LUẬN VĂN: Qui trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng và một số mô hình mới hiện nay

Chia sẻ: vaio1111

Bất kỳ một ngân hàng thương mại nào mục tiêu khi cung cấp khoản tín dụng là nó phải đảm bảo an toàn và đem lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng hay nói cách khác là tín dụng mà ngân hàng cung cấp phải có hiệu quả. Để làm được việc này ngân hàng phải có được phương pháp chấm điểm khách hàng và quản lý rủi ro tốt. Nhận thức được điều này em đã lựa chọn đề tài “ Phân tích quy trình xếp hạng khách hàng của Ngân hàng Công thương chi nhánh Ba...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Qui trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng và một số mô hình mới hiện nay

LUẬN VĂN:


Qui trình chấm điểm tín dụng và xếp

hạng khách hàng và một số mô hình

mới hiện nay
LỜI MỞ ĐẦU


Bất kỳ một ngân hàng thương mại nào mục tiêu khi cung cấp khoản tín
dụng là nó phải đảm bảo an toàn và đem lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng hay nói
cách khác là tín dụng mà ngân hàng cung cấp phải có hiệu quả. Để làm được việc này
ngân hàng phải có được phương pháp chấm điểm khách hàng và quản lý rủi ro tốt.
Nhận thức được điều này em đã lựa chọn đề tài “ Phân tích quy trình xếp hạng khách
hàng của Ngân hàng Công thương chi nhánh Ba Đình” nhằm phân tích, đánh giá thực
trạng của việc xếp hạng khách hàng và quản lý rủi ro của chi nhánh, qua đó đưa ra
một số mô hình nhằm đóng góp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng.


Đối với các ngân hàng thì hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản và quan
trọng nhất, chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng tài sản. Để tín dụng có hiệu quả là vấn
đề hết sức khó khăn nhưng cũng hết sức quan trọng đối với ngân hàng.Trong đó chấm
điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng có vai trò hết sức quan trọng nó hỗ trợ NHCV
trong việc: Ra quyết định cấp tín dụng, xác định hạn mức tín dụng của một khách
hàng, số tiền cho vay/bảo lãnh, thời hạn, mức lãi suất/phí, biện pháp bảo đảm cho
khoản tín dụng. Giám sát và đánh giá khách hàng tín dụng khi khoản tín dụng đang
còn dư nợ; Hạng khách hàng cho phép NHCV lường trước những dấu hiệu xấu về
chất lượng khoản vay và có những biện pháp đối phó kịp thời.
Trong điều kiện nền kinh tế của Việt Nam hiện nay, và do còn hạn chế về kiến
thức trong chuyên đề này em chỉ xem xét qui trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng
khách hàng và nêu ra một số mô hình mới hiện nay.


Chuyên đề này gồm 3 phần chính là:


I. Tổng Quan hoạt động tín dụng
II. Quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng của ngân hàng Công
thương Ba đình
III. Một số mô hình phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng
I. TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG


Tín dụng là hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng (còn được gọi là tín dụng
ngân hàng).


1.1. Các nguyên tắc tín dụng ngân hàng
Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại dựa trên một số nguyên tắc nhất
định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc này được cụ thể
hóa trong các qui định của ngân hàng Nhà nước và các NHTM.
- Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn (gốc) và lãi với thời gian xác định: Các
khoản tín dụng của ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của khách
hàng và các khoản ngân hàng vay mượn. Ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc
và lãi như đã cam kết. Do vậy, ngân hàng luôn yêu cầu người nhận tín dụng phải thực
hiện đúng cam kết này. Đây là điều kiện để ngân hàng tồn tại và phát triển
- Khách hàng cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thỏa thuận với ngân
hàng, không trái với các qui định của pháp luật và các qui định khách của ngân hàng cấp
trên. Luật pháp qui định phạm vi hoạt động cho các ngân hàng. Bên cạnh đó mỗi ngân
hàng có thể có mục đích và phạm vi hoạt động riêng. Mục đích tài trợ được ghi trong hợp
đồng tín dụng đảm bảo ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái pháp luật và việc
tài trợ đó là phù hợp với cương lĩnh của ngân hàng.
- Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án (hoặc dự án) có hiệu quả thực hiện nguyên
tắc này là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thưu nhất. Phương án hoạt động có hiệu quả
của người vay minh chứng cho khả năng thu hồi được vốn đầu tư và có lãi để trả nợ ngân
hàng. Các khoản tài trợ của ngân hàng phải gắn liền với việc hình thành tài sản của người
vay. Trong trường hợp xét thấy kém an toàn, ngân hàng đòi hỏi người vay phải có tài sản
đảm bảo khi vay.




1.2. Chính sách tín dụng của ngân hàng thương mại
a. Vai trò của chính sách tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động bao trùm cảu ngân hàng. Với tầm quan trọng và qui mô
lớn, hoạt động này được thực hiện theo một chính sách rõ ràng được xây dựng và hoàn
thiện qua nhiều năm, đó là chính sách tín dụng. Chính sách tín dụng phản ánh cương lĩnh
tài trợ của ngân hàng, trở thành hướng dẫn chung cho các cán bộ tín dụng, tạo sự thống
nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nân cao khả năng sinh lời.
b. Các nhân tố ảnh hưởng đế chính sách tín dụng
Trước hết, nhu cầu tín dụng của khách hàng. Chính sách tín dụng là chính sách
phục vụ nhu cầu tín dụng của khách hàng. Do đó nhu cầu của khách hàng với các đặc
tính khác nhau (khách hàng lớn, nhỏ. Khách hàng nông nghiệp hay xây dựng...) quyết
định các nội dung và thành công của chính sách tín dụng.
Thứ hai, khả năng sinh lời và rủi ro tiềm năng của khách hàng sẽ quyết định tính
an toàn và sinh lợi của hoạt động tín dụng. Do đó, chính sách tín dụng của ngân hàng
được xây dựng dựa trên dự đoán tương lai cũng như diễn biến trong quá khứ về rủi ro tín
dụng.
Thứ ba, chính sách của Chính phủ và ngân hàng Nhà nước như chính sách ưu đãi,
chính tỷ giá, chính sách phát triển hệ thống tài chính…ảnh hưởng đến chính sách tín
dụng.
Thứ tư, qui mô, kết cấu, tính ổn định của các khoản tiền gửi, khả năng vay mượn
của ngân hàng, qui mô chủ sở hữu.. đã ảnh hưởng rất lớn đến chính sách tín dụng.


c. Nội dung chính sách tín dụng
Toàn bộ các vấn đề có liên quan đến cấp tín dụng nói chung đều được xem xét và
đưa ra trong chính sách tín dụng như: Qui mô, lãi xuất, kì hạn, đảm bảo, phạm vi, các
khoản tín dụng có vấn đề và các nội dung khác.


1. chính sách khách hàng
Khách hàng nhận tín dụng của ngân hàng rất đa dạng, từ các doanh nghiệp, các tổ
chức xã hội, các cơ quan Nhà nước, cá nhân người tiêu dùng, các ngân hàng, các công ty
tài chính… Tuy nhiên luật pháp cũng cấm hoặc hạn chế tài chính… Tuy nhiên luật pháp
cũng cấm hoặc hạn chế tài trợ đối với một số đối tượng nhất định.
Người đứng tên vay cho một tập thể phải được sự ủy quyền của cả tập thể
Cá nhân vay phải là ngươi đã đến tuổi thành niên. Người vay phải ghi rõ vay để
làm gì. Ngân hàng được quyền chấm dứt quan hệ tín dụng và thu hồi nợ nếu phát hiện
người vay sử dụng vốn sai mục đích đã đăng kí ban đầu mà không được phép của ngân
hàng.
Ngân hàng tiến hành phân loại khách hàng truyền thống và quan trọng. khách
hàng khác. Loại khách hàng truyền thống và quan trọng, khách hàng khác. Loại khách
hàng truyền thống và quan trọng thường được hưởng chính sách ưu đãi của ngân hàng
thương mại. Đây là nội dung có liên quan đến chính sách marketing nên thường được các
ngân hàng cân nhắc và đưa ra cho khách hàng biết.
2. Chính sách qui mô và giới hạn tín dụng
Ngân hàng cam kết tài trợ cho khách hàng với món tiền hoặc hạn mức nhất định.
Số lượng tài trợ có thể được chia nhỏ trong các khoảng thời gian khác nhau và dưới các
hình thức tiền tệ khác nhau. Ngân hàng có thể tài trợ tối đa băng nhu cầu của khách và
phù hợp với các điều luật (hoặc các qui định) dựa trên các tính toán của ngân hàng về rủi
ro và sinh lời. Nhìn chung ngân hàng rất quan tâm tới vốn chủ sở hữu của khách hàng và
ít muốn tài trợ trong trường hợp các khoản nợ lớn hơn vốn chủ sở hữu. Ngoài các giới
hạn do luật qui định, mỗi ngân hàng còn có qui định riêng về qui mô và các giới hạn.
Chính sách này còn được qui định cho từng thời kì trong năm, có tính đến qui mô và tính
chất của nguồn vốn của ngân hàng.
3. Lãi suất và phí suất tín dụng
Ngân hàng có các mức lãi suất tín dụng khác nhau tùy theo kì hạn, tùy theo các
loại tiền và tùy theo loại khách hàng (khách hàng quen, hoặc khách hàng vay lớn có thể
có lãi suất thấp hơn). Ngân hàng khi thỏa thuận về lãi suất tín dụng đến rủi ro, lãi suất
hòa vốn, lãi suất cạnh tranh trên thị trường. Bên cạnh khung lãi suất định trước, ngân
hàng còn cung cấp các lãi suất thỏa thuận đối với từng khách hàng cụ thể. Lãi suất có thể
cố định trong suốt kì hạn tín dụng (gọi là lãi suất cố định), hoặc biến đổi tùy theo thay đổi
của lãi suất tham khảo hoặc của chỉ số làm cơ sở điều chỉnh lãi suất (gọi là lãi suất thả
nổi), hoặc kết hợp cố định có điều chỉnh sau một khoảng thời gian xác định (gọi là lãi
suất hỗn hợp). Lãi suất tín dụng có thể bị giới hạn bởi lãi suất trần, bị tác động bởi lãi
suất tái chiết khấu do ngân hàng Nhà nước qui định, hoặc lãi suất trên thị trường liên
ngân hàng.
Lãi suất tín dụng do Ban giám đốc ngân hàng thông qua và cần được phổ biến đến
mọi cán bộ tín dụng, bao gồm lãi suất cơ bản và lãi suất bình quân đối với các kì hạn, các
ngành và lĩnh vực chủ yếu. Chính sách này cần khuyến khích tính linh hoạt, đa dạng
trong việc đặt giá trên cơ sở đảm bảo khả năng sinh lời cũng như khả năng cạnh tranh của
ngân hàng.
4. Thời hạn tín dụng và kì hạn nợ
Các giới hạn về thời gian luôn được các nhà quản lý ngân hàng chú ý bởi vì kì hạn
liên quan đến thanh khoản và rủi ro ngân hàng cũng như chu kì kinh doanh của người
vay. Chính sách tín dụng thể hiện rõ, ngân hàng sẵn sàng cung ứng tín dụng với thời hạn
như thế nào. Chính sách thời hạn phải giải quyết mối quan hệ thời hạn của nguồn (Chủ
yếu là người gửi và người cho ngân hàng vay quyết định) và thời hạn tài trợ (xuất phát từ
yêu cầu của người vay do đặc điểm luôn chuyển vốn và qui mô thu nhập quyết định). Từ
đó ngân hàng xác định kì hạn nợ cụ thể đảm bảo cân bằng kì hạn trung bình.
Thời hạn trung bình càng nhỏ, rủi ro của ngân hàng càng thấp, càng tăng tính
thanh khoản của các khoản tài trợ.
Ngân hàng thường dựa trên kì hạn của nguồn để quyết định chính sách kì hạn cho
vay nếu khả năng tìm kiếm nguồn và chuyển kì hạn nguồn của ngân hàng không cao.
Việc chuyển hoán kì hạn nguồn sẽ tiềm ẩn rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất bởi vì nó
tạo ra khe hở lãi suất (nguồn nhạy cảm lớn hơn tài sản nhạy cảm). Nếu ngân hàng có khả
năng chuyển hoán nguồn và huy động nguồn trung và dài hạn tốt, Chính sách thời hạn tín
dụng và kì hạn nợ nghiêng về đáp ứng kì hạn của người vay.
Kỳ hạn nợ liên quan đến tính toán các nguồn thu cua khách hàng có thể dùng để
trả nợ. Chính sách xác định cụ thể kỳ hạn nợ và tăng số lần trả nợ trong kỳ sẽ tăng chi phí
thu nợ của ngân hàng (nếu khách hàng không có tài khoản tại ngân hàng)
5. Các khoản đảm bảo
Chính sách đảm bảo gồm các qui định về các trường hợp tài trợ cần đảm bảo bằng
tài sản, các loại đảm bảo cho mỗi loại hình tín dụng, danh mục các đảm bảo, đánh giá và
quản lí đảm bảo.
Ngân hàng tài trợ dựa trên uy tín của khách hàng. Trong trường hợp khách hàn g
truyền thống, có uy tín, ngân hàng cho vay không cân kí hợp đồng đảm bảo. Trong những
trường hợp độ an toàn của người vay không chắc chắn ngân hàng đòi hỏi hợp đồng tài
sản đảm bảo.
Đảm bảo có thể bằng phương pháp cầm cố hoặc thế chấp. Các đảm bảo thường là
giấy tờ có giá, hàng hóa tron kho, nhà cửa, thiết bị, hoặc bảo lãnh của người thứ ba.
Ngân hàng chỉ chấp nhận các tài sản có khả năng bán được làm đảm bảo. Các tài
sản thuộc sở hữu công, kém mất phẩm chất hoặc phi pháp đều bị loại khỏi đảm bảo. Có
loại bảo đảm Ngân hàng vân cho người vay được quyền sử dụng đúng mục đích đã thỏa
thuận với ngân hàng. Có loại đảm bảo bị ngân hàng phong tỏa, hoặc kiểm soát chặt chẽ
việc sử dụng. Để đề phòng các trường hợp bất trắc xảy ra đối với các đảm bảo, ngân hàng
thường yêu cầu ngừời vay phải mua bảo hiểm tài sản.
Chính sách đảm bảo cũng qui định về việc sử dụng tài sản đảm bảo hình thành từ
vốn vay.
Định giá vật đảm bảo giúp cho ngân hàng đưa ra mức phán quyết tín dụng thích
hợp. Thông thường ngân hàng chỉ cho vay vơi một giới hạn thấp hơn giá trị thị trường
của đảm bảo, tỷ lệ bao nhiêu là tùy thuộc vào khả năng bán và khả năng thay đổi giá trị
thị trường của vật đảm bảo.
6. Chính sách đối với các tài sản có vấn đề
Các tài sản có vấn đề bao gồm các khoản nợ xấu (đã quá hạn, hoặc khó đòi, hoặc
không đòi được) và các tài sản có biểu hiện đáng ngờ (chứng khoán giảm giá, các khoản
bảo lãnh có nguy cơ phải thực hiện nghĩa vụ,…).
Chính sách đối với các tài sản có vần đề gồm qui định về cách thức xác định nợ
xấu (các yếu tố cấu thành khoản nợ xấu) và các tài sản đáng ngờ khác, tỷ lệ nợ xấu có thể
chấp nhận và mức độ “xấu” cùa khoản nợ, trách nhiệm giải quyết, phạm vi thanh lí va
khai thác.
Do hoạt động của ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro, mức rủi ro có thể chấp nhận được
cần được xác định cho từng nhóm khách hàng, tưng ngành hoặc vùng. Đây là điều kiện
để ngân hàng xây dựng chính sách cho vay các biệt. Chính sách giải quyết nợ xấu liên
quan đến nhiều bên: Khách hàng, ngân hàng, cán bộ ngân hàng, tòa án, chính quyền địa
phương… Nhiều ngân hàng thành lập bộ phận chuyên trách giải quyết các tài sản có vấn
đề.


1.3. Các nghiệp vụ tín dụng (phân loại theo hình thức cấp tín dụng)


1.3.1 Chiết khấu thương phiếu
Thương phiếu được hình thành chủ yếu từ quá trình mua bán chịu hàng hóa và
dịch vụ giữa khách hàng với nhau. Người bán (hoặc người thụ hưởng) có thể giữ thương
phiếu đến hạn để đòi tiền người mua (hoặc người phải trả) hoặc mang đế ngân hàng để
xin chiết khấu trước hạn. Sau đây là sơ đồ luân chuyển thương phiếu.
Hình 1: Chiết khấu thương phiếu

(1)

Người bán Người mua
(2)
(2) (4) (5)



Ngân hàng




(1) Người bán chuyển hàng hóa hoặc dịch vụ cho người mua,
(2) Thương phiếu được lập, người mua kí, cam kết trả tiền cho người thụ hưởng khi
thương phiếu đến hạn và giao thương phiếu cho người bán đồng thời là người thụ
hưởng.
(3) Trong thời hạn có hiệu lực của thương phiếu, người bán có thể mang thương
phiếu đến ngân hàng để xin chiết khấu
(4) Sau khi kiểm tra độ an toàn của thương phiếu, ngân hàng có thể phát triển cho
người bán và nắm giữ thương phiếu (ngân hàng có thể yêu cầu người bán kí hậu
vào thương phiếu, cam kết trả tiền cho ngân hàng nếu người mua khôn trả - quyền
truy đòi đối với thương phiếu).
(5) Đến hạn, ngân hàng chuyển thương phiếu đến người mua đòi tiền (nếu người mua
không trả, ngân hàng có quyền đòi tiền của các bên kí tên trên thương phiếu).


Số tiền ngân hàng ứng trước phụ thuộc vào lãi suất chiết khấu thời hạn chiết khấu và lệ
phí chiết khấu.
Bên cạnh lãi suất chiết khấu (thường chung cho các loại thương phiếu), ngân hàng có thể
yêu cầu khách hàng trả thêm phần lệ phí chiết khấu đối với những trường hợp cụ thể có
thể liên quan đến rủi ro và chi phí đòi tiền.
Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữa
Ngân hàng và những người kí tên trên thương phiếu. Để thuận tiện cho khách hàng, ngân
hàng thường kí với khách hợp đồng chiết khấu (cấp cho khách hàng hạn mức chiết khấu
trong kì). Khi cần thiết chiết khấu. Do tối thiểu có hai người cam kết trả tiền cho ngân
hàng nên độ an toàn của thương phiếu tương đối cao.
1.3.2. Cho vay
1.3.2.1. Thấu chi
Thấu chi là nghiệp cụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội
(vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong
khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi




Hình 2: Thấu chi




y




x




Trục y: số dư tiền gửi thanh toán (đồng)
Trục x: Thời gian
Hạn mức thấu chi
Vay ngân hàng (thực hiện thấu chi)
Số dư tiền gửi thanh toán




Để thấu chi, khách hàng làm đơn xin ngân hàng làm đơn xin ngân hàng hạn
mức thấu chi và thời gian thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng). Trong quá
trình hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập ủy nhiệm chi, mua thẻ…. Vượt quá số dư
tiển gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu chi). Khi khách hàng có tiền nhập về tài
khỏan tiền gửi, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi. Số lãi mà khách hàng phải trả:
Số lãi phải trả = Lãi suất thấu chi * thời gian thấu chi * Số tiền thấu chi
Các khoản chí quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụng
hình thức này.
Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp với thời gian và
số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dự đoán ngân quĩ song không chính xác. Do vậy,
hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán
chủ động, nhanh, kịp thời.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là
không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong tháng vài
tháng trong năm dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp. mua hàng…. Hình thức này
nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kì
thu nhập ngắn.


1.3.2.2. Cho vay trực tiếp từng lần
Cho vay trực tiếp từng lần là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân hàng
đối với các khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được
cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương
mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân
hàng, tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kì sản
xuất kinh doanh.


Hình 3: cho vay từng lần
Qui mô vay




Thời gian vay




: Qui mô và thời gian cho vay
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử
dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và kí hợp đồng cho vay, xác định qui
mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi
món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau.


Số lượng Nhu cầu vốn cho sản Vốn chủ sở Các nguồn vốn
cho vay = - xuất kinh doanh - hữu tham gia khác tham gia
-


Theo từng kí hạn nợ trong hợp đồng. ngân hàng sẽ thu gốc lãi, trong quá trình
khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng. nếu
thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn, hoặc chuyển nợ quá
hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi.
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm soát từng
món vay tách biệt. Tiền cho vay dựa vào giá trị của tài sản đảm bảo.
1.3.2.3. Cho vay theo hạn mức
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn
mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì. Đó là số dư tối đa tại
thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn
và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Ngân hàng ước lượng hạn mức tín dụng đối với các
doanh nghiệp như sau (không kể các công ty tài chính, các tổ chức tín dụng):




Hình 4: Cho vay theo hạn mức
Dư nợ




Thời gian




Hạn mức được duyệt trong kì
Dư nợ tron kì
Hạn mức được duyệt cuối kì




Hình 5: Cho vay theo hạn mức


Dư nợ
Thời hạn
Dư nợ


Bước 1: Xác định dự trữ hợp lý cao nhất trong kỳ (hoặc cuối kỳ) trước:




Dự trữ cao Dự trữ Hàng kém phẩm chất, chậm luân
nhất hợp lý thực tế chuyển, hàng không thuộc đối
kỳ trước cao nhất tượng cho vay của NH
= -



Dự trữ cao Tăng (- giảm) dự Tăng (- giảm) dự trữ do kế
Bước 2:hXác định dự trữ caoữnhấtgiá hàng kỳ này ạch tăng (giảm) sản lượng
tr do hợp lý
n ất hợp lý ho
hóa tăng (giảm)
kỳ trước tiêu thụ

= + +

Các nguồn khác tham
Dự trữ cao Vốn chủ sở hữu
gia dự trữ
nhất hợp lý tham gia dự trữ
kỳ này

Bước 3: Xác định hạn mức tín dụng cao nhất trong kỳ


= - -
Trong kì khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không được
vượt quá hạn mức tín dụng (H4). Một số trường hợp ngân hàng qui định hạn mức cuối kì.
Dư nợ trong kì có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên đến cuối kì, khách hàng phải trả nợ
để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kì không vượt quá hạn mức (H5).
Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các
chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi kiểm tra
tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát triển cho khách hàng.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường
xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong nghiệp
vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ. Khi khách hàng có thu nhập, ngân
hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lí ngân quĩ cho khách hàng. Tuy nhiên do các
lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả
sử dụng từng lần vay. Ngân hàng chỉ có thể phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo
tài chính, hoặc dư nợ lâu không giảm sút.


1.3.2.4. Cho vay luân chuyển
Cho vay luân chuyển là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa.
Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để mua hàng và
sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc quí, người vay phải làm đơn xin vay
luân chuyển. Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận với nhau về phương thức vay, hạn
mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Hạn mức tín dụng có
thể được thỏa thuận trong một năm hoặc vài năm. Đây không phải là thời hạn hoàn trả
mà là thời hạn để ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách hàng và quyết định có
cho vay nữa hay không tùy mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng cũng như tình
hình tài chính của khách hàng.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa nên cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp
đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để dự đoán dòng ngân quĩ trong thời
gian tới.
Hình 6: Cho vay luân chuyển



Cho vay
Thời gian


1.3.2.5. Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho khách hàng trả gốc
làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được áp
dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu
bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp vơi khả năng trả nợ (thường là từ
khấu hao và thu nhập sua thuế của dự án, hoặc từ thu nhập hàng kì của người tiêu dùng)
Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp bằng hàng hóa mua trả
góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn của người vay. Nếu người vay mất
việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu nợ của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.
Chính vì rủi ro cao nên lãi suât cho vay trả góp thường là lãi suất cao nhất trong khung lãi
suất cho vay của ngân hàng.
1.3.2.6. Cho vay gián tiếp
Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp. Bên cạnh đó ngân hàng cũng
phát triển các hình thức cho vay gián tiếp. Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ
chức trung gian.
Ngân hàng cho vay qua các tổ , đội, hội, nhóm sản xuất…..
Hình 8: cho vay gián tiếp

(1)
(2)

Trung gian Khách hàng (thường
(3) (3)
Ngân hàng tổ, đội, hội, là nông dân, người
nhóm buôn bán nhỏ…)
(1) Ngân hàng kí hợp đồng tín dụng với người vay (khách hàng)
(2) Người vay mua hàng (nguyên liệu cho sản xuất, cây giống, con giống..)
(3) Người bán tập trung các hóa đơn bán hàng gửi lên ngân hàng để nghị thanh toán.
Sau do ngân hàng thu nợ của khách hàng.




1.3.3.Cho thuê tài sản (thuê – mua)
Hoạt động chủ yếu của NHTM là cho vay để khách hàng mua tài sản. Tuy nhiên trong
nhiều trường hợp, khách hàng không đủ (hoặc chưa đủ) điều kiện để vay. Để mở rộng tác
dụng, NHTM đã mua các tài sản theo yêu cầu của khách hàng để cho khách hàng thuê.
Vì tài sản cho thuê thuộc sở hữu của NH nên ngân hàng có thể thu hồi để ván hoặc cho
người khác thuê khi người thuê không trả nợ được. Điều này góp phần giảm bớt thiệt hại
cho ngân hàng.


Nội dung
1. Qui trình nghiệp vụ cho thuê như sau:
- Ngân hàng mua tài sản để cho thuê

Ngân hàng (người cho thuê)

(2) (1) (4)_

Khách hàng (Người thuê)
Nhà cung cấp trang thiết bị (3)




(1) Khách hàng làm đơn gửi ngân hàng nêu yêu cầu về tài sản cần thuê. Sau khi phân tích
dự án và tình hình tài chính của khách hàng, ngân hàng kí hợp đồng thuê- mua với khách
hàng.
(2) Ngân hàng tìm kiếm nhà cung cấp kí hợp đồng mua (hoặc người thuê chỉ định nhà
cung cấp)
(3) Khách hàng có thể gặp nhà cung cấp để nêu yêu cầu về qui cách, chất lượng tài sản
thuê, nhà cung cấp có thể phải cam kết bảo hành cho người thuê.
(4) Ngân hàng kiểm soát tình hình sử dụng tài sản thuê, thu tiền thuê,
hoặc thu hồi tài sản nếu thấy người thuê vi pham;
- Ngân hàng mua tài sản của người đi thuê để cho thuê lại
- Ngân hàng thuê tài sản để cho thuê, hoặc mua trả góp tài sản để cho thuê
Tuy theo những yêu cầu cụ thể của người đi thuê với NH, hoặc giữa NH với người cung
cấp mà NH có thể đi thuê tài sản hoặc mua trả góp để cho thuê.
Nếu khách hàng khó khăn về nguồn vốn để mua tài sản cho thuê, NH có thể sử dụng hình
thức mua trả góp để cho thuê
2. Những vấn đề chủ yếu
- Trong nghiệp vụ cho thuê, ngân hàng phải xuất tiền theo yêu cầu của khách hàng và sau
một thời gian nhất định phải thu hồi đủ gốc và lãi.
- Thời hạn cho thuê có thể gồm hai phần: Thời hạn cơ bản và thời hạn gia hạn thêm.
- NH không cam kết cung cấp dịch vụ bảo dưỡng tài sản, không chịu trách nhiệm về
những thiệt hại đối với tài sản cho thuê.
- Lãi suất cho thuê thường cao do bao gồm chi phí tìm kiếm người cung cấp, chi phí dàn
xếp và phụ thuộc vào thời hạn thuê.
- Ngân hàng có quyền thu hồi tài sản nếu thấy người thuê không thực hiện đúng hợp
đồng, song đồng thời ngân hàng phải có trách nhiệm cung cấp đúng loại tài sản cần cho
khách hàng và phải đảm bào về chất lượng của tài sản đó.
Ngân hàng có thể lập phòng cho thuê hoặc công ty cho thuê để thực hiện và quản lí
hoạt động cho thuê.


1.3.4.Bảo lãnh (tái bảo lãnh)
Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc
thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi khách hàng không
thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết.
Bảo lãnh thường có 3 bên: Bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh.
Bảo lãnh của ngân hàng có nghĩa ngân hàng là bên bảo lãnh; khách hàng của ngân hàng
là người được bảo lãnh, và người hưởng bảo lãnh là bên thứ ba.


II. QUY TRÌNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG VÀ XẾP HẠNG KHÁCH HÀNG


2.1. Mục đích
- Quy định trình tự các bước công việc để thực hiện nghiệp vụ chấm điểm tín dụng và
xếp hạng đối với khách hàng trong hệ thống Ngân hàng Công thương Việt Nam.
- Xác định trách nghiệm, quyền hạn của các cá nhân đơn vị để thực hiện chấm điểm tín
dụng và xếp hạng khách hàng.


2.2.Phạm vi và đối tượng áp dụng


2.2.1. Phạm vi áp dụng
Văn bản này được áp dụng để thực hiện chấm điểm tín dụng và xếp hạng đối với khách
hàng (không bao gồm các định chế tài chính) trong hệ thống Ngân hàng Công thương
Việt Nam.
2.2.2.Đối tượng áp dụng
Trụ sở chính, sở giao dịch, chi nhánh cấp 1, c hi nhánh cấp 2, phòng giao dịch, điểm giao
dịch Ngân hàng Công thương.


2.3.Giải thích từ ngữ viết tắt, các từ viết tắt
2.3.1. Giải thích từ ngữ
- Trọng số: là mức độ quan trọng của từng tiêu chí chấm điểm tín dụng (chỉ số tài chính
hoặc chỉ số phi tài chính) xét trên góc độ tác động rủi ro tín dụng.
- Điểm ban đầu là điểm của từng chỉ tiêu chấm điểm tín dụng do cán bộ chấm điểm tín
dụng xác định được sau khi phân tích tiêu chí đó.
- Điểm tổng hợp: để xếp hạng khách hàng bằng điểm ban đầu nhân với trọng số.
-Phòng chấm điểm tín dụng: gồm các phòng khách hàng, phòng giao dịch, điểm giao dịch
tại chi nhánh; phòng kinh doanh dịch vụ Trụ sở chính.
2.3.2. Các từ viết tắt
- CN: chi nhánh
- TSC: Trụ sở chính.
- NHCT: Ngân hàng Công thương.
- NHNN: Ngân hàng Nhà nước.
- NSNN: Ngân sách Nhà nước.
- PGD: Phòng giao dịch.
- CĐTD: chấm điểm tín dụng
- QLRR: Quản lý rủi ro.


(*) Căn cứ để chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng của Ngân hàng Công thương
hiện nay đều dựa theo “Quyết Định 1880 của Ngân hàng Công thương Việt Nam Ban
hành về quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng” Có nội dung tương tự
như nội dụng được trình bày ở phần 2.4.


2.4. Nội dung và Quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng
2.4.1. Quy trình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng doanh nghiệp
Bước 1: Thu thập thông tin
Người thực hiện. Cán bộ chấm điểm tín dụng.
Sau khi nhân hồ sơ thông tin khách hàng, tiến hành điều tra, thu thập, xác minh và
sàng lọc để tổng hợp thông tin về khách hàng và phương án sản xuất kinh doanh dự án
đầu tư từ các nguồn:
- Hồ sơ do khách hành cung cấp: giấy tờ pháp lý, các báo cáo tài chính và các tài
liệu khác.
- Phỏng vấn trực tiếp khách hàng.
- Đi thăm thực địa khách hàng.
- Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng khác.
- Báo cáo nghiên cứu thị trường của các tổ chức chuyên nghiệp.
- Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN Việt Nam.
- Các nguồn khác.
Các thu thập thông tin, danh mục câu hỏi điều tra được hướng dẫn chi tiết theo PL
QT0.1/PL01.
Trường hợp khách hàng có bảo lãnh toàn phần (lớn hơn hoặc bằng 100% giá trị
khoản tín dụng) của tổ chức có năng lực tài chính mạnh hơn. Thì có thể sử dụng kết quả
xếp hạng tín dụng của bên bảo lãnh để xác định hạng tín dụng của khách hàng (nếu bên
bảo lãnh cũng được Ngân hàng cho vay chấm điểm), đưa vào kết quả chấm điểm xếp
hạng(Bước 6).




Bước 2: Xác định ngành nghề lĩnh vực sản suất kinh doanh của doanh nghiệp
Người thực hiện: cán bộ chấm điểm tín dụng.


Căn cứ vào nghành nghề/ lĩnh vực sản suất kinh doanh chính đăng ký trên giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp, xác định nghành nghề/lĩnh vực sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm:
- Nông, lâm và ngư nghiệp.
- Thương mại và dịch vụ.
- Xây dựng.
- Công nghiệp.
Trường hợp doanh nghiệp hoạt động đa nghành nghề thì căn cứ vào nghành nghề/lĩnh
vực nào đem lại tỷ trọng doanh thu lớn nhất cho doanh nghiệp.
Tiến hành phân loại doanh nghiệp theo Quy trình sau:
Nông lâm, ngư - Chăn nuôi
nghiệp - Trồng trọt: cây lương thực, hoa màu, cây ăn quả, cây
công nghiệp….
- Trồng rừng
- Khai thác lâm sản
- Đanh bắt, nuôi trồng thủy sản
- Làm muối
Thương mại dịch - Cảng sông, biển
vụ - Khách sạn, nhà hàng, giải trí, du lịch
- Siêu thị, đại lý phân phối, kinh doanh bán buôn, bán lẻ
các loại nông sản, lâm sản, thủy hải sản, thực phẩm,
rượi bia, nước giải khát, thuốc lá, dược phẩm, thiết bị
y tế, mỹ phẩm, văn hóa phẩm, vật liệu xây dựng, hàng
điện tử, may móc, phương tiện giao thông vận tải, hóa
chất (bao gồm cả phân bón, thuốc trừ sâu), hàng tiêu
dùng, hàng mỹ thuật, mỹ nghệ, khí đốt.
- In ấn, xuất bản sách, báo chí.
- Sửa chữa nhà cửa, các loại máy móc, phương tiện giao
thông.
- Chăm sóc sức khỏe, làm đẹp
- Tư vấn, môi giới.
- Thiết kế thời trang, gia công may mặc
- Bưu chính viễn thông
- Vận tải đường bộ, đường sông, đường biển, đường sắt,
hàng không
- Vệ sinh môi trường, văn phòng…..
Xây dựng - Hạ tầng giao thông, khu công nghiệp
- Hạ tầng đô thị và nhà ở
- Xây lắp ( xây dựng cơ bản)


Công nghiệp - Chế biến các loại nông sản, lâm sản, thủy hải sản,
thực phẩm, rượi bia, nước giải khát.
- Sản xuất thuốc lá, dược phẩm, thiết bị y tế, văn hóa
phẩm, vật liệu xây dựng, hóa chất (bao gồm cả phân
bón, thuốc trừ sâu), hàng tiêu dùng, hàng mỹ thuật,
mỹ nghệ, nguyên vật liệu cho các nghành khác.
- Sản xuất điện khí đốt.
- Khai thác khoán sản
- Khai thác than, vật liệu xây dựng (cát, đá,…), dầu
khí.




Bước 3: Chấm điểm và xác định quy mô của doanh nghiệp
Người thực hiện: Cán bộ chấm điểm tín dụng:
Các tiêu chí sử dụng để chấm điểm và xác định quy mô doanh nghiệp gồm:
nguồn vốn kinh doanh, lao động, doanh thu thuần và giá trị nộp NSNN.
Trong đó:
- Lao động: là số lao động thực tế sử dụng (được nêu tại thuyết minh báo cáo tài
chính) tính bình quân trong 3 năm gần nhất.
- Giá trị nộp NSNN: lấy theo số thực nộp vào NSNN phát sinh trong kỳ (không kể
số thiếu của kỳ trước nộp kỳ này) bao gồm các loại thuế và các khoản thuế xuất
nhập khẩu, đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, các khoản
tiền phạt, phụ thu).
Tiến hành chấm điểm quy mô doanh nghiệp theo hướng dẫn sau:
CHẤM ĐIỂM QUY MÔ DOANH NGHIỆP.


stt tiêu chí Trị số Điểm
từ 50 tỷ đồng trở lên 30
từ 40 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng 25
Nguồn vốn kinh từ 30 tỷ đồng đến dưới 40 tỷ đồng 20
1
doanh từ 20 tỷ đồng đến dưới 30 tỷ đồng 15
từ 10 tỷ đồng đến dưới 20 tỷ đồng 10
dưới 10 tỷ đồng 5
từ 1500 người trở lên 15
từ 1000 đến dưới 1500 người 12
từ 500 đến dưới 1000 người 9
2 lao động
từ 100 người đến dưới 500 người 6
từ 50 người đến dưới 100 người 3
dưới 50 người 1
từ 200 tỷ đồng trở lên 40
từ 100 tỷ đồng đến dưới 200 tỷ đồng 30
từ 50 tỷ đồng đến dưới 100 tỷ đồng 20
3 Doanh thu thuần
từ 20 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng 10
từ 5 tỷ đồng đến dưới 20 tỷ đồng 5
dưới 5 tỷ đồng 2
từ 10 tỷ đồng trở lên 15
từ 7 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng 12
từ 5 tỷ đồng đến 7 tỷ đồng 9
4 nộp ngân sách
từ 3 tỷ đồng đến 5 tỷ đồng 6
từ 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng 3
dưới 1 tỷ đồng 1
(theo Quyết định 1880 của Ngân hàng Công thương Việt Nam)


Căn cứ vào kết quả chấm điểm thu được, xếp loại quy mô doanh nghiệp theo bảng
sau:
Điểm Quy mô
Từ 70 – 100 điểm Loại 1
Từ 30 – 69 điểm Loại 2
Dưới 30 điểm Loại 3
(theo Quyết định 1880 của Ngân hàng Công thương Việt Nam)




Bước 4: Chấm điểm các chỉ số tài chính:


Người thực hiện: Cán bộ chấm điểm tín dụng
Tiến hành thẩm định các báo cáo tài chính doanh nghiệp, lập bảng cân đối kế toán
sau điều chỉnh theo các sau


PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP


1 Thẩm định tính chính xác của báo cáo tài chính
Hệ thống báo cáo tài chính gồm có:
+ Bảng cân đối kế toán
+ Báo cáo kết quả kinh doanh
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
+ Thuyết minh các báo cáo tài chính
1.1. Kiểm tra mức độ tin cậy của báo cáo tài chính
Về mặt nguyên tắc, CBCĐTD phải lựa chọn báo cáo tài chính có độ tin cậy cao nhất mà
doanh nghiệp có thể có:
+ Báo cáo tài chính do doanh nghiệp lập.
+ Báo cáo tài chính của doanh nghiệp đã được cấp trên phê duyệt (Tổng công ty phê
duyệt báo cáo tài chính của đơn vị thành viên) có độ tin cậy cao hơn báo cáo tài chính do
doanh nghiệp lập.
+ Báo cáo quyết toán thuế: thường chỉ xem xét lại một số chỉ tiêu liên quan đến các
khoản thuế được khấu trừ, thuế phải nộp.
+ Báo cáo tài chính đã được kiểm toán có độ tin cậy cao hơn, nhưng tính chính xác còn
phụ thuộc vào uy tín của tổ chức kiểm toán độc lập, phạm vi kiểm toán, phương pháp
kiểm toán và sai số trọng yếu của tổ chức kiểm toán
1.2. Kiểm tra tính chính xác của báo cáo tài chính.
- Kiểm tra các hạng mục trên báo cáo:
Cần lựa chọn các hạng mục cần kiểm tra, rà soát, bao gồm: các hạng mục chủ yếu (tiền
mặt, phải thu, hàng tồn kho, chi phí xây dựng cơ bản dở dang…) và các hạng mục có dấu
hiệu nghi ngờ (do cán bộ rà soát phát hiện)
- Phương pháp: Kiểm tra sổ chi tiết, đối chiếu chứng tù gốc; so sánh đối chiếu số
liêu:
+ Cột số đầu năm: cần xem số liệu ở cột số cuối kỳ của bảng cân đối kế toán
niêm độ trước chuyển sang; hoặc xem số liệu đầu năm trên bảng cân đối kế toán quý
trước cùng niên độ chuyển sang. Số đầu năm không thay đổi trong suốt niên độ báo
cáo.
+ Cột số cuối kỳ: Cần xem số dư cuối kỳ trên một số sổ sách kế toán tổng hợp
hoặc chi tiết, tương ứng với chỉ tiêu đó để kiểm tra (ví dụ xem chi tiết tài khoản công
nợ, báo cáo cân đối số phát sinh…). Các chi tiêu phản ánh tài sản, xem số d ư cuối kỳ
bên nợ của các tài khoản liên quan. Các chỉ tiêu phản ánh nguồn vốn, xem số dư cuối
kỳ bên có các tài khoản phản ánh nguồn vốn tương ứng đề kiểm tra phần nguồn vốn.
+ Ngoài ra, có thể kiểm tra trực tiếp các file dữ liệu trên máy vi tính của doanh
nghiệp (Nội dung và số dư các tài khoản) để kiểm tra tính chính xác của các báo cáo
tài chính doanh nghiệp gửi cho ngân hàng.
2. Đánh giá chất lượng tài sản có của doanh nghiệp
Thẩm định chất lượng tài sản có của doanh nghiệp nhằm đánh giá thực chất kết
quả kinh doanh, tài chính và khả năng bảo đảm nợ vay của doanh nghiệp. Đối với
doanh nghiệp hạch toán theo Quyết định 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000, việc
đánh giá sẽ khác. Còn đối với doanh nghiệp hạch toán theo QĐ 15/2006/QĐ-BTC
ngày 20/3/2006 thực hiện theo hướng dẫn sau:
2.1 Tài sản ngắn hạn:
- Tài sản ngắn hạn là nhứng tài sản mà thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyển trong
vòng, một năm hoặc một chu kỳ sản xuất kinh doanh bình thường của doanh nghiệp
có đến thời điểm báo cáo.
2.1.1 Đầu tư tài chính ngắn hạn
Cần đánh giá những khoản đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán, cho vay
ngắn hạn, đầu tư ngắn hạn khác) vượt quá thời hạn theo quy định có thể thu hồi kịp
thời trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh hoặc trong thời hạn không quá một năm.
Tìm nguyên nhân chưa thu hồi (giảm giá trên thị trường chứng khoán mà nếu bán ra
doanh nghiệp sẽ bị lỗ…).
Đối với doanh nghiệp có khả năng về tài chính ngăn hạn để giảm thiểu rủi ro
(MS129). Khi phân tích cần so sánh giữa kết quả đánh giá của NHCV và số đã được
trích dự phòng.
(2.1.2) Các khoản phải thu ngắn hạn.
- Yêu cầu đánh giá: Các khoản phải thu khách hàng, trả trước người bán, phải thu nội
bộ, phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng, phải thu khác quá hạn, khó đòi
hoặc còn hạn thanh toán nhưng không có khả năng thanh toán. Nói chung doanh
nghiệp không sẵn sang cung cấp các số liêu này cho ngân hàng.
- Phương pháp đánh giá: Cần xem chi tiết các tài khoản 131 (phải thu khách hàng),
bên nợ TK 331 (phải trả người bán), TK138 ( chi tiết 1385-1388) (phải thu khác), chi
tiết (bên nợ) TK334, 337, 338; so sánh chi tiết theo từng đối tượng khách hàng giữa
các niên độ báo cáo. Đối với những khoản số dư không thay đổi (hoặc thay đổi không
đáng kể) do không có phát sinh tăng, giảm trong kỳ (hoặc phát sinh giảm rất ít) thỉ có
thể xác định là khoản nợ khó đòi. Nếu có thể cần đánh giá thêm từ một số thông tin
khác như hợp đồng, biên bản đối chiếu xác nhận công nợ….
- Ngoài ra, cần phải lưu ý một số nội dung sau:
+ Phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng (TK 337) phản ánh
chênh lệch giữa tổng số doanh thu đã ghi nhận lũy kế tương ứng với phần công việc đã
hoàn thành lớn hơn tổng số tiền lũy kế khách hàng phải thanh toán theo tiến độ kế hoạch
đến cuối kỳ báo cáo của các hợp đồng xây dựng dở dang. Đây là chỉ tiêu đặc thù của
nghành xây dựng, cần so sánh đối chiếu để phát hiện những tài khoản chậm thu hồi, nợ
tồn đọng lâu ngày.
+ Một số doanh nghiệp hạch toán một số khoản chi phí đã chi vào tài khoản
phải thu vì nếu hoạch toán vào giá thành thì kết quả kinh doanh bị lỗ; chi lượng tăng năng
suất lao động, các khoản chi chưa có nguồn, tài sản cố định chưa có nguồn, chi phí
khác…. Xem chi tiết TK 138 và chi tiết bên nợ TK 338 để phân tích (Những khoản chi
này doanh nghiệp thường treo qua nhiều biên độ báo cáo).
+ Dự phòng phải thu khó đòi: Theo quy định, doanh nghiệp phải tích dự
phòng phải thu khó đòi đề xử lý rủi ro công nợ quá hạn, khó đòi. Tuy nhiên, doanh
nghiệp có khả năng về tài chính mới hạch toán đầy đủ được dự phòng phải thu khó đòi.
Nợ khó đòi đã xử lý được theo dõi ở danh mục các chỉ tiêu ngoài bảng cân đối kế toán
(Phần cuối của bảng cân đối kế toán). Cần so sánh số đã được dự phòng vói kết quả đánh
giá thực tế về công nợ khó đòi.


2.1.3 Hàng tồn kho
- Cần đánh giá loại trừ hàng hóa tồn kho ứ đọng kém mất phẩm chất: xem
chi tiết TK 152 (nguyên liệu vật liệu); TK 153 (công cụ, dụng cụ), TK 155, 156 (Thành
phẩm, hàng hóa) theo từng loại sản phẩm của doanh nghiệp và các báo cáo, các thẻ
kho….
- Sản phẩm dở dang: Khi phân tích cần xem những khoản mục sản phẩm dở
dang đê lâu ngày không tất toán, xem xét bảng tổng hợp chi phí, doanh thu, lỗ lãi theo
từng công trình có chi phí dở dang qua một hoặc nhiều niên độ kế toán, không có doanh
thu nhưng chưa quyết toán lỗ.
2.1.4. Tài sản ngắn hạn khác
- Tạm ứng: Kế toán tạm ứng phải mở số chi tiết để theo dõi từng người
nhận tạm ứng theo từng lần nhận tạm ứng. Cần đánh giá những khoản tạm ứng để quá lâu
không thanh toán để loại trừ các khoản không có khả năng thu hồi.
- Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ: phản ánh số thuế GTGT được hoàn
lại đến cuối kỳ báo cáo. Số liệu được lấy từ số dư nợ tài khoản TK 133. Theo quy định
hiện hành, sau ba tháng liên tục có dư nợ hoàn thuế, doanh nghiệp gửi hồ sơ để được
hoàn thuế. Đối với chỉ tiêu này, cần đánh giá những khoản thuế đã hạch toán từ liên độ kế
toán trước nhưng đến liên độ này vân chưa được khấu trừ (thường do thiếu hồ sơ hoặc hồ
sơ không đầy đủ điều kiện pháp lý nên cơ quan thuế không chấp nhận hoàn thuế).
- Chi phí trả trước ngắn hạn: là những khoản chi phí đã chi nhưng chưa
hạch toán vào chi phí SXKD trong kỳ/năm báo cáo. Chi phí này được kết chuyển vào chi
phí SXKD của các kỳ báo cáo tiếp theo trong một năm tài chính hoặc một chu kì kinh
doanh. Doanh nghiệp theo dõi theo từng khoản chi phí. (Bảng 02). Khi phân tích cần
xem chi tiết tài khoản, phát hiện các trường hợp không tất toán các khỏan đã chi tử kỳ
hạch toán trước; là rõ nguyên nhân những khoản chi phí trả trước từ kỳ trước chưa tât
toán kỳ này.
- Tài sản thiếu chờ xử lý (TK 1381): thể hiện giá trị tài sản thiếu hụt mất
mát chưa được xử lý tại thời điểm báo cáo.
- Cầm cố, ký quỹ, ký cược ngắn hạn (TK 144): Cần đánh giá cá khoản quá
hạn, khó thu hồi.


2.2. Tài sản dài hạn.
2.2.1. Các khoản phải thu dài hạn.
Yêu cầu đánh giá: các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội
bộ dài hạn, phải thu dài hạn khác có tiềm ẩn rủi ro mất vốn hoặc đối tượng nợ không có
khả năng thanh toán, bị thua lỗ, phá sản.
Phân tích tương tụ như đối với phải thu ngắn hạn.
2.2.2. Tài sản cố định.
Xác định giá trị còn lại của các TSCĐ không cần dùng, hư hỏng, lạc hậu,
chờ thanh lý.
2.2.3. Bất động sản đầu tư.
Bất động sản đầu tư phản ánh giá trị các tài sản là bất động sản (quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà, cơ sở hạ tầng) được mua để cho thuê hoặc chờ tăng giá mà
không dùng để sử dụng vao SXKD, quản lý hoặc bán trong kỳ SXKD thông thường. Khi
đánh giá cần xác định giá trị của khoản đầu tư bị đóng băng, giảm giá hoặc các thiệt hại,
rủi ro do xảy ra tranh chấp, do bất động sản nằm trong vùng quy hoạch giải phóng mặt
bằng.
2.2.4. Đầu tư tài chính dài hạn
Đầu tư tài chính dài hạn phản ánh giá trị các khỏan đầu tư tài chính dài hạn,
đầu tư vào công ty con, đầu tư vào công ty liên doanh, đầu tư dài hạn khác. Khi đánh giá
cần loại trừ các khoản giảm giá chứng khoán, rủi ro do công ty liên doanh làm ăn thua lỗ,
phá sản…
2.2.5. Tài sản dài hạn khác
Gồm chi phí trả trước dài hạn (TK 242), thuế thu nhập hoãn lại phải trả (TK
347), các khoản ký quỹ, ký cược dài hạn (TK 244) và các tài sản dài hạn khác. Phân tích
tương tự như đối với chỉ tiêu ngắn hạn.


2.3. Tổng hợp kết quả


- Căn cứ vào kết quả thẩm định báo cáo tài chính doanh nghiệp quy định tại điểm 1,
2, CBCĐTD lập bảng 1 – các khoản loại trừ khỏi tài sản có.
- Lập bản cân đối tài chính sau điều chỉnh, tổng số tiền loại trừ trong bảng 1 sẽ được
giảm trừ tương ứng trong phần tài sản nợ (Mã số 416 mục Vốn chủ sở hữu), phẩn
kết quả sản xuất kinh doanh năm hiện tại.
- Căn cứ vào Báo cáo cân đối tài chính sau điều chỉnh, CBCĐTD tiến hành chấm
điểm các chỉ số tài chính.


Bảng 1: Các khoản loại trừ khỏi tài sản có




Các chỉ tiêu Số tiền
Cộng các chỉ tiêu loại trừ: (1+2)
Trong đó:
1. Tài sản ngắn hạn
1.1. Đầu tư tài chính ngắn hạn vượt quá thời hạn chưa thanh
toán (đã trừ dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn)
1.2. các khoản phải thu ngắn hạn quá hạn khó đòi hoặc còn hạn
thanh toán nhưng không có khả năng thu hồi; Các khoản chi phí
không có nguồn đã hạch toán vào phải thu:
- phải thu khách hàng
- Trả trước người bán
- Phải thu nội bộ
- phải thu theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng
- Phải thu khác
- Dự phòng phải thu khó đòi (*)
1.3. Tồn kho ứ đọng chậm luân chuyển (Đã trừ dự phòng giảm giá)
- Tồn kho nguyên liệu, vật liệu ứ đọng, chậm luân chuyển
- Tồn kho công cụ, dụng cụ hư hỏng, không còn khả năng sử dụng
- Tồn kho thành phẩm, hàng hóa ứ đọng, kém, mất phẩm chất
- Sản phẩm dở dang chậm luân chuyển hoặc chưa quyết toán lỗ
- Dự phòng giảm giá hàng tồn kho (*)
1.4. Tài sản ngắn hạn khác:
- Tạm ứng quá hạn
- Chi phí trả trước ngắn hạn không được phân bổ theo quy định
- Thuế giá trị gia tăng không được khấu trừ (đã trừ dự phòng phải thu
khó đòi)
- Tài sản thiếu chờ xử lý tồn đọng lâu ngày.
2. Tài sản dài hạn
- Chi phí trả trước dài hạn không đứợc phân bổ theo quy định
- Thuế thu nhập hoãn lại không được hoàn thanh toán do không thể
hoàn thiện đủ hồ sơ.
Bảng 2- Nội dung các khoản chi phí trả trước


Chi phí trả trước ngắn hạn:
- Chi phí trả trước về thuê cửa hàng, nhà xưởng, nhà kho, văn phòng cho một năm
tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh;
- Chi phí trả trước về thuê dịch vụ cung cấp cho họat động kinh doanh của một
năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh;
- Chi phí mua các loại bảo hiểm hàng năm (bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm trách
nhiệm dân sự chủ phương tiện vận tải, bảo hiểm thân xe…) và các loại lệ phí mua
và trả một lân trong năm;
- Công cụ dụng cụ xuất dung một lần với giá trị lớn và công cụ, dụng cụ có thời
hạn sử dụng 1 năm;
- Giá trị bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê với kỳ hạn tối đa là một năm tài
chính hoặc một chu kỳ kinh doanh.
- Chi phí mua các tài liệu kỹ thuật và các khoản chi phí trả trước ngắn hạn khác
được tính phân bổ dần vào chi phí kinh doanh trong một năm tài chính hoặc một
chu kỳ kinh doanh;
- Chi phí trong thời gian ngừng việc (không theo kế hoạch).
- Chi phí sửa chữa TSCĐ phát sinh một lần quá lớn phải phân bổ cho nhiều kỳ kế
toán (tháng, quý) trong một năm tài chính hoặc một chu kỳ kinh doanh;
- Chi phí trả trước ngắn hạn khác (như lãi vay trả trước, lãi mua hàng trả chậm, trả
góp.
Chi phí trả trước dài hạn:
- Chi phí trả trước về thuê hoạt động TSCĐ (Quyền sử dụng đất, nhà xưởng, kho
tàng, văn phòng làm việc, cửa hàng và TSCĐ khác) phục vụ cho sản xuất kinh
doanh nhiều năm tài chính. Trừ trường hợp trả trước tiền thuê đất có thời hạn
nhiều năm và được câp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Trường hợp này sẽ
được hạch toán vào tài khoản TSCĐ hữu hình);
- Tiền thuê cơ sở hạ tầng đã trả trước cho nhiều năm và phục vụ cho kinh doanh
nhiều kỳ nhưng không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng;
- Chi phí trả trước phục vụ cho hoạt động kinh doanh của nhiều năm tài chính;
- Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo, quản cáo, phát sinh trong giai
đoạn trước hoạt động được phân bổ tối đa không quá 3 năm;
- Chi phí nghiên cứu có giá trị lớn được phép phân bổ tối đa cho nhiều năm;
- Chi phí cho giai đoạn triển khai không đủ điều kiện ghi nhận là TSCĐ vô hình;
- Chi phí đào tạo cán bộ quản lý và công nhân kỹ thuật;
- Chi phí di chuyển địa điểm kinh doanh, hoặc tổ chức lại doanh nghiệp phát sinh
lớn được phân bổ cho nhiêu năm – trong trường hợp chưa lập dự phòng tái cơ cấu
doanh nghiệp;
- Chi phí mua bảo hiểm (bảo hiểm cháy, nổ, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ
phương tiện vận tải, bảo hiểm thân xe, bảo hiểm tài sản…) và các lệ phí mà doanh
nghiệp mua và trả một lần cho nhiêu năm tài chính;
- Công cụ, dụng cụ xuất dụng một lần với giá trị lớn và bản thân công cụ, dụng cụ
tham gia vào họat động kinh doanh trên một năm tài chính phải phân bổ dần dần
vào các đối tượng chịu chi phí trong nhiều năm;
- Chi phí đi vay trả trước dài hạn như lãi tiền vay trả trước, hoặc trả trước lãi trái
phiếu ngay khi phát hành;
- Lãi mua hàng trả chậm, trả góp;
- Chi phí phát hành trái phiếu có giá trị lớn phải phân bổ dần;
- Chi phí sửa chữa TSCĐ phát sinh một lần có giá trị lớn doanh nghiệp không thực
hiện trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, phải phân bổ nhiều năm;
- Số kết chuyển chênh lệch tỷ giá hối đoái phát sinh và chênh lệch tỷ giá hối đoái
do đánh giá lại của các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ (Trường hợp lỗ tỷ giá)
của hoạt động đầu tư XDCB (Giai đoạn trước hoạt động) hoàn thành đầu tư;
- Số chênh lệch giá bán nhơ hơn giá trị còn lại của TSCĐ bán và thuê lại tài sản
hoạt động;
- Chi phí liên quan đến bất động sản đầu tư sau khi ghi nhận ban đầu không thỏa
mãn điều kiện ghi tăng nguyên giá bất động sản đầu tư nhưng không có giá trị lớn
phải phân bổ dần;
- Trường hợp hợp nhất kinh doanh không dẫn đến quan hệ công ty mẹ - công ty
con có phát sinh lợi thế thương mại hoặc khi cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
có phát sinh lợi thế kinh doanh;
- Các khoản trả trước khac liên quan đến sản xuất kinh doanh trên một năm tài
chính;
Căn cứ vào kết quả xác đinh nghành nghề/ lĩnh vực sản xuất kinh doanh và quy
mô của doanh nghiệp tại bước 2 và 3; các số liệu trên cân đối kê toán sau điều chỉnh,
chấm điểm các chỉ số tài chính của doanh nghiệp theo hướng dẫn của các Bảng sau:
BẢNG CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH ÁP DỤNG CHO CHẤM ĐIỂM CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC NGÀNH
NÔNG, LÂM, NGƯ NGHI ỆP


ch ỉ tiêu phân loại các chỉ tiêu tài chính đối với doanh nghiệp
trọng
số Quy mô lớn Quy mô vừa Quy mô nhỏ
100 80 60 40 20 100 80 60 40 20 100 80 60 40 20
A. Chỉ tiêu thanh khoản
1. Khả năng thanh toán ngắn hạn 8% 2.1 1.5 1 0.7 3
D.Chỉ tiêu thu nhập (%)
9. Tổng thu nhập trước thuế / d oanh thu 8% 3 2.5 2 1.5

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản