LUẬN VĂN: Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn hiện nay

Chia sẻ: dellvietnam

Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, đồng thời cũng là một thực thể xã hội ra đời từ hàng nghìn năm nay và sẽ tồn tại cùng với loài người trong một thời gian khó đoán định. Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia. Vào những năm gần đây, tình hình tôn giáo trên thế giới có nhiều diễn biến phức tạp....

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn hiện nay

LUẬN VĂN:


Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn

giáo ở Lạng Sơn hiện nay
Mở đầu


1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, đồng thời cũng là một thực thể xã hội ra đời từ
hàng nghìn năm nay và sẽ tồn tại cùng với loài người trong một thời gian khó đoán định.
Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính
trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý, đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc,
nhiều quốc gia.
Vào những năm gần đây, tình hình tôn giáo trên thế giới có nhiều diễn biến phức
tạp. Nằm trong dòng chảy của lịch sử nhân loại, Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo,
bên cạnh các tôn giáo lớn có tổ chức với số lượng tín đồ đông đảo còn có các sinh hoạt
tín ngưỡng dân gian truyền thống. Tôn giáo đã và đang trở thành nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân, các hoạt động của tôn giáo được khôi phục và phát triển mạnh
mẽ, số người theo tôn giáo ngày càng tăng. Hiện nay, ngoài xu hướng hành đạo đồng
hành cùng dân tộc, thuần túy tôn giáo, tuân thủ Hiến pháp, pháp luật cũng đã xuất hiện
các hoạt động tôn giáo không bình thường, có phần lấn lướt chính quyền, vi phạm một số
qui định của Nhà nước về hoạt động tôn giáo: Một số chức sắc tôn giáo ngấm ngầm hoạt
động chống đối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, có tư tưởng vọng ngoại,
tìm mọi cách cung cấp thông tin sai lệch về tình hình tôn giáo ở trong nước; Hội thánh
Tin lành Việt Nam (miền Bắc) đã từ chối không tham gia lễ diễu hành cùng các tổ chức
tôn giáo trong dịp lễ Quốc khánh 2/9/2005 với lý do là Nhà nước đối xử không bình đẳng
với Hội thánh, gây hiệu ứng tiêu cực về chính trị; các tổ chức tôn giáo, nhất là đạo Tin
lành gia tăng các hoạt động truyền đạo vào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số; một số tôn giáo lợi dụng việc đòi lại đất đai cơ sở thờ tự để có những hoạt động
chống đối chính quyền, gây khiếu kiện rất phức tạp, hoặc gây điểm nóng tôn giáo; có
giáo phái đòi tách khỏi Giáo hội và sự quản lý của Nhà nước; nhiều tổ chức đội lốt tôn
giáo nhằm tập hợp lực lượng chống lại chính quyền, tạo cớ để các thế lực thù địch bên
ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta… Trước tình hình đó, Đảng và Nhà
nước ta đã xác định phải tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo để
vừa đảm bảo nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh chống
địch lợi dụng tôn giáo để đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc.
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc có vị trí chiến lược về địa chính trị, kinh
tế, an ninh quốc phòng. Là địa đầu biên cương của Tổ quốc, đây cũng là một trong những
địa bàn trọng điểm mà các thế lực thù địch tập trung hoạt động chống phá.
Số lượng tôn giáo ở Lạng Sơn có qui mô không lớn, hiện nay chỉ có ba tôn giáo
chính: Phật giáo, Công giáo và Tin lành. Nhìn chung các tín đồ theo đạo đại bộ phận là
những người dân sống tốt đời đẹp đạo. Đường hướng chung của các tôn giáo ở Lạng Sơn
hiện nay đều tập trung củng cố đức tin, tuyên truyền phát triển đạo. Song ở Lạng Sơn,
điều cần quan tâm là sự phát triển của đạo Tin lành. Tin lành được truyền vào Lạng Sơn
từ năm 1938, chủ yếu tập trung ở khu vực đồng bào dân tộc Dao sinh sống (huyện Bắc
Sơn). Thời gian qua sự phát triển của đạo Tin lành ở khu vực này đã gây những ảnh
hưởng tiêu cực về nhiều mặt, xáo trộn cuộc sống bình thường của người dân, gây chia rẽ
đoàn kết nội bộ các dân tộc thiểu số, giữa người theo và không theo đạo Tin lành. Đáng
chú ý là những phần tử xấu vì lợi ích cá nhân hoặc bất mãn đã lợi dụng đạo Tin lành để
chia rẽ quần chúng với Đảng, Chính quyền hoặc cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dân
của tín đồ.
Trong những năm vừa qua, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở
Lạng Sơn đã có nhiều tiến bộ và đạt được một số kết quả nhất định. Nhưng bên cạnh đó
cũng còn một số tồn tại: Một bộ phận cán bộ đảng viên nhận thức về chủ trương, chính
sách của Đảng, Nhà nước đối với tôn giáo còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cấp, các
ngành còn thiếu tập trung và đồng bộ; việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo
còn kéo dài, gây tâm lý phản cảm cho quần chúng tín đồ và các chức sắc tôn giáo, tạo ra
những sơ hở không đáng có cho một số phần tử xấu lợi dụng. Đặc biệt việc thực hiện
chức năng quản lý nhà nước đối với tôn giáo của chính quyền ở nhiều lúc, nhiều nơi, nhất
là ở cơ sở còn quá cứng nhắc; các đoàn thể nhân dân vùng đồng bào có đạo nói chung
hoạt động còn kém hiệu quả; công tác xây dựng lực lượng cốt cán, đào tạo bồi dưỡng cán
bộ làm công tác tôn giáo còn chưa được quan tâm đúng mức; việc thực hiện Chỉ thị số 01
của Thủ Tướng Chính phủ “Về một số công tác đối với đạo Tin lành” còn gặp nhiều khó
khăn, nhận thức đối với tôn giáo và hoạt động tôn giáo của đảng ủy, chính quyền ở một số
nơi còn chưa thống nhất.
Trước tình hình đó, Tỉnh ủy đã quan tâm và tăng cường chỉ đạo công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Một mặt nhằm nâng cao nhận thức về tín ngưỡng,
tôn giáo, vai trò của nó trong đời sống tinh thần của nhân dân và trong sự nghiệp phát
triển kinh tế, xã hội của tỉnh nhà; mặt khác để thực hiện đầy đủ, nghiêm túc đường lối
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo và hoạt động tôn
giáo, chống mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, cản
trở sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Từ tình hình đặt ra nói trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Quản lý Nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn hiện nay” để làm luận văn thạc sĩ khoa học tôn giáo. Hy
vọng rằng với đề tài này, tôi sẽ góp sức vào một vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn cấp
bách không chỉ trước mắt mà còn lâu dài đối với công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn
giáo trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

2. Tình hình nghiên cứu
Quản lý Nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về tôn giáo nói riêng là một trong
những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Vì vậy, từ khi có Nghị quyết 24- NQ/TW (năm
1990) của Bộ Chính Trị, việc đi vào nghiên cứu tôn giáo, đề ra chủ trương chính sách đối
với tôn giáo ngày càng được quan tâm ở nhiều góc độ khác nhau trên bình diện cả nước,
thể hiện ở nhiều công trình như: GS Đặng Nghiêm Vạn (2003), Lý luận về tôn giáo và
tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nhà xuất bản CTQG; PGS. TS Nguyễn Đức Lữ - Chủ
nhiệm đề tài (2002) Đổi mới chính sách tôn giáo và Nhà nước quản lý tôn giáo hiện nay-
những bài học kinh nghiệm và kiến nghị cụ thể, Đề tài nhánh thuộc đề tài cấp Nhà nước;
TS Ngô Hữu Thảo-Chủ nhiệm đề tài (1998), Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo
trong thời kỳ mở rộng giao lưu quốc tế và phát triển kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ; TS Hoàng Minh Đô - Chủ
nhiệm đề tài (2002), Đạo Tin lành ở Việt Nam- Thực trạng, xu hướng phát triển và những
vấn đề đặt ra hiện nay trong công tác lãnh đạo, quản lý, Thuộc đề tài độc lập cấp Nhà
nước; Trung tâm Tư liệu- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (1995), Tôn giáo,
Tín ngưỡng hiện nay- Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp thiết,…
Về vấn đề liên quan trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo có các đề tài sau: TS Nguyễn Hữu Khiển (2001), Quản lý nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo trong điều kiện xây dựng Nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện
nay, Nxb Công an nhân dân; TS Trần Minh Thư (2005), “Quản lý nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo là một yêu cầu khách quan”, Tạp chí Công tác tôn giáo số 3; Lê Minh
Quang (2000), Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lâm Đồng hiện nay- Vấn
đề và giải pháp, Luận văn thạc sĩ khoa học tôn giáo; Võ Thị Mộng Thu (2001), Vấn đề
quản lý nhà nước đối với hoạt động Công giáo ở Đồng Nai hiện nay, Luận văn Thạc sĩ
khoa học tôn giáo và một số luận văn của các lớp Cử nhân chính trị, Cao cấp chính trị tại
Học viện CTQG Hồ Chí Minh viết về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo ở một số tỉnh, thành trong cả nước,…
Những công trình trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề tôn
giáo và quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Các công trình đó sẽ được tác giả kế
thừa sử dụng làm nguồn tài liệu tham khảo trực tiếp cho đề tài luận văn này.
ở tỉnh Lạng Sơn, vì nhiều lý do khác nhau nên hiện nay vấn đề nâng cao hiệu quả
công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo chưa có đề tài nào đi sâu
nghiên cứu cụ thể, vấn đề mới chỉ được đề cập trong các báo cáo tổng kết của Ban Dân
vận Tỉnh ủy, Phòng tôn giáo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh… qua các năm. Vì vậy
hướng đề tài mà tôi lựa chọn, hy vọng sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề quản lý nhà nước đối
với hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn hiện nay, đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn
* Mục tiêu:
Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh
Lạng Sơn, từ đó đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
* Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể như sau:
Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo.
Hai là, làm rõ tình hình thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo ở tỉnh Lạng Sơn.
Ba là, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong tình hình mới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Là công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Lạng
Sơn.
* Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn từ sau khi có
Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ Chính Trị về đổi mới công tác tôn giáo trong tình hình
mới (từ năm 1990 đến nay).

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận và thực tiễn:
Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo và quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo. Luận văn cũng xuất phát từ thực tiễn quản lý nhà nước
đối với tôn giáo ở tỉnh Lạng Sơn thời gian qua.
* Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như: Phương
pháp lịch sử và lôgíc, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp so sánh, phương
pháp phân tích, thống kê và tổng hợp, đặc biệt chú trọng đến phương pháp tổng kết thực
tiễn.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Trên cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, bước đầu luận
văn làm sáng tỏ một số vấn đề cấp bách đang đặt ra trong quản lý nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo ở tỉnh Lạng Sơn.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị cơ bản có tính khả thi góp phần nâng cao
hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay.
7. ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để xây dựng chủ trương,
biện pháp và nâng cao hiệu quả quản lý nhà n ước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Lạng
Sơn.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập tại trường
Chính trị tỉnh.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được chia ra làm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1
Một số vấn đề Lý luận về quản lý nhà nước
đối với hoạt động tôn giáo và tình hình tôn giáo
ở lạng sơn


1.1. Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở
nước ta
Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một nhiệm vụ quan trọng của công
tác tôn giáo. Các quan điểm, đường lối của Đảng về công tác tôn giáo qua các thời kỳ
lịch sử đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của lĩnh vực này. Nghị quyết số 25-NQ/TW
ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo tiếp
tục khẳng định cần “Tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo” [ 31, tr.53].
Để nhận thức tốt công tác quản lý nhà n ước đối với hoạt động tôn giáo, về mặt lý
luận cần phải nhận thức rõ một số vấn đề cơ bản sau đây.

1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm quản lý
Hoạt động quản lý đã xuất hiện từ lâu, nhưng thuật ngữ “quản lý” cho đến nay vẫn
còn nhiều cách hiểu khác nhau. Tùy từng mục tiêu và dưới các góc độ nghiên cứu, người
ta có thể đưa ra những quan niệm khác nhau về quản lý. Có quan điểm coi quản lý là quá
trình bao gồm các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra những nỗ lực của các
thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác nhau của tổ chức để đạt
được mục tiêu đã định trước. Cũng có quan điểm cho rằng quản lý là sự tác động định
hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù
hợp với những qui luật nhất định.
Mặc dù có nhiều quan niệm, song thuật ngữ quản lý được thống nhất ở hai nội dung
chủ yếu sau:
Thứ nhất, quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của chủ thể quản
lý tới đối tượng quản lý.
Thứ hai, mục tiêu của quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt động phù
hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước.
Nói đến quản lý trước hết là sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của chủ thể quản lý
tới đối tượng quản lý. Sự tác động này không mang tính đơn lẻ, tự phát mà nó mang tính tổ
chức, tính mục đích rõ ràng. Mục đích mà chủ thể quản lý đặt ra là hướng đối tượng quản lý
hoạt động phù hợp với ý chí của mình.
Từ hai nội dung nêu trên có thể đưa ra khái niệm về quản lý: “Quản lý là sự tác
động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được
mục tiêu đã được đặt ra từ trước” [8, tr.21].

1.1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước
Hoạt động quản lý xuất hiện từ lâu và bao gồm nhiều loại, trong đó quản lý xã hội
là một dạng quản lý đặc biệt. Quản lý xã hội được đặt ra từ khi lao động của con người
bắt đầu được xã hội hóa. Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều khiển,
hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người phù hợp với ý chí của
chủ thể quản lý và qui luật khách quan. Quản lý xã hội do nhiều chủ thể tiến hành. Khi
Nhà nước xuất hiện, những công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do Nhà nước đảm
nhiệm.
Quản lý nhà nước hiện nay được hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, sử dụng quyền
lực Nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người do
tất cả các cơ quan Nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) tiến hành để thực hiện các
chức năng của Nhà nước đối với xã hội.
Nghĩa hẹp : Qu ản lý nhà n ước là dạng quản lý xã hội mang quyền lực Nhà n ước
với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các c ơ quan
trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp).
1.1.1.3. Tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, xã hội xuất hiện từ lâu trong lịch sử, có tài liệu
thống kê đến nay có hàng trăm khái niệm về tôn giáo, tùy cách tiếp cận và mục tiêu
nghiên cứu khác nhau người ta đưa ra những khái niệm khác nhau về tôn giáo.
- Quan điểm trước Mác về tôn giáo:
Trước khi xuất hiện đạo Kitô, bên cạnh những hình thức tôn giáo sơ khai, việc các
nhà nước độc lập sùng bái các vị thần rất phổ biến, với những nghi thức và niềm tin có
quan hệ đến cái thiêng liêng. Con người vừa kính trọng, vừa sợ hãi những lực lượng siêu
nhiên, nên họ đã thực hiện những nghi lễ hiến tế nhằm tỏ lòng tôn kính và cầu xin sự che
trở, giúp đỡ của đấng siêu nhiên tối cao, để làm “tăng thêm sức mạnh của bản thân và của
cộng đồng, vượt qua một cách thắng lợi những thách thức, khó khăn, hy vọng các thần
linh giúp đỡ để tránh những tai họa đang hoặc sẽ dẫn đến” [ 67, tr.22].
Khi tư tưởng nhà thờ thống trị những “đêm trường trung cổ” ở Châu âu đã bắt con
người tìm kiếm chỗ dựa tinh thần ở niềm tin tôn giáo, đó là sự phụ thuộc vào các bậc tiên
tri và các đấng siêu phàm. Trong tôn giáo con người thoát khỏi thời gian, vì tôn giáo là
lĩnh vực tri thức giải đáp mọi điều bí ẩn của thế giới quan, gạt bỏ mọi mâu thuẫn thầm
kín trong tư tưởng con người, do vậy tôn giáo là lĩnh vực của chân lý vĩnh cửu. Nhà triết
học cổ điển Đức Wil Helm Frie Hegel cho rằng tôn giáo là tri th ức thần thánh, là tri thức
của con người về thần thánh, vì vậy ông đã kết luận: Trong tôn giáo con người tự do
trước thần thánh, vì ý chí của con người hòa đồng với ý chí của Thượng đế.
L. Feuer bach, một đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật trước Mác đã đưa ra
luận điểm: Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ không phải tôn giáo sáng tạo ra con
người. Trong tác phẩm “ Bản chất của Ki tô giáo” ông đã cho rằng cái mà ý thức tôn giáo
quan niệm là Thượng đế không phải là cái gì khác hơn sự “phóng rọi” của chính bản thân
con người, con người suy nghĩ ra sao, tâm tư thế nào, thì Thượng đế của họ đúng như
vậy, con người có bao nhiêu giá trị thì Thượng đế cũng chỉ có bấy nhiêu. Từ Thượng đế
có thể suy ra con người, và từ con người có thể suy ra Thượng đế, Thượng đế là cái tự
thân đã được biểu hiện ở con người, tôn giáo là sự vén mở trang trọng những kho tàng ẩn
giấu của con người, là sự thừa nhận những ý nghĩ thầm kín nhất, là sự thú nhận công khai
những bí mật tình yêu của con người.
Quan điểm của L.Feuer bach là một bước tiến dài trong quá trình nhận thức tôn giáo
mà C.Mác đã kế thừa, song C.Mác đã chỉ ra rằng khi nhìn nhận về con người L.Feuer
bach có những hạn chế vì con người mà L.Feuer bach chỉ ra là con người trừu tượng,
chung chung chứ không đề cập đến “con người lịch sử thực sự”, chưa thấy được “tinh
thần tôn giáo” bản thân nó là sản phẩm xã hội và con người trừu tượng mà ông phân tích,
trên thực tế, bao giờ cũng thuộc về một hình thái nhất định, một cộng đồng người nhất
định.
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo:
C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin là nh ững vị lãnh tụ lỗi lạc của phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, các ông đã để
lại những tư tưởng lý luận quý báu về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, trong
đó có những nhận định khoa học và cách mạng về vấn đề tôn giáo.
Khi nghiên cứu về nguồn gốc của tôn giáo, C.Mác đã chỉ ra rằng:
Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự tri giác của con người chưa tìm thấy bản
thân mình hoặc lại đánh mất bản thân mình một lần nữa. Con người chính là
thế giới những con người, là Nhà nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản
sinh ra tôn giáo, không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người
sáng tạo ra tôn giáo. Tôn giáo biến bản chất con người thành tính hiện thực, ảo
tưởng, vì bản chất con người không có tính hiện thực thật sự. Tôn giáo là tiếng
thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim,
cũng giống như nó là tinh thần của những điều kiện xã hội không có tinh thần;
tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân [38, tr.58].
Còn trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph. Ăngghen đã đưa ra khái niệm về tôn
giáo “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc con
người, của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự
phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang những hình thức siêu trần thế” [
38, tr.13].
Với những nhận định như vậy, C.Mác và Ph. Ăngghen đã tìm được câu trả lời cho
các nhà tư tưởng đương thời là cái quyết định của sự phát triển xã hội loài người nói
chung, tôn giáo nói riêng chủ yếu là yếu tố kinh tế hay tinh thần. C.Mác và Ph. Ăngghen
đã cho rằng, cái quyết định của sự phát triển xã hội là yếu tố kinh tế, nhưng hai ông cho
đó không phải là yếu tố duy nhất. Chính trong bộ “Tư bản”, khi giải thích tại sao ở thời
cổ Hy Lạp, chính trị đóng vai trò chủ yếu, còn bước sang thời kỳ trung cổ ở Châu âu, thì
vai trò ấy lại do đạo Kitô nắm giữ, C.Mác cho rằng, chỉ có phân tích điều kiện kinh tế thì
mới giải đáp được câu hỏi đó.
Qua sự phản ánh của tôn giáo, những lực lượng tự phát của tự nhiên và xã hội trở thành
sức mạnh siêu nhiên có quyền uy tối thượng và đã tác động đến một cộng đồng, một nhóm
xã hội có tổ chức. Tôn giáo chỉ ra đời khi xuất hiện giai cấp và có đấu tranh giai cấp. Do đó
khi nói về tôn giáo, V.I. Lênin đã định nghĩa: “Tôn giáo là một trong những hình thức áp bức
về tinh thần, luôn luôn và bất cứ ở đâu cũng đè nặng lên quần chúng nhân dân khốn khổ vì
phải lao động suốt đời cho người khác hưởng, vì phải chịu cảnh bần cùng và cô độc” [65,
tr.169].
- Những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo đã được Chủ tịch Hồ Chí
Minh, Đảng và Nhà nước ta vận dụng sáng tạo trong điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam.
Qua đó đã phát huy được tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo trong
khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Động viên, khích lệ bà con giáo dân phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Tuy nhiên hiện nay ở nước ta, trong các văn bản pháp luật quản lý nhà nước về tôn
giáo chưa có tài liệu nào giải thích cụ thể về khái niệm này. Mặc dù việc giải thích khái
niệm tôn giáo chưa đồng nhất, song nói đến một tôn giáo hoàn chỉnh thì có mấy dấu hiệu
cơ bản sau:
+ Nói đến tôn giáo là nói đến cộng đồng người có chung niềm tin vào thế lực siêu
nhiên, huyền bí;
+ Có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi;
+ Có tổ chức hoạt động từ Giáo hội xuống cơ sở khá chặt chẽ.

1.1.1.4. Hoạt động tôn giáo
Điều 3, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo đã khẳng định: Hoạt động tôn giáo là việc
truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo [60, tr.2].
Truyền bá giáo lý, giáo luật (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền những lý lẽ
về nguồn gốc sự ra đời, luật lệ của tổ chức tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo,
niềm tin tôn giáo của tín đồ được củng cố, luật lệ trong tôn giáo của tín đồ được thực
hiện. Đối với những người chưa phải là tín đồ, hoạt động truyền đạo giúp họ hiểu, tin
theo tôn giáo và thông qua hoạt động truyền đạo để phát triển thêm số lượng tín đồ.
Thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạt động của tín đồ, nhà tu
hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật, thỏa mãn đức tin tôn giáo của cá
nhân tôn giáo hay cộng đồng tín đồ.
Hoạt động quản lý tổ chức tôn giáo (còn gọi là quản đạo) nhằm thực hiện qui định
của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trì trật tự,
hoạt động trong tổ chức tôn giáo.
Trong các hoạt động trên, việc phân định ranh giới giữa hoạt động truyền đạo với
hoạt động hành đạo cũng chỉ là tương đối, có không ít trường hợp trong hoạt động hành
đạo có hoạt động truyền đạo.
1.1.1.5. Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
Từ các khái niệm như đã trình bày ở phần trên, ta có thể đưa ra khái niệm về quản
lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo theo hai nghĩa như sau:
Nghĩa rộng: Là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền Lập pháp, Hành pháp,
Tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo qui định của pháp luật để tác động, điều chỉnh,
hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo
diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.
Nghĩa hẹp: Là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước, chức năng nhiệm
vụ của nhà nước, là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các
cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi
hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo qui định của pháp luật.

1.1.2. Yêu cầu khách quan của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở
nước ta hiện nay
Quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nói
riêng là công việc bình thường của mọi nhà nước, trong đó có Nhà nước cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
Trong quá trình quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo có một số quan điểm
cho rằng, hoạt động tôn giáo là hoạt động mang tính nội bộ của tôn giáo, nhà nước không
cần phải quản lý, nếu có sự quản lý của nhà n ước thì tự do tôn giáo sẽ không còn. Nhưng
thực tế hiện nay cho thấy, ở bất cứ quốc gia nào, nhà nước nào, ở đâu có hoạt động tôn
giáo thì ở đó có sự quản lý của nhà nước. Tuy nhiên ở mỗi quốc gia đều có sự điều chỉnh
khác nhau, nếu vì trật tự an toàn xã hội, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc thì sự quản lý,
điều chỉnh của nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là cần thiết.
Yêu cầu của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo không chỉ xuất phát từ ý
chí của nhà nước mà còn xuất phát từ thực tế khách quan của sự hình thành, tồn tại, phát
triển và những ảnh hưởng của tôn giáo trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Tôn giáo là
một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là thực thể xã hội, tôn giáo luôn biến động, phản
ánh sự biến đổi của lịch sử nhân loại. Tôn giáo ra đời từ những tiền đề kinh tế-xã hội, từ
nguồn gốc tâm lý và nhận thức, trong đó nguồn gốc kinh tế- xã hội giữ vai trò quyết định.
Khi những nguồn gốc làm phát sinh tôn giáo chưa được giải quyết, tôn giáo vẫn còn tồn
tại. Thừa nhận những thực tế khách quan này, một mặt nhà n ước cần tăng cường quản lý
các hoạt động của tôn giáo để tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp
luật theo phương châm “tốt đời, đẹp đạo”, mặt khác cần tôn trọng và bảo đảm quyền tự
do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân.
Tuy nhiên trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, tôn giáo ảnh hưởng khá sâu
sắc đến nhiều lĩnh vực thuộc đời sống xã hội của nhiều quốc gia. Tôn giáo có nhiều chức
năng đối với xã hội như chức năng thế giới quan, chức năng liên kết cộng đồng, chức
năng đền bù hư ảo, điều chỉnh hành vi đạo đức của con người,…Thực hiện các chức năng
này, tôn giáo đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, đoàn kết những người bị áp bức
trong cuộc đấu tranh chống lại những bất công của xã hội, khuyên răn con người hướng
thiện, làm điều nhân đức, tránh điều bất nghĩa, bất nhân “… tín ngưỡng, tôn giáo là nhu
cầu của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc
xây dựng xã hội mới” [18, tr.2].
Nhưng đồng thời tôn giáo cũng mang những hạn chế, tiêu cực, như hạn chế trong
việc nhận thức thế giới khách quan, các nhà kinh điển Mácxít đã chỉ ra “Nhưng tất cả mọi
tôn giáo chẳng qua là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con người” [38, tr.75]. Tôn
giáo thường bị những kẻ xấu lợi dụng vì mục đích chính trị đen tối, tôn giáo có khả năng
liên kết con người trong một cộng đồng cùng tín ngưỡng, nhưng cũng có thể đẩy người ta
đến chỗ nghi kị, đối đầu, hận thù và xung đột gây nên những thảm họa cho nhân loại…
Để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phát huy những mặt
tích cực, hạn chế những tiêu cực trong tôn giáo, nhà nước cần tăng cường công tác quản
lý, để các hoạt động tôn giáo diễn ra phù hợp với ý chí của nhà nước, phù hợp với sự phát
triển chung của xã hội và nhu cầu tâm linh tinh thần của quần chúng.
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, cần thiết phải tăng cường công tác
quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, xuất phát từ những lý do sau:
Thứ nhất, quá trình đổi mới ở đất nước ta đang diễn ra sâu rộng trên mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tôn giáo. Trong lĩnh vực tôn giáo, ngay khi hòa
bình được lập lại ở miền Bắc, Nhà nước ta đã khẳng định “Chính phủ bảo đảm quyền tự
do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được vi phạm quyền tự do ấy.
Mỗi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo
nào” [9, tr.112]. Trong những năm gần đây, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn
đề tôn giáo ngày càng rõ ràng và chứa đựng những nội dung mới, các Nghị quyết của
Đảng và chính sách của Nhà nước đều nhìn nhận “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh
thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn
dân tộc” [31, tr.48 ]. Đồng thời Đảng, Nhà nước ta đã khẳng định rõ: “Công dân có quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do
ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật” [45, tr.1].
Quán triệt những quan điểm chỉ đạo của Đảng, công tác quản lý nhà nước đối với
các hoạt động tôn giáo cần phải được tăng cường để đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp
đổi mới đất nước, đáp ứng các quá trình cải biến cách mạng trên tất cả các mặt, các lĩnh
vực của đời sống xã hội.
Thứ hai, thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở nước ta trong thời
gian vừa qua đã cho thấy, chính quyền và đội ngũ cán bộ có trách nhiệm ở một số nơi
chưa nhận thức đúng và quán triệt đầy đủ các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước về vấn đề tôn giáo. Trong quản lý có nơi còn chủ quan, nóng vội và đơn
giản khi giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến tôn giáo, dẫn đến vi phạm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; có nơi lại thụ động, buông lỏng quản lý dẫn tới các hoạt
động tôn giáo lấn lướt chính quyền, kỷ cương, phép nước không được giữ nghiêm.
Vì những lý do trên, cần phải tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo,
một mặt khắc phục được những lệch lạc, phiến diện trong công tác quản lý; mặt khác vừa đảm
bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và góp phần đưa các hoạt động của tôn
giáo theo đúng qui định của pháp luật.
Thứ ba, hiện nay trước yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước và yêu cầu xây
dựng, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống luật pháp về quản lý các hoạt động tôn giáo đang đặt
ra rất cấp thiết.
Nhà nước Việt Nam từ khi xây dựng theo con đường dân chủ, cộng hòa và sau này
là Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, thì hệ thống pháp luật chính là cơ sở cho quản lý
nhà nước đối với các hoạt động xã hội nói chung và đối với hoạt động tôn giáo nói riêng.
Ngày nay Nhà nước ta đang tiến hành đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa, nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội đã được luật hóa một cách cụ thể.
Trong đó quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo được Đảng và Nhà nước ta xác
định là những chính sách xã hội quan trọng, có tính đặc thù, vì vậy cải cách hệ thống
pháp luật quản lý các hoạt tôn giáo là một yêu cầu khách quan.
Hệ thống luật pháp về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một bộ phận
của hệ thống pháp luật Việt Nam. Hiện nay hệ thống pháp luật điều chỉnh các hoạt động
tôn giáo ở nước ta đã có những bước phát triển đáng kể, ngày càng hoàn thiện, cơ bản
đáp ứng được yêu cầu đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Cụ thể từ
khi có Nghị quyết 24-NQ/TW/1990 của Bộ Chính trị Về tăng cường công tác tôn giáo
trong tình hình mới ra đời, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản luật nhằm quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo. Đặc biệt năm 2004, Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo
được ban hành, đây là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất về quản lý và điều
chỉnh mọi hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo. Bên cạnh đó những qui định pháp lý liên
quan đến hoạt động tôn giáo còn nằm trong những qui định của văn bản pháp luật về dân
sự, về đất đai, về bảo tồn, bảo tàng, về xây dựng…Đây là những cơ sở pháp lý để Nhà nước
ta thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo và là những minh
chứng cụ thể đấu tranh với các thế lực thù địch vu cáo ta vi phạm tự do tôn giáo, vi phạm
nhân quyền, góp phần ngăn chặn hành vi lợi dụng tôn giáo.
Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay, “Hệ thống pháp luật về tôn giáo đang trong quá trình
hoàn thiện nên chưa bao quát hết được một số nội dung những hoạt động tôn giáo” [7
tr.17]. Vì vậy trước yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân, và trước yêu cầu của công tác tôn giáo hiện nay, việc xây dựng hệ thống pháp luật
về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cần tiếp tục được củng cố và hoàn thiện.
Thứ tư, xuất phát từ âm mưu và hoạt động triệt để lợi dụng các sơ hở thiếu sót của
ta trong quản lý nhà nước đối với tôn giáo và thực hiện chính sách tôn giáo của các thế
lực thù địch.
Hiện nay các Nghị quyết của Đảng, Nghị định, Pháp lệnh của Nhà nước đã qui định
cụ thể từng lĩnh vực của hoạt động tôn giáo. Nhưng do nhận thức của một số cán bộ đảng
viên chưa thống nhất, nên các giải pháp chỉ đạo và thực hiện đã nảy sinh nhiều ý kiến
khác nhau.
Việc xem xét sinh hoạt của một số cơ sở đạo Tin lành ở Tây Nguyên và Tây Bắc
không được đảng bộ và chính quyền sở tại chấp nhận, thậm chí không muốn thừa nhận
việc theo đạo của một số đồng bào; các cấp ủy còn chưa quan tâm lãnh đạo đúng mức
việc xây dựng lực lượng quần chúng cốt cán; một số nơi lực lượng nòng cốt chính trị
mỏng, nên hoạt động lúng túng và khả năng tập hợp quần chúng thấp; công tác tranh thủ
chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo chưa được quan tâm, nên công tác này không thường
xuyên và kém hiệu quả; bộ máy làm công tác tôn giáo của các cấp chính quyền ở nhiều
địa phương chưa được chú trọng, vì vậy công tác quản lý các hoạt động tôn giáo còn
nhiều bất cập, buông lỏng. Với những lý do trên đã cho thấy công tác quản lý nhà nước
đối với hoạt động tôn giáo của chúng ta vẫn còn nhiều thiếu sót, tạo kẽ hở cho kẻ xấu lợi
dụng, lôi kéo quần chúng để phát triển đạo trái pháp luật.
Hiện nay một số phần tử chống đối, cực đoan trong tôn giáo đang tổ chức lực
lượng, câu kết với nước ngoài, tích cực tìm hiểu và khai thác những sơ hở thiếu sót trong
công tác tôn giáo của ta. Chúng đưa ra những kết luận sai sự thật, cho rằng Việt Nam vi
phạm tôn giáo, vi phạm nhân quyền, với mục đích duy nhất là chống phá chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam. Việc tuyên truyền phát triển đạo Tin lành trái phép vào đồng bào
dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và một số nơi khác vẫn diễn
biến phức tạp. Tuy các địa phương đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để ngăn chặn,
nhưng trên thực tế hiệu quả đạt còn thấp.
Từ những thực tế như phân tích ở trên, đòi hỏi chúng ta phải tăng cường quản lý
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, qua đó nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo
chính đáng của nhân dân, mặt khác, phải luôn cảnh giác chống lại âm mưu lợi dụng tôn
giáo của các thế lực thù địch.

1.1.3. Mục tiêu, nguyên tắc và nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo
1.1.3.1. Mục tiêu quản lý
* Mục tiêu tổng quát:
Nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng có đạo, đồng thời
chống lại những âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo vì mục đích phi tôn giáo, làm cho
những hoạt động tôn giáo diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, việc thực hiện đúng chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo.
* Mục tiêu cụ thể:
Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, cần hướng tới và đạt được
những mục tiêu chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trước hết phải bảo đảm được
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm cho các hoạt động tôn giáo được
diễn ra bình thường theo đúng qui định của pháp luật Nhà nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người
đã được Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hợp quốc nghi
nhận. Trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước,
Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, coi
đó là một trong những quyền cơ bản của công dân. Năm 1945, chỉ một ngày sau khi đọc
“Tuyên ngôn độc lập” ở Quảng trường Ba Đình, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng
Chính phủ lâm thời, Hồ Chủ Tịch đã phát biểu: “Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín
ngưỡng tự do Lương Giáo đoàn kết” [37, tr 53]. Ngày nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định:
“Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất
quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một
tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật…” [30, tr 128].
Cùng với bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, phải bảo đảm
cho các tổ chức, cá nhân tôn giáo được thực hiện các hoạt động tôn giáo và hành đạo một
cách thuận lợi, nhằm đảm bảo quyền này, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo đã qui định:
“Người có tín ngưỡng, tín đồ được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ
cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi tôn giáo và
học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo” [60, tr.3].
Đồng thời trong quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo, cần phân biệt rõ giữa
hoạt động tôn giáo thuần túy với hành vi lợi dụng hoạt động tôn giáo để đề ra những biện
pháp quản lý phù hợp, tránh những hành động can thiệp vào công việc nội bộ của tôn
giáo mà vẫn quản lý được các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường trong khuôn khổ
pháp luật. Bên cạnh đó, trong hoạt động tôn giáo, cần yêu cầu các tổ chức tôn giáo, tín
đồ, chức sắc, nhà tu hành chấp hành tốt các qui định của pháp luật.
Thứ hai, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo phải phát huy được những
mặt tích cực, khắc phục được những hạn chế, tiêu cực của tôn giáo đối với sự phát triển
của xã hội.
Tính hai mặt của tôn giáo ở nước ta hiện nay là rất rõ, do đó quản lý nhà nước đối
với với hoạt động tôn giáo, phải phát huy và khơi dậy được những yếu tố tích cực của tôn
giáo, như tính hướng thiện, từ bi, bác ái “thương người như thể thương thân” của tôn
giáo trong các mối quan hệ của xã hội. Tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tôn giáo tham
gia cùng nhà nước giải quyết những vấn đề của xã hội như: Hoạt động từ thiện, cứu trợ
nhân đạo, xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế… Thông qua quản lý nhà nước đối với
các hoạt động tôn giáo phải giúp cho quần chúng tăng cường tri thức khoa học và xã hội
để từng bước xóa bỏ những nhận thức lệch lạc về thế giới quan và nhân sinh quan, những
điều khắt khe, phi khoa học trong tôn giáo. Bên cạnh đó, chúng ta phải tăng cường cảnh
giác đề phòng những âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo chống lại chế độ xã hội chủ
nghĩa ở nước ta.
Thứ ba, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo phải thực hiện được mục tiêu
đoàn kết đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo,
tạo ra sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Mục tiêu đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương, giáo luôn là truyền thống quí
báu và bài học quan trọng, là tiền đề của mọi thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
trước kia và công cuộc xây dựng đất nước hiện nay, đúng như lời dạy của Chủ tịch Hồ
Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết - thành công, thành công đại thành công”.
Trong công tác tôn giáo, mục tiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết giữa những người có
tín ngưỡng, tôn giáo với những người không có tín ngưỡng, tôn giáo là vấn đề quan trọng
khi tôn giáo luôn là công cụ, phương tiện để các thế lực phản động trong và ngoài nước
lợi dụng nhằm thực hiện âm mưu thâm độc chia rẽ dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng
với Nhà nước.
Thứ tư, quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo phải đảm bảo sự tăng cường
vai trò của nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tôn giáo.
Trong thực tế, tổ chức, cá nhân tôn giáo là một bộ phận của xã hội, được nhà nước
thừa nhận, do vậy phải đặt dưới sự quản lý của nhà nước. Hoạt động tôn giáo phải tuân
thủ những qui định của nhà nước. Mọi hành vi nhằm biến các tổ chức tôn giáo thành lực
lượng đối trọng với nhà nước, thoát ly khỏi sự quản lý của nhà nước đều là bất hợp pháp.
Hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật của nhà nước đều phải bị xử lý theo
qui định của pháp luật. Thực hiện tốt được những điều trên, một mặt vai trò quản lý của
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo được tăng cường, mặt khác đưa các hoạt động tôn
giáo theo đúng qui định của pháp luật, định hướng cho tín đồ, chức sắc tôn giáo đồng
hành cùng nhân dân cả nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

1.1.3.2. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo không ngoài mục đích bảo đảm cho
hoạt động tôn giáo diễn ra trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật vì lợi ích chung,
trong đó có cả lợi ích của đồng bào có đạo và lợi ích của các Giáo hội.
Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo có một số nguyên tắc chính sau:
Một là, nguyên tắc đảm bảo cho mọi công dân được bình đẳng trước Hiến pháp và
pháp luật
Đây là nguyên tắc của thể chế dân chủ, có tính phổ quát ở nhiều quốc gia. Nhà nước
ta là nhà nước dân chủ, đến nay Hiến pháp Việt Nam đã được bổ sung nhiều lần với
những qui định rõ ràng về các quyền con người được Hiến pháp bảo vệ trên tất cả các
mặt dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; các quyền riêng trong xã hội, đặc biệt là
quyền trẻ em, phụ nữ, các dân tộc thiểu số, quyền bình đẳng trước pháp luật của các tôn
giáo.
Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một
tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của
các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự
do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp
luật và chính sách của nhà nước [60, tr.70].
Chỉ thị 37- CT/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới của Bộ chính trị ngày
02/7/1998 cũng đã khẳng định: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng về quyền
lợi và nghĩa vụ trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo và người không theo đạo,
cũng như giữa các tôn giáo khác nhau” [9, tr.118].
Vì vậy, không phân biệt nghĩa vụ và quyền lợi của công dân vì lý do tín ngưỡng,
tôn giáo, công dân theo tôn giáo và không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật,
được hưởng mọi quyền lợi công dân, đồng thời có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công
dân. Đây là nguyên tắc đồng thời cũng là nội dung quan trọng của quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
Hai là, nguyên tắc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của con người đã xuất hiện từ xa xưa
trong lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người. Tín ngưỡng là hoạt động thể
hiện sự tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng
đồng, thờ cúng thần thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng
dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội. Tuy
nhiên mức độ của niềm tin, sự tôn thờ ấy ở mỗi con người, mỗi cộng đồng người, mỗi
giai đoạn lịch sử là khác nhau. Niềm tin tôn giáo khó áp đặt cũng không dễ tước đoạt, nó
tồn tại như nhu cầu khách quan của đời sống hiện thực. Vì vậy tự do tín ngưỡng cũng có
nghĩa là con người được tự nguyện hướng tới một lực lượng siêu nhiên, đồng thời cũng
có quyền khước từ hoặc loại bỏ niềm tin đã có. Tự do tín ngưỡng cũng có nghĩa là không
chấp nhận sự độc tôn hoặc tham vọng thôn tính của tôn giáo này đối với tôn giáo khác,
càng không thể áp đặt hoặc gạt bỏ thông qua quyền lực chính trị.
Tuy nhiên quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là vô giới hạn, vì quyền của
người này, cộng đồng này khi vượt qua giới hạn nào đó có thể vi phạm vào quyền chính
đáng của những người khác. Tự do theo nghĩa chân chính của nó là tự do của người này,
cộng đồng này không vi phạm đến tự do của người khác và cộng đồng khác. Điều 8 Pháp
lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo đã khẳng định:
Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa
bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến
tranh, tuyên truyền trái pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân,
chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính
mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các
hành vi vi phạm pháp luật khác [60, tr.3].
Chính vì những lý do trên nhà nước có trách nhiệm quản lý và điều chỉnh các hoạt
động của cá nhân và tổ chức tôn giáo sao cho những hoạt động ấy diễn ra trong khuôn
khổ của pháp luật, không ảnh hưởng đến xã hội.
Ba là, nguyên tắc về tính thống nhất giữa sinh hoạt tôn giáo và bảo tồn giá trị văn
hóa
Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bao giờ cũng thể hiện qua sinh hoạt vật chất của con
người. Tín ngưỡng, lòng tin tôn giáo được vật chất hóa trong đời sống xã hội thể hiện qua
kinh sách, luật lệ, lễ nghi… Các cơ sở thờ tự của tôn giáo thường là nơi thờ phụng của tín
đồ các tôn giáo, đồng thời cũng là nơi giữ gìn văn hóa vật thể và phi vật thể. Những công
trình kiến trúc, những tác phẩm hội họa, điêu khắc, những bản nhạc, bài ca, y phục đến
trang trí, bày biện… thực hiện các nghi thức tôn giáo đều thể hiện nét văn hóa đặc trưng
của từng tôn giáo cụ thể. Vì vậy, sự tồn tại của tôn giáo cũng có nghĩa là sự bảo lưu văn
hóa. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không thể không quan tâm đến sinh
hoạt tín ngưỡng dân gian và tôn giáo truyền thống mà nhân dân ta lưu giữ qua nhiều đời
nay.
Tuy nhiên, bên cạnh những giá trị văn hóa đích thực không thiếu những hiện tượng
phản văn hóa có trong tôn giáo, những hủ tục cũ trỗi dậy, mê tín dị đoan gia tăng, thương
mại hóa trong tôn giáo phát triển… những hiện tượng ấy trà trộn, thẩm thấu vào sinh hoạt
tôn giáo làm vẩn đục bầu không khí sinh hoạt tôn giáo lành mạnh. Nhà nước quản lý hoạt
động tôn giáo làm sao vừa giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời loại bỏ dần
những hiện tượng phản văn hóa trong sinh hoạt tôn giáo.
Bốn là, nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất, hài hòa lợi ích cá nhân, cộng đồng và lợi
ích quốc gia, xã hội
Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo thường có
nhiều nhu cầu xuất hiện trong đời sống xã hội. Đối với tín đồ các tôn giáo, nhu cầu tâm
linh của họ được nhà nước coi trọng và tạo mọi điều kiện để họ đáp ứng nhu cầu ấy.
Nhưng ở vào một thời điểm nào đó đứng trước nhiều nhu cầu thì ở đây đòi hỏi tín đồ phải
giải quyết hài hòa, thỏa đáng giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với lợi ích chung của xã
hội. Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải giải quyết tốt các xung đột, mâu thuẫn xuất
hiện giữa các chủ thể nói trên.
Năm là, những hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín đồ phải
được đảm bảo. Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích của tổ quốc và của nhân dân được
khuyến khích. Mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để chống lại Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngăn cản
tín đồ làm nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân, làm phương hại đến
nền văn hóa lành mạnh của dân tộc và hoạt động mê tín dị đoan đều bị lên án và xử lý vi
phạm theo luật định.

1.1.3.3. Nội dung quản lý của nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
* Đặc điểm đối tượng quản lý:
Đối tượng quản lý về hoạt động tôn giáo gồm tín đồ, nhà tu hành, chức sắc và các tổ
chức tôn giáo. Là công dân Việt Nam, tín đồ, chức sắc tôn giáo, nhà tu hành vừa mang
những đặc điểm chung của người Việt Nam, nhưng đồng thời cũng có những nét đặc
trưng riêng của người có đạo.
- Đặc điểm của tín đồ, chức sắc tôn giáo, nhà tu hành:
+ Đặc điểm của tín đồ:
Tín đồ là những người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa nhận.
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo với số lượng tín đồ đông đảo, chiếm khoảng 20% dân
số cả nước, từ đặc điểm này cho thấy tôn giáo vẫn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân. Quản lý nhà nước phải thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm cho nhân dân thực
hiện nhu cầu đó.
Trong mỗi tín đồ đều có sự thống nhất (nhưng không đồng nhất) giữa mặt công dân
và mặt tín đồ. Là công dân, tín đồ có mọi quyền và nghĩa vụ như mọi công dân khác. Là
người có tín ngưỡng tôn giáo họ có niềm tin ở Chúa, tình cảm đời sống tâm linh ở nhiều
mức độ khác nhau và họ có quyền lợi do giáo hội qui định, họ phải hành đạo theo giáo
luật. Đây chính là đặc điểm quan trọng mà chủ thể quản lý nhà nước đối với tôn giáo cần
nắm vững.
ở nước ta đại đa số tín đồ các tôn giáo là nông dân và nhân dân lao động. Dù là tín
đồ của tôn giáo nào, bản chất của người nông dân vốn là những con người cần cù lao
động, có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc ngoại xâm và bọn bóc lột. Trong hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tín đồ các tôn giáo đã đóng góp đáng
kể cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc, đồng bào có đạo luôn gắn bó với cách
mạng. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, họ có nguyện vọng tha thiết là sống “tốt đời,
đẹp đạo”, cùng toàn dân đoàn kết trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu vì mục
tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Đây là đặc điểm rất tích cực trong đồng bào tín đồ. Trong lĩnh vực quản lý nhà nước
đối với các hoạt động tôn giáo, phải phát huy được những điểm tích cực, khơi dậy những
truyền thống quí báu trong đồng bào, phải coi đây là một yếu tố quan trọng góp phần phát
huy nội lực để xây dựng đất nước.
Bên cạnh đại đa số đồng bào có tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc sâu sắc, một
số tín đồ do nhiều nguyên nhân khác nhau trong hoạt động tôn giáo còn chưa tuân thủ
pháp luật, bị các thế lực thù địch lợi dụng, nghe theo kẻ xấu tham gia vào các vụ gây rối
trật tự công cộng.
Từ đặc điểm này, trong công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo cần quan
tâm những vấn đề sau:
Một là, ở một quốc gia đa tôn giáo như nước ta thì các tín đồ tôn giáo phải luôn đặt
lợi ích dân tộc, quốc gia lên trên hết và phấn đấu vì mục tiêu chung là dân giầu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nhà nước không phân biệt, đối xử về nghĩa
vụ và quyền lợi công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, giải quyết hài hòa giữa mặt công
dân và mặt tín đồ.
Hai là, phát huy tính khoan dung, hòa đồng giữa các tôn giáo nhằm đoàn kết các tôn
giáo để đảm bảo ổn định chính trị-xã hội. Đồng thời chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần cho đồng bào có đạo, thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói giảm nghèo ở nông
thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đông đồng bào tín đồ tôn giáo đang gặp nhiều khó khăn
trong cuộc sống.
Ba là, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng luôn đề cao cảnh giác
chống những âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch.
+ Đặc điểm của nhà tu hành, chức sắc:
Nhà tu hành là tín đồ tự nguyện thực hiện thường xuyên nếp sống riêng theo giáo
lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo.
Chức sắc là tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo.
Nhà tu hành, chức sắc trước hết là tín đồ thuộc một tổ chức tôn giáo nhất định bởi
vậy họ cũng có những đặc điểm chung của một tín đồ. Song khác với tín đồ, đội ngũ chức
sắc là những người được tổ chức tôn giáo lựa chọn, đào tạo cơ bản, do đó năng lực, trình
độ của họ khá cao và được tổ chức tôn giáo phong chức, phong phẩm, bầu cử và suy cử.
Họ đại diện ở những mức độ khác nhau cho các tổ chức tôn giáo, họ vừa chăn dắt tín đồ
vừa quản lý hành chính đạo theo thẩm quyền.
Trong quan hệ với tín đồ, họ là những người rất gần gũi với tín đồ, nắm bắt kịp thời
tâm tư, nguyện vọng của tín đồ, do đó họ có vị trí, vai trò ảnh hưởng rất sâu sắc trong tín
đồ.
+ Đặc điểm của tổ chức tôn giáo:
Tổ chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, giáo
luật, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được nhà nước công nhận.
Việt Nam là một quốc gia có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo. Có tôn giáo được tổ chức
thành một hệ thống từ Trung ương xuống đến cơ sở như Giáo hội Công giáo Việt Nam,
Giáo hội Phật giáo Việt Nam… nhưng có những tôn giáo trong quá trình phát triển do
nhiều nguyên nhân bị tách ra thành nhiều hệ phái khác nhau, mỗi hệ phái tạo thành một
tổ chức hoạt động độc lập như đạo Tin lành, đạo Cao đài.
Tổ chức tôn giáo có chức năng điều hành hoạt động của tôn giáo. Trong mỗi tôn
giáo, tổ chức bộ máy được sắp xếp khác nhau, hệ thống tổ chức của tôn giáo được qui
định theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo và được Nhà nước công nhận. Trong mối
quan hệ nội bộ của tổ chức tôn giáo, có tổ chức có mối quan hệ hành chính đạo rất chặt chẽ,
cấp dưới phục tùng cấp trên. Ngược lại, có tổ chức mối quan hệ hành chính đạo lại rất lỏng
lẻo như trong đạo Phật, mặc dù là một tổ chức Phật giáo thống nhất nhưng trong mỗi hệ phái
có tính chất độc lập tương đối, ít lệ thuộc vào Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Trong mối quan hệ với nhà nước và xã hội, giáo hội là tổ chức đại diện cho tôn giáo
để giải quyết các công việc có liên quan đến tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được nhà
nước công nhận đều thể hiện đường hướng hành đạo gắn bó, đồng hành cùng với dân tộc,
hoạt động tôn giáo cơ bản tuân thủ các qui định của pháp luật.
* Những nội dung chủ yếu về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo:
- Những nội dung cơ bản về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo:
Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo gồm nhiều công việc như sau:
+ Xây dựng chiến lược, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm thuộc lĩnh vực tôn
giáo;
+ Ban hành các văn bản qui phạm pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
+ Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
+ Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với hoạt động tôn giáo;
+ Qui định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo;
+ Qui định về việc phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo;
+ Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức làm
công tác tôn giáo;
+ Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về
hoạt động tôn giáo.
Tất cả những công việc trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, để làm tốt công tác
quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo cần chú trọng thực hiện tốt tất cả các công
việc này.
- Những nội dung cụ thể của quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo:
Nội dung cụ thể về quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo gồm nhiều lĩnh vực
như sau:
+ Quản lý tổ chức tôn giáo;
+ Quản lý việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử trong tôn giáo;
+ Quản lý các chương trình mục vụ thường xuyên, đột xuất của tôn giáo;
+ Quản lý về đại hội, hội nghị và một số việc thuộc hành chính đạo của tổ chức tôn
giáo;
+ Quản lý việc xây dựng cơ sở vật chất của tôn giáo, kinh doanh, xuất nhập khẩu
kinh sách tôn giáo và đồ dùng việc đạo;
+ Quản lý các hoạt động quốc tế của tổ chức, cá nhân tôn giáo.

1.2. Tình hình tôn giáo ở Lạng Sơn
1.2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của Lạng
Sơn
1.2.1.1. Điều kiện tự nhiên
Lạng Sơn là một tỉnh nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của Việt Nam. Lạng Sơn giáp
ranh với các tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Bắc Giang và Quảng Ninh. Lạng
Sơn có đường biên giới dài 253 Km tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Đây là
điểm đầu của con đường huyết mạch (QL 1A) nối Việt Nam với Trung Quốc và từ đó
đến với các nước châu Âu, đồng thời cũng là con đường quan trọng nối Trung Quốc với
các nước ASEAN.
Với vị trí địa lý thuận lợi về kinh tế và vô cùng quan trọng về quốc phòng-an ninh,
Lạng Sơn trở thành đầu mối chiến lược trong giao lưu kinh tế, văn hóa-xã hội và hợp tác
kinh tế quốc tế của đất nước.
Lạng sơn nằm ở vị trí theo chiều Bắc-Nam từ 210 27’ vĩ độ bắc, chiều Tây- Đông
1060 56’-1070 14’ kinh độ đông.
Diện tích toàn tỉnh là 8.187, 25 km2 với dân số 727. 081 người, mật độ 86 người/ km2,
gồm 11 huyện, thành phố, 14 thị trấn, 19 phường và 206 xã [24, tr.20].
Lạng Sơn là tỉnh có độ cao trung bình trên 100m, trong tỉnh chỉ có một dải đất hẹp
có độ cao dưới 100m đó là thung lũng sông Thương ở xã Mai Sao huyện Chi Lăng. Độ
cao trung bình của Lạng Sơn chỉ thấp hơn chút ít so với độ cao các tỉnh Lào Cai, Bắc
Cạn, Hà Giang, hai lưu vực sông Tây Giang của Trung Quốc và sông Hồng của Việt
Nam đều thấp hơn Lạng Sơn.
Địa hình Lạng Sơn tương đối phức tạp do nằm ở trong khu vực có nhiều biến đổi
qua các đợt biến động về địa lý, địa chất. Mật độ sông suối ở Lạng Sơn khá dày với tổng
chiều dài hơn 400km chia ra hai hệ thống chính là hệ thống sông Kỳ Cùng ở phía Bắc và
hệ thống sông Thương ở phía Nam của tỉnh. Độ nghiêng chung của địa hình Lạng Sơn
nghiêng về phía Đông Bắc, do vậy khác với hệ thống sông ngòi của Việt Nam thường
chảy từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam thì sông Kỳ Cùng phát nguyên từ Trung Quốc
chảy qua Lạng Sơn và chảy ngược về Trung Quốc. Theo hướng chính của địa hình Lạng
Sơn thì hầu hết nước mưa trên địa bàn tỉnh đều dồn về lòng máng Kỳ Cùng rồi chảy sang
Trung Quốc.
Do có đặc điểm địa hình riêng như vậy nên cũng có sự tác động không nhỏ đến khí
hậu thủy văn ở nơi đây. Lạng Sơn là tỉnh miền núi có độ cao khá lớn, nhưng nhìn chung
về khí hậu thì căn bản không khác các tỉnh Bắc Bộ, vẫn có mùa mưa, mùa khô, mùa
nóng, mùa lạnh, có thể phân ra ba vùng khí hậu đặc trưng là:
- Vùng khí hậu núi cao Mẫu Sơn.
- Vùng khí hậu núi vừa và thấp ở phía Bắc và phía Đông.
- Vùng khí hậu núi thấp ở phía Nam.
Lạng Sơn có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình từ 170C-220C. Mùa
đông ở đây tương đối dài và khá lạnh, nhiều năm nhiệt độ xuống thấp nước đóng băng
(năm 1918, 1955), mới đây trên đỉnh Mẫu Sơn nước đã đóng băng, có chỗ băng dày tới
25cm.
Lạng Sơn là tỉnh ít mưa trong khu vực Bắc bộ. Theo số liệu của Nha khí tượng thì
trên một diện dài 250 km từ đảo Cát Bà sang đến cửa biển Bắc Hải của tỉnh Quảng Tây
(Trung Quốc), các đám mây mưa đều bị các đồi núi thuộc vòng cung Đông Triều và dãy
núi Thập vạn Đại sơn-địa giới hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) cản lại,
mưa hầu hết trút xuống khu vực Cát Bầu qua Bình Liêu sang Bắc Hải. Phần mây đen còn
lại thì đổ mưa vào khu vực từ Cát Bà qua Đình Lập sang Long Châu. Do có đặc điểm như
vậy nên Lạng Sơn không bao giờ bị thiên tai gây thiệt hại về mùa mưa bão như các tỉnh
trung du Bắc Bộ kề cạnh, cho dù Lạng Sơn chỉ cách biển khoảng 100km.
Địa lý, địa hình và khí hậu của Lạng Sơn có nhiều đặc trưng như đã nêu ở phần
trên, do vậy đã tạo điều kiện cho hệ sinh thái thực vật, động vật phát triển tốt tại đây. Hệ
thực vật Lạng Sơn rất đa dạng và phong phú, điển hình như các khu rừng táu muối, táu
mật, hoàng đàn, pơmu, sa mu, đinh, lim, nghiến, thông tre, thông đuôi ngựa...
Cùng với thảm thực vật phát triển đa dạng, giới động vật ở Lạng Sơn cũng rất
phong phú về cả số lượng và chủng loại như gấu ngựa, hưu xạ, sóc bụng đỏ, hổ, báo lửa,
báo gấm, sơn dương, khỉ mốc, tê tê, tắc kè, công, phượng hoàng, sáo mỏ vàng, bìm bịp,
cá anh vũ, cá lộ lớn, cá măng giả, ếch gai, ếch hương...
Trong những năm trở lại đây với việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp, với
phương thức du canh, du cư, và sự tận khai thác con người đã thu hẹp nhanh chóng diện
tích rừng tự nhiên của tỉnh. Qua đó dẫn tới nguy cơ suy giảm số lượng, chất lượng các
loài thực vật có giá trị kinh tế cao, thậm chí dẫn tới nguy cơ tuyệt chủng một số loài như
cây hoàng đàn, nghiến, trai, đinh, pơmu, kim giao; và những loài có giá trị dược liệu quí
như ngũ gia bì hương, ba kích, sa nhân, bách hợp, tiền hổ, cốt khí củ…Cùng với diện tích
rừng bị thu hẹp cộng với sự săn bắt động vật với mục đích làm thức ăn, môi trường sống
không đảm bảo, do vậy giới động vật đã suy giảm ở mức báo động, có loài nay đã không
thấy xuất hiện trong các khu rừng trên địa bàn.
Hiện nay với sự chuyển đổi cơ chế quản lý, nhiều diện tích rừng và đất rừng trước
đây không có chủ quản lý, nay với chủ trương giao đất giao rừng, các khu rừng đã có
người khoanh nuôi và bảo vệ. Đặc biệt với các chương trình trồng rừng theo dự án Pam,
dự án 327, dự án trồng 5 triệu hécta rừng của Nhà nước, nên diện tích rừng đã tăng
nhanh, độ che phủ của rừng từ 21, 2% năm 1994 đã tăng lên 46,9% năm 2004 [32, tr.98].
Lạng Sơn cũng là tỉnh có nhiều tài nguyên khoáng sản như sắt (1 mỏ, 7 điểm
quặng), măng gan, nhôm (37 mỏ), đồng, chì, kẽm (2 mỏ), các điểm quặng bôxít, alít (20
mỏ) và các kim loại quí như vàng (35 mỏ), và các kim loại hiếm như thiếc, môlíp đen,
thủy ngân, các loại khoáng sản cháy như than nâu, than bùn, đây là nguyên liệu chính cho
nhà máy nhiệt điện Na Dương mới được khánh thành và đưa vào sử dụng.
Trên địa bàn tỉnh còn có các loại khoáng sản làm nguyên liệu hóa học và phân bón,
khoáng sản dùng làm vật liệu xây dựng. Đây chính là nguồn tài nguyên vô cùng phong
phú mà thiên nhiên ban tặng để những con người trên mảnh đất xứ Lạng có điều kiện
khai thác, xây dựng quê hương ngày một giầu và đẹp.

1.2.1.2. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội
* Đặc điểm kinh tế:
Lạng Sơn đã được tạo hóa ban tặng nhiều lợi thế về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên.
Tuy là tỉnh miền núi, nhưng Lạng Sơn chỉ cách thủ đô Hà Nội 154km, nằm cạnh khu tam
giác kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh. Hệ thống giao thông thuận lợi cho việc phát
triển thương mại, dịch vụ, du lịch, bởi Lạng Sơn vừa là đầu mối tuyến Quốc lộ 1A xuyên
Việt, vừa là nơi bắt nguồn của đường 4B ra Trà Cổ, Vịnh Hạ Long, đường 4A lên Cao
Bằng, đường 1B sang Thái Nguyên, đường 3B sang Bắc Cạn. Đồng thời, Lạng Sơn còn
có tuyến đường sắt liên vận quốc tế Việt Nam-Trung Quốc vươn tới các nước Đông Âu.
Lạng Sơn có hai cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị và Tân Thanh, hai cửa khẩu quốc gia Chi
Ma, Bình Nghi và bảy cặp chợ đường biên, thuận tiện cho việc đi lại, giao lưu buôn bán,
xuất nhập khẩu hàng hóa và phát triển du lịch, dịch vụ.
Bên cạnh đó, điều kiện khí hậu tương đối thuận lợi, quỹ đất lớn để phát triển nông-
lâm nghiệp theo hướng đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp
theo hướng sản xuất hàng hóa như: Hồng Bảo Lâm, đào Mẫu Sơn, quýt Bắc Sơn, na dai
Chi Lăng, cây công nghiệp hồi, vùng nguyên liệu thuốc lá Bắc sơn,…là nền tảng cho sự
phát triển của ngành nông nghiệp Lạng Sơn.
Nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối phong phú và đa dạng là điều kiện tốt để
phát triển các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác và chế
biến khoáng sản. Trong đó, đáng chú ý là mỏ than nâu Na Dương phục vụ cho việc xây
dựng phát triển nhà máy nhiệt điện Na Dương.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2001- 2005),
phát huy những thành quả đã đạt được trong những năm đổi mới, Đảng bộ và nhân dân
Lạng Sơn đã đạt được nhiều thành tích quan trọng, đưa sự nghiệp đổi mới của tỉnh đi lên.
Nền kinh tế của tỉnh tiếp tục ổn định và có bước phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế
bình quân trong bốn năm 2001-2004 đạt 9,98%/ năm, cao hơn mức 9,25%/ năm giai đoạn
1996-2000. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành thương mại-dịch
vụ và công nghiệp-xây dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông-lâm nghiệp trong cơ cấu kinh tế
của tỉnh và từng bước khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương.
Sau bốn năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, Lạng Sơn đã
có 13 chỉ tiêu đạt và vượt, 10 chỉ tiêu đạt xấp xỉ mục tiêu đề ra đến năm 2005. Các nguồn
lực được huy động cho đầu tư phát triển đạt khá; kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được tăng
cường đáng kể, các khu vực đô thị, nhất là thành phố Lạng Sơn và các khu vực cửa khẩu,
khu du lịch…có nhiều đổi mới, ngày càng đồng bộ, khang trang hơn.
Với vị trí thuận lợi, Lạng Sơn đã xây dựng môi trường thuận lợi cho giao lưu phát
triển kinh tế quốc tế, trong 5 năm 2000-2004, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa
khẩu của tỉnh đạt 2.230 triệu USD, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng hàng hóa xuất
nhập khẩu qua biên giới của các tỉnh phía Bắc, tổng thu ngân sách từ thuế xuất nhập khẩu
đạt gần 2.500 tỷ đồng. Phát triển kinh tế cửa khẩu đã tác động đến thị trường nội địa, hoạt
động du lịch và các dịch vụ khác.
Cũng trong 5 năm qua, khu vực cửa khẩu Lạng Sơn đã được đầu tư trên 1.650 tỷ
đồng, thu hút 30 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đến đầu năm 2005, Lạng Sơn có 35
dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động với tổng vốn đăng ký trên 80 triệu USD.
Đến cuối năm 2005, Lạng Sơn đã có 100% xã có đường ô tô đến trung tâm; 90%
xã, phường, thị trấn có điện lưới quốc gia, 93,7% xã có điện thoại; 100% xã có nhà trạm
y tế kiên cố; 72, 6% xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; tỷ
lệ hộ đói nghèo giảm xuống còn 9,98%; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được
giữ vững, góp phần tăng cường ổn định chính trị, tạo điều kiện cho những bước phát triển
mới [23, tr.16].
Tuy nhiên Lạng Sơn vẫn là một tỉnh nghèo, kinh tế tuy tăng trưởng nhưng chưa cao,
thiếu tính bền vững, quy mô sản xuất còn nhỏ bé, năng lực cạnh tranh chưa cao. Nền kinh
tế chủ yếu dựa vào nông-lâm nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu, hệ
thống hạ tầng còn nhiều hạn chế, chưa thực sự đồng bộ để có thể hấp dẫn đầu tư từ bên
ngoài. Mặt khác, do có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống, nên mặt bằng trình độ văn hóa
còn tương đối thấp, thiếu đội ngũ lao động kỹ thuật, công nhân lành nghề, các doanh
nghiệp và các nhà kinh doanh chưa thích ứng nhanh với thị trường… những hạn chế trên
đang là “rào cản” đối với Lạng Sơn trong việc đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học-
kỹ thuật sản xuất và đời sống cũng như thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội lớn.
* Đặc điểm văn hóa:
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi nhưng có nhiều thuận lợi về địa lý, là cửa ngõ giao
lưu kinh tế và văn hóa với nước láng giềng Trung Quốc. Chính vì có đường giao thông
thuận tiện và là đầu mối giao lưu, quan trọng hơn cả lại là phên dậu chắn phía Bắc của Tổ
quốc nên đã tạo ra một văn hóa, một phong cách của con người xứ Lạng.
Từ góc độ khảo cổ học chúng ta thấy Lạng Sơn có vai trò nổi bật, những địa danh
như Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, Kéo Lèng (huyện Bình Gia) là những di chỉ của người
Việt cổ có niên đại cách ngày nay 475.000 năm tức là thời đại pleistocene sớm đến
pleistocene giữa, như vậy Thẩm Khuyên đã trở thành di chỉ hóa thạch nổi tiếng không chỉ
ở Việt Nam mà cả Đông Nam Châu á. Sau di chỉ này là hàng loạt các di chỉ thuộc nền
văn hóa Bắc Sơn, nền văn hóa thời kỳ đồ đá mới không chỉ đại diện tiêu biểu cho cả khu
vực mà còn tiêu biểu của Việt Nam và cả khu vực Đông Nam Châu á. Sau văn hóa Bắc
Sơn là một số di chỉ có niên đại muộn hơn như Phai Vệ, Phia Điểm và nền văn hóa Mai Pha.
Một số di vật tìm được trên đất Lạng Sơn như trống đồng Na Dương, rìu đồng Bắc Sơn đã
chứng minh nền văn hóa Đông Sơn hiện diện ở mảnh đất này.
Thế kỷ VII trước công nguyên, nước Văn Lang của các Vua Hùng được thành lập,
Lạng Sơn trở thành vùng đất của bộ Lục Hải. Thời Bắc thuộc, Lạng Sơn là châu Ki Mi.
Từ thế kỷ IX đến đầu thế kỷ X, Lạng Sơn trở thành đơn vị hành chính của nước Đại Cồ
Việt, sau đổi tên thành Đại Việt. Trong thời gian dài của thời kỳ độc lập, với tên gọi Lạng
Châu, Lạng Giang, Lạng Sơn là vùng đất quan trọng của nước Đại Việt, là nơi qua lại
trao đổi của cư dân, sứ bộ hai nước và của các đoàn quân viễn chinh phương Bắc.
Vào thời Lý (thế kỷ XI), đã thấy trước âm mưu xâm lược của triều Tống nên đã
chọn Lạng Sơn làm địa bàn chiến lược “đánh sau lưng địch” phối hợp với phòng tuyến
sông Như Nguyệt tiêu hao lực lượng quân Tống. Trong ba lần đánh bại quân xâm lược
Nguyên-Mông, có hai lần chúng bị tiêu diệt tại Lạng Sơn. Mảnh đất xứ Lạng, vùng biên
cương phía Đông Bắc của Tổ quốc đã góp phần quan trọng trong thắng lợi của quân dân
Đại Việt chống quân xâm lược.
Từ năm 1406, khi quân Minh ồ ạt tràn sang xâm lược nước ta, Lạng Sơn lại trở
thành chiến trường ác liệt. ải Chi Lăng, vốn là cửa ải xung yếu nhất trong kháng chiến
chống quân Tống và chống quân Nguyên-Mông, quân và dân ta đã lợi dụng vị trí hiểm
yếu này chặn đánh và tiêu diệt quân xâm lược. Ngày 20-9 năm Đinh Mùi (tức ngày
10/10/1427), Liễu Thăng đích thân dẫn đội kỵ binh hung hãn mở đường tiến vào nước ta,
khi qua ải Chi Lăng bị phục binh của ta chặn đánh, đội kỵ binh và Liễu Thăng đã bị tiêu
diệt. Chiến thắng Chi Lăng có ý nghĩa quyết định đến cục diện cuộc chiến, góp phần
quan trọng kết thúc cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc lúc bấy giờ.
Tiếp theo dòng chảy của lịch sử, đến giữa thế kỷ XIX, Lạng Sơn lại là mảnh đất
chiến lược được nhà Thanh nhòm ngó để làm bàn đạp tiến hành xâm lược nước ta. Từ
năm 1885, thực dân Pháp đưa quân tiến đánh Lạng Sơn và thiết lập chính quyền đô hộ hà
khắc bởi sưu cao thuế nặng. Sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930), đặc biệt
từ khi chi bộ Đảng đầu tiên ở Lạng Sơn được thành lập (1933), quân và dân Lạng Sơn
tiếp tục viết nên những trang sử vẻ vang và có nhiều đóng góp quan trọng trong sự
nghiệp đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc.
Nếu trong sự nghiệp đấu tranh giữ nước, lạng Sơn đã góp một phần không nhỏ thì
trong sự nghiệp dựng nước Lạng Sơn cũng có những đóng góp rất quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước.
Lạng Sơn là mảnh đất sinh tụ của nhiều dân tộc, là nơi gặp gỡ, giao lưu của nhiều
luồng văn hóa để tạo thành một cộng đồng lớn. Chính sự phong phú về thành phần tộc
người đã dẫn đến sự đa phức về hệ thống tôn giáo, tín ngưỡng trong vùng, bên cạnh
những tín ngưỡng dân gian như như thờ trời, đất, tổ tiên, bản mệnh có các tôn giáo chính
thống như Khổng, Lão, Phật, đã có nhiều ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần của
người dân nơi đây. Cũng chính điều này đã tạo sự xuất hiện của một loạt các di tích kiến
trúc tín ngưỡng, tôn giáo ở Lạng Sơn như: đình, đền, chùa. Có thể nói so với các tỉnh
miền núi biên giới phía Bắc khác thì loại hình di tích này ở Lạng Sơn khá nhiều. Điều
này có thể do vị trí đặc biệt của Lạng Sơn là nơi tiếp nhận và giao lưu của hệ tư tưởng
Nho-Phật-Lão vào mảnh đất này; do các trí thức Nho học, các bậc quan tướng tài cao
nhậm chức trấn vùng biên ải góp phần phát triển. Các tín ngưỡng, tôn giáo du nhập vào
vùng đất này đã được địa phương hóa, hòa đồng với tín ngưỡng bản địa nên đã tạo ra một
diện mạo khá độc đáo cho đời sống tinh thần và tín ngưỡng của cư dân Lạng Sơn. Những
công trình kiến trúc này ngoài ý nghĩa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân
còn là những di sản văn hóa vật thể, những công trình nghệ thuật có giá trị được sáng tạo
bởi bàn tay, khối óc của cư dân Lạng Sơn. Theo sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” ghi
chép thì Lạng Sơn có tất cả 29 di tích đình, đền, chùa, hiện nay đa số những di tích này
vẫn còn tồn tại và đang trở thành những danh thắng nổi tiếng, những công trình có giá trị
phục vụ cho việc tham quan, nghiên cứu, học tập cho đông đảo các tầng lớp nhân dân. Vẻ
đẹp của những công trình đó đã góp phần làm cho Lạng Sơn đẹp và giầu giá trị văn hóa
hơn trong mắt du khách đến thăm.
Dấu ấn văn hóa Lạng Sơn không chỉ thể hiện qua các di chỉ khảo cổ học, trong các
di tích lịch sử nổi tiếng hay trong mỗi danh lam thắng cảnh, mà văn hóa nơi đây còn được
thể hiện qua những nét văn hóa lễ hội đặc sắc như hội Lồng Tồng, lễ hội Đầu Pháo-Kỳ
Cùng, lễ hội Trò Ngô,…Nền văn hóa phi vật thể của Lạng Sơn còn có kho tàng dân ca,
dân vũ đồ sộ và vô cùng phong phú.
Ngày nay dưới ánh sáng nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, những định hướng
phát triển văn hóa đi vào thực tế đời sống văn hóa, tỉnh tổ chức triển khai và quản lý mọi
hoạt động văn hóa trên địa bàn. Do đó nhiều công trình văn hóa được đầu tư xây dựng
như: Bảo tàng, thư viện, cung thiếu nhi, công viên văn hóa,…những nơi này đã và đang
trở thành tụ điểm phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí của người dân.
Đến cuối năm 2005 toàn tỉnh đã có 656 nhà văn hóa; trong đó có: 51 nhà văn hóa
xã, phường, thị trấn, 605 nhà văn hóa thôn, bản, khối phố; mạng lưới thư viện đã được
mở tại 11/11 huyện, thành phố; 90 % xã có điểm bưu điện văn hóa xã; toàn tỉnh có gần
200 đội văn nghệ quần chúng hoạt động thường xuyên; công tác thông tin tuyên truyền
đã kịp thời tuyên truyền phổ biến các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đến
với người dân, nhất là nhân dân vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào có đạo. Phong trào
toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa đã được triển khai liên tục và rộng khắp với
3 mô hình là gia đình văn hóa, làng bản khu phố văn hóa và cơ quan đơn vị văn hóa.
Phong trào này đã tác động tích cực trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân
dân, phát huy truyền thống đoàn kết, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng môi
trường văn hóa lành mạnh, phong phú. Đến năm 2005, toàn tỉnh đã có 85.124 hộ gia đình
văn hóa, đạt tỷ lệ 80,58%; 556 thôn bản, khối phố văn hóa, đạt tỷ lệ 24,23%; 807 cơ
quan, đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hóa, đạt tỷ lệ 64,92%. Đây là những nhân tố tích cực
trong phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở [70, tr.10].
Bên cạnh những thành tựu nói trên, công tác bảo tồn một số loại hình văn hóa đang
có nguy cơ thất truyền đang được quan tâm, qua đó góp phần giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc, đồng thời thực hiện thành công việc xây dựng
nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
* Đặc điểm xã hội:
Giống như các tỉnh miền núi phía Bắc, Lạng Sơn là tỉnh có các dân tộc ít người
chiếm số đông. Đây là nơi chung sống của nhiều dân tộc anh em, như: Dân tộc Tày,
Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay, Mông,…
- Dân tộc Tày:
Là thành viên trong cộng đồng dân tộc nói ngôn ngữ Tày-Thái. ở nước ta người Tày
là dân tộc đông thứ hai sau người Việt và là dân tộc đứng vị trí thứ nhất trong 53 dân tộc
ít người, Tày là tên gọi đã có từ lâu đời, đây là một trong những dân tộc sinh sống trên
đất nước ta sớm nhất.
Dân tộc Tày ở Lạng Sơn hiện có 251.033 người, chiếm 35,6% trong cơ cấu dân cư
của tỉnh. Người Tày cư trú trên địa bàn Lạng Sơn từ lâu đời. Ngoài ra do điều kiện lịch sử
một số quan lại người Việt được cử lên Lạng Sơn làm việc, lấy vợ người bản địa, sinh
con rồi ở lại đó. Một số tù trưởng được triều đình gả con gái dẫn đến sự hợp huyết Việt-
Tày tức là sự Tày hóa, do đó trong văn hóa, tín ngưỡng dân gian xứ Lạng có những nét
rất độc đáo so với nhiều vùng có dân tộc Tày khác.
Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, người Tày cùng với các dân tộc khác nằm
trong chế độ thực dân nửa phong kiến và bị phân hóa sâu sắc do chính sách “chia để trị”.
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, người Tày cùng các dân tộc khác trên quê hương
Lạng Sơn cùng nhau đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Dân tộc Nùng:
Dân tộc Nùng cũng là thành viên của nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Hiện ở nước ta dân
tộc Nùng có gần 800.000 người, cư trú chủ yếu ở địa bàn các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng,
Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn.
Nùng vốn là tên gọi của một dòng họ trong bốn dòng họ lớn ở Quảng Tây (Trung
Quốc) di cư sang và trở thành tên gọi của dân tộc ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ XV.
Dựa vào nhiều nghiên cứu thì Lạng Sơn là địa bàn người Nùng di cư sang sớm nhất, bản
thân dân tộc Nùng được chia thành nhiều nhóm địa phương với tên gọi thường gắn liền
với địa danh nơi di cư hay đặc điểm trang phục như: Nùng An gốc từ Châu An Kết, Nùng
Cháo ở Long Châu đi, Nùng Phản Slình là Nùng ở Vạn Thành, Nùng Inh ở Long Anh
đến, Nùng Cúm Cọt người phụ nữ mặc áo ngắn, Nùng Hua Lài người phụ nữ đội khăn có
chấm trắng… Lạng Sơn là nơi định cư của ba nhóm Nùng: Nùng Inh, Nùng Phản Slình
(có mặt ở hầu khắp các huyện trong tỉnh) và Nùng Cháo tập trung chủ yếu ở huyện Văn
Lãng, Tràng Định.
Người Nùng chiếm tỷ lệ khá lớn 43,86% so với dân số toàn tỉnh, người Nùng cư trú
tập trung dọc các đường quốc lộ 1A, 1B, đường tỉnh lộ 4A, 4B và đường sắt Hà Nội-
Lạng Sơn, phố Đồng Đăng, Kỳ Lừa,… có thể nói những địa danh đó là những trung tâm
kinh tế, văn hóa của dân tộc Nùng.
- Dân tộc Kinh:
Dân tộc Kinh có số người đông nhất trong các dân tộc ở Việt Nam. Nhưng ở Lạng
Sơn hiện nay dân tộc Kinh chỉ chiếm 20% trong tổng số dân của tỉnh. Do thời gian tới
định cư khác nhau, người Kinh ở Lạng Sơn cũng chia thành hai nhóm: Người Kinh bản
xứ và người Kinh khai hoang. Người Kinh bản xứ là một trong những cư dân đầu tiên
của tỉnh, nguồn gốc là con cháu các quan trấn ải qua các triều đại phong kiến được cử lên
Lạng Sơn, con cháu họ Mạc và những tù nhân lưu đày; còn người Kinh khai hoang di cư
đến theo chương trình khai hoang phát triển kinh tế miền núi do nhà nước kêu gọi từ
những năm 1960.
Lạng Sơn là nơi định cư chính của cư dân đến từ các tỉnh Hà Tây, Thái Bình. Tuy
số người chỉ đứng thứ ba (sau người Tày, Nùng) nhưng người Kinh có mặt ở khắp các
huyện trong tỉnh. Do có trình độ văn hóa, có kinh nghiệm sản xuất, am hiểu phong tục tập
quán của địa phương, các cư dân người kinh sống hòa đồng với các dân tộc bản địa, đoàn
kết giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước.
- Dân tộc Dao:
Dân tộc Dao nằm trong nhóm ngôn ngữ Mèo-Dao, là dân tộc thường sống du canh,
du cư, có mặt ở Việt Nam từ thế kỷ XIII, dân tộc Dao sống ở nước ta có rất nhiều nhóm
địa phương khác nhau, mỗi nhóm mang những đặc điểm riêng của địa phương mình.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn dân tộc Dao chiếm 3,5% trong tổng số dân
toàn tỉnh và gồm hai nhóm chính là Dao Ôgang và Dao Đại Bản có cùng một phương
ngữ. Làng bản của dân tộc Dao thường nằm ở lưng chừng núi, trước kia họ canh tác chủ
yếu là làm nương, rẫy, ngày nay do chính sách hạ sơn của nhà nước, đồng bào đã xuống
sinh sống ở những vùng thấp hơn và canh tác lúa nước. Cuộc sống du canh du cư bị xóa
bỏ, trường học, trạm xá, nhà văn hóa,… đã được đầu tư xây dựng ở hầu khắp các thôn
bản, qua đó đời sống vật chất và tinh thần của bà con được nâng lên.
- Ngoài ra, trên địa bàn Lạng Sơn còn là nơi sinh sống của các dân tộc thiểu số khác
như: Dân tộc Hoa, dân tộc Sán Chay, dân tộc Mông… Trong lịch sử, các dân tộc trên địa
bàn luôn đoàn kết đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước.
Ngày nay trong công cuộc đổi mới đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào
các dân tộc trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng cường đoàn kết trong khối đại đoàn kết toàn
dân, cùng nhau chấp hành tốt đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của
nhà nước xây dựng quê hương Lạng Sơn ngày thêm giầu và đẹp.

1.2.2. Tình hình, đặc điểm tôn giáo ở Lạng Sơn
1.2.2.1. Khái quát tình hình tôn giáo ở Lạng Sơn
Tình hình tôn giáo ở Lạng sơn từ năm 1990 trở lại đây có nhiều biến động. Hiện tại,
ngoài 3 tôn giáo chính là Phật giáo, Công giáo và Tin lành, trên địa bàn đã xuất hiện một
số tôn giáo mới như: Đạo Liên hữu cơ đốc, đạo Long hoa di lặc… Tổng số tín đồ của ba
tôn giáo chính trên toàn tỉnh là 11.912 người. Trong đó Phật giáo có số lượng tín đồ lớn
nhất là 7.000 người; Công giáo có 3.500 tín đồ; Tin lành có 1.459 tín đồ là người dân tộc
Dao sống tập trung ở huyện Bắc Sơn. Cả tỉnh có 6 chức sắc tôn giáo: Phật giáo có 01 Đại
đức; Công giáo có giám mục Ngô Quang Kiệt- Giám quản Giáo phận Lạng Sơn và 03
Linh mục; Tin lành có 01 mục sư nhiệm chức.
So với cả nước, các tôn giáo ở Lạng Sơn chiếm tỷ lệ nhỏ, ít phức tạp, cộng đồng
các tôn giáo trên địa bàn tỉnh sống hòa thuận, luôn đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau
trong đời sống và trong sản xuất.
Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài, xu h ướng chung hiện nay là các tôn giáo
đang t ìm cách mở rộng diện hoạt động, gây uy tín, thanh thế trong cộng đồng tín đ ồ
và nhân dân, đồng thời huy động các nguồn lực trong và n goài nước đ ể tăng cường
cơ sở vật chất. Tại Lạng Sơn nhìn chung mọi tôn giáo đều hoạt động bình đẳng trong
khuôn kh ổ pháp luật. Chức sắc, tín đồ các tôn giáo luôn tin t ưởng vào sự lãnh đạo
của Đ ảng, sự quản lý của các cấp chính quyền, tích cực tham gia c ác phong trào phát
triển kinh tế, xã hội, hoạt đ ộng từ thiện nhân đạo, góp phần tích cực vào việc giữ
vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Một số c ơ sở thờ tự của các tôn giáo
được phép xây dựng, sửa chữa khang trang đẹp đẽ hơn, đáp ứng nguyện vọng, tâm
linh c ủa đồng bào có đ ạo.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt hoạt đ ộng tích cực đó, trong ho ạt động các tôn
giáo còn có xu hướng t ăng cường củng cố các tổ chức giáo hội, củng cố đức tin tôn
giáo, tích c ực truyền đ ạo phát triển tín đồ; khuyếch trương th anh thế, mở rộng địa
bàn; một số cơ sở thờ tự của các tôn giáo tự ý c ơi nới, sửa chữa trái phép khi ch ưa
có sự nhất trí của chính quyền; vẫn còn hiện t ượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo đ ể
hoạt động mê tín dị đ oan trục lợi cho cá nhân,…những hiện t ượng đó làm ảnh h ưởng
đến hoạt động tôn giáo lành mạnh, ảnh h ư ởng đến tình hình trật tự trị an của đ ịa
phương.

1.2.2.2. Một số đặc điểm tôn giáo trên địa bàn Lạng Sơn
* Lạng Sơn có ba tôn giáo chính:
ở Lạng Sơn có ba tôn giáo chính đó là Phật giáo, Công giáo và Tin lành. Ngoài những
đặc điểm chung, tôn giáo ở Lạng Sơn có những đặc thù riêng.
- Về đặc điểm của Phật giáo Lạng Sơn
Đạo Phật được truyền vào Lạng Sơn từ rất sớm, quá trình du nhập vào đây Phật
giáo đã thích nghi được với các tín ngưỡng ở địa phương như tín ngưỡng thờ Thần,
thờ Thành Hoàng, thờ Mẫu… Trải qua các cuộc chiến tranh xâm l ược của các triều
đại phong kiến phương Bắc, sau này là thực dân Pháp, đạo Phật vẫn phát triển và là
một loại hình sinh hoạt tôn giáo khá phổ biến. Theo sách “ Đại Nam Nhất Thống Chí’’
thì thời Nguyễn ở Lạng Sơn đã có 26 ngôi chùa thờ Phật [24, tr.32]. Hiện nay hầu hết
các chùa trên địa bàn các huyện đã hư hỏng nặng, thậm chí chỉ còn là phế tích, chỉ còn
các chùa trên địa bàn thành phố Lạng Sơn tồn tại và hoạt động thường xuyên, điều đó
đã chứng tỏ Phật giáo đã có thời kỳ phát triển hưng thịnh ở Lạng Sơn.
Trước năm 1990, phật tử ở Lạng Sơn ít và chỉ đến chùa sinh hoạt tôn giáo vào các
ngày rằm, lễ Phật Đản… Song những năm gần đây cùng với sự đổi mới đất nước, sinh
hoạt tôn giáo cũng diễn ra thường ngày. Các chùa ở Lạng Sơn tập trung chủ yếu trên địa
bàn thành phố Lạng Sơn, ở đây có chùa Thành cơ sở thờ tự của Phật giáo Lạng Sơn là
danh lam thắng cảnh nổi tiếng, đã được xếp hạng di tích lịch sử, văn hóa Quốc gia từ năm
1993. Do vậy du khách trong và ngoài nước đến thăm quan, du lịch tại Lạng Sơn cũng
đến thăm và vãn cảnh chùa ngày càng nhiều hơn.
Qua khảo sát hiện nay Lạng Sơn có khoảng 7.000 tín đồ, số phật tử (đã qui y) là
1.300 người. Về chức sắc, trước kia có Hòa thượng Thích Xuân Lôi trụ trì tại chùa Thành
(thành phố Lạng Sơn) đã viên tịch năm 1993. Năm 2003 tại chùa Thành, phường Chi
Lăng, thành phố Lạng Sơn, Ban quản lý chùa Thành đã tổ chức lễ nhập tự cho Đại Đức
Thích Quảng Truyền, nguyên trụ trì tại chùa Phong Quang (huyện Tiên Lãng, Hải Phòng)
làm trụ trì tại chùa Thành. Việc có sư trụ trì tại chùa Thành là mong ước của đông đảo
phật tử ở Lạng Sơn, do vậy tín đồ rất vui mừng, phấn khởi và tin tưởng vào đường lối
chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
Về cơ sở thờ tự: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 4 chùa (chùa Thành, chùa Tiên, chùa
Tam Thanh, chùa Tam Giáo), 40 đền và 78 miếu, trong đó có 9 điểm đã được nhà nước
công nhận là di tích lịch sử văn hóa [61, tr.3]. Nhìn chung đền, chùa ở Lạng Sơn ngoài
thờ Phật còn thờ các vị anh hùng dân tộc. Hoạt động của các chùa chủ yếu là gắn với tín
ngưỡng dân gian, có chung một mục đích là cầu nguyện xin ban phúc lành, cầu an, cầu
tài, cầu lộc, cầu may, làm điều thiện, tránh điều ác…
Về cơ bản, Phật giáo ở Lạng Sơn từ trước đến nay đã phát huy được truyền thống
yêu nước, gắn bó với dân tộc, tin tưởng vào chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước.
Trong Phật giáo xuất hiện nhiều phong trào: Phật tử giúp nhau xóa đói giảm nghèo; giúp
đỡ người già cô đơn, tàn tật; xây nhà tình nghĩa; làm công tác từ thiện, nhân đạo; thực
hiện hành đạo theo phương châm“ Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Thời gian gần đây, nhiều cơ sở thờ tự được chính quyền cho phép tu sửa ngày
càng khang trang, do vậy khách thập phương đến lễ chùa ngày càng nhiều, tạo cho cơ sở
thờ tự ngày càng đông đảo người viếng thăm, sầm uất, ồn ào, thậm trí còn gây lộn xộn.
Bên cạnh những phật tử có niềm tin tôn giáo chân chính cũng còn không ít những người
lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi cho bản thân, biến nơi thờ tự thành nơi “buôn
thần, bán thánh” hoạt động mê tín dị đoan…
- Về đặc điểm của Công giáo Lạng Sơn:
Đạo Công giáo theo người Pháp được truyền vào Lạng Sơn từ những năm đầu thế
kỷ XX. Đầu tiên là Thị xã Lạng Sơn, sau đó truyền sang các huyện như Tràng Định, Lộc
Bình, Văn Lãng… ngày 31/12/1931, Bộ Truyền giáo của Giáo triều Vatican đã ra Sắc dụ
cho tỉnh Lyon, Cộng hòa Pháp coi sóc đạo vùng Lạng Sơn- Cao Bằng. Khi Hàng giáo
phẩm Việt Nam được thành lập năm ngày 24/11/1960, Giáo phận Lạng Sơn- Cao Bằng
trở thành giáo phận Chính tòa thuộc Giáo tỉnh Hà Nội. Ngoài giáo dân bản địa, Lạng Sơn
còn có giáo dân ở các tỉnh miền xuôi lên xây dựng kinh tế mới vào đầu những năm 60
của thế kỷ XX.
Cơ sở thờ tự của đạo Công giáo trước đây ở Lạng Sơn không nhiều, có một số nhà
thờ phục vụ riêng cho quân đội viễn chinh Pháp. Từ ngày hòa bình lập lại đến nay, Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều đổi mới trong chủ trương, chính sách đối với tôn giáo. ở Lạng
Sơn sự quan tâm, tạo điều kiện của chính quyền địa phương các cấp đã giúp cho hoạt động
của các tôn giáo ổn định. Nhiều cơ sở thờ tự của Công giáo ở Lạng Sơn đã được trùng tu, tôn
tạo và xây dựng mới, đáp ứng mong mỏi và nguyện vọng của bà con giáo dân, cụ thể là:
- Nhà thờ Chính tòa Lạng Sơn đã được xây dựng mới toàn bộ, khánh thành và đưa
vào hoạt động từ cuối năm 2004.
- Nhà thờ Mỹ Sơn (thành phố Lạng Sơn) được cải tạo, nâng cấp và mở rộng từ
tháng 4/2005.
- Nhà thờ Thất Khê huyện Tràng Định được xây dựng mới từ ngày 5/5/ 2005, hiện
nay việc xây dựng vẫn đang được triển khai theo trình tự đã được phê duyệt.
- Ngày 5/9/2005, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã cho phép xây dựng nhà thờ
Đồng Đăng huyện Cao Lộc tại thôn Thâm Mò, xã Phúc Xá, huyện Cao Lộc.
Hiện nay, cơ sở thờ tự của Công giáo ở Lạng Sơn có 06 nhà thờ phục vụ cho 3.500
giáo dân đến sinh hoạt tôn giáo.
Về thành phần giáo dân chủ yếu là người Kinh, còn lại có 120 giáo dân người
Tày, 139 giáo dân người Nùng, 27 giáo dân người Hoa…
Trước năm 1954 ở Lạng Sơn có dòng tu Đa Minh (thành lập năm 1913), sau năm
1954 đã di chuyển vào miền Nam, nay đang có ý đồ quay trở lại hoạt động. Để củng cố
đội ngũ chức việc phục vụ cho địa phận, năm 2000 có 31 thanh thiếu niên ở Lạng Sơn
vào quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh học, hiện có bốn nữ tu đã học song và lén lút
về hoạt động trái phép tại một số xứ đạo tại Lạng Sơn.
Về chức sắc: So với trước đây, hàng ngũ chức sắc Công giáo của tỉnh Lạng Sơn
được củng cố khá nhiều. Giám mục Ngô Quang Kiệt được Tòa thánh Vatican bổ nhiệm
làm Giám mục phụ trách giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng từ tháng 7/1999. Ngày
19/02/2005 Tòa thánh Vatican tiếp tục bổ nhiệm Giám mục Ngô Quang Kiệt làm Tổng
giám mục Tổng giáo phận Hà Nội, đồng thời kiêm Giám quản Giáo phận Lạng Sơn.
Ngoài ra hiện nay Lạng Sơn có ba linh mục trông coi chăn dắt giáo dân: linh mục
Nguyễn Ngọc Thể làm mục vụ tại nhà thờ Mỹ Sơn, thành phố Lạng Sơn; linh mục
Nguyễn Ngọc Thảo làm mục vụ tại nhà thờ Chính tòa, thành phố Lạng Sơn, linh mục
Nguyễn Văn Chung (anh trai linh mục Nguyễn Ngọc Thảo) làm mục vụ tại nhà thờ Thất
Khê (huyện Tràng Định).
Về đội ngũ chức việc của địa phận Lạng Sơn duy nhất có nữ tu Nguyễn Thị Nhạn
110 tuổi (đã mất năm 2003) và 01 thừa tác viên là ông Nguyễn Văn Trọng cư trú ở
phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn. Tại các nhà thờ đều thành lập Ban hành giáo (số
lượng tham gia Ban hành giáo tùy thuộc số giáo dân của giáo xứ, từ 3-5 người), nhiệm kỳ
5 năm bầu lại một lần. Trách nhiệm của các Ban hành giáo là trông coi nhà thờ phục vụ
cho Giáo hội và quan hệ công việc với xã hội.
Về tổ chức hội đoàn Công giáo: Hội đoàn Công giáo ở Lạng Sơn không nhiều, chỉ
có ba hội thánh ca ở ba xứ: Cửa Nam, Mỹ Sơn, Thất Khê; có hai đội kèn trống gồm 15
người phục vụ cho các nghi lễ tôn giáo. Ngoài ra còn một số hội đoàn khác hoạt động bất
hợp pháp, không được chính quyền địa phương chấp thuận [59, tr.5].
Nhìn chung chức sắc Công giáo ở Lạng Sơn không nhiều, giáo dân không đông so
với các tỉnh, thành ở đồng bằng Bắc bộ, đại bộ phận quần chúng theo đạo là những người
lao động, tích cực tham gia các phong trào trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã
hội, chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Về đặc điểm của đạo Tin lành Lạng Sơn:
Đạo Tin lành được truyền vào Lạng Sơn từ năm 1938. Lúc đầu Tin Lành được
truyền vào các địa phương như: Bằng Mạc (huyện Chi Lăng), thị trấn Na Sầm (huyện
Văn Lãng), Chợ Bãi (huyện Văn Quan), hai xã Trấn Yên, Tân Tri thuộc huyện Bắc Sơn
và thị xã Lạng Sơn. Hiện nay Tin lành chủ yếu hoạt động trong đồng bào Dao ở huyện
Bắc Sơn.
Qua quá trình hoạt động, đến năm 1958 chi Hội thánh Tin lành Bắc Sơn được
công nhận tư cách pháp nhân và là chi hội (nay là Hội thánh) thuộc Hội thánh Tin lành
Việt Nam (miền Bắc).
Hiện nay tổng số hộ theo Tin lành ở Lạng Sơn là 304 hộ, với 1.459 tín đồ ở ở 13
thôn thuộc 9 xã vùng đồng bào dân tộc Dao thuộc huyện Bắc Sơn. Hội thánh Tin lành
Bắc Sơn là một trong những Hội thánh có đông tín đồ nhất của Tổng hội thánh Tin lành
Việt Nam (miền Bắc) [41, tr.4].
Từ năm 1938 đến tháng 11/2003, Tin lành ở Lạng Sơn không có chức sắc. Từ
tháng 12/2003 đến nay Hội thánh Tin lành Bắc Sơn có một chức sắc, đó là mục sư nhiệm
chức Lý Tiến Lưu, đồng thời cũng là Chủ tọa Hội thánh Tin lành Bắc Sơn. Hội thánh
cũng thành lập ra các ban để hoạt động như: Ban tráng niên, ban thanh niên, thiếu niên,
thiếu nhi, phụ lão, phụ nữ, ban thăm viếng từ thiện. Các ban này thường xuyên nhóm lễ
trong tuần, như: Ban tráng niên nhóm họp tối thứ bảy; ban thanh niên họp tối thứ sáu; ban
thiếu niên họp tối thứ năm; ban thiếu nhi họp sáng chủ nhật; mỗi hội nhánh nhóm họp
chung vào tối thứ tư và sáng chủ nhật hàng tuần [41, tr.5].
Cơ sở thờ tự, hiện nay Hội thánh Tin lành Bắc Sơn chưa có nhà thờ, các nhóm lễ
tự cơi nới và mở rộng 13 nhà của các nhóm trưởng để làm nhà nguyện, mỗi nhà có sức
chứa từ 300-500 người, được trang bị nội thất tương đối đầy đủ để làm nhà nguyện và là
nơi hành lễ.
Nhằm đáp ứng nguyện vọng của các tín đồ và của Hội thánh Tin lành Bắc Sơn,
ngày 21/03/2006 Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã có văn bản số 168/ UBND- TG đồng
ý cho Hội thánh Tin lành Bắc Sơn xây dựng 01 nhà thờ chung của Hội thánh tại thôn
Phúc Tiến, xã Vũ Sơn, huyện Bắc Sơn.
Nhìn chung trong thời gian qua, các tín đồ theo đạo Tin lành cũng như các tín đồ
các tôn giáo khác ở tỉnh Lạng Sơn đều thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách pháp luật của Nhà nước, tích cực lao động sản xuất, góp phần xây dựng và
phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Nét nổi bật của đồng bào theo Tin lành là thực hiện tốt
chính sách kế hoạch hóa gia đình, trong thôn bản không ai mắc các tệ nạn xã hội…
Tuy nhiên hiện nay để củng cố, tăng cường ảnh hưởng của đạo Tin lành đối với
các tín đồ, Hội thánh Tin lành Bắc Sơn đã tổ chức sinh hoạt tôn giáo từ 02 buổi tăng lên
04 buổi trong một tuần, ảnh hưởng không nhỏ đến thời gian lao động sản xuất và học tập
của các tín đồ. Trong Ban chấp sự có sự phân công để tuyên truyền phát triển đạo không
chỉ ở phạm vi các xã có đồng bào Dao thuộc phạm vi huyện Bắc Sơn, mà còn tăng cường
phát triển đạo ở các địa bàn khác trong và ngoài tỉnh. Ngoài ra Hội thánh đã tăng cường
thiết lập, mở rộng quan hệ với các tổ chức Tin lành trong và ngoài nước nhằm tranh thủ
sự ủng hộ, tài trợ về vật chất và tinh thần cho Hội thánh.
Từ những năm 1998, ở huyện Bắc Sơn đồng bào dân tộc Mông từ các tỉnh Tuyên
Quang, Cao Bằng, Bắc Cạn…di cư đến xã Nhất Hòa và xã Nhất Tiến. Lúc đầu chỉ có 01
hộ với 07 khẩu, hiện nay đã có 49 hộ với 291 khẩu. Khi mới di cư đến đồng bào không
sinh hoạt tôn giáo tập trung, trong hai năm trở lại đây với sự tác động của Hội thánh Tin
lành Bắc Sơn, các vị đứng đầu trong đồng bào Mông đã vận động bà con sinh hoạt tôn
giáo liên gia lén lút vào các ngày thứ năm và chủ nhật hàng tuần, hình thức chủ yếu là
nghe đài FEBC và một số cốt cán sùng đạo đọc Kinh thánh dịch ra tiếng Mông cho tín đồ
hành lễ.
Nhìn chung, cũng như các tôn giáo khác ở Lạng Sơn, Tin lành đang tích cực
truyền đạo, phát triển lực lượng tín đồ. So với các tôn giáo khác trong tỉnh, hoạt động
truyền giáo của Tin lành có phần mạnh hơn, tuy hoạt động tôn giáo đó chưa có biểu hiện
gì rõ rệt liên quan đến hoạt động chống đối, nhưng những vấn đề trên là đáng quan tâm,
các cấp, các ngành hữu quan của tỉnh không nên chủ quan, cần có những giải pháp cụ thể
để quản lý và ngăn ngừa các hoạt động tôn giáo trái phép có thể xảy ra.
* Tính hai mặt của tôn giáo ở Lạng Sơn:
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, đồng thời cũng là thực thể xã hội. Trong quá
trình tồn tại và phát triển, tôn giáo đã tác động hai chiều đến xã hội: Mặt tích cực và tiêu
cực.
- Mặt tích cực:
Phát huy tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ, chiến tranh biên giới năm 1979, tín đồ các tôn giáo ở Lạng Sơn đã
cùng với nhân dân cả nước đứng lên đấu tranh chống ách xâm lược của thực dân, đế
quốc, giành độc lập cho dân tộc.
Trong kháng chiến chống Pháp, nhân dân các dân tộc huyện Bắc Sơn, trong đó
cũng có tín đồ Tin lành đã đứng lên làm cuộc khởi nghĩa đánh chiếm đồn Mỏ Nhài (châu
lỵ Bắc Sơn) vào ngày 27/9/1940, đây là trận đánh mở màn cho cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn
và là cuộc khởi nghĩa vũ trang đầu tiên do Đảng lãnh đạo, tiến tới thành lập chiến khu
Bắc Sơn và đội du kích Bắc Sơn sau này được đổi tên thành Đội Cứu Quốc quân, tiền
thân của Quân đội nhân dân Việt Nam sau này. Năm 1947, phật tử và nhân dân thôn Nà
Thuộc (xã Bính Xá, huyện Đình Lập) trước khi ra trận đánh giặc Pháp đã làm lễ tế Thành
Hoàng ở đình làng. Khi đánh trận chiến thắng, biết tin Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư
khen ngợi chiến công của quân, dân và Thành Hoàng Nà Thuộc và Bác đã tặng bức
trướng “Chiến kháng ủng hộ”, hiện đang đặt trang trọng tại đình làng Pò Háng. Trong
kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhiều tín đồ các tôn giáo ở Lạng Sơn đã “xẻ dọc
Trường Sơn đi cứu nước”, và có nhiều đóng góp vào thắng lợi vĩ đại chung của cả dân
tộc Việt Nam.
Sau ngày thống nhất đất nước và sau cuộc chiến tranh biên giới năm 1979, hầu hết
các chức sắc và tín đồ các tôn giáo hăng hái tham gia vào công cuộc xây dựng đất nước,
tin tưởng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Ngoài ra, việc theo đạo của đồng bào dân tộc thiểu số có những tác động tích cực
như: Đối với người theo đạo, họ thực hiện tốt chế độ hôn nhân một vợ một chồng; không
ai mắc phải các tệ nạn xã hội; các sinh hoạt tôn giáo nhẹ nhàng, lược bỏ được lễ nghi, hủ
tục lạc hậu đã ràng buộc cuộc sống của bà con hàng nghìn đời nay.
- Mặt tiêu cực:
Tuy nhiên bên cạnh mặt tích cực, đã biểu hiện một số tiêu cực như: Một số chức
sắc, tín đồ và giáo hội các tôn giáo vì lợi ích cá nhân đã đi ngược lại lợi ích của dân tộc,
như: một số chức sắc Công giáo có thái độ cực đoan, xa lánh và bất hợp tác với chính
quyền; đạo Tin lành đã dùng nhiều thủ đoạn lôi kéo, ép buộc quần chúng đi theo đạo như
trợ giúp những người theo đạo về gạo, tiền; không theo đạo, không tin Chúa thì không
được vào Hội hiếu, trong gia đình có việc hiếu, việc hỷ không cho người đến giúp; trai
gái là người không theo đạo khi có ý định kết hôn phải đồng ý theo đạo thì mới được cho
kết hôn và mới có khách đến dự; cản trở các tín đồ không được nghe đài Tiếng Nói Việt
Nam, mà chỉ nghe đài “Nguồn sống” nói về đạo Tin lành [59, tr.8]; có thái độ răn đe, kỳ
thị với những người không theo Tin lành, gây mất đoàn kết nội bộ, tạo tâm lý thụ động
mong chờ ngày mai, sau khi chết được lên “Thiên đàng”, một số bà con tín đồ không chịu
làm ăn, phấn đấu xây dựng cuộc sống ấm no.
Bên cạnh đó, mặt tiêu cực được biểu hiện: Niềm tin tôn giáo hướng bà con tới các
lực lượng siêu nhiên, do đó nó ảnh hưởng xấu tới việc thực hiện các định hướng trong
cuộc sống hiện tại; các phong tục tập quán, các lễ nghi cổ truyền của đồng bào dân tộc
như lễ cấp sắc của người Dao, tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành Hoàng, thờ
những người có công với làng với nước của người Nùng đều bị xóa bỏ; tình trạng mâu
thuẫn, mất đoàn kết giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo với những người không có
tín ngưỡng, tôn giáo đã xảy ra ở nhiều nơi.
Chương 2
Thực trạng quản lý nhà nước
đối với Hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn


2.1. Sơ lược quá trình ra đời của Phòng Tôn giáo tỉnh Lạng Sơn
Cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Lạng
Sơn từ năm 1990 trở lại đây từng bước được hoàn thiện. Đây cũng là tình trạng chung
trong toàn quốc. Đặc biệt, sau khi Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ
Chính trị Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới ra đời, công tác quản lý
nhà nước đối với tôn giáo trên bình diện cả nước từng bước đi vào nề nếp.
Ngày 17/5/1995 Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định số 441/QĐ- UBND
về việc thành lập Phòng Tôn giáo trực thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh do một
đồng chí phó Văn phòng kiêm trưởng Phòng Tôn giáo và một đồng chí chuyên viên.
Nhiệm vụ của Phòng Tôn giáo là tổng hợp tình hình tôn giáo từ các ban ngành, các địa
phương đề xuất lên Chủ tịch, phó Chủ tịch tỉnh giải quyết.
Đến nay, Nghị định số 22/NĐ-CP (ngày 12/01/2004) của Chính phủ Về kiện toàn tổ
chức bộ máy làm công tác tôn giáo thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp đã ban hành được
hơn hai năm, nhưng hiện nay Lạng Sơn là tỉnh còn lại duy nhất của cả nước chưa thành
lập được Ban Tôn giáo tỉnh như Điều 2 của Nghị định đã quy định.
Đến tháng 3/2005, tổ chức của Phòng Tôn giáo tỉnh Lạng Sơn có một chút thay đổi,
đó là điều động đồng chí ủy viên thường trực, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh sang làm
trưởng Phòng Tôn giáo và có một đồng chí chuyên viên. Về cơ chế quản lý, Phòng Tôn
giáo vẫn trực thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh.
Với mô hình làm công tác quản lý tôn giáo ở Lạng Sơn như đã trình bày ở trên.
Nhất là khi Phòng Tôn giáo trực thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, công tác quản lý
nhà nước về hoạt động tôn giáo đã gặp nhiều khó khăn và hạn chế: Văn phòng là bộ phận
phụ trách công tác đối ngoại, công tác văn phòng của Uỷ ban nhân dân tỉnh, do đó không thể
lãnh đạo, quản lý được lĩnh vực công tác nhiều phức tạp và cần chuyên môn quản lý chuyên
biệt như lĩnh vực tôn giáo. Hiện nay Lạng Sơn vẫn duy trì mô hình tổ chức cũ, để Phòng Tôn
giáo trực thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, vì vậy đã ảnh hưởng đến công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
* Hoạt động của Phòng Tôn giáo tỉnh Lạng Sơn từ khi thành lập đến nay:
Như đã trình bày ở phần trên, ngay sau khi được thành lập và kiện toàn lại đội ngũ
cán bộ làm công tác tôn giáo, Phòng Tôn giáo tỉnh đã tham mưu cho Tỉnh ủy và Uỷ ban
nhân dân tỉnh những vấn đề liên quan đến công tác tôn giáo, cụ thể như:
+ Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh ra các văn bản hướng dẫn các cấp chính
quyền từ tỉnh đến cơ sở thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn;
ban hành Qui chế quản lý hoạt động của các đền, chùa và các hoạt động tín ngưỡng, tôn
giáo trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
+ Tổ chức các hội nghị triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
về công tác tôn giáo và mở các lớp tập huấn nghiệp vụ về công tác tôn giáo cho cán bộ
làm công tác tôn giáo ở các cơ quan ban ngành từ tỉnh đến cơ sở. Bên cạnh đó đã tổ chức
hội nghị phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác tôn
giáo và giáo dục pháp luật cho chức sắc, tín đồ các tôn giáo tại địa bàn các huyện và
thành phố.
+ Nghiên cứu đề xuất, xét duyệt các chức sắc tôn giáo đi đào tạo, xuất ngoại; tiếp
nhận các chức sắc được phân công đến địa bàn tỉnh. Tổ chức đón tiếp các đoàn khách tôn
giáo trong và ngoài nước đến thăm địa phương.
+ Kết hợp với các cơ quan như: An ninh, văn hóa, xây dựng và chính quyền nơi sở
tại xét duyệt và cho phép các tôn giáo được tu sửa, xây dựng các cơ sở thờ tự trên địa
bàn. Cùng với các ngành hữu quan xét duyệt nội dung các kỳ Đại hội của Hội thánh Tin
lành Bắc Sơn; xét duyệt nội dung các ngày lễ hội của các tôn giáo hàng năm.
+ Tham mưu giúp Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh sơ kết các Chỉ thị, Nghị quyết,
Nghị định… của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Qua hoạt động của Phòng Tôn giáo tỉnh Lạng Sơn đã giúp cho các hoạt động tôn
giáo trên địa bàn đi vào nề nếp, công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Lạng Sơn thu
được những thành tựu quan trọng. Liên tục từ năm 2003 đến nay, phòng tôn giáo Văn
phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh đều được Ban Tôn giáo Chính phủ tặng Bằng khen hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ công tác. Riêng năm 2004, Ban tôn giáo Chính phủ tặng cờ thi
đua cho Phòng tôn giáo Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
Căn cứ Nghị định số172/2004/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 25/2004/TT-
BNV của Bộ Nội Về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cơ
quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tôn giáo ở địa
phương, ngày 16/12/2003 Hội đồng nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Nghị quyết số
33/2004/NQ-HĐND khóa XIV về việc phê chuẩn số lượng, cơ cấu cơ quan chuyên môn
thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân huyện và thành phố. Trong năm 2005, 11
huyện, thành phố của tỉnh Lạng Sơn đã thành lập được Phòng Dân tộc-Tôn giáo nhằm
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác Dân tộc và Tôn giáo.

2.2. Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong quản lý nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo ở Lạng Sơn
2.2.1. Những thành tựu và nguyên nhân
2.2.1.1. Thành tựu
* Công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc:
Công tác vận động quần chúng nói chung, vận động quần chúng có tín ngưỡng, tôn
giáo nói riêng có một vị trí đặc biệt quan trọng. Bởi vì, sự nghiệp cách mạng có thành
công hay thất bại thì việc có được quần chúng ủng hộ là vấn đề quyết định. Nói cách khác
làm tốt công tác vận động quần chúng nói chung là điều kiện có tính quyết định để đảm bảo
cho sự thành công của cách mạng.
Xác định được tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc
các tôn giáo, Lạng Sơn đã đề ra mục đích của công tác này là: Nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần, nâng cao dân trí cho nhân dân, trong đó có tín đồ các tôn giáo; tạo ra mối
quan hệ tốt giữa quần chúng với Đảng và Nhà nước; phát huy dân chủ, tiếp thu những
nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của chức sắc, tín đồ các tôn giáo để đề ra những chủ
trương, chính sách phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, góp phần tạo ra sự ổn
định chính trị xã hội, phát huy tinh thần đoàn kết trong nhân dân. Do vậy công tác vận
động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo ở Lạng Sơn đã có những chuyển biến tích cực.
Những chuyển biến đó được thể hiện ở những mặt sau đây:
- Đời sống vật chất và tinh thần, trình độ dân trí của đồng bào các tôn giáo, đặc
biệt của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa từng bước được nâng lên. Lòng
tin của đồng bào các tôn giáo vào công cuộc đổi mới đất nước do Đảng lãnh đạo ngày
càng được củng cố, do đó đồng bào các tôn giáo tích cực tham gia thực hiện các chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như mọi qui định khác của địa phương.
Những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đất nước, đặc biệt trong lĩnh vực
phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Lạng Sơn đã góp phần làm cho đời sống vật chất và văn
hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc trên địa bàn nói chung và đồng bào các tôn giáo
được cải thiện và nâng cao một cách rõ rệt. Nhờ làm tốt công tác vận động quần chúng,
đến nay đã có 85% thôn bản xây dựng được hương ước, quy ước trong cuộc vận động
“Toàn dân đoàn kết xây dựng cuốc sống mới ở khu dân cư”.
Phong trào phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo được nhiều tổ chức, đoàn thể
tham gia với nhiều hình thức, cụ thể là: Đoàn thanh niên với hai chương trình hành động
lớn “Thanh niên lập nghiệp” và “Tuổi trẻ giữ nước” đã xung kích tình nguyện giúp các
hộ nghèo ở vùng sâu, vùng xa. Đặc biệt trong “Tháng thanh niên” năm 2006, tuổi trẻ
Lạng Sơn đã giúp làm đường giao thông vào thôn Suối Luông, xã Vũ Lăng, huyện Bắc
Sơn, đây là thôn của đồng bào dân tộc Dao theo Tin lành; tổ chức tu sửa nhà và tặng quà
cho đồng bào dân tộc Mông theo Tin lành mới đến định cư ở huyện Bắc Sơn, huyện
Tràng Định.
Sở Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp với các ngành liên quan và chính
quyền nơi có đông tín đồ tôn giáo đẩy mạnh việc thực hiện Chương trình quốc gia về xóa
đói giảm nghèo theo Quyết định 133/QĐ-TTg ngày 23/07/1998 của Chính phủ, trong
vùng đồng bào dân tộc ít người. Tăng cường chỉ đạo công tác xóa đói giảm nghèo, cho
vay vốn để phát triển kinh tế, thực hiện tốt công tác chăm sóc gia đình chính sách vùng
đồng bào dân tộc ít người, nhất là đối với tín đồ tôn giáo.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giúp các xã có đông tín đồ xây dựng kết
cấu hạ tầng cơ sở như: đường, điện, nước sạch, trường học, trạm xá… qua đó thực hiện
kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao dần mức sống cho tín
đồ nhanh hơn so với thời gian vừa qua.
N gành Văn hóa-Thông tin phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp t ăng
cường cuộc vận động xây dựng nếp sống văn hóa, gi ữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa
dân tộc, kết hợp với bài trừ mê tín, dị đoan và các hủ tục lạc hậu. Đẩy mạnh phong
trào “Xây d ựng gia đình, thôn bản văn hóa, làng văn hóa”, “Toàn dân đoàn k ết xây
dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”, đề ra h ương ước, qui ước về xây dựng nếp sống
văn hóa trong vùng đ ồng bào tôn giáo.
Sở Giáo dục-Đào tạo phối hợp với Sở Kế hoạch-Đầu tư và Uỷ ban nhân dân các
huyện có đông tín đồ các tôn giáo xây dựng kế hoạch phát triển giáo dục, đầu tư xây
dựng trường lớp, đồ dùng dạy học nhằm xóa mù chữ, nâng cao dân trí cho vùng dân tộc
thiểu số. Có chính sách khuyến khích đội ngũ giáo viên ở vùng sâu vùng xa và vùng đồng
bào theo đạo, qui hoạch đào tạo giáo viên tại chỗ, xây dựng mô hình trường bán trú cho
con em đồng bào dân tộc, nhất là vùng dân tộc Dao theo đạo,…[63, tr.3].
Với những hoạt động trên đã góp phần vào tăng trưởng kinh tế, ổn định đời sống,
giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội. Nhưng điều quan trọng hơn là qua đó đã củng cố
được tình làng nghĩa xóm, tăng cường tình đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn
giáo và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo.
Đến nay tỷ lệ hộ đói nghèo của tỉnh đã giảm từ 19,6% năm 2000 xuống còn 7,8%
năm 2005, trong 5 năm qua (2000-2005) đã giải quyết việc làm cho 4,3 vạn lao động, góp
phần nâng cao thu nhập và ổn định đời sống cho nhân dân [56, tr.6]. Điều đó đã làm tăng
thêm sự phấn khởi, tin tưởng của đồng bào các tôn giáo vào công cuộc đổi mới đất nước do
Đảng ta lãnh đạo, động viên khích lệ đồng bào tôn giáo hăng hái tham gia thực hiện các chủ
trương chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như mọi qui định của địa phương.
Số lượng tín đồ, chức sắc các tôn giáo trên địa bàn toàn tỉnh tích cực tham gia,
hưởng ứng các phong trào cách mạng ở cơ sở ngày càng gia tăng. Nhiều địa phương có
đông đồng bào tôn giáo tập trung như huyện Bắc Sơn, Lộc Bình, Tràng Định và thành
phố Lạng Sơn đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân tiên tiến, điển hình cho các phong
trào xã hội, xây dựng quê hương trong thời kỳ đổi mới. Điều đó tiếp tục khẳng định tính
đúng đắn trong đường lối chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, kế hoạch và công
tác vận động quần chúng tín đồ tôn giáo của tỉnh Lạng Sơn.
- Cơ sở chính trị trong các vùng tôn giáo tập trung được xây dựng, củng cố, phát
huy được vai trò của cán bộ, đảng viên, người có uy tín để vận động đồng bào có đạo,
phát triển thêm được nhiều đảng viên, hội viên các đoàn thể là tín đồ các tôn giáo.
Những năm gần đây tại cơ sở vùng tôn giáo, các lực lượng chính trị đã phát huy
được vai trò của lực lượng cốt cán, của cán bộ đảng viên và những người có uy tín trong
tín đồ, chức sắc các tôn giáo để vận động quần chúng có đạo đã có những chuyển biến
tích cực, đạt được những kết quả rất quan trọng.
Công tác xây dựng Đảng trong các vùng tôn giáo đã có những bước tiến bộ. Nếu
những năm 1990 trên địa bàn tỉnh còn nhiều thôn, bản “trắng” đảng viên, thì đến nay
100% thôn bản đã có chi bộ đảng sinh hoạt, nhiều đảng viên theo tôn giáo tham gia cấp
ủy.
Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, đã phát
huy tốt vai trò đại diện nhân dân trong đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước, Chính
quyền địa phương để xây dựng chính sách đối với dân tộc, tôn giáo phù hợp.
Công tác xây dựng lực lượng cốt cán trong tín đồ, chức sắc các tôn giáo cũng đạt
được những kết quả tích cực. Lực lượng này đã và đang phát huy tốt vai trò trong việc
vận động quần chúng tín đồ, đặc biệt là trong công tác ngăn ngừa các tệ nạn xã hội, hủ
tục lạc hậu trong cộng đồng thôn bản và đấu tranh chống âm mưu lợi dụng tôn giáo phá
hoại khối đại đoàn kết và thành quả cách mạng của nhân dân ta.
Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong những năm qua đã
chú trọng đến công tác phát triển hội viên, đặc biệt là hội viên theo tôn giáo. Bằng nhiều
hình thức sinh hoạt phong phú và thường xuyên tổ chức đi thăm hỏi, tặng quà gia đình
chính sách, gia đình tín đồ khó khăn và chức sắc các tôn giáo nhân dịp lễ trọng của giáo
hội; dịp lễ cổ truyền của dân tộc. Đồng thời thông qua các phong trào hội viên giúp nhau
“Xóa đói giảm nghèo”, “Xây dựng đời sống văn hóa”, xây dựng nông thôn mới, kế hoạch
hóa gia đình…càng làm cho quần chúng tín đồ các tôn giáo phấn khởi, tin tưởng vào
chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Động viên, khích lệ đội ngũ chức sắc, tín đồ
các tôn giáo tích cực tham gia xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo” phấn đấu vì mục
tiêu: Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Tỉnh đã tạo điều kiện để các sinh hoạt tôn giáo được tiến hành bình thường, thuận
lợi. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo đã có nhiều cố gắng, từng bước
đưa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo vào nề nếp theo qui định của pháp luật.
Nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo ngày càng
được đáp ứng, đảm bảo. Các hoạt động của đời sống sinh hoạt tôn giáo của quần chúng
được chính quyền từ tỉnh đến cơ sở tạo điều kiện thuận lợi. Để giúp tín đồ thuận lợi trong
việc hành đạo, Các ban, ngành của tỉnh Lạng Sơn đã đồng ý và hỗ trợ cho các tôn giáo
xây dựng, trùng tu và tôn tạo các cơ sở thờ tự, như trùng tu chùa Thành, chùa
Tiên…Tháng 10/2005 Uỷ ban nhân dân tỉnh đã đồng ý cho tu sửa và xây dựng mới nhà
thờ Thất Khê (huyện Tràng Định), nhà thờ Đồng Đăng (huyện Cao Lộc) và nhà thờ Mỹ
Sơn(thành phố Lạng Sơn).
Từ trước đến nay tín đồ Tin lành ở huyện Bắc Sơn chưa có cơ sở thờ tự, họ tự cơi
nới nhà riêng của các nhóm trưởng làm nơi sinh hoạt đạo. Ngày 21/03/2006, Uỷ ban nhân
dân tỉnh đã có công văn số 168/UBND-TG đồng ý cho Hội thánh Tin lành Bắc Sơn xây
dựng 01 nhà thờ chung tại thôn Phúc Tiến, xã Vũ Sơn. Qua đó tạo nên lòng tin tưởng,
phấn khởi cho đồng bào có đạo vào đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà
nước. Từng bước xóa bỏ những mặc cảm của đồng bào, hạn chế tiêu cực, ngăn ngừa việc
lợi dụng tôn giáo gây hậu quả xấu cho xã hội, đồng thời củng cố thêm mối quan hệ gắn
bó giữa quần chúng tín đồ các tôn giáo với Đảng và với chế độ xã hội chủ nghĩa của
chúng ta.
* Thực hiện chính sách đối với chức sắc, nhà tu hành và tổ chức giáo hội các tôn
giáo:
Chức sắc, nhà tu hành là những người chuyên lo việc đạo, họ có phẩm trật khác
nhau và có vai trò rất quan trọng trong sự tồn vong của mỗi tôn giáo. Có thể nói, chức
sắc, nhà tu hành là những người chuyên lo hành nghề tôn giáo, họ giữ vai trò chủ yếu
trong mối quan hệ giữa giáo hội với chính quyền địa phương, giữa tôn giáo của họ với xã
hội, giữa giáo hội của họ với các giáo hội tôn giáo khác. Do vậy chính sách cụ thể đối với
chức sắc là hết sức quan trọng trong hệ thống chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước
ta.
Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có 11.959 tín đồ các tôn giáo, tuy nhiên số lượng chức
sắc, nhà tu hành chuyên nghiệp chỉ có 06 người (01 Đại Đức, 01 giám mục, 03 Linh mục
và 01 mục sư nhiệm chức) và 62 chức việc giúp Giáo hội chăm lo việc đạo.
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương đường lối, chính sách đối với tôn giáo của
Đảng và Nhà nước, Lạng Sơn đã từng bước tạo điều kiện cho chức sắc các tôn giáo hoạt
động thuận lợi trong khuôn khổ của pháp luật từ khâu tuyển chọn đào tạo, thuyên chuyển, bổ
nhiệm, đến phân công địa bàn hoạt động.
Năm 2005 tỉnh đã tạo điều kiện cho giám mục Ngô Quang Kiệt, linh mục Nguyễn
Ngọc Thể đi Hoa Kỳ dự Hội nghị và thăm thân, đồng thời cho phép linh mục Phạm Thế
Hòa (linh mục ở tỉnh Kiên Giang) làm mục vụ tại Tòa giám mục Lạng Sơn trong thời
gian 06 tháng khi linh mục Nguyễn Ngọc Thể đi vắng
Theo đề nghị của Tòa giám mục Lạng Sơn, năm 2005 Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng
Sơn đã chấp thuận và tạo điều kiện cho hai ứng sinh theo học tại Đại chủng viện Hà Nội
khóa XII. Hiện nay tại Đại chủng viện Hà Nội có 04 chủng sinh của Lạng Sơn đang theo
học [17, tr.3].
Lãnh đạo các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở cũng đã tạo điều kiện thuận lợi,
động viên kịp thời các chức sắc tôn giáo trong những kỳ tĩnh tâm, cấm phòng của Công
giáo, kỳ đại hội của Hội thánh Tin lành, lễ Phật Đản…Với phương châm: gần, hiểu, cảm
hóa và phát huy uy tín của đội ngũ chức sắc, nhà tu hành trong công tác vận động quần
chúng, các cấp chính quyền trên địa bàn toàn tỉnh thường xuyên tiếp xúc, giúp họ tìm
hiểu về lịch sử dân tộc và chủ nghĩa xã hội, về đường lối chính sách, pháp luật của Đảng,
Nhà nước nói chung và chính sách về tôn giáo nói riêng.
Trong hai năm 2004, 2005 trên địa bàn toàn tỉnh, thông qua hình thức hội nghị đã
phổ biến, giáo dục pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, về Luật Dân sự, Luật Đất đai, Xây
dựng,…cho 100% chức sắc tôn giáo trên địa bàn. Ngoài ra thường xuyên giúp họ hiểu rõ
tình hình chung của đất nước, của địa phương, động viên họ tham gia sự nghiệp chung
của toàn dân thích hợp với khả năng và điều kiện của họ, nhất là những hoạt động từ
thiện, nhân đạo, bảo vệ hòa bình, khuyến khích những việc làm đúng đắn. Đồng thời
khéo léo nhưng thẳng thắn phê bình uốn nắn những việc làm không đúng. Nhân dịp kỷ
niệm ngày Thương binh liệt sĩ 27/7/2005, đoàn phật tử Lạng Sơn do Đại đức Thích
Quảng Truyền dẫn đầu cùng 78 phật tử chùa Thành đã đi viếng và cầu hồn các Anh hùng
Liệt sĩ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn theo sự tổ chức của Trung ương Hội Phật giáo
Việt Nam.
Nét nổi bật trong thực hiện chính sách đối với chức sắc, nhà tu hành và tổ chức giáo
hội các tôn giáo trên địa bàn Lạng Sơn trong những năm gần đây là cùng với các cấp
ủy đảng, chính quyền các địa phương, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đã chủ động
tăng cường các hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc với các chức sắc, nhà tu hành, đại diện các
ban hành giáo, ban quản lý đền, chùa, giải thích các chính sách của Đảng và Nhà
nước; thường xuyên tổ chức thăm hỏi động viên họ trong các dịp lễ trọng ha y khi họ
ốm đau, tạo điều kiện cho họ làm tốt việc đạo. Nhận được tin Giáo Hoàng Giăng Pôn
II từ trần, tỉnh đã tổ chức đoàn đại biểu gồm nhiều thành phần đến viếng và chia buồn
với Tòa giám mục Lạng Sơn và bà con giáo dân. Qua nh ững việc làm nêu trên đã đe m
lại những hiệu quả thiết thực, to lớn, đã xóa dần những định kiến, mặc cảm của cả hai
phía, kéo họ gần gũi và cởi mở hơn với cấp ủy đảng, chính quyền cơ sở. Đồng thời
còn động viên, khích lệ họ chủ động tham gia phối hợp cùng với cấp ủy đảng, chính
quyền địa phương, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội chăm lo đến
nhiều vấn đề đời sống xã hội của nhân dân, qua đó đã tạo cho hoạt động tôn giáo đi
vào ổn định, góp phần đảm bảo và giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
trên địa bàn tỉnh.
* Công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động từ thiện nhân đạo và đối ngoại
của tôn giáo:
- Công tác quản lý đối với hoạt động từ thiện nhân đạo:
Hoạt động từ thiện nhân đạo là một hình thức hoạt động xã hội nhạy cảm, là mối
quan tâm của các tổ chức tôn giáo, qua đó thể hiện được chủ nghĩa nhân đạo và gây thanh
thế, tranh thủ phát triển thêm tín đồ.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là khuyến khích chức sắc, tín đồ các tôn giáo
tham gia công tác hoạt động từ thiện xã hội có lợi cho sự phát triển đất nước, phù hợp với
pháp luật và đạo lý. Đồng thời cần ngăn chặn những hoạt động lợi dụng công việc từ
thiện nhân đạo để tiến hành hoạt động tôn giáo trái pháp luật.
Trên địa bàn Lạng Sơn, số lượng tín đồ theo các tôn giáo không nhiều, họ chủ yếu
là những người dân lao động cần cù, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Ngoài việc thực hiện tốt chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, họ tích cực tham gia các hoạt động từ thiện
nhân đạo, thông qua các chi hội Chữ thập đỏ họ đã ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, thiên tai
cũng như chăm sóc, giúp đỡ những người bị ảnh hưởng chất độc màu da cam và những
người nghèo, tàn tật không nơi nương tựa. Trong phong trào này phải kể đến các phật tử
trên địa bàn thành phố Lạng Sơn đã tích cực đóng góp các loại quĩ do chính quyền địa
phương phát động như: Quĩ ủng hộ xây dựng nhà đại đoàn kết, quĩ vì người nghèo, quĩ vì
trẻ thơ, quĩ hỗ trợ nông dân,… Chỉ tính riêng trong năm 2005, đã đóng góp được hơn 20
triệu đồng để xây dựng 02 ngôi nhà đại đoàn kết cho gia đình chính sách tại xã Quảng
Lạc và xã Hoàng Đồng, thành phố Lạng Sơn. Ngoài ra nhiều phật tử trên địa bàn thành
phố Lạng Sơn thường xuyên nhận đỡ đầu, cưu mang những trẻ em mồ côi, trẻ em có
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Các trẻ em này đang được chăm sóc tại Trung tâm bảo trợ
xã hội và các địa phương trên địa bàn Lạng Sơn.
Những hoạt động từ thiện nhân đạo thiết thực của các tôn giáo qua các n ăm đ ã
góp phần giải quyết khó khăn cho x ã h ội, qua đó còn th ể hiện tinh thần nhân văn cao
cả tương thân, tương ái “lá lành đùm lá rách” c ủa dân tộc ta.
Bên cạnh đó, nhằm hạn chế những lệch lạc trong hoạt động từ thiện nhân đạo, các
địa phương đã cử cán bộ bám sát các hoạt động này để hướng dẫn tín đồ các tôn giáo khi
làm công tác từ thiện nhân đạo phải thực hiện đúng với pháp luật của Nhà nước, ngăn
chặn lợi dụng hoạt động từ thiện nhân đạo để truyền đạo trái pháp luật. Do làm tốt công
tác này, tháng 2/2005 đã phát hiện bà Nguyễn Thị Lan thường trú tại thôn Triều Khúc, xã
Thanh Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội lợi dụng công tác từ thiện nhân đạo
giúp đồng bào nghèo tại xã Đồng ý, huyện Bắc Sơn đã phát tán trái phép 09 loại Kinh
Phật với tổng số 192 quyển, qua thẩm định số tài liệu này không đủ điều kiện lưu hành
nên các cơ quan chức năng đã tịch thu.
- Công tác quản lý đối với hoạt động đối ngoại của các tôn giáo:
Trong bối cảnh đất nước ta đang mở cửa, hội nhập với thế giới, giao lưu quốc tế đã,
đang và sẽ còn tăng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tôn giáo. Hiện nay, các thế
lực thù địch đang tăng cường lợi dụng, sử dụng tôn giáo cho mục đích chính trị, cho âm
mưu “ Diễn biến hòa bình” để chống phá chủ nghĩa xã hội.
ở trong nước, một bộ phận chức sắc các tôn giáo, kể cả các tôn giáo đã được Nhà
nước công nhận tư cách pháp nhân đang trỗi dậy tư tưởng vọng ngoại một cách công khai
rõ ràng hơn, như tăng cường tiếp xúc với các tổ chức, cá nhân n ước ngoài, cung cấp
thông tin sai lệch về tình hình tôn giáo trong nước, tạo cớ để các tổ chức nước ngoài can
thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Lợi dụng vấn đề tôn giáo, các thế lực bên ngoài
đang tăng cường gây sức ép với Nhà nước ta trên nhiều mặt. Các tổ chức quốc tế tăng
cường hoạt động tiếp xúc, tìm hiểu và khai thác những sơ hở, thiếu sót trong công tác tôn
giáo của ta để đưa ra những thông tin sai sự thật, cho rằng Việt Nam tiếp tục có những vi
phạm tự do tôn giáo, nhân quyền. Bộ ngoại giao Mỹ trong Báo cáo thường niên năm
2005 về tự do tôn giáo quốc tế, mặc dù đã thừa nhận những tiến bộ trong việc đảm bảo
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam nhưng vẫn đưa Việt Nam vào nhóm các
nước “cần quan tâm đặc biệt” về tôn giáo [7, tr.7].
Trước tình hình trên, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đối ngoại của tôn
giáo sẽ tiếp tục gặp những khó khăn, phức tạp mới. Để đảm bảo quan hệ quốc tế của tổ
chức, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc các tôn giáo diễn ra bình thường, đúng qui định của
pháp luật, quan hệ quốc tế của các tổ chức, cá nhân tôn giáo phải phục vụ và phù hợp với
quan hệ đối ngoại của đất nước chúng ta. Do đó Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định rõ:
“Tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc có quyền thực hiện các hoạt động quan
hệ quốc tế theo qui định của hiến chương, điều lệ hoặc giáo luật của tổ chức tôn giáo phù
hợp với pháp luật Việt Nam” [60, tr.10].
Trên địa bàn Lạng Sơn mặc dù số lượng tín đồ và chức sắc các tôn giáo không
nhiều, nhưng trong những năm qua các cơ quan chức năng của tỉnh đã thực hiện tốt công
tác quản lý nhà nước về hoạt động đối ngoại của các tôn giáo. Qua đó tạo ra tinh thần
phấn khởi, tin tưởng vào chính sách tôn giáo, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà
nước ta.
Về xuất cảnh, từ tháng 7/1999 đến tháng 12/2005 tỉnh Lạng Sơn đã tạo điều kiện
thuận lợi cho chức sắc các tôn giáo xuất cảnh được 07 lượt, trong đó tập trung trong
Công giáo. Cụ thể từ tháng 7/1999 đến tháng 4/2002 Giám mục Ngô Quang Kiệt đã ra
nước ngoài 03 lần: Lần thứ nhất đi Roma dự hội nghị Thượng Hội đồng Giám mục lần
thứ X; lần thứ hai cũng đi Roma theo chương trình của Hội đồng Giám mục Việt Nam;
lần thứ ba đi Malayxia dự Hội nghị Đường hướng tân giáo lý [59, tr.12].
Năm 2004, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã tạo điều kiện cho mục sư nhiệm chức Lý Tiến
Lưu đi Thái Lan dự lớp tập huấn lãnh đạo Hội thánh khu vực sông Mê Kông do Hội Cơ
đốc giáo á Châu tổ chức [51, tr.3].
Trong năm 2005, tỉnh Lạng Sơn cũng tạo điều kiện thuận lợi nhất để giám mục Ngô
Quang Kiệt đi nước ngoài hai lần (dự Đại hội giáo dục tôn giáo tại Mỹ và Vatican viếng
Giáo Hoàng Giăng Pôn II); tạo điều kiện cho linh mục Nguyễn Ngọc Thể đi Mỹ thăm
thân.
Bên cạnh công tác quản lý các hoạt động xuất ngoại của chức sắc các tôn giáo, tỉnh
cũng tạo điều kiện để các đoàn khách tôn giáo quốc tế tới làm việc tại Lạng Sơn. Cụ thể,
tháng 6/2001 đã tổ chức đón tiếp đoàn của Bộ ngoại giao Giáo triều Vatican do ông
Migliore, thứ trưởng ngoại giao và ông Nguyễn Văn Phương, quan chức của Bộ truyền
giáo đến làm việc với Uỷ ban nhân dân tỉnh và thăm Tòa giám mục Lạng Sơn. Trong quá
trình đón tiếp và làm việc với đoàn, tỉnh đã thực hiện đúng nghi lễ ngoại giao, mến
khách, chu đáo và đáp ứng được yêu cầu của đoàn đặt ra, qua đó thể hiện đúng tinh thần
của chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta [59, tr.13].
Hiện nay có trên 500 tổ chức phi chính phủ (NGO) vào Việt Nam hoạt động, trong
đó các NGO tôn giáo có gần 100 (chủ yếu là Tin lành) đã lợi dụng việc vào Việt Nam
hoạt động viện trợ nhân đạo để trực tiếp móc nối, quan hệ, hỗ trợ Tin lành trong nước
hoạt động. Ngoài ra họ còn thu thập tình hình tôn giáo; chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước ta đối với tôn giáo; đặt điều kiện viện trợ với việc hợp thức hóa vai trò của các
tổ chức Tin lành ở Việt Nam chưa có tư cách pháp nhân; lợi dụng hoạt động viện trợ
nhân đạo ở vùng dân tộc thiểu số để tuyên truyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi;
trực tiếp hoạt động truyền đạo như phân phát kinh sách thông qua phát hàng viện trợ, qua
khám chữa bệnh để tuyên truyền phát triển đạo…[68, tr.266].
Tình hình trên đang đặt ra cho công tác quản lý các dự án tài trợ của nước ngoài
cũng như việc quản lý các hoạt động tôn giáo phải thực hiện một cách đồng bộ và thống
nhất, qua đó phát huy được các dự án tài trợ của NGO phục vụ cho sự phát triển đất nước
một cách hiệu quả nhất. Đồng thời phát hiện, ngăn chặn và quản lý được các hoạt động
liên quan đến việc kích động, truyền đạo trái pháp luật.
Cũng như nhiều địa phương khác của cả nước, thời gian qua trên địa bàn Lạng Sơn
có khá nhiều các dự án của các tổ chức NGO tài trợ. Từ năm 2002 tới nay, qua công tác
quản lý các dự án tài trợ của nước ngoài, các cơ quan chức năng của tỉnh đã phát hiện 8
dự án thuộc tổ chức NGO của các nước Hà Lan, Bỉ, Pháp, Nhật Bản, Đức, Thụy Điển,
Trung Quốc (Hồng Kông), các tổ chức này đều có biểu hiện hoạt động liên quan đến tôn
giáo [59, tr.9]. Qua đó các cơ quan chức năng của tỉnh đã đấu tranh, ngăn chặn kịp thời
các hoạt động lợi dụng tôn giáo để truyền đạo trái pháp luật trên địa bàn.

2.2.1.2. Nguyên nhân của thành tựu
Trong thời gian vừa qua tình hình hoạt động của tôn giáo trong cả nước nói chung
và trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói riêng có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng công tác quản
lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo đã thu được những kết quả tích cực, qua đó góp
phần ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế, xã hội trên địa
bàn tỉnh. Có được những thành tựu đó, theo chúng tôi có những nguyên nhân chủ yếu
sau:
Thứ nhất, Đảng và Nhà nước đã kịp thời đề ra đường lối đổi mới đất nước nói
chung và chính sách đối với tôn giáo nói riêng đúng đắn, phù hợp với tình hình phát triển
đất nước
Đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến những thành tựu trong công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở nước ta trong những năm qua.
Sau khi thống nhất đất nước, nhân dân ta bước sang giai đoạn lịch sử mới, đó là thời
kỳ tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Vào thập kỷ 80 của thế kỷ
XX, phong trào Công nhân và Cộng sản quốc tế có những diễn biến phức tạp, bất lợi đối
với phong trào cách mạng thế giới. ở Việt Nam, cách mạng nước ta đang đứng trước
những khó khăn và thách thức mới. Tình hình đó đòi hỏi Đảng ta phải nhanh chóng lãnh
đạo công cuộc đổi mới, để nước ta vượt qua khủng hoảng đi lên.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu cho sự đổi mới của Đảng, trong đó
có đổi mới về công tác tôn giáo:
Đảng và Nhà nước ta, trước sau như một, thực hành chính sách tôn
trọng tự do tín ngưỡng. Lãnh đạo và giúp đỡ đồng bào theo tôn giáo đoàn kết
xây dựng cuộc sống mới và hăng hái tham gia bảo vệ Tổ quốc. Cảnh giác, kiên
quyết và kịp thời chống lại âm mưu, thủ đoạn của bọn đế quốc và phản động
chia rẽ đồng bào có đạo và đồng bào không có đạo, giữa đồng bào theo đạo
này và đồng bào theo đạo khác [26, tr.117].
Đường lối đổi mới đất nước của Đảng phản ánh đúng đắn lợi ích, nguyện vọng, của
nhân dân ta, trong đó có đông đảo đồng bào các tôn giáo hăng hái tích cực thực hiện công
cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Qua các thời kỳ cách mạng trong giai đoạn đổi mới đất nước, trong các Văn kiện
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX Đảng ta đã khẳng định quan điểm nhất quán
trước sau như một đối với tôn giáo là:
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, thực
hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo
hoặc không theo tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình th ường theo đúng
pháp luật…. Nghiêm cấm lợi dụng vấn đề dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo để làm
trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ các dân tộc, xâm
phạm an ninh quốc gia [30, tr.128].
Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng về chính sách đối với tôn giáo, Nhà nước ta
đã ban hành nhiều văn bản pháp qui quan trọng trên lĩnh vực quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo. Chính phủ đã ban hành Nghị định 69/ HĐBT ngày 21/3/1991 của Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Qui định về các hoạt động tôn giáo; ngày 19/ 4/1999
Chính phủ ban hành Nghị định số 26/NĐ-CP Về các hoạt động tôn giáo. Để thực hiện
Nghị quyết số 25/NQ-TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Về công tác
tôn giáo trong tình hình mới, ngày 29/6/2004 Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký Lệnh
công bố Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa IX
thông qua ngày 18/6/2004. Đây là văn bản qui phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất
đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện nay. Để Pháp lệnh Tín ngưỡng,
Tôn giáo đi vào cuộc sống, ngày 01/ 3/ 2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/
NĐ-CP Hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo. Từ đó để
bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo từ Trung ương đến các địa phương vận
dụng quản lý cho sát hợp với tình hình thực tiễn.
Trong bối cảnh mới của cách mạng nước ta hiện nay, với hệ thống quan điểm
đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với tôn giáo tương đối hoàn chỉnh như
đã nêu ở phần trên, một mặt đã đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của một bộ phận
nhân dân có đạo; mặt khác hướng dẫn định hướng cho hoạt động tôn giáo phù hợp với
luật pháp và lợi ích của dân tộc.
Hai là, các cấp ủy đảng và chính quyền trong tỉnh đã quan tâm chỉ đạo, xây dựng,
củng cố lực lượng chính trị trong vùng tôn giáo tập trung, thực hiện tốt công tác vận động
tín đồ, chức sắc các tôn giáo. Đồng thời kiện toàn và thành lập kịp thời cơ quan quản lý
chuyên trách về tôn giáo.
Công tác xây dựng đảng và củng cố lực lượng chính trị trong vùng giáo luôn là vấn
đề then chốt, có tính quyết định tới sự thành công của công tác quản lý các hoạt động tôn
giáo.
Thời kỳ trước những năm 1990, công tác xây dựng đảng và củng cố hoạt động của
các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội trong vùng giáo ở Lạng Sơn còn chưa được quan
tâm đúng mức. Nhiều thôn, bản có đông tín đồ tôn giáo vẫn còn “ trắng” đảng viên, hoặc
là có đảng viên nhưng diễn ra tình trạng hành giáo đều hơn sinh hoạt đảng; các đoàn thể
như Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh…hoạt động cầm
chừng, không có hiệu quả.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác xây dựng lực lượng chính trị vùng
giáo. Trong những năm gần đây Lạng Sơn đã thường xuyên chú trọng đến công tác xây
dựng đảng trong vùng giáo, nhất là từ khi có Qui định số 123- QĐ/TW ngày 28/9/2004
của Ban chấp hành Trung ương Đảng qui định Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với
người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo thì công tác xây dựng đảng
trong vùng tôn giáo đã đạt được một số kết quả quan trọng, đến nay 100% thôn, bản, khu
phố có đông tín đồ tôn giáo đã có chi bộ đảng hoạt động thường xuyên.
Công tác củng cố các tổ chức đoàn thể đã có những bước tiến mới. Mặt trận Tổ
quốc và các đoàn thể ở vùng giáo đã tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động
đoàn viên, hội viên và quần chúng tín đồ, kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của đồng
bào, đồng thời vận động họ thực hiện tốt các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước. Đã tìm ra được những phương pháp phù hợp với đặc điểm của vùng có
đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo, đồng thời chú trọng đến công tác vận động, thuyết
phục, cảm hóa đội ngũ chức sắc, nhà tu hành để họ tuyên truyền vận động tín đồ thực
hiện tốt chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước cũng như các qui định khác của địa
phương.
Bên cạnh công tác tuyên truyền đường lối chính sách đối với tôn giáo của Đảng và
Nhà nước trong đội ngũ cán bộ đảng viên và đông đảo quần chúng nhân dân, tỉnh Lạng
Sơn đã kiện toàn lại bộ máy làm công tác tôn giáo. Ngoài các cơ quan có bộ phận theo
dõi tôn giáo theo chức năng của đơn vị mình như Phòng P.A 38 của Công an tỉnh, Phòng
tôn giáo của Ban Dân vận Tỉnh ủy, Uỷ ban mặt trận Tổ quốc tỉnh… Ngày 17/5/1995 Uỷ
ban nhân dân tỉnh ra Quyết định số 441/QĐ-UBND về việc thành lập Phòng Tôn giáo
tỉnh Lạng Sơn, đây là cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trên
địa bàn tỉnh. Thực hiện Thông tư số 25/TT-BNV ngày 19/4/2004 của Bộ Nội vụ Hướng
dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban
nhân dân quản lý nhà nước về công tác tôn giáo ở địa phương, đến nay Lạng Sơn đã
thành lập Phòng Dân tộc-Tôn giáo trực thuộc Uỷ ban nhân dân 11 huyện và thành phố.
Trong những năm qua, bộ máy tổ chức làm công tác tôn giáo ở Lạng Sơn đã có
nhiều cố gắng trong việc quản lý, giải quyết các vấn đề tôn giáo, đáp ứng được nhu cầu
sinh hoạt tôn giáo của quần chúng, được đông đảo tín đồ, chức sắc các tôn giáo tin tưởng,
phấn khởi, góp phần làm cho các hoạt động tôn giáo dần đi vào nề nếp, hoạt động trong
khuôn khổ của pháp luật.
Ba là, công tác phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị làm công tác tôn
giáo khá chặt chẽ, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo.
Công tác tôn giáo là công việc của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng
được thực hiện theo nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể vận động. Trong những năm qua, Lạng Sơn đã cụ thể hóa được nguyên tắc
trên thành cơ chế hoạt động là: Cấp ủy trực tiếp chỉ đạo công tác tôn giáo; các cấp chính
quyền thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo theo qui định của
pháp luật; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vận động chức sắc, tín đồ các tôn giáo và cơ
quan an ninh trực tiếp chống các hoạt động lợi dụng tôn giáo. Đồng thời thường xuyên
trao đổi tình hình về hoạt động tôn giáo qua các kỳ giao ban, qua đó một mặt kịp thời
điều chỉnh các hoạt động tôn giáo, mặt khác tránh chồng chéo trong công tác quản lý.
Nhờ vậy sức mạnh của hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo được tăng
cường.
Bốn là, tình hình phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh thu được những kết quả tích cực,
tạo cơ sở kinh tế-xã hội cho công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo.
Lạng Sơn là một tỉnh biên giới phía Bắc của Tổ quốc, trong những năm qua thực
hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, Đảng bộ, chính quyền và nhân
dân các dân tộc trong tỉnh đã có nhiều cố gắng và đạt được kết quả trong phát triển kinh
tế, xã hội đáng khích lệ. Kinh tế tăng trưởng bình quân 10,04%/ năm; cơ cấu kinh tế
chuyển dịch đúng hướng, tăng tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ và công nghiệp-xây
dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông- lâm nghiệp; GDP bình quân đầu người năm 2005
đạt 5,9 triệu đồng, tương đương 376 USD [56, tr.2].
Lĩnh vực văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân trong đó có đồng bào các tôn giáo được cải thiện và nâng cao một cách rõ rệt. Điều
đó làm tăng thêm sự phấn khởi, tin tưởng của đồng bào các tôn giáo vào công cuộc đổi
mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, động viên, khích lệ họ hăng hái tham gia
thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như mọi qui định khác
của địa phương đã đề ra.
2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế
2.2.2.1. Những hạn chế
Ngoài những thành tựu cơ bản đã đạt được trên đây, công tác quản lý nhà nước đối
với hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong những năm qua cũng không
tránh khỏi những hạn chế, tồn tại nhất định và cần được khắc phục kịp thời. Sau đây là
một số hạn chế:
- Về mặt nhận thức còn nhiều hạn chế bất cập:
Mặc dù có nhiều cố gắng trong công tác tuyên truyền chủ trương chính sách đối với
tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, nhưng hiện nay trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số tổ
chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, và một bộ phận cán bộ, đảng
viên chưa nhận thức đầy đủ và thống nhất về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo.
Trên thực tế ở một số nơi có một bộ phận cán bộ đảng viên vẫn có tư tưởng bảo thủ
hẹp hòi, cứng nhắc và còn mang nặng định kiến, mặc cảm với tín đồ, chức sắc các tôn
giáo. Bên cạnh đó, có nơi vẫn còn tồn tại tình trạng lơ là, buông lỏng quản lý, mất cảnh
giác tạo sơ hở và bị lợi dụng. Đơn cử như trường hợp của Ông Lý Tiến Lưu, dân tộc Dao,
tín đồ theo đạo Tin lành thuộc Hội thánh Tin lành Bắc Sơn, do sơ hở trong công tác quản
lý, năm 1988 khi đang là Trưởng ban trị sự Hội thánh Tin lành Bắc Sơn, ông Lý Tiến
Lưu đã theo học lớp giảng sư của trường Kinh Thánh ở Hà Nội. Khi địa phương phát
hiện việc đi học trái phép của ông Lý Tiến Lưu như: Không xin phép địa phương, trình
độ văn hóa thấp (học hết lớp 7/ 10), đã quá tuổi qui định, chưa hoàn thành nghĩa vụ quân
sự,…Trong quá trình học tập ông Lưu bị Công an thành phố Hà Nội trục xuất về nhiều
lần, nhưng ông Lý Tiến Lưu vẫn cố tình theo học. Đến tháng 6/1993 sau khi học song
ông Lý Tiến Lưu nhiều lần gửi đơn lên các cấp chính quyền đề nghị công nhận là giảng
sư nhưng không được chấp nhận, từ đó ông Lý Tiến Lưu tỏ thái độ bất bình với chính
quyền và tiến hành nhiều hoạt động tôn giáo trái phép [62, tr.2].
Chính những nguyên nhân nói trên đã dẫn đến việc xử lý các vấn đề nảy sinh trong
các tôn giáo còn nhiều lúng túng, bị động, thiếu tính nhất quán, để vụ việc kéo dài làm
cho vấn đề trở nên phức tạp thêm, tạo cơ hội cho các phần tử cực đoan lợi dụng lôi kéo
quần chúng, dẫn đến làm mất ổn định tình hình chính trị, trật tự xã hội ở địa phương.
- Công tác vận động quần chúng và công tác xây dựng lực lượng chính trị trong các
vùng có đông tín đồ các tôn giáo còn nhiều yếu kém:
Quan điểm chỉ đạo của Đảng là: Cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động
quần chúng. Trong những năm qua mặc dù các cấp chính quyền, các đoàn thể chính trị xã
hội đã có nhiều cố gắng trong công tác vận động quần chúng tín đồ, nhưng hiệu quả đạt
được còn thấp. Chương trình hoạt động của các tổ chức đoàn thể còn sơ sài, đơn điệu, ít
có địa phương tạo ra cách thức hoạt động phù hợp với điều kiện mới. Việc tập hợp hội
viên, đoàn viên và công tác tuyên truyền, giáo dục còn kém hiệu quả.
Bên cạnh đó hoạt động của các tôn giáo lại rất sôi động, nhiều nơi có phần lấn át cả
các đoàn thể quần chúng, trong đó phải kể đến hoạt động của Hội thánh Tin lành Bắc
Sơn. Hội thánh Tin lành Bắc Sơn có 12 Hội nhánh, trong đó mỗi hội nhánh đều thành lập
Ban tráng niên họp tối thứ bảy hàng tuần, Ban thanh niên họp tối thứ sáu, Ban thiếu niên
họp tối thứ năm, Ban thiếu nhi họp vào tối chủ nhật, mỗi hội nhánh họp chung vào tối thứ
tư và và sáng chủ nhật hàng tuần. Nội dung của các buổi nhóm lễ gồm cầu nguyện, hát
Thánh ca và tập hát Thánh ca và nhiều hoạt động khác, ngoài ra các hội nhánh đều thành
lập Ban thăm viếng từ thiện. Như vậy trong một tuần lễ, các giới, các thành phần tín đồ
Tin lành trong hội thánh dành quá nhiều thời gian cho việc sinh hoạt đạo, làm ảnh hưởng
lớn đến thời gian học tập, lao động sản xuất và thời gian tham gia sinh hoạt cũng như các
hoạt động do chính quyền và các đoàn thể tổ chức.
Cùng với đó là các hoạt động mê tín dị đoan, hiện tượng thương mại hóa tôn giáo…
có xu hướng ngày càng tăng, có nguy cơ xâm nhập ngày càng sâu vào các hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo tại một số cơ sở thờ tự, nhất là các đình, chùa. Điều đó gây ảnh hưởng
xấu đến đời sống sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo lành mạnh của quần chúng nhân dân trên
địa bàn.
Công tác xây dựng cơ sở chính trị trong vùng giáo còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù
Qui định số 123-QĐ/TW ngày 28/9/2004 của Ban chấp hành Trung ương Đảng qui định
Một số điểm về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia
sinh hoạt tôn giáo đã ban hành và đưa vào thực hiện được gần hai năm nhưng kết quả
công tác phát triển đảng trong vùng tôn giáo còn chưa cao.
Công tác giáo dục nhận thức về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cho
quần chúng tín đồ các tôn giáo nhiều nơi còn chưa được quan tâm đúng mức. Trên mặt
trận văn hóa- tư tưởng hầu như còn bỏ ngỏ, các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh
còn có xu hướng e dè, ít đề cập đến vấn đề tôn giáo. Đài phát thanh - truyền hình Lạng
Sơn phát 30 phút chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc trong một ngày và một
tháng có 02 chương trình truyền hình dân tộc bằng tiếng Dao, tuy nhiên diện phủ sóng
còn hạn hẹp, hiệu quả tuyên truyền đến với đồng bào còn hạn chế. Trong khi đó hàng
ngày Đài phát thanh “Nguồn sống” (Cơ quan ngôn luận của Giáo hội Tin lành châu á,
phát sóng tại Philippin) và Đài VERITAR (đài phát thanh tiếng Dao của Thái Lan) liên
tục phát sóng các buổi giảng Kinh Thánh và hát Thánh ca bằng tiếng Dao, tiếng Mông...
Ngoài ra công tác tranh thủ, xây dựng lực lượng cốt cán trong chức sắc, tín đồ các
tôn giáo còn nhiều hạn chế. Với những hạn chế trên đây đã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác
vận động quần chúng tín đồ các tôn giáo và công tác xây dựng lực lượng chính trị trong vùng
tôn giáo tập trung của tỉnh Lạng Sơn.
- Công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo của một số ngành và
một số địa phương còn nhiều sơ hở, buông lỏng và hạn chế:
Hạn chế này dẫn đến việc xử lý các vấn đề có liên quan đến tôn giáo còn thụ động,
lúng túng, kém hiệu quả, có nhiều vụ việc do làm chưa chưa thấu đáo, kém tính thuyết
phục, gây ra tâm lý phản cảm nên quần chúng tín đồ chưa đồng tình ủng hộ. Trong quản
lý các hoạt động tôn giáo vẫn còn tình trạng chưa có sự phân công trách nhiệm hợp lý
giữa các cấp, các ngành, các đoàn thể trong hệ thống chính trị, do đó dẫn đến nhiều khi
giải quyết vụ việc còn buông lỏng hoặc chồng chéo giữa các cơ quan.
- Đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo vừa thiếu về số lượng lại vừa yếu về chuyên
môn nghiệp vụ:
Trong những năm gần đây, mặc dù Lạng Sơn đã quan tâm đến công tác đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo, nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được
với yêu cầu thực tiễn đặt ra. Điều đó được thể qua đội ngũ cán bộ đang làm công tác tôn
giáo. Hiện nay số lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo của tỉnh là 173
cán bộ, cụ thể: Phòng Tôn giáo thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh có 02 cán bộ; Phòng Tôn
giáo các huyện và thành phố Lạng Sơn có 32 cán bộ (trong đó chỉ có 22 đồng chí có trình
độ Đại học) và 139 cán bộ chuyên trách ở các xã, thị trấn. Trong số trên không có cán bộ
nào được đào tạo chuyên ngành về tôn giáo, chỉ có một số đồng chí được tập huấn qua
các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về tôn giáo và công tác tôn giáo.
Điều bất cập hiện nay là ở đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tôn giáo ở các
xã, phường, thị trấn. Đây là những người trực tiếp làm công tác tôn giáo vận ở cơ sở
nhưng họ chưa được đào tạo qua nghiệp vụ công tác tôn giáo, đặc biệt ở những xã vùng
sâu vùng xa đội ngũ cán bộ này nhiều người có trình độ học vấn thấp, chỉ học hết lớp
7/10, điều đó cũng hạn chế đến kết quả công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động
tôn giáo trên địa bàn.

2.2.2.2. Nguyên nhân của hạn chế
Công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở tỉnh Lạng Sơn trong những năm
qua còn tồn tại một số hạn chế như đã trình bày ở phần trên, theo chúng tôi những hạn
chế đó do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Một là, sự bất cập, hạn chế trong nhận thức về tôn giáo và chính sách tôn giáo.
Việt Nam có 6 tôn giáo lớn đã được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, trong
đó có 4 tôn giáo ngoại nhập. Trong lịch sử, khi du nhập vào nước ta một số tôn giáo đã
gắn bó với thực dân, đế quốc. Các giáo sĩ thừa sai của đạo Công giáo đã ngụy trang bằng
các hoạt động tôn giáo để thu thập tình hình, tạo điều kiện cho thực dân Pháp xâm lược
và hậu thuẫn cho việc cai trị của chúng đối với nước ta. Sau này đế quốc Mỹ tiếp tục sử
dụng lực lượng phản động trong tôn giáo để thành lập chính quyền tay sai trong chiến
lược biến Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Trong những năm gần đây còn
một số chức sắc các tôn giáo vẫn giữ thái độ thù địch, chống đối Đảng và Nhà nước ta,
điển hình là các nhân vật như Thích Quảng Độ, Huyền Quang (Phật giáo), Nguyễn Văn
Lý, (Công giáo), Lê Quang Liêm (Phật giáo Hòa Hảo)… đã làm cho một bộ phận cán bộ
đảng viên có tư tưởng mặc cảm với tôn giáo, nhìn nhận tôn giáo với thành kiến nặng nề.
Lạng Sơn có 3 tôn giáo chính, đó là Phật giáo, Công giáo và Tin lành. Trong những
năm qua, tín đồ các tôn giáo luôn hành đạo theo phương châm “kính Chúa, yêu nước”,
“sống tốt đời, đẹp đạo”, chấp hành tốt mọi chủ trương đường lối, chính sách pháp luật
của Đảng và Nhà nước, có nhiều đóng góp cho sự phát triển chung của tỉnh nhà.
Các tôn giáo đã có quá trình tồn tại và phát triển khá lâu ở Lạng Sơn, tuy nhiên đến
nay vẫn còn một số cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân không hiểu biết về hoạt
động của các tôn giáo trên địa bàn. Hiện nay đường hướng hoạt động của các tôn giáo là
tích cực gây thanh thế, phát triển tín đồ, vì vậy nhiều hoạt động truyền đạo trái phép đã
diễn ra trên địa bàn. Đặc biệt đã có dấu hiệu cho thấy, hoạt động của các tôn giáo có sự
chỉ đạo của các thế lực từ nước ngoài. Hoạt động của các giáo hội không còn là hoạt động
tôn giáo thuần túy nữa mà đã có tính đan xen với chính trị. Trước tình hình phức tạp như
vậy, một bộ phận cán bộ đảng viên có thành kiến nặng nề, có tư tưởng phân biệt đối xử
với tôn giáo; chỉ nhìn thấy những tiêu cực, hạn chế mà không nhìn thấy mặt tích cực của
tôn giáo. Những bất cập trong nhận thức như vậy đã là nguyên nhân hạn chế trong công
tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở tỉnh Lạng Sơn.
Ngoài ra, công tác tuyên truyền phổ biến quan điểm đường lối của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước đối với tôn giáo trong đội ngũ cán bộ đảng viên chưa sâu rộng.
Một bộ phận cán bộ đảng viên còn chưa nắm rõ chủ trương chính sách về tôn giáo của
Đảng và Nhà nước, chưa hiểu rõ những qui định cụ thể về đảm bảo quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hiện nay, nhất là Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo. Chính vì
vậy mà công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo không thể đạt hiệu quả cao
được.
Hai là, sự phối hợp của các cơ quan làm công tác tôn giáo, quản lý nhà nước về
hoạt động tôn giáo còn thiếu chặt chẽ, đồng bộ.
Việc phân công, phân cấp trách nhiệm cho các cơ quan làm công tác tôn giáo còn
thiếu rõ ràng cụ thể, còn có sự chồng chéo hoặc buông lỏng quản lý; Các ngành quản lý
nhiều khi chưa hiểu biết sâu sắc về chính sách tôn giáo, chưa gắn công tác tôn giáo với
nhiệm vụ của đơn vị mình. Công tác sơ kết, tổng kết quá trình thực tiễn thực hiện các Chỉ
thị, Nghị quyết của Trung ương, của tỉnh về tôn giáo để rút kinh nghiệm ở cấp cơ sở còn
chưa được coi trọng. Cấp ủy, chính quyền ở một số nơi chưa thật sự coi trọng công tác
xây dựng, củng cố tổ chức làm công tác vận động quần chúng tín đồ các tôn giáo. Trong
khi đó chất lượng của các tổ chức này ở vùng tôn giáo tập trung còn nhiều yếu kém, ch ưa
có phương thức hoạt động phù hợp.
Công tác giáo dục thanh thiếu niên là một công tác có ý nghĩa chiến lược trong việc
giải quyết vấn đề tôn giáo, nhưng các đoàn thể chưa có cơ chế phối hợp, xem nhẹ và chưa
tạo được sức mạnh tổng hợp để giáo dục và thuyết phục, lôi cuốn họ. Trong khi đó các tổ
chức tôn giáo lại ra sức tăng cường hoạt động, họ dùng nhiều hình thức lôi cuốn, thu hút đội
ngũ thanh, thiếu niên, nhi đồng.
Ba là, hệ thống pháp luật về tôn giáo của Nhà nước còn thiếu, việc cụ thể hóa các
chính sách của Nhà nước ở địa phương còn gặp nhiều khó khăn.
Trong một thời gian dài ở nước ta công tác nghiên cứu khoa học về vấn đề tín
ngưỡng, tôn giáo chưa được quan tâm đúng mức. Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là sau
khi có Nghị quyết số 24 ngày 16/10/1990 của Bộ chính trị Về tăng cường công tác tôn
giáo trong tình hình mới được ban hành thì công tác nghiên cứu đã được đẩy mạnh hơn.
Tuy nhiên hiện nay hệ thống pháp luật về tôn giáo đang trong quá trình soạn thảo, hình
thành nên chưa bao quát hết được một số nội dung hoạt động của tôn giáo. Pháp lệnh Tín
ngưỡng, Tôn giáo và Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh có nhiều điểm mới, song
thời gian triển khai chưa nhiều nên ở một số địa phương còn lúng túng trong tổ chức thực
hiện [7, tr.17].
Việc cụ thể hóa chính sách về tôn giáo của Nhà nước trên địa bàn còn gặp nhiều
khó khăn, như: Trình độ dân trí của quần chúng tín đồ người dân tộc thiểu số còn hạn
chế; công tác tuyên truyền chưa phong phú và phù hợp với trình độ và tâm lý của tín đồ
là người dân tộc, do đó cũng ảnh hưởng đến việc tiếp thu các chủ trương, chính sách pháp
luật của Đảng, Nhà nước nói chung và chính sách về tôn giáo nói riêng. Công tác triển
khai Chỉ thị số 01 ngày 4/2/2005 của Thủ tướng Chính phủ Về một số công tác đối với đạo
Tin lành trên địa bàn tỉnh cũng còn nhiều lúng túng, cho đến ngày 8/5/2006, Uỷ ban nhân
dân tỉnh Lạng Sơn mới có Hướng dẫn số 529/HD-UBND-TG về việc triển khai kế hoạch số
05 KH/ TGCP-TL trong tín đồ dân tộc Mông ở huyện Bắc Sơn.
Bốn là, đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo còn thiếu về số lượng và yếu về năng
lực.
Trong những năm qua mặc dù đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo ở tỉnh đã được
tăng cường nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý về hoạt động tôn
giáo hiện nay trên địa bàn. Tình trạng tồn tại hiện nay là cán bộ làm công tác quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo còn yếu về năng lực, trình độ, hầu hết cán bộ chuyển
công tác từ các ngành khác đến, chưa qua đào tạo cơ bản về tôn giáo và công tác tôn
giáo. Thậm chí có người chậm đổi mới tư duy, ít hiểu biết về tôn giáo nên có nhiều lúng
túng trong thực thi nhiệm vụ. Trong khi đó đội ngũ chức sắc các tôn giáo được đào tạo
bài bản, kỹ lưỡng, có trình độ học vấn và thần học cao, do đó cán bộ làm công tác tôn
giáo của ta ngại tiếp xúc với chức sắc các tôn giáo, điều đó làm hạn chế rất nhiều đến
công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo.
Hiện nay các huyện và thành phố trong tỉnh đã có phòng Dân tộc-Tôn giáo, tuy
nhiên cấp xã, phường, thị trấn là những nơi trực tiếp gặp gỡ, tiếp xúc với tín đồ, chức sắc
các tôn giáo thì đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo đều theo chế độ kiêm nhiệm, vì vậy
công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo cũng gặp một số khó khăn.
Phòng Tôn giáo trực thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh tuy đã được kiện toàn
nhưng vẫn trực thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, chưa có con dấu và tài khoản
riêng. Vì vậy khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, đặc biệt khi thực hiện Quyết
định 16/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Về việc hỗ trợ kinh phí từ nguồn ngân
sách Nhà nước cho các tổ chức, cá nhân tôn giáo tại Việt Nam cũng gặp một số vướng
mắc, trở ngại nhất định. Ngoài ra, chế độ ưu đãi đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn
giáo chưa được quan tâm đúng mức, đời sống của cán bộ tôn giáo còn nhiều khó khăn. Vì
vậy đã tạo ra tâm lý cán bộ không an tâm công tác…
Một số nguyên nhân trên đã dẫn đến những hạn chế đối với công tác quản lý nhà
nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn Lạng Sơn trong những năm qua.

2.3. Những bài học kinh nghiệm và một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn hiện nay
2.3.1. Những bài học kinh nghiệm
Từ thực tiễn công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn trong những
năm qua, chúng tôi có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Một là, phải có sự nhận thức đúng đắn, thống nhất về đường lối, chính sách đối với
tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong tình hình mới.
Đây là một bài học kinh nghiệm hết sức quan trọng dẫn đến những thành tựu trong
công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn trong những năm vừa qua.
Kinh nghiệm ở Lạng Sơn cho thấy rằng, phải có sự nhận thức đúng đắn đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo, thì công tác quản lý nhà nước về hoạt động
tôn giáo mới có hiệu quả. Bởi vì hệ thống chính trị nói chung và đội ngũ cán bộ làm công
tác tôn giáo nói riêng có nắm vững và nhận thức đúng đắn thì mới thực hiện đúng, có
hiệu quả và biết được những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý nhà nước về hoạt
động tôn giáo. Đồng thời qua đó cũng nâng cao sự thống nhất quan điểm, trách nhiệm
của cả hệ thống chính trị về công tác tôn giáo.
Hai là, phải có kế hoạch, chiến lược đối với công tác quản lý nhà nước về hoạt
động tôn giáo phù hợp với địa phương.
Bước vào những năm đầu của thế kỷ XXI, các tôn giáo đã đề ra chiến lược phát
triển của mình, trong đó các tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo
đều chọn Châu á (trong đó có Việt Nam) là địa bàn trọng điểm truyền giáo.
Trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn có sự hiện diện của ba tôn giáo lớn (Phật giáo, Công
giáo và Tin lành) và cũng đang trong quá trình vận động phát triển. Trong thời gian qua,
công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn đạt được những kết quả
quan trọng là do tỉnh đã kịp thời đề ra kế hoạch, xây dựng chiến lược đối với công tác
quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo. Đã đề ra kế hoạch quản lý hoạt động đối với
từng tôn giáo trên địa bàn, như Kế hoạch số 07 ngày 28/4/2000 của Uỷ ban nhân dân tỉnh
đối với đạo Tin lành trong tình hình mới; kế hoạch đối với đạo Công giáo, Phật giáo,...
Để các hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh đi vào nề nếp và ổn định, Uỷ ban nhân dân
tỉnh Lạng Sơn đã có Quyết định số 31/QĐ- UBND ngày 8/11/2005 Về việc ban hành Qui
chế quản lý hoạt động đền, chùa và các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh.
Vì vậy trong những năm vừa qua, nhìn chung hoạt động tôn giáo trên địa bàn Lạng Sơn
ổn định, không có vấn đề gì phát sinh, nổi cộm lớn. Quần chúng tín đồ và chức sắc các
tôn giáo tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, yên tâm hành đạo
trong qui định của pháp luật và phấn khởi tham gia vào các phong trào xây dựng quê
hương đất nước do địa phương phát động.
Ba là, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo được chú ý cả về số
lượng và chất lượng.
Thực tiễn ở nước ta cho thấy, ở địa phương nào, cơ sở nào đầu tư nhiều cho bộ máy
tổ chức và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo thì có nhiều thành công trong quản lý
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Ngược lại, ở đâu ít coi trọng tới công tác này thì
gặp nhiều khó khăn, hạn chế về công tác quản tôn giáo.
Nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo, trong những
năm qua Lạng Sơn đặc biệt chú ý đến việc xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ
làm công tác tôn giáo, qua đó đáp ứng được yêu cầu công tác tôn giáo trong tình hình
mới. Điều đó được thể hiện qua sự quan tâm cả về số lượng và chất lượng của tổ chức và
cán bộ làm tôn giáo.
Về số lượng, đến nay ngoài các cơ quan làm công tác tôn giáo như Ban Dân vận từ
tỉnh đến cơ sở, cơ quan An ninh, các đoàn thể chính trị-xã hội, tỉnh đã củng cố kiện toàn
Phòng Tôn giáo thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh. Bên cạnh đó đã thành lập được
Phòng Dân tộc-Tôn giáo ở 11 huyện và thành phố, đối với các xã, phường, thị trấn có
đông tín đồ tôn giáo thì đều có cán bộ làm công tác tôn giáo theo chế độ kiêm nhiệm.
Cùng với việc củng cố bộ máy tổ chức làm công tác tôn giáo từ tỉnh đến cơ sở, đội
ngũ cán bộ làm công tác này đã được quan tâm đầu tư về chất lượng. Hiện nay hầu hết
cán bộ làm công tác tôn giáo ở cấp tỉnh và cấp huyện đều có trình độ Đại học. Hàng năm
tỉnh đều cử cán bộ làm công tác tôn giáo đi học các lớp tập huấn về nghiệp vụ tôn giáo do
Trung ương triệu tập. Cử cán bộ theo học các lớp đào tạo dài hạn hệ chính qui tập trung ở
các cơ sở đào tạo có uy tín, đến nay đã cử một cán bộ đi học hệ Cao học chuyên ngành
tôn giáo và tín ngưỡng tại Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Với sự quan tâm như vậy, trong những năm qua tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ
làm công tác tôn giáo ở Lạng Sơn đã có nhiều thuận lợi và cố gắng trong việc quản lý,
giải quyết các vấn đề tôn giáo, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của quần chúng. Vì
vậy được đông đảo tín đồ, chức sắc các tôn giáo tin tưởng, góp phần làm cho các hoạt
động tôn giáo trên địa bàn dần đi vào nề nếp, hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật.
Bốn là, sự phối kết hợp giữa các cơ quan ban ngành trong công tác vận động quần
chúng tín đồ phải gắn với công tác chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho đồng
bào, nhất là vùng đồng bào có đạo.
Quan điểm của Đảng ta đã chỉ rõ, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn
bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo là một mặt rất quan trọng của công tác tôn giáo, do đó đòi hỏi phải phát huy sức
mạnh của cả hệ thống chính trị mới đạt hiệu quả.
Thời gian qua tỉnh Lạng Sơn đã quan tâm chỉ đạo công tác phối hợp giữa các cơ
quan, ban, ngành trong công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo. Đặc
biệt tỉnh đã gắn công tác này với nhiệm vụ chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho
đồng bào vùng tôn giáo, cụ thể như:
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc các huyện thuộc vùng tôn giáo tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở nhằm thực
hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho
đồng bào.
Ngành Văn hóa-Thông tin phối hợp với Mặt trận tổ quốc đẩy mạnh cuộc vận động
“Xây dựng gia đình, thôn bản văn hóa, làng văn hóa”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc
sống mới ở khu dân cư” trong vùng đồng bào theo đạo.
Sở Y tế phối hợp với Uỷ ban Dân số-Gia đình và Trẻ em các huyện triển khai công
tác tăng cường cơ sở vật chất và chăm sóc sức khỏe cho đồng bào… Các đoàn thể vùng
giáo cũng thông qua chương trình hoạt động của mình, đẩy mạnh công tác xóa đói giảm
nghèo, tích cực thu hút hội viên, đoàn viên tham gia các hoạt động xã hội nhằm xây dựng
quê hương đất nước, từ đó đã tăng cường thắt chặt đoàn kết tình làng nghĩa xóm.
Qua các hoạt động như trên đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho đồng bào các dân tộc, đặc biệt là đồng bào các tôn giáo, làm cho đồng bào yên tâm
xây dựng cuộc sống “Tốt đời, đẹp đạo”.
Năm là, xử lý tình huống tôn giáo phải thông qua công tác vận động quần chúng và
tranh thủ đội ngũ cốt cán tôn giáo. Biểu dương kịp thời những tín đồ tích cực, đồng thời
xử lý kiên quyết đúng pháp luật đối với những hoạt động tôn giáo trái phép.
Quần chúng tín đồ các tôn giáo là một bộ phận quần chúng của Đảng, một phần lực
lượng cách mạng Việt Nam. Vận động quần chúng có đạo và đội ngũ cốt cán tôn giáo là
việc làm quan trọng trong việc xử lý các tình huống tôn giáo phức tạp nảy sinh. Làm tốt
công tác vận động quần chúng tín đồ, quan tâm chăm lo, phát triển đời sống vật chất, tinh
thần, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào, động viên họ hăng hái
thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, sống “tốt đời, đẹp đạo” thì
các tình huống tôn giáo phức tạp như tranh chấp đất đai cơ sở thờ tự, mâu thuẫn trong nội
bộ tôn giáo có thể phát sinh thành điểm nóng xã hội… đều được giải quyết hiệu quả.
Tín đồ các tôn giáo ở Lạng Sơn phần lớn là đồng bào các dân tộc thiểu số, thường
có trình độ văn hóa thấp, nhưng nhìn chung đồng bào rất tin tưởng vào Đảng và Nhà
nước. Trong những năm qua, do làm tốt công tác biểu dương các tín đồ, cốt cán tích cực
trong các tôn giáo, đồng thời kiên quyết xử lý, tranh thủ sự đồng tình của quần chúng đối
với những hành vi tuyên truyền đạo, phát tán kinh sách trái pháp luật. Vì vậy đã được
đồng bào tin tưởng, an tâm hành đạo đúng pháp luật, không bị các thế lực thù địch lợi
dụng, lôi kéo vào việc chống phá cách mạng, tích cực phát triển kinh tế, góp phần xây
dựng nông thôn mới trên quê hương Lạng Sơn ngày một giầu và đẹp.

2.3.2. Một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nhà nước đối hoạt động tôn
giáo ở Lạng Sơn hiện nay
2.3.2.1. Một số hoạt động cần quan tâm của các tôn giáo ở Lạng Sơn hiện nay
Một là, đối với Phật giáo.
Trong những năm qua các phật tử ở Lạng Sơn luôn gắn bó với dân tộc, chấp hành tốt
chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, có nhiều đóng góp vào thực hiện
mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng của tỉnh. Tích cực tham gia các
phong trào do địa phương phát động như: Từ thiện nhân đạo, phong trào xóa đói giảm
nghèo, chương trình kế hoạch hóa gia đình, phong trào “Xây dựng gia đình, làng bản, khối
phố văn hóa”…
Bên cạnh đó, hoạt động của Phật giáo ở Lạng Sơn nổi lên một số vấn đề mà các cấp
chính quyền và các ngành chức năng cần quan tâm giải quyết như sau:
Hiện nay các Ban quản lý đền, chùa hoạt động kéo quá dài thời gian, mà chưa kiện
toàn lại được. Do đó cần phải củng cố, kiện toàn lại các Ban quản lý này theo đúng nhiệm
kỳ và theo đúng qui định để đưa việc quản lý cũng như các hoạt động tôn giáo tại các
đền, chùa đi vào nề nếp theo đúng pháp luật. Các hủ tục như bói toán, sóc thẻ, lên đồng,
buôn thần bán thánh vẫn diễn ra ở một số đền, chùa trên địa bàn thành phố Lạng Sơn
đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại. ở một số đền, chùa (đền Cửa Bắc, đền Tả Phù…)
tự ý xây sửa, đưa các tượng vào thờ, không chấp hành đúng theo các qui định của Nhà
nước cũng như của địa phương. Việc xử lý của các cấp chính quyền còn ch ưa kiên quyết,
do đó đã gây khó khăn trong việc quản lý, điều hành của các cơ quan chuyên môn. Việc
kiến nghị, khiếu kiện, tranh chấp quyền lợi trong quản lý một số đền, chùa như tranh
chấp quản lý ở đền Kỳ Cùng, chùa Thành, đền Cửa Đông…mặc dù đã được chính quyền
và các ngành chức năng giải quyết, nhưng chưa triệt để, còn để vụ việc kéo dài, gây dư
luận không tốt trong quần chúng tín đồ. Vì vậy các cơ quan, ban ngành của tỉnh và Uỷ
ban nhân dân các huyện, thành phố cần phối kết hợp, tăng cường việc kiểm tra, thanh tra
để ngăn chặn và sớm khắc phục những tình trạng trên
Hai là, đối với Công giáo.
Đạo Công giáo ở Lạng Sơn có 06 nhà thờ, 08 xứ đạo với 3.500 giáo dân, tập trung ở
ba xứ chính: Cửa Nam, Mỹ Sơn và Thất Khê.
Trong những năm qua tín đồ Công giáo là những người lao động cần cù, tích cực
tham gia lao động sản xuất phát triển kinh tế, xã hội, chấp hành tốt chủ trương, chính
sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, hành đạo theo đường hướng “kính Chúa, yêu
nước”, "sống phúc âm giữa lòng dân tộc".
Tuy nhiên, thời gian vừa qua Công giáo trên địa bàn Lạng Sơn có những hoạt động
đáng chú ý sau:
Từ ngày giám mục Ngô Quang Kiệt được bổ nhiệm làm giám mục quản lý giáo
phận Lạng Sơn-Cao Bằng, Giáo hội Công giáo Lạng Sơn có những thay đổi về đường
hướng hoạt động để thích nghi với điều kiện hiện tại. Hiện nay đội ngũ chức sắc tạo
nhiều lý do để tăng cường gặp gỡ, tiếp xúc, đối thoại, tranh thủ sự ủng hộ của chính
quyền các cấp và các cơ quan chức năng. Đồng thời tìm mọi cách để nắm quần chúng
giáo dân, gây ảnh hưởng và niềm tin trong các gia đình giáo dân và quan tâm chú ý củng
cố các tổ chức giáo hội, phát triển tín đồ, đào tạo chức sắc.
Giám mục Ngô Quang Kiệt liên tục xin cho một số linh mục thân cận ở miền Nam
ra để làm mục vụ tại Lạng Sơn, tạo lý do để các linh mục này ở lại Lạng Sơn lâu dài để
củng cố hàng ngũ chức sắc trong giáo phận Lạng Sơn-Cao Bằng. Mặt khác cũng tích cực
xin nữ tu để phục vụ cho Tòa giám mục Lạng Sơn và cho nữ tu đi học tại thành phố Hồ
Chí Minh.
Tòa giám mục còn tăng cường thiết lập, mở rộng quan hệ với các tổ chức tôn giáo ở
trong nước và ở nước ngoài để tranh thủ sự ủng hộ về vật chất, tinh thần tạo điều kiện
cho việc phát triển đạo, củng cố, phục hồi các cơ sở thờ tự. Đến nay đã Xây dựng mới
được nhà thờ chính tòa, tu sửa nhà thờ Lộc Bình, nhà thờ Mỹ Sơn và nhà thờ Thất Khê
đang được xây dựng.
Giám mục Ngô Quang Kiệt là một trong những giám mục trẻ nhất trong hàng ngũ
Giám mục Việt Nam, được đào tạo cơ bản và có trình độ cao. Được bổ nhiệm về Lạng
Sơn không lâu (từ tháng 7/1999 đến nay), song giám mục Ngô Quang Kiệt đã xin đi nước
ngoài 05 lần, thường xuyên tổ chức các lớp học tiếng Anh cho giáo dân, do vậy được các
tổ chức tôn giáo trong và ngoài nước quan tâm chú ý hơn.
Giáo hội Công giáo Lạng Sơn đã lợi dụng công tác từ thiện nhân đạo để chuyển
những vật phẩm đến các gia đình gặp khó khăn, qua đó để tác động tư tưởng, gây cảm
tình, từ đó tuyên truyền phát triển đạo hoặc làm sống lại những nơi đã khô nhạt đạo. Bên
cạnh việc xin phép xây dựng lại cơ sở thờ tự, các công trình phúc lợi khác của Giáo hội
như vườn hoa, nghĩa trang, khu tập thể giáo dân thì Giáo hội đã nhiều lần gửi đơn đòi lại
đất đai, tài sản cũ của Giáo hội.
Ba là, đối với đạo Tin lành.
Đạo Tin lành hiện nay chủ yếu hoạt động ở vùng dân tộc Dao thuộc huyện Bắc Sơn.
Tổng số tín đồ của đạo Tin lành dân tộc Dao hiện nay là 1.459 người, trong đó có 857 tín
đồ đã qua lễ Bắp Têm.
Hội thánh Tin lành Bắc Sơn có 12 hội nhánh, đến nay đã Đại hội lần thứ VII gồm 13
nhân sự, do mục sư nhiệm chức Lý Tiến Lưu làm chủ tọa Hội thánh.
Trong những năm qua nhìn chung đồng bào theo đạo Tin lành ở huyện Bắc Sơn đã
phát huy tinh thần đoàn kết, thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước,
ra sức lao động sản xuất, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Đến 4/2006 đã có 27 tín đồ là
đảng viên, có 02 tín đồ là Đại biểu Hội đồng nhân dân huyện, trong đó có 01 tín đồ là phó
giám đốc Trung tâm y tế huyện đồng thời là Phó Ban kinh tế-văn hóa-xã hội của Hội
đồng nhân dân huyện; có 9 tín đồ là đại biểu Hội đồng nhân dân xã, trong đó có 01 tín đồ
là Phó chủ tịch Hội đồng nhân dân xã; có 04 tín đồ là trưởng thôn; 05 tín đồ là công an
viên ở xã; có 01 tín đồ là Chủ tịch Hội Nông dân xã. Nét nổi bật của đồng bào theo đạo
Tin lành trong thời gian qua là thực hiện tốt chính sách kế hoạch hóa gia đình, giúp nhau
xóa đói giảm nghèo, thực hiện nếp sống gia đình văn hóa, trong bản không có tệ nạn xã
hội [41, tr.11].
Tuy nhiên bên cạnh đó, một số hoạt động của đạo Tin lành ở huyện Bắc Sơn cần
chú ý như sau:
Nhằm tăng cường ảnh hưởng đối với tín đồ, Hội thánh đã tổ chức sinh hoạt tôn giáo
từ 2 buổi tăng lên 4 buổi trong một tuần, do đó đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, thời
gian lao động sản xuất, học tập và thời gian tham gia các đoàn thể xã hội của tín đồ.
Nhiều Hội nhánh đã dùng nhiều thủ đoạn lôi kéo, ép buộc quần chúng đi theo đạo.
Những ai không theo đạo, không tin Chúa thì họ không cho vào Hội hiếu, trong gia đình
có đám hiếu, đám hỷ họ không cho người đến giúp. Không ít Hội nhánh đã ngăn trở tín đồ
thực hiện nghĩa vụ công dân, không cho nghe Đài Tiếng nói Việt Nam và chương trình của
Đài địa phương mà chỉ được nghe Đài “Nguồn sống” và đài “VERITAS” tuyên truyền về
đạo Tin lành.
Trong Ban chấp sự Hội thánh có sự phân công phát triển đạo không chỉ ở địa bàn
đồng bào Dao ở Bắc Sơn mà còn tăng cường phát triển đạo ra khu vực ngoài huyện,
ngoài tỉnh.Trước năm 2006, Hội thánh liên tục đề nghị chính quyền địa phương cho xây
dựng nhà thờ, nhưng chưa được chính quyền chấp thuận vì chưa đủ điều kiện, từ đó Ban
chấp sự và một số tín đồ tỏ ra bất bình, không hợp tác với chính quyền và có hành động
chống đối. Hội thánh cũng tăng cường thiết lập, mở rộng quan hệ với các tổ chức Tin
lành trong và ngoài nước nhằm tranh thủ sự ủng hộ, tài trợ về vật chất và tinh thần.
Ngày 7/7/2006, trong chuy ến thăm và làm vi ệc tại Lạng Sơn, Đại sứ Mỹ Michael
W. Marine đã đến tận thôn Suối Nay, xã Tân Tri, huyện Bắc Sơn, một thôn vùng sâu
vùng xa để tìm hiểu tình hình sinh hoạt đạo của các tín đồ Tin lành.
Năm 1998, một bộ phận đồng bào dân tộc Mông từ các tỉnh Tuyên Quang, Cao
Bằng, Bắc Cạn…di cư về, nhưng chủ yếu tập trung ở huyện Bắc Sơn với 49 hộ có 291
khẩu thuộc 2 hệ phái: Tổng hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) và Liên Hữu cơ đốc.
Khi mới đến định cư đồng bào không sinh hoạt tôn giáo tập trung, song từ năm 2004 trở
lại đây, với sự tác động của Hội thánh Tin lành Bắc sơn, đồng bào đã thường xuyên tổ
chức sinh hoạt đạo. Vấn đề đáng quan tâm là ông Lý Văn Sung tự đứng tên là Trưởng
Hội nhánh Tin lành thôn Tiến Hậu (xã Nhất Tiến) đã làm đơn gửi chính quyền địa
phương kèm bản đăng ký chương trình hoạt động và nội dung bản đăng ký sinh hoạt các
ngày lễ có sự phê chuẩn của Tổng hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc). Ngày
04/01/2006, Tổng hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) chính thức có công văn gửi
Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn và Uỷ ban nhân dân huyện huyện Bắc Sơn xin thành lập
Hội thánh Tin lành thôn Tiến Hậu trực thuộc Tổng hội chứ không thuộc Hội thánh Tin
lành Bắc Sơn, đăng ký người được bầu làm đại diện lâm thời là ông Lý Văn Sung.
Hoạt động đạo Tin lành của đồng bào dân tộc Mông ở huyện Bắc Sơn trong thời
gian qua là khá phức tạp. Các ông Lý Văn Sung, Sầm Văn Phù, Lý Văn Khành tích cực
tuyên truyền, phát triển đạo trái phép, phao tin đồn thất thiệt, gây tâm lý hoang mang
trong đồng bào dân tộc thiểu số. Tình hình trật tự trị an trong vùng dân tộc Mông cũng
không ổn định, tình hình trộm cắp, hiềm khích cá nhân gia tăng dẫn đến trộm gia súc, đốt
nhà của nhau…
Trong nội bộ Hội nhánh cũng mất đoàn kết, ông Lý Văn Sung và Lý Văn Khành do
mâu thuẫn về cách thức sinh hoạt tôn giáo, không đồng nhất về tư tưởng nên đã tự tách ra
hình thành 02 nhóm đạo theo hai hệ phái khác nhau, đó là:
- Hệ phái Tin lành Việt Nam (miền Bắc) do Lý Văn Sung đứng đầu, có 30 hộ, 174
khẩu tập trung chủ yếu tại thôn Tiến Hậu, xã Nhất Tiến.
- Hệ phái Liên Hữu cơ đốc do Lý Văn Khành đứng đầu, có 18 hộ, 110 khẩu, trong
đó ở xã Nhất hòa có 11 hộ, xã Nhất Tiến có 7 hộ.
Như vậy, ở hai xã Nhất Tiến và Nhất Hòa có 49 hộ với 284 khẩu đồng bào Mông
theo hai hệ phái đạo Tin lành. Trong quá trình hoạt động, hai hệ phái này đều tranh giành
sự ảnh hưởng lẫn nhau, do đó tình hình hoạt động của đạo Tin lành trong dân tộc Mông
có nhiều bất ổn.
Hiện nay có động thái nhiều hộ dân tộc Mông theo Tin lành ở các tỉnh tiếp tục di cư
đến huyện Bắc Sơn; tín đồ Tin lành người Dao trong huyện có biểu hiện di cư sang các
khu vực có đồng bào Dao sinh sống ở phạm vi trong tỉnh và các tỉnh khác; Có hiện tượng
nhiều hệ phái Tin lành khác nhau đang tìm cách tuyên truyền để thu hút tín đồ gia nhập
đạo. Những vấn đề đó đang đặt ra nhiều khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về hoạt
động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
2.3.2.2. Vấn đề đấu tranh chống lợi dụng tôn giáo
Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch xác định tôn giáo là vấn đề nhạy cảm, tín
đồ tôn giáo là lực lượng xã hội dễ bị lừa bịp, kích động để tạo dựng “ngọn cờ” chống đối.
Ngay từ những năm 50 của thế kỷ XX, Mỹ đã kích động lôi kéo giáo dân di cư từ Bắc
vào Nam để gây mất ổn định chính trị và sử dụng lực lượng này vào vành đai chiến lược
chống Cộng, diệt Cộng; sử dụng các nhóm Cao Đài, Hòa Hảo cực đoan để hoạt động
chống lại lực lượng cách mạng; đưa Tin lành vào Việt Nam và hỗ trợ các tà giáo khác
phát triển để lôi kéo, phát triển lực lượng, tổ chức các hoạt động chống phá cách mạng.
Hiện nay Mỹ và các lực thù địch nhìn nhận tôn giáo ở Việt Nam như một lực lượng
chính trị có thể “đối trọng” với Đảng Cộng sản Việt Nam và đang hậu thuẫn cả về vật
chất lẫn tinh thần cho số đối tượng chống đối trong các tôn giáo, nhằm phục vụ cho âm
mưu đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hoá” thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Các thế
lực thù địch ngày càng gia tăng các các hoạt động phát triển đạo nhằm tranh thủ nắm
quần chúng. Chúng cử nhiều đoàn vào Việt Nam gặp gỡ các chức sắc tôn giáo; các cơ
quan chức năng của Mỹ đặt vấn đề, cần có “tự do tôn giáo ở Việt Nam”; họ thường
xuyên khích lệ, hỗ trợ các hoạt động chống đối trong tôn giáo [69, tr.40].
Từ diễn biến tình hình phức tạp như đã nêu trên, Lạng Sơn cũng là địa bàn mà các
thế lực thù địch tăng cường “Thúc đẩy phát triển Kitô giáo và đạo Tin lành lên vùng cao,
vùng sâu, vùng xa ở biên giới phía Bắc” [69, tr.45].
Hiện tại ở Lạng Sơn, số có biểu hiện phản động cực đoan trong các tôn giáo chiếm
tỷ lệ ít so với đại đa số tuân thủ pháp luật. Trong số này chủ yếu là những phần tử bất
mãn, đây sẽ là cơ sở để các thế lực thù địch kích động, chỉ đạo, tài trợ cho số này móc
nối, phát triển đạo, tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức phản động hoạt động nhằm
lật đổ chính quyền khi có thời cơ. Trong các hình thức chúng sử dụng, đáng chú ý là hình
thức tuyên truyền phát triển đạo Tin lành, đạo Công giáo cũng như các loại tôn giáo mới
khác.
Sau đây là một số vụ việc lợi dụng tôn giáo điển hình mà qua đấu tranh và quản lý
các cơ quan chức năng và các cấp chính quyền ở tỉnh Lạng Sơn đã phát hiện được trong
thời gian vừa qua.
Do nắm chắc địa bàn, đồng thời làm tốt công tác vận động quần chúng tín đồ các
tôn giáo tham gia tố giác tội phạm, từ năm 1999 đến năm 2002 các ngành chức năng của
tỉnh đã kịp thời phát hiện và ngăn chặn 5 vụ tuyên truyền, phát triển tà đạo vào địa bàn,
cụ thể: Đạo “Long hoa chính giáp”, “Quần tiên duy lạc” truyền vào địa bàn huyện Bắc
Sơn; đạo “Địa mẫu chân kinh” thâm nhập vào vùng đồng bào dân tộc Dao sinh sống tại
xã Lợi Bác huyện Lộc Bình và xã Thái Bình huyện Đình Lập; đạo “Long hoa di lặc”
được truyền vào chùa Tiên, quần thể đền, chùa Nhất- Nhị- Tam Thanh (thành phố Lạng
Sơn), đền Bắc Lệ (huyện Hữu Lũng), đền Mẫu (thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc).
Hình thức tuyên truyền, phát triển các loại tà đạo như đã nêu trên là phát tán các loại kinh
sách, tài liệu, băng cassete… nhưng do các cơ quan chức năng làm tốt công tác quản lý
nhà nước về các hoạt động tôn giáo trên địa bàn, các loại tài liệu tuyên truyền đạo trái
phép đều bị tịch thu, đến nay các loại tà đạo đã được ngăn chặn kịp thời, không phát triển
được tín đồ.
Ngày 14/01/2002, tại hai xã Nhất Tiến, Nhất Hòa (huyện Bắc Sơn), đây là nơi sinh
sống của đồng bào dân tộc Mông mới di cư đến, đã xuất hiện ông Dương Văn Mình tự
xưng là “Vua” ở Cao Bằng đến thăm nơi ăn ở của các gia đình người Mông. Với trình độ
nhận thức rất thấp của đồng bào và sự hiện hữu của vị “Vua” với những lời phán bảo
nhảm nhí đã gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho đồng bào, nhưng do các ngành chức năng
và chính quyền địa phương đã can thiệp và giải quyết kịp thời, bà con đã yên tâm trở lại,
ổn định trong cuộc sống và lao động sản xuất.
Hiện nay các tổ chức Tin lành trong và ngoài n ước cũng thường xuyên cử người
đến Lạng Sơn để tuyên truyền phát triển đạo. Các tổ chức này thường chọn địa bàn
vùng sâu, vùng xa để phát tán tài liệu, tuyên truyền đạo trái pháp luật.
Trong đó điển hình là vụ ông Hồ Trọng Tuấn sinh năm 1962, thường trú tại quận
Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, được tổ chức Tin lành Cơ đốc Phục lâm ở Mỹ cử đến Lạng
Sơn để truyền đạo. Với thủ đoạn đi thăm thân, đi tìm việc làm Tuấn đã lén lút nhiều lần đến
các huyện Bắc Sơn, Văn Quan, Cao Lộc, Tràng Định…để tuyên truyền đạo. Hồ Trọng Tuấn
đã lợi dụng những chỗ đông người, chủ động làm quen, sau đó giới thiệu băng, đĩa, tài liệu,
kinh sách tuyên truyền đạo, đồng thời hướng dẫn mọi người cách bắt sóng đài phát thanh
“An bình hạnh phúc”. Hàng tháng thông qua hệ thống điện thoại công cộng và Intenet, Hồ
Trọng Tuấn báo cáo tình hình hoạt động tuyên truyền phát triển đạo ở Lạng Sơn cho tổ chức
Cơ đốc Phục lâm có trụ sở tại Mỹ do mục sư Dương Quốc Tùng cầm đầu và nhận sự tài trợ
về tài chính và tài liệu để tiếp tục tuyên truyền, phát tán.
Do làm tốt công tác vận động quần chúng, các cơ quan chức năng của tỉnh đã phát
hiện được việc làm trái pháp luật trên của Hồ Trọng Tuấn, ngày 6/6/2002 Công an tỉnh đã
gọi hỏi đấu tranh đối với Hồ Trọng Tuấn. Qua khám xét tại chỗ ở của Hồ Trọng Tuấn, cơ
quan chức năng đã phát hiện có 232 quyển kinh sách các loại, 90 tấm cardvidit giới thiệu
về địa chỉ của tổ chức Tin lành ở Mỹ, nhiều lịch phát sóng của đài phát thanh “An bình
hạnh phúc” và một số băng cassete, đĩa VCD có nội dung tuyên truyền phát triển đạo.
Căn cứ vào các hoạt động trái pháp luật của Hồ Trọng Tuấn, ngày 19/6/2002, Công an
Lạng Sơn đã trục xuất Hồ Trọng Tuấn và gia đình ra khỏi địa bàn.
Cũng liên quan đến đạo Tin lành, năm 2005 các cơ quan chức năng của Lạng Sơn
đã phát hiện ông Nguyễn Vũ Trường Giang, thường trú tại thành phố Hà Nội, tự xưng là
mục sư đã tuyên truyền, phát triển hệ phái Tin lành Hữu liên Cơ đốc; bà Nguyễn Thị
Thúy, thường trú tại tỉnh Phú Thọ tuyên truyền hệ phái Phúc âm Ngũ tuần lên địa bàn
tỉnh Lạng Sơn. Đến nay đã làm lễ Báp Têm cho 03 tín đồ người dân tộc Tày ở huyện Cao
Lộc và huyện Văn Quan. Điều đáng chú ý là trước kia đạo Tin lành chỉ hoạt động trong
vùng dân tộc Dao ở Bắc Sơn, đến nay đã phát triển sang vùng dân tộc thiểu số khác (dân
tộc Tày, Nùng…)
Bên cạnh đó, hoạt động của Hội thánh Tin lành Bắc Sơn cũng có những biểu hiện
lấn lướt chính quyền địa phương như phát tán tài liệu phát triển đạo trái phép. Các cơ
quan chức năng đã thu giữ 20 quyển “ Người Việt Nam đối với đạo Tin lành”, 60 quyển
“Ca khúc Trúc tôn” và sau khi kiểm tra thấy không đủ điều kiện lưu hành nên đã tịch thu.
Hội thánh Tin lành Bắc Sơn thường xuyên cử người đi các tỉnh, thành khác học giáo lý,
học nhạc nhưng không báo cáo chính quyền; tích cực liên hệ với Tổng hội thánh Tin lành
Việt Nam (miền Bắc) bằng thư từ, điện thoại để báo cáo tình hình hoạt động và xin ý kiến
chỉ đạo việc phát triển đạo trên địa bàn.
Hoạt động của Tin lành trong dân tộc Mông (huyện Bắc Sơn) cũng có nhiều dấu
hiệu đáng chú ý. Trong năm 2005 cùng với việc viết đơn gửi chính quyền đòi công nhận
là một Hội thánh trực thuộc Tổng hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), họ lén lút cử
02 tín đồ còn trẻ đi vào thành phố Hồ Chí Minh tập huấn kinh Thánh do một số mục sư
người Mông từ Mỹ, Thái Lan về giảng dạy. Trong vấn đề xin thành lập Hội thánh độc
lập, quan điểm chỉ đạo của ta là không đồng ý cho thành lập Hội thánh Tin lành trực
thuộc Tổng hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) mà chỉ đồng ý là một Hội nhánh,
trực thuộc Hội thánh Tin lành Bắc Sơn.
Hoạt động của Giáo hội Công giáo Lạng Sơn cũng có nhiều hình thức để tuyên
truyền phát triển đạo, thu nạp thêm nhiều tín đồ. Những năm gần đây Giáo hội thường xuyên
xin đi làm lễ tại một số nơi không có nhà thờ, đến một số nơi có giáo dân chào đời hay chết
để làm lễ, qua đó đã phục đạo ở một số tín đồ đã khô nhạt đạo, phát triển thêm được nhiều
tín đồ. Đầu Năm 2006, Giáo hội Công giáo Lạng Sơn đã có đơn gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh
Lạng Sơn và Uỷ ban nhân dân huyện Bắc Sơn xin xây dựng nhà thờ tại xã Vũ Lễ, huyện Bắc
Sơn.
Trên đây là những vấn đề nổi cộm đã và đang đặt ra cho, vì vậy công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn cần đặc biệt chú ý để từ đó có các giải
pháp quản lý có hiệu quả.
Chương 3
giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao
Hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn


3.1. Dự báo tình hình công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở
Lạng Sơn trong thời gian tới
Thứ nhất, tình hình kinh tế, xã hội và tôn giáo trên thế giới tiếp tục có nhiều diễn
biến phức tạp. Các thế lực thù địch trong và ngoài nước, đứng đầu là Mỹ đang tìm mọi
cách để chống phá cách mạng nước ta. Qua các sự kiện xảy ra ở Tây Nguyên, Tây Nam
Bộ, Tây Bắc… cho thấy Mỹ và các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa
bình” bằng thủ đoạn. Đặc biệt, chúng đã lợi dụng việc truyền đạo trái phép để kích động
vấn đề dân tộc, kích động tư tưởng “ly khai”, tập hợp quần chúng gây bạo loạn chính trị,
kích động hàng ngàn người vượt biên trái phép, gây bất ổn định tình hình trong nước,
nhất là ở khu vực Tây Nguyên. Các hoạt động của của cái gọi là “Nhà nước Khmer
Crôm”, “ Nhà nước Đêga độc lập” và “Nhà nước Mông tự trị” đã tác động không nhỏ đến
tình hình tư tưởng của đồng bào ở khu vực Tây Nam Bộ, Tây Nguyên và Tây Bắc. Bên
cạnh đó, năm 2005 Mỹ đã xếp Việt Nam vào nhóm nước “cần quan tâm đặc biệt” về vấn
đề tôn giáo. Tình hình đó đã, đang và sẽ tiếp tục chi phối và tác động mạnh vào tình hình
tôn giáo ở Lạng Sơn.
Thứ hai, trong điều kiện mở cửa, hội nhập nền kinh tế quốc tế, đặc biệt là với nước
láng giềng Trung Quốc, Lạng Sơn đang được xem là một tâm điểm được quan tâm để
phát triển đạo, thu hút tín đồ. Trong những năm sắp tới, dự báo tình hình hoạt động tôn
giáo trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, các loại tôn giáo mới, các
tôn giáo lớn sẽ có xu hướng phát triển mạnh trên địa bàn. Biểu hiện rõ nhất là các giáo
hội tôn giáo ở Lạng Sơn như: Phật giáo, Công giáo và Tin lành đều có nhu cầu xin phép
chính quyền cho tu sửa, xây dựng các nơi thờ tự và tranh thủ phát triển tín đồ. Các hiện
tượng tôn giáo mới, đặc biệt là các hệ phái mới của Tin lành tiếp tục mở rộng phạm vi,
đối tượng hoạt động, tích cực tuyên truyền phát triển đạo lên vùng đồng bào dân tộc thiểu
số.
Thứ ba, những hoạt động tôn giáo bất hợp pháp cũng sẽ diễn ra phức tạp hơn. Có
thể xuất hiện cả những hoạt động tôn giáo chịu sự chỉ đạo của các thế lực thù địch chống
phá Đảng và Nhà nước từ bên ngoài, gây nên những diễn biến theo chiều h ướng tiêu cực
đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.
Hiện nay có một số đối tượng chịu sự chỉ đạo từ bên ngoài đến địa bàn các huyện
Bắc Sơn, Văn Quan, Lộc Bình, Tràng Định… lén lút tuyên truyền đạo Tin lành và các loại
tạp đạo khác trái pháp luật mà chính quyền và các cơ quan chức năng đã xử lý. Mặc dù tỉnh
đã xử lý và trục xuất các đối tượng vi phạm trên ra khỏi địa bàn, nhưng dự báo trong thời
gian tới Lạng Sơn vẫn là địa bàn trọng điểm mà các đối tượng tuyên truyền đạo chọn là địa
bàn hoạt động.

3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối
với hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn
Trên cơ sở phân tích những biến động mới nhất của tình hình tôn giáo và thực trạng
quản lý nhà nước đối với tôn giáo ở Lạng Sơn và những bài học kinh nghiệm đã rút ra,
trong thời gian tới cần tập trung thực hiện có hiệu quả một số giải pháp sau để tăng cường
công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo trên địa bàn tỉnh:
3.2.1. Tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm của hệ thống chính
trị và toàn xã hội về vấn đề tôn giáo, chính sách tôn giáo và quản lý nhà nước đối
với hoạt động tôn giáo
Như trình bày của tác giả ở phần trước, một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn
đến hạn chế trong công tác quản lý nhà n ước về hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn trong
những năm vừa qua là về nhận thức.
Những bất cập, hạn chế trong nhận thức về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà
nước của một bộ phận khá lớn cán bộ đảng viên, đặc biệt trong đó có không ít những
người làm công tác tôn giáo, đã dẫn tới không ít địa phương nhìn nhận tôn giáo rất thành
kiến, khắt khe, vì vậy quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo quá nguyên tắc, cứng nhắc;
có nơi lại không coi trọng công tác tôn giáo, dẫn đến tình trạng buông lỏng trong quản lý.
Đối với quần chúng tín đồ các tôn giáo chưa được thường xuyên tổ chức học tập
chính sách pháp luật về tôn giáo, do vậy rất dễ bị lừa bịp, kích động tham gia các hoạt động
sai phạm, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo của các cơ
quan chức năng và chính quyền các cấp.
Nghị quyết 24- NQ/TW ngày 16/10/1990 của Ban chấp hành Trung ương về Tăng
cường công tác tôn giáo trong tình hình mới đã khẳng định: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn
tại lâu dài. Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức
tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” [18, tr.3]. Do vậy
đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ làm công tác tôn giáo cần nhận thức “tôn
giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài” đối với xã hội chúng ta. Có như vậy trong công tác
quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo vừa hạn chế được những mặt tiêu cực, đồng thời
phát huy được những mặt tích cực của tôn giáo trong việc xây dựng cuộc sống ấm no,
hạnh phúc, xã hội văn minh và giầu mạnh.
Để nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ đảng viên và đông đảo quần chúng tín
đồ các tôn giáo về đường lối chính sách đối với tôn giáo, đáp ứng được yêu cầu của công
tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn trong tình hình mới, theo chúng
tôi cần tập trung làm tốt những điểm sau:
Một là, Cần nâng cao nhận thức và hiểu biết trên cơ sở khoa học về nguồn gốc và
quá trình phát triển của các tôn giáo trong lịch sử, trong đó có các tôn giáo lớn trên thế
giới, ở Việt Nam và trên địa bàn Lạng Sơn. Đồng thời hiểu thấu đáo quan điểm, đường
lối chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo và chính sách cụ thể trong quản lý nhà
nước đối với hoạt động tôn giáo. Trên cơ sở đó mà ứng xử với tôn giáo, đề ra những
chính sách, giải pháp phù hợp trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
ở địa phương; đáp ứng được nguyện vọng sinh hoạt tôn giáo của quần chúng có đạo,
động viên họ phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, tích cực học tập, lao động sản xuất,
xây dựng cuộc sống ấm no. Bên cạnh đó kịp thời ngăn chặn những hoạt động lợi dụng
tôn giáo cho mục đích chính trị xấu xa.
Hai là, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và các tổ
chức chính trị- xã hội, thông qua nhiều hình thức phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
phổ biến, quán triệt đường lối, chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong
đội ngũ cán bộ đảng viên, đoàn viên và hội viên. Đặc biệt cần chú ý tới quần chúng tín
đồ, chức sắc các tôn giáo. Định hướng cho các hoạt động tôn giáo trong khuôn khổ của
pháp luật và phù hợp với lợi ích chung của cả dân tộc.
Cần tăng cường giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống
nhất Tổ quốc. Qua đó làm cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và chủ nghĩa
xã hội, hăng hái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời cảnh giác và đấu tranh
ngăn ngừa làm thất bại âm mưu lợi dụng tôn giáo để phá hoại chính sách đại đoàn kết
toàn dân, chống phá Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa của các thế lực phản động trong và
ngoài nước trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.

3.2.2. Tăng cường công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị
cơ sở ở vùng tôn giáo tập trung
Đảng ta đã khẳng định: Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động
quần chúng. Trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, vận động quần
chúng tín đồ các tôn giáo và xây dựng lực lượng chính trị vùng giáo là vấn đề cốt lõi, là
biện pháp cơ bản, chiến lược lâu dài mà Đảng, Nhà nước ta đã xác định phải thực hiện
tốt. Thực tiễn cho thấy, trọng tâm và trung tâm trong các hoạt động của giáo hội các tôn
giáo là quần chúng tín đồ. Vì vậy, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
chỉ có hiệu quả khi quần chúng tín đồ và chức sắc các tôn giáo đồng thuận với cách thức
quản lý của chính quyền, tự giác chấp hành chính sách pháp luật của nhà nước trong quá
trình hành đạo. Bên cạnh đó, lực lượng chính trị ở vùng giáo hoạt động có hiệu quả thì thu
hút được đông đảo quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo tích cực tham gia các phong trào
cách mạng của địa phương.
Để thực hiện tốt công tác vận động quần chúng và xây dựng lực lượng chính trị
vùng tôn giáo, theo chúng tôi cần làm tốt các vấn đề sau:
Một là, tiếp tục tuyên truyền phổ biến, giáo dục chính sách pháp luật của Đảng và
Nhà nước nói chung và đường lối chính sách đối với tôn giáo nói riêng đến với đông đảo
quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo. Qua đó góp phần để quần chúng tín đồ nâng
cao nhận thức và hiểu biết về chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là
đường lối chính sách về tôn giáo. Từ đó họ tự giác thực hiện tốt chủ trương chính sách
pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Để làm tốt nhiệm vụ trên, Lạng Sơn cần có các giải pháp trong công tác tuyên
truyền phổ biến pháp luật phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng dân tộc. Đặc biệt
đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì nên biên tập đề cương tuyên truyền ra tiếng
dân tộc và kết hợp tuyên truyền lồng ghép với các chương trình phát triển kinh tế, xã hội.
Cần chú ý tranh thủ việc giải quyết các vụ việc tôn giáo để tuyên truyền.
Tín đồ các tôn giáo ở Lạng Sơn phần lớn là người dân tộc thiểu số, họ rất tin tưởng
ở Đảng và có đức tính thật thà nhưng rất khái tính, do vậy cán bộ làm công tác tôn giáo
vận cần gần dân, hiểu dân và giúp dân trong cuộc sống, qua đó góp phần tăng cường hiệu
quả công tác tuyên truyền và giáo dục đối với tín đồ các tôn giáo.
Hai là, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các đoàn thể quần chúng
trong vùng giáo. Thực tế tại nhiều địa phương của tỉnh Lạng Sơn vẫn còn tình trạng là
trong khi các đoàn thể quần chúng của ta hoạt động kém hiệu quả, thì ngược lại giáo hội
các tôn giáo (nhất là đạo Tin lành) lại tổ chức nhiều hoạt động thu hút được đông đảo tín
đồ tham gia. Để khắc phục tình trạng này, đồng thời tăng cường thu hút tín đồ tham gia
hoạt động do các đoàn thể nhân dân phát động, đóng góp chung vào phong trào cách
mạng ở địa phương, trước hết các tổ chức đoàn thể phải đổi mới nội dung, phương thức
hoạt động cho phù hợp với điều kiện thực tiễn ở từng địa phương. Phải đa dạng hóa các
hình thức hoạt động cho phù hợp với từng vùng miền, từng dân tộc, phải hướng các hoạt
động đó vào các nhu cầu đời sống thiết thực của quần chúng, như đẩy mạnh các phong
trào xóa đói giảm nghèo; các hoạt động đền ơn đáp nghĩa; từ thiện nhân đạo; xây dựng
gia đình, thôn bản, khối phố văn hóa… Qua đó góp phần thu hút tín đồ tham gia các hoạt
động do chính quyền địa phương phát động, góp phần phục vụ tốt cho công tác quản lý
nhà nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn.
3.2.3. Có chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vững chắc ở vùng tôn
giáo tập trung, qua đó góp phần tạo cơ sở cho công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh hiện thực xã hội bằng hình thức hư ảo
vào đầu óc con người. Vậy muốn xóa bỏ hạnh phúc hư ảo, phải xây dựng một xã hội hiện
thực tốt đẹp cho quần chúng có đạo. Vì vậy Lạng Sơn cần có kế hoạch đầu tư phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội và thực hiện hiệu quả ở những vùng tôn giáo tập trung bằng các
hình thức như: Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; đưa vào thực hiện các dự án đầu tư phát
triển kinh tế; giải quyết việc làm; xóa đói giảm nghèo; đẩy mạnh phong trào "Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; phát triển giáo dục và công tác chăm sóc sức khỏe
cho nhân dân; coi trọng việc củng cố mối quan hệ xã hội trong cộng đồng các tôn giáo và
giữa các tôn giáo với toàn thể xã hội; thường xuyên tiến hành công tác giáo dục chính trị
tư tưởng, truyền bá tri thức khoa học, kinh tế cho tín đồ các tôn giáo. Bằng các biện pháp
kinh tế và văn hóa nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các vùng đồng bào theo
đạo, qua đó góp phần tạo cơ sở và động lực trực tiếp cho công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo.
Để thực hiện chính sách phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất cho tín đồ,
chức sắc các tôn giáo, đặc biệt ở một tỉnh miền núi như Lạng Sơn, theo chúng tôi cần tập
trung theo hướng sau:
Phát triển nông, lâm nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp và nông thôn theo hướng sản
xuất hàng hóa, gắn với công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Xây dựng các vùng
sản xuất chuyên canh tập trung phù hợp với tiềm năng, lợi thế về khí hậu, đất đai của
từng vùng. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng thâm canh, tăng
năng suất, chất lượng và hiệu quả. Khai thác và phát huy thế mạnh kinh tế đồi rừng, đẩy
mạnh công tác trồng rừng, khoanh nuôi, tái sinh và bảo vệ rừng. Hoàn thành giao đất,
giao rừng gắn với định canh định cư cho hộ các hộ tín đồ nghèo.
Bên cạnh đó tỉnh cần đẩy mạnh chính sách đầu tư phát triển, nâng cấp cơ sở hạ
tầng nông thôn về giao thông, thủy lợi, điện, trường học, trạm y tế xã… Phát triển đa
dạng các ngành nghề, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động ở vùng tôn giáo tập trung,
tận dụng tốt hơn thời gian lao động và nâng cao thu nhập cho quần chúng tín đồ các tôn
giáo.
Cần chú trọng phát triển văn hóa, xã hội để nâng cao đời sống tinh thần cho nhân
dân nói chung và quần chúng tín đồ các tôn giáo nói riêng. Theo chúng tôi cần làm tốt
các công tác sau:
Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, đảm bảo yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chất lượng giáo dục được đảm bảo, trình
độ dân trí của nhân dân được nâng cao, nhận thức về các vấn đề tự nhiên, xã hội và con
người một cách khoa học thì niềm tin tôn giáo sẽ bị hạn chế, quần chúng tín đồ các tôn
giáo cũng không bị lợi dụng vào các hoạt động trái pháp luật.
Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Kiểm soát chặt chẽ tình hình dịch bệnh, tăng cường phòng bệnh. Củng cố và nâng cao
năng lực hoạt động của mạng lưới y tế, nhất là y tế ở những thôn bản vùng sâu, vùng xa,
vùng tôn giáo tập trung.
Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Tập trung
phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, đẩy
mạnh thực hiện phong trào “ Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, làm tốt
công tác thông tin phổ biến pháp luật đến nhân dân, đặc biệt là nhân dân các dân tộc thiểu
số ở vùng sâu, vùng xa, vùng tôn giáo.
ưu tiên một số lĩnh vực như: Đẩy mạnh phong trào văn nghệ quần chúng ở cơ sở.
Thông qua các hoạt động này góp phần thu hút đông đảo quần chúng vào tập luyện và
tham gia các hội diễn nghệ thuật quần chúng ở địa phương. Qua đó góp phần xóa bỏ các
tập quán, tín ngưỡng lạc hậu và hạn chế thời gian của quần chúng tín đồ dành quá nhiều
vào việc hành đạo, tập hát Thánh ca. Chú ý đến công tác tuyên truyền các chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh như
Báo Lạng Sơn, Đài phát thanh- truyền hình Lạng Sơn, Tạp chí văn nghệ xứ Lạng, thường
xuyên sử dụng các tin, bài phóng sự viết về vấn đề tôn giáo. Quan tâm đầu tư cả về chất
lượng, thời lượng các chương trình truyền hình, phát thanh bằng tiếng dân tộc, qua đó
nâng cao hiệu quả tuyên truyền chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước nói chung,
chính sách về tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng trong vùng tôn giáo tập trung. Kịp thời
biểu dương các gương điển hình tiên tiến của tín đồ các tôn giáo trong phong trào xóa đói
giảm nghèo, phong trào bảo vệ trật tự trị an và an ninh quốc gia vùng biên giới, đấu tranh
chống các hoạt động mê tín, dị đoan và tuyên truyền đạo trái pháp luật.
Thực hiện thành công những giải pháp đó cũng chính là góp phần tạo cơ sở và
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn Lạng Sơn.
3.2.4. Tăng cường công tác tổ chức cán bộ làm công tác tôn giáo
Công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo trên địa bàn Lạng Sơn có thành
công hay không thì yếu tố con người trực tiếp tham gia làm công tác tôn giáo luôn có tính
quyết định. Để tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
giáo, trong thời gian tới Lạng Sơn cần chú trọng đến công tác tổ chức và đội ngũ cán bộ
làm công tác tôn giáo.
Một là, về phương diện tổ chức.
Với mô hình tổ chức làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo như hiện nay ở
Lạng Sơn, đó là: ở cấp tỉnh thì có Phòng Tôn giáo trực thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân
dân tỉnh; ở cấp huyện, thành phố thì đến nay 11 huyện và thành phố đã thành lập được
Phòng Dân tộc- Tôn giáo trực thuộc Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố.
Để tăng cường tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo, nâng cao hiệu quả công tác
quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lạng Sơn, trong thời gian tới cần thành
lập ngay Ban Tôn giáo tỉnh, có con dấu và tài khoản riêng, không thể để kéo dài tình
trạng như hiện nay. Ban Tôn giáo này trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh trên cơ sở Phòng
Tôn giáo trực thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh như hiện nay. Có như vậy mới phù
hợp với Nghị định 22/ NĐ-CP ngày 12/01/2004 của Chính phủ Về kiện toàn tổ chức bộ
máy làm công tác tôn giáo thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp và Thông tư số 25/TT-BNV
ngày 19/04/2004 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tôn giáo
ở địa phương.
ở cấp xã, phường, thị trấn nơi có đông đồng bào các tôn giáo thì cần có 01 cán bộ
chuyên trách làm công tác tôn giáo thay bằng chế độ làm công tác tôn giáo kiêm nhiệm
như hiện nay.
Hai là, về phương diện cán bộ.
Để tăng cường hiệu quả công tác quản lý nhà n ước về hoạt động tôn giáo, cần
xây dựng và thực hiện tốt công tác qui hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và bảo đảm
chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo.
Hiện nay ở Lạng Sơn, cán bộ làm công tác tôn giáo đều xuất phát từ các ngành, các
nghề khác nhau, trong đó không có cán bộ đã qua đào tạo chuyên ngành về lĩnh vực tôn
giáo, do đó ảnh hưởng lớn đến hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo.
Để khắc phục tình trạng này, trong thời gian tới, tỉnh cần có sự quan tâm về một số vấn
đề sau:
- Đối với cán bộ chuyên trách đang làm công tác tôn giáo, cần có sự rà soát và bố trí
cho phù hợp với mỗi công việc cụ thể. Trong việc tuyển chọn, điều động cán bộ làm công
tác tôn giáo cần phải xuất phát từ tính chất, yêu cầu của công tác này. Tôn giáo là một
lĩnh vực xã hội nhạy cảm và phức tạp, do vậy các bộ làm công tác tôn giáo phải là những
người có trình độ, năng lực và tâm huyết với nghề. Cần tránh tình trạng hiện nay ở một số
địa phương trong tỉnh là phân công gò ép, hoặc xếp những cán bộ đã bị kỷ luật, mất uy
tín… làm công tác tôn giáo. Mạnh dạn thay thế cán bộ có năng lực yếu, thiếu tinh thần
trách nhiệm, uy tín thấp, có quan điểm không đúng trong công tác tôn giáo.
- Có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo thường xuyên kiến thức về tôn giáo. Hiện nay cán
bộ làm công tác tôn giáo ở Lạng Sơn không nhiều, nhưng rất đa dạng về mặt bằng xuất
phát, vì vậy ảnh hưởng lớn đến công tác tôn giáo. Chính vì thế, đối với cán bộ chuyên
trách làm công tác tôn giáo cần phải có sự quan tâm về nhiều phương diện, trong đó quan
trọng nhất hiện nay là nâng cao kiến thức. Để thực hiện được vấn đề này, tỉnh nên dành
một khoản kinh phí để phối hợp với các cơ sở đạo tạo về lĩnh vực tôn giáo của Trung
ương như: Ban Tôn giáo Chính phủ, Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng (thuộc
Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu Tôn giáo (thuộc Trung tâm
Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia),… mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn 2-3 tháng tại
tỉnh. Đối tượng tham gia lớp đào tạo là những cán bộ làm công tác tôn giáo ở các cấp, các
ngành, các địa phương.
Tỉnh cần có kế hoạch đào tạo cơ bản, chuyên sâu đối với cán bộ làm công tác tôn
giáo. Hiện nay Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng và Viện Nghiên cứu Tôn giáo
đã tổ chức các khóa đào tạo cử nhân, cao học, nghiên cứu sinh về chuyên ngành tôn giáo
và tín ngưỡng. Để cán bộ làm công tác tôn giáo có kiến thức chuyên sâu về lĩnh vực tôn
giáo và công tác tôn giáo, tỉnh cần có qui hoạch cụ thể và cử cán bộ đi tham gia các lớp
đào tạo này.
Ngoài ra, ở các vùng dân tộc thiểu số, cán bộ làm công tác tôn giáo nếu không biết
tiếng dân tộc thì phải được bồi dưỡng, huấn luyện để hiểu biết tiếng nói, phong tục tập
quán và tâm lý của dân tộc nơi mình công tác.
- Tỉnh cần có nguồn kinh phí dành cho công tác tập huấn, bồi dưỡng và đào tạo đối
với cán bộ làm công tác tôn giáo. Hàng năm cấp một khoản kinh phí cho Ban dân vận,
các đoàn thể làm công tác tôn giáo để đi thăm hỏi động viên cán bộ cốt cán lúc ốm đau,
khi gia đình có chuyện buồn; ngày lễ, tết…
Cần có chế độ chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn
giáo. Công tác tôn giáo là loại hình công tác phức tạp, vất vả, song thu nhập của đội ngũ
cán bộ làm công tác này hiện nay lại rất thấp, vì vậy cần phải l ưu ý quan tâm đến đời
sống của họ. Do đời sống còn gặp nhiều khó khăn, nên họ chưa yên tâm công tác, để
động viên kịp thời tới đội ngũ những người làm công tác tôn giáo, tỉnh cần có sự quan
tâm và dành khoản kinh phí ưu đãi đặc biệt cho đội ngũ này.

3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt
động tôn giáo ở Lạng Sơn hiện nay
Cùng với việc nêu ra các giải pháp nói trên, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý
nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong thời gian tới, tác giả mạnh dạn đưa ra một số
kiến nghị như sau:

3.3.1. Đối với Trung ương
Một là, Trung ương cần tập trung xây dựng hệ thống pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo.
Từ ngày thành lập nước đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản
về công tác tôn giáo và liên quan đến tôn giáo. Trong số này có một số văn bản quan
trọng, như: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đến lần thứ X; Nghị quyết số 24-
NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình
hình mới; Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 2/7/1998 của Ban Chấp hành Trung ương Về công
tác tôn giáo trong tình hình mới; Nghị định số 26/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ
Về các hoạt động tôn giáo; các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992; gần đây nhất là
Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo…
Những văn bản trên chỉ rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo và bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của công dân, đồng
thời đề ra những chính sách, biện pháp quản lý các hoạt động tôn giáo.
Tuy nhiên do ban hành ở nhiều thời điểm khác nhau, nên các văn bản có sự trùng
lặp, do vậy nên cần thiết phải rà soát lại, xác định những văn bản phù hợp, bãi bỏ những
văn bản mà trên thực tế không còn tác dụng. Hiện nay Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo là
văn bản luật có tính pháp lý cao nhất trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta.
Nhưng trong quá trình thực hiện, nhiều vấn đề được cụ thể hóa để tránh tình trạng các tổ
chức, cá nhân tôn giáo lợi dụng để hoạt động tôn giáo trái phép, như: một số giáo phận đã
tự ý chia tách giáo xứ, nâng họ lên xứ, phong chức, thuyên chuyển linh mục, tu sĩ, xuất
cảnh ra nước ngoài không có ý kiến của cấp có thẩm quyền…[7, tr.6].
Để nâng cao hiệu lực quản lý nhà n ước về tôn giáo, trong thời gian tới Nhà n ước
cần tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống pháp luật về tôn giáo, tiến tới xây dựng Luật Tín
ngưỡng, Tôn giáo có giá trị pháp lý cao. Luật về Tín ngưỡng, tôn giáo phải thể hiện
bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, cụ thể hóa toàn diện các lĩnh vực tôn giáo,
qua đó tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện quản lý nhà n ước đối với hoạt động
tôn giáo của chính quyền các cấp.
Hai là, đề nghị Trung ương đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các đề án nghiên cứu,
khảo sát về tôn giáo, qua đó làm cơ sở quyết định những giải pháp, chính sách quản lý
cho phù hợp trên các vấn đề sau: Vấn đề các tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư
cách pháp nhân; về các tổ chức tập hợp quần chúng của tôn giáo; quản lý dòng tu của
Công giáo; việc các tôn giáo tham gia các hoạt động y tế, giáo dục, từ thiện nhân đạo; đề
án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác tôn giáo; công tác tổ chức quản lý hoạt động
của các tổ chức phi chính phủ (NGO) liên quan đến tôn giáo đang hoạt động ở Việt
Nam…
Ba là, hiện nay ở các xã, phường, thị trấn có đông tín đồ các tôn giáo, Chính phủ
nên nghiên cứu xây dựng đề án tổ chức làm công tác tôn giáo trực thuộc Uỷ ban nhân dân
xã, phường, thị trấn, hoặc có phân công một cán bộ chuyên trách theo dõi công tác tôn
giáo. Khắc phục tình trạng phân công một ủy viên Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn kiêm
nhiệm như hiện nay theo qui định ở Điều 2 khoản 4 Nghị định 22/ 2004/ NĐ- CP Về kiện
toàn tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp.
Bốn là, Chính phủ cần quan tâm giải quyết kinh phí hoạt động cho công tác tôn
giáo. Khắc phục tình trạng kinh phí dành cho công tác tôn giáo rất khó khăn, hạn hẹp như
hiện nay. Nên bố trí một khoản kinh phí đặc biệt để chi cho việc tranh thủ các chức sắc
tôn giáo, cho đội ngũ cốt cán ở cơ sở. Cần có định biên cụ thể về số lượng, chất lượng đội
ngũ cán bộ chuyên trách tôn giáo của chính quyền các cấp và có chính sách đãi ngộ riêng
đối với cán bộ làm công tác tôn giáo.

3.3.2. Đối với Tỉnh ủy, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng sơn
Một là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh
đạo của Đảng, do vậy trong thời gian tới các cấp ủy đảng cần tăng cường hơn nữa sự lãnh
đạo đối với công tác tôn giáo. Hàng năm tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết về công tác tôn
giáo, qua đó để rút kinh nghiệm về công tác tôn giáo từ tỉnh đến cơ sở.
Hai là, để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo và phù hợp
với nhiệm vụ, khối lượng công việc và yêu cầu thực tiễn ở Lạng Sơn, đề nghị Uỷ ban
nhân dân tỉnh cho thành lập ngay cơ quan tham mưu giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tôn giáo theo mô hình: Ban Tôn giáo, có con dấu
và tài khoản riêng.
Ba là, kiện toàn lại các Ban quản lý đền, chùa, đảm bảo sự định hướng, chỉ đạo của
chính quyền các cấp, đồng thời có đại diện chính quyền cơ sở trực tiếp tham gia Ban quản
lý. Đã đến lúc cần phải kiểm tra, giám sát được các nguồn thu, chi tại các đền, chùa để tránh
tình trạng khiếu kiện về nguồn thu chi tại các cơ sở này như hiện nay. Đề ra cơ chế phù hợp,
qui định cụ thể việc sử dụng các nguồn thu, nhất là phục vụ công tác từ thiện hoặc quĩ phúc
lợi xã hội.
Bốn là, Uỷ ban nhân dân tỉnh cần tăng cường công tác trao đổi thông tin về tình
hình tôn giáo, công tác tôn giáo ở địa phương với Ban Tôn giáo Chính phủ, trên cơ sở đó
tranh thủ ý kiến chỉ đạo kịp thời và tiếp tục bổ sung các nội dung phối hợp cho hiệu quả.
Năm là, hiện nay trên địa bàn Lạng Sơn, các tôn giáo đang đẩy mạnh việc tuyên
truyền phát triển đạo, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa vùng dân tộc thiểu số. Do vậy đề nghị
Uỷ ban nhân dân tỉnh và các cơ quan ban ngành hữu quan tiếp tục có các chương trình,
dự án đầu tư phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao dân trí, giác ngộ ý thức chính trị, xây
dựng đời sống ấm no, hạnh phúc; tăng cường xây dựng củng cố tổ chức đảng, chính
quyền, Mặt trận và các đoàn thể; quan tâm xây dựng lực lượng cốt cán ở vùng đồng bào
dân tộc có đạo để thu hút quần chúng tích cực tham gia các phong trào cách mạng.
Sáu là, hàng năm mở các lớp tập huấn, trang bị kiến thức pháp luật cũng như kiến
thức chuyên môn về tín ngưỡng, tôn giáo cho cán bộ chuyên trách và cấp ủy, chính
quyền, đoàn thể, nhất là các xã, phường, thị trấn có nhiều hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Bảy là, các cấp ủy đảng, chính quyền cần chú ý đến công tác động viên và khen
thưởng kịp thời các chức sắc tôn giáo hành đạo theo đúng chủ trương của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước, có nhiều thành tích tham gia phong trào cách mạng của địa
phương. Đồng thời có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn các hành vi truyền đạo trái pháp luật
và kích động bà con giáo dân làm mất ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội
trên địa bàn.

3.3.3. Đối với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị, xã hội và các
ngành chức năng của tỉnh có liên quan đến tôn giáo
Một là, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp là cơ quan tập hợp lực lượng toàn dân,
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn Đảng, toàn dân vào thực hiện các phong trào thi đua
yêu nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Do vậy Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cần qui tụ, liên
kết các tổ chức chính trị, xã hội, các tầng lớp nhân dân, trong đó có các tổ chức, cá nhân
tôn giáo, đoàn kết thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.
Hai là, các tổ chức chính trị, xã hội cần quan tâm nhiều đến hội viên, đoàn viên là
tín đồ các tôn giáo, vận động họ thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng và
Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước do địa phương phát động.
Thông qua các phong trào thi đua, vận động tín đồ gia nhập vào các đoàn thể, đồng thời
chọn ra những hội viên, đoàn viên ưu tú điển hình giới thiệu cho Đảng.
Ba là, các cơ quan chức năng như: Sở Tài nguyên - Môi trường tiến hành khoanh
vùng, đo đạc lập hồ sơ đất đai từng cơ sở thờ tự, tiến tới cấp giấy chứng nhận quyền sở
hữu đất cho từng cơ sở thờ tự theo qui định của pháp luật hiện hành. Để tránh tình trạng
khiếu kiện, tranh chấp đất đai của cơ sở thờ tự như hiện nay.
Sở Xây dựng sau khi cấp phép xây dựng các cơ sở thờ tự của các tôn giáo cần
thường xuyên kiểm tra, giám sát tiến độ thi công để các công trình kiến trúc tôn giáo
đúng với thiết kế, qui hoạch đã được duyệt.
Ngành Văn hóa - Thông tin cần tăng cường công tác bảo tồn, bảo tàng các giá trị văn
hóa, lịch sử của các công trình tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn.
Đoàn Kiểm tra liên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội các cấp cần thường
xuyên theo định kỳ tiến hành các đợt kiểm tra hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và lễ hội
trên địa bàn, qua đó phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái
với thuần phong mỹ tục của dân tộc, trái pháp luật, đồng thời phát huy được những giá trị
tốt đẹp của các lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống, góp phần giữ gìn nền văn hóa
đậm đà bản sắc dân tộc.
Cơ quan An ninh chủ động nắm bắt tình hình, kịp thời phát hiện các hoạt động lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tiến hành các hoạt động tuyên truyền đạo trái pháp luật, lôi
kéo, kích động quần chúng tín đồ tham gia các hoạt động đi ngược lại lợi ích chung của
dân tộc
Để công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo có hiệu quả cao cần có
sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp trong công
tác tôn giáo. Đối với những vùng giáp ranh thường xuyên phải trao đổi thông tin về tình
hình hoạt động tôn giáo, quan tâm đến hoạt động của chức sắc các tôn giáo.
Kết luận


Tôn giáo là một thực thể xã hội, luôn gắn liền với đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội
và là nhu cầu tâm linh, tinh thần của một bộ phận nhân dân. Tôn giáo luôn là vấn đề nhạy
cảm và hết sức phức tạp, nó vừa liên quan đến nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng tín đồ,
vừa ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội và an ninh của Quốc gia. Đặc biệt
trong tình hình hiện nay, nước ta đang tiến hành đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế, song
song với quá trình ấy các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang đẩy mạnh lợi dụng
tôn giáo để thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình” chống chế độ xã hội chủ nghĩa ở
nước ta. Vì vậy quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một trong những công tác
có tính cấp bách trong giai đoạn hiện nay, làm tốt công tác này sẽ góp phần đưa hoạt
động tôn giáo đi vào ổn định, đúng pháp luật, loại bỏ những âm mưu, hoạt động lợi dụng
tôn giáo của các thế lực thù địch.
Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo ở Lạng
Sơn đã đạt những kết quả quan trọng. Có được những kết quả đó là do cấp ủy đảng và
chính quyền địa phương đã dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề
tôn giáo và quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo. Qua đó đã khắc phục được quan
niệm phiến diện về tôn giáo trong đội ngũ cán bộ đảng viên.
Chính sách về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước đã được Lạng
Sơn quán triệt và thực hiện nghiêm túc, tạo được sự đồng thuận, thống nhất của quần
chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo với công tác quản lý của chính quyền địa phương.
Các dự án phát triển kinh tế, xã hội trong vùng tôn giáo tập trung được chính
quyền, các cơ quan ban ngành ở cấp tỉnh và huyện quan tâm thực hiện có hiệu quả, do
vậy đời sống vật chất và tinh thần của quần chúng tín đồ, đặc biệt trong vùng dân tộc
thiểu số được nâng lên rõ rệt. Quần chúng tín đồ, chức sắc các tôn giáo tin tưởng vào
đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, phấn khởi tham gia xây dựng cuộc sống mới
“tốt đời, đẹp đạo”, góp phần vào sự thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước.
Danh mục tài liệu tham khảo


1. Ban Chấp hành Trung ương (1998), Thông báo số 145 về kết luận của Bộ Chính trị về
tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, Hà Nội.
2. Ban chấp Trung ương (1998), Chỉ thị 37/ CT- TW về công tác tôn giáo trong tình mới,
Hà Nội.
3. Ban Chấp hành Trung ương (2004), Qui định số 123- QĐ/TW về một số điểm kết nạp
đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn
giáo, Hà Nội.
4. Ban Tôn giáo Chính phủ (2002), Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Nghị định 26 của
Chính phủ về các hoạt động tôn giáo, Hà Nội.
5. Ban Tôn giáo Chính phủ (2001), Các văn bản pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn
giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
6. Ban Tôn giáo Chính phủ (2004), Báo cáo tổng kết công tác quản lý nhà nước về tôn
giáo, Hà Nội.
7. Ban Tôn giáo Chính phủ (2005), Báo cáo tổng kết công tác quản lý nhà nước về tôn
giáo, Hà Nội.
8. Ban Tôn giáo chính phủ (2005), Đề cương bài giảng tôn giáo và công tác quản lý nhà
nước đối với các hoạt động tôn giáo, Hà nội.
9. Ban Tư tưởng văn hóa Trung ương (2002), Vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo của
Đảng cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
10. Ban Dân vận Tỉnh ủy Lạng Sơn (1995), Báo cáo tình hình tôn giáo trong 2 năm thực
hiện Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị, Lạng Sơn.
11. Ban Dân vận Tỉnh ủy Lạng sơn (1997), Báo cáo công tác tôn giáo- dân tộc năm
1997, Lạng Sơn.
12. Ban Dân vận Tỉnh ủy Lạng Sơn (1998), Kế hoạch về việc triển khai thực hiện kết
Luận 145 và chỉ thị 37 của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo trong tình hình
mới, Lạng Sơn.
13. Ban Dân vận Tỉnh ủy Lạng Sơn (1999), Báo cáo công tác tôn giáo - dân tộc năm
1999, Lạng Sơn.
14. Ban Dân vận Tỉnh ủy Lạng Sơn (2002), Báo cáo công tác tôn giáo năm 2002, Lạng
Sơn.
15. Ban Dân vận Tỉnh ủy Lạng Sơn (2003), Báo cáo công tác tôn giáo năm 2003, Lạng
Sơn.
16. Ban Dân vận Tỉnh ủy Lạng Sơn (2004), Báo cáo công tác tôn giáo năm 2004, Lạng
Sơn.
17. Ban Dân vận Tỉnh ủy Lạng Sơn (2005), Báo cáo công tác tôn giáo năm 2005, Lạng
Sơn.
18. Bộ Chính trị (1990), Nghị quyết số 24- NQ/ TW về tăng cường công tác tôn giáo
trong tình hình mới, Hà Nội.
19. Bộ Nội vụ (2004), Thông tư số 25/ TT- BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân quản lý nhà nước
về công tác tôn giáo ở địa phương, Hà Nội.
20. Chính Phủ (1999), Nghị định số 26- NĐ/ CP về các hoạt động tôn giáo, Hà Nội.
21. Chính Phủ (2004), Nghị định số 22-NĐ/ CP Về kiện toàn tổ chức bộ máy làm công
tác tôn giáo thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp, Lạng Sơn.
22. Chi hội Thánh Tin lành Bắc Sơn, Báo cáo hoạt động của Hội Thánh Tin lành Bắc
Sơn giai đoạn 1997 - 2003 và chương trình hoạt động năm 2004- 2005, huyện
Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
23. Công ty cổ phần thông tin kinh tế đối ngoại (2005), Lạng Sơn thế và lực mới trong
thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
24. Nguyễn Cường (2000) Xứ Lạng văn hóa và du lịch, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.
25. Nguyễn Hồng Dương (2002), “Một số vấn đề về công tác tôn giáo trong tình hình
mới”, Tạp chí Dân vận, (1+2), Hà Nội.
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
Nxb Sự thật, Hà Nội.
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII,
Nxb Sự thật, Hà Nội.
28. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành
Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
30. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
31. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
32. Địa chí Lạng Sơn (1998), Địa lý Lạng Sơn, Lạng Sơn.
33. Hoàng Minh Đô (2005), Việc thực hiện chính sách tôn giáo trong vùng đồng bào dân
tộc thiểu số ở Tây Nguyên, (chủ nhiệm đề tài) thuộc đề án Chính phủ, Hà Nội.
34. Hoàng Giáp (2003), “Ngô Thì Sĩ và đền thờ Tam giáo ở Lạng Sơn”, Tạp chí Nghiên
cứu tôn giáo, ( ).
35. Hội Đồng Bộ Trưởng(nay là Chính phủ) (2003), Nghị định số 69- NĐ/ HĐBT về các
hoạt động tôn giáo, Hà Nội.
36. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
và công tác tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
37. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh- Trung tâm khoa học về Tín ngưỡng và
Tôn giáo (2004), Tập bài giảng lý luận về tôn giáo và chính sách đối với tôn
giáo của Đảng và Nhà nước ta, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
38. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm khoa học về Tín ngưỡng và
Tôn giáo (1998), Trích tác phẩm Kinh điển Chủ nghĩa Mác - Lênin về Tôn
giáo, Tài liệu lưu hành nội bộ, Hà Nội.
39. Mai Thanh Hải (1998), Tôn giáo thế giới và Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội.
40. Thanh Hiếu (1998), “Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo”, Tạp chí Công giáo và
Dân tộc, (40).
41. Huyện ủy Bắc Sơn (2006), Báo cáo tình hình tôn giáo và kết quả thực hiện chủ
trương đối với đạo Tin lành ở huyện Bắc Sơn, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
42. Nguyễn Hữu Khiển (2001), Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo trong điều
kiện xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội.
43. Nguyễn Đức Lữ (2002), Đổi mới chính sách tôn giáo và Nhà nước quản lý tôn giáo
hiện nay- Những bài học kinh nghiệm và kiến nghị cụ thể, Đề tài nhánh thuộc
đề tài cấp Nhà nước, chủ nhiệm đề tài, Hà Nội.
44. Bùi Đức Luận (2003), “Những bước tiến trong việc thể chế hóa chủ trương, chính
sách về tôn giáo ở nước ta thời gian gần đây”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo,
(1).
45. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa
đổi bổ sung năm 2001), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
46. Phòng Tôn giáo, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (1999), Báo cáo công tác Tôn giáo,
Lạng Sơn.
47. Phòng Tôn giáo, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2000), Báo cáo công tác Tôn giáo,
Lạng Sơn.
48. Phòng Tôn giáo, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2001), Báo cáo công tác Tôn giáo,
Lạng Sơn.
49. Phòng Tôn giáo, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2002), Báo cáo công tác Tôn giáo,
Lạng Sơn.
50. Phòng Tôn giáo, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2003), Báo cáo công tác Tôn giáo,
Lạng Sơn.
51. Phòng Tôn giáo, Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2004), Báo cáo công tác Tôn giáo,
Lạng Sơn.
52. Phan Viết Phong (2002), “Hướng dẫn hoạt động tôn giáo - Nhiệm vụ quan trọng của công
tác tôn giáo hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, (4), tr.
53. Thủ Tướng Chính phủ (2005), Chỉ thị số 01- CT/ TTg về một số công tác đối với đạo
Tin lành, Hà Nội.
54. Tỉnh ủy Lạng Sơn (1998), Báo cáo tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo sau 2 năm
tổng kết Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VI đến nay, Lạng Sơn.
55. Tỉnh ủy Lạng Sơn (1991), Báo cáo tình hình công tác tôn giáo của tỉnh Lạng Sơn,
Lạng Sơn.
56. Tỉnh ủy Lạng Sơn (2005), Báo cáo trình Đại hội XIV Đảng bộ tỉnh, Lạng Sơn.
57. Ngô Hữu Thảo (1998), Mối quan hệ giữa chính trị và tôn giáo trong thời kỳ mở rộng
giao lưu Quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, Hà Nội.
58. Trần Minh Thư (2005),“Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là một yêu cầu
khách quan”, Tạp chí Công tác tôn giáo, (3).
59. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn(2002), Báo cáo kết quả 3 năm thực hiện nghị định
26/ 1999/ NĐ- CP của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo của tỉnh Lạng Sơn
(1999- 2002), Lạng Sơn.
60. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2004), Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Hà Nội.
61. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2003), Báo cáo kết quả kiểm tra các hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo, lễ hội trên địa bàn tỉnh, Lạng Sơn.
62. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2003), Báo cáo về những vi phạm trong hoạt động tôn
giáo của ông Lý Tiến Lưu (Mục sư Tin lành), Lạng Sơn.
63. Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn (2000), Kế hoạch triển khai thông báo số 255/ TB -
TW Về chủ trương đối với đạo Tin lành trong tình hình mới trên địa bàn tỉnh,
Lạng Sơn.
64. V.I Lênin, toàn tập (1980), Về thái độ của Đảng công nhân đối với tôn giáo, Tập 17,
Nxb Tiến bộ, Mátxcơva.
65. V.I Lênin, toàn tập (1980), Chủ nghĩa xã hội và Tôn giáo, Tập 12, Nxb Tiến bộ,
Mátxcơva.
66. Đặng Nghiêm Vạn (2002), "Trở lại vấn đề tôn giáo", Tạp chí Cộng
sản, (13).
67. Đặng Nghiêm Vạn (2003), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
68. Viện Nghiên cứu chiến lược và khoa học- Bộ Công an (2003), Tôn giáo trong thế
giới hiện đại, Hà Nội.
69. Viện Chiến lược quân sự- Bộ Quốc phòng (2004), Nghiên cứu tổng kết lý luận, thực
tiễn đấu tranh phòng chống chiến lược” Diễn biến hòa bình” của các thế lực
thù địch, Hà Nội.
70. Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Lạng Sơn (1998), Báo cáo thực trạng về công tác quản
lý Đền, Chùa trên địa bàn tỉnh, Lạng Sơn.
71. Sở Văn hóa- Thông tin tỉnh Lạng Sơn (2005), Báo cáo công tác văn hóa- thông tin,
Lạng Sơn.
72. Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản