Luận văn: THIẾT KẾ TRANG WEB HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ ÔN TẬP, CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC CHƢƠNG "DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU" VẬT LÝ LỚP 12 (CHƢƠNG TRÌNH CHUẨN)

Chia sẻ: carol123

Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) đang phát triển với tốc độ rất nhanh. Nhiều chuyên gia đã dự đoán: Trong thập kỷ tới Internet đa phương tiện, truyền thông băng rộng CD-Rom, DVD... sẽ mang đến những biến đổi to lớn có tính cách mạng trên quy mô toàn cầu trong nhiều lĩnh vực, trong đó có Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT).

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn: THIẾT KẾ TRANG WEB HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ ÔN TẬP, CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC CHƢƠNG "DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU" VẬT LÝ LỚP 12 (CHƢƠNG TRÌNH CHUẨN)

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM




TRỊNH THANH DƢƠNG




THIẾT KẾ TRANG WEB HỖ TRỢ HỌC SINH
TỰ ÔN TẬP, CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
KIẾN THỨC CHƢƠNG "DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU"
VẬT LÝ LỚP 12 (CHƢƠNG TRÌNH CHUẨN)




LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC




THÁI NGUYÊN, NĂM 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM




TRỊNH THANH DƢƠNG




THIẾT KẾ TRANG WEB HỖ TRỢ HỌC SINH
TỰ ÔN TẬP, CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
KIẾN THỨC CHƢƠNG "DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU"
VẬT LÝ LỚP 12 (CHƢƠNG TRÌNH CHUẨN)


Chuyên ngành: Lí luận và phƣơng pháp dạy học bộ môn Vật lí
Mã số : 60.14.10




LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC



NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS-TS. PHẠM XUÂN QUẾ




THÁI NGUYÊN, NĂM 2009


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Viết tắt Viết đầy đủ
Công nghệ thông tin và truyền thông
CNTT-TT
ĐTB Điểm trung bình
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
GV Giáo viên
Học sinh
HS
Sách bài tập
SBT
SGK Sách giáo khoa
SGV Sách giáo viên
Trung học phổ thông
THPT
Thứ tự
TT




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu 3
3.1 Khách thể nghiên cứu 3
3.2. Đối tượng nghiên cứu 3
4. Phạm vi nghiên cứu 3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6. Phương pháp nghiên cứu 4
7. Những đóng góp mớ i của luận văn 4
8. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn 5
9. Cấu trúc của luận văn 5
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ôn tập, củng cố 6
và kiểm tra đánh giá của học sinh trong các trường THPT.
1.1. Cơ sở lý luận của hoạt động ôn tập, củng cố 6
1.1.1. Khái niệm ôn tập và mục đích của ôn tập 6
1.1.2. Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức 8
1.1.3. Nội dung cần ôn tập, củng cố trong dạy học Vật lí 9
1.1.4. Các hình thức ôn tập 10
1.1.4.1. Ôn tập trên lớp dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên 10
1.1.4.2. Ôn tập ngoài giờ lên lớp 11
1.1.5. Các phương pháp ôn tập ngoài giờ lên lớp 12
1.1.5.1. Đọc lại và hoàn thành những bài tập tự luận, trắc nghiệm ở 12
nhà có tác dụng giúp học sinh tự ôn tập, củng cố kiến thức
1.1.5.2. Hoạt động ngoại khóa góp phần tự ôn tập, củng cố kiến thức 13
1.1.5.3. Tham gia xây dựng lôgic hình thành các kiến thức thông qua 13
xây dựng các sơ đồ-Graph về từng phần và toàn bộ hệ thống kiến


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
thức cần ôn tập
1.1.6. Phương tiện hỗ trợ việc ôn tập, củng cố 14
1.1.6.1. Sách (giáo khoa, bài tập, các tư liệu khác) 15
1.1.6.2. Các tư liệu, bài tập, bài kiểm tra (trắc nghiệm và tự luận) 15
trên mạng Internet
1.1.7. Mối quan hệ giữa ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá 16
1.2. Cơ sở thực tiễn của hoạt động ôn tập, củng cố 17
1.2.1. Đánh giá vai trò của ôn tập, củng cố từ phía GV và từ phía HS 18
1.2.1.1. Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc hướng dẫn 18
học sinh ôn tập
1.2.1.2. Nhận thức của HS về vai trò của hoạt động ôn tập củng cố 19
1.2.2. Thực trạng việc áp dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng và 19
ôn tập kiến thức cho học sinh
1.2.3. Các nội dung mà hiện nay giáo viên và học sinh thường ôn tập, 22
củng cố
1.2.4. Các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động ôn tập, củng cố đang 23
được sử dụng
1.3. Kết luận chương I 24
Chương II: Xây dựng trang web hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố và 25
kiểm tra đánh giá kiến thức chương “ Dòng điện xoay chiều” - vật lý
lớp 12 (chương trình chuẩn)
2.1. Đặc điểm cấu trúc nội dung chương “ Dòng điện xoay chiều” – 25
Vật lý lớp 12 (chương trình chuẩn)
2.1.1. Đặc điểm về nội dung của chương “ Dòng điện xoay chiều” 25
2.1.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức và lôgic hình thành kiến 26
thức chương“ Dòng điện xoay chiều”
2.2. Nội dung kiến thức, kỹ năng học sinh cần có sau khi học xong 28
chương “Dòng điện xoay chiều ”- Vật lý lớp 12 (chương trình chuẩn)
2.2.1. Nội dung kiến thức 28


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.2.2. Các kỹ năng cơ bản học sinh cần đạt được sau khi học xong 28
chương “Dòng điện xoay chiều”
2.2.3. Các sai lầm phổ biến của học sinh trong khi học phần “Dòng 28
điện xoay chiều”
2.3. Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng ôn tập, củng cố 29
2.3.1. Đề xuất về nội dung cần ôn tập, củng cố 30
2.3.1.1. Nội dung kiến thức 30
2.3.1.2. Các kỹ năng 31
2.3.2. Đề xuất về hình thức ôn tập và phương pháp ôn tập 31
2.3.2.1. Ôn tập thông qua việc trả lời các câu hỏi ôn tập 31
2.3.2.2. Ôn tập thông qua việc xây dựng dàn ý tóm tắt bài học 32
2.3.2.3. Ôn tập thông qua việc xây dựng sơ đồ (graph) 33
2.3.2.4. Ôn tập thông qua việc làm bài tập luyện tập 35
2.3.2.5. Ôn tập thông qua diễn đàn thảo luận 36
2.3.3. Đề xuất về phương tiện ôn tập, củng cố 36
2.3.3.1. Các khái niệm liên quan đến Web 36
2.3.3.2. Một số ưu điểm của Web trong dạy học hiện đại 39
2.3.3.3. Các khả năng hỗ trợ của Web đối với ôn tập củng cố 41
2.4. Xây dựng website hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố phần kiến 45
thức “Dòng điện xoay chiều”
2.4.1. Lựa chọn và nghiên cứu công cụ để xây dựng trang Web 45
2.4.2. Thiết kế Website 46
2.4.3. Xây dựng các module chính 48
2.4.3.1. Xây dựng module 1: Hệ thống các câu hỏi ôn bài và hướng 48
dẫn trả lời các câu hỏi ôn bài.
2.4.3.2. Xây dựng module 2: Sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm 49
có phản hồi hướng dẫn để ôn tập trên Web.
2.4.3.3. Xây dựng module 3: Ôn tập kiến thức thông qua thí nghiệm 52
2.4.3.4. Xây dựng module 4: Ôn tập kiến thức thông qua sơ đồ bài học 53


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.4.3.5. Xây dựng module 5: Sử dụng các diễn đàn thảo luận nhóm 57
để ôn tập trên Web.
2.4.3.6. Xây dựng module 6: Sử d ụng bài kiểm tra trên Web để đánh 60
giá mức độ thu nhận kiến thức của học sinh.
2.5. Kết luận chương II 62
Chương III: Thực nghiệm sư phạm 64
3.1. Khái quát chung 64
3.1.1. Mục đích thực nghiệm 64
3.1.2. Đối tượng thực nghiệm 64
3.1.3. Nội dung thực nghiệm 64
3.1.4. Tổ chức thực nghiệm 64
3.1.5. Phương pháp đánh giá 65
3.2. Kết quả thực nghiệm 65
3.2.1. Đánh giá kết quả trước thực nghiệm 65
3.2.1.1. Mục đích của việc đánh giá kết quả trước thực nghiệm 65
3.2.1.2. Nội dung kiểm tra 65
3.2.1.3. Kết quả 66
3.2.2. Đánh giá kết quả sau thực nghiệm 67
3.2.2.1. Mục đích của việc đánh giá kết quả sau thực nghiệm 67
3.2.2.2. Nội dung kiểm tra 67
3.2.2.3. Kết quả 67
3.3. Kết luận chương III 69
Kết luận 70
1. Kết luận 70
2. Kiến nghị và định hướng phát triển đề tài 70
Tài liệu tham khảo chính 72
Phụ lục 74




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) đang phát triển với tốc
độ rất nhanh. Nhiều chuyên gia đã dự đoán: Trong thập kỷ tới Internet đa
phương tiện, truyền thông băng rộng CD -Rom, DVD... sẽ mang đến những
biến đổi to lớn có tính cách mạng trên quy mô toàn cầu trong nhiều lĩnh vực,
trong đó có Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT).
Vì vậy, việc ứng dụng CNTT-TT vào giáo dục đã trở thành mối ưu tiên
hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT-TT
trong GD&ĐT ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng
CNTT-TT như một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp học
tập ở tất cả các môn học. Sự bùng nổ tri thức cùng với các vấn đề giao lưu hội
nhập quốc tế khiến mỗi chúng ta phải biết tận d ụng những thành tựu của khoa
học- công nghệ đặc biệt là sự ra đời của mạng máy tính toàn cầu (Internet)
giúp chúng ta biết lựa chọn các phương pháp học tập cho phù hợp.
Xã hội học tập – đó là mục tiêu của nền giáo dục thế giới. Thành tựu nổi
bật nhất của CNTT-TT trong GD&ĐT hiện nay chính là dạy học thông qua
các chương trình chạy trên Website. Nó cung cấp một kho tàng kiến thức
khổng lồ của nhân loại và tạo cơ hội học tập cho nhiều người có trình độ khác
nhau, tạo ra sự bình đẳng, dân chủ trong học tập. Các chuyên gia giáo dục đều
cho rằng, khi đưa CNTT-TT vào nhà trường sẽ tạo ra một cuộc cách mạng
trong giáo dục dẫn đến những thay đổi trong cả nội dung và phương pháp dạy
và học.
Giáo dục Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng phát triển đó. Hiện
nay, Việt Nam đang phấn đấu tiến đến xây dựng một nền kinh tế tri thức. Nền
kinh tế tri thức đòi hỏi nền giáo dục phải là nền giáo dục tiên tiến. Trong nền
giáo dục đó thì phương pháp dạy học phải phát huy được tính tích cực, chủ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 http://www.lrc-tnu.edu.vn
động của người học để tạo ra những người lao động có khả năng sáng tạo,
thích ứng nhanh với môi trường sống. Do vậy, đổi mới nội dung và phương
pháp dạy học là một vấn đề mang tính thời sự.
Nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng
sản Việt Nam (Khoá VII, năm 1993) đã chỉ rõ: Về phương pháp giáo dục phải
khuyến khích tự học, phải áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để
bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.
Nghị quyết hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung Ương Đảng Cộng
sản Việt Nam (Khoá VIII, năm 1997) tiếp tục khẳng định “ Phải đổi mới
phương pháp đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp
tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến
và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian
tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”.
Các ứng dụng của CNTT-TT đặc biệt là Internet – Website học tập góp
phần rèn luyện khả năng tự học. Đây thực sự đã trở thành cầu nối giữa giáo
viên (GV) và nhà trường, giữa GV và học sinh (HS), giữa gia đình và nhà
trường, giữa GV và GV, giữa HS và HS. Công tác quản lý giáo dục cũng thay
đổi, các tài liệu tham khảo, các giáo án, sáng kiến kinh nghiệm, các bài tập
tham khảo, các đề thi, các hình thức luyện thi đại học liên tục được đưa lên
mạng Internet để GV và HS có thể tham khảo, nghiên cứu ở mọi lúc, mọi nơi.
Tuy vậy các Website dành cho HS học tập trong đó có hoạt động tự ôn tập,
củng cố kết hợp với tự kiểm tra, đánh giá được xây dựng trên cơ sở lí luận
dạy học Vật lí hiện đại vẫn còn chưa được nghiên cứu. Chính vì vậy việc thiết
kế các trang Web Vật lí giúp việc tự ôn tập, củng cố và kiểm tra đánh giá theo
quan điểm của lí luận dạy học hiện đại là hết sức cần thiết . Trong phạm vi rất
hạn hẹp của luận văn này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thiết kế trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập, củng cố và kiểm tra,
đánh giá kiến thức chương "Dòng điện xoay chiều" – Vật lý lớp 12
(chương trình chuẩn)
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận dạy học Vật lí về hoạt động ôn tập, củng cố và công
nghệ xây dựng trang Web tự học nhằm thiết kế trang Web hỗ trợ học sinh tự
ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức chương "Dòng điện xoay
chiều" – Vật lý lớp 12 (chương trình chuẩn)
3. Khách thể, đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiê n cứu: Hoạt động tự ôn tập, củng cố và kiểm tra,
đánh giá của học sinh với sự hỗ trợ của trang Web.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu:
- Hệ thống các kiến thức, kĩ năng học sinh cần nắm vững khi học xong
phần kiến thức “Dòng điện xoay chiều” - Vật lý lớp 12 (chương trình chuẩn).
- Hoạt động tự ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá của học sinh lớp 12
đối với phần kiến thức “Dòng điện xoay chiều” - Vật lý lớp 12 (chương trình
chuẩn).
- Các chức năng của trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập, củng cố và
kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng phần kiến thức “Dòng điện xoay chiều”
– Vật lý lớp 12 (chương trình chuẩn).
4. Phạm vi nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tự ôn tập, củng cố của học
sinh để thiết kế trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập , củng cố và kiểm tra,
đánh giá kiến thức chương "Dòng điện xoay chiều" – Vật lý lớp 12 (chương
trình chuẩn) nhằm giúp học sinh ôn tập kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kích
thích hứng thú học tập và nâng cao hiệu quả việc tự ôn tập củng cố.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 http://www.lrc-tnu.edu.vn
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc tự ôn tập, củng cố
và kiểm tra, đánh giá.
- Nghiên cứu nội dung chương trình, chuẩn kiến thức và chuẩn kĩ năng
phần kiến thức trong chương “ Dòng điện xoay chiều” – Vật lý lớp 12
(chương trình chuẩn).
- Nghiên cứu việc thiết kế trang Web hỗ trợ việc tự ôn tập, củng cố và
kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh.
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả trang Web xây
dựng được.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Phương pháp điều tra, quan sát thực tiễn.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp thống kê toán học.
7. Những đóng góp mới của luận văn
- Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ôn tập, củng cố và kiểm tra,
đánh giá khi học sinh học xong phần kiến thức “Dòng điện xoay chiều” – Vật
lý lớp 12 (chương trình chuẩn).
- Trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn đề xuất những nội dung, hình
thức và phương pháp cần hướng dẫn cho học sinh tự ôn tập và kiểm tra kiến
thức phần : “ Dòng điện xoay chiều” – Vật lý lớp 12 (chương trình chuẩn).
- Trang Web được xây dựng đã góp phần giúp học sinh tự ôn tập, củng
cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng trên cơ sở lí luận dạy học hiện đại.
Đồng thời bước đầu đã góp phần đổi mới phương pháp dạy và học.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 http://www.lrc-tnu.edu.vn
8. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
- Về mặt lí luận, luận văn góp phần hệ thống hoá các lí luận về việc ôn
tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức theo quan điểm của lí luận dạy học
hiện đại cũng như vận dụng lí luận này và công nghệ thông tin trong việc xây
dựng trang Web về nội dung ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức.
- Về mặt thực tiễn, trang Web xây dựng được là tài liệ u tham khảo tốt
cho học sinh tự ôn tập và kiểm tra kiến thức và cho giáo viên trong việc đổi
mới phương pháp dạy học phần “Dòng điện xoay chiều” – Vật lý lớp 12
(chương trình chuẩn).
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ôn tập , củng cố và
kiểm tra, đánh giá của học sinh trong các trường THPT.
Chương II: Xây dựng trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố và
kiểm tra đánh giá kiến thức chương “Dòng điện xoay chiều” - Vật lý lớp 12
(chương trình chuẩn).
Chương III: Thực nghiệm sư phạm.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 http://www.lrc-tnu.edu.vn
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG ÔN TẬP,
CỦNG CỐ VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ CỦA HỌC SINH
TRONG CÁC TRƢỜNG THPT


1.1. Cơ sở lý luận của hoạt động ôn tập, củng cố
1.1.1. Khái niệm ôn tập và mục đích của ôn tập
Theo từ điển tiếng Việt, ôn tập là học và luyện lại những điều đã học để
nhớ, để nắm chắc.[ 7, tr 747 ]
Theo các nhà tâm lý học (Piagie; Thái Duy Tuyên ...), ôn tập không chỉ
để nhớ lại mà còn là sự cấu trúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các
thông tin đó theo một cấu trúc mới kết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo
ra sự hiểu biết mới. Khi cần có thể tái hiện lại những thông tin và sử dụng
những thông tin đó có hiệu quả cho nhiều hoạt động khác nhau. Sự lưu giữ
thông tin được bắt đầu từ quá trình ghi nhớ. Quá trình ghi nhớ có liên quan
đến những thông tin được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài. Thông tin
được lưu giữ trong trí nhớ ngắn chỉ chừng vài giây t rong thời gian người học
làm việc, tiến hành thao tác trên các thông tin đó, còn trí nhớ dài lưu giữ
thông tin trong suốt cả cuộc đời. Trí nhớ ngắn lưu giữ những gì ta đang suy
nghĩ vào lúc đó, cùng với những thông tin chuyển từ các giác quan như tai,
mắt của con người. Sau khi lưu giữ và sử lý những thông tin ấy trong vài giây,
trí nhớ ngắn lập tức quên hầu hết số thông tin ấy. Để lưu giữ thông tin thì
những nội dung của trí nhớ ngắn phải được chuyển sang trí nhớ dài. Nhưng
muốn chuyển được sang được trí nhớ dài thì các thông tin đó trước hết cần
được xử lý, sắp xếp cấu trúc trong trí nhớ ngắn sao cho nó có nghĩa đối với
người học. Thực chất của hoạt động này là thực hiện việc phân tích, tổng hợp,
khái quát hóa, hệ thống hóa để xác nhận và tổ chức lại thông tin đã thu nhận

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 http://www.lrc-tnu.edu.vn
trong một cấu trúc mới sao cho nó có nghĩa đối với người học. Để tổ chức
được thông tin, điều đầu tiên người học phải xác nhận lại thông tin, bổ sung,
chỉnh lý, chính xác hóa những thông tin đã lĩnh hội qua các thao tác trí tuệ để
tìm ra những vấn đề cơ bản, những kết luận mấu chốt, những vấn đề chưa rõ,
chưa hiểu, trao đổi với bạn bè, với thầy cô giáo để làm sáng tỏ những thông
tin đó. Tức là phải thông hiểu thông tin, phải trả lời được câu hỏi “tại sao như
vậy?”. Trên cơ sở của sự thông hiểu thông tin, người học tiến hành các hoạt
động phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, hệ thống hóa để tổ
chức lại các thông tin đã lĩnh hội đó trong một cấu trúc mới. Sau khi trí nhớ
ngắn đã “làm nên ý nghĩa” cho thông tin đã được lĩnh hội thì nó được chuyển
thành trí nhớ dài. Từ đây cho thấy chất lượng của việc cấu trúc lại thông tin
như thế nào để chuyển sang lưu trữ tại vùng trí nhớ dà i hoàn toàn phụ thuộc
vào nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức ôn tập của GV và vào chính cá
nhân HS.
Trí nhớ dài giống như một tủ hồ sơ chứa những thông tin đã được lập
thành tệp để phục vụ cho việc khai thác trong tương lai. Tuy nhiên trí nhớ dài
có khuynh hướng chỉ coi một dữ liệu hoặc một ý tưởng nào đó là “hữu ích”
một cách lâu dài nếu nó thường gặp phải những dữ liệu hoặc những ý tưởng
đó. Do vậy, với những thông tin cần được lưu giữ trong trí nhớ dài thì chúng
cần phải được sử dụng và gợi nhớ lạ i một cách thường xuyên. Điều đó có
nghĩa là khi thông tin đã được chuyển từ trí nhớ ngắn sang trí nhớ dài, nếu
không có sự sử dụng thường xuyên thì những thông tin đó sẽ bị lãng quên. Vì
vậy để lưu giữ thông tin lâu dài, GV cần phải tổ chức cho HS sử dụng những
thông tin đã được lĩnh hội một cách thường xuyên bằng nhiều hình thức khác
nhau, trong đó cách sử dụng tốt nhất là vận dụng những thông tin ấy vào việc
giải quyết các nhiệm vụ nhận thức và thực hành.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Theo các nhà giáo dục học (Nguyễn Ngọc Bảo; Hà Thị Đức; Nguyễn Bá
Kim;….): Ôn tập là giúp HS củng cố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; tạo khả năng
cho GV sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thức của HS, rèn luyện
kỹ năng, kỹ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duy cũng như phát triển
năng lực nhận thức, chú ý cho HS. Ôn tập còn giúp HS mở rộng đào sâu ,
khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học, làm vững chắc những kỹ
năng kỹ xảo đã được hình thành.
Một số tác giả khác lại cho rằng: Ôn tập là một quá trình giúp HS xác
nhận lại thông tin đã lĩnh hội, tổ chức lại thông tin đó nếu thấy có chỗ chưa hợp
lí hay có chỗ chưa tối ưu, góp phần củng cố và khắc họa thông tin để có thể sử
dụng thông tin có hiệu quả trong các hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau.
Tiếp thu những quan niệm về ôn tập như trên, chúng tôi cho rằng: Ôn tập
là quá trình người học xác nhận lại thông tin, bổ sung và chỉnh lý thông tin, tổ
chức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn, dễ nhớ và dễ gọi lại hơn,
vận dụng thông tin đã lĩnh hội qua đó mà củng cố, mở rộng, đào sâu tri thức,
làm vững chắc các kỹ năng, kỹ xảo đã được lĩnh hội, phát triển trí nhớ, tư duy
của người học.
1.1.2. Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức
Ôn tập được tổ chức tốt chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong quá
trình dạy học ở bất cứ môn học nào trong nhà trường. Nó là biện pháp cần
thiết mà GV phải sử dụng trong việc dạy học của mình và nó giúp người học
trong quá trình hoàn thiện tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo. Nhờ ôn tập
được tổ chức tốt mà những kiến thức đã được học không chỉ được ghi lại
trong trí nhớ mà còn được cấu trúc lại, khắc sâu một cách sáng tạo hơn, cái
thứ yếu sẽ được loại bỏ ra ngoài và cái chủ yếu được gắn lại với nhau và có
một chất lượng mới. Kiến thức sẽ không được giữ lại trong trí nhớ nếu thiếu
ôn tập, và nói chung nếu thiếu bất kỳ sự vận dụng nào.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ôn tập cần thiết cho việc củng cố, nắm vững, hoàn thiện tri thức và sau
đó là để làm mới lại chúng trong trí nhớ lúc này hoặc lúc khác. Ôn tập còn có
một ý nghĩa lớn hơn trong việc rèn luyện kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng vận
dụng kiến thức vào trong cuộc sống khi ôn tập Vật lý. Nếu người thầy cung
cấp cho học sinh một lượng kiến thức rời rạc và không ổn định sẽ gây khó
khăn cho việc tri giác kiến thức mới và củng cố kiến thức cũ. “Những kiến
thức cũ cần được củng cố, điều chỉnh là để “giải phóng bộ óc” giúp cho việc
lĩnh hội kiến thức mới, bởi vì chỉ có thể cố định kiến thức cũ thì mới dùng nó
làm chỗ dựa cho kiến thức mới được.” [17, tr 248]
Thông qua việc ôn tập, củng cố giúp học sinh hệ thống hoá kiến thức, có
một “bức tranh” tổng thể, hệ thống về những kiến thức, luyện tập và phát triển
các kĩ năng đã được học, giúp học sinh đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến
thức, sửa và tránh được các quan niệm sai lầm thường mắc phải trong và sau
khi học lần đầu.
1.1.3. Nội dung cần ôn tập, củng cố trong dạy học Vật lí
Ôn tập là một khâu trong các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ
thông, vì thế ôn tập không tự đề ra nội dung, chương trình riêng cho nó mà
trên cơ sở nội dung chương trình của môn học quy định cho từng khóa học
mà lựa chọn những vấn đề cơ bản cần ôn tập và sắp xếp có hệ thống những
vấn đề đó. Ôn tập cũng không tự đề ra phương pháp riêng cho mình mà dựa
trên phương pháp dạy học của bộ môn với nội dung cần ôn tập để lựa chọn
phương pháp thích hợp nhất trong khoảng thời gian cho phép được quy định
của chương trình.
Đối với môn Vật lí, cái tạo thành nội dung chính của môn học là những
kiến thức Vật lí cơ bản. Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản đó
mà thực hiện các nhiệm vụ khác của dạy học Vật lí, trước hết là phát triển
năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trong quá trình dạy học Vật lí cần chú ý đến những tác động sư phạm khác
nhằm điều hành quá trình dạy học từ đầu đến cuối, thí dụ như: gợi động cơ,
hứng thú; củng cố, ôn tập; điều chỉnh; kiểm tra, đánh giá …
Những kiến thức Vật lí cơ bản cần hình thành trong quá trình học kiến
thức mới cũng như trong quá trình ôn tập củng cố trong chương trình Vật lí ở
trường phổ thông gồm các loại sau:
- Những khái niệ m Vật lí, đặc biệt là những khái niệ m về đại lượng
Vật lí.
- Những định luật Vật lí.
- Những thuyết Vật lí.
- Những ứng dụng của Vật lí trong kĩ thuật.
- Những phương pháp nhận thức Vật lí.
Bên cạnh những kiến thức Vật lí cơ bản cần hình thành ở trên thì học
sinh cần phải có một số kĩ năng sau để nâng cao hiệu quả của việc tự ôn tập,
củng cố:
- Kĩ năng thu thập thông tin: kĩ năng đọc sách; kĩ năng quan sát; đọc đồ
thị, biểu đồ; kĩ năng khai thác mạng Internet ...
- Kĩ năng xử lí thông tin: kĩ năng xây dựng bảng biểu, đồ thị; kĩ năng so
sánh, đánh giá; phân tích, tổng hợp ...
- Kĩ năng truyền đạt thông tin: trình bày, viết, báo cáo kết quả ...
1.1.4. Các hình thức ôn tập
Ôn tập có thể thực hiện dưới nhiều hình thức nhưng chủ yếu là hai hình
thức: ôn tập trên lớp và ôn tập ngoài giờ lên lớp.
1.1.4.1. Ôn tập trên lớp dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên, bao gồm:
- Ôn tập trong khi trình bài tài liệu mới, nếu việc tiếp thu kiến thức mới
dựa trên cơ sở của những kiến thức đã học trước đó. Hình thức này được thực
hiện thông qua hệ thống các câu hỏi được GV chuẩn bị sẵn, đó là các câu hỏi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10 http://www.lrc-tnu.edu.vn
kiểm tra bài cũ đầu giờ, hoặc những câu hỏi đặt ra trong tiết học nhằm gợi lại
kiến thức cũ mà nó là cơ sở để hình thành kiến thức mới trong bài học.
- Ôn tập được thực hiện ngay sau khi trình bài tà i liệu mới, nhằm củng
cố những kiến thức HS vừa mới lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốt
lõi của bài học. Hình thức này có thể tiến hành bằng cách đưa ra các câu hỏi
để HS trả lời hoặc làm các bài tập có tính chất hệ thống hóa, tổng kết những
kiến thức cơ bản của bài học.
- Ôn tập sau khi kết thúc một chương hoặc một phần của chương trình.
Hình thức ôn tập này thường được thực hiện trong một (hoặc một vài) tiết học
riêng biệt. Mục đích sư phạm của các tiết ôn tập như vậy là chỉnh lý lại, hệ
thống lại, tìm ra mối liên hệ logic giữa các kiến thức mà HS đã được lĩnh hội
trong một phần của tài liệu học; tạo cho HS có cái nhình toàn diện về nội
dung kiến thức trong phần đó.
1.1.4.2. Ôn tập ngoài giờ lên lớp
Hoạt động ôn tập ngoài giờ lên lớp d iễn ra sau khi nghe giảng và dưới
sự hướng dẫn gián tiếp của GV thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập mang
tính định hướng. HS thực hiện việc ôn tập của mình bằng cách đọc lại bài học
hoặc tái hiện lại nội dung bài học như cấu trúc của các phần, các mục, nội
dung của các đề mục trong bài học. Sau đó trả lời các câu hỏi của GV hoặc
câu hỏi trong sách giáo khoa (SGK), hoặc tự đặt ra câu hỏi để trả lời. Đồng
thời cần tìm đọc các tài liệu có liên quan để mở rộng và đào sâu những kiến
thức đã học. Trong quá trình ôn tập HS có thể trao đổi với bạn bè về kết quả
ôn tập của mình, sau đó ghi chép lại toàn bộ nội dung ôn tập bằng cách tóm
tắt bài học, xây dựng dàn ý, sơ đồ, bảng biểu; bằng cách xây dựng đáp án trả
lời câu hỏi hay bằng cách vận dụng kiến thức của bài học.
Theo quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm hiện nay, dạy học là dạy
HS biết tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức cũng như tự ôn tập và củng cố kiến

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11 http://www.lrc-tnu.edu.vn
thức, dạy học là dạy HS biết phối hợp hoạt động trong nhóm dưới sự hướng
dẫn của thày thì hoạt động tự ôn tập, củng cố cũng như hoạt động ôn tập, củng
cố trong nhóm như thế nào trong thời gian hiện nay và tương lai là hết sức
quan trọng và cần chiếm tỉ lệ cao. Hơn nữa, ngày nay CNTT-TT phát triển,
việc tổ chức cho HS tự ôn tập củng cố, và ôn tập củng cố trong nhóm thông
qua việc xây dựng các Website, các Forum trên mạng Internet dưới sự điều
khiển của GV thông qua việc xây dựng các chương trình ôn tập phân nhánh,
thông qua các bài trắc nghiệm có phản hồi, hướng dẫn hoàn toàn có thể làm
được để nâng cao chất lượng ôn tập, củng cố.
1.1.5. Các phương pháp ôn tập ngoài giờ lên lớp
1.1.5.1. Đọc lại và hoàn thành những bài tập tự luận, trắc nghiệm ở nhà
có tác dụng giúp học sinh tự ôn tập, củng cố kiến thức
Đọc sách là một trong những dạng hoạt động nhận thức cơ bản của con
người, một loại hình tự học quan trọng và phổ biến.
HS học tập ở nhà là sự tiếp tục một cách có lôgic hình thức trên lớp. Ở
đây, HS phải tự lực đọc lại và hoàn thành các bài tập do GV đề ra sau các giờ
lên lớp. Ngoài những bài tập về nhà chung cho cả lớp, GV có thể ra những bài
tập riêng cho các HS kém và giỏi. Như vậy, học tập ở nhà có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng của quá trình dạy học. Trước hết, nó có
tác dụng ôn tập, củng cố, đào sâu, mở rộng, khái quát hóa và hệ thống hóa tri
thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo. Nó góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh
chóng ở HS năng lực tự học, năng lực làm việc độc lập. Nó còn cho phép thực
hiện được sự cá biệt hóa việc dạy học, giúp lấp những lỗ hổng trong trí thức
của những HS kém và phát triển năng lực sáng tạo ở HS giỏi. Vì HS tự thực
hiện những nhiệm vụ học tập do GV giao cho, trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ HS không có sự hướng dẫn của GV; GV đánh giá kết quả của hoạt



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12 http://www.lrc-tnu.edu.vn
động tự học thông qua mức độ hoàn thành công việc của HS; nội dung tự học
cũng rất đa dạng, tuỳ thuộc nội dung chương trình và đối tượng HS.
1.1.5.2. Hoạt động ngoại khóa góp phần tự ôn tập, củng cố kiến thức
Hoạt động ngoại khoá Vật lí là một trong những hoạt động ngoài giờ
lên lớp có tổ chức, có kế hoạch, có phương hướng xác định được HS tiến
hành theo nguyên tắc tự nguyện ở ngoài giờ nội khoá dưới sự hướng dẫn của
các GV Vật lí nhằm gây hứng thú, phát triển tư duy, rèn luyện một số kĩ
năng, bổ sung và mở rộng kiến thức Vật lí cho HS; nó có tác dụng lớn về
mặt giáo dục tư tưởng, hình thành thới giớ quan, nhân sinh quan và giáo dục
kĩ thuật tổng hợp.
Hoạt động ngoại khoá Vật lí có thể đem lại nhiều tác dụng to lớn mà một
trong những tác dụng đó là góp phần củng cố, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá
kiến thức Vật lí đã học trên lớp; bổ sung những kiến thức về mặt lí thuyết
hoặc khắc phục những sai lầm mà HS thường mắc phải khi học nội khoá.
1.1.5.3. Tham gia xây dựng lôgic hình thành các kiến thức thông qua
xây dựng các sơ đồ-Graph về từng phần và toàn bộ hệ thống kiến thức cần
ôn tập
Trong lí thuyết graph thì từ “Graph” bắt nguồn từ “graphic” có nghĩa là
tạo ra một hình ảnh rõ ràng, chi tiết sinh động trong tư duy. Graph là một cấu
trúc rời rạc gồm nhiều đỉnh và các cạnh (vô hướng hoặc có hướng) nối các
đỉnh đó. Trong dạy học người ta quan tâm nhiều đến graph định hướng. Việc
chuyển graph toán học sang các graph dạy học đã được ứng dụng nhiều trong
các môn học như: Hóa học, Vật lí, Văn học, Địa lí, Sinh học...và đã được
nhiều tác giả nghiên cứu. Ở Việt Nam, từ năm 1971, giáo sư Nguyễn N gọc
Quang là người đầu tiên nghiên cứu chuyển hoá graph toán học thành graph
dạy học. Graph có tác dụng mô hình hoá đối tượng nghiên cứu và mã hoá các



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13 http://www.lrc-tnu.edu.vn
đối tượng đó bằng một loại “ngôn ngữ” vừa trực quan, vừa cụ thể và cô đọng.
Những ứng dụng của lí thuyết graph:
- Dùng graph để hệ thống hóa khái niệm trong một tổng thể, giúp mở
rộng những hiểu biết về đối tượng nghiên cứu.
- Dùng graph cấu trúc hóa nội dung tài liệu giáo khoa, nghĩa là tạo nên
mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức trong một hệ thống nhất đị nh (trong một
chương trình, một chương hay một bài).
- Dùng graph hướng dẫn HS tự học, hoàn thiện tri thức, nghĩa là GV có
thể để cho HS tự thiết kế các graph hoặc hoàn thiện các graph do GV gợi ý.
Hệ thống hóa kiến thức giúp HS có một bức tranh tổng thể, hệ thống về
những kiến thức được học trong một lĩnh vực nhất định. Sử dụng graph trong
khâu này có các mức độ sau:
* Mức độ thứ nhất: GV đưa ra:
- Các yếu tố có trong graph đã có chiều mũi tên nối các đỉnh nhưng nội
dung ở các đỉnh còn trống, hoặc các yếu tố có trong graph chưa có chiều mũi
tên nối các đỉnh và các đỉnh đã điền đủ (hoặc thiếu) các yếu t ố nội dung.
- Chưa có các cạnh rồi yêu cầu HS điền thông tin vào những chỗ trống
đó, tạo các liên kết giữa các đỉnh theo các chiều từ yếu tố cơ bản đến yếu t ố
dẫn xuất .
* Mức độ thứ hai: HS tự xây dựng graph thể hiện các kiến thức đã học
theo một lôgic mà mỗi HS tự xác định, giáo viên chỉ nêu định hướng chung,
những yêu cầu cơ bản của bài ôn tập.
Sử dụng graph trong khâu hoàn thiện tri thức là sự kết hợp giữa khâu học
ở lớp với khâu tự học ở nhà dưới sự hướng dẫn của GV.
1.1.6. Phương tiện hỗ trợ việc ôn tập, củng cố
Phương tiện dạy học là các phương tiện sư phạm đối tượng- vật chất do
GV hoặc HS sử dụng dưới sự chỉ đạo của GV trong quá trình dạy học, tạo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14 http://www.lrc-tnu.edu.vn
những điều kiện cần thiết nhằm đạt được mục đích dạy học. Phương tiện dạy
học có thể được sử dụng một cách đa dạng trong quá trình củng cố (ôn tập,
đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá) kiến thức, kĩ năng của HS. Hiện nay, các
phương tiện được dùng trong ôn tập củng cố thường là các phương tiện sau:
1.1.6.1. Sách (giáo khoa, bài tập, các tư liệu khác)
Sách là một công cụ để chứa đựng hệ thống tri thức. Sách là hình thức
vật chất, còn nội dung của nó là tri thức, mà cốt lõi của tri thức là hệ thống
khái niệm. Do đó, khi đọc sách con người dùng năng lực tư duy, năng lực
ngôn ngữ và toàn bộ kinh nghiệm xã hội vốn có của mình để tách khái niệm
ra khỏi hệ thống từ ngữ mà lĩnh hội chúng, đó là một con đường nhận thức,
con đường tái tạo lại tri thức, một phương thức lĩnh hội khái niệm. Khả năng
lĩnh hội khái niệm qua con đường đọc sách phụ thuộc vào nhiều yếu tố .
[14, tr 316]
1.6.1.2. Các tư liệu, bài tập, bài kiểm tra (trắc nghiệm và tự luận) trên
mạngInternet
Các mô hình mô phỏng các hiện tượng Vật lí, các đoạn video chưa đ ược
sử dụng khi nghiên cứu kiến thức mới có thể dùng trong giai đoạn vận dụng
các kiến thức đã học để xây dựng trang Web củng cố (ôn tập, đào sâu, mở
rộng, hệ thống hoá) kiến thức, kĩ năng của học sinh.
Các bài kiểm tra, bài trắc nghiệm được xem như phươn g tiện để kiểm tra
kiến thức, kĩ năng trong dạy học. Theo chúng tôi, việc soạn thảo công phu các
câu hỏi trắc nghiệm, các bài trắc nghiệm có phản hồi những sai lầm của HS
và hướng dẫn HS tự đọc tư liệu dựa trên công nghệ thiết kế Web hợp lí thì sẽ
tạo ra được một công cụ, phương tiện hữu hiệu để định hướng hoạt động
chiếm lĩnh kiến thức cần ôn tập, đánh giá mục tiêu và phương pháp dạy học,
mà hiện nay chưa có những bài trắc nghiệm trên mạng như vậy .



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ưu thế của Web thể hiện ở các tính năng tạo lập và quản lý nội dung ôn
tập như: giao – nộp bài tập; trao đổi trực tuyến giữa GV và HS, giữa các bạ n
học (chat), tạo lập các diễn đàn,... Nhưng đặc biệt hơn cả “Quản lý học viên”
là một tính năng đặc biệt quan trọng của công nghệ thiết kế Web bao gồm: kết
nạp và theo dõi thông tin học viên trong một khóa học, chia học viên thành
các nhóm (lớp học, khóa học), lên lịch các sự kiện của site hoặc khóa học…,
áp dụng tỉ lệ cho các hoạt động khác nhau cho học viên, quản lí điểm, theo
dõi lần truy cập của học viên và tải lên các file ở ngoài để sử dụng cho khóa
học… GV có thể phân quyền truy cập vào nội dung ôn tập đối với từng nhóm
đối tượng như: ôn tập cho mọi người, ôn tập dành cho học viên,... Với khả
năng tính toán của máy tính, máy tính có thể dễ dàng và nhanh chóng thự c
hiện kiểm tra trên Web đồng thời thực hiện chấm điểm trên Web theo thang
điểm đã đặt ra.
1.1.7. Mối quan hệ giữa ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá
Ôn tập nói chung được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với công
việc kiểm tra tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. N hững công việc mà đòi hỏi tính tích
cực của HS nhiều hơn là khi giảng kiến thức mới. Chúng ta có thể hợp nhất
hoàn toàn tự giác cả ôn tập và kiểm tra vào làm một. Tuy nhiên tính mục đích
của ôn tập và kiểm tra hoàn toàn khác nhau. Ở trường hợp thứ nhất là công
tác củng cố tri thức, ở trường hợp thứ hai là việc kiểm tra chúng với sự cho
điểm (đánh giá) thích đáng. Tất nhiên mặc dù ở tính mục đích khác nhau
nhưng ôn tập và kiểm tra tiến hành một cách đồng thời. Bất kỳ việc ôn tập
nào của GV (do GV tổ chức) cũng đồng thời tiến hành cả kiểm tra tri thức,
mặc dù người GV không có dụng ý đạt mục đích này đi nữa.
Liên hệ giữa ôn tập và kiểm tra là vô cùng khăng khít. Tổ chức ôn tập để
tuyệt đối hóa nó, không có yếu tố kiểm tra hoặc tổ chức kiểm tra để tuyệt đối
hóa nó, không có yếu tố ôn tập như thế không thể có được. Ở đây công việc

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16 http://www.lrc-tnu.edu.vn
có thể tiến hành chỉ là trong trường hợp thứ nhất, những yếu tố ôn tập trội hơn
yếu tố kiểm tra, hoặc trong trường hợp thứ hai thì ngược lại. Thực tế việc
giảng dạy và học tập ở trường phổ thông cho ta thấy rõ điều này.
Ôn tập được tổ chức theo tiết học thông qua kiểm tra (vấn đáp, tự luận,
trắc nghiệm…) và việc đánh giá đúng trình độ nhận thức của HS qua kiểm tra
giúp GV lựa chọn đúng nội dung và đối tượng cần ôn tập. Ôn tập tốt giúp
người học thể hiện tốt trình đội nhận thức của mình trong bài kiểm tra trên lớp.
Như vậy ôn tập được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với kiểm tra
và thông qua các hình thức tổ chức dạy học cơ bản. Việc tách riêng ôn tập và
kiểm tra là do mục đích, nhiệ m vụ của mỗi công việc và chúng ta không thể
tuyệt đối hóa từng công việc được. Sự phân chia công việc như vậy trong tiết
học chỉ mang tính tương đối. Có thể biểu diễn quan hệ đó qua sơ đồ sau:

Tiết lên lớp
(hoạt động nội khóa)


9
Ôn tập Kiểm tra



Các hoạt động Hướng dẫn HS
ngoại khóa tự học ở nhà

9
1.2. Cơ sở thực tiễn của hoạt động ôn tập, củng cố
9
Với mục tiêu đánh giá khách quan thực trạng của hoạt động ôn tập , củng
cố của GV và HS trong các trường phổ thông, chúng tôi đã tiến hành khảo sát
bằng phương pháp Ăngket (điều tra), phương pháp nghiên cứu sản phẩm (bài
kiểm tra của HS), phương pháp phỏng vấn và đà m thoại với HS và GV một số
trường phổ thông. Đó là các trường: THPT Khánh Hoà; THPT Đồng Hỷ;
THPT Trại Cau – Tỉnh Thái Nguyên.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Thời điểm khảo sát: Học kỳ hai của năm học 2008-2009.
Khách thể khảo sát: học sinh lớp 12 ban cơ bản, với số lượng 200 học
sinh, và 20 giáo viên của các trường nói trên.
Kết quả khảo sát cho ta thấy thực tiễn của vấn đề nghiên cứu như sau:
1.2.1. Đánh giá vai trò của ôn tập, củng cố từ phía GV và từ phía HS
1.2.1.1. Nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc hướng dẫn học
sinh ôn tập
Để tìm hiểu nhận thức của GV về tầm quan trọng của của việc hướng
dẫn HS ôn tập, chúng tôi đưa ra 9 yếu tố có ảnh hưởng tới kết quả học tập của
HS và yêu cầu họ đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố đó theo thứ tự từ 1
đến 9, trong đó 1 là yếu tố quan trọng nhất, 9 là ít quan trọng nhất. Kết quả
khảo sát như sau:
Các yếu tố Mức
ĐTB
TT
độ
Giáo viên nhiệt tình và có phương pháp giảng dạy
1 5,0 1
phù hợp với đối tượng học sinh.
Giáo viên thường xuyên quan tâm đến việc hướng
2 5,5 2
dẫn học sinh ôn tập.
Giáo viên thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả
3 5,6 3
học tập của học sinh.
Giáo viên luôn quan tâm, khích lệ, động viên học
4 5,65 4
sinh kịp thời.
Học sinh có thái độ, động cơ học tập đúng đắn.
5 5,7 4
Học sinh nắm vững kiến thức cũ.
6 5,9 6
Học sinh có phương pháp học tập khoa học .
7 6,0 7
Học sinh tự tin trong học tập.
8 6,5 8
Học sinh có sức khỏe tốt.
9 7,5 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng trên cho thấy, yếu tố được GV đánh giá quan trọng nhất là giáo
viên nhiệt tình, có phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng học sinh,
tiếp theo là các yếu tố giáo viên thường xuyên quan tâm đến việc hướng dẫn
học sinh ôn tập. Ngoài ra qua trao đổi, phỏng vấn chúng tôi nhận được các
yến kiến đều cho rằng việc tổ chức ôn kiến thức cho HS có vai trò rất quan
trọng. Theo chúng tôi, nhận thức của GV về các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả
học tập của HS như vậy là hợp lý, bởi vì đối với đối tượng HS phổ thông việc
tìm ra phương pháp giảng dạy phù hợp với đối tượng và việc hướng dẫn HS
ôn tập là cần thiết và là điều kiện rất quan trọng để nâng c ao chất lượng học
tập của HS.
1.2.1.2. Nhận thức của HS về vai trò của hoạt động ôn tập củng cố
Phần lớn các HS khi được hỏi về vai trò của hoạt động ôn tập, củng cố
đều cho rằng ôn tập có vai trò rất quan trọng đối với họat động nhận thức và
rất thích được GV tổ chức hướng dần ôn tập kiến thức một cách thường
xuyên. Tuy nhiên khi được hỏi về hứng thú của em trong các giờ ôn tập hiện
nay mà các thầy cô giáo đã tổ chức hướng dẫn các em thì phần lớn lớn HS trả
lời không có hứng thú hoặc tùy thuộc vào từng nộ i dung kiến thức và cách tổ
chức ôn tập. Thực tiễn này cho chúng ta thấy hai vấn đề: một là HS đã nhận
thức được vai trò quan trọng của hoạt động ôn tập củng cố kiến thức và mong
muốn được GV tổ chức hướng dẫn ôn tập thường xuyên; hai là các tiết học ôn
tập hiện nay được GV tổ chức chưa gây được hứng thú đối với HS, điều này
tạo nên một mâu thuẫn giữa nhu cầu và sự đáp ứng nhu cầu của hoạt động ôn
tập kiến thức hiện nay ở các trường phổ thông.
1.2.2. Thực trạng việc áp dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng v à ôn
tập kiến thức cho học sinh
Để tìm hiểu các biện pháp rèn luyện kỹ năng và ôn tập kiến thức cho HS
mà GV đã và đang thực hiện, chúng tôi tiến hành khảo sát trên phiếu điều tra,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19 http://www.lrc-tnu.edu.vn
yêu cầu họ đánh số thứ tự từ 1 đến 9 theo mức độ giảm dần tính thường xuyên
(số 1 là thường xuyên sử dụng nhất, số 9 là ít sử dụng nhất), kết hợp với dự
giờ của các GV và thu được kết quả như sau:
ĐTB Mức độ
Các biện pháp
TT
Hướng dẫn học sinh giải bài tập.
1 2 1
Hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi.
2 2,5 2
Hướng dẫn học sinh đọc sách giáo khoa và tài liệu tham
3 2,7 3
khảo.
Hướng dẫn học sinh xây dựng dàn ý tóm tắt bài học
4 3,0 4
Hệ thống hóa kiến thức cho học sinh bằng cách xây
5 4,5 5
dựng sơ đồ, bảng biểu.
Bổ túc kiến thức cho học sinh.
6 4,7 6
Động viên, khích lệ kịp thời những học sinh có tiến bộ
7 5,0 7
Tổ chức cho học sinh thảo luận nội dung kiến thức cần
8 5,4 8
ôn tập
Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động ngoại
9 6,8 9
khóa.


Bảng kết quả trên cho thấy các biện pháp mà GV ở các trường phổ thông
thường xuyên sử dụng nhất trong các hoạt động tổ chức hướng dẫn HS ôn tập
là hướng dẫn HS giải bài tập , hướng dẫn trả lời các câu hỏi . Các biện pháp
tích cực khác như hướng dẫn HS xây dựng dàn ý tóm tắt bài học, hệ thống hóa
kiến thức cho HS bằng cách xây dựng sơ đồ, bảng biểu, tổ chức cho HS thảo
luận nội dung kiến thức cần ôn tập… thì ít được giáo viên sử dụng.
Qua dự giờ (chính khóa buổi sáng và giờ hướng dẫn học sinh ôn tập buổi
chiều) quan sát hoạt động của GV và HS, chúng tôi có một số nhận định:
Trong các tiết học GV cũng đã có chú ý tới việc hướng dẫn HS ôn tập như: ôn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20 http://www.lrc-tnu.edu.vn
lại những kiến thức cũ có liên quan trưc tiếp đến việc tiếp thu kiên thức mới;
ôn lại kiến thức vừa học; hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi và giải bài tập,
kiểm tra việc học bài cũ của HS…. Một số GV cũng đã chú ý hướng dẫn HS
xây dựng sơ đồ nội dung bài học, lập dàn ý tóm tắt trong quá trình ôn tập, tổ
chức cho HS trao đổi nhóm … Tuy nhiên, việc hướng dẫn HS chủ yếu là do
GV chuẩn bị sẵn nội dung ôn tập, giảng giải cho HS các nội dung đó hoặc
giảng giải theo bài mẫu, yêu cầu HS thực hiện lại như GV đã hướng dẫn. Việc
chỉ ra cách thức thực hiện và yêu cầu HS tự thực hiện ít được GV quan tâm.
Do đó HS còn lúng túng nhiều trong việc xây dựng dàn ý tóm tắt bài học,
phần lớn chỉ sao chép lại như trong vở ghi.
Về phía HS, chúng tôi khảo sát trên phiếu điều tra với câu hỏi: “Nếu
được tổ chức hướng dẫn ôn tập một nội dung kiến thức nào đó trong chương
trình thì em thích đươc thầy cô giáo tổ chức theo những cách nào sau đây?”
và kết quả thu được như sau:
Kết quả Tỉ lệ %
Cách thức tổ chức
TT
Hướng dẫn làm các bài tập luyện tập.
1 108/200 50%
Hướng dẫn lập dàn ý tóm tắt nội dung kiến thức.
2 104/200 40%
Hướng dẫn trả lời các câu hỏi ôn tập
3 72/200 34%
Hướng dẫn lập sơ đồ nội dung kiến thức.
4 60/200 28%
Ôn tập thông qua các bài thực hành thí nghiệm ngoại 44/200
5 20%
khoá
Tổ chức thảo luận trao đổi nhóm.
6 32/200 10%


Từ kết quả khảo sát trên, chúng ta thấy ngoài mong muốn được GV
hướng dẫn làm bài tập và hướng dẫn trả lời các câu hỏi ôn tập, thì nhiều HS
còn có nhu cầu muốn được GV hướng dẫn lập dàn ý tóm tắt nội dung kiến
thức và hướng dẫn lập sơ đồ nội dung kiến thức. Những nhu cầu đó của HS là

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 21 http://www.lrc-tnu.edu.vn
hợp lý, và GV cần thay đổi cách thức tổ chức các tiết ôn tập để đáp ứng
những yêu cầu đó, đồng thời tăng cường hướng dẫn HS tự ôn tập ở nhà bằng
cách hướng dẫn học sinh tự lập dàn ý tóm tắt, sơ đồ tóm tắt bài học.
1.2.3. Các nội dung mà hiện nay giáo viên và học sinh thường ôn tập,
củng cố
Để tìm hiểu các nội dung mà GV và HS thường ôn tập hiện nay, chúng
tôi khảo sát trên phiếu điều tra đối với GV Vật lý ở các trường THPT, yêu cầu
họ đánh số từ 1 đến 6 theo thứ tự giảm dần tính quan trọng (số 1 là nội dung
quan trọng nhất cần được ôn tập, số 6 là ít quan trọng nhất) kết quả như sau:


ĐTB Mức độ
Nội dung cần ôn tập
TT
Kĩ năng giải bài tập Vật lý.
1 1,5 1
Kiến thức: khái niệm Vật lý, định luật Vật lý, thuyết
2
2,5 2
Vật lý
Kĩ năng thu thập thông tin: đọc biểu đồ, đồ thị …
3 2,8 3
Kiến thức: về phương pháp nhận thức vật lí (phương
4
pháp nhận thức vật lí theo con đường lí thuyết và
2,9 4
phương pháp nhận thức vật lí theo con đường thực
nghiệm)
Kỹ năng xử lý thông tin: kỹ năng xây dựng bảng, biểu
5
đồ, đồ thị; rút ra kết luận bằng suy luận quy nạp, suy
3,2 5
luận diễn dịch, khái quát hoá; kỹ năng so sánh, đánh
giá…
Kỹ năng truyền đạt thông tin: trình bày bài, báo cáo kết
6
3,5 6
quả




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 22 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng kết quả trên cho thấy hiện nay trong các hoạt động ôn tập các GV
chủ yếu tập chung rèn cho HS các kỹ năng giải bài tập, các nội dung kiến thức
về khái niệm Vật lý, định luật Vật lý, thuyết Vật lý…Ít quan tâm đến việc ôn
tập cho HS các nội dung kiến thức về phương pháp nhận thức Vật lí (phương
pháp nhận thức Vật lí theo con đường lí thuyết và phương pháp nhận thức Vật
lí theo con đường thực nghiệm), các kỹ năng thu thập, sử lý và truyền đạt
thông tin. Sở dĩ như vậy vì hiện nay GV và HS đầu tư việc dạy học theo quan
điểm “thi gì thì dạy học nấy”. Trong khi đó, nội dung trong các kì thi chưa
chắc là đã đáp ứng việc đánh giá mục tiêu dạy học Vật lí như nêu trong
chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ năng.
1.2.4. Các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động ôn tập, củng cố đang
được sử dụng
Qua điều tra cho thấy SGK, SBT, tư liệu tham khảo, bài tập trắc nghiệm
và tự luận trên giấy vẫn là các phương tiện hỗ trợ ôn tập củng cố chủ yếu của
đa số các GV. Tư liệu, bài tập dưới dạng bài giảng điện tử soạn trên phần
mềm Powerpoint, cũng như các phần mềm máy tính khác thì rất ít GV sử
dụng, nếu có thì các tư liệu sử dụng còn chưa vận dụng đúng lí luận dạy học
nên hiệu quả dạy học đạt được chưa cao.
Hầu hết các GV chưa bao giờ sử dụng tư liệu, bài tập trắc nghiệm và tự
luận dưới dạng Web để ôn tập củng cố mặc dù đã có một số trang Web hỗ trợ
HS dưới dạng tư liệu học và ôn tập kiến thức ở trường phổ thông như:
hocmai.vn; onthi.net; onthi.com... Thực tế cho thấy là chưa có một trang Web
nào được xây dựng nhằm giúp HS tự ôn tập củng cố về riêng môn Vật lí nào
mà ở đó bài tập trắc nghiệm có phản hồi, hướng dẫn, gợi ý câu trả lời, để HS
có thể đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức, sửa và tránh được các quan
niệm sai lầm thường mắc phải trong và sau khi học lần đầu.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 23 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Kết luận chƣơng I
1.3.
Ôn tập là quá trình người học xác nhận lại thông tin, bổ sung và chỉnh lý
thông tin, tổ chức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn, dễ nhớ và dễ
gọi lại hơn, vận dụng thông tin đã lĩnh hội qua đó mà củng cố, mở rộng, đào
sâu tri thức, làm vững chắc các kỹ năng, kỹ xảo đã được lĩnh hội, phát triển trí
nhớ, tư duy của HS.
Ôn tập, củng cố có vai trò hết sức quan trọng bởi lẽ t heo quan điểm dạy
học lấy HS làm trung tâm hiện nay, dạy học là dạy HS biết tự học, tự chiếm
lĩnh kiến thức cũng như tự ôn tập và củng cố kiến thức, dạy học là dạy HS
biết phối hợp hoạt động trong nhóm dưới sự hướng dẫn của thày. Thông qua
việc ôn tập, củng cố giúp HS hệ thống hoá kiến thức, có một “bức tranh” tổng
thể, hệ thống về những kiến thức, luyện tập và phát triển các kĩ năng đã được
học, giúp HS đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức, sửa và tránh được các
quan niệm sai lầm thường mắc phải trong và sau khi học lần đầu. Ôn tập còn
có một ý nghĩa lớn hơn trong việc rèn luyện kỹ năng đặc biệt là kỹ năng vận
dụng kiến thức vào trong cuộc sống khi ôn tập Vật lý.
Thực tiễn cho thấy trong các tiết học GV cũng đã có chú ý tới việc
hướng dẫn HS ôn tập, tuy nhiên việc chỉ ra cách thức thực hiện và yêu cầu HS
tự thực hiện ít được GV quan tâm.
Một trong những nguyên nhân của thực trạng trên là do GV chưa thực sự
quan tâm đến việc ứng dụng CNTT-TT trong dạy học, đặc biệt hiện nay chưa
hề có một Website chính thức nào hỗ trợ cho HS trong việc tự ôn tập, củng cố.
Như vậy việc xây dựng một cách hợp lý trang Web hỗ trợ HS tự ôn tập,
củng cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức sẽ góp phần nâng cao chất lượng ôn
tập kiến thức cho HS từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học đồng
thời đẩy mạnh phong trào khai thác và ứng dụng CNTT-TT trong dạy học.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 24 http://www.lrc-tnu.edu.vn
CHƢƠNG II
XÂY DỰNG TRANG WEB HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ ÔN TẬP CỦNG
CỐ VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC CHƢƠNG “DÒNG ĐIỆN
XOAY CHIỀU” - VẬT LÝ LỚP 12 (CHƢƠNG TRÌNH CHUẨN)


2.1. Đặc điểm cấu trúc nội dung chƣơng “ Dòng điện xoay chiều” –
Vật lý lớp 12 (chƣơng trình chuẩn)
2.1.1. Đặc điểm về nội dung của chương “ Dòng điện xoay chiều”
Trong chương III - “Dòng điện xoay chiều” (SGK Vật lý 12- chương
trình chuẩn) đề cập đến các nội dung sau:
* Các khái niệm:
- Khái niệm dòng điện và điện áp xoay c hiều.
- Khái niệm giá trị tức thời, giá trị hiệu dụng, giá trị cực đại của dòng
điện và điện áp xoay chiều.
- Khái niệm cảm kháng, dung kháng và tổng trở của đoạn mạch có RLC
mắc nối tiếp.
- Khái niệm độ lệch pha giữa dòng điện và điện áp tức thời.
- Khái niệm cộng hưởng điện đối với đoạn mạch RLC nối tiếp.
- Khái niệm hệ thống dòng điện 3 pha.
* Các đại lượng:
- Giá trị tức thời, giá trị hiệu dụng, giá trị cực đại của dòng điện và điện
áp xoay chiều.
- Cảm kháng, dung kháng và tổng trở của đoạn mạch có RLC mắc nối tiếp.
- Độ lệch pha giữa dòng điện và điện áp tức thời.
- Công suất điện và hệ số công suất điện của đoạn mạch RLC nối tiếp.
- Điện áp dây và điện áp pha trong hệ thống dòng điện 3 pha.
* Các ứng dụng:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 25 http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Phương pháp nâng cao hệ số công suất trong quá trình cung cấp và sử
dụng điện năng.
- Nguyên tắc cấu tạo và hoạt động của máy phát điện xoay chiều, động
cơ điện xoay chiều 3 pha, máy biến áp; cách biến đổi dòng điện xoay chiều
thành dòng điện một chiều.
- Ứng dụng của máy biến áp trong truyền tải điện năng.
* Nội dung kiến thức cơ bản của chương có thể chia làm các nhóm:
- Nhóm 1: Nhóm kiến thức về quan hệ giữa dòng điện và điện áp xoay
chiều trong các loại mạch điện xoay chiều không phân nhánh.
- Nhóm 2: Nhóm kiến thức về các loại máy điện (máy phát điện, động cơ
điện 3 pha và máy biếi áp).
* Những kiến thức của chương trước có thể sử dụng vào quá trình hình
thành kiến thức trong chương này bao gồm:
- Kiến thức về các đại lượng đặc trưng trong dao động điều hòa: chu
kỳ, tần số, pha của dao động, ly độ dao động, biên độ dao động, …
- Kiến thức về độ lệch pha của hai dao động, cách biểu diễn dao động
điều hòa bằng giản đồ Frê-nen.
2.1.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức và lôgic hình thành kiến
thức chương“ Dòng điện xoay chiều”




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 26 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Dòng điện xoay chiều

Cường độ hiệu dụng
Các khái niệm

Hệ thống dòng điện
xoay chiều 3 pha

Cường độ tức thời
Các giá trị
tức thời Điện áp tức thời

Cường độ cực đại
Các giá trị tức thời, Các giá trị
cực đại, hiệu dụng cực đại Điện áp cực đại
Đại
cương Cường độ hiệu dụng
Các giá trị
về dòng
hiệu dụng
điện Điện áp hiệu dụng
xoay
chiều
Tần số góc, chu kì, tần số

Các đại lượng Pha và pha ban đầu
đặc trưng
Công suất
Dòng Hệ số công suất
điện
xoay
chiều Đoạn mạch chỉ có R
u cùng pha với i
Quan hệ giữa dòng điện
Đoạn mạch chỉ có C
và điện áp trong các
u chậm pha /2 so với i
mạch điện xoay chiều
Đoạn mạch chỉ có L
u nhanh pha /2 so với i
Các máy điện Nguyên tắc
(máy phát điện hoạt động
Đoạn mạch có RLC nối tiếp
xoay chiều,
u lệch pha  so với i
động cơ điện Cấu tạo
không đồng bộ
3 pha, máy
biến áp)
Ứng dụng



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 27 http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.2. Nội dung kiến thức, kỹ năng học sinh cần có sau khi học xong
chƣơng “Dòng điện xoay chiều ”- Vật lý lớp 12 (chƣơng trình chuẩn)
[11, tr 42]
2.2.1. Nội dung kiến thức
- Viết được biểu thức của cường độ dòng điện và điện áp xoay chiều
tức thời.
- Phát biểu được định nghĩa và viết được biểu thức tính giá trị hiệu dụng
của cường độ dòng điện và của điện áp xoay chiều.
- Viết được công thức tính cảm kháng, dung kháng và tổng trở của đoạn
mạch có RLC mắc nối tiếp và đơn vị đo của các đại lượng này.
- Viết được các hệ thức của định luật Ôm đối với đoạn mạch RLC nối
tiếp (đối với giá trị hiệu dụng và độ lệch pha).
- Viết được công thức tính công suất điện và tính hệ số công suất của
đoạn mạch RLC nối tiếp.
- Nêu được lí do tại sao phải tăng hệ số công suất ở nơi tiêu thụ điện.
- Nêu được những đặc điểm của đoạn mạch RLC nối tiếp khi xảy ra hiện
tượng cộng hưởng điện.
2.2.2. Các kỹ năng cơ bản học sinh cần đạt được sau khi học xong
chương “Dòng điện xoay chiều”
- Vẽ được giản đồ Frê-nen cho đoạn mạch RLC nối tiếp.
- Giải được các bài tập đối với đoạn mạch RLC nối tiếp.
- Giải thích được nguyên tắc hoạt động của máy phát dện xoay chiều,
động cơ điện xoay chiều ba pha và máy biến áp.
- Tiến hành được thí nghiệ m để khảo sát đoạn mạch RLC nối tiếp.
2.2.3. Các sai lầm phổ biến của học sinh trong khi học phần “Dòng
điện xoay chiều”
Để nắm được các sai lầm phổ biến của HS thường mắc phải trong khi học

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 28 http://www.lrc-tnu.edu.vn
phần “Dòng điện xoay chiều”, chúng tôi đã thực hiện điều tra bằng cách: Trao
đổi với những GV có kinh nghiệm đã có nhiều nă m giảng dạy Vật lý lớp 12 ở
các trường phổ thông, kết hợp với điều tra bằng phiếu điều tra dưới dạng các
câu hỏi kiểm tra. Qua đó chúng tôi nhận thấy trong khi tiếp thu kiến thức về
“Dòng điện xoay chiều”, HS thường mắc phải những sai lầm phổ biến sau đây:
- Chưa hiểu sâu về khái niệm pha, pha ban đầu, dẫn đến viết sai phương
trình của dòng điện hoặc điện áp tức thời.
- Nhầm lẫn giữa các công thức của các đại lượng Vật lí như cảm kháng,
dung kháng, công suất và hệ số công suất, hệ thức giữa cường độ hiệu dụ ng
và điện áp hiệu dụng trong công thức của máy biến áp. Hoặc nhầm lẫn, quy
đổi sai đơn vị của các đại lượng Vật lí.
- Hạn chế nhiều trong việc vân dụng giảm đồ Frê-nen để giải bài tập về
mạch điện xoay chiều.
- Từ sự phân tích các sai lầm phổ biến và các nguyên nhân dẫn đến các
sai lầm, chúng tôi nhận thấy rằng nguyên nhân chủ yếu là do các em không
nắm được bản chất của kiến thức mà chỉ áp dụng một cách máy móc, chỉ ghi
nhớ một cách hình thức các điều kiện, các công thức tính trong các trường
hợp đặc biệt mà chưa có sự mở rộng, đào sâu cho các trường hợp tổng quát.
Do vậy khi gặp phải những vấn đề không theo khuôn mẫu có sẵn thì các em
rất lúng túng trong việc giải quyết vấn đề đó và vì vậy rất dễ gặp sai lầm.
Ngoài nguyên nhân trên, còn có một nguyên nhân khác đó là do một số hiện
tượng Vật lí trừu tượng, khi GV dạy lại không dùng các phương tiện dạy học
hiện đại hỗ trợ như sử dụng các phần mềm mô phỏng các hiện tượng Vậ lí,
các thí nghiệm Vật lí ảo …
2.3. Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lƣợng ôn tập, củng cố
Để nâng cao hiệu quả của hoạt động ôn tập, củng cố; khắc phục được các
hạn chế hiện nay của GV và HS khi tham gia ôn tập; khắc phục được các sai

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 29 http://www.lrc-tnu.edu.vn
lầm phổ biến của HS trong khi tiếp thu kiến thức phần kiến thức “Dòng điện
xoay chiều”, chúng tôi đưa ra các đề xuất sau đây:
2.3.1. Đề xuất về nội dung cần ôn tập, củng cố
2.3.1.1. Nội dung kiến thức
Nội dung kiến thức bản của Vật lý phổ thông bao gồm:
- Các khái niệm Vật lý.
- Các định luật Vật lý.
- Các ứng dụng kỹ thuật của Vật lý.
Trong phần kiến thức “Dòng điện xoay chiều” của chương trình Vật lý
lớp 12, để HS nắm được đầy đủ và chính xác nội dung các kiến thức như trên
đã nói thì việc ôn tập, củng cố cũng cần phải đảm bảo các nội dung kiến thức
sau đây:
* Về các khái niệm Vật lý: bao gồm khái niệm về hiện tượng Vật lý
(vạch ra những thuộc tính định tính của sự vật hiện tượng); khái niệm về đại
lượng Vật lý (vạch ra cả về mặt định tính và định lượng) và đơn vị của các đại
lượng vật lý.
- Khái niệm về hiện tượng Vật lý: Hiện tượng cảm ứng điện từ, hiện
tượng cộng hưởng điện.
- Khái niệm về các đại lượng Vật lý (cả đại lượng vô hướng và đại lượng
vec-tơ): Khái niệm dòng điện xoay chiều, các giá trị hiệu dụng, giá trị cực đại,
hệ số công suất, pha, tần số, tần số góc, cảm kháng, dung kháng, tổng trở …
- Các đơn vị của các đại lượng Vật lý: Đơn vị của các đại lượng như
cường độ dòng điện (A), điện áp (V), điện trở (Ω), công suất (W), tần số (Hz),
điện dung (F), độ tự cảm (H), từ thông (Wb).
* Về các định luật Vật lý: Định luật cảm ứng điện từ, định luật Ô m.
* Về các ứng dụng kỹ thuật của Vật lý: Các ứng dụng của các định luật
Vật lý, nguyên lý Vật lý, hiệu ứng Vật lý,… trong kỹ thuật và đời sống (gọi là

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 30 http://www.lrc-tnu.edu.vn
các ứng dụng kỹ thuật) được hiểu là các đối tượng thiết bị, máy móc (hoặc hệ
thống các thiết bị máy móc) được chế tạo và sử dụng với mục đích nào đó
trong kỹ thuật và đời sống mà nguyên tắc hoạt động của chúng dựa trên các
định luật, nguyên lý, hiệu ứng đó. Với quan niệm về ứng dụng kỹ thuật như
vậy thì trong phần kiến thức “Dòng điện xoay chiều” có các ứng dụng Vật lý
sau đây: Cách tạo ra dòng điện xoay chiều, cách biến đổi dòng điện xoay
chiều thành dòng điện một chiều, cách sử dụng hệ thống dòng điện xoay
chiều 3 pha, ứng dụng động cơ không đồng bộ trong đời sống và công nghiệp,
ứng dụng máy biến áp trong việc truyền tải điện năng đi xa…
2.3.1.2. Các kỹ năng
- Vận dụng được các công thức tính cảm kháng, dung kháng và tổng trở.
- Vẽ được giản đồ Fre-nen cho đoạn mạch RLC nối tiếp.
- Giải được các bài tập về đoạn mạch RLC nối tiếp.
- Vẽ được đồ thị biểu diễ n hệ thống dòng diện 3 pha.
- Vẽ được sơ đồ biểu diễn cách mắc hình sao và cách mắc hình tam giác
đối với hệ thống dòng điện 3 pha.
- Giải được các bài tập về máy biến áp lí tưởng.
2.3.2. Đề xuất về hình thức ôn tập và phương pháp ôn tập
2.3.2.1. Ôn tập thông qua việc trả lời các câu hỏi ôn tập
Để hiểu được nội dung bài học, HS phải trả lời được các câu hỏi ôn tập
mà GV giao cho. Câu hỏi ôn tập có nhiều dạng có thể là câu hỏi tái hiện, câu
hỏi yêu cầu HS phải có sự so sánh, phân tích, tổng hợp để rút ra nhữ ng dấu
hiệu bản chất của đối tượng nghiên cứu, câu hỏi dưới dạng tổng hợp, khái
quát hóa, hệ thống hóa nhằm giúp HS xác định được kiến thức cơ bản, trọng
tâm của bài, câu hỏi dưới dạng bài tập có vấn đề, đây là dạng câu hỏi gợi ý
HS xem xét một vấn đề dưới nhiều góc độ, tạo cho HS có thói quen suy nghĩ
sâu sắc, có óc hoài nghi khoa học.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 31 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Để trả lời được câu hỏi HS cần phải thực hiện các bước sau:
- Đọc kỹ câu hỏi, phân tích và xác định yêu cầu của câu hỏi.
- Đọc nội dung của tài liệu có liên quan đến kiến thức mà dùng để trả lời
cho câu hỏi.
- Phân tích, tổng hợp vận dụng những kiến thức đã có trong bài học để
trả lời câu hỏi.
2.3.2.2. Ôn tập thông qua việc xây dựng dàn ý tóm tắt bài học
Xây dựng dàn ý tóm tắt bài học chính là việc rút ra những nội dung chủ
yếu của bài học đó. Do vậy dàn ý tóm tắt bài học phải là một bản tóm tắt khái
quát nhất, đầy đủ nhất về nội dung bài học, nhìn vào đó có thể thấy ngay được
bài học nghiên cứu về vấn đề gì, các nội dung được đề cập đến trong bài, các
kiến thức cơ bản của từng nội dung và mối quan hệ giữa các kiến thức được
thể hiện như thế nào. Qua đó HS nắm bài một cách vững chắc, ghi nhớ được
lâu, tái hiện nhanh. Đồng thời qua việc tự tóm tắt dàn ý bài học sẽ hình thành
ở HS tính tự giác, tính tích cực học tập; có thái độ, động cơ học tập đúng đắn;
có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, phát triển năng lực nhận thức,
hình thành được phương pháp học tập...
Để có thể lập được dàn ý tóm tắt bài học, HS phải thực hiện các thao
tác cơ bản sau:
- Đọc kỹ toàn bài để biết được bài học nghiên cứu về vấn đề gì.
- Xác định cấu trúc bài học (bài học đó bao gồm bao nhiêu nội dung,
những nội dung đó nghiên cứu về vấn đề gì và được sắp xếp như thế nào).
- Xác định các ý chính của từng nội dung (mỗi nội dung gồm bao nhiêu
ý cơ bản, những ý cơ bản đó là gì?)
- Xác định mối quan hệ giữa các nội dung.
- Tóm tắt toàn bài (nêu lên các nội dung chủ yếu).
- Kiểm tra và hoàn thiện.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 32 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Sau đó HS sẽ phải diễn đạt một cách tóm tắt nhất nhưng đầy đủ ý nghĩa
nhất toàn bộ nội dung các kiến thức cơ b ản của bài học dưới dạng một bản
tóm tắt.
2.3.2.3. Ôn tập thông qua việc xây dựng sơ đồ (graph)
Xây dựng sơ đồ, mô hình hóa nội dung bài học chính là quá trình gạt
bỏ những yếu tố không bản chất, chỉ giữ lại những yếu tố bản chất, cơ bản
nhất, kết nối chúng lại với nhau theo lôgic phát triển bên trong của đối tượng
nghiên cứu.
Với quan điểm như trên thì việc xây dựng sơ đồ bài học (graph bài học)
cho ta cái nhìn khái quát, trực quan và mang tính lôgic- hệ thống... về nội
dung kiến thức và mối quan hệ ràng buộc giữa các đơn vị kiến thức trong một
bài học hoặc các bài học với nhau. Cụ thể là:
- Tính khái quát: Khi nhìn vào sơ đồ, ta có thể thấy được toàn bộ nội
dung kiến thức. Bởi vì các kiến thức cơ bản "chốt" được đặt tại các đỉnh của
graph, mối liên hệ giữa các kiến thức được thể hiện bằng các cung kết nối
(hay mũi tên), nhờ vậy mà ta có còn nhận ra mối quan hệ tàng ẩn giữa các
kiến thức đó.
-Tính trực quan: Sơ đồ sau khi xây dựng được là một bản tóm tắt nội
dung bài học, trong đó các kiến thức được sắp xế p theo một hệ thống logic
chặt chẽ, theo một mối liên hệ nhất định. Do đó nó trở thành một công cụ giúp
người học nhanh chóng nhận ra vấn đề.
- Tính lôgic- hệ thống: Với nội dung kiến thức được trình bày bằng lời,
phải suy nghĩ tìm hiểu lâu mới tìm ra lôgic của vấn đề. Nhưng với sơ đồ
graph thì mối liên hệ giữa các nội dung được thể hiện rất rõ qua việc sắp xếp
các đỉnh kiến thức và các cung thể hiện mối liên hệ của các kiến thức đó, giúp
học sinh nắm kiến thức một cách khái quát, ghi nhớ và tái hiện kiến t hức
thuận lợi hơn. Bởi vì kiến thức phải nhớ là các kiến thức “chốt” được đặt trên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 33 http://www.lrc-tnu.edu.vn
các đỉnh và dựng lại những gì cần nhớ từ kiến thức “chốt” ấy. Sơ đồ không
chỉ giúp HS nhớ được tốt, có nhiều cơ hội hơn để xử lý thông tin ở "cấp độ
cao hơn" mà còn tạo cơ hội cho lối tư duy chia sẻ, hợp tác, vừa kích thích tư
duy, vừa gây hứng thú. Ngoài ra, nhờ xây dựng sơ đồ kiến thức mà phát triển
ở HS khả năng tổng hợp, khả năng khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức, qua
đó hình thành những kỹ năng học tập cần thiết , thay đổi dần cách học thuộc
lòng vở ghi hoặc sách giáo khoa một cách máy móc.
Muốn xây dựng sơ đồ bài học HS cần phải thực hiện các thao tác sau:
- Tìm hiểu nội dung bài học: Nghiên cứu nội dung bài học trong SGK,
tài liệu tham khảo để có cái nhìn tổng quát về nội dung bài học.
- Lập danh mục kiến thức cơ bản: Phân tích nội dung tài liệu học tập,
phát hiện, chọn lọc, liệt kê toàn bộ kiến thức cơ bản (kiến thức “chốt”) của
tài liệu học tập để đặt nó vào các đỉnh của sơ đồ. Có thể gộp những kiến
thưc “chốt” cùng tính chất, cùng thể loại về ý nghĩa và nội dung vào chung
một đỉnh.
- Xây dựng sơ đồ:
+ Mã hóa nội dung các đỉnh bằng những ký hiệu quy ước sao cho dễ
hiểu, dễ sử dụng.
+ Sắp xếp các đỉnh một cách hợp lý, sao cho phản ánh đúng lôgic khoa
học của nội dung tài liệu học từ khái niệ m xuất phát cho đến khái niệm cuối
cùng, đồng thời làm nổi bật được những ý cơ bản, chủ chốt của nội dung.
Ngoài ra còn phải đảm bảo tính thẩm mỹ của sơ đồ.
+ Lập cung: nối các đỉnh từng đôi lại với nhau có hoặc không có mũi
tên. Nếu cung có mũi tên thì đi từ kiến thức xuất phát đến kiến thức dẫn xuất.
+ Hoàn thiện sơ đồ: Nghiên cứu xem sơ đồ đã phản ánh đầy đủ nội dung
tài liệu chưa về những kiến thức cơ bản và mối quan hệ của các kiến thức ấy,
sau đó hoàn thiện sơ đồ.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 34 http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.3.2.4. Ôn tập thông qua việc làm bài tập luyện tập
Làm bài tập là hoạt động vận dụng kiến thức để giải quyết các nhiệm vụ
nhận thức hoặc thực hành theo nhiều mức độ khác nhau. Việc giải các bài tập
Vật lý có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy định hư ớng HS một
các tích cực, khả năng vận dụng kiến thức cũng như giải quyết vấn đề của HS.
Các bài tập luyện tập có thể có nhiều thể loại và hình thức khác nhau
bao gồm:
- Bài tập định tính dưới dạng các câu hỏi ôn tập: câu hỏi có thể chỉ yêu
cầu ở mức độ tái hiện kiến thức, cũng có những câu hỏi đòi hỏi HS phải đọc
lại toàn bộ bài học, sử dụng các thao tác tư duy phân tích, tổng hợp, so sánh
để tìm câu trả lời.
- Bài tập trắc nghiệm có phản hồi hướng dẫn: hệ thống các câu hỏi trắc
nghiệm có phản hồi hướng dẫn được xoạn thảo một các công phu dựa trên sự
phân tích các sai lầm phổ biến của HS được sử dụng như một công cụ, một
phương tiện để định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức của HS, đồng thời
cũng là một phương tiện để HS tự kiểm tra, đánh giá mức độ thu nhận kiến
thức của mình.
- Bài tập lập sơ đồ graph tóm tắt bài học: bài tập dạng này có thể có các
mức độ:
+ Mức độ một: cho trước sơ đồ, yêu cầu HS chuyển hóa từ sơ đồ tóm
tắt sang bản tóm tắt bằng lời.
+ Mức độ hai: cho trước sơ đồ nhưng còn khuyết một số nội dung, yêu
cầu HS bổ sung để hoàn chỉnh sơ đồ.
+ Mức độ ba: yêu cầu HS tự lập và hoàn chỉnh sơ đồ thể hiện nội dung
kiến thức và logic hình thành kiến thức trong bài học.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 35 http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.3.2.5. Ôn tập thông qua diễn đàn thảo luận
Thảo luận nhóm trong ôn tập là sự bàn bạc, trao đổi ý kiến, trình bà y
quan điểm của mỗi cá nhân về một vấn đề học tập dưới sự tổ chức điểu khiển
của GV. Trong quá trình thảo luận nhóm, HS được tự do trình bày ý kiến của
mình, lắng nghe ý kiến của bạn, hợp tác với nhau trong việc giải qu yết nhiệm
vụ chung. Thông qua thảo luận, HS có điều kiện mở rộng, đào sâu kiến thức
đã học, nhìn nhận chúng một cách rõ ràng hơn. Đồng thời thông qua thảo luận
còn giúp HS phát triển kỹ năng nói, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tranh luận.
Trong quá trình tham gia thảo luận HS thể hiện tính tích cực, chủ động hơn
trong học tập, nâng cao tinh thần trách nhiệm với mọi người. Việc thảo luận
trong nhóm không những tạo cơ hội cho HS cọ sát những quan điểm, chính
kiến về tri thức, mà còn là điều kiện để các em thể hiệ n chính mình, hình
thành năng lực tự đánh giá, tự ý thức. Mặt khác việc tổ chức cho HS thảo luận
nhóm còn giúp GV nắm được hiệu quả giáo dục HS về các mặt nhận thức,
thái độ, quan điểm, xu hướng hành vi của HS …
2.3.3. Đề xuất về phương tiện ôn tập, củng cố
Hiện nay song song với cách dạy học truyền thống đã xuất hiện một xu
hướng mới đó là dạy học qua mạng Internet (E-learning) sẽ giúp nâng cao
chất lượng GD&ĐT của các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt nam.
E-Learning tạo điều kiện để người học có thể học tập ở mọi lúc, mọi nơi và
quan trọng hơn là người học có thể tự học, tự ôn tập và tự kiểm tra , đánh giá
thông qua các chương trình đã được GV tạo lập và đưa lên mạng máy tính
dưới dạng các trang Web.
2.3.3.1. Các khái niệm liên quan đến Web
- Internet: Thuật ngữ Internet đã được sử dụng vào những năm 1980
nhằm diễn tả mạng thông tin hỗn hợp nhiều dịch vụ được kết hợp với nhau có
tính toàn cầu. Internet gồm các máy tính được liên kết với nhau sao cho chúng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 36 http://www.lrc-tnu.edu.vn
có thể truyền và nhận thông tin từ nơi này đến nơi khác, từ máy tính này đến
máy tính khác trong phạm vi một vùng, một quốc gia hay trên toàn thế giới.
- WWW ( World Wide Web) gọi tắt là Web: là một trong những dịch vụ
trên Internet. Tim Berners Lee được biết đến là người sáng lập ra Web trong
thời kỳ ông là nhà Vật lý ở viện nghiên cứu hạt nhân Châu Âu (CERN). Sở dĩ
Web trở nên phổ biến vì nó cung cấp cho người sử dụng khả năng truy cập dễ
dàng, từ đó người sử dụng có thể khai thác các thông tin trên Internet dưới
dạng văn bản, hình ảnh thậm chí cả âm thanh và video. Vì thế, Web đôi khi
còn được gọi là đa phương tiện của mạng Internet.
Để dùng Web, người sử dụng phải có trình duyệt Web như Firefox,
Opera, Maxthon, Google Chrome, Internet Explorer… Trình duyệt Web là
một ứng dụng tương thích với máy tính của người dùng, cho phép họ nhìn
thấy các trang Web trên màn hình máy tính .
- HTML (tiếng Anh, viết tắt cho HyperText Markup Language, tức là
“Ngôn ngữ Đánh dấu Siêu văn bản”) là một ngôn ngữ đánh dấu được thiết kế
ra để tạo nên các trang Web, nghĩa là các mẩu thông tin được trình bày trên
World Wide Web. Được định nghĩa như là một ứng dụng đơn giản của SGML
(Standard Generalized Markup HyperText Markup Language), vốn được sử
dụng trong các tổ chức cần đến các yêu cầu xuất bản phức tạp, HTML giờ đ ây
đã trở thành một chuẩn Internet do tổ chức World Wide Web Consortium
(W3C) duy trì.
- HTTP: là chữ viết tắt từ HyperText Transfer Protocol (giao thức truyền
tải siêu văn bản). Nó là giao thức cơ bản mà World Wide Web sử dụng.
HTTP xác định cách các thông điệp (các file văn bản, hình ảnh đồ hoạ, âm
thanh, video, và các file multimedia khác) được định dạng và truyền tải ra
sao, và những hành động nào mà các Web server (máy chủ Web) và các trình
duyệt Web (browser) phải làm để đáp ứng các lệnh rất đa dạng. Chẳng hạn,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 37 http://www.lrc-tnu.edu.vn
khi người dùng gõ một địa chỉ Web URL vào trình duyệt Web, một lệnh
HTTP sẽ được gửi tới Web server để ra lệnh và hướng dẫn nó tìm đúng trang
Web được yêu cầu và kéo về mở trên trình duyệt Web. Nói tóm lại, HTTP là
giao thức truyền tải các file từ một Web server vào một trình duyệt Web để
người dùng có thể xem một trang Web đang hiện diện trên Internet. HTTP là
một giao thức ứng dụng của bộ giao thức TCP/IP (các giao thức nền tảng cho
Internet).
- Web Server: là máy chủ có dung lượng lớn, tốc độ cao, được dùng để
lưu trữ thông tin như một ngân hàng dữ liệu, chứa những website đã được
thiết kế cùng với những thông tin liên quan khác. (các mã Script, các chương
trình, và các file Multimedia).
Web Server có khả năng gửi đến máy khách những trang Web thông qua
môi trường Internet (hoặc Intranet) qua giao thức HTTP - giao thức được thiết
kế để gửi các file đến trình duyệt Web (Web Browser), và các giao thức khác.
Tất cả các Web Server đều có một IP Address (địa chỉ IP) hoặc cũng có
thể có một Domain Name. Giả sử khi người dùng đánh vào thanh Address
trên trình duyệt một dòng http://www.abc.com sau đó gõ phím Enter thì tức là
đã gửi một yêu cầu đến một Server có Domain Name là www.abc.com.
Server này sẽ tìm trang Web có tên là index.htm rồi gửi nó đến trình duyệt
của người dùng đó.
Bất kỳ một máy tính nào cũng có thể trở thành một Web Server bởi việc
cài đặt lên nó một chương trình phần mềm Server Software và sau đó kết nối
vào Internet.
Khi máy tính của người dùng kết nối đến một Web Server và gửi đến
yêu cầu truy cập các thông tin từ một trang Web nào đó, Web Server Software
sẽ nhận yêu cầu và gửi lại những thông tin mà người dùng mong muốn.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 38 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Giống như những phần mềm khác, Web Server Software cũng chỉ là một
ứng dụng phần mềm. Nó được cài đặt, và chạy trên máy tính dùng làm Web
Server, nhờ có chương trình này mà người sử dụng có thể truy cập đến các
thông tin của trang Web từ một máy tính khác ở trên mạng (Internet,
Intranet).
Web Server Software còn có thể được tích hợp với Database (cơ sở dữ
liệu), hay điều khiển việc kết nối vào cơ sở dữ liệu để có thể truy cập và kết
xuất thông tin từ cơ sở dữ liệu lên các trang Web và truyền tải chúng đến
người dùng.
Server phải hoạt động liên tục 24/24 giờ, 7 ngày một tuần và 365 ngày
một năm, để phục vụ cho việc cung cấp thông tin trực tuyến. Vị trí đặt server
đóng vai trò quan trọng trong chất lượng và tốc độ lưu chuyển thông tin từ
server và máy tính truy cập.
2.3.3.2. Một số ưu điểm của Web trong dạy học hiện đại
- Dạy học trên mạng Internet tạo điều kiện cho người học vượi qua “rào
cản về thời gian và không gian” :
Đối với các lớp học truyền thống, mỗi GV tại một thời điểm chỉ có thể
giảng dạy cho một lớp học sinh với số lượng ít. Hơn nữa, cả GV và HS phải
có mặt tại cùng một địa điểm và cùng một thời điểm. Những đặc điểm đó sẽ
trở nên bất lợi đối với xu hướng dạy học hiện đại. Dạy học trên mạng Internet
là một biện pháp có thể tạo điều kiện cho người học vượt qua các bất lợi đó.
Đối với dạy học trên mạng Internet, người học không phải có mặt đúng
giờ quy định tại một đại điểm quy định cho tất cả các lớp như ở các lớp học
truyển thống khi nghe giảng lý thuyết, làm bài tập hay thảo luận nhóm…. Họ
tùy điều kiện về thời gian của mình trong ngày và ở bất kỳ chỗ nào có Internet
là có thể học lý thuyết, làm bài tập, thảo luận nhóm, làm bài kiểm tra… Họ có
thể đặt các câu hỏi đối với GV qua email. Họ có thể hỏi đáp trực tuyến, trực

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 39 http://www.lrc-tnu.edu.vn
tiếp với GV theo các giờ quy định ghi sẵn trong chương trình, hay đã thỏa
thuận trước. Họ có thể trao đổ i thảo luận trong nhóm học tập qua các hình
thức online hoặc offline.
- Dạy học trên mạng Internet giúp cho việc dạy học vượt qua “rào cản
liên quan đến đối tượ ng học tập”:
Đối với các đối tượng học tập có liên quan đến các thí nghiệm thì dạy
học bằng Web có thể hỗ trợ được rất nhiều cho cả GV và HS. Do hiện nay,
nhờ các công cụ lập trình hỗ trợ tạo các thí nghiệm trên màn hình có thể
tương tác được nên người học có thể tự lắp đặt thí nghiệm, tiến hành thí
nghiệm, thu thập số liệu, vẽ đồ thị thực nghiệm, khớp đồ thị thực nghiệm với
các hàm chuẩn…ngay trên mạng Internet. Như vậy nếu không có điều kiện
đến phòng thí nghiệm, HS có thể thực hiện các thí nghiệm trên mạng Internet.
Hơn thế nhiều thí nghiệm không thể thực hiện được trong phòng thí nghiệm
truyền thống (do đắt đỏ, quý hiếm hay do không an toàn trong khi thực hiện
thí nghiệm) thì nay có thể thực hiện được trong các “phòng thí nghiệm trên
mạng” , và HS cũng như GV có thể sử dụng.
- Nhờ dạy học trên mạng Internet, người học có thể vượt qua được “rào
cản về tư liệu học tập” :
Do nội dung các trang Web trên Internet là kho tài nguyên tri thức
khổng lồ của nhân loại liên quan đến tất cả các lĩnh vực trong xã hội và cuộc
sống, giúp cho người học có thể tra cứu đầy đủ các tư liệu cần thiết liên quan
đến chuyên môn của mình. Hơn thế nữa, việc tìm kiếm, tra cứu trên Internet
lại rất tiện lợi và nhanh chóng, nên có thể nói nội dung trên Internet t hực sự là
một “thư viện số lí tưởng” của nhân loại, đầy đủ về nội dung, nhanh chóng và
tiện lợi về tra cứu.
- Các trang Web trên mạng còn có các nội dung ôn tập kiến thức cũng
như tự kiểm tra, đánh giá đối với từng bài, chương, phần kiến thức đã học. Sau

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 40 http://www.lrc-tnu.edu.vn
khi tự học, từng người có thể tự ôn tập và kiểm tra đánh giá trình độ lĩnh hội
kiến thức của mình ngay. Khả năng này không thể thực hiện được ở hình thức
dạy học truyền thống đối với tất cả học sinh trong lớp trong cùng một lúc.
2.3.3.3. Các khả năng hỗ trợ của Web đối với ôn tập củng cố
- Sử dụng Web như một công cụ hỗ trợ GV nâng cao chất lượng
giảng dạy:
GV có thể sử dụng Web trình bày bài giảng với những tính năng đa
phương tiện (âm thanh, hình ảnh, video, flash…) làm cho bài giảng thêm sinh
động hơn. Những hiện tượng khó quan sát (do xảy ra quá nhanh, hoặc quá
chậm), những thí nghiệm khó thực hiện (do các lý do k ỹ thuật, tài chính, mức
độ an toàn….) GV có thể đưa những đoạn video, hình ảnh vào trong Web
hoặc xây dựng mô phỏng những hiện tượng đó trên Web với những công cụ
hỗ trợ giúp HS học tập, lĩnh hội kiến thức tốt hơn, gây hấp dẫn, hứng thú với
các em khi được học, nghiên cứu một vấn đề mới, đồng thời giúp cá em tiếp
cận với các phương tiện hiện đại ngay tại nhà.
Bản chất của quá trính dạy học là tạo ra các tình huống học tập, trong
đó HS sẽ hoạt động dưới sự hướng dẫn của GV nhằm đạt được chất lượng và
hiệu quả dạy học. Người GV không chỉ là người phát thông tin mà sẽ trở
thành người hướng dẫn để các em tự tìm ra những kiến thức đó. Đồng thời
trong điều kiện hiện nay người GV cũng đóng vai trò là người học thường
xuyên vì sự nâng cao dân trí của chính người thầy. Với mạng máy tính, các
GV có điều kiện dễ dàng hơn trong việc trao đổi kinh nghiệm giảng dạy và
việc học của mình.
Với Web, GV có thể lấy thông tin nhan chóng từ phía HS về một vấn
đề nào đó thông qua các câu hỏi nhanh hoặc thiết kế những bài kiểm tra ,
chấm điểm tự động và lưu giữ bảng điểm đó.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 41 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bên cạnh việc xây dựng nội dung học tập thì vấn đề quản lý HS đối với
mỗi GV cũng quan trọng không kém. Các trang Web có thể hỗ trợ việc quản
lý HS rất tốt. Các vấn đề như quản lý sự truy cập thông tin của HS trong một
khoá học, khả năng chia HS thành các nhóm, lên lịch người dùng hay quản lý
điểm… đã giúp cho GV nắm bắt được thông tin của HS một cách cập nhật, đa
dạng hơn và từ đó cũng thay đổi sao cho phù hợp với từng đối tượng.
GV có thể kiểm soát việc học tập của HS qua những lần truy cập vào
trang Web hoặc các phần mềm kiểm tra trên Web.
- Sử dụng trang Web như một công cụ hỗ trợ học tập của HS:
Qua việc xây dựng trang Web học tập một nội dung, một chương, thậm
chí cả chương trình học một môn học hoặc tất cả các môn học, HS học qua
Web với các chương trình tự giảng dạy đã được lập sẵn hoặc HS làm việc với
máy tính có sự giúp đỡ của GV, giúp cho HS có thói quen học tập tự chủ.
Thông qua các trang Web học tập, các em có thể học tập ở mọi nơi, vào bất
cứ thời gian nào, các kiến thức luôn được cập nhật, được bổ sung, hoàn thiện
vì ngoài việc tự học, tự nghiên cứu bên cạnh các em còn có một cộng đồng sử
dụng web có thể chia sẻ thông tin qua các diễn đàn trao đổi, giúp cho việc học
tập đạt chất lượng ngày càng cao.
Thông qua các Web học tập, các em có thể tự kiểm tra, đánh giá trình
độ, khả năng của mình. Đồng thời HS còn học được cách điểu khiển Web, sử
dụng các công cụ mà trang Web hỗ trợ để tìm kiếm thông tin trên Internet,
phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của các em.
Trong dạy học, để tạo ra sự tò mò khoa học, tìm hiểu các vấn đề xung
quanh, kích thích hứng thú nhận thức, rèn luyện kỹ năng phân tích, đánh giá,
tính sáng tạo của HS, GV thường sử dụng phương pháp tạo tình huống học
tập. Vai trò của GV lúc này là hướng dẫn, tạo môi trường học tập, tạo điều
kiện để thúc đẩy HS tham gia. Bằng những ảnh chụp, mô hình, hình vẽ, sơ đồ,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 42 http://www.lrc-tnu.edu.vn
các đoạn video quay cảnh thật, các flash… trong đó yếu tố quan trọng nhất là
lựa chọn tình huống có tính chất nghịch lý (tình h uống có vấn đề) đưa vào
Web. HS gặp phải mâu thuẫn giữa điều đã biết và điều chưa biết nhưng muốn
biết, từ đó nảy sinh vấn đề cần giải quyết và bắt tay vào nghiên cứu giải quyết
vấn đề đó một cách hào hứng.
- Sử dụng Web tạo môi trường tương tác để HS hoạt động và thích nghi
với máy tính, Web và Internet:
Những công cụ đào tạo đa truyền thông và phương pháp mô phỏng
tương tác của hệ thống Hypermedia đã tạo ra cho Web những khả năng đáp
ứng nhu cầu cuả người dùng. Những phương pháp học tập thành nhóm trên
mạng làm cho HS học tập sinh động hơn, tác động qua lại tích cực hơn.
Vai trò của GV là người hướng dẫn quan trọng, mỗi GV có thể phụ
trách quản lý một nhóm HS phân theo lớp. HS thực hành và thực hiện các
họat động của lớp học dưới sự hướng dẫn của GV qua các hình thức liên lạc,
trao đổi thông tin với nhau một cách chủ động như thảo lận theo chủ đề (các
forum) hoặc trao đổi trực tuyến qua các chatr um. Như vậy giữa GV và HS,
HS với HS, GV với GV có thể tiến hành trao đổi đồng bộ hoặc không đồng
bộ với nhau trên Web.
- Xây dựng Web hỗ trợ kiểm tra và đánh giá kiến thức, kỹ năng mà HS
đã thu được:
Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS là một vấn đề khó và phức
tạp. Nhiệm vụ cơ bản của việc kiểm tra, đánh giá là làm rõ được tình hình lĩnh
hội kiến thức, mức độ thành thạo về kỹ năng và trình độ phát triển tư duy của
HS trong quá trình học tập. Thông qua kiểm tra, đánh giá, người GV có thể tự
đánh giá việc giảng dạy của mình song song với sự đánh giá việc học tập của
HS. GV có thể thấy được những thành công và những vấn đề phải rút kinh



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 43 http://www.lrc-tnu.edu.vn
nghiệm trong công tác giảng dạy, từ đó định ra được những biện pháp sư
phạm thích hợp, nâng cao chất lượng dạy học.
Kiểm tra và đánh giá là công việc không chỉ của GV mà của cả HS. Nó
là hai công việc có nội dung khác nhau nhưng lại liên quan mật thiết với nhau.
Thông thường có kiểm tra (tự kiểm tra, HS kiểm tra với nhau, GV kiểm tra
HS…) rồi mới có đánh giá (GV đánh giá HS, HS tự đánh giá mình và đánh
giá lẫn nhau). Tuy nhiên có những trường hợp kiểm tra mà không có mục
đích đánh giá. Việc kiểm tra này chỉ nhằm vào việc tìm hiểu tình hình học tâp
của HS.
HS có thể tự kiểm tra, đánh giá trình độ, sự hiểu biết của mình thông
qua các câu hỏi ôn tập, câu hỏi trắc nghiệm có phản hồi trong mỗi bài học,
các bài luyện tập về lập sơ đồ graph…
Các HS có thể kiểm tra, đánh giá lẫn nhau thông qua các diễn đàn. Trên
diễn đàn diễn ra các cuộc thảo luận đồng thời những người tham gia thỏa luận
có thể đánh giá (cho điểm), nhận xét các ý kiến của những người khác. Đó là
cách thức rất hiệu quả để HS có thể đánh giá lẫn nhau trong quá trình học tập
trên mạng Internet.
GV có thể kiểm tra, đánh giá HS thông qua các bài kiểm tra. Hình thức
kiểm tra rất đa dạng, có thể sử dụng hình thức câu hỏi trắc nghiệm đúng sai,
câu hỏi đa lựa chọn, câu hỏi điển từ, câu hỏi có những đồ họa và text mô tả…
các bài kiểm tra có thể sử dụng như phương tiện, phương pháp dạy học.
Thông qua việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên, nhanh chóng được sử dụng
như một biện pháp tích cực, hữu hiệu chỉ đạo hoạt động học, nó có t ác dụng
định hướng hoạt động tích cực tự chủ của HS. Với các chức năng hỗ trợ được
lập trình trên Web, máy tính có thể dễ dàng tạo ra những bài kiểm tra trắc
nghiệm, bài kiểm tra kéo thả trên web đồng thời tự chấm điểm theo thang



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 44 http://www.lrc-tnu.edu.vn
điểm đã định sẵn, sau đó lưu vào hồ sơ điểm của HS từng lớp để GV có thể
quản lý.
2.4. Xây dựng website hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố phần kiến
thức “Dòng điện xoay chiều”
2.4.1. Lựa chọn và nghiên cứu công cụ để xây dựng trang Web
Lựa chọn công cụ để xây dựng trang Web là một công việc trọng, nó
quyết định rất lớn đến thành công của Website. Hiện nay để xây dựng một
trang Web dạy học có rất nhiều các phần mềm hỗ trợ, từ các phần mềm mã
nguồn đóng (thương mại) đến các phần mềm mã nguồn mở (miễn phí). Mỗi
phần mềm đều có ưu và nhược đ iểm riêng, việc lựa chọn công cụ tốt không
những dễ sử dụng mà còn hỗ trợ nhiều tính năng mà không đòi hỏi phải có kỹ
thuật lập trình bậc cao. Các phần mềm và các ngôn ngữ lập trình được chúng
tôi lựa chọn để xây dựng trang web này bao gồm:
- Phần mềm Macromedia Dreamware của hãng Macromedia.
Macromedia Dreamweaver là trình biên soạn HTML với các công cụ xây
dựng Web chuyên nghiệp dùng để thiết kế, viết mã và phát triển Website
cùng các trang Web và các ứng dụng Web.
- Phần mềm mã nguồn mở Moodle (viết tắt của Modular Object-Oriented
Dynamic Learning Environment). Đây là hệ thống quản lý học tập (Learning
Management System – LMS hoặc người ta còn gọi là Course Management
System hoặc VLE - Virtual Learning Environment) mã nguồn mở . Nó được
coi là thay thế cho giải pháp đào tạo trên mạng thương mại, được phân phối
miễn phí dưới bản quyền mã nguồn mở, viết bằng ngôn ngữ PHP và lưu dữ tất
cả dữ liệu trong một cơ sở dữ liệu. Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền truy cập
và có thể thay đổi nếu cần thiết. Thiết kế có tính module, hướng tới giáo dục
của Moodle giúp cho dễ dàng tạo các khóa học mới, cập nhật nội dung giúp
học viên tham gia nhiệt tình hơn vào các khóa học.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 45 http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Ngôn ngữ lập trình PHP (Ý nghĩa ban đầu của PHP chính là viết tắt của
cụm từ “Personal Home Page” nhưng sau này là “Hypertext Preprocessor", có
nghĩa là bộ tiền xử lý Siêu văn bản PHP). là một ngôn ngữ lập trình kịch bản
mã nguồn mở chủ yếu được dùng để phát triển các ứng dụ ng viết cho máy
chủ, mã nguồn mở, dùng cho mục đích tổng quát. Nó rất thích hợp với web
và có thể dễ dàng nhúng vào trang HTML. Do được tối ưu hóa cho các ứng
dụng web, tốc độ nhanh, nhỏ gọn, cú pháp giống C và Java.
- Ngôn ngữ lập trình Java. Đây là ngôn ngữ lập trình mới do một nhóm
nhỏ các nhà khoa học của hãng Sun Microsystems sáng tạo nên. Java là môi
trường lập trình hướng đối tượng, đa luồng, đa mục đích và thích hợp nhất
dùng để tạo các trình con (applet) và ứng dụng cho Internet và các mạng phân
tán phức tạp khác, không phụ thuộc vào hệ điều hành cụ thể.
- Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng thêm các phần mềm công cụ hỗ trợ
khác như: Macromedia Flash; Paint; Photoshop; HotPotatoes; ConceptDraw
mindmap .
2.4.2. Thiết kế Website
- Thiết kế giao diện cho Website: Giao diện người dùng bao gồm những
cách thức tương tác, hình ảnh, biểu tượng để chuyển tải ý nghĩa các biểu
tượng trên máy tính. Ngoài ra còn bao gồm đặc điểm hiển thị các chi tiết
trong từng thành phần đồ họa và chuỗi các tương tác chức năng theo thời
gian, tạo ra diện mạo cho Website. Giao diện được thiết kế sao cho người sử
dụng dễ dàng tìm kiếm thông tin, đáp ứng được nhu cầu học tập của mình và
thể hiện rõ ý đồ sư phạm của người thiết kế.
- Thiết kết site: Trong việc thiết kế site, bước quan trọng nhất chính là tổ
chức thông tin, giúp ích cho việc thiết kế từng trang của site và quyết định sự
thành công của site. Một bảng mục lục tổ chức tốt sẽ trở thành công cụ định



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 46 http://www.lrc-tnu.edu.vn
hướng, đem lại cho người dùng cái nhìn tổng quát về tổ chức thông tin được
trình bày trong cả Website.
Sau đây là hình ảnh về giao diện và cách tổ chức thông tin trong Website
mà chúng tôi đã thiết kế.




Hình 1. Giao diện trang chủ




Hình 2. Giao diện của một trang liên kết với trang chủ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 47 http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.4.3. Xây dựng các module chính
2.4.3.1. Xây dựng module 1: Hệ thống các câu hỏi ôn bài và hướng dẫn
trả lời các câu hỏi ôn bài.
Trước hết chúng tôi giới thiệu cho các em biết tác dụng của việc trả lời
các câu hỏi ôn tập đối với hoạt động nhận thức. Sau đó giới thiệu hướng dẫn
các thao tác trả lời các câu hỏi ôn bài.




Hình 3- Giới thiệu các thao tác trả lời câu hỏi
Nếu HS trả lời được câu hỏi thì sẽ soạn thảo câu trả lời và gửi về cho
GV, nếu không thì có thể xem thêm hướng dẫn các bước hoặc gợi ý trả lời
bằng cách bấm vào nút “Gợi ý”.




Hình 4- Gợi ý trả lời câu hỏi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 48 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Để soạn thảo câu trả lời và gửi về cho GV, HS sẽ bấm vào nút “Bài làm”, ở
đây HS có thể soạn thảo nội dung câu trả lời và gửi bài cho GV bằng cách HS
bấm vào nút “Nộp bài và kết thúc” sau khi đã hoàn thành câu trả lời.
Sau khi nhận được bài gửi của HS, GV sẽ phải chấm bài, cho điểm, nhận
xét và phản hồi lại cho HS. Công việc này có thể tiến hành ngay hoặc cũng có
thể phải mất một thời gian nhất định.




Hình 5 – Vùng soạn thảo nội dung trả lời c ủa học sinh
2.4.3.2. Xây dựng module 2: Sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm có
phản hồi hướng dẫn để ôn tập trên Web.
Hệ thống các bài tập trắc nghiệm khách quan có phản hồi hướng dẫn đã
được chúng tôi xây dựng được trong đề tài này có các câu hỏi thuộc phần kiến
thức “Dòng điện xoay chiều”.
- Nguyên tắc xây dựng: Ở đây chúng tôi soạn thảo hệ thống bài tập theo
phương pháp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn có phản hồi hướng dẫn,
mỗi câu hỏi gồm 4 phương án lựa chọn trong đó chỉ có một phương án lựa
chọn là đáp án đúng. Tương ứng với mỗi lựa chọn là một phản hồi hướng dẫn.
Các phương án nhiễu và các phản hồi tương ứng được soạn thảo dựa trên sự
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 49 http://www.lrc-tnu.edu.vn
phân tích các sai lầm phổ biến của HS trong khi học phần kiến thức “Dòng điện
xoay chiều”. Các phản hồi được sử dụng như là những gợi ý, định hướng các
em khi mắc phải các sai lầm dẫn đến lựa chọn sai đáp án. Từ những gợi ý và
định hướng đó các em có thể chọn lại tới khi nào chọn được phương án đúng.
Ngoài tác dụng dùng để ôn tập và luyện tập, hệ thống các bài tập trắc
nghiệm chúng tôi xây dựng được còn là công cụ để HS tự kiểm tra và đánh
giá mức độ thu nhận kiến thức của mình trong phần “ Dòng điện xoay chiều”.
- Cách đánh giá (cho điểm) đối với phần bài tập này được xây dựng như sau:
+ HS làm bài đến đâu cho điểm đến đó theo thang điểm 100%.
+ Điểm của mỗi câu hỏi: tối đa là 100% ; nếu HS chọn lần đầu được
đáp án đúng thì được điểm tối đa, nếu lựa chọn lần thứ hai được đáp án đúng
thì điểm của bài đó là 66%; nếu lựa chọn lần thứ ba được đáp án đúng thì
điểm của bài đó là 33%; nếu lựa chọn lần thứ tư được đáp á n đúng thì điểm
bài đó là 0.
+ Điểm của toàn bài (tại một thời điểm): là tổng cộng số điểm của các
câu hỏi đã đạt được chia cho số câu đã làm (tính đến thời điểm đó).




Hình 6- Giao diện thao tác trả lời câu hỏi trắc nghiệm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 50 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nếu có lựa chọn đáp án nhưng không đúng, chương trình sẽ đưa ra phản
hồi để hướng dẫn HS tìm nguyên nhân dẫn đến sai lầm đó và đồng thời định
hướng cách giải cho bài toán này.




Hình 7- Phản hồi hướng dẫn khi lựa chọn lần đầu được phương án sai
Nếu lựa chọn lại đáp án và đó là đáp án đúng thì HS sẽ được điểm ở câu
hỏi đó, nhưng số điểm nhận được chỉ còn 66% (với điểm tối đa là 100% cho
mỗi câu hỏi). Lúc này chương trình có phản hồi để cho học sinh biết hiện tạ i
họ đã làm đến đâu và điểm số toàn bài lúc đó là bao nhiêu.




Hình 8- Phản hồi khi lựa chọn lần hai được phương án đúng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 51 http://www.lrc-tnu.edu.vn
2.4.3.3. Xây dựng module 3: Ôn tập kiến thức thông qua thí nghiệm
Các thí nghiệm được chúng tôi sử dụng là phầm mềm “Dòng điện xoay
chiều” được tác giả PGS.TS. Phạm Xuân Quế và Lăng Đức Sỹ xây dựng. Sau
đó sửa đổi bằng cách dùng phần mềm chuyên dụng để ghi lại các hình ảnh
được mô phỏng trên màn hình máy tính, sau đó chuyển thành các file video
được định dạng dưới dạng flash để sử dụng cho việc tự học, tự ôn tập của HS.
Trong module này, chúng tôi còn sử dụng thêm một số phần mềm mô phỏng
khác. Ở mỗi thí nghiệm, chúng tôi đều đưa ra các yêu cầu dưới dạng các câu
hỏi, HS sẽ phải sử dụng các suy luận lý thuyết đã học để trả lời.
Ví dụ 1: Trong bài “Các máy phát điện xoay chiều”, HS sẽ quan sát mô
phỏng về sự hoạt động của máy phát điện xoay chiều 3 pha, mô phỏng về từ
trường quay và trả lời câu hỏi kèm theo như sau:
- Hệ thống dòng điện 3 pha là gì?
- Trình bày cấu tạo của máy phát điện xoay chiều 3 pha?
- Phân tích hoạt động của máy phát điện xoay chiều 3 pha?




Hình 9 – Giao diện thí nghiệm trong bài “ Các máy phát điện xoay chiều”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 52 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ví dụ 2: Khi ôn tập về mạch điện xoay chiều chỉ có cuộn cảm thuần
trong bài “Các mạch điệ n xoay chiều”, HS sẽ quan sát mô phỏng về sự biến
đổi của dòng điện tức thời i và điện áp xoay chiều giữa hai đầu mạch điện
theo thời gian và trả lời câu hỏi sau:
Xác định độ lệch pha giữa điện áp hai đầu cuộn dây u L và dòng điện i
trong mạch ?




Hình 10 – Giao diện thí nghiệm trong bài “ Các mạch điện xoay chiều”
2.4.3.4. Xây dựng module 4: Ôn tập kiến thức thông qua sơ đồ bài học
Khi sử dụng sơ đồ graph để ôn tập, chúng tôi đặt ra mục tiêu đối với
HS ở hai mức độ:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 53 http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Mức độ thứ nhất: Không yêu cầu HS xây dựng sơ đồ mà cho HS biết
trước sơ đồ bài học. Sau đó yêu cầu từ sơ đồ đã có HS phải chuyển hóa thành
bản tóm tắt bài học (chuyển từ “ngôn ngữ sơ đồ” sang “ngôn ngữ văn bản”).
- Mức độ thứ hai: Yêu cầu HS tham gia xây dựng và hoàn thiện sơ đồ
theo một số gợi ý cho trước.
Với mục tiêu ở hai mức như vậy, chúng tôi tiến hành thiết kế và xây
dựng Môdule này như sau:
- Ở mức độ thứ nhất: Dựa trên tài liệu SGK, lập sơ đồ tóm tắt bài học
hoàn chỉnh và chi tiết thể hiện cấu trúc nội dung và lôgic hình thành kiến thức
trong bài học đó rồi đưa ra cho HS nghiên cứu. Sau khi HS đã nghiên cứu kỹ
sơ đồ, có cái nhìn bao quát về nội dung kiến thức và logic hình thành kiến
thức, HS sẽ phải thể hiện sự hiểu và nắm vững bài học của mình bằng việc
chuyển hóa từ sơ đồ thành bản tóm tắt bài học rồi gửi về cho GV để có cơ sở
đánh giá.
- Ở mức độ thứ hai: Đưa ra cho HS một sơ đồ còn khuyết các đỉnh và
yêu cầu HS tìm nội dung để điền và các đỉnh còn khuyết để tạo thành sơ đồ
hoàn chỉnh.
Để có thể thực hiện được các thao tác đó trong trình duyệt Web cần
thực hiện theo phương án sau:
+ Tạo mỗi đỉnh của graph là một đối tượng đồ họa.
+ Lập trình bằng phần mềm Macromedia Flash hoặc Java để có thể di
chuyển (kéo-thả) bằng chuột máy tính các đối tượng đó vào các vị tr í định
trước trên màn hình máy tính.
- Lập trình bằng phần mềm Macromedia Flash hoặc Java để phản hồi
hướng dẫn khi HS thực hiện các thao tác đúng hoặc không đúng.
Ví dụ: Khi xây dựng sơ đồ bài học phần “Máy biến áp”, chúng tôi tạo
nội dung của các đỉnh graph bằng các đối tượng đồ họa sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 54 http://www.lrc-tnu.edu.vn
I 2 N1

Dựa trên hiện tượng I1 N 2
cảm ứng điện từ


U 2 N2

Gồm hai cuộn dây sơ cấp và
U1 N1
thứ cấp cùng quấn trên một
lõi biến áp

Máy tăng áp
- Truyền tải điện năng
- Nấu chảy kim loại, hàn
điện
Máy hạ áp


Sau đó, yêu cầu HS sử dụng các đối tượng đó để kéo-thả vào các vị trí
tương ứng trong sơ đồ sau:




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 55 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hướng dẫn Đồng ý Làm lại



MÁY BIẾN ÁP


Nguyên tắc hoạt động Cấu tạo Ứng dụng




?
? ?



? ?
U, I, N
- Truyền tải điện năng
- Nấu chảy kim loại, hàn
điện

N2 > N1 N2 < N1
Dựa trên hiện tượng
cảm ứng điện từ
? ?
Gồm hai cuộn dây sơ cấp
và thứ cấp cùng quấn trên
một lõi biến áp


Máy tăng áp
I 2 N1 U 2 N2
 
I1 N 2 U1 N1
Máy hạ áp



Hình 11 – Giao diện sơ đồ logic kiến thức về máy biến áp
HS sẽ thực hiện việc kéo – thả các đối tượng vào đúng vị trí trên sơ đồ
khuyết. Sau đó click vào nút “Đồng ý”. Trong quá trình thực hiện, nếu HS
kéo - thả sai thì hệ thống sẽ thông báo:




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 56 http://www.lrc-tnu.edu.vn
“Bạn thực hiện chưa đúng. Bạn hãy đọc lại bài 16 – phần Máy biến áp và tìm hiểu
logic hình thành kiến thức của phần này !”




Hình 12 – Thông báo của hệ thống khi chưa đúng kết quả
Khi đó, HS có thể click vào nút “Làm lại” để thực hiện lại công việc của
mình. Nếu thực hiện việc kéo – thả đúng thì hệ thống sẽ thông báo:




Bạn đã thực hiện đúng. Xin chúc mừng bạn !




Hình 13 – Thông báo của hệ thống khi đúng kết quả
2.4.3.5. Xây dựng module 5: Sử dụng các diễn đàn thảo luận nhóm để
ôn tập trên Web.
Để các diễn đàn thảo luận sử dụng có hiệu quả, trong khi xây dựng
chúng tôi nhấn mạnh vào vai trò tổ chức hướng dẫn của GV và chú trọng vào
nội dung các cuộc thảo luận.
- Về vai trò tổ chức, hướng dẫn của GV: GV phải là người khởi xướng
cuộc thảo luận, khuyến khích sự tham gia của nhiều HS vào diễn đàn, đặt các
câu hỏi và khắc phục những bất đồng giữa các HS. Ngoài ra cần phải có sự
khéo léo của GV để dàn sếp sao cho mọi người tham gia phải nói với nhau,
nghe lẫn nhau, đáp lại điều người khác nói, đưa ra nhiều hơn một quan điểm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 57 http://www.lrc-tnu.edu.vn
về chủ đề đang thảo luận, có ý định tăng cường tri thức, hiểu biết, hoặc đánh
giá một vấn đề.
- Về nội dung: nội dung các cuộc thảo luận phải phù hợp, đáp ứng yêu
cầu: đòi hỏi HS phải vận dụng kiến thức của cá nhân, phải có tính vấn đ ề, có
mức độ khó khăn nhất định và đặc biệt phải gây sự hấp dẫn đối với người
tham gia thảo luận. Các chủ đề thảo luận có thể do GV đề ra hoặc cũng có thể
do các HS đề ra. Nếu là các chủ đề do HS đề ra thì GV phải là người kiểm
soát, sắp xếp, lựa chọn để tránh trường hợp các chủ đề trùng nhau, GV có thể
xóa bỏ những chủ đề có nội dung không phù hợp.
- Về phương pháp thảo luận: Các chủ đề thảo luận được đưa ra dưới
dạng các câu hỏi, các bài toán mà lời giải của nó không có sẵn trong tài liệu
SGK. Để tìm kiếm câu trả lời, HS cần phải vận dụng linh hoạt nhiều kiến
thức, phải tranh luận, bổ sung, hoặc bác bỏ các ý kiến của những người cùng
tham gia để cuối cùng đi đến thống nhất một cách lý giải hợp lý cho vấn đề đã
đặt ra.
- Về hình thức thảo luận: các câu hỏi và các câu trả lời cho mỗi chủ đề
được những người tham gia trực tiếp soạn thảo trên trình duyệt Web dưới
dạng những đoạn văn bản ngắn và gửi lên diễn đàn. Tất cả các thành viên
tham gia thảo luận đều có quyền đưa ra ý kiến của mình, đồng thời được nhìn
thấy các ý kiến của những người khác đã đưa ra và họ có quyền bổ sung hoặc
bác bỏ những ý kiến đó.
- Về cách đánh giá: Trong mỗi chủ đề thảo luận, HS và GV có quyền
đánh giá các ý kiến của người khác bằng hình thức cho điểm. Những ý kiến
nhận được nhiều sự đánh giá cao (cho điểm cao) là những ý kiến hay, lập
luận đúng và chặt chẽ mang tính thuyết phục phần lớn những người tham gia
thảo luận.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 58 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Ví dụ: Khi học sinh tham gia vào một diễn đàn, HS sẽ nhìn thấy rất
nhiều các chủ đề thảo luận đã được khởi tạo. HS có thể chọn một chủ đề để
tham gia, hoặc tham gia đồng thời nhiều chủ đề trong đó. Ngoài ra HS cũng
có thể khởi tạo một chủ đề mới để mời mọi người cùng tham gia thảo luận.




Hình 14- Giao diện của module diễn đàn thảo luận nhóm
- Khi tham gia thảo luận trong một chủ đề nào đó, HS sẽ được nhìn thấy
các ý kiến của những người tham gia, họ có quyền gửi câu trả lời (phúc đáp)
hay ý kiến bình luận của mình về các vấn đề xung quanh câu hỏi và các câu
trả lời, có quyền gửi các đánh giá của mình về các câu trả lời của người khác
đang tham gia trong chủ đề đó. Các cuộc thảo luận chỉ kết thúc khi các vấn đề
đưa ra đã cơ bản được giải quyết, tức là đã có một hoặc một vài lý giải được
giáo viên và đa số người tham gia chấp nhận.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 59 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Hình 15- Giao diện nội dung một chủ đề thảo luận trên diễn đàn
2.4.3.6. Xây dựng module 6: Sử dụng bài kiểm tra trên Web để đánh giá
mức độ thu nhận kiến thức của học sinh.
Ngoài việc sử dụng trang Web như một phương tiện để tự ôn tập củng
cố, HS còn có thể sử dụng để tự kiểm tra và tự đánh giá mức độ thu nhận kiến
thức của mình thông qua các bài kiểm tra được xây dựng sẵn, tự động chấm
điểm và thống kê kết quả sau khi học sinh hoàn thành bài kiểm tra đó.
Ở đây chúng tôi xây dựng một bài kiểm tra với nội dung kiến thức bao
quát toàn bộ phần “Dòng điện xoay chiều”, bao gồm 20 câu hỏi trắc nghiệm
khách quan và thời gian làm bài được quy định là 30 phút.
Tận dụng triệt để ưu điểm của công nghệ thông tin và công nghệ lập trình
Web, chúng tôi soạn thảo hệ thống các câu hỏi cùng với các đáp án, sau đó sử
dụng một trong các ứng dụng của mã nguồn mở Moodle để thiết kế và xây
dựng bài kiểm tra, thiết lập chế độ chấm điểm tự động và thống kê kết quả
phản hồi cho HS ngay sau khi kết thúc làm bài, đồng thời lưu giữ kết quả của
từng HS trong một cơ sở dữ liệu để GV có căn cứ đánh giá đối với mỗi HS.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 60 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Về nguyên tắc HS có thể sử dụng bài kiểm tra này vào bấy kỳ thời điểm
nào trong khi ôn tập và cũng có thể sử dụng lại nhiều lần. Ứng với mồi lần
làm bài chương trình sẽ ghi lại và thống kê để thông báo cho HS cũng như
GV biết về kết quả của lần bài kiểm tra đó, thời gian đã sử dụng trong khi làm
bài, thời điểm làm bài, các câu đã làm đúng, câu đã làm sai….. Trên cơ sở đó
tự HS có thể đánh giá được kiến thức của mình, đồng thời GV cũng nắm được
những thông tin cơ bản về trình độ nhận thức của mỗi HS, các sai lầm phổ
biến của HS …
- Khi sinh sẽ bấm vào nút “Thực hiện lại đề thi”, Chương trình sẽ hiển
thị thông báo:




Hình 16- Thông báo về điều kiện giới hạn thời gian
-Nếu chấp nhận, học sinh sẽ bấm nút “OK” để tiếp tục hiển thị đề thi
với toàn bộ các câu hỏi và các phương án lựa chọn.




Hình 17- Nội dung câu hỏi kiể m tra và các phương án lựa chọn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 61 http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Đối với mỗi câu hỏi HS chỉ có thể lựa chọn một đáp án, sự lựa chọn đó
có thể thay đổi lại được nếu còn thời gian làm bài. HS có thể bấm nút “ Nộp
bài và kết thúc” vào bất cứ lúc nào, khi đó HS không được quyền thay đổi
các lựa chọn. Ngay sau khi HS nộp bài, chương trình sẽ tự động chấm điểm
và hiển thị thông báo các kết quả thống kê của lần làm bài đó.
2.5. Kết luận chƣơng II
Trong quá trình nghiên cứu về nội dung chương trình; yêu cầu về chuẩn
các kiến thức, kĩ năng và cùng với các điều tra về những sai lầm phổ biến của
HS khi học kiến thức phần “Dòng điện xoay chiều”, chúng tôi nhận thấy rằng
cần phải giúp HS tự ôn tập, củng cố các kiến thức và kĩ năng cơ bản sau:
* Về kiến thức:
- Viết được biểu thức của cường độ dòng điện và điện áp xoay chiều
tức thời.
- Phát biểu được định nghĩa và viết được biểu thức tính giá trị hiệu dụng
của cường độ dòng điện và của điện áp xoay chiều.
- Viết được công thức tính cảm kháng, dung kháng và tổng trở của đoạn
mạch có RLC mắc nối tiếp và đơn vị đo của các đại lượng này.
- Viết được các hệ thức của định luật Ôm đối với đoạn mạch RLC nối
tiếp (đối với giá trị hiệu dụng và độ lệch pha).
- Viết được công thức tính công suất điện và tính hệ số công suất của
đoạn mạch RLC nối tiếp.
- Nêu được lí do tại sao phải tăng hệ số công suất ở nơi tiêu thụ điện.
- Nêu được những đặc điểm của đoạn mạch RLC nối tiếp khi xảy ra hiện
tượng cộng hưởng điện.
* Về kĩ năng:
- Vẽ được giản đồ Frê-nen cho đoạn mạch RLC nối tiếp.
- Giải được các bài tập đối với đoạn mạch RLC nối tiếp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 62 http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Giải thích được nguyên tắc hoạt động của máy phát dện xoay chiều,
động cơ điện xoay chiều ba pha và máy biến áp.
Trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập củng cố và kiểm tra đánh giá kiến
thức chương “Dòng điện xoay chiều” – Vật lí lớp 12 (chương trình chuẩn)
được xây dựng bao gồm các module:
- Ôn tập kiến thức thông qua hệ thống các câu hỏi ôn bài và hướ ng dẫn
trả lời các câu hỏi ôn bài.
- Ôn tập kiến thức thông qua hệ thống các bài tập trắc nghiệm có
phản hồi.
- Ôn tập kiến thức thông qua thí nghiệm.
- Ôn tập kiến thức thông qua sơ đồ bài học.
- Ôn tập kiến thức thông qua các diễn đàn thảo luận nhóm.
- Đánh giá mức độ thu nhận kiến thức thông qua bài kiểm tra.
Trang Web đã góp phần giúp HS tự ôn tập củng cố kiến thức một cách
khoa học đồng thời giúp các em tự đánh giá được mức độ thu nhận kiến thức
mà từ đó có thể điều chỉnh được phương pháp học tập của mình. Đồng thời
bước đầu đã góp phần đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng dạy học
hiện đại.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 63 http://www.lrc-tnu.edu.vn
CHƢƠNG III
THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
3.1. Khái quát chung
3.1.1. Mục đích thực nghiệm
- Kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết khoa học đề tài nghiên cứu.
- Sử dụng trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh
giá kiến thức chương “Dòng điện xoay chiều” – Vật lí lớp 12 (chương chình
chuẩn).
- Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng trang Web vào việc hỗ trợ học sinh
tự ôn tập, củng cố và kiể m tra, đánh giá kiến thức chương “Dòng điện xoay
chiều” – Vật lí lớp 12 (chương trình chuẩn).
3.1.2. Đối tượng thực nghiệm
Thực nghiệm được tiến hành từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2009. chúng
tôi đã tiến hành thực nghiệm với HS của 6 lớp 12 tại trường THPT Khánh
Hoà – Tỉnh Thái Nguyên, gồm các lớp 12A3,12A4,12A5, 12A6, 12A7, 12A8.
3.1.3. Nội dung thực nghiệm
Chúng tôi tiến hành cho HS của các lớp trên sử dụng trang Web hỗ trợ
học sinh tự ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức chương “Dòng
điện xoay chiều” – Vật lí lớp 12 (chương trình chuẩn).
3.1.4. Tổ chức thực nghiệm
Bƣớc 1: Chọn các lớp thực nghiệm và đối chứng:
- Các lớp thực nghiệm: 12A3, 12A5, 12A6
- Các lớp đối chứng: 12A4, 12A7, 12A8
Bƣớc 2: Thành lập tổ thực nghiệm:
Tổ thực nghiệm bao gồm tác giả và nhóm giáo viên Vật lí trường THPT
Khánh Hoà – Thái Nguyên.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 64 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bƣớc 3: Đánh giá kết quả tự ôn tập, củng cố kiến thức của HS bằng bài
kiểm tra trước khi thực nghiệm.
Bƣớc 4: Chuyển giao nội dung trang Web đã thiết kế cho giáo viên phụ
trách lớp thực nghiệm.
Bƣớc 5: Tiến hành thực nghiệm.
Tổ chức cho HS tự ôn tập, củng cố thông qua các nội dung ôn tập trên
trang Web.
Bƣớc 6: Đánh giá kết quả tự ôn tập, củng cố kiến thức của HS sau khi
thực nghiệm.
Bƣớc 7: Đánh giá kết quả thực nghiệm và rút ra kết luận.
3.1.5. Phương pháp đánh giá
Dùng thang điểm 10 theo phân loại giỏi, khá, trung bình và yếu để đánh
giá kiến thức, kĩ năng và các hoạt động sáng tạo của học sinh.
Dùng phương pháp toán học để tính toán các tham số đặc trưng giúp
cho việc đánh giá chính xác và khách quan kết quả thực nghiệm.
1n
X   xi
n i n
Trong đó: X : giá trị trung bình cộng; n: số học sinh; xi: giá trị điểm số.
3.2. Kết quả thực nghiệm
3.2.1. Đánh giá kết quả trước thực nghiệm
3.2.1.1. Mục đích của việc đánh giá kết quả trước thực nghiệm
Xác định trình độ ban đầu của HS ở các lớp thực nghiệm và đối chứng,
sự tương quan giữa các trình độ đó.
3.2.1.2. Nội dung kiểm tra
- Nội dung kiến thức toàn chương III: Dòng điện xoay chiều – Vật lí lớp
12 – chương trình chuẩn.
- Những nội dung đó được thể hiện qua các mức độ: tri thức, kĩ năng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 65 http://www.lrc-tnu.edu.vn
3.2.1.3. Kết quả
Sau khi tiến hành kiểm tra đánh giá HS, chúng tôi thu được kết quả:
Tỉ lệ % theo xếp loại
Số
Lớp học Thực hiện Trung
Giỏi Yếu
Khá
sinh bình
Thực nghiệm
12A3 0 10 75 15
41
Đối chứng
12A4 2 17 61 20
43
Thực nghiệm
12A5 0 8 68 24
46
Thực nghiệm
12A6 0 9 59 32
40
Đối chứng
12A7 2 11 80 7
43
Đối chứng
12A8 0 10 85 5
41

%
80
70
60
Đối chứng
50
Thực nghiệm
40
30
20
10
Xếp loại
0
Yếu
Giỏi Khá TB

Giỏi Yếu
Khá Trung
(%) (%) bình (%) (%)

Đối chứng 1,33 12,67 75,33 10,67

Thực nghiệm 0 9,00 67,33 23,67

Bảng 1: Tỉ lệ % kết quả học tập trước thực nghiệm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 66 http://www.lrc-tnu.edu.vn
và dựa vào kết quả học tập trước thực nghiệm, chúng tôi rút ra một số nhận
xét sau:
- HS ở các lớp thực nghiệm và đối chứng có kết quả học Vật lí ở mức độ
trung bình – khá.
- Tỉ lệ các loại điểm giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng tương
đương nhau.
- Chúng tôi đã chọn các lớp có tỉ lệ giỏi, khá thấp hơn làm lớp thực
nghiệm, các lớp còn lại làm lớp đối chứng.
3.2.2. Đánh giá kết quả sau thực nghiệm
3.2.2.1. Mục đích của việc đánh giá kết quả sau thực nghiệm
- Đánh giá tính khả thi và hợp lí của việc th iết kế và sử dụng trang Web
hỗ trợ học sinh tự ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức chương
“Dòng điện xoay chiều” – Vật lí lớp 12 (chương trình chuẩn).
3.2.2.2. Nội dung kiểm tra
- Nội dung kiến thức toàn chương III: Dòng điện xoay chiều – Vật lí lớp
12 – chương trình chuẩn.
- Những nội dung đó được thể hiện qua các mức độ: tri thức, kĩ năng.
3.2.2.3. Kết quả
Sau khi tiến hành kiểm tra đánh giá HS, chúng tôi thu được kết quả:




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 67 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tỉ lệ % theo xếp loại
Số
Lớp học Thực hiện Trung
Giỏi Yếu
Khá
sinh bình
Thực nghiệm
12A3 1 15 80 4
41
Đối chứng
12A4 0 10 65 25
43
Thực nghiệm
12A5 0 12 73 15
46
Thực nghiệm
12A6 0 10 79 11
40
Đối chứng
12A7 1 11 73 15
43
Đối chứng
12A8 0 7 88 5
41


%
80
70
60
Đối chứng
50
Thực nghiệm
40
30
20
10
0 Xếp loại
Giỏ i Yếu
Khá TB


Giỏi Yếu
Khá Trung
(%) (%) bình (%) (%)

Đối 0,33 9,33 75,33 15,00
chứng

Thực nghiệm 0,33 12,33 77,33 10,00

Bảng 2: Tỉ lệ % kết quả học tập sau thực nghiệm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 68 http://www.lrc-tnu.edu.vn
3.3. Kết luận chƣơng III
Dựa vào kết quả phân tích, so sánh trên có thể rút ra một số kết luận sau:
* Định tính: Nhìn chung học sinh có hứng thú với phương pháp học tập
mới như có ý thức tự giác hơn khi ôn tập, trao đổi thảo luận nhóm nhiều hơn,
hăng hái hơn khi trao đổi các nội dung ôn tập giữa các học sinh với nhau hoặc
với giáo viên.
* Định lượng: Trước thực nghiệm, kiến thức và kĩ năng cơ bản mà HS
nắm được ở mức độ khá, giỏi có phần nghiêng về lớp đối chứng. Sau khi tiến
hành thực nghiệm, kết quả nắm vững kiến thức và kĩ năng cơ bản của HS lớp
thực nghiệm ở mức độ khá, giỏi tăng lên rõ rệt và tỉ lệ điểm yếu giảm.
Như vậy chứng tỏ việc thiết kế và sử dụng trang sử dụng trang Web đã
góp phần hỗ trợ HS lớp 12 tự ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức
chương “Dòng điện xoay chiều” .




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 69 http://www.lrc-tnu.edu.vn
KẾT LUẬN
1. Kết luận
Đề tài : Thiết kế trang Web hỗ trợ học sinh tự ôn tập, củng cố và kiểm
tra, đánh giá kiến thức chương “Dòng điện xoay chiều” - Vật lý lớp 12
(chương trình chuẩn) đã đạt được một số kết quả chủ yếu sau:
- Làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ôn tập, củng cố và kiểm tra,
đánh giá khi HS học xong phần kiến thức “Dòng điện xoay chiều”.
- Trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn, đã đề xuất những nội dung, hình
thức và phương pháp cần hướ ng dẫn cho HS tự ôn tập và kiểm tra kiến thức
phần : “ Dòng điện xoay chiều”.
- Các module trong trang Web được xây dựng đã góp phần giúp HS tự
ôn tập, củng cố và kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng trên cơ sở lí luận dạy
học hiện đại.
Việc thiết kế trang Web bước đầu đã góp phần đổi mới phương pháp dạy
và học được thể hiện ở một số điểm sau:
- Nội dung rõ ràng, khoa học, chính xác và bám sát về nội dung, chương
trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Khơi dậy hứng thú học tập cho HS.
- Tăng cường học tậ p cá thể (tự học) và học tập hợp tác (thông qua
diễn đàn).
- HS tự đánh giá kết quả học tập của mình.
Kết quả thực nghiệm cho thấy tính hiệu quả và khả thi của đề tài. Ngoài
ra, việc sử dụng trang Web góp phần giúp GV và HS bước đầu tiếp xúc và
hình thành thói quen ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học.
2. Kiến nghị và định hƣớng phát triển đề tài
Để trang Web được sử dụng thực sự có hiệu quả, chúng tôi có một số
kiến nghị sau:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 70 http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Tăng cường trang thiết bị dạy học hiện đại, nối mạng Internet băn g
thông rộng, xây dựng các phòng học bộ môn đảm bảo nhu cầu dạy và học
theo nhiều hình thức khác nhau ở các trường THPT.
- Tăng cường bồi dưỡng GV và HS sử dụng thành thạo máy vi tính và
khai thác tối đa nguồn tài nguyên phong phú trên mạng Internet.
Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi mới chỉ thiết kế trang Web với các
nội dung thuộc phần kiến thức “Dòng điện xoay chiều”. Hy vọng rằng trong
thời gian tiếp theo, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, xây dựng các nội dung
kiến thức khác trong chương trình Vật lí cấp trung học phổ thông ./.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 71 http://www.lrc-tnu.edu.vn
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH


1. Bộ GD&ĐT (2006)– Chương trình giáo dục phổ thông môn Vật lí –
NXBGD.
2. Bộ GD&ĐT (2006) – Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện đổi mới
chương trình, sách giáo khoa lớp 10 trung học phổ thông môn Vật lí.
3. Bộ GD&ĐT (2007) – Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện đổi mới
chương trình, sách giáo khoa lớp 11 trung học phổ thông môn Vật lí –
NXBGD.
4. Đại học sư phạm Hà Nội (2009) - Kỉ yếu hội thảo Đổi mới kiểm tra đánh
giá kết quả học tập của học sinh.
5. Đại học Thái Nguyên – Đại học Sư phạm (2004) – Tài liệu bồi dưỡng
nâng cao năng lực cho giáo viên trung học phổ thông về đổi mới phương
pháp dạy học.
7. Hoàng Phê (chủ biên) (1992) – Từ điển tiếng Việt.
8. Lê Thị Ngọc Anh (2008) – Sử dụng phương pháp Graph trong dạy học
Toán ở trường THPT nhằm tích cực hoạt hoạt động học tập của học sinh –
Luận văn thạc sỹ.
9. Lương Duyên Bình (tổng chủ biên) – Vũ Quang (chủ biên) (2008)- SGK
Vật lí 12 – NXBGD.
10. Lương Duyên Bình (tổng chủ biên) – Vũ Quang (chủ biên) (2008)- SGV
Vật lí 12 – NXBGD.
11. Nguyễn Trọng Sửu (chủ biên) (2008)– Hướng dẫn thực hiện chương trình,
sách giáo khoa lớp 12 môn Vật lí – NXBGD.
12. Nguyễn Văn Khải (chủ biên) (2008)– Lí luận dạy học Vật lí ở trường
trung học phổ thông – NXBGD.



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 72 http://www.lrc-tnu.edu.vn
13. Phạm Xuân Quế (2007)- Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức
hoạt động nhận thức Vật lí tích cực, tự chủ và sáng tạo – NXB ĐHSP.
14. Thái Duy Tuyên (2003) – Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh –
NXBGD.
15. Thái Duy Tuyên (1999) – Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại
– NXBGD.
16. Vũ Quang (chủ biên) (2008) - SBT Vật lí 12 – NXBGD.
17. N.N.baranxki (1976) - Phương pháp giảng dạy Địa lý kinh tế - NXBGD.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 73 http://www.lrc-tnu.edu.vn
PHỤ LỤC
Phụ lục 1

PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN GIÁO VIÊN (phiếu số 1)


Để phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học. Xin đồng chí vui
lòng cho biết ý kiến của mình về những vấn đề dưới đây. Xin cảm ơn đồng
chí !
1. Theo đồng chí những yếu tố sau đây có vai trò như thế nào đối với kết
quả học tập của học sinh. (Đồng chí hãy đánh số từ 1 đến 9 theo mức giảm
dần yếu tố quan trọng: số 1 là quan trọng nhất, số 9 là ít quan trọng nhất; có
thể có các nội dung được đánh cùng chỉ số nếu chúng có vai trò bằng nhau)
Học sinh có thái độ, động cơ học tập đúng đắn.
Học sinh có phương pháp học tập khoa học.
Học sinh nắm vững kiến thức cũ.
Học sinh tự tin trong học tập.
Học sinh có sức khỏe tốt.
Giáo viên thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Giáo viên thường xuyên quan tâm đến việc hướng dẫn học sinh ôn tập.
Giáo viên nhiệt tình và có phương pháp giảng dạy phù hợp với đối
tượng học sinh.
Giáo viên luôn quan tâm, khích lệ, động viên học sinh kịp thời.
2. Theo đồng chí hoạt động tổ chức, hướng dẫn ôn tập củng cố kiến thức
cho học sinh có vai trò như thế nào đối với việc tiếp thu kiến thức của học
sinh? (Đồng chí hãy đánh dấu X vào dòng phù hợp với suy nghĩ của mình)
Rất quan trọng
Không quan trong bằng các hoạt động khác


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 74 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Tùy thuộc vào nội dung chương trình
Không cần tổ chức, hướng dẫn. Học sinh tự biết cách ôn tập.
3. Theo đồng chí các nội dung nào sau đây cần được ôn tập củng cố?
(Đồng chí hãy đánh số từ 1 đến 6 theo mức độ giảm dần tính quan trọng: số 1
là quan trọng nhất, số 6 là ít quan trọng; có thể có các nội dung được đánh
cùng chỉ số nếu chúng có vai trò bằng nhau)
Kiến thức: khái niệm Vật lí, định luật Vật lí, thuyết Vật lí.
Kiến thức: về phương pháp nhận thức Vật lí (phương pháp nhận thức vật
lí theo con đường lí thuyết và phương pháp nhận thức vật lí theo con
đường thực nghiệm).
Kĩ năng giải bài tập Vật lí.
Kĩ năng thu thập thông tin: đọc biểu đồ, đồ thị …
Kỹ năng xử lý thông tin: kỹ năng xây dựng bảng, biểu đồ, đồ thị; rút ra
kết luận bằng suy luận quy nạp, suy luận diễn dịch, khái quát hoá; kỹ
năng so sánh, đánh giá…
Kỹ năng truyền đạt thông tin: trình bày bài, báo cáo kết quả.
4. Đồng chí thường áp dụng những biện pháp nào trong quá trình ôn tập
kiến thức và rèn luyện kỹ năng cho học sinh. (Đồng chí hãy đánh số từ 1 đến
9 theo mức độ giảm dần tính thường xuyên của đ/c: số 1 là thường xuyên
nhất, số 4 là ít thường xuyên nhất, có thể có các biện pháp được đánh cùng
chỉ số nếu chúng có vai trò bằng nhau)
Hướng dẫn học sinh trả lời câu hỏi.
Hướng dẫn học sinh đọc sách giáo khoa và tài liệu tham khảo.
Hướng dẫn học sinh xây dựng dàn ý tóm tắt bài học.
Hướng dẫn học sinh giải bài tập.
Hệ thống hóa kiến thức cho học sinh bằng cách xây dựng sơ đồ, bảng


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 75 http://www.lrc-tnu.edu.vn
biểu.
Động viên, khích lệ kịp thời những học sinh có tiến bộ.
Bổ túc kiến thức cho học sinh.
Tổ chức cho học sinh thảo luận nội dung kiến thức cần ôn tập.
Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động ngoại khóa.
Một biện pháp khác của đồng chí khi áp dụng có hiệu quả:
…………………………………………………………………………………
………...………………………………………………………………………
…………………...……………………………………………………………
5. Theo đồng chí, học sinh gặp những khó khăn gì trong quá trình ôn tập.
(đồng chí hãy đánh số từ 1 đến 4 theo mức độ giảm dần mức khó khăn theo ý
của đ/c: số 1 là khó khăn nhất, số 4 là ít khó khăn nhất, có thể có các biện
pháp được đánh cùng chỉ số nếu chúng có vai trò bằng nhau)
Khả năng tư duy còn hạn chế.
Vốn kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế.
Động cơ học tập còn yếu.
Chưa biết cách học.
Thiếu tự tin trong học tập.
Thiếu tài liệu học tập.
Quen với cách học thụ động ( chờ thầy cung cấp kiến thức)
Thiếu thời gian học tập.
Chưa quen với cách dạy của thầy.
Khó khăn khác: (ngoài những khó khăn trên mà học sinh gặp phải):
…………………………………………………………………………………
………..………………………………………………………………………
…………………..……………………………………………………………


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 76 http://www.lrc-tnu.edu.vn
6. Đồng chí thường gặp những khó khăn gì trong quá tr ình hướng dẫn
học sinh ôn tập? (đồng chí hãy đánh số từ 1 đến 4 theo mức độ giảm dần mức
khó khăn theo ý của đ/c: số 1 là khó khăn nhất, số 6 là ít khó khăn nhất, có
thể có các biện pháp được đánh cùng chỉ số nếu chúng có vai trò bằng nhau)
Học sinh chưa quen với phương pháp học mới.
Học sinh không thích các giờ học ôn tập
Thời gian dành cho ôn tập còn ít.
Giáo viên thiếu kiến thức về phương pháp tổ chức, hướng dẫn ôn tập.
Giáo viên thiếu phương tiện hỗ trợ việc tổ chức, hướng dẫn ôn tập
Giáo viên quen với cách dạy cũ.
Giáo viên ít có điều kiện trao đổi kinh nghiệm về dạy kỹ năng ôn tập
cho học sinh
Khó khăn khác: (ngoài những khó khăn trên mà đồng chí gặp phải)
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
7. Đ/c thường sử dụng phương tiện gì hỗ trợ cho việc tổ chức, hướng dẫn
học sinh ôn tập, đánh giá kiến thức, kỹ năng? (Đồng chí hãy đánh dấu X vào
dòng phù hợp với cách làm của đồng chí)
Sách giáo khoa, sách bài tập.
Bài tập trắc nghiệm và tự luận trên giấy.
Tư liệu, bài tập trắc nghiệm và tự luận dưới dạng web.
Tư liệu, bài tập dưới dạng bài giảng điện tử Powerpoint.
Phương tiện khác: (ngoài những phương tiện trên mà đồng chí đã sử dụng)
…………………………………………………………………………………
………..………………………………………………………………………
…………………..……………………………………………………………


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 77 http://www.lrc-tnu.edu.vn
8. Nếu đồng chí tổ chức ôn tập kiến thức về các khái niệm, định luật Vật
lí ở chương “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” cho học sinh thì đồng chí sẽ tổ
chức cho học sinh làm gì? (Đồng chí hãy đánh dấu X vào dòng phù hợp với
suy nghĩ của đồng chí)
Cho học sinh ôn tập lí thuyết .
Cho học sinh làm nhiều bài tập.
Cho học sinh vừa ôn lí thuyết vừa làm bài tập.
Hướng dẫn học sinh lập các sơ đồ, bảng biểu để tóm tắt và hệ thống hóa
kiến thức.
Cách làm khác:
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
9. Để cho học sinh nắm được các kĩ năng thu thập thông tin: đọc biểu đồ,
đồ thị; Kỹ năng xử lý thông tin: kỹ năng xây dựng bảng, biểu đồ, đồ thị; rút ra
kết luận bằng suy luận quy nạp, suy luận diễn dịch, khái quát hoá; kỹ năng so
sánh, đánh giá…Đồng chí cần cho học sinh làm gì? (đồng chí hãy đánh dấu X
vào dòng phù hợp với suy nghĩ của đồng chí)
Cho học sinh đọc lại nội dung liên quan ở sách giáo khoa.
Cho học sinh làm các bài tập có nội dung liên quan.
Cho học sinh làm các thí nghiệm ngoài giờ hay ngoại khoá có nội dung
liên quan.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 78 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Phụ lục 2

PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN GIÁO VIÊN (phiếu số 2)


Để phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học. Xin đồng chí vui
lòng cho biết ý kiến của mình về những vấn đề dưới đây. Xin cảm ơn đồng
chí !
(Đồng chí hãy điền dấu “” vào ô nêu dưới đây nếu nó phù hợp với ý kiến
của đồng chí )
1. Trong quá trình ôn tập và đánh giá kiến thức chương Dòng điện xoay
chiều - Vật lý 12- chương trình chuẩn, việc xác định mục tiêu ôn tập và đánh
giá trên những cơ sở sau, theo đồng chí thì mức độ cần thiết như thế nào?
Mức độ đánh giá
Rất
STT Bình Không
Cơ sở xác định mục tiêu
cần Cần thường cần
Nội dung kiến thức bài học
1
Theo đối tượng học s inh
2
Theo chương trình SGK
3
Theo phương pháp và phương
4
tiện dạy học
Theo thái độ, nhận thức, kỹ
5
năng
2. Nội dung kiến thức yêu cầu học sinh ôn tập được giới hạn trong :

SGK  Sách tham khảo  SGK và sách tham khảo  
Nguồn khác

3. Đồng chí có sử dụng công nghệ thông tin trong việc ôn tập và đánh
giá kiến thức của học sinh không?

  
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 79 http://www.lrc-tnu.edu.vn
4. Đồng chí có chuẩn bị đề cương ôn tập cho học sinh không?

  
Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ

5. Đồng chí thường xuyên tổ chức cho học sinh ôn tập kiến thức ngay
sau khi kết thúc :

   
1 bài học 1 chương 1 phần 1 học kỳ

6. Hình thức ôn tập nào sau đây được đồng chí thường xuyên sử dụng
khi hướng dẫn học sinh ôn tập?

 
Ôn tập kỹ năng Nhắc lại kiến thức một cách đơn giản

 
Sơ đồ Graph Web

7. Đồng chí thường xuyên tổ chức cho học sinh ôn tập kiến thức dưới
dạng:

Tự học  Học nhóm   Ngoại khoá 
Làm thí nghiệm

8. Phương tiện hỗ trợ việc ôn tập hiện nay đông chí đang thường xuyên
sử dụng:

  
Thí nghiệm vật lý Tư liệu trên mạng Internet
Sách
9. Đồng chí thường xuyên sử dụng hình thức nào để kiểm tra kiến thức
học sinh :

 
Trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm tự luận


Kết hợp Trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận

10. Đồng chí thường đánh giá kiến thức của học sinh ngay khi kết thúc:

   
1 bài học 1 chương 1 phần 1 học kỳ

11.Sau khi học xong phần Dòng điện xoay chiều - Vật lý 12 (chương
trình chuẩn), theo đồng chí thì học sinh nắm vững kiến thức ở mức độ nào?


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 80 http://www.lrc-tnu.edu.vn
   
Giỏi Yếu
Khá Trung bình

12. Khi tổ chức cho học sinh ôn tập và đánh giá kiến thức phần phần Dòng
điện xoay chiều - Vật lý 12 (chương trình chuẩn), đồng chí thường gặp khó
khăn nào?


- Không có thời gian


- Trình độ HS yếu, không đồng đều


- Không có phương tiện hỗ trợ


- Trình độ tin học của học sinh hạn chế


- Điều kiện cơ sở vật chất không đáp ứng được yêu cầu


- Chưa đánh giá được từng đối tượng học sinh

13. Ý kiến khác của đồng chí về việc ôn tập và đánh giá học sinh sau
khi học phần kiến thức phần Dòng điện xoay chiều - Vật lý 12 (chương trình
chuẩn)
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 81 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Phụ lục 3

PHIẾU TRƢNG CẦU Ý KIẾN HỌC SINH (phiếu số 3)


Để trao đổi kinh nghiệm học tập, mong các em vui lòng cho biết ý kiến
của mình về các vấn đề sau. Xin cảm ơn em !
(Em hãy điền dấu “” vào ô nêu dưới đây nếu nó phù hợp với ý kiến của
em)
1. Khi học bài cũ em thường học theo những cách nào?
Học thuộc lòng trong vở ghi.
Tái hiện lại bài giảng trên lớp bằng cách lập dàn ý.
Học cả vở ghi cả sách giáo khoa, sau đó lập dàn ý.
Đọc qua bài cũ trong vở ghi.
Lập sơ đồ hệ thống hóa kiến thức bài cũ.
Lập bảng tóm tắt kiến thức.
Đọc thêm tài liệu tham khảo.
Trả lời các câu hỏi ôn tập.
Thảo luận với bạn.
2. Trong các giờ học ôn tập kiến thức môn Vật lý trên lớp, em có thấy
hứng thú không?
Rất hứng thú
Bình thường
Không hứng thú.
Tùy thuộc nội dung kiến thức.
3. Em có muốn được các thầy (cô) giáo tổ chức hướng dẫn ôn tập kiến
thức một cách thường xuyên không?




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 82 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Rất thích
Bình thường
Không thích
Tùy thuộc nội dung kiến thức và cách thức tổ chức ôn tập
4. Nếu được tổ chức hướng dẫn ôn tập một nội dung kiến thức nào đó
trong chương trình Vật lý thì em thích được các thầy (cô) tổ chức theo những
cách nào sau đây?
Hướng dẫn làm các bài tập luyện tập.
Hướng dẫn lập dàn ý tóm tắt nội dung kiến thức.
Hướng dân lập sơ đồ nội dung kiến thức.
Hướng dẫn trả lời các câu hỏi ôn tập.
Tổ chức thảo luận, trao đổi nhóm.
Ôn tập thông qua các bài thực hành thí nghiệm ngoại khoá .
5. Em có nhận xét gì về nội dung kiến thức phần “ Dòng điện xoay chiều”?
Khó hiểu.
Bình thường.
Rất trừu tượng.
Rất dễ.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 83 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Phụ lục 4
ĐỀ KIỂM TRA TRẮC NGHIỆM
(Thời gian làm bài 45 phút)
Hãy lựa chọn một đáp án đúng trong mỗi câu sau đây:
Câu 1: Hệ số công suất của mạch điện RLC nối tiếp bằng
ZC
ZL R
A. R.Z B. C. D.
Z Z
Z
Câu 2: Cho mạch điện như hình vẽ R L C

P N Q
Trong đó L là cuộn cảm thuần, điện áp U PQ  60 2cos100 t (V) , các điện áp
hiệu dụng UPN = UNQ = 60 (V). Hệ số công suất của mạch là:
3 2
1 1
A. B. C. D.
2 2
3 2
Câu 3: Mạch có RLC mắc nối tiếp có hệ số công suất bằng 1 khi:
1 1
A. R  L  B. R = 0 ; L  0
C C
1
1
D. L  0,
C. R  0, L  0
C
C
Câu 4: Cho điện áp tức thời giữa hai đầu một mạch điện là
u  80cos100 t (V ) . Điện áp hiệu dụng là bao nhiêu:

C. 80 2(V ) D. 40 2(V )
A. 80V B. 40V
Cho đoạn mạch điện gồm điện trở R = 200() mắc nối tiếp với tụ điện
104
C (F ) ; đặt vào hai đầu mạch điện một điện áp
2.

u  400 2 cos100 t (V ) . Hãy trả lời câu 5 và 6:




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 84 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Câu 5: Biểu thức của dòng điện tức thời qua mạch đó là:

2cos100 t(A) B. i  2cos100 t(A)
A. i 


 

C. i  2cos 100 t   (A) i  2cos 100 t   (A)
D.
 4
 4
Câu 6: Điện áp hiệu dụng giữa hai đầu điện trở R là:
A. 200 2(V ) B. 200(V ) C. 100 2(V ) D. 100(V )
Điện áp tức thời giữa hai đầu đoạn mạch xoay chiều là u  80cos100 t (V ) .
Hãy trả lời câu hỏi 7 và 8:
Câu 7: Tần số góc của dòng điện là:
A. 100 (rad/s) B. 100 (Hz) C. 50 (Hz) D. 100 (rad/s)
Câu 8: Điện áp hiệu dụng giữa hai đầu đoạn mạch điện là:

C. 80 2(V ) D. 40 2(V )
A. 80 (V) B. 40 (V)
Câu 9: Trong mạch điện RLC mắc nối tiếp, độ lệch pha giữa dòng điện và
điện áp tức thời giữa hai đầu đoạn mạch phụ thuộc vào:
A. cường độ dòng điện hiệu dụng trong mạch.
B. điện áp hiệu dụng giữa hai đầu doạn mạch.
C. cách chọn gốc thời gian.
D. tính chất của mạch điện.
Câu 10: Phát biểu nào sau đây là không đúng:
Trong mạch điện RLC nối tiếp, khi điện dung của tụ điện thay đổi và thoả
1
mãn điều kiện   thì
LC
A. cường độ dòng điện cùng pha với điện áp giữa hai đầu mạch điện.
B. cường độ dòng điện hiệu dụng trong mạch cực đại.
C. công suất tiêu thụ trung bình trong mạch cực đại.
D. điện áp hiệu dụng giữa hai đầu tụ điện cực đại.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 85 http://www.lrc-tnu.edu.vn
Câu 11: Khi tần số dòng điện xoay chiều chạy qua đoạn mạch chỉ chứa cuộn
cảm thuần tăng lên 4 lầ n thì cảm kháng của cuộn cảm
A. tăng lên 2 lần. B. tăng lên 4 lần.
C. giảm đi 2 lần. D. giảm đi 4 lần.
Câu 12: Trong mạch điện RLC mắc nối tiếp, khi xảy ra hiện tượng cộng
hưởng điện thì hệ số công suất của mạch
A. bằng không B. bằng 1
ZL
C. phụ thuộc vào R D. phụ thuộc vào
ZC

Câu 13: Với mỗi biến áp lí tưởng:
U1 N 2 U1 I1 U1 I 2 N1 I1 N1
   
A. B. C. D.
U 2 N1 U 2 I2 U 2 I1 N 2 I2 N2
Câu 14: Một máy biến áp có cuộn sơ cấp gồm 2000 vòng, cuộn thứ cấp gồm
100 vòng. Điện áp và cường độ hiệu dụng ở mạch sơ cấp là 120 (V) và 0,8
(A). Mạch thức cấp chỉ có điện trở thuần. Điện áp và công suất ở mạch thứ
cấp là
A. 6(V) ; 96(W) B. 240 (V) ; 96 (W)
C. 6 (V) ; 4,8(W) D. 120 (V) ; 4,8 (W)
Câu 15: Hiện nay người ta dùng cách nào sau đây để làm giảm hao phí điện
năng trong quá trình truyền tải điện năng đi xa?
A. Tăng tiết diện dây dẫn dùng để truyền tải.
B. Xây dựng nhà máy điện gần nơi tiêu hụ.
C. Dùng dây dẫn bằng vật liệu siêu dẫn.
D. Tăng điện áp trước khi truyền tải điện năng đi xa.
Câu 16: Máy phát điện xoay chiều được tạo ra dựa trên cơ sở của hiện tượng
A. hưởng ứng tĩnh điện.
B. tác dụng của từ trường lên dòng điện.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 86 http://www.lrc-tnu.edu.vn
C. cảm ứng đện từ.
D. tác dụng của dòng điện lên nam châm.
Câu 17: Động cơ không đồng bộ ba pha được tạo ra dựa trên cơ sở của hi ện
tượng
A. tác dụng của từ trường không đổi lên dòng điện.
B. cảm ứng điện từ.
C. tác dụng của từ trường quay lên khung dây kín có dòng điện.
D. hưởng ứng tĩnh điện.
Câu 18: Máy phát điện xoay chiều tạo nên suất điện động
e  E0 2cos100 t(V) . Tốc độ quay của rôto là 600 vòng/phút. Số cặp cực của

rôto là
A. 10 B. 8 C. 5 D. 4
Câu 19: Trong mạch điện 3 pha, các cuộn dây được mắc theo kiểu hình sao,
tải mắc theo tải hình sao thì điện áp dây so với điện áp pha là
A. Udây = 3Upha B. Udây = 3 Upha
1
1
C. Udây = Upha D. Udây = Upha
3 3
Câu 20: Phát biểu nào sau đây đúng ?
A. Chỉ có dòng điện 3 pha mới tạo ra từ trường quay.
B. Rôto của động cơ không đồng bộ 3 pha quay với tốc độ quay của từ trường.
C. Từ trường quay của động cơ không đồng bộ 3 pha luôn thay đổi cả về
hướng và chỉ số.
D. Tốc độ góc của động cơ không đồng bộ phụ thuộc vào tốc độ quay của từ
trường và mô men cản.




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 87 http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Truyền tải
điện năng
- Nấu chảy
kim loại,
hàn điện


Phụ lục 5
CẤU TRÚC CỦA WEBSITE


Trang chủ


Đăng kí


Đăng nhập


Các modul




Ôn tập Ôn tập Ôn tập Ôn tập Ôn tập Kiểm
thông thông thông thông thông tra
qua trả qua sơ cuối
qua bài qua thí qua
lời tập đồ nghiệm trao đổi chương
câu hỏi luyện bài học thảo
tập luận
bài học




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 88 http://www.lrc-tnu.edu.vn

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản