Luận văn : THỬ NGHIỆM SẢN XUẤT KHÁNG HUYẾT THANH KHÁNG VI KHUẨN E. coli part 4

Chia sẻ: zues02

2.2.3.2. Kháng nguyên bề mặt hay kháng nguyên vỏ K Kháng nguyên K nằm ở bề mặt tế bào nên là nguyên nhân không tạo ra phản ứng ngƣng kết kháng nguyên O. Hiện nay ngƣời ta đã phát hiện hơn 100 loại kháng nguyên K (Øiskov et al, 1971) [9]. Kauffmann chia kháng nguyên K thành 3 nhóm dựa vào ảnh hƣởng của nhiệt độ đến phản ứng ngƣng kết, tính kháng nguyên và khả năng vi khuẩn gắn kết với kháng thể.

Bạn đang xem 7 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn : THỬ NGHIỆM SẢN XUẤT KHÁNG HUYẾT THANH KHÁNG VI KHUẨN E. coli part 4

15


2.2.3.2. Kháng nguyên bề mặt hay kháng nguyên vỏ K
Kháng nguyên K nằm ở bề mặt tế bào nên là nguyên nhân không tạo ra phản ứng
ngƣng kết kháng nguyên O.
Hiện nay ngƣời ta đã phát hiện hơn 100 loại kháng nguyên K (Øiskov et al, 1971)
[9]. Kauffmann chia kháng nguyên K thành 3 nhóm dựa vào ảnh hƣởng của nhiệt độ
đến phản ứng ngƣng kết, tính kháng nguyên và khả năng vi khuẩn gắn kết với kháng
thể.
a. Kháng nguyên K type L
Là kháng nguyên vỏ có bản chất protein, giúp vi khuẩn có khả năng bám dính và
cho phản ứng ngƣng kết với hồng cầu.
Là kháng nguyên không chịu nhiệt, bị phá hủy sau khi đun nóng 100oC trong 1h.
Do đó, sau khi đun nóng huyễn dịch vi khuẩn có thể gây ngƣng kết với kháng huyết
thanh O mà không gây ngƣng kết với kháng huyết thanh K.
b. Kháng nguyên K type A
Là kháng nguyên vỏ có bản chất là polysaccharide, vi khuẩn có kháng nguyên này
khi mọc trên môi trƣờng sẽ cho khuẩn lạc dạng nhầy và chỉ cho kết quả ngƣng kết của
kháng nguyên O sau khi huyễn dịch vi khuẩn đã đƣợc đun nóng 121oC trong 2h.
c. Ngoài ra còn một nhóm kháng nguyên K type B, nhƣng sự tồn tại của nhóm
KN này chƣa đƣợc xác định chính xác.
2.2.3.3. Kháng nguyên lông roi H
Là kháng nguyên có bản chất protein, không bền với nhiệt độ, bị hủy bởi cồn
nhƣng đề kháng với formone. Kháng nguyên này có ở những dòng E. coli di động.
Theo Morris J.A. (1985) và Sussman M. (1985), hiện nay ngƣời ta đã phát hiện đƣợc
56 loại kháng nguyên H (trích dẫn bởi Nguyễn Ngọc Hải, 1999).
2.3. TÁCH KHÁNG THỂ BẰNG AMMONIUM SULFATE [10] [11]
Kháng huyết thanh thu đƣợc không những chứa kháng thể mà còn có một số chất
khác. Để tách kháng thể ra khỏi kháng huyết thanh ta có thể dùng phƣơng pháp sắc kí,
kết tinh hay tủa trong muối…
Phƣơng pháp tủa kháng thể trong amonium sulfate là một trong những phƣơng
pháp phổ biến nhất để tách protein ra khỏi dung dịch. Trong dung dịch, protein liên kết
với nƣớc bằng các liên kết hydrogen thông qua các nhóm ion tích điện của chúng. Khi
ta thêm vào một lƣợng lớn các ion nhỏ, tích điện lớn nhƣ amonium hay sulfate thì
16

những nhóm này cạnh tranh với protein để gắn vào các phân tử nƣớc, do đó làm giảm
khả năng hòa tan của protein và chúng kết tủa lại. Protein kết tủa có thể hòa tan lại
trong môi trƣờng có nồng độ amonium sulfate thấp hơn. Khả năng kết tủa của các
protein khác nhau thì khác nhau tùy thuộc vào số lƣợng và vị trí các nhóm cực tích
điện, trọng lƣợng phân tử của protein, pH của dung dịch, nhiệt độ xảy ra sự kết tủa.
Để tủa kháng thể ngƣời ta thƣờng sử dụng amonium sulfate (đôi khi dùng sodium
sulfate). Nồng độ muối để kháng thể kết tủa ở các loài khác nhau thì khác nhau. Hầu
hết các kháng thể của thỏ có thể kết tủa ở dung dịch muối bão hòa 40%, còn ở chuột
phải từ 45-50%. Bởi vì hầu hết các thành phần khác của huyết thanh không kết tủa ở
khoảng nồng độ muối này và không có sự khác biệt lớn giữa hai nồng độ trên nên
nồng độ muối bão hòa 50% là mức thích hợp nhất cho hầu hết các ứng dụng khác
nhau.
Một điểm bất lợi của kháng thể tủa trong amonium sulfate bão hòa là kháng thể
không đƣợc tinh sạch vì khi kết tủa ngoài kháng thể còn có các phân tử protein có
trọng lƣợng phân tử lớn khác. Do đó, ngoài việc tủa trong muối amonium sulfate cần
phải kết hợp với một số phƣơng pháp khác nếu yêu cầu kháng thể cuối cùng phải đƣợc
tinh sạch hoàn toàn.
2.4. HỒI CHẾ KHÁNG THỂ BẰNG PHƢƠNG PHÁP THẨM TÍCH [7]
Một trong các phƣơng pháp cổ điển để loại muối ra khỏi protein kháng thể là
thẩm tích. Dung dịch protein đƣợc chứa trong bao thẩm tích làm bằng cellulose có thắt
nút ở hai đầu. Bao này đƣợc đặt trong cốc lớn chứa dung dịch đệm có ái lực thấp và để
ở nhiệt độ lạnh có khuấy trộn vừa phải. Trên bao thẩm tích có những lỗ nhỏ cho phép
những phân tử muối có kích thƣớc nhỏ đi ra ngoài còn các phân tử protein kháng thể
có kích thƣớc lớn đƣợc giữ lại trong bao thẩm tích. Sự khuếch tán các phân tử muối
vào trong dung dịch đệm thẩm tích vẫn tiếp tục cho đến khi nồng độ muối bên trong và
bên ngoài bao thẩm tích đạt trạng thái cân bằng (thƣờng khoảng 5-6 giờ). Nếu sau khi
đạt trạng thái cân bằng mà dung dịch protein chƣa loại hết muối thì ta đặt bao thẩm
tích trên vào một dung dịch đệm mới và cứ tiếp tục nhƣ thế cho đến khi loại hết muối
ra khỏi dung dịch protein. Trong quá trình thẩm tích, ngoài muối còn có các chất
chuyển hóa có kích thƣớc nhỏ nhƣ ATP, coenzyme… c ũng bị loại ra khỏi bao thẩm
tích.
17




Hình 2.8 Trên bao thẩm tích có các lỗ nhỏ cho phép các phân tử muối đi ra
ngoài còn KT bị giữ lại.
(http://www.bio.mtu.edu/campbell/bl482/lectures/lec5/482w52.htm)


2.5. PHẢN ỨNG KHÁNG NGUYÊN – KHÁNG THỂ [2] [5]
2.5.1. Các lực liên kết kháng nguyên – kháng thể (KN-KT)
Sự liên kết một paratop của KT với một epitop của KN tƣơng ứng đƣợc thiết lập
và duy trì nhờ các lực hấp dẫn có năng lƣợng nhỏ (
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản