Luận văn thạc sĩ lịch sử: Phong tục và tín ngưỡng, tôn giáo của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên

Chia sẻ: cancer23

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, dân tộc Nùng chiếm một số lượng đông đảo, sống tập trung ở khu vực Việt Bắc. Sau các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Đắk Lắc, Bắc Giang, Hà Giang, Thái Nguyên là một tỉnh trung du phía Bắc có số lượng người Nùng đứng thứ sáu. Trong đó tập trung chủ yếu ở một số huyện như Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ…

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn thạc sĩ lịch sử: Phong tục và tín ngưỡng, tôn giáo của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên

1




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM




LÊ THỊ THANH VÂN




PHONG TỤC VÀ TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ
TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.54



LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ



Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐÀM THỊ UYÊN




THÁI NGUYÊN - 2009




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM




LÊ THỊ THANH VÂN




PHONG TỤC VÀ TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
CỦA NGƯỜI NÙNG Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ
TỈNH THÁI NGUYÊN




LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ




THÁI NGUYÊN - 2009




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3




MỤC LỤC
MỞ ĐẦU................................................................................................................................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN GỐC CỦA NGƢỜI
NÙNG, HUYỆN ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN .................................................................................................. 8

1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên .......................................................................................................................................................... 8
1.2. Nguồn gốc của tộc người Nùng. ..............................................................................................................................11
CHƢƠNG 2: PHONG TỤC NGƢỜI NÙNG Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ ...............................................18

2.1. Hôn nhân ........................................................................................................................................................................................................18
2.2. Tục lệ sinh đẻ ..........................................................................................................................................................................................31
2.3. Tục làm nhà mới ................................................................................................................................................................................35
2.4. Lễ sinh nhật. .............................................................................................................................................................................................40
2.5. Tục lệ ma chay......................................................................................................................................................................................41
2.6. Những biến đổi ngày nay ....................................................................................................................................................59
CHƢƠNG III: TÍN NGƢỠNG TÔN GIÁO CỦA NGƢỜI NÙNG Ở ĐỒNG HỶ...........62

3.1. Quan niệm chung về tín ngưỡng tôn giáo ................................................................................................62
3.2. Vật linh giáo .............................................................................................................................................................................................63
3.3. Một số tục thờ cúng ......................................................................................................................................................................68
3.4. Những ảnh hưởng của tam giáo và vị trí của nó trong đời sống xã
hội người Nùng ........................................................................................................................................................................................78
3.5. Vai trò của Tào, Mo, Then, Pụt trong đời sống tâm linh của người Nùng .........80
3.6. Mối quan hệ và ảnh hưở ng của văn hoá tinh thần người Nùng với
các dân tộc khác ở huyện Đồng Hỷ ........................................................................................................................84
3.7. Một số giải pháp để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá tinh
thần truyền thống trong điều kiện ngày nay .............................................................................................90
KẾT LUẬN .......................................................................................................................................................................................................................95



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4


TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................................................................................................99

PHỤ LỤC .......................................................................................................................................................................................................................106

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn Thạc sĩ của mình, em xin gửi lời cảm ơn chân
thành tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Lịch sử và
các Giảng viên trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình
truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt quá trình học tập và
hoàn thành Luận văn Thạc sĩ.
Với lòng biết ơn chân thành, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới
PGS.TS. Đàm Thị Uyên đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt quá
trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ.
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh
Thái Nguyên, Ban giám hiệu trường Trung học phổ thông Đồng Hỷ và các
thầy cô giáo trong trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn tới Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Thái Nguyên, Văn
phòng tỉnh uỷ Thái Nguyên, Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch, Uỷ ban nhân
dân huyện Đồng Hỷ, Ban Văn hoá huyện Đồng Hỷ … đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu tư liệu để hoàn thành Luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn.


Thái Nguyên, ngày 28 tháng 9 năm 2009
Tác giả
Lê Thị Thanh Vân



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6


MỞ ĐẦU


1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia với 54 dân tộc anh em. Mỗi một dân tộc có
một bản sắc văn hoá riêng. Trải qua quá trình phát triển, 54 bản sắc dân tộc,
ngày càng hoà quyện, đan xen vào nhau, quá trình giao thoa đó đã làm cho
nền văn hoá của các dân tộc hoà nhập nhưng không hoà tan, góp phần làm
cho nền văn hoá vật chất, tinh thần Việt Nam phong phú, đa dạng và độc đáo.
Dân tộc và bản sắc văn hoá dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Mỗi một dân tộc có nhưng bản sắc văn hoá dân tộc riêng, tron g xu hướng hội
nhập quốc tế hiện nay việc giữ gìn nhưng nét văn hoá dân tộc mang một ý
nghĩa quan trọng, bởi không ít những thế lực phản động đang từng ngày từng
giờ lợi dụng vấn đề dân tộc để gây xung đột chia rẽ khối đoàn kết dân tộc.
Chính vì vậy việc bảo tồn và phát huy nền văn hoá dân tộc là một vấn đề cấp
thiết của từng dân tộc.
Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, dân tộc Nùng chiếm một số lượng
đông đảo, sống tập trung ở khu vực Việt Bắc. Sau các tỉnh Lạng Sơn, Cao
Bằng, ĐắkLắc, Bắc Giang, Hà Giang, Thái Nguyên là một tỉnh trung du phía
Bắc có số lượng người Nùng đứng thứ sáu. Trong đó tập trung chủ yếu ở một
số huyện như Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ… Trong đó người Nùng ở huyện
Đồng Hỷ chiếm 13,2% trong tổng số 123.196 người, nhiều xã tỷ lệ người
Nùng chiế m tới 98% như (Hoá Trung, Tân Long, ….).
Với vị trí địa lý thuận lợi, tiếp giáp với Sông Cầu rất thuận lợi cho việc
đi lại trao đổi buôn bán bằng đường thuỷ, ngoài ra Đồng Hỷ còn là huyện có
đường quốc lộ 1B đi qua với chiều dài 15,5km không chỉ thuận tiện cho việc
đi lại mà còn thuận tiện cho việc giao lưu trao đổi kinh tế giữa khu vực huyện
với các khu vực khác. Trong toàn huyện, đồng bào Nùng chiếm một số lượng


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7


không đông, chỉ trừ mấy xã chiếm tới số lượng 98% đồng bào Nùng, còn các
xã khác là sự đan xen giữa các dân tộc khác trong vùng, mặc dù vậy nhưng
đồng bào Nùng ở Đồng Hỷ cũng đã xây dựng cho mình một nền văn hoá
truyền thống kết hợp với nền văn hoá của các nền văn hoá anh em trong vùng,
để tạo nên một nét văn hoá độc đáo, đa dạng.
Trên cơ sở lý luậ n thực tiễn đó, vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc
luôn là vấn đề trọng tâm trong đường lối của Đảng ta. Năm 1991, trong
“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ”,
Đảng ta xác định: Tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hoá, ngôn ngữ, tập quán
tín ngưỡng của các dân tộc, đồng thời kế thừa và phát huy các giá trị tinh
thần, đạo đức, thẩm mĩ, các di sản văn hoá, nghệ thuật của dân tộc. Chủ
trương đó tiếp tục khẳng định rõ hơn trong nghị quyết Trung ương Đảng lần
thứ 5 khoá VIII (1998) của Đảng: “ Di sản văn hoá là tài sản vô giá, gắn kết
cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc văn hoá dân tộc, cơ sở để tạo ra
những giá trị văn hoá truyền thống (bác học và dân gian), văn hoá cách
mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể" [12, tr.01].
Để góp phần nhỏ bé của mình vào quá trình tìm hiểu văn hoá các dân tộc
thiểu số ở Việt Nam, chúng tôi quyết định chọn: “Phong tục và tín ngưỡng,
tôn giáo của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài
luận văn, với hai nội dung chủ yếu là các phong tục, tín ngưỡng và tôn giáo
trong đời sống của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ.
Với mục đích bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc trong văn hoá
truyền thống của người Nùng, ở huyện Đồng Hỷ hoà chung vào nền văn hoá
Việt Nam “Tiến tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc” là mục đích mà luận
văn này muốn đạt được.
Bản thân tôi là người dân tộc kinh, và hiện đang là giáo viên giảng dạy
môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông Đồng Hỷ, là một huyện miền núi,


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8


nơi có nhiều con em dân tộc Nùng, đó cũng là một lý do khiến tôi lựa chọn đề
tài này để giảng dạy tốt hơn phần lịch sử Văn hoá, lịch sử địa phương nhằm
qóp phần giáo dục, bồi đắp cho các thế hệ học sinh lòng tự hào, tình yêu đối
với dân tộc, quê hương, đất nước. Ngoài ra tôi đã lập gia đình tro ng dòng họ
Nùng, vì vậy tôi cũng muốn lựa chọn đề tài cũng để hiểu thêm về phong tục
tập quán của gia đình chồng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề phong tục và tín ngưỡng, tôn giáo của người Nùng đã được đề
cập đến trong một số công trình, mỗi công trình nghiên cứu có thể đề cập toàn
diện văn hoá của người Nùng, có những công trình chỉ đề cập đến một lĩnh
vực trong văn hoá. Đối với vấn đề phong tục và tín ngưỡng, tôn giáo của
người Nùng ở huyện Đồng Hỷ cũng có một số công trình đề cập tới nhưng ở
mức độ khác nhau, như một số công trình sau đây:
- Cuốn “Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt -
Nam” NXB Khoa học xã hội. Hà Nội 1968.
- Cuốn “Dân ca đám cưới Tày - Nùng” của Nông Minh Châu, NXB Việt
Bắc xuất bản năm 1973.
- Cuốn “Các dân tộc ít người ở Việt Nam ” NXB Khoa học xã hội, Hà
Nội - 1978
- Cuốn “Sli, lượn dân ca trữ tình Tày, Nùng” của Vi Hồng, NXB Văn
hoá ấn hành năm 1979.
- Cuốn “ Văn hoá Tày - Nùng” của Lã Văn Lô, Hà Văn Thư, NXB Văn
hoá, xuất bản năm 1984. Đây là một công trình nghiên cứu toàn diện và đầy
đủ về xã hội, con người, văn hoá của hai dân tộc Tày - Nùng.
- Cuốn “ Các dân tộc Tày, Nùng ở Việt Nam” do Viện dân tộc học xuất
bản năm 1992. Đây cũng là một công trình nghiên cứu có tính chất toàn diện
về điều kiện tự nhiên, dân cư Tày, Nùng, lịch sử hình thành tộc người, các


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9


hình thái kinh tế, hình thái văn hoá vật chất, tổ chức xã hội - gia đình, hôn
nhân, các tục lệ như: cưới xin, sinh đẻ, ma chay, làm nhà mới và tôn giáo tín
ngưỡng. Dân tộc Nùng ở Thái Nguyên nói chung và huyện Đồng Hỷ nói riêng
cũng được tác giả đề cập đến mặc dù không nhiều.
- Cuốn “Văn hoá truyền thống Tày - Nùng” của các tác giả Hoàng Quyết,
Ma Khách Bằng, Hoàng Huy Phách, Cung Văn Lược, Vương Toàn, NXB
Văn hoá dân tộc xuất bản năm 1993.
- Đề tài cấp bộ năm 2004 “ Văn hoá dân tộc Nùng ở Cao Bằng” của tác
giả Đàm Thị Uyên.
- Đề tài cấp bộ năm 2004 “ Tang ma của dân tộc Nùng ở Việt Nam” của
tác giả Nguyễn Thị Ngân, đã trình bày tương đối kỹ về phong tục tang ma đặc
trưng của người Nùng ở Việt Nam.
Từ năm 1997 đến năm 2006 Huyện uỷ Đồng Hỷ lần lượt biên soạn và
cho xuất bản cuốn:
- Lịch sử Đảng bộ huyện Đồng Hỷ (1930 - 1995)
- Huyện Đồng Hỷ lịch sử kháng chiến chống xâm lược và xây dựng -
bảo vệ tổ quốc (1945 - 2000).
- Nguyễn Anh Tuấn (2003), Tang ma người Nùng Phàn Slình ở xã Tân
Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn cử nhân chuyên ngành
dân tộc học, Đại học khoa học xã hội nhân văn, Hà Nội.
- Phan Đình Thuận (2006), Tìm hiểu tôn giáo - tín ngưỡng của người
Nùng ở xã Tân Long, Huyện Đồng Hỷ, Đề tài nghiên cứu khoa học chuyên
ngành Lịch sử, Đại học Sư phạm Thái Nguyên.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đều quan tâm đến, đời sống văn
hoá tinh thần, vật chất, những phong tục tập quán của hai dân tộc là Tày và
Nùng trên phương diện rộng (phạm vi cả nước) và cả phương diện hẹp (phạm
vi một tỉnh). Tuy nhiên trong nét văn hoá chung đó, lại có sự giao thoa, mỗi


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10


một vùng có nhưng nét đặc sắc riêng để phù hợp với vị trí địa lý và văn hoá ở
khu vực đó. Tất cả những công trình nghiên cứu trên tạo cơ sở nền móng để
chúng tôi khai thác một đề tài ở phạm vi hẹp, làm rõ hơn đời sống văn hoá
của dân tộc Nùng ở huyện Đồng Hỷ.
3. Mục đích, đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu phong tục và tôn giáo, tín ngưỡng của người Nùng ở
huyện Đồng Hỷ, nhằm hệ thống lại một số tập tục, tín ngưỡng dân gian của cư
dân nông nghiệp ở huyện Đồng Hỷ.
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là một số tục lệ trong đời sống và tín ngưỡng tôn
giáo của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ
- Phạm vi nghiên cứu
Nói đến những tín ngưỡng và tập tục trong đời sống, là chúng ta đề cập
đến lĩnh vực văn hoá tinh thần, do vậy phạm vi khá rộng, song do khả năng có
hạn, đề tài luận văn chỉ đi sâu vào một số phong tục trong chu kỳ đời người
và tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào N ùng ở huyện Đồng Hỷ, nhằm làm rõ
những đặc trưng văn hoá mang tính địa phương.
4. Nguồn tƣ liệu
- Nguồn tư liệu thành văn:
+ Các tác phẩm, các công trình nghiên cứu lí luận về văn hoá dân tộc: Về
các giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam của Trường Chinh; Nghị quyết hội
nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 5 (khoá VIII); Văn hoá một số lí luận của
Trương Lưu; Vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng cộng sản Việt
Nam do Ban tư tưởng - Văn hoá Trung ương xuất bản v.v




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11


+ Các tác phẩm thông sử và chuyên khảo, như Lịch triều hiến chương
loại chí của Phan Huy Chú … Các sách chuyên khảo và các bài viết đề cập đến
lịch sử, văn hoá Tày, Nùng của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học.
+ Nguồn tư liệu địa phương: Lich sử Đảng bộ huyện Đồng Hỷ, địa lý
huyện Đồng Hỷ…
- Nguồn tư liệu thực địa, điền dã
Đây là loại tư liệu được chúng tôi đặc biệt quan tâm, bao gồm các tài liệu
truyền miệng, truyện kể, truyền thuyết, ca dao, tục ngữ địa phương, những
phong tục, tập quán, và cả những kinh nghiệm trong cuộc sống và trong lao
động sản xuất của đồng bào. Nhưng nguồn tư liệu này là những tư liệu cần
thiết để chúng tôi hoàn thành luận văn này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã vận dụng phương pháp lịch sử kết
hợp với phương pháp lôgíc, phương phá p khảo sát điền dã, miêu thuật, phân
tích, tổng hợp và một số phương pháp khác có liên quan đến đề tài. Đặc biệt
là khâu giám định tư liệu, xử lý các tài liệu điền dã đã thu thập được trên cơ
sở tiếp cận địa lý lịch sử để đảm bảo tính chính xác.
Trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu đề tài này, chúng tôi đặt nó trong
mối quan hệ với các dân tộc khác trong cộng đồng dân cư địa phương để rút
ra được cái nhìn tổng thể, toàn diện về đặc điểm “ đa dạng trong thống nhất”
của văn hoá truyền thống người Nùng.
6. Đóng góp của luận văn
- Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về
các phong tục trong đời sống và tín ngưỡng tôn giáo của người Nùng ở huyện
Đồng Hỷ, từ đó thấy được nét tương đồng trong văn hoá của dân tộc Nùng ở
huyện Đồng Hỷ với các huyện khác trong tỉnh.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12


- Thông qua đề tài này chúng tôi cũng muốn góp một phần công sức nhỏ
bé trong công tác bảo tồn và phát triển những giá trị văn hoá truyền thống của
người Nùng ở huyện Đồng Hỷ. Đồng thời làm phong phú hơn nguồn tư liệu
về nhưng nét văn hoá của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ.
7. Cấu trúc luận văn
Luận văn bao gồm 108 trang, ngoài phần mở đầu (7 trang), phần kết luận
(4 trang), tài liệu tham khảo (7 trang), phần nội dung (87 trang), được chia
thành 3 chương:
Chương 1: Điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn gốc của người Nùng ở
huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên.
Chương 2: Phong tục người Nùng ở huyện Đồng Hỷ.
Chương 3: Tín ngưỡng, tôn giáo của người Nùng ở Đồng Hỷ.
Trong luận văn còn có các mục: phần phụ lục, phụ lục viết cùng với Lời
cảm ơn, tranh ảnh, bản đồ.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13


CHƢƠNG 1
ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ NGUỒN GỐC
CỦA NGƢỜI NÙNG, HUYỆN ĐỒNG HỶ - THÁI NGUYÊN


1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý
Theo sách “Đại Nam nhất thống chí”, vào đời Lê Hồng Đức, huyện
Đồng Hỷ nằm trong phủ Phú Bình thuộc xứ Thái Nguyên, do phiên thần họ
Ma nối đời cai trị. Đời Nguyễn Gia Long vẫn giữ nguyên như thế. Lỵ sở đặt
tại xã Nhẫm Quang. Đến năm Minh Mệnh thứ 16 (1835), triều Nguyễn định
ra chế độ lưu quan, lỵ sở chuyển về xã Huống Thượng. Vào thời điểm ấy,
huyện Đồng Hỷ gồm 9 tổng, 33 xã; từ đông sang tây cách nhau 41 dặm, nam-
bắc cách nhau 97 dặm; phía đông đến tận địa giới huyện Tư Nông (nay là
huyện Phú Bình), phía tây đến địa giới huyện Phú Lương, phía nam đến địa
giới huyện Phổ Yên, phía bắc đến địa giới huyện Võ Nhai.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, phạm vi địa giới huyện Đồng Hỷ đã nhiều
lần thay đổi. Cho đến trước năm 1962, Đồng Hỷ bao gồm 29 xã (trong đó có
xã Hợp Tiến của huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang). Từ năm 1985, huyện Đồng
Hỷ bao gồm 17 xã, 3 thị trấn (Chùa Hang, Trại Cau, Sông Cầu). Ngày nay,
Đồng Hỷ nằm dọc hai bên bờ sông Cầu. Phía đông bắc và phía bắc giáp
huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Kạn, phía nam giáp huyện Phú Bình, phía đông
giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây giáp huyện Phú Lương và thành phố
Thái Nguyên.
Đồng Hỷ có 20 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 17 xã và 3 thị
trấn (Chùa Hang, Trại Cau, Sông Cầu), trong đó có 2 xã thuộc vùng III (vùng
cao) là Tân Long và Văn Lăng, 2 xã vùng đặc biệt khó khăn là Hợp Tiến và
Cây Thị, 4 xã và một thị trấn thuộc vùng I (trung du) là thị trấn Chùa Hang,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14


các xã Đồng Bẩm, Cao Ngạn, Huống Thượng, 12 xã, thị trấn còn lại thuộc
vùng II (miền núi).
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
Đất đai: Đồng Hỷ là huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, có diện tích
tự nhiên 46.177ha. Địa hình huyện Đồng Hỷ có độ dốc thoai thoải từ đông
bắc xuống tây nam. Phía bắc và đông bắc huyện thuộc dãy đá vôi Bắc Sơn
hùng vĩ. Ở các xã Văn Lăng, Tân Long, Hoà Bình, Quang Sơn và kéo dài
xuống đến phía Nam huyện có những khối núi đá vôi đồ sộ, bề thế, có đ ỉnh
cao tới 600 mét, như núi Lũng Phương (Văn Lăng), Mỏ Ba (Tân Long). Các
xã phía Bắc và Đông Bắc của huyện thuộc vùng núi cao, độ cao trung bình là
120 mét so với mặt nước biển, nhiều khe suối tuy giao thông đi lại khó khăn
nhưng có thế mạnh phát triển t huỷ điện, lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc.
Tiếp dãy núi đá lớn là vùng là vùng núi thấp nhiều đồi hình bát úp, độ cao từ
50 đến 60 mét, có khả năng phát triển cây công nghiệp (chè, mía, lạc…). Các
xã nằm phía hạ lưu sông Cầu (Cao Ngạn, Đồng Bẩm, Huống Th ượng) độ cao
trung bình 20 mét so với mặt nước biển, có những cánh đồng bằng phẳng
thuận lợi cho việc phát triển lúa nước và cây thực phẩm (rau xanh, đậu, đỗ…).
Đồng Hỷ hiện có 26.448 ha rừng, trong đó diện tích rừng trồng là 7.146
ha, chiếm trên 51% diện tích đất tự nhiên. Phần lớn diện tích rừng của Đồng
Hỷ nằm ở độ cao dưới 200 mét, ít gỗ quý, trừ phía bắc huyện (các xã Văn
Lăng, Tân Long) còn một số rừng nguyên sinh trên núi đá vôi, trong đó có
nhiều gỗ trai, nghiến… Rừng là một thế mạnh của huyện Đồng Hỷ.
Khí hậu: Đồng Hỷ nằm ở vùng bắc chí tuyến, trong vành đai nhiệt đới
bắc bán cầu, nên khí hậu ở đây mang tính chất nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa.
Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm
sau, ít mưa.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15


Nhiệt độ trung bình là 220C, nhiệt độ cao nhất trung bình hàng năm là
27,20C, nhiệt độ thấp nhất trung bình là 20,20C, Tháng 7 là tháng có nhiệt độ
trung bình cao nhất, tháng 1 là tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất, số giờ
nắng trong năm là 1,628 giờ.
Mưa ở Đồng Hỷ tập trung từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 90,6% một
năm, lượng mưa trung bình từ 1800mm - 2000mm, tháng 7 có lượng mưa lớn
nhất, từ 401mm đến 420mm. Trái lại tháng 12 và tháng 1 có lượng mưa thấp
nhất, khoảng 24 - 25mm.
Mỗi năm ở Đồng Hỷ trung bình có khoảng 21 đến 22 đợt gió mùa đông
bắc tràn qua (trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 5 năm sau). Mỗi lần
gió mùa đông bắc tràn về thường làm cho nhiệt độ hạ xuống đột ngột, rất hại
cho sức khoẻ con người, vật nuôi, cây trồng….
Nhìn chung khí hậu Đồng Hỷ tương đối ôn hoà, hầu như không có hoặc
ít giông bão, thuận lợi cho sản xuất (cả nông nghiệp lẫn công nghiệp) và hoạt
động của lực lượng vũ trang trong huấn luyện cũng như trong chiến đấu.
Sông ngòi: Sông Cầu chảy theo hướng Bắc - Nam là biên giới phía tây
của huyện với độ dài 47km, là nguồn cấp nước chính, có tiềm năng khai thác
vận tải thuỷ. Suối Khe Mo phát nguồn từ Võ Nhai chảy qua các xã Văn Hán,
Khe Mo, Hoá Thượng, Linh Sơn đổ ra Sông Cầu, dài 28km. Suối Thác Giạc,
suối Ngàn Me và hàng trăm con suối nhỏ khác cùng với hàng chục hồ chứa
nước lớn, nhỏ phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Theo đánh giá
của các nhà khoa học địa chất, mạch nước ngầm của Đồng Hỷ có chữ lượng
lớn đủ cung cấp cho năm, bẩy trăm ngàn dân.
Giao thông: Là một huyện miền núi với tổng chiều dài đường bộ của
huyện là 729,8km, trong đó có quốc lộ 1B qua địa bàn huyện dài 15,5km,
đường liên tỉnh 27km, đường liên huyện dài 57,5km, đường liên xã 171km,
đường liên xóm 404km.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16


Mật độ đường giao thông của toàn huyện bình quân đạt 13,4km, ô tô vận
tải cỡ lớn có thể đến được trung tâm tất cả các xã trong huyện. Đây là điều
kiện thuận lợi để lực lượng vũ trang cơ động tác chiến trên địa bàn huyện.
Với vị trí địa lý, và đặc điểm tự nhiên như vậy đã tạo cho Đồng Hỷ có
nhưng nét riêng biệt, nó cũng làm ảnh hưởng chi phối đến đời sống văn hoá
tinh thần, vật chất của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ.
1.2. Nguồn gốc của tộc ngƣời Nùng
1.2.1. Đôi nét lịch sử nguồn gốc tộc người Nùng
Dân tộc Nùng ở Việt Nam nói ngôn ngữ Tày - Thái. Người Nùng có
nhiều nhóm địa phương, nhưng tộc danh Nùng là tên gọi thống nhất của đồng
bào. Ở mỗi địa phương, đồng bào Nùng đều ý thức rất rõ nhóm tộc người của
mình: Nùng Phàn Slình, Nùng An, Nùng Nùng Cháo, Nùng Giang, Nùng Lòi,
Nùng Inh, Nùng Dín…
Từ trước đến nay, có nhiều học giả trong nước và nước ngoài đưa ra một
số nhận định về nguồn gốc lịch sử của dân tộc Nùng như:
Lê Quý Đôn trong “ Kiến Văn tiểu lục” đã ghi chép về sự có mặt của
người Nùng ở Tuyên Quang từ thế kỷ XVIII: “ Giống người Nùng đều là
người 12 thổ châu ở Tiểu Trấn Yên, Quy thuận, Long Châu, Điền Châu, Phù
Châu, Thái Bình, Lôi Tử Thành và Hướng Vũ thuộc Trung Quốc làm nghề
cày cấy, trồng trọt cũng chịu thuế khoá, lao dịch, mặc áo vằn vải xanh, cắt
tóc, trồng răng, có người trú ngự đã đến vài ba đời, đổi theo tập tục người
Nam, quan bản thổ thường cấp cho một số ruộng làm khẩu phần, bắt họ chịu
binh xuất. Các sứ Lạng Sơn, Cao Bằng và Thái Nguyên đều có giống người
này" [25], [44].
Học giả Từ Trung Thạch khi bàn về nguồn gốc người Choang đã viết;
“xét người Choang từ thời Chu về trước đã lan tràn khắp các tỉnh miền Tây




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17


Nam. Đại bản doanh của họ là các đất Lũng Nam, Thiểm Tây, Tứ Xuyên cùng
miền Bắc đất Điền, đất Kiềm” [60].
Đương thời họ là du mục hoặc bán lạp du mục (ý chỉ canh tác nương
rẫy), trong miền Lương Việt, tức là các dân tộc về sau gọi là: "…Ô Hử, Lái
Lạo, Âu Lạc, Bách Việt. Ở miền Nam Vân Nam, người Choang đến rất sớm,
trước khi vua Ngưu khai thác đất Nam Giao, chẳng qua đương thời không gọi
tên là tên gọi Choang thôi… ” [60]
Khác với học giả Từ Tùng Thạch, t heo ông Hoàng Thiện Phan: người
Nùng không chỉ có ở Việt Nam, mà còn có một bộ phận bên kia thế giới.
Người Tày và người Nùng gần gũi nhau, có một số điểm khác biệt, do người
Tày gần gũi với người Việt, còn người Nùng gần gũi với người Choang hơn.
Nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn trong tạp chí nghiên cứu Lịch sử,
năm 1968 đã nêu ý kiến: Tây Âu là tổ tiên của người Tày - Thái, Lạc Việt là
tổ tiên của người Việt. Liên minh bộ lạc Âu Việt (Tày - Nùng) đã cùng với
liên minh bộ lạc Việt (Việt, Mường) thành lập vương quốc Âu Lạc thế kỷ thứ III
với thủ lĩnh là An Dương Vương - Thái, cư trú ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ [78].
Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn trong cuốn “ Sơ lược giới thiệu các
nhóm dân tộc Tày - Nùng - Thái ở Việt Nam” cho rằng: Nguồn gốc người
Nùng thuộc nhóm Tày - Thái miền đông với địa bàn cư trú chủ yếu là vùng
Lưỡng Quảng thuộc Trung Quốc và đông bắc Việt Nam. Người Nùng có
nhiều mối quan hệ về lịch sử văn hoá với người Choang ở Trung Quốc. Tộc
danh Nùng theo hai ông bắt nguồn từ tên gọi của một trong bốn d òng họ lớn:
Nùng, Hoàng, Chu, Vi thống trị ở hai bờ Tả Hữu Giang, tức các miền biên
giới Cao Bằng và Quảng Tây ngày nay [36].
Lã Văn Lô và Hà Văn Thư trong công trình văn hoá Tày - Nùng đã
thống kê vai trò và hoạt động của người Tày, Nùng trong tiến trình lịch sử
Việt Nam. Theo đó từ những năm 40 đầu Công nguyên, các tộc người Tày,


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18


Nùng đã tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng; Thế kỷ thứ VI, Lý Bôn khởi
nghĩa lật đổ ách thống trị của Lương, lập lên nước Vạn Xuân, thế kỷ thứ VIII,
Phùng Hưng khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Đường, đều được người
Lạo giúp đỡ giành thắng lợi; đến thế kỷ XI, lý Thường Kiệt đã huy động tới
5000 quân Tày, Nùng ở vùng Cao Lạng làm nhiệm vụ xung kích, vượt biên
giới đốt phá các nơi tập trung quân của địch ở phía sau; Thế kỷ XIII, trong
cuộc kháng chiến chống Tống, dân binh Tày, Nùng ở Chi Lăng do Nguyễn
Thế Lộc chỉ huy đã đánh tan đội quân Việt gian của Trần Kiện ở đèo Sài Hồ;
thế kỷ XV, trong 10 năm kháng chiến chống Minh, dưới sự chỉ huy của các
thủ lĩnh Tày, Nùng; Nông Văn Lịch, Hồng Thiêm Hữu, Chu Sư Nhan, Hoàng
Am…, nhân dân Tày, Nùng ở Việt Bắc đã nổi dậy chống ngoại xâm [40].
Như vậy, bộ phận người Nùng ở Việt Nam lúc đó (có mặt hàng ngàn
năm như Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn đề cập) với người Nùng ở Trung
Quốc là một. Trung Q uốc vẫn gọi là người Nùng. Ở Việt Nam bộ phận người
Nùng này trong quá trình phát triển lịch sử đã hoà nhập vào tộc người Tày và
trở thành người Tày.
Nhiều tài liệu thư tịch và tộc phả dòng họ cho biết rằng: tộc người Nùng
có mặt ở Việt Nam hiện nay di cư từ Trung Quốc vào Việt Nam cách đây
khoảng 300 - 400 năm.
Họ di cư sang Việt Nam theo từng nhóm, có nhiều nguyên nhân, nhưng
chủ yếu là do bị áp bức bóc lột nặng nề, bị đàn áp sau các cuộc khởi nghĩa
nông dân không thành công, nạn thiếu đất, thổ phỉ, trộm cướp hoành hành.
Đến Việt Nam, nhiều nhóm Nùng phân cư xen kẽ với người Tày hoặc cư
trú lân cận với các dân tộc Kinh, Hoa, Giáy.
Dân tộc Nùng ở Việt Nam có nhiều nhóm địa phương khác nhau, tên gọi
của các nhóm Nùng thường được phân biệt theo bốn tiêu chí, đó là:




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19


- Gọi theo tên nghề nghiệp mà không biết quê hương cũ của mình như
Nùng Nấm (Người Nùng làm ruộng nước, Nùng sủi mọt (người trồng mía)…)
- Gọi theo tên địa phương khi di cư vào Việt Nam. Theo Cao Bằng Tạp
chí có tới 13 ngành Nùng khác nhau như: Nùng Nấm (bản xứ), Nùng An đến
từ Châu An kiệt, Nùng Inh đến từ Long Anh, Nùng Lòi đến từ Hạ Lôi, Nùng
Chu đến từ Hà Đông, Nùng phàn Slình đến từ Vạn Thành, Nùng Hàn Xích
đến từ La Hồi, Nùng Khèn Lài đến từ An Bình, Nùng Sẻng đến từ Dưỡng
Lợi, Nùng Gửi đến từ Trấn An, Nùng Vảng (bản xứ), Nùng Gianh Viện đến
từ Quy Thuận, Nùng Si Kết đến từ Tứ Kết.
- Gọi theo tên tù trưởng của mình: Nùng Dín (tên tộc trưởng Nùng A
Dín) hoặc cả tên một dòng họ lớn như: Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao.
Gọi theo đặc điểm trên trang phục, chẳng hạn như: Nùng Khen Lài, có
ống tay áo trang trí bằng vải khác màu, Nùng Hu Lài đội khăn Tràm có đốm
trắng, Nùng Slửa tẩn mặc áo ngắn chấm hông, hoà vào nhau hay chuyển hoá
từng bộ phận do quá trình cộng cư lâu đời. Một số nhóm khác như Nùng Hùa
Lài, Nùng Khèn Lài, Nùng Cúm Cọt (Nùng Giang) thực chất đều thuộc nhóm
Nùng Phàn Slình.
1.2.2. Người Nùng ở huyện Đồng Hỷ
Theo kết quả điều tra dân số năm 1999 của tổng cục thống kê, dân tộc
Nùng có 856.412 người, đứng hàng thứ bảy trong đại gia đình các dâ n tộc
Việt Nam, sau các dân tộc: Kinh, Tày, Thái, Hoa, Khơ me, Mường.
Dân tộc Nùng cư trú ở hầu khắp các địa phương trong cả nước, nhưng
tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Lạng Sơn, Cao Bằng, ĐăkLăk, Bắc Giang, Hà
Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lào Cai, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai,
Yên Bái, Tuyên Quang.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du phía bắc có số lượng người Nùng sinh
sống đứng hàng thứ sáu với diện tích 3.541km, có 1.046.159 người, bao gồm


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20


các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay, Dao, Hmông, Hoa...T rong
đó có 54.628 người Nùng, chiếm 5,2% dân số toàn tỉnh. Đồng bào sống tập
trung theo các nhóm địa phương, ở các huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai, Đại Từ
cộng cư cùng các dân tộc anh em như: Tày, Kinh, Sán Dìu và Sán Chay.
Đồng Hỷ là một huyện nằm ở phía đông bắc của tỉnh. Cộng đồng dân cư
ở Đồng Hỷ hiện nay do dân cư từ nhiều địa phương thiên di đến cùng với bộ
phận dân bản địa hợp thành. Dân số huyện Đồng Hỷ, tính đến tháng 12 năm
2005 là 123.196 người, trong đó dân tộc Kinh chiếm 63,3%, Nùng chiếm
13,2%, Dao 4,4%, Tày 2.5%.
Người Nùng ở huyện Đồng Hỷ phần lớn có nguồn gốc di cư từ Lạng Sơn
xuống chủ yếu là nhóm người Nùng Phàn Slình, Nùng Inh, Nùng Cháo ở Tân
Long, Hoá Trung, Minh Lập, Linh Sơn, Thị trấn Trại Cau, Cây Thị, Hợp
Tiến, Khe Mo, Văn Lăng, Văn Hán...
Trong đó, một số xã như Tân Long, Hoá Trung, người Nùng chiếm tỷ lệ
đa số. Nếu như Tân Long có hai nhóm cơ bản đó là Nùng Phàn Slình và Nùng
Cháo (Nùng Phàn Slình chiếm đại đa số), Hoá Trung có hai nhóm cơ bản là
Nùng Phàn Slình và Nùng Inh (Nùng Inh chiếm đại đa số).
Nhóm Nùng Cháo là một bộ phận rất gần gũi với người Tày, tiếng nói
phổ thông cao, các dân tộc khác dễ nghe. Trong quan hệ xã hội, hôn nhân nội
tộc là chính, nhưng hôn nhân với người Tày vẫn có, không có hàng rào ngăn cản.
Nhóm Nùng Phàn Slình, tiếng nói và sinh hoạt tương đối dễ hiểu, gần gũi.
Một số tộc người Nùng khác, tính chất tộc người sâu sắc, tiếng nói
không phổ thông, nghe khó như người Nùng Dín, Nùng Lòi...
Trong cộng đồng dân tộc Nùng ở Việt Nam, thì Lạng Sơn là một tỉnh
biên giới có số người Nùng cư trú đông nhất trong toàn quốc, với 302.415
người Nùng sinh sống, chiếm 35,5% dân số Nùng trong cả nước, 43% dân số




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21


trong toàn tỉnh. Tại đây người Nùng cư trú tập trung thành từng bản hoặc đan
xen giữa các dân tộc Tày, Dao.
Sự phân bố dân cư tự nhiên theo hình thức cộng cư và đan xen với các
dân tộc láng giềng, đã làm cho một bộ phận không nhỏ dân tộc Nùng chịu sự
tác động của giao thoa văn hoá mạnh mẽ, thậm chí bị đồng hoá bởi các dân
tộc khác trong vùng, một bộ phận thì di cư theo nhiều h ình thức khác nhau,
hôn nhân với hình thức ở rể, do điều kiện kinh tế trong thời kỳ đó còn rất khó
khăn, nhiều gia đình không đủ điều kiện kinh tế để cưới vợ cho con trai mình,
bởi các lễ bắt buộc, do đó họ đã cho con mình đi ở rể ở nơi xa, hình thức này
diễn ra tuy không nhiều nhưng cũng đã góp phần đưa một số nhóm người
Nùng đến những vùng đất khác nhau và dần dần hình thành những nhóm
người Nùng sống đan xen với các dân tộc khác trong huyện Đồng Hỷ như ;
Văn Hán, Trại Cau, Hoá Trung... Một bộ phận còn lạ i chiếm số đông đó là di
cư tự phát, chạy loạn trong chiến tranh, hình thức này di cư chiếm số lượng
đông có thể từ vài gia đình thậm chí đến hàng chục gia đình, họ chọn giải
pháp di cư một mặt để nâng cao chất lượng cuộc sống, nhằm tìm lấy một
vùng đất để họ có thể định cư lâu dài, trong đó có Thái Nguyên. Với vị trí địa
lý thuận lợi, tiếp giáp với Lạng Sơn, ngay trong nhưng năm 1938 - 1958 đã
diễn ra quá trình di cư, nhưng ồ ạt nhất là năm 1950 [84], [92]. Chủ yếu là
Nùng Phàn Slình và Nùng Cháo ở huyện Cao Lộc, Văn Quan, nhóm Nùng
Inh ở huyện Chi Lăng, huyện Bình Gia.
Khi di cư đến đây đồng bào Nùng ở Lạng Sơn với những khu vực khác
nhau trong tỉnh đã mang theo nét văn hoá đặc trưng của mình.
Tiểu kết; Với những yếu tố về vị trí địa lý và điều kiện tự nh iên đã tạo
cho Đồng Hỷ có những thuận lợi nhất định, chính những yếu tố này đã tác
động và chi phối không nhỏ đến đời sống văn hoá, kinh tế của đồng bào Nùng
ở Đồng Hỷ, trên cơ sở tìm hiểu lịch sử tộc người Nùng, chúng ta có thể nhận


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
22


ra rằng đồng bào Nùng cho dù định cư ở địa phương nào cũng mang những
nét văn hoá đặc trưng của tộc người mình, tuy nhiên khi định cư ở đâu đồng
bào Nùng cũng đều hoà nhập nền văn hoá của tộc người mình vào nền văn
hoá chung của dân tộc, nhưng sự hoà nhập ở đây không phải là ho à tan mà là
trên cơ sở nét văn hoá đặc trưng của mình, họ có sự điều chỉnh cho hợp với
hoàn cảnh và môi trường sống của mình. Đó chính là nét văn hoá hoà nhập
nhưng không hoà tan của đồng bào Nùng ở huyện Đồng Hỷ.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
23


CHƢƠNG 2
PHONG TỤC NGƢỜI NÙNG Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ


Phong tục là những đặc điểm hành vi của một cộng đồng dân cư, những
tập quán phổ biến, có tính ổn định, độc đáo, đậm nét, tồn tại trong những điều
kiện lịch sử của một hình thái xã hội, tiêu biểu nhân cách, đạo đức, lối sống
của một cộng đồng, gia i cấp dân tộc. Trong kế thừa di sản văn hoá truyền
thống chúng ta tiếp nhận các thuần phong mỹ tục, loại bỏ những gì lỗi thời,
lạc hậu. Phong tục đối với một tộc người thường có hai nội dung (hai loại
hình) cơ bản; một là “phong tục gia tộc”, hai là phong tục liên quan tới sinh
hoạt xã hội của một tộc người mà Phan Kế Bính gọi là “phong tục hương
đảng”. Tuy nhiên để đi sâu vào từng nội dung thì quá rộng, ở đây xin đề cập
tới một số tục quan trọng nằm trong hai nội dung cơ bản của phong tục : hôn
nhân, sinh đẻ, làm nhà mới, sinh nhật và ma chay.
2.1. Hôn nhân
Trong quan hệ hôn nhân, người Nùng thể hiện khá đậm nét những đặc
trưng truyền thống của dân tộc, của các sắc thái của từng vùng và cả những
chi phối của tôn ti trật tự phong kiến. Ngoài việc chủ động đế n với nhau ở
mức độ nào đó, thì những nam nữ người Nùng còn bị chi phối bởi một số vấn
đề như: Sự đồng tình của hai bên cha mẹ, Quan niệm mê tín dị đoan “ lá số ”
(lục mệnh) có hợp nhau không? Sự muôn đăng hộ đối của dòng họ.
Đặc biệt, không có chuyện hôn nhân giữa các thành viên trong dòng họ,
nếu xảy ra thì những thành viên đó sẽ bị tội nặng và phải làm lễ tạ tội trước
bàn thờ tổ tiên. Như cách đây khoảng mấy chục năm có trường hợp:
“Anh em lấy anh em”,“ họ lấy họ” có thể chịu những hình phạt “ rặt cò”
(thắt cổ) hoặc bị dân làng chê cười.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
24


Do vậy trước khi trai gái kết hôn phải ghi rõ tên, tuổi để nhờ thầy Tào
xem số mệnh đồng thời xác định rõ huyết thống hai bên, sau đó mới quyết
định các bước tiếp theo của hôn nhân.
Điều đó có thể cho thấy, nam nữ người N ùng được tự do tìm hiểu thổ lộ
tình cảm với nhau nhưng hôn nhân do cha mẹ quyết định để nhà trai cưới về
làm dâu cho nên sự can thiệp và ép duyên của cha mẹ vào hạnh phúc con gái
chủ yếu xảy ra đối với người con gái.
Chế độ hôn nhân một vợ một chồng là hìn h thức hôn nhân phổ biến của
người Nùng, vợ chồng chung sống với nhau khá hoà thuận. Hiện tượng ngoại
tình sẽ bị đuổi ra nhà khỏi nhà chồng và phải bồi thường tài sản cho nhà
chồng. Nếu người chồng ngoại tình sẽ phải nộp phạt một con trâu để bồi
thường danh dự cho nhà gái. Trường hợp người vợ không sinh được con trai
để nối dõi thờ cúng tổ tiên, họ cho rằng không có con nối dõi là phạm tội lớn
nhất trong ba tội bất hiếu “bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”. Cho nên nhưng
người không có con trai cần phải lấy vợ lẽ cho chồng. Đây chính là thể hiện
tư tưởng trong nam khinh nữ.
Đối với trường hợp chồng chết, người phụ nữ ở lại chăm sóc bố mẹ
chồng, con cái. Sau ba năm (mãn tang), người phụ nữ có thể đi lấy chồng,
riêng con cái và của cải không được mang theo, nếu t rường hợp con quá nhỏ
thì cho mang theo để tiện chăm sóc. Các loại động sản và bất động sản của
người chồng quá cố do anh em bên chồng quản lí cho lên nhiều bà goá thường
và nỡ không xa các con, chịu ở vậy để nuôi các con. Cũng có trường hợp,
người đàn bà goá được sự thoả thuận của nhà chồng, có thể cưới chồng khác
và cho phép chồng mới về để ở hẳn nhà vợ để trông nom con cái, quản lí tài
sản của gia đình. Người chồng phải thay họ mình lấy họ người chồng cũ thì
mới được hưởng gia tài của người chồng cũ.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
25


Người Nùng có tục ở rể: Đó là rể tạm và rể đời, những trường hợp cưới
rể tạm là gia đình nhà gái neo đơn, thiếu lao động, không có người chăm sóc,
cha mẹ trong khi có con trai nhưng còn nhỏ, chưa lo liệu được công việc gia
đình. Mọi nghi lễ tiến hành trong lầ n đầu cưới rể tạm đều giống như một đám
cưới bình thường phí tổn của hôn lễ chủ yếu do nhà trai lo liệu. Chàng rể
thường ở nhà vợ cho đến khi các em trai vợ trưởng thành, có thể sống tự lập,
bố mẹ vợ hoặc các em trai vợ sẽ chia một ít tài sản.
Nhưng gia đình hiếm con hoặc chỉ có con gái mà không có con trai
thường lấy rể đời. Cưới rể đời không phải là chuyện phổ biến. Rể đời không
phải cha mẹ bên nhà gái chủ động đi tìm cho con gái mình. Những chàng trai
được chọn và đồng ý.
Đi làm rể đời thường thường là con nhà có nhiều con trai hoặc con nhà
nghèo, khó tìm cưới được vợ. Trong trường hợp này nhà gái chủ động lo liệu
cưới lễ dạm, lễ hỏi, lễ sêu tết, lễ cưới, lễ đón rể đến mọi phí tổn trong cưới xin
đều do nhà gái lo liệu. Con rể được coi như con đẻ, được thừ a kế tài sản nhà
vợ nhưng đến đời con phải mang họ nhà vợ. Tuy nhiên, các chàng trai Nùng
không muốn ở rể đời.
2.1.1. Những tiêu chuẩn khi lựa chọn con dâu, con rể
Về lứa tuổi: trai gái dân tộc Nùng trước kia được xây dựng rất sớm thậm
trí còn phổ biến nạ n tảo hôn, khi kết hôn tuổi con gái trung bình 14 hoặc 15
tuổi, con trai khoảng 16 hoặc 17 tuổi. Sở dĩ có nạn tảo hôn là do quan niệm
của đồng bào cho rằng: xây dựng gia đình sớm có thuận lợi ở chỗ, ông bà còn
khỏe có khả năng trông nom con cháu, đặc biệt người già có con cháu chăm
sóc, đỡ đần. Với quan niệm đó các bậc cha mẹ đều muốn con cái mình xây
dựng gia đình ở trong lứa tuổi đã được cộng đồng chấp nhận.
Ngày nay, một phần do nhận thức đã tiến bộ hơn, một mặt do luật hôn
nhân của nhà nước, lệ tảo hôn đã hạn chế được rất nhiều. Tuổi trung bình kết


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
26


hôn của con gái từ 18 đến 19 tuổi, con trai từ 20 dến 21 tuổi tuổi trở lên, đó là đối
với các trường hợp không đi học hoặc học hành không được đến nơi đến chốn.
Tiêu chuẩn để lựa chọn cô con dâu vừa ý của các bậc cha mẹ cần các đức
tính cần cù và khoẻ mạnh, người con gái phải biết lễ phép với bố mẹ, anh em
họ hàng, làng xóm, thành thạo các công việc nội trợ, đặc biệt phải biết dệt vải,
kéo sợi, tự may quần áo. Kinh nghiệm của người Nùng chọn con dâu thể hiện
qua câu tục ngữ: "Chiêm slao chiêm bươm lạp" nghĩa là (tìm hiểu con gái vào
tháng chạp). Vào tháng này, thời tiết giá lạnh, các cô gái thường mặc nhiều
quần áo. Qua đó dễ nhận biết về các cô gái có chăm chỉ hay không, có tài thêu
dệt và may vá hay không?. Là cư dân nông lâm nghệp, bận bịu với nhưng
công việc đồng áng nặng nhọc quanh năm nên tiêu chuẩn chọn vợ là khoẻ
mạnh cũng rất được coi trọng. Điều này được phản ánh rõ qua câu tục của
người Nùng:
“Nạ na khả măng
Lồng mặm bố luẩy khẩu phầy bố mảy”
- Nghĩa là: “Con gái mập mạp, chân to
Xuống nước không sợ trôi, vào lửa
không sợ cháy.
Người Nùng cũng rất thích tìm vợ là những người “ Nả hang
khàng suổi phịn siêng” (con gái mặt vuông chữ điền trông như tiên) và không
thích kết duyên với những cô gái “kiêng sải bố thưng tum, mì cua tẻ sè lùm
sèo móp” (gót chân không chạm đất, khổ suốt đời), thậm chí họ còn đánh giá
những đức tính của nàng dâu tương lai qua cách làm ăn của người mẹ:
“ Chiếu khẩu lẹ chiếu phàng
Chiếu nàng lẻ chiếu mẻ ”
- Nghĩa là: “Muốn biết được lúa, nhìn gốc rạ
Muốn biết được cô dâu, nhìn vào người mẹ”.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
27


- Tiêu chuẩn chọn rể trong xã hội người Nùng xưa cũng như nay là khoẻ
mạnh, cần củ, cày bừa thành thạo săn bắn giỏi. Xuất phát từ quan niệm cho
rằng “Của tin mừ nặm bó” (của cải do bàn tay mình làm ra là vô tận). Người
Nùng thường kén chọn, đánh giá khả năng của chàng rể tương lai “ hò rì ba
tác sác sung khàng suối hết kin nòi”, nghĩa là “cổ dài, vai rộng, trán cao, làm
ăn giỏi ”.
Khi đã ướm tìm và nhắm được một cô cái nào ứng ý về mặt thể chất và
phẩm chất, có thể chấp nhận được làm dâu con của mình, hoặc đối với đôi trai
gái yêu nhau đã được cha mẹ đồng ý, cha mẹ nhà trai tiến hành hoặc nhờ
người thân làm mai mối gặp bên nhà gái bàn bạc các nghi lễ cho đám cưới.
Về cơ bản, tiêu chuẩn chọn con dâu, con rể vẫn dựa trên cơ sở như vậy,
nhưng ngày nay do nền kinh tế phát triển, trình độ nhận thức đã khác hơn
trước, do đó sự lựa chọn chủ yếu dựa trên sự tìm hiểu của đôi trai gái, những
yếu tố trên vẫn được đánh giá cao, được c oi trọng.
2.1.2. Các tục lệ trong cưới xin
Để tiến tới một đám cưới chính thức, đồng bào Nùng cũng phải tiến hành
từng bước, từng khâu và từng nghi lễ theo phong tục tập quán cổ truyền một
cách rất cẩn trọng, thể hiện bản sắc văn hoá của mình.
- Tục dạm hỏi. Trước khi tiến hành lễ dạm hỏi, nhà trai sẽ nhờ anh em họ
hàng nhà gái thăm dò, đánh tiếng với bố mẹ cô gái. Chỉ vài ngày sau khi nhận
được sự đồng tình, thì nhà trai mới chọn ngày lành tháng tốt, nhờ ông mối
mang lễ vật (một trai rượu và đôi gà) đến nhà gái làm lễ dạm hỏi. Gia đình
nhà gái làm mâm lễ cúng để báo cho tổ tiên biết việc tốt trong nhà.
Theo tục lệ, trước khi trao từ “ lục mệnh” cho nhà gái, nhà gái phải thắp
hương khấn tổ tiên. Đồng bào quan niệm, trao lá số cho nhà trai cũng là trao
hồn vía của cô gái. Sau khi đón lá số của cô gái, nhà trai nhờ thầy tào xem




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
28


tướng số của đôi trai gái có hợp nhau không. Đồng bào Nùng ít nhiều cũng có
sự tương đồng trong việc tin theo thuyết ngũ hành:
+ Thuận tức là tương hợp; mộc sinh hoả, hoả sinh thổ, thổ sinh kim, kim
sinh thuỷ, thuỷ sinh mộc.
+ Khắc tức là không hợp; mộc khắc thổ, hoả khắc kim, kim khắc mộ c,
thuỷ khắc hoả, thổ khắc thuỷ.
Nếu không hợp, thì nhà trai trả lại lá số cho nhà gái kèm theo một ít tiền
để bồi thường danh dự cho cô gái. Nhà trai phải giữ kín chuyện này để không
ảnh hưởng đến việc hôn nhân sau này của cô gái. Nếu duyên số hai người hợp
nhau thì nhà trai sẽ chủ động chọn ngày lành tháng tốt để làm lễ mừng hợp số.
- Tục mừng lá số hợp nhau (mỉnh hom): Nhà trai mang lễ vật, thường là
một đôi gà sang nhà gái để báo tin mừng. Sau đó hai gia đình bàn bạc thời
gian cho lễ ăn hỏi. Trên thực tế hiện nay, đồng bào Nùng ở Đồng Hỷ đã bỏ lễ
lấy lá số và mừng hợp tuổi.
- Tục ăn hỏi (đắt cáy). Việc định ngày lễ ăn hỏi do nhà trai chọn, đây là
nghi lễ quan trọng khẳng định, hai gia đình sẽ trở thành thông gia. Ngày làm
lễ ăn hỏi phải được báo trước từ một tháng trở lên để nhà gái có thời gian mời
họ hàng nội ngoại về dự. Trong lễ này, nhà gái mời họ hàng thân tín đến dự
để bàn bạc và thống nhất với đại diện nhà trai về đồ sinh lễ, tiền cưới mà nhà
trai phải nộp cho nhà gái tuỳ theo phong tục của từng vùng. Sau đó, từng
khoản cụ thể được ghi lại để đại diện nhà trai mang về lo liệu. Lễ vật có thể
tuỳ khác nhau nhưng nhất thiết phải có gà. Thường thì có một ông mối “ lão
lợ” cùng một em bé khoảng 12 đến 13 tuổi. Mang lễ vật một đôi gà thiến, 6
kg thịt lợn, 2 chai rượu, 10 ống gạo nếp sang nhà gái
- Tục siêu tết; do đặc điểm của người Nùng thách cưới rất cao, bởi họ
quan niệm cưới là bán (khai) con gái, nếu thách cưới ít vừa không có tiền để
tổ chức vừa hạ thấp giá trị người con gái đó. Cho nên thách cưới được coi là


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
29


một nghi lễ quan trọng, bắt buộc. Lúc này nhà trai phải tích cực chuẩn bị điều
kiện vật chất để tổ chức lễ cưới chính thức. Nhưng từ lúc này đến lễ cưới,
thường thời gian từ 2-3 năm, thậm chí còn lâu hơn nữa và trong các lễ tết
hàng năm, như tết nguyên đán, dằm tháng bảy nhà trai phải mang quà đến
siêu tết cho nhà gái.
- Lễ cưới "tảng lù ” cưới to.
Đây là khâu quan trọng nhất trong việc cưới hỏi, người Nùng ở Đồng
Hỷ thường tổ chức vào mùa đông và mùa xuân, đó là tháng thích hợp cho việc
cưới xin, xét từ nhiều bình diện như (thời tiết khô ráo, vụ mùa đã xong, lương
thực đầy bồ). Ngày cưới nhà trai kén chọn cận thận, nhất là giờ đón dâu nh ờ
thầy cúng cẩn thận.
Thường người Nùng kiêng cưới vào những ngày:
1: Ngày “không vong” ví dụ năm 2009 là vào các ngày của tháng: Tháng
giêng ngày 6, 18, 30; tháng 2 ngày 12, 24; tháng 3 ngày 7, 19; tháng 4 ngày 1,
13, 25; tháng 5 ngày 8, 20; tháng 5 (nă m nhuận) ngày 2, 14, 26; tháng 6 ngày
9, 21; tháng 7 ngày 4, 16, 28; tháng 8 ngày 10, 22; tháng 9 ngày 5, 17, 29;
tháng 10 ngày 11, 23; tháng11 ngày 6, 30; tháng 12 ngày 12, 24, 29.
2: Ngày mất của ông bà, cha mẹ.
3: Ngày trùng tang: Tuỳ theo mùa thu Mùa xuân là ngày thìn, mùa hạ là
ngày mùi, mùa thu ngày tuất, mùa đông ngày sửu.
Trước ngày cưới một vài hôm, nhà trai phải nộp đồ sính lễ như đã thoả
thuận với nhà gái từ lễ ăn hỏi. Ngoài nhưng lễ vật như đã thoả thuận thì cả cô
dâu, chú rể cũng phải chuẩn bị quà biếu cho hai bên gia đình. Trong nhưng lễ
vật nhà trai đưa sang, nhất thiết vải có miếng vải tặng mẹ vợ gọi là “ rằm
khâu” (vải ướt khô). Để trả công nuôi dưỡng của bà mẹ đối với con gái. Nhận
vải “rằm khẩu”, người mẹ đem nhuộm và đợi khi nào con gái sinh con đầu
lòng thì làm cho cháu một cái địu và vài cái tã. Thông thường lễ cưới được


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
30


tiến hành trong hai ngày nhà gái tổ chức hôm trước, nhà trai tổ chức hôm sau,
tuỳ nhiên ở nhiều nơi người ta tổ chức cùng ngày.
Trước đây, người Nùng khi còn ở Lạng Sơn vẫn tuân thủ đầy đủ các nghi
lễ trong một buổi cưới như:
+ Tục căng dây: Chặn đường khi trông thấy đoàn chú rể hay đoàn cô dâu
từ xa đang đi tới một tốp trẻ chăn trâu, rủ nhau căng dây chặn đường hoặc xếp
thành hàng ngang không cho đoàn người đi qua, chỉ khi nghe ngâm thơ, nhận
được tiền, tốp trẻ mới tháo dây mở đường để đoàn người đi tiếp. Đến cổng
nhà, trước đây khi rể đến nhà gái hoặc đón dâu về cổng nhà chồng người ta
đốt pháo mừng, (nếu pháo xịt là điều không vui).
+ Nước rửa chân: Đến chân cầu thang lại gặp một tốp thanh niên khác,
trong đó có một người dâng khay với 4 chén rượu mời để “ Rửa chân” trước
khi lên cầu thang. Đoàn khách lại mừng thuốc lá, hát và uống rượu. Ví dụ; khi
đến nhà thì quan làng phải hát bài mở cửa nếu như thấy cửa nhà bị đóng, ho ặc
khi cửa đã mở ra nhưng ngay giữa cửa chủ nhà cố tình để một cái thớt, cái
chổi hay một con mèo nhốt trong túi... theo tập quán, không người nào được
phép vượt qua một con vật gì hay một thứ đồ dùng gì đặt đặt ở ngang lối đi.
Trước tình huống ấy, quan là ng phải hát bài xin cất bỏ chướng ngại để có lối
đi qua. Các bài hát ở tiết mục này không thể hát chung chung được, gặp phải
chướng ngại gì thì quan làng phải hát bài hát xin cất vật cụ thể đó đi. Cứ như
vậy cho đến khi không còn vật cản nào nữa mới được vào nhà.
+ Tục giữ cửa: Vượt qua được chặng uống rượu để rửa chân, đoàn khách
lại gặp chặng giữ cửa, muốn qua phải hát đối, thông thường có khoảng gần 10
bát hát đối
+ Tục rải chiếu: Đoàn chủ rể, cô dâu được mời vào nhà sau tiết mục “ giữ
cửa”, nếu là đoàn chú rể được mời vào gian ngoài, nơi dành riêng cho khách
đàn ông. Nếu là đoàn cô dâu được đưa vào gian trong buồng cô dâu. Nhưng


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
31


giường chưa có chiếu rải, vị quan làng lại hát xin rải chiếu ngồi, chủ nhà đem
đôi chiếu ra nhưng chưa giải, dựng lên bên vách. Đoàn khách lại phải hát bài
chiếu dựng vách. Chủ nhà đem chiếu dựng ở bên vách đặt ra giường nhưng lại
rải lệch hoặc rải chiếu trái mặt. Đoàn khách lại phải hát bài “chê rải chiếu”.
Chủ nhà hát bài đáp lời, xin lỗi đoàn khách và giả vờ trách các cháu gái quê
mùa đã để sơ xuất và bảo các cháu rải chiếu hay rải lại cho ngay ngắn rồi
trịnh trọng mời đoàn khách ngồi. Đây chỉ là một hình thức tạo ra những tình
huống đùa vui theo tập quán.
+ Mời ngồi: Sau một hồi lâu hát đối đáp xung quanh việc rải chiếu, đại
diện chủ nhà quan làng hát một bài mời ngồi thành thực, tha thiết và khách
cũng hát từ khiêm tốn, hết lời ca ngợi lòng mến khách của chủ nhà rồi mới
ngồi xuống.
+ Mời nước chè, thuốc lá, trầu: Sau khi mọi người trong đoàn vừa an toạ
thì chủ nhà của nhà gái hoặc nhà trai liền bưng khay chén rót đầy nước chè,
có thêm đĩa trầu têm sẵn và bao thuốc lá lần lượt đi mời từng người và hát bài
hát mời nước trè, thuốc lá, trầu. Đoàn khách sau khi uống nước cũng hát bài
hát cảm ơn, khen ngợi các cô gái khéo tay pha chè thơm ngon, đón tiếp chu đáo.
+ Tục trình tổ: Sau khi ngồi ngơi, uống nước, người ta tiến hành lễ trình
tổ tiên. Quan làng dẫn chú rể ra lễ lạy tổ tiên. Theo như trước đây, bố mẹ cô
dâu hoặc một người có uy tín trong họ tộc đứng ra mời họ hàng nội ngoại ra
ngồi trước bàn thờ để con rể bái lạy. Quan làng dâng lễ vật và thắp hương,
đèn lên bàn thờ, khấn tổ tiên nhà gái với nội dung: Hôm nay là ngày lành
tháng tốt, nhà trai xin phép làm lễ đón con dâu về nhà chồng và báo luôn giờ
rước dâu vào hôm sau, chú rể bái lạy trước bàn thờ hai lượt. Lễ trình tổ tiên là
một nghi thức bắt buộc trong mọi đám cưới. Sau đó một người trong họ đại
diện giới thiệu từng người để chú rể mời nước, thuốc và biết xưng hô.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
32


+ Tục nộp gánh: Sau lễ bái tổ và nhận họ hàng, vị quan làng t rịnh trọng
hát bài nộp lệ hay còn gọi nộp gánh lễ, gánh lễ này không nhiều chỉ có hai đôi
bánh trưng gói như bánh trưng người Tày, 2 chai rượu, vài chục lá trầu cau,
một phong bao tiền nho nhỏ gói bằng giấy đỏ, một tấm vải ướt khô. Nghe
quan làng hát xong, đại diện nhà cô dâu đến mở gánh lễ và trịnh trọng đặt lên
bàn thờ tổ tiên.
+ Mời ăn cơm: Trong khi uống rượu, ăn cơm, quan làng thay mặt chủ
nhà hát bài mời rượu, đoàn khách nhà trai hoặc nhà gái hát đáp bài “chồm
bôm” nghĩa là xem mâm, khen nhà bếp nấu ăn ngon, khéo tay có đủ các món
sơn hào hải vị). Ở Đồng Hỷ các nghi lễ sau khi kết thúc đến phần liên hoan
văn nghệ. Khách mời chủ yếu là bạn bè của cô dâu, chú rể, có thể ở xung
quanh xóm hoặc ở làng xã. Phường bạn đông chứng tỏ quan hệ cô dâu, chú rể
rộng rãi. Đây là tiết mục vui nhất trong đám cưới, cô dâu, chú rể là người
được chỉ định hát nhiều nhất, có thể kéo dài đến đêm khuy.
+ Lễ xin đón dâu: Trước giờ khởi hành, quan làng hát bài xin cô dâu
xuống sàn, bài hát thể hiện ý muốn xin cô dâu xuống cửa. Đại diện nhà gái
bưng khay với 4 chén rượu làm lễ giao bằng biên, trên 4 chén rượu là phong
bao giấy đỏ trong đó có tiền và danh sách họ hàng mừng chú rể, có đôi kim
được xâu luồn chỉ đen đỏ, có tờ giấy đỏ ghi ngày tháng năm sinh con rể bên
cạnh ngày tháng năm sinh con dâu. Quan làng đại diện cho nhà trai nhận. Lúc
cô dâu đang trang điểm, chị em trong nhà đem một số vật dụng như; chăn gối,
quần áo, ấm chén... ra ngoài để cho 2 cô gái của đoàn chú rể mang. Ngoài ra
người Nùng cũng có tục mừng tiền cho cô dâu về nhà chồng làm vốn. Đoàn
đưa dâu mặc áo chàm đen có dây thắp ngang eo và đeo chùm dây sà tích bằng
bạc, chân đi hài hoặc dép nhựa, đầu vấn khăn mỏ quạ, đội nón. Cô dâu khi đi
ra cửa về nhà chồng phải lễ tổ tiên, cha mẹ, cô dì, chú bác. Bước chân ra khỏi
cửa nhà bố mẹ đẻ cô dâu không được quay đầu ngoảnh lại. Thành phần đoàn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
33


đưa dâu, gồm Pả Mè một già, một trẻ. Chọn Pả Mè phải là người có gia đình
yên ấm, ăn nói lưu loát, thuộc nhiều bài thơ. Trên đường về nhà chồng, cô dâu
đi giữa Pả Mè trẻ và Pả Mè già, cuối cùng là phù dâu. Trên đường đi đoàn
đưa đón dâu luôn tuân thủ những nghi lễ nhất định, như khi qua sông, suối,
qua cầu cô dâu phải thả vài đồng tiền để gửi “tiền qua đò”, hoặc một đám
cưới đi ngược chiều thì 2 cô dâu phải trao khăn tay hay nón, dép c ho nhau và
chúc nhau gặp nhiều may mắn. Theo tục xưa, dù nhà trai ở cận kề nhà gái,
đoàn đưa dâu vẫn phải đi vòng một đoạn đường, nghỉ chân ăn cơm gói mang
theo để cô dâu sửa sang khăn áo trước khi vào ngõ nhà chồng. Bước vào cửa
nhà chồng, khi qua cạnh bếp lửa, người ta lấy chiếu che bếp vì sợ uế tạp, sợ
ma bếp quấy rầy. Khi Pả Mè dẫn cô dâu vào buồng, giường cô dâu chưa được
rải chiếu, Pả Mè lại hát bài xin giải chiếu (chiếu cô dâu mang từ nhà bố mẹ đẻ
sang). Gia đình nhà trai chọn một bà có đủ con trai, con gái, tính tình đôn hậu,
gia đình êm ấm để giúp Pả Mè rải chiếu, giăng mùng, màn, trải chăn gối.
+ Lễ trình tổ: Cũng giống như lễ trình tổ của chú rể, một người dẫn cô
dâu ra trình và lễ tổ tiên, sau đó một người đại diện nhà trai đọc tên từng
người trong họ theo thứ bậc trên dưới để cô dâu lễ và mời nước từng người,
đồng thời qua đó nhận mặt, nhận họ. Những người được lễ đều mừng tiền cho
cô dâu.
+ Nộp lễ: Tiếp theo lễ gia tiên, bố mẹ chồng và nhận họ hàng Pả Mè hát
bài nộp lễ trước sự chứng kiến của đông đủ họ hàng nội ngoại bên nhà chú rể,
các lễ phải tương ứng với số tiền thách cưới, là chăn bông, gối, màn... đó là
những sản phẩm do chính bàn tay lao động khéo léo, cần cù của cô dâu làm
lên hoặc được mua sắm từ tiền thách cưới như khăn mặt, chậu rửa mặt...
+ Lễ nộp con dâu: Sau bữa ăn trưa, Pà Mè tiến hành làm lễ nộp con dâu
cho gia đình nhà chồng và họ hàng nhà trai, từ nay con dâu sẽ thuộc về nhà
trai, chịu sự răn dạy của nhà chồng theo tập tục, hưởng phúc lộc của nhà


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
34


chồng. Đại diện của nhà trai trịnh trọng bưng khay với 4 chén rượu, trên đó
đặt một phong bao gói giấy đỏ gọi là lễ giao bằng biên. Trong phong bao có
danh sách họ hàng mừng tiền cho cô dâu; tiền mừng và cảm ơn Pả Mè, phù
dâu đã vất vả đưa dâu đến gia đình. Pả Mè nhận bằng biên đưa về c ho nhà gái
và cùng uống rượu lấy lệ.
+ Dặn cô dâu làm ăn: Đây là tiết mục gây xúc động nhiều nhất, bài hát
chứa đựng ý nghĩa giáo dục sâu sắc, răn dạy cô dâu về cách ăn ở với bố mẹ
chồng, bà con lối xóm.... điều này không giống đám cưới người Kinh.
+ Pả Mè chào xuân họ trở về: Trước khi rời khỏi nhà trai Pả Mè hát bài
chào xuân họ trở về, cám ơn nhà trai đã đón tiếp chu đáo. Đại diện nhà trai
cũng hát đáp bài cám ơn Pả Mè, phù dâu và bưng khay rượu mời tiễn chân Pả
Mè ra tận ngõ.
+ Tục lại mặt: Về nhà chồng được 3 ngày, đôi vợ chồng trẻ phải về nhà
bố mẹ vợ, đi theo đôi vợ chồng trẻ chừng 12 - 13 tuổi gánh đôi gà, ít trè, chai
rượu, bao thuốc lá để chú rể nhận mặt làm quen với họ hàng bên nhà vợ.
Nhưng sau khi di cư đến Đồng Hỷ, do quá trình sinh sống ở đâ y họ đã có
sự giao lưu văn hoá với các dân tộc anh em khác trong khu vực như (người
Kinh, người Tày,...). Do đó một số nghi lễ trong đám cưới cũng gần giống với
nghi lễ cưới của người Kinh. Sau khi hai gia đình thống nhất đi đến hôn nhân,
nghi lễ cưới xin được diễn ra dưới hình thức; Lễ dạm hỏi, lễ ăn hỏi, trước đây
xuất phát từ lễ thách cưới cao, chi phí cho một đám cưới tốn kém nhiều, ngày
nay thì do đời sống văn hoá được nâng cao do vậy việc thách cưới cao đã
không còn nữa, tuỳ theo hoàn cảnh của từng gia đình mà đưa ít hay đưa nhiều.
Sau khi đã thống nhất được mọi việc, lễ cưới chính thức bắt đầu, đây là một lễ
quan trọng. Khi đã lựa chọn được ngày tốt có thể do nhà gái hoặc nhà trai
xem thầy, lễ cưới sẽ được ấn định, thông thường lễ cưới sẽ được tiến hà nh
trong hai ngày, cả nhà gái và nhà trai nếu là người dân tộc Nùng thì sẽ mổ lợn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
35


để làm cỗ thiết đãi người thân, gia đình và họ hàng vì đồng bào quan niệm cỗ
cưới là loại cỗ to nhất so với các loại cỗ khác, đặc biệt là rượu, trong cỗ cưới
của đồng bào không bao giờ thiếu rượu.
Sau khi đi đón được dâu về thông thường thì sẽ có một thầy tào người
Nùng làm lễ khấn tổ tiên (người Nùng nào thì sẽ có thầy tào của riêng dân tộc
mình; ví dụ, bên Hoá Trung là người Nùng Inh do đó khi có cưới xin hay tang
ma không thể lấy thầy tào của người Nùng Phàn Slình ở bên Minh Lập để
cúng cho, mà phải mời thầy tào của người Nùng Inh). Toàn bộ những thủ tục
như hát đối đáp khi rải chiếu, hay những bài hát cảm ơn, khen ngợi những cô
gái khéo tay pha chè thơm ngon, đón tiếp chu đáo bây giờ gần như không còn.
Thủ tục mời cơm hiện nay vẫn còn, nếu hai bên gia đình ở cách xa nhau thì có
thể ở lại ăn cơm, lệ hát mời thì đã bỏ, thay vào đó chủ nhà trực tiếp hoặc uỷ
nhiệm cho người thân đến từng mâm cơm mời khách.
Ở Đồng Hỷ, đám cưới nhà trai cũng như nhà gái, sau các nghi lễ chính
thức kết thúc là đến phần liên hoan văn nghệ. Khách mời là những bạn bè
cùng trang lứa với cô dâu, chú rể ở làng trên xóm dưới, thậm chí còn mời cả
bạn ở xã khác đến dự cho thêm phần long trọng. Phường bạn càn g đông
chứng tỏ quan hệ của cô dâu chú rể rộng rãi, liên hoan văn nghệ là tiết mục
vui nhất trong đám cưới, hễ chỉ định đến ai người đó phải hát, nếu không sẽ bị
phạt rượu. Cuối cùng là lễ lại mặt, thông thường về nhà chồng được 3 ngày,
đôi vợ chồng trẻ phải về nhà bố mẹ vợ, đi theo đôi vợ chồng trẻ là một cháu
bé chừng 12 - 13 tuổi gánh đôi gà, ít chè, chai rượu, bao thuốc lá để chú rể
nhận mặt làm quen với họ hàng bên nhà vợ. Sau lễ lại mặt, cô dâu về ở hẳn
bên nhà chồng. Hiện nay, không phải đợi đến ngày thứ 3, đôi vợ chồng trẻ có
thể về lại mặt ngay ngày hôm sau.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
36


Tóm lại: Đám cưới của người Nùng hiện nay đã có nhiều thay đổi, các
nghi lễ rườm rà đã bị bãi bỏ. Tuy vậy những cái hay, cái đẹp truyền thống vẫn
được lưu giữ và phát huy đó là những giá trị văn hoá tinh thần.
2.2. Tục lệ sinh đẻ
Theo quan niệm của người Nùng, gia đình hạnh phúc là gia đình có
nhiều con, nhiều cháu do vậy khi kén vợ cho con trai, các bậc cha mẹ thường
tìm hiểu rất kĩ về lai lịch cha mẹ đẻ của người con gái, nhất là xem xét người
mẹ sinh đẻ con có tốt và dễ nuôi không? Trường hợp vợ chồng chung sống
nhiều năm chưa có con thì họ phải làm lễ cầu bà mụ. Xuất phát từ quan niệm,
con là do mẹ hoa chia cho, lên việc muộn đường con cái hoặc không có con là
do mẹ hoa tức giận lên không phân hoa cho. Để có con họ phải nhờ thầy xem
và làm lễ cầu hoa, tin rằng mẹ hoa sẽ đầu thai ban cho.
Khi người phụ nữ có thai vẫn đi làm bình thường nhưng kiêng làm
nhưng việc nặng nhọc dễ gây ảnh hưởng tới thai nhi. Người phụ nữ khi mang
thai cần vui vẻ, ăn nói dịu dàng, tránh cãi nhau và xa lánh những cảnh tượng
hãi hùng để tâm hồn được thư thái. Tuy nhiên do trình độ hiểu biết khoa học
còn nhiều hạn chế, người phụ nữ khi mang thai phải kiêng kị nhiều thứ, xuất
phát từ động cơ muốn bảo vệ đứa con như: không đ ược ăn ốc, sợ con sau này
sẽ chảy nước dãi, không bước qua dây buộc ngựa, trâu bò vì quan niệm rằng
sau này đứa trẻ sẽ bị tràng hoa cuốn cổ hoặc luôn há mồm, không ăn cơm
cháy sợ dính ruột, không đánh răng sợ đứa trẻ luôn thè lưỡi ra như lưỡi rắn,
không hái quả trên cây sợ cây năm sau không có quả, không được đóng đinh
vào cột, không được thay đổi chỗ đặt giường, sợ sẩy thai. Người chồng cũng
phải tuân thủ kiêng kị nhất định: không chọc tiết lợn, cắt tiết gà, vịt, không
đi viếng đám ma, không được k hênh quan tài không làm ông mối trong các
đám cưới.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
37


Thậm chí gia đình chồng cũng tránh một số điều như sau: không làm nhà
mới, không trang trí, mua đồ dùng mới, không di chuyển sắp xếp lại đồ đạc
trong nhà, thậm trí nhưng cây mới đốn cũng không mang vào t rong nhà vì
theo quan niệm của đồng bào, có thể gây ra tang tóc gia đình và sẽ làm sảy
thai. Trước đây do nhiều lí do và hệ thống các trạm y tế chưa phát triển nên
người Nùng thường đẻ trong nhà, nơi đẻ là căn phòng của chính mình do mẹ
chồng hoặc bà con trong bản giúp đỡ, có sản phụ còn tự đỡ. Khi đứa bé ra
đời, người mẹ hoặc người đỡ dùng dao (kéo) cắt rốn cho con. Đoạn cuống ấy
được cho vào một ống bương, đem chôn dưới gầm giường (nếu là con gái)
hoặc treo ở vách buồng (nếu là con trai). Người ta giữ rất cẩn thận cái cuống
rốn đó vì cho rằng bà mụ bảo vệ linh hồn đứa trẻ trú ngụ ở đấy. Nếu vứt
cuống rốn đi sau này đứa trẻ hay bị ốm đau, bệnh tật, thậm trí có thể chết.
Ngày nay đại đa số các sản phụ đã đến trạm y tế để sinh nở.
Sau khi sinh sản phụ nữ được chăm sóc rất chu đáo. Sản phụ thường ăn
cơm nếp, thịt gà mái tơ, gà trống chưa thiến, chân giò ướp rượu, rim với gừng
nghệ để có nhiều sữa cho con bú và người sản phụ còn nhanh chóng phục hồi
sức khoẻ. Tuyệt đối không ăn cổ cánh, lòng, dọc sống lưng các con vật gà,
lợn. Riêng rau xanh, chỉ được ăn một số loại nhất định như: rau ngót, su hào,
khoai tây bắp cải xào với thịt. Còn các loại rau khác không ăn vì còn nhiều lí
do, chẳng hạn, ăn rau cải sẽ bị ho, ăn rau bí sẽ làm cho cả mẹ và con bị ngứa...
ăn hành lá, cần tỏi sau này mồ hôi con sẽ có mùi hôi....Thậm chí người ta còn
khuyên sản phụ không ăn cá vì sẽ bị ”slang” tức đứa con bị mụt nhọt sài lở.
Trong suốt thời gian ở cữ, sản phụ chỉ ở trong buồng của mình, kiêng
tắm gội, không đến gần bếp lửa hay nhưng nơi thờ cúng linh thiêng nhất là
bàn thờ tổ tiên.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
38


Để có đủ gà ăn bồi dưỡng cho bà đẻ, người ta có tục lễ biếu gà, biếu gạo
nếp cho bà đẻ. Đây là hình thức tương trợ có đi có lại, vừa là biểu hiện sự
quan tâm, lòng quý mến của đồng bào đối với bà đẻ.
Khi đứa trẻ ra đời, người Nùng thường treo trước cửa nhà mình một cành
lá xanh hoặc cắm ở cầu thang để báo cho người lạ biết, không vào nhà thời
gian ba ngày đầu. Thậm chí việc cắm cành lá không chỉ để mọi người không
vào nhà còn để thông báo giới tính của đứa trẻ, cắm một cành lá xanh bên trái
(nếu sinh con gái) và bên phải (nếu sinh con trai). Việc cắm cành lá nhằm
mục đích, ngăn những người có vía độc, người đần độn, người có tư cách
không tốt, vì họ sợ hồn vía của người khách sẽ làm ảnh hưởng đến sức khoẻ
non nớt của bé. Có gia đình còn rắt con dao, thậm chí dao nhọn ở đầu giường
để bảo vệ bé và sản phụ trước tà ma quỷ quái. Trong tháng không được mang
các vật lạ vào buồng sản phụ sợ bé bị vía, sài.... Bé được tắm rửa bằng lá
thơm như: lá đào, lá bưởi, lá đỏ đen.
Được tròn tháng, người ta sẽ làm ăn mừng, đây là một nghi lễ rất quan
trọng trong phong tục sinh đẻ của người Nùng tuỳ theo từng gia cảnh từng
nhà mà nghi lễ được tổ chức to nhỏ có mổ lợn đồ xôi xanh đỏ, những người
được mời dự lễ có thể đem cho một số thứ (2 ống gạo nếp, con gà mái tơ,
hoặc cho bé mảnh vải, để làm quần áo, tã lót, có người cho bé phong bao....).
Cũng trong ngày đầy tháng, người Nùng làm lễ dựng bàn thờ mụ cho
đứa trẻ. Tuỳ từng nơi người ta để bàn thờ mụ ở những nơi khác nhau: Ví d ụ
người Nùng sống ở Chi Lăng (Lạng Sơn), bàn thờ mụ của trẻ nam và nữ trong
nhà cũng giống nhau, nếu làm bàn thờ mụ con trai cắt các bông hoa to cắm
vào ống, nếu bàn thờ mụ con gái cắt hoa nhỏ hơn.
Người Nùng đại đa số ở Đồng Hỷ đặt bàn thờ của bà mụ ngay phòng
buồng của người mẹ hoặc đứa trẻ chứ không gần bàn thờ tổ tiên.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
39


Trước đây trong ngày này, bên nội của đứa trẻ sẽ đan chiếc nôi bằng tre,
bên ngoại sẽ khâu chiếc địu từ tấm ướt khô mà chàng rể tặng mẹ trong ngày
cưới. Chiếc địu đó để dùng lâu dài cho đứa con sau và không được cho người
khác mượn (địu chỉ được đan và khâu đúng ngày cháu đầy tháng).
Trong ngày lễ này người ta gói rất nhiều bánh “ coóc mò” (sừng bò), khi
bữa cơm chưa kết thúc, người ta chọn một người nhanh nhẹn, phúc hậu hay
một cháu nhỏ khoẻ khoắn, lanh lợi địu bé đi khỏi nhà gọi là bán thóc “ khai
hẩy” và mang túi sách, bút, xâu bánh đi phát cho trẻ con trong bản, tỏ ý hoà
nhập và đứa bé sau này cũng ham học và hiếu thảo với mọi người. Hôm đầy
tháng người ta cũng cắt tóc cho bé và tóc được gói lại cẩn thận không được
vứt lung tung sợ người khác yểm bùa. Trên đỉnh thóp phải để lại một chỏm
tóc, đồng bào cho rằng đó là một nơi trú ngụ của hồn vía đứa trẻ.
Lễ đầy tháng cũng là lễ đặt tên tục cho đứa bé. Tên được đặt bằng tiếng
Nùng không cần tên đẹp, thường gọi tên các con vật như: tu mả (con chó) “tu
mèo”(con mèo) hoặc nhưng tên chung như: “vàng đen” (con trai), “tỉ đẻn”
(con gái). Đến khi trưởng thành người ta bỏ tên tục bố mẹ tự chọn tên cho con
và nhờ một thầy cúng đặt tên sau đó khấn bái gia tiên và gieo quẻ bằng đồng
bạc trắng ki gieo xuống đĩa, nếu được hai đống ngửa là coi như tên đã đặt là
chính xác. Nếu không được như thế, đứa trẻ lại được đặt tên khác. Cho dù có
cách gọi thế nào đi chăng nữa thì khi đặt tên cho con cha mẹ tránh đặt tê n
trùng tên ông bà, tổ tiên, chú bác, anh em họ hàng nội ngoại gần gũi.
Để tránh tà ma, người ta đeo cho cháu vòng bạc, nanh vuốt hổ, tay khỉ,
chỏm mũ đeo tiền kim loại.
Trong gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng đứa trẻ sơ sinh của dân tộc Nùng
còn khá đơn giản, khi đứa bé lọt lòng mẹ, người ta thường lấy mảnh quần áo
cũ làm tã lót hàng ngày cho bé. Đứa bé được tắm bằng lá bưởi. Trước đây khi
đứa trẻ bị ốm đau, gia đình tổ chức cúng ma, vì người ta tin ma mụ và phù hộ


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
40


đứa trẻ khoẻ mạnh, hay ăn chóng lớn. Nhưng xem số mệnh lá xấu khó nuôi,
thậm trí đứa trẻ láu lỉnh, dễ nuôi quá thì người ta cũng làm lễ cho con nhận
con nuôi họ khác, con nuôi thầy cúng hay xin gạo họ khác cho trẻ ăn.
Sau 40 ngày, người mẹ hết thời gian kiêng khem và bước đầu đi làm
bình thường. Nhưng cho bé đi xa như về thăm bà ngoại, người ta thường sâu
kim, cài băng vào mũ trẻ, quyệt nhọ nồi, nhọ chảo trán hoặc cổ, buộc lá cỏ
ranh vào áo, thậm trí còn báo tổ tiên thắp hương phù hộ cho đứa trẻ đi về
được bình an.
Có thể nói, trong nghi lễ sinh đẻ của ngưới Nùng ở Đồng Hỷ trước đây
còn mang một yếu tố thần bí, mê tín, nhưng dựa trên sự mong muốn bình an
hạnh phúc của thế hệ đi trước với con cháu trong dßng téc. Hiện nay kinh tế
đã dần từng bước phát triển, người ta cũng bắt đầu quan tâm đến các vấn đề
khác nhau của cuộc sống đặc biệt là sức khoẻ. Do vậy việc chăm sóc sức khoẻ
cộng động nói chung và sức khoẻ sản phụ trẻ sơ sinh nói riêng được chú trọng
hơn.
2.3. Tục làm nhà mới
Nhà là sản phẩm hoá của con người, là nơi hội tụ các sinh hoạt của gia
đình và là hình ảnh thu nhỏ của văn hoá dân tộc. Tuy nhiên mỗi dân tộc lại có
những kiểu ngôi nhà mang đặc trưng của nh÷ng phong tục, tín ngưỡng liên
quan đến ngôi nhà mình. Các loại nhà ở: Nhà ở của người Nùng có 2 loại
chính: nhà sàn và nhà đất, phần lớn nhà sàn:
Nhà sàn: Là dạng nhà truyền thống và phổ biến nhất của người Nùng, có
loại nhà sàn 2 mái và loại nhà sàn 4 mái.
Nhà sµn của người Nùng ở Đồng Hỷ phần lớn đều có kiến trúc 4 mái, hai
mái dài và 2 mái đầu hồi ngắn, tương ứng với ngôi nhà 3 gian 2 chái hay 5
gian 2 chái, mật độ cột, xà, xuyên, kèo, đòn tay dày đặc. Cấu trúc vì kèo
tương ứng với 3 loại nhà: 4 hàng cột hoặc 7 hàng cột, loại nhà nhỏ ít, hàng cột


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
41


thường có 30 cột, loại nhà to có 56 cột. Mái nhà lợp ngói âm dương hay ngói
đáp cầu vách thưng bằng gỗ tấm để theo chiều dọc. Toàn bộ hệ thống khung,
lao cột vách đều làm bằng gỗ tốt: Trai, §inh, Nghiến..... hệ thống xuyên và
được bào trơn đóng bén, kết cấu chắc chắn, tạo cho ngôi nhà bền vững, thậm
trí được sử dụng cho khoảng vài 3 thế hệ sinh số ng.
Bố trí mặt bằng ngôi nhà sàn giữa các nhóm Nùng ở các địa phương khá
nhau: trong nhà, chiều rộng thường chỉ bằng 3/4 chiều sâu, được bố trí theo 3
cấp độ sử dụng khác nhau: gầm sàn, sàn gác và mặt sàn.
+ Gầm sàn: là nơi để củi, nông cụ sản xuất và nhốt gia xúc gia cầm, vì
thế trên vách đươc ken dầy, chắc chắn để ngăn ngừa thú giữ và kẻ gian. Hiện
nay, phần lớn các gia đình đã đưa gia súc ra khỏi gầm sàn và gầm sàn chỉ còn
là nơi dự trữ củi và một số loại công cụ. Ngày nay nhà sàn của đồng bào đã
thoáng mát và hợp vệ sinh hơn.
+ Sàn gác: là nơi quan trọng, nơi sinh hoạt của gia đình. Mắt sàn được
chải bằng giát cây mai, vàu bằng tre đập dập.
Thang đặt ở đầu hồi bên phải hay bên trái nơi đó tiện cho việc đi lại và
dẫn nước từ máng chảy từ khe về nhà. Bậc thang lên xuống bao giờ cũng là
một số lẻ 5, 7 tuỳ hay 9 tuỳ thuộc độ cao mặt phẳng sinh hoạt. Số lượng cầu
thang lên nhà và số lượng song cửa số nhất thiết phải theo số lẻ là số sinh sôi
nảy nở. Nối tiếp cầu thang là một gian nhỏ gọi là “thích” để chum, vạ i nước
sinh hoạt và để khách lên nhà rửa chân. Giữa nhà có bếp lửa đun nấu thức ăn,
đồ uống và nơi thờ vua bếp. Trên bếp sàn nhỏ (xá) treo lơ lửng vừa được dấu
quả chín vừa để tránh kiến, dán làm hỏng thức ăn như thịt, cá những khoảng
còn lại phần trong được ngăn thành buồng ngủ cho các phụ nữ trong ra gia
đình phần ngoài đặt bàn (thê tổ tiên). Dưới bàn thờ thường đặt một bàn uống
nước hoặc đặt một hòm thư, 2 bên là chỗ ngủ của đàn ông. Khách đến chơi
nhà, nếu nam thì ngủ bên ngoài, nếu nữ thì ngủ bên trong. Phía trước nhà có


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
42


một cái sân phơi có cầu thang lên xuống cửa trước. Cầu thang lên xuống
thường được bố trí tiện lợi việc đi lại. Mặc dù không quy định cụ thể , nhưng
cầu thang lên sàn nhà của dân tộc Nùng thường có hai chiếc bố trí theo chiều
dọc hoặc chiều ngang 2 gian đầu hồi nhà. Sân phơi được làm thấp hơn mặt
nhà một chút để phơi thóc, ngô, quần áo... Trên một góc sàn phơi, rất nhiều
gia đình Nùng còn làm một bục gỗ đặt trên đó một bát hương bằng tre để thờ
vị thần thổ địa và bảo người gia đình.
Các buồng nữ giới được bố trí khá chặt chẽ theo theo thứ tự, buồng chị
dâu cả ở gian hồi phía trong, tiếp gian với hiên trước đến buồng vợ chồng con
trai thứ 2 thứ 3...., giữa các buồng được ngăn bởi phên ván hoặc nứa, ở trên
vách phía cửa buồng có căm ống hướng thờ bà mụ.
Khoảng chống trước cửa buồng là chỗ sinh hoạt và làm việc của nữ như
quay tơ, kéo sợi, dệt vải, tiếp khách nữ...
Cuối nhưng gian tiếp giáp với vách cuối nhà để bồ thóc, chạn bát và
những thứ lặt vặt khác.
Trái nhà từ phía đầu cầu thang đi lê n là nơi đố cối xay thóc, xay ngô.
+ Sàn gác, dùng làm kho giữ trữ ngô, lúa và một gia dụng vừa tiết kiệm
được không gian, vừa tránh được mối mọt, ẩm mốc. Sự bố trí chặt chẽ như
trên phản ánh nhu cầu một cuộc sống nề nếp của đồng bào Nùng một tư duy
lôgic trong nếp sống, trong tổ chức lao động sản xuất.
Ngày nay, sản lượng nhà của dân tộc Nùng đang có nhiều thay đổi thay
vào đó đồng bào thường làm những ngôi nhà bằng đất hay bằng gạch chỉ có
hai mái chính.
Nhà đất: nhà đất hiện ngày càng nhiều. Việc ở nhà đất có lợi thế hơn hẳn
nhà sàn là đi lại thuận lợi, gọn gàng, sạch đẹp. Thu hút khá đông các gia đình
chuyển từ nhà sàn sang ở nhà đất, nhưng về cơ bản vẫn giữ nguyên kết cấu vì
kèo sàn nhà thường 3 gian 2 chái. Nguyên liệu lớp mái bây giờ đã ngói hoá


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
43


kiểu cổ, vách từ liếp tre, nứa hay vách đất được thay bằng vách bưng ván. Bố
cục trong nhà đất của người Nùng về cơ bản vẫn giống nhà sản. Sàn phải cao
khoảng 1m để trước nhà và đầu hồi. Trong nhà cũng được chia thành nhiều
ngăn cho nữ. Sàn gác được thu hẹp lại thành gác trở thành gác xép là nơi để
thóc lúa, ngô, khoai và đồ lặt vặt trong gia đình. Bếp không còn ở gian chính
nữa mà thường để ở gian đầu hồi và có hộ còn làm nhà bếp riêng. Bàn thờ đặt
ở gian chính giữa đối diện với cửa chính, đằng sau bàn thờ có một ngăn cách
phần trên phần dưới nhà hoặc đặt trên tấm ván 2 đầu kê trên sàn nhà. Nơi tiếp
khách ở trước bàn thờ, gần cửa chính. Cách sắp xếp trong nhà như vậy được
chia theo chiều ngang.
Các công trình phụ như: Chuồng gia súc, gia cầm được bố trí trên nhữ ng
khu đất xung quanh nhà.
Ngày nay, với những gia đình có kinh tế khá giả đã bỏ nhà đất thay vào
đó là nhưng ngôi nhà xây hiên đại.
- Phong tục tín ngưỡng liên quan đến nhà ở của người Nùng.
Vấn đề hiện nay đồng bào quan tâm làm nhà ở, là tuổi làm nhà, đồng bào
kiêng dựng nhà vào năm xung khắc với năm tuổi của chủ nhà. Người được
tuổi làm nhà phải đứng tên và có mặt trong mọi thủ tục cần thiết liên quan đến
làm nhà và những khâu quan trọng trong quá trình dựng nhà như động thổ,
dựng cột, lợp mái...
Đồng bào Nùng quan niệm: “ Rườn bưởng nả, mả bưởng lăng”, nghĩa là
xây nhà ở đằng trước người ta, đặt mộ phải đặt sau nhà người khác. Hướng
nhà tốt gia trùng sẽ yên ổn, vị trí mộ đẹp con cháu yên ổn, thịnh vượng, ăn lên
làm ra. Khi chọn hướng nhà, đồng bào thường đặt hướng nhà theo thế đất và
toàn cảnh xung quanh chứ không nhất thiết phải trông về đông, tây, nam, bắc.
Do vậy, nhà cửa của đồng bào thường dựa lưng vào núi, cửa chính nhìn ra
cánh đồng trước mặt. Phải làm sao có được hướng nhà lành mạnh, kín đáo,


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
44


tránh được những núi non, sông ngòi, bụi cây hình thù quái gở nhòm ngó vào
nhà. Một mỏm núi hình mũi tên đâm thẳng vào nhà là một hiện tượng rất độc,
có thể gây nạn thương vong. Một bụi cây hình con cáo nhòm vào nhà sẽ ảnh
hưởng không tốt đến chăn nuôi gia cầm. Hay một con suối không kín đáo
chảy tông hống ra ngoài là hiện tượng “tán tài”, gây mất của cải. Nhưng nếu
trước cửa nhà có một gò đất cao hình mâm xôi thì họ coi đó là hướng nhà tốt,
có lộc, dễ làm ăn. Nếu chọn hướng đất nào mà chưa vừa ý lắm vì vẫn còn chỗ
sơ hở, người ta khắc phục bằng cách trồng một bụi tre khuất hướng độc đi.
Những quan niệm trên còn mang nhiều yếu tố duy tâm, thần bí, song về mặt
thực tiễn, rõ ràng đồng bào đã chọn được nhiều địa điểm nhà cửa, làng mạc
vừa cao ráo, vừa kín đáo, đẹp đẽ, thuận tiện cho việc làm ăn sinh sống.
Việc động thổ, khiêng cột đầu và đá kê chân cột là yếu tố hết sức quan
trọng trong gia đình xây cất nhà cửa. Trước khi đặt đá và khiêng cột đầu,
người Nùng thường làm lễ dựng cột (lễ động thổ), cột nhà không lấy câ y gẫy
ngọn, sâu mọt. Họ lấy tất cả các lá số nhờ thầy cúng xem, nếu ai không hợp
thì không được đặt đá kê cột, khiêng cột đầu. Kích thước nhà cửa chính, cửa
sổ, chiều cao được đo đạt kĩ lưỡng, tuỳ theo tuổi tác của chủ nhà mà kích
thước dừng ở sinh hay lão. Nếu người dưới 50 tuổi làm nhà, lòng nhà sẽ được
tính dừng lại ở số lão, nhất thiết không dừng ở điểm tử. Số lượng song cửa
nhất thiết phải lắp theo số. Làm nhà xong, phải làm lễ cúng nhập gia mừng
nhà mới (khẩu lườn mấu) mang ngọn lửa vào sưởi ấm căn nhà tránh nhưng
điều rủi do, bệnh tật trong quá trình cư trú.
Có thể nói, người Nùng đặc biệt quan tâm đến ngày giờ vào nhà mới. Vì
thế và đúng ngày tốt, giờ lành, dù mái chưa lợp, phên vách chưa xong, đã phải
làm bếp lửa trước, lửa thường được gia chủ mời một người con trai trong họ
hiền lành, ngoan ngoãn, cần cù chịu khó, dễ tính đến châm lửa từ nhà ông cụ
mang về. Sau đó gia chủ sẽ ra suối lấy nước suối về, đun lên dùng để pha trà,


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
45


trước là để thắp hương tổ tiên, gia chủ sẽ đem nước đó để mời bà con,
làng xóm.
Cuối cùng là bữa cơm rượu thịnh soạn để mời những người đã bỏ công
sức việc riêng đến giúp dựng nhà. Dù nhà có của hay nhà thiếu thốn không ai
bỏ qua được bữa ăn mừng nhà mới vì đó là tập quán. Ngoài những người có
công giúp dựng nhà, gia chủ còn mời thêm nhiều bạn bè thân bằng cố hữu và
những người thân bên nội đến giữ bữa cơm vào nhà mới, vừa để cảm ơn làng
xóm, đồng thời cũng để bạn bè đến chung vui. Những người khách được mời
vào nhà mới đều có lễ mừng như tiền gạo rượu....
Tóm lại: Nhà ở của người Nùng do điều kiện hoàn cảnh chi phối. Nó
không chỉ che mưa, mỗi một ngôi nhà đồng bào Nùng đã gửi gắm tầm hồn và
những sáng tạo nghệ thuật vào những ngôi nhà đó. Ngày nay ngôi nhà của
người Nùng cũng đã có nhiều thay đổi, ngôi nhà truyền thống đã dần dần thay
thế bằng nhưng ngôi nhà gạch hiện đại hơn. Đó cũng là xu hướng hội nhập
tích cực trong sự phát triển chung của nền kinh tế, văn hoá, xã hội, nước ta.
2.4. Lễ sinh nhật
Khi cha mẹ già bước vào cái tuổi 53, 59, 61, 69, 73, 85.... dân tộc Nùng
làm lễ sinh nhật “văn khoắn" để báo hiếu cha mẹ vào ngày sinh họ không tổ
chức giỗ tưởng nhớ cha mẹ vào ngày mất như người kinh và một vài dân tộc khác.
Trong lễ sinh nhật, gia đình mời thầy “ tào” hoặc “mo” về làm lễ chính,
bà “then”, bà “pụt” về múa hát phụ hoạ, con cháu mang quà đến mừng sinh
nhật cho ông bà, cha mẹ. Lễ vật sinh nhật thường có bánh đúc, bánh dầy, gà
luộc, lợn quay, gạo.
Lễ sinh nhật thường diễn ra vào ban đêm với hai tiết chính: tiết lễ sinh
nhật (từ 19 h ngày hôm trước đến 2 h sáng ngày hôm sau) và tiết lễ giải hạn
cầu yên. Trong lễ sinh nhật, thầy tào và thầy phụ khấn trước bàn thờ mời tổ
tiên gia chủ sum họp, chứng kiến buổi lễ và phù hộ cho người sinh nhật, vừa


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
46


cúng ông thầy vừa dùng kiếm chém nhẹ vào không trung để dọn đường cho
các linh hồn tổ tiên trở về, gạt bỏ mọi cản trở trên đường. Nơi gieo quẻ âm
dương thấy cả 2 quẻ âm dương đều ngửa có nghĩa là đoàn linh hồn tổ tiên
đang tiếp tục đến dự lễ sinh nhật.
Lễ cầu yên giải hạn bắt đầu từ 6 giờ 30 sáng ngày hôm sau, lúc này dâng
lợn quay, gà luộc, bánh dày làm lễ chúc thọ, cầu bình an cho cha mẹ.
Trong ngày sinh nhật, tại nơi bàn thờ mụ, người ta đặt một bát xôi, một
quả trứng, một con gà và trước bàn thờ tổ tiên bày các lễ vật; hai con gà luộc,
5 chén rượu, một con lợn đã thịt, để sống không có lục phủ ngũ tạng.
Thầy tào hay thầy mo làm lễ khấn mời tổ tiên gia chủ về chứng dám lễ
sinh nhật và phù hộ độ trì cho cha mẹ.
Sau lễ cúng ở trong nhà, người nhà trải hai tấm vải xếp chồng lên nhau
tạo đường đi cho thầy tào làm lễ bắc cầu ra s àn cúng.
Con cháu mang quà biếu ông bà, cha mẹ. Nếu con trai, chuẩn bị 4 con
gà, rượu thịt lợn mời họ hàng. Con gái, mỗi người đóng góp 1 con gà, 1 lít
rượu để các con trai trong gia đình tổ chức sinh nhật.
Tổ chức sinh nhật cho người già là biểu hiện sinh động các quan niệm
về hồn vía của người Nùng về tập cầu yên giải hạn mong sức khoẻ và sự bình
an. Bên cạch đó còn thể hiện sự kính trọng chăm sóc ân cần chu đáo người già
lấy đó là tấm gương cho con cháu học tập, vì đó là trong những điều nhân đức
ở đời về hiếu thảo với ông bà, cha mẹ.
2.5. Tục lệ ma chay
Tang ma của dân tộc Nùng là trong những thành tố thuộc lĩnh vực văn
hoá xã hội, họ biểu hiện sâu sắc đạo hiếu, đạo nghĩa của người sống dành cho
người chết, người sống với người sống. Thông qua tang ma, những quan niệm
về nhân sinh quan và thế giới quan, những ý nguyện tâm linh và các quy tắc
ứng xử gia đình, cộng đồng được biểu hiện rõ nét hơn bao giờ hết. Nó chi


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
47


phối đời sống gia đình của đồng bào Nùng một cách lâu dài, bên bỉ, thậm trí
những ràng buộc xã hội, tạo lên sức cố kết cộng đồng mạnh mẽ.
Nghi lễ tang ma đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào Nùng trở thành
những tập tục truyền thống, những quy ước cộng đồng tưởng như khó thay
đổi, nhưng trên thực tế, sự biến đổi của nền kinh tế theo hướng thị tr ường đã
tạo ra những thay đổi trong đời sống xã hội Nùng nói chung, trong tang ma
nói riêng thì nhiều lễ tục tốt đẹp dần dần bị trượt dài theo quan niệm và tâm
linh kiểu mới của con người, song không ít các hủ tục lại trỗi dậy, ngăn cản sự
phát triển tiến bộ.
2.5.1. Tục báo cho làng bản khi nhà có người thân qua đời
Khi cha (mẹ) tắt thở, con trai, con gái (hoặc vợ, chồng) phải nắn chân tay
thẳng, xuôi theo thi thể cho ngay ngắn, vuốt mắt cho người quá cố và nói rằng
"nếu không được ở với con cháu thì nhắm mắt về với tổ tiên không được lo
nghĩ gì”. Chết đi, nhắm mắt là chết lành, linh hồn sẽ được siêu thoát, nếu
không nhắm mắt là chết hận linh hồn khó siêu thoát.
Mặc dù cha (mẹ) đã chết, nhưng lúc này con cháu tuyệt đối không ai
được khóc, người ta để nguyên thi hài ngay ngắn ở trên giường như đang ngủ, hạ
một góc màn phía trên đầu, cắt bớt một góc chiếu, rồi báo tin cho cộng đồng.
Trước đây, hầu hết các nhóm Nùng ở các địa phương khác nhau đều báo
cho gia đình có người chết tới cộng đồng bằng cách bắn ba phát súng. Từ khi
nhà nước cấm pháo, có chủ trương hạn chế tiếng nổ trong dân cư của các cấp
chính quyền, từ năm 1995 đến năm 2009, nhóm người Nùng ở Thái Nguyên,
không bắn súng để báo tang, tuỳ từng địa phương, việc báo tang đã có những
thay đổi cho phù hợp.
Nhóm Nùng Phàn Slình ở vùng Tân Long, Đồng Hỷ, Thái Nguyên,
trưởng nam của gia đình có trách nhiệm tới nhà trùm phường báo tin, nhờ ông
đứng ra chủ trì tang lễ. Trùm phương thông báo với cộng đồng bằng cách


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
48


đánh ba tiếng trống. Tang chủ trở về túc trực bên thân nhân, không được phép
rời khỏi nhà.
2.5.2. Tục mời thầy tảo (tảng xảy)
Xuất phát từ những quan niệm về vũ trụ, linh hồn, các loại ma và thân
phận con người sau khi chết, bên cạnh việc báo hiếu thì trong suốt gia đình
tang lễ Nùng luôn gắn bó với việc đưa linh hồn siêu thoát về với thế giới tổ
tiên. Để làm được việc này, chỉ có các thầy tào với khả năng siêu nhiên, có
âm linh và quyền năng tối cao mới có thể làm được, chính vì thế trong mỗi
gia đình Nùng, khi có người qua đời, công việc quan trọng là p hải đón thầy
tào về tổ chức tang lễ.
Việc mời thầy tào thường do một bậc cao niên và một cháu trai trong họ
nội đảm nhận. Khi đến nhà thầy tào, nếu nhận lời đến giúp đến làm lễ tang thì
thầy tào cắt một nhúm tóc và buộc một sợi chỉ lên đầu người đi mời đan g quỳ
ngoài sân và đón người đó vào nhà, thầy nhận hương, thắp lên bàn thờ tổ sư
nhà mình, rồi chụp úp một mảnh giấy đỏ hay vải đỏ lên trên miệng một chiếc
chén hay một chiếc bát không đựng gì, với ngụ ý lưu giữ một phần âm binh
của thầy ở lại canh giữ nhà, thắp sáng một đèn dầu, vặn lửa nhỏ cứ để cháy cho
đến khi thầy hoàn thành xong việc làm đám tang trở về đặt bên bàn thờ tổ tiên,
xin phép tổ tiên, được đi làm việc cho đám hiếu nhà ông bà (A, B), mất ngày
giờ nào ? ở đâu? xin được các thần linh và tổ sư phù trợ hoàn thành công việc.
Đoàn thầy cúng đến nơi trước khi vào nhà, được tang chủ và gia quyến
quỳ trước sân dâng mâm lễ có số chén rượu tương ứng mời nhóm thầy để
biểu thị lòng chân thành. Thầy chủ đổ một chén rượu xuống đất để xin phép
thổ công vào nhà hành lễ, rồi mỗi thầy uống cạn hết sức chén rượu mời.
2.5.3.Tục gánh tội báo hiếu
Đến nhà tang chủ, trước khi vào nhà, thầy tào thường làm lễ gánh tội báo
hiếu cho con cháu xong mới bước vào nhà, tiến hành các nghi thức trong một


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
49


đám tang. Tuỳ từng nơi, thầy tào có những động tác gánh tội, báo hiếu cho
con cháu người quá cố khác nhau.
Lễ gánh tội báo hiếu của nhóm Nùng Phàn Slình ở xã Tân Long, huyện
Đồng Hỷ, không diễn ra trước cửa nhà, mà ở nơi bàn cúng lễ của thầy và chỗ
đặt thi hài người quá cố, sau khi thầy tào đã vào nhà mặc trang phục làm lễ
“cầu hổ sủng kinh” xong, cúi tạ 3 lạy trước bàn thờ thánh, rồi đi tới cắt một
nhúm tóc, buộc chỉ lên đầu từng người con cháu đích tôn của người chết.
Hành động cắt tóc, buộc sợi vải, ý nghĩa cho xiềng xích của trời bắt tội
con cái phải gánh đỡ cho cha, mẹ, rửa bớt phần nào tội lỗi cho người chết ở
chốn trần gian để cho người chết nhẹ tội, sớm siêu thoát, đồng thời biểu đạt
lòng ghi nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của người quá cố cùng lỗi đau
đớn thương tiếc vô bờ khi phải lìa người thân.
Khi vào nhà, thầy tảo hỏi con cháu về tên, tuổi này tháng năm sinh, ngày
giờ mất của người chết, gia đình định làm ma mấy ngày, tên tuổi con cháu
trong gia đình bên nội, ngoại của người chết và tất cả các vấn đề xung quanh
nội tộc người chết. Sau khi hỏi han xong, thầy bẩm chọn giờ tốt, tránh giờ
xung tuổi với con cháu họ tộc và tránh giờ đại bại. Thầy xem ngày giờ chết
của chủ nhà ngày hung (tam tai) không, đó là các ngày: Thìn nếu chết vào
mùa xuân, Mùi nếu chết vào mùa hạ, T uất nếu chết vào mùa thu, Sửu nếu
chết vào mùa đông. Nếu chết vào ngày hung phải đợi qua nửa đêm mới được
nhập quan, giải thoát cái chết tránh ngày hung.
2.5.4. Tục phục hồn nhập quan (khảu mạy)
Lễ này rất quan trọng vì nó liên quan đến cả người chết và n gười sống,
chính vì thế, thầy tào bây giờ cũng phải xem giờ nhập quan, tránh giờ kị, giờ
khắc, giờ sát, con cháu anh em họ hàng phải đứng đông đủ quanh thi hài,
nhưng chỉ có con cái, người thân mới được vào gần, hàng xóm chỉ được ở
vùng ngoài vì họ sợ nhưng điều không tốt sẽ làm hại đến gia đình. Trường


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
50


hợp người chết vào giờ độc (giờ tam tai hay tam sát), trước khi nhập quan
phải giải độc. Thông thường người nhà chuẩn bị 3 bát gạo để cắm hương và
cử một người đại diện không phân biệt trai hay gái ra thắp h ương, sau đó thầy
đặt 2 bát lên bàn thờ một bàn để ở sát vị trí con gà phía chân người chết nằm,
làm lễ và dọc tên người mất và xin tổ tiên đi trước dẫn đường.
Sau đó đến việc trải áo quan tuỳ theo cấp độ linh hồn của người chết mà
thầy tào có số lần xúc vật liệu nhiều hay ít. Nhất thiết phải đủ 10 lần đầu.Vừa
xúc thầy vừa đọc bài cúng dâng tro vôi, cho người chết:
Et táo hà hoi cam phú quý
Lờ táo hà hoi sáu dùng và
Slam táo hà hoich sái chấn
Sy táo hà chân kinh Nùng
Ngọ táo hà hoi chan lộc chúc kinh seng
Lộc tá hà hoi nàm nỉ tắc an mình
Chét táo hà hoi lình săn bù thông
Bét táo hà hói sáu sên nền
Cản táo hà hoi ngọ cốc mộn sang sèn
Síp táo hà hoi sên sên phàn phàn mộn cơn
Dịch nghĩa:Một là tro với phú quý
Hai là tro với vinh hoa
Ba là tro hưng chấn gia tài
Bốn tro vôi để chúc cho linh hồn ra đi được hưng phấn
Năm tro vôi để chúc cho gia đình lục súc (có nhiều gia xúc khoẻ mạnh )
Sáu tro vôi để chúc gia đình an ninh hoà thuận
Bảy tro vôi chúc cho linh hồn siêu thoát.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
51


Tám tro vôi để chúc cho linh hồn thiên niên nghìn tuổi
Chín tro vôi để chúc cho ngũ cốc kho
Muời tro vôi để chúc cho (linh hồn) có muôn vàn người đến viếng
Sau lễ trải quan, thầy tào làm phép thu hồn người chết vào mảnh giấy
nhỏ (bùa) có ghi ngày tháng năm sinh, ng ày giờ, tháng năm mất của người
chết, sau đó thả những mảnh giấy bùa, tờ phan trên lớp vải lót trong quan tài
coi như đã thu hồn người chết vào bàn giao về thế giới âm.
Sau đó thầy tào cầm gậy tầm síc “slán cản” gõ ba tiếng sầm đục vào
quan tài, con cháu đứng sẵn ở bên góc nhấc cả chiếu khiêng thi hài vào áo
quan. Con cháu dùng 3 đoạn vải trắng buộc ngang các bộ phận thi thể: Cổ,
bụng, cổ chân với muối để trói giữ không cho hồn người chết trở về làm hại
người sống. Bên trên thi hài phủ tấm vải đen. Nhiều nơ i, sau khi cho thi thể
vào áo quan, trên tấm vải đen con cháu còn phủ thêm 7 lượt vải trắng nếu
người chết là nam giới, 9 tấm vải nếu người chết là nữ giới. Sau đó thầy tào
xếp một số đồ dùng như: Giầy dép, quần áo, chăn màn, ấm chén, dao kéo,
kim chỉ..... bằng giấy, diêm, thuốc lá, túi đựng nước, khăn mặt quần áo mặc
hàng ngày chèn chặt vào quan tài để người chết mang về thế giới bên kia.
Tuyệt đối không được cho đồ sắt, kể cả răng vàng, răng bạc của người chết
cũng phải tháo bỏ, nếu cố tình cho vào, sau này lúc cần sẽ không gọi hồn
người chết lên được, con cháu trong gia đình sẽ bị ảnh hưởng.
Sau đó, thấy tào nín thở niệm chú để thu vía váo áo quan, nghe tiếng
thanh la dóng lên nhịp 3, 4 thầy mới được thở và viết tượng trưng chữ
“phong”(đóng) trên ván thiê n.

Lúc này con cháu đồng loạt khóc thảm thiết, đau đớn nhìn mặt người
thân lần cuối. Người hàng phường hay anh em nội tộc phải khoá ván thiên
bằng đốt tre già (tuyệt đối không khoá bằng đinh sắt). Thầy tào cầm bát nước
đi xung quanh quan tài và ngậm nước phun lên bốn góc quan tài, mỗi lần

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
52


phun ông ta vung kiếm chỉ vào nơi đó, đọc thần chú để phong ấn, không cho
linh hồn thoát ra ngoài nửa thậm trí họ còn buộc khoá áo quan bằng 4 cọc tre,
kết cấu đục lỗ, ghép mộc xuyên suốt, phía trên nhiều khoá, dưới đòn ép, giữa
nêm, ở đó kẹp 6 gói gạo đầy có ngọn để phát lộc cho người đào huyệt.

Sau đó họ kê quan tài lên chân giá đặt ở giữa nhà, dưới gầm đặt một lưỡi
cầy để trừ tà.

2.5.5. Tục thiết linh sàng

Tục này được thực hiện sau lễ nhập quan của lễ này là lễ mời c ơm, lập
bàn vong (thiết linh sàng), đặt bài vị (yên linh yên vị).

Thầy tào lấy con gà buộc lên trên ván thiên (tại phần chân người chết),
cắm lên đầu con gà này rất nhiều hương cho linh hồn người chết, những
người có gia thất và có con cháu thì gà mới được mổ bụng, còn lại thì không
được mổ bụng dù người chết đó ở tuổi lão. Con gà này sẽ được chôn cùng
quan tài.

Trong lễ dâng cơm thiết linh sàng của người gồm lễ vật có một nải
chuối, một gói kẹo, bốn chiếc chén, bát, một đĩa thịt, một con gà mài đẻ đã
thịt chín, một đĩa xôi.

Thầy tào lấy một cái đèn dầu đặt lên phía trước đầu chết quan tài. Trên
bàn vong đặt một bát cơm đầy cắm đôi đũa bông kẹp một quả trứng ở giữa,
một bát gạo hay một khúc thân cây chuối để cắm hương, một bài vị thiết kế
đơn giản, làm bằng một thanh tre dán, giấy vàng hình chữ nhật hay làm bằng
nan tre bẻ khung dán giấy cao khoảng 40 cm làm bằng một dải vải vàng treo
trên cành tre đặt trên đầu áo quan.

Trên đầu quan tài thường đặt có hai chữ phúc lộc hay hai câu thơ viết
bằng chữ Hán: Bóng hạc xe mây về cõi phật.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
53


2.5.6. Lễ dâng cơm (sậu chậu, sậu ngài)
Bữa cơm đầu tiên còn gọi là lễ tế đầu, lễ vật có thủ lợn hay cả con lợn,
mâm xôi, bánh dầy, gà đã thịt, để sống hoặc luộc, một bát thịt, một bát gạo để
cắm hương, 3 chén rượu, gạo nếp, gạo tẻ bầy trước quan tài (dưới chân người
chết), con cháu quỳ xung quanh quan tài, thầy tào ngồi trước toàn thể gia
quyến cúng bài mời cơm.
Bữa tiếp theo, lễ vật chỉ có cơm, canh, thịt gà hay thịt lợn, rượu, trà, mỗi
thứ một chén và đôi đũa đặt lên chiếc bàn con đặt phía quan tài, thắp hương
mời linh hồn về ăn.
2.5.7. Tục thắp đèn (hất tưng)
Quy trình thực hiện nghi lễ thắp đèn vào đầu hôm của cả ngày thứ nhất
quy trình làm ma 3 ngày, nhằm mục đích cấp đèn khai lộ cho người chết thấy
đường đi về thế giới tổ tiê n.
Sau đó, con cái người quá cố đứng dậy đi vòng quanh quan tài, người đi
đầu là con trai theo thứ tự từ cả đến út, các con dâu và con gái đi ngược chiều
với các con trai, vừa đi vừa nhảy hất tâng, mỗi lần nhảy, tiếng nhạc thanh la
lại thổi lên theo nhịp 3,4. Một thầy phụ ngồi trước bàn thánh khấn, đọc tên
từng con cháu.
Các đèn biểu trưng cho linh hồn trên quan tài phải luôn cháy nhỏ ngọn
lửa, tuyệt đối không để ngọn đèn hồn chủ (ở đầu người chết) tắt vì như vậy
người chết sẽ không siêu thoát được.
Đèn chủ tang là nến đại, con trai phải túc trực không được để tắt, cháy
hết phải thay cây mới cho đến lúc ra ma hạ huyệt mang chôn đi cùng quan tài.
2.5.8. Tục trao nhà táng "cứp slườn"
Nhà tang là một căn nhà khung bằng tre nứa, trang trí cầu kì bằng giấy
màu với các hoạ tiết khác nhau để chụp lên quan tài trong tang lễ. Ngay từ khi
có người chết, những người được cử làm nhà tang đã phải hết sức khẩn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
54


trương tới nhà tang chủ, đo kích thước áo quan, hoàn thành khung xương,
chuyển lên nhà sàn, hoặc chuyển vào sân hoàn thiện cách dán giấy màu trang
trí biểu trưng cho tín ngưỡng người Nùng, vẽ mái ngói, dán tường hoa.....
Lúc lễ trao nhà táng thì trưởng tộc hoặc chú bác trong nhà thường lấy
một tấm vải sạch che toàn bộ bàn thờ tổ tiên lại, vì theo quan niệm “tổ tiên” là
người chết đã lên mường trời sống. Người mới chết nằm trong quan tài còn là
ma, còn phải tế lễ mới lên được trời để thành tiên. Tấm ngăn cách bằng tấm
vải này để giữ lấy phần thiêng liêng của tổ tiên.
2.5.9. Tục chọn đất đào huyệt
Đồng bào Nùng quan niệm: mộ phần rất quan trọng, có thể làm cho con
cháu phát đạt, cũng có thể làm lụi bại huyết thống.
Chọn khu đất để mai táng thường nhờ thầy tào tìm kiếm trên cơ sở của
thuật phong thủy, nghĩa là hướng đất phải căn cứ vào hướng gió lành và mạch
đất để thi thể nhận được sự mát mẻ.
Khi chọn đất đào huyệt, thầy tào phải dựa vào tuổi tác người chết kết
hợp với sách phong thuỷ để tìm hướng tốt, điều chỉnh được tam sát. Sau đó là
đến nghi thức chọn đất. Người con trai cả cho bài vị vào ôm trong vạt áo, anh
em trong nhà bưng một chiếc sàng đựng lễ vật đến khu huyệt đường. Đến nơi,
con cháu đặt sàn lễ vật xuống: thủ lợn, một con gà, 1 đĩa xôi, một ống gạo,
rượu, vàng hương, 1 đến 3 chiếc chén, thầy tào lấy sách xem hướng rồi khấn
xin thần thổ địa cho đào huyệt. Sự đồng ý của thần linh hiển thị bằng cách
gieo qủe âm dương, khi nào “tức cao đảy” (xin được quẻ) thầy lấy qủe cắm
mốc và giao cho chùm phường đóng cọc. Trùm trưởng hàng phường hoá vàng
xong xong quay về gõ trống, từ đó vòng quanh áo quan, con trai cả đặt b ản
mệnh vào chỗ cũ, còn tổ ty nguyệt ở lại đào huyệt.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
55


2.5.10. Lễ tế minh tinh
Lễ tế minh tinh còn được gọi là lễ tế “tẻ cái” của các con gái lễ tế cây
tiền, cây bạc (co xèn, co ngần). Trong lễ tế minh tinh, lễ vật tế gồm có gà, một
con lợn mổ banh bụng, đầu vắt mỡ chài, cắm một con dao, một mâm lục phủ
ngũ tạng, một bát cơm, một đến ba mâm bánh dầy, một mâm bánh bỏng, một
mâm bánh ngọt gạo, rượu, (rượu rót vào ba đến bốn chén rượu), cây minh tinh
và các cây vàng, cây tiền, cây bạc, mỗi người con gái phải s ắm cho cha mẹ
một hòm tủ bằng giấy trong đó chứa đủ đựng các loại vật dụng trang phục cho
cuộc sống hàng ngày như vải vóc, quần áo nồi niêu, xong chảo bằng giấy để
cha mẹ mang về thế giới bên kia.
Quy trình tế lễ minh tinh ở các nhóm Nùng đều không phải d o nhóm
thầy chủ trì tang lễ thực hiện, mà do một đoàn thầy khác được các con gái
mời đến đám nhận, gọi là đoàn thầy khách.
Khi các con gái mang lễ vật đến, cả đoàn thầy khách và các cô con gái
đều phải đứng chờ ngoài sân, chưa được phép lên nhà. Muốn được vào nhà để
dâng tặng cây minh tinh, đoàn thầy khách đại diện cho các con gái đi đến cầu
thang ra ma nổi chiêng, thanh la, nhẩy múa với những lá cờ trong tay, vừa
nhảy, vừa hét xin vào nhà. Nội dung bài hát đối với đoàn thầy khách như sau:
Tào chủ tóp si
Kinh lao sén sưng
Lèn vì sé sưng
Kinh lao sén sưng
Dảo say dảo ni
Kinh lay cháy lay
Dảo nàm dáo phú
Di phục sang thính ly
Làng phàn sán khai dáo say dảo ly


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
56


Chính chay lạy phai.
Dịch nghĩa:
Kính lão tiên sư
Liệt vị tiên sư
Kính lão tiên sư
Hiếu tế hiếu nữ
Kính lễ đến tế.
Khi nghi lễ tiến hành, một người con rể đại diện cùng thầy khách vào
thắp hương tại bàn thờ thánh, khấn xin cho cha mẹ xuất hồn ra nhận cây minh
tinh, do các con gái dâng tặng, các thầy chủ cho anh ta làm lễ bên bàn thờ
thánh rồi khấn mở đường cho anh ta sang bên bàn thờ của người quá cố làm
lễ tế, nội dung bài khấn cụ thể:
Tào chử tóp, tào chảy xuồng
Dáo nam dáo sli, chí linh vì sến khới, kì phục sến khấu sli
Lìn khờ táo thàng li pù cam tang
Lầm khờ táo thàng, li pu cám tang
Sỉnh tà cong kinh lay phang thình
Chíp nhận phang thình, sang thành kính sinh
Dáo nam dao ni, dáo slin, dáo ngoái lang phàng sang khai
Dáo nam dáo ni di phụng sang thỉnh ly
Dịch nghĩa:
Hiếu phụ hiếu nam
Đều lắng tai nghe
Dãn đường cho khách
Hai bên tản ra
Con gái con rể
Chính lễ tê bái


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
57


Nghi lễ cho phép hồn xuất sang hồi kết thúc, thầy tào chủ làm lễ chuyển
giao cây “phàn xù” “ tào phan” và bài vị cho đoàn thầy khách tế minh tinh.
Khi được thầy chủ giao quyền, thầy khách rước bài vị của người quá cố
ra sân để làm lễ, các con gái, con rể ngồi quỳ trước cây minh tinh. Thầy khách
cầm cành phan khấn mời cha mẹ về nhận lễ, các con lần luợt tế rượu 3 lần
mời vong linh bố mẹ về ăn ăn cơm trong tiến nhạc chuông, thanh la nhịp 3,4
2.5.11. Tục trao của cải (tế lục páo và tế ly tàng)
Đêm cuối, thầy tào làm một lễ tế thịnh soạn. Đây chính là nghi lễ chia
của cải, nhà ở, đất đai cho người chết nhận sử dụng, tiếp tục làm ăn sinh sống
ở thế giới bên kia và phủ hộ cho gia đình.
Lễ vật gồm một con lợn sống đã được làm sạch, đầu lợn phủ lá mỡ chài,
cắm một con dao nhọn trên gáy, một mâm bánh dầy, một thúng gạo tẻ,1 đến 2
lít rượu trắng là một ít tiền lẻ, có nơi còn một mâm cơm cùng mâm gà vịt đã
luộc chín.
2.5.12. Tục đưa ma "ọc tang"
Tục đưa ma (đưa vong) của đồng bào Nùng thường diễn ra vào lúc sáng
sớm. Trước giờ đưa ma, con cháu, họ hàng tập trung đông đủ trước linh cữu.
Thầy tào làm phép quét nhà tiễn linh vong hồn người chết, rồi xuất ngựa hoặc
xuất kiệu cho cõng hình nhân (tượng trưng cho người cõng linh hồn người
chết về mừng trời) giao cho con cháu mang ra sân chuẩn bị hoá, những con
cháu nào có tuổi kị với tuổi người mất phải tránh đi, khi nào chôn xong mới
được xuất hiện.
Đến giờ xuất vong, thầy tào làm lễ trải dài vải trắng từ quan tài đến bàn
thờ thánh để tế lễ, xin phép đưa hồn cho người chết đi. Con trai trưởng thay
mặt cho gia đình hoặc thầy phụ buộc một dây vải trắng gói bài vị bên trong,
vòng dấu nhân qua lưng, thắt trước ngực thầy tượng trưng cho chiếc địu cõng
hồn người mất sang thế giới bên kia.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
58


Thầy niệm chú vào chiếc thuổng và bó đuốc, dùng thuổng xỏ vào quai
dậu, lấy con gà, bát hương trên nắp quan tài thả vào dậu, giao cho người con
gái gánh đi trước để dọn đường ra huyệt và một người con gái khác bỏ tiền
vàng mã vào vạt áo cùng đi, vừa đi vừa sắc để t ống khứ ma quỷ bám vào làm
trì nặng quan tài, đồng thời để ngăn linh vong hết đường về với tổ tiên.
Sau đó, thầy tào dải một vải trắng lót đường từ bàn thờ thánh ra cửa
trình báo cho các quan âm, tổ sư, xin phép đưa linh hồn người chết về với tổ
tiên, biểu đạt ý là hồn người chết được bảo vệ trong sự hộ tống của các âm
binh. Các con trai, con rể quỳ dọc theo dải vải trắng quay vào bàn cúng. Thầy
tào cầm cành phan làm phép rồi chụm đầu cùng con cái người quá cố rồi trở
lại bàn thờ thánh tụng kinh xin phép â m binh trợ giúp che trở cho linh hồn.
Khi thầy làm lễ xong, các con trai con rể mới được xoay người quay mặt ra
ngoài, cúi quỳ xuống tiến dần theo dải vải cõng linh hồn ra ngoài cửa.
Các anh em, con cháu bám vào dải vải đi vòng quanh quan tài 3 lượt,
một vòng, con cháu cúi lạy một lần. Thầy tào thổi đèn, người con gái cả lại
thắp lại với ý níu giữ, không muốn rời xa cha mẹ, rồi lấy bàn mụ léo vào lắp
quan tài (nếu cả bố mẹ đã mất) hai thầy đi quanh quan tài 3 vòng và thổi tắt 4
đèn trên 4 góc quan tài, sau đó, ông thầy rót rượu cho đội khiêng, uống rượu
xong người hàng phương lấy tiền cài lên thanh ngang quan tài để hồi lộc. Bên
ngoài tiếng trống vang nổi lên, con cháu vội vàng thu dải vải trắng, người
hàng phường cùng nhấc quan tải ra cửa, trước khi quay quan tài một vòng,
cho chân đi trước, khiêng ra khỏi nhà.
Sau đó, người con trai nằm thủ phục dưới đất tượng trưng bắc cầu 3 lượt
(hai lần trước quay người hướng mặt về nhà, một lần quay vào, một lần quay
mình hướng mặt ra hướng mộ) sau mỗi lượt đứng đây, con trai cả phải đi
thẳng dưới sự hỗ trợ của thầy, không được ngoái đầu lại, vừa đi vừa vãi tiền
giấy dọc đường, dẫn linh hồn đi, không về quấy quả gia đình


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
59


Đến chỗ chồng đón, người hàng phường phải qua ba vòng sao cho chân
người chết hướng về phía mộ để người chết quay vào nhìn lại nhà mình lần
cuối cùng, người nhà phường chụp nhà táng lên đòn khiêng, rồi lấy hai dải
vải, một đen, một trắng bắt chéo qua nóc nhà táng buộc chặt xuống hai thanh
ngang của đòn khiêng.
Các chàng rể mang các loại cây tiền, câ y vàng bạc ra nghĩa địa, đứng
cạnh huyệt xong chờ ở đó, các cô con gái mang dậu, vại, bát, hương đặt cạnh
huyệt rồi đi lấp kín, vì sợ linh hồn tản mạn do xúc động dễ bị tổn hại.
2.5.13. Tục tế thổ thần hạ huyệt "tể san tỳ ly"
Trước khi hạ huyệt, người Nùng cũng như các dân tộc khác đều phải làm
lễ cúng thổ thần, mời thổ thần ăn cỗ xin phép được an táng người chết tại địa
điểm này, sau đó giao nhà của người chết cho ông thần thổ địa cai quản để
người chết về với tổ tiên có nơi ăn chốn ở, hạ huyệt xong thườn g làm lễ tế.
Sau khi hạ huyệt tang quyến cùng thầy làm lễ hoá sớ, nhà táng, linh sa,
tiền giấy, vàng mã, tư trang, vật dụng để người chết đem vật dụng mà người
chết đem theo về trời, thầy làm lễ tế thổ thần bàn giao linh hồn cho thổ địa,
nhờ thần cho linh hồn về với tổ tiên.
Trong nghi lễ tế thổ thần hạ huyệt của người Nùng Phàn Slình ở Đồng
Hỷ, thầy chủ và trưởng nam hoặc một cháu nội trong gia đình phải xuống
huyệt làm lễ, con cháu đưa lễ vật xuống huyệt mộ, thầy thắp hương tế tổ thần
xin cho phép được hạ huyệt, sau đó thầy cởi bỏ bài vị giao cho người con trai
cả hay người cháu và hoá tờ sớ.
2.5.14. Tục hồi phúc lộc "thói phúc thói lộc".
Đồng bào Nùng quan niệm tang ma là chuyện chẳng lành, không vui, là
cái hạn lớn mà mỗi gia đình phải chịu, nếu không là m lễ cẩn thận, hoạ sẽ
nhiều hơn. Vì vậy trong nghi lễ đưa tang, hạ huyệt dân tộc Nùng đã kết hợp




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
60


làm lễ lập bàn thờ tự với lễ hồi lộc, cầu yên cho gia súc. Một số nhóm Nùng
còn dành riêng một nghi lễ cho cho việc lập bàn vong hồi lộc cầu yên lành.
Ngày nay nghi lễ hồi phúc lộc và cầu yên gia súc rất hiếm. Thông
thường khi con cháu đi đưa ma, đều có một thầy tào ở lại khấn tắt đèn xuất,
làm phép lấy đèn lộc rước lên bàn thờ người chết bằng cách dùng giấy bản đốt
lửa, làm phép thổi nước vào dưới chỗ đặt quan tài trong quá trình tang ma, úp
một cái rế nồi để giữ lửa, lấy lửa đèn cho con cháu mang lên bàn thờ mới lập
cho người chết khi làm lễ cắt duyên để thờ phụng, giải thích cho việc một hồn
vẫn tiếp tục ở lại trên bàn thờ để trông con trông cháu.
Các buổi sáng trong ba ngày đầu mới chôn, con cháu mang theo xôi gà,
thịt, rượu, tiền vàng ra mộ cúng, khấn mời cơm. Trong suốt 24 tháng, con
cháu phải cúng cơm mỗi ngày hai bữa cơm đạm bạc để chăm sóc cho linh hồn
được đầu thai khoẻ mạnh.
2.5.15. Tục để tang
Để tỏ sự buồn rầu, xúc động của người sống đối với người chết, người
Nùng đội khăn trắng và lập bàn thờ, thờ riêng vong hồn người chết trong nhà
trong 3 năm. Người bậc trên không được để tang người bậc dưới, chồng chỉ
chờ tang vợ trong 1 năm, nhưng vợ phải chờ tang chồng trong 3 năm, con
cháu đích tôn đều để tang trong 3 năm, kiêng cắt tóc khi chưa làm chay 100
ngày, các cháu họ xa chỉ để tang 1 năm.
Theo thông lệ, sau khi an táng xong, con cái phải làm lễ dựng lều, chuộc
hồn cho người quá cố và tục cúng 40 ngày hoặc 49 ngày, 100 ngày, 1 năm và
cúng mãn tang.
- Lễ dựng lều "khay tu mả"
Lễ này được tiến hành sau chôn cất từ 1-3 ngày, thông thường các con
trai, con gái có một mâm lễ gồm: một con gà luộc, hoặc thủ lợn hoặc một
miếng thịt) 2 bát cơm, bánh để thắp hương tại mộ, mời cơm người chết. Xong


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
61


một tuần hương, con cháu chẻ cây, để đựng lều che mộ hoặc lợp mái bằng cỏ
gianh, xung quanh đóng cọc rào bằng phên che hay nứa. Việc dựng lều, rào
mộ là nhằm mục đích để ngựa trời không dẫm đạp lên phần đất này đồng thời
để che mưa che nắng, giữ cho mộ không bị lún sụt.
- Tục cúng bốn mươi ngày hay bốn chín ngày
Từ quan niệm: Từ khi chôn cất bốn chín ngày, hồn người chết vẫn quanh
quẩn và có cuộc sống bình thường như còn sống, thi thoảng hồn đến thăm chỗ
nằm và tìm lại những tư trang chưa mang đi hết.
Hết bốn mươi ngày, đồng bào làm lễ gọi là lễ đầy tháng, nhằm mục đích,
giải toả hết phần trời đất, vũ trũ đã hình thành con người bao gồm cả thể xác
và linh hồn để thể xác mát mẻ tiêu tán, linh hồn sớm đầu thai sang kiếp khác .
Với quan niệm như vậy, những tang chủ cận thận thường tới mời thầy tào đến
gia đình làm lễ. Trước khi đi, thầy tào phải cúng với tổ tiên để tổ tiên biết và
đi cùng. Lễ vật cúng gồm: 3 con gà luộc, một mâm xôi, rượu, 3 bát gạo để
cắm hương và một số tờ ghi tên các con cháu trong gia đình dâng lễ lên thiên
đích để chuộc hồn người chết.
Con cháu trong gia đình phải mặc đồ tang để chịu lễ, con trai quỳ con gái
quỳ con dâu ngồi, khóc than kể lể công trạng sau đó hoá vàng tiễn biệt người
quá cố. Tang chủ mời họ hàng, người thân đến dự lễ, ăn cơm cùng uống rượu
tưởng nhớ người quá cố.
- Lễ cúng một 100 ngày "pác dần rè ăn "
Trong suốt quãng thời gian 100 ngày. Sau khi chôn, các gia đình Nùng
thường dâng cơm cúng người quá cố ngày hai lần vào bữa sáng và bữa tối, gia
đình có thức ăn gì dâng cúng thức ăn đó, cho nên cũng có lúc cơm thịt cá có
khi chỉ có một bát cơm canh báo hiệu. Vì họ quan niệm, thời gian này linh
hồn mới đầu thai còn bé nhỏ chưa thể tự kiếm ăn được .




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
62


Lễ vật cúng 100 ngày bao gồm: 3 con gà luộc, 1 mâm xôi, rượu, 3 bát để
cắm hương và một tờ sớ ghi tên các con cháu trong gia đình dâng lễ lên thiên
đình và người chết. Thông thường trong lễ này, đồng bào Nùng không mời thầy
tào thủ tục làm lễ là do một người có tiền, có vai vế trong gia đình thắp hươn g
cầu khiến với tổ tiên và mời tổ tiên, người quá cố về ăn cơm cùng con cháu.
- Lễ cúng một năm "khúp bẩy"
Lễ cúng này tiến hành lễ tang không nhất thiết phải một năm vào đúng
ngày mất như người binh, mà trong một năm ấy, vào rằm tháng bảy, người ta
có thể mời thầy tào về làm lễ cúng chuộc hồn người quá cố để cho con cháu
thờ phụng, dâng quần áo giấy, lễ vật cúng gà (xôi), rượu, gạo và tớ sớ ghi tên
các con cháu trong gia đình. Đồng bào quan niệm, lễ cúng này còn để chúc
cho linh hồn đầu thai đã được một năm, đã biết đi khá chắc chắn, không lo
bệnh tật, cho nên, người ta bỏ tang cho những người chỉ để tang 1 năm theo
tục lệ như anh, em ruột, anh chị em kết nghĩa, con rể.
- Lễ cúng mãn tang
Mãn tang là lễ cúng cuối cùng trong gia đình làm ma người ta còn gọi
làm ma hay cúng chay. Sau nghi lễ này, các con chấm dứt thời kì chịu tang và
phần hồn người quá cố được nhâp vào thờ ở bàn thờ tổ tiên. Theo quan niệm
của đồng bào Nùng lễ cúng này tiến hành khi đứa trẻ đầu thai đã lớn được ba
tuổi, tự biết đi làm ăn được, con cái không phải chăm con nữa. Lễ này phải
bắt buộc mời thầy cúng đến làm. Khi đi thầy phải cúng và mời tổ sư đi cùng.
Thày tào lập dàn cúng tại nhà tang chủ lễ vật bao gồm: 3 con gà, rượu,
sôi, bánh trái, vàng mã, một nhà táng và các đồ vàng mã khác (tủ, bàn ghế, ti
vi, tủ lạnh...), hòm để quần áo. Trên bàn có 3 bát gạo để cắm hương.
Lúc này thầy tào viết một tờ sớ ghi tên con cháu chu cấp cho người quá
cố. Cúng lễ xong thì mang nhà tang và toàn bộ vàng mã ra ngoài hoá.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
63


Sau đó thầy tào dồn bài vị lên bàn thờ tổ tiên để thờ phụng. Quần áo
tang có thể đem đốt đi, hoặc nếu muốn giữ lại thì phải hơ qua lửa hoặc nhuộm
qua một lần nước chàm mới, sau đó mới được dùng.
Sau khi thắp hương xong, có thể ngồi ăn cơm ngay tại mộ (gọi là thụ lộc).
Ngày 3.3 đối với đồng bào Nùng có một ý đặc biệt không chỉ là thể hiện
tâm linh đối với người đã khuất mà còn là một ngày tết, cho dù con cháu có ở
xa cũng cố gắng sắp xếp công việc về đi tảo mộ, đây thực sự là một nét đẹp
truyền thống của người Nùng nói riêng và một số dân tộc khác như người Tày.
Khi thầy tào ra về, gia chủ gửi cho thầy 1 con gà, một ít bánh dày, 1 đĩa
xôi, tiền cho vào trong túi gạo nhỏ trả lễ thầy.
- Lễ quất mả (cải táng)
Lễ quật mả thường được tiến hành sau khi chốn ít nhất từ 3 đến 5 năm
trở ra, nhằm mục đích chuyển thi hài sang đất mới tốt hơn, hài cốt, được
chuyển từ quan tài gỗ sang chum hay tiểu bằng sành.
Khi làm lễ bốc mộ, đồng bào nhờ thầy cúng xem ngày giờ tốt, không
khắc với người tuổi chết, xem số các con trai, con gái ai hợp số, xem tuổi hợp,
nếu không thì quan âm phủ xuất hành trong khi đào.
Trước khi ra mộ, người Nùng cũng làm lễ cáo tổ xin phép và bảo với tổ
tiên công việc cải tang sẽ làm vào ngày gi nào? cải táng hộ ai? ở đâu?
Vào đúng giờ đã xem, người Nùng mang lễ vật ra làm ha i lễ tế: đại an và lễ
chay, sau khi cầu khấn thổ thần nơi đào huyệt cũ và mới, xin phép cải tang,
nhập đất mới, nhóm hộ đào huyệt mới tiến hành công việc đào mộ cũ, mới
nắp quan tài nhặt xương rửa sạch bằng nước lá đào, rửa rượu, hun hương trầm
khô và cho vào tiểu, hạ mộ và đắp mộ. Sau khi cha mẹ có mả mới (nhà mới)
con cháu thắp nén nhan khóc gọi người quá cố và thắp hương các ngôi mộ
xung quanh




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
64


Tóm lại: Đám tang của người Nùng không chỉ mang tính chất tôn giáo
tín ngưỡng mà điều nổi bật vẫn là quan niệm về đạo hiếu, việc đến công, báo
đúc vẫn là điểm chủ yếu xuyên suất từ đầu đến cuối của một đám ma. Ngày
nay với chủ trương thực hiện nếp sống văn hoá mới, mặc dù những lễ nghi đó
về cơ bản vẫn được duy trì, song nhiều nhân dân, nhiều thủ tục, nghi lễ rườm
rà đã giảm, bớt không còn nặng nề như trước.

2.6. Những biến đổi ngày nay

Những năm gần đây, nền kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện Đồng Hỷ đã
có rất nhiều sự thay đổi, mặc dù sự thay đổi ở đây không phải nhanh như sự
phát triển của các đô thị, nhưng những biến đổi đó cũng đã đem lại một bộ
mặt mới cho đồng bào Nùng ở huyện Đồng Hỷ, về mặt kinh tế, đặc biệt là về
mặt nhận thức.

Trước hết là về mặt hôn nhân, trước đây hôn nhân đối với gia đình khá
giả có thể lo được, nhưng đối với gia đình nghèo, nó đã trở thành gánh nặng
bởi tập tục thách cưới rất cao, chính những nghi lễ rườm rà đó đã làm cho
nhiều gia đình phải lao đao sau khi cưới vợ cho con trai. Ngày nay việc cưới
xin của đồng bào Nùng ở huyện Đồng Hỷ cũng đã đơn giản hơn rất nhiều, tục
thách cưới cao hầu như không còn, tuỳ từng hoàn cảnh gia đình mà làm đám
cưới cho phù hợp. Sự thay đổi này t hể hiện thông qua việc cỗ bàn; thực đơn
của đám cưới ngoài những món truyền thống như, thịt lợn, xôi, đặc biệt là
rượu thì ngày nay rất nhiều gia đình đã thêm vào thực đơn nhưng món ăn cầu
kỳ hơn. Về mặc; cô dâu, chú rể không còn mặc những bộ trang phục truyền
thống của dân tộc mình mà thay bằng những bộ váy áo hiện đại ngày nay.
Trong đám cưới cũng chỉ còn một vài người già là vẫn còn sử dụng trang
phục truyền thống, đây là nét khác biệt so với những đám cưới người Nùng ở
Lạng Sơn.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
65


Tuy nhiên hôn nhân vẫn được coi trọng hàng đầu, bởi nó thể hiện sự
quan tâm của cha mẹ đối với cuộc sống của con cái được thể hiện rõ qua câu thơ:

Thứ nhất cưới vợ

Thứ hai làm nhà

Thứ ba tậu ruộng

Như vậy việc tổ chức đám cưới văn minh, lịch sự giữ gìn những thuần
phong mỹ tục là việc làm thiết thực bảo lưu bản sắc văn hoá dân tộc, góp phần
xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc.

Bên cạnh hôn nhân, thì ma chay cũng có sự biến đổi đáng kể. Trước đây
xuất phát từ quan niệm phải có hiếu với cha mẹ và do trình độ nhận thức còn
hạn chế, lạc hậu, cho nên ma chay trở thành một gánh nặng với mỗi gia đình
đặc biệt là người nghèo, có những đám ma có thể kéo dài tớ i 7 ngày, thậm chí
10 ngày, trong khoảng thời gian đó toàn bộ con cháu phải túc trực bên cạnh
linh cữu, chưa kể họ hàng và làng xóm phải phân công góp sức cho đám tang.
Ngày nay, ma chay đã giảm thiểu những nghi lễ rườm rà, được tổ chức đơn
giản gọn nhẹ nhưng vẫn đầy đủ thủ tục và ý nghĩa.

Tiểu kết: Phong tục tập quán trong chu kỳ đời người của người Nùng thì
rất đa dạng và phong phú, nhưng có lẽ đặc trưng nhất là, hôn nhân, sinh đẻ,
sinh nhật và đặc biệt là ma chay, sở dĩ nói như vậy bởi nghi lễ t ang gia của
người Nùng mang cả yếu tố hạn chế như, thủ tục rườm rà, nhiều kiêng kỵ rất
thiếu cơ sở khoa học mang tính chất mê tín dị đoan... nhưng mặt khác tang ma
của đồng bào Nùng ở Đồng Hỷ cũng có nhưng nét tích cực thể hiện tinh thần
cộng đồng làng bản, cùng quan tâm và giúp đỡ nhau khi khó khăn hoạn nạn,
quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, quan hệ lưu luyến giữa kẻ ở và
người đi.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
66


Hiện nay, trước nhiều cuộc vận động chính trị lớn của Đảng và nhà nước
trên nhiều lĩnh vực, các hủ tục lạc hậu dần dần đã bị xoá bỏ: trong cưới xin đã
không còn thách cưới cao, những kiêng kỵ thiếu cơ sở khoa học trong sinh đẻ
đã mất dần đi, rồi những nguyên tắc cứng nhắc trong quan hệ gia đình đã
được thay thế bằng quan hệ bình đẳng. Như vậy đời sống tinh thần của đồ ng
bào Nùng ở huyện Đồng Hỷ ngày càng được đổi mới và cải thiện.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
67


CHƢƠNG 3
TÍN NGƢỠNG TÔN GIÁO CỦA NGƢỜI NÙNG Ở ĐỒNG HỶ


3.1. Quan niệm chung về tín ngƣỡng tôn giáo
Trong đời sống và văn hoá của mỗi dân tộc trên thế giới có nhiều phong
tục tập quán khác, dựa vào đó chúng ta dễ dàng tìm thấy được đặc thù văn hoá
của từng dân tộc, tập tục của mỗi dân tộc luôn gắn liền với những tín ngưỡng,
đó là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số
mọi người thừa nhận và làm theo.
Cụm từ "tín ngưỡng", "tín" nghĩa là lòng tin, "ngưỡng" nghĩa là ngưỡng
vọng, là hướng theo một cái gì đó. Cùng với lòng tin, sự ngưỡng mộ của con
người vào một lực lượng siêu nhiên, siêu thần bí nào đấy, một lực lượng có
sức mạnh huyền ảo hoặc hư ảo, vô hình người ta gọi đó là thần thánh. Về thực
chất, tín ngưỡng là một bộ phận cấu thành của văn hoá dân gian. Mọi người
đều biết văn hoá dân gian là bộ phận cốt lõi của văn hoá dân tộc, nó được
hình thành rất sớm trong lịch sử đời sống dân tộc, nó có sức mạnh dẻo dai và
mãnh liệt, nó là yếu tố cực kỳ quan trọng tạo nên bản sắc, bản lĩnh của văn
hoá dân tộc, nó vừa là yếu tố truyền thống giữ cho văn hoá dân tộc khỏi bị
biến dị, lai căng, khỏi bị đồng hoá với văn hoá bên ngoài, ngoại sinh.
Khái niệm tôn giáo bao gồm, toàn bộ quan niệm, ý thức tôn giáo, tình
cảm tôn giáo, hành vi hoạt động và tổ chức tôn giáo. Tín ngưỡng chỉ mang
hình thức tôn giáo khi ý thức con người phát triển đến trình độ tư duy trừu
tượng, có thể hình thành các biểu tượng như “đảng sáng thế”, “thế giới tâm
linh” xuất hiện tầng lớp người chuyên làm nghề tôn giáo, xuất hiện hệ thống
giáo lý, giáo luật, giáo lễ, hệ thống các nơi thờ cúng được tổ chức chặt chẽ.
Tôn giáo, tín ngưỡng là chỗ dựa tinh thần, là phần sâu lắng nhất, nó
thuộc về đời sống tâm linh của con người, cho nên nó là một bộ phận cực kỳ


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
68


quan trọng trong văn hoá tộc người. Mỗi khi gặp nhiều điều rủi ro bất hạnh
trong cuộc sống, muốn thoát khỏi mọi điều đau khổ trên trần gian, thì con
người lại gửi gắm niềm tin vào lực lượng siêu nhiên hư ảo và cầu xin ở nơi
thờ cúng các vị thánh thần. Cũng vì lẽ đó mà tín ngưỡng tồn tại trong nhân
dân rất vững chắc và lâu bền, ngay cả khi những điều kiện sản sinh ra nó đã
thay đổi. Nó thích nghi với những điều kiện mới chứ không hoàn toàn mất đi.
Tuy nhiên, hiện nay những hình thái tín ngưỡng sơ khai đã mai một đi, chỉ
còn một vài hình thái được duy trì, nhưng đã có biến dạng để phù hợp với
hoàn cảnh điều kiện xã hội mới.
Như vậy, tôn giáo, tín ngưỡng là chỗ dựa tinh thần cho con người khi
chưa làm chủ được tự nhiên, chưa chủ động trước những biến cố của cuộc
sống của lịch sử.
Đối với đồng bào Nùng ở Đồng Hỷ - Thái Nguyên, tôn giáo, tín ngưỡng
là một nhu cầu cần thiết trong đời sống hàng ngày của con người.
3.2. Vật linh giáo
- Quan niệm về các loại ma (Tàn dư ma thuật và ma người sống).
Các dân tộc ở phía bắc Việt Nam thường có chung một quan niệm. Về
vạn vật hữu linh, mọi vật đều có linh hồn. Người Nùng gọi là "phi" (ma). Ma
có hai loại ma lành và ma dữ. Ma lành bảo vệ cuộc sống cho con người gồm
ma tổ tiên, ma nhà, ma tam thanh, tam bảo... ma dữ là các loại ma chuyên gây
hại cho con người, phá hoại mùa màng, gia súc như ma núi, ma núi, ma rừng,
ma suối, ma người chết trẻ, ma người chết bất tắc kỳ tử...
Ma lành thường phù hộ cho con người, tuy nhiên nếu các loại ma này bị
bỏ đói, hay người sống làm trái lệnh, thì sẽ quở trách con người, gây ốm đau,
dịch bệnh, lũ lụt, mất mùa. Một số loại ma núi, ma sông, ma đồng ruộng, khe,
suối bình thường không làm hại ai, nhưng nếu hồn người sa vào đó sẽ bị bắt,




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
69


hoặc chặt phá cây sẽ bị phạt, cần phải cầu cúng. Các loại ma dữ thường trú
ngự xung quanh con người, săn sàng gây hại cho cuộc sống bất cứ lúc nào...
Với người Nùng ở Đồng Hỷ, ma "phi" là một danh từ mang ý nghĩa rộng
để chỉ tất cả các thần thánh, ma quỷ có mặt trong 3 t ầng vũ trụ. Trên trời có
các loại ma: trời, thiên lôi, then, bụt, tiên, thần, tổ tiên..., ở trần gian có phiđin
(ma đất), phi pá (ma rừng), phi pá (ma rừng), phi slấn (ma thổ công), ma
thành hoàng..., ở dưới đất, dưới nước có các loại ma cùng sinh sống tro ng
mường ma (ma rừng) như: Long Vương, thuồng luồng, ma người chết
thường, ma người chết bất tắc kỳ tử, các loại quỷ. Bên cạnh đó còn có các loại
ma, quỷ ám vào người đang sống gọi là phi đíp (ma sống), ma gà gọi (phi
cáy) ma độc đuôi...
Trong nhà có ma tổ tiên ba đời (phipấupư), thần hộ mệnh (nam tào, bắc
đẩu, táo quân), ma hàm (ngôi vị này bao gồm phật, pháp, tăng), nếu trong nhà
có người làm nghề cúng bái, ma bà Mụ (Vương hoa thánh Mẫu), ma bếp lửa
(phi pinh nhầy), ma phù hộ gia súc ở sân sàn.
Bên ngoài nhà thì có các ma, thần; thổ công, thần nông, ma sông, ma
rừng (phi pa), phi đin (ma đất), ma đá... thổ công được hình dung như một
ông già cai quản đất, có râu tóc bạc phơ, cưỡi ngựa trắng được thờ ở miếu thổ
công đầu bản, để bảo vệ bản làng, không cho ma quỷ, ác thú xâm nhập, hoành
hành, thần Nông là vị thần chuyên coi việc đồng áng, rất nguyên tắc và
nghiêm khắc, được thờ ở vạt rừng có nhiều cây cổ thụ có mạch nước ngầm
chảy qua.
Người Nùng tin những hòn đá lớn đứng chơ vơ, nứt đôi mặt phẳng như
tạo hoá, những tảng đá gần đường thâm nghiêm, có chữ đều có thần trú ngụ,
nếu trẻ em trong gia đình hay khóc đêm, ốm vặt thì ra cúng hòn đá, nhờ thần
giúp giữ vía cho đứa trẻ. Những cây cổ thụ như: cây ruối, cây si, cây đa gốc rễ




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
70


xù xì, tán lá sum xuê cũng có thể hộ mệnh cho hồn vía của con người, nên
dưới các gốc cây này, người Nùng thường dựng miếu thờ thổ công.
Người Nùng thường mời thầy cúng "phát hiện" con ma nào gây ra tai
hoạ thì cúng loại ma ấy để chữa bệnh hay cầu yên, giải hạn. Các loại ma tổ
tiên nếu không tổ chức tang ma theo đúng nghi lễ, không thờ cúng thường
xuyên, linh hồn không nơi nương tựa sẽ đi lang thang, một lúc nào đó cũng có
thể trở thành ma dữ, quay trở lại gây hại cho con cháu. Ma thường hại người
sống theo cách nhập hồn vào đó làm cho bị ốm hoặc gây ra cái chết bất tắc kỳ
tử. Nếu ai bị loại ma này làm hại, nhất thiết gia đình phải làm một mâm xôi
gà, mời thầy tào về cúng lễ, thì người đó sẽ không khỏi được. Xuất phát từ cơ
sở thực tại cuộc sống, từ những tín ngưỡng và niềm tin tôn giáo khác nhau,
các cư dân thế giới nói chung ở các tộc người ở Việt Nam nói riêng có những
q uan niệm về cõi sống và cõi chết về thế giới bên kia và linh hồn cũng
khác nhau.
Người Nùng cũng như nhiều tộc người khác ở Việt Nam đều quan niệm,
con người khi sống có hai phần, phần xác và phần hồn vía (tiếng Nùng gọi
chung là khoắn), phần xác là thực thể hiện hữu, nhìn thấy và cầm nắm được,
còn phần hồn thì không thể nhìn thấy được.
Đa số các nhóm Nùng đều cho rằng đàn ông có 3 hồn 7 vía đàn bà có 3
hồn 9 vía. Ba hồn là linh hồn cư ngụ trên 3 phần của cơ thể: đầu, hai vai; bảy
vía nằm ở khiếu trên cơ thể như: 2 mắt, 2 mũi, 2 tai và miệng, đàn bà có thêm
2 vía. Khi chết hồn quẩn quanh bên người sống và có sự phân chia thành 3
phần theo số phận, phần linh hồn sẽ được bay lên trời, bộ phận tâm hồn sẽ ở
lại tha ma với thể xác, bộ phần thần hồn sẽ nhập vào bàn thờ ở lại cùng con
cháu, khi nào mãn tang hồn mới đi tìm phần linh hồn đi trước.

Tuy nhiên ở các địa phương khác nhau, quan niêm hồn vía của các nhóm
Nùng cũng có nét khác biệt. Trong khi người Nùng ở Cao Bằng thì cho rằng,


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
71


con người có 12 vía ứng với 12 tháng, vía ẩn trong cái áo của người đã mặc
nó, còn hồn ở đỉnh đầu, thân và tứ chi, thì người Nùng ở Đồng Hỷ lại cho
rằng con người có 3 hồn, hồn chính trú ngụ ở đỉnh đầu hai hồn phụ ở hai bên
vai hoặc hai bên nách. Nếu hai hồn phụ đi khỏi cơ thể sẽ làm cho con người ta
ốm nặng "thập tử nhất sinh" có nghĩa là mười phần chết, một phần sống,
nhưng người ta vẫn có thể cầu cúng gọi hồn trở lại làm cho khỏi bệnh. Các
vía cư trú ở các hốc trên cơ thể rất quan trọng đối với sức khoẻ con người,
nhưng vía lìa ra khỏi xác vẫn không làm cho con người ta chết được, mà chỉ
có thể làm cho con người ta ốm yếu mà thôi.

Mặc dù những sự khác nhau đôi chút giữa các vùng miền, nhưng tựu
chung lại nhóm người Nùng đều thống nhất, con người sống được là nhờ phần
hồn vía gắn liền với thể xác, khi vía thất tán thì người ốm hoặc mất trí, vía
hồn rời khỏi xác hoàn toàn thì người sẽ chết. Hồn vía khi rời khỏi xác sẽ biến
thành linh hồn đi lang tha ng, nhưng vẫn ở bên cạnh những người đang sống,
nếu người chết thì hồn vía sẽ thoát khỏi thể xác vĩnh viễn người chết thì trở
thành hồn ma.

- Quan niệm của người Nùng về hồn và linh hồn

Xuất phát từ cơ sở thực tại cuộc sống, từ những tín ngưỡng và niềm tin
tôn giáo khác nhau, các cư dân thế giới nói chung ở các tộc người ở Việt Nam
nói riêng có những quan niệm về cõi sống và cõi chết về thế giới bên kia và
linh hồn cũng khác nhau.

Người Nùng cũng như nhiều tộc người khác ở Việt Nam đều quan niệm,
con người khi sống có hai phần, phần xác và phần hồn vía (tiếng Nùng gọi
chung là khoắn), phần xác là thực thể hiện hữu, nhìn thấy và cầm nắm được,
còn phần hồn thì không thể nhìn thấy được.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
72


Đa số các nhóm Nùng đều cho rằng đàn ông có 3 hồn 7 vía đàn bà có 3
hồn 9 vía. Ba hồn là linh hồn cư ngụ trên 3 phần của cơ thể: đầu, hai vai; bảy
vía nằm ở khiếu trên cơ thể như: 2 mắt, 2 mũi, 2 tai và miệng, đàn bà có thêm
2 vía. Khi chết hồn quẩn quanh bên người sống và có sự phân chia thành 3
phần theo số phận, phần linh hồn sẽ được bay lên trời, bộ phận tâm hồn sẽ ở
lại tha ma với thể xác, bộ phần thần hồn sẽ nhập vào bàn thờ ở lại cùng con
cháu, khi nào mãn tang hồn mới đi tìm phần linh hồn đi trước.

Tuy nhiên ở các địa phương khác nhau, quan niêm hồn vía của các nhóm
Nùng cũng có nét khác biệt. Trong khi người Nùng ở Cao Bằng thì cho rằng,
con người có 12 vía ứng với 12 tháng, vía ẩn trong cái áo của người đã mặc
nó, còn hồn ở đỉnh đầu, thân và tứ chi, thì người Nùng ở Đồng Hỷ lại cho
rằng con người có 3 hồn, hồn chinh t rú ngụ ở đỉnh đầu hai hồn phụ ở hai bên
vai hoặc hai bên nách. Nếu hai hồn phụ đi khỏi cơ thể sẽ làm cho con người ta
ốm nặng "thập tử nhất sinh" có nghĩa là mười phần chết, một phần sống,
nhưng người ta vẫn có thể cầu cúng gọi hồn trở lại làm cho khỏi bện h. Các
vía cư trú ở các hốc trên cơ thể rất quan trọng đối với sức khoẻ con người,
nhưng vía lìa ra khỏi xác vẫn không làm cho con người ta chết được, mà chỉ
có thể làm cho con người ta ốm yếu mà thôi.

Mặc dù những sự khác nhau đôi chút giữa các vùng miền, nhưng tựu
chung lại nhóm người Nùng đều thống nhất, con người sống được là nhờ phần
hồn vía gắn liền với thể xác, khi vía thất tán thì người ốm hoặc mất trí, vía
hồn rời khỏi xác hoàn toàn thì người sẽ chết. Hồn vía khi rời khỏi xác sẽ biến
thành linh hồn đi lang thang, nhưng vẫn ở bên cạnh những người đang sống,
nếu người chết thì hồn vía sẽ thoát khỏi thể xác vĩnh viễn người chết thì trở
thành hồn ma.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
73


3.3. Một số tục thờ cúng
3.3.1. Thờ cúng tổ tiên và các vị thần che trở gia đình
- Thờ cúng tổ tiên.
Tục thờ cúng tổ tiên là đạo hiếu của con cháu đối với ông bà, bố mẹ.
Người ta tin rằng linh hồn người đã mất luôn luôn ở trên bàn thờ tổ tiên để
được gần gũi con cái, để hàng ngày theo dõi và giúp đỡ phù hộ cho con cái
trong việc làm ăn, để củng cố mối quan hệ ruột thịt giữa những người cùng
huyết thống gia đình. Do vậy, tục thờ cúng tổ tiên là hình thức quan trọng
nhất trong đời sống tâm linh của người Nùng. Vì thế việc thờ cúng tổ tiên
được duy trì qua nhiều thế hệ trở thành cốt lõi của thuần phong mỹ tục. Trong
các gia đình Nùng, thường theo tộc hệ chín đời: từ bản thân người thờ cúng
lên đến đời thứ 4 (bố me, ông bà, cụ, kỵ), còn 4 đời ở thế hệ sau là con, cháu,
chắt, chút. Bốn đời trên mình được thờ chung trên bàn thờ tổ tiên. Nhưng
trong thực tế các gia đình đều chỉ cúng giỗ đến đời thứ ba là cha me, ông bà,
cụ. Từ đời thứ tư, thứ năm trở lên thì tổ tiên trở thành ma chăm nom nhà cửa,
được thờ ở bên ngoài cửa ra vào và đời thứ sáu, thứ bẩy là trở thành ma trông
coi gia súc, gia cầm, trước đây thờ ở dưới s àn nhà.
Đối với người Nùng ở Đồng Hỷ, nghi lễ thờ cúng tổ tiên được tiến hành
rất chu đáo, toàn diện trong tất cả các gia đình. Bàn thờ tổ tiên được đặt trang
trọng tại gian giữa (phần lớn đặt ở nửa phần gian phía trên trước tấm liếp
ngăn đôi giữa tấm liếp ngăn đôi phần trên và phần giữa gian nhà, đối diện với
cửa ra vào chính có gia đình còn đặt trong buồng kín), một số gia đình làm
gian buồng trong đó – gọi là “choong cai” (bàn khiêng), đây là nơi linh thiêng
ít người qua lại. Đồng bào thường có những quy định chung như; không gây
ồn ào, náo động trong gian bàn thờ, khi nằm cũng tránh không quay chân về
phía bàn thờ, sản phụ trong tháng cũng không được đi qua trước bàn thờ.
Hàng tháng tổ tiên được con cháu cúng vào ngày rằm và mồng một với nghi


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
74


thức đơn giản; thắp hương đèn, mời trà hay mời rượu (có những gia đình có
thể có xôi thịt hoặc hoa quả nhưng không nhiều).
Bàn thờ tổ tiên của người Nùng xã Tân Long và xã Hoá Trung, huyện
Đồng Hỷ được chia làm 3 phần: Bàn thượng, bàn trung, bàn hạ. Bàn thượng
là nơi cao nhất – nơi thờ Phật bà Quan Âm. Bàn trung là nơi thờ cụ, ông,
cha...(tức những người đàn ông). Bàn hạ là nơi thờ các bà, mẹ...(tức những
người phụ nữ). Tục lệ thờ cúng tổ tiên ở địa phương không có sự đồng nhất
trong số lượng mấy thế hệ được thờ tự. Mà mỗi gia đình có thể thờ 3 đến 9
đời (Pò, Mè, Thảu, Cung me, Chỉ, Chung – lục, Lan, Lín, Pẩu Thang nghiều).
Trong quan niệm thờ cúng tổ tiên, người Nùng không khái niệm ngày
giỗ như các cộng đồng dân tộc khác. Nhưng họ thực hiện việc thờ cúng tổ tiên
vào các ngày khác trong năm. Đó là Tết Nguyên Đán, ngày Rằm, Mồng 3
tháng 3, 15 tháng 7. Đến những ngày này, chủ nhà vào "choong cai” quét dọn
bàn thờ, thắp hương, cúng chè hoặc rượu... trong đó các ngày lễ tết (Tết
Nguyên Đán, mồng 3 tháng 3, 15 tháng 7) người Nùng chuẩn bị lễ vật rất chu
đáo (xôi gà, bánh chưng, hoa quả...). Người Nùng lấy ngày 3 tháng 3 làm
ngày đi tảo mộ cho ông bà tổ tiên. Lễ vật cúng trong lễ tảo mộ là loại xôi 3
màu (vàng - đen - đỏ), (màu vàng dùng củ nghệ, màu đen dùng lá dau xanh,
màu đỏ dùng lõi cây tô mộc)
Không chỉ như vậy, khi trong gia đình có công to việc lớn như cưới xin
hay vào nhà mới, lễ đầy tháng của cháu mới sinh, bàn thờ tổ tiên cũng được
bày cỗ linh đình, tuỳ từng nội dung công việc mà bày cỗ bàn khác nhau.
Ví dụ: Như đá m cưới nhất thiết bàn thờ tổ tiên nhà gái phải có thủ lợn
của chính con lợn mà nhà trai mang sang, trong khi đó bàn thờ nhà trai chỉ có
con gà trống thiến, thậm chí khi nhà có việc đột xuất dù lớn hay nhỏ, người ta
đều thắp hương cáo tổ tiên như con đi thi, đi đường xa, con xin được công
việc làm ăn...


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
75


Trong khi nhà có người thân vừa qua đời thì không được đưa lên cúng
chung với tổ tiên ngay mà phải thờ ở một góc riêng thấp hơn tổ tiên gọi là Bài
vị, ngày nay còn có thêm tấm ảnh. Hàng ngày đến bữa ăn, con cháu xẻ cơm
canh đặt lên bàn thờ trong suốt ba năm hoặc một năm, cũng có nơi chỉ thực
hiện trong một trăm ngày, được duy trì cho đến lễ “ cởi tang”. Trong thời gian
này, gia đình kiêng không được ca hát, cưới xin, các con kiêng không được ăn
bún ốc... Việc chọn lễ “cởi tang” được người Nùng rất chú ý. Thông thường
người Nùng làm lễ “ cởi tang” vào ngày 14 tháng 7 thì người Nùng ở 1 số xã
của Đồng Hỷ như Văn Hán, Tân Long, Minh Lập, Hoá Trung tiến hành lễ
“cởi tang” vào các ngày “ tiểu cắt” hoặc “phúc sinh”.
Như vậy, việc thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng phổ biến của nhiều tộc
người ở Việt Nam, nó thể hiện tính kế thừa “ người sống muốn tiếp xúc với
người chết, khi hương, nến được thắp lên, dường như ngọn lửa vĩnh cửu
mang dòng điện sinh học kích thích vào những cái còn lại trong tiềm thức
người đang sống về người đã khuất” [61].
Bên cạnh việc thờ cúng tổ tiên, trong gia đình người Nùng ở Đồng Hỷ
còn có tín ngưỡng dân gian khác liên quan tới việc thờ cúng các vị thần phù
hộ cho gia đình, làng bản.
- Các vị thần thờ trong nhà của người Nùng ở Đồng Hỷ.
Nhưng gia đình có người làm nghề cúng bái (tào, then, bụt), hái thuốc,
chữa bệnh, săn bắn... cũng có riêng một bát hương (thờ tổ sư nghề) được đặt
cùng với gian thờ tổ tiên nhưng vị trí cao hơn và đặt chính giữa để phù hộ cho
các công việc hành nghề. Vào các dịp lễ tết có mâm cúng đồ chay, đối với các
thầy tào, then, pụt sau mỗi lần đi làm lễ cho gia đình nào đó, thì thường lấy về
con gà, gạo, tiền, đã cúng lễ này khi mang về đến nhà để làm lễ cúng thắp
hương, niệm vài câu thần chú và trịnh trọng đặt lên bàn thờ tổ sư nghề, với




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
76


hàm ý tạ ơn thánh thần đã giúp thầy hoàn thành công việc, nếu các thầy không có
gà mang về, thì phải tự bắt gà nhà làm thịt để cúng và trả ơn các thánh thần.
Phổ biến nhất trong các gia chủ người Nùng, còn có bàn thờ Bà Mụ,
trong thơ then Tày - Nùng còn được gọi là “ Hoa Nương Thánh Mẫu” là vị
thần cai quản việc nhân duyên, sinh nở, nuôi dạy và bảo vệ trẻ em. Bà ở trên
cõi mường phạ, bà có một vườn đầy hoa. Hễ ngắt tặng nhà nào hoa bạc thì
sinh con gái, hoa vàng thì sinh con trai. Xuất phát từ quan niệm cho rằng cái
thai trong bụng mẹ là một bông hoa được bà mụ ban cho, do đó, bàn thờ Mẹ
Hoa được lập hôm trẻ đầy tháng (thậm chí sau khi sinh 3 ngày), người ta làm
ống hương bằng nứa cắm vào vách buồng ngườ i mẹ và đặt miếng phản nhỏ để
đặt lễ. Cũng có gia đình bàn thờ mụ được đóng rất cẩn thận ngay cửa buồng
của người mẹ. Nhà có bao nhiêu người con dâu thì bấy nhiêu bàn thờ mụ đặt
ngay vách buồng của người mẹ. Khi có việc gì xảy ra mẹ bjoóc có nơi ở,
thường xuyên có mặt kịp thời can thiệp, bảo vệ, phù hộ cháu bé, bàn thờ bà
mụ cũng được thắp hương như các bàn thờ khách trong nhà, cúng lễ là đùi gà,
bánh coóc mò, bánh kẹo... Hễ ông bà, cha mẹ đi đâu về có quà bánh là phải để
lên đó trước rồi mới cho trẻ ăn. Mẹ bjoóc chăm sóc hoa từ phôi thai, phù hộ
cho trẻ hay ăn chóng lớn. Cũng có gia đình không chăm sóc chu đáo, chưa
thực bụng thương yêu con, mẻ Bjoóc biết phật ý, thu hoa về, trẻ con sẽ bị ốm
quặt quẹo hoặc bị chết, gia đình phải làm lễ tạ xin hoa khác [65].
Người Nùng ở Đồng Hỷ cũng thờ Táo Quân “ Pản Tàn”. Theo quan niệm
của người Nùng ở Đồng Hỷ “ Pản Tàn” là vị thần giữ bếp núc, giữ lửa, giữ gìn
sự ấm cúng và quản lý mọi việc trong gia đình, nếu để thần lửa phật ý thì nhà
cửa cũng như mọi vật đều bị cháy ra tro. Đồng bào thờ ma bếp ngay tại bếp
lửa nhưng không có bát hương. Dịp tết làm mâm cơm cúng và thắp hương
cạnh bếp lửa. Khi cơm chín mà bếp lửa được ăn hương, bữa ngon được nếm
trước, mọi việc thăng trầm, hoà khí hay lục đục trong nhà ma bếp đều hiểu rõ.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
77


Do đó, đồng bào kiêng không nói to tiếng, khóc lóc trên bếp lửa, không gõ
vào kiềng, vào khung gỗ giữ đất trên bếp lửa, không đun củi bẩn... Bếp trong
đời sống của người Nùng gắn bó và thiêng liêng, đồng bào thường giữ lửa
cháy suốt ngày đêm, mùa đông cho đến mùa hè. Hàng năm thường vào ngày
23 tháng chạp âm lịch, gia đình làm lễ đưa Táo Quân lên trời báo cáo Ngọc
Hoàng công việc hạ giới và ngày mùng 1 tết lại làm lễ đón Táo Quân trở về.
3.3.2 Thờ cúng thần phù hộ cộng đồng làng bản
Thần thổ địa là vị thần bảo vệ và che trở cho dân cả bản. Theo quan niệm
của đồng bào, vị thần này là người thật, lúc sống có công lao xây dựng làng
bản, giúp đỡ mọi người, sau khi chết đi được thờ phụng hoá thành. Ngoài ra,
ngoài ra còn có thổ địa là lực lượng siêu nhiên đã được thần thánh hoá. Đa số
các vị thần này không có tên mà chỉ được gọi chung là “ thổ thần”. Là thần
bảo trợ cho những người sống trên mảnh đất mà thần cai quản, vì vậy mọi
người có trách nhiệm tôn trọng cúng tế thần thì mới được thần giúp đỡ.
Ở Đồng Hỷ, mỗi một xã đều có miếu “ thó” thờ thổ địa. Theo tiếng Hán
thổ địa là long mạch dưới đất – thực chất là thờ thần đất. Địa điểm đặt các
“thó” thường ở đầu hay cuối bản làng, tại một gốc cây to hay chân núi đá, nơi
có nhiều người qua lại. Người ta làm một cái lều nhỏ với đôi gắp gianh, đặt
một ống hương. Tuy nhiên, đồng bào Nùng ở đây có một số gia đình lập “ thó”
ngay trước sân nhà. “ Thó” là một ngôi nhà nhỏ, trong đó có lư hương, vài cái
chén để lên bàn thờ. Theo quan niệm của cư dân địa phương, thờ cúng thổ địa
với mục đích cầu mùa, cũng như cầu cho gia súc phát triển. Mặt khác, một số
gia đình có quan niệm: Nếu không thờ cúng thổ địa chu đáo thì Hổ sẽ về cắt
lợn và bắt gia súc của họ. Người Nùng đã cách điệu hoá vị thần này, họ cho
rằng đó là một ông lão, râu tóc bạc phơ, biết tất cả mọi chuyện của dân làng
từ trước đến nay. Do vậy, trong cuộc sống khi dân bản có những việc trọng
đại (lập làng mới, cất nhà mới, ma chay, mở vụ mùa gieo trồng...). Họ đều


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
78


phải làm lễ thỉnh báo với thổ địa. Bên cạnh đó, nếu gia đình, làng xóm làm ăn
không yên, người Nùng quan niệm lúc đó thổ địa đang tức giận. Để cuộc sống
trở lại bình thường, đồng bào địa phương lập tức mang xôi gà, bánh chay ra
miếu thờ thổ địa. Để tránh thường xuyên làm thổ địa tức giận, trong quá trình
lập miếu “thó”, người Nùng rất chú ý đến những địa điểm yên tĩnh (ít người
và xúc vật qua lại).
Vào dịp tết nguyên đán hay dịp lễ cầu mùa, các gia đình trong bản mang
lễ vật, hương hoa tập trung ở miếu để cúng thổ thần. Khi trong làng có người
chết, trẻ nhỏ mới sinh, gia đình dựng nhà mới... đều thắp hương báo cho thổ
thần biết. Miếu thờ thổ thần đều có ở mọi bản làng của người Nùng ở Đồng
Hỷ như một yếu tố không thể thiếu trong đời sống tâm linh của đồng bào.
Bên cạnh tín ngưỡng tế tự thổ địa, đồng bào địa phương còn có hình thức
tế tự thành hoàng, ở Đồng Hỷ những ngôi đình của đồng bào Nùng gần như
không còn nguyên vẹn mà chỉ còn lại những dấu tích.
Ví dụ:
+ Ở Tân Long, trong toàn xã có 3 ngôi đình thuộc ba xóm Hồng Phong,
Ba Đình và Đồng Luông. Hội đình xóm Ba Đình mở ngày 12 tháng 12; hội
đình xóm Đồng Luông và Hồng Phong tiến hành vào dịp 10 tháng 1.
+ Ở xã Hoá Trung còn một ngôi đình vẫn tồn tại, thuộc xóm La Đành,
thường mở hội vào mùng 2 tháng 1 hàng năm.
Theo thường lệ, ngày mở hội, tất cả các gia đình trong xó m đều phải
tham gia và đóng góp (gà, thịt...), nếu gia đình nào không đóng góp những thứ
trên thì phải nộp tiền (20.000đ).
Trong những ngôi đình trên đáng kể phải kể đến đình làng ở xóm Ba
Đình được xây dựng để thờ tướng Cao Sơn (Nùng Trí Cao và Bà Cô). Ngôi
đình được xây dựng trên một gò đất cao của xóm. Diện tích ngôi đình rộng
khoảng 10m và được lợp bằng ngói có từ thời thuộc Pháp. Người quản lý lễ tế


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
79


tu Thành hoàng hàng năm được duy trì với mục đích: Thể hiện lòng biết ơn,
công khai phá, bảo vệ làng bản của Thành hoàng. Mặt khác họ còn quan niệm
Thành hoàng rất thiêng và có nhiều quân, nếu không thờ cúng chu đáo thì dân
làng sẽ không được yên ổn. Trong dịp tế tự thành hoàng, đồng bào địa
phương cũng cầu mong cho mưa thuận, gió hoà, mùa màng tốt tươi.
Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng Thổ địa và thờ Thành hoàng ở đình của
đồng bào địa phương phản ánh những quan niệm về thế giới tâm linh và đấng siêu
nhiên của trời đất. Họ hy vọng việc tế tự sẽ mang lại hạnh phúc cho bản làng.
3.3.3. Nghi lễ và tín ngưỡng liên quan đến sản xuất
Xuất phát từ quan niệm mọi vật đều có linh hồn (vạn vật hữu linh). Cây
trồng không phải lúc nào cũng được mùa, bởi mùa màng còn phụ thuộc vào
những điều kiện tự nhiên mà người làm ruộng khó khắc phục được. Do đó,
con người cần đến sự phù hộ giúp đỡ việc trồng cây... Là cư dân làm ruộng,
nhất là ruộng lúa nước với đồng bào Nùng, từ thủa xa xưa lúa gạo là quan
trọng. Bữa ăn chính của đồng bào chủ yếu là cơm, do vậy dẫu trong mâm cơm
có nhiều đồ ăn, thức uống đồng bào đều gọi chung là ăn cơm, khái niệm đó
vẫn còn tồn tại trong đồng bào Nùng.
Chính vì vậy, trong tín ngưỡng nông nghiệp, phải kể đến nghi lễ đảm
bảo sự phát triển của cây lúa. Trước đây đồng bào Nùng ở Đồng Hỷ chỉ
thường sản xuất một vụ mùa, ngoài tết, ruộng được cày vỡ dần, đến cuối
tháng 3 gieo mạ, đầu tháng 5 thì cấy. Mở đầu cho vụ mùa cấy, hôm cấy thửa
ruộng đầu tiên, đồng bào làm xôi đỏ đen, thịt gà (hoặc thịt vịt) đặt lên bàn thờ
trình báo tổ tiên về công việc hôm nay và cầu mong tổ tiên, các thần phù hộ
cho cây lúa phát triển tốt, mùa màng bội thu.
Đối với một số cây vùng núi khó trồng như hành, tỏi và một số loại rau
khác, đồng bào đều có những kiêng kị. Đồng bào cho rằng cái chết (của người
với bất kỳ ai) có ảnh hưởng đến sự sống, sinh trưởng của cây trồng (hành,


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
80


tỏi...), nên những ai vừa đi đám ma phải kiêng ít nhất ba ngày không vào
vườn đang trồng các thứ rau nói trên, nếu không rau sẽ bị chết luộc. Trước
đây khi trồng lúa, ngô trên nương, đồng bào cũng làm mâm xôi, thịt, rượu
thắp hương cúng thần tại nương rẫy cầu cho thầ n phù hộ cho hạt lúa, ngô nẩy
mầm đều, tránh chim phá hoại. Hạt giống gieo không hết, cấm không được
rang, làm bỏng ... sợ hạt giống trên nương vừa gieo bị chết.
Đồng bào quan niệm lúa, ngô... đều có linh hồn thường tiếp nhận thái độ
của con người. Người đối xử tốt thời lúa, ngô sẽ tốt tươi và ngược lại ngô, lúa sẽ
đau khổ, cằn cỗi, khô héo một khi con người có thái độ hành động tàn nhẫn.
Các nghi lễ, ma thuật nông nghiệp có dạng phức tạp và phát triển ở mức
độ cao hơn, khi con người mong cho đất đai phì nh iêu gắn liền với các quan
niệm về sự phồn thịnh của bản thân con người và khả năng tái tạo của con
người. Từ những quan niệm về sức mạnh của con người, nhất là sinh lực của
người đàn bà truyền qua đồng ruộng, vườn tược tới cây trồng không ngoài
mục đích được mùa, nâng cao thu hoạch, đã dẫn đến ma thuật tế thần với
những cách thức vô cùng tàn bạo trong một số vùng cư trú, sản xuất nông
nghiệp của người Nùng trước cách mạng tháng Tám – 1945.
Cũng giống như người Tày, đồng bào Nùng cũng quan tâm đến hiện
tượng mưa và cả tục mừng tiếng sấm đầu mùa cũng là tiếng gọi hồn lúa, mẹ
lúa, mẹ đất thức dậy sau một thời gian tạm ngủ trong mùa đông hanh khô, giá
rét. Giờ sấm dậy là giờ linh thiêng, con người cầu mong cho mưa thuận gió
hoà, mùa màng tươi tốt với những nghi thức khác nhau. Giờ sấm dậy còn là
giờ các hạt giống trở mình, bừng dậy. Vào giờ đó, tại các gia đình không làm
thầy cúng, người già thắp hương đun nước, pha trà, rót nước mời tổ tiên.
Những tháng cuối năm ít có sấm xét, nhưng tháng 11 hoặc đến tháng 2 (âm
lịch) mà có tiến sấm thì năm đó khó làm ăn.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
81


Đối với người Nùng ở xã Tân Long (Đồng Hỷ), hoạt động tín ngưỡng
liên quan đến sản xuất vẫn được tiến hành thường xuyên trong năm. Điển
hình là các lễ hội: Hội Lồng Tồng (ocpo), lễ cơm mới, ngày diệt sâu bọ...
Trước đây cư dân địa phương đến ngày mùng 1 Tết Nguyên Đán, mỗi
gia đình ra bờ suối xin Hà Bá một hòn đá về bỏ vào chuồng gà, chuồng
lợn...Với hy vọng vật nuôi của gia đình sẽ lớn nhanh và sản sinh nhiều. Ngày
nay, quan niệm này ít được đồng bào địa phương chú ý.
Điển hình trong các nghi lễ Tín ngưỡng liên quan đến sản xuất nông
nghiệp của đồng bào Tày – Nùng là lễ hội Lồng Tồng. Do vậy, vào dịp đầu
xuân, đồng bào Nùng ở xã Tân Long (Đồng Hỷ) tiến hành lễ hội ở trung tâm
văn hoá xóm. Hội Lồng Tồng “ ocpo” ở địa phương được tiến hành đầy đủ
nhất ở xóm Ba Đình. Hàng năm, lễ hội được thực hiện vào ngày mồng 6
tháng Giêng. Lễ vật tế tự trong lễ hội gồm: xôi nếp, gà luộc cùng các cây hao
làm bằng tre gỗ được nhuốm màu sặc sỡ, được cắm hoặc treo trên những cành
găng có gai. Lễ hội này được phát sinh từ ý niệm “Lễ hội là dịp để rước thần
nông, thức tỉnh hồn lúa, hoa mầu thức dậy và hồn đất trở lại cuộc sống bình
thường, thông qua nghi lễ ma thuật, cầu khẩn của Tào, Mo, Then ”[68]. Trước
đây, khi phần “ lễ” kết thúc, phầ n hội là những trò chơi lí thú như: Ném còn,
múa sư tử, hát sli, lượn... ngày nay, những trò chơi trên được thay thế bằng
các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao. Điều này, góp phần thắt chặt mối
quan hệ cộng đồng làng bản của địa phương.
Sau lễ hội Lồng Tồng “ocpo” đồng bào Nùng địa phương tổ chức nghi lễ
diệt sâu bọ cho đồng ruộng. Nghi lễ này được thực hiện vào dịp 5 tháng 5
hàng năm. Khác với lễ hội Lồng Tồng "ocpo", nghi lễ diệt sâu bọ được tiến
hành trong phạm vi từng gia đình. Lễ vật được thờ cúng b ao gồm: Bánh kẹo,
rượu, hoa quả... Mục đích của tín ngưỡng này, đồng bào mong muốn mùa
màng được tươi tốt không bị sâu bọ, côn trùng phá hoại. So với các hoạt động


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
82


tín ngưỡng khác, nghi lễ diệt sâu bọ được tiến hành đơn giản nhưng là hoạt
động không thể thiếu của đồng bào địa phương. Gần với nghi lễ diệt sâu bọ,
trước đây cư dân địa phương đến ngày 6 tháng 6 tổ chức lễ cúng thần ruộng
nương, nhưng hiện nay nghi lễ này không còn tồn tại.
Một trong những nghi lễ tín ngưỡng quan trọng nhất liên quan đến nông
nghiệp là lễ ăn cơm mới. Phong tục này còn tồn tại phổ biến trong tất cả các
gia đình người Nùng ở Đồng Hỷ. Hoạt động mang màu sắc tín ngưỡng này
được thực hiện riêng lẻ trong từng gia đình, thời gian cúng cơm có sự khác
nhau. Điều này phụ thuộc vào tình hình thực tế của mỗi gia đình sau vụ mùa.
Thông thường người Nùng tổ chức ăn cơm mới vào thời điểm bắt đầu thu
hoặch vụ mùa. Quy mô lễ cúng cơm có thể linh đình hay đơn giản tuỳ thuộc
vào kết quả thu hoặc của vụ mùa. Quy mô lễ cúng cơm mới có thể linh đình
hay đơn giản tuỳ thuộc vào kết quả thu hoạch của vụ mùa. Giống như các địa
phương khác, lễ vật được cúng với cơm mới gồm: Khoai sọ, ốc, mướp, bầu
bí, thịt gà... Hoạt động tín ngưỡng này được thực hiện với mục đích: Gia đình
ăn mừng vụ mùa thắng lợi, nghỉ ngơi sau một năm lao động vất vả. Đồng
thời, cầu mong cho vụ mùa sau đạt được năng suất cao. Ngoài ra, trong năm
người Nùng ở địa phương còn tổ chức một số nghi lễ khác mang mục đích
chung: Mùa vụ được tốt tươi, chăn nuôi phát triển.

Ở Đồng Hỷ còn có một nghi lễ tín ngưỡng: Lễ cúng thần Rừng (tạ ơn
thần Rừng). Xuất phát từ điều kiện canh tác ruộng nương trước kia của người
Nùng ở Đồng Hỷ chủ yếu ven đồi, rìa rừng, đặc biệt ở một số xã như Vân Lăng,
Vân Hán, Trại Cau... Các khu rừng này xưa kia có nhiều loại thú và như: hổ,
gấu, hươu, nai... thường đến tàn phá mùa màng của đồng bào Nùng. Chính vì
vậy, đồng bào Nùng đã đem lễ cúng đến bìa rừng, ven đồi để cúng, sau khi cúng
xong đồng bào thấy thú dữ và chim chóc không phá hoại mùa màng nữa. Đồng



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
83


bào Nùng ở Đồng Hỷ quyết định lập đền thờ thần Rừng. Hiện nay ở xóm
Khai Thông, thị trấn Trại Cau vẫn còn ngôi đền thờ “La Thiên”.

Tóm lại: Tín ngưỡng dân gian của người Nùng, tuy vẫn còn những biểu
hiện của mê tín dị đoan, nhưng tín ngưỡng dân gian của người Nùng ở Đồng
Hỷ vẫn mang những yếu tố tích cực như tục thờ cúng tổ tiên, thờ người có
công, thờ thần bản mệnh. Nếu tục thờ cúng tổ tiên đã củng cố mối quan hệ
ruột thịt và đánh thức trong lòng mỗi người biết ơn những người đi trước thì
việc thờ thần bản mệnh đã tạo thà nh một sợi dây liên kết linh thiêng giữa các
thành viên trong làng bản và trong vùng từ thế hệ này sang thế hệ khác, góp
phần nâng cao ý thức tộc người trong cộng đồng.

3.4. Những ảnh hƣởng của tam giáo và vị trí của nó trong đời sống xã hội
ngƣời Nùng

Là những tộc người sinh tụ ở phía bắc Việt Nam và nam Trung Hoa,
người Nùng chịu ảnh hưởng của khổng giáo, phật giáo và đạo giáo. Tuy
nhiên, tuỳ từng địa phương, từng ngành, ảnh hưởng của tam giáo có khác
nhau, một tộc người, một địa phương nào. Người Nùng t iếp thu tam giáo gần
giống như người Kinh, nhưng ở mức độ thấp hơn, thông qua sự truyền bá của
các thầy đồ, thầy cúng và người Việt di cư từ miền xuôi lên miền núi, mạnh
nhất là thời Lê - Mạc [12, tr. 234].

Những ảnh hưởng của tam giáo đối với người Nùng k hông phải là sự du
nhập, hình thành phổ biến ở các nơi thờ phụng và hệ thống các tín đồ mà cơ
bản vẫn là trên nền tảng của tín ngưỡng dân gian, vừa nâng cao, vừa cố định
các hình thức tín ngưỡng đó đồng thời cũng làm mai một và biến dạng các tín
ngưỡng dân gian của người Nùng.

- Ảnh hưởng của Đạo giáo.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
84


Đạo giáo xuất hiện ở Trung quốc vào thời kỳ Đông Hán (25 - 220), lại
nằm trong trào lưu tư tưởng phương Nam, vùng Nam sông Dương Tử, vào
Việt Nam ngay từ thời Bắc thuộc. Nó đóng vai trò quan trọng trong đời sốn g
xã hội Việt Nam. Dân tộc Nùng tuy không lấy đạo giáo làm tôn giáo riêng của
mình, nhưng trong cuộc sống họ luôn đề cao vai trò của ông tào (đạo sĩ). Lễ
tang của dân tộc Nùng do các thầy tào, chủ trì các lễ thức đưa linh hồn từ địa
ngục về với tổ tiên, vì vậy có thể xem tang lễ như là cửa ngõ để dân tộc Nùng
tiếp nhận đạo giáo vào nền văn hoá của mình. Các thầy tào chính là người đưa
Đạo giáo vào trong văn hoá Nùng.

Vũ trụ quan của đạo giáo chia làm 3 tầng thì dân tộc Nùng cũng tiếp
nhận 3 cõi: Trời (cõi thượng nguyên), trần gian (cõi trung nguyên), địa phủ
(cõi hạ nguyên).

Thần điện của đạo giáo cũng đi vào quan niệm của dân tộc Nùng, biểu
hiện rõ rệt nhất qua hệ thống tranh thờ của thầy tào: Trong đó cõi trời bao
gồm có thiên tiên, thiên thánh, thiên thần , cõi trần gian có nhân tiên, nhân
thánh, nhân thần, cõi địa phủ và thuỷ phủ có địa tiên, địa thánh, địa thần.
Trong vũ trụ 3 tầng đó, thầy cúng - đạo sĩ ở giữa thay mặt cho nhân gian - con
người, để giao tiếp và dâng lễ lên các vị thần linh trên cả ba cõi. Thế giới thần
linh ấy do Ngọc Hoàng thượng đế đứng đầu, dưới đó có Nam Tào, Bắc Đẩu
coi giữ sổ sinh, tử chốn trần gian...

Thầy tào thay mặt cho nhân gian đứng giữa các vị thần linh. Chính vì
vậy, thầy tào trong văn hoá Nùng nặng về các hoạt động tế lễ, đ ặc biệt là tế lễ
trong tang ma với các phương thuật cầu thần trừ ma, sai khiến âm binh, thiên
tướng trừ yêu trị thuỷ, đầy vẻ thần bí, xin nước Long Vương tẩy bụi trần gian,
đón rước ông tổ bà tổ về dự đám ma và đón rước linh hồn, tỗng tiến linh hồn
qua cầu Nạ Hà, cúng hồn, đưa ma.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
85


- Ảnh hưởng của Phật giáo:
Dân tộc Nùng ở Đồng Hỷ không lấy phật giáo làm tôn giáo riêng của
mình, đa số họ chưa hiểu tường tận triết lý nhà phật, nhưng tư tưởng phật giáo
lại bao trùm toàn bộ đời sống văn hoá tinh thần.
Ảnh hưởng của đạo phật tập trung rõ nhất ở việc cầu xin bình an, khỏi
bệnh tật, cầu phúc, đưa hồn người chết lên cõi Niết Bàn mà dân gian gọi là
pụt, trong cúng pụt, người ta còn cầu tới sự trợ giúp của Phật Bà Quan Âm
của đạo phật và Thái Thượng Lão Quân của đạo giá o.
Phật Bà Quan Âm trong quan niệm của người Nùng, là biểu tượng cho
quyền năng cứu vớt che trở cho con người khỏi tai hoạ, rủi ro. Chính vì vậy,
Phật Bà Quan Âm được thờ ở một số ngôi đình, chùa và được thờ ở vị trí cao
nhất trên bàn thờ ở một số gia đình người Nùng.
Ở một vài địa phương đồng bào Nùng còn có tục thờ phật ngoài trời, chỗ
thờ phật là ở đèo cao có cây râm mát để khách bộ hành nghỉ chân gọi là “ kéo
phặt chì” (đèo phật)
- Ảnh hưởng của nho giáo:
Nho giáo có ảnh hưởng quan trọng trong tín ngưỡng người Nùng ở Đồng
Hỷ. Quan điểm đạo đức nhân, lễ, nghĩa, trí, tín dũng và quan điểm trọng nam,
tôn ti trật tự thứ bậc trong gia đình, trong xã hội đã đi vào đời sống và trong
tang ma của dân tộc Nùng trở thành chuẩn mực xã hội. Biểu hiện ở tục thờ
cúng tổ tiên và thờ các Thành Hoàng, thờ Khổng Tử, khổng giáo đặc biệt đề
cao lễ, tức là những nghi lễ trong việc quan, hôn, tang, tế, trong hương hồn,
trong mọi người, mọi tầng lớp phải tuân theo.
3.5. Vai trò của Tào, Mo, Then, Pụt trong đời sống tâm linh của ngƣời Nùng
Nói đến tôn giáo tín ngưỡng không thể không thể không nói đến những
người làm nghề cúng bái, vì họ chính là những người liên lạc giữa trần gian
với cõi tâm linh, có thể nhập vào thế giới bên kia. Trong số những trường hợp


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
86


thông thường, mọi người dân có thể tự cúng, cầu khấn thần linh phù hộ hay
giải thoát cho mình những điều rủi ro, hoạn nạn. Tuy nhiên trong nhiều
trường hợp như làm ma, chữa bệnh, trừ tà ma, giảI hạn, cấp sắc thầy cúng...
thì mọi người đều phải nhờ đến lớp người hành nghề cúng bái, đó là các Mo,
Then, Tào, Pụt. Do đó, Tào, Mo, Then, Pụt có vai trò đặc biệt không thể thiếu
trong đời sống tâm linh của đồng bào.
Những người làm nghề cúng bái, vốn họ cũng là người lao động bình
thường, nhưng họ có khả năng "trời cho" là giao tiếp được với cõi âm, nên
được dân gian coi là người "sáng mắt", là người làm trung gian giữa âm
dương, có phép thuật, có khả năng tiếp xúc, thông báo, cầu xin, cống lễ các
ma, các thần linh để người, vật, làng bản tai qua nạn khỏi, sống yên lành.
Chính họ đã góp phần tạo nên sự tồn tại và phát triển của đạo giáo trong đời
sống dân gian và trở thành đồ đệ của đạo này.
Các thầy cúng, thầy bói không thoát ly lao động sản xuất, không coi việc
hành nghề là nguồn sống chính. Ngoài ra họ còn là người hiểu biết về kinh
nghiệm sống, nắm được phong tục tập quán, nhất là cưới xin, ma chay. Nói
năng giảng giải mọi việc dễ xuôi tai người nghe. Để làm thầy cúng phải có
“nòi” cha truyền con nối. Cũng có người do ưa thích muốn được cấp sắc hành
nghề, nên đã theo thầy học dần các bài cúng, các thủ tục nghi lễ. Ngược lại có
người không muốn kế nghiệp ông cha, nhưng vì đau ốm hoạn nạn mà phải
thực hiện việc cúng bái. Người được cấp sắc hành nghề phải theo các điều
răn sau:
- Tu thân tích đức không làm điều ác
- Không tham lam lừa đảo
- Không sát sinh




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
87


- Sống thanh tịnh, không ăn thịt chó, trâu, rùa, ba ba, ngày mồng một,
ngày rằm không được ngủ chung với vợ, không đi khiêng quan tài, không
chui qua gầm sàn nhà người khác...
Trước đây thầy cúng của người Nùng chỉ có hai loại là thầy Tào và thầy
Mo. Ngày nay do ảnh hưởng người Tày, họ sử dụng cả Then, Pụt, trong các lễ
cúng cầu yên giải hạn.
Thầy Tào là bậc “ Hà Lình” hay “Thượng Thư”, thuộc loại thầy cúng
chính quy, biết chữ Hán, có khả năng giao tiếp với Ngọc Hoàng, Long Vương
và các thần linh khác, có nhiều phép mầu nhiệm, nắm được thiên binh thiên
tướng, giúp người diệt trừ ma quỷ, chuyên chủ trì các đám tang, giúp tang chủ
triệu hồn người chết, cầu siêu giải oan và tiễn hồn về với thế giới tổ tiên, đồng
thời cúng bái để chữa bệnh cầu yên, cầu p húc cho nhân dân, thầy tào kiêm cả
nghề bói toán, địa lý. Ngoài ra thầy tào còn làm nhiệm vụ dạy nghề, cấp sắc
cho các thầy Mo, Then, Pụt trong buổi lễ thụ phong.
Mo, Then, Pụt mang tính chất thầy cúng dân gian, đa số họ không biết
chữ Hán, không có sách c úng. Họ chỉ cúng trên cơ sở thuộc lòng các bài cúng
được truyền lại. Trong lễ cúng, Mo dùng chiêng nhỏ, Then dùng chiếc đàm
tính ba dây và nhạc đồng, quạt giấy, còn nhạc cụ của Pụt là chùm giây xóc
(bằng kim loại) đồng bào gọi là ” thiên thác”, một chuông, 2 thẻn (miếng gỗ
được mài nhẵn một mặt tạo thành khối tròn, dùng gieo quẻ xấp ngửa, một
quạt giấy và một ấn tín - con dấu).
Thầy Mo còn gọi là thầy Pháp (pháp sư) chuyên cúng bái để chữa bệnh,
làm lễ trấn trạch, mừng thọ, cầu tự cho gia đình hiếm con cũng có khi phối
hợp với thầy Tào để cúng trong các đám ma nhưng không được phép viết sớ,
khi cúng thầy mo chỉ dùng một chiếc khánh nhỏ.
Then, Pụt, người Kinh gọi là Bụt. Hành nghề của Then, Pụt là cầu phúc,
cầu yên (kỳ yên) giải hạn, làm lễ chuộc hồn và đưa hồ n lên cõi tiên. Đồng bào


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
88


còn mời Pụt làm các nghi lễ cầu mẹ Hoa, cúng hồn vía và nhất là những công
việc liên quan đến nữ giới và trẻ nhỏ, Pụt dịu dàng, êm ái, không dùng âm
binh như Tào, Mo. Khi hành lễ, Pụt đội mũ, ăn mặc lộng lẫy, dùng tiếng nhạc
và lời hát để liên lạc với cõi thần linh.
Then có người giải thích là tiên, tiên tức là trời, được trời giao sứ mạng
giúp trần gian làm việc thiện. Nghi lễ Then là sự pha trộn giữa cúng bái và
các hình thức sinh hoạt văn hoá như hát then, múa tín ngưỡng nên rất hấp dẫn,
lôi cuốn người xem.
Khi tâm linh tôn giáo đã thấm sâu vào đồng bào qua các lễ thức, thành
các tập tục buộc phải theo hoặc cố theo cho phải đạo. Ở đây càng thấy rõ khi
tôn giáo mang tính cộng đồng, sức mạnh của nó là hành động và lễ thức. Như
vậy các Tào, Mo, Then, Pụt tuy không nằm trong bộ máy chính trị, nhưng có
uy tín trong dân. Người dân thường tìm đến họ để cầu xin sự khuyên bảo có
liên quan đến lệ tục trong việc sản xuất hay việc ma chay, cưới xin....có thể
gọi họ là những tri thức dân dã tro ng các bản làng. Bởi sự hiểu biết của họ
nhiều khi vượt ra khỏi phạm vi tín ngưỡng [12, tr.238]. Hiện nay số lượng
thầy Tào, Mo, Then ở Đồng Hỷ đã giảm nhiều, đơn cử cả xã Hoá Trung mới
chỉ có ông Nông Văn Vinh, 50 tuổi ở xóm còn làm nghề thầy Mo; Xã Minh
Lập chỉ có ông Lăng Chí Nga, 44 tuổi, ở xóm La Rịa làm nghề thầy Mo, xã
Tân Long có hai thầy Mo là Lăng Vĩnh Thành 70 tuổi ở xóm Đồng Mẫu và
ông Hoàng Văn Thành 70 tuổi ở xóm Ba Đình, ở xóm Thai Thông, thị trấn
Trại Cau có thầy Mo Nông Sĩ An 76 tuổi. Đây là những thầy Mo không chỉ có
uy tín với Địa Phương mà còn có uy tín với những vùng lân cận.
Như vậy tín ngưỡng dân gian của người Nùng cũng giống người Tày, là
tín ngưỡng đa thần, xuất phát từ quan niệm vạn vật đều có linh hồn “ vạn vật
hữu linh”, phù hợp với tâm lý của những tộc người sống trong cảnh hoang sơ,
hùng vĩ của núi rừng. Do đó, tầng lớp thầy cúng giữ vị trí quan trọng trong


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
89


đời sống tâm linh của đồng bào Nùng. Bên cạnh tín ngưỡng dân gian truyền
thống, đồng bào còn tiếp thu ảnh hưởng của khổng giáo, phật giáo và đạo
giáo, nhưng không phải là những giáo lý đầy đủ. Khi tiếp thu tam giáo, đồng
bào cũng không coi đó là những tôn giáo chính thống của mình, mà chỉ tiếp
thu nó làm phương tiện, nhằm giải quyết những bức xúc trong cuộc sống chứ
không quan tâm đến triết lý và hạnh phúc hư ảo của thế giới bên kia.
3.6. Mối quan hệ và ảnh hƣởng của văn hoá tinh thần ngƣời Nùng với các
dân tộc khác ở huyện Đồng Hỷ
- Mối quan hệ và ảnh hưởng của văn hoá tinh thần người Nùng với người
Tày ở Đồng Hỷ.
Tày và Nùng là hai dân tộc có chung nguồn gốc lịch sử trong nhóm các
dân tộc nói ngôn ngữ Tày - Thái, lại cùng cư trú trong điều kiện tự nhiên và
xã hội gần giống nhau lên từ rất sớm có mối quan hệ khăng khít, trước hết là
mối quan hệ về địa vực cư trú.
Bản làng của người Nùng và người Tày cũng xen kẽ trong các thung
lũng, số bản đơn của dân tộc Nùng hay Tày đa số là các bản cộng cư giữa
Nùng và Tày. Nói cách khác, ở đâu có người Nùng thì ở đó có người Tày và
ngược lại.
Do cùng nguồn gốc lịch sử, luôn sống gần gũi và do quá xen kẽ nên văn
hoá của người Nùng và người Tày có nhiều nét gần gũi, tương đồng; từ
phương thức canh tác, công cụ, kinh nghiệm sản xuất đến tri thức tộc người
đã làm hai dân tộc Nùng và Tày ở Đồng Hỷ dễ dàng kết hợp với nhau trong
lao động sản xuất và sinh hoạt, tạo ra những nét đặc thù trong sản xuất kinh tế
trên toàn bộ khu vực cư trú.
Tuy trang phục phụ nữ Tày, Nùng có những đặc điểm khác biệt về tộc
người, về các nhóm địa phương, song ở họ đã có không ít những điểm chung
giống nhau, điểm chung nhất là trang phục phụ nữ với sắc chàm đằm thắm,


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
90


kín đáo, thắt lưng quấn quanh eo bỏ mối đung đưa phía sau, áo dài năm thân
hầu như không thấy ở dân tộc khác.
Trong khi trang phục biến đổi theo chiều hướng tiếp thu kiểu mới, thì
kiểu nhà ở và cách ăn uống của người Nùng, Tày cơ bản giống nhau, đặc biệt
là văn hoá ẩm thực mang tính thống nhất đậm nét đã góp phần làm tăng thêm
mối quan hệ gần gũi, hoà hợp giữa hai dân tộc.
Trên nhiều lĩnh vực văn hoá tinh thần của hai dân tộc cũng bộc lộ rõ tính
tộc người chung, thể hiện trong những ngày tết, các lễ nghi trong gia đình và
theo vòng đời, ví như hệ thống Mo, Then, Tào, Pụt của dân tộc này có thể
hành lễ cho dân tộc kia, hoặc người Nùng, người Tày cũng thờ chung đền
miếu; Về mặt ngôn ngữ do hoàn cảnh giao tiếp đòi hỏ i “người Tày và người
Nùng đều sống gần nhau thì còn dễ hiểu lời ăn tiếng nói của nhau hơn là
người Nùng ở cách xa nhau” [53 ; tr.38]; sự tương đồng về ngôn ngữ đã dẫn
đến sự tương đồng về văn học, biểu hiện ở những câu ca dao, tục ngữ, nhiều
chuyện dân gian, hát du con và nhiều lĩnh vực dân gian khác cũng mang đặc
điểm chung của hai dân tộc Tày, Nùng.
Có thể nói rằng, trong mối quan hệ văn hoá giữa các dân tộc trên địa bàn
huyện Đồng Hỷ thì mối quan hệ văn hoá giữa hai dân tộc Nùng và Tày là sâu
sắc nhất. Đó là “Quan hệ văn hoá sinh đôi, khiến cho... nhiều hiện tượng văn
hoá khó xác định đâu là của người Tày, đâu là của người Nùng ” [73, tr.14l].
Như vậy những đặc điểm sinh hoạt văn hoá chung ở người Nùng và người
Tày là một quá trình lịch sử lâu đời và được thúc đẩy bởi quá trình xây dựng
cuộc sống mới ngày càng phát triển.
- Mối quan hệ và ảnh hưởng của văn hoá tinh thần người Nùng với
người Kinh ở Đồng Hỷ.
Người Kinh do kết quả phát triển của lịch sử có dân số đông hơn, trình
độ kinh tế, văn hoá, phát triển cao hơn các dân tộc khác, trong tiến trình lịch


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
91


sử đã có ảnh hưởng tích cực tới các dân tộc anh em trong đại gia đình các dân
tộc Việt Nam, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội, tiến bộ văn hoá của các dân
tộc. Ngược lại, chính người Kinh cũng không ngừng tiếp thu những yếu tố
văn hoá tốt đẹp của các dân tộc anh em, làm cho văn hoá của mình thêm
phong phú.
Trong quá trình cộng cư lâu đời, giữa người Nùng và người Kinh đã hình
thành một mối quan hệ giao lưu một cách tự nhiên diễn ra trên nhiều mặt. Mối
quan hệ thường xuyên liên tục diễn ra theo xu hướng không loại trừ nhau
Kinh - Nùng, Nùng - Kinh, chúng bồi bổ lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát
triển, và trên thực tế mối quan hệ đó còn chống được âm mưu đồng hoá, xoá
bỏ văn hoá dân tộc của bọn bành trướng xâm lược phương Bắc.
Các biện pháp liên hoàn trong sản xuất khá thành thục, nông lịch và cách
tính nông lịch, những kinh nghiệm về thời tiết, thiên văn của người Nùng,
người Tày khá tương đồng với người Việt.
Trong ngôn ngữ, xét về nguồn gốc thì từ vựng trong tiế ng Nùng gồm gốc
Nùng và những từ vay mượn các ngôn ngữ khác. Để biểu thị các các khái
niệm xã hội, chính trị, pháp lý, khoa học - kỹ thuật thì người Nùng phải mượn
thêm nhiều từ tiếng việt như xã hội chủ nghĩa, tàu xe, uỷ ban, vô tuyến...
Ngược lại, trong quá trình tiếp xúc, tiếng Nùng cũng tác động trở lại đối với
tiếng Việt; các từ sli, lượn, lồng tồng, bản mác... được du nhập vào kho từ
vựng tiếng Việt và được nhiều dân tộc trong cả nước quen dùng, nhất là các
từ chỉ vật nuôi và cây trồng...
Quá trình giao lưu ngôn ngữ nói trên cũng được thể hiện rõ trong lĩnh
vực văn học nghệ thuật đặc biệt là trong lề lối hát dân gian, với những giai
điệu chậm, tình cảm, cùng những âm hừ, là, ơ, a, hư, ơi trong các sli, lượn gợi
cho chúng ta liên tưởng tới mối quan hệ giữa dân ca trữ tình của người Nùng
với dân ca quan họ Bắc Ninh, hò sông Mã (Thanh Hoá), hát soan (Vĩnh


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
92


Phúc)... đều là những loại hình đối đáp nam nữ. Về hình thức là giao duyên về
nội dung là hát đình, chùa, ban ngày hay ban đêm, chúng tồn tại ở nhiều tộc
người nên có những điểm khác nhau. Tuy vậy giữa cách hát ở các tộc người
vẫn có tính thống nhất; có tục kết bạn, cũng được cũng đươc tổ chức thành tập
thể, hát đối có tuần tự.
Trong lĩnh vực văn học dân gian, người ta cũng tìm thấy những mô típ
thần thoại chung cho người Việt và người Nùng.
Về mặt tín ngưỡng, bên cạnh miếu thờ thổ công, người Nùng còn có
miếu thờ thành hoàng làng, chùa thờ phật và hệ thống đền, miếu... Là kết quả
của quá trình giao lưu văn hoá Nùng - Kinh. Bên cạnh các tuần lễ, bài sớ, văn
xướng tế, hát đình, y phục (áo the khăn xếp) của văn hoá dân tộc Kinh; các trò
vui truyền thống của người Nùng chiếm một phần quan trọng: tục chơi còn,
đánh đu, múa sư tử được tổ chức vào dịp đầu xuân của người Việt cũng là
những hoạt động văn hoá phổ biế n trong người Nùng.
Trong lĩnh vực văn hoá vật chất cũng phản ánh rõ nét quan hệ văn hoá
Nùng - Kinh, ngày tết không nhà nào không gói bánh trưng. Tài liệu phong
tục học hoàn toàn xác nhận bánh trưng là sản phẩm độc đáo của người Việt,
người Nùng cũng gói bánh vuông nhưng họ vẫn gọi bánh đó là của người
Kinh, người Nùng thường gọi loại bánh tròn dài giống người Tày. Chiếc áo
bốn thân của nữ giới, về kiểu dáng cơ bản giống áo dài, áo cánh của người
Kinh. Sự khác biệt có lẽ chỉ ở mầu sắc, trang trí của áo mà thôi. Nếu qua một
số nét tương đồng trong văn hoá vật chất cũng thấy được mối quan hệ đan
xen, chằng chéo, nếu như lấy bất cứ một hiện tượng nào của người Việt ta
cũng thấy có yếu tố ảnh hưởng lẫn nhau ở nhiều cấp độ.
Trong qua trình giao lưu văn hoá với dân tộc Kinh, người Nùng không
chỉ tiếp nhận mà còn ảnh hưởng trở lại đối với đời sống văn hoá của người




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
93


Kinh như các gia đình người Kinh mời thầy người Nùng về làm lễ cầu an,
giải hạn.

Tóm lại: Giao lưu kinh tế văn hoá là một quy luật khách quan của lịch
sử, phát triển do yêu cầu nội tại của từng dân tộc. Do điều kiện, thời gian cư
trú và trình độ phát triển kinh tế văn hoá không đồng nhất nên mối quan hệ về
mặt văn hoá với người Kinh diễn ra ở từng điểm và cấp độ khác nhau. Trong
đó quan hệ giữa người Nùng và người Kinh diễn ra sớm với tốc độ khá nhanh.
Người Kinh tiếp thu văn hoá của người Nùng và ngược lại người Nùng cũng
không ngừng hấp thu những truyền thống văn hoá tốt đẹp của người Kinh,
làm cho văn hoá của mình thêm phong phú.

Dưới chế độ phong kiến thì sự bất bình đẳng, tính kỳ thị, hẹp hòi dân tộc
mặc dầu khá nặng nề, nhưng giữa người Việt và người Nùng đã tồn tại mối
quan hệ tác động lẫn nhau về văn hoá, diễn ra một cách tự nhiên sâu sắc.
Ngày nay trong điều kiện xã hội đã có nhiều thay đổi, mối q uan hệ giao lưu
văn hoá giữa người Nùng và người Kinh càng diễn ra mạnh mẽ hơn, xu
hướng hoà hợp thống nhất về văn hoá giữa người Nùng với người Kinh và
các dân tộc anh em đang diễn ra mạnh mẽ là một tất yếu lịch sử.

- Mối quan hệ và ảnh hưởng của văn hoá tinh thần người Nùng với các
dân tộc khác ở Đồng Hỷ.

Sự giao lưu văn hoá giữa các dân tộc có tác dụng bồi bổ lẫn nhau, thúc
đẩy nhau cùng phát triển. Ngoài mối quan hệ với người Tày và người Kinh,
đồng bào Nùng ở Đồng Hỷ còn gắn bó với nhiều dân tộc khác n hư văn hoá
của đồng bào Hoa. Mối quan hệ Nùng - Hoa là mối quan hệ đã được xác lập
từ khi còn nằm trong khối Bách Việt ở miền Nam Trung Quốc. Do di cư từ
Lạng Sơn xuống, do vậy đồng bào Nùng ở Đồng Hỷ đã mang treo những ảnh
hưởng của văn hoá đồng bào Hoa xuống Đồng Hỷ. Cho đến ngày nay những


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
94


nét văn hoá đó vẫn còn ảnh hưởng rất sâu sắc, như trong văn hoá ẩm thực với
những món ăn mang đậm dấu ấn Trung Hoa như “ xá xíu”, “khau nhục”, cho
đến lượng mỡ sử dụng nhiều trong cách thức quay, rán, xào, hầm của người
Nùng. Các ngày tết trong năm của người Nùng cũng chịu ảnh hưởng quan
niệm lễ tết của người Hoa, như tết Thanh Minh, Đoan Ngọ, Nguyên Đán.
Ngay mối quan hệ trong các gia đình người Nùng cũng mang đậm lễ giáo đạo
khổng Trung Hoa cổ đại, từ bố trí mặt bằng sinh hoạt trong nhà cho nam và
nữ đến mối quan hệ và nguyên tắc ứng xử giữa bố chồng, anh chồng với con
dâu và em dâu.

Trong lĩnh vực văn hoá dân gian, các bài sli, lượn, người Nùng lấy các
tích truyện của người Hoa làm chủ đề như các chuyện Trương Lương, Đá t Kỷ
Lan, Hàn Tín, chữ Nôm Tày, Nùng đều được xây dựng trên cơ sở chữ Hán.

Đối với các dân tộc thiểu số khác ở Đồng Hỷ, người Nùng cũng có mối
quan hệ thân ái.

Tóm lại: Xét về mặt dân tộc học, dù có ảnh hưởng về nhân chủng, văn
hoá của người Việt, người Hoa và các dân tộc khác đ i chăng nữa thì bản sắc
người Nùng vẫn là yếu tố quán xuyến. Văn hoá Nùng vẫn là một thành phần
quan trọng để tạo lên những đặc trưng văn hoá cho khu vực này, để góp vào
vốn văn hoá chung Việt Nam làm cho nó thêm giàu có. Lịch sử đấ u tranh
dựng nước và giữ nước cùng với những đóng góp của văn hoá, ngôn ngữ
Nùng đối với các dân tộc anh em, đối với các nền văn hoá trong khu vực
chứng minh rõ ràng điều đó.
3.7. Một số giải pháp để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá tinh
thần truyền thống trong điều kiện ngày nay
Văn hoá là chắt lọc, kế thừa và tiếp biến liện tục trong dòng thời gian vô
tận, văn hoá là sáng tạo, chỉ có sáng tạo mới trở thành văn hoá, giá trị văn hoá



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
95


đích thực bao giờ cũng có sức thu hút và cảm hoá mạnh mẽ con người hướng
về cái thiện, cái mĩ, dù chính biến hay niền tin có khác nhau.
Ngày nay do sự phát triển của kinh tế xã hội, vấn đề giao lưu văn hoá đã
trở thành nhu cầu cần thiết của các dân tộc, giữa miền xuôi và miền ngược,
giữa đồng bào kinh và những đồng bào t hiểu số, đã tạo điều kiện thuận lợi để
các dân tộc hiểu biết lẫn nhau và tự nâng cao chính trị xã hội và thẩm mỹ của
mình. Chính sách “Đoàn kết các dân tộc” của Đảng cũng được củng cố và
phát triển.
Khi đề cập đến nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các di sản vă n hoá Đảng ta
chỉ rõ: “Di sản văn hoá là tài sản vô giá gắn kết cộng đồng dân tộc là cốt lõi
của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hoá.
Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa những giá trị truyền thống (bác học và dân
gian) văn hoá cách mạng, bao gồm cả văn hoá vật thể và phi vật thể ”. Trước
đây trong công tác bảo tồn người ta chú ý nhiều hơn đến văn hoá vật chất, mà
ít quan tâm đến văn hoá tinh thần, bởi vì văn hoá tinh thần không tách khỏi
hoạt động của con người, chỉ có co n người hoạt động trong văn hoá mới sáng
tạo ra nó. Bảo tồn văn hoá vô hình rõ ràng là phải dựa vào hành vi của con
người làm chủ thể. Vì vậy, từ năm 1994 đến nay UNECO rất quan tâm đến
loại văn hoá này. Có nhiều nhà hoặch định chính sách đã nhận ra rằng, để
phát triển một vùng dân cư nào đó, nếu chỉ chú trọng đến kinh tế, kỹ thuật mà
không quan tâm đến văn hoá, đặc biệt là văn hoá tinh thần và những vấn đề xã
hội, nhân văn thì hiển nhiên là không thành công [11, tr.194-195].
Bên cạnh tiến bộ, văn minh là yếu tố bản sắc, truyền thống văn hoá của
một dân tộc, trong đó cóa truyền thống văn hoá của một số dân tộc, trong đó
có văn hoá của dân tộc Nùng lại đang có nguy cơ bị mất đi, đặc biệt là văn
hoá vật chất đang biến đổi. Có lẽ chỉ vài năm nữa, cái phổ biến t rọng đời sống
sản xuất và sinh hoạt văn hoá của dân tộc Nùng sẽ không còn nữa hoặc chỉ ở


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
96


dạng hiếm và độc đáo. Qua việc tìm hiểu văn hoá truyền thống của người
Nùng ở Đồng Hỷ và qua khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy một số biểu
hiện mai một những giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào Nùng ở huyện
Đồng Hỷ như sau:
Về mặt tín ngưỡng: Đảng và nhà nước ta trước sau như một, thật sự tôn
trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, đồng thời ngăn cấm
mọi hành vi xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng, thực
hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc. Những năm gần đây, do quá
trình dịch chuyển nơi cư trú ra các vùng ven lộ, thị tứ, thị trấn và việc giao đất
rừng đến từng hộ gia đình nên đất rừng thuộc sở hữu chung, là một bộ phận
của đất bản, là sự ràng buộc kinh tế giữa các thành viên trong bản với nhau
cũng không còn hoặc ít được chú ý. Trong xã hội truyền thống, những khu đất
đó là những nơi đặt miếu thờ thổ công, đình thờ thành hoàng làng, miếu, đình,
ngoài ý nghĩa tôn giáo còn là sợi dây văn hoá gắn kết các thành viên trong bản
vào một cộng đồng - cộng đồng làng bản. Những tác động trên đã làm cho
mối quan hệ “cộng cảm văn hoá” của làng bản bị suy giảm, có trường hợp
người ta còn thờ thổ công ngay trong nhà, chung với các thần l inh khác.
Về ngôn ngữ: Mỗi dân tộc đều có tiếng nói riêng của mình, tiếng nói
không chỉ là phương tiện giao tiếp mà còn là cơ sở để phát triển nền văn hoá
nghệ thuật của tộc người, là biểu hiện sâu đậm tình cảm của mỗi con người
trong cộng đồng. Tiếng mẹ đẻ mất đi thì tộc người dân tộc cũng không còn.
Thế nhưng trên thực tế, ngày càng có nhiều người không biết tiếng mẹ đẻ,
nhất là vùng trung tâm, ven lộ, gần làng xóm người Kinh và xẩy ra đông nhất
là thanh thiếu niên, học sinh. Từ sự mai một đến việc đánh mất tiếng nói của
tổ tiên mình là một khoảng cách rất ngắn, đó là một nguy cơ lớn đối với mục
tiêu gìn giữ bản sắc văn hoá các dân tộc.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
97


Về văn hoá dân gian: mặc dù có khối lượng lớn, đồ sộ và nhiều thể loại
phong phú, nhưng nền văn hoá dân gian Nùng cũng bị thu hẹp nhanh chóng.
Nguyên nhân chủ yếu là sự chuyển giao thế hệ chưa được chú ý, lớp người
già am hiểu lịch sử cội nguồn, phong tục tập quán, nắm giữ nhiều vốn dân
gian theo quy luật sinh học khắc nghiệt đang mất dần, mang theo những giá
trị văn hoá mà họ chưa kịp trao truyền lại cho lớp trẻ.
Sự mai một của văn hoá truyền thống Nùng cũng bộc lộ trong các lễ hội
dân gian cũng của làng bản bị suy giảm nên lễ hội dân gian cũng của làng bản
ít nhiều được chú ý hoặc có tổ chức thì các giá trị văn hoá của phần “lễ” bị
lược hoá, đơn giản đi, hiện nay chủ yếu chỉ còn phần “ hội”. Nhưng ngay
trong phần “hội” các trò chơi dân gian truyền thống như bắn nỏ, tức xáng, đi
cà kheo, múa quyền dân tộc thưa dần, nhường cho hoạt động thể thao - văn
hoá hiện đại như thi đấu bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, biểu diễn văn nghệ
bằng tiếng phổ thống (tiếng Việt).
Bên cạnh sự mai một của văn hoá truyền thống, như một sự song hành,
còn tồn tại một số cổ hủ lạc hậu, mê tín dị đoán. Đó là tục chữa bằng cúng
bái, bói toán, giải hạn, hoặc những kiêng kị thiếu cơ sở khoa học trong cuộc
sống và sản xuất, gây lãng phí tiền của, thời gian, công sức của nhân dân.
Việc gìn giữ, bảo tồn di sản văn hoá của dân tộc Nùng nói riêng, bản sắc
văn hoá của tất cả của các dân tộc nói chung được đặt ra hế t sức cấp thiết, đòi
hỏi phải có những biện pháp thiết thực nhằm bảo tồn và phát huy những giá
trị văn hoá đó. Trong phạm vi hạn hẹp của luận văn, chúng tôi mạo muội có
những kiến nghị và giải pháp sau:
Một là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo
ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có đồng bào Nùng tăng cường đào
tạo đội ngũ cán bộ, xây dựng đội ngũ tri thức, phải đẩy mạnh hơn nữa việc




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
98


nậng cao dân trí và sức khoẻ cho đồng bào “ tăng cường nguồn lực và phương
tiện cho hoạt động văn hoá” như nghị quyết trung ương 5 khoá VIII đề ra.
Hai là, làm công tác tuyên truyền, giới thiệu, giáo dục rộng rãi văn hoá
dân tộc trong cộng đồng nhằm giúp đồng bào nâng cao lòng tự hào dân tộc,
nhận thức rõ những giá trị phong phú, độc đáo của văn hoá dân tộc mình. Đây
là giảI pháp có ý nghĩa quyết định bởi vì bản sắc dân tộc chỉ có thể được bảo
tồn, phát huy khi mọi di sản văn hoá quý giá được lưu giữ vững chắc ngay
trong ý thức mỗi người dân, do chính người dân thực hiện. Việc tuyên truyền,
giáo dục này có thể thông qua hệ thống trường học và các phương tiện thông
tin đại chúng, riêng đối với trường học chúng tôi cho rằng; nên đưa tiếng dân
tộc vào chương trình, trên cơ sở sách giáo khoa chung, mỗi địa phương có thể
phát âm theo phương ngữ của mình, vừa đảm bảo được cái chung, vừa đáp
ứng được thực tế đa dạng trong cách phát âm của từng vùng.
Ba là, đầu tư xây dựng các làng văn hoá. Đây là biện pháp được thực
hiện tượng đối tốt ở miền xuôi nhưng còn mới mẻ đối với các dân tộc thiểu số
ở Đồng Hỷ. Làng văn hoá chính là địa bàn để thực hiện phương pháp bảo tồn
như xây dựng, duy trì và phong trào văn nghệ quần chúng, tranh thủ tiếp thu
sự trao truyền vốn văn nghệ dân gian cũng như tri thức tộc người của các
nghệ nhân và những người cao tuổi, thường xuyên tổ chức biểu diễn, hội diễn
văn nghệ ở các thôn bản và liên thôn bản để cổ vũ, khơi dậy niềm tự hào về
văn hoá truyền thống cuả dân tộc trong đồng bào. Đồng thời qua đó phát hiện,
chọn lựa tài năng bổ xung cho đoàn nghệ thuật tỉnh nhà. Tuy nhiên việc bảo
tồn và phát triển những yếu tố văn hoá (theo nghĩa rộng) phải phù hợp với
tiến bộ xã hội, lợi ích của nhân dân và dân tộc. Tránh xu hướng phục hồi, làm
sống lại các hủ tục lạc hậu, cản trở bước tiến xã hội.
Đối với các lễ hội dân gian cần chú ý khai thác các giá trị truyền thống
(như trang phục, trò chơi, tiếng nói), kết hợp với các loại hình văn hoá thể


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
99


thao nhưng ở mức độ phù hợp, nhằm đảm bảo tính truyền thống và tính hiện
đại của lễ hội.
Cuối cùng, để phát huy tinh hoa văn hoá dân tộc trong điều kiện như
ngày nay, khi sự hoà nhập của cộng đồng quốc tế là một tất yếu đang diễn ra
ngày càng mạnh mẽ. Điều đó có tác động rất lớn vào công cuộc đổi mới của
nước ta, và đòi hỏi chúng ta vừa phải biết vận hành đúng đắn quá trình hội
nhập, vừa phải biết chống lại những động tác xấu của nó. Trong lĩnh vực văn
hoá, sự hội nhập đang diễn ra hết sức phức tạp, những yếu tố tích cực lành
mạnh cùng với những cái xấu, cái tiêu cực đan xen nhau, cùng tràn vào làm
cho nhiều người khó có thể nhận của mình, nhất là thế hệ trẻ. Các vùng xâu
xa, mặc dù trình độ hội nhập diễn ra chậm chạp hơn nhưng lại hết sức nguy
hiểm, bởi ở đó bản chất cộng đồng của các dân tộc thiểu số là thật thà, dễ tin
lại do trình độ văn hoá.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
100


KẾT LUẬN


1. Huyện Đồng Hỷ nằm ở phía đông của tỉnh Thái N guyên, là một huyện
có vị trí khá thuận lợi và quan trọng trong tỉnh, nó tiếp giáp với trung tâm của
tỉnh, đồng thời nằm trên quốc lộ 1B chính vì vậy mà, Đồng Hỷ có những mặt
thuận lợi nhất định.
Nền kinh tế ở đây phần lớn là nền kinh tế tự cung tự cấp như Văn Hán,
Cây Thị. Ở một số xã ven đường quốc lộ 1B như Hoá Trung và một phần của
Tân Long, nền kinh tế cũng có sự giao thoa và phát triển hơn so với các xã có
người Nùng sinh sống như khác như Tày, Kinh cũng đến sinh cơ lập nghiệp.
Quá trình sống đan xen này tạo ra sự giao thoa không chỉ về lĩnh vực kinh tế
mà cả lĩnh vực văn hoá giữa các dân tộc trong vùng miền. Trong quá trình
cộng cư của mỗi một dân tộc có một phong tục tập quán, một kho tàng văn
hoá riêng, thể hiện bản sắc văn hoá truyền thống sâu đậm của dân tộc mình.
Đó chính là cơ sở nảy sinh và tạo dựng một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân
tộc, qua đó góp phần làm giàu đẹp cho truyền thống văn hoá Việt Nam nói
chung và văn hoá của đồng bào Nùng ở Đồng Hỷ nói riêng.
2. Mặc dù có sự giao thoa về văn hoá giữa các vùng miền. Nhưng người
Nùng ở Đồng Hỷ vẫn giữ được một số nét truyền thống trong phong tục và tín
ngưỡng, tôn giáo của mình. Trong quá trình định cư lâu dài nền văn hoá đó lại
đa dạng và phong phú mang xu hướng hoà nhập với nền văn hoá các dân tộ c
anh em.

Với một số phong tục đặc trưng nổi bật trong văn hoá người Nùng đó là
cưới xin, sinh đẻ, sinh nhật, ma chay. Những phong tục này mang đậm mầu
sắc của văn hoá dân tộc Nùng, nếu như cưới xin, sinh đẻ đã có rất nhiều sự
biến đổi, đặc biệt trong những năm gần đây. Thay vì thách cao trong cưới xin
và các thủ tục rườm rà, giờ đây hầu hết tộc người Nùng ở Đồng Hỷ đã thực

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
101


hiện nếp sống văn hoá mới; đó là một đám cưới đơn giản, tiết kiệm nhưng vẫn
trang trọng và vui vẻ. Trong sinh đẻ, hiện nay tộc người Nù ng ở Đồng Hỷ
cũng đã có nhiều thay đổi, những kiêng kỵ mang tính chất mê tín dị đoan
được thay bằng nhưng kiến thức và hiểu biết khoa học. Các sản phụ không
còn hiện tượng tự sinh tại nhà, họ đã đến cơ sở y tế để được chăm sóc chu đáo
hơn. Tục sinh nhật chính là một trong những nét đặc trưng nổi bật của đồng
bào Nùng, họ thường làm sinh nhật cho ông bà, cha mẹ rất long trọng thể hiện
sự quan tâm của con cái đối với cha mẹ, ông bà bởi theo tập tục thì người
Nùng không làm giỗ, chỉ làm sinh nhật khi ông bà cha mẹ còn sống. Trong
buổi lễ sinh nhật đó, không chỉ có gia đình, làng xóm, còn có cả chính quyền
đến chia vui cùng. Hiện nay phong tục nay vẫn còn duy trì, đó cũng chính là
nét văn hoá cần được bảo tồn

3. Người Nùng có đời sống tín ngưỡng và tôn giáo rất đa dạng, thể hiện
thông qua việc đan xen, hoà nhập nhưng không hoà tan giữa các vùng miền,
sự hoà quyện giữa tín ngưỡng dân gian với tam giáo.

Chính sự thâm nhập, đan quyện vào nhau của các thứ tín ngưỡng tôn
giáo này đã tạo nên diện mạo mới, ảnh hưởng, tác động mạnh hơn tới các lĩnh
vực của đời sống văn hoá tinh thần và các mối quan hệ xã hội của người
Nùng, đặc biệt là sự chi phối của những quan niệm về “ phi” (ma), “slấn”
(thần) và các thể thức cúng bái khác.

Cũng giống như người Tày, người Nùng bị ảnh hưởng mạnh mẽ của tư
tưởng Nho giáo, đặc biệt là tính chất gia đình phụ hệ, trong đó vai trò của
người đàn ông được đề cao. Đặc biệt là quan hệ trong gia đình giữa bố chồng,
anh chồng với con dâu, em dâu có những quy định nghiêm ngặt, đặc biệt giữa
bố chồng và con dâu, nhưng bao trùm lên cả vẫn là tinh thần yêu thương giữa
các thành viên.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
102


Với vai trò quan trọng của gia đình, những nghi lễ gia đình của đồng bào
Nùng được chú trọng và chiếm một tỷ lệ lớn so với nghi lễ của làng bản với
rất nhiều thủ tục rườm rà, đặc biệt là ma chay. Nghi lễ gia đình là dịp biểu lộ
và thắt chặt hơn mối quan hệ gia đình và dòng họ, đồng thời nó mang trong
mình những yếu tố văn hoá tộc người, nhất là yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo.
Với sự phát triển của lịch sử, đặc biệt từ thời kỳ đ ổi mới đất nước, nền
kinh tế có bước phát triển vượt bậc, nhưng trong “ cơn lốc” kinh tế đó một số
nghi lễ và tín ngưỡng dân gian đã bị mai một đi ít nhiều, thậm chí còn mất đi,
tuy nhiên một số tín ngưỡng dân gian đã ăn sâu vào đời sống tâm linh của
đồng bào như nghi lễ, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hoặc ma chay hay một số
nghi lễ sinh hoạt cộng đồng khác, với mức độ biểu hiện khác nhau.
Có thể nói thờ cúng tổ tiên, thể hiện đạo hiếu của con cháu đối với ông
bà, cha mẹ, đây là một nét đẹp mà bất kể một dân t ộc nào trên đất nước Việt
Nam đều duy trì, nhưng mỗi một dân tộc có những nét thờ cúng khác nhau,
nhưng cho dù dưới hình thức nào thì đó cũng là một nét đẹp trong văn hoá
Việt nói chung và văn hoá Nùng nói riêng.
Bên cạnh đó, đồng bào còn rất nặng nề về ng hi lễ trong đám ma, còn tin
vào thuyết linh hồn và người chết cho rằng cần nhiều đồ sinh hoạt như người
sống, do đó rất nhiều nghi lễ rườm già và tốn kém, tất cả những nghi lễ đó đều
xuất phát từ ý nghĩ mong muốn cho người thân của mình được hưởng mọi
điều tốt đẹp về vật chất và tinh thần kể cả khi họ đã sang thế giới bên kia và
so với trước kia nghi lễ trong đám ma đã đơn giản hơn rất nhiều.
Giống như người Kinh, người Nùng cũng có chữ viết riêng của mình,
trên cơ sở đó họ cũng tạo cho mình được nét văn ho á riêng, vừa đa dạng vừa
phong phú, thể hiện được cái riêng trong cái chung. Trong quá trình di cư,
đồng bào Nùng đã đem văn hoá của mình giao lưu với văn hoá của khu vực
nơi mình sinh sống.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
103


Như vậy có thể nói, văn hoá là một hiện tượng xã hội, với những p hong
tục, tôn giáo và tín ngưỡng đã phản ánh thành tựu của mỗi dân tộc đạt được
trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Với tốc độ phát triển của nền kinh tế
hiện nay thì văn hoá cũng đang có những thay đổi cho phù hợp, bên cạnh mặt
tích cực thì hiện nay những yếu tố văn hoá truyền thống đang dần bị mai một đi.
Đơn cử như một trong những lễ hội “ lồng tồng” vào mùa xuân được coi
là một lễ hội truyền thống của 2 dân tộc Nùng và Tày, từng tồn tại lâu dài
trong lịch sử nhưng đã bị lãng quyên, trước đây trong nhữ ng năm 70 thì ở Tân
Long có diễn ra lễ hội “ lồng tồng”, nhưng những năm lại đây lễ hội này đã
không còn được duy trì, hiện nay địa phương đang có những chính sách nhằm
khôi phục lại một phần lễ hội này vào mùa xuân, chủ yếu là khôi phục phần
hội, tuy nhiên do chúng ta chưa xây dựng được chương trình cho phần hội
hấp dẫn, do vậy chưa thu hút được sự quan tâm của chính quyền địa phương
và đồng bào địa phương.
Trước tình hình đó, Đảng và nhà nước đã và đang có những chính sách
nhằm tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hoá như nghị
quyết trung ương 5 khoá VIII đã đề ra “ tăng cường đầu tư cho văn hoá từ
nguồn chi phát triển trong ngân sách Nhà nước. Tỷ trọng chi ngân sách cho
văn hoá phải tăng tương ứng nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Khuyến khích các
địa phương tăng thêm nguồn đầu tư cho văn hoá, tích cực huy động các
nguồn lực ngân sách Nhà nước cho phát triển văn hoá”.
Mặc dù còn rất nhiều khó khăn, nhưng trước những thách thức hiện nay
và được sự quan tâm của các cấp chính quyền, Đồng Hỷ đang nỗ lực vươn lên
để thở thành một huyện vững mạnh về kinh tế, ổn định về chính trị, phát triển
về văn hoá, từng bước xây dựng quê hương Đồng Hỷ giàu mạng, với một nền
văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
104


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đào Duy Anh (1998),Việt Nam văn hoá sử cương, NXB Đồng Tháp
2. Triều Ân (1994), Ca dao Tày - Nùng, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội
3. Ba mươi năm gìn giữ và phát huy vốn di sản văn hoá các dân tộc việt Nam
(1995), NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.
4. Bàn về nếp sống văn hoá ở miền núi (1974), NXB Văn hoá, Hà Nội.
5. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Đồng Hỷ (1997), Lịch sử Đảng bộ huyện
Đồng Hỷ (1930 - 1945), Huyện uỷ Đồng Hỷ.
6. Ban tƣ tƣởng - Văn hoá Trung ƣơng (2001), Vấn đề dân tộc và chính
sách dân tộc của Đảng công sản Việt Nam (2001), NXB Giáo dục,
Hà Nội.
7. Ban chỉ huy quân sự huyện Đồng Hỷ (2006), Lịch sử kháng chiến chống
xâm lược và xây dựng - bảo vệ tổ quốc (1945 - 2000), Ban chỉ huy
quân sự huyện Đồng Hỷ xuất bản.
8. Lê Văn Bé (1997), “Trang phục người Nùng ở Đông Bắc Việt Nam (Vài
nét về nguồn gốc tộc người có ảnh hưởng đến đặc điểm trang phục)”,
Tạp chí dân tộc học, số 4 - 1997, Tr 28.
9. Đỗ Thuý Bình (1994), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và
Thái ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
10. Bộ Văn hoá (1981), Một số vấn đề lịch sử - văn hoá các dân tộc ở Việt
Bắc, Bảo tàng Việt Bắc.
11. Bộ Văn hoá Thông tin- Bảo Tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam
(2005), 45 năm Bảo Tàng văn hoá các dân tộc Việt Nam, Thái Nguyên.
12. Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc) (1978), Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội.
13. Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam (1992), Viện Khoa học Xã hội và
Viện Dân tộc học xuất bản, Hà Nội.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
105


14. Các chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh (2004), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội.
15. Lê Ngọc Canh (1998), “Múa tín ngưỡng dân gian Việt Nam”, Một số dân
tộc, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
16. Nông Minh Châu (1973), Dân ca đám cưới Tày - Nùng, NXB Việt Bắc,
Việt Bắc.
17. Trƣờng Chinh (1983), Về các giá trị văn hoá tinh thần Việt Nam , NXB
Thông tin lý luận, Hà Nội.
18. Phan Huy Chú (1960), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, NXB Sử
học, Hà Nội.
19. Phan Hữu Dật (1995), “Trở lại vấn đề tín ngưỡng dân gian”, Tạp chí
Dân tộc, số 02.
20. Phan Hữu Dật (1999), Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, NXB Đại
học quốc gia Hà Nội.
21. Phan Hữu Dật (1999), Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội.
22. Đại Việt sử ký toàn thư (2000), NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội.
23. Bế Viết Đẳng, Khổng Diễn, Phạm Quang Hoan, Nguyễn Văn Huy,
Nguyễn Anh Ngọc (1992), Các dân tộc Tày – Nùng ở Việt Nam,
Viện Dân tộc học, Hà Nội.
24. Hoàng An Định - Nông Viết Toại (1964), Truyện thơ Tày - Nùng, NXB
Văn hoá, Hà Nội.
25. Phƣơng Đình Nguyễn Văn Siêu (1997), Đại Việt Địa Dư Toàn Biên,
Viện Sử học và NXB Văn hoá.
26. Nịnh Văn Độ (2003), Văn hoá truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán
Dìu ở Tuyên Quang, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.
27. Lê Quý Đôn (1997), Kiến văn tiểu lục, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
106


28. Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hoá các dân tộc thiểu số Việt Nam (1996),
NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
29. Trịnh Thuý Hà (2005), Đời sống văn hoá của người Tày và người Nùng
ở Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ Lịch sử - Khoa Lịch sử - Trường Đại
học Sư phạm, Hà Nội.
30. Lƣơng Thị Hạnh (2006), Văn hoá tinh thần của người Tày ở huyện chợ
Đồn (Bắc Kạn), Luận văn Thạc sĩ.
31. Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam (1994),
Tập IV, NXB Khoa học, Hà Nội.
32. Vi Hồng (1979), Sli, lượn dân ca trữ tình Tày - Nùng, NXB Văn hoá,
Hà Nội.
33. Nguyễn Văn Huy (1992), Kể chuyện phong tục các dân tộc Việt Nam,
NXB văn hoá dân tộc, Hà Nội.
34. Nguyễn Văn Huy (2003), “Những bất cập trong bảo tồn và phát huy
những di sản văn hoá của các dân tộc” , Tạp chí Dân tộc và Miền núi,
số 28, Hà Nội.
35. Nguyễn Chí Huyên (chủ biên), Hoàng Hoa Toàn, Lƣơng Văn Bảo
(2000), Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt
Nam, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.
36. Phan Ngọc Liên (2003), Phương pháp luận sử học, NXB Đại học sư
phạm Hà Nội.
37. Lã Văn Lô - Đặng Ngiêm Vạn (1968), Sơ lược giới thiệu nhóm Tày,
Nùng, Thái ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
38. Lã Văn Lô - Hà Văn Thƣ (1984), Văn hoá Tày - Nùng, NXB Văn hoá,
Hà Nội.
39. Đặng Văn Lung, Nguyễn Sông Thao, Hoàng Văn Trụ (1997), Phong
tục tập quán các dân tộc Việt Nam, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
107


40. Hoàng Lƣơng (2002), Lễ hội truyền thống các dân tộc thiểu số ở miền
Bắc Việt Nam, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội
41. Hoàng Văn Ma (2002), Sách học tiếng Tày - Nùng, NXB Văn hoá,
Hà Nội.
42. Đỗ Minh (1998), Một số điệu dân ca của các dân tộc ở Thái Nguyên, Sở
Văn hoá Thái Nguyên.
43. Đỗ Minh (1998), Một số điệu làn điệu dân ca của các dân tộc ở Thái
Nguyên, Sở Văn hoá Thái Nguyên.
44. Nguyễn Văn Minh (1999), “Quan niệm về hồn người, cái chết và thế giới
sau khi chết trong tín ngưỡng của người Việt”, Tạp chí Dân tộc học,
số 3/1999, (Tr 62 – 74).
45. Hồ Chí Minh (2002), Về các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt
Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
46. Bùi Xuân Mỹ, Bùi Thiết, Phạm Minh Thảo (1996), Từ điển lễ tục Việt
Nam, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
47. Hoàng Nam (1992), Dân tộc Nùng ở Việt Nam, NXB Văn hoá Dân tộc,
Hà Nội.
48. Phạm Xuân Nam (1998), Văn hoá và phát triển, NXB Chính Trị Quốc
Gia, Hà Nội.
49. Hoàng Nam (2000), “Dân tộc Nùng với tập quán bảo vệ môi trường sinh
thái”, Tạp chí dân tộc học, số 3 năm 2000.
50. Hoàng Nam (2002), Đặc trưng văn hoá các dân tộc Việt Nam, NXB Văn
Hoá dân tộc.
51. Hoàng Nam (2004), Văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc Việt Nam ,
Trường Đại học văn hoá, Hà Nội.
52. Lục Văn Pảo (biên soạn) (1991), Thành ngữ Tày, Nùng, NXB Khoa học
Xã hội, Hà Nội.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
108


53. Hoàng Quyết (1974), Truyện cổ dân tộc Tày - Nùng, NXB Văn hoá,
Hà Nội.
54. Hoàng Quyết, Ma Khánh Bằng (1993), Văn hoá truyền thống Tày -
Nùng, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.
55. Tuấn Quỳnh (1968), Đồng bào các dân tộc Nùng ở Việt Nam , NXB Bộ
Phát triển sắc tộc, Sài Gòn.
56. Dƣơng Sách (2000), Văn hoá ẩm thực các dân tộc thiểu số vùng
Đông Bắc.
57. Chu Thái Sơn (1994), “Dân tộc học với việc nghiên cứu văn hoá tộc
người”, Tạp chí dân tộc học, số 1.
58. Từ Tùng Thạch (1941), Việt Nam lưu vực nhân dân sử, Trung Hoa thư
cục ấn hành, Bắc Kinh.
59. Lê Ngọc Thắng, Lâm Bá Nam (1990), Bản sắc văn hoá các dân tộc Việt
Nam, NXB Văn hoá Dân tộc, Hà Nội.
60. Dƣơng Thị The, Phạm Thị Thoa (1981) Tên làng xã Việt Nam đầu thế
kỷ XIX (thuộc các tỉnh từ Nghệ Tĩnh trở ra), NXB Khoa học xã hội,
Hà Nội.
61. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo Dục,
Hà Nội.
62. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB Giáo dục,
Hà Nội.
63. Bùi Thiết (1999), 54 dân tộc Việt Nam và các tên gọi khác nhau, NXB
Thanh niên, Hà Nội.
64. Bùi Thiết (1999), 54 dân tộc Việt Nam và các tên gọi khác nhau, NXB
Thanh Niên, Hà Nội.
65. Hoàng Thị Thiệu (2002), Thờ cúng trong gia đình đồng bào Nùng, Dân
tộc và thời đại số 40, tr. 13-16.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
109


66. Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Xuân Kính (1990), Văn hoá dân gian những
phương pháp nghiên cứu, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
67. Phạm Ngọc Thƣởng (1997), “Đặc điểm cách xưng hô trong tiếng Nùng
(Xét trong mối liên hệ với tiếng Việt)”, Tạp chí Dân tộc học, số 4
năm 1997, Tr. 59-64.
68. Hoàng Hoa Toàn (1995), Tín ngưỡng dân gian của các dân tộc người
miền núi phía Bắc nước ta, Thái Nguyên.
69. Hoàng Hoa Toàn, Đàm Thị Uyên (1998), “Nguồn gốc lịch sử các dân
tộc Tày - Nùng ở Việt Nam”, Tạp chí Dân Tộc học, số 2.
70. Nguyễn Anh Tuấn (2003), Tang ma người Nùng Phàn Slình ở xã Tân
Long, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Luận văn cử nhân chuyên
ngành Dân tộc học, Đại học khoa học xã hội nhân văn, Hà Nội.
71. Đàm Thị Uyên (2004), Văn hoá các dân tộc Nùng ở Cao Bằng, Đề tài
nghiên cứu KH cấp bộ, mã số: B 2002 - 03 - 31.
72. Đặng Nghiêm Vạn (1993), Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc
gia dân tộc, NXB Chính Trị Quốc gia, Hà Nội.
73. Văn kiện nghị quyết Hội nghị lần thứ V BCH Trung ương khoá VIII
(1998), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
74. Đặng Nghiêm Vạn (2001), Dân tộc văn hoá tôn giáo, NXB Khoa học Xã
hội, Hà Nội.
75. Đặng Nghiêm Vạn (2003), Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam, NXB
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
76. Viện Dân tộc học (1978), Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía
Bắc), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
77. Viện Khoa học xã hội Việt Nam (1992), Thành ngữ Tày - Nùng, NXB
Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
110


78. Tân Việt (1997), Một trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam, NXB
Văn hoá Dân tộc Hà Nội.
79. Tân Việt (1997), Một trăm điều nên biết về phong tục Việt Nam, NXB
Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
80. Lê Trung Vũ (1999), Nghi lễ vòng đời, NXB Văn hoá dân tộc, Hà Nội.
81. Trần Quốc Vượng (chủ biên), Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm
Mỹ Dung, Trần Thuý Anh (2000), Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB
Giáo Dục, Hà Nội.


DANH SÁCH MỘT SỐ NHÂN CHỨNG CUNG CẤP THÔNG TIN,
TƢ LIỆU ĐIỀN DÃ DÂN TỘC HỌC


Dân
Họ tên Tuổi Chỗ ở
TT
tộc
82 Tô Văn Cam Nùng Tân Long, Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
55
83 Tô Văn Huy Nùng Tân Long, Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
48
84 Lăng Chí Nga Nùng xóm La Rịa, xã Minh Lập, Đồng Hỷ.
44
85 Lăng Viết Thành Nùng Tân Long, Đồng Hỷ.
47
86 Tô Văn Đồng Nùng Tân Long, Đồng Hỷ.
43
87 Lăng Thành Nùng Đồng Mậu, Tân Long. Đồng Hỷ.
73
88 Nông Văn Vinh Nùng Xóm La Vương, Đồng Hỷ, Thái Nguyên
50
89 Nông Thị Xuân Nùng Xóm Na Nương, xã Khe Mo, Đồng Hỷ.
40
90 Triệu Thị Sắn Nùng Xóm Núi Hột, xã Linh Sơn, Đồng Hỷ.
80
91 Triệu Văn Hùng Nùng Xóm Núi Hột, xã Linh Sơ n, Đồng Hỷ.
50
92 Nông Sĩ An Nùng Xóm Thai Thông, thị trấn Trại Cau,
70
Đồng Hỷ.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
111




PHỤ LỤC




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
112




¶nh do t¸c gi¶ chôp




¶nh do t¸c gi¶ chôp




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
113




¶nh do t¸c gi¶ chôp




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
114



Chïa Hang ë huyÖn §ång Hû
(¶nh do t¸c gi¶ chôp n¨m 2009)




Chïa Hang ë huyÖn §ång Hû
(¶nh do t¸c gi¶ chôp n¨m 2009)




§Òn AoR«m ë huyÖn §ång Hû


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
115


(¶nh do t¸c gi¶ chôp n¨m 2009)




§Òn AoR«m ë huyÖn §ång Hû
(¶nh do t¸c gi¶ chôp n¨m 2009)




§×nh lµng x· Ho¸ Trung - §ång Hû
(¶nh do t¸c gi¶ chôp n¨m 2009)


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
116




§×nh lµng x· Ho¸ Trung - §ång Hû
(¶nh do t¸c gi¶ chôp n¨m 2009)




X«i ®á ®en cña ng-êi Nïng ë §ång Hû
(¶nh do t¸c gi¶ chôp n¨m 2009)




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
117




M©m cóng t¹i mé trong ngµy thanh minh
(¶nh do t¸c gi¶ chôp n¨m 2009)




LÔ cóng tÕt thanh minh cña ng-êi Nïng ë §ång Hû
(¶nh do t¸c gi¶ chôp n¨m 2009)




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
118




LÔ thô léc cña ng-êi Nïng ë §ång Hû
(¶nh do t¸c gi¶ chôp n¨m 2009)




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
119




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
120




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
121




Bé ®å nghÒ cña ThÇy Mo d©n téc Nïng




¸o ThÇy Mo (d©n téc Nïng)


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
122




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
123




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
124




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
125


NỘI QUY HÀNG PHƢỜNG XÓM BA ĐÌNH, XÃ TÂN LONG,
HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Lời mở đầu

Hàng phường xóm Ba Đình có bề dầy truyền thống tương trợ giúp đỡ lẫn
nhau, anh em Ba Đình chia 3 tổ này vì hộ ngày một đông thêm. Quyết định
chia tách hàng phường thành 4 tổ để thuận tiện hơn trong việc qua lại hỗ trợ,
giúp đỡ lẫn nhau. Cũng là để cho hàng phường được củng cố và phát triển các
quy định trong hương ước thích hợp với từng khu vực mỗi tổ.
Ngày 15 tháng giêng năm 1999, hàng phường tổ chức cuộc họp và quyết
định nhất trí thông qua nội quy hàng phường. Các điều này sẽ có hiệu lực ngay.
Điều 1: Tên hàng phường, mục đích, phương châm, nguyên tắc xây dựng.
1. Tên: Hàng phường tổ (Ba ba - Đồng Sim) xóm Ba Đình.
2. Mục đích: Cùng giúp đỡ nhau việc tang ma.
3. Phương châm và nguyên tắc xây dựng hàng phường: Tự n guyện, dân
chủ, công khai. Làm việc tự giác, tuân theo chữ thiện. Gặp vấn đề cần nghị
bàn nhất trí thông qua bằng biểu quyết theo đa số và phải được tuyệt đối tuân theo.
Hàng năm hàng phường họp tập trung vào 15 tháng giêng để bàn thảo
công việc hàng năm.
Điều 2: Điều kiện để trở thành hội viên.
Những ai cư trú trên đất Ba Ba - Đồng Sim xóm Ba Đình, từ 18 tuổi trở
lên, tán thành nội quy, chịu sự phân công xếp đặt công việc của hàng phường,
mong muốn tự nguyện gia nhập và được đa số biểu quyết tán thành thì được
coi là người của hàng phường.
Gia nhập hàng phường phải đóng góp những khoản sau:
- Tiền cáng: 40.000đ
- Tiền trống: 15.000đ


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
126


- Tiền quỹ hàng năm: 20.000đ.
Ngoài ra có những khoản đóng thêm có thể có để phục vụ công việc
chung do hàng phường quy định.
Con cháu người trong phường nay lập gia đình, tách ra ở riêng, gia nhập hàng
phường nộp lệ phí gia nhập 10.000đ. Các trường hợp khác nộp lệ phí 15.000đ.
Riêng các cụ: Nam từ 60 tuổi, nữ từ 55 tuổi trở lên được hưởng quy chế lão
làng. Các trường hợp này có các con trai, hay người thân sẽ thay thế, kế thừa.
Điều 3: Chức vụ trưởng trùm phó.
Trùm trưởng, trùm phó phải là người có trách nhiệm, hết lòng với việc
tang ma, công bằng, thẳng thắn trong điều hành công việc. Người làm trùm
không được lợi dụng quyền hành tư lợi cho mình trái các điều quy định trong
nội quy hàng phường.
Trùm trưởng và trùm phó bầu theo nguyên tắc luân phiên trong cộng
đồng, mỗi nhiệm kỳ là một đám hiếu. Không chấp nhận trường hợp trùm
trưởng, trùm phó 2 anh em ruột, họ hàng thân thích để trong trường hợp trùm
trưởng vắng mặt còn có trùm phó đảm nhiệm thay công việc và ngược lại.
Điều 4: Các công việc chung.
Khi nào có người chết trùm trưởng hoặc trùm phó báo cáo đến hàng
phường tập trung vào giờ nào thì anh em hàng phường phải tập trung vào giờ đó.
Trường hợp có lý do đi vắng không có nhà, phải tìm người thay thế
không có lý do nào mà vắng mặt, không có lý do nào mà không tham gia.
Nếu nhà có việc tang thì chỉ được miễn hai xuất làm nhiệm vụ hàng
phường, những người còn lại không được miễn, phải mượn nhờ người thay
thế, làm hộ. Nếu không mượn nhờ sẽ phải chịu mức phạt như người vắng mặt.
Điều 5: Các khoản đóng góp.
Đến viếng tang ma mỗi thành viên hàng phường phải đóng góp giúp tang
gia lúc khó khăn hoạn nạn.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
127


Củi khô đun được từ 5 kg trở lên.
Gạo phải đủ một đấu, gạo xấu, gạo mốc, gạo nhiều tấm, nhiều thóc, sạn
không nhận.
Rượu phải đủ 1 lít. Trường hợp rượu nhạt, rượu chua, rượu khê có mùi
khác phải trả lại.
Điều 6: Các công việc trong đám hiếu.
Khi anh em hàng phường đã tập trung đầy đủ thì phải làm việc dưới sự
chỉ đạo của trùm trưởng hoặc trùm phó, ai được phân công công việc nào thì
phải hoàn tất công việc đó mới được nghỉ.
Bộ phận làm nhà táng khi báo đến phải tự đi cấy cây làm nhà táng.
Bộ phận ty nhục (tức nhà bếp) không phải thịt lợn, hàng phường thịt lợn
cho và giao tại nhà bếp cho tỵ nhục.
Bộ phận ty huyệt (đào huyệt)
Dụng cụ đào huyệt như cuốc, xẻng, xà beng, bộ phận tỵ nguyệt phải tự
tìm lấy đồ. Đồng thời phải có trách nhiệm đưa thầy ra khỏi ranh giới của xóm.
Các trường hợp khác như:
Bộ phận nhà táng được hưởng bữa ăn sáng.
Bộ phận đào huyệt được hưởng bữa ăn chiều.
(Rau canh và thuốc tuỳ theo không được đòi hỏi quá mức). Trường hợp
đào huyệt khó và không xong thì phải đề nghị với trùm trưởng hoặc trùm phó
để trùm đề nghị với gia đình. Gia đình sẽ bổ sung con cháu đào giúp cho bằng
xong. Nếu con cháu ít hoặc không có người thì phải cử người hàng phường
đào giúp.
Dụng cụ nấu ăn phải sạch sẽ, thức ăn phải sạch, lành không được ôi thiu.
Nước ăn, nước rửa phải sạch sẽ, cơm và thức ăn phải nấu chín, bảo đảm
vệ sinh.
Điều 7: Đi lấy lợn và thịt lợn.
Trường hợp gia đình có lợn ở xa trong xóm cũng như ngoài xóm, hàng
phưởng phải đi lấy. Người đi lấy lợn về không phải thịt lợn mà trùm phường
phải cử người khác thịt. Trường hợp thịt lợn ngày ho ặc ban đêm gia đình cần
thịt lúc nào thì hàng phường phải thịt lúc ấy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
128


Điều 8: Vi phạm và xử lý.
Những điều trên đây mà hàng phường chúng ta cần phải thực hiện xong
cũng không sao tránh khỏi có những cá nhân mắc sai lầm, khuyết điểm.
Đối với những cá nhân mắc khuyết điểm
Trường hợp có đám hiếu trùm trưởng hoặc trùm phó báo đến tập trung,
cá nhân nào đến châm giờ quy định từ 1 giờ đồng hồ trở lên thì sẽ phạt từ
5.000 đ một giờ. Nếu cá nhân mắc sai phạm lần thứ 3 thì khai trừ ra khỏi hàng
phường. Trường hợp đến chậm giờ mà có lý do chính đáng thì hàng phường
sẽ xem xét lại.
Trường hợp làm việc thiếu tinh thần tự giác, làm qua loa đại khái cho
xong việc, bỏ trốn công việc, chống đối lại quyết định của trùm phường:
Lần đầu cảnh cáo.
Lần hai phạt tiền (20.000đ)
Lần ba khai trừ khỏi hàng phường
Những người không có nhiệm vụ vào bếp, uống say quá chén, bỏ nhiệm
vụ phải chịu phạt.
Điều 9: Nghiêm cấm trộm cắp.
Hàng phường còn lại là một lực lượng bảo vệ cho nhà hiếu, không được
lợi dụng lấy bất cứ vật gì của nhà hiếu. Từ hoa quả đến chiếc kim sợi chỉ trở
lên. Cá nhân nào trong hàng phường mà trộm cắp bắt quả tang sẽ khai trừ ra
khỏi phường hội, lập biên bản bồi thường và phạt gấp 3 lần giá trị của thứ đó.
Điều 10
Trong hàng phường mà không phải là bộ phận nhà bếp thì k hông được tự
tiện vào bếp ăn uống bừa bãi.
Nội quy này cứ mỗi lần có đám hiếu thì trùm trưởng và trùm phó phải
thông qua một lần để anh em trong phường hội nhớ để thực hiện và những hộ
mới vào cũng biết để thực hiện.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
129


MỘT SỐ BÀI TANG CA TRONG TANG MA CỦA D ÂN TỘC NÙNG
(Ba trích đoạn tang ca thể loại sli: Đoạn 1, đoạn , đoạn 3)




Đoạn 1: Phần A
Dầu tào than sly
(Pò Mế) ơi pay hâư bồ hắn mà, bồ chức pay tàng lồ pay nà.
Tằng slơ pay nà nhằng đảy thời, vằn nảy pay đăm bó hăn mà.
Vằn cón lục mà nhằng hăn nả, vằn nảy mà hăn tói chỉ sla.
Vằng này mà hắn tói sla chỉ, hắn to côn sài bồ hắn thá.
Sải khẩn sải lồng ngòi đai chằu, chon pay chon tèo léo hăn cha.
Slởng mà bò hắn pòi nhần nhị, mì kin bò hắn (pộ mế) tèo mà.
Pèn dờng hái lông nhập khẩu phả, slờ tòng nặm hải bóc téc cha.
Téc lục téc lan pấn lẩn si, slởng thong ăn sình nặm tóc thá.
Dịch nghĩa:
Thầy cúng tinh minh, tế lễ của con gái và con rể.
Bố mẹ ơi đi đây vắng không thấy về
Không hiểu ra đồng hay lên nương.
Mọi hôm đi làm đồng sẽ lại về
Còn hôm nay về âm vĩnh biệt rồi
Hôm nọ, con đến còn thấy mặt người
Hôm nay con đến toàn thấy giấy
Hôm nay con đến thấy nhà táng, thấy quan tài mà không thấy người.
Đi lên, đi xuống, tìm mà chẳng thấy đâu, quay đi quay lại bố mẹ rồi
Trong tâm con không lúc nào nguôi nhớ thương.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
130




Phần B
Tào chử tóp si (A lối)
Chép đép mù lai lục ơi dà, lục mà hảy than nằm thá tốc
Dỗu lằng thoi mừ ngòi lục sến nềm là cau pù bó hứa mà
(Pò mế) lầu pây hăm hằn vài lạc, lục đủ dường cau đổi áo a.
Sân dà sắn tong két công sốc, phu mì hôm hỷ hét lầy mà.
Phàn sim dau hỷ pù dù cha, tu ma tu bể mà khẩu chây.
Sên khó mì lai đổi tái ta, pò cau pó lùng mì đẩy hử.
Sông nàm sam mĩ sóng lục cha.
Dịch nghĩa
Thầy tào đáp lời
Thương con nhiều lắm con ơi!.
Con đến than thở nước mắt rơi
Giá mà sống được quay trở lại…
Phận (bố, mẹ) người âm đã định rồi
Bố mẹ về âm nơi suối vàng
Các con ở lại chốn trần gian
Xuân hạ thu đông sản xuất tốt
Giàu nghèo sớm tối đừng mắng nhau
Những lời độ địa không xóa được
Thật phiền đến họ bên thông gia
Con lợn, con gà mang đến tế
Khó khăn tốn kém vì cha mẹ
Bố mẹ đi chẳng có gì để lại
Khuyên con ở lại sống làm ăn.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
131




Đoạn 2 - Phần A
Dầu than sli
A lối khom lai (pò mế) ơi cau, tọ này slíp (pò mế) sợng càu.
Nòm tùm téc khắư sloong slam khốp tồ slờ khốm khô sấn qua sawus.
Nhằng nọi nhằng eng sau tóc tang long cải pèn cừu ký lẩy mầu.
Hết lờ thou nư bò pảo dằn, (Pò mế) này dăm téc lục lầu.
Công sình mì lái lơ sa sẳm, bò đảy poì ơn hử (pò mế) lằu.
Lục hết căm mạy mà tẻm sang, (pò mế) dù dăm slơ còi tềm ăn.
Dịch nghĩa
Thầy cúng minh tinh của con gái dâng tặng
Trời ơi! đau xót lắm! bố mẹ ơi!.
Nhờ báo công bới đất lật cỏ nuôi con
Chăm con bú, đái ba bốn năm ròng
Khổ sở hết xuân lại qua thu
Nhỏ thì lo con lắm mụn nhọt
Lớn lên lo con chẳng bằng người
Mong sao âm phủ thấu tình thương
Công lao bố mẹ như biể n lớn
Nay con chẳng biết lấy gì báo đáp nổi
Con làm minh tinh để tỏ lòng
Bố mẹ ở âm lên nhận cho
Từ nay con mất bố mẹ mãi thật rồi
Như đàn gà con chết mẹ thôi.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
132




Phần B
Su thán dề
Pò mế hết ăn vàm chá lục cau,
Tọ nảy síp nu (pò mế) sượng càu
Nhàn hứa lục càu pần viền phàn
Kết tái paay mừ két cong sốc
Bó đáy dằu sim kích kỳ sầu
Khôm khôm khó dù vến thán
Hý lai thu tỏng trái thu màu
Ngòi lục ngòi lườm hét công sốc
Hét lây hét nả sượng lạc lầu
Dây tèo khấn lòng sương mì só, thếm dà
Mì lai pó tộ lầu nài dăm dờng mì can kéc
Bờ đẩy thoi mì đổi lục cau
Pò mế mừ nư thêu mì lườn lăng
Lục du nặm lăng dà ký sầu
Dịch nghĩa
Than cùng con
Bố mẹ có lời nói với con
Con yêu ngày nào bố mẹ vẫn ẵm bồng
Mong con làm ăn bằng thiên hạ
Nhà cửa khang trang như mọi người
Con tôi ở lại làm ăn tốt
Đôi lúc buồn sầu lệ lại rơi
Con ơi cảm động đừng rơi lệ
Đau thương chi lắm hại sức người


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
133


Con ở lại trần làm kinh tế
Làm bãi làm nương chớ bỏ bời
Chăm chỉ làm ăn cho thật tốt
Thiên hạ lắm kẻ không bằng mình
Đừng phải lười biếng đi ăn xin
Bố mẹ vui về âm có nhà cửa
Con (ở) lại dương trần chớ nghĩ suy
Âm dương nghìn dặm nay cách trở
Rơi lệ quay bước biệt con tôi


Đoạn 3 - Phần A
Dầu than và sly
Than sích ân tình (pò mế) lầu sleng,
Sên cầu phàn dờng lục nhằng eng
Nhằng eng nhằng ỷ dau bò cải
Long mà pèn cừn dau mác mềng
Mì ông lông mà lục sích lỹ
Chình đảy pòi ơn hử (pò mế) lầu.
Slơ tòng queng quílòn tình keng
Khốm khổ mì lai sường hy than
(Pò mé) lầu pay dăm hẳn vài lạc
Lục dù lập lăng hẳy thá đeng
Tò slơ văn nẩy lì kiếc pệt.
Dì tang mậy slảo pùng quả canh
Chung dên tến chây hình chung diên ly
Phu vi, chi phu vi sồ, phụ vi chái phơi
Phình xân chí chây, kỳ châu chí chê


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
134


Phúng châu chấn chê , chi cho chấu
Hình chung đến lý, chung diên tến châu, chi châu an sền khới.
Dến chai dền, dến sí phán, dến xà, dến pình làng
Dịch nghĩa
Bài sly của con gái khóc than
Có bố có mẹ mới sinh con
Khi nhỏ, chăm con đến vạn nghìn
Ngày đêm lo cho con với bệnh tật
Còn nhỏ thì con mong được khôn lớn
Dạy con khôn lớn sống có chữ "nhân"
Trang tâm con khắc ghi lời dạy
Con làm minh tinh để tỏ lòng
Bổ mẹ quanh năm ngày tháng lo cho con
Khó khăn vất vả nào ai biết
Nay vội về âm yên giấc nghìn thu
Bỏ con bơ vơ trơ trọi
Âm dương nay nghìn dặm dặm cách trở
Con ở lại lòng đau khắc khoải
Thương lá già rụng xuống mục mất thôi




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
135




MỘT SỐ BÀI VĂN CÚNG TRONG TANG MA DÂN TỘC NÙNG
Chẩu slực
(Bài thần chú mời linh hồn về ăn cơm trong đám tang của người
Nùng Phàn Slình ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên)

Sinh phông giảo nam, giảo chử, giảo pài, sang giang phụ di, chai pài hò sểnh
Sảng lai slam hìn kỳ cảng sì pờ lài lìm, sỉ củ an xù lình siền chương ơi
pao à chau.
Slam hùn lài kỳ cảng, sì pờ lài lìm, I chảo slồng chả chương, slam hùn
hôn slẩu sù
Sảng lai hôn nhân slảu sù sài sleng chi nhật cu và chi slì clim tham ngò
mày pay sì nàn thông
Phù ngò tào dèn niệm hai phung tu tì nhục chau dèn chương ơi páo à chau
Phay phu slương dỉ hò cháp nào s lamto chung, mổng hô nhập dèn hàu,
slường sleng ky cò chì
Dất sla cam lò chướng la dì tơ sinh sênh sa slằm hùm sleng thải lò, dau
ky y đất sệt.
Lơ sla sùi hùn cun thảy lẻn chăn xên lơ slan quay thải slở mản lảy kẻn hư vàng.
Slam sla pháp cải hử ngò sàng di hái thông, hẻn hau pẹc hải saln kích lò
slở dèn giêng.
Thên chon slinh hảo phật trảo nằng siêu slên slắt lạy slam pảo thên chon
den chảu den sì cong dờng. Chải slinh ơi sinh lình cam lò lau thóng thêu chon
pháp nhờ làu hu then chon.
Phung vày… lình vẳng sleng slăn slên ai nìm pên giêng va sà củ chau dên
Chơng ơi páo à chau giêng và sà củ mình tâng công
Giêng slắt phàu lảy va dì hòng xà pình căm chín dì hải thông tang tẻm
ngân tra hòn liên nhật giêng.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
136


Kim dau phất dèn xà ky cò nai dau hò dai dì slen diêng, ngo cam y chảo
slòng tra chương, phục sinh… lình dam nạp sàu.
Pieen diêng sình tình cong piến pháp sì hu sòng piến sì vày thai saln pín
thàng vày thai hai pin lò pin vày lò, pin sảo pín sinh to, pín sình chỏ lin va
sình cam lò tai tào y ho vảng sleng lình va sài va sli và quay ây, ngò căm y
trảo sồng tra chương vàn tài slin sau trải pảo mụn.
Dỉ vàng tài thín chòn dất sồng cao slăng tay, lình lình cam lò chương
pháp sì nản slở dì.
Giêng diện làu chét chăm mình mình hô slơ dì sau sì pù ky ỷ dất siết.
Lình hùng ky co chè din tỉn cam lò mày
Va vay lình pao chương phan dăm sình dờng kỳ vày dèn vàng trò lình
Slường sleng slăn dung an. Căn vết tài sinh chớ, thín tỳ phàn lình. Slay,
slớ phay sla cam lo. Sli thào chớ chăn diêng.
Quang dèn phong thóng chung, pisn sla ngò quay ay, cảu dau pát nàn hò,
pảo làng tò may.
Liều tò lọc tóc hải, dùng hì tham chăn sli slằn leng thóp chíp nhận, slieeu
diều slứng thai lò.
Phúc then cao ngoày, cong sì lình sinh ơi sinh, dất diết dàu vày pháp phủ
tai sình tài mình.
Phả slớ slam to hò, sì mỉ cửu dèn vàng, lìm tam chàu si slan trở then trai
chản dùng.
Hàn thành to pày hò hay slảu den vàng. Nì sinh lình pảo chương chung
lằn, chằn tày mày:
Siết niêm sleng thải kịch, hắc niệm con tay may, công tắc cảu dau dề,
diêm tiểm cam lọ mày.
Sỉnh phong, giáo nàm, chắp pình công tói lình sền su tẻn chau. Công tắc
pù slớ dì, sleng tre tro phúc pảo, sì mì pháp sì slan vảng sleng an lò cò.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
137


Sỉnh phông, giảo chử, chắp pình công tói lình sền lờ tẻn chau
Công tắc kỳ chuyển, slởng tâng hù vày lò, pháp kùi tra o quang tò, sliêu
diêu slởng tài lò, di tài lò.
Chải sinh ơi, slăn chắp mụ slực then chon kỷ sì sleng lai tảo
Slở lài sòi căm nhật, cách biệt tỏn siệt pù hòi kèn.
Pỉ dì lầu chăn cinh chiên (...) lình thác vá siến dòng, cao siền sỉnh cái:
Thứ lảu: Slở slì c hỉnh kim dảu dàng sì giảo giảo.
Sảng lài chau vì viền ạn tảy chỉ pù cảm hòng dèn, kiểm liệm căm slợ sai mạ.
Cang tói lình sền, kim ngần sình tiểm nhập lò phông sềng hù hà và
Cháu sì vá, cháu sì vá, cam slơ tảy chi kiến sèn sài, sliệu sèn chỉ vá sèn
sài, slảu lình dăm nặm sằu , chào sào nham pỏi sliền . Hoàng siều tắc khang
dủng. Dưng dửng xì pá tò ... sỉ sa lủ lình vang sleng slăn sìn cái.
Chú thực
(Bài thần chú mời linh hồn về ăn cơm trong đám tang của người Nùng
Phàn Slình ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên)
Thỉnh phụng: Con trai, con gái, con dâu cùng các con cháu, chắt, dâng
hương phục vị tế bái linh hồn ba lần.
Hỡi ba hồn bảy vía (chín vía nếu người chết là phụ nữ) xuất quan, an toạ
trước linh tiền nghe chú thực.
Tam hồn thất phách: "đến", linh hồn hãy khoan thai t hụ toạ.
Khoan thai thụ toạ (ngồi ung dung khoan khoái), giờ này đây, người cũ
đã hoá, tâm không tham mùi vị, chớ nên ăn vội vàng. Theo lời ta dặn dò, niệm
khai phá thông yết hầu, tấu gia ngôn bảo chu.
Hỡi linh hồn đã đau khổ buồn rầu suốt đêm dài, bơ vơ nh ư ở chốn giữa
ngã ba đường... Mạnh Khoa qua yết hầu.
Lần một ta tát nước cam lộ
Lần hai, ta tát nước cam lọ để linh hồn được thanh tịnh, sinh tại chốn đại la.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
138


Qua thể luyện chân quân, hai người mau về núi Thái Sơn, hành lễ diện
kiến Hư Hoàng.
Lần, ta xuất pháp giới khai thông yết hầu để người khỏi mắc nghẹn
Nay yết hầu đã được khai tán, cực lạc tự nhiên hương
Tam bải thiên tôn đại thánh thanh tẩy tưới cam lộ
Thiên tôn thánh hiệu đại thánh, Ngọc quang phổ nhuận thiên tôn, pháp
khứ lưu nhuận thiên tôn, hãy thanh gan tẩy óc cho linh hồn
Thỉnh ming (cấp bậc linh hồn người chết.... Lình) đi về vùng tiên giới
Nay ta cùng con cháu dâng hương hoa trà quả cùng tấu ngôn bảo chú thực
Nay có hương hoa trà quả cùng đèn sáng, mang theo hương mùi sắc vị
nhưng cũng chẳng có gì nhiều. Trà quả giờ có bấy nhiêu, mong linh hồn thu
nhận lấy.
Đèn đốt sáng như búp sen hồng, toả ánh sáng như ánh nắng của mặt trời
dưới là một mâm trà với quả nhiều như sông biển. Nay tôi (thầy tào) có lời
kinh tụng mời linh hồn về ăn uống, thọ nhận lấ y.
Biến thanh hương tịnh cung ứng, biến đã ăn mà vẫn không hề vơi, biến
đồ ăn to như núi, biến gia đường thành biển mênh mông, biến buồn khổ thành
niềm vui sướng, nay ta biến cái ít thành cái nhiều.
Biến búp chè to như hoa sen, cho nước ngọt như cam lộ (thầy tào theo
từng khoa cúng mà hoá vật phẩm tượng trưng, hoá vàng bạc, hoá thực... hết
một đoạn, thầy tào làm đoạn kết)
Nghìn vạn ước muốn đòi hỏi hết xuân lại qua thu đã đến cho đầy đủ
Dâng cho nhiều lắm nước cam lộ như pháp dầu nhiệm màu vẫn khó có
thể trả nghãi báo ơn.
Kính dâng hương hoa dưới bấy ngọn đèn, sáng tỏ nơi nơi
Thêm kính tụng bài chú thực
Phúc điều thì cao nguy nga, công đức thì thanh tịnh


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
139


Vậy nay, ta cố công sức nhất thiết làm phép, nếu không thì sẽ không giải
được đại mệnh, như đẩy thân vào giữa ba đường khổ, để đời đời giữ lấy chín
hương thơm, làm tang thực không suy nghĩ, thỉnh đến trời mong tán vĩnh.
Kim quyết đại thánh chủ, trong trời đất nơi nào quay về với các vị linh sư
Từ bi tưới cam lộ, xua đi mọi u mê, mở lối sáng đi đến nơi gà dẫ n đường
chờ đợi. Biến!
Chín lần vượt qua mọi gian khổ, đi qua những chốn bùn lầy vất vả
Vượt qua sáu ải độc hại để tìm thấy mùa xuân mãi mãi
Các thân tiên sẽ cùng nhau xuống tiếp đón linh hồn đi ngao du chốn
thiên đường
Hãy bỏ lại sau mọi lần sầu khổ, gập đầu làm lễ trước Nguyên Hoàng
Trùng thiên chân đế vi, chuẩn bị, niệm một lời đưa đi đại cực
Hặc diện quan đại vi, thỉnh ơn công đức cửu ân
Thỉnh phục: con trai, con gái, con dâu cùng các con cháu, quỳ gối trước
linh tiền dâng rượu lần thứ nhất
Công đức này (của người chết) không thể nghĩ cho hết, sống làm phúc bảo.
Nay con cháu kính mời linh hồn ăn cơm, uống rượu để rồi về An lạc quốc
Thỉnh phụng: Con trai, con gái, con dâu cùng các con cháu, quỳ gối
trước linh tiền dâng rượu lần thứ hai
Công đức ấy áng vô ngần, quý báu tựa vàng bạc, như hoa lưu trì dẫn
hướng, tiếc thương vô ngần hoa sen động lá rồi từng hồn đi.
Thỉnh phụng: Con trai, con gái, con dâu cùng các con cháu, quỳ gối
trước linh tiền dâng rượu lần thứ ba
Hàng nghìn linh đồng dẫn đường đi, đi đến t hập điện lâu, trước báo để
trình tường, khấn đến thiên đường.
Công đức đã chu toàn lên đường vô vi, thầy làm pháp siêu độ, hồn được
ngao du nơi đại lộ.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
140


LỊN ĐÍP


Pẩy dạ noọng cỏ y
Tói:
Bấu mì lỳ sầư éo
Pẩy dạ noọng hại y
Táp:
Bấu mầy lỳ kìau sử
Mà sà pẩy mà sà
Tói:
Mà sà dò kha mà sèo noọng
Hôn hẩy noọng dò kha
Táp:
Tái pẩy pây sùm va đeng đáo
Mà rà pẩy mà rà
Tói:
Soong rà pây lỏ đíp
Cừn tùn lèo lỏ đíp đây lai
Táp:
Nai noọng pây sắc pài ngòi quá
Hôn hảy noọng hại pây
Lỏ đíp đây noọng tái
Pác pẩy cảng đíp đíp
Tói:
Ất mà đíp ca săng
Nhỉ mà đíp răng dưởng
Tun cừn cỏ sày đíp
Táp:
Ất mà đíp bỏ mẻ lai lai
Nhỉ mà đíp mò vài sin khỏ
Sam mà lẻ pỉ đíp ca răng
Tói:
Sí mà pỉ đíp răng dưởng
Sam mà đíp mỏ héc lỉn kiềng
Táp:
Sí mà đíp sường phiêng pỉ mẻ
Tải hả lẻ pỉ đíp ca răng
Tói:


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
141


Tải hốc lẻ pí đíp răng dưởng
Hà mà đíp cuổng sửa páng đang
Táp:
Tải hốc đíp noọng nàng dạn pjảc
Chất mà đíp ca răng
Tói:
Pét mà đíp răng dưởng
Chất mà đíp lùng áo cú sòng
Táp:
Pét mà đíp tản đong lăng nả
Cẩu mà đíp ca răng
Tói:
Síp mà đíp răng dưởng
Cẩu mà đíp thuổn thảy mọi cừn
Táp:
Síp mà đíp tằng mường tằng bản
Síp ất đíp ca răng
Tói:
Síp nhỉ đíp răng dưởng
Síp ất đíp xuân hạ thu đông
Táp:
Síp nhỉ bươn đíp thuổn
Đíp thuổn mọi mòn đây
Lỏ dày lẻ bấu đíp
Pác pẩy cảng mòn đây
Tói:
Mòn sầư đây dạ noọng
Pỏ mẻ sày seng óc đang rà
Táp:
Cẩu bươn mẻ thắc pà na nắc
Mẻ ngòi lủc, pỏ thắp cún kin
Se lủc đảy pìn cừn tò tản
Noọng thin cung pỏ mẻ nắc na
Tói:
Nắc na quá đán phja pế quảng
Cung pỏ mẻ sặt nắc sặt na
Táp:
Hoảng pỉ khảu đán phja bấu táy.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
142


Bưởng khử se lủc nòn
Tói:
Bưởng rằm se mẻ dú
Cung mẻ lạu sặt sung đủi lủc
Táp:
Quá cừn mẻ bấu lắp đảy tha
Cừn vằn thác ỏm đa rày rạy
Tói:
Pỉ ký sim sảy ngạy dưởng dừ
Pử từ noọng oóc mừ pìn mẻ
Táp:
Pử mỉn soong sà kể đủi căn
Kể cừn cắp kể vằn bấu lẹo
Sim sẩy lủc vạ mẻ sày đây
Tói:
Vằn cẳm chưởng lục hây cải mả
Mẻ thăn lủc, lụp lảu nả tha
Táp:
Pỏ siết lủc, sào kha sủi nả
Mẻ ủm lủc chang pầu
Tói:
Tắm lài va, lài lẳm
Pỏ pây tủng thư nà
Táp:
Táng khưn khja phat rẩy
Mẻ chượng pất hử lủc kin sáy
Toi:
Pỏ chượng cáy se lủc tỉnh khăn
Pỏ táng bjai khẩu lài
Táp:
Mẻ táng tăm nua tài pỏn lủc
Mẻ chắp chướng việc rườn
Tói:
Khúp pi síp soong bươn bấu tặng
Pỏ lùng nặm pắt pja
Táp:
Pỏ pjn phja íp mác
Se nhom lục đảy luông cải mả
Cung lào pỏ sày cải, sày sung


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
143


Tò tùng co mạy lùng mạy vác
Nựa đây se lủc kin
Tói:
Pỏ mẻ sìm đúc kén
Phja thái cỏ sày nắc sày sung
Táp:
Sằng phính đảy lao cung pỏ mẻ
Pẩy cảng noọng cỏ thin
Tói:
Sình pỏ mẻ sin nin bấu mả
Lùm pẳt quá đung pá đán phja
Táp:
Đíng đây pỏ mẻ rà cư cẳm
Bấu mì răng thẩu quá cong phầy
Tói:
Bấu sừ đảy đây hơn pỏ mẻ
Cung lào nẩy nàn kể đảy mà
Táp:
Cải sung thêm nắc na vạn tởi
Lủc đíp pỏ, đíp mẻ thủn sim
Tói:
Vạn ngần cắp sin kim bấu táy
Ngừn dèn rự vài ké cỏ mầy
Táp:
Rự cừn ké kỳ sì tẻ đảy
Lủc bấu pỏ, dỉn sướng tởi cừn
Tói:
Bấu mì mẻ lẻ pìn lủc pjạ
Tởi lủc sày vùn cạ dau sàu
Đu nòn phăn hăn ngàu pỏ mẻ
Vàm kháo nẩy pỉ thin
Táp:
Dú tởi nin sày sạy
Cưn vằn sim sẩy ngậy kiăn sình
Tói:
Cái noọng phận mẻ nhính nàn sán
Lủc mẻ nhình sim sẩy đây pjoòi
Táp:
Đảy pỏ mẻ đính ngòi sương siết


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
144


Pỏ mẻ pẩy sày đây
Tói:
Noọng ái pây ngòi quá
Pỏ mẻ cừn từ cỏ sày đây
Táp:
Mừ đủi pẩy sắc pày ngòi quá
Vảng noọng đảy hất lùa rườn pỉ
Tói:
Pỏ mẻ noọng tả lậy sày đây
Mừa đủi pỉ sắc pày ngòi quá
Vảng noọng đảy hất lùa rườn pỉ
Tói:
Pỏ mẻ noọng tả lậy sày đây
Mọi cung việc noọng thay pỏ mẻ
Cái noọng lủc mẻ nình
Táp:
Sủng mầy xình mầy lỷ
Tửi pẩy vảng cáp đảy noọng mừ
Vỏ mẻ bấu sắc dừ rầư khỏ
Noọng pang pỏ pây tủng thư nà
Tói:
Nàng pang mẻ khửn phja phát rẩy
Pỏ mẻ đảy noọng nàng hất lùa
Táp:
Sày sấy rì pùi khua sim sẩy
Noọng ếp phắc khun mu
Tói:
Nàng chướng tu rườn lảng
Sim sẩy nàng đảy tùng pác cảng
Táp:
Oóc pay noọng hư thảng tu rườn
Tửi pẩy răng sưởng hơn mầy noọng




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
145




HÁT YÊU


Đối: Anh nói em theo lời
Không có gì từ chối
Em vui lòng dẫn lối anh đi
Đường tình yêu quyết đi chót lọt
Đáp: Anh mời em hãy đi
Không từ chối mới phải
Đối: Lại đây anh lại đây
Cùng cất chân, cùng bước
Đáp: Vui vẻ em cất chân
Dẫn nhau xem hoa yêu, hoa quý
Đối: Lại đây anh lại đây
Hai ta lên đường tìm đường yêu, đường mến
Đáp: Vui vẻ em hãy đi
Đường nào đẹp em dẫn
Đối: Anh vừa nói yêu yêu
Thứ nhất anh yêu gì đấy
Đáp: Ai ai cũng biết yêu
Thứ nhất là yêu mẹ, yêu cha
Thứ hai yêu trâu bò vất vả
Đối: Thứ ba là yêu ai?
Thứ tư yêu gì đó?
Đáp: Thứ ba yêu nồi chảo cùng kiềng
Thứ tư yêu giường nằm bố mẹ
Đối: Thứ năm là yêu ai


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
146


Thứ sáu yêu gì đấy
Đáp: Thứ năm yêu tấm áo che thân
Thứ sáu yêu người tình quí mến
Đối: Bảy thì ta yêu ai?
Tám thì yêu gì đó?
Đáp: Bảy thì yêu chú, bác, cô, dì
Tám ta yêu thông gia nội ngoại
Đối: Thứ chín ta yêu ai
Thứ mười thì ta yêu gì đấy?
Đáp: Thứ chín ta yêu hết mọi người
Thứ mười yêu đất mường, đất bản
Đối: Mười một yêu cái gì?
Mười hai yêu gì đấy?
Đáp: Mười một yêu xuân hạ thu đông
Mười hai yêu quanh năm suốt tháng
Yêu tất cả điều hay
Ghét đắng và ghét cay điều dở
Đối: Anh nói đến điều hay
Điều nào hay anh nói
Đáp: Thân ta do bố mẹ sinh ra
Chín tháng mẹ mang thai vất vả
Mẹ xem con, bố phảo đi làm
Nuôi con để nên người vất vả
Đối: Em biết công cha mẹ nặng sâu
Được ví như núi cao, biển rộng
Đáp: Công bố mẹ sâu, nặng, cao, dày
Nếu so với biển, núi còn cao hơn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
147




Đối: Bên ướt để mẹ nằm
Phần khô cho con ngủ
Đáp: Công mẹ thật là lớn
Vì con, mẹ không ngủ đầy giấc
Đối: Ngày tã lót liền tay
Đêm mẹ luôn bồng bế
Đáp: Khi nào em trở thành người mẹ
Khi đó anh sẽ kể em nghe
Kể từ sớm tới khuya chưa hết
Đối: Đẹp nhất là tấm lòng mẹ cha
Ngày đêm mong con ta khôn lớn
Đáp: Luôn luôn mẹ tắm rửa cho con
Ngày ngày cha luôn tay giặt giũ
Đối: Mẹ ẵm con trong lòng
Vẫn ngồi khung dệt vải
Chăn gà lợn, trâu bò
Công mẹ to hơn núi
Đáp: Sớm cha ra ruộng cày bừa
Chiều lại lên đồi phát rẫy
Đối: Mẹ nuôi vịt lấy trứng cho con
Nuôi gà để cho con nghe gáy
Đáp: Đến vụ cha làm cỏ một mình
Một thân mẹ giã gạo
Đối: Mẹ ở nhà thu xếp cửa nhà
Suốt tháng, quanh năm mẹ không nghỉ
Đáp: Bố lội nước bắt cá cho con


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
148


Bố vào rừng lên non hái quả
Dành cho con ăn mau lớn
Công lao này thật nặng, thật cao
Rõ ràng cao hơn hòn núi Thái(1)
Đối: Miếng thịt dành cho con
Bố mẹ chỉ nhai xương, rau cỏ
Đáp: Núi Thái Sơn rõ nặng, rõ cao
Chưa sánh nổi công lao bố mẹ
Đối: Lời nói của anh phân phải trái
Nhờ anh, nay phận gái đã hay
Tình bố mẹ sau này nhớ mãi
Đáp: Ở đời con giữ hiếu mẹ cha
Phụng dưỡng lúc tuổi già phải phép
Đối: Anh nói cho em biết rõ ràng
Công lao mẹ cha ngàn năm nhớ mãi
Đáp: Gió thổi qua rừng sâu, núi cao
Phận con xem mẹ cha trọn vẹn
Đối: Không có gì ấm hơn lửa mùa đông
Không có gì bằng tấm lòng bố mẹ
Đáp: Khó kể hết công mẹ, công cha
Cao hơn núi, rộng hải hà mênh mông
Đối: Con yêu bố, yêu mẹ hết lòng
Ngàn bạc cùng vạn vàng không đổi
Đáp: Có tiền ta mua được trâu già
Vàng bạc mua người già không có
Đối: Con không cha, tệ hại cửa nhà
Con không mẹ, hoá ra côi cút


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
149


Suốt đời con tủi nhục khổ tâm
Thấy mẹ cha chỉ trong mộng mị
Đáp: Làm con quý mẹ, quý cha
Nhớ công cha mẹ mới là con ngoan
Đối: Suốt đời em nhớ lời của anh
Nghĩ lại càng thấy ngọn ngành tình yêu
Đêm ngày em suy nghĩ nhiều
Phận em là gái nhiều điều phải lo
Đáp: Làm thân con gái đoa n trang
Làm cho cha mẹ ngày càng yên vui
Đối: Bố mẹ của anh thế nào
Em xin gặp mặt, để chào được không?
Đáp: Bố mẹ của ai cũng đẹp lòng
Mời em đến một lần thăm hỏi
Đối: Nếu em được làm dâu nhà anh
Em hết lòng phụng dưỡng cha mẹ
Đáp: Thân em là phận gái
Có nghĩa nghĩa phải có tình
Ta đinh ninh luôn nhớ
Đời anh nếu có em
Chắc bố mẹ ngày đêm vui vẻ
Đối: Em thay bố ra đồng cày bừa
Em giúp mẹ phát nương, phát rẫy
……….




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
150




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản