Luận văn thạc sĩ lịch sử: Phong tục và tín ngưỡng, tôn giáo của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên

Chia sẻ: Nguyen Bao Ngoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:150

0
102
lượt xem
31
download

Luận văn thạc sĩ lịch sử: Phong tục và tín ngưỡng, tôn giáo của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, dân tộc Nùng chiếm một số lượng đông đảo, sống tập trung ở khu vực Việt Bắc. Sau các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Đắk Lắc, Bắc Giang, Hà Giang, Thái Nguyên là một tỉnh trung du phía Bắc có số lượng người Nùng đứng thứ sáu. Trong đó tập trung chủ yếu ở một số huyện như Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ…

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn thạc sĩ lịch sử: Phong tục và tín ngưỡng, tôn giáo của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên

  1. 1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LÊ THỊ THANH VÂN PHONG TỤC VÀ TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam Mã số: 60.22.54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐÀM THỊ UYÊN THÁI NGUYÊN - 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  2. 2 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM LÊ THỊ THANH VÂN PHONG TỤC VÀ TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ THÁI NGUYÊN - 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  3. 3 MỤC LỤC MỞ ĐẦU................................................................................................................................................................................................................................... 1 CHƢƠNG 1: ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN GỐC CỦA NGƢỜI NÙNG, HUYỆN ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN .................................................................................................. 8 1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên .......................................................................................................................................................... 8 1.2. Nguồn gốc của tộc người Nùng. ..............................................................................................................................11 CHƢƠNG 2: PHONG TỤC NGƢỜI NÙNG Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ ...............................................18 2.1. Hôn nhân ........................................................................................................................................................................................................18 2.2. Tục lệ sinh đẻ ..........................................................................................................................................................................................31 2.3. Tục làm nhà mới ................................................................................................................................................................................35 2.4. Lễ sinh nhật. .............................................................................................................................................................................................40 2.5. Tục lệ ma chay......................................................................................................................................................................................41 2.6. Những biến đổi ngày nay ....................................................................................................................................................59 CHƢƠNG III: TÍN NGƢỠNG TÔN GIÁO CỦA NGƢỜI NÙNG Ở ĐỒNG HỶ...........62 3.1. Quan niệm chung về tín ngưỡng tôn giáo ................................................................................................62 3.2. Vật linh giáo .............................................................................................................................................................................................63 3.3. Một số tục thờ cúng ......................................................................................................................................................................68 3.4. Những ảnh hưởng của tam giáo và vị trí của nó trong đời sống xã hội người Nùng ........................................................................................................................................................................................78 3.5. Vai trò của Tào, Mo, Then, Pụt trong đời sống tâm linh của người Nùng .........80 3.6. Mối quan hệ và ảnh hưở ng của văn hoá tinh thần người Nùng với các dân tộc khác ở huyện Đồng Hỷ ........................................................................................................................84 3.7. Một số giải pháp để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá tinh thần truyền thống trong điều kiện ngày nay .............................................................................................90 KẾT LUẬN .......................................................................................................................................................................................................................95 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  4. 4 TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................................................................................................99 PHỤ LỤC .......................................................................................................................................................................................................................106 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Lịch sử và các Giảng viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ. Với lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Đàm Thị Uyên đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ. Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Thái Nguyên, Ban giám hiệu trường Trung học phổ thông Đồng Hỷ và các thầy cô giáo trong trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn tới Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Thái Nguyên, Văn phòng tỉnh uỷ Thái Nguyên, Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch, Uỷ ban nhân dân huyện Đồng Hỷ, Ban Văn hoá huyện Đồng Hỷ … đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu tư liệu để hoàn thành Luận văn. Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn. Thái Nguyên, ngày 28 tháng 9 năm 2009 Tác giả Lê Thị Thanh Vân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  5. 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  6. 6 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Việt Nam là một quốc gia với 54 dân tộc anh em. Mỗi một dân tộc có một bản sắc văn hoá riêng. Trải qua quá trình phát triển, 54 bản sắc dân tộc, ngày càng hoà quyện, đan xen vào nhau, quá trình giao thoa đó đã làm cho nền văn hoá của các dân tộc hoà nhập nhưng không hoà tan, góp phần làm cho nền văn hoá vật chất, tinh thần Việt Nam phong phú, đa dạng và độc đáo. Dân tộc và bản sắc văn hoá dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi một dân tộc có nhưng bản sắc văn hoá dân tộc riêng, tron g xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay việc giữ gìn nhưng nét văn hoá dân tộc mang một ý nghĩa quan trọng, bởi không ít những thế lực phản động đang từng ngày từng giờ lợi dụng vấn đề dân tộc để gây xung đột chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Chính vì vậy việc bảo tồn và phát huy nền văn hoá dân tộc là một vấn đề cấp thiết của từng dân tộc. Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, dân tộc Nùng chiếm một số lượng đông đảo, sống tập trung ở khu vực Việt Bắc. Sau các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, ĐắkLắc, Bắc Giang, Hà Giang, Thái Nguyên là một tỉnh trung du phía Bắc có số lượng người Nùng đứng thứ sáu. Trong đó tập trung chủ yếu ở một số huyện như Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ… Trong đó người Nùng ở huyện Đồng Hỷ chiếm 13,2% trong tổng số 123.196 người, nhiều xã tỷ lệ người Nùng chiế m tới 98% như (Hoá Trung, Tân Long, ….). Với vị trí địa lý thuận lợi, tiếp giáp với Sông Cầu rất thuận lợi cho việc đi lại trao đổi buôn bán bằng đường thuỷ, ngoài ra Đồng Hỷ còn là huyện có đường quốc lộ 1B đi qua với chiều dài 15,5km không chỉ thuận tiện cho việc đi lại mà còn thuận tiện cho việc giao lưu trao đổi kinh tế giữa khu vực huyện với các khu vực khác. Trong toàn huyện, đồng bào Nùng chiếm một số lượng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  7. 7 không đông, chỉ trừ mấy xã chiếm tới số lượng 98% đồng bào Nùng, còn các xã khác là sự đan xen giữa các dân tộc khác trong vùng, mặc dù vậy nhưng đồng bào Nùng ở Đồng Hỷ cũng đã xây dựng cho mình một nền văn hoá truyền thống kết hợp với nền văn hoá của các nền văn hoá anh em trong vùng, để tạo nên một nét văn hoá độc đáo, đa dạng. Trên cơ sở lý luậ n thực tiễn đó, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc luôn là vấn đề trọng tâm trong đường lối của Đảng ta. Năm 1991, trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ”, Đảng ta xác định: Tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hoá, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng của các dân tộc, đồng thời kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức, thẩm mĩ, các di sản văn hoá, nghệ thuật của dân tộc. Chủ trương đó tiếp tục khẳng định rõ hơn trong nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ 5 khoá VIII (1998) của Đảng: “ Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc văn hoá dân tộc, cơ sở để tạo ra những giá trị văn hoá truyền thống (bác học và dân gian), văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể" [12, tr.01]. Để góp phần nhỏ bé của mình vào quá trình tìm hiểu văn hoá các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, chúng tôi quyết định chọn: “Phong tục và tín ngưỡng, tôn giáo của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài luận văn, với hai nội dung chủ yếu là các phong tục, tín ngưỡng và tôn giáo trong đời sống của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ. Với mục đích bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc trong văn hoá truyền thống của người Nùng, ở huyện Đồng Hỷ hoà chung vào nền văn hoá Việt Nam “Tiến tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc” là mục đích mà luận văn này muốn đạt được. Bản thân tôi là người dân tộc kinh, và hiện đang là giáo viên giảng dạy môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông Đồng Hỷ, là một huyện miền núi, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  8. 8 nơi có nhiều con em dân tộc Nùng, đó cũng là một lý do khiến tôi lựa chọn đề tài này để giảng dạy tốt hơn phần lịch sử Văn hoá, lịch sử địa phương nhằm qóp phần giáo dục, bồi đắp cho các thế hệ học sinh lòng tự hào, tình yêu đối với dân tộc, quê hương, đất nước. Ngoài ra tôi đã lập gia đình tro ng dòng họ Nùng, vì vậy tôi cũng muốn lựa chọn đề tài cũng để hiểu thêm về phong tục tập quán của gia đình chồng. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Vấn đề phong tục và tín ngưỡng, tôn giáo của người Nùng đã được đề cập đến trong một số công trình, mỗi công trình nghiên cứu có thể đề cập toàn diện văn hoá của người Nùng, có những công trình chỉ đề cập đến một lĩnh vực trong văn hoá. Đối với vấn đề phong tục và tín ngưỡng, tôn giáo của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ cũng có một số công trình đề cập tới nhưng ở mức độ khác nhau, như một số công trình sau đây: - Cuốn “Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt - Nam” NXB Khoa học xã hội. Hà Nội 1968. - Cuốn “Dân ca đám cưới Tày - Nùng” của Nông Minh Châu, NXB Việt Bắc xuất bản năm 1973. - Cuốn “Các dân tộc ít người ở Việt Nam ” NXB Khoa học xã hội, Hà Nội - 1978 - Cuốn “Sli, lượn dân ca trữ tình Tày, Nùng” của Vi Hồng, NXB Văn hoá ấn hành năm 1979. - Cuốn “ Văn hoá Tày - Nùng” của Lã Văn Lô, Hà Văn Thư, NXB Văn hoá, xuất bản năm 1984. Đây là một công trình nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về xã hội, con người, văn hoá của hai dân tộc Tày - Nùng. - Cuốn “ Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam” do Viện dân tộc học xuất bản năm 1992. Đây cũng là một công trình nghiên cứu có tính chất toàn diện về điều kiện tự nhiên, dân cư Tày, Nùng, lịch sử hình thành tộc người, các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  9. 9 hình thái kinh tế, hình thái văn hoá vật chất, tổ chức xã hội - gia đình, hôn nhân, các tục lệ như: cưới xin, sinh đẻ, ma chay, làm nhà mới và tôn giáo tín ngưỡng. Dân tộc Nùng ở Thái Nguyên nói chung và huyện Đồng Hỷ nói riêng cũng được tác giả đề cập đến mặc dù không nhiều. - Cuốn “Văn hoá truyền thống Tày - Nùng” của các tác giả Hoàng Quyết, Ma Khách Bằng, Hoàng Huy Phách, Cung Văn Lược, Vương Toàn, NXB Văn hoá dân tộc xuất bản năm 1993. - Đề tài cấp bộ năm 2004 “ Văn hoá dân tộc Nùng ở Cao Bằng” của tác giả Đàm Thị Uyên. - Đề tài cấp bộ năm 2004 “ Tang ma của dân tộc Nùng ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Ngân, đã trình bày tương đối kỹ về phong tục tang ma đặc trưng của người Nùng ở Việt Nam. Từ năm 1997 đến năm 2006 Huyện uỷ Đồng Hỷ lần lượt biên soạn và cho xuất bản cuốn: - Lịch sử Đảng bộ huyện Đồng Hỷ (1930 - 1995) - Huyện Đồng Hỷ lịch sử kháng chiến chống xâm lược và xây dựng - bảo vệ tổ quốc (1945 - 2000). - Nguyễn Anh Tuấn (2003), Tang ma người Nùng Phàn Slình ở xã Tân Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn cử nhân chuyên ngành dân tộc học, Đại học khoa học xã hội nhân văn, Hà Nội. - Phan Đình Thuận (2006), Tìm hiểu tôn giáo - tín ngưỡng của người Nùng ở xã Tân Long, Huyện Đồng Hỷ, Đề tài nghiên cứu khoa học chuyên ngành Lịch sử, Đại học Sư phạm Thái Nguyên. Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều quan tâm đến, đời sống văn hoá tinh thần, vật chất, những phong tục tập quán của hai dân tộc là Tày và Nùng trên phương diện rộng (phạm vi cả nước) và cả phương diện hẹp (phạm vi một tỉnh). Tuy nhiên trong nét văn hoá chung đó, lại có sự giao thoa, mỗi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  10. 10 một vùng có nhưng nét đặc sắc riêng để phù hợp với vị trí địa lý và văn hoá ở khu vực đó. Tất cả những công trình nghiên cứu trên tạo cơ sở nền móng để chúng tôi khai thác một đề tài ở phạm vi hẹp, làm rõ hơn đời sống văn hoá của dân tộc Nùng ở huyện Đồng Hỷ. 3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu nghiên cứu - Mục đích nghiên cứu Việc nghiên cứu phong tục và tôn giáo, tín ngưỡng của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, nhằm hệ thống lại một số tập tục, tín ngưỡng dân gian của cư dân nông nghiệp ở huyện Đồng Hỷ. - Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là một số tục lệ trong đời sống và tín ngưỡng tôn giáo của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ - Phạm vi nghiên cứu Nói đến những tín ngưỡng và tập tục trong đời sống, là chúng ta đề cập đến lĩnh vực văn hoá tinh thần, do vậy phạm vi khá rộng, song do khả năng có hạn, đề tài luận văn chỉ đi sâu vào một số phong tục trong chu kỳ đời người và tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào N ùng ở huyện Đồng Hỷ, nhằm làm rõ những đặc trưng văn hoá mang tính địa phương. 4. Nguồn tƣ liệu - Nguồn tư liệu thành văn: + Các tác phẩm, các công trình nghiên cứu lí luận về văn hoá dân tộc: Về các giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam của Trường Chinh; Nghị quyết hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 5 (khoá VIII); Văn hoá một số lí luận của Trương Lưu; Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt Nam do Ban tư tưởng - Văn hoá Trung ương xuất bản v.v Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  11. 11 + Các tác phẩm thông sử và chuyên khảo, như Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú … Các sách chuyên khảo và các bài viết đề cập đến lịch sử, văn hoá Tày, Nùng của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học. + Nguồn tư liệu địa phương: Lich sử Đảng bộ huyện Đồng Hỷ, địa lý huyện Đồng Hỷ… - Nguồn tư liệu thực địa, điền dã Đây là loại tư liệu được chúng tôi đặc biệt quan tâm, bao gồm các tài liệu truyền miệng, truyện kể, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ địa phương, những phong tục, tập quán, và cả những kinh nghiệm trong cuộc sống và trong lao động sản xuất của đồng bào. Nhưng nguồn tư liệu này là những tư liệu cần thiết để chúng tôi hoàn thành luận văn này. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã vận dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc, phương phá p khảo sát điền dã, miêu thuật, phân tích, tổng hợp và một số phương pháp khác có liên quan đến đề tài. Đặc biệt là khâu giám định tư liệu, xử lý các tài liệu điền dã đã thu thập được trên cơ sở tiếp cận địa lý lịch sử để đảm bảo tính chính xác. Trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu đề tài này, chúng tôi đặt nó trong mối quan hệ với các dân tộc khác trong cộng đồng dân cư địa phương để rút ra được cái nhìn tổng thể, toàn diện về đặc điểm “ đa dạng trong thống nhất” của văn hoá truyền thống người Nùng. 6. Đóng góp của luận văn - Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về các phong tục trong đời sống và tín ngưỡng tôn giáo của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, từ đó thấy được nét tương đồng trong văn hoá của dân tộc Nùng ở huyện Đồng Hỷ với các huyện khác trong tỉnh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  12. 12 - Thông qua đề tài này chúng tôi cũng muốn góp một phần công sức nhỏ bé trong công tác bảo tồn và phát triển những giá trị văn hoá truyền thống của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ. Đồng thời làm phong phú hơn nguồn tư liệu về nhưng nét văn hoá của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ. 7. Cấu trúc luận văn Luận văn bao gồm 108 trang, ngoài phần mở đầu (7 trang), phần kết luận (4 trang), tài liệu tham khảo (7 trang), phần nội dung (87 trang), được chia thành 3 chương: Chương 1: Điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn gốc của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên. Chương 2: Phong tục người Nùng ở huyện Đồng Hỷ. Chương 3: Tín ngưỡng, tôn giáo của người Nùng ở Đồng Hỷ. Trong luận văn còn có các mục: phần phụ lục, phụ lục viết cùng với Lời cảm ơn, tranh ảnh, bản đồ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  13. 13 CHƢƠNG 1 ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN GỐC CỦA NGƢỜI NÙNG, HUYỆN ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN 1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên 1.1.1. Vị trí địa lý Theo sách “Đại Nam nhất thống chí”, vào đời Lê Hồng Đức, huyện Đồng Hỷ nằm trong phủ Phú Bình thuộc xứ Thái Nguyên, do phiên thần họ Ma nối đời cai trị. Đời Nguyễn Gia Long vẫn giữ nguyên như thế. Lỵ sở đặt tại xã Nhẫm Quang. Đến năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), triều Nguyễn định ra chế độ lưu quan, lỵ sở chuyển về xã Huống Thượng. Vào thời điểm ấy, huyện Đồng Hỷ gồm 9 tổng, 33 xã; từ đông sang tây cách nhau 41 dặm, nam- bắc cách nhau 97 dặm; phía đông đến tận địa giới huyện Tư Nông (nay là huyện Phú Bình), phía tây đến địa giới huyện Phú Lương, phía nam đến địa giới huyện Phổ Yên, phía bắc đến địa giới huyện Võ Nhai. Trải qua các thời kỳ lịch sử, phạm vi địa giới huyện Đồng Hỷ đã nhiều lần thay đổi. Cho đến trước năm 1962, Đồng Hỷ bao gồm 29 xã (trong đó có xã Hợp Tiến của huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang). Từ năm 1985, huyện Đồng Hỷ bao gồm 17 xã, 3 thị trấn (Chùa Hang, Trại Cau, Sông Cầu). Ngày nay, Đồng Hỷ nằm dọc hai bên bờ sông Cầu. Phía đông bắc và phía bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Kạn, phía nam giáp huyện Phú Bình, phía đông giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây giáp huyện Phú Lương và thành phố Thái Nguyên. Đồng Hỷ có 20 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 17 xã và 3 thị trấn (Chùa Hang, Trại Cau, Sông Cầu), trong đó có 2 xã thuộc vùng III (vùng cao) là Tân Long và Văn Lăng, 2 xã vùng đặc biệt khó khăn là Hợp Tiến và Cây Thị, 4 xã và một thị trấn thuộc vùng I (trung du) là thị trấn Chùa Hang, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  14. 14 các xã Đồng Bẩm, Cao Ngạn, Huống Thượng, 12 xã, thị trấn còn lại thuộc vùng II (miền núi). 1.1.2. Điều kiện tự nhiên Đất đai: Đồng Hỷ là huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, có diện tích tự nhiên 46.177ha. Địa hình huyện Đồng Hỷ có độ dốc thoai thoải từ đông bắc xuống tây nam. Phía bắc và đông bắc huyện thuộc dãy đá vôi Bắc Sơn hùng vĩ. Ở các xã Văn Lăng, Tân Long, Hoà Bình, Quang Sơn và kéo dài xuống đến phía Nam huyện có những khối núi đá vôi đồ sộ, bề thế, có đ ỉnh cao tới 600 mét, như núi Lũng Phương (Văn Lăng), Mỏ Ba (Tân Long). Các xã phía Bắc và Đông Bắc của huyện thuộc vùng núi cao, độ cao trung bình là 120 mét so với mặt nước biển, nhiều khe suối tuy giao thông đi lại khó khăn nhưng có thế mạnh phát triển t huỷ điện, lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc. Tiếp dãy núi đá lớn là vùng là vùng núi thấp nhiều đồi hình bát úp, độ cao từ 50 đến 60 mét, có khả năng phát triển cây công nghiệp (chè, mía, lạc…). Các xã nằm phía hạ lưu sông Cầu (Cao Ngạn, Đồng Bẩm, Huống Th ượng) độ cao trung bình 20 mét so với mặt nước biển, có những cánh đồng bằng phẳng thuận lợi cho việc phát triển lúa nước và cây thực phẩm (rau xanh, đậu, đỗ…). Đồng Hỷ hiện có 26.448 ha rừng, trong đó diện tích rừng trồng là 7.146 ha, chiếm trên 51% diện tích đất tự nhiên. Phần lớn diện tích rừng của Đồng Hỷ nằm ở độ cao dưới 200 mét, ít gỗ quý, trừ phía bắc huyện (các xã Văn Lăng, Tân Long) còn một số rừng nguyên sinh trên núi đá vôi, trong đó có nhiều gỗ trai, nghiến… Rừng là một thế mạnh của huyện Đồng Hỷ. Khí hậu: Đồng Hỷ nằm ở vùng bắc chí tuyến, trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu, nên khí hậu ở đây mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa. Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, ít mưa. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  15. 15 Nhiệt độ trung bình là 220C, nhiệt độ cao nhất trung bình hàng năm là 27,20C, nhiệt độ thấp nhất trung bình là 20,20C, Tháng 7 là tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất, tháng 1 là tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất, số giờ nắng trong năm là 1,628 giờ. Mưa ở Đồng Hỷ tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 90,6% một năm, lượng mưa trung bình từ 1800mm - 2000mm, tháng 7 có lượng mưa lớn nhất, từ 401mm đến 420mm. Trái lại tháng 12 và tháng 1 có lượng mưa thấp nhất, khoảng 24 - 25mm. Mỗi năm ở Đồng Hỷ trung bình có khoảng 21 đến 22 đợt gió mùa đông bắc tràn qua (trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 5 năm sau). Mỗi lần gió mùa đông bắc tràn về thường làm cho nhiệt độ hạ xuống đột ngột, rất hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng…. Nhìn chung khí hậu Đồng Hỷ tương đối ôn hoà, hầu như không có hoặc ít giông bão, thuận lợi cho sản xuất (cả nông nghiệp lẫn công nghiệp) và hoạt động của lực lượng vũ trang trong huấn luyện cũng như trong chiến đấu. Sông ngòi: Sông Cầu chảy theo hướng Bắc - Nam là biên giới phía tây của huyện với độ dài 47km, là nguồn cấp nước chính, có tiềm năng khai thác vận tải thuỷ. Suối Khe Mo phát nguồn từ Võ Nhai chảy qua các xã Văn Hán, Khe Mo, Hoá Thượng, Linh Sơn đổ ra Sông Cầu, dài 28km. Suối Thác Giạc, suối Ngàn Me và hàng trăm con suối nhỏ khác cùng với hàng chục hồ chứa nước lớn, nhỏ phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Theo đánh giá của các nhà khoa học địa chất, mạch nước ngầm của Đồng Hỷ có chữ lượng lớn đủ cung cấp cho năm, bẩy trăm ngàn dân. Giao thông: Là một huyện miền núi với tổng chiều dài đường bộ của huyện là 729,8km, trong đó có quốc lộ 1B qua địa bàn huyện dài 15,5km, đường liên tỉnh 27km, đường liên huyện dài 57,5km, đường liên xã 171km, đường liên xóm 404km. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  16. 16 Mật độ đường giao thông của toàn huyện bình quân đạt 13,4km, ô tô vận tải cỡ lớn có thể đến được trung tâm tất cả các xã trong huyện. Đây là điều kiện thuận lợi để lực lượng vũ trang cơ động tác chiến trên địa bàn huyện. Với vị trí địa lý, và đặc điểm tự nhiên như vậy đã tạo cho Đồng Hỷ có nhưng nét riêng biệt, nó cũng làm ảnh hưởng chi phối đến đời sống văn hoá tinh thần, vật chất của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ. 1.2. Nguồn gốc của tộc ngƣời Nùng 1.2.1. Đôi nét lịch sử nguồn gốc tộc người Nùng Dân tộc Nùng ở Việt Nam nói ngôn ngữ Tày - Thái. Người Nùng có nhiều nhóm địa phương, nhưng tộc danh Nùng là tên gọi thống nhất của đồng bào. Ở mỗi địa phương, đồng bào Nùng đều ý thức rất rõ nhóm tộc người của mình: Nùng Phàn Slình, Nùng An, Nùng Nùng Cháo, Nùng Giang, Nùng Lòi, Nùng Inh, Nùng Dín… Từ trước đến nay, có nhiều học giả trong nước và nước ngoài đưa ra một số nhận định về nguồn gốc lịch sử của dân tộc Nùng như: Lê Quý Đôn trong “ Kiến Văn tiểu lục” đã ghi chép về sự có mặt của người Nùng ở Tuyên Quang từ thế kỷ XVIII: “ Giống người Nùng đều là người 12 thổ châu ở Tiểu Trấn Yên, Quy thuận, Long Châu, Điền Châu, Phù Châu, Thái Bình, Lôi Tử Thành và Hướng Vũ thuộc Trung Quốc làm nghề cày cấy, trồng trọt cũng chịu thuế khoá, lao dịch, mặc áo vằn vải xanh, cắt tóc, trồng răng, có người trú ngự đã đến vài ba đời, đổi theo tập tục người Nam, quan bản thổ thường cấp cho một số ruộng làm khẩu phần, bắt họ chịu binh xuất. Các sứ Lạng Sơn, Cao Bằng và Thái Nguyên đều có giống người này" [25], [44]. Học giả Từ Trung Thạch khi bàn về nguồn gốc người Choang đã viết; “xét người Choang từ thời Chu về trước đã lan tràn khắp các tỉnh miền Tây Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  17. 17 Nam. Đại bản doanh của họ là các đất Lũng Nam, Thiểm Tây, Tứ Xuyên cùng miền Bắc đất Điền, đất Kiềm” [60]. Đương thời họ là du mục hoặc bán lạp du mục (ý chỉ canh tác nương rẫy), trong miền Lương Việt, tức là các dân tộc về sau gọi là: "…Ô Hử, Lái Lạo, Âu Lạc, Bách Việt. Ở miền Nam Vân Nam, người Choang đến rất sớm, trước khi vua Ngưu khai thác đất Nam Giao, chẳng qua đương thời không gọi tên là tên gọi Choang thôi… ” [60] Khác với học giả Từ Tùng Thạch, t heo ông Hoàng Thiện Phan: người Nùng không chỉ có ở Việt Nam, mà còn có một bộ phận bên kia thế giới. Người Tày và người Nùng gần gũi nhau, có một số điểm khác biệt, do người Tày gần gũi với người Việt, còn người Nùng gần gũi với người Choang hơn. Nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn trong tạp chí nghiên cứu Lịch sử, năm 1968 đã nêu ý kiến: Tây Âu là tổ tiên của người Tày - Thái, Lạc Việt là tổ tiên của người Việt. Liên minh bộ lạc Âu Việt (Tày - Nùng) đã cùng với liên minh bộ lạc Việt (Việt, Mường) thành lập vương quốc Âu Lạc thế kỷ thứ III với thủ lĩnh là An Dương Vương - Thái, cư trú ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ [78]. Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn trong cuốn “ Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày - Nùng - Thái ở Việt Nam” cho rằng: Nguồn gốc người Nùng thuộc nhóm Tày - Thái miền đông với địa bàn cư trú chủ yếu là vùng Lưỡng Quảng thuộc Trung Quốc và đông bắc Việt Nam. Người Nùng có nhiều mối quan hệ về lịch sử văn hoá với người Choang ở Trung Quốc. Tộc danh Nùng theo hai ông bắt nguồn từ tên gọi của một trong bốn d òng họ lớn: Nùng, Hoàng, Chu, Vi thống trị ở hai bờ Tả Hữu Giang, tức các miền biên giới Cao Bằng và Quảng Tây ngày nay [36]. Lã Văn Lô và Hà Văn Thư trong công trình văn hoá Tày - Nùng đã thống kê vai trò và hoạt động của người Tày, Nùng trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Theo đó từ những năm 40 đầu Công nguyên, các tộc người Tày, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  18. 18 Nùng đã tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng; Thế kỷ thứ VI, Lý Bôn khởi nghĩa lật đổ ách thống trị của Lương, lập lên nước Vạn Xuân, thế kỷ thứ VIII, Phùng Hưng khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Đường, đều được người Lạo giúp đỡ giành thắng lợi; đến thế kỷ XI, lý Thường Kiệt đã huy động tới 5000 quân Tày, Nùng ở vùng Cao Lạng làm nhiệm vụ xung kích, vượt biên giới đốt phá các nơi tập trung quân của địch ở phía sau; Thế kỷ XIII, trong cuộc kháng chiến chống Tống, dân binh Tày, Nùng ở Chi Lăng do Nguyễn Thế Lộc chỉ huy đã đánh tan đội quân Việt gian của Trần Kiện ở đèo Sài Hồ; thế kỷ XV, trong 10 năm kháng chiến chống Minh, dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh Tày, Nùng; Nông Văn Lịch, Hồng Thiêm Hữu, Chu Sư Nhan, Hoàng Am…, nhân dân Tày, Nùng ở Việt Bắc đã nổi dậy chống ngoại xâm [40]. Như vậy, bộ phận người Nùng ở Việt Nam lúc đó (có mặt hàng ngàn năm như Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn đề cập) với người Nùng ở Trung Quốc là một. Trung Q uốc vẫn gọi là người Nùng. Ở Việt Nam bộ phận người Nùng này trong quá trình phát triển lịch sử đã hoà nhập vào tộc người Tày và trở thành người Tày. Nhiều tài liệu thư tịch và tộc phả dòng họ cho biết rằng: tộc người Nùng có mặt ở Việt Nam hiện nay di cư từ Trung Quốc vào Việt Nam cách đây khoảng 300 - 400 năm. Họ di cư sang Việt Nam theo từng nhóm, có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do bị áp bức bóc lột nặng nề, bị đàn áp sau các cuộc khởi nghĩa nông dân không thành công, nạn thiếu đất, thổ phỉ, trộm cướp hoành hành. Đến Việt Nam, nhiều nhóm Nùng phân cư xen kẽ với người Tày hoặc cư trú lân cận với các dân tộc Kinh, Hoa, Giáy. Dân tộc Nùng ở Việt Nam có nhiều nhóm địa phương khác nhau, tên gọi của các nhóm Nùng thường được phân biệt theo bốn tiêu chí, đó là: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  19. 19 - Gọi theo tên nghề nghiệp mà không biết quê hương cũ của mình như Nùng Nấm (Người Nùng làm ruộng nước, Nùng sủi mọt (người trồng mía)…) - Gọi theo tên địa phương khi di cư vào Việt Nam. Theo Cao Bằng Tạp chí có tới 13 ngành Nùng khác nhau như: Nùng Nấm (bản xứ), Nùng An đến từ Châu An kiệt, Nùng Inh đến từ Long Anh, Nùng Lòi đến từ Hạ Lôi, Nùng Chu đến từ Hà Đông, Nùng phàn Slình đến từ Vạn Thành, Nùng Hàn Xích đến từ La Hồi, Nùng Khèn Lài đến từ An Bình, Nùng Sẻng đến từ Dưỡng Lợi, Nùng Gửi đến từ Trấn An, Nùng Vảng (bản xứ), Nùng Gianh Viện đến từ Quy Thuận, Nùng Si Kết đến từ Tứ Kết. - Gọi theo tên tù trưởng của mình: Nùng Dín (tên tộc trưởng Nùng A Dín) hoặc cả tên một dòng họ lớn như: Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao. Gọi theo đặc điểm trên trang phục, chẳng hạn như: Nùng Khen Lài, có ống tay áo trang trí bằng vải khác màu, Nùng Hu Lài đội khăn Tràm có đốm trắng, Nùng Slửa tẩn mặc áo ngắn chấm hông, hoà vào nhau hay chuyển hoá từng bộ phận do quá trình cộng cư lâu đời. Một số nhóm khác như Nùng Hùa Lài, Nùng Khèn Lài, Nùng Cúm Cọt (Nùng Giang) thực chất đều thuộc nhóm Nùng Phàn Slình. 1.2.2. Người Nùng ở huyện Đồng Hỷ Theo kết quả điều tra dân số năm 1999 của tổng cục thống kê, dân tộc Nùng có 856.412 người, đứng hàng thứ bảy trong đại gia đình các dâ n tộc Việt Nam, sau các dân tộc: Kinh, Tày, Thái, Hoa, Khơ me, Mường. Dân tộc Nùng cư trú ở hầu khắp các địa phương trong cả nước, nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, ĐăkLăk, Bắc Giang, Hà Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lào Cai, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai, Yên Bái, Tuyên Quang. Thái Nguyên là một tỉnh trung du phía bắc có số lượng người Nùng sinh sống đứng hàng thứ sáu với diện tích 3.541km, có 1.046.159 người, bao gồm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  20. 20 các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, Hmông, Hoa...T rong đó có 54.628 người Nùng, chiếm 5,2% dân số toàn tỉnh. Đồng bào sống tập trung theo các nhóm địa phương, ở các huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ cộng cư cùng các dân tộc anh em như: Tày, Kinh, Sán Dìu và Sán Chay. Đồng Hỷ là một huyện nằm ở phía đông bắc của tỉnh. Cộng đồng dân cư ở Đồng Hỷ hiện nay do dân cư từ nhiều địa phương thiên di đến cùng với bộ phận dân bản địa hợp thành. Dân số huyện Đồng Hỷ, tính đến tháng 12 năm 2005 là 123.196 người, trong đó dân tộc Kinh chiếm 63,3%, Nùng chiếm 13,2%, Dao 4,4%, Tày 2.5%. Người Nùng ở huyện Đồng Hỷ phần lớn có nguồn gốc di cư từ Lạng Sơn xuống chủ yếu là nhóm người Nùng Phàn Slình, Nùng Inh, Nùng Cháo ở Tân Long, Hoá Trung, Minh Lập, Linh Sơn, Thị trấn Trại Cau, Cây Thị, Hợp Tiến, Khe Mo, Văn Lăng, Văn Hán... Trong đó, một số xã như Tân Long, Hoá Trung, người Nùng chiếm tỷ lệ đa số. Nếu như Tân Long có hai nhóm cơ bản đó là Nùng Phàn Slình và Nùng Cháo (Nùng Phàn Slình chiếm đại đa số), Hoá Trung có hai nhóm cơ bản là Nùng Phàn Slình và Nùng Inh (Nùng Inh chiếm đại đa số). Nhóm Nùng Cháo là một bộ phận rất gần gũi với người Tày, tiếng nói phổ thông cao, các dân tộc khác dễ nghe. Trong quan hệ xã hội, hôn nhân nội tộc là chính, nhưng hôn nhân với người Tày vẫn có, không có hàng rào ngăn cản. Nhóm Nùng Phàn Slình, tiếng nói và sinh hoạt tương đối dễ hiểu, gần gũi. Một số tộc người Nùng khác, tính chất tộc người sâu sắc, tiếng nói không phổ thông, nghe khó như người Nùng Dín, Nùng Lòi... Trong cộng đồng dân tộc Nùng ở Việt Nam, thì Lạng Sơn là một tỉnh biên giới có số người Nùng cư trú đông nhất trong toàn quốc, với 302.415 người Nùng sinh sống, chiếm 35,5% dân số Nùng trong cả nước, 43% dân số Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản