Luận văn "Thị trường trái phiếu Việt Nam"

Chia sẻ: Chu Van Tùng | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:28

0
691
lượt xem
394
download

Luận văn "Thị trường trái phiếu Việt Nam"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Hội nhập kinh tế thế giới đã trở thành một xu thế khách quan đối với mọi quốc gia trên thế giới. Làn sóng toàn cầu hóa đang diễn ra rất khẩn trương và mạnh mẽ. Việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO đánh dấu một bước tiến rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 8%/năm tương đối ổn định so với các nước trong khu vực. Để đạt được tốc độ tăng trưởng như...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn "Thị trường trái phiếu Việt Nam"

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỀ TÀI: Thị trường trái phiếu Việt Nam
  2. MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................................................................... 3 NỘI DUNG ...................................................................................................................................................... 4 I. Tổng quan về trái phiếu và thị trường trái phiếu ở Việt Nam................................................................ 4 I.1. Trái phiếu........................................................................................................................................... 4 I.2. Thị trường trái phiếu......................................................................................................................... 9 I.3.Hạn mức tín nhiệm của trái phiếu. .................................................................................................. 11 II.2. Thông tin tham khảo về Thị trường trái phiếu ở một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới. ................................................................................................................................................................ 19 II.3. Đánh giá thị trường trái phiếu Việt Nam ...................................................................................... 21 III. Giải pháp phát triển thị trường Trái phiếu Việt Nam hiện nay. ........................................................... 24 III.1. Mở rộng quy mô, đa dạng hoá và tăng tính thanh khoản cho thị trường trái phiếu ..................... 24 III.1.1. Đối với trái phiếu Chính phủ...................................................................................................... 25 III.1.2. Đối với trái phiếu chính quyền địa phương ................................................................................ 26 III.1.3. Đối với trái phiếu doanh nghiệp ................................................................................................. 26 III.1.4. Phát triển công cụ phát sinh liên quan đến trái phiếu................................................................ 26 III.2. Xây dựng và phát triển hệ thống định mức tín nhiệm (ĐMTN)..................................................... 27 III.3. Thu hút và phát triển đội ngũ tạo lập thị trường ............................................................................ 27 III.4. Xây dựng thị trường trái phiếu chuyên biệt .................................................................................... 27 III.5. Thực hiện công khai hóa thông tin .................................................................................................. 28 III.6. Phát triển thị trường phi tập trung (OTC)...................................................................................... 28 III.7. Hoàn thiện hệ thống pháp lý và hệ thống quản lý ........................................................................... 29 III.8. Nâng cao nhận thức về chứng khoán nói chung và trái phiếu nói riêng cho các doanh nghiệp và công chúng đầu tư...................................................................................................................................... 29 KẾT LUẬN .................................................................................................................................................... 30
  3. MỞ ĐẦU Hội nhập kinh tế thế giới đã trở thành một xu thế khách quan đối với mọi quốc gia trên thế giới. Làn sóng toàn cầu hóa đang diễn ra rất khẩn trương và mạnh mẽ. Việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO đánh dấu một bước tiến rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt đã đạt được tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 8%/năm tương đối ổn định so với các nước trong khu vực. Để đạt được tốc độ tăng trưởng như vậy, thì phải chuẩn bị nguồn lực thật tốt và một trong những nguồn lực không thể thiếu là vốn. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay nhu cầu vốn tăng cao và tăng dần qua các năm. Việc huy động nguồn vốn trong và ngoài nước của Việt Nam đã đạt được kết quả hết sức khả quan. Tuy nhiên, việc huy động vốn trong nước cũng chưa thật sự phát triển mạnh, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn. Do đó, để đẩy nhanh việc huy động nguồn huy động dài hạn thì việc phát triển thị trường vốn trong thời gian sắp tới là rất cần thiết. Đặc biệt là phát triển thị trường trái phiếu, đây là kênh dẫn vốn quan trọng để ổn định và phát triển nền kinh tế đất nước. Với tính cấp thiết của việc phát triển thị trường trái phiếu mà nhóm TCDN 49A_Thị trường chứng khoán 3 chúng em chọn đề tài “Thị trường trái phiếu Việt Nam” nhằm đưa ra cái nhìn rõ hơn về thị trường này, từ đó có những giải pháp mang tính chất định hướng để phát triển thị trường trái phiếu hoạt động hiệu quả cả trong ngắn hạn và dài hạn.
  4. NỘI DUNG I. Tổng quan về trái phiếu và thị trường trái phiếu ở Việt Nam I.1. Trái phiếu I.1.1. Khái niệm Trái phiếu đơn giản chỉ là một loại giấy hứa trả tiền dài hạn, do người đi vay phát hành, hứa sẽ trả tiền cho người nắm giữ trái phiếu một khoản lãi cố định được xác định trước mỗi năm. Nói cách khác, trái phiếu (TP) là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu (người cho vay) đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành (người đi vay), xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành cho người sở hữu với khoản tiền xác định (gốc và lãi) vào thời điểm nhất định (ngày đáo hạn) ghi trên trái phiếu. I.1.2. Đặc trưng: Một trái phiếu thường có những đặc trưng sau: I.1.2.1. Mệnh giá: Là giá trị danh nghĩa, hay giá trị bề mặt của trái phiếu được in ngay trên tờ phiếu, đại diện cho số vốn gốc được hoàn trả cho trái chủ tại thời điểm đáo hạn. Ở VN, mệnh giá của trái phiếu được ấn định là 100.000 VNĐ và các mệnh giá khác là bội số của 100.000 VNĐ. Mệnh giá của trái phiếu được xác định phụ thuộc vào số tiền huy động trong kỳ và số trái phiếu phát hành. Công thức tính: MG = VHĐ/SPH Với: MG: mệnh giá trái phiếu VHĐ: số vốn huy động SPH: số trái phiếu phát hành I.1.2.2.Tỷ suất sinh lời của trái phiếu: Là lãi suất danh nghĩa của trái phiếu quy định mức lãi mà nhà đầu tư hưởng hàng năm. Thông thường có 2 phương thức trả lãi: 6 tháng/lần vào ngày 30/6 và 1 năm/ lần vào ngày 31/12. Mỗi trái phiếu có ghi lãi suất của tổ chức phát hành cam kết sẽ thanh toán cho chủ sở hữu trái phiếu một số tiền lãi vào một ngày xác định và có thể theo định kỳ. Lãi suất danh nghĩa được xác định bởi các điều kiện thị trường tại thời điểm chào bán trái phiếu. Số tiền lãi nhà đầu tư nhận được hàng năm = lãi suất coupon x MG Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất trái phiếu:
  5. + Cung cầu vốn trên thị trường tín dụng. Lượng cung cầu vốn đó lại tuỳ thuộc vào chu kỳ kinh tế, động thái chính sách của ngân hàng trung ương, mức độ thâm hụt ngân sách của chính phủ và phương thức tài trợ thâm hụt đó. + Mức rủi ro của mỗi nhà phát hành và của từng đợt phát hành. Cấu trúc rủi ro của lãi suất sẽ quy định lãi suất của mỗi trái phiếu. Rủi ro càng lớn, lãi suất càng cao. + Thời gian đáo hạn của trái phiếu. Nếu các trái phiếu có mức rủi ro như nhau, nhìn chung thời gian đáo hạn càng dài thì lãi suất càng cao. I.1.2.3. Giá mua: Giá mua trái phiếu là khoản tiền thực tế mà nhà đầu tư bỏ ra để có được quyền sở hữu trái phiếu. Giá mua có thể bằng, cao, hoặc thấp hơn mệnh giá. Tuy nhiên dù giá mua thế nào thì tiền lãi luôn được xác định theo mệnh giá. Và đến ngày đáo hạn, trái chủ sẽ được trả lại vốn gốc bằng với mệnh giá trái phiếu. Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu: + Kỳ hạn của trái phiếu: kỳ hạn càng dài, tính biến động của trái phiếu càng lớn trước sự biến động của lãi suất thị trường. + Lãi suất tín dụng dài hạn: khi lãi suất này hạ thấp thì nhiều nhà đầu tư mua TP làm cho cầu TP tăng và giá TP tăng và ngược lại + Tình hình lạm phát: khi nhà đầu tư mua TP các công ty phát hành cam kết sẽ trả một lãi suất cố định trong suốt kỳ hạn của TP. Do đó khi lạm phát xảy ra, giá TP sẽ giảm. + Tình hình kinh doanh và uy tín của doanh nghiệp phát hành + Rủi ro về tỷ giá + Rủi ro thanh lý: rủi ro về tính thị trường phụ thuộc vào khả năng bán dễ dàng một TP mới. + Rủi ro do biến cố bất ngờ + Rủi ro TD: nguy cơ công ty phát hành không có khả năng chi trả đúng hạn, tức là không có khả năng chi trả mệnh giá và lãi đúng hạn I.1.2.4. Thời hạn: Thời hạn của trái phiếu là số năm theo đó người phát hành hứa hẹn đáp ứng những điều kiện của nghĩa vụ. Kỳ hạn trái phiếu có ý nghĩa quan trọng vì lợi tức trái phiếu phụ thuộc vào thời hạn của nó. I.1.2.5. Quyền mua lại: Đối với loại trái phiếu có điều khoản chuộc lại cho phép tổ chức phát hành trái phiếu thu hồi trái phiếu và hoàn lại vốn gốc với mức giá dự kiến trước thời hạn thanh toán. Tổ chức phát hành sử dụng
  6. quyền này để bảo vệ họ không phải trả lãi suất cao hơn đối với số tiền mà họ vay. Tổ chức phát hành thu hồi trái phiếu khi tỷ lệ lãi suất trên thị trường thấp hơn lãi suất của trái phiếu của tổ chức phát hành đã phát hành trước đó và có thể phát hành trái phiếu mới với tỷ lệ lãi suất thấp hơn. I.1.2.6. Những rủi ro chủ yếu trong đầu tư trái phiếu. - Rủi ro tài chính: là rủi ro về khả năng thanh toán, trong đó người phát hành trái phiếu không đủ khả năng tài chính để hoàn trả đầy đủ, đúng hạn các khoản tiền phải trả như đã cam kết cho trái chủ. - Rủi ro lãi suất: lãi suất là yếu tố thường xuyên, liên tục biến động, phản ánh những tương quan cung cầu, vốn tiền tệ, cung cấp tín dụng trên thị trường tài chính, cũng từ đó dẫn tới những thay đổi liên tục về tỉ suất sinh lời cần thiết của trái phiếu. Những thay đổi này đem lại rủi ro cho trái chủ và vì thế nó cần được bù đắp lại bằng những thay đổi về giá trị của trái phiếu. - Rủi ro thanh toán: là rủi ro về khả năng chuyển đổi thành ngân quỹ ( tiền mặt) trên thị trường, bao gồm cả yếu tố thời gian và giá cả khi chuyển đổi. - Rủi ro sức mua hay rủi ro do lạm phát gây ra: lạm phát gây sự thay đổi giá trị, sức mua của tiền tệ, từ đó gây nên những thiệt hại nhất định cho các nhà đầu tư trái phiếu. Lạm phát sẽ ảnh hưởng đến gái trị của các khoản tiền lời và vốn đầu tư trái phiếu. Lạm phát cũng ảnh hưởng đến sức mua của trái phiếu trên thị trường. I.1.2.7 Đặc điểm cơ bản của trái phiếu - Đứng trên giác độ của chủ thể phát hành: + Chủ thể phát hành trái phiếu tạo nên khoản nợ cho doanh nghiệp của mình. Chủ thể phát hành không chỉ có công ty mà còn có cả chính phủ và chính quyền địa phương. + Độ an toàn thấp hơn cổ phiếu do phải chịu áp lực phải thanh toán nợ. + Ngược lại chi phí nợ thấp hơn cổ phiếu nên lãi suất thấp hơn tạo nên khoản tiết kiệm và lợi thế cho chủ thể phát hành. - Đứng trên giác độ người mua: + Người mua trở thành chủ nợ của chủ thể phát hành. + Nều như thu nhập chủ yếu của chủ sở hữu cổ phiếu là cổ tức phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của công ty thì trái lại thu nhập chủ yếu của trái phiếu là tiền lãi - khoản thu cố định không phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của chủ thể phát hành. + Nếu công ty hay doanh nghiệp bị phá sản hoặc giải thể thì trước hết công ty ưu tiên trả nợ cho các trái chủ trước sau đó mới phân chia cho các cổ đông. Vì vậy, trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu. Cho nên đây là dạng đầu tư nên được quan tâm và rất triển vọng trong tương lai.
  7. I.1.3. Phân loại trái phiếu I.1.3.1. Căn cứ theo tính chất chuyển nhượng: - Trái phiếu vô danh: là trái phiếu không mang tên trái chủ, cả trên chứng chỉ cũng như trên sổ sách của người phát hành. Những phiếu trả lãi đính theo tờ chứng chỉ, và khi đến hạn trả lãi, người giữ trái phiếu chỉ việc xé ra và mang tới ngân hàng nhận lãi. Khi trái phiếu đáo hạn, người nắm giữ nó mang chứng chỉ tới ngân hàng để nhận lại khoản cho vay. - Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, trên chứng chỉ và trên sổ của người phát hành. Hình thức ghi danh có thể chỉ thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ, cả gốc lẫn lãi. Dạng ghi danh toàn bộ mà đang ngày càng phổ biến là hình thức ghi sổ. Trái phiếu ghi sổ hoàn toàn không có dạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính. I.1.3.2. Căn cứ vào đối tượng phát hành trái phiếu: - Trái phiếu chính phủ: là những trái phiếu do chính phủ phát hành nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích, hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ.Trái phiếu chính phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao. Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu chính phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn. Trái phiếu chính phủ gồm những loại sau: TP kho bạc di hạn, TP đảm bảo bằng tài sản thế chấp, TP nghĩa vụ chung, TP thuế hạn chế, TP quốc tế. - Trái phiếu công trình: là loại trái phiếu được phát hành để huy động vốn cho những mục đích cụ thể, thường là để xây dung những công trình cơ sở hạ tầng hay công trình phúc lợi công cộng. Trái phiếu này có thể do chính phủ trung ương hoặc chính quyền địa phương phát hành. - Trái phiếu công ty: là các trái phiếu do các công ty phát hành để vay vốn dài hạn.Trái phiếu công ty có đặc điểm chung sau: Trái chủ được trả lãi định kỳ và trả gốc khi đáo hạn, song không được tham dự vào các quyết định của công ty. Nhưng cũng có loại trái phiếu không được trả lãi định kỳ, người mua được mua dưới mệnh giá và khi đáo hạn được nhận lại mệnh giá. Khi công ty giải thể hoặc thanh lý, trái phiếu được ưu tiên thanh toán trước các cổ phiếu. Có những điều kiện cụ thể kèm theo, hoặc nhiều hình thức đảm bảo cho khoản vay. Trái phiếu công ty bao gồm những loại sau:
  8. + Trái phiếu có đảm bảo: là trái phiếu được đảm bảo bằng những tài sản thế chấp cụ thể, thường là bất động sản và các thiết bị. Người nắm giữ trái phiếu này được bảo vệ ở một mức độ cao trong trường hợp công ty phá sản, vì họ có quyền đòi nợ đối với một tài sản cụ thể. + Trái phiếu không bảo đảm: Trái phiếu tín chấp không được đảm bảo bằng tài sản mà được đảm bảo bằng tín chấp của công ty. Nếu công ty bị phá sản, những trái chủ của trái phiếu này được giải quyết quyền lợi sau các trái chủ có bảo đảm, nhưng trước cổ động. Các trái phiếu tín chấp có thể chuyển đổi cho phép trái chủ được quyền chuyển trái phiếu thành cổ phiếu thường của công ty phát hành. Tuỳ theo quy định, việc chuyển đổi có thể được tiến hành vào bất cứ thời điểm nào, hoặc chỉ vào những thời điểm cụ thể xác định. Ngoài những đặc điểm trên, mỗi đợt trái phiếu được phát hành có thể được gắn kèm theo những đặc tính riêng khác nữa nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của một bên nào đó. Cụ thể là: + Trái phiếu có thể mua lại cho phép người phát hành mua lại chứng khoán trước khi đáo hạn khi thấy cần thiết. Đặc tính này có lợi cho người phát hành song lại bất lợi cho người đầu tư, nên loại trái phiếu này có thể có lãi suất cao hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn. + Trái phiếu có thể bán lại: cho phép người nắm giữ trái phiếu được quyền bán lại trái phiếu cho bên phát hành trước khi trái phiếu đáo hạn. Quyền chủ động trong trường hợp này thuộc về nhà đầu tư, do đó lãi suất của trái phiếu này có thể thấp hơn so với những trái phiếu khác có cùng thời hạn. + Trái phiếu có thể chuyển đổi cho phép người nắm giữ nó có thể chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu thường, tức là thay đổi tư cách từ người chủ nợ trở thành người chủ sở hữu của công ty. Loại trái phiếu này thuộc vào nhóm hàng hoá chứng khoán có thể chuyển đổi được đề cập tới dưới đây. I.1.3.3. Theo thời gian đáo hạn: + Tp ngắn hạn: thời hạn 1 đến 5 năm: + TP trung hạn: thời hạn 5 đến 15 năm + TP dài hạn: trên 15 năm. + TP vô hạn: không ghi ngày đáo hạn I.1.3.4. Căn cứ theo phương thức trả lãi + Tp lợi tức + Tp chiết khấu I.1.3.5. Căn cứ theo phạm vi lưu thông + Tp quốc nội + Tp quốc tế I.1.4. Điều kiện phát hành
  9. Đối với chủ thể phát hành là doanh nghiệp phải hội đủ những điều kiện sau: - Là công ty cổ phần, công ty TNHH, DNNN có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành là 10 tỷ đồng VN. - Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có lãi, đồng thơi không có lỗ luỹ kết đến năm đăng ký chào bán, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 1 năm. - Có phương án phát hành, phương án sử dụng và trả vốn thu được từ đợt phát hành trái phiếu. - Có cam kết thực hiện nghĩa vụ của tổ chức phát hành đối với nhà đầu tư về điều kiện phát hành, thanh toán, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và các điều kiện khác. I.2. Thị trường trái phiếu I.2.1. Khái niệm Thị trường trái phiếu là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng của thị trường tài chính là cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Thị trường trái phiếu là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn cho đầu tư và phát triển kinh tế, do đó có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng và nền kinh tế nói chung. Thị trường trái phiếu ở Việt Nam gồm có tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu doanh nghiệp (bao gồm cả trái phiếu ngân hàng thương mại), chứng chỉ tiền gửi và các chứng khoán nợ có giá trị khác. I.2.2. Phân loại thị trường trái phiếu Thị trường trái phiếu được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp I.2.2.1. Thị trường sơ cấp Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các trái phiếu mới phát hành. Trên thị trường này vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu mua các trái phiếu mới phát hành Vai trò của thị trường sơ cấp - Trái phiếu hóa các nguồn vốn cần huy động, vốn của công ty được huy động qua việc phát hành chứng khoán - Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền san dạng vốn dài hạn. Đặc điểm của thị trường sơ cấp
  10. - Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà các trái phiếu đem lại vốn cho người phát hành. Là thị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành và đồng thời cũng tạo ra hàng hóa cho thị trường giao dịch. Trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư. - Những người bán trái phiếu trên thị trường sơ cấp được xác định thường là Kho bạc, Ngân hàng Nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành,... - Thị trường sơ cấp chỉ được tổ chức một lần cho một loại chứng khoán nhất định, trong thời gian hạn định. I.2.2.2 Thị trường thứ cấp Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các trái phiếu đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Là thị trường chuyển nhượng quyền nhượng quyền sở hữu trái phiếu. Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các trái phiếu đã phát hành. Đặc điểm thị trường thứ cấp - Trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán trái phiếu thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh trái phiếu chứ không thuộc về nhà phát hành. Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những người phát hành trái phiếu mà vận chuyển giữa những người đầu tư trái phiếu trên thị trường. Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường trái phiếu, gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp. - Giao dịch trên thị trường thứ cấp phản ảnh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá trái phiếu trên thị trường thứ cấp do cung và cầu, quy luật giá trị,… quyết định. - Thị trường thứ cấp là một thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư có thể mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường thứ cấp. I.2.2.3. Mối liên hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Thị trường sơ cấp là cơ sở, là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của thị trường thứ cấp vì đó là nơi cung cấp hàng hóa trái phiếu trên thị trường thứ cấp. Không có thị trường sơ cấp thì không thể có sự xuất hiện của thị trường thứ cấp. Thị trường thứ cấp là một lọai thị trường đặc biệt, nó không thể ra đời chừng nào vẫn chưa có một thị trường sơ cấp rộng rãi, vững chắc với nhiều loại trái phiếu đa dạng, phong phú, hấp dẫn nhiều nhà đầu và công chúng đến bỏ vốn ra để đầu tư trái phiếu. Ngược lại, thị trường thứ cấp đến lượt nó là động lực, là điều kiện cho sự phát triển của thị trường sơ cấp, vì một khi trái phiếu đã được phát hành ra trên thị trường, nếu không có một thị trường thứ cấp để lưu hành, mua bán, trao đổi tạo ra tính thanh khoản cho trái phiếu thì thật khó có thể thuyết phục nhà đầu tư bỏ tiền ra mua trái phiếu.
  11. Chính việc mua bán giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp làm cho lưu động hóa vốn đầu tư, các nhà đầu tư có thể chuyển từ trái phiếu thành tiền mặt. Vốn khả dụng thanh khoản cao của trái phiếu mà tính chất năng động của thị trường thứ cấp đã hấp dẫn các nhà đầu tư bỏ tiền ra mua trái phiếu. Điều này chính là điều kiện cơ bản để các nhà phát hành trái phiếu có thể bán được trái phiếu trên thị trường sơ cấp và huy động được nguồn vốn lớn theo nhu cầu. I.3.Hạn mức tín nhiệm của trái phiếu. I.3.1. Khái niệm Hạn mức tín nhiệm là sự đánh sự đánh giá hiện thời về mức độ sẵn sàng và khả năng trả gốc và lãi đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó. Sự cần thiết: việc đánh giá hạn mức tín nhiệm nhằm mục đích chủ yếu bảo vệ lợi ích cho người đầu tư. I3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới hạn mức tín nhiệm.  Tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần.  Những hoạt động sinh lời.  Sự biến thiên ở mức tấp trong thu nhập quá khứ.  Quy mô công ty.  Việc ít sử dung nợ thứ cấp. I.3.3 Căn cứ đánh giá hạn mức tín nhiệm.  Đối với doanh nghiệp:  Yếu tố về kinh doanh.  Yếu tố về quản lí.  Yếu tố về tài chính: tính ổn định của doanh thu, lợi nhuận, kết cấu vốn, tỷ lệ nợ, khả năng thanh toán hiện thời, khả năng sinh lời...  Đối với quốc gia:  Yếu tố rủi ro về chính trị.  Yếu tố rủi ro về kinh tế. I.3.4. Tác dụng của xếp hạng tín nhiệm. - Đối với nhà đầu tư: Hạn mức tín nhiệm là một chỉ tiêu rõ ràng, đơn giản và dễ hiểu để xem xét
  12. quyết định đầu tư. Đó là nhân tố quan trọng trong việc đánh giá mối quan hệ rủi ro và lợi nhuận thu được, Là công cụ quản lý danh mục đầu tư, là công cụ để đánh giá một số rủi ro liên quan - Đối với nhà phát hành: Giúp người phát hành mở rộng thị trường trên hai khía cạnh: có thể tham gia vào nhiều thi trường vốn khác nhau và mở rộng các nhà đầu tư tiềm năng; Duy trì sự ổn định của thị trường, nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của thị trường nự, tăng tính thanh khoản của trái phiếu; Giảm chi phí vay thông qua việc tạo cơ hội cho những nhà phát hànhtham gia vào thi trường vốn. - Đối với các cơ quan quản lý TTCK: Hạn mức tín nhiệm cung cấp những thông tin về nguyên tắc thị trường cho quá trình ra quyết định của Chính Phủ và cung cấp các thông tin về Chính phủ cho cộng đồng quốc tế. 3.5. Bảng ký hiệu xếp hạng tín nhiệm. S&P Moody's Diễn giải Chứng khoán có chất lượng cao rủi ro thấp, khả năng trả nợ II. Thực trạng AAA Aaa mạnh nhất. phát triển thị trường Chứng khoán có chất lượng cao rủi ro thấp, khả năng trả nợ AA Aa mạnh. trái phiếu Việt Nam A A Chứng khoán trên mức trung bình. hiện nay Chứng khoán trung bình mức, mức độ an toàn và rủi ro BBB Baa không cao, không thấp, không có dấu diệu nguy hiểm. II.1. Thực BB Ba Chứng khoán có biểu hiện tính đầu cơ. trạng thị trường trái B B Chứng khoán thiếu sự hấp dẫn trong đầu tư. phiếu Việt Nam hiện CCC Caa Kỹ năng trả nợ trả nợ thấp, dễ vỡ nợ. CC Ca Mức độ đầu cơ cao, thường bị vỡ nợ. nay C C Mức tín nhiệm thấp nhất vấn đề trả lãi gặp khó khăn Thị trường trái phiếu là một bộ phận của TTCK, là một kênh huy động vốn tiềm năng cho các dự án của chính phủ và cho các dự án tư nhân. Thị trường Trái phiếu ở Việt Nam hiện nay bao gồm tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu doanh nghiệp (Bao gồm cả trái phiếu ngân hàng thương mại), chứng chỉ tiền gửi và các khoản nợ có giá trị khác. Đương nhiên các trái phiếu này chiếm lĩnh vai trò chủ yếu trên thị trường vốn. Thị trường vốn Việt Nam vẫn được xem là nhỏ về quy mô, và còn chưa thực sự chuẩn hóa. Đây là một thị trường đang phát triển thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư và tổ chức tài chính nước ngoài. Quy mô của TTTP Việt Nam hiện chỉ ở mức 17% GDP, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ là 80%, Thái Lan là 58%, Malaysia 82%, Singapore 74% và Trung Quốc là 53%. Tính đến 30/6/2009, có khoảng 600 loại trái phiếu được niêm yết trên thị trường chứng
  13. khoán với tổng mệnh giá 155.367.623 tỷ đồng, chiếm khoảng 72% giá trị toàn thị trường. Trong 3 loại trái phiếu hiện đã được phát hành và mua bán tại Việt Nam, bao gồm trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính quyền địa phương và trái phiếu doanh nghiệp thì khối lượng trái phiếu chính phủ chiếm ưu thế trên thị trường với 81% thị phần, trong khi đó trái phiếu địa phương là 10%, trái phiếu doanh nghiệp là 9%. Trong 5 năm giai đoạn 2006-2010, GDP kỳ vọng tăng trưởng ở mức 8 - 8,5%, tổng vốn đầu tư cần thiết được ước tính là 2.675.000 tỉ đồng, tương đương 39.9% GDP. Do đó, nhu cầu vốn qua phát hành trái phiếu được ước tính là 187.250 tỉ đồng. Trong đó trái phiếu chính phủ sẽ chiếm tỉ trọng lớn nhất cả về khối lượng và giá trị. Năm 2008 thị trường trái phiếu đã hình thành thị trường chuyên biệt tại HaSTC. Cụ thể từ 2/6/2008 phần lớn trái phiếu niêm yết tại HoSE đã được chuyển niêm yết và giao dịch tại HaSTC. Các giao dịch phát hành và niêm yết trái phiếu mới tập trung thực hiện trên HaSTC. Sau đây chúng ta sẽ xem xét từng loại trái phiếu II.1.1 Trái phiếu chính phủ và tín phiếu kho bạc II.1.1.1 Đấu thầu và bảo lãnh phát hành Hoạt động phát hành TPCP qua hệ thống KBNN đã được thực hiện từ năm 1991. Hiện nay phát hành TPCP thông qua 2 phương thức: phương thức đấu thầu qua TTCK và bảo lãnh phát hành. TPCP được Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng phát triển Việt Nam phát hành hàng năm với khối lượng chủ yếu thông qua các kênh bảo lãnh phát hành và đấu thầu qua TTCK. TPCP niêm yết tại các TTGDCK chiếm khoảng 82% thị trường trái phiếu Việt Nam. Giá trị TPCP đấu thầu thành công qua các năm (Nguồn SGDCK TPHCM và TTGDCK HN) Giai đoạn 2000 - 2005 được xem là giai đoạn hình thành và khởi động TTCK Việt Nam. Do thị trường mới đi vào hoạt động nên việc tham gia đấu thầu còn mang tính thăm dò. Tổng giá trị gọi thầu thành công đang còn thấp. Năm 2006 cùng với sự bùng nổ của TTCK và thực hiện quyết định
  14. 2276/QĐ-BTC ngày 20/6/2006 của bộ tài chính về tập trung đấu thầu TPCP tại trung tâm giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Giá trị TPCP trúng thầu năm 2006 khoảng 7.885 tỷ gấp 3.3 lần so với năm 2005. Ðầu năm 2007, KBNN đã phát hành thành công TPCP theo lô lớn đầu tiên có tổng khối lượng tính theo mệnh giá là 1.000 tỷ đồng, được phát hành thành ba đợt vào các ngày 19/03/2007, 27/04/2007 và 17/05/2007, có cùng ngày đến hạn thanh toán là 19/03/2012, lãi suất thanh toán hằng năm (7,8%/năm). Tuy nhiên đến cuối năm 2007 thì khối lượng TPCP phát hành thành công giảm một cách đáng kể. Việc đấu thầu không thành công đã làm cho các đợt phát hành TPCP không phát hành được. Năm 2008 HaSTC đã tổ chức được 44 đợt đấu thầu trái phiếu, huy động được 7.008 tỷ đồng trên tổng số 31.700 tỷ đồng gọi thầu như vậy tỷ lệ vốn huy động được chỉ bằng 22.1% kế hoạch và bằng 36.9% tổng huy động vốn năm 2007. Mới đây, ngày 11/8/2009, 3000 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ do Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành, có 4 thành viên tham gia đấu thầu, tổng số tiền đăng ký là 185 tỷ đồng, lãi suất đăng ký thấp nhất là 9,50%/năm; lãi suất đăng ký cao nhất là 10,60%/năm, trong khi đó lãi suất trúng thầu chỉ là 9,10%/năm. Do vậy, kết quả đã không có đơn vị nào trúng thầu. Trước đó, ngày 29/5/2009, trong một phiên đấu thầu trái phiếu 500 tỷ đồng cũng không ai thành công do bên bán đặt lãi suất trần cao nhất chỉ 8,5%, trong khi lãi suất kỳ vọng mà các bên mua yêu cầu thấp nhất là 9,25%. Và đương nhiên, giao dịch đấu thầu đã không thể thành công. Cùng với việc triển khai phương thức đấu thấu TPCP qua TTGDCK, BTC đã thực hiện việc phát hành TPCP theo phương thức bảo lãnh phát hành kể từ tháng 09/2000. Tính đến 30/04/2008, TPCP do KBNN phát hành theo phương thức bảo lãnh phát hành đạt giá trị khoảng 52.816 tỷ và TPCP do NHPT Việt Nam phát hành qua bảo lãnh đạt giá trị khoảng 61.019 tỷ. Về thành viên tham gia, có 46 thành viên bảo lãnh phát hành TPCP, trong đó có 24 thành viên là NHTM. Với lợi thế về đặc trưng của phương thức bảo lãnh phát hành, lãi suất trái phiếu được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa tổ chức phát hành và tổ chức bảo lãnh phát hành, thành viên bảo lãnh chủ động trong việc quyết định đầu tư. Vì vậy kết quả phát hành thường đạt 100% và thu hút các nhà đầu tư lớn tham gia bảo lãnh phát hành. II.1.1.2. Giao dịch Trái phiếu chính phủ
  15. Dưới đây là số liệu thống kê về giá trị giao dịch trái phiếu qua các năm. Có thể thấy trong giai đoạn đầu từ năm 2000-2002 hoạt động giao dịch của trái phiếu nói chung và TPCP nói riêng diễn ra rất manh mún, thưa thớt. Từ năm 2003 đến nay, giá trị giao dịch TPCP tăng mạnh. Do số lượng TPCP được niêm yết tăng lên đáng kể. Mặt khác, do áp dụng các quy định như không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với trái phiếu của các tổ chức, cá nhân nhằm thúc đẩy giao dịch trái phiếu. Từ ngày 02/06/2008 toàn bộ TPCP niêm yết tại SGDCK.TpHCM chuyển về giao dịch tại trung tâm GDCKHN. Trong tháng 6/2009 tổng lượng trái phiếu VND chưa giao dịch tăng 6.1% so với cùng kỳ năm ngoái, và tăng 2.4% so với quý trước, đạt mức 212.7 nghìn tỷ VND. Trái phiếu chính phủ bằng đồng VND chiếm 96% tổng lượng trái phiếu VND, tăng 5.3% so với 1 năm trước nhờ vào sức tăng mạnh của trái phiếu kho bạc, trái phiếu Ngân Hàng phát triển Việt Nam, và trái phiếu doanh nghiệp nhà nước. TPCP phát hành bằng đồng USD cũng tăng kể từ cuối tháng 12/2008. Từ mức 1.4 tỷ USD, loại trái phiếu này đã tăng lên mức 1.6 tỷ USD vào cuối quý I/2009 và tiếp tục tăng lên mức 1.7 tỷ USD vào cuối tháng 6/2009. Vào tháng 6, tổng giá trị trái phiếu bằng đồng VNĐ và USD tại Việt Nam là 13.7 tỷ USD cao hơn 13.3 tỷ đăng ký vào tháng ba. II.1.2. Trái phiếu Chính quyền địa phương Phát hành TPCQĐP nhằm mục đích huy động vốn đầu tư cho các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng của Trung ương cũng như địa phương. Trái phiếu CQĐP được chính quyền địa phương phát hành dưới sự cho phép của chính phủ. Hiện nay mới chỉ có Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai phát hành TPCQĐP (trái phiếu đô thị) để huy động vốn. Các tỉnh thành được phép phát hành đến 30% tổng nhu cầu chi tiêu và phải được chính phủ cho phép phát hành trái phiếu. Số trái phiếu này phát
  16. hành thông qua các kênh đấu giá, bảo lãnh và đại lý phát hành. Tuy nhiên, tính thanh khoản của loại trái phiếu này rất thấp. Hình 2.2: Giá trị TPCQĐP phát hành từ 2003-2007 Nguồn: Tập hợp từ Sở GDCKTP.HCM và TT GDCKHN II.1.3. Trái phiếu doanh nghiệp Cho tới năm 2008 mới chỉ có 21 doanh nghiệp phát hành trái phiếu gồm có: Petro VietNam, Tổng công ty cao su, Vinashin, Electric Vietnam Copreration (EVN), Lilama, Vietnam Steel Corperation, Vilexim,… Tất cả các công ty này đều là những đơn vị đầu ngành hoặc các doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa. Thực tế nhu cầu vốn của họ là nguồn vốn lớn, dài hạn và ổn định để đáp ứng yêu cầu, mà những nguồn vốn này khó có thể vay được từ một ngân hàng. Thực ra uy tín của các công ty này đủ để đề nghị với ngân hàng bất kỳ khoản vay nào, tuy nhiên các ngân hàng cũng có những giới hạn trong việc cho vay như các khoản vay tối đa phải dưới 15% tổng vốn chủ sở hữu. Do vậy thị trường trái phiếu là một kênh cần thiết để huy động lượng vốn lớn, dài hạn. Tình hình phát hành TPDN từ năm 2006- 30/06/2008 Giá trị phát Năm Thời hạn Lãi suất STT Tổ chức phát hành hành phát (năm) (%/năm) (tỷ đồng) hành I Trái phiếu doanh nghiệp đang niêm yết tại TTGDCK 1 NH Đầu tư và Phát triển TPHCM 2.205 10-15 9,8-10,2 2006 2 NH Ngoại Thương VN 1.375 7 6 2005 3 Tập đoàn Điện Lực VN 6.000 5 9,6 2006 4 TCT Tài Chính Dầu khí VN 365 5 9,5 2006 II Trái phiếu doanh nghiệp khác 1 TCT Sông Đà 260 10 5 2006 2 NHTM Á châu - - TP chuyển đổi 550 5 8 2006 - TP thông thường 2.200 5 8,6 2007
  17. 16- 3 Công ty Chứng khoán SG (SSI) 500 9,8-10,2 2006 24tháng 4 NHNN và PT VN 3.000 10-15 9,8-10,2 2006 5 NH PT Nhà ĐBS Cửu Long 150 2 9,2 2006 6 TCT Lắp Máy VN Lilama 500 5 9,6 2007 1.000 10 9,2 2007 500 5 8,8 2007 7 TCT Thép VN 400 5 9,5 2007 500 5 10 2007 8 NHTM Sài Gòn 1.400 13tháng 8,5 2007 9 NHTMCP Quân Đội 1.000 2 8 2007 1.500 3 8,3 2007 10 TCTCP Xây Dựng VN Vinaconex 1.000 2 3 2007 11 TCT Tàu Thủy VN Vinashin 3.000 10 9 2007 12 Công ty CN Tàu Thủy Nam Triệu 300 2 9,6 2007 13 Công ty CP Đường Cao Tốc 400 15 9 2007 14 TĐ Dệt May VN Vinatex 1.000 5 9 2007 15 Công ty Tín Nghĩa 1.000 5 9,2 2007 16 Công ty TM Sài Gòn Satra 1.000 5 9,2-9,6 2007 17 Cty Địa ốc SG Thương Tín Sacomreal 1.000 5 9,5-9,7 2007 18 Công ty CP Thực phẩm 1.000 5 9,6-10 2007 19 Cty CP ĐT Hạ Tầng Kỹ Thuật TPHCM 132 3 8 2007 20 Công ty CP Vincom 1.000 5 10,3 2007 2.000 5 16 2008 21 Công ty CPDL&TM Vinpearl 500 3 15 2008 500 5 16 2008 Nguồn: Tập hợp từ Sở GDCKTP.HCM, TT GDCKHN và Công ty chứng khoán Sài Gòn Doanh số từ phát hành trái phiếu có sự tăng trưởng mạnh mẽ. Từ 300 tỷ VND do tổng công ty dầu khí phát hành năm 2003 đã lên đến hơn 6.600 tỷ VND tháng 3 năm 2007, đặc biệt năm 2006 đạt hơn 8.800 tỷ VND, trong đó EVN phát hành 6 đợt với tổng doanh số là 6.000 tỷ VND. Tổng doanh số phát hành trái phiếu từ 2003 đến 2007 đạt khoảng 25.000 tỷ VND. Trong đó Vinashin và EVN là hai doanh nghiệp phát hành nhiều nhất chiếm 41% và 36% tương ứng. Còn các công ty khác dưới 10%. Các trái phiếu được phát hành với kỳ hạn từ 2 năm đến 10 năm. Trái phiếu Vinaconex và Lilama phát hành thường có kỳ hạn 5 năm. Vinaconex khuyến khích các nhà đầu tư bằng cách phát hành trái phiếu kèm theo chứng quyền là quyền mua cổ phiếu của Nhà máy xi măng Cẩm Phả với mức giá ưu đãi. Trái phiếu EVN thường có kỳ hạn từ 5 đến 10 năm, đầu tư vào các công trình thủy điện, cải tạo mạng lưới điện quốc gia. Lãi suất TPDN, về cơ bản đều cao hơn lãi suất đấu thầu TPCP. Tất cả các trái phiếu đều trả sau, với phương thức trả lãi hàng năm (coupon), lãi suất cố định. Riêng TCT Sông Đà, TCT Điện Lực Việt
  18. Nam, Công ty Cổ phần Vincom phát hành trái phiếu có lãi suất thả nổi, được điều chỉnh căn cứ vào lãi suất TPCP hoặc lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng. 6 tháng đầu năm 2009 trái phiếu doanh nghiệp tăng 30.8% theo năm và tăng 8.3% tính theo tháng, ở mức 8.3 nghìn tỷ VND. Tuy nhiên loại trái phiếu này giảm 8.3% so với quý trước. Nhiều doanh nghiệp hiện đang có kế hoạch phát hành trái phiếu trong thời gian còn lại của năm nay. Sacombank phát hành 1 nghìn tỷ VND trái phiếu chuyển đổi vào năm 2009. Petro Vietnam đang có kế hoạch phát hành 5 triệu đến 1 tỷ USD trái phiếu vào cuối năm 2009. II.1.4. Trái phiếu chuyển đổi ở Việt Nam Các doanh nghiệp phát hành trái phiếu chuyển đổi hầu như chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính như: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài gòn (SCB), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng cổ phần Gia Định, Công ty chứng khoán Sài Gòn (SSI)… Lấy ví dụ, phân tích trái phiếu trái phiếu chuyển đổi của ngân hàng Ngoại thương để thấy được đặc thù của trái phiếu chuyển đổi ở VN: + Tháng 12/2005, sự kiện Vietcombank phát hành thành công 1.375 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi với lãi suất bình quân 6%/năm (lãi suất đưa ra tối đa 8,5%/năm cố định trong 7 năm), trong khi lãi suất tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại là 9%/năm. Ngay sau khi xuất hiện, giá của trái phiếu chuyển đổi Vietcombank rao bán trên thị trường OTC với 1,5 lần mệnh giá (mệnh giá 100.000 đồng). + Vào thời điểm phát hành đợt trái phiếu trên, Vietcombank chưa phải là một ngân hàng cổ phần. Nhưng điểm hấp dẫn của trái phiếu chuyển đổi là ở chỗ nó cho nhà đầu tư kỳ vọng mua được cổ phần của công ty phát hành trong tương lai với giá ưu đãi. Trong khi đó, theo qui định của Vietcombank, cái gọi là "trái phiếu chuyển đổi" này sẽ được chuyển sang cổ phiếu theo bình quân gia quyền của giá bỏ thầu thành công trong lần phát hành đầu tiên (IPO) của Vietcombank, không khác gì việc tham gia bỏ thầu trực tiếp vào thời điểm đó. Như vậy rõ nhà đầu tư chẳng được lợi gì từ tỉ lệ chuyển đổi, trong khi phải chịu mức lãi suất thấp trong một thời gian dài. + Trong khi trên thế giới, doanh nghiệp chỉ được phép phát hành trái phiếu chuyển đổi sau khi phát hành cổ phiếu làm cơ sở xác định tỷ lệ chuyển đổi thì Vietcombank đã làm được điều ngược lại. Chính vì điều này mà trái phiếu chuyển đổi Vietcombank không có tỷ lệ chuyển đổi cố định trước. Hơn nữa thời hạn chuyển đổi cũng không được xác định cụ thể. Do đó, nhà đầu tư không thể xác định được
  19. giá trị nội tại hay giá trị thời gian của quyền mua. Chính vì vậy, trái phiếu Vietcombank đã giảm giá sau khi chính thức lên sàn giao dịch, mặc dù việc giao dịch trên sàn giao dịch chính thức làm tăng tính thuận lợi, an toàn và minh bạch trong giao dịch. Trong thời gian trái phiếu chuyển đổi chưa đáo hạn mà doanh nghiệp phát hành thực hiện các nghiệp vụ như thưởng cổ phiếu, trả cổ tức bằng cổ phiếu, phát hành thêm cổ phiếu, hoặc tách cổ phiếu thì thị giá cổ phiếu của đơn vị đó gần như chắc chắn sẽ giảm xuống. Khi đó, giá trị số cổ phiếu có được từ việc chuyển đổi trái phiếu chuyển đổi sẽ giảm xuống, có thể giảm xuống thấp hơn giá trị của trái phiếu chuyển đổi. Ở TTCK các nước, trong những trường hợp như thế này, nhằm bảo vệ nhà đầu tư, Luật Công ty hoặc Luật Chứng khoán thường quy định tổ chức phát hành trái phiếu chuyển đổi phải có những điều chỉnh về giá hoặc tỷ lệ chuyển đổi. Nhưng ở Việt Nam hiện chưa có quy định về vấn đề này. Trước khả năng đạt được lợi nhuận cao khi cổ phiếu tăng giá, trong khi trường hợp xấu xảy ra, nhà đầu tư vẫn hưởng lãi trái phiếu và thu hồi được vốn gốc, hiện trái phiếu chuyển đổi đang hấp dẫn khá nhiều nhà đầu tư. Chính vì tính hấp dẫn của trái phiếu chuyển đổi đối với nhà đầu tư nên nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận mức lãi suất danh nghĩa thấp. Còn đối với đơn vị phát hành huy động vốn với chi phí thấp nên nhiều doanh nghiệp đã tăng cường huy động vốn bằng cách phát hành loại trái phiếu II.2. Thông tin tham khảo về Thị trường trái phiếu ở một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Năm 1997 cuộc khủng hoảng toàn diện khởi nguồn từ Thái Lan, sau đó lan sang Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Philippine, Hồng Kông và Singapore đã gây ra những hậu quả rất nặng nề. Một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng là tại phần lớn các nước Châu Á, ngân hàng giữ vai trò chủ đạo trong việc rót những khoản tiết kiệm trong nước vào đầu tư, khu vực này cung ứng khoản 80% nợ tài chính, trong khi thị trường trái phiếu chiếm chỉ hơn 20%. Nhu cầu vốn dài hạn, tốt nhất nên được thoả mãn bằng các khoản đầu tư dài hạn của những người cho vay dưới dạng cổ phiếu hay trái phiếu dài hạn. Sau khủng hoảng tài chính 1997-1998, các nước Châu Á nhận thấy cần phải có một thị trường vốn đa dạng hơn và đặc biệt là một thị trường trái phiếu có quy mô và độ sâu để hổ trợ tốt hơn nhu cầu vốn đầu tư dài hạn trong nền kinh tế. Sự xuất hiện này giờ đây đã làm các nước Châu Á thay da đổi thịt. Khu vực Đông Á, tăng trưởng mạnh về giá trị trái phiếu tính bằng đồng nội tệ đáng chú ý liên tục tăng trong 6 tháng cuối năm 2006, đạt 2.840 tỷ USD vào cuối năm 2006, tăng 32,4% từ 2.145 tỉ USD cuối năm 2005. Mức tăng lớn nhất là Trung Quốc (51%) và Thái lan (42%); tiếp theo là
  20. Singapore và Hàn Quốc (đều 19%); Indonesia (cùng 15%); Malaysia (14%); Hồng Kông (12%); và Philippine (8%). Đến năm 2008 tổng lượng trái phiếu lưu hành của Singapore 66.8%, Thái Lan: 52.4%, Philippin: 34.2%; năm 2009 Singapore: 74%, Thái Lan: 58%, Malaysia: 82%, Trung Quốc: 53%. Do cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 chính phủ các nước Châu Á đã đưa ra các gói kích cầu nhằm ổn định nền kinh tế do đó thị trường trái phiếu Đông Á năm nay rất sôi nổi. Báo cáo của ADB cũng cho biết, Trung Quốc và Việt Nam là 2 thị trường trái phiếu phát triển mạnh trong năm 2008. Trong đó, Trung Quốc tiếp tục là là thị trường phát hành trái phiếu lớn nhất khu vực với 2.200 tỷ USD trái phiếu chưa trả tính đến cuối năm 2008. Tỷ trọng trái phiếu doanh nghiệp ở các nước có xu hướng tăng tới cuối năm 2008 Phillipine: 10,68%; Malaysia: 83,57%; Singapore: 76,72%. Đến năm 2009 tỷ trọng lần lượt giữa trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu chính phủ ở Trung Quốc: 35% - 65%; Hàn Quốc: 51% - 49%; Singapore: 44% - 56%; Malaysia: 50% - 50%; Thái Lan: 33% - 67% (do các nước này huy động tiền kích cầu nền trái phiếu chính phủ tăng) Các nước trong khu vực Đông Á đã có sự nổ lực trong việc đưa ra các giải pháp nhằm phát triển TTTP. Đã sử dụng một hệ thống đơn vị TTTP Trung ương để thực hiện các chức năng thanh toán bù trừ khác nhau: một hệ thống chuyển các nguồn quỹ trong TTTP liên ngân hàng và một hệ thống chuyển chứng khoán thông qua thông tin nhập vào sổ sách điện tử (tại Hồng Kông). Phát hành TPCP theo lô lớn (Hàn Quốc áp dụng từ năm 2000, Trung Quốc, …) và sử dụng hệ thống giao dịch điện tử cho các đợt phát hành làm chuẩn (Hàn Quốc). Chính phủ Malaysia triển khai các biện pháp tạo tính thanh khoản như: chính sách bảo hiểm cho các TPCP; thực hiện công cuộc tự do hóa lãi suất; công bố công khai kế hoạch thực hiện đấu giá TPCP và thực hiện các biện pháp để cơ cấu lại cơ sở hạ tầng cho thị trường như: hệ thống thanh toán bù trừ; hệ thống đấu thầu tự động; hệ thống công bố thông tin trái phiếu… Bên cạnh đó các công ty xếp hạng tín nhiệm được thành lập và hoạt động ở nhiều nước. Xây dựng hệ thống lãi suất chuẩn (đặc biệt là lãi suất chuẩn của các công cụ dài hạn) dựa trên TPCP. Cơ sở hạ tầng của TTTP thứ cấp đang từng bước được xây dựng và cải thiện nhưng vẫn còn bị lệ thuộc rất nhiều đến hoạt động của thị trường sơ cấp. Như vậy, hoạt động của thị trường thứ cấp có xu hướng tăng hay giảm theo hoạt động của thị trường sơ cấp. Mặc dù, một số nước như Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc đã phát hành các trái phiếu với nhiều kỳ hạn từ những năm 1998 nhưng đối với một trái phiếu nội tệ tính thanh khoản vẫn có xu hướng tập trung vào các kỳ hạn ngắn (khoản từ 3 đến 7 năm), ngoại trừ Singapore và Hồng-Kông. Sự tăng trưởng nhanh chóng được dự đoán của các thị trường trái phiếu trong khu vực tùy thuộc vào việc tiếp tục thực hiện các biện pháp quản lý kinh tế vĩ mô và chính sách kinh tế vĩ mô vững chắc và các biện pháp cải cách về định chế.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản