LUẬN VĂN: Thực trạng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh ở Công ty xi măng Bỉm Sơn

Chia sẻ: intel1212

Trong những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 khái niệm “đầu tư ” trở nên thân quen đối với các nhà quản lý các cấp, đặc biệt phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội, có sự quản lý của nhà nước, ở nước ta đòi hỏi một sự đổi mới mạnh mẽ ở nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực đầu tư . Vậy đầu tư là gì, chúng ta có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư . ...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Thực trạng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh ở Công ty xi măng Bỉm Sơn

LUẬN VĂN:

Thực trạng đầu tư nâng cao chất lượng
sản phẩm và khả năng cạnh tranh ở
Công ty xi măng Bỉm Sơn
Phần I


Đầu tư và khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp


I, Đầu tư trong doanh nghiệp .
1,Khái niệm và đặc điểm của đầu tư .
1.1,Khái niệm
Trong những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 khái niệm “đầu tư ” trở
nên thân quen đối với các nhà quản lý các cấp, đặc biệt phát triển nền
kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội, có sự quản lý
của nhà nước, ở nước ta đòi hỏi một sự đổi mới mạnh mẽ ở nhiều lĩnh
vực, trong đó có lĩnh vực đầu tư . Vậy đầu tư là gì, chúng ta có thể có
những cách hiểu khác nhau về đầu tư .
Đầu tư theo nghĩa rộng nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại
để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết
quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn nhân lực đã bỏ ra để đạt
được các kết qủa đó. Nguồn lực đó có thể là tiền tài nguyên thiên nhiên là
sức lao động và trí tuệ. Những kết quả tăng thêm đó là các tài sản chính
(vốn), tài sản trí tụê ( trình độ văn hoá chuyên môn khoa học kỹ huật ...).
Tài sản vật chất (nhà máy đường xá...) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện
để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội .
Trong các kết quả đã đạt được trên đây, những kết quả là tài sản vật chất,
tài sản trí tuệ và nguồn năng lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi
lúc, mọi nơi , không chỉ đối với người bỏ vốn mà còn cả với nền kinh tế.
những kết quả này không chỉ với người đầu tư mà cả nền kinh tế được thu
hưởng.
Theo nghĩa hẹp đầu tư bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực
ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong
tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng , để đạt được cac kết quả đó
Từ đây ta có thể khái niệm về đầu tư phát triển như sau : Đầu tư phát
triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất,
nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ
tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào
tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt
động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở
đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế - xã hội, tạo việc làm và
nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
1.2, Đặc điểm của đầu tư
Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm khác biệt với các loại
hình khác là :
- Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và nằm khê đọng
trong suốt quá trình thực đầu tư. Đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu tư
phát triển.
- Thời gian để tiến hành một công cộc đầu tư cho đén khi các thành quả
của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến
động xảy ra.
- Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra đối với các
cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều
năm tháng và do đó và do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích
cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị,
kinh tế...
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài
nhiều năm, có hàng năm, hàng vạn năm ... điều này nói lên giá trị lớn lao
của các thành quả đầu tư phát triển.
- Các thành quả hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng sẽ hoạt động
ở ngay nơi mà nó tạo dựng lên . Do đó các điều kiện địa hình tại đó có ảnh
lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác động sau này của các kết
quả đầu tư .
- Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnh
hưởng nhiều của yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý
của không gian .
2) Vai trò đầu tư trong doanh nghiệp .
Qua phân tích nghiên cứu các nội dung của đầu tư trong doanh nghiệp
chúng ta thấy rằng đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của
mỗi doanh nghiệp. Để tạo dựng cơ sở vật chất cho sự ra đời của bất cứ
doanh nghiệp nào cũng phải xây dựng văn phòng, nhà xưởng, mua sắm
lắp đặt máy móc thiết bị... trong quá trình hoạt động cơ sở vật chất này bị
hư hỏng hao mòn, doanh nghiệp phải bỏ chi phí để sửa chữa. Đáp ứng
được nhu cầu của thị trường và thích ứng với quá trình đổi mới phát triển
của khoa học kỹ thuật, các doanh nghiệp phải đổi mới cơ sở vật chất kỹ
thuật, quy trình công nghệ. Tất cả các hoạt động đó đều là hoạt động đầu
tư. Ngay cả trong các doanh nghiệp hoạt động vô vị lợi cũng phải đầu tư
để tiến hành sửa chữa lớn và thực hiện các chi phí thường xuyên.
Quá trình đầu tư trong doanh nghiệp có những vai trò quan trọng đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua các mặt sau :
Thứ nhất : Đầu tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp, xã hội liên tục phát triển, nền kinh tế toàn cầu nói chung, nền kinh
tế của mỗi quốc gia nói riêng cũng vì thế mà không ngừng vận động và
phát triển. Sự phát triển đó được thể hiện rất rõ trong đời sống dân cư.
Nhu cầu xã hội tăng lên cả về mặt lượng và mặt chất , nếu trước đây
người ta mong muốn được “ăn no, mặc ấm”
Thì ngày nay nhu cầu ấy không còn phù hợp nữa mà trở thành nhu cầu
mới “ăn ngon, mặc đẹp” .
Thị trường ngày càng trở nên sôi động, nhu cầu của con người phát triển
đòi hỏi tiêu dùng nhiều hơn, hàng hoá phải có chất lượng cao, mẫu mã đẹp
đa dạng và phong phú. Vì thế mà các nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho
thị trường muốn tồn tại được thì phải đáp ứng nhu cầu đó của dân cư.
Cuộc chạy đua này là một cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nhà sản xuất
để giành giật thị trường cho mình. Người quyết định số phận của doanh
nghiệp là khách hàng, họ chọn nhà cung cấp nào thì nhà cung cấp đó tồn
tại, tiêu chuẩn lựa chọn của họ ngày càng cao. Người tiêu dùng muốn có
một túi hàng với giá thành rẻ nhất nhưng độ thoả dụng cao nhất, đó là
hàng hoá có chất lượng tốt, có mẫu mã đẹp, có dịch vụ hoàn hảo.
Vì tất cả lẽ đó mà đòi hỏi nhà sản xuất phải tiến hành đầu tư phát triển.
Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp có thể được tiến hành theo những
chiến lược khác nhau để giành được yêu thế cạnh tranh trên thị trường.
Phân tích trên chúng ta có thể khẳng định lại lần nữa là: Đầu tư tạo điều
nâng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Thứ hai : Đầu tư tạo diều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm .
Như chúng ta đã biết, đầu tư trong doanh nghiệp bao gồm ; đầu tư vào
lao động, đầu tư vào tài sản cố định, đầu tư vào hàng dự trữ, đầu tư vào tài
sản vô hình khác. Tất cả việc đầu tư này nhằm mục đích là tạo ra một sản
phẩm với chất lượng cao, mẫu mã đẹp để đáp ứng nhu cầu của con người
trong xã hội hiện đại. Điều này đã được chứng minh, trong những năm qua
các doanh nghiệp muốn tồn tại trong nền kinh tế thị trường thì căn bản
nhất là phải nâng cao chất lượng sản phẩm hạ giá thành ... như công ty
thép Miền Nam, các côg ty may , công ty dày da...
Thứ ba : Đầu tư tạo điêù kiện giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận .
Không có doanh nghiệp nào tiến hành sản xuất kinh doanh lại không đặt
mục tiêu về lợi nhuận. Không chỉ là mong muốn có lợi nhuận mà họ còn
mong muốn tiền của họ không ngừng tăng lên tức là quy mô lợi nhuận
ngày càng được mở rộng .
Hoạt động đầu tư của mỗi doanh nghiệp chính là hoạt động nhằm thực
hiện chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó với mục tiêu đạt
được lợi nhuận mà doanh nghiệpp đề ra. Khi lợi nhuận càng cao thì lợi ích
càng lớn và ngược lại . Lợi nhuận được quy mô bỡi doanh thu và chi phí
theo công thức sau :
Lợi nhuận = doanh thu - chi phí
Doanh thu có lớn hay không lại phụ thuộc vào quá trình đầu tư của doanh
nghiệp. Nếu đầu tư mang lại hiệu quả cao thì doanh thu sẽ nhiều Như vậy
đầu tư đã tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất , tăng lợi nhuận .
Thứ tư : Đầu tư góp phần đổi mới công nghệ ,trình độ khoa học kỹ thuật
trong sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp .
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn luôn chú trọng đến
việc đổi mới nhằm nâng cao sức cạnh tranh của mình. Và một trong các
công việc đầu tư của doanh nghiệp là đầu tư vào tài sản cố định . Điều này
có nghĩa là doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới
công nghệ nhằm nâng cao năng suất, đổi mới sản phẩm cả về chủng loại
mẫu mã và chất lượng ..
Như vậy có thể thấy dưới sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng
khoa học công nghệ, mỗi doanh nghiệp đều nhận thấy vai trò to lớn của
đầu cho công nghệ cũng như hiện đại hoá máy móc thiết bị trong quá
trình sản xuất . Hay nói cách khác đầu tư góp phần đổi mới công nghệ
trình độ khoa học kỹ thụât .
Thứ năm: Đầu tư góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Để hoạt động được và hoạt động có hiệu quả, bất cứ một doanh nghiệp
nào cũng cần có một đội ngũ lao động có trình độ, kỹ năng. Trình độ kỹ
năng của người lao động ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh và
chất lượng sản phẩm... Cùng với điều kiện sản xuất như nhau nhưng lao
động có trình sẽ tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt hơn. Đầu tư vào lao
động bao gồm những hoạt động như đầu tư đào tạo cán bộ quản lý, tay
nghề công nhân và các chi phí để tái sản xuất sức lao động .
Như vậy, đầu tư phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực .
3) Phân loại đầu tư trong doanh nghiệp .
Chúng ta có nhiều phương pháp phân loại đầu tư trong doanh nghiệp
theo các tiêu thức khác nhau .
Những tiêu thức phân loại đầu tư trong doanh nghiệp thường được sử
dụng là:
a) Theo quy mô của dự án đầu tư thì đầu tư trong doanh nghiệp
chia thành : + Đầu tư cho các dự án nhóm A
+ Đầu tư cho các dự án nhóm B
+ Đầu tư cho các dự án nhóm C
Tuỳ theo quy định của từng quốc gia, từng ngành mà mỗi dự án được xếp
vào nhóm A, B hoặc nhóm C .
b) Theo ngành hoặc lĩnh vực kinh doanh thì đầu tư trong doanh
nghiệp được chia thành :
+ Đầu tư cho công nghiệp .
+ Đầu tư cho nông nghiệp .
+ Đầu tư cho dịch vụ .
c) Đầu tư trong doanh nghiệp chia thành đầu tư cố định và đầu vào
dự trữ .
+ Đầu tư cố định là đầu tư vào nhà xưởng , máy móc thiết bị và các
hàng hoá lâu bền khác .
+ Đầu tư vào dự trữ Là những khoản đầu tư vào nguyên liệu thô , bán
thành phẩm và sản phẩm hoàn thành .
d) Đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu :
+ Đầu tư theo chiều rộng được hiểu là trên cơ sở năng lực sản xuất hiện
có, doanh nghiệp tiến hành đầu tư mở rộng quy mô sản xuất tăng khối
lượng sản phẩm. Song không đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị nên
chất lượng sản phẩm không đổi, không làm giảm giá thành của sản phẩm .
+ Đầu tư chiều sâu được hiểu là sản phẩm sản xuất ra làm tăng lợi nhuận
do năng suất lao động và hiệu quả tương đối của việc sử dụng vốn tăng lên
khối lượng không tăng hoặc có thể giảm bằng việc đầu tư máy móc thiết
bị hiện đại .
e) Đầu tư hữu hình và đầu tư vô hình .
+ Đầu tư vào tài sản hữu hình là đầu tư nhằm tạo ra hoặc tăng thêm
những vật chất, vật thể có tính chất hữu hình .
+ Đầu tư vào tài sản vô hình gồm : đầu tư vào bí quyết công nghệ , đào
tạo lao động . Đầu tư vào quảng cáo, nghiên cứu thị trường , đầu tư vào
nghiên cứu ứng dụng .
4) Nội dung của đầu tư trong doanh nghiệp .
4.1) Đầu tư phát triển nguồn nhân lực .
Bước sang thế kỉ 21 ,trí thức sẽ trở thành yếu tố có sức mạnh nhất,
quan trọng nhất trong các yếu tố sản xuất khác .Do vậy ai nắm được trí
tthức, người đó sẽ ở vào địa vị chi phối kinh tế xã hội, quốc gia nào nắm
được nhiều trí thức quốc gia đó sẽ ở vị trí chi phối nền kinh tế toàn cầu,
khu vực nào hội tụ được nhiều trí thức nhất khu vực đó sẽ trở thành trung
tâm của nền kinh tế thế giới.Tri thức là nguồn yéu tố cốt lõi của nền kinh
tế trí thức, vật mang trở trí thức là con người mà tố chất của người gắn liền
với giáo dục. Vì vậy đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư vào nguồn trí
thức. Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy muốn đất nước phát triển thì việc
đầu tư cho giáo dục phải lớn mạnh, việc này không chỉ có nhà nước hay cá
nhân mà toàn xã hội, toàn thành phần kinh tế .
Như vậy, bất cứ loại hình doanh nghiệp nào đều phải quan tâm đến lao
động trong quá trình đầu tư của mình. Việc quan tâm đến lao động trong
doanh nghiệp không chỉ số lượng mà cần quan tâm cả is lượng và vật chất
lao động :
Về số lượng lao động :Nó ảnh hưởng đến quy mô sản xuất nếu có nhiều
lao động và ngược lại.
Về chất lượng lao động : Nó có ảnh hưởng đến cường độ lao động, năng
suất lao động . Việc tăng chất lượng lao động chỉ bằng cách tăng đầu tư
cho y tế, giáo dục đào tạo,dạy nghề ... Từ đó nâng cao thể lực trình độ, tay
nghề của người lao động.
Trong điều kiện này nhiều doanh nghiệp coi việc đầu tư phát triển nguồn
nhân lực là chiến lược trong cạnh tranh . Nguồn nhân lực trong doanh
nghiệp được chia làm ba loại : Cán bộ quản lí,công nhân sản xuất và cán
bộ nghiên cứu khoa học . Đối với từng loại này phải có chính sách đào tạo
riêng nhưng đều phải liên tục được tu dưỡng rèn luyện nghiên cứu, học tập
...để nâng cao kinh nghiệm, trình độ tay nghề ...
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được bắt đầu từ
khâu tuyển người đây là cơ sở để có được lực lượng lao động tốt, bởi vậy
khâu tuyển người đòi hỏi cần phải rất khắt khe cẩn thận nhất .Tuyển người
hiện nay đòi hỏi phải đạt được các nhu cầu như : Trình độ văn hoá trình độ
ngoại ngữ, trình độ vi tính ,yếu tố thể lực luôn được đánh giá cao đặc biệt
là ở công nhân sản xuất .
Thứ hai là, nâng cao khả năng lao động của người lao động thường
xuyên Trong điều kiện đổi mới hiện nay rất nhiều công nghệ hiện đại đã
và đang được ứng dụng trong các loại hình doanh nghiệp ở nước ta .vì vậy
việc đào tạo lao động là yêu cầu vô cùng quan trọng ,rất nhiều công nhân
và quản lí ...đã và đang ra nước ngoài học tập và các doanh nghiệp cũng
học tập lẫn nhau .
Thứ ba là việc khen thưởng tổ chức các hoạt động về tinh thần giúp
người lao động hăng say trong công việc từ đó nâng cao năng suất lao
động .Các hình thức khen thưởng đang được thực hiện ở các doanh nghiệp
các cá nhân thành viên có thành tích tốt đều được thưởng xứng đáng góp
phần nâng cao trong trong xí nghiệp , công ty , các cuộc thi các cá nhân
sản xuất giỏi, nâng cao bậc thợ ... được tổ chức thường xuyên .
Nhờ có chính sách đào tạo lao động nhiều doanh nghiệp đã đạt được
những thành công to lớn, góp phần không nhỏ trong chiến lược sản xuất
kinh doanh cũng như chiếnlược cạnh tranh của mình .
4.2) Đầu tư vào tài sản cố định, đổi mới máy thiết bị, công nghệ ở
doanh nghiệp .
Công nghệ có thể hiểu là tập hợp các công cụ phương tiện dùng để biến
đổi các nguồn lực sản xuâts thành phẩm nhằm mục đích sinh lời
Công cụ phương tiện ở đây không chỉ là phương tiện vật chất của sản xuất
mà còn là bất kỳ công cụ và bí quyết có liên quan vào dùng để chế tạo, sử
dụng công cụ vật chất đó để thực hiện các hoạt động biến đổi công nghệ
gồm hai phần : phần cứng và phần mềm, phần cứng của công nghệ là máy
móc thiết bị, công cụ ... Phần mềm của công nghệ là kỷ năng bí quyết,
công nghệ kinh nghiệm quản lý . Như vậy khái niệm bao hàm có máy móc
thiết bị và kỷ năng ,bí quyết công nghệ kinh nghiệm quản lý đầu tư đổi
mới máy móc, thiết bị công nghệ là một hình thức của đầu tư phát triển
nhằm thực hiện hoá dây chuyền công nghệ và trang thiết bị tăng năng lực
sản xuất kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm thông
qua việc cải tiến đổi mới nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ .
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng đòi hỏi ngày càng cao cũng như
đối phó với các đối thủ cạnh tranh tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường
thì doanh nghiệp không còn con đường nào khác là phaỉ nâng cao chất
lượn sản phẩm của mình hạ giá thành để nâng cao khả năng cạnh tranh
đồng thời tăng năng suất lao động , cải tiến và phát triển các loại hàng hoá
dịch vụ mới , để thoả mãn những đòi hỏi của thị trường vấn đề này đòi hỏi
các doanh nghiệp phải đầu tư vào đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ .
Việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ ở các doanh nghiệp
cần xem xét các vấn đề sau :
Thứ nhất là : vòng đời của máy móc thiết bị và công nghệ .
Chu kỳ phát triển của máy móc thiết bị và công nghệ như sau : xuất hiện,
tăng trưởng, trưởng thành, bảo hoà, chu kỳ đó gọi là vòng đời của máy
móc thiết bị. Đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ cũng phải căn cứ vào
vòng đời này để quyết định thời điểm đầu tư thích hợp nhằm đảm baỏ hiệu
quả của đồng vốn.
Thứ hai là : phân tích môi trường kinh doanh .
- Phần lớn máy móc thiết bị công nghệ chủ yếu phải nhập từ nước ngoài
hoặc qua chuyển công nghệ nên cần phải phân tích môi trừơng quốc tế
như các vấn đề về pháp luật , quyền sở hữu bằng phát minh sáng chế ,
chuyên gia công nghệ ... Bên cạnh đó cần phải xem xét phân tích môi
trường văn hoá như phong tục tập quán , định chế xã hội của nước có công
nghệ xuất khẩu. Các vấn đề về hệ thống chính trị, các chính sách như
chính sách thương mại , quan hệ kinh tế đối ngoại cũng cần xem xét một
cách kỹ lưỡng .
- Phân tích môi trường kinh tế quốc dân cần chủ động đối với các yếu tố
kinh tế , chính trị xã hội , điều kiẹn tự nhiên , nắm bắt được thực trạng
nền kinh tế đang ở giai đoạn này , tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu ? lãi suất
ngân hàng là bao nhiêu ? phải dự đoán được xu hướng tiêu dùng và thị
hiếu của dân cư thông qua các hoạt động nghiên cứu thị trường , đồng thời
phải nghiên cứu các tác động của MMCN đến ô nhiểm môi trường cũng
như tác động của tự nhiên đến máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất .
- Phân tích môi trường ngành và nội bộ ngành .
Tập trung và tìm hiểu xem có bao nhiêu đối thủ cạnh tranh tiềm lực và
khả năng của họ như thế nào, sản phẩm của họ đóng vai trò như thế nào
đối với người tiêu dùng, họ đang sử dụng máy móc thiết bị công nghệ nào
.
Thứ ba là : Phân tích thực trạng nội bộ doanh nghiệp :
- Phân tích nhóm nhân tố liên quan đến nguồn nhân lực : bao gồm :
+ Trình độ nghề nghiệp của công nhân sản xuất trực tiếp .
+ Trình độ của cán bộ lãnh đạo , nhất là năng lực lãnh đạo kỹ thuật .
- Phân tích vị thế của doanh nghiệp trên thị trường :
+ Nguồn tài chính là vấn đề cần chú ý lựa chọn mục tiêu vừa phải và có
hướng đi phù hợp .
+ Cần xem xét quy mô vốn có thể huy động và đặc điểm kinh tế - kỹ
thuật của mỗi ngành .
- Xem xét các điều kiện về cơ sở hạ tầng hiện có hoặc có các biện pháp
bổ xung thích hợp với máy móc thiết bị và công nghệ dự kiến sẽ lựa chọn .
Thứ tư là : phân tích các yếu tố liên quan đến máy móc thiết bị và công
nghệ .
- Xem xét xu hướng lâu dài của máy móc thiết bị và công nghệ để đảm
bảo tránh sự lạc hậu hoặc khó khăn gây trở ngại cho việc sử dụng máy
móc thiết bị ( khan hiếm về nguyên liệu hoặc vật liệu mà máy móc thiết bị
sử dụng...) trong khi chưa thu hồi đủ vốn .
- Lựa chọn máy móc thiết bị mà các dụng cụ thay thế sẵn có trong nước
hoặc là được đảm bảo chắc chắn có phụ tùng thay thế .
- Máy móc công nghệ phải lựa chọn loại có nhiều nguồn cung cấp để tạo
ra sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp để mua được công nghệ với giá
phải chăng, tạo thế chủ động cho hoạt động sau này .
- Xem xét toàn diện khía cạnh kinh tế kỹ thuật của máy móc thiết bị và
công nghệ để lựa chọn công nghệ thích hợp, tối ưu với điều kiện của
doanh nghiệp .
Thứ năm là , phân tích các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả đầu tư đổi mới máy
móc thiết bị và công nghệ .
- Giảm bớt cường độ lao động, các công việc nặng nhọc, thay đổi cơ cấu
lao động trong doanh nghiệp theo hướng tăng tỷ lệ lao động có chuyên
môn kỹ thuật, giảm tỷ lệ lao động tay nghề thấp, không có trình độ nghiệp
vụ .
- Tác động đến cơ cấu tổ chức cũng như tổ chức sản xuất của doanh
nghiệp theo hướng tinh gọn, năng động, và hiệu quả .
- Cải thiện môi trường lao động theo hứơng giảm dần các yếu tố và khu
vực độc hại, phát triển công nghệ sạch
- Mở rộng thị trường theo hướng có nhiều bạn hàng mới và thị phần được
mở rộng, đáp ứng được nhiều đòi hỏi khắt khe và thường xuyên thay đổi
của thị trường .
- Thực hiện được mục tiêu trong chiến lược chương trình phát triển kinh
tế xã hội của đất cũng như các ngành lĩnh vực mà doanh nghiệp đang tham
gia kinh doanh
4.3) Đầu tư vào tài sản vô hình khác .
Đầu tư vào tài sản vô hình có thể hiểu như sau : Đó chính là đầu tư vào
nâng cao trình độ tay nghề, phương pháp quản lý, bí quyết công nghệ
nghiên cứu thị trường, các phương pháp khuyến mại ...
ở đây chỉ đề cập một số nội dung chủ yếu nhất :
* Đầu tư cho nghiên cứu và triển khai ( R&D)
Trước hết cần phải nói đến đó là đầu tư cho nghiên cứu và triển khai cho
các doanh nghiệp
Đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ là lĩnh vực đầu tư không thể thiếu
được của các công ty kinh doanh nói chung . Nghiên cứu khoa học và
công nghệ giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của các công ty trong sản
xuất kinh doanh, bảo đảm sức mạnh và vị trí cạnh tranh của công ty trên
thị trường hiện tại cũng như trong tương lai . Hoạt động đầu tư cho
nghiên cứu khoa học và công nghệ được thực hiện dưới hình thức đầu tư
cho nghiên cứu triển khai thường gắn với chiến lược kinh doanh của công
ty, góp phần thực hiện những mục tiêu ( Ngắn hạn hoặc dài hạn ) của công
ty . Tuy nhiên nhu cầu, khả năng và quy mô đầu tư nghiên cứu và triển
khai của mỗi công ty có sự khác nhau
Mục đích của các chương trình và dự án R&D không chỉ dừng lại ở dạng
nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu nhằm tăng chất lượng của sản phẩm ,
tạo nên sản phẩm có đặc điểm nổi bật hơn , mà còn tập trung nghiên cứu
tìm kiếm , phát triển kỹ thuật và công nghệ mới nhất cho công ty có thể
nói R&D là phần không thể thiếu được trong các hoạt động của công ty .
đầu tư vào R&D là một trong những yếu tố giúp các công ty giảm được
các chi phí liên quan đến sản xuất kinh doanh
Nhu cầu đầu tư nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp đã được
xác định trên cơ sở phân tích những mặt mạnh yếu và các cơ hội của công
ty và khả năng tài chính của công ty . Dựa vào phân tích những mặt mạnh
yếu và các cơ hội của công ty người ta có thể xác định được liêụ công ty
có nhu cầu đầu tư cho nghiên cứu và triển khai hay không và cần phải tập
trung đầu tư cho các lĩnh vực, cho các hoạt động nào của công ty. Nghiên
cứu khả năng tài chính của công ty sẽ cho phép xác định được khả năng và
quy mô đầu tư nghiên cứu triển khai của bản thân công ty đó. Quy mô đầu
tư nghiên cứu triển khai của các công ty không những phụ thuộc vào khả
năng tài chính của công ty mà còn phụ thuộc vào hàng loạt các nhân tố
như :
- Quy mô sản xuất kinh doanh của công ty : Quy mô sản xuất kinh doanh
càng lớn thì khả năng, quy mô đầu tư nghiên cứu triển khai càng lớn
- Cơ hội về đổi mới kỹ thuật và các cơ hội trong ngành : những ngành có
nhiều cơ hội đổi mới công nghệ và kỹ thuật đòi hỏi các công ty trong
ngành đó phaỉ tích cực đầu tư cho nghiên cứu nắm bắt kịp thời các cơ hội
về kỹ thuật và công nghệ của ngành .
Khi đánh giá hiệu quả của nghiên cứu triển klhai các doanh nghiệp
thường dựa trên một số quan điểm sau :
Thứ nhất là, hiệu quả đầu tư nghiên cứu và triển khai phải được xem xét
đánh giá toàn diện, về các mặt tài chính kinh tế xã hội, môi trường
Thứ hai là, hiệu quả đầu tư nghiên cứu và triển khai vừa có thể lượng hoá
được vừa có thể không lượng hoá được. Do đó kết quả của đầu tư cho
nghiên cứu và triển khai có thể được thể hiện dưới dạng hiện hoặc dạng ẩn
tuỳ theo dự án, chương trình nghiên cứu .
Tóm lại, có thể nói đầu tư cho nghiên cứu triển khai đóng vai trò quan
trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Các chương trình
và dự án R&D gắn chặt với chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp
đạt được các mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn về kinh tế cũng như các
ảnh hưởng khác .
* Đầu tư cho việc nghiên cứu thị trường :
Thứ nhất, đầu tư cho việc nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp trước
hết là nghiên cứu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp .
Có thể nói cạnh tranh là một đặc tính cơ bản nhất của thị trường , sẽ
không có thị trường nếu không có cạnh tranh, trong môi trường cạnh
tranh hoàn hảo mục tiêu của doanh nghiệp, người tiêu dùng là tối đa hoá
lợi nhuận và sự tiện ích của mình , khả năng cạnh tranh là nguồn năng
lượng thiết yếu để doanh nghiệp tiếp tục vững bước trên con đường hội
nhập kinh tế
Thực tế cho thấy doanh nghiệp kinh doanh thành công thực hiện các kỹ
năng cạnh tranh rất thuần thục, nó tạo thành phương pháp cạnh tranh đặc
thưng doanh nghiệp. Các kỹ năng này tập trung vào :
- Tạo lập và phát triển uy tín doanh nghiệp
- Coi trọng chiến lược mở rộng thị trường
- Xây dựng và thực hiện đổi mới sản phẩm , mẫu mã
- Luôn tìm cách giảm chi phí sản xuất (tồn đọng vốn, chi phí trung gian,
sáng kiến cải tiến kỹ thuật )
- Sách lược tiêu thụ sản phẩm khôn khéo .
Thứ hai khi nghiên cứu thị trường trong đầu tư tài sản vô hình của doanh
nghiệp ta cần phải nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng
Hành vi của người tiêu dùng được thực hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử
dụng đánh giá và vứt bỏ các sản phẩm và dịch vụ mà họ dự định sẽ thoả
mãn các nhu cầu của họ . Nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng là
nghiên cứu các cá nhân đưa ra quyết định như thế nào đối với việc chi tiêu
các nguồn tài nguyên có thể sử dụng của họ ( như tiền thơì gian và nổ lực )
trong các hạng mục liên quan đến sự tiêu dùng . hành vi người tiêu dùng
bao gồm hai quyết định là tinh thần và hoạt động vật chất . Qua việc
nghiên cứu hành vi người tiêu dùng sẽ cung cấp cho các nhà sản xuất
những thông tin quan trọng để họ lên kế hoạch sản xuất thiết kế cải tiến và
xây dựng được chiến lược khuyến mại .
Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng đi xa hơn các vấn đề trên nó xem xét
vấn đề sử dụng của ngươì tiêu dùng đối với các hàng hoá họ mua và các
đánh giá tiếp theo của họ . Những hiệu quả có thể xảy ra sau đó của sự
không thỏa mản sau khi mua hàng của người tiêu dùng có thể tác động
quan trọng đối với các nhà Marketing , người phải xây dựng được chiến
lược vận động khuyến mại của công ty . hơn nữa việc nghiên cứu hành vi
người tiêu dùng cũng nghiên cứu cách họ sử dụng sản phẩm họ mua như
thế nào và các đánh giá sau khi mua hàng của họ .
Mục đích chính của nghiên cứu người tiêu dùng là phục vụ cho công tác
quản lý kinh doanh sản xuất và dịch vụ . Các nhà quản lý muốn biết
nguyên nhân hành vi của người tiêu dùng, họ muốn biết con người đưa ra
quyết định mua hàmg sử dụng, cất kho và vứt bỏ các sản phẩm như thế
nào từ đó xây dựng chiến lược Marketing lập ra những phần mảng thị
trường mới cho một sản phẩm riêng hay một loại sản phẩm. Nghiên cứu
hành vi người tiêu dùng được tiến hành bỡi các tổ chức Marketing khác
như hiệp hội nghiên cứu thị trường và các công ty Marketing riêng biệt.
Thấy được tầm quan trọng và cần thiết của việc nghiên hành vi người
tiêu dùng, các công ty, xí nghiệp đang đầu tư một cách thích đáng cho việc
nghiên cứu. Việc nghiên cứu thành công giúp doanh nghiệp có chiến lược
sản xuất kinh doanh đúng hướng, tiêu thụ nhanh sản phẩm quay nhanh
vòng vốn nhanh thúc đẩy nền kinh tế phát triển .
* Đầu tư và bí quyết công nghệ
Một nội dung trong đầu tư tài sản vô hình đó chính là bí quyết công
nghệ. Đầu tư vào tài sản vô hình cũng có nghĩa là đầu tư vào mua bí quyết
công nghệ
Ngoài máy móc thiết bị thì bí quyết công nghệ (Know-how) là một phần
quan trọng của công nghệ. Thật sai lầm và không đầy đủ khi đầu tư đổi
mới công nghệ mà không chú ý đến bí quyết công nghệ . Các doanh
nghiệp hiện nay thường chỉ nghĩ đến mua máy móc thiết bị mà quên mất
đi phần bí quyết công nghệ .
Bí quyết công chứa đựng trong tất cả các khâu, các công đọan của quá
trình sản xuất như tổ chức hợp lý hoá, điều hành sản xuất, hệ thống tài
chính kế toán, khách hàng, thị trường tiêu thụ sản phẩm, đào tạo và thông
tin, lập kế hoạch cải tiến công nghệ, xử lý môi trường...
Chính vì thế bí quyết công nghệ đóng vai trò rất quan trọng là nó là một
nhân tố mà các doanh nghiệp cần quan tâm xem xét và tiến hành đầu tư .
4.4) Đầu tư vào hàng dự trữ .
* Theo lý thuyết Mankew : đầu tư vào hàng tồn kho gồm hàng hoá mà
doanh nghiệp giữ lại trong kho kể cả vật tư nguyên liệu, bán thành phẩm
và thành phẩm .
- Theo cách phân loại căn cứ vào đặc điểm hoạt động của các kết quả
Đầu tư có đầu tư cơ bản (đầu tư cố định) Nằm tái sản xuất các tài sản . tài
sản cố định, đầu tư vận hành (đầu tư vào hàng dự trữ) nhằm tạo ra các tài
sản lưu động cho các doanh nghiệp mới hình thành tăng thêm tài sản lưu
động cho các doanh nghiệp hiện có (đầu tư nguyên vật liệu thô, bán thành
phẩm và sản phẩm hoàn thành )
Đầu tư vận hành chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu tư, đặc điểm kỹ
thuật của quá trình thực hiện đầu tư không phức tạp .
* Đặc điểm của đầu tư vào dự trữ .
- Dự trữ được chuyển hoá thành các dạng khác nhau trong quá trình sản
xuất, ví dụ : từ nguyên liệu thô - bán thành phẩm - thành phẩm .
- Quy mô đầu tư vào dự trữ của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều
nhân tố như dự đoán cầu trong tương lai, phụ thuộc vào quy luật tiêu dùng
nhu cầu riêng biệt của mỗi mặt hàng và quy luật tiêu dùng ở thời kỳ quá
khứ sẽ được phản ảnh tương tự ở kỳ dự báo
- Phụ thuộc vào khách hàng, sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp nếu
doanh nghiệp có tham vọng chiếm lĩnh thị trường lớn thì sẽ dự trữ nhiều
- Phụ thuộc vào mức độ chậm trễ của khâu phân phối lưu thông thể hiện
ở một bộ phận dự trữ là dự trữ bảo hiểm
Dự trữ bảo hiểm là bộ phận dự trữ cần thiết trong những trường hợp sau
:
+ Lượng vật tư tiêu dùng bình quân một ngày đêm phục vụ cho sản xuất
lớn hơn mức tiêu dùng vật tư thường xuyên ở doanh nghiệp
+ Lượng vật tư nhận được từ đơn vị cung ứng trong lần giao hàng ít hơn
so với kế hoạch
+ Khoảng cách chênh lệch giữa hai kỳ cung ứng nối tiếp nhau của đơn vị
cung ứng lớn hơn so với kế hoạch
- Chi phí dự trữ bao gồm :
+ Chi phí đặt hàng :gồm chi phí giao dịch ,chi phí điện thoại ,văn phòng
phẩm ( chi phí đặt hàng tương đối cố định cho mỗi lần đặt hàng ).
+ chi phí tồn trữ gồm :Chi phí về lãi suất, chi phí về tiền công tiền lương
cho những người bảo vệ quản lí, chi phí cho máy móc thiết bị
- Các bộ phận của dự trữ gồm :
+ Dự trữ thường xuyên : là loại dự trữ nhằm để bảo vệ cho quá trình sản
xuất doanh nghiệp diễn ra liên tục giữa hai kì cung ứng nối tiếp nhau của
đơn vị cung ứng .
+ Dự trữ bảo hiểm .
+ Dự trữ chuẩn bị : ở một số doanh nghiệp sản xuất, một số loại vật tư
trước khi đưa vào tiêu dùng sản xuất phải thông qua một số công đoạn như
là pha trộn, ghép đồng bộ, đập nhỏ ...và thời gian giành cho công đoạn này
trên cùng một ngày thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vật tư dữ
trữ lượng vật tư dự trữ này được gọi là dự trữ chuẩn bị của doanh nghiệp .
+ Dự trữ hàng hoá bằng đơn vị hiển vật gọi là dự trữ tuyệt đối .Do sự
phát triển của sản xuất, dự trữ tuyệt đối có xu hướng tăng .
+ Dự trữ hàng hoá tính theo đơn vị thời gian gọi là dự trữ tương đối của
doanh nghiệp ,dự trữ này có xu hướng giảm .
* Vai trò của dự trữ .
Dự trữ luôn là vấn đề sống còn là một đòi hỏi tất yếu khách quan, nó
đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của sản xuất và tiêu dùng .
Trong mô hình dự trữ JIT ( Just in time ) chỉ ra :
Nếu dự trữ thật nhiều dẫn đến ứng đọng vốn, hàng hoá hỏng, tăng chi
phí bảo quản không hiệu quả .
Nếu dự trữ ít quá không đủ nguyên vật liệu để sản xuất, không đủ hàng
hoá để bán và dẫn đến gián đoạn sản xuất kinh doanh .
Cần phải phân biệt dự trữ và tình trạng dư thừa ứng đọng sản phẩm
trong các doanh nghiệp .
5) Vốn đầu tư của doanh nghiệp .
5.1. Khái niệm .
Trong điều kiện hiện nay ,nền kinh tế sản xuất hàng hoá để tiến hành
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thì các doanh nghiệp đều phải có vốn .
Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh lần đầu tiên được thành lập, số
vốn này được dùng để xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị ... để
tạo ra các cơ sở vật chất kỹ thuật ( các tài sản cố định ) cho các cơ sở này,
đồng thời số vốn trên còn được dùng để mua sắm nguyên vật liệu, trả tiền
lương cho người lao động trong chu kì sản xuất kinh doanh ( tạo vốn lưu
động gắn liền vơí hoạt động của các tài sản cố định vừa được tạo ra ).
Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang hoạt động để mua sắm
thêm các máy móc thiết bị ,xây dựng thêm nhà xưởng và tăng thêm vốn
lưu động nhằm mở rộng quy mô hoạt động hiện có ,sửa chữa hoặc hiện đại
hoá các tài sản cố định đã bị hư hỏng hao mòn hữu hình và hao mòn vô
hình .
Số vốn cần thiết để tiến hành lao động đầu tư của doanh nghiệp như trên
là rất lớn ,không thể lúc đó doanh nghiệp có đầy đủ .Vì vậy số vốn cần
thiết cho các hoạt động đầu tư trên chỉ có thể là tích luỹ của cơ sở sản
xuất kinh doanh dịch vụ,là vốn huy động từ dân cư và vốn huy động từ
nước ngoài .
Từ đây ta có khái niệm về vốn đầu tư của doanh nghiệp như sau :
Vốn đầu tư doanh nghiệp bao gồm nguồn lực tự tích luỹ của doanh
nghiệp ,nguồn vay nguồn viện trợ và các lực huy động từ bên ngoài .
5.2.Nội dung vốn đầu tư của doanh nghiệp .
Nội dung của vốn đầu tư trong doanh nghiệp bao gồm các khoản mục
gắn liền với nội dung của hoatj động đầu tư trong doanh nghiệp .
Hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là quá trình sử dụng vốn
đầu tư nhằm tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật và thực hiện
các chi phí gắn liền với sự hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa
được tái sản xuất thông qua các hình thức xây dựng ,mua sắm lắp đặt ...
thực hiện có chi phí gắn liền vơí sự ra đời và hoạt động của các cơ sở vật
chất kỹ thuật đó .
Xuất phát từ nội dung hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
trên đây ,có thể chia vốn đầu tư thành các khoản mục sau đây :
- Chi phí chuẩn bị đầu tư bao gồm chi phí nghiên cứu cơ hội đàu tư ,chi
phí nghiên cứu tiền khả thi,chi phí nghiên cứu khả thi và thẩm định.
- Những chi phí tạo ra tài sản cố định bao gồm :
+ Chi phí ban đầu và đất đai .
+ Chi phí xây dựng sửa chữa nhà cửa ,cấu tríc hạ tầng .
+ Chi phí mua sắm lắp đặt máy móc, thiết bị dụng cụ, mua sắm phương
tiện vận chuyển.
- Những chi phí tạo ra tài sản lưu động bao gồm :
+ chi phí nằm trong giai đoạn sản xuất như chi phí mua nguyên vật liệu,
trả lương cho người lao động, chi phí điện nước, nhiên liệu, phụ tùng ...
+ Chi phí nằm trong giai đoạn lưu thông gồm có sản phẩm dở dang tồn
kho, hàng hoá bán chịu, vốn bằng tiền .
- Chi phí dự phòng .
5.3. Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp.
* Đối với cơ quan quản lí nhà nước, các cơ sở hoạt động xã hội phúc lợi
công cộng vốn đầu tư bao gồm :
- Vốn từ Ngân sách Nhà nước .
- Vốn huy động từ cán bộ công nhân viên .
- Vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế từ thiện .
- Vốn tự có .
- Vốn vay .
* Đối với doanh nghiệp quốc doanh .
- Nguồn vốn chủ sở hữu mà trong đó chủ yếu là vốn cấp phát từ Ngân
sách Nhà nước .ngoài vốn từ Ngân sách còn vốn hình thành do lợi nhuận
để lại ,vốn liên doanh liên kết cấu thành nên vốn chủ sở hữu .
- Nguồn vốn vay của các Ngân hàng, tổ chức tín dụng và của các nguồn
không chính thức ( thoả thuận giữa hai bên ) .
- Tín dụng thuê mua :
Tín dụng thuê mua là loại tín dụng bằng tài sản cho thuê trong đó chủ
chủ sở hữu tài sản cho người khác sử dụng trong một thời gian, còn người
thuê mua phải trả cho chủ tài sản một khoản tiền tương ứng với quyền sử
dụng .
* Đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh .
- Vốn tự có của doanh nghiệp .
- Vốn vay
- Vốn góp
- Vốn huy động thông qua phát hành cổ phiếu .
- Vốn liên doanh các tổ chức trong và ngoài nước .

II. Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

1. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường

- Cạnh tranh là một đặc tính cơ bản của thị trường, sẽ không có
kinh tế thị trường nếu không có cạnh tranh. Theo kinh tế học thì cạnh
tranh (competion) là sự tranh giành thị trường (khách hàng) để tiêu thụ sản
phẩm giữa các doanh nghiệp. “Như vậy đã là kinh tế thị trường thì đương
nhiên có cạnh tranh và cạnh tranh theo nghĩa là tranh giành khách hàng
(thị phần) thì chỉ có trong khuôn khổ của kinh tế thị trường”1

- Người ta phân chia các trạng thái cạnh tranh thành 2 loại: Cạnh
tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo. Cạnh tranh hoàn hảo là tình
trạng cạnh tranh trong đó số người mua và số người bán một mặt hàng
đồng nhất, nhiều đến nỗi không ai có khả năng ảnh hưởng đến giá cả trên
thị trường. Tingh trạng thị trường không đạt được như trên thì được gọi là
cạnh tranh không hoàn hảo.

Người ta chứng minh rằng trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo
mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận, và sẽ không thể có các
doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh nếu chúng sống trong một môi
trường không có cạnh tranh. Nói cách khác một doanh nghiệp rất khó trở
thành doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh nếu được nuôi dưỡng lâu năm
trong môi trường thiếu tính cạnh tranh.

Vì cạnh tranh là hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế thị trường và
để đạt được mục tiêu lợi nhuận những doanh nghiệp tham gia thị trường


1
Bùi tất thắng - Tính cạnh tranh của nền kinh tế việt nam
hiện nay - Tạp chí nghiên cứu kinh tế tháng 11năm 2000 - tr.25
phải thông qua sự cạnh tranh lẫn nhau nên từ lâu vấn đề cạnh tranh đã là
một trong những nội dung quan trọng của các môn khoa học về kinh tế và
là một đối tượng điều chỉnh của luật pháp. Thế kỷ XIII Adam Smith, nhà
kinh tế học cổ điển vĩ đại Anh trong tác phẩm "Của cải của các dân tộc"
(1776) đã thuyết minh vai trò quan trọng của cạnh tranh tự do trong bối
cảnh nền kinh tế thị trường TBCN đang ở giai đoạn hình thành, bị rất
nhiều ràng buộc bởi những thiết chế phi tự do của nhà nước phong kiến.
Theo ông "Mỗi cá nhân (doanh nghiệp) đều sử dụng vốn của mình sao cho
có được sản phẩm, có giá trị cao nhất. Thông thường cá nhân này không
có chủ định củng cố lợi ích công cộng, mà cũng chẳng biết mình đang
củng cố lợi ích này ở mức độ nào. Cá nhân (doanh nghiệp) này chỉ có mục
đích bảo vệ sự an toàn và thành quả của riêng mình. Trong quá trình này
một bàn tay vô hình đã buộc anh ta phải theo đuổi một mục đích không
nằm trong dự định. Trong khi theo đuổi lợi ích của mình anh ta đã thường
bảo vệ luôn lợi ích của xã hội một cách biểu hiện hơn cả khi anh ta có ý
định làm việc này. Với Adam Smith, trật tự thị trường theo nguyên lý "bàn
tay vô hình" sẽ điều hoà các hoạt động kinh tế một cách có hiệu quả. "Độc
quyền là kẻ thù lớn đối với quản lý tốt, mà việc quản lý tốt không thể có
được trừ khi có sự cạnh tranh tự do và rộng khắp nó buộc những nhà sản
xuất phải biết đấu tranh để bảo vệ lợi ích của chính họ". Kết luận ấy
đương nhiên đưa ông đến chỗ là một trong những người cổ vũ nhiệt thành
nhất cho một cơ chế kinh tế tự do (laisser-facre) và phản đối lại tình trạng
độc quyền cũng như sự can thiệp quá mức của chính phủ.

- Tuy nhiên, cạnh tranh thị trường không phải bao giờ cũng trôi chảy.
Những mặt trái của nó được khái quát lại trong thuật ngữ "thất bại thị
trường", với một trong những biểu hiện rõ nhất là những cuộc khủng
hoảng kinh tế mang tính chu kỳ.

Ngoài ra, theo như sự phân tích của kinh tế chính trị học Mác xít,
cuộc cạnh tranh trong điều kiện của kinh tế thị trường TBCN còn mang
tính mù quáng và tàn bạo theo kiểu "cá lớn nuốt cá bé". Với biết bao nhiêu
những hậu quả kinh tế và xã hội đè xuống đầu các giai cấp cần lao. Với
những nhược điểm trên nhiệm vụ tạo lập môi trường kinh tế có cạnh tranh,
chống độc quyền đương nhiên thuộc về chức năng của nhà nước.

2. Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam

Cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế
thị trường, các doanh nghiệp vừa là đối tượng vừa là động lực chủ yếu của
quá trình phát triển kinh tế, vì vậy có thể khẳng định là năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp cần phải được nâng cao, phải được bảo đảm
và phát triển bằng những chiến lược cạnh tranh hữu hiệu trên cơ sở phát
huy những lợi thế cạnh tranh. Đây là một nhân tố chính quy định sự phát
triển bền vững của bản thân doanh nghiệp cũng nh ư của nền kinh tế nước
ta trong quá trình hội nhập quốc tế. Một trong những khó khăn lớn nhất
hiện nay Việt Nam đang gặp phải là thực trạng khả năng cạnh tranh của
hiện nay của các doanh nghiệp Việt Nam là rất trì trệ, tình trạng tham
nhũng và làm thất thoát tài sản là rất phổ biến. Chúng ta hãy xem xét cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt Nam thông qua:

Môi trường kinh doanh hiện nay chưa thể hiện rõ tính gay gắt của nhân tố
cạnh tranh, các doanh nghiệp nhà nước vẫn nhận được sự bảo hộ, ưu đãi
của nhà nước so với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác trong
giai đoạn chuẩn bị hội nhập hoàn toàn vào thị trường khu vực. Tuy nhiên,
thông thường khi xây dựng chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp thì
dựa trên chủ yếu về an toàn trong kinh doanh là đa dạng hoá đầu tư và sản
phẩm với kết quả cuối cùng là bảo đảm và phát triển nguồn vốn kinh
doanh của doanh nghiệp, nhưng hiện nay chỉ tiêu này là rất khó đối với
bản thân đa số các doanh nghiệp vì họ chưa đủ các điều kiện về vốn, công
nghệ, cơ chế và trình độ quản lý, thậm chí còn chưa làm tốt được những
công việc liên quan đến sản phẩm trong kinh doanh, nói gì đến việc đa
dạng hoá sản phẩm.
Về thế lực của doanh nghiệp: Thế lực của doanh nghiệp hay còn
gọi là vị thế của doanh nghiệp trên thị trường được đánh giá chủ yếu thông
qua thông số tỷ lệ thị phần mà doanh nghiệp chiếm giữ hoặc bằng nhãn
hiệu thương mại sản phẩm của doanh nghiệp. Do thị trường nước ta chưa
hội nhập hoàn toàn vào thị trường khu vực nên đại đa số các doanh nghiệp
vẫn chưa thực sự đứng vững trên đôi chân của mình, đặc biệt là đối với
các doanh nghiệp nhà nước một phần do cơ chế quản lý của nhà nước. Do
vậy hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhà n ước thời gian qua có
được là nhờ lợi thế độc quyền và lẽ tất nhiên là các doanh nghiệp này nắm
giữ hầu hết thị phần, nếu không nói là 100% thị phần trong nước. Các
doanh nghiệp thành đạt trên thế giới đều xây dựng nhãn hiệu riêng của
mình như Sony, Motorola, Mobil... và khi đọc đến tên nhãn hiệu, người
tiêu dùng trên toàn thế giới đều có thể cảm nhận ngay, phân biệt ngay
được tiềm lực, chất lượng, phương thức phục vụ của sản phẩm này như
thế nào so với các sản phẩm khác cùng loại. Nhưng thực tế hiện nay, mặc
dù nhà nước đã tạo rất nhiều điều kiện cho các doanh nghiệp, đặc biệt là
các doanh nghiệp nhà nước cũng chưa quan tâm một cách thích đáng đến
hình ảnh của chính mình và chưa tạo nên một nhãn hiệu có tính thương
mại cao cho sản phẩm, dịch vụ của mình. Điều này đi ngược lại mục đích
kinh doanh. Về lý luận cũng như thực tế kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường cho thấy để tồn tại và phát triển bền vững các doanh nghiệp đều
phải cố gắng xây dựng một hình ảnh, một nhãn hiệu th ương mại cho các
sản phẩm dịch vụ của mình, từ đó mới có hy vọng có được một chỗ đứng
vững chắc trên thị trường.

Như vậy nếu không nhanh chóng đổi mới phương thức kinh doanh
một cách toàn diện, thiết lập được môi trường kinh doanh bình đẳng thì
các doanh nghiệp của chúng ta khó hy vọng chiến thắng và nguy cơ trở
thành thị trường tiêu thụ sản phẩm nước ngoài đối với nước ta khi hội
nhập có khả năng cao. Thay đổi một cách sâu sắc về nhận thức, về vai trò
của nhân tố cạnh tranh, cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập khu
vực và quốc tế, và vai trò của bản thân doanh nghiệp trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong
việc lựa chọn xây dựng cho mình một chiến lược cạnh tranh thích hợp với
môi trường, từ đó xây dựng được chỗ đứng của mình trên thương trường.

3. Vai trò của đầu tư đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp:

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải cạnh
tranh nhau trên thương trường để tồn tại, phát triển và đạt được mục đích
của mình đề ra. Để tăng được khả năng cạnh tranh các doanh nghiệp đã
không ngừng đầu tư cho sản phẩm, dịch vụ của mình. Vì vậy đầu tư có vai
trò to lớn trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được biểu hiện thông qua
chất lượng sản phẩm, chất lượng phục vụ, nghiên cứu thị trường. Vì vậy
các doanh nghiệp cần đầu tư đồng loạt vào các yếu tố trên để tăng tính hấp
dẫn của sản phẩm, dịch vụ do chính các doanh nghiệp tạo ra. Cụ thể là:

- Đối với chất lượng sản phẩm: Đây là yếu tố quan trọng để tăng uy
tín của doanh nghiệp trên thương trường. Đầu tư nâng cao chất lượng sản
phẩm cho doanh nghiệp được chia thành 2 lĩnh vực chính là:

+ Đầu tư vào mua sắm thiết bị, khoa học công nghệ cho sản xuất
sản phẩm: Có thể nói chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào công
nghệ sản xuất. Với một công nghệ sản xuất lạc hậu thì ắt hẳn sẽ không tạo
ra được một sản phẩm có chất lượng cao, từ đó sẽ giảm khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Vì vậy trong tiến trình nâng cao
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đã rất chú trọng
tới việc đổi mới dây chuyền sản xuất từ đó tạo ra được sản phẩm có hàm
lượng công nghiệp chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu khắt khe của thị
trường. Có như vậy mới tăng được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
cả thị trường trong và ngoài nước.
+ Đầu tư vào nguồn lao động: việc đầu tư đào tạo nguồn lao động
có hiệu quả sẽ nâng cao chất lượng của lao động. Đó là tay nghề và ý thức
làm việc của lao động, từ đó chất lượng sản phẩm sẽ tăng, năng suất lao
động tăng giá thành hạ. Điều này sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của sản
phẩm. Đầu tư vào nguồn lao động được thực hiện liên tục trong quá trình
sản xuất của doanh nghiệp, nhất là đối với việc đổi mới trong thiết bị sản
xuất thì càng có tầm quan trọng hơn. Thật vậy, với một dây chuyền sản
xuất hiện đại nhưng đội ngũ quản lý sản xuất không đủ khả năng vận hành
hoặc rất ít hiểu biết về công nghệ mới như vậy sẽ dẫn tới những sản phẩm
làm ra kém chất lượng không đạt yêu cầu chất lượng của công nghệ cần
phải có, khi đó khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bị giảm sút ảnh
hưởng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại, với một đội
ngũ lao động có trình độ kỹ thuật cao, đội ngũ quản lý biết điều hành sản
xuất tốt thì không có gì phải bàn cãi và tất nhiên sản phẩm được sản xuất
ra có ảnh hưởng cao, đáp ứng được yêu cầu của thị trường từ đó tạo uy tín
và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

- Đối với chất lượng phục vụ: Đây là yếu tố tạo độ an tâm khi sử
dụng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Đầu tư nâng cao chất lượng
phục vụ của doanh nghiệp ở đây chính là đầu tư vào các loại hình dịch vụ
trước, trong và sau khi bán hàng. Đối với trước khi bán hàng, doanh
nghiệp cần có các biện pháp để giới thiệu sản phẩm tới đông đảo người
tiêu dùng như đầu tư cho quảng cáo tiếp thị phù hợp, phát hành khuyến
mãi... như vậy người tiêu dùng sẽ am hiểu sâu hơn về sản phẩm của doanh
nghiệp, tạo được thiện chí của người tiêu dùng đối với sản phẩm. Trong
quá trình bán hàng thực hiện các loại hình đi kèm như bán hàng có kèm
theo quà tặng, mở các đợt bốc thăm trúng thưởng đối với các khách hàng
mua sản phẩm của doanh nghiệp. Và yếu tố quan trọng nhất trong chất
lượng phục vụ đó là mức độ bảo hành sản phẩm của doanh nghiệp, đối với
mỗi sản phẩm được bán ra được bảo hành sẽ tạo được sự yên tâm của
người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp. Như vậy uy tín
và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng lên một tầm cao mới.

- Đối với Nghiên cứu thị trường: Các doanh nghiệp để tồn tại và
phát triển rất quan tâm tới nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, vì vậy đầu
tư vào nghiên cứu thị trường là một yếu tố không thể thiếu để nâng cao
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đầu tư nghiên cứu thị trường ở
đây chính là xem xét tìm hiểu nhu cầu của thị trường về một loại hàng hoá
nào đó, xu hướng ở hiện tại và tương lai như thế nào để từ đó có quyết
định đúng đắn trong việc sản xuất, thiết kế mẫu mã sản phẩm phù hợp với
đa số người tiêu dùng. Đầu tư nghiên cứu thị trường còn nắm bắt được
thông tin về chiến lược phát triển kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh
trên thị trường từ đó phân tích đánh giá và đưa ra đường lối chiến lược
phát triển cho doanh nghiệp trong thời gian tới, đáp ứng được nhu cầu của
thị trường, nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường.

Tóm lại, đầu tư có vai trò đặc biệt quan trọng đối với khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp. Đầu tư tạo tiền đề để doanh nghiệp nâng cao chất
lượng sản phẩm, chất lượng phục vụ và tìm hiểu thị trường, từ đó đưa ra
đường lối phát triển cho doanh nghiệp, tạo ra bước đi riêng cho chính
mình đứng vững và tăng khả năng cạnh tranh trên thương trường.


III) Vai trò của sản phẩm xi măng trong sự nghiệp CNH - HĐH
ở nước ta .
Bước vào xã hội hiện đại, kỹ thuật công nghệ ngày càng phát triển nhu
cầu xây dựng kiến trúc của con người ngày một đòi hỏi sức bền của vật
liệu tốt hơn nhiều hơn . Trước nhu cầu đó ,con người đã tìm tòi ,khám phá
,chế tạo ra xi măng ,cách ngày nay hơn một thế kỷ .Xi măng loại vật liệu
xây dựng mà nguyên liệu chủ yéu của nó là đá vôi và đất sét đây là phát
minh quan trọng ,đánh dấu một sự kiện lớn trong lịch sử tìm kiếm vật liệu
bền trong xây dựng với loài người.
Công nghiệp xi măng ở Việt Nam ra đời gắn với sự phát triển của lịch sử
dân tộc, nhằm mục đích đáp ứng vật liệu xây dựng trong công cuộc kiến
thiết đất nước.
Trải qua những khó khăn ,thử thách cho đến nay sản phẩm xi măng ngày
càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước .
Ngành công nghiệp xi măng bước vào thập niên đầu tiên của thiên niên
kỉ thứ III ,đã góp nhiều công sức với đất nước, trong nhiều công trình quan
trọng điểm quốc gia như cầu Thăng Long, các nhà máy thuỷ điện, dầu khí
... và biết bao nhiêu tổ ấm ở mọi miền tổ quốc .
Xi măng Việt Nam đã và đang là niềm tin của người sử dụng niềm tự
hào của những công trình .Và lời niềm hãnh diện của đất nước đối với bạn
bè khu vực và quốc tế.
Đất nước ta đang trong quá trình CNH - HĐH .Vì vậy việc xây dựng
một cơ sở hạ tầng lớn mạnh và tất yếu, thêm vào đó là quá trình đô thị hoá
ngày càng cao, nhu cầu xây dựng ngày càng lớn, để thực hiện được điều
này thì không gì khác là phải có những vật liệu xây dựng tạo nên mà trong
đó không thể không nhắc đến xi măng, một loại chất kết dính và sức bền
của nó thật tuyệt vời .
Xi măng Việt Nam với những thành tựu đạt được và vượt qua bao nhiêu
khó khăn thử thách đã và đang thể hiện sức mạnh, sự vững vàng của một
loài sản phẩm vật liệu xây dựng .Trong cơ chế thị trường và trước sự hội
nhập kinh tế đất nước nói chung, ngành xi măng nói riêng .
Phần II
Thực trạng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh
tranh ở
Công ty xi măng Bỉm Sơn.


I. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty xi măng Bỉm Sơn
1. Chủ trương về xây dựng của Đảng và Nhà nước.
Cuối thập kỷ 60, khi cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của dân
tộc đang đi vào giai đoạn ác liệt, thì Đảng và Nhà nước ta đã hoạch định
một chiến lược xây dựng, để ngay sau khi thống nhất nước nhà, dân tộc ta
có thể bắt tay vào công cuộc xây dựng kiến thiết đất nước. Cũng trong thời
gian này, với sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên Xô, Đảng và Nhà nước
ta đã quyết định xây dựng một nhà máy sản xuất xi măng hiện đại, có
công suất lớn nhất nước ta tại khu Bỉm Sơn, nhằm đáp ứng nhu cầu xi
măng cho công cuộc xây dựng đất nước ngay sau khi kết thúc chiến tranh.
Xây dựng nhà máy xi măng Bỉm Sơn Đảng và Nhà nước ta có chủ
trương như sau:
Thứ nhất: Sau khi xây dựng xong, nhà máy đi vào hoạt động sản xuất
sẽ đem lại hiệu quả to lớn về kinh tế, quốc phòng … cho đất nước, mở ra
một khu công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng lớn nhất ở khi vực bắc
miền Trung. Cung cấp vật liệu xi măng xây dựng cho cả nước, phục vụ
các công trình trọng điểm quốc gia như thuỷ điện Hoà Bình, cầu Thăng
Long, nhiệt điện Phả Lại …
Thứ hai: Giải quyết việc làm cho hàng vạn người lao động góp phần
xây dựng đội ngũ công nhân hiện đại, nắm bắt khoa học kỹ thuật tiên tiến
tiếp thu công nghệ và kỹ thuật sản xuất do Liên Xô giúp đỡ.
Thứ ba: Nhà máy xi măng Bỉm Sơn là khu công nghiệp lớn, tạo nên
một khu trung tâm kinh tế phía bắc tỉnh Thanh Hoá, đồng thời thu hút
nguồn nhân lực dồi dào của tỉnh và các tỉnh phía bắc miền Trung, góp
phần nhanh chóng đô thị hoá vùng đồi núi Bỉm Sơn.
Thứ tư: Nhà máy xi măng Bỉm Sơn còn là công trình mang ý nghĩa
lịch sử lớn trong chiến tranh và trong xây dựng, thể hiện tình đoàn kết,
hữu nghị giữa nhân dân Liên Xô và nhân dân Việt Nam.
Với nhận thức đó, Đảng và Nhà nước ta đã nhanh chóng chỉ đạo các
cấp, các ngành tập trung bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng nhà
máy xi măng Bỉm Sơn.
2, Quá trình phát triển và cơ cấu tổ chức của Công ty xi măng Bỉm Sơn.
Cùng với cuộc cách mạng dân tộc - dân chủ ở Việt Nam, Đảng và
Nhà nước ta đã đồng thời tiến hành cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
nhằm đưa dân tộc ta, đất nước ta thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu.
Và thế là nhà máy xi măng Bỉm Sơn được ra đời là một chủ trương từng
bước xây dựng nền công nghiệp hiện đại và thực hiện công nghiệp hoá ở
Việt Nam, nhằm đáp ứng vật liệu xây dựng, kiến thiết đất nước ngay sau
khi chiến tranh chống Mỹ xâm lược kết thúc, thực hiện lời dạy của chủ
tịch Hồ Chí Minh "Xây dựng đất nước ta đoàng hoàng hơn, to đẹp hơn".
Nhà máy xi măng Bỉm Sơn được xây dựng và tiến hành sản xuất vào
ngày 4 tháng 3 năm 1980 trong bối cảnh đất nước vừa thoát khỏi chiến
tranh, lại nằm trong thời kỳ bao cấp nhất là từ năm 1982 đến năm 1990 khi
mà nền kinh tế đất nước đang trải qua những khó khăn, thử thách vói một
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, với sự khủng hoảng kinh tế về giá cả,
tiền lương … đời sống xã hội gặp nhiều khó khăn, sản xuất đình trệ ách
tắc. Trong bối cảnh lịch sử xã hội lúc đó Nhà máy xi măng Bỉm Sơn với
một đội ngũ cán bộ công nhân trẻ trung đầy nhiệt huyết, với sự lãnh đạo
của Đảng và Chính phủ, cùng với sự quan tâm của các cấp, các ngành và
sự giúp đỡ nhiệt thành của Đảng - nhân dân Liên Xô, nhà máy đã vượt lên
muôn ngàn khó khăn, hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch sản xuất xi măng, cung
cấp cho đất nước một khối lượng vật liệu xây dựng lớn, góp phần tái kiến
thiết đất nước, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các hạng mục công trình khác
của đất nước. Có thể thấy trong giai đoạn này, nhà máy xi măng Bỉm Sơn
thực sự là một khu công nghiệp đầu đàn trong ngành xây dựng ở Việt
Nam và nhà máy đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình ở thời kỳ cơ chế
bao cấp.
Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ chuyển đổi từ cơ chế quan liêu bao
cấp sang hạch toán kinh doanh từ năm 1991 đến nay, Công ty xi măng
Bỉm Sơn lại một lần nữa đi tiên phong trong việc thể nghiệm hạch toán
sản xuất kinh doanh, độc lập tự chủ trong việc sản xuất vật liệu xây dựng.
Những năm 1991 - 1992 khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông âu tan
rã, các chuyên gia Liên Xô rút về nước, nhà máy gặp muôn vàn khó khăn
về trang thiết bị, dây chuyền, chuyên gia kỹ thuật … Đây là giai đoạn đầy
thử thách gay go của nhà máy. Trước thực trạng đó cán bộ công nhân nhà
máy Công ty xi măng Bỉm Sơn lại từng bước tháo gỡ khó khăn, vượt qua
thử thách trong sản xuất vững vàng bằng đôi chân công nghiệp của mình
trong cơ chế thị trường và đã hoàn toàn làm chủ trong việc sản xuất kinh
doanh, đưa Công ty tiến vào thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước.
Hơn 20 năm qua, Công ty xi măng Bỉm Sơn với những thành tựu đạt
được, đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng danh hiệu như: Huân
chương lao động hạng hai năm 1989, Bộ XD tặng cờ Đơn vị xuất sắc năm
1999 … và nhiều huy hiệu cao quý khác.
Công ty xi măng Bỉm Sơn với những thành tựu đạt được trong hơn
20 năm qua đã chứng minh đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà
nước, vai trò to lớn của cán bộ công nhân Công ty. Đồng thời còn thể hiện
sức mạnh, sự trưởng thành vững vàng của Công ty trong cơ chế thị trường.
Hơn nữa những thành tựu, những kết quả vê kinh tế - xã hội mà Công ty
đạt được đã và đang là tiền đề cho sự hội nhập kinh tế của cả nước nói
chung và Công ty nói riêng trong khu vực ASEAN và các nước trên thế
giới.
Cơ cấu tổ chức của công ty
II. Thực trạng đầu tư và khả năng cạnh tranh của Công ty xi
măng Bỉm Sơn.
1. Thực trạng đầu tư của Công ty xi măng Bỉm Sơn.
1.1. Giai đoạn 1982 đến 1995.
Với chủ trương xây dựng Công ty xi măng Bỉm Sơn của Đảng và
Nhà nước thì công việc tiến hành đầu tư sửa chữa, xây dựng lại, … được
Công ty tiến hành một cách thường xuyên, cũng trong giai đoạn này thì
Công ty xi măng Bỉm Sơn không hề có đầu tư chiều sâu hay đầu tư mở
rộng quy mô sẩn xuất.
Đối với kế hoạch đầu tư hàng năm của Công ty thì được chia làm ba
bộ phận như sau:
- Đầu tư cho xây lắp
- Đầu tư mua sắm thiết bị
- Đầu tư cho chi phí khác.
Trong giai đoạn này công việc lập kế hoạch và quản lý đầu tư là do
ban kiến thiết của Công ty đảm nhiệm. Trải qua thời gian dài khi xoá bỏ
cơ chế quan liêu bao cấp và trước tình hình mới thì ban kiến thiết không
còn phát huy được chức năng của mình vì vậy dẫn đến giải tán ban này,
Cho đến nay, việc thu thập và xử lý những số liệu về đầu tư của
Công ty trong giai đoạn 1982 - 1996 là rất khó khăn do các nguyên nhân
sau:
- Khi giải tán ban kiến thiết thì việc lưu trữ các báo cáo về đầu tư
được tiến hành một cách thiêú thận trọng gây lộn xộn trong kho lưu trữ hồ
sơ.
- Hàng năm Công ty vẫn tiến hành thiêu huỷ những báo cáo theo quy
định của Nhà nước.
- Khi người phụ trách về đầu tư chuyển sang công tác khác thì không
bàn giao lại cho nhân sự mới.
- Số liệu về đầu tư trong giai đoạn này còn thấp nên chưa có sự quan
tâm đúng mức.
1.2. Giai đoạn 1996 - đến nay.
1.2.1 Đầu tư Tài sản cố định
Giai đoạn này được đánh dấu bằng cơn sốt xi măng cuối năm 1995.
Vì vậy Công ty gặp rất nhiều khó khăn trong công tác tiêu thụ. Mặt khác
các thiết bị công nghệ của Công ty đã trải qua 15 năm sản xuất, vận hành
bị hư hỏng nhiều, thiếu thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm và khả
năng cạnh tranh của Công ty trước sự cạnh tranh của xi măng ngoại nhập
và sản phẩm xi măng của liên doanh nước ngoài.
Cụ thể việc thực hiện đầu tư theo các bộ phận của Công ty như sau:
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002
Xây lắp 1840 2100 2345 3650 4638 5280 4315
Mua sắm 1450 1650 1600 2850 4975 32143 3065
thiết bị
Chi phí khác 320 400 400 1727 1100 5290 16236
Tổng số 3610 4150 4345 8236 10713 44282 23643


Tốc độ phát triển định gốc (%)
Năm 1996 97/96 98/96 99/96 2000/96 2001/96 2002/96
Xây lắp 100 114,1 127,4 198,8 252,06 287 234,5
Mua sắm 100 113,8 110,3 196,5 343,1 2216,7 211,3
thiết bị
Chi phí khác 100 125 125 539,7 343,7 1653,1 5082,2
Tổng số 100 114,9 120,36 228,1 296,7 1226,6 655
Nguồn: Công ty xi măng Bỉm Sơn
Qua các bảng trên nhận thấy số vốn đầu tư của Công ty xi măng Bỉm
Sơn qua các năm tăng dần. Số vốn đầu tư của năm 1996 là 3610 triệu
đồng, năm 1997 là 4150, năm 1998 là 4345 triệu đồng, năm 1999 là 8236
triệu đồng, năm 2000 là 10713 triệu đồng, riêng năm 2001 và năm 2002 số
vốn đầu tư của Công ty tăng lên cao là do Công ty tiến hành đầu tư cải tạo
hiện đại hoá dây chuyền. Nhờ vậy mà tốc độ tăng trưởng định gốc vốn đầu
tư năm 1997 so với năm 1996 là 114,9%, năm 1998 là 120,36%, năm
1999 là 228,1%, năm 2000 là 296,7%, không tính năm 2001 và năm 2002.
Tuy nhiên sự tăng lên của vốn đầu tư cho từng bộ phận cũng như tốc độ
phát triển định gốc của các bộ phận xây lắp, mua sắm thiết bị, chi phí khác
lại không đều. Đối với bộ phận xây lắp, năm 1996 số vốn đầu tư là 1840
triệu đồng, năm 1997 là 2100 triệu đồng, năm 1998 là 2345 triệu đồng,
năm 2000 là 4638 triệu đồng, năm 2001 là 5280 triệu đồng và năm 2002
kế hoạch vốn đầu tư cho xây lắp giảm xuống còn 4315 triệu đồng. Như
vậy, có thể thấy đối với công tác xây lắp số vốn hàng năm tăng lên một
cách đều đặn, từ đó dẫn đến tốc độ phát triển định gốc cũng tăng lên dần
năm 1997 là 114,1%, năm 1998 là 127,4%, năm 1999 là 198,8% năm
2000 là 252,06%. Từ đó cho thấy quy mô vốn đầu tư cho công tác xây lắp
được chú trọng và quan tâm thích đáng.
Đối với bộ phận mua sắm thiết bị, qua bảng biểu trên ta thấy quy mô
vốn đầu tư cho các năm là không đồng đều. Số vốn đầu tư của năm 1996
là 1450 triệu đồng, năm 1997 tăng lên là 1650 triệu đồng, nhưng đối với
năm 1998 lại giảm xuống còn là 1600 triệu đồng, và các năm tiếp theo bị
tăng lên năm 1999 là 2850 triệu đồng, năm 2000 là 4975 triệu đồng, năm
2001 lại tăng lên 32143 là do Công ty tiến hành hiện đại hoá dây chuyền
sản xuất, năm 2002 kế hoạch là 3065. Do vậy mà tốc độ phát triển định
gốc của công tác mua sắm thiết bị không đồng đều. Năm 1997 là 113,8%,
năm 1998 là 110,3%, năm 1999 là 196,5%, năm 2000 là 343,1%, và năm
2002 là 211,3. Điều này cho thấy Công ty đang từng bước thay thế máy
móc thiết bị theo từng thời kỳ để tăng chất lượng sản phẩm và khả năng
cạnh tranh của Công ty.
Đối với bộ phận chi phí khác như các chi phí nghiên cứu khả thi, chi
phí đấu thầu, chi phí thẩm định … cũng tăng lên làm đáp ứng cho việc lựa
chọn và cho phép Công ty khẳng định các quyết định là chính đáng phù
hợp với từng giai đoạn, riêng kế hoạch chi phí khác của năm 2002 có sự
tăng lớn về quy mô điều này bởi lẽ trong năm 2002 một phần cải tạo dây
chuyền sản xuất số 2 và tiếp tục chuẩn bị các chi phí cho việc cải tạo dây
chuyền số 1.
Đánh giá tốc độ phát triển định gốc của vốn đầu tư hằng năm cũng
như từng bộ phận của Công ty thì chưa đủ, để nhận biết sự tăng lên hằng
năm của vốn đầu tư và của các bộ phận xây lắp, mua sắm thiết bị, chi phí
khác thì cần phải nghiên cứu tốc độ phát triển liên hoàn. Điều này được
thể hiện ở biểu sau:
Đơn vị tính: %
Năm 1996 97/96 98/97 99/98 2000/99 2001/00 2002/01
Xây lắp 100 114,1 111,6 156,03 126,7 113,8 81,7
Mua sắm thiết 100 113,8 97 178,1 174,6 646,1 9,5
bị
Chi phí khác 100 125 100 431,7 288,07 106,33 307,4
Tổng số 100 115 104,6 189,5 130,07 413,3 53,4
Nguồn: Công ty xi măng Bỉm Sơn.
Qua bảng biểu ta thấy: Tốc độ phát triển liên hoàn của các năm đều
tăng so với năm trước nhưng không đều và trong các bộ phận cũng có sự
tăng lên, riêng bộ phận mua sắm thiết bị có sự tăng vọt năm 2001 là dự án
cải tạo hiện đại hoá dây chuyền. Điều này cho thấy, việc đầu tư được tiến
hành liên tục phù hợp với từng thời điểm, thời kỳ để nâng cao khả năng
cạnh tranh của Công ty.
1.2.2. Đầu tư vào lao động ở Công ty
Cùng với công việc xây dựng Công ty Xi măng Bỉm Sơn, là việc
xây dựng, tổ chức đào tạo một đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật nhằm
vận hành các dây chuyền sản xuất.
Năm 1976, phương hướng lao động của Công ty là xin lực lượng
cán bộ, công nhân kỹ thuật từ các nơi khác về, đồng thời tự lo việc tuyển
dụng, tổ chức đào tạo bộ máy cán bộ, công nhân kỹ thuật cho Công ty.
Được sự giúp đỡ của bộ xây dựng và các nhà máy sản xuất vật liệu
khác, Công ty xi măng đã tiếp nhận một số cán bọ kỹ sư công nhân kỹ
thuật lành nghề ở các nhà máy; Xi măng Hải Phòng, gang thép Thái
Nguyên….. số còn lại là do Công ty chịu tráhc nhiệm tổ chức tay nghề;
Xây dựng lấy lực lượng công nhân do chính mình. Cơ sở đào tạo các công
nhân cho Công ty là trường công nhân kỹ thuật đó của ngành xi măng.
Những công nhân có trình độ sau khi học ra trường là bậc 2/7.
Sau khi vào sản xuất, Công ty tiếp tục nâng cao đội ngũ lao động
của mình bằng cách cử cán bộ công nhân đi thực tập tay nghề ở Liên Xô
với thời gian 6 - 9 tháng. Sau khi hoàn thành nâng cao tay nghề, các đối
tượng này đã nhanh chóng tiếp cận kỹ thuật vận hành thành thạo máy
móc, nắm vững quy trình công nghệ máy móc.
Hàng năm Công ty vẫn tiếp tục đầu tư đào tạo bổ sung lực lượng
lao động bằng các hình thức như kèm cặp tại chỗ, mở các lớp học bồi
dưỡng tay nghề tại Công ty, do các giáo viên Việt Nam và chuyên gia
Liên Xô giảng dạy, đã nhanh chóng được triển khai và đem lại hiệu quả
cao, bình quân tay nghề bậc thoạ của công nhân đạt yêu cầu của sản xuất
Xi măng là bậc 4/7.
Bên cạnh việc mở các lớp dạy nghề nâng cao trình độ kỹ thuật
chuyên môn Công ty còn chú ý mở các khoá học đào tạo về quản lý kinh
tế, điều hành sản xuất ….
Nhờ có việc đầu tư cho nhân lực như vậy nên Công ty có đội ngũ
lao động vững vàng về mọi mặt .
Điều này có thể thấy qua bảng sau:
Năm 1980 1985 1990 1995 2000
Tổng số 907 2779 2781 3351 2864
Đạihọc 79 180 179 237 2280
Trung cấp, cao đẳng 69 209 202 262 270
Công nhân kỹ thuật 657 1339 1681 1823 2366
Nguồn: Công ty Xi măng Bỉm Sơn
Hiện tại số vốn đầu tư về nguồn nhân lực của Công ty rất khó khai
thác do nhiều nguyên nhân mặc dù Công ty vẫn có quỹ để đào tạo nhân
lực.
ở Công ty là không thực hiện được cho nên em chỉ đánh giá về
phương pháp (các hướng) đầu tư lao động ở Công ty.
1.2.3. Đầu tư tài sản vô hình khác
Đầu tư tài sản vô hình khác bao gồm đầu tư nghiên cứu và triển
khai, đầu tư nghiên cứu thị trường, đầu tư vào bí quyết công nghệ
* Đầu tư nghiên cứu và phát triển:
Kể từ khi đưa vào sản xuất cho đến nay hầu như việc đầu tư nghiên
cứu và triển khai ở Công ty mang hình thức là đưa ra những sáng kiến kỹ
thuật của các tập thể cá nhân, cán bộ, công nhân viên trong Cy chứ ch ưa
có một chương trình cụ thể.
Với nhứng sáng kiến kỹ thuật này, thì hiệu quả đem lại cho Công
ty là giảm chi phí sản xuất, ô nhiễm môi trường độc hại cho người kinh
doanh, tiết kiệm tiền cho Nhà nước và Công ty
Hàng năm Công ty vẫn phát động các phong trào nghiên cứu khoa
học áp dụng trong sản xuất kinh doanh và có các hình thức khen thưởng
để khuyến khích tập thể, cá nhân trong Công ty nghiên cứu
* Đầu tư nghiên cứu thị trường:
Là một đơn vị thành viên của Tổng Công ty xi măng vn cho nên
Công ty Xi măng Bỉm Sơn cịu sự chỉ đạo, kiểm soát của Công ty. Tổng
Công ty xi măng Việt Nam hiện có 6 Công ty, vì vậy thị trường tiêu thụ do
Tổng Công ty Việt Nam chia thị phần dẫn đến công tác nghiên cứu thị
trường ở Công ty là kém, cho đến những năm gần đây khi có các doanh
nghiệp sản xuất xi măng nhập khẩu từ nước ngoài thì tmới đẩy mạnh viên
nghiên cứu thị trường tiêu thụ.
Hàng năm Công ty chi cho việc nghiên cứu thị trường khoảng 5%
tổng chi phí
1.2.4. Đầu tư vào hàng dự trữ:
Hàng dự trữ: gồm có vật tư, nguyên vật liệu, hàng tồn kho… chưa
sử dụng hoặc chưa tiêu thụ, hiện nay ở Công ty vẫn tiến hành đầu tư dự
trữ những thứ trên theo tháng để đảm bảo cho sản xuất và tiêu thụ. Tuy
nhiên, số liệu cụ thể về đầu tư hàng dự trữ của Công ty là rất khó thu nhập.
Nhưng chúng ta có thể thấy rằng với thực trạng công nghệ hiện nay, thì
mức tiêu hao vật tư của Công ty cao hơn nhiều so với những cơ sở có công
nghệ hiện đại. Do vậy cần có giải pháp thích hợp là đổi mới công nghệ ở
Công ty.
1.3. Tình hình thực hiện dự án đầu tư cải tạo hiện đại hoá dây chuyền
sản xuất của Công ty.
Căn cứ vào nhu cầu xi măng của đất nước, thị trường xi măng và khả
năng của Công ty xi măng Bỉm Sơn. Ngày 32 tháng 3 năm 1994 tại quyết
định số 124 TTg, Chính phủ đã phê duyệt chủ trương đầu tư cải tạo hiện
đại hoá các dây chuyền, sản xuất của Công ty xi măng Bỉm Sơn, chuyển
đổi phương pháp sản xuất từ ướt sang khô nhằm nâng cao chất lượng sản
phẩm xi măng nâng công suất của nhà máy từ 1,2 triệu tấn/năm lên 1,8
triệu tấn xi măng/năm. Như vậy thiết bị dây chuyền sản xuất của Công ty
sẽ là thiết bị hiện đại tiên tiến trên thế giới. Trang bị đồng bộ hệ thống tự
động hoá phòng điều khiển trung tâm, trang bị hệ thống lọc bụi, bao che
lại kho tàng, đảm bảo tốt các yếu tố môi trường nhưng mãi cho đến quý IV
năm 2000 thì dự án mới được chính thức thực hiện và trước khi tiến hành
dự án này Công ty cũng đưa ra những dự kiến như sau:




Dây Dây Dây Tổng sản
chuyền chuyền 2 chuyền lượng
1 (Triệu (Triệu mới (Triệu (Triệu
tấn/năm tấn/năm) tấn/năm) tấn/năm)
)
Dự kiến I
- Hiện tại 0,6 0,6 1,2
- Cải tạo dây chuyền 2
0,6 1,8
Dự kiến II
- P.A1. Cải tạo tiếp dây 0,6 1,8 2,4
chuyền 2
P.A2. Cải tạo tiếp dây 1,2 1,2 2,4
chuyền 1
Dự kiến III
- Xây dựng mới 0,6 1,2 1,2 - 1,4 3,0 - 3,2
- Cải tạo dây chuyền 1
và xây dựng mới 1,2 1,2 1,2 - 1,4 3,6 - 3,8


Dự kiến I: - Phương án cải tạo mở rộng sẽ được khởi công vào quý
IV/2000 và hoàn thành vào cuối năm 2002, sản lượng chung 1,8 triệu
tấn/năm.
Dự kiến II: - Khả năng cải tạo tiếp dây chuyền sản xuất 2 để nâng
cao sản lượng dây chuyền này lên 1,8 triệu tấn/năm là không thể thực hiện
được vì vấn đề nền móng công trình, do vậy dự kiến này bỏ.
- Phương án 2 tiếp tục cải tạo dây chuyền sản xuất nâng sản lượng
chung lên 2,4 triệu tấn/năm.
Dự kiến III:
- Để dây chuyền sản xuất số 1 (phương pháp ướt) hoạt động đến khi
hết khả năng khai thác.
- Xây thêm một dây chuyền để sản lượng chung: 3-3,2 triệu tấn/năm
hoặc: cải tạo dây chuyền số 1 có sản lượng 1,2 triệu tấn/năm để 2 dây
chuyền sau cải tạo có sản lượng 2,4 triệu tấn/năm và xây thêm một dây
chuyền có sản lượng 1,2 - 1,4 triệu tấn/năm. Khi đó sản lượng chung của
Công ty sẽ là 3,6 - 3,8 triệu tấn/năm.
Như vậy về phương án đầu tư Công ty có thể lựa chọn là:
- Phương án 1: Tiếp tục cải tạo dây chuyền 1 để có tổng sản lượng
2,4 triệu tấn/năm.
- Phương án 1: Để như dự án hiện nay, xây thêm một cơ sở mới để
có tổng sản lượng là 0,3 - 3,2 triệu tấn/năm.
- Phương án 1: Cải tạo 2 dây chuyền cũ, xây thêm 1 dây chuyền mới,
sản lượng sẽ là 3,6 triệu tấn/năm  3,8 triệu tấn/năm.
Việc lựa chọn này Công ty cũng đưa ra những ưu, nhược điểm như
sau:
Đối với phương án 1: Sau khi cải tạo dây chuyền sản xuất 2, tiến
hành ngay việc cải tạo dây chuyền số 1, nâng sản lượng nhà máy lên 2,4
triệu tấn/năm thời gian hoàn thành năm 2005.
Ưu điểm:
- Nhanh chóng khắc phục những tồn tại và nhược điểm do 2 phương
pháp công nghệ sinh ra.
- Những gì phải đầu tư để hai dây chuyền sản xuất hoạt động ổn định
bình thường, thì chọn luôn được giải pháp, thiết bị cho phù hợp với năng
lực sản xuất 2,4 triệu tấn/năm.
- Giá thành sản phẩm chung hạ, phù hợp với thời điểm hội nhập thị
trường khu vực (2006).
- Giải quyết tương đối triệt để vấn đề môi trường lao động và môi
trường khu vực, một vấn đề mà ngày một tăng cường sự kiểm tra, kiểm
soát theo luật định.
Nhược điểm:
- Thời gian không ổn định trong sản xuất kéo dài từ 5 - 6 năm vì vừa
sản xuất vừa cải tạo, phát sinh nhiều khó khăn cho việc quản lý.
- Giải quyết chưa kịp số lao động dôi dư. Công tác đào tạo lực lượng
lao động kỹ thuật.
* Phương án 2: Để nguyên hiệu trạng sau khi cải tạo dây chuyền 2,
xây dựng một dây chuyền mới, hiện đại bên cạnh hai dây chuyền cũ. Sản
lượng sản phẩm sẽ là 3 triệu tấn/năm thời gian hoàn thành vào năm 2006 -
2008.
Ưu điểm:
- Có một dây chuyền hiện đại, đạt các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật ở mức
tiên tiến.
- ảnh hưởng ít đến hoạt động sản xuất của 2 dây chuyền hiện có.
- Số lao động được đào tạo lại để sử dụng dây chuyền mới, lực lượng
lao động dôi dư ít.
Nhược điểm:
- Những bất cập trong việc điều hành quản lý và kiểm soát quá trình
không được giải quyết, tồn tại đến khi dây chuyền 1 (phương pháp ướt)
không khai thác được nữa. Vấn đề môi trường không được giải quyết triệt
để. Hiệu quả chung không cao.
* Đối với phương án 3: Sau khi cải tạo dây chuyền 2, cải tạo luôn
dây chuyền 1. Khi hoạt động của 2 dây chuyền này ổn định thì tiến hành
xây dựng dây chuyền mới với các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật hiện đại, sản
lượng sản phẩm sẽ là 3,6  3,8 triệu tấn/năm. Thời gian hoàn thành trước
năm 2010.
- Có một lượng sản phẩm dồi dào, góp phần thoả mãn nhu cầu của xã
hội, có một cơ sở sản xuất tương xứng với khu công nghiệp vật liệu xây
dựng và với các cơ sở sản xuất xi măng lớn ở khu vực
- Hoà đồng với 2 dây chuyền cải tạo, đạt các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật
tiên tiến, đủ tiêu chuẩn của thời kỳ hội nhập khu vực.
- Giải quyết về cơ bản công ăn việc làm cho số lao động hiện có (tất
nhiên là phải đầu tư đào tạo lại, sắp xếp lại).
- Giải quyết triệt để vấn đề môi trường lao động, môi trường khu
vực.
Nhược điểm:
- Vấn đề vận tải sản phẩm đầu ra.
- Vấn đề hoàn trả vốn đầu tư.
Qua những ưu, nhược điểm của mỗi phương án thì trình tự được
Công ty tiến hành như sau:
Một là: Trong khi thực hiện dự án cải tạo dây chuyền sản xuất day
chuyền 2, tiến hành đầu tư chiều sâu đê khi hoàn thành dự án, dây chuyền
2 có thể hoạt động và phát huy ngay những ưu thế về sản lượng và chất
lượng sản phẩm.
Hai là: Tiến hành các thủ tục và các bước công việc để tiếp tục cải
tạo dây chuyền 1, chuyển sang sản xuất theo phương pháp khô và nâng
sản lượng cả 2 dây chuyền lên 2,4 triệu tấn/năm. Thời gian hoàn thành
thích hợp nhất là trước khi hiệp ước AFTA có hiệu lực đối với Việt Nam
(2006).
Ba là: Vì nhu cầu thị trường còn rất lớn, nếu các điều kiện khách
quan thuận lợi, tiến hành xây dựng một dây chuyền hiện đại vừa đảm bảo
được các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật chung của cả Công ty đạt mức tiên tiến,
vừa nâng cao sức cạnh tranh chất lượng sản phẩm và giải quyết công ăn
việc làm cho người lao động. Thời gian hoàn thành trước 2010.
Trên đây là những phương án đầu tư của Công ty đưa ra và đang
được thực hiện.
Một yếu tố quyết định đầu tư là vốn và việc tính toán các chỉ tiêu tài
chính trước khi đầu tư của Công ty được xem xét như sau:
Theo kết quả kiểm kê và đánh giá lại tài sản cố định của Công ty thì
tổng giá trị đến cuối năm 2000 ước còn: 100 tỷ VND trong đó: Gồm trang
thiết bị và công trình kiến trúc.
Thực hiện dự án đầu tư cải tạo và mở rộng nhằm nâng cao chất lượng
sản phẩm và sức cạnh tranh của Công ty thì số vốn đầu tư cần là khoảng
hơn 75 triệu USD tức khoảng gần 1.100 tỷ đồng.
Và việc nâng cao chất lượng sản phẩm đồng bộ hoá công trình cần
phải đầu tư khoảng 25 triệu USD tương đương với 444 tỷ đồng.
Như vậy, tổng vốn đầu tư cho dự án khoảng 1500 tỷ USD, tương
đương 107,4 triệu USD.
Suất đầu tư 2,5 triệu VND/tấn tương đương 179 USD/tấn.
Nếu thực hiện cải tạo dây chuyền 2 xong, tiếp đến cải tạo dây chuyền
1 và để dây chuyền 2 phát huy được tác dụng, tiến hành đồng bộ hoá
những công trình cần thiết đồng thời với khi thi công dự án dây chuyền 2
nhưng phải đảm bảo phù hợp với yêu cầu khi cải tạo dây chuyền 1 thì nhu
cầu vốn cho cả đồng bộ, hiện đại hoá là:
Ước vốn đầu tư cho cả 2 giai đoạn là 167.700 triệu USD tương
đương 2.347,8 tỷ VND suất đầu tư là 140 USD/tấn, tương đương 1,9 triệu
VND/tấn.
Khi huy động được vốn, vì có thị trường tiếp tục đầu tư 1 dây chuyền
mới, hiện đại thì nhu cầu vốn chỉ là 150 triệu USD vì không phải đầu tư cơ
sở hạ tầng.
Nguồn vốn đầu tư để thực hiện các dự án trên được Công ty xác định
như sau:
- Vốn vay nước ngoài: Tính theo giá trị hợp đồng cung cáp máy móc
thiết bị và công nghệ dự kiến khoảng 60% số vốn đầu tư. Lãi suất dự tính
là 7,5%năm trong đó có tất cả các khoản phụ phí. Thanh toán lãi vay, phí
và gốc mỗi năm 1 lần vào tháng 12 của năm.
- Vốn vay trong nước:
+ Vay bằng ngoại tệ: Dự tính khoảng 25% tổng số vốn đầu tư với lãi
suất là 7%/năm.
+ Vay bằng nội tệ: Dự tính khoảng 15% tổng số vốn đầu tư với lãi
suất vay là 42%/năm.
+ Vay ưu đãi: Lãi suất vay là 9,72%/năm.
- Ngoài ra Công ty còn huy động các nguồn vốn tập trung của Tổng
Công ty xi măng Việt Nam và vốn của các Công ty thành viên.
2. Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty xi măng
Bỉm Sơn.
2.1. Kết quả sản xuất kinh doanh.
* Giai đoanh 1986 - 1990.
Từ năm 1986 – 1990; đây là giai đoạn Công ty xi măng Bỉm Sơn
chuyển dần từ cơ chế quản lý quản lý cũ, sang cơ chế hạch toán kinh tế xã
hội chủ nghĩa, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI mà tinh
thần cơ bản là đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế. Đây cũng là thời kỳ
thực hiện Nghị quyết 306 của Bộ Chính Trị và Quyết định 76 của Hội
Đồng Bộ Trưởng, cho phép các cơ sở xây dựng và triển khai cơ chế quản
lý mới, theo hướng hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Nhiều chủ
trương chính sách về quản lý, hạch toán kinh doanh theo cơ chế mới đối
với doanh nghiệp nhà nước được Trung ương thử nghiệm tại Công ty xi
măng Bỉm Sơn trước khi ban hành thực hiện trong cả nước. Những thành
công và bài học kinh nghiệm của giai đoạn đầu trong sản xuất, đã nâng
cao một bước năng lực quản lý điều hành, tổ chức lao động sản xuất của
công ty. Đội ngũ cán bộ công nhân kkỹ thuật đã tiếp thu, làm chủ thiết bị
công nghệ, vận hành máy móc ttrong dây chuyền sản xuất. Đồng thời thay
thế và đảm nhiệm hoàn toàn việc vận hành dây chuyền sản xuất thay cho
chuyên gia Liên xô rút về nước.
Đối với công ty thì đây cũng là thời kỳ phải vượt qua những thử thách
khó khăn như : các dây chuyền thiếu nguyên vật liệu, thiếu điện năng sản
xuất, ý thức tổ chức kỷ luật của công nhân còn lỏng lẻo, tâm lý bao cấp
còn nặng trong một số cán bộ, công nhân viên. Công tác tổ chức bộ máy
cán bộ còn nhiều bất cập chưa phù hợp với cơ chế mới.
Bước đầu chuyển đổi kinh tế, Công ty đã có những tác động nhất
định và kết quả sản xuất và tiêu thụ của các năm như sau:
Đơn vị tính: Tấn
Năm 1986 1987 1988 1989 1990
Sản lượng sản 489.122 651.279 721.669 820.684 1.042.774
phẩm tiêu thụ
Doanh 731,1 3963,3 13104 119760,3 213177,8
thu(triệu
đồng)
Nguồn: Công ty xi măng Bỉm Sơn
Qua bảng biểu trên ta thấy: Kết quả sản xuất và tiêu thụ trong năm
1986 là 489.122 tấn xi măng đạt 101,6% kế hoạch Nhà nước giao, tăng
13,63% sản lượng so với năm 1985.Doanh thu là 731,3 triệu đồng
Năm 1987 là năm đầu tiên Công ty đi vào hoạt động với cơ chế hạch
toán kinh doanh. Để đạt được kết quả tốt thì Công ty đã đề ra các biện
pháp nhằm quản lý và tiết kiệm điện năng, nâng cao năng suất máy móc
thiết bị và năng suất lao động …
Thực hiện quản lý theo cơ chế mới, tuy còn gặp nhiều khó khăn
nhưng năm 1987, Công ty đã sản xuất và tiêu thụ là 651.279 tấn xi măng,
tăng 14,4% so với năm 1986 và doanh thu đạt 3963,3 triệu đồng
Kết quả của Công ty trong năm 1987 bước đầu đã khẳng định chứng
minh cho sự đúng đắn của việc hạch toán theo cơ chế quản lý mới.
Tình hình quản lý sản xuất của Công ty bước sang năm 1988 có
những thuận lợi cơ bản đó là lần đầu tiên Công ty chính thức thực hiện
quyết định 217/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng. Quyết định này cho phép
lãnh đạo công nhân chủ động quyết định toàn bộ hoạt động của Công ty.
Vì vậy kết quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của Công ty tăng lên rõ rệt.
Kết quả năm 1988 là 721.669 tấn xi măng tăng 10,8% so với năm 1987 và
doanh thu năm 1988 là 13104 triệu đồng.
Những thắng lợi của nhà máy trong năm 1988 là cơ bản và có ý
nghĩa quan trọng đã mở ra thời kỳ mới đầy hứa hẹn với Công ty.
Bước sang năm 1989, kế hoạch sản xuất của Công ty là 750.000 tấn
xi măng nhưng những tháng đầu năm đã gây ảnh hưởng đến quá trình sản
xuất của các Công ty. Trước tình hình như vậy cán bộ công nhân viên
vượt qua thử thách của cơ chế quản lý kinh doanh và nâng cao kỷ luật lao
động, nâng cao ý thức trách nhiệm nhằm thực hiện kế hoạch sản xuất đề
ra.
Kết quả năm 1989 tổng sản lượng xi măng của Công ty đạt con số
đáng tự hào 820.684 tấn trong khi chỉ tiêu kế hoạch là 750.000 tấn vượt
chỉ tiêu kế hoạch hơn một trăm ngàn tấn.
Những kết quả năm 1989 là sự nỗ lực, cố gắng, lao động bền bỉ của
lãnh đạo cán bộ công nhân Công ty. Với những kết quả này, đã mở ra một
thời kỳ mới cho nhà máy xi măng Bỉm Sơn, thời kỳ vững vàng tự chủ
trong sản xuất hoàn thành nhiệm vụ của Nhà nước, đặt tiền đề cho sản
xuất của Công ty trong năm 1990 và những năm tiếp sau đó.
Phát huy truyền thống thi đua lao động sản xuất vượt lên những khó
khăn, năm 1990 Công ty xi măng Bỉm Sơn tiếp tục hoàn thành chỉ tiêu đề
ra sản lượng xi măng sản xuất và tiêu thụ là 1.042.774 tấn tăng 27,06% so
với sản lượng của năm 1989 và doanh thu là 213 177,8 triệu đồng.
* Giai đoạn 1991 - 1995:
Mục tiêu sản xuất kinh doanh của Công ty trong giai đoạn này, đã
được cán bộ công nhân viên xác định và nhận thức đúng đắn các chính
sách, nghị quyết … Đây còn là thời kỳ chịu tách động khủng hoảng chính
trị ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô.
Với ý chí tự lực tự cường và các giải pháp xử lý kỹ thuật, nhằm tăng
sản lượng, đảm bảo chất lượng sản phẩm đặc biệt được chú ý. Công ty
thường xuyên coi trọng đổi mới quy chế quản lý sản xuất nhằm làm cho
sản xuất kinh doanh được năng động. Đồng thời dự báo được tình huống
bất thường trong sản xuất, kinh doanh. Có biện pháp linh hoạt, kịp thời xử
lý những vấn đề phát sinh của cơ chế thị trường như giá cả và sản phẩm xi
măng, việc cung cấp than, thạch cao ... Đó là quá trình vận động đấu tranh
để tự đổi mới trong sản xuất kinh doanh thể hiện ý thức tự giác, chủ động,
có trách nhiệm với sản phẩm. Hơn nữa đã góp phần đẩy lùi những yếu tố
đầu vào và đầu ra của Công ty trên cơ sở tính toán có hiệu quả.
Đi đôi với những việc trên, từng bước Công ty chủ trương rà soát sắp
xếp lại tổ chức bộ máy và bố trí lại đội ngũ cán bộ quản lý, tổ chức bộ
phận chuyên trách, chỉ đạo các biện pháp quản lý, sử dụng các định mức
vật tư kỹ thuật, từng bước tiến hành hạch toán kinh tế, nhằm khuyến khích
sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lượng. Ngoài ra, với các chuyên
đề hội thảo, xây dựng quy chế … đã làm cho mọi người thấy rõ mục đích,
lợi ích của họ. Đây là khâu quan trọng và cũng là động lực thúc đẩy sản
xuất. Việc sửa đổi bổ sung xây dựng quy chế phân phối tiền lương, tiền
thưởng góp phần khích lệ mọi người hăng hái lao động hoàn thành tốt
công việc được giao.
Kết quả sản xuất của Công ty được thể hiện ở bảng sau:
Đơn vị tính: Tấn
Năm 1991 1992 1993 1994 1995
Sản lượng 1.012.390 1.070.734 1.219.679 1.285.043 1.254.143
sản phẩm
tiêu thụ
Doanh thu 327.432,1 480.592,9 664.702,6 751.159,2 1.018.813,
(Triệu đồng) 4
Nguồn: Công ty xi măng Bỉm Sơn
Qua các bảng trên ta thấy, năm 1991 Công ty đã sản xuất và tiêu thụ
đạt 1.012.390 tấn sản phẩm, đạt mức doanh thu là327.432,1triệu đồng.
Như vậy so với năm 1990 là sản lượng sản phẩm có giảm đi 3% như với
sản lượng sản phẩm như vậy phản ánh đúng thời điểm bấy giờ.
Năm 1992 toàn Công ty đã sản xuất và tiêu thụ được 1.070.734 tấn
tăng 5,8% sản lượng so với năm 1991, doanh thu của công ty là
4480.592,9 triệu đồng.
Với những năm tiếp theo sản phẩm sản xuất và tiêu thu của Công ty
đều tăng và vượt công suất thiết kế.
Năm 1993 sản xuất và tiêu thụ 1.219.679 tấn xi măng bằng 116% kế
hoạch và tăng 5,3% sản lượng so với năm 1992,doanh thu đạt 664.702,4
triệu đồng.
Năm 1994 sản xuất và tiêu thụ 1.285.403 tấn xi măng và doanh thu
đạt 75.159,2 triệu đồng.
Năm 1995 Công ty sản xuất và tiêu thụ đạt 1.254.143 tấn xi măng
bằng 100,2% kế hoạch, và doanh thu năm 1995 là 1.018.813,4 triệu đồng.
Như vậy sản lượng giảm so với năm 1994 là 2,5% do nguyên nhân cung
về xi măng trên thị trường tăng trong khi đó cầu xi măng lại giảm, giá xi
măng biến động liên tục có xu hướng giảm và nhập khẩu xi măng lại
nhiều.
Giai đoạn 1991 - 1995 mà đỉnh cao là năm 1994 đã đánh dấu bước
phát triển toàn diện của Công ty xi măng Bỉm Sơn kể từ khi thành lập.
Trải qua khó khăn, thử thách với những bước thăng trầm của thời gian,
càng khẳng định sức mạnh tổng hợp của sự đoàn kết thống nhất, ý thức tự
chủ, tự cường trong mỗi người thợ xi măng cùng tập thể cán bộ công
nhân viên đã vượt lên chính mình làm chủ được dây chuyền sản xuất, sản
lượng đã và vượt công suất thiết kế, chất lượng sản phẩm được thị trường
trong và ngoài nước tin dùng.
Không chỉ vậy, việc thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách cũng được
Công ty thực hiện một cách đầy đủ được thể hiện ở bảng sau:
Đơn vị tính: Tỷ đồng.
Năm 1991 1992 1993 1994 1995
Nộp ngân 63,82 139,28 173,73 225,71 190,97
sách
Nguồn: Công ty xi măng Bỉm Sơn
Công ty còn đảm bảo việc làm, đời sống lao động được cải thiện.
* Giai đoạn 1996 - 2000
Bước vào giai đoạn này, năm 1996 toàn ngành xi măng Việt Nam nói
chung và Công ty xi măng Bỉm Sơn nói riêng gặp nhiều khó khăn như thời
tiết diễn biến khắc nhiệt, thiên tai mưa bão nhiều và lớn trên diện rộng ở
cả 3 miền. Hậu quả sau cơn sốt xi măng cuối năm 1995, chuyển giai đoạn
"nóng" sang "lạnh", giá xi măng biến động do có sự cạnh tranh của xi
măng ngoại nhập và sản phẩm xi măng của liên doanh nước ngoài. Nhu
cầu tiêu thụ xi măng trên thị trường rất chậm và thất thường. Mặt khác các
thiết bị công nghệ của nhà máy đã trải qua hơn 15 năm sản xuất, vận hành
hư hỏng nhiều, thiếu thiết bị, phụ tùng thay thế, các chi phí sản xuất tăng
cao … Có thể nói đây là thời kỳ có dấu hiệu chững lại và suy giảm của
Công ty. Nhưng được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, trực tiếp của
Bộ xây dựng, Tổng Công ty xi măng Việt Nam lãnh đạo Công ty đã tổ
chức các hội nghị chuyên đề và mở hội nghị công nhân viên chức, ký kết
thoả ước lao động tập thể và phát động thhi đua, nên đã tạo được khí thế,
quyết tâm cao trong toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty, phấn đấu
hoàn thành kế hoạch ngay trong từng năm. Hàng năm, Công ty đều có
những mục tiêu cụ thể và các biện pháp chỉ đạo thực hiện để phấn đấu
hoàn thành chỉ tiêu sản xuất đã đề ra. Công ty cũng tiến hành bộ máy quản
lý, sắp xếp lại biên chế lao động và bổ sung kịp thời số cán bộ quản lý còn
thiếu của một số phòng, ban, phân xưởng. Đồng thời chỉ đạo việc tổ chức
các lớp học nhằm nâng cao trình độ hiểu biết cho cán bộ công nhân viên
trong Công ty, đáp ứng yêu cầu thực tế trong công tác điều hành sản xuất
kinh doanh. Công ty đã đề ra, xây dựng và ban hành bổ sung các định mức
đơn giá vật tư, lao động tiền lương, phù hợp với tình hình sản xuất ở từng
khâu, từng công đoạn, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sản xuất kinh
doanh khuyến khích phong trào thực hành tiết kiệm, kỷ cương điều hành
sản xuất và kỷ luật lao động, kỷ luật vận hành, sửa chữa thiết bị ngày một
chặt chẽ nề nếp hơn. Nhờ đó mà kết quả sản xuất và tiêu thụ của các năm
tăng. Điều này được thể hiện ở bảng biểu sau:
Đơn vị tính: Tấn
Năm 1996 1997 1998 1999 2000
Sản 1.231.426 1.247.217 1.219.527 1.119.000 1.240.000
lượng
Doanh 1.027.472, 1.020.938 958.239,9 757.945,45
thu (triệu 4
)
Nguồn: Công ty xi măng Bỉm Sơn
Qua bảng biểu trên ta thấy, sản lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ
của Công ty năm 1996 là 1.231.426 tấn bằng 100,08% kế hoạch và bằng
98% so với năm 1995. Như vậy có thể thấy sản lượng năm 1996 giảm so
với năm 1995 là 2% do hậu quả của những cơn sốt xi măng để lại.
Năm 1997, sản lượng sản phẩm của Công ty tăng dần và đạt là
1.247.217 tấn xi măng bằng 108,45% kế hoạch và bằng 101,32% so với
năm 1996.
Bước sang năm 1998, 1999 sản lượng sản phẩm giảm dần do hàng
loạt nhà máy xi măng lò đứng được xây dựng đi vào hoạt động và các
Liên doanh xi măng ra đời nên sản lượng sản phẩm của Công ty năm 1998
là 1.218.527 tấn bằng 98% so với năm 1997 và năm 1999 sản lượng là
1.119.000 tấn bằng 92% so với năm 1998.
Và đến năm 2000 sản lượng của Công ty lại tăng cao với 1.240.000
tấn bằng 110,8% so với năm 1999 và tốc độ tăng sản lượng là 4,5% bằng
116% kế hoạch đề ra.
Và năm 2002, khi dây chuyền 2 đang cải tạo hiện đại hoá thì Công ty
đang phấn đấu sản xuất và tiêu thụ khoảng 1.300.000 tấn xi măng
Với kết quả sản xuất trên hàng năm Công ty thực hiện đầy đủ việc
nộp ngân sách cho Nhà nước thể hiện ở bảng sau:
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Năm 1996 1997 1998 1998 2000 2001
Nộp ngân 148,53 118,92 123,72 86,32 96,15 100,6
sách
Nguồn: Công ty xi măng Bỉm Sơn
Những kết quả đạt được trong 20 năm qua, Công ty xi măng Bỉm
Sơn sẽ chủ động vững vàng bước vào thế kỷ mới, giành những thắng lợi
mới trong sản xuất kinh doanh, trong sự hội nhập với nền kinh tế của khu
vực và kinh tế toàn cầu.
2.1. Hiệu quả đầu tư trong sản xuất kinh doanh.
Việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ cho phép chúng ta
thấy được mức độ đầu tư của Công ty trong quá trình sản xuất. Cũng như
mọi Công ty khác, Công ty xi măng Bỉm Sơn là một doanh nghiệp Nhà
nước vẫn thường xuyên tiến hành đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh
của mình.
Những chỉ tiêu thường được Công ty sử dụng đánh giá hiệu quả sản
xuất kinh doanh đó là: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận
trên vốn, vòng quay vốn lưu động … Trong giới hạn của chuyên đề này,
do khó khăn về việc thu thập số liệu của các năm trước vì vậy, tôi xin đề
cập hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây
cụ thể từ 1996 - 2001:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh được thể hiện ở bảng sau:
Năm 1996 1997 1998 1998 2000 2001
Tỷ suất lợi nhuận trên 4,5 3,4 8,5 10,8 9,7 10,3
doanh thu(%) W/DT
Tỷ suất lợi nhuận trên 9,9 7,2 18,5 21,5 23,4 24,2
vốn (%) W/IV
Vòng quay vốn 2,176 2,115 2,181 1,983 2,443 2,12
lưu động(lần)
Nguồn: Công ty xi măng Bỉm sơn.
Qua bảng biểu cho ta thấy:
Thứ nhất: Về tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu có xu hướng ngày càng
tăng phản ánh lợi nhuận của Công ty đã tăng dần. Tuy nhiên, năm 1996 và
1997 có hơi thấp là do cơn sốt về giá xi măng.
Thứ hai: Tỷ suất lợi nhuận trên vốn, nó phản ánh một đồng sinh ra
bao nhiêu đồng lợi nhuận. Trên bảng biểu tỷ suất lợi nhuận trên vốn ngày
càng tăng điều này có nghĩa là khả năng sinh lời của Công ty lớn do đầu tư
và khả năng thu hồi vốn nhanh.
Vòng quay vốn lưu động tăng, phản ánh quản lý hoạt động tài chính
tốt, tập trung vào mục tiêu sản xuất kinh doanh, không gây ứ đọng về sản
phẩm.
Qua việc đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cho
phép chúng ta khẳng định việc đầu tư của Công ty ngày càng được chú
trọng.
2.3. Kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty sau khi
thực hiện xong các dự án cải tạo dây chuyền sản xuất.
Sau khi kết thúc hoàn thành dự án cải tạo dây chuyền số 2 thì Công
ty xi măng Bỉm Sơn sẽ có sản lượng sản phẩm sẽ sản xuất ra là 1,8 triệu
tấn/năm.
Theo dự tính của Công ty thì bước vào năm 2003 thì hệ số sử dụng
công suất thiết kế sẽ là 80% sau đó là 100%. Vì vậy kết quả sản xuất kinh
doanh dự báo trong những năm tới thể hiện ở bảng biểu sau:
Đơn vị tính: Tấn
Năm 2003 2004 2005 2006 2010
Sản xuất 1.440.000 1.800.000 1.800.000 1.800.000 1.800.000
Sản lượng 1.368.000 1.800.000 1.800.000 1.800.000 1.800.000
tiêu thụ
Nguồn: Công ty xi măng Bỉm Sơn
Như vậy, có thể thấy ngay từ ban đầu Công ty quyết tâm hoàn thành
kế hoạch, phát huy tối đa công suất thiết kế. Kết quat sản xuất kinh doanh
còn thể hiện ở doanh thu và thu nhập sau thuế như sau:
Đơn vị tính: Tỷ
đồng
Năm 2003 2004 2005 2006 2010
Doanh thu 56,5 74,4 74,4 74,4 74,4
Thu nhập hoạt động 16,4 19,7 19,7 19,7 19,7
Nguồn: Công ty xi măng Bỉm Sơn
Còn hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty theo dự đoán được
thể hiện ở bảng sau:
Năm 2003 2004 2005 2006 2010
Lợi tức/ Doanh thu - 0,032 0,005 0,035 0,036 0,066
Lợi tức/ Vốn đầu tư - 0,018 0,004 0,026 0,027 0,049
Nguồn: Công ty xi măng Bỉm sơn.
Như vậy, qua đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của
Công ty trong thời gian tới thì sức cạnh tranh của Công ty sẽ nâng lên,
xứng đáng là một ngành vật liệu xây dựng quan trọng trong thời kỳ công
nghiệp hoá - hiện đại hoá.
3. Xu thế cạnh tranh của sản phẩm xi măng.
Thực chất việc xem xét tác động AFTA (khu vực mậu dịch tự do
ASEAN) đối với các ngành sản xuất vật liệu xây dựng trong nước, là đánh
giá khả năng cạnh tranh của hàng hoá vật liệu xây dựng Việt Nam so với
vật liệu xây dựng của các nước ASEAN khác trên thị trường trong nước,
thị trường ASEAN và thị trường ngoài ASEAN. Khả năng cạnh tranh của
hàng hoá phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là chất
lượng, chủng loại, mẫu mã và giá cả. Việc tham gia AFTA sẽ tác động
trực tiếp mà trước hết tới yếu tố giá cả của hàng hoá, bởi vì với việc cắt
giảm thuế, đơn giản hoá các thủ tục thương mại thì giá hàng hoá nhập
ngoại sẽ hạ thấp hơn, ngành sản xuất trong nước chắc chắn sẽ phải chịu
những sức ép lớn. Tuy nhiên, việc duy trì hay xoá bỏ chính sách bảo hộ
sản xuất nội địa bao giờ cũng có tác động mang tính hai mặt. Nếu bảo hộ
quá lâu và quá cao thì sẽ làm cho các nhà sản xuất ỷ lại và trì trệ, ngược
lại nếu xoá bỏ quá nhanh thì có thể dẫn đến sự thua lỗ, phá sản của sản
xuất trong nước, giao thị trường nội địa cho hàng hoá nước ngoài.
Để đánh giá đúng khả năng cạnh tranh của sản phẩm xi măng Việt
Nam nói chung và xi măng Bỉm Sơn nói riêng trong hội nhập kinh tế khu
vực, chúng ta cần xem xét một số yếu tố liên quan:
Về mặt khách quan: Xi măng Việt Nam trong đó có xi măng Bỉm
Sơn đang có ưu thế hơn hẳn các nước ASEAN là nhu cầu của thị trường
tiêu thụ nội địa rất lớn và đang ngày một gia tăng. Dự báo nhu cầu xi
măng năm 2005 khoảng 24 - 25 triệu tấn, năm 2010 khoảng 35 triệu tấn.
Trong khi đó năng lực sản xuất của toàn ngành xi măng Việt Nam hiện
nay mới đạt 14,5 - 15 triệu tấn/năm, xi măng Bỉm Sơn đóng góp hàng năm
là 1,2 triệu tấn/năm. Điều này có nghĩa là công nghiệp xi măng Việt Nam
mà ở đó có xi măng Bỉm Sơn từ nay đến năm 2010 đang có nhu cầu đầu tư
phát triển rất mạnh. Nếu chương trình đầu tư không được thực hiện kịp
thời thì hàng năm nước ta nhập khẩu một lượng xi măng rất lớn.
Trong bối cảnh các nước ASEAN đang dư thừa năng lực sản xuất xi
măng từ 50 - 70% công suất, cung vượt cầu quá xa, dẫn đến tình trạng xi
măng ế thừa, thì ưu thế của xi măng Việt Nam là cầu lớn nên cung là một
lợi thế.
Tuy nhiên, công nghiệp xi măng Việt Nam nói chung và xi măng
Bỉm Sơn nói riêng cũng đang tồn tại những khó khăn có tính chất khách
quan như: Công nghệ lạc hậu, thiết bị máy móc già cỗi và phần lớn các cơ
sở sản xuất xi măng đều đặt sâu trong nội địa không có cảng nước sâu,
không đảm bảo các điều kiện bảo vệ môi trường … Tất cả điều này làm
giảm khả năng cạnh tranh sản phẩm xi măng.
Về mặt chủ quan, xi măng Bỉm Sơn cần tiếp tục phấn giảm chi phí
đầu vào của sản phẩm, nhằm mục tiêu giảm giá thành sản xuất xuống mức
ngang bằng với xi măng của các nước ASEAN và các đơn vị sản xuất xi
măng trong nước.
Hiện nay, giá thành sản xuất xi măng và clinker (tính bình quân) ở
các nướcs ASEAN như sau: Clinker khoảng 10 - 14 USD/tấn; xi măng
khoảng từ 16 - 20 USD/tấn. Trong khi đó giá thành sản xuất là một trong
những mục tiêu quan trọng nhất cần phấn đấu để nâng cao khả năng cạnh
tranh. Muốn giảm giá thành sản xuất tất nhiên phải giảm mọi chi phí đầu
vào như: chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công, chi phí quản lý …
Về chất lượng sản phẩm: Những năm của thập kỷ 90 chất lượng sản
phẩm của Công ty xi măng Bỉm Sơn là niềm tự hào của những người ngày
đêm chăm lo cho nó, chính vì thế mà đã hình thành câu nói quen thuộc:
"Xi măng Bỉm Sơn là niềm tin của người tiêu dùng, niềm tự hào của
những công trình" Công ty đã được nhận nhiều phần thưởng, danh hiệu từ
chất lượng sản phẩm và đó cũng là thế mạnh cạnh tranh trong giai đoạn
vừa qua, có thể thấy có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên nếu so với chất lượng của
các nước ASEAN như Thái Lan, Indonexia … và một số nước khác thì
Công ty còn phải tiếp tục phấn đấu nhiều hơn nữa.
Một vấn đề khác cần được quan tâm là công tác phân phối lưu thông
bao gồm: Tiếp thị mạng lưới các nhà phân phối, phục vụ sau bán hàng …
Hiện nay chi phí lưu thông bình quân đang còn chiếm từ 10 đến 13% giá
bán xi măng do tổ chức mạng lưới phân phối còn nhiều điều bất hợp lý.
Nếu cải tiến hệ thống phân phối lưu thông chắc chắn Công ty sẽ mở rộng
thị phần tiêu thụ sản phẩm, giảm chi phí và góp phần đáng kể vào việc
nâng cao năng lực cạnh tranh.
Về phần khách quan cũng cần phải nói thêm là giá vật tư đầu vào của
xi măng như điện, than, cước vận chuyển liên tục tăng cũng góp phần
không nhỏ trong việc tăng giá thành sản phẩm xi măng, tỷ giá USD/VND
tiếp tục tăng làm đội giá các vật tư nhập khẩu và tăng đáng kể việc trả nợ
lãi và vốn vay đầu tư cho các đối tác nước ngoài. Tất cả yếu tố trên làm
cho giá thành sản xuất tăng theo trong khi xu hướng giá bán xi măng
không tăng có xu hướng giảm. Từ những phân tích trên chúng ta thấy xu
thế cạnh tranh của các Công ty xi măng có xu hướng mất lợi thế trên thị
trường nội địa nếu không có sự đầu tư một cách hợp lý.
III. Những thành tựu và thách thức trong việc nâng cao chất
lượng sản phẩm và sức cạnh tranh của Công ty.
1- Những thành tựu
Thành tích hơn 20 năm của Công ty xi măng Bỉm Sơn được gắn
liền với các giai đoạn phát triển cụ thể; giai đoạn đi vào sản xuất (1980 -
1985) giai đoạn chuyển đổi sản xuất từ cơ chế cũ sang cơ chế mới (86 -
90) và giai đoạn sản xuất (1991 - 20020.
Hơn 20 năm trưởng thành Công ty xi măng Bỉm Sơn đã góp phần
nâng sản lượng xi măng của nước ta lên một mức đáng kể.
Thành tích sản xuất nhiều năm liên tục Công ty hoàn thành kế
hoạch, sản lượng tăng từ 151. 438 tấn xi măng năm 1982 lên đến 819.000
tấn năm 1989 và lên 1.295.000 tấn xi măng thứ 1.295.000 đã xuất xưởng,
hoàn thành kế hoạch trước thời gian 16 ngày, bằng 116% kế hoạch đề ra,
nộp ngân sách Nhà nước 100,6 tỷ đồng.
Trích từ năm 1982 đến hết năm 2001 Công ty xi măng Bỉm Sơn đã
sản xuất được 15.956.619 tấn xi măng. Năm 2002 kế hoạch sản xuất của
Công ty là 1.300.000 tấn
Nhứng bao xi măng mang nhãn hiệu "Con Voi" có mặt ở nhiều
công trình lớn, như cầu Thăng Long, thuỷ điện Hoà Bình… và đã xuất
khẩu sang nước bạn được đánh giá cao về chất lượng.
Song song với việc nâng cao năng suất lao động Công ty luôn cố
gắng tìm tòi biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm xi măng, và thoả
tmãn thị hiếu người tiêu dùng. Với việc đảm bảo chất lượng sản phẩm
Công ty đã tự khẳng định được mình trên thị trường trong và ngoài nước.
Một sóo khách hàng ở thành phố Hồ Chí Minh, An Giang và cả những bạn
hàng nước Lào đã công nhận xi măng Bỉm Sơn, và được xác thị trường
miền nam, thị trường Lào chấp nhận qua thựuc tế kiểm nghiệm.
Công ty cũng đang cố gắng cải tiến mẫu xi măng và chất lượng vỏ
bao cho phù hợp với yêu caùa của người tiêu thụ
20 năm qua Công ty đã có nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật làm
lợi cho Nhà nước. Công ty đã đầu tư khá nhiều cho việc bổ sung và thực
hiện các quy trình, quy phạm và quy chế việc tuân thủ chặt chẽ quuy trình,
quy phạm là cốt lõi của vấn đề bảo đảm chất lượng. Cũng chính nhờ đó
mà Công ty đã được Nhà nước cấp dấu chất lượng xi măng Mác P300 và
Mác P400.
Công ty đã đạt được những phần thưởng:
- Huân chương lao động hạng ba, năm 1983
- Cơ thưởng luân lưu của HĐBT năm 1984
- Thủ tướng tặng bằng khen năm 1985
- Bộ xây dựng tặng cơ đơn vị xuất sắc năm 1999
- 6 năm liền sản phẩm của Công ty đạt hàng Việt Nam chất lượng
cao 1996 - 2001
- Được cấp chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng ISO 9002
Hai mươi năm qua, Công ty không ngừng nâng cao năng suất, chất
lượng sản phẩm gắn chặt với việc đầu tư về mọi mặt của Công ty
Đây là thành tích tuyệt vời mà Công ty xi măng Bỉm Sơn đạt được,
những thành tự trên đã khẳng định vị thế cạnh tranh lớn mạnh trên thị
trường của Công ty, mở đường cho Công ty Xi măng Bỉm Sơn bước vào
giai đoạn mới đầy hứa hẹn.
Công ty Xi măng Bỉm Sơn như một chàng trai trẻ đang tuổi sung
sức có nhiều triển vọng để phát huy mọi tiềm năng của mình. Với sự hỗ
trợ tích cực của các Bộ, các ngành và sự cố gắng của cán bộ, công nhân
viên Công ty phát huy tính chủ động, sáng tạo khắc phục khó khăn, phấn
đấu xây dựng Công ty xứng đáng là một Công ty sản xuất vật liệu xây
dựng to lớn, có sức cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập
2- Những thách thức trong việc nâng cao chất lượng và sức
cạnh tranh của Công ty
Xi măng là ngành sản xuất quan trọng của công nghiệp vật liệu xây
dựng. Thế nhưng sản xuất và tiêu thụ xi măng vẫn luôn là bài toán khó,
cần có lời giải thích chính xác. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi n ước
ta đang chuẩn bị tham gia khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA). Vì
vậy Công ty xi măng Bỉm Sơn phải đương đầu với những thử thách gay
go, quyết liệt hơn bao giờ hết.
Nếu như trước đây, Công ty xi măng Bỉm Sơn là đơn vị cung cấp
lớn cho thị trường xi măng cả nước thì hiện nay thị phần chỉ còn 10 - 20%.
Nhiều nhà máy xi măng có vốn đầu tư nước ngoài với công nghệ tiên tiến,
thiết vị hiện đại như Nghi Sơn, Chinh Fom, Sao Mai… đã đi vào sản xuất,
các nàh máy xi măng là đóng với thiết bị cũ của Trung Quốc cũng đang
phấn đấu phát huy công suất ở mức cao nhất. Như vậy, Công ty xi măng
Bỉm Sơn phải tiến hành sản xuất kinh doanh trong môi trường cạnh tranh.
Nhưng dù sao đó mới chỉ là"cạnh tranh nội bộ", "cạnh tranh trong nước".
Vì sản phẩm trong nước vẫn được bảo hộ bằng cách biện pháp hành
chínhnhư dùng hàng rào thuế quan và các biện pháp phi thuế quan.
Còn khi đã bước vào hội nhập, Công ty sẽ phải cạnh tranh bằng
chính chất lượng giá thành sản phẩm của mình. trong khi các nước trong
khối ASEAN đã có một lượng xi măng dư thừa khá lớn. Thập kỷ qua do
tốc độ phát triển kinh tế cao trong toàn khu vực nên nhịp độ phát triển xi
măng ở khu vực Đông Nam á cũng tăng nhanh. Cuối những năm 80, tổng
nhu cầu tăng 68% bằng 18 triệu tấn, đầu những năm 90 tổng nhu cầu tăng
tới 84%, bằng 27 triệu tấn, và chỉ 2 năm 1996 - 1997 đa tăng 20% bằng 16
triệu tấn. Nhịp độ này đã vượt quá nhpj độ phát triển của bất cứ nước nào
trên thế giới, đưa tổng nhu cầu xi măng của các nước Đông Nam á từ
2,8% (năm 1985( lên 5,7^ (1997) tổng sản lượng xi măng toàn cầu
Cuộc khủng hoảng kinh tế từ tháng 7/1997 đã gây ra hậu quả to lớn
và nghiêm trọng đối với ngành công nghiệp xi măng ở các nước Châu á,
nhu cầu tiêu thụ giảm mạnh. Theo dự báo đến năm 2003, sự chênh lệch
giữa sản xuất và tiêu thụ của một số nước trong khu vực như sau:
Đơn vị: triệu tấn
Nước Công suất Sản lượng Nhu cầu Số dư thừa
nội địa
Thái Lan 51 34 28,9 5
Indonêsia 53 47,7 34,6 13,1
Malaysia 28,8 19,6 17,2 2,4
Philipines 30,2 25,7 21,7 4
Nguồn: Tạp chí xây dựng số 5/2001
Với khối lượng xi măng dư thừa (dự tính) cao như vậy, các nước
đều tìm cách xuất xuấtkhẩu và sẵn sàng chấp nhận giá bán thấp hơn giá
nội địa và thậm chí thấp hơn cả giá thành để thu hồi vốn đầu tư. Hiện nay,
giá xi măng xuất khẩu và giá nội địa ở các nước ASEAN đã hạ rất thấp.
Thời gian tới, Việt Nam tham gia AFTA, Công ty xi măng cần phải
thực hiện một loạt biện pháp để hạ giá thành sản phẩm thì mới hy vọng
vảo toàn vốn, trả được nợ gốc, lãi cho các khoản vay đầu tư và có lợi
nhuận. Trong khi trình độ công nghệ và thiết vị của Công ty còn lạc hậu,
sản phẩm sản xuất theo phương pháp ướt đã quá lạc hậu. Bên cạnh yếu tố
về công nghệ và thiết bị, Công ty còn phải khắc phục nhiều nhược điểm
trong quản lý sản xuất kinh doanh như: Lực lượng lao động quá đông, vị
trí của Công ty xa đầu mối quan thông đường thuỷ… vì thế, mục tiêu
chiến lược trong cạnh tranh của Công ty là tính toán thu lợi nhuận trên cơ
sở phấn đấu không ngừng để giảm giá thành một cách tối đa, cung cấp cho
xã hội, nhiều sản phẩm hơn, chất lượng tốt, giá bán hợp lý hơn, đáp ứng
phần nào nhu cầu của nền kinh tế quốc dân.
Phần III
Định hướng và giải pháp đầu tư nâng cao chấtlượng sản phẩm và khả
năng cạnh tranh
của công ty xi măng Bỉm Sơn.


I) Định hướng đầu tư .
1, Định hướng của Đảng và nhà nước.
Trong văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX ,phần đường lối kinh
tế và chiến lược phát triển cho mười năm 2001 - 2010 là : Đẩy mạnh công
nghiệp hoá ,hiện đại hoá ,đưa đất nước ta khỏi tình trạng kém phát triển
,tập trung xây dựng có chọn lọc một công nghiệp nặng quan trọng và công
nghệ cao ... tạo nền tảng đén năm 2020 nứoc ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp hiện đại . Cụ thể đối với việc phát triển công nghệ là : phát
triển nhanh các ngành công nghiệp ,có khả năng phát huy lợi thế cạnh
tranh ,chiếm lĩnh thị trường trong nước ,đẩy mạnh xuất khẩu và phát triển
công nghiệp là nhân tố quan trọng trong quá trinh công nghiệp nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước .Vì vậy định hướng đầu tư của ngành công nghiệp
tới là tập trung vốn vào :
- Đầu tư vào chiều sâu đổi mới máy móc thiết bị công nghệ cao ,nhất là
công nghệ thông tin ,viễn thông ,điện tử ...
Với ngành xi măng .Đẩy nhanh tiến độ về xaay dựng hiện đại hoá các
nhà máy xi măng để đưa và khai thác trong 5 năm tới , để tăng thêm 8-9
triệu tấn công suất .Đến năm 2005 ,dự kiến tổng công suất đạt trên 24,5
triệu tấn .Lượng xi măng sản xuất trong nước có thể đáp ứng được nhu cầu
công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước
2) Định hướng của nngành và công ty .
Trước năm 1991 ,đất nước mới chỉ có xi măng Bỉm Sơn
( 1,2 triệu tấn /năm ) Hà Tiên 2 sản xuất clinke để Hà Tiên 1 nghiền xi
măng ( 0,3 triệu tấn /năm ) và một số xi măng lò đứng của các địa phương
,một số ngành .
Thời kì 1991 - 2000 ,xi măng là một trong các ngành công nghiệp được
nhà nước ưu tiên phát triển ,đặc biệt là thời kì 1996 - 2000 .Xi măng
Hoàng Thạch 2 ( 1,2 triệu tấn /năm ),xi mănng Hà Tiên 2 ( 1,2 triệu tấn
/năm ) ,xi măng Bút Sơn ( 1,4 triệu tấn /năm ) đi vào sản xuất ,xi măng
Hoàng Mai ( 1,4 triệu tấn /năm ) đưa vào hoạt động giữa năm 2000 ,xi
măng Tam Điệp ( 1,4 triệu tấn /năm ) được phép khởi công .Xi măng Hải
Phòng ( 1,4 triệu tấn /năm ) đang hoàn tất thủ tục đẻ khởi công .Hàng loạt
xi măng lò đứng tại các địa phương với lượng thiết kế 3 triệu tấn /năm ra
đời .
Thêm vào đó là những liên doanh ra đời như : xi măng Chinfon ( 1,4
triệu tấn /năm ) ,xi măng Sao Mai ( 1,76 triệu tấn /năm ) ,xi măng Nghi
Sơn - giai đoạn 1 : 2,27 triệu tấn /năm .Tất cả các liên doanh này với công
nghệ hiện đại đã đưa sản phẩm tham gia thị trường và họ đã sớm chiếm
lĩnh thị trường với lợi thế ưu đãi .
Với sự tăng lên về số lượng các nhà máy xi măng trên thì những năm
cuối của thời kì này đất nước ta đã không phải nhập khẩu xi măng tuy có
lúc phải nhập clinke trong giải pháp tình thế .
Theo dự báo kế hoạch thời kì 2001 -2005 tốc độ tăng GDP bình quân 6 -
7% ,có khả năng tới 7,5% /năm ,vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm sẽ là
57 -60 tỷ USD .
Như vậy ,nhu cầu xi măng tănng từ 10 - 12% và có thể tăng lên tới 13%
điều này được thể hiện trên bảng biểu sau :




Giai đoạn 2001 - 2005.
Tốc độ tăng 2000 2001 2002 20003 2004 2005
Tốc độ tăng 10% 12,50 13,70 15,10 16,60 18,30 20.00
11% 12,50 13,80 15,40 17,10 18,90 21,00
12% 12,50 14,00 15,68 17,56 19,60 22,00
13% 12,50 14,10 19,05 18,00 20,30 23,00
Nguồn: Bộ xây dựng .
Giai đoạn 2006 - 2010
2006 2007 2008 2009 2010
Tốc độ tăng 8% 21,60 23,33 25,20 27,20 29,40
8% 22,68 24,50 26,45 28,60 30,85
8% 23,76 25,60 27,70 29,90 32,32
8% 24,84 26,82 28,97 31,29 33,80
Nguồn : Bộ xây dựng.
Từ nhu cầu trên ,ngành xi măng đã dự kiến các phương án đầu tư
xây dựng mới , cải tạo mở rộng để thoả mãn nhu cầu .
Về phía công ty ; Trong thời gian tới khi dự án xi măng Hải Phòng được
hoàn thành sẽ đóng cửa cơ sở sản xuất cũ , thì xi măng Bỉm Sơn trở thành
đơn vị có nhiều cái “ nhất ” ở vị trí chót của tổng công ty xi măng Việt
Nam, như :
- Công nghệ lạc hậu nhất.
- Tiêu hao vật tư năng lượng lớn nhất.
- Chi phí lao động lớn nhất.
- Ô nhiểm môi trường lớn nhất.
Trong khi đó 1 đến 3 năm tới , các cơ sở lân cận xi măng Bỉm sơn
(Aghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình và Hà Nam với dân số chưa đến 8,03
triệu người ) nhưng có sản lượng xi măng gần 8,5triệu tấn / năm như vậy
mức bình quân (tấn xi măng / người) tại khu vực này gấp 5 làn so với mức
bình quân trên toàn quốc . Đây lại là những cơ sở hơn hẳn xi măng bỉm
sơn ở hầu hết các điểm so sánh như:
- Công nghệ hiện đại nhất.
- Các chỉ tiêu kinh tế kỷ thuật tiên tiến nhất.
- Điều kiện giao thông cho tiêu thụ sản phẩm tốt nhất.
- Năng suất lao động cao , tỷ trọng lao động trí tuệ cao.
- Các chỉ tiêu môi trường trong giới hạn cho phép.
Lợi thế cạnh tranh của xi măng Bỉm Sơn lúc đó là yếu nhất .
Như mục tiêu chiến lược xây dựng đất nước giai đoạn 2001 - 2010 , với
dự báo tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và nhu cầu xi măng của thị
trường cho phép các cơ sở nâng cao tối đa năng lực của mình, nhưng đồng
thời phải thoả mãn các điều kiện như :
- Thời điểm hội nhập của nền kinh tế khu vực AFTA 2006.
- Các lợi thế cạnh tranh.
- Các quy định của pháp luật : Bảo vệ môi trường , chất lượng sản
phẩm , thuế ...
Từ nhận định trên công ty đã có định hướng như :
- Một là ; Tiến hành đầu tư cải tạo hiện đại hoá dây chuyền sản xuất hiện
hiện có , hoàn thành trước năm 2006
- Hai là : chuẩn bị các điều kiện, đặc biệt là vốn , để đầu tư mở rộng thêm
một cơ sở (một dây chuyền sản xuất) hiện đại công suất 1,4 triệu tấ/năm
hoàn thành ào năm 2010 . Khi đó lợi thế cạnh tranh của xi măng Bỉm sơn
sẽ ngang bằng , thậm trí có những điểm vượt trội so với các cơ sở lân cận ,
vì suất đầu tư thấp .
- Ba là : Vận dụng những chính sách đầu tư kinh tế hiện hành đặc biệt là
việc huy động vốn cho các loại hình doanh nghiệp và tạo công ăn việc làm
cho lao động dư dôi sau khi tiến hành hiện đaị hoá dây chuyền , cũng như
con em họ sinh ra sau khi xây dựng nhà máy đ ã và đang trưởng thành .
II - Giải pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm xi măng của
công ty xi măng Bỉm sơn
1) Giải pháp về thị trường .
Có thể hiểu một cách đơn giản về cạnh tranh đó là việc lấn chiếm thị
trường , tăng thị phần . Vì vậy việc đánh giá chính xác diễn biến của thị
trường xi măng để có phương án đầu tư là điều cần thiết để có những giải
pháp phù hợp làm tăng khả năng cạnh tranh sản phẩm xi măng của công
ty .
1.1 - Đối với thị trường khu vực Hà Nội và một tỉnh vùng Tây Bắc .
Đây là thị trường có sức tieu thụ lớn đặc biệt là thị trường Hà Nội khoảng
0,95 đến 1 triệu tấn/năm . Tại đây có nhiều dự án đang được đầu tư xây
dựng mới hoặc hoàn thiện với số vốn lớn . Qua khảo sát ngh iên cứu cơ
cấu tiêu dùng xi măng thì khoảng 25% dùng cho xây dựng các khu công
nghiệp vui chơi giải trí , 30% dùng cho phát triển giao thông và khoảng
45% cho tiêu dùng cá nhân .
Tham gia thị trường này gồm các loại xi măng : ChinFon, Nghi sơn, xi
măng Hải Phòng, Hoàng Thạch, Bút Sơn, Bỉm Sơn và một số xi măng địa
phương , Quốc phòng.
Đối với xi măng liên doanh : với ưu thế giá thành thấp , được thực hiện
các cơ chế về tiêu thụ ,linh hoạt , giá bán thấp nên đã tăng sức cạnh tranh
trên thị trường .
Qua tìm hiểu mục tiêu của ChinFon phải đạt 40% sản lượng tiêu thụ tại
thị trường , xi măng Nghi Sơn phải đạt từ 27 đến 30% sản lượng . Hiện
nay toàn bộ khu vực nội thành Hà Nội không có một bao xi măng Bỉm sơn
nào tại các cửa hàng ddại lý ... làm cho thói quen tiêu dunghf của người
dân Hà Nội quên lãng xi măng Bỉm Sơn, Mặc dù chỉ một hai năm trước
đây và cả hiện nay nó rất được ưa thích .
Khách hàng của công ty xi măng Bỉm Sơn tại thị trường Hà Nội chỉ còn
lại những công trình xây dựng cơ sở hạ tầng mà chủ đầu tư đã quen dùng
xi măng Bỉm sơn , còn tiêu dùng cá nhân hầu như không biết đến xi mang
Bỉm Sơn nữa .
Thêm vào đó mạng lưới bán hàng xi măng tại đây hầu như không có mặt
sản phảm của công ty . Điều này ảnh hưởng rất lớn việc chiếm lĩnh thị
trường của công ty .
Giải pháp để tăng khả năng cạnh tranh của xi măng Bỉm Sơn tại thị
trường này là :
- Thương thảo với các đối tác tiêu thụ để đưa xi măng bày bán ở các cửa
hàng đại lý . Đồng thời đầu tư xây dựng các đại diện , đại lý của công ty ,
giải pháp này không những đẻ tiêu thụ sản phẩm mà còn tạo laị thói quen
tiêu dùng của người Hà nội với xi măng Bỉm sơn .
- Đầu tư xây dựng hệ thống vận tải và xây dựng đơn giá cước phù hợp
chủ động tìm kiếm khách hàng và điều phối xi măng .
- Bên cạnh việc giới thiệu sản phẩm thông qua các cửa hàng , quầy hàng ,
hội chợ ... công ty cần đầu tư tăng cường quảng cáo trên thông tin đại
chúng nhằm gợi lại những tiềm thức cuả người tiêu dùng đối với xi măng
Bỉm sơn .
1.2 - Thị trường Nam Định, Ninh Bình
Qua tìm hiểu thị trường thì cơ cấu tiêu thụ xi măng như sau : 25% cho
xây dựng cơ bản , 15% cho xây dựng các công trình giao thông , 60% là
tiêu dùng cá nhân . Hiệu quả tiêu thụ xi măng tại thị trường này tương đối
cao , tham gia thị trường này có xi măng Bút sơn , xi măng Bỉm sơn và xi
măng địa phương , các loại xi măng này đã làm giảm thị phần của xi măng
Bỉm sơn . Trong khi đó mạng lưới tiêu thụ tại thị trường này (trước đây rất
gắn bó với xi măng Bỉm sơn ) đã quay sang tiêu thụ cho xi măng Bút sơn
làm giảm sức tiêu thụ vì vậy giải pháp để cạnh tranh với các loại xi măng
khác trên thị trường là :
- Đề nghị tổng công ty xi măng cho phép công ty xi măng Bỉm sơn
được khuyến mại trực tiếp trong giá bán nhằm chioếm lĩnh được các công
trình có vốn đầu tư lớn.
- Đầu tư vào việc chào hàng , nmôi giới tiêu thụ xi măng cho các công
trình có vốn đầu tư lớn .
- Cần có chế độ khuyến khích tinh thần và vật chất đối với các địa
điểm tiêu thụ xi măng băbgf các hình thức như : Mũ ,áo ... có in biểu
tượng công ty nhằm tăng cường cho quảng cáo .
1.3 - Thị trường Thanh - Nghệ Tĩnh :
Đây là thị trường có sức tiêu thụ lớn và mang lại hiệu quả cao cho công
ty , thị trường này, đặc biệt là thị trường Thanh hoá là nơi tiêu thụ sản
phẩm cao nhất của công ty .
Qua khảo sát tình hình thực tế thì nhu cầu xi măng ở thị trường này như
sau : 10% là đầu tư xây dựng các khu công nghiệp , 40% là xây dựng các
công trình giao thông và 50% là tiêu dùng cá nhân . Tham gia c ạnh tranh
với xi măng Bỉm sơn có các loại xi măng Nghi sơn, xi măngChinFon và
một số xi măng địa phương . ở thị trường Thanh Nghệ Tỉnh thì xi măng
Nghi sơn là đối thủ cạnh tranh lớn đối với công ty , tuy nhiên, do người
tiêu dùng đã quen dùng xi măng Bỉm sơn vì vậy mà thị phần của công ty ít
bị ảnh hưởng . Mà ảnh hưởng chủ yếu do tâm lý .
Để giữ vững thị trường và tăng thị phần đặc biệt và nâng cao khả năng
cạnh tranh của công ty taị nơi này thì cần có giải pháp sau :
- Đầu tư vào khâu vận chuyển sản phẩm về đúng điểm bán hàng không
nên dùng chi phí của việc bán tại các thị trường xa để giảm giá bán tại các
thị trường trung tâm thành phố tạo khoảng trống cho các loại xi măng
khác .
- Đầu tư cho quảng cáo , khuyến mại đối với khách hàng và tránh các thủ
tục rườm rà gây phiền phức .
- Thực hiện tốt chương trình kích cầu của chính phủ và kiên cố hoá kênh
mương , tiếp tục triển khai xây dựng đường giao thông .
1.4 - Thị trường tiêu thụ Miền trung (Từ Quảng trị đến thừa thiên
Huế)
Đây là địa bàn rộng lớn , thiên tai thường xảy ra liên miên nên mức tiêu
thụ xi măng rất lớn , Tại thị trường này xi măng Bỉm sơn rất có uy tín về
chất lượng sản phẩm mặc dù có nhiều đối thủ cạnh tranh . đây là thị
trường tiềm năng của công ty nên công ty cần có chiến lược thị trường để
giữ và mở rộng thị trường , xắp tới các xi măng khác sẽ xâm nhập thị
trường này mạnh hơn vì vậy công ty cần có giải pháp như :
- Tiến hành đầu tư mở rộng và xây dựng mới các cửa hàng , đại lý trên
các khu vực , tăng cường quảng cáo để giữ uy tín cho xi măng Bỉm sơn .
1.5 - Đối với thị trường xuất khẩu (xuất khẩu sang thị trường Lào)
Xi măng Bỉm sơn thâm nhập thị trường Lào rất sớm . Thời kỳ cuối thập
niên 80 và đầu thập niên 90 nhiều công trình lớn do các nhà thầu Bắc Âu
thực hiện đã trực tiếp chỉ định đưa xi măng Bỉm sơn vào các công trình
của họ . Uytín chất lượng xi măng Bỉm sơn gần như độc ở thị trường Lào
.
Thời gian sau đó , chúng ta chưa có sự quan tâm đúng mức tới thị trường
này đã làm ảnh hưởng đến người tiêu dùng ... trong khi đó xi măng Thái
Lan dần lấn lướt trên thị trường . Vì vậy chúng ta cần phải đầu tư nghiên
cứu hành vi tiêu dùng của họ và tăng cường quảng cáo , khuyến mại đồng
thời mở rộng và xây dựng nhiều đại lý sản phẩm của công ty .


2) Giải pháp về công nghệ .
Trong thế kỷ XXI xu hướng sử dụng dây chuyền công nghệ sản xuất xi
măng với một lò quay công suất lớn sẽ tiếp tục phát triển mạnh so với dây
chuyền công nghệ với nhiều lò quay công suất nhỏ . Điều này làm cho chi
phí cố định và chi phí biến đổi cho một tấn xi măng tăng chậm hơn so với
mức độ tăng công suất của nhà máy , các thiết bị sản xuất ngày càng phải
thích ứng với yêu cầu thực tế sao cho năng lực sản xuất của dây chuyền
một lò công suất lớn tối thiểu cũng phải tốt như các dây chuyền nhiều lò
công suất nhỏ . Các dây chuyền công nghệ công suất lớn cũng sẽ được xử
dụng khi hiện đại hoá các dây chuyền công nghệ trong các nhà máy hiện
có . ở những khu vực mà thị trường xi măng đã vững vàng , thì cần phải
đầu tư hiện đại hoá hoặc thay thế công nghệ cũ bằng công nghệ mới để
giảm các chi phí vận hành , đảm bảo tốt hơn các vấn đề môi trường và để
cạnh tranh với các nhà máy mới xây dựng . Điều này cũng có nghĩa là một
loạt các hệ thống lò quay cũ (như lò quay dài phương pháp ướt , lò quay
phương pháp khô công suất nhỏ) sẽ được thay thế bằng một lò quay
phương pháp khô có công suất bằng hoặc lớn hơn hiện tại .
Nguồn nguyên liệu .
Xu hướng hiện nay trong công nghệ xi măng là tiếp tục tối ưu hoá chi phí
các thành phần của phôí liệuclanke và xi măng .
Đa số các nhà máy nằm gần mỏ nguyên liệu đá vôi và đất sét song vẫn
phải mua thêm 5 - 30% các thành phần nguyên liệu khác của phối liệu
clanke và xi măng trong những năm tới các nhà máy xi măng sẽ dùng ít
hơn các nguyên liệu mỏ tự nhiên trongtrong các thành phần cho các thành
phânf phối liệu clnke và xi măng .
Nghiền : Trong công đoạn nghiền (nghiền than , nghiền xi măng ...) sẽ
vẫn sử dụng máy nghiền đứng con lăn với thiết bị phân li hiệu suất cao .
Máy nghiền đứng con lăn đã được chấp nhận cho nghiền liệu ,nghiền than
và được áp dụng rộng rãi trong các công đoạn này do tính nổi trội của nó
so với việc sử dụng các loại máy nghiền khác . Sử dụng máy nghiền đứng
con lăn để kết thúc xi măng hoặc cho nghiền liệu nhằm tiết kiệm nhân lực
khi nghiền so với máy nghiền bi ; mặt khác khả năng hoạt động liên tục
của máy này rất tốt cũng như việc thiết kế bố trí nhỏ gọn hơn nhiều . Do
vậy máy nghiền đứng con lăn sẽ hoàn toàn thay thế máy nghiền bi trong
các công đoạn nghiền cuả nhà máy xi măng sẽ xây dựng .
Quá trình nung clanke :
Quá trình nung clanke sẽ được thực hiện rong trong lò nung 2 gối đỡ với
hệ thống truyền động ma sát so với hệ thống lò nung 3 gối đỡ với truyền
động hộp số và pinhông hiện nay . Tháp tro đổi nhiệt xiclôn van sẽ được
thiết kế có độ giảm áp thấp với hiệu suất lắng cao nhằm tôí ưu hoá mức
tiêu thụ nhiệt năng và điện năng số lượng tầng xiclôn cũng sẽ thiết kế phù
hợp với các yêu cầu sấy trong máy nghiền đứng con lăn và buồng phân
huỹ sẽ được cải tiến nhằm vận hành dễ dàng hơn .
Nhiên liệu : Xu hướng mới là xử dụng loại than cốc dầu , chất thải lỏng
và rắn . Nung bằng các loại nhiên liệu này sẽ tiết kiệm đáng kể chi phí .
Điều kiện tự động hoá : Với sợ phát triển nhanh chóng của công nghệ
thông tin , máy tính đóng vai trò ngày càng cao trong hoạt động của nhà
máy xi măng và phương pháp kiểm tra tự động đang được xử dụng rộng
rãi . Như vậy nhà máy xi măng sẽ được thực hiện hoàn toàn tự động với
việc xử dụng nhân lực ít nhất .
Trước xu hướng phát triển công nghệ sản xuất xi măng trong những năm
tới và thực trạng công nghệ của công ty . Vì vậy việc đầu tư hiện đại hoá
cải tạo dây chuyền sản xuất của công ty là đúng hướng . Hiện tại công ty
có hai dây chuyền sản xuất và giải pháp công nghệ của công ty như sau :
Giai đoạn 1 : Tiến hành đầu tư cải tạo , hiện đại hoá dây chuyền số 2
(Dây chuyền này do Nhật cung cấp) sẽ được khởi công vào quý IV năm
2000 và hoàn thành cuối năm 2002 nâng cao sản lượng sản xuất của công
ty là 1,8 triệu tấn/năm .
Giai đoạn 2 : tiến hành đầu tư cải tạo , hiện đại hoá dây chuyền số 1 (Dây
chuyền này cũng do Nhật cung cấp) nâng sản lượng lên 2,4 triệu tấn/năm
.
Giai đoạn 3 : Tiến hành đầu tư xây dựng mới một dây chuyền nữa để có
sản lượng 3,6 - 3,8 tấn /năm thơì gian hoàn thành trước năm 2010
Với giải pháp như trên thì trong thời gian tới thì công ty sẽ có một lượng
sản phẩm rồi dào , chất lượng cao , góp phần thoả mãn nhu cầu của xã hội
, có một cơ sở sản xuất tương xứng với thị xã công nghiệp vật liệu xây
dựng và với các cơ sở sản xuất lớn ở khu vực , không chỉ vậy , việc đầu tư
hiện đại hoá các dây chuyền sản xuất và xây dựng thêm dây chuyền mới
cần cho phép công ty đạt được các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật tiên tiến, giải
quyết triệt để vấn đề môi trường , giải quyết cơ bản về lao động , đủ tiêu
chuẩn của thời kỳ hội nhập khu vực .
3) Giải pháp về nhân lực .
Công ty xi măng Bỉm sơn sau khi cải tạo dây chuyền sản xuất số 2 , đứng
trước một thực trạng là hai dây chuỳen sản xuất theo hai phương pháp
khác nhau , dây chuyền 1 sản xuất theo phương pháp ướt , dây chuyền 2
sản xuất theo phương pháp khô . Vì vậy giải pháp về nhân lực như sau :
* Đối với khối sản xuất chính .
Công ty sau khi cải tạo dây chuyền số 2 , tổng công suất thiết kế của các
dây chuyền tăng từ 1,2 triệu tấn/năm lên 1,8 triệu/năm . Như vậy sản
lượng dự kiến sẽ tăng 1,5 lần do đó việc khai thác nguyên liệu , vận
chuyển nguyên liệu và bốc xúc sẽ phải tăng lên vì vậy lao động ở các địa
điểm này như hiện nay thì phải tăng thêm lao động . Nếu tiến hành đầu tư
băng tải , máy đập tại vùng nguyên liệu thì số lao động sẽ giảm so với dự
kiến tuy nhiên do dây chuyền 1 vẫn sản xuất theo phương pháp ướt , vì
vậy không thể bố trí lao động ở dây chuyền 1 kiêm vận hành ở dây chuyền
2 được . Mặt khác sau cải tạo thì một số thiết bị mới phát sinh , vì vậy lao
động của cả hai dây chuyền vẫn không giảm . Để từng bước giảm lao
động , công ty cần hợp lý hoá sản xuất , đầu tư đào tạo lao động của dây
chuyền 2 kiêm thêm vận hành dây chuyền một , tăng mức độ đảm nhiệm
máy móc thiết bị của người lao động .
* Đối với khối sản xuất phụ trợ
Lao động củ khối sản xuất phụ trợ được xây dựng trên cơ sở đáp ứng yêu
cầu của của sản xuất chính , đảm bảo cho sản xuất liên tục và ổn định .
Đối với lao động sửa chữa cơ và sửa chữa điện được tập trung quản lý về
một đầu mối là các xươngr chuyên môn nhằm đảm bảo vừa sửa chữa bảo
dưỡng thường xuyên các thiết bị dây chuyền , vừa đảm bảo công tác sửa
chữa lớn của công ty . Công ty sẽ tổ chức lao động này chuyên môn hoá
theo từng công đoạn sản xuất để đáp ứng nhu cầu kịp thời của sản xuất .
Và để làm việc này thì công ty . Tiến hành đầu tư nâng cao trình độ kỹ
thuật người lao động .
Đối với lao động lao động thí nghiệm KCS , do hai phương pháp công
nghệ của hai dây chuyền khác nhau . Vì vậy việc thử nghiệm mẫu sẽ tăng
thêm về số lượng do vừa phải lấy mẫu ở dây chuyền công nghệ khô vừa
phải lấy mẫu ở dây chuyền công nghệ ướt và phải làm thí nghiệm ở cả hai
loại mẫu vì vậy việc đầu tư cho lao động ở phòng KCS không chỉ chất mà
còn cả số lượng ...
* Đối với khối quản lý .
Công ty sẽ sắp xếp lao động cho khối quản lý trên cơ sở mức độ đảm
nhiệm công việc của người lao động , không phụ thuộc vào sản lượng của
công ty . Mặc dù sau cải tạo hiện đại hoá thì sản lượng của công ty tăng
1,5 lần . Nhưng theo đánh giá hiện nay cũng như su hướng cho những năm
tới ,lao động của khối quản lý sẽ phải giảm . Vì vậy việc đầu tư lao động ở
khối quản lý là chủ yếu là đầu tư về chất lượng làm như vậy bộ máy quản
lý mới gọn nhẹ , hoạt động linh hoạt có hiệu quả .
*Đối với khối tiêu thụ :
Công ty xi măng Bỉm sơn sau khi cải tạo hiện đại hoá dây chuyền số2
sản lượng tăng 1,5 lần so với hiện nay và cho các phươg án là 2,4 triệu
tấn/năm hoặc 3,0 triệu tấn/năm . Mặt khác sự cạnh tranh trên thị trường
ngày càng quyết liệt , bởi sẽ có các nhà máy mới tung sản phẩm ra thị
trường và đặc biệt là việc xoá bỏ các hàng rào thuế quan, sự hội nhập nền
kinh tế thế giới , vì vậy bộ máy tiêu thụ sản phẩm phải từng bước gọn nhẹ
, có chất lượng cao , đảm bảo hiệu quả kinh tế cao nhất . Việc tiêu thụ xi
măng tập trung vào cơ chế tiêu thụ và mạng lưới tiếp thị . Vì vậy ,việc bán
lẻ xi măng không còn phù hợp với yêu cầu sản lượng ngày càng tăng . Do
đó công ty sẽ tập trung đầu tư đào tạo những lao động có kinh nghiệm
Marketing đồng thời giảm số lao động bán lẻ xi măng , từng bước thông
qua đại lý tiêu thụ xi măng để có mạng lưới tiêu thụ rộng khắp thuộc địa
bàn công ty phụ trách
Căn cứ thực trạng tình hình lao động của công ty sau cải tạo hiện đại hoá
dây chuyền số2 và lao động cần thiết của phương án , ta thấy rằng sau cải
tạo hiện đại hoá công ty có một lực lượng lao động dôi dư tương đối lớn
đòi hỏi phải xây dựng các phương án tạo việc làm mới , nhằm đảm bảo
việc làm và tăng thu nhập cho người lao động .
Và các phương án đối các lao động dôi dư này là đầu tư đào tạo lại để
đảm nhiệm thêm các khâu sản xuất , các khâu tiêu thụ ... với sự thay đổi
về công nghệ sản xuất ở công ty thì cơ cấu tổ chức cũng được thay đổi phù
hợp như sau :
4, Giải pháp đầu tư cho vận tải tiêu thụ xi măng .
Theo dự báo nhu cầu tiêu thụ xi măng từ năm 2001 trở đi vẫn tiếp tục
tăng . Ngoài các thị trường tiêu thụ chính như hiện nay tại các tỉnh miền
trung Nam bắc bộ và một số công trình lớn đã đang và sẽ được xây dựng
hoàn thành trong nước như đường Hồ Chí Minh , đường ngầm đèo Hải
vân ... công ty xi măng Bỉm sơn còn phải tìm kiếm thị trường mới như :
xuất khẩu xi măng sang Lào , Căm Pu Chia ...
Hầu hết từ trước đến nay việc đáp ứng nhu cầu xi măng cho các tỉnh của
công ty chủ yếu là sử dụng phương tiện vận tải ô tô và vận tải đường sắt .
Vận tải ô tô sử dụng số lượng ô tô hiện có của công ty và các chi nhánh
ngoài ra còn thuê ô tô vận tải của tư nhân và các đơn vị bên ngoài
Vận tải đường sắt : Hợp đồng thuê toa xe với ngành đường sắt với các
phương thức vận tải này thì chi phí lưu thông taưng mà công ty lại không
chủ động điều hành phương tiện vận tải , vẫn phụ thuộc nhiều vào sự điều
hành của ngành đường sắt .
Để giải quyết vấn đề này cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các loại
hình giao thông : vận chuyển đường sắt , vận chuyển ô tô , vận chuyển
đường sông đường sóng pha biển
Khi nâng công suất lên 1,8 triệu tấn/năm thì dự kiến khối lượng xi măng
vận tải đường sắt , đường ô tô , đường thuỷ như sau :
- Vận tải đường sắt chiếm 45% = 800.000 tấn
- Vận tải ô tô chiếm 35% = 650.000 tấn
- Vận tải đường thuỷ chiếm 20% = 350.000 tấn
Vận tải đường sắt , ô tô như các năm trước đây từ 1,2 - 1,5 triệu tấn xi
măng vẫn có thể đảm bảo nhận bình thường mà không cần phải đầu tư
thêm .
Vận tải đường thuỷ : Tiến hành dầu tư xây dựng cảng xuất xi măng và dự
kiến vốn đầu tư cho phương án này là 22 tỷ đồng cụ thể , ở đây là cảng
Ninh Phúc , Ninh Bình từ đây có thể vận chuyển sản phẩm xi măng của
công ty đi tới Quảng Nam , Quảng Trị ...
5. Giải pháp về tạo vốn đầu tư.
Có thể thấy Công ty đang tiến hành đầu tư cải tạo hiện đại hoá dây
chuyền sản xuất nhằm mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm,
sức cạnh tranh của Công ty theo từng giai đoạn. Giai đoạn đầu đưa sản
lượng của Công ty lên 1,8 triệu tấn/năm, tiếp đó là 2,4 triệu tấn/năm và 3,6
 3,8 triệu tấn/năm. Là một doanh nghiệp Nhà nước thuộc Bộ xây dựng
thi việc tạo vốn đầu tư phụ thuộc vào Tổng Công ty xi măng Việt Nam.
Bài toán về vốn đầu tư phát triển công nghiệp xi măng đang thực sự
là rất khó khăn. Bởi vì số vốn tự có của các đơn vị trong tổng Công ty xi
măng Việt Nam cũng như Công ty xi măng Bỉm Sơn là quá nhỏ, số vốn
khấu hao hàng năm phải nộp cho Bộ tài chính, vốn đầu tư từ ngân sách thì
hết sức khó khăn, vay vốn nước ngoài thì khồn dễ dàng vay được vì họ
quan tâm đến những lợi ích thực dụng.
Về phía chủ thể: Công ty xi măng Bỉm Sơn thuộc Tổng Công ty xi
măng Việt Nam vì vậy Tổng Công ty có các giải pháp tạo vốn như sau:
+ Đối với vốn trong nước: Tổng Công ty xi măng đề nghị Nhà nước
xếp các công trình hiện đại hoá, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng
sản phẩm, sức cạnh tranh của Công ty xi măng Bỉm Sơn vào diện được
vay vốn ưu tiên: Các hạng mục ngoài "hàng rào công trình" như đường
giao thông, điện, nước … thường chiếm khoảng 25% vốn đầu tư đề nghị
Chính phủ trực tiếp đầu tư cho chuyên ngành giao thông, điện, vốn khấu
hao cho phép Tổng Công ty giữ lại 100%.
+ Đối với vốn nước ngoài: Chủ yếu nguồn vốn ODA đề nghị chính
phủ hỗ trợ đầu tư. Mới đây Bộ tài chính cho phép Tổng Công ty xi măng
Việt Nam thực hiện thí điểm việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp
nhưng do lãi suất phát hành trái phiếu quá thấp nên khó huy động vốn
trong dân.
Đối với Công ty phương án giải bài toán về vốn đầu tư để mở rộng
sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh là nên thực
hiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp bằng ngoại tệ với lãi suất tương
đương các ngân hàng đang thực hiện, nhưng nên giao cho các ngân hàng
thương mại đấu thầu làm đại lý phát hành. Đồng thời các ngân hàng
thương mại mở rộng quan hệ với các ngân hàng ở các nước trên thế giới,
nhất là trong khu vực để vay vốn phát triển công nghiệp xi măng.
Để tạo đà thúc đẩy tăng trưởng nhanh nền kinh tế cùng với việc giải
quyết vốn đầu tư phát triển hệ thống điện năng, phát triển hệ thống giao
thông, thì việc đầu tư vốn đảm bảo nhu cầu vê xi măng cho phát triển là
vấn đề hết sức cấp bách. Vốn cho lĩnh vực này cần có các giải pháp đồng
bộ cả về tài chhính và tiền tệ, cần có sự quan tâm lớn của các nhà ngân
hàng ở Việt Nam.
6. Giải pháp về quản lý
Nghiên cứu xây dựng, ban hành hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật
tiên tiến áp dụng cụ thể cho từng dây chuyền sản xuất. Các chỉ tiêu định
mức này cần thường xuyên theo dõi, phân tích, sửa đổi về bảo đảm đạt
hiệu quả kinh tế cao nhất. Quản lý chặt chẽ giá cả các loại nguyên, nhiên
liệu và vật tư phụ tùng, thiết bị đầu vào để vừa đảm bảo chất lượng vừa hạ
giá thành sản phẩm, khuyến khích việc thay thế vật tư, phụ tùng ngoại
nhập bằng vật tư, phụ tùng thiết bị sản xuất trong nước để vừa tiết kiệm
ngoại tệ, giảm chi phí vừa hạn chế được rủi ro vì lệ thuộc vào tình hình
kinh tế nước ngoài. Cần tập trung chỉ đạo công tác quản lý vốn, nhằm
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh vòng
quay vốn lưu động. Đây là một giải pháp cơ bản để hạ giá thành sản phẩm.
Hoàn chỉnh mạng lưới tiêu thụ và ưu tiên dành tỷ lệ thích đáng vốn đầu tư
để xây dựng các mạng lưới các trạm tiếp nhận và phân phối xi măng.
Trong đó, ưu tiên đầu tư ở các thị trường lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí
Minh … và các khu công nghiệp tập trung. Phát triển hệ thống vận tải, bảo
đảm môi trường, tìm biện pháp xuất khẩu xi măng sang Lào và các nước
trong khu vực. Đây là giải pháp chiến lược trong việc nâng cao khả năng
cạnh tranh.
7. Giải pháp về cơ chế sản phẩm.
Công ty xi măng Bỉm Sơn là một đơn vụ thành viên của Tổng Công
ty xi măng Việt Nam vì vậy, nó cùng chịu chung như các đơn vị khác ở
Tổng Công ty một cơ chế quản lý giá sản phẩm. Cơ chế quản lý giá bán lẻ
xi măng đã phần nào hoàn thành được sứ mệnh lịch sử trong thời gian qua.
Đã đến lúc cần thay đổi chính sách quản lý giá bán lẻ.
Nói một cách tổng quát, giải pháp quan trọng đầu tư mang tính đột
phá là xoá bỏ cơ chế định giá bán lẻ chuẩn xi măng hiện hành, trong đó
Tổng Công ty xi măng Việt Nam vừa là cầu thủ chủ chốt, vừa là trọng tài
thường trực của cuộc chơi, còn Ban vật giá Chính phủ là trọng tài phần
nào trên danh nghĩa, và để cho thị trường là một yếu tố cơ bản quyết định
giá xi măng. Có như vậy thì các nhà sản xuất xi măng sẽ được đặt trong
trạng thái cạnh tranh với nhau bằng cách giảm giá bán, nâng cao chất
lượng sản phẩm …
8. Giải pháp về giá đầu vào.
8.1. Giải pháp giá "đầu vào" mang tính khách quan.
Một trong nguyên nhân chủ yếu làm cho giá cả sản phẩm xi măng
Công ty xi măng Bỉm Sơn ở mức cao đó là giá đầu vào cao, giá những đầu
vào này cao như hiện nay là do độc quyền sản xuất và kinh doanh như:
điện, than, bưu chính viễn thông … Ví dụ điện dùng cho sản xuất công
nghiệp ở Việt Nam hiện nay lên 6,3 cent/kwh trong khi đó tại Trung Quốc
và Indonexia chỉ là 4,5 cent/kwh, Malayxia là 5,7 cent/kwh. Giá điện ở
Việt Nam còn mang tính độc đoán vô lý, trái với quy luật thị trường, thay
vì "mua càng nhiều, giá lại càng rẻ" thì ở đây "mua càng nhiều, giá càng
cao". Do đó, Nhà nước cần kiểm soát việc hình thành giá của các sản
phẩm độc quyền, tránh việc hạch toán chi phí không hợp lý, không sát với
thực tế. Ví dụ, thất thoát điện năng, thất thoát nước quá nhiều do khả năng
quản lý yếu kém thì không được hạch toán và giá thành để bắt người sử
dụng gánh chịu. Nhà nước cần tính toán cân nhắc lợi ích và ảnh hưởng
tiêu cực đối với việc nâng giá sản phẩm là "đầu ra" của một ngành lại là
"đầu vào" của nhiều ngành khác trong nền kinh tế.
8.2. Giải pháp về giá "đầu vào" mang tính chủ quan.
Chi phí vật liệu trực tiếp chiếm khoảng 55 - 70% giá thành sản xuất
xi măng, trong khi đó Công ty đang phải nhập khẩu những vật liệu này, vì
thế phần mua bán vật tư loại này cũng nảy sinh không ít tiêu cực (giá giá,
khuyến mại, thưởng người mua) nếu kiểm soát chẳt chẽ, công khai sẽ góp
phần giảm đáng kể giá thành sản xuất.
Thời điểm hội nhập và thực hiện AFTA ngày một gần. Toàn ngành
xi măng nói chung và Công ty xi măng Bỉm Sơn nói riêng sẽ phải đối mặt
với nhiều thách thức to lớn trong quá trình nâng cao khả năng cạnh tranh
trên thị trường trong nước, thị trường ASEAN và thị trường ngoài ASEAN
để tồn tại và phát triển.
Công ty xi măng Bỉm Sơn cần thực hiện một cách đồng bộ các giải
pháp trên đồng thời cần xây dựng một chiến lược thị trường với từng
bước đi cụ thể, từng nhiệm vụ đặt ra phải hoàn thành theo một lộ trình
chặt chẽ và nghiêm túc với quyết tâm cao. Nếu làm được như vậy thì
Công ty xi măng Bỉm Sơn với truyền thống sản xuất kinh doanh có hiệu
quả thị trường thuận lợi, nhất định sẽ vượt qua được mọi thử thách, nâng
cao khả năng cạnh tranh trên thương trường để phát triển bền vững xứng
đáng với khẩu hiệu:
"Xi măng biểu tượng CON VOI niềm tin của người sử dụng,
niềm tin tự hào của những công trình".

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản