Luận văn " QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HÀN QUỐC TRONG XU THẾ HỘI NHẬP HIỆN NAY "

Chia sẻ: coxetuanloc

Ngay từ lúc mới xuất hiện, con người đã luôn có nhu cầu trao đổi với nhau để tồn tại. Khi xã hội loài người phát triển lên những cấp độ cao hơn, cùng với sự ra đời của bộ tộc, làng xã, nhà nước, nhu cầu trao đổi đó càng được mở rộng. Sự trao đổi không chỉ dừng lại giữa cá nhân này với cá nhân khác mà đã phát triển thành mối quan hệ tuỳ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia. Trong nền kinh tế thế giới hiện nay, mối quan hệ...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn " QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HÀN QUỐC TRONG XU THẾ HỘI NHẬP HIỆN NAY "

Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



TRƯ ỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
-----------------------------------




KHÓA LU ẬN TỐT NGHIỆP


ĐỀ TÀI :

“ QUAN HỆ KINH TẾ TH ƯƠNG MẠI VIỆT
NAM - HÀN QUỐC TRONG XU THẾ HỘI
NHẬP HIỆN NAY”




Giáo viên hướng dẫn : T.S Nguyễn Văn Hồng

Sinh viên thực hiện: Dương Minh Châu
Lớp A10 - K38C – KTNT




Hà nội 2003



1
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



MỤC LỤC



Lời mở đầu

Chương I: Quan hệ kinh tế quốc tế và chính sách quan hệ kinh tế quốc 1
tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

I. Quan hệ kinh tế quốc tế 1

1. Khái niệm quan hệ kinh tế quốc tế 1

2. Vai trò của quan hệ kinh tế quốc tế 2

II. Quá trình phát triển của quan hệ kinh tế quốc tế 3

III. Cơ sở của quan hệ kinh tế quốc tế 9

IV. Chính sách của Việt Nam về quan hệ kinh tế quốc tế 11

1. Chủ trương của Đảng về quan hệ kinh tế quốc tế 11

1.1 Mục tiêu của quan hệ kinh tế quốc tế 11

1.2 Những quan điểm chỉ đạo 12

1.3 Chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại thời kì 2001 - 2010 13

2. Những kết quả đạt được trong quan hệ kinh tế quốc tế nói chung và 15
trong quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc nói riêng

Chương II: Thực trạng quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Hàn 18
Quốc giai đoạn 1992 – 2003

I. Khái quát chung 18

II. Quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc 20

1. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Hàn Quốc 20




2
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



2. Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam với Hàn Quốc 26

2.1 Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc 26

2.1 Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc 29

III. Quan hệ đầu tư Việt Nam – Hàn Quốc 32

1. Khái quát chung 32

2. Lĩnh vực đầu tư 36

3. Đ ịa b àn đ ầu tư 37

4. Hình thức đầu tư 40

IV. Các lĩnh vực hợp tác kinh tế khác 44

1. Viện trợ không ho àn lại 44

2. Tín dụng ưu đãi 47

3. Xuất khẩu lao động 48

V. Đánh giá quan hệ hợp tác Việt Nam – Hàn Quốc 51

1. Đánh giá tổng quát 51

1.1 Về phía Việt Nam 51

1.2 Về phía Hàn Quốc 53

2. Những điều kiện thuận lợi cho quan hệ hợp tác Việt Nam – H àn 54
Quốc

3. Những hạn chế, khó khăn và một số vấn đề cấp bách đặt ra cho 56
quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc

Chương III. Triển vọng và giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế thương 60
mại Việt Nam – Hàn Quốc




3
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



I. Định hướng phát triển quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – H àn 60
Quốc trong thời gian tới

II. Một số giải pháp thúc đẩy quan hệ Việt Nam – H àn Quốc 63

1. Giải pháp về môi trường, thể chế 63

2. Giải pháp cho quan hệ thương mại 65

2.1 Tăng cường sức cạnh tranh cho hàng hoá Việt Nam 65

2.2 Xây dựng phương thức bán hàng hiệu quả 67

2.3 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại 68

3. Giải pháp cho quan hệ đầu tư 71

3.1 Xây dựng hệ thống chính sách khuyến khích đầu tư hấp dẫn, mềm 71
dẻo

3.2 Phát triển cơ sở hạ tầng 73

3.3 Cải cách thủ tục hành chính 74

3.4 Nâng cao trình độ của các doanh nghiệp Việt Nam để thực hiện 75
liên doanh, liên kết có hiệu quả

4. Giải pháp cho quan hệ xuất khẩu lao động 76

4.1 Sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách 77

4.2 Chuẩn bị nguồn lao động xuất khẩu 77

4.3 Nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu 78

Kết luận

Tài liệu tham khảo




4
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



CHƯƠNG I:

QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ CHÍNH SÁCH QUAN HỆ KINH TẾ
QU ỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY



I. Quan h ệ kinh tế quốc tế

1. Khái niệm quan hệ kinh tế quốc tế

Ngay từ lúc mới xuất hiện, con người đã luôn có nhu cầu trao đổi với
nhau để tồn tại. Khi xã hội loài người phát triển lên những cấp độ cao hơn,
cùng với sự ra đời của bộ tộc, làng xã, nhà nước, nhu cầu trao đổi đó càng
được mở rộng. Sự trao đổi không chỉ dừng lại giữa cá nhân này với cá nhân
khác mà đã phát triển thành mối quan hệ tuỳ thuộc và tác động qua lại lẫn
nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia. Trong nền kinh tế thế giới hiện
nay, mối quan hệ đó chính là quan hệ kinh tế quốc tế.

Quan hệ kinh tế quốc tế được hiểu là tổng thể các mối quan hệ vật chất,
tài chính có liên quan đ ến tất các giai đoạn của quá trình tái sản xuất diễn ra
giữa các quốc gia và giữa các quốc gia với các tổ chức kinh tế quốc tế.

Các quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, chủ
yếu bao gồm:

Quan hệ kinh tế quốc tế về trao đổi hàng hoá (hay còn gọi là mậu dịch
quốc tế): là một hình thức quan hệ kinh tế quốc tế chủ yếu, trong đó diễn ra
việc di chuyển hàng hoá từ nước này sang nước khác. Di chuyển hàng hoá
quốc tế đ ược thực hiện thông qua hình thức buôn bán quốc tế. Trên thị trường
thế giới, người ta thường chia hàng hoá trao đổi giữa các nước thành hai nhóm:
hàng hoá hữu hình và hàng hoá vô hình.

Quan hệ kinh tế quốc tế về di chuyển vốn đầu tư (hay còn gọi là đầu tư
quốc tế): Đầu tư quốc tế là hiện tượng di chuyển các phương tiện đầu tư từ


5
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



nước này sang nước khác nhằm thu lợi nhuận. Đầu tư quốc tế thực chất là di
chuyển các yếu tố sản xuất trên qui mô toàn thế giới.

Quan hệ kinh tế quốc tế về di chuyển sức lao động: là quan hệ kinh tế
quốc tế trong đó diễn ra việc di chuyển sức lao động từ nước này sang nước
khác trên phạm vi thế giới. Di chuyển quốc tế sức lao động được coi như di
chuyển hàng hoá quốc tế, nhưng đó là lo ại hàng hoá đặc biệt - hàng hoá sức
lao động, trên thị trường đặc biệt - thị trường sức lao động. Loại quan hệ kinh
tế quốc tế này d ẫn đến việc di dân trên phạm vi thế giới.

Quan hệ kinh tế quốc tế trong lĩnh vực khoa học công nghệ: Trong điều
kiện hiện nay hình thức này được thể hiện phổ biến dưới dạng chuyển giao
công nghệ: buôn bán Licence, Know - how, Engineering…

Quan hệ tiền tệ quốc tế: là một loại quan hệ kinh tế quốc tế trong đó
diễn ra sự di chuyển các phương tiện tiền tệ từ nước này sang nước khác trên
qui mô quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển các quan hệ buôn bán, đầu tư.
Tiền tệ với chức năng tiền tệ thế giới làm trung gian cho các quan hệ hàng hoá,
di chuyển vốn cũng như các quan hệ khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan
hệ này.



2. Vai trò của quan hệ kinh tế quốc tế

Trong hệ thống kinh tế thế giới, mỗi quốc gia không thể tồn tại và phát
triển mà không có mối quan hệ trao đổi với quốc gia khác. Điều này càng có ý
nghĩa trong bối cảnh kinh tế hiện nay, khi toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ
và trở thành xu thế tất yếu đối với mọi quốc gia. Do đó quan hệ kinh tế quốc tế
luôn giữ một vai trò quan trọng trong chính sách kinh tế của mỗi nước.

Quan hệ kinh tế quốc tế được xem như một biện pháp nhằm bổ sung
nguồn lực cho phát triển kinh tế của các nước. Mở rộng quan hệ kinh tế đối


6
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



ngo ại sẽ giúp các quốc gia tiếp thu vốn và công nghệ tiên tiến để thực hiện
công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng năng động, tăng trưởng với tốc độ cao. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối
với các quốc gia đang phát triển khi mà nền kinh tế còn nghèo, trình đ ộ phát
triển còn thấp. Vốn và công nghệ hiện đại giúp các quốc gia này nâng cao trình
độ sản xuất trong nước, góp phần rút ngắn cách biệt về kinh tế với các nền
kinh tế phát triển.

Bên cạnh đó, thị trường nội địa của một nước thường chật hẹp, không đủ
để đảm bảo phát triển nền công nghệ với quy mô sản xuất hàng loạt. Điều này
cho thấy chỉ có mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại mới khắc phục được hạn
chế trên. Tăng cường quan hệ với các nước giúp mở rộng thị trường tiêu thụ,
góp phần tăng thu ngoại tệ đồng thời thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển.
Hơn nữa, việc mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại còn giúp khai thác triệt
để các thế mạnh của mỗi nước, nâng cao đời sống người dân, tạo điều kiện
củng cố hoà bình, ổn định.

Riêng đối với các nước công nghiệp phát triển, mở rộng quan hệ kinh tế
đối ngoại tạo thuận lợi cho việc bành trướng nhanh chóng sức mạnh kinh tế
của các nước như: tìm kiếm thị trường mới để giải quyết khủng hoảng thừa của
hàng hoá; tìm kiếm nơi đầu tư thuận lợi hơn, đem lại lợi nhuận cao hơn; giảm
được chi phí sản xuất do tận dụng được nguồn lao động và tài nguyên rẻ ở các
nước đang và kém phát triển.



II. Quá trình phát triển của quan hệ kinh tế quốc tế

Quan hệ kinh tế quốc tế là bộ phận cốt lõi tạo nên tính hữu cơ của nền
kinh tế thế giới, nhờ đó mà các nền kinh tế quốc gia có thể liên kết với nhau
thành một thể thống nhất. Do đó, quá trình phát triển của quan hệ kinh tế quốc
tế chính là sự phản ánh quá trình phát triển của nền kinh tế thế giới mà ở đ ó


7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



nền kinh tế của các quốc gia phụ thuộc và tác động qua lại lẫn nhau. Chính vì
vậy mà ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế thế giới, các quan
hệ kinh tế quốc tế cũng có những điểm khác biệt nhất định.



1. Trong giai đoạn đầu, nền kinh tế thế giới đang ở thời kì Chủ nghĩa tư bản
tự do cạnh tranh, phân công lao động quốc tế từ chỗ sử dụng những khác biệt
về điều kiện tự nhiên đã phát triển thành phân công lao động quốc tế tư bản
chủ nghĩa đ ược thực hiện thông qua buôn bán quốc tế. Sự phát triển nhanh
chóng của lực lượng sản xuất ở một số nước dẫn tới nhu cầu mở rộng thị
trường và nơi tiêu thụ hàng hoá nhằm thu lợi nhuận. Đồng thời, phân công lao
động quốc tế tư bản chủ nghĩa làm tăng nhanh sự phát triển không đồng đều
của chủ nghĩa tư bản, làm sâu sắc thêm sự cách biệt trình độ phát triển kinh tế
giữa một nhóm nhỏ các nước công nghiệp phát triển với phần còn lại của thế
giới. Do đó, quan hệ kinh tế quốc tế trong giai đoạn này thường chỉ diễn ra
giữa một số nước tư bản.



2. Giai đoạn phát triển thứ hai, bắt đầu từ cuối thế kỉ 19, nền kinh tế thế giới
chuyển sang thời kì Chủ nghĩa đế quốc. Phân công lao động quốc tế thời kỳ
này được biểu hiện trước hết bằng sự thống trị thị trường trong và ngoài nước
của các liên minh độc quyền mạnh nhất trên thế giới. Quan hệ kinh tế quốc tế
trong giai đoạn này do đó là sự liên minh giữa các nhà tư bản dựa trên sự phân
chia thế giới về mặt kinh tế, là liên minh chính trị giữa các nhà nước với nhau
dựa trên việc phân chia lãnh thổ thế giới. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng song
song tồn tại mối quan hệ giữa chính quốc và thuộc địa. Các quan hệ thực dân
này đã khiến cho các cường quốc công nghiệp phát triển liên hệ chặt chẽ với
lãnh thổ hải ngoại rộng lớn mà ở đó trình độ phát triển của lực lượng sản xuất




8
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



còn rất thấp và quan hệ sản xuất này còn mang tính chất của phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa.

Do đó, nét nổi bật của quan hệ kinh tế quốc tế trong thời kì này là xuất
khẩu tư bản từ chính quốc vào thuộc địa. Trong các nước tư b ản công nghiệp
phát triển, quá trình tập trung sản xuất vào tay các tổ chức độc quyền diễn ra
mạnh mẽ, gắn liền với việc tăng nhanh tích luỹ tư bản và năng suất lao động.
Sản xuất công nghiệp tăng lên nhanh chóng. Ngược lại, ở một số nước thuộc
địa và phụ thuộc lại diễn ra quá trình lạc hậu và ngừng trệ về trình độ phát
triển kinh tế. Đây chính là hình thức đặc trưng của mâu thuẫn giữa tư bản và
lao động trên phạm vi toàn thế giới. Đồng thời, mâu thuẫn giữa các cường
quốc trong việc chạy đua theo lợi nhuận tối đa và cạnh tranh giành sự thống trị
thị trường thế giới ngày càng gay gắt.



3. Giai đoạn thứ ba của nền kinh tế thế giới được đánh dấu bằng sự thắng lợi
của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười và sự xuất hiện một nhà
nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Sự thắng lợi này và sự hình thành
của nhà nước công nông tách khỏi hệ thống thế giới tư bản chủ nghĩa dẫn đến
sự phá vỡ nền kinh tế thế giới chủ nghĩa tư bản thống nhất. Trên thế giới, bên
cạnh hệ thống kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa đã tồn tại loại hình kinh tế - xã
hội xã hội chủ nghĩa, trong đó nền kinh tế - xã hội phát triển theo những quy
luật hoàn toàn khác với quy luật của chủ nghĩa tư bản.

Trong quan hệ kinh tế quốc tế, bên cạnh quan hệ giữa các nước trong hệ
thống kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa, đã xuất hiện quan hệ giữa một b ên là
Liên Xô với bên kia là thế giới tư bản với quy mô hạn chế. Các quan hệ này
chủ yếu là quan hệ hàng hoá - tiền tệ giữa các chủ thể bình đẳng của nền kinh
tế thế giới. Giai đoạn phát triển này của nền kinh tế thế giới kéo dài đến sau
đại chiến thế giới lần thứ II, khi mà trên thế giới ngoài Liên Xô còn xuất hiện


9
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



hàng loạt các nước x ã hội chủ nghĩa khác ở châu Âu và châu Á hình thành nên
hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và nền kinh tế thế giới xã hội chủ nghĩa.
Trong p hạm vi kinh tế thế giới tồn tại hai hệ thống đối lập: xã hội chủ nghĩa và
tư bản chủ nghĩa. Mỗi hệ thống kinh tế đều phát triển theo những quy luật
riêng của mình và cơ cấu kinh tế xã hội bên trong của nó hoàn toàn khác nhau.
Song, đồng thời giữa hai hệ thống còn tồn tại những quan hệ lẫn nhau và cả hai
hệ thống đều tham gia vào phân công lao đ ộng quốc tế quốc tế và buôn bán
quốc tế như những bạn hàng bình đẳng.

Các quan hệ kinh tế quốc tế trong giai đoạn này phát triển hết sức phức
tạp. Mỗi hệ thống kinh tế đều có kiểu quan hệ riêng của mình, về bản chất nó
được xác lập trên những nguyên tắc hoàn toàn đối lập nhau. Trong hệ thống
kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc
dần dần được xoá bỏ và đã hình thành các nước mới độc lập - các nước đang
phát triển. Mâu thuẫn giữa chính quốc và thuộc địa chuyển thành mâu thuẫn
giữa các nước tư bản công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển. Đồng
thời những mâu thuẫn lẫn nhau giữa các nước đế quốc chủ nghĩa cũng ngày
càng thêm gay gắt và triền miên. Tất cả những điều đó đã đẩy chủ nghĩa tư bản
vào cuộc tổng khủng hoảng ngày càng sâu sắc. Bên cạnh đó địa vị kinh tế của
các nước đang phát triển ngày càng được củng cố và sự phát triển của nó có
ảnh hưởng không những đến sự tồn tại của hệ thống thế giới tư bản chủ nghĩa
mà còn ảnh hưởng đến các quan hệ kinh tế nói chung. Trong quan hệ kinh tế
quốc tế ở giai đoạn này, mâu thuẫn cơ bản cũng là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa
tư bản và chủ nghĩa x ã hội được biểu hiện bằng cuộc đấu tranh kinh tế giữa hai
hệ thống.




10
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



4. Giai đoạn hiện đại của nền kinh tế thế giới là giai đoạn mà ở đó các nhóm
nước trong nền kinh tế thế giới được hình thành chủ yếu dựa vào trình độ phát
triển kinh tế và khu vực địa lý. Một thế giới đa cực đang hình thành.

Sau khi Liên Xô và cộng đồng xã hội chủ nghĩa châu Âu tan rã, các
cường quốc phương Tây trở thành những thế lực chủ yếu chi phối cục diện
kinh tế - chính trị thế giới. Tỷ trọng các nước đang phát triển trong sản xuất
công nghiệp thế giới chỉ chiếm một phần nhỏ, 2/3 quan hệ buôn bán quốc tế
của các nước đang phát triển gắn với các nước phát triển, chỉ 1/3 còn lại là các
nước phát triển với nhau; 95% vốn đầu tư nước ngoài xuất phát từ các nước
phát triển, trong số đó chỉ có 1/4 đi vào các nước đang phát triển phần còn lại
tập trung chủ yếu vào các nước công nghiệp phát triển.

Hoà nhập vào nền kinh tế thế giới trong thế so sánh lực lượng không có
lợi, các nước đang phát triển luôn tìm cách vươn lên để hạn chế thiệt thòi của
kẻ yếu. Nhiều nước Đông Á đ ã phát huy tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo
trong quá trình hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, đã có những chính sách,
những biện pháp thích hợp nhờ đó đã duy trì được nhịp tăng trưởng đáng kể.

Do nhịp độ tăng trưởng của các nước đang phát triển nói chung nhích
lên tro ng khi nhịp độ tăng trưởng ở các nước phát triển hầu như dậm chân tại
chỗ, các nước phát triển có xu hướng bám chặt hơn, thậm chí tăng cường các
biện pháp o ép đối với các nước đang phát triển để giữ vững lợi thế so sánh
của mình trong quan hệ hợp tác. Đồng thời cạnh tranh và mâu thuẫn giữa các
nước đang phát triển gay gắt lên thêm.

Từ tình hình trên, xu hướng khu vực hoá trong các nước phát triển cũng
như các nước đang phát triển có thể nhằm tăng cường lợi thế của mỗi nhóm
nước trong hợp tác với các nước ngoài khu vực và thực tế cho thấy quá trình
này đang diễn ra với quy mô ngày càng lớn, với một tốc độ ngày càng cao
trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế thế giới như buôn bán, tổ chức


11
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



sản xuất, nghiên cứu khoa học công nghệ cũng như các lĩnh vực giáo dục đào
tạo, văn hoá, lối sống… Hiện nay trên thế giới đã hình thành nhiều liên kết khu
vực như Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội thương mại tự do Bắc Mỹ
(NAFTA), Nhóm các nước phát triển (G7), Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái
Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)…Tuy
nhiên do xu hướng, xu thế chung của khu vực hoá sẽ không thể sống nếu tách
rời hoặc đi ngược lại với toàn cầu hoá trong hợp tác kinh tế. Điều đó là do các
vấn đề toàn cầu hoá ngày càng trở nên gay gắt như vấn chiến tranh và hoà
bình, đề lương thực, vấn đề môi trường sinh thái, vấn đề dân số…trong đó nổi
cộm nhất hiện nay là vấn đề chống khủng bố trên toàn thế giới. Vụ khủng bố
kinh hoàng diễn ra trên đất Mỹ ngày 11/9/2001 m ới đây là một minh chứng
điển hình cho tính tất yếu của hợp tác toàn cầu.

Giữa các nước đang phát triển với nhau, một mặt có nhu cầu liên kết tự
nhiên giữa những người đồng cảnh, mặt khác do nhu về vốn ngày càng tăng
trong khi tỷ trọng FDI vào các nước này không tăng hoặc ngày càng giảm, sự
cạnh tranh để thu hút vốn đầu tư ngày càng gay gắt hơn. Các nguồn viện trợ và
cho vay dành cho các nước đang phát triển nói chung ngày càng giảm, trừ một
số ít nước có khả năng trả nợ tin cậy.

Các dự báo trên thế giới gần như thống nhất rằng trong nửa đầu thế kỉ
21, châu Á - Thái Bình Dương với tiềm năng phong phú, tính năng độc lập,
nhịp độ tăng trưởng thần kì và bước đi tương đối vững chắc sẽ trở thành trung
tâm kinh tế thế giới, thậm chí có dự báo cho rằng trung tâm kinh tế thế giới
chuyển từ châu Âu sang châu Á tro ng đó nổi lên là Đông Á - Tây Thái Bình
Dương.

Do qui luật cạnh tranh và thời gian đã trở nên thúc bách các cường quốc
kinh tế cả trong và ngoài khu vực đều phải tính đến việc cầm chân và phát
triển ảnh hưởng ở khu vực này. Gần đây đã xuất hiện nhiều động thái cho thấy


12
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



sự bắt đầu quan tâm (hoặc quan tâm nhiều hơn) của các nước lớn đối với khu
vực này, không những từ Nhật, Trung Quốc mà còn cả từ một số nước Tây Âu
và Mỹ, cụ thể là việc thành lập khối liên kết ASEAN + 3 gồm Nhật Bản,
Trung Quốc, Hàn quốc và khối liên kết ASEAN + 1 với riêng từng nước. Mục
tiêu của họ không chỉ đơn thuần là đi tìm lợi nhuận cao, hoặc vì yêu cầu nhân
đạo giao lưu văn hoá, mà còn nhằm cân bằng và giành giật ảnh hưởng với
nhau, tiến tới đưa khu vực này đi theo quỹ đạo của họ.

Có thể nói quan hệ kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay đang diễn ra
hết sức phức tạp, sâu sắc và rộng khắp. Trong quan hệ đó, có sự tham gia của
mọi quốc gia, mọi thành phần kinh tế trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh
tế - xã hội. Khu vực hoá, toàn cầu hoá do đó là xu thế đặc trưng của quan hệ
kinh tế quốc tế thời kì này. Các quốc gia ngày càng xích lại gần nhau, tăng
cường sự phụ thuộc lẫn nhau và đang dần từng bước tạo nên một nền kinh tế
thế giới thống nhất.



III. Cơ sở của quan hệ kinh tế quốc tế

Tiền đề cơ bản của quan hệ kinh tế quốc tế là phân công lao động quốc
tế. Trong giai đoạn đầu, những hình thức quan hệ kinh tế quốc tế đơn giản nhất
xuất phát từ sự khác nhau về điều kiện tự nhiên của từng nước. Sự khác nhau
về tài nguyên thiên nhiên, về khoáng sản, khí hậu…đ ã trở thành tiền đề tự
nhiên của phân công lao động quốc tế, là cơ sở đầu tiên cho việc trao đổi hàng
hoá giữa các ngành và các quốc gia.

Trong những thời kì sau, cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật,
phân công lao động quốc tế ngày càng được mở rộng. Ý nghĩa của điều kiện tự
nhiên như một yếu tố nguyên thuỷ của phân công lao động quốc tế đã bị giảm
một cách tương đối và ý nghĩa của phân công lao động trong nội bộ ngành
được nâng cao. Chuyên môn hoá và hợp tác quốc tế do đó ngày càng trở nên


13
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



sâu sắc, mậu dịch quốc tế càng phát triển nhanh chóng. Giữa các quốc gia
trong nền kinh tế thế giới ngày càng tăng cường mối quan hệ trao đổi và phụ
thuộc lẫn nhau. Nền sản xuất vật chất đã vượt qua khuôn khổ của các nước
riêng lẻ và tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế ngày càng tỉ mỉ,
sâu sắc và chặt chẽ hơn. Phân công lao động quốc tế giờ đây không chỉ dừng
lại ở việc trao đổi hàng hoá mà được mở rộng trên các lĩnh vực kinh tế, khoa
học kỹ thuật; trở thành một nhu cầu không thể thiếu của đời sống kinh tế và là
một tất yếu khách quan của thời đại. Việc áp dụng những thành tựu khoa học
kỹ thuật vào quá trình sản xuất đã tạo ra c ơ sở vật chất để mở rộng thị trường
thế giới và tăng nhanh các quan hệ kinh tế quốc tế. Có thể nói phân công lao
động quốc tế luôn gắn liền với sự ra đời và phát triển của các mối quan hệ kinh
tế quốc tế.



Cùng với phân công lao động quốc tế, lợi thế so sánh cũng là một cơ sở
quan trọng của quan hệ kinh tế quốc tế. Trong thời kì đầu, lợi thế so sánh
chính là sự ưu đãi về các lợi thế tự nhiên của các yếu tố sản xuất bao gồm vốn,
lao động, tài nguyên, đ ất đai, khí hậu… của quốc gia này so với quốc gia khác.
Chính sự ưu đãi này đã khiến cho các nước có chi phí cơ hội thấp hơn trong
việc sản xuất một số sản phẩm hàng hoá nhất định và sẽ thu đ ược lợi khi đem
xuất khẩu hàng hoá đó để đổi lấy sản phẩm hàng hoá cần nhiều chi phí hơn.
Nhu cầu trao đổi, buôn bán do đó cũng xuất hiện. Lợi thế so sánh đã đ em lại
lợi ích cho tất cả các quốc gia khi tham gia vào phân công lao động quốc tế,
thúc đẩy sự tích cực tham gia của các nền kinh tế vào các hoạt động quan hệ
kinh tế quốc tế.

Trong những giai đoạn sau, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật,
công nghệ dần trở thành một yếu tố đầu vào mang tính chất quyết định đối với
sự phát triển sản xuất của mỗi quốc gia. Lợi thế so sánh do đó cũng được mở


14
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



rộng, bao gồm cả công nghệ, dây chuyền sản xuất. Những quốc gia có trình độ
khoa học công nghệ hiện đại sẽ giảm được chi phí sản xuất, tăng chất lượng và
sản lượng sản phẩm, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trong quan hệ
buôn bán, trao đ ổi với các quốc gia khác. Lợi thế so sánh thật sự đã trở thành
cơ sở để các nước tham gia vào các mối quan hệ kinh tế quốc tế khi đem lại lợi
ích thương mại cho các quốc gia đó.




Bên cạnh đó, sự phát triển của quan hệ kinh tế quốc tế cũng gắn liền với
sự phát triển kinh tế của các quốc gia. Khi các nền kinh tế còn ở trình đ ộ phát
triển thấp, quan hệ giữa các nước mới chỉ dừng lại ở mức trao đổi hiện vật, đổi
hàng lấy hàng. Chính sự phát triển về khoa học công nghệ, sự phát triển và
hoàn thiện các phương tiện giao thông vận tải, liên lạc đã làm cho các bộ phận
của nền kinh tế thế giới ngày càng xích lại gần nhau và mở rộng không ngừng
các quan hệ kinh tế giữa các nước, các khu vực trên thế giới. Các quan hệ kinh
tế quốc tế bây giờ không chỉ đơn thuần bao gồm việc trao đổi hàng hoá mà còn
được mở rộng sang nhiều hoạt động khác. Sự xuất hiện và phát triển không
ngừng của khoa học, công nghệ đã dẫn đến nhu cầu chuyển giao những công
nghệ cũ từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển vốn rất thiếu dây
chuyền công nghệ hiện đại để phát triển sản xuất trong nước. Cũng nhờ sự
phát triển kinh tế, dẫn đến dư thừa vốn ở một số nước phát triển, hoạt động di
chuyển vốn đầu tư sang các quốc gia khác đã được thực hiện. Có thể nói kinh
tế càng phát triển thì m ối quan hệ giữa các nền kinh tế càng trở nên bền chặt và
sâu sắc, sự tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia do đó
cũng ngày càng tăng. Xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức
mạnh mẽ là một minh chứng cho điều đó.




15
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



IV. Chính sách của Việt Nam về quan hệ kinh tế quốc tế

1. C hủ trương của Đảng về quan hệ kinh tế quốc tế

1.1 Mục tiêu của quan hệ kinh tế quốc tế

Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ “Mở rộng quan hệ
kinh tế đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố
và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế”. Đến Đại hội Đảng lần thứ
IX lại khẳng định chủ trương “Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ
nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để tăng trưởng
nhanh, có hiệu quả và b ền vững” với mục tiêu:

Mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để
đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo định hướng XHCN, thực hiện
dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trước mắt là thực
hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu ra trong chiến lược phát triển Kinh tế - Xã
hội 2001 - 2010 và kế hoạch 5 năm 2001 - 2005.



1.2 Những quan điểm chỉ đạo

Thứ nhất, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng
mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế quốc tế - Việt Nam sẵn
sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hoà bình, độc lập và phát triển.

Thứ hai, mở rộng quan hệ nhiều mặt song phương và đa phương với
nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức
quốc tế và khu vực theo nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực
hoặc đe dọa dùng vũ lực, b ình đẳng cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và
tranh chấp bằng thương lượng ho à bình, làm thất bại mọi âm mưu và hành


16
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



động gây sức ép, áp đặt, cường quyền. Coi trọng và phát triển quan hệ hữu
nghị, hợp tác với các nước XHCN và các nước láng giềng. Nâng cao hiệu quả
và chất lượng hợp tác với các nước ASEAN. Tiếp tục mở rộng quan hệ với các
nước bè bạn truyền thống, các nước độc lập dân tộc, các nước đang phát triển
ở châu Á, châu Phi, Trung Đông và Mỹ la-tinh, các nước trong Phong trào
không liên kết. Thúc đẩy quan hệ đa dạng với các nước phát triển và các tổ
chức quốc tế.

Thứ ba, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần
phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự
chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn
bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ m ôi trường. Chính phủ các bộ ngành và các
doanh nghiệp khẩn trương xây d ựng và thực hiện kế hoạch hội nhập kinh tế
quốc tế với lộ trình hợp lí và chương trình hành động cụ thể, phát huy tính chủ
động của các cấp, các ngành và các doanh nghiệp, đẩy mạnh chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế - x ã hội, ho àn chỉnh hệ thống
pháp luật, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế.



1.3 Chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại thời kì 2001 - 2 010

Căn cứ vào đường lối kinh tế, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm
2001 - 2010, xu hướng phát triển nền kinh tế và thị trường thế giới thập niên
đầu thế kỷ XXI cũng như từ thực tiễn của các nước và của bản thân, Đại hội
Đảng IX đã đ ề ra định hướng lớn cho hoạt động kinh tế đối ngoại thời kì 2001
– 2010:

Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hoá,
đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều
kiện của nước ta và đảm bảo thực hiện những cam kết trong quan hệ song



17
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



phương và đa phương như AFTA, APEC, Hiệp định Thương m ại Việt - Mỹ,
tiến tới gia nhập WTO…

Nhà nước có chính sách khuyến khích mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế
tham gia sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ. Nâng cao
năng lực cạnh tranh, phát triển mạnh sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có khả
năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, giảm mạnh xuất khẩu sản phẩm thô và
sơ chế, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm chế biến và tỷ lệ nội địa hoá trong sản
phẩm, nâng dần tỷ trọng có hàm lượng trí tuệ, hàm lượng công nghệ cao. Xây
dựng các quỹ hỗ trợ xuất khẩu, nhất là đối với hàng nông sản. Khuyến khích
sử dụng thiết bị, hàng hoá sản xuất trong nước. Tăng nhanh kim ngạch xuất
khẩu, tiến tới cân bằng xuất - nhập. Thực hiện chính sách bảo hộ có lựa chọn,
có thời hạn đối với sản phẩm sản xuất trong nước.

Đẩy mạnh các lĩnh vực dịch vụ thu ngoại tệ như du lịch, xuất khẩu lao
động, vận tải, bưu chính viễn thông, tài chính tiền tệ, dịch vụ kỹ thuật, tư vấn,
thu hút kiều hối.

Chủ động và tích cực thâm nhập thị trường quốc tế, chú trọng thị trường
các trung tâm kinh tế thế giới, duy trì và mở rộng thị phần trên các thị trường
quen thuộc, tranh thủ mọi cơ hội mở rộng thị trường mới.

Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị, xúc tiến thương mại, thông tin bằng nhiều
phương tiện và tổ chức thích hợp, kể cả các cơ quan đại diện ngoại giao ở
nước ngoài, khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia
các hoạt động môi giới, khai thác thị trường quốc tế.

Từ những quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế đối
ngo ại nói trên ta có thể thấy một số lưu ý quan trọng sau:

Xuất nhập khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại khác không chỉ được
xem là nhân tố hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế quốc dân mà còn là động lực
phát triển kinh tế của đất nước. Phát triển kinh tế đối ngoại là để tăng cường

18
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



khả năng tự phát triển không ngừng của nền kinh tế quốc dân, chứ không chỉ
tăng thu nhập thuần tuý, mặc dù không coi nhẹ việc tăng thu nhập.

Đối với nước ta, một nước trình độ phát triển còn thấp, thiếu vốn và kỹ
thuật nhưng lại có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên và lao động, việc thực hiện
chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời coi trọng bảo hộ có chọn lọc,
có thời hạn đối với sản phẩm sản xuất trong nước.

Coi trọng việc xuất khẩu sản phẩm có hàm lượng chế biến, sản phẩm có
hàm lượng trí tuệ và công nghệ cao, chú trọng xuất khẩu dịch vụ. Chủ trương
này tạo đà cho xuất khẩu tăng tốc và đạt hiệu quả.

Thực hiện chiến lược này là giải pháp mở cửa nền kinh tế để thu hút các
nguồn lực từ bên ngoài vào khai thác tiềm năng lao động và tài nguyên đất
nước.



2. Những kết quả đạt được trong quan hệ kinh tế quốc tế

Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng những năm qua nước ta đã đạt
được những thành tựu quan trọng trong việc mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngo ại:

Chúng ta đã đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng mạnh
mẽ quan hệ kinh tế quốc tế song phương và đa phương. Cho đ ến nay Việt Nam
đã ký Hiệp định thương mại với với 85 nước, ký Hiệp định về hợp tác kinh tế
– khoa học – kỹ thuật với 32 nước và phát triển quan hệ đầu tư với gần 70
nước và lãnh thổ. Nước ta đã trở thành thành viên có quan hệ với các tổ chức
tài chính lớn của quốc tế và khu vực như Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng
thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), đ ã nhận được từ các tổ
chức tài chính này những khoản vay ưu đãi hàng tỷ USD để thực hiện nhiều dự
án lớn, nhận đ ược viện trợ hàng trăm triệu USD hỗ trợ kỹ thuật cho nhiều lĩnh


19
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



vực cải cách hệ thống thuế, ngân hàng, thống kê…Bên cạnh đó chúng ta cũng
đã gia nhập ASEAN và khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), tham gia
sáng lập diễn đ àn Á - Âu (ASEM), gia nhập Diễn đ àn hợp tác kinh tế Châu Á -
Thái Bình Dương (APEC), trở thành quan sát viên của tổ chức thương m ại thế
giới (WTO) và đang tiến hành đàm phán đ ể gia nhập tổ chức này. Nước ta
cũng đã ký Hiệp định khung về hợp tác kinh tế với Liên minh Châu Âu (EU)
và Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kì theo chuẩn mực của WTO.

Để tăng cường việc chỉ đạo công tác hội nhập kinh tế quốc tế, chính phủ
đã thành lập Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế và Uỷ ban đã có
những đóng góp tích cực vào việc thực hiện nhiệm vụ mở rộng quan hệ hợp
tác kinh tế quốc tế.

Thực hiện đường lối đổi mới chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng
mở, đa phương hoá, đa dạng hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nước ta đã
mở rộng được quan hệ đối ngoại, vượt qua được những khó khăn nay về thị
trường do biến động ở Liên Xô cũ và Đông Âu gây ra, phá được thế bị bao
vây, cấm vận và các thế lực thù địch, tạo dựng được môi trường quốc tế thuận
lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của nước ta
trên chính trường và thương trường thế giới, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của
cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực vào cuối những năm 90 của thế kỉ
XX.

Thu hút được một số lượng đáng kể vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) và viện trợ phát triển chính thức (ODA). Kể từ khi ban hành luật đầu tư
nước ngoài tháng 12/1987 đến nay chúng ta đã thu hút được trên 42 tỷ USD
vốn đầu tư với trên 3000 dự án, đã thực hiện khoảng 21 tỷ USD trong số đó.
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh
tế nước ta: gần 30% vốn đầu tư xã hội, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, giải




20
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



quyết việc làm cho khoảng 40 vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao
động gián tiếp.

Ngoài ra, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội để Việt Nam
tiếp cận với những thành quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang
phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Nhiều công nghệ và dây chuyền sản xuất
hiện đại được sử dụng đ ã tạo nên bước phát triển mới trong các ngành sản
xuất. Đồng thời thông qua các dự án liên doanh hợp tác với nước ngoài, các
doanh nghiệp Việt Nam đã tiếp nhận đ ược nhiều kinh nghiệm quản lý tiên tiến.

Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế vào
môi trường cạnh tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng quan
hệ kinh tế đối ngoại nhiều doanh nghiệp đã nỗ lực đổi mới công nghệ, đổi mới
quản lý, nâng cao năng suất lao động và chất lượng, không ngừng vươn lên
trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Đ ã có hàng trăm doanh nghiệp đạt
tiêu chuẩn ISO 9000. Một tư duy mới, một nếp làm ăn mới, lấy hiệu quả sản
xuất kinh doanh làm thước đo, một đội ngũ các nhà doanh nghiệp mới năng
động, sáng tạo, có kiến thức quản lý đang hình thành.



Những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong quan hệ kinh tế đối ngoại
thời gian qua chính là kết quả nỗ lực trong từng mối quan hệ đối ngoại với các
nước, trong đó phải đặc biệt kể đến quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc. Tuy m ới
thiết lập quan hệ ngoại giao được hơn 10 năm nhưng nhưng kết quả đạt được
trong mối quan hệ giữa hai nước thật đáng khích lệ. Về kinh tế, quan hệ hai
nước phát triển nhanh chóng và rất có hiệu quả. Cho đến nay chính phủ Hàn
Quốc đã dành cho Việt Nam 148 triệu USD các khoản tín dụng ưu đãi từ Quỹ
viện trợ phát triển (EDCF) và 36,5 triệu USD viện trợ không hoàn lại trong các
lĩnh vực y tế, giáo dục…Về hợp tác đầu tư, Hàn Quốc đã đ ầu tư vào Việt Nam


21
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



kho ảng 4.03 tỷ USD với 588 dự án, đứng vị trí thứ 5 trong số các nước và
vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam sau Singapore, Đ ài Loan, Hồng Kông và
Nhật Bản. Tính riêng 9 tháng năm 2003, Hàn Quốc đã có 121 d ự án đầu tư
được cấp phép với tổng vốn đăng kí lên đến 191.211,1 nghìn USD, đứng thứ
hai chỉ sau Đ ài Loan. Các dự án đầu tư của Hàn Quốc đã tạo ra gần 100.000
việc làm cho người lao động Việt Nam.




ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM

Từ 1/1 – 20/9/2003

Đơn vị: 1000 USD

Các nước và vùng Số dự án được cấp Số vốn đăng kí
lãnh thổ đầu tư vào g iấy phép Tổng số Vốn pháp định
Việt Nam

Đài Loan 117 226.703 95.439,5

Hàn Quốc 121 191.211,1 93.758,5

Qđ Virgin thuộc Anh 21 182.630 48.765,0

Ôxtrâylia 6 107.710,0 34.090,0

Hồng Kông 28 95.955,6 38.670,0




22
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Nhật Bản 35 71.073,3 33.495,8

Trung Quốc 41 63.511,5 26.406,5

Mỹ 14 43.825,0 20.748,9

Singapore 18 40.138,8 21.033,8

Hà Lan 7 38.910,0 12.570,0

Malaysia 9 29.095,0 20.234,0

Thái Lan 7 21.806,0 9 .050,0

Liên Bang Nga 3 18.600,0 16.900,0

Bahamas 2 12.000,0 3 .750,0

Canada 5 6.297,9 4 .696,9

Đan Mạch 5 5.724,0 3 .340,0

Nguồn: Tổng cục thống kê

Về thương mại, hiện Hàn Quốc đang đứng thứ 11 trong số các thị
trường xuất khẩu của Việt Nam là bạn hàng lớn thứ 5 của Việt Nam. Kim
ngạch buôn bán hai chiều luôn đạt mức tăng trưởng ổn định, đạt từ 10 - 15%.
Tổng kim ngạch trong 7 tháng năm 2003 là 1.782 triệu USD.



CÁC THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LỚN CỦA VIỆT NAM 9 THÁNG 2003

Đ ơn vị: nghìn USD

Thị trường 9 tháng 2003 9T/03 so với 9T/02 (%)

Nh ật Bản 2 .098,821 124,7

Trung Quốc 1 .137,623 102,9

Ôxtrâylia 1 .011,690 113,0




23
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Singapore 771.040 105,4

Đức 600.632 115,2

Anh 533.071 124,4

Đài Loan 524.970 82,và

Inđônêxia 393.692 143,1

Hà Lan 362.026 124,0

Malaysia 350.915 143,8

Hàn Quốc 347.033 101,4

Pháp 343.671 111,9

Bỉ 281.354 120,1

Nguồn: Tự tổng hợp trên cơ sở bảng “Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng
2003” – tạp chí Ngoại th ương số 33 từ 21-30/11/2003.

Bên cạnh đó, hiện nay đã có tới 20.000 lao động Việt Nam làm việc tại
Hàn Quốc và được các doanh nghiệp Hàn Quốc đánh giá rất cao ở tính siêng
năng và sự khéo léo. Có thể nói đối với Việt Nam, Hàn Quốc đã thực sự trở
thành một thị trường xuất khẩu lao động lớn, góp phần giải quyết việc làm và
nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động Việt Nam.

Như vậy, thực hiện đường lối phát triển kinh tế mở, đa dạng hoá, đa
phương hoá Việt Nam đã có những bước đi đầu tiên để từng bước hội nhập
vào nền kinh tế thế giới. Những kết quả đạt được về mở rộng thị trường xuất
khẩu, mở rộng quan hệ tín dụng, thu hút FDI, tiếp nhận chuyển giao công nghệ
trong các mối quan hệ đối ngoại nói chung và trong quan hệ Việt Nam – Hàn
Quốc nói riêng đã góp phần tích cực vào những thành tựu về kinh tế của đất
nước trong những năm đổi mới vừa qua. Với những thành tựu đó, H àn Quốc
đã thực sự trở thành một đối tác quan trọng của Việt Nam trên nhiều lĩnh vực,



24
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



nhất là kinh tế và đầu tư. Và những nghiên cứu về thực trạng quan hệ Việt
Nam - H àn Quốc ở chương II dưới đây sẽ giúp chúng ta có những đánh giá
chính xác và cụ thể hơn về mối quan hệ này.




CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG QUAN HỆ KINH TẾ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM -
HÀN QUỐC GIAI ĐOẠN 1992 - 2003



I. Khái quát chung

Lịch sử giao lưu giữa Việt Nam - H àn Quốc bắt đầu từ thế kỉ XIII nhưng
sau chiến tranh thế giới lần thứ II, trong v òng xoáy của cuộc chiến tranh lạnh
giữa các nước Đông Tây, quan hệ giữa hai nước đ ã bị gián đoạn trong một thời
gian dài. Thời kỳ trước 1975, Hàn Quốc có quan hệ ngoại giao, kinh tế quân sự
với chính quyền Sài Gòn, đưa quân sang Việt Nam tham gia chiến tranh xâm
lược của Mỹ, gây nhiều tội ác với nhân dân Việt Nam. Từ 1975 - 1982 Việt


25
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Nam và Hàn Quốc bắt đầu có quan hệ buôn bán tư nhân qua trung gian và từ
năm 1983 mới bắt đầu có quan hệ buôn bán trực tiếp và một số quan hệ phi
chính phủ. Mãi cho đến những năm 80 của thế kỷ này, hai nước mới thực sự
bắt đầu mở rộng các quan hệ kinh tế dù cũng chỉ dừng lại ở các hoạt động
thương mại và đầu tư.

Trong giai đoạn 1982-1991 các hoạt động thương mại và đầu tư giữa hai
nước là không đáng kể. Kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc sang Việt Nam
chỉ đạt 45 triệu USD trong khi kim ngạch nhập khẩu là 24,53 triệu USD. Hàn
Quốc đã xuất sang Việt Nam một số mặt hàng như phân bón, tivi, ximăng,
hàng dệt may trong khi đó lại nhập của Việt Nam than, gỗ và sắt phế liệu. Hoạt
động đầu tư của các công ty Hàn Quốc tại Việt Nam trong giai đoạn này mới
chỉ dừng lại ở khâu nghiên cứu thị trường. Các tập đoàn lớn của H àn Quốc như
Samsung, Deawoo, Hyundai chỉ mở văn phòng đại diện. Nhiều công ty của
Hàn Quốc có quan hệ thương mại với Việt Nam nhưng có rất ít công ty đầu tư
vào Việt Nam.

Ngày 22/12/1992 Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm
đã cùng Bộ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Lee Sang Ok kí tuyên bố chung thiết
lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ, mở đầu một chương mới cho quan hệ Việt
Nam – Hàn Quốc. Từ đây hai nước thực hiện tiến trình bình thường hoá quan
hệ, quyết định phát triển hợp tác hữu nghị hướng tới tương lai. Hai nước đã
thường xuyên trao đổi các đo àn cấp cao và các cấp các ngành, qua đó giúp
tăng cường hiểu biết lẫn nhau và tạo ra những mốc phát triển mới cho quan hệ
hợp tác song phương và tăng cường sự phối hợp, ủng hộ lẫn nhau trên trường
quốc tế. Các đoàn Việt Nam sang Hàn Quốc: Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn
Mạnh Cầm (tháng 2/1993), Thủ tướng Võ Văn Kiệt (tháng 5/1993), Tổng Bí
thư Đỗ Mười (tháng 4/1995), Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (tháng
3/1998), Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên (tháng 8/2000), Chủ tịch
nước Trần Đức Lương cùng Tổng thống Hàn Quốc Kim Te Chung ra tuyên b ố

26
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



chung thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác mới là “Quan hệ đối tác toàn diện
trong thế kỷ 21” (22 - 25/8/2001), Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn
Dũng (29/8 - 02/9/2002), Thủ tướng Phan Văn Khải (15 - 20/9/2003). Các
đoàn Hàn Quốc thăm Việt Nam: Bộ trưởng Ngoại giao Lee Sang Ok
(22/12/1992), Bộ trưởng Ngoại giao Han Sung Joo (tháng 5/1994), Thủ tướng
Lee Young Dug (tháng 8/1994), Bộ trưởng Ngoại giao Gong Ro Myong (tháng
8/1996), Chủ tịch Quốc hội Kim Soo Han (tháng 8/1996), Tổng thống Kim
Young Sam (tháng 11/1996), Bộ trưởng Ngoại giao và Thương mại Park
Chung Soo (tháng 7/1998), Tổng thống Kim Te Chung thăm chính thức Việt
Nam và dự Hội nghị Cấp cao ASEAN -6 (tháng 12/1998), Bộ trưởng Ngoại
giao và Thương mại Hong Soon Young (tháng 7/1999), Thủ tướng Ly Han
Dong (08-11/4/2002), Chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc (tháng 10/2003).

Kể từ khi thiết lập quan hệ chính thức đến nay chính phủ hai nước đã kí
nhiều Hiệp định quan trọng như Hiệp định hợp tác kinh tế - khoa học kỹ thuật
(2/1993), Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư và b ản sửa đổi bổ sung
(9/2003), Hiệp định hàng không, Hiệp định thương mại (5/1993), Hiệp định
tránh đánh thuế hai lần (5/1994), Hiệp định vận tải biển (12/4/1995), Hiệp định
hải quan…Bên cạnh đó để thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ hợp tác chính phủ
hai nước còn thành lập các cơ quan như U ỷ ban hợp tác liên chính phủ, Uỷ ban
hợp tác khoa học - kỹ thuật…và đặc biệt là cơ quan xúc tiến thương mại và
đầu tư với nhiệm vụ nghiên cứu, thu thập, phổ biến thông tin thương mại; trợ
giúp các đoàn doanh nghiệp sang thăm, tìm hiểu thị trường, tổ chức hội chợ
triển lãm…

Có thể nói trong 11 năm qua quan hệ Việt Nam – H àn Quốc đ ã phát
triển mạnh cả về chiều rộng và chiều sâu. Điều này được cụ thể hoá qua từng
lĩnh vực mà hai nước đã hợp tác đặc biệt là các lĩnh vực thương mại, đầu tư và
xuất khẩu lao động. Những phân tích dưới đây về hợp tác hai nước trong các



27
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



lĩnh vực đó giai đoạn 1992-2003 sẽ giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể hơn về
mối quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc.



II. Quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc

1. Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Hàn quốc

Sau hơn 10 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ thương mại giữa
Việt Nam và Hàn quốc ngày càng phát triển. Kim ngạch buôn bán hai chiều
luôn đạt mức tăng trưởng ổn định, từ 10 - 15%/ năm.

Kim ngạch hai chiều Việt Nam - Hàn Quốc liên tục tăng, đặc biệt là
trong những năm đầu thiết lập quan hệ 1992, 1993, tổng kim ngạch có tốc độ
tăng trưởng lớn nhất trung bình khoảng 80%. Các năm tiếp sau từ 1993 đến
1995 kim ngạch buôn bán đều tăng với tốc độ tăng khoảng 30% do sự tăng
trưởng kinh tế và nhu cầu nhập khẩu lớn của Việt Nam. Một nhân tố khác cũng
góp phần làm tăng tổng kim ngạch hai chiều là sự chuyển đổi bạn hàng của
Việt Nam từ các nước XHCN sang các nước trong khu vực trong đó có Hàn
Quốc. Có thể nói những thành tựu bước đầu đó trong quan hệ thương mại giữa
hai nước là rất đáng khích lệ.



THỐNG KÊ KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM - HÀN QUỐC

Đơn vị: triệu USD

Xuất Nhập Tổng Việt Nam
Năm Tăng/giảm
khẩu khẩu K im ngạch (%) Nhập siêu

1991 41 198 263 - -

1992 57 436 532 102,2 379




28
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



1993 90 728 876 62,97 638

1994 114 1027 1168 33,33 913

1995 194 1351 1615 38,27 1157

1996 216 1450 1677 3 ,84 1234

1997 238 1603 1851 10,38 1365

1998 230 1422 1649 -10,91 1192

1999 319 1440 1789 8 ,49 1121

2000 352 1730 2192 22,53 1378

2001 406 1894 2315 7 ,25 1488

2002 466 2285 2751 18,83 1819

1-7/200 3 266 1516 1782 - 1250

Nguồn: Vụ Châu á Thái Bình Dương - Bộ Thương mại 2003



Tuy nhiên hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á 1997
đã làm cho kim ngạch thương mại hai chiều bị chững lại, năm 1997 tăng
trưởng chỉ đạt 10,38%, thậm chí năm 1998 tốc độ này còn giảm mạnh tới mức
-13,38%. Đây là thời kì khó khăn không chỉ đối với riêng Việt Nam và Hàn
Quốc m à còn đối với cả khu vực Châu Á.

Nhưng những nỗ lực khắc phục của các quốc gia chịu ảnh hưởng của
khủng hoảng trong đó có Việt Nam và Hàn Quốc đã góp phần cải thiện tình
hình. Chỉ 2 năm sau khủng hoảng, 1999 kim ngạch thương mại giữa hai nước
đã b ắt đầu nhích dần lên và tăng liên tục cho đến nay. Năm 2000 kim ngạch
thương mại hai chiều đạt 1,798 tỉ USD, năm 2001 đạt 2,092 tỉ USD và năm
2002 đạt 2,751 tỉ USD đã đưa Hàn Quốc trở thành bạn hàng lớn thứ 5 của Việt
Nam sau Nhật Bản, Singapore, Trung quốc và Đài Loan. Riêng 7 tháng đầu


29
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



năm 2003 kim ngạch buôn bán hai chiều đã đạt 1,782 tỉ USD, tăng 30% so với
cùng kì năm 2002. Nếu so sánh tốc độ tăng trưởng thương mại của hai nước
hiện nay với giai đoạn đầu thiết lập quan hệ ta có thể thấy những bước tiến rõ
rệt. Năm 2002 tốc độ tăng trưởng thương mại giữa hai nước đã tăng gấp 5 lần
so với năm 1992 và ước năm 2003 con số này sẽ còn cao hơn nữa. Triển vọng
năm 2005 kim ngạch thương m ại hai chiều có thể đạt 3,5 tỷ USD và đến 2010
có thể đạt 5 tỷ USD.

Những phân tích cụ thể về kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của Việt
Nam và Hàn Quốc sẽ cho thấy những đánh giá chính xác hơn về quan hệ
thương mại giữa hai nước. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc
liên tục tăng trong giai đoạn 1992 - 2003, ngoại trừ năm 1998 do ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực. Năm 2002 so với năm 1992
xuất khẩu của Việt Nam sang H àn Quốc đã tăng gấp 17,2 lần, cao hơn nhiều
so với chỉ số tương ứng 6,9 lần của tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.
Với con số này Hàn Quốc đứng thứ 9 trong số các nước và vũng lãnh thổ nhập
khẩu hàng hoá của Việt Nam, sau Nhật Bản 2.438,1 triệu USD, Mỹ 2.421,1
triệu, CHND Trung Hoa 1.495,5 triệu, Australia 1.329 triệu, Singapore 960,7
triệu, Đài Loan 812,1 triệu, Đức 720,7 triệu, Anh 570,8 triệu. Trong tương lai,
dự kiến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường H àn Quốc vẫn tiếp
tục tăng ở mức 12 - 15%/ năm. Như vậy, đối với Việt Nam, Hàn Quốc là một
thị trường quan trọng và càng trở nên quan trọng hơn trong khối liên kết
ASEAN + 1 (ASEAN + Hàn Quốc). Tuy nhiên xuất khẩu của Việt Nam chỉ
chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Hàn quốc,
trung bình khoảng 0,15%, xếp hàng thứ 38 trong số các nước xuất khẩu của
Hàn Quốc. Từ năm 1993 - 1997 tương quan xuất khẩu của Việt Nam so với
Hàn Quốc luôn là 1/7, từ năm 1997 - 2003 là 1/5.

Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị truờng Hàn Quốc cũng liên
tục tăng do nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước trong giai đoạn này. Nhập

30
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



khẩu từ H àn Quốc năm 2002 đ ã gấp 43 lần năm 1992, cao hơn nhiều so với chỉ
số 7,2 lần của tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước trong thời gian tương ứng.
Con số này cao hơn rất nhiều so với mức tăng của kim ngạch xuất khẩu cho
thấy Việt Nam luôn trong tình trạng nhập siêu, trung bình khoảng 1,4 tỉ USD.
Đáng lưu ý hơn là mức nhập siêu của Việt Nam với Hàn Quốc tăng khá nhanh
và luôn chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số nhập siêu của Việt Nam, cao nhất là
năm 1999 với tỷ lệ là 580,9%. Hàn Quốc hiện đang đứng thứ 4 trong số các
nước và vũng lãnh thổ xuất khẩu vào Việt Nam sau Đ ài Loan 2536,9 triệu
USD, Singapore 2.534,3 triệu, Nhật Bản 2509,6 triệu. Mặc dù vậy đối với Hàn
Quốc, thị trường Việt Nam còn chiếm một tỷ lệ k há khiêm tốn, nhập khẩu của
Việt Nam chỉ chiếm 1,06% tổng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc so với
mức 14% tổng nhập khẩu của Việt Nam.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhập siêu của Việt Nam. Điều
này trước hết là do chính đặc điểm hàng xuất khẩu xuất khẩu của ta. Hàng Việt
Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc chủ yếu là hàng sơ chế nên giá trị không cao,
lại vấp phải hàng rào phi thuế ngặt nghèo. Ngoài ra, hàng xuất khẩu của ta còn
phải chịu sức ép cạnh tranh từ các sản phẩm cùng loại của nhiều nước trong
khu vực như Trung Quốc, Thái Lan… trên thị trường H àn Quốc. Trong khi đó,
ta lại có nhu cầu lớn về nhiều loại hàng hoá mà Hàn Quốc có khả năng như
máy móc, thiết bị (trong đó có một phần không nhỏ là những thiết bị nhập
khẩu phục vụ cho các dự án đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam) có giá trị lớn,
vì thế kim ngạch nhập khẩu từ Hàn Quốc lại càng cao. Do đó có thể thấy, trong
khi hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc còn chưa mạnh và tương
đối d è dặt thì hàng hoá xuất khẩu của Hàn Quốc đã từng bước tạo được vị thế
vững chắc trên thị trường Việt Nam. Hiện nay, mặc dù có rất nhiều loại hàng
chất lượng cao của Mỹ, Nhật, Châu Âu… nhưng các mặt hàng điện tử máy
móc cao cấp mang nhãn hiệu Hàn Quốc như Samsung, Goldstar,
Hyundai…vẫn được người tiêu dùng Việt Nam tin dùng và hàng năm tiêu thụ


31
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



một lượng tương đối lớn. Chính sự phù hợp về giá cả cũng như chất lượng sản
phẩm xuất khẩu đối với người dân Việt Nam đã giúp Hàn Quốc ngày càng mở
rộng thị trường của mình tại Việt Nam. Cho đến nay, đã có khoảng 450 công
ty Hàn Quốc chính thức hoạt động tại Việt Nam và nhiều công ty khác đang
triển khai quan hệ thương mại với Việt Nam.

Để góp phần tình trạng mất cân đối này giải quyết, thông qua các quỹ hỗ
trợ thương mại, H àn Quốc sẽ cung cấp các khoản tín dụng ưu đãi dài hạn nhằm
nâng cao hiệu quả thương m ại giữa hai nước. Hiện nay các ngân hàng Hàn
Quốc đã vào Việt Nam hoạt động. Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc (
KOREA EXIMBANK) đã thực hiện các khoản tín dụng ưu đãi thông qua
chương trình bảo hiểm và bảo trợ thương m ại cho Việt Nam. Ngân hàng tín
dụng dài hạn Hàn Quốc (KLB) hỗ trợ cho các nhu cầu về tài chính cho các
công ty Hàn Quốc hoạt động tại Việt Nam, trong đó có cả các công ty liên
doanh Việt Nam - H àn Quốc. Bên cạnh đó chính phủ Việt Nam cũng đã có
nhiều biện pháp, chính sách khuyến khích hàng xuất khẩu như thành lập các
khu chế xuất, khu công nghiệp chế biến, hỗ trợ hàng hoá xuất khẩu…

Về lâu dài, sự chênh lệch cán cân thương mại này cần được khắc phục
theo hướng phía Việt Nam cần kiên trì đ ấu tranh đ ể phía H àn Quốc mở cửa thị
trường cho hàng xuất khẩu của ta; khuyến khích những dự án đầu tư sản xuất
của Hàn Quốc để xuất khẩu lại thị trường này, vì những hàng hoá đó khi xuất
khẩu sẽ được ưu đãi hơn. Hiện nay, Bộ Thương m ại đang tăng cường hợp tác
với một số tổ chức xúc tiến thương m ại khác của Hàn Quốc để đề nghị phía
Hàn Quốc ủng hộ và giúp đỡ các hoạt động xuất khẩu của ta. Phía Hàn Quốc
cho biết, trong thời gian tới sẽ tăng cường nhập khẩu dầu thô và nông sản của
Việt Nam để góp phần cân bằng cán cân thương mại.

Trong tương lai với vị thế là một trong những nền kinh tế phát triển
mạnh và có vị trí địa lí gần Việt Nam, Hàn Quốc tiếp tục là một trong những


32
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



đối tác kinh tế quan trọng của Việt Nam. Với hàng hoá chất lương tốt, rẻ Hàn
Quốc là nguồn cung cấp máy móc thiết bị, vốn đầu tư, công nghệ tiên tiến cho
nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam. Ngược lại, Hàn Quốc đã,
đang và vẫn sẽ là thị trường có dung lương lớn, có sức hấp dẫn đối với hàng
hoá Việt Nam. Do đó vấn đề đặt ra trong quan hệ buôn bán của Việt Nam với
Hàn Quốc là cần khai thác hiệu quả hơn nữa tiềm năng thị trường này và giảm
thiểu nhập siêu, góp phần cải thiện cán cân buôn bán của Việt Nam đối với
quốc gia này.



2. Cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam với Hàn Quốc

2.1 Cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc

Những mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Việt nam sang Hàn quốc
vẫn là hải sản, hàng dệt may, dầu thô, giầy dép, cao su, hàng thủ công mỹ
nghệ, cà phê trong đó chiếm tỷ lệ lớn nhất vẫn là hải sản khoảng 27%, tiếp đến
là hàng dệt may 20%, dầu thô và hàng thủ công mỹ nghệ cùng ở mức 3%.
Trong quan hệ buôn bán giữa hai nước hầu hết các mặt hàng này đ ều đạt mức
tăng trưởng khá. Tính đến tháng 7 năm 2003 so với cùng kì năm 2002, hải sản
tăng ở mức 11,28%, giầy dép tăng 49,45%, cao su tăng 41,26% và cao nhất là
cà phê với mức tăng kỉ lục là 126,65%. Đặc biệt, các mặt hàng mới xuất hiện
cũng đạt được mức tăng trưởng cao cho thấy những chuyển biến tích cực trong
cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này như gỗ tăng 37,94%,
sản phẩm nhựa tăng 164,76%, cao hơn so với mức tăng cao nhất của mặt hàng
cà phê truyền thống. Tuy vậy vẫn có những mặt hàng đạt mức tăng trưởng âm
như dầu thô, hàng rau quả (năm 2002 giảm mạnh so với năm 2001 ở mức
58,22%) và hàng thủ công mỹ nghệ.



CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHÍNH CỦA VIỆT NAM SANG HÀN QUỐC


33
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Đ ơn vị: nghìn USD

Mặt hàng 2001 2002 1-7/2003

Giá trị Giá trị
Tăng Tăng

g iảm g iảm

(%) (%)

Hải sản 110.045 116.597 5 ,95 69.758 11,28

Hàng dệt may 104.053 92.592 -11,02 37.000 -28,60

Sản phẩm gỗ 17.986 24.810 37,94 13.542 1 ,53

Dầu thô 12.498 11.635 -7,91 - -

Giầy dép các loại 9.001 13.247 47,18 12.409 49,55

Cao su 9.982 14.120 41,45 8.868 41,26

Hàng thủ công mỹ nghệ 12.034 11.637 -3,29 6.720 -25,21

Cà phê 6.567 11.703 78,79 14.346 126,65

Hàng rau qu ả 20.194 8 .436 -58,22 4.966 -7,92

Dây điện-dây cáp điện 4.030 2 .367 -41,27 1.560 27,29

Sản phẩm nhựa 2.787 4 .392 57,62 4.585 164,76

Than đá 857 10.739 1 .251,8 7.117 34,27

Tổng kim ngạch XK 406.081 466.009 14.76 265.514 14,42

Nguồn: Vụ Châu Á Thái Bình Dương - Bộ Thương mại 2003

Biến động thất thường của những con số qua các năm đã cho thấy tính
chất không ổn định của hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam. Điều này là do phần
lớn các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đều là các loại nguyên liệu thô nên
hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng và sản lượng khai thác trong năm. Sự tăng
giảm của sản lượng khai thác sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kim ngạch xuất khẩu


34
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



năm đó. Ngoài ra do chủ yếu xuất khẩu sản p hẩm thô nên giá trị không lớn
khiến cho sản lượng xuất khẩu tuy nhiều nhưng kim ngạch vẫn còn khá khiêm
tốn.

Hơn nữa, một số mặt hàng của Việt Nam tuy đã thâm nhập được vào thị
trường Hàn Quốc nhưng lại chưa giành được thị phần tương xứng. Chẳng hạn,
vốn là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 3 thế giới nhưng trong những năm gần đây
xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang quốc gia này là không đáng kể
mặc dù năm 1997 gần 94000 tấn gạo được xuất sang Hàn Quốc trị giá khoảng
22 triệu USD. Hiện nay Hàn Quốc chỉ đứng thứ 19 trong số các nước và vùng
lãnh thổ nhập khẩu gạo của Việt Nam. Dầu thô cũng là một trong những mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam cũng chỉ đáp ứng được 13,62 triệu USD
so với nhu cầu 2,6 tỷ USD dầu thô của Hàn Quốc, tương đương với tỷ lệ
0,52%. Điều này một phần là do sản lượng dầu thô chưa cao, phần nữa là vì
chất lượng dầu của ta kém hơn so với dầu của vùng Trung Đông - kho dầu lửa
của toàn thế giới. Đối với nhóm hàng d ệt may, tuy kim ngạch xuất khẩu khá
lớn đạt 92.592.661 USD năm 2002 và riêng 7 tháng đầu năm 2003 đạt
37.000.805 USD song những mặt hàng xuất sang H àn Quốc chỉ chủ yếu để tái
xuất sang nước thứ 3. Hàng may sẵn của Việt Nam khó vào thị trường này vì
hiện tại Hàn Quốc vẫn là một trong những quốc gia hàng đầu về xuất khẩu
hàng may sẵn, mỗi năm đạt tới 3,5 tỷ USD. Bên cạnh đó một số mặt hàng như
ớt, tỏi, thịt lợn, thịt gà, vịt, rau, quả… rất có tiềm năng nhưng xuất khẩu của ta
còn ít, một phần do thị trường đòi hỏi cao, ví dụ ớt quả phải to, ít cay; vừng có
vỏ phải trắng, nhiều tinh dầu.

Mặc dù vậy vẫn có những dấu hiệu đáng mừng cho xuất khẩu của Việt
Nam sang thị trường này. Hiện nay nhiều mặt hàng của ta đã tạo được vị thế
khá vững chắc và ổn định trên thị trường Hàn Quốc. Với kim ngạch
14.346.762 USD tính đến tháng 7/2003 Việt Nam đang là nước xuất khẩu cà
phê lớn thứ 4 vào thị trường H àn Quốc sau Indonexia, Honduras và Colombia.

35
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Thủ công mỹ nghệ là mặt hàng xuất khẩu khá đặc trưng của Việt Nam cũng
luôn đ ạt kim ngạch xuất khẩu cao, năm 2001 đạt 12.034.589 USS, năm 2002
đạt 11.637.745 USD. Bên cạnh đó, một số mặt hàng nông sản khác của Việt
Nam cũng đang dần chiếm lĩnh thị trường Hàn Quốc như sắn lát (chiếm
58,41% thị phần), trái dừa khô chưa có số liệu chính xác nhưng theo thương vụ
Việt Nam tại Hàn Quốc cho biết thì duy nhất chỉ có dừa Việt Nam bán chạy
khắp nơi từ Seoul đến các địa phương. Đứng đầu trong số những mặt hàng
xuất khẩu của Việt Nam sang Hàn Quốc là hải sản, chỉ tính riêng 7 tháng đầu
năm 2003 đã đạt được 69.758.814 USD, tăng 11,28% so với cùng kì năm
ngoái. Hiện đang có rất nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc đến thương vụ Việt
Nam tìm thông tin và nhờ giới thiệu đối tác để mua hải sản của Việt Nam. Họ
đặc biệt quan tâm đến mặt hàng cua, ghẹ, bạch tuộc, tôm, mực… là những mặt
hàng mà Việt Nam hoàn toàn có thể cung cấp được. Thậm chí một vài doanh
nghiệp còn có ý định hợp tác nuôi cá biển, tôm tại Việt Nam. Tuy nhiên do khả
năng nắm bắt nhu cầu thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế
nên hiện nay kim ngạch xuất khẩu vẫn chưa đ ạt như mong muốn.



2.2 Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc

Việt Nam chủ yếu nhập của H àn Quốc các trang thiết bị và vật tư như
máy móc, sắt thép, chất dẻo, xăng dầu, phân bón, các nguyên phụ liệu cho
ngành giầy dép, dệt may… Đây đều là những hàng hoá phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và có giá trị cao. Dẫn đầu trong số các
mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam là nguyên phụ liệu dệt may da với giá trị
nhập khẩu tính đến tháng 7/2003 là 302.210.589 USD, tăng 24,62% so với
cùng kì năm ngoái. Các năm trước đó giá trị nhập khẩu mặt hàng này cũng
tương đối cao, năm 2001 là 421.134.514 USD và 418.320.057 USD năm 2002.
Điều này là vì ngành dệt may Việt Nam trong mấy năm gần đây đang phát


36
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



triển rất nhanh chóng do được cấp hạn ngạch từ các thị trường khó tính như
Mỹ, EU. Bên cạnh đó Việt Nam còn nhập khẩu một lượng lớn các máy móc
thiết bị phụ tùng và có kim ngạch nhập khẩu tăng đều qua các năm, năm 2002
so với năm 2001 tăng 54,47%, 7 tháng đầu năm 2003 tăng 0,42% so với cùng
kì năm 2002. Các vật liệu khác như sắt thép, xăng dầu, chất dẻo… cũng được
Việt Nam nhập khẩu thường xuyên để phục vụ sản xuất trong nước. Ngoài ra,
Hàn Quốc còn xuất sang Việt Nam các hàng cao cấp như ôtô nguyên chiếc các
loại, ôtô CKD, SKD; linh kiện điện tử và vi tính; xe máy CKD, IKD, SKD .
Đáng lưu ý là trong mấy năm gần đây, giá trị nhập khẩu ôtô nguyên chiếc của
Việt Nam khá cao, năm 2001 là 121.948.496 USD, năm 2002 là 118.688.243
USD và 7 tháng đầu năm 2003 là 77.122.273 USD, đứng thứ 4 trong số các
mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Hàn Quốc. Đây cũng là một tín
hiệu đáng mừng bởi lẽ những con số đó đã cho thấy mức sống của người dân
Việt Nam đang từng bước được cải thiện và nâng cao.

Cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc cho thấy Hàn
Quốc có rất nhiều mặt hàng có tiềm lực lớn. Là một quốc gia có nền kinh tế
phát triển hướng về xuất khẩu nên phần lớn các sản phẩm xuất khẩu của Hàn
Quốc đều chiếm lĩnh thị trường Việt Nam khá dễ dàng. Với giá cả và trình độ
công nghệ khá phù hợp với nền kinh tế đang chuyển đổi của Việt Nam, các
trang thiết bị và hàng hoá của Hàn Quốc luôn là sự chọn lựa cho các doanh
nghiệp Việt Nam. Có thể nói hàng hoá của Hàn Quốc đang tràn ngập thị
trường Việt Nam.



CÁC MẶT HÀNG NHẬP KHẨU CHÍNH CỦA VIỆT NAM TỪ HÀN QUỐC

Đ ơn vị: nghìn USD

Mặt hàng 2001 2002 1 -7/2003




37
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Giá trị Giá trị
Tăng Tăng

giảm giảm

(%) (%)

NPL dệt may da 421.134 418.320 -0,67 302.210 24,62

Máy móc thiết bị phụ 240.912 372.133 54,47 213.643 0,42
ting

Sắt thép 116.430 121.864 4,76 80.015 32,76

Ôtô nguyên chiếc các 121.948 118.688 -2,67 77.122 28,96
loại

Chất dẻo 89.283 94.811 6,27 62.725 18,86

Xăng dầu 99.526 116.248 16,80 67.035 25,18

Ôtô CKD,SKD 61.176 90.049 47,20 70.450 49,74

Linh kiện điện tử và vi 53.624 63.370 18,17 39.208 21,65
tính

Dược phẩm 34.050 41.389 21,56 23.290 18,03

Phân bón các loại 33.474 15.375 -54,1 7 .133 -7,43

Xe máy CKD, IKD, 32.596 35.315 8,34 1 .147 314,2
SKD

Tổng kim ngạch nhập 1.893.516 2.285.533 20,70 1 .516.15 26,00
kh ẩu

Nguồn: Vụ Châu á Thái Bình Dương - Bộ Thương mại 2003

Trong cơ cấu hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam máy móc thiết bị, hoá
chất và các loại vật liệu luôn chiếm đến 70%. Tỉ trọng lớn và giá trị nhập khẩu
cao của những mặt hàng này là nguyên nhân khiến cho cán cân thương mại
của Việt Nam luôn trong tình trạng nhập siêu. Dệt may là một ví dụ điển hình.


38
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Vốn được xem là một ngành quan trọng tạo ra kim ngạch xuất khẩu lớn của
Việt Nam nhưng trong quan hệ buôn bán với Hàn Quốc tỷ lệ xuất khẩu của
ngành lại thấp hơn so với mức nhập khẩu, năm 2001: 104.045.639 USD/
421.134.514 USD, năm 2002: 92.592.661 USD/ 372.133.840 USD, 7 tháng
đầu năm 2003: 37.000.805 USD/ 302.210.589 USD. Điều này cho thấy nhu
cầu nhập khẩu của chúng ta là rất lớn trong khi xuất khẩu còn quá nhỏ bé, chưa
thật sự phát huy được hiệu quả.

Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, những mặt hàng tiêu dùng Việt Nam
nhập khẩu từ H àn Quốc chiếm một tỷ trọng rất nhỏ, chủ yếu là các sản phẩm
ôtô, linh kiện điện tử, dược phẩm và gần đây là mặt hàng mỹ phẩm. Đây là
một cơ cấu khá phù hợp trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn nghèo, đang
dốc sức cho công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước. Cùng với chính
sách thúc đẩy sản xuất thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu, một số mặt
hàng đã có xu hướng giảm rõ rệt. Điển hình là mặt hàng phân bón, năm 2002
giảm 54,07% so với năm 2001 từ 33.474.976 USD xuống còn 15.375.739
USD, 7 tháng đ ầu năm 2003 giảm 7,43% so với cùng kì năm 2002 và hiện
đang có giá trị nhập khẩu là 7.133.456 USD. Kết quả này đạt được là nhờ
những nỗ lực từng bước đáp ứng đủ nhu cầu của sản xuất trong nước.



III. Quan hệ đầu tư Việt Nam – Hàn Quốc

Tuy hiện nay Việt Nam đã có các d ự án đầu tư ra nước ngoài nhưng
chưa có một dự án đầu tư nào tại Hàn Quốc. Do đó, phần viết này chỉ xin đề
cập đến tình hình đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc tại Việt Nam. Đây cũng có thể
coi là đặc điểm chủ yếu trong quan hệ đầu tư giữa hai nước trong giai đoạn
hiện nay. Hi vọng trong một tương lai gần Việt Nam sẽ có những dự án đầu tư
sang Hàn Quốc, góp phần củng cố quan hệ đầu tư giữa hai nước.




39
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



1. Khái quát chung

Các nhà đầu tư Hàn Quốc bắt đầu mang vốn và công nghệ đến Việt
Nam từ năm 1991, tuy có chậm hơn so với một số nước Tây Âu nhưng nhìn
chung, các dự án của H àn Quốc triển khai ban đầu tương đ ối nhanh và có hiệu
quả. Cho đến nay, chỉ sau 11 năm thiết lập quan hệ chính thức với Việt Nam,
Hàn Quốc đ ã vượt lên về cả tốc độ và khối lượng đầu tư vào Việt Nam so với
các nước và lãnh thổ khác trong khu vực.

Cũng như quan hệ thương mại, hoạt động đầu tư trực tiếp của H àn Quốc
vào Việt Nam tăng mạnh trong các năm 1992, 1993 về cả số dự án và số vốn,
số dự án tăng trung bình 270%/năm và số vốn tăng 525,1%/năm. Đặc biệt đây
cũng là các năm có tỷ lệ số vốn thực hiện/ tổng vốn đạt mức cao nhất, khoảng
90%. Riêng năm 1992 số vốn thực hiện còn vượt mức tổng vốn 10.45 triệu
USD, tương đương với mức tăng 110,27%. Các năm liền sau đó tuy tốc độ
tăng không bằng nhưng cũng luôn giữ được ở mức tương đối cao và ổ n định,
kho ảng 10,4%/năm về số dự án và 24,2% về số vốn. Sang đến năm 1997, 1998
do tác đ ộng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á, hàng loạt các công
ty và tập đoàn Hàn Quốc đã rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí phá sản.
Điều này đã buộc các doanh nghiệp Hàn Quốc phải hạn chế đầu tư và thu hồi
vốn để vực dậy hoạt động kinh doanh của m ình. Số dự án và số vốn đầu tư do
đó đã giảm đi nhanh chóng. Với tỷ lệ vốn thực hiện/tổng vốn chỉ đạt 4,5%,
năm 1998 có lẽ là năm mà các hoạt động đầu tư của Hàn Quốc tại Việt Nam
kém hiệu quả nhất. Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó khi nền kinh tế Hàn
Quốc từng bước vượt qua khủng hoảng, chính phủ H àn Quốc tiến hành cơ cấu
lại các Chaebol, hoạt động đầu tư của quốc gia này ở Đông Nam Á, đặc biệt là
ở Việt Nam đ ã có d ấu hiệu phục hồi và dần tăng lên. Từ năm 2000 cho đến
nay, số dự án và tổng vốn đầu tư luôn tăng đều qua các năm. Tính đến tháng
9/2003, Hàn Quốc đứng thứ 5 trong số các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào
Việt Nam, sau Singapore, Đài Loan, Hồng Kông và Nhật Bản với 588 dự án và

40
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



tổng số vốn đăng kí 4.03 tỷ USD. Riêng năm 2002 và 9 tháng đầu năm 2003,
Hàn Quốc đ ã vượt qua cả Mỹ, Nhật Bản và Singapore để vươn lên vị trí thứ 2
trong số các nước và vũng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, chỉ sau Đ ài Loan.
Mặc dù đứng thứ hai nhưng so với Đài Loan, Hàn Quốc chỉ thua về số dự án
(198 so với 150) và tổng vốn đầu tư ( 306344 USD so với 267291 USD)
nhưng lại hơn về số vốn thực hiện ( 137990 USD so với 128497 USD).

Trong số 588 dự án, cho đến nay 169 dự án đ ã đi vào sản xuất với tổng
doanh số đạt 6.105 triệu USD, tạo việc làm cho 81.506 lao động trực tiếp và
hàng chục nghìn lao động gián tiếp trong xây dựng cơ bản và dịch vụ. Tỷ lệ
vốn thực hiện/tổng vốn đăng kí của Hàn Quốc luôn đạt khoảng 50%, là mức
tương đối cao so với các nước đầu tư khác. Tính đến tháng 9/2003, quy mô
vốn đầu tư trung bình của H àn Quốc vào kho ảng 20 triệu USD/dự án trong đó
số dự án trên 100 triệu USD chiếm 3,25% tổng số dự án, số dự án từ 50-85
triệu USD chiếm 8,54%, số dự án từ 10-49 triệu USD chiếm 11,79%, còn lại là
số dự án có số vốn đầu tư dưới 10 triệu USD.



ĐẦU TƯ CỦA HÀN QUỐC VÀO VIỆT NAM




Số dự án Tổng số vốn Vốn thực hiện Vốn thực hiện
Năm

(triệu USD) (triệu USD) Tổng vốn

1992 9 140,65 155,1 110,27

1993 32 514,94 413,22 80,25

1994 35 338,61 302,09 89,22

1995 44 648,04 400,3 61,77

1996 42 888,21 385,41 43,40



41
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



1997 30 672,30 68,50 10,19

1998 12 23,97 1,07 4 ,50

1999 21 163,51 16,02 9 ,80

2000 16 42,13 18,45 43,79

2001 71 99,2 70,15 70,7

2002 150 267,29 137,99 51,63

9/2003 121 191,21 93,75 49,03

Tổng cộng 588 4.034,83 2 .109,45 -

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư 2003



Trong quan hệ đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc thời gian qua, cũng còn
mắc phải một số khó khăn, thiếu sót. Từ cuối năm 1997 đến nay do ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, một số dự án của H àn Quốc
tại Việt Nam đ ã phải ngừng, giãn tiến độ hoặc giảm quy mô đầu tư. Samsung
Vina Synthetics sản xuất sợi vải tại Đồng Nai (vốn đăng kí 192 triệu USD),
liên doanh sản xuất xi măng Hải Long tại Quảng Ninh (vốn đăng kí 192 triệu
USD), công ty Kolon Việt Nam 100% vốn đăng kí của Hàn Quốc trị giá
147,86 triệu USD là những ví dụ điển hình. Một số dự án khác của Hàn Quốc
tuy đã ho ạt động nhưng lâm vào tình trạng khó khăn, ách tắc, chủ yếu tập
trung vào lĩnh vực kinh doanh khách sạn, văn phòng cho thuế do cung vượt
cầu như liên doanh Festival - Sea Young, khách sạn Hà Nội Inter, làng quốc tế
Hướng Dương - Hải Phòng, Han Nam Group, liên doanh DeaDong miền
đông… Ngoài ra còn phải kể đến các vụ tranh chấp, phản ứng lao động tập thể,
đình công x ảy ra trong một số công ty có vốn đầu tư của Hàn Quốc, nhất là
trong ngành may mặc những năm 1997, 1998. Điều này có lẽ trước hết là do
sự bất đồng về ngôn ngữ, phong tục tập quán, lề lối và phong cách làm việc,

42
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



thiếu hiểu biết về văn hoá của nhau. Những xung đột trên đã được giải quyết
kịp thời và điều đáng mừng là càng về sau càng ít x ảy ra.



2. Lĩnh vực đầu tư

Trong giai đoạn đầu, các nhà đầu tư Hàn Quốc thường tập trung vào các
ngành công nghệ, thu hút nhiều lao động như các ngành dệt may, da giày, túi
xách… với quy mô vốn đầu tư nhỏ. Nhưng từ năm 1998 đến nay, hoạt động
đầu tư trực tiếp của H àn Quốc sang Việt Nam đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực
khác. Hàn Quốc đang đầu tư mạnh mẽ vào các ngành công nghiệp kỹ thuật
cao, đòi hỏi vốn đầu tư lớn như điện tử dân dụng, bưu chính viễn thông, sản
xuất ôtô, đóng tàu, chế tạo cơ khí… trong khi đó Singapore, Đài Loan chủ yếu
đầu tư vào các lĩnh vực nhằm thu hồi vốn và lợi nhuận nhanh như du lịch
khách sạn, nhà hàng. Điều này không phải chỉ do Hàn Quốc rất có thế mạnh
trên các lĩnh vực đó m à còn bởi Hàn Quốc thực sự muốn giúp đỡ Việt Nam
trong phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.



CƠ CẤU ĐẦU TƯ CỦA HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM THEO NGÀNH



Số TT Tỷ lệ dự án (%) Tỷ lệ vốn (%)
Các ngành

Công nghiệp
1 78,78% 56,0

Xây dựng cơ sở hạ tầng
2 8,2 28,0

Khu ch ế xuất khu công nghiệp
3 1,5 4 ,38

Dầu khí
4 1,01 3,8

Giao thông, vận tải, bưu chính
5 3,87 2,8

Văn hoá, y tế, giáo dục
6 3,3 2 ,74



43
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Nông, lâm nghiệp
7 10,7 1 ,06

8 Tài chính, ngân hàng 1,01 0 ,63

Các lĩnh vực khác
9 0,51 0,6

Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư 2003

Lĩnh vực công nghiệp là lĩnh vực chiếm tỷ trọng đáng kể trong đầu tư
Hàn Quốc tại Việt Nam. Cho đến nay số dự án đầu tư được cấp phép trong
ngành công nghiệp nhẹ chiếm đến 51,28% số dự án và 33,6% số vốn đầu tư;
ngành công nghiệp nặng chiếm 27,5% số dự án. Cũng trong lĩnh vực này Hàn
quốc có 3 dự án công nghiệp d ầu khí với số vốn đầu tư là 194.000.000 USD và
4 dự án công nghiệp thực phẩm với tổng vốn là 10.800.000 USD. Các doanh
nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc trong lĩnh vực này đã tạo tổng doanh thu
3.194.645.000 USD, xuất khẩu 12.800.000 USD và thu hút 60.400 lao động.
Các lĩnh vực đầu tư khác như xây dựng căn hộ và toà nhà văn phòng, khách
sạn, xây dựng giao thông và thông tin viễn thông cũng thu hút đ ược một lượng
vốn đầu tư lớn.

Cơ cấu đầu tư của Hàn Quốc sang Việt Nam cho thấy nước bạn đã đầu
tư vào hầu hết các lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế nước ta. Điều này thật sự
có ý nghĩa trong việc giúp Việt Nam tập trung nâng cao năng lực ngành công
nghiệp, góp phần làm thay đổi cơ cầu kinh tế của Việt Nam theo hướng tăng tỷ
trọng công nghiệp/ tổng sản lượng quốc dân. Ngoài ra, cơ cấu đầu tư này còn
giúp Việt Nam tận dụng lợi thế so sánh là nguồn lao động rẻ, tạo công ăn việc
làm và làm tăng thu nhập cho người lao động. Về phía H àn Quốc, cách thức
đầu tư này là đáp ứng nhu cầu chuyển giao công nghệ của Hàn Quốc, tận dụng
nguồn lao động dồi dào giá rẻ và nguồn tài nguyên khoáng sản giàu có của
Việt Nam.




44
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



3. Đ ịa bàn đầu tư

Trong những năm đầu, đầu tư trực tiếp của Hàn Quốc tập trung chủ yếu
ở phía Nam do lợi thế có địa hình đ ất đai rộng rãi, cơ sở hạ tầng tốt và nguồn
lao động dồi dào. Thời gian gần đây, để tạo sự đồng đều vốn đầu tư giữa các
vùng chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách, biện pháp khuyến khích các
nhà đ ầu tư đầu tư vào các tỉnh nhỏ, vùng sâu, vùng xa trong cả nước. Tuy
nhiên, đến nay số dự án đầu tư của Hàn Quốc ở các tỉnh phía Nam vẫn chiếm
tỉ trọng lớn. Mặc dù các doanh nghiệp H àn Quốc đánh giá làm ăn với người
miền Bắc có độ tin cậy cao hơn, tiền công rẻ hơn nhưng thị trường miền Nam
năng động hơn, tác phong làm việc của người dân nơi đây công nghiệp hơn.
Tính đến năm 2003 đ ã có 21 tỉnh, thành phố trong cả nước tiếp nhận đầu tư
trực tiếp của Hàn Quốc trong đó các tỉnh miền Nam chiếm tới 82,4% tổng số
dự án, tương đương 62,3% tổng vốn đầu tư. Đứng đầu là Tp. Hồ Chí Minh
chiếm 182 dự án với số vốn 853.223 triệu USD, Bình Dương 92 d ự án
(174,151 triệu USD), Đồng Nai 105 dự án (967,046 triệu USD). Trong khi đó
các tỉnh phía Bắc chỉ thu hút được 97 dự án với tổng vốn đầu tư là 1.311,012
triệu USD, trong đó H à N ội chiếm 97 dự án với số vốn 1.005,611 triệu USD,
Hải Phòng chiếm 30 dự án với số vốn 229,516 triệu USD. Như vậy mặc dù Hà
Nội thua Tp. Hồ Chí Minh về số dự án nhưng lại hơn Tp này 152,338 triệu
USD tổng vốn đầu tư. Điều này là do phần lớn những dự án đầu tư tại Hà Nội
đều tập trung những ngành công nghiệp có kĩ thuật cao, đòi hỏi vốn lớn như
công nghiệp điện tử, công nghiệp sản xuất ôtô, bưu điện…



ĐẦU TƯ CỦA HÀN QUỐC PHÂN BỐ THEO TỈNH, THÀNH PHỐ



TT Tỉnh, thành phố Số dự Tỷ lệ Tổng vốn đầu tư Tỷ lệ




45
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



án (%) (USD) (%)

Hà nội
1 97 16,49 1.005.611 24,92

Đồng Nai
2 105 17,86 967.046 23,97

T.p Hồ Chí Minh
3 182 30,95 853.223 21,15

Quảng Ninh
4 5 0 ,85 250.000 6 ,19

Hải Phòng
5 30 5 ,10 229.516 5 ,69

Bình Dương
6 92 15,48 174.151 4 ,32

7 Khánh Hoà 6 1 ,02 167.287 4 ,15

Phú Thọ
8 2 0 ,34 152.766 3 ,79

9 Biên Hoà 1 0 ,17 84.000 2 ,08

Bà rịa-Vũng Tàu
10 10 1 ,70 35.390 0 ,88

Hưng Yên
11 3 0 ,51 23.400 0 ,58

12 Long An 7 1 ,19 22.126 0 ,55

13 Tây ninh 5 0 ,85 15.136 0 ,38

14 Lai Châu 6 1 ,02 12.710 0 ,32

Đà nẵng
15 8 1 ,36 8.297 0 ,21

Lâm đồng
16 7 1 ,19 7.530 0 ,19

17 Hà Tây 3 0 ,52 5.080 0 ,13

18 Ninh Bình 4 0 ,58 5.000 0 ,12

Vĩnh Long
19 12 2 ,04 2.800 0 ,07

Cần Th ơ
20 2 0 ,34 2.250 0 ,05

21 Thái Bình 1 0 ,17 1.501 0 ,04

Tổng cộng 588 100 4.034.830 100



46
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Nguồn: Bộ Kế hoạch và đầu tư 2003

Một số tỉnh, thành phố khác do chưa phát triển kinh tế nhưng cũng có
rải rác từ 1 đến 10 dự án đầu tư trực tiếp của H àn Quốc như Lai Châu, Phú
Thọ, Tây Ninh, Vĩnh Long… Có thể nói cũng như phần lớn những nhà đầu tư
khác vào Việt Nam, sự phân bố đầu tư của H àn Quốc là chưa đồng đều, vẫn
chỉ tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn. Như vậy, chính phủ Việt Nam
cần có những nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư và khuyến khích đầu tư hơn
nữa để góp phần cải thiện tình trạng này.



4. Hình thức đầu tư

Các dự án đầu tư của Hàn Quốc ở Việt Nam chỉ dưới 3 hình thức là liên
doanh, 100% vốn đầu tư của Hàn Quốc và hợp đồng hợp tác kinh doanh, còn
hình thức BTO, BOT, BT thì chưa có dự án nào. Tuy nhiên trong số 3 hình
thức kể trên, phần lớn các dự án đầu tư của Hàn Quốc từ trước đến nay là theo
hình thức 100% vốn của Hàn Quốc. Số lượng các dự án này không chỉ do đăng
kí ban đầu mà phần nữa là do sự dịch chuyển từ hình thức liên doanh sang
hình thức 100% vốn nước ngoài. Điều này cho thấy các nhà đ ầu tư Hàn Q uốc
muốn thông qua vị trí áp đảo về vốn để nắm giữ quyền điều hành trong các d ự
án đ ầu tư. Theo Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư cho đ ến nay, số dự án đầu tư 100%
vốn của Hàn Quốc là 127 dự án, chiếm 55,22%; vốn đầu tư 1.021,12 triệu
USD chiếm 29,73%, hình thức liên doanh có 96 dự án chiếm 41,74%, vốn đầu
tư 2.271,56 triệu USD chiếm 29,73%. Chỉ có 7 dự án đầu tư theo hình thức
hợp đồng hợp tác kinh doanh với số vốn 142,32 triệu USD chiếm 4,14% trong
các lĩnh vực thăm dò dầu khí, sản xuất bàn chải đánh răng xuất khẩu, hợp đồng
sản xuất các sản phẩm composite, hợp đồng quảng cáo tại sân bay Nội Bài, Hà
nội, hợp đồng phát triển mạng viễn thông nội hạt Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải
Dương. Như vậy, nếu như hình thức 100% vốn đầu tư của Hàn Quốc chiếm vị


47
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



trí chủ yếu về số dự án thì hình thức liên doanh lại thu hút được nhiều vốn hơn.
Điều đó là do trong khi các dự án liên doanh phần lớn đầu tư vào các ngành
công nghiệp chế tạo, công nghiệp điện tử, xây dựng cơ sở hạ tầng đòi hỏi vốn
đầu tư lớn thì các dự án 100% vốn H àn Quốc lại thường tập trung vào các lĩnh
vực công nghiệp nhẹ, xây dựng văn phòng cho thuê với số vốn đầu tư ít hơn.

Đáng chú ý là gần một nửa tổng số vốn đầu tư của Hàn Quốc vào Việt
Nam là của 7 tập đoàn kinh tế lớn Samsung, Daewoo, Công ty xây dựng công
nghiệp nặng của Hàn Quốc, tập đoàn quốc tế Kumho, Kolon, Hyundai và tập
đoàn LG. Riêng Daewoo là tập đoàn đầu tư lớn nhất với số vốn đăng kí trị giá
hơn 700 triệu USD. Có thể kể đến một số dự án có quy mô vốn lớn như Công
ty TNHH Đèn hình Orion-Hanel với tổng vốn đầu tư là 229,384 triệu USD là
một trong 3 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Bộ Thương Mại xét
thưởng xuất khẩu, Công ty liên doanh Kumho Saigon với tổng vốn đầu tư là
223 triệu USD, khách sạn Daeha với tổng số vốn đầu tư là 117,4 triệu USD là
khách sạn lớn nhất Việt Nam và được xếp vào hàng 60 khách sạn hàng đầu
Châu Á, Công ty máy tàu biển Hyundai-Vinaship với tổng số vốn đầu tư là
167,287 triệu USD. Như vậy có 9 công ty có vốn đầu tư trên 100 triệu USD, 8
công ty có vốn đầu tư từ 50 đến 95 triệu USD và 18 công ty có số vốn đầu tư
từ 20 đến 45 triệu USD. Các dự án do các nhà đầu tư Hàn Quốc thực hiện
tương đối nhanh, nhiều dự án lớn đã hoàn thành xây dựng cơ bản và đi vào sản
xuất kinh doanh.



DANH SÁCH 35 CÔNG TY FDI HÀN QUỐC CÓ TỔNG VỐN THỰC HIỆN TRÊN
20 TRIỆU USD

Đ ơn vị: nghìn USD

TT Công ty Lĩnh vực Tổng vốn
Địa phương




48
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



đầu tư

Cty TNHH Đèn hình Hà nội Điện tử
1 229.384
Orion – Hanel

Khách sạn, Vp
2 Cty ld Kumho Saigon TP HCM 223.000

Xí nghiệp Samsung Vina Đồng Nai Dệt
3 192.692
Synthetics Inc

Hà nội Khách sạn
4 Cty Daeha 177.400

Cty máy tàu biển Hyundai Khánh Hoà Đóng tàu
5 167.287
– Vinashin

Hà nội
6 Cty Daewoo – Hanel Khu công 152.000
n ghiệp

Cty CN Kolon Việt Nam Đồng Nai Sợi
7 147.860

Cty V.tải Hanoi-Daewoo Hà nội V.tải hàng hoá
8 134.286

Hợp đồng hợp tác kinh Hà nội Bưu điện
9 120.000
doanh m ạng viễn thông
HP -HH-QN

Khách sạn, Vp
10 Cty liên doanh trung tâm TP HCM 91.941
thương mại quốc tế

Dầu khí
11 Korea Nation.Oil Corp Biên Hoà 84.000

Yoochang Phú Thọ Dệt
12 Cty Pangrim 79.067
Việt Nam

Pangrim Phú Thọ Nhuộm
13 Cty TNHH 73.690
Vietex

Cty ld cao ố c văn phòng TP HCM Khách sạn, Vp
14 59.911
Quang Trung Lê Lợi




49
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Cty dệt Choognam Việt Đồng Nai Dệt
15 58.000
Nam

Hải Phòng Thép sản phẩm
16 Cty thép VSC-Posco 56.120

Cty Hyosung Việt Nam Đồng Nai Dệt
17 52.500

Cty điện tử Partsnic-Hanel Hà nội Điện tử
18 52.000
electronic

Cty TNHH Tae Kwang Đồng Nai Giầy thể thao
19 41.000
Vina Industrial

Đồng Nai Giầy thể thao
20 Cty Hwaseung Vina 39.500

Đồng Nai Dệt
21 Cty TNHH Tongkook 38.000

Cty điện tử Samsung Vina Điện tử
22 TP HCM 36.541

Cty TNHH Chnag Shin Đồng Nai Giầy thể thao
23 33.000
Việt Nam

Cty liên doanh ôtô Việt Hà nội
24 Ôtô 32.229
Nam – Daewoo

Cty d ệt Kolon Việt Nam Đồng Nai Dệt
25 31.460

Cty TNHH Samyang Việt TP HCM Giầy thể thao
26 30.000
Nam

Cty kết cấu thép Poslilama Đồng Nai Thép sản phẩm
27 28.800

Cty liên doanh làng quốc Hải Phòng Khách sạn, Vp
28 27.500
tế Hướng Dương LG – HảI
PHòNG

Cty CN nặng Hàn-Việt Hải Phòng Thép sản phẩm
29 25.700

triển Hà nội Khách sạn, Vp
30 Cty TNHH phát 24.000
Giảng Võ




50
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Đồng Nai Nhuộm
31 Cty S.Y.Vina 23.700

Cty liên doanh cáp điện Hải Phòng Cáp điện
32 23.000
LG-Vina

Cty liên doanh ống thép Đồng Nai Thép sản phẩm
33 22.491
Sài Gòn

Cty linh kiện điện tử Bình Dương Điện tử
34 21.624
Daewoo Việt Nam

Khách sạn
35 Cty liên doanh Daedong TP HCM 21.360
Miền Đông

Nguồn: Vụ Châu Á Thái Bình Dương - Bộ Thương Mại 2003




IV. Các lĩnh vực hợp tác kinh tế khác

1. Viện trợ không hoàn lại

Mặc dù Hàn Quốc chưa nằm trong hàng ngũ các nước công nghiệp phát
triển nhưng đã luôn dành cho Việt Nam khoản ODA đáng kể. Trong giai đoạn
1992 - 2003, chính phủ H àn Quốc đã cung cấp 36,558 triệu USD viện trợ
không hoàn lại cho Việt Nam, tập trung vào các lĩnh vực như y tế, giáo dục, xã
hội, tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học, gửi chuyên gia, thanh niên tình
nguyện sang công tác tại Việt Nam và tiếp nhận học viên Việt Nam sang đào
tạo tại Hàn Quốc. Nếu như năm 1992 Hàn Quốc mới chỉ dành cho Việt Nam
0,316 triệu USD xếp hàng thứ 11 trong tổng số 128 nước d ành viện trợ không
hoàn lại cho Việt Nam thì chỉ một năm sau đó 1993 Hàn Quốc đ ã vươn lên vị
trí thứ 3 trong tổng số 134 nước với số viện trợ không hoàn lại là 0,995 triệu
USD. Từ năm 1994 đ ến 1997 với số viện trợ từ 2 triệu USD đến 3,5 triệu
USD, mỗi năm Hàn Quốc luôn giữ vị trí thứ 2 trong số các quốc gia dành viện


51
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



trợ cho Việt Nam. Đặc biệt vào các năm 1998, 1999 và 2001 Hàn Quốc đã dẫn
đầu danh sách trong đó lớn nhất là năm 1999 với số tiền viện trợ lên đến 6,193
triệu USD. Cho đến nay Hàn Quốc vẫn luôn là quốc gia dành nhiều viện trợ
không hoàn lại cho Việt Nam (năm 2002 dành 4,436 triệu USD, xếp thứ 2
trong tổng số 134 quốc gia). Theo chính phủ Hàn Quốc, Việt Nam cũng là
nước nhận viện trợ không hoàn lại nhiều nhất của Hàn Quốc. Hiện nay các
kho ản viện trợ không hoàn lại của Hàn Quốc do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn
Quốc (KOICA) quản lý. Có thể kể đến một số dự án lớn sau:

Y tế: từ năm 1995 đến nay, chính phủ Hàn Quốc đã thông qua KO ICA
viện trợ không hoàn lại 3 triệu USD cho 5 dự án thuộc lĩnh vực y tế tại huyện
Hương Khê (Hà Tĩnh), Bắc Bình (Bình Thuận), Đức Phổ (Quảng Ngãi), Tp.
Hồ Chí Minh và Hà Nội. Năm 2000 KOICA đ ã viện trợ không hoàn lại một số
trang thiết bị y tế trị giá 20 triệu USD - một phần của dự án phòng khám hữu
nghị Việt - H àn được viện trợ trị giá 250 triệu USD. Thông qua dự án này
chính phủ H àn Quốc viện trợ trang thiết bị cho một số bệnh viện như Sanh
Pôn, phòng khám hữu nghị Việt - Hàn và còn cử chuyên gia Hàn Quốc sang
làm việc tại các phòng khám. Năm 2001, 2002 Hàn Quốc có 2 dự án nâng cấp
Bệnh viện Huyện Vĩnh Lộc và Bệnh viện Vĩnh Yên, mỗi dự án trị giá 0,5 triệu
USD. Mới đây nhất là dự án 3 năm 2002 - 2004 xây dựng các bệnh viện tại các
tỉnh miền Trung Việt Nam với tổng giá trị 3 triệu USD.

Giáo dục: Chính phủ Hàn Quốc đã viện trợ cho 2 dự án nâng cấp trường
trung học công nghiệp Hà Nội và trường điện cơ Quy Nhơn, mỗi dự án 2,5
triệu USD. Ngo ài ra Hàn Quốc còn dành 5 triệu USD cho dự án xây dựng
trường kỹ thuật Việt Nam - H àn Quốc tại Nghệ An. 2 triệu USD là số tiền Hàn
Quốc dành cho dự án xây dựng các trường phổ thông tại các tỉnh miền Trung
năm 2001, 2002.




52
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Xã hội: KOICA đã giúp Việt Nam xây dựng dự án làng thí điểm theo
mô hình “làng mới” với số viện trợ khoảng 0,3 triệu USD . Chính phủ Việt
Nam góp vốn đối ứng bằng xi măng, sắt thép và một số nguyên liệu khác.

Bên cạnh đó hàng năm chính phủ Hàn Quốc còn cử các chuyên gia sang
giúp Việt Nam dạy tiếng Hàn, đào tạo giáo viên dạy nghề, huấn luyện võ
Taekondo, bóng đá… đồng thời cũng tiếp nhận các học viên Việt Nam sang
học tập, đào tạo tại H àn Quốc. Đặc biệt H àn Quốc còn dành riêng cho Việt
Nam một dự án Giúp đỡ thành lập thị trường chứng khoán với tổng số tiền
viện trợ là 0,6 triệu USD.

Có thể nói các khoản viện trợ trên của Hàn Quốc tuy chưa nhiều nhưng
cũng đã góp phần khắc phục sự thiếu vốn và thúc đẩy sự phát triển kinh tế của
Việt Nam. Những con số đó càng có ý nghĩa hơn trong điều kiện Hàn Quốc
chưa hoàn toàn là một nước công nghiệp phát triển và Việt Nam còn gặp nhiều
khó khăn. Những khoản viện trợ này sẽ góp phần thúc đẩy mối quan hệ hợp
tác Việt Nam - H àn Quốc ngày càng tốt đẹp hơn, sâu sắc hơn.


VIỆN TRỢ KHÔNG HOÀN LẠI CỦA HÀN QUỐC CHO VIỆT NAM



Năm Giá trị (ngh ìn USD) Thứ tự

1992 316 11/28

1993 995 3/134

1994 2 .281 2/142

1995 3 .362 2/138

1996 3 .472 2/140

1997 2 .662 2/138



53
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



1998 3 .127 1/126

1999 6 .193 1/128

2000 4 .880 2/133

2001 4 .814 1/138

2002 4 .436 2/134

Nguồn: Vụ Châu Á Thái Bình Dương - Bộ Thương Mại 2003



2. Tín dụng ưu đãi

Nếu như các khoản viện trợ không hoàn lại của Hàn Quốc cho Việt Nam
do Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) quản lý thì các khoản vay ưu
đãi lại từ nguồn vốn của Quỹ hợp tác và phát triển kinh tế của Hàn Quốc
(EDCF).

Chính phủ Việt Nam hiện đã ký được Hiệp Đ ịnh vay 4 khoản tín dụng
bằng đồng Won của Hàn Quốc tương đương 128,46 triệu USD, lấy từ nguồn
vốn vay ưu đãi của EDCF của chính phủ Hàn Quốc cho 4 dự án: nâng cấp
quốc lộ 18 (24 triệu USD), dự án lắp đặt đuôi hơi cho 2 tổ tuabin khí F6 của
nhà máy điện Bà Rịa (50 triệu USD), xây dựng nhà máy nước Thiện Tân (26
triệu USD) và xây dựng các nhà máy sản xuất vacxin.

Từ cuối năm 1997, do đồng Won bị mất giá nên các dự án tín dụng đã
cam kết đều thiếu vốn so với dự tính ban đầu, việc triển khai gặp phải một số
khó khăn. D ự án nâng cấp quốc lộ 18 thiếu khoảng 7 triệu USD (chiếm 29,2%)
song do phía Việt Nam kịp thời bổ sung bằng nguồn vốn trong nước nên dự án
đã được triển khai đúng tiến độ. Theo một hiệp định tín dụng ký tháng
19/1995, EDCF cam kết cấp cho Việt Nam một khoản tín dụng là 19,885 tỷ
Won theo tỷ giá lúc bấy giờ là 764 Won/USD thì khoản vay này tương đường
26 triệu USD cho dự án xây dựng nhà máy nước Thiện Tân. Nhưng vào cuối

54
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



năm 1997 đầu 1998, do sự sụt giá của đồng Won, dự án thiếu khoảng 11 triệu
USD; đồng thời do thời hạn rút vốn của dự án đ ược quy định trong hiệp định
là 42 tháng kể từ ngày ký nên đến hết tháng 4/1999 chủ dự án phía Việt Nam
không được rút vốn nữa. Trong khi đó dự án mới xong phần chọn nhà thầu mà
chưa triển khai thi công. Cũng do sự sụt giảm của đồng Won m à dự án lắp đặt
đuôi hơi cho 2 tổ tuabin khí cũng đã thiếu khoảng 20 triệu USD so với 50 triệu
USD tín d ụng theo hiệp định ký ban đầu và cũng phải tạm ngừng.

Mặc dù vậy từ cuối năm 1999, sau khi khắc phục được phần nào hậu
quả của cuộc khủng hoảng kinh tế, chính phủ Hàn Quốc đã cam kết bổ sung
tín dụng ưu đ ãi cho các dự án do đồng Won bị mất giá và cấp vốn cho các dự
án m ới. Các dự án bị thiếu vốn do đó đã được cấp vốn bổ sung và bắt đầu đi
vào triển khai. Đồng thời gần đây chính phủ Hàn Quốc đã giữ đúng cam kết ký
tiếp một hiệp định cung cấp một khoản tín dụng ưu đãi bằng đồng Won tương
đương 28,48 triệu USD. Số tiền này nằm trong khuôn khổ dự án sản xuất 5
loại vacxin phòng bệnh tại Hà Nội và Đà Lạt với tổng vốn đầu tư là 32,168
triệu USD.

Hiện nay Hàn Quốc là một trong số những nước cấp nhiều tín dụng ưu
đãi cho Việt Nam nhất. Tính đến năm 2003 Hàn Quốc đã giành cho Việt Nam
148 triệu USD tín dụng ưu đ ãi vào các dự án lớn. Như vậy đối với Hàn Quốc
Việt Nam vẫn luôn là một đối tác quan trọng. Hy vọng trong tương lai Hàn
Quốc sẽ luôn dành cho Việt Nam những khoản tín dụng ưu đãi để có thể mở
rộng và củng cố hơn nữa mối quan hệ vốn đã tốt đẹp giữa hai nước.



3. H ợp tác trong lĩnh vực xuất khẩu lao động

Với Việt Nam, thị trường lao động H àn Quốc tuy mới đ ược xác lập chưa
lâu nhưng là một thị trường lao động lớn và đầy triển vọng.



55
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Năm 1992, lần đầu tiên Hàn Quốc tiếp nhận lao động Việt Nam đến làm
việc với số lượng là 56 người thông qua hợp tác lao động được kí giữa công ty
INTECO thuộc Bộ Giao thông vận tải với Hiệp hội đánh bắt hải sản xa bờ Hàn
Quốc. Đây là hợp đồng lao động đầu tiên giữa Việt Nam và Hàn Quốc, đánh
dấu thời kì mở rộng và phát triển quan hệ lao động giữa hai nước.

Năm 1993, số lượng lao động Việt Nam đến Hàn Quốc lên tới 1352
người làm việc trong nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau. Đến năm 1994 do pháp
luật của Hàn Quốc vẫn chưa cho phép nhận lao động nước ngoài vào Hàn
Quốc làm việc nên chính phủ H àn Quốc đã giao trách nhiệm cho Hiệp hội các
doanh nghiệp vừa và nhỏ (KFHS) làm đ ầu mối tiếp nhận lao động nước ngoài
theo hướng tu nghiệp sinh vào lao động tu nghiệp trong các xí nghiệp vừa và
nhỏ của Hàn Quốc. Cũng trong năm 1994, KFHS đã chọn 4 công ty của Việt
Nam để ký hợp đồng cung ứng 4378 tu nghiệp sinh cho Hàn Quốc và sang
năm 1995 là 6 công ty tu nghiệp ở các xí nghiệp vừa và nhỏ bao gồm:
VINACONEX (Bộ Xây dựng), LOD, TRACODI (Bộ Giao thông vận tải);
OLECO (Bộ Thuỷ lợi), SOVILCO (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội),
SULEXCO (thuộc Uỷ ban nhân dân Tp. Hồ Chí Minh). 6 công ty trên đã cung
ứng 5674 tu nghiệp sinh cho Hàn Quốc, nâng số người lao động Việt Nam đến
Hàn Quốc giai đoạn 1992 - 1 995 lên 11.460 người, tăng gấp 20 lần so với thời
kì đầu.

Năm 1996, ngoài 6 công ty nói trên KFHS còn chọn thêm 2 công ty để
ký hợp đồng cung ứng lao động là IMS (Công ty xuất nhập khẩu chuyên gia,
lao động và kỹ thuật) và TRAXIMEXCO và số lao động của Việt Nam ở Hàn
Quốc đã lên đến 6275 người. Năm 1997 do nền kinh tế rơi vào khủng hoảng
nên Hàn Quốc đã tạm dừng việc nhập khẩu lao động nước ngoài. Số lao động
Việt Nam đi tu nghiệp sinh tại các xí nghiệp của H àn Quốc do đó đ ã giảm
mạnh, chỉ có 4375 người. Trong giai đoạn khủng hoảng 1997 - 1999 lao động
đến Hàn Quốc chủ yếu để thay thế số đã hết hạn hợp đồng. Do vậy, tuy không

56
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



ký thêm được hợp đồng cung ứng lao động mới nhưng số người lao động Việt
Nam đến Hàn Quốc trong giai đoạn này vẫn duy trì ở một mức nhất định, năm
1998 là 3448 người, năm 1999 là 4798 người. Sang năm 2000 do kinh tế Hàn
Quốc đã phần nào hồi phục nên đã có thêm 8 doanh nghiệp ký hợp đồng lao
động với KFHS. Cho đến nay Việt Nam đã đưa 47.000 lượt người sang làm
việc tại Hàn Quốc, chiếm 30% tổng số lao động gửi đi nước ngo ài.

Lao động Việt Nam ở Hàn Quốc làm đ ủ thứ nghề như xây d ựng, cơ khí,
điện tử, trang trí nội thất, đánh cá…So với thị trường mới nổi Đài Loan, người
lao động vẫn thích đi H àn Quốc hơn. Theo người lao động Việt Nam lý do là
mức đóng góp vừa phải, chỉ khoảng 31 triệu USD trong khi nếu làm việc tốt,
thu nhập bình quân sẽ đạt 600 - 650 USD/tháng. Hàng năm số lao động Việt
Nam ở Hàn Quốc gửi về nước hàng trăm triệu USD. Đây là con số rất đáng
khích lệ trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam còn nghèo. Sức hấp dẫn của thị
trường H àn Quốc còn ở chỗ cộng đồng người lao động Việt tại đây khá đông,
có thể giúp nhau lúc khó khăn. Cũng như Đông Âu trước đây, người lao động
Việt Nam tại H àn Quốc có thể dùng tiền mua hàng gửi về theo đường tiểu
ngạch, giúp tăng thu nhập thực tế. Mặt khác, công việc ở đây khá phù hợp với
tay nghề của hầu hết người lao động Việt Nam với đặc điểm nổi bật là còn phổ
thông, trình độ chưa cao. Ở Hàn Quốc hiện có đến 70 - 80% người lao động
Việt Nam là thanh niên nông thôn. Điều này lại giúp giảm chi phí học tiếng,
học nghề. Nhưng có lẽ cái được lớn nhất của lao động Việt Nam tại Hàn Quốc
là cơ hội nâng cao năng lực cho các đội tàu đánh bắt xa bờ trong nước khi mà
nòng cốt lực lượng đánh cá xa bờ miền Trung hiện tại vốn là những lao động
trưởng thành trong các đội tàu đánh cá của H àn Quốc.

Tuy nhiên, cũng có những khiếm khuyết mà nếu không kịp thời khắc
phục sẽ làm mất đi lợi thế so sánh trên. Tình trạng lao động của ta đơn phương
phá bỏ hợp đồng, chạy ra làm việc bất hợp pháp ở các xí nghiệp khác đã tạo d ư
luận xấu, gây ảnh hưởng không nhỏ tới chỉ tiêu của các doanh nghiệp Việt

57
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Nam. Có tới 65% trong tổng số 20.000 lao động Việt Nam ở Hàn Quốc hiện
nay bỏ hợp đồng. Theo thông lệ của Hàn Quốc tu nghiệp sinh nước nào bỏ
trốn nhiều sẽ bị trừ vào quota khi có những đợt tuyển lao động mới. Đấy là
chưa kể đến việc bỏ qua một số ưu tiên như 1 lao động hoàn thành hợp đồng
về nước sẽ được thay 1 lao động khác. Xét về nguyên nhân bỏ việc, ngoài lí do
kinh tế, điều kiện làm việc vất vả mà lương lại thấp hoặc có lương cao nhưng
lại muốn cao hơn nữa còn có một số ít người quen tự do, không chịu sự quản
lý. Lý do nữa khiến người lao động bỏ trốn là họ muốn bằng mọi giá kiếm
được tiền để trả khoản nợ lãi suất cao họ vay trước khi đi. Mới đây chính phủ
Hàn Quốc vừa thông qua luật lao động mới, có sửa đổi nhiều điều trong đó vị
thế của tu nghiệp sinh nước ngoài sẽ được nâng lên giống như người lao động
Hàn Quốc. Họ sẽ được hưởng mọi quyền lợi như người lao động bản xứ. Hy
vọng những sửa đổi này của phía Hàn Quốc kết hợp với những cải tiến trong
công tác tuyển chọn, đào tạo và chuẩn bị cho người lao động đi làm việc ở Hàn
Quốc của Việt Nam sẽ giúp cải thiện tình hình.

Ở nhiều nơi trên đất nước Hàn Quốc, lao động Việt Nam có tiếng là làm
việc tốt, cần cù, thông minh và đã trở thành lao động chính, tin cậy trong các
doanh nghiệp nhỏ của H àn Quốc. Điều này cho thấy xuất khẩu lao động Việt
Nam sang Hàn Quốc không chỉ giúp tạo việc làm tăng thu nhập cho gia đình
người lao động, góp phần đào tạo một đội ngũ công nhân lành nghề phục vụ
cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước m à còn giúp nước bạn
giải quyết tình trạng thiếu lao động và chi phí lao động cao. Chương trình hợp
tác lao động giữa hai nước chắc chắn sẽ có nhiều triển vọng trong tương lai.
Riêng về phía Việt Nam, chúng ta cần luôn xác định H àn Quốc là thị trường
trọng điểm về xuất khẩu lao động ở Đông Bắc Á để từ đó đề ra những chính
sách hợp tác thực sự có hiệu quả.




58
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



V. Đánh giá quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc

1. Đánh giá tổng quát

1.1 Về phía Việt Nam

Là một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém và
mới bước vào nền kinh tế thị trường nên thông qua hợp tác kinh tế với Hàn
Quốc, Việt Nam có thể phát huy lợi thế so sánh, góp phần thúc đẩy sự phát
triển kinh tế đất nước tiến tới hoà nhập sâu sắc hơn với khu vực và thế giới.

Quan hệ đầu tư với H àn Quốc, Việt Nam có điều kiện học hỏ i và tiếp
thu những công nghệ tiến tiến, góp phần nâng cao năng lực sản xuất trong
nước vốn còn nhiều hạn chế. Chất lượng sản phẩm nhờ đó đ ược tăng cao, xuất
hiện nhiều chủng loại mặt hàng mới m à trước đây Việt Nam chưa sản xuất
được như ôtô và một số vật liệu thay thế nhập khẩu. Đầu tư của Hàn Quốc vào
các ngành công nghiệp hiện đại, đòi hỏi kỹ thuật cao như điện tử, cáp điện…
đã giúp Việt Nam có khả năng phát huy ngành công nghiệp của m ình, góp
phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế của Việt Nam theo hướng tăng tỷ trọng công
nghiệp / tổng sản lượng quốc dân. Đầu tư của Hàn Quốc vào xây dựng cơ sở
hạ tầng góp phần nâng cấp cơ sở vật chất yếu kém của Việt Nam, tạo môi
trường đầu tư thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư ở Việt Nam. Điều đó tạo cho
Việt Nam cơ hội rút gần khoảng cách với các nước khác trong công cuộc công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Với khoảng 80% vốn đầu tư tập trung vào
các ngành công nghiệp, Việt Nam thực sự hài lòng khi hợp tác đầu tư với Hàn
Quốc. Nguồn vốn đầu tư của H àn Quốc đã làm tăng thêm sinh khí cho thị
trường đầu tư của Việt Nam, góp phần tạo cú hích cho sự phát triển kinh tế của
Việt Nam.

Trong quan hệ buôn bán với H àn Quốc tổng kim ngạch tăng cao tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam phát triển nhanh chóng,
thương nghiệp quốc doanh phát triển cân bằng và ổn định hơn.


59
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Bên cạnh đó, hợp tác kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc còn góp phần giúp
Việt Nam giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất
nghiệp vốn đang là vấn đề bức xúc của chính phủ Việt Nam. Người lao động
Việt Nam nhờ đó cũng được làm quen với tác phong làm việc công nghiệp, các
nhà quản lý Việt Nam trưởng thành hơn trong quá trình làm việc trực tiếp với
cán bộ và chuyên gia nước ngoài.

Đầu những năm 90, do sự sụp đổ của khối Đông Âu cùng với chiến
tranh lạnh đ ã làm cho Việt Nam mất đi một thị trường quan trọng. Phát triển
kinh tế với H àn Quốc giúp Việt Nam mở mang các quan hệ thương m ại trong
quá trình cải cách và phát triển kinh tế, giúp Việt Nam từng bước hội nhập vào
nền kinh tế khu vực và thế giới.



1.2 Về phía Hàn Quốc

Cho đến cuối thập kỉ 80 các đối tác đầu tư và buôn bán chủ yếu của Hàn
Quốc vẫn là Mỹ, Nhật Bản và các nước phương Tây. Sau khi bị Mỹ gạt ra khỏi
danh sách các nước đ ược hưởng quy chế GSP, các thị trường truyền thống này
đã b ị thu hẹp, buộc Hàn Quốc phải vươn ra thị trường khác. Mặt khác, trong
nhiều năm Hàn Quốc đã duy trì mức thặng dư thương mại cao, thêm vào đó
đồng Won Hàn Quốc trong giai đoạn đầu trước khủng hoảng lại lên giá khiến
nền kinh tế mà các ho ạt động chủ yếu hướng về xuất khẩu trở nên kém hiệu
quả. Đó chính là nguyên nhân các công ty lớn, vừa và nhỏ đều đã hướng hoạt
động ra nước ngo ài. Trong khi đó Việt Nam đang là một thị trường phát triển
năng động và cởi mở với nhiều điều kiện thuận lợi. Hợp tác kinh tế với Việt
Nam giúp Hàn Quốc khắc phục được vấn đề chi phí lao động và tài nguyên,
đồng thời giúp các công ty Hàn Quốc mở rộng cơ sở sản xuất, mở rộng thị
trường và chuyển giao một số ngành đang mất dần lợi thế cạnh tranh trên thị
trường trong nước.


60
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Hàn Quốc đã chuyển từ thời kì dư thừa lao động sang thời kì thiếu lao
động vào những năm 90. Tiền lương của công nhân Hàn Quốc tăng nhanh. Giá
nhân công tăng nhanh hơn năng suất lao động đã làm cho các ngành công
nghiệp cần nhiều lao động của Hàn Quốc mất đi lợi thế cạnh tranh ở nước
mình. Việt Nam với dân số đông, chi phí lao động thấp và có khả năng trong
các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp truyền thống đã phần nào đáp ứng
được nhu cầu tuyển dụng nhân công của các công ty Hàn Quốc hiện nay. Lợi
ích mà Hàn Quốc thu được do giá nhân công rẻ ở Việt Nam: tiền lương trả cho
một công nhân ngành may của Việt Nam trung bình là 50 USD/tháng, bằng
15% tiền lương trả trong các công ty may tại Hàn Quốc; tiền lương của một
công nhân ngành điện tử của Việt Nam là 150 USD/tháng, chỉ bằng 1/4 tiền
lương mà Hàn Quốc phải trả cho công nhân nước mình.

Bên cạnh đó, Việt Nam có nhiều tài nguyên đa dạng và quan trọng như
dầu khí, quặng, các hải sản quý và nông sản. Điều này có thể bù đắp được
những khan hiếm tài nguyên cho Hàn Quốc. Ở một đất nước mà phần lớn tài
nguyên khoáng sản dựa vào bên ngoài như Hàn Quốc thì nguồn tài nguyên
phong phú của Việt Nam đ ã tạo cho H àn Quốc lợi thế đáng kể trong việc sử
dụng tài nguyên tại chỗ khi đầu tư vào Việt Nam m à không phải nhập khẩu từ
nước khác.

Việc tăng cường đầu tư sang Việt Nam còn giúp Hàn Quốc đẩy mạnh
xuất khẩu, vượt rào cản thuế quan, đưa Hàn Quốc thâm nhập vào thị trường
Việt Nam dễ dàng hơn.



2. Những điều kiện thuận lợi cho quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc

Trước hết giữa hai nước có sự tương đồng về lợi ích, từ lợi ích kinh tế
đến lợi ích chính trị và an ninh cũng như sự tương thích về chiến lược và chính
sách phát triển. Trong khi Việt Nam tiến hành sự nghiệp đổi mới với chính


61
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



sách đối ngoại “rộng mở, đa dạng hoá và đa phương hoá quan hệ”, muốn làm
bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập
và phát triển “ và bắt đầu tham gia hội nhập quốc tế và khu vực” thì cũng trùng
với thời điểm H àn Quốc đề ra chính sách ngoại giao mới với 5 phương châm
cơ bản là “toàn cầu hoá”, “đa biên hoá”, “đa nguyên hoá”, “hợp tác khu vực
của thời đại Thái Bình D ương” và “ngoại giao thống nhất hướng về tương lai”.
Những chính sách của hai nước đều có mục tiêu chung là góp phần thúc đẩy
xu thế hoà bình, ổ n định, hợp tác để phát triển ở khu vực và trên thế giới. Đồng
thời đó cũng là cơ sở để phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị, nhiều mặt và hai
bên cùng có lợi giữa hai nước.

Hơn thế nữa hai bên đ ều có thể bổ sung cho nhau trong phát triển kinh
tế. Tuy là m ột đất nước không giàu về tài nguyên thiên nhiên và điều kiện khí
hậu không mấy thuận lợi, nhưng Hàn Quốc có nhiều thập kỉ tích luỹ kinh
nghiệm phát triển, có nguồn vốn đáng kể và trình độ công nghệ khá cao. Việt
Nam có vị trí thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú và nguồn
nhân lực dồi dào, thị trường rộng lớn, có nhu cầu về vốn, công nghệ và kinh
nghiệm quản lý. Nếu Hàn Quốc đang cần một lực lượng lao động lớn để bổ
sung cho lực lượng lao động của mình trong các xí nghiệp vừa và nhỏ thì Việt
Nam hoàn toàn có thể đáp ứng vì nói chung người lao động Việt Nam có tính
cần cù, chăm chỉ, khéo tay, có trình độ văn hoá cơ bản và tay nghề khá cao.
Trong bài phát biểu tại Đại học Quốc gia Hà nội, Thủ tướng Lee Han Dong
khẳng định: “… nếu tiềm lực và tài nguyên của Việt Nam kết hợp một cách lý
tưởng với vốn và công nghệ của H àn Quốc thì sẽ đóng góp đáng kể cho sự
phát triển của hai nước nói riêng và kinh tế khu vực nói chung”.

Việt Nam và Hàn Quốc còn có nhiều nét tương đồng về địa lý, lịch sử
và văn hoá. Đ ều là hai nước Châu Á, nằm ở phía Tây Thái Bình Dương, Việt
Nam và Hàn Quốc có vị trí địa chiến lược rất quan trọng ở khu vực Đông Á, là
cửa ngõ đi vào lục địa Á - Âu. Cả hai dân tộc đ ã từng bị ngoại bang đô hộ nên

62
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



rất thấm thía ý nghĩa của độc lập tự do, tự chủ, tự cường. Hai nước đều có bản
sắc dân tộc và văn hoá độc đáo, không có mâu thuẫn và xung đột sắc tộc. Có
thể nói, những nét tương đồng về địa lý, lịch sử, văn hoá chính là cơ sở vững
chắc để xây dựng mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện, lâu dài giữa hai
nước.

Hơn nữa, quan hệ hai nước được xây dựng và phát triển trong bối cảnh
toàn cầu hoá và khu vực hoá phát triển mạnh hoà bình, ổn định và phát triển là
xu thế chủ đạo. Việc Việt Nam và Hàn Quốc đều tham gia các diễn đ àn đối
thoại và thể chế đa phương khu vực và quốc tế như ASEAN PMC, ARF,
ASEAN + 3, ASEAN + 1 (với Hàn Quốc), ASEM, APEC, Liên hợp quốc và
trong tương lai không xa là WTO khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ
chức này đã tạo thêm nhiều cơ hội cho hai bên tìm ra nhiều điểm tương đồng
để thúc đẩy quan hệ song phương. Hợp tác đa phương tại các tổ chức khu vực,
liên khu vực và toàn cầu tạo ra cơ hội để các nước thành viên, trong đó có Việt
Nam và Hàn Quốc thúc đẩy hợp tác song phương. Liên kết kinh tế khu vực và
thế giới ngày càng gia tăng và đi vào chiều sâu cũng tạo điều kiện thuận lợi
cho quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hàn Quốc phát triển.




3. Những hạn chế, khó khăn và một số vấn đề cấp bách đặt ra cho quan hệ
Việt Nam - Hàn Quốc

Có thể nói khó khăn lớn nhất trong quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc là do
trình độ phát triển kinh tế giữa hai nước còn quá chênh lệch. Hàn Quốc bắt
đầu giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh từ nửa đầu những năm 1960 và cho
đến nay H àn Quốc đã là một nước công nghiệp phát triển. Trong khi đó Việt
Nam không những đi sau H àn Quốc gần 3 thập kỉ mà hiện nay vẫn còn là m ột
nước nông nghiệp đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại


63
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



hoá đất nước. Để có những đánh giá cụ thể hơn ta có thể xem xét H àn Quốc
trên một số chỉ tiêu chủ yếu sau và so sánh với Việt Nam. GDP tính theo giá
thực tế năm 2001 bằng USD của Hàn Quốc đạt 422,2 tỷ, cao thứ 13 thế giới và
gấp 12,9 lần Việt Nam. GDP giá thực tế năm 2001 bình quân đầu người tính
bằng USD đạt 8.860,8, cao thứ 39 thế giới, gấp 21,3 lần Việt Nam. Tỷ lệ GNP
so với GDP đạt 106% cao thứ 24 thế giới và cao hơn tỷ lệ 98,7 % của Việt
Nam. Tỷ trọng nông, lâm nghiệp, thuỷ sản trong GDP chỉ còn 4,5%, thấp thứ
32 thế giới và thấp hơn nhiều tỷ trọng 23,6% của Việt Nam. Tỷ trọng công
nghiệp - xây dựng trong GDP đạt 41,4%, cao thứ 23 thế giới và cao hơn tỷ
trọng 37,8% của Việt Nam. Tỷ trọng dịch vụ 54,1%, cao thứ 81 thế giới và cao
hơn tỷ trọng 38,5% của Việt Nam. Tổng dự trữ quốc tế năm 2002 đạt 121,4 tỷ
USD, đứng thứ 3 thế giới, chỉ sau Nhật Bản và CHND Trung Hoa. Tổng kim
ngạch xuất khẩu năm 2001 đạt 150,4 tỷ USD, cao thứ 13 thế giới và gấp 10 lần
Việt Nam. Tổng kim ngạch nhập khẩu năm 2001 đạt 141,1 tỷ USD, cao thứ 13
thế giới. Đáng lưu ý, Hàn Quốc là một trong những nước có xuất siêu từ năm
1998 tới nay (năm 1998 là 39 tỷ, năm 1999 là 23,9 tỷ, năm 2000 là 11,8 tỷ,
năm 2001 là 9,3 tỷ) trong khi Mỹ nhập siêu 448,4 tỷ, Pháp nhập siêu 4,4 tỷ,
Anh nhập siêu 53,6 tỷ, Hồng Kông nhập siêu 11,2 tỷ, Mêhicô nhập siêu 16,3
tỷ. Cách đây mấy năm, Hàn Quốc còn giữ kỷ lục thế giới về số năm kinh tế
tăng trưởng liên tục lên đến 20 năm, nay mới chịu nhường kỷ lục đó cho Trung
Quốc.

Trong quan hệ thương mại Việt Nam vẫn trong tình trạng nhập siêu.
Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang H àn Quốc chủ yếu vẫn là hàng sơ chế,
công nghệ thấp trong khi đó vẫn phải nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị, hoá
chất…từ Hàn Quốc để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước. Nguyên nhân chủ yếu là do hàng xuất khẩu của Việt Nam chất lượng
còn thấp lại không ổn định nên doanh nhân Hàn Quốc thường mua qua Hồng
Kông hoặc tìm đ ến Thái Lan. Trong số 10 mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu


64
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



lớn nhất của Hàn Quốc thì có tới 8 mặt hàng Việt Nam chưa sản xuất được như
linh kiện bán dẫn, máy móc, kim loại quý, sản phẩm hoá dầu, thiết bị chế tạo
bán dẫn… Mặt khác bản thân thị trường Hàn Quốc cũng rất kén chọn hàng tiêu
dùng, đặc biệt là hàng lương, thực phẩm. Hầu hết những mặt hàng này khi
nhập khẩu vào Hàn Quốc phải qua kiểm dịch rất chặt chẽ, phải có báo cáo đầy
đủ về quá trình nuôi trồng, bảo quản… và chỉ sau khi nhận được giấy phép của
cơ quan có thẩm quyền mới có thể nhập vào Hàn Quốc. Nhật Bản chấp nhận
độ đạm phân huỷ là 12% trong khi Hàn Quốc chỉ chấp nhận 8%. Đây thực sự
là một thách thức cho hàng hoá Việt Nam khi mà trình đ ộ sản xuất trong nước
còn rất hạn chế. Hơn thế nữa thị trường H àn Quốc còn “nổi tiếng” với đặc
điểm được bảo hộ mạnh, có những hàng rào thuế quan ngặt nghèo mà các
doanh nghiệp Việt Nam chưa vượt qua được. Đến thời điểm này, Hàn Quốc
vẫn áp dụng chế độ hạn ngạch đối với một số mặt hàng mà Việt Nam có khả
năng xuất khẩu với mức thuế suất còn rất cao so với một số thị trường khác
trên thế giới. Đơn cử như đối với mặt hàng rau quả, theo Bộ Thương mại, mức
thuế suất ưu đãi nhập khẩu mặt hàng này của Hàn Quốc đối với mức hạn
ngạch mà Hàn Quốc cho phép xê dịch từ 28% đến 30%. Tuy nhiên nếu doanh
nghiệp Việt Nam xuất khẩu vượt mức hạn ngạch cho phép thì vẫn được nhập
khẩu vào thị trường này nhưng sẽ phải chịu một mức thuế suất khoảng từ
300% đến 600%. Với một mức thuế suất cao như vậy thì hàng hoá Việt Nam
có mặt tại thị trường còn ít cũng là điều dễ hiểu. Không những thế khi vào thị
trường H àn Quốc, hàng hoá của Việt Nam còn phải cạnh tranh với hàng hoá
của nhiều nước như Thái Lan, Malayxia, Hồng Kông…đặc biệt là hàng của
Trung Quốc. Trong khi đó, Việt Nam lại nhập từ H àn Quốc chủ yếu là các loại
máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu có giá trị cao.

Các doanh nghiệp Hàn Quốc thường phàn nàn rằng thiếu thông tin của
doanh nghiệp Việt Nam (về mặt hàng, tay nghề, kỹ thuật, kim ngạch của
doanh nghiệp, khả năng cung cấp nguồn hàng, thời gian giao hàng, giá dự


65
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



kiến…) hoặc nếu có thì phần lớn lại bằng tiếng Việt và chỉ giới thiệu chung
chung như ‘xuất khẩu nông sản’, ‘thủ công mỹ nghệ’...nên rất khó làm việc.
Doanh nghiệp Hàn Quốc có ấn tượng rất tốt với việc giới thiệu bằng Catalog
song rất ít doanh nghiệp Việt Nam chú ý tới cách giới thiệu này. Đây cũng là
nhược điểm về trình độ nghiệp vụ marketing mà các doanh nghiệp Việt Nam
cần sớm có biện pháp khắc phục. Thêm vào đó hiện tượng tráo hàng xấu nếu
có điều kiện, nợ nần dây dưa và sự thiên vị đôi khi khá vô lý đối với các doanh
nghiệp Việt Nam đã khiến các doanh nghiệp Hàn Quốc thêm nản lòng.

Trong quan hệ đầu tư, tuy Hàn Quốc là một nước có vốn đầu tư lớn tại
Việt Nam nhưng th ực tế ngoài những lợi ích kinh tế mà hai bên thu được vẫn
còn những khó khăn nhất định. Khó khăn đầu tiên là hệ thống luật pháp của
Việt Nam còn đang trong quá trình hoàn thiện. Mặc dù được sửa đổi và b ổ
sung liên tục từ năm 1986 đến nay nhưng các văn b ản pháp luật của Việt Nam
có liên quan hai nước vẫn chưa được chặt chẽ và ổn định. Các chính sách, văn
bản dưới luật về đầu tư nước ngo ài quá nhiều lại thay đổi liên tục nên không
tránh khỏi những thiếu sót. Chính những hệ thống văn bản này đã gây khó
khăn, trở ngại rất lớn cả cho các nhà đầu tư Việt Nam cũng như Hàn Quốc
muốn tìm hiểu đầu tư vào nhau. Việt Nam đang cố gắng cải thiện môi trường
đầu tư và đưa ra các chính sách thu hút đầu tư hơn nữa nhưng các thủ tục hành
chính xét duyệt và thẩm định các dự án đầu tư vẫn cò n chậm chạp và phiền hà,
chưa tho ả mãn được yêu cầu của các nhà đầu tư. Trên thực tế, một số dự án đã
không được tiến hành hoặc phải thu hồi giấy phép đầu tư.

Cơ sở hạ tầng nước ta còn khó khăn, thiếu thốn và lạc hậu gây trở ngại
cho quá trình đầu tư. Bên cạnh đó cơ chế và trình độ quản lý của các doanh
nghiệp Việt Nam và Hàn Quốc còn có sự chênh lệch. Mặc dù các doanh
nghiệp Việt Nam đang nỗ lực đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá nhưng phần
lớn các công ty Việt Nam tham gia liên doanh với Hàn Quốc vẫn chưa thoát
hẳn cơ chế bao cấp. Trong khi đó H àn Quốc đã hình thành được một đội ngũ

66
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



các doanh nghiệp giỏi, người lao động có tác phong công nghiệp hiện đại, có ý
thức kỷ luật cao. Do đó trong các công ty liên doanh của Việt Nam với Hàn
Quốc đã xảy ra tình trạng xung đột giữa cán bộ công nhân Việt Nam với chủ
đầu tư Hàn Quốc. Đây là vấn đề nhức nhối cần được quan tâm giải quyết thoả
đáng theo đúng pháp luật Việt Nam.

Năm 1997 cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á xảy ra đã gây hậu
quả nặng nề cho nền kinh tế các nước trong khu vực trong đó có Hàn Quốc.
Lạm phát tăng nhanh, nhiều công ty rơi vào phá sản đã buộc các Chaebol Hàn
Quốc ở nước ngoài phải rút vốn về tập trung cải cách cơ cấu, thu hẹp quy mô
nhằm giải quyết những bê bối tài chính. Đầu tư của Hàn Quốc vào Việt Nam
trong thời gian này do đó giảm mạnh, nhiều dự án phải tạm ho ãn ho ặc không
thực hiện được. Kim ngạch thương mại hai chiều tăng trưởng âm cũng là điều
không thể tránh khỏi. Cuộc khủng hoảng đã thực sự gây khó khăn cho quan hệ
giữa hai nước trong một giai đoạn nhất định nhưng đồng thời cũng giúp hai
nước nói riêng và các nước trong khu vực nói chung nhận ra được nhược điểm
trong hợp tác khu vực, các nước không thể phối hợp cùng nhau để ngăn chặn
khủng hoảng. Hiện nay trong tiến trình phục hồi kinh tế, các nước đều nhận
thấy rằng tình trạng suy giảm kinh tế ở bất kì một nước nào trong khu vực đều
có thể gây ra những tác động ở mọi mức độ khác nhau tới mọi quốc gia Đông
Nam Á. Do đó hợp tác khu vực nói chung và hợp tác Việt Nam - H àn Quốc
nói riêng càng cần được thúc đẩy hơn bao giờ hết.



CHƯƠNG III:

TRIỂN VỌNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ KINH TẾ
THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - HÀN QUỐC




67
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



I. Đ ịnh hướng phát triển quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Hàn
Quốc trong thời gian tới

Có thể nói quan hệ Việt Nam - H àn Quốc trong thời gian qua đã đạt
được những thành công nhất định, đem lại nhiều lợi ích cho cả hai bên, nhất là
đối với Việt Nam. Sự hợp tác giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực đ ã giúp b ổ
sung nguồn lực cho nền kinh tế Việt Nam, phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Bên cạnh đó việc phát triển quan hệ
hợp tác với Hàn Quốc còn tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam từng bước hội
nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Do đó trong thời gian tới việc tăng
cường quan hệ hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc là hết sức cần thiết. Một số định
hướng dưới đây sẽ giúp nâng cao hiệu quả của sự hợp tác này:

Thứ nhất, cần ổn định và không ngừng củng cố quan hệ đối ngoại giữa
hai nước trên cơ sở độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các
mối quan hệ. Đây là một điều hết sức có ý nghĩa vì trong thời đại ngày nay
“ngoại giao cấp cao” thường góp phần rất quan trọng vào việc gắn bó quan hệ
giữa các quốc gia và giải quyết những vấn đề trọng đại trong quan hệ quốc tế.
Không có sự ổn định vững chắc trong quan hệ đối ngoại thì sẽ không có những
mối quan hệ hợp tác khác, sẽ không thể có sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc
gia. Điều này lại càng có ý nghĩa với Việt Nam trong điều kiện nền kinh tế còn
nghèo và đang nỗ lực thoát khỏi nguy cơ tụt hậu.

Thứ hai, với xuất phát điểm thấp, vốn và công nghệ trở thành hai nguồn
lực khan hiếm nhất, có vai trò quyết định trong việc đáp ứng yêu cầu tăng
trưởng nhanh và chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ ở Việt Nam. Thực tế ở nhiều
nước cho thấy nhập khẩu công nghệ chính là con đường ngắn nhất để thực
hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Trong khi đó xu hướng tăng trưởng nhanh
của nền kinh tế Hàn Quốc đã làm nảy sinh nhu cầu chuyển giao vốn và công
nghệ cho những nước đi sau, trong đó có Việt Nam. Sự phù hợp về nhu cầu


68
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



này là điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển quan hệ hợp tác giữa hai nước,
đặc biệt là quan hệ đầu tư. Khi đó Việt Nam không những phần nào giải quyết
vấn đề thiếu vốn cho phát triển kinh tế mà còn có thể tiếp cận được với những
công nghệ hiện đại, học hỏi được kinh nghiệm của các nhà đầu tư Hàn Quốc
phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Do đó trong thời gian tới cần tích cực thúc đẩy mối quan hệ này trên cơ sở
bình đ ẳng, đôi bên cùng có lợi. Riêng phía Việt Nam cần chủ động cải thiện
môi trường đầu tư theo hướng phù hợp nhằm tăng cường thu hút FDI của Hàn
Quốc.

Thứ ba, trong tình hình hiện nay vấn đề thị trường có tầm quan trọng rất
lớn. Nó quyết định cả đầu vào lẫn đầu ra của sản xuất. Do trình độ phát triển
kinh tế chưa cao, nước ta còn phải nhập khẩu một lượng đáng kể máy móc,
thiết bị, vật tư nên việc nhập khẩu từ thị trường nào có lợi nhất về chất lượng
và giá cả sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm.
Trong khi đó Hàn Quốc lại là nguồn cung cấp nguyên vật liệu giá rẻ, chất
lượng tốt, ho àn toàn có thể đáp ứng nhu cầu của Việt Nam. Nhưng vấn đề này
càng trở nên gay gắt hơn khi đi liền với bước chuyển cơ chế, đó là định hướng
tăng trưởng dựa vào xuất khẩu là phải tạo ra thị trường "chỗ dựa đầu tiên" làm
nền tảng cho chiến lược xuất khẩu. Đối với Việt Nam, vấn đề này đặc biệt gay
gắt, bởi lẽ nước ta phải chuyển sang một thị trường về cơ bản là m ới, lại “khó
tính” chứ không như những thị trường truyền thống trước đây, trong khi năng
lực cạnh tranh của nền kinh tế lại rất thấp. Có thể nói hợp tác thương mại với
Hàn Quốc vừa tạo ra điều kiện thuận lợi nhưng đồng thời cũng đặt ra cho
chúng ta những thách thức phải vượt qua. Do vậy cần tiếp tục phát triển mối
quan hệ hợp tác thương m ại với Hàn Quốc theo hướng tích cực nhập khẩu các
nguyên vật liệu cần thiết cho phát triển kinh tế và không ngừng nâng cao chất
lượng sản phẩm xuất khẩu. Cần chủ động chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo
hướng tăng mạnh những sản phẩm hàng hoá và dịch vụ có khả năng cạnh tranh


69
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



cao trên thị trường Hàn Quốc, giảm mạnh các sản phẩm thô và sơ chế. Mục
tiêu đến 2005 là hạ tỷ trọng của nhóm nguyên liệu thô chỉ chiếm tối đa là 25 -
28% kim ngạch xuất khẩu.

Thứ tư, việc hợp tác với Hàn Quốc là một trong những giải pháp quan
trọng giúp chúng ta giải quyết vấn đề quá độ lao động. Đây vốn là vấn đề rất
khó khăn cho bất cứ quốc gia nào, đặc biệt là trong bước chuyển từ nền kinh tế
nông thôn - nông nghiệp sang nền kinh tế thị trường - công nghiệp. Quả thực,
trong điều kiện của Việt Nam, hợp tác kinh tế với Hàn Quốc nói riêng và các
nền kinh tế khác nói chung đều hướng tới một mục tiêu kép: vừa tận dụng
được tính kinh tế của lao động (khả năng sử dụng nguồn lao động dồi dào và
rẻ), vừa giải quyết được một trong những vấn đề nan giải nhất, cũng là một bất
lợi thế phát triển đang đặt ra là: dư thừa lao động, thất nghiệp và thiếu việc
làm.
G iảm thất nghiệp, tạo thêm việc làm là một trong những vấn đề kinh tế
cấp bách hàng đầu của Việt Nam, nhất là khi đặt trong quan hệ với định hướng
xã hội chủ nghĩa cho toàn bộ sự nghiệp phát triển kinh tế. Trong khi đó, lợi thế
so sánh lớn nhất mà nền kinh tế Việt Nam có được là nguồn lao động. Không
tận dụng tốt lợi thế này có nghĩa là lãng phí một thế mạnh trong ho àn cảnh còn
nghèo, là hãm chậm, thậm chí triệt tiêu cơ hội có thể "cất cánh nhanh". Việc
thiết lập nhanh chóng và rộng khắp các quan hệ kinh tế khu vực và trên thế
giới, đặc biệt là quan hệ với Hàn Quốc cho phép chúng ta hạn chế điểm bất lợi,
đồng thời phát huy lợi thế trong trong quan hệ lao động.




II. Một số giải pháp thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc

Trong quan hệ hợp tác Việt Nam - H àn Quốc thời gian qua, bên cạnh những
kết quả tốt đẹp mà hai bên đ ã đạt đ ược, vẫn còn tồn tại một số khó khăn. Để



70
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



góp phần khắc phục những khó khăn này và thực hiện có hiệu quả định hướng
hợp tác giữa hai nước trên đây, tôi xin đưa ra một số giải pháp sau:



1. Giải pháp về môi trường, thể chế

G iữ vững sự ổn định chính trị - k inh tế - xã hội, kiên trì đường lối đổi mới
toàn diện nền kinh tế, hoàn thiện cơ chế thị trường, hình thành cấu trúc thể chế
kinh tế mới là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sự hợp
tác kinh tế của Việt Nam với các nước nói chung và với Hàn Quốc nói riêng.
Ổ n định chính trị là điều kiện cơ bản để ổn định các chính sách kinh tế và
thực hiện cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta theo hướng đổi mới, là nền tảng cho
sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống xã hội. Tình hình chính trị trong
nước có ổn định, các nước khác trong đó có Hàn Quốc mới tin tưởng vào
đường lối đổi mới của Việt Nam; yên tâm làm ăn, kinh doanh, hợp tác với Việt
Nam trên cơ sở cùng có lợi.
Thực tế, Việt Nam đ ược giới doanh nghiệp Châu Á - TBD đánh giá là
nước đứng đầu khu vực về an ninh tốt, xã hội ổn định, ít biến động. Đây là một
lợi thế trong hợp tác kinh tế quốc tế, đặc biệt là thiết lập quan hệ kinh tế đối
ngo ại và thu hút FDI. Tuy nhiên, không vì thế mà Việt Nam lơ là công tác này.
Để giữ vững và tăng cường sự ổn định chính trị, Việt Nam cần phải tiếp tục
thực hiện đường lối đổi mới mạnh mẽ hơn nữa cả về kinh tế, chính trị, xã hội,
văn hoá, tư tưởng. Yếu tố quyết định sự thành công, đó là phải tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng, tăng cường vai trò của Nhà nước pháp quyền của dân, do
dân và vì dân, thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, bảo
vệ chủ quyền quốc gia, từng bước đi lên Chủ nghĩa Xã hội.
Cùng với sự ổn định là chính sách ngoại giao mềm dẻo, bảo đảm nguyên
tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, đa phương hoá và đa dạng hoá trong quan hệ,
với khẩu hiệu “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới vì hoà


71
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



bình, hợp tác và phát triển”. Chính việc mở rộng quan hệ ngoại giao là tiền đề
cho việc mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế song phương và đa phương, đặc biệt
là quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc.
Bên cạnh đó chúng ta cần tích cực đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại
hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng và hiệu quả phát triển
kinh tế tiến tới xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành
một nước công nghiệp. Có như thế Việt Nam mới từng bước rút ngắn khoảng
cách với H àn Quốc, trở thành một đối tác kinh tế quan trọng của Hàn Quốc
góp phần thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc ngày càng sâu sắc và bền
chặt hơn.



2. Giải pháp cho quan hệ thương mại

2.1 Tăng cường sức cạnh tranh cho hàng hoá Việt Nam xuất khẩu sang Hàn
Quốc

Khi thâm nhập thị trường H àn Quốc hàng hoá của Việt Nam phải cạnh
tranh với nhiều đối thủ trong đó phải đặc biệt kể đến Trung Quốc, do đó để có
thể trụ vững trên th ị trường này, việc nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hoá
Việt Nam là điều hết sức cần thiết. Trước hết chúng ta cần xác định rõ những
mặt hàng nào và số lượng bao nhiêu có thể thâm nhập thị trường Hàn Quốc.
Dệt may, giày dép, hải sản, dược liệu, than đá và rau quả thực sự là những mặt
hàng mà Việt Nam có tiềm năng trong đó riêng mặt hàng rau quả H àn Quốc
mới chỉ biết đến hàng Thái Lan, Philippines, Malaysia. Bên cạnh đó tiềm năng
nhập khẩu thuỷ sản của thị trường H àn Quốc là rất lớn, thậm chí không thua
kém thị trường EU, trong khi đó điều kiện bán hàng lại khá dễ d àng. Đ ã có
nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc đến Thương vụ Việt Nam tìm thông tin về các
nhà xuất khẩu thủy sản của ta. Thêm một lợi thế nữa cho các doanh nghiệp
Việt Nam khi một số công ty của H àn Quốc đang nhập khẩu hàng Trung Quốc


72
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



muốn chuyển sang mua hàng Việt Nam nhằm đa dạng hoá nguồn cung cấp,
tránh phụ thuộc vào một thị trường để giảm thiểu rủi ro. Do đó trong thời gian
tới cần duy trì và đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng này. Tuy nhiên trong
đó cũng cần lưu ý tăng cường xuất khẩu những sản phẩm chế biến vừa để nâng
cao giá trị xuất khẩu, vừa để khắc phục tính bất ổn của hàng hoá xuất khẩu
Việt Nam, tạo niềm tin cho các nhà nhập khẩu Hàn Quốc.

Ngoài ra chúng ta phải không ngừng ổn định và nâng cao chất lượng
hàng xuất khẩu để đảm bảo uy tín với bạn hàng. Đầu tư cải tiến công nghệ do
đó cần được các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện mà trước hết là tăng cường
khâu chế biến để tiến tới bán những gì thị trường cần chứ không phải những gì
ta có. Cần đặc biệt chú ý nâng cao chất lượng hàng nông lâm sản, bởi thị
trường H àn Quốc vốn rất khắt khe đối với việc nhập khẩu những mặt hàng
này. Việc kí kết thoả thuận Kiểm dịch thực vật tháng 9 năm 2003 vừa qua và
thoả ước về Kiểm soát chất lượng an toàn vệ sinh thuỷ sản càng làm tăng thêm
cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam đưa hàng vào thị trường này. Tuy
nhiên cũng cần nỗ lực khắc phục ảnh hưởng của thời tiết, thực hiện thâm canh,
tăng vụ, đầu tư nghiên cứu phát triển giống mới có chất lượng cao kết hợp với
việc kiểm tra chất lượng sản phẩm bắt buộc. Có như thế vị trí hàng hoá Việt
Nam trên trên thị trường thế giới nói chung và thị trường H àn Quốc nói riêng
mới đ ược cải thiện đáng kể.

Ngoài ra đ ể nâng cao khả năng cạnh tranh chúng ta cũng cần quan tâm
đến đặc điểm của người tiêu dùng Hàn Quốc. Do những thay đổi của lối sống,
xu thế tiêu dùng của người Hàn Quốc những năm gần đây có nhiều nét mới.
Điều dễ nhận thấy là sự gia tăng tiêu dùng những thực phẩm chất lượng cao,
đồ ăn liền, giảm tiêu dùng gạo và lúa mì, tăng tiêu dùng những sản phẩm lâu
bền và đắt tiền, tăng nhu cầu về dịch vụ, đặc biệt rất nhạy cảm với vấn đề vệ
sinh, an toàn thực phẩm và thực phẩm biến đổi gien. Đối với các sản phẩm
thực phẩm doanh nghiệp Việt Nam nên chú ý tới khẩu vị của người dân Hàn

73
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Quốc ví dụ như cá khô, mực khô, mì ăn liền phải tẩm cay hơn…Bên cạnh yếu
tố chất lượng và giá cả người Hàn Quốc còn rất quan tâm đến hình thức sản
phẩm và dịch vụ khách hàng. Đây cũng chính là điểm yếu của hàng hoá Việt
Nam nói chung và hàng hoá xuất khẩu nói riêng. Do đó cần tích cực đầu tư cải
tiến bao bì, mẫu mã sản phẩm cũng như đáp ứng tốt dịch vụ sau bán hàng cho
phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Hàn Quốc. Có như thế hàng hoá Việt
Nam không những có thể đứng vững trên thị trường H àn Quốc mà còn có thể
cạnh tranh đ ược với hàng Thái Lan, Trung Quốc trên đất Hàn.



2.2 Xây dựng ph ương thức bán hàng hiệu quả

Trong xuất khẩu hàng hoá sang thị trường H àn Quốc bên cạnh các yếu
tố như sản phẩm, chất lượng sản phẩm thì phương thức bán hàng cũng giữ một
vai trò quan trọng. Việc xây dựng một phương thức bán hàng hiệu quả sẽ giúp
các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào thị trường H àn Quốc từ đó
góp phần đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá sang thị trường này. Vì doanh nghiệp
Hàn Quốc chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên họ thường mua những lô
hàng nhỏ, do đó trong thời gian tới chúng ta cần áp dụng phương thức bán
hàng linh hoạt. Bên cạnh đó các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần xem xét
phương thức sử dụng đại lý bán hàng là các công ty Hàn Quốc thuộc thành
viên của Hiệp hội các nhà nhập khẩu. Để xuất khẩu sang thị trường này đây là
phương thức phổ biến nhất vì 90% (khoảng trên 100 tỷ USD) kim ngạch nhập
khẩu của Hàn Quốc là thông qua hiệp hội này. Khi xuất khẩu vào Hàn Quốc
doanh nghiệp trong nước nên sử dụng các đại lý ở đây, không nên giữ thói
quen mua đứt bán đoạn.

Để có thể xuất khẩu hàng nông sản nói riêng và những mặt hàng khác
nói chung vào Hàn Quốc các doanh nghiệp Việt Nam cần tăng cường tham gia
tham gia đấu thầu tại thị trường này. Đây là một trong những phương thức xuất


74
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



khẩu rất có hiệu quả nhưng chưa được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm
thực hiện. Trên thực tế đến nay mới chỉ có các doanh nghiệp xuất khẩu gạo
của Việt Nam tham gia đấu thầu còn các doanh nghiệp kinh doanh các sản
phẩm khác có tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chưa nắm rõ quy định
của đấu thầu và chưa tham gia hoạt động này. Hàng năm, Hàn Quốc đều tổ
chức các đợt đấu thầu nhập khẩu các mặt hàng nông sản như gạo, đỗ tương, đỗ
đỏ, dầu vừng…vốn là những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh. Do đó các
doanh nghiệp Việt Nam cần phải đặt quan hệ chặt chẽ với các nhà nhập khẩu
Hàn Quốc, cung cấp giá và m ẫu hàng để tham gia đấu thầu. Có như thế doanh
nghiệp Việt Nam mới có thể tăng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này.

Thương m ại đổi hàng hai chiều trong đó áp dụng những ràng buộc về
xuất nhập khẩu cũng là một phương thức nên khuyến khích thực hiện. Chính
phủ cần đàm phán để H àn Quốc mở cửa hơn nữa cho hàng hoá Việt Nam đặc
biệt là mặt hàng thịt và gạo, giảm bớt sự mất cân bằng trong cán cân thương
mại giữa hai nước.

Bên cạnh các phương thức bán hàng nói trên các doanh nghiệp Việt
Nam cũng cần nghiên cứu và từng bước chuẩn bị để tiến tới áp dụng thương
mại điện tử hay còn gọi là bán hàng qua mạng với Hàn Quốc. Đây là một
phương thức bán hàng rất có hiệu quả, giúp tiết kiệm thời gian và chi phí. Tuy
hiện tại phương thức này chưa phát triển rộng rãi ở V iệt Nam nhưng trong
tương lai gần đây sẽ là phương thức giao dịch thương mại phổ biến và thuận
tiện nhất. Để làm được điều này doanh nghiệp Việt Nam cần mạnh dạn đầu tư
về cả nhân lực - những chuyên gia về công nghệ điện tử và vật lực - máy tính,
phần mềm máy tính…để việc thực hiện đem lại hiệu quả cao.



2.3 Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại




75
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Trong quan hệ thương m ại giữa hai nước các doanh nghiệp Hàn Quốc
còn hiểu rất ít về thị trường hàng hoá Việt Nam. Đây sẽ là điểm bất lợi cho
hàng hoá Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường này. Do đó để khắc phục
tình trạng trên chúng ta cần đặc biệt chú trọng tăng cường hoạt động xúc tiến
thương mại. Hoạt động này không những sẽ giúp cho việc quảng bá sản phẩm
xuất khẩu Việt Nam trên thị trường H àn Quốc mà còn giúp Việt Nam có điều
kiện tìm hiểu sâu hơn thị trường này. Hiện nay cả nước đã có hơn 23000 doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nhưng phần lớn chưa có nhiều kinh nghiệm
và hiểu biết về thị trường nước ngoài trong đó có thị trường H àn Quốc.

Về phía Chính phủ để làm được điều này vai trò của các tham tán
thương mại là rất quan trọng. Trực tiếp hoạt động trên đất nước Hàn Quốc, họ
phải là tác nhân gắn kết các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp
trên thị trường này. Họ phải tích cực cung cấp những thông tin hữu ích về
doanh nghiệp H àn Quốc, về đặc điểm thị trường Hàn Quốc tới doanh nghiệp
Việt Nam và ngược lại đem đến cho doanh nghiệp Hàn Quốc những hiểu biết
về doanh nghiệp Việt Nam, hàng hoá Việt Nam. Ngoài ra Bộ Thương mại còn
có thể tổ chức các cuộc gặp gỡ giữa các doanh nghiệp hai nước để họ tìm hiểu
nhau, trao đổi kinh nghiệm, để quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của mình tiến
tới hợp tác kinh doanh. Những cuộc tiếp xúc thường xuyên kiểu này sẽ mang
lại rất nhiều lợi ích cho cả hai bên. Bên cạnh đó cần nâng cao vai trò hỗ trợ
trực tiếp doanh nghiệp của các tổ chức xúc tiến thương mại, nhất là của Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Cần sớm triển khai các hoạt động như
xây d ựng quảng bá hình ảnh quốc gia thông qua thương hiệu sản phẩm đặc
trưng, thành lập các trung tâm thiết kế, tạo mẫu sản phẩm, nhãn mác, bao bì,
các trung tâm hội chợ triển lãm thương mại tại các thành phố lớn trong nước
và trên thị trường H àn Quốc. Trong thời gian tới chúng ta có thể thành lập các
trung tâm giới thiệu sản phẩm Việt Nam ở Hàn Quốc vừa để hỗ trợ cho các
doanh nghiệp đồng thời là nơi quảng bá hình ảnh Việt Nam. Ngoài việc giới


76
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



thiệu sản phẩm các trung tâm còn làm nhiệm vụ thu thập và xử lý thông tin
thương mại, thiết lập quan hệ với các tổ chức xúc tiến thương m ại H àn Quốc,
hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia hội chợ triển lãm được tổ chức tại Hàn
Quốc. Doanh nghiệp nào có năng lực có thể cử người sang làm đại diện như là
hình thức chính phủ và doanh nghiệp cùng tham gia. Trong năm đầu doanh
nghiệp tham gia sẽ không phải chịu bất kì khoản phí nào, những năm sau có
thể từng b ước đóng góp một phần. Hơn lúc nào hết việc, chọn lựa, đ ào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu kiên định về chính trị, tư
tưởng, thành thạo về nghiệp vụ, tinh thông về ngoại ngữ và các phương tiện
kinh doanh hiện đại, trong sạch về phẩm chất đạo đức là nhiệm vụ sống còn,
cần được các cấp, các ngành quan tâm thoả đáng.

Về phía các doanh nghiệp cũng phải tăng cường khâu quảng cáo tiếp thị
để có thể trực tiếp giới thiệu sản phẩm của mình. Ngày nay cùng với sự tiến bộ
của khoa học kỹ thuật và sự phát triển mạnh mẽ của mạng may tính toàn cầu
việc trao đổi thông tin được thực hiện hết sức nhanh chóng và hiệu quả. Đây là
cơ hội tốt để các doanh nghiệp Việt Nam quảng bá sản phẩm của mình tới thị
trường Hàn Quốc. Với một khoản phí không nhiều các doanh nghiệp Việt Nam
có thể tự xây dựng những trang Web giới thiệu đầy đủ thông tin về công ty, về
sản phẩm của mình. Bên cạnh đó các doanh nghiệp Việt Nam cũng nên tận
dụng vai trò của cơ quan Thương vụ Việt Nam ở H àn Quốc. Đây là biện pháp
mà hiện nay được rất ít doanh nghiệp Việt Nam áp dụng trong khi các doanh
nghiệp Hàn Quốc đã tích cực triệt để tiến hành. Theo tham tán thương mại của
Việt Nam tại Hàn Quốc mỗi ngày có tới 4 - 5 doanh nghiệp Hàn Quốc điện
thoại và fax tới Thương vụ hỏi mua hàng Việt Nam và theo hướng dẫn của
Thương vụ nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc đã trực tiếp sang Việt Nam tìm đối
tác. Trong khi đó Thương vụ nhận được rất ít yêu cầu hoặc chào hàng của các
công ty Việt Nam nên việc giới thiệu của Thương vụ chưa thật sự đạt hiệu quả
mong muốn. Vẫn biết khả năng hạn hẹp về tài chính ít nhiều chi phối tới công


77
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



tác tiếp thị của các doanh nghiệp xuất khẩu song cũng cần phải nhìn nhận thực
tế rằng không ít doanh nghiệp làm ăn còn mang tính thời vụ nên b ị động và
chưa có biện pháp thích hợp để đeo bám, duy trì thị trường xuất khẩu. Ngoài ra
khi liên hệ với các nhà nhập khẩu Hàn Quốc doanh nghiệp Việt Nam nên gửi
catalogue, brochure, hàng mẫu và bảng giá để giới thiệu về công ty mình. Khi
đã có mối liên hệ bằng việc trao đổi những thông tin cần thiết ban đầu, doanh
nghiệp Việt Nam nên sang Hàn Quốc và mang theo hàng mẫu cũng như thông
tin cụ thể hơn như bảng giá chào xác định, số lượng có thể giao để thoả thuận
hợp đồng.



3. Giải pháp cho quan hệ đầu tư

Đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) giữ một vai trò hết sức quan trọng. Đây thực sự là nguồn lực
bổ sung hiệu quả cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, là
cầu nối thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước đầu tư trong
đó có Hàn Quốc. Mặc dù môi trường đầu tư ở Việt Nam trong mấy năm gần
đây đã được cải thiện đáng kể song vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, bất cập gây
trở ngại cho các nhà đ ầu tư nước ngoài nói chung và các nhà đầu tư Hàn Quốc
nói riêng. Hiện nay chỉ số thu hút FDI của Việt Nam vẫn rất khiêm tốn, xếp
thứ 71/140 nước (so với 10 năm trước đây là 115/140 nước). Do đó để tăng
cường quan hệ đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc trong thời gian tới Việt Nam cần
thực hiện một số giải pháp sau:



3.1 Xây dựng hệ thống chính sách khuyến khích đầu tư hấp dẫn, mềm dẻo

Chính sách thương mại cần thông thoáng theo hướng tự do hoá để đảm
bảo khả năng xuất nhập khẩu các máy móc thiết bị, nguyên liệu sản xuất cũng



78
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



như các sản phẩm; tức là b ảo đảm sự thuận lợi, kết nối liên tục các công đoạn
hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư.
Chính sách tiền tệ phải giải quyết được các vấn đề chống lạm phát và ổn
định tiền tệ. Chính sách lãi suất và tỷ giá tác động trực tiếp đến dòng chảy của
FDI với tư cách là những yếu tố quyết định giá trị đầu tư và mức lợi nhuận thu
được tại một thị trường xác định. Dòng vốn đầu tư dài hạn, nhất là FDI đ ổ vào
một nước thường tỷ lệ thuận với sự gia tăng lòng tin của các chủ đầu tư, đồng
thời lại tỷ lệ nghịch với độ chênh lệch lãi suất trong - ngoài nước. Nếu độ
chênh lệch lãi suất đó càng cao, tư b ản nước ngo ài càng ưa đ ầu tư theo kiểu
cho vay ngắn hạn, ít chịu rủi ro và hưởng lãi ngay trên chỉ số chênh lệch lãi
suất đó. Hơn nữa, khi mức lãi suất trong nước cao hơn m ức lãi suất quốc tế, thì
sức hút với dòng vốn chảy vào càng mạnh. Tuy nhiên, đồng nghĩa với mức lãi
suất cao là chi phí trong đầu tư cao, làm giảm đi lợi nhuận của các nhà đầu tư.
Một tỷ giá hối đoái linh hoạt, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế ở từng
giai đoạn thì khả năng thu lợi nhuận từ xuất khẩu càng lớn, sức hấp dẫn với
vốn nước ngoài càng lớn. Một nước có mức tăng trưởng xuất khẩu cao sẽ làm
yên lòng các nhà đầu tư vì khả năng trả nợ của nước đó đ ược đảm bảo hơn, độ
mạo hiểm trong đầu tư sẽ giảm xuống.
Các mức ưu đãi tài chính - tiền tệ dành cho vốn đầu tư nước ngo ài trước
hết phải bảo đảm cho các chủ đầu tư tìm kiếm được lợi nhuận cao nhất trong
điều kiện kinh doanh chung của khu vực, của mỗi nước và vào những nơi mà
chính phủ muốn khuyến khích đầu tư. Những ưu đãi về thuế chiếm vị trí quan
trọng hàng đầu trong số các ưu đãi tài chính dành cho đầu tư nước ngo ài. Mức
ưu đãi thuế cao hơn luôn được dành cho các dự án có tỷ lệ vốn nước ngoài cao,
quy mô lớn, dài hạn, hướng về thị trường nước ngoài, sử dụng nhiều nguyên
vật liệu và lao động trong nước, tái đầu tư lợi nhuận và có mức độ "nội địa
hoá" sản phẩm và công nghệ cao hơn.




79
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Hệ thống thuế thi hành sẽ càng hiệu quả nếu càng rõ ràng, đơn giản, dễ áp
dụng và mức thuế không được quá cao (so với lãi suất, lợi nhuận bình quân, so
với mức thuế chung của khu vực và quốc tế...). Các thủ tục thuế, cũng như các
thủ tục quản lý đầu tư nước ngoài khác, phải được tinh giản hợp lý, tránh vòng
vèo nhiều khâu trung gian, phải công khai và thuận lợi cho đối tượng chịu
quản lý và nộp thuế. Tự do hoá đầu tư càng cao càng thu hút được nhiều vốn
nước ngoài.
Sự hỗ trợ tín dụng (ở nhiều nước chính phủ đã lập ra các Quỹ hỗ trợ đầu
tư nước ngoài đ ể hỗ trợ cho các nhà đầu tư, nhất là cho những dự án thuộc diện
khuyến khích đầu tư), cùng với các dịch vụ tài chính, bảo lãnh của chính phủ,
của các cơ quan tín dụng xuất khẩu và của các tổ chức tài chính đa phương
như WB đã, đang và sẽ đóng vai trò to lớn làm tăng dòng vốn nước ngoài, nhất
là FDI tư nhân chảy vào, nhất là trong lĩnh vực hạ tầng. Như vậy, một khi các
rủi ro giảm xuống, tỷ lệ lợi nhuận tăng lên, thì các luồng vốn nước ngo ài sẽ đổ
vào nhiều và ổn định. Ngược lại tư bản nước ngo ài sẽ thận trọng hơn, thậm chí
bỏ chạy nếu nước tiếp nhận đầu tư có "độ tin cậy thấp về tín dụng" - m ột chỉ số
tổng hợp của các yếu tố như: rủi ro chính trị cao, phát triển kinh tế chậm, xuất
khẩu kém, nợ cao và bất ổn định kinh tế vĩ mô. Khi đó, dù có những ưu đãi tài
chính rất cao được đưa ra cũng khó hấp dẫn các nhà đầu tư Hàn Quốc vốn
năng động, thận trọng, luôn mong muốn và thường có nhiều cơ hội lựa chọn
thị trường đầu tư như ý trên toàn thế giới.


3.2. Phát triển cơ sở hạ tầng
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia và một địa
phương tiếp nhận FDI luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tư có
thể nhanh chóng thông qua các quyết định và triển khai các dự án đã cam kết.
Một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm một hệ thống giao thông vận tải
đồng bộ và hiện đại với các cầu, cảng, đ ường xá, kho bãi và các phương tiện


80
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



vận tải đủ sức bao phủ quốc gia và đ ủ tầm hoạt động quốc tế; một hệ thống
thông tin liên lạc viễn thông hiện đại; hệ thống điện nước dồi dào và phân bổ
tiện lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đời sống và một hệ
thống mạng lưới cung cấp các loại dịch vụ khác (y tế, giáo dục, giải trí, các
dịch vụ hải quan, tài chính, quảng cáo, kỹ thuật...) phát triển rộng khắp và có
chất lượng cao. Tóm lại, hệ thống kết cấu hạ tầng đó phải giúp cho các chủ đầu
tư nước ngo ài thuận tiện trong kinh doanh, giảm chi phí vận chuyển từ đó làm
tăng hiệu quả đầu tư. Trong các điều kiện và chính sách hạ tầng phục vụ FDI,
chính sách đất đai và bất động sản có sức chi phối mạnh mẽ đến các luồng FDI
đổ vào Việt Nam; nếu giải quyết được ổn thoả những vướng mắc của lĩnh vực
này, cụ thể là việc giải phóng mặt bằng cho các dự án thì các nhà đầu tư sẽ
càng mở rộng hầu bao đầu tư lớn và lâu dài hơn nữa.
Việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng không chỉ là điều kiện cần để tăng
sự hấp dẫn của môi trường đầu tư mà đó còn là cơ hội để chúng ta có thể và có
khả năng thu lợi đầy đủ hơn từ dòng vốn nước ngo ài đã thu hút được (thông
qua thu nhập từ dịch vụ vận tải, thương m ại, tài chính, tư vấn thông tin phục
vụ các dự án đầu tư đang và sẽ triển khai).


3.3 Cải cách thủ tục hành chính
Lực cản lớn nhất làm nản lòng các nhà đầu tư là thủ tục hành chính
rườm rà, phiền phức gây tốn kém về thời gian và chi phí, làm mất cơ hội đầu
tư. Đây cũng chính là điểm yếu làm giảm lợi thế cạnh tranh của môi trường
đầu tư Việt Nam. Bộ máy hành chính hiệu quả quyết định sự thành công
không chỉ thu hút vốn nước ngoài mà còn của toàn bộ quá trình huy động, sử
dụng vốn cho đầu tư phát triển của quốc gia. Bộ máy đó phải thống nhất, gọn
nhẹ, sáng suốt và nhạy bén về chính sách với những thủ tục hành chính, những
quy định pháp lý có tính chất tối thiểu, đơn giản, công khai và nhất quán được




81
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



thực hiện bởi những cán bộ có trình độ chuyên môn cao, được giáo dục tốt và
có kỷ luật, tôn trọng pháp luật.
Để có thể xây dựng được một môi trường đầu tư hấp dẫn thoả mãn các
tiêu chí trên, trước hết chính phủ Việt Nam cần coi thu hút đầu tư nước ngoài
trong giai đoạn 2000 - 2010 là ưu tiên đặc biệt. Muốn vậy cần tạo ra sự hấp
dẫn đặc biệt về cạnh tranh với các nước lân cận như Trung Quốc, Thái Lan,
Indonesia, Malaysia...vốn là những thị trường đầu tư truyền thống của Hàn
Quốc nhằm thu hút lượng vốn FDI trước khi Việt Nam trở thành thành viên
WTO, tạo sức cạnh tranh cho nền kinh tế khi hội nhập đầy đủ với thế giới. Các
chính sách ưu đãi đ ầu tư phải được cụ thể hoá. Các chính sách ưu đãi như miễn
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, kể cả các dự án đầu tư mở rộng, chính sách
một giá, miễn giảm tiền thuê đ ất... cần được sửa đổi nhanh chóng linh hoạt.
Không nên quy định thời gian tồn tại của dự án. Không vì sự vi phạm của một
vài doanh nghiệp hay một vài nhà đầu tư mà thắt chặt thêm các quy đ ịnh luật
lệ làm khó khăn hơn cho số đông các doanh nghiệp và nhà đầu tư khác.
Mặt khác cần xây dựng quy hoạch tổng thể đầu tư ở V iệt Nam. Nên
chăng chính phủ nên lập bản đồ quy hoạch về đầu tư, kể cả đầu tư trong và
ngoài nước trên từng lĩnh vực, từng nhóm mặt hàng với nguyên tắc không hạn
chế số lượng dự án sản xuất hàng xuất khẩu; chỉ hạn chế về số lượng, quy mô
dự án sản xuất hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu thụ nội địa để tránh hỗn loạn
cung cầu trên thị trường, tránh lãng phí đầu tư. Các đ ịa phương được phân cấp
và chủ động cấp giấy phép đầu tư nhưng phải tuân thủ quy hoạch về đầu tư để
tránh rối loạn thị trường nội địa, gây khó khăn cho điều hành của chính phủ và
thiệt hại cho nhà đầu tư. Chính phủ Việt Nam cần dành sự quan tâm hơn nữa
đến các công ty FDI đang hoạt động tại Việt Nam vì theo kinh nghiệm các nhà
đầu tư mới trước khi quyết định đầu tư vào Việt Nam đều tham khảo ý kiến
nhận xét của lãnh đạo các công ty FDI đang hoạt động tại Việt Nam. Họ coi
đánh giá, nhận xét này là khách quan và là chỉ tiêu quan trọng nhất khi đi đến


82
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



quyết định cuối cùng. Vì vậy, chính phủ cần quan tâm giải quyết những vướng
mắc, khó khăn và cùng các doanh nghiệp này tháo gỡ ngay các rào cản. Cụ thể
như hiện nay các nhà đầu tư, nhà quản lý nước ngoài chỉ được cấp visa có thời
hạn 6 tháng (được gia hạn khi hết hạn). Theo họ thời hạn này là quá ngắn trong
khi đó việc xin gia hạn lại là cả một vấn đề, gây nhiều khó khăn cho hoạt động
kinh doanh ở V iệt Nam. Do đó chính phủ nên quan tâm nghiên cứu kéo dài
thời hạn này, có thể là 1 năm để các nhà đ ầu tư yên tâm hợp tác đầu tư tại Việt
Nam.


3.4. Nâng cao trình độ của các doanh nghiệp Việt Nam để thực hiện liên
doanh, liên kết có hiệu quả
Đội ngũ nhân lực có kỹ thuật cao là một trong những điều kiện hàng đầu
để một nước trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngo ài. Việc thiếu các nhân
lực kỹ thuật lành nghề, các nhà lãnh đạo, quản lý cao cấp, các nhà doanh
nghiệp tài ba cùng với sự lạc hậu về trình độ khoa học công nghệ trong nước
sẽ khó lòng đáp ứng được các yêu cầu của nhà đầu tư để triển khai các dự án
của họ. ở Việt Nam lao động giản đơn dư thừa quá nhiều, trong khi đó lại thiếu
các chuyên viên có trình độ kỹ thuật, quản lý cao. Do cung không đủ cầu nên
tiền lương trả rất cao làm cho môi trường đầu tư kém hấp dẫn. Trong khi đó,
Hàn Quốc nổi tiếng là nước có lực lượng lao động quy củ vào bậc nhất thế
giới. Những bất cập của lao động Việt Nam chắc chắn sẽ ảnh hưởng không tốt
đến quyết định bỏ vốn đầu tư của những nhà đầu tư Hàn Quốc.
Một hệ thống doanh nghiệp trong nước phát triển, đủ sức tiếp thu công
nghệ chuyển giao và là đ ối tác ngày càng bình đẳng với các nhà đầu tư nước
ngoài là điều kiện cần thiết để có thể thu hút được nhiều hơn và hiệu quả hơn
luồng vốn nước ngoài. Hệ thống các doanh nghiệp đó phải bao gồm cả những
doanh nghiệp sản xuất lẫn dịch vụ ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề và thành
thạo các nghiệp vụ kinh doanh quốc tế, đủ sức giữ được thị phần thích đáng tại


83
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



thị trường trong nước và ngày càng có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Mạng lưới các doanh nghiệp dịch vụ về tài chính - ngân hàng có vai trò quan
trọng trong hệ thống đó, nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi cho việc huy động
và lưu chuyển vốn trong nước và quốc tế.


4. Giải pháp cho quan hệ xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là một nội dung quan trọng của quốc gia về việc
làm, là một hoạt động kinh tế xã hội góp phần tăng nguồn nhân lực đáp ứng
nhiệm vụ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Trong khi đó H àn Quốc
được biết đến như là một thị trường nhập khẩu lao động tiềm năng. Đây là thị
trường tiếp nhận số lượng khá lớn lao động từ 14 nước Châu á theo hình thức
tu nghiệp sinh, trong đó có Việt Nam. Do vậy để tăng cường xuất khẩu lao
động sang thị trường này chúng ta cần thực hiện một số giải pháp sau:




4.1. Sửa đổi, bổ sung cơ ch ế, chính sách
Chính phủ cần sớm có biện pháp sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách để
khắc phục những tồn tại hiện hành. Trước hết cần phân cấp quản lý, làm rõ và
tăng cường trách nhiệm của cơ quan chủ quản đối với doanh nghiệp, trách
nhiệm của chính quyền địa phương đối với hoạt động tuyển chọn lao động
xuất khẩu trên địa bàn. Về phía doanh nghiệp chỉ cho phép các doanh nghiệp
có đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế tham gia xuất khẩu lao động
và chuyên gia. Giao quyền tự chủ rộng rãi cho các doanh nghiệp. Giao trách
nhiệm đào tạo lao động cho doanh nghiệp. Chính phủ có thể nghiên cứu nâng
tiêu chuẩn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động như nâng điều kiện về
vốn điều lệ lên 7 tỷ đồng, phải có ít nhất và cán bộ có trình độ đại học chuyên
ngành và ngoại ngữ, qui định doanh nghiệp phải có cơ sở đào tạo và dành một
phần chi phí cho đào tạo lao động. Để khuyến khích người lao động sang làm


84
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



việc tại nước ngoài, đặc biệt là sang thị trường H àn Quốc cần có những chính
sách như giảm chi phí cho người lao động, sửa đổi cơ chế tham gia bảo hiểm
xã hội đối với người lao động. Phía H àn Quốc đã có lần yêu cầu các doanh
nghiệp Việt Nam thu lệ phí phái cử trong giới hạn cho phép nhằm giảm bớt
khó khăn cho người lao động, nói chung nên thu ít hơn giới hạn tối đa cho
phép. Bên cạnh đó, chính phủ cần thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động
trên cơ sở đóng góp của doanh nghiệp, người lao động và Nhà nước.


4.2. Chuẩn bị nguồn lao động xuất khẩu sang Hàn Quốc
Để xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc thực sự có hiệu quả các doanh
nghiệp cần căn cứ vào nhu cầu lao động của thị trường này và khả năng ký kết
hợp đồng để lập kế hoạch xuất khẩu lao động hàng năm và dài hạn. Hiện nay
các doanh nghiệp nhỏ trên thị trường này đang thiếu hụt nhân công trầm trọng
kể từ khi chính phủ H àn Quốc thông qua lệnh cưỡng chế xuất cảnh đối với lao
động nước ngoài bất hợp pháp. Tỷ lệ thiếu hụt năm 2002 là 9,36% trong tổng
số 5 - 300 lao động biên chế của một doanh nghiệp, năm 2003 thiếu hụt
kho ảng 300.000 nhân công và dự tính năm 2004 vẫn tiếp tục thiếu hụt. Do đó
các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động phối hợp với các địa phương để
chuẩn bị nguồn lao động đưa vào đào tạo chuyên môn, ngoại ngữ phù hợp với
yêu cầu của thị trường này.
Công tác tuyển chọn lao động xuất khẩu đi Hàn Quốc cũng còn nhiều
bất cập. Hiện nay các công ty được quyền xuất khẩu lao động Việt Nam sang
Hàn Quốc thường không tiếp xúc trực tiếp tuyển tu nghiệp sinh bằng thông
báo trên báo chí mà thông qua môi giới, do đó tạo điều kiện cho các đường dây
môi giới nâng cao các tiêu cực phí. Điều này ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam và làm giảm lòng tin của
KFSB. Thậm chí KFSB còn khuyến cáo nếu đơn vị nào thu phí tu nghiệp sinh
quá nhiều mà không rõ lí do hoặc thông qua môi giới để tuyển chọn sẽ bị xử lí


85
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



nghiêm khắc. Do vậy để lấy lại uy tín c ủa mình doanh nghiệp cần có những
thông báo công khai trên báo chí về tiêu chuẩn tuyển chọn, số tiền phải nộp và
những chi phí cần thiết cho một lao động muốn sang làm việc ở H àn Quốc.
Bên cạnh đó bản thân các công ty xuất khẩu lao động cũng cần thường xuyên
thanh lọc nội bộ để phát hiện các đường dây môi giới để có những biện pháp
xử lý kịp thời.


4.3. Nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu sang Hàn Quốc
Đối với riêng thị trường H àn Quốc việc nâng cao chất lượng lao động về
tay nghề và ngoại ngữ là hết sức cần thiết. Không phải ngẫu nhiên mà đã gần
chục năm kể từ khi người lao động Việt Nam đầu tiên sang Hàn Quốc cho đến
nay KFSB vẫn phải nhắc nhở các doanh nghiệp ta chấn chỉnh lại khâu đào tạo,
đặc biệt là ngoại ngữ. Điều này cũng một phần là do có không ít những doanh
nghiệp coi việc đào tạo như một thủ tục hành chính, thậm chí còn xem đ ây là
một hoạt động làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thêm vào đó hiện nay
KFSB đã đưa ra quy định trong hồ sơ của tu nghiệp sinh gửi cho KFSB phải
bao gồm cả bản copy b ài kiểm tra ngoại ngữ tiếng Hàn và bài kiểm tra giáo
dục định hướng tiếng Hàn. Thí sinh tốt nghiệp phải viết, nói nghe được tiếng
Hàn cơ bản, biết các số cơ bản. KFSB sẽ kiểm trong lại khi sang Hàn Quốc.
Do đó trong thời gian tới các doanh nghiệp cần phải thành lập các cơ sở đào
tạo đồng thời kết hợp với các trường đào tạo nghề để đ ào tạo nguồn lao động
theo cơ chế trường cung cấp nguồn lao động có chất lượng cho doanh nghiệp
và doanh nghiệp tạo đầu ra cho trường trên cơ sở nhu cầu thị trường. Có như
thế công tác đào tạo mới thực sự có hiệu quả. Bên cạnh đó Nhà nước và doanh
nghiệp cũng cần cung cấp thông tin về nhu cầu, điều kiện thị trường và tiêu
chuẩn lao động thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và cơ quan lao
động địa phương để định hướng cho người lao động tự học nghề, ngoại ngữ.




86
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Tình trạng tu nghiệp sinh Việt Nam ở Hàn Quốc bỏ hợp đồng và hết hạn
hợp đồng không về còn khá phổ biến. Đây là dư luận xấu ảnh hưởng rất nhiều
đến triển vọng quan hệ xuất khẩu lao động giữa hai nước. Nhưng cách thức
ngăn chặn hiệu quả nhất không phải là ràng buộc chặt hơn người lao động với
doanh nghiệp. Mấu chốt là ở chỗ ý thức của các b ên tham gia quan hệ lao
động, đơn vị phái cử và người lao động. Nên chăng các doanh nghiệp xuất
khẩu lao động hãy chuyển sang mô hình hoạt động như một đ ơn vị môi giới
thuần tuý thay vì phải chăm bẵm người lao động trong suốt thời gian của hợp
đồng. Doanh nghiệp chỉ đóng vai trò trung gian còn người lao động và chủ sử
dụng trực tiếp kí hợp đồng ràng buộc và chịu trách nhiệm với nhau. Nhưng
trước mắt thiết nghĩ vẫn cần những biện pháp nhằm nâng cao ý thức chấp hành
pháp luật, thực hiện các điều khoản của hợp đồng lao động xuất khẩu sang Hàn
Quốc từ phía chính phủ và bản thân các doanh nghiệp.




KẾT LUẬN


Nhìn lại 11 năm kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc, cùng với những
biến động to lớn và sâu sắc trên toàn thế giới và khu vực châu Á - Thái Bình
Dương, quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đã có những bước phát triển đầy ý
nghĩa và rất đáng khích lệ. Hai nước đã thiết lập và củng cố mối quan hệ hợp
tác trên nhiều lĩnh vực trong đó chiếm vị trí nổi bật nhất là hoạt động kinh tế,
thương mại, đầu tư. Chỉ trong vòng hơn 10 năm, Hàn Quốc đ ã vươn lên thành
nước bạn hàng đứng thứ 4, nước đầu tư đứng thứ 4 và một trong những nước



87
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



viện trợ phát triển hàng đầu cho Việt Nam. Nhân dân hai nước ngày càng hiểu
biết và tin cậy lẫn nhau.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu nổi bật, quan hệ hai nước thời kì
này cũng còn nhiều hạn chế, khó khăn. Đó là: Việt Nam nhập siêu còn lớn
trong quan hệ thương mại, là sự xung đột giữa chủ và thợ trong một số công ty
có vốn của Hàn Quốc đầu tư vào Việt Nam, là tình trạng bỏ việc để ra ngoài
làm của một số công nhân Việt Nam tại Hàn Quốc…Đây thực sự là những rào
cản cần sớm được khắc phục trong quan hệ giữa hai nước.
Xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức mạnh mẽ,
nhanh chóng và rộng khắp. Nó cuốn tất cả các quốc gia trong nền kinh tế thế
giới vào guồng quay của mình và sẵn sàng bỏ lại đằng sau những quốc gia
chậm thích ứng. Hàn Quốc và Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Phải vươn lên để hội nhập là xu thế tất yếu, mà việc làm thiết thực đầu tiên
chính là thúc đẩy quan hệ hữu nghị hợp tác Việt Nam – Hàn Quốc lên một tầm
cao mới - ngày càng sâu sắc, toàn diện và tốt đẹp hơn.




LỜI MỞ ĐẦU



Chiến lược phát triển theo mô hình “đàn ngỗng bay” những năm trước
đây ở Đông Á đã làm cho thương mại và đầu tư mở rộng nhanh chóng, tạo nên
tình trạng phụ thuộc rất cao giữa các nền kinh tế trong khu vực. Kể từ đó cho
đến nay, trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động với cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ châu á 1997, ảnh hưởng ngày càng lớn của EU và NAFTA đối
với khu vực và đặc biệt là xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh


88
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



mẽ thì sự phụ thuộc này càng trở nên chặt chẽ hơn bao giờ hết. Chính vì vậy
sự ra đời và phát triển của ngày càng nhiều các liên kết như ASEAN, ASEAN
+ 3, ASEAN + 1là tất yếu. Quan hệ Việt Nam – H àn Quốc cũng nằm trong số
đó. Nhận thức được tầm quan trọng của hợp tác song phương Việt Nam – Hàn
Quốc em đã chọn đề tài: “Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – H àn Quốc
trong xu thế hội nhập hiện nay” cho khoá luận tốt nghiệp của mình.

Mục đích nghiên cứu: Mục đích của bài viết là nghiên cứu chính sách
quan hệ kinh tế quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay được cụ thể hoá
trong quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Hàn Quốc, tổng kết và đánh giá
thực tiễn quan hệ này thời gian qua, từ đó xác định phương hướng và đề xuất
một số giải pháp nhằm thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị hợp tác Việt Nam –
Hàn Quốc.

Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: Do tính chất hạn chế của khoá luận
nên bài viết chỉ xin đề cập đến quan hệ Việt Nam - H àn Quốc trên lĩnh vực
kinh tế - thương m ại trong đó bao gồm quan hệ mậu dịch, quan hệ đầu tư, quan
hệ xuất khẩu lao động.

Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện được để tài này, em đ ã sử dụng
các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp thống kê, phân tích,
tổng hợp số liệu, phương pháp so sánh...




Bố cục của đề tài: Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài viết được trình
bày thành 3 chương:
Chương I: Quan hệ kinh tế quốc tế và chính sách quan hệ kinh tế quốc tế
của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Chương II: Thực trạng quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Hàn
Quốc giai đoạn 1992 – 2003.


89
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



Chương III: Triển vọng và giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế thương
mại Việt Nam – Hàn Quốc.


Em xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Văn Hồng đã tận tình hướng
dẫn và giúp đỡ em ho àn thành khoá luận này. Khoá luận này mới là bước đầu
em làm quen với công tác nghiên cứu, do đó không thể tránh khỏi những thiếu
sót trong việc triển khai đề tài. Em mong nhận được sự thông cảm của quí
Thầy Cô và các bạn sinh viên.




90
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



TÀI LIỆU THAM KHẢO



1. Giáo trình “Quan hệ kinh tế quốc tế - Lí thuyết và thực tiễn”; GS - PTS Tô
Xuân Dân, PTS Vũ Chí Lộc; Nhà xuất bản Hà nội 1997.

2. Giáo trình “Kinh tế Ngoại thương” -Vũ Hữu Tửu – N hà xuất bản giáo dục
và đào tạo 2002.

3. Sách tham khảo “Hàn Quốc – câu chuyện kinh tế về một con rồng” – Hoa
Hữu Lân – Nhà xuất bản H à nội 2002.

4. Thông tin công tác tư tưởng – Ban tư tưởng văn hoá trung ương Đảng Cộng
Sản Việt Nam – Số 5/2001.

5. Bài “Quan hệ Việt Nam – H àn Quốc, một thập niên phát triển đầy ý nghĩa”
– H à H ồng Hải - Tạp chí nghiên cứu quốc tế – Số 50 – 2003.

6. Bài “Quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc” – Phạm Minh Sơn, Chung Yoon Jae –
Tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á tháng 3/ 2003.

7. Bài “Nhìn lại quan hệ 10 năm Việt Nam – Hàn Quốc” – Nguyễn Cảnh Huệ,
Nguyễn Trinh Nghiệu – Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á tháng 2/ 2003.

8. Bài “Việt Nam – Hàn Quốc thúc đẩy hợp tác phát triển kinh tế” – Hải
Dương – Thông tin kinh tế châu á - Thái Bình Dương 5/10/2003.

9. Bài “ Chủ tịch quốc hội Hàn Quốc sang thăm Việt Nam” – Thời báo kinh tế
Việt Nam – Số 158 – 3 /10/2003.

10. Bài “Nhà đầu tư Hàn Quốc quan tâm tới Việt Nam” – Thời báo kinh tế
Việt Nam – Số 160 – 6 /10/2003.

11. Bài “Ký 4 văn kiện hợp tác Việt Nam – Hàn Quốc” – Kinh tế Việt Nam –
Số 38 – 23/9/2003




91
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Quan hÖ kinh tÕ, th­¬ng m¹i ViÖt nam–Hµn quèc
tro ng xu thÕ héi nhËp hiÖn nay



12. Bài “Việt Nam đ ã tạo lòng tin cho chúng tôi” – Kinh Tế Việt Nam – Số 40
– 7/10/2003.

13. Bài “Một số điều cần biết khi thâm nhập thị trường Hàn Quốc” – Tạp chí
Ngoại Thương – Số 1-10/5/2002, Số 11-20/5/2003.

14. Bài “Kim ngạch mậu dịch Việt Nam – H àn Quốc tiếp tục tăng mạnh” –
Tạp chí Ngoại Thương – Số 1-10/8/2003.

15. Các trang web

www.dei.go v.vn

www.mpi.gov.vn

www.mot.gov.vn

www.mofa.gov.vn

www.vneconomy.com.vn

www.vnepress.net

www.vir.com.vn

www.netnam.com.vn

www.fpt.vn




92

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản