liên tục như: nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu... những vật tư đang nằm trong quá trình chế biến như sán phẩm dở dang, bán thành phẩm... và những tư liệu không đủ tiêu chuẩn là tài sản lưu động còn gọi là công cụ lao động nhỏ. Tài sản lưu động lưu thông bao gồm các sản phẩm hàng hoá cho tiêu dùng, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thành toán, chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước. Như vậy. Để tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh, Tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông luôn vận động tuần hoàn và chuyển hoá cho nhau. Chính đặc điểm quy luật này làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục. Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ. Để hình thành tải sản lưu động sản suất và tài sản lưu thông đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng trước ra một số vốn nhất định để đầu tư vào các tài sản này.Vốn này được gọi là SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 4
  5. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên vốn lưu động của Doanh nghiệp. Vốn này luôn vận động, thay đổi hình thái biểu biện và trải qua ba giai đoạn vận động như sau: Giai đoạn một (T-H): Doanh nghiệp dùng tiền để mua các loại đối tượng lao động để dự trữ cho hoạt động sản xuất. Giai đoạn hai (H - SX - H’): Doanh nghiệp dùng số nguyên liệu đã dự trữ cho sản xuất để tiến hành sản xuất sản phẩm. Các vật tư dự trữ được đưa vào sản xuất và trải qua nhiều công đoạn các sản phẩm mới được tạo ra. Giai đoạn ba (H’ - T’): Doanh nghiệp tiến hành tiêu thụ sản phẩm và thu tiền về. Ở giai đoạn này thì kết thúc một vòng tuần hoàn, vốn lưu động đã từ hình thái vốn hàng hoá thành phẩm chuyển sang hình thái tiền tệ. Từ những lý luận trên, chúng ta có thể suy ra định nghĩa vốn lưu động như sau: Vốn lưu động là một bộ phận vốn tham gia trong quá trình sản xuất kinh doanh của một Doanh nghiệp. Tồn tại ở các khâu dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Một vòng tuần hoàn vốn lưu động bắt đầu từ khi mua vật liệu đưa vào sản xuất, đến khi có sản phẩm đưa vào lưu thông, thu tiền là kết thúc. Số ngày luân chuyển một lần của vốn lưu động càng ngắn, hoặc số vòng quay của vốn lưu động càng nhiều thì hiệu suất sử dụng của vốn lưu động càng cao. II/ Vai trò và đặc điểm của vốn lưu động: 2.1/ Vai trò của vốn lưu động đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường: Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải có hàng hoá, dịch vụ đầu vào hay dịch vụ mà các doanh nghiệp mua sắm để sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ. Các hàng hoá đầu vào được kết hợp với nhau tạo ra hàng hoá, dịch vụ đầu ra - đó là hàng loạt các hàng hoá, dịch vụ có ích được tiêu dùng hoặc được sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh khác. Như vậy trong một thời kỳ nhất định, các doanh nghiệp đã chuyển hoá hàng hoá, dịch vụ đầu ra để trao đổi (bán) và được mô tả như sau : Hàng hoá và dịch vụ (mua vào) Sản xuất - chuyển hoá SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 5
  6. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên Hàng hoá và dịch vụ (bán ra) Trong vốn lưu động có một loại tài sản đặc biệt đó chính là tiền. Tiền cho phép các Doanh nghiệp mua hàng hoá, dịch vụ cần thiết để tạo ra những hàng hoá và dịch vụ phục vụ cho mục đích trao đổi. Mọi hoạt động trao đổi đều được thực hiện thông qua trung gian tiền. Ở giai đoạn một thì doanh nghiệp dùng tiền để mua các loại đối tượng lao động để dự trữ cho sản xuất. Như vậy ở giai đoạn một thì vốn lưu động đã chuyển từ hình thái tiền tệ sang hình thái vật tư hàng hoá. Ở giai đoạn hai thì doanh nghiệp dùng số vật tư hàng hoá đã dự trữ để tiến hành sản xuất sản phẩm, ở giai đoạn này vốn lưu động từ hình thái hiện vật này chuyển sang hình thái hiện vật khác là các sản phẩm để phục vụ người tiêu dùng. Sang giai đoạn ba thì vốn lưu động đã từ hình thái hiện vật chuyển sang lại hình thái tiền tệ T’, mà lượng tiền T’ này lớn hơn lượng tiền T ban đầu thì Doanh nghiệp đã tạm thời thành công trong kinh doanh. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra không ngừng và có tính chất chu kỳ thành chu chuyển vốn. Vậy muốn cho quá trình sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ vốn lưu động đầu tư cho từng khâu để cho vòng tuần hoàn về chu chuyển vốn được tạo ra nhanh hơn, nhiều thuận lợi hơn. Nếu như doanh nghiệp không đủ vốn lưu động thì việc tổ chức sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn gặp nhiều khó khăn và đó chính là nguyên nhân làm cho quá trình sản xuất bị trở ngại hoặc gián đoạn. 2.2/ Đặc điểm chu chuyển của vốn lưu động: Đặc điểm nổi bật của vốn lưu động là không ngừng tuần hoàn và chu chuyển giá trị từ hình thái tiền tệ tuần tự qua các giai đoạn khác nhau và biến đổi hình thái biểu hiện để cuối cùng trở về hình thái vốn bằng tiền như ở điểm xuất phát nhưng lớn hơn về chất và lượng.Ta có thể hình dung trình tự vận động của vốn lưu động như sau:  Doanh nghiệp lấy tiền mua nguyên vật liệu để sản xuất hàng hoá dịch vụ, nếu chưa trả tiền ngay thì tạo nên những khoản phải trả.  Lao động được sử dụng để chuyển đổi nguyên vật liệu thành những sản phẩm, dịch vụ hàng hoá cuối cùng.  Doanh nghiệp tiến hành bán hàng hoá, hình thành nên những khoản phải thu của khách hàng. SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 6
  7. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên  Trong quá trình vận động nói trên, doanh nghiệp thanh toán những khoản phải trả và tiến hành thu tiền của những khoản phải thu thì quá trình sản xuất kinh doanh cũ kết thúc và quá trình xản xuất kinh doanh mới bắt đầu theo một chu kỳ được lặp lại T (H) (SX) (H’) (T’) (Tiền) (Vật tư) (Sản xuất) (Thành phẩm) (Tiêu thụ) Quá trình tuần hoàn chu chuyển của vốn lưu động Sự biến đổi các giai đoạn đó gọi là sự tuần hoàn của vốn lưu động, sự tuần hoàn liên tục không ngừng của nó tạo thành một vòng tuần hoàn và được gọi là vòng chu chuyển của vốn lưu động. Có những đặc điểm sau: + Về hiện vật: Thay đổi hình thái vật chất trong quá trình sản xuất kinh doanh, trong từng chu kỳ kinh doanh. + Về mặt giá trị: chuyển một lần giá trị của vốn vào giá thành sản phẩm do nó tạo ra và thu hồi về khi tiêu thụ sản phẩm để mua lại các yếu tố của tài sản lưu động cho chu kỳ tiếp theo. Với đặc điểm của vốn lưu động như trên, công tác quản lý vốn lưu động phải được quan tâm chú trọng từ việc lập kế hoạch nhu cầu vốn đến nhu cầu huy động và sử dụng vốn như thế nào để phù hợp với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Thường xuyên kiểm tra giám sát và có biện pháp kịp thời để vốn không bị ứ đọng, tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. III/ Kết cấu vốn lưu động và đặc điểm của các yếu tố : Kết cấu vốn lưu động phản ảnh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần trong tổng số vốn lưu động của doanh nghiệp. Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng không giống nhau. 3.1/ Vốn bằng tiền : Vốn bằng tiền là tài sản tồn tại trực tiếp dưới hình thức giá trị bao gồm tất cả các loại tiền do ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 7
  8. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên kể cả ngân phiếu và các loại ngoại tệ, vàng bạc, đá quý. Vốn bằng tiền được chia thành ba loại:  Tiền mặt  Tiền gửi ngân hàng  Tiền đang chuyển Vốn bằng tiền là loại tài sản linh hoạt nhất, sự luân chuyển của nó có liên quan hầu hết các giai đoạn sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp như thanh toán tiền mua hàng cho người bán hoặc trả các khoản nợ phải trả và cũng có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác. Do vậy trong hoạt động sản xuất kinh doanh đơn vị cần phải có một lượng tiền nhất định. 3.2/ Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu của khách hàng thể hiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp trong quá trình bán hàng hoá và dịch vụ dưới hình thức “bán trước trả sau”. Đây là những khoản tiền mà doanh nghiệp chưa thu tiền được từ khách hàng theo chính sách tín dụng thương mại.Các khoản phải thu trong nội bộ doanh nghiệp và những khoản phải thu khác. Ngoài ra trong một số trưòng hợp mua sắm vật tư hàng hoá doanh nghiệp cần phải ứng trước tiền cho người bán Độ lớn và cơ cấu của những khoản phải thu này là luôn luôn biến đổi vì vậy cần phải theo dõi để quản lý phù hợp. 3.3/ Hàng tồn kho: Là những khoản vốn lưu động có hình thái hiện vật cụ thể thuộc quyền sở hữu, quản lý và sử dụng của doanh nghiệp.Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ tồn kho là những bước đệm cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hàng hoá tồn kho được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm:  Nguyên vật liệu.  Công cụ dụng cụ.  Sản phẩm dở dang .  Hàng mua đang đi đường.  Thành phẩm  Hàng gửi đi bán SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 8
  9. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên Đối với doanh nghiệp thương mại thì hàng tồn kho chính là hàng hoá. Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó đảm bảo nhu cầu vật tư hàng hoá trong sản xuất kinh doanh, có vai trò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường. 3.4/ Tài sản lưu động khác: Là những khoản chi phí lớn hơn thực tế đã phát sinh liên quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh nên được phân bổ vào giá thành sản phẩm của nhiều kỳ kinh doanh như: sữa chữa lớn TSCĐ, chi phí thuê tài sản, … Ngoài ra tài sản lưu động khác còn phản ảnh gía trị các khoản thuộc tài sản lưu động nhưng chưa tính vào các chỉ tiêu nêu trên bao gồm những khoản như đầu tư ngắn hạn như đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn, tạm ứng, tài sản thiếu chờ xử lý, các khoản thế chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn… PHẦN II: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VỐN TẠI DOANH NGHIỆP I/ Phân tích cơ cấu vốn lưu động của doanh nghiệp: Cơ cấu vốn lưu động trong doanh nghiệp phản ảnh tỷ trọng của các thành phần vốn bằng tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản lưu động khác. Ở mỗi doanh nghiệp thì cơ cấu vốn lưu động của các doanh nghiệp là khác nhau, không giống nhau do đặc điểm về ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh ở mỗi đơn vị là khác nhau. Ngoài ra, ở mỗi đơn vị thì công tác quản lý hàng tồn kho, công tác bán hàng và chính sách quản lý công nợ cũng không giống nhau. Chính vì vậy cơ cấu vốn lưu động là không giống nhau. Ta có thể xem xét một vài tỷ trọng sau: Tỷ trọng hàng tồn kho: Hàng tồn kho Tỷ trọng hàng tồn kho = x 100% Tổng tài sản Hàng tồn kho Hay = x 100% Tổng tài sản ngắn hạn Hàng tồn kho là một khái niệm rộng bao gồm các loại dự trữ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: nguyên liệu SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 9
  10. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm, sản phẩm dở dang... Nó đảm bảo cho tiến trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được hoạt động liên tục. Chính vì vậy dự trữ hàng tồn kho hợp lý là mục tiêu hướng đến của nhiều doanh nghiệp vì nếu dự trữ hàng tồn kho quá mức sẽ gây gia tăng chi phí bảo quản và dẫn đến hiệu quả sử dụng vốn thấp. Nhưng ngược lai nếu doanh nghiệp dự trữ quá ít hàng tồn kho thì cũng gây ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Như vậy, không có một chuẩn mực nhất định nào đặt ra cho vấn đề dự trữ hàng tồn kho tuy nhiên tuỳ theo đặc thù hoạt động của doanh nghiệp mà vấn đề dự trữ hàng tồn kho sẽ nhiều hay ít. Thông thường thì trong các doanh nghiệp thương mại hàng tồn kho chiếm tỷ trọng tương đối lớn hơn so với các loại tài sản khác vì hàng tồn kho là đối tượng kinh doanh chính của các doanh nghiệp này. Tỷ trọng hàng tồn kho ở những đơn vị sản xuất có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài thì cũng tương đối cao như các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp đóng tàu, khai thác dầu mỏ, xây lắp điện....vì lượng sản phẩm đang chế tạo có thể tồn tại trong một khoảng thời gian tương đối dài. Nhưng ngược lại ở những đơn vị kinh doanh dịch vụ, du lịch, khách sạn, giải trí... thì hàng tồn kho chiếm tỷ trọng tương đối thấp Bên cạnh đó, chính sách dự trữ là tính thời vụ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng làm ảnh hưởng đến vịêc dự trữ hàng tồn kho. Chẳng hạn, do xuất hiện tình trạng mất cân đối về vấn đề cung - cầu của vật tư, hàng hoá trên thị trường đã làm cho các doanh nghiệp đầu cơ, tích trữ vật tư hàng hoá cũng làm cho tình trạng hàng tồn kho tăng lên. Một số các doanh nghiệp thực hiện tốt phương thức quản trị kịp thời trong cung ứng, sản xuất và tiêu thụ sẽ dẫn đến chỉ tiêu này thấp. Ngoài ra, tỷ trọng hàng tồn kho cao hay thấp còn phụ thuộc vào mối tương quan tăng trưởng của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp nếu hoạt động trong một thị trường độc quyền về sản phẩm hàng hoá dịch vụ và doanh thu của doanh nghiệp đó liên tục tăng trưởng trong nhiều năm thì có thể gia tăng dự trữ để đáp ứng nhu cầu của thị trưòng, hoặc một doanh nghiệp hoạt động trong một thị trường mới bùng nổ và doanh thu cũng tăng trưởng trong nhiều kỳ thì cũng có thể gia tăng hàng tồn kho để cung ứng kịp thời hàng hoá ra thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Ngược lại, nếu một doanh nghiệp đang ở trong tình trạng kinh doanh suy thoái, làm ăn không hiệu quả thì tỷ trọng hàng tồn kho cũng có khuynh hướng giảm. Tỷ trọng nợ phải thu khách hàng SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 10
  11. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên Nợ phải thu Tỷ trọng nợ phải thu = x 100% Tổng tài sản Tỷ trọng nợ phải thu khách hàng là một bộ phận thuộc tài sản lưu động của doanh nghiệp, phát sinh trong quá trình bán hàng hoá do doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng. Để xem xét tỷ trọng nợ phải thu của doanh nghiệp tăng hay giảm thì chúng ta phải xem xét đến nhiều khía cạnh sau: Thứ nhất, phụ thuộc vào phương thức bán hàng của doanh nghiệp.Thông thường, ở các doanh nghiệp bán lẻ: bán hàng thu tiền ngay thì tỷ trọng khoản phải thu khách hàng thấp. Ngược lai, ở những doanh nghiệp bán buôn: thì tỷ trọng các khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng cao. Thứ hai, chính sách tín dụng bán hàng của doanh nghiệp, thể hiện qua thời hạn tín dụng và mức tín dụng cho phép đối với từng khách hàng. Vì tín dụng bán hàng là phương thức kích thích việc tiêu thụ cho nên ở những doanh nghiệp mà thời hạn tín dụng dài, số dư nợ định mức cho phép cho khách hàng cao thì tỷ trọng các khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn. Bên cạnh đó, doanh thu tiêu thụ của doanh nghiệp tăng liên tục trong nhiều năm cũng làm cho các khoản nợ phải thu khách hàng lớn. Ngoài ra, nợ phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn mà không phải là các nguyên nhân vừa nêu trên thì đây là điều đáng cảnh báo cho doanh nghiệp. Vấn đề quản lý và sử dụng vốn chưa được tốt. Doanh nghiệp cần tìm hiểu nguyên nhân để có các biện pháp điều chỉnh kịp thời như: giảm mức dư nợ định mức cho khách hàng thanh toán chậm, ngưng cung cấp hàng hoá dịch vụ, bán các khoản nợ cho công ty quản lý nợ hoặc là phải nhờ đến sự can thiệp của pháp luật. II/ Phân tích tốc độ lưu chuyển của vốn lưu động: 2.1/ Phân tích tốc độ lưu chuyển của vốn bằng tiền: Việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm vốn lưu động được thể hiện trước hết ở tốc độ lưu chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp nhanh hay chậm. Vốn lưu động lưu chuyển càng nhanh thì hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. Tốc độ lưu chuyển của vốn lưu động được đo bằng hai mục tiêu là số vòng quay vốn lưu động và số ngày của 1 vòng quay vốn lưu động. Số vòng quay vốn lưu động phản ánh số vòng quay vốn được thực hiện SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 11
  12. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên trong một thời kỳ nhất định, thường tính trong 1 năm. Nếu số vòng quay tăng chứng tỏ vốn lưu động được luân chuyển với một tốc độ càng cao và càng có lợi cho kết quả sản xuất kinh doanh. Nói cách khác, vòng quay vốn lưu động tăng thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng và ngược lại. Công thức như sau: Doanh thu thuần trong kỳ Số vòng quay = (vòng/kỳ) VLĐ (HVLĐ) Vốn lưu động bình quân trong kỳ Trong đó : VLĐ đầu kỳ + VLĐ cuối kỳ VLĐ bình quân = 2 Chỉ tiêu này cho thấy số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ phân tích hay một đồng vốn lưu động bỏ ra thì đảm nhiệm bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Trị giá của vốn lưu động càng lớn thì chứng tỏ rằng vốn lưu động quay vòng càng nhanh. Đó là kết quả của việc quản lý vốn lưu động tốt ở từng khâu dự trữ, tiêu thụ và thanh toán, tạo tiền đề cho tình hình tài chính lành mạnh. Góp phần nâng cao hiệu suất sử dung tài sản và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này thay đổi không những phụ thuộc vào doanh thu mà còn phụ thuộc vào sự tăng giảm từng loại tài sản lưu động của doanh nghiệp Công thức số ngày của 1 vòng quay vốn lưu động : (NVLĐ) Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để vốn lưu động quay được một vòng. Thời gian một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ lưu chuyển vốn càng cao và ngược lại. 360 NVLĐ = (Vòng/kỳ) Số vòng quay VLĐ trong 1 năm Hay: Vốn lưu động bình quân NVLĐ = x 360 (ngày/vòng) Doanh thu thuần SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 12
  13. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên Trong công thức trên doanh thu thuần là doanh thu bán hàng mà doanh nghiệp thực hiện trong năm trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu (bao gồm giảm giá hàng bán, giá trị hàng bán bị trả lại và các khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp phải nộp cho ngân sách nhà nước). Trong trườg hợp doanh nghiệp áp dụng thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì được xác định bằng doanh thu thuần tính theo giá bán chưa có thuế GTGT đầu ra của doanh nghiệp. + Mức tiết kiệm (-) hay lãng phí (+) VLĐ ở kỳ này so với kỳ trước . Doanh thu thuần kỳ này VTK (+,-) = x (K1 – K0 ). 360 hoặc M1 VTK(+,-) = VLĐ1 – L0 Trong đó: VTK(+,-) : Mức tiết kiệm hay lãng phí VLĐ ở kỳ này so với kỳ trước. M1 : Doanh thu thuần kỳ này . L0 : Số lần luân chuyển VLĐ ở kỳ gốc. VLĐ1 : Vốn lưu động bình quân kỳ này. K1 : Kỳ luân chuyển VLĐ kỳ này. K0 : Kỳ luân chuyển VLĐ kỳ gốc. Để biết có một đồng doanh thu thì phải tốn bao nhiêu đồng vốn lưu động ta còn có công thứ tính hệ số đảm nhiệm vốn lưu động. Đây là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn lưu động. Hệ số này càng nhỏ thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng càng cao và vốn được tiết kiệm càng nhiều. Và được tính bằng: Vốn lưu động bình quân trong kỳ SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 13
  14. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên Hệ số đảm = nhiệm VLĐ Tổng doanh thu thần trong kỳ 2.2/ Phân tích tốc độ lưu chuyển hàng tồn kho: Vòng quay hàng tồn kho phán ánh sự luân chuyển hàng tồn kho trong doanh nghiệp. Nếu vòng quay hàng tồn kho càng cao thì số ngày cần thiết để quay vòng hàng tồn kho càng ít, chứng tỏ việc quản lý và dự trữ hàng tồn kho của đơn vị hoạt động tốt. Doanh nghiệp có thể rút ngắn được chu kỳ kinh doanh và đồng vốn bỏ vào trong hàng tồn kho được quay vòng nhanh liên tục.Nếu số vòng quay hàng tồn kho thấp, doanh nghiệp đã dự trữ quá mức dẫn đến hàng hoá vật tư bị ứ đọng, tiêu thụ chậm và có thể dẫn đến hàng hoá bị mất phẩm chất không tiêu thụ được. Từ đó có thể dẫn đến dòng tiền vào của doanh nghiệp bị giảm đi và đặt doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn về tài chính. Giá vốn hàng bán Vòng quay hàng = tồn kho Hàng tồn kho bình quân trong kỳ + Số ngày vòng quay của hàng tồn kho: Nhàng Giá trị của hàng tồn kho bình quân Nhàng = x 360 Giá vốn hàng bán Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để lưu chuyển hàng tồn kho của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp dự trữ hàng tồn kho có hiệu quả. Trong đó: Doanh thu thuần là doanh thu bán hàng mà doanh nghiệp thực hiện trong năm đã trừ đi các khoản giảm trừ. Còn hàng tồn kho bình quân trong kỳ phản ảnh giá trị bình quân giữa hai thời điểm đầu kỳ và cuối kỳ của vật tư hàng hoá. 2.3/ Phân tích tốc độ lưu chuyển của nợ phải thu: Nợ phải thu khách hàng là một bộ phận thuộc vốn lưu động của doanh nghiệp, chủ yếu là các khoản nợ mà doanh nghiệp bán chịu hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng. + Số vòng quay của khoản phải thu khách hàng: Hp.thu SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 14
  15. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên DT thuần bán chịu + Thuế GTGT đầu ra tương ứng HP.thu = Số dư bình quân các khoản phải thu KH SD đầu kỳ + SD cuối kỳ Số dư bình quân nợ phải thu = 2 Phản ảnh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền . Chỉ tiêu này cao chứng tỏ tốc độ thu hồi khoản phải thu càng nhanh. Điều này được đáng giá là tốt vì khả năng hoán chuyển thành tiền nhanh, do vậy đáp ứng được nhu cầu thanh toán những khoản nợ của doanh nghiệp. Nếu hệ số này quá cao thì cũng có thể không tốt vì doanh nghiệp quá thắt chặt chính sách tín dụng bán hàng, ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp. Vì vậy, khi đánh giá khả năng chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền cần phải xem xét đến chính sách bán hàng của doanh nghiệp. + Số ngày của chu kỳ nợ :( số ngày của doanh thu chưa thu) Số dư BQ của các khoản phải thu KH Nn = x 360 DT bán chịu + Thuế GTGT đầu ra tương ứng Chỉ tiêu này phản ảnh số ngaỳ bình quân của một chu kỳ nợ từ khi bán hàng cho đến khi thu được tiền. Chỉ tiêu này nếu so sánh kỳ hạn tín dụng của doanh nghiệp áp dụng cho từng khách hàng sẽ đánh giá được tình hình thu hồi công nợ và khả năng hoán chuyển thành tiền. Ngoài ra còn có các chỉ tiêu tính chung cho doanh nghiệp và tính riêng cho từng khách nợ như sau: Nợ phải thu mất khả năng thanh toán HKtt = Tổng số nợ phải thu Nợ phải thu quá hạn Hqh = Tổng số nợ phải thu Chỉ tiêu này cho biết tỉ lệ nợ phải thu mất khả năng thanh toán càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp có nguy cơ không thu hồi lại được vốn SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 15
  16. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên kinh doanh của mình. Điều này đánh giá công tác quản lý công nợ phải thu chưa tốt. III. Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn: Tài sản lưu động thông thường bao gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn dễ chuyển nhượng (tương đương tiền), các khoản phải thu và dự trữ tồn kho, còn nợ ngắn hạn bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả, phải nộp khác.., cả tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn đều có thời hạn thanh toán nhỏ hơn 12 tháng. Để nắm bắt được tình hình tài chính của doanh nghiệp ta cần phải xem xét đến khả năng thanh toán. Nếu tình hình tài chính tốt doanh nghiệp sẽ ít bị công nợ, khả năng thanh toán cao. Tỷ số thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể hoán chuyển thành tiền trong một giai đoạn tương đương với các với thời hạn của các khoản nợ đó. + Khả năng thanh toán hiện hành : (Khh) Khả năng thanh toán hiện hành của doanh nghiệp được định nghĩa là mối quan hệ giữa toàn bộ tài sản có thời gian chu chuyển ngắn của doanh nghiệp với nợ ngắn hạn và được tính bằng công thức : Tài sản ngắn hạn Khả năng thanh toán = hiện hành Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này là thước đo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp khi đến hạn thanh toán. Chỉ tiêu này cao thì khả năng sẵn sàng thanh toán các khoản nợ đến hạn cao, tuy nhiên nếu hệ số này quá cao thì cần phải xem xét thêm tình hình tài chính liên quan. + Tỷ số khả năng thanh toán nhanh: (Knhanh) Là tỷ số giữa các tài sản quay vòng nhanh với nợ ngắn hạn . Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có khả năng hoán chuyển thành tiền nhanh. Tài sản hàng tồn kho là những tài sản khó hoán chuyển thành tiền hơn trong tổng vốn lưu động và dễ bị lỗ nhất nếu được bán. Do vậy tỷ số thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn không phụ thuộc vào việc bán dự trữ hàng tồn kho và được xác định bằng cách lấy tổng tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn trừ cho phần dự trữ tồn kho chia cho nợ phải trả. SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 16
  17. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên Tổng TS ngắn hạn - Hàng hoá tồn kho Knhanh = Nợ ngắn hạn Tiền + Đầu tư ngắn hạn + Nợ phải thu hoặc : Knhanh = Nợ ngắn hạn Hệ số này càng cao thì khả năng thanh toán của doanh nghiệp càng cao mà không phụ thuộc vào việc giải phóng hàng tồn kho. + Hệ số thanh toán tức thời : (Ktt) Hệ số thanh toán tức thời chỉ xem xét các khoản có thể sử dụng để thanh toán nhanh nhất đó là Tiền .Hệ số này càng cao càng tốt, chỉ hệ số thanh toán tức thời của doanh nghiệp Tiền Hệ số thanh toán = tức thời Nợ ngắn hạn IV. Phân tích vốn lưu động ròng, nhu cầu vốn lưu đồng ròng và ngân quỹ ròng: 4.1/ Vốn lưu động ròng: Để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi đến hạn, chúng ta cần phải quan tâm đến chỉ tiêu vốn lưu động ròng. Chỉ tiêu này cũng là một yếu tố quan trọng và cần thiết cho việc đánh giá điều kiện cân bằng tài chính của một doanh nghiệp. Nó được xác định là phần chênh lệch giữa tổng tài sản lưu động và nợ ngắn hạn hoặc là phần chênh lệch giữa vốn thường xuyên với tài sản cố định ròng. Khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh và khả năng nắm bắt thời cơ thuận lợi của nhiều doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào vốn lưu động ròng. Do vậy sự phát triển của không ít doanh nghiệp còn được thể hiện ở sự tăng trưởng vốn lưu động ròng. Như vậy vốn lưu động ròng được xác định như thế nào? Vốn lưu động ròng được xác định là khoản chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn. Có hai cách xác định: Cách 1: VLĐR = NVTX - TS dài hạn SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 17
  18. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên Chỉ tiêu này thể hiện cân bằng giữa nguồn vốn ổn định với những tài sản có thời gian chu chuyển trên một chu kỳ kinh doanh hoặc trên một năm. Nó thể hiện nguồn gốc của vốn lưu động hay còn gọi là phân tích bên ngoài về vốn lưu động. Ở một khía cạnh khác, vốn lưu động ròng thể hiện phương thức tài trợ tài sản cố định, tác động của kỳ đầu tư lên cân bằng tài chính tổng thể. Cách 2: VLĐR = TS ngắn hạn - NVTX Chỉ tiêu này thể hiện một phần tình hình sử dụng vốn lưu động ròng: Vốn lưu động được phân bổ vào các khoản phải thu, hàng tồn kho hay các khoản có tính thanh khoản cao. Nó nhấn mạnh đến việc sử dụng vốn lưu động ở doanh nghiệp. Dựa vào cách thức xác định vốn lưu động ròng là sự chênh lệch giữa nguồn vốn thường xuyên với TSCĐ và ĐTDH thì có những trường hợp cân bằng tài chính như sau: Nếu VLĐR < 0 : Trường hợp này nguồn vốn thường xuyên không đủ tài trợ cho TSCĐ, phần thiếu hụt được bù đắp một phần nguồn vốn tạm thời hay các khoản nợ ngắn hạn. Cân bằng tài chính trong trường hợp này không tốt, mất cân bằng trong tài trợ TS dài hạn.Vì vậy doanh nghiệp luôn chịu áp lực về thanh toán nợ vay ngắn hạn.Doanh nghiệp cần phải có những điều chỉnh dài hạn để tạo ra một cân bằng mới theo hướng bền vững hơn. Nếu VLĐR = 0: Toàn bộ tài sản cố định và đầu tư dài hạn được tài trợ vừa đủ từ nguồn vốn thường xuyên. Cân bằng tài chính tuy có tiến triển và bền vững hơn so với trường hợp trên nhưng độ an toàn chưa cao, có nguy cơ mất tính bền vững. Nếu VLĐR > 0: Nguồn vốn thường xuyên không chỉ sử dụng để tài trợ cho TSCĐ mà còn dùng để tài trợ một phần cho TSLĐ của doanh nghiệp. Cân bằng tài chính được đánh giá là tốt và an toàn. Các trường hợp trên chỉ xem xét vốn lưu động ở một thời điểm. Để đánh giá cân bằng tài chính của doanh nghiệp thì cần phải nghiên cứu trong cả chuỗi thời gian thì mới dự đoán những khả năng, triển vọng về cân bằng tài chính trong tương lai. Nghiên cứu vốn lưu động ròng tại nhiều thời điểm khác nhau có thể loại trừ những sai lệch về số liệu do tính thời vụ hoặc tính chu kỳ trong kinh doanh. Có những trường hợp sau: Nếu VLĐR dương và tăng trong nhiều năm: đánh giá mức an toàn và tài chính của doanh nghiệp được xem là bền vững. SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 18
  19. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên Nếu VLĐR giảm và âm: đánh giá mức an toàn và tài chính của doanh nghiệp càng giảm vì doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho TSCĐ. Doanh nghiệp sẽ gặp áp lực về thanh toán ngắn hạn và có nguy cơ phá sản nếu không thanh toán đúng hạn và hiệu quả kinh doanh thấp. Nếu VLĐR có tính ổn định: thể hiện các hoạt động của doanh nghiệp đang trong trạng thái ổn định. 4.2/ Nhu cầu vốn lưu động ròng: Phản ánh nhu cầu tài trợ trong ngắn hạn của doanh nghiệp. Nhu cầu này liên quan đến một dãy các hoạt động có tính tuần hoàn của doanh nghiệp như: Quá trình cung ứng sản xuất và tiêu thụ trong các doanh nghiệp sản xuất; quá trình thu mua, dự trữ hay bán hàng ở các doanh nghiệp thương mại. Nhu cầu vốn lưu động ròng còn tuỳ thuộc vào doanh thu, tốc độ lưu chuyển hàng hoá tồn kho, tốc độ thu hồi nợ phải thu cũng như thời gian thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khác ngoài nợ vay. Công thức tính như sau: NCVLĐR = hàng tồn kho + Nợ phải thu - Nợ ngắn hạn Trong trường hợp này nợ ngắn hạn không bao gồm nợ vay ngân hàng.Có các trường hợp sau:  Nếu VLĐR > NCVLĐR: Cân bằng tài chính an toàn. Doanh nghiệp không gặp khó khăn về tình trạng thanh toán trong ngắn hạn và số tiền nhàn rỗi doanh nghiệp coa thể đầu tư vào các chứng khoán có tính thanh khoản cao để sinh lời.  Nếu VLĐ = NCVLĐR = 0, điều này có nghĩa vốn lưu động ròng vừa đủ để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động ròng. Cân bằng tài chính kém bền vững hơn so với trường hợp trên.  Nếu VLĐ < NCVLĐR: Vốn lưu động ròng không đủ tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động ròng và doanh nhgiệp phải huy động các khoản vay ngắn hạn để bù đắp cho sự thiếu hụt đó. Cân bằng tài chính được xem là kém an toàn và bất lợi đối với doanh nghiệp. 4.3/ Ngân quỹ ròng: Là phần chênh lệch các khoản vốn bằng tiền còn lại sau khi đã bù đắp các khoản vay ngắn hạn. Chỉ tiêu này xem xét mức độ đảm bảo nhu cầu tài trợ ngắn hạn bởi các nguồn vốn dài hạn dôi ra sau khi tài trợ tài sản dài hạn NQR = VLĐR - NCVLĐR SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 19
  20. Đề tài môn học GVHD: Trần Đình Khôi Nguyên Có những trường hợp xảy ra như sau: Nếu NQR < 0 : không cân bằng trong ngắn hạn. Nếu NQR > 0 : Cân bằng trong ngắn hạn. CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM ĐẨY NHANH TỐC ĐỘ LƯU CHUYỂN CỦA VỐN LƯU ĐỘNG 1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động: Thứ nhất, xuất phát từ vai trò của vốn lưu động đối với hoạt động sản xuất kinh doanh: Vốn lưu động là một bộ phận không thể thiếu được vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với đơn vị sản xuất thì vốn lưu động chiếm tỷ trọng không nhiều, còn đối với doanh nhgiệp thương mại thì nó chiếm một tỷ trọng khá lớn. Vốn lưu động đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên liên tục và tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh. Nếu thiếu vốn lưu động thì quá trình sản xuất không luân chuyển được nên gặp nhiều khó khăn và có thể bị gián đoạn gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn lưu động còn là công cụ phản ảnh và đánh giá quá trình luân chuyển của vật tư hàng hoá. Thông qua tình hình luân chuyển của vốn lưu động có thể kiểm tra một cách toàn diện đối với việc cung cấp, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp. Mặt khác với vai trò của vốn luân chuyển, vốn lưu động giúp tổ chức tốt việc mua hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực lưu thông. Sử dụng vốn lưu động hợp lý làm tăng lợi nhuận, góp phần làm tốt công tác bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh. Thứ hai, Xuất phát từ bảo toàn vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh: Bảo toàn vốn lưu động là phải duy trì và giữ vững được sức mua của đồng vốn, sao cho số vốn thu về ở mỗi vòng tuần hoàn đủ sức mua sắm một lượng tài sản như cũ theo giá hiện tại. trong điều kiện hiện nay khi các doanh nghiệp phải thực hiện các nguyên tăc stự cấp phát tài chính thì bảo toàn vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng còn có ý nghĩa sống còn, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển với quy mô như cũ hoặc phát triển vốn để tái sản xuất mở rộng. Thứ ba, xuất phát từ thực tế về sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp nhà nước hiện nay: Trước đây trong thời kỳ bao cấp với cơ chế cấp phát vốn cho các DNNN để tạo lập nguồn vốn lưu SVTH: Lê Thị Thu Hà - 26K6.3 20
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản