LUẬN VĂN: Thực trạng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh ở Công ty xi măng Bỉm Sơn

Chia sẻ: intel1212

Trong những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 khái niệm “đầu tư ” trở nên thân quen đối với các nhà quản lý các cấp, đặc biệt phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội, có sự quản lý của nhà nước, ở nước ta đòi hỏi một sự đổi mới mạnh mẽ ở nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực đầu tư . Vậy đầu tư là gì, chúng ta có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư . ...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Thực trạng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh ở Công ty xi măng Bỉm Sơn

 

  1. LUẬN VĂN: Thực trạng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh ở Công ty xi măng Bỉm Sơn
  2. Phần I Đầu tư và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp I, Đầu tư trong doanh nghiệp . 1,Khái niệm và đặc điểm của đầu tư . 1.1,Khái niệm Trong những năm cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 khái niệm “đầu tư ” trở nên thân quen đối với các nhà quản lý các cấp, đặc biệt phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội, có sự quản lý của nhà nước, ở nước ta đòi hỏi một sự đổi mới mạnh mẽ ở nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực đầu tư . Vậy đầu tư là gì, chúng ta có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư . Đầu tư theo nghĩa rộng nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn nhân lực đã bỏ ra để đạt được các kết qủa đó. Nguồn lực đó có thể là tiền tài nguyên thiên nhiên là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả tăng thêm đó là các tài sản chính (vốn), tài sản trí tụê ( trình độ văn hoá chuyên môn khoa học kỹ huật ...). Tài sản vật chất (nhà máy đường xá...) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội . Trong các kết quả đã đạt được trên đây, những kết quả là tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn năng lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc, mọi nơi , không chỉ đối với người bỏ vốn mà còn cả với nền kinh tế. những kết quả này không chỉ với người đầu tư mà cả nền kinh tế được thu hưởng.
  3. Theo nghĩa hẹp đầu tư bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng , để đạt được cac kết quả đó Từ đây ta có thể khái niệm về đầu tư phát triển như sau : Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế - xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội. 1.2, Đặc điểm của đầu tư Hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm khác biệt với các loại hình khác là : - Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và nằm khê đọng trong suốt quá trình thực đầu tư. Đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu tư phát triển. - Thời gian để tiến hành một công cộc đầu tư cho đén khi các thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiều biến động xảy ra. - Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra đối với các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm tháng và do đó và do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế... - Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài nhiều năm, có hàng năm, hàng vạn năm ... điều này nói lên giá trị lớn lao của các thành quả đầu tư phát triển.
  4. - Các thành quả hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó tạo dựng lên . Do đó các điều kiện địa hình tại đó có ảnh lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác động sau này của các kết quả đầu tư . - Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không gian . 2) Vai trò đầu tư trong doanh nghiệp . Qua phân tích nghiên cứu các nội dung của đầu tư trong doanh nghiệp chúng ta thấy rằng đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Để tạo dựng cơ sở vật chất cho sự ra đời của bất cứ doanh nghiệp nào cũng phải xây dựng văn phòng, nhà xưởng, mua sắm lắp đặt máy móc thiết bị... trong quá trình hoạt động cơ sở vật chất này bị hư hỏng hao mòn, doanh nghiệp phải bỏ chi phí để sửa chữa. Đáp ứng được nhu cầu của thị trường và thích ứng với quá trình đổi mới phát triển của khoa học kỹ thuật, các doanh nghiệp phải đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật, quy trình công nghệ. Tất cả các hoạt động đó đều là hoạt động đầu tư. Ngay cả trong các doanh nghiệp hoạt động vô vị lợi cũng phải đầu tư để tiến hành sửa chữa lớn và thực hiện các chi phí thường xuyên. Quá trình đầu tư trong doanh nghiệp có những vai trò quan trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua các mặt sau : Thứ nhất : Đầu tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, xã hội liên tục phát triển, nền kinh tế toàn cầu nói chung, nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng cũng vì thế mà không ngừng vận động và phát triển. Sự phát triển đó được thể hiện rất rõ trong đời sống dân cư. Nhu cầu xã hội tăng lên cả về mặt lượng và mặt chất , nếu trước đây người ta mong muốn được “ăn no, mặc ấm” Thì ngày nay nhu cầu ấy không còn phù hợp nữa mà trở thành nhu cầu mới “ăn ngon, mặc đẹp” .
  5. Thị trường ngày càng trở nên sôi động, nhu cầu của con người phát triển đòi hỏi tiêu dùng nhiều hơn, hàng hoá phải có chất lượng cao, mẫu mã đẹp đa dạng và phong phú. Vì thế mà các nhà cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thị trường muốn tồn tại được thì phải đáp ứng nhu cầu đó của dân cư. Cuộc chạy đua này là một cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các nhà sản xuất để giành giật thị trường cho mình. Người quyết định số phận của doanh nghiệp là khách hàng, họ chọn nhà cung cấp nào thì nhà cung cấp đó tồn tại, tiêu chuẩn lựa chọn của họ ngày càng cao. Người tiêu dùng muốn có một túi hàng với giá thành rẻ nhất nhưng độ thoả dụng cao nhất, đó là hàng hoá có chất lượng tốt, có mẫu mã đẹp, có dịch vụ hoàn hảo. Vì tất cả lẽ đó mà đòi hỏi nhà sản xuất phải tiến hành đầu tư phát triển. Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp có thể được tiến hành theo những chiến lược khác nhau để giành được yêu thế cạnh tranh trên thị trường. Phân tích trên chúng ta có thể khẳng định lại lần nữa là: Đầu tư tạo điều nâng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Thứ hai : Đầu tư tạo diều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm . Như chúng ta đã biết, đầu tư trong doanh nghiệp bao gồm ; đầu tư vào lao động, đầu tư vào tài sản cố định, đầu tư vào hàng dự trữ, đầu tư vào tài sản vô hình khác. Tất cả việc đầu tư này nhằm mục đích là tạo ra một sản phẩm với chất lượng cao, mẫu mã đẹp để đáp ứng nhu cầu của con người trong xã hội hiện đại. Điều này đã được chứng minh, trong những năm qua các doanh nghiệp muốn tồn tại trong nền kinh tế thị trường thì căn bản nhất là phải nâng cao chất lượng sản phẩm hạ giá thành ... như công ty thép Miền Nam, các côg ty may , công ty dày da... Thứ ba : Đầu tư tạo điêù kiện giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận . Không có doanh nghiệp nào tiến hành sản xuất kinh doanh lại không đặt mục tiêu về lợi nhuận. Không chỉ là mong muốn có lợi nhuận mà họ còn mong muốn tiền của họ không ngừng tăng lên tức là quy mô lợi nhuận ngày càng được mở rộng .
  6. Hoạt động đầu tư của mỗi doanh nghiệp chính là hoạt động nhằm thực hiện chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó với mục tiêu đạt được lợi nhuận mà doanh nghiệpp đề ra. Khi lợi nhuận càng cao thì lợi ích càng lớn và ngược lại . Lợi nhuận được quy mô bỡi doanh thu và chi phí theo công thức sau : Lợi nhuận = doanh thu - chi phí Doanh thu có lớn hay không lại phụ thuộc vào quá trình đầu tư của doanh nghiệp. Nếu đầu tư mang lại hiệu quả cao thì doanh thu sẽ nhiều Như vậy đầu tư đã tạo điều kiện giảm chi phí sản xuất , tăng lợi nhuận . Thứ tư : Đầu tư góp phần đổi mới công nghệ ,trình độ khoa học kỹ thuật trong sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp . Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn luôn chú trọng đến việc đổi mới nhằm nâng cao sức cạnh tranh của mình. Và một trong các công việc đầu tư của doanh nghiệp là đầu tư vào tài sản cố định . Điều này có nghĩa là doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng suất, đổi mới sản phẩm cả về chủng loại mẫu mã và chất lượng .. Như vậy có thể thấy dưới sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, mỗi doanh nghiệp đều nhận thấy vai trò to lớn của đầu cho công nghệ cũng như hiện đại hoá máy móc thiết bị trong quá trình sản xuất . Hay nói cách khác đầu tư góp phần đổi mới công nghệ trình độ khoa học kỹ thụât . Thứ năm: Đầu tư góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Để hoạt động được và hoạt động có hiệu quả, bất cứ một doanh nghiệp nào cũng cần có một đội ngũ lao động có trình độ, kỹ năng. Trình độ kỹ năng của người lao động ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh và chất lượng sản phẩm... Cùng với điều kiện sản xuất như nhau nhưng lao động có trình sẽ tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt hơn. Đầu tư vào lao
  7. động bao gồm những hoạt động như đầu tư đào tạo cán bộ quản lý, tay nghề công nhân và các chi phí để tái sản xuất sức lao động . Như vậy, đầu tư phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực . 3) Phân loại đầu tư trong doanh nghiệp . Chúng ta có nhiều phương pháp phân loại đầu tư trong doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau . Những tiêu thức phân loại đầu tư trong doanh nghiệp thường được sử dụng là: a) Theo quy mô của dự án đầu tư thì đầu tư trong doanh nghiệp chia thành : + Đầu tư cho các dự án nhóm A + Đầu tư cho các dự án nhóm B + Đầu tư cho các dự án nhóm C Tuỳ theo quy định của từng quốc gia, từng ngành mà mỗi dự án được xếp vào nhóm A, B hoặc nhóm C . b) Theo ngành hoặc lĩnh vực kinh doanh thì đầu tư trong doanh nghiệp được chia thành : + Đầu tư cho công nghiệp . + Đầu tư cho nông nghiệp . + Đầu tư cho dịch vụ . c) Đầu tư trong doanh nghiệp chia thành đầu tư cố định và đầu vào dự trữ . + Đầu tư cố định là đầu tư vào nhà xưởng , máy móc thiết bị và các hàng hoá lâu bền khác . + Đầu tư vào dự trữ Là những khoản đầu tư vào nguyên liệu thô , bán thành phẩm và sản phẩm hoàn thành . d) Đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu : + Đầu tư theo chiều rộng được hiểu là trên cơ sở năng lực sản xuất hiện có, doanh nghiệp tiến hành đầu tư mở rộng quy mô sản xuất tăng khối
  8. lượng sản phẩm. Song không đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị nên chất lượng sản phẩm không đổi, không làm giảm giá thành của sản phẩm . + Đầu tư chiều sâu được hiểu là sản phẩm sản xuất ra làm tăng lợi nhuận do năng suất lao động và hiệu quả tương đối của việc sử dụng vốn tăng lên khối lượng không tăng hoặc có thể giảm bằng việc đầu tư máy móc thiết bị hiện đại . e) Đầu tư hữu hình và đầu tư vô hình . + Đầu tư vào tài sản hữu hình là đầu tư nhằm tạo ra hoặc tăng thêm những vật chất, vật thể có tính chất hữu hình . + Đầu tư vào tài sản vô hình gồm : đầu tư vào bí quyết công nghệ , đào tạo lao động . Đầu tư vào quảng cáo, nghiên cứu thị trường , đầu tư vào nghiên cứu ứng dụng . 4) Nội dung của đầu tư trong doanh nghiệp . 4.1) Đầu tư phát triển nguồn nhân lực . Bước sang thế kỉ 21 ,trí thức sẽ trở thành yếu tố có sức mạnh nhất, quan trọng nhất trong các yếu tố sản xuất khác .Do vậy ai nắm được trí tthức, người đó sẽ ở vào địa vị chi phối kinh tế xã hội, quốc gia nào nắm được nhiều trí thức quốc gia đó sẽ ở vị trí chi phối nền kinh tế toàn cầu, khu vực nào hội tụ được nhiều trí thức nhất khu vực đó sẽ trở thành trung tâm của nền kinh tế thế giới.Tri thức là nguồn yéu tố cốt lõi của nền kinh tế trí thức, vật mang trở trí thức là con người mà tố chất của người gắn liền với giáo dục. Vì vậy đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư vào nguồn trí thức. Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy muốn đất nước phát triển thì việc đầu tư cho giáo dục phải lớn mạnh, việc này không chỉ có nhà nước hay cá nhân mà toàn xã hội, toàn thành phần kinh tế . Như vậy, bất cứ loại hình doanh nghiệp nào đều phải quan tâm đến lao động trong quá trình đầu tư của mình. Việc quan tâm đến lao động trong doanh nghiệp không chỉ số lượng mà cần quan tâm cả is lượng và vật chất lao động :
  9. Về số lượng lao động :Nó ảnh hưởng đến quy mô sản xuất nếu có nhiều lao động và ngược lại. Về chất lượng lao động : Nó có ảnh hưởng đến cường độ lao động, năng suất lao động . Việc tăng chất lượng lao động chỉ bằng cách tăng đầu tư cho y tế, giáo dục đào tạo,dạy nghề ... Từ đó nâng cao thể lực trình độ, tay nghề của người lao động. Trong điều kiện này nhiều doanh nghiệp coi việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực là chiến lược trong cạnh tranh . Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được chia làm ba loại : Cán bộ quản lí,công nhân sản xuất và cán bộ nghiên cứu khoa học . Đối với từng loại này phải có chính sách đào tạo riêng nhưng đều phải liên tục được tu dưỡng rèn luyện nghiên cứu, học tập ...để nâng cao kinh nghiệm, trình độ tay nghề ... Đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được bắt đầu từ khâu tuyển người đây là cơ sở để có được lực lượng lao động tốt, bởi vậy khâu tuyển người đòi hỏi cần phải rất khắt khe cẩn thận nhất .Tuyển người hiện nay đòi hỏi phải đạt được các nhu cầu như : Trình độ văn hoá trình độ ngoại ngữ, trình độ vi tính ,yếu tố thể lực luôn được đánh giá cao đặc biệt là ở công nhân sản xuất . Thứ hai là, nâng cao khả năng lao động của người lao động thường xuyên Trong điều kiện đổi mới hiện nay rất nhiều công nghệ hiện đại đã và đang được ứng dụng trong các loại hình doanh nghiệp ở nước ta .vì vậy việc đào tạo lao động là yêu cầu vô cùng quan trọng ,rất nhiều công nhân và quản lí ...đã và đang ra nước ngoài học tập và các doanh nghiệp cũng học tập lẫn nhau . Thứ ba là việc khen thưởng tổ chức các hoạt động về tinh thần giúp người lao động hăng say trong công việc từ đó nâng cao năng suất lao động .Các hình thức khen thưởng đang được thực hiện ở các doanh nghiệp các cá nhân thành viên có thành tích tốt đều được thưởng xứng đáng góp
  10. phần nâng cao trong trong xí nghiệp , công ty , các cuộc thi các cá nhân sản xuất giỏi, nâng cao bậc thợ ... được tổ chức thường xuyên . Nhờ có chính sách đào tạo lao động nhiều doanh nghiệp đã đạt được những thành công to lớn, góp phần không nhỏ trong chiến lược sản xuất kinh doanh cũng như chiếnlược cạnh tranh của mình . 4.2) Đầu tư vào tài sản cố định, đổi mới máy thiết bị, công nghệ ở doanh nghiệp . Công nghệ có thể hiểu là tập hợp các công cụ phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực sản xuâts thành phẩm nhằm mục đích sinh lời Công cụ phương tiện ở đây không chỉ là phương tiện vật chất của sản xuất mà còn là bất kỳ công cụ và bí quyết có liên quan vào dùng để chế tạo, sử dụng công cụ vật chất đó để thực hiện các hoạt động biến đổi công nghệ gồm hai phần : phần cứng và phần mềm, phần cứng của công nghệ là máy móc thiết bị, công cụ ... Phần mềm của công nghệ là kỷ năng bí quyết, công nghệ kinh nghiệm quản lý . Như vậy khái niệm bao hàm có máy móc thiết bị và kỷ năng ,bí quyết công nghệ kinh nghiệm quản lý đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị công nghệ là một hình thức của đầu tư phát triển nhằm thực hiện hoá dây chuyền công nghệ và trang thiết bị tăng năng lực sản xuất kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh của sản phẩm thông qua việc cải tiến đổi mới nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ . Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng đòi hỏi ngày càng cao cũng như đối phó với các đối thủ cạnh tranh tạo chỗ đứng vững chắc trên thị trường thì doanh nghiệp không còn con đường nào khác là phaỉ nâng cao chất lượn sản phẩm của mình hạ giá thành để nâng cao khả năng cạnh tranh đồng thời tăng năng suất lao động , cải tiến và phát triển các loại hàng hoá dịch vụ mới , để thoả mãn những đòi hỏi của thị trường vấn đề này đòi hỏi các doanh nghiệp phải đầu tư vào đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ . Việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ ở các doanh nghiệp cần xem xét các vấn đề sau :
  11. Thứ nhất là : vòng đời của máy móc thiết bị và công nghệ . Chu kỳ phát triển của máy móc thiết bị và công nghệ như sau : xuất hiện, tăng trưởng, trưởng thành, bảo hoà, chu kỳ đó gọi là vòng đời của máy móc thiết bị. Đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ cũng phải căn cứ vào vòng đời này để quyết định thời điểm đầu tư thích hợp nhằm đảm baỏ hiệu quả của đồng vốn. Thứ hai là : phân tích môi trường kinh doanh . - Phần lớn máy móc thiết bị công nghệ chủ yếu phải nhập từ nước ngoài hoặc qua chuyển công nghệ nên cần phải phân tích môi trừơng quốc tế như các vấn đề về pháp luật , quyền sở hữu bằng phát minh sáng chế , chuyên gia công nghệ ... Bên cạnh đó cần phải xem xét phân tích môi trường văn hoá như phong tục tập quán , định chế xã hội của nước có công nghệ xuất khẩu. Các vấn đề về hệ thống chính trị, các chính sách như chính sách thương mại , quan hệ kinh tế đối ngoại cũng cần xem xét một cách kỹ lưỡng . - Phân tích môi trường kinh tế quốc dân cần chủ động đối với các yếu tố kinh tế , chính trị xã hội , điều kiẹn tự nhiên , nắm bắt được thực trạng nền kinh tế đang ở giai đoạn này , tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu ? lãi suất ngân hàng là bao nhiêu ? phải dự đoán được xu hướng tiêu dùng và thị hiếu của dân cư thông qua các hoạt động nghiên cứu thị trường , đồng thời phải nghiên cứu các tác động của MMCN đến ô nhiểm môi trường cũng như tác động của tự nhiên đến máy móc thiết bị và công nghệ sản xuất . - Phân tích môi trường ngành và nội bộ ngành . Tập trung và tìm hiểu xem có bao nhiêu đối thủ cạnh tranh tiềm lực và khả năng của họ như thế nào, sản phẩm của họ đóng vai trò như thế nào đối với người tiêu dùng, họ đang sử dụng máy móc thiết bị công nghệ nào . Thứ ba là : Phân tích thực trạng nội bộ doanh nghiệp : - Phân tích nhóm nhân tố liên quan đến nguồn nhân lực : bao gồm :
  12. + Trình độ nghề nghiệp của công nhân sản xuất trực tiếp . + Trình độ của cán bộ lãnh đạo , nhất là năng lực lãnh đạo kỹ thuật . - Phân tích vị thế của doanh nghiệp trên thị trường : + Nguồn tài chính là vấn đề cần chú ý lựa chọn mục tiêu vừa phải và có hướng đi phù hợp . + Cần xem xét quy mô vốn có thể huy động và đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của mỗi ngành . - Xem xét các điều kiện về cơ sở hạ tầng hiện có hoặc có các biện pháp bổ xung thích hợp với máy móc thiết bị và công nghệ dự kiến sẽ lựa chọn . Thứ tư là : phân tích các yếu tố liên quan đến máy móc thiết bị và công nghệ . - Xem xét xu hướng lâu dài của máy móc thiết bị và công nghệ để đảm bảo tránh sự lạc hậu hoặc khó khăn gây trở ngại cho việc sử dụng máy móc thiết bị ( khan hiếm về nguyên liệu hoặc vật liệu mà máy móc thiết bị sử dụng...) trong khi chưa thu hồi đủ vốn . - Lựa chọn máy móc thiết bị mà các dụng cụ thay thế sẵn có trong nước hoặc là được đảm bảo chắc chắn có phụ tùng thay thế . - Máy móc công nghệ phải lựa chọn loại có nhiều nguồn cung cấp để tạo ra sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp để mua được công nghệ với giá phải chăng, tạo thế chủ động cho hoạt động sau này . - Xem xét toàn diện khía cạnh kinh tế kỹ thuật của máy móc thiết bị và công nghệ để lựa chọn công nghệ thích hợp, tối ưu với điều kiện của doanh nghiệp . Thứ năm là , phân tích các chỉ tiêu thể hiện hiệu quả đầu tư đổi mới máy móc thiết bị và công nghệ . - Giảm bớt cường độ lao động, các công việc nặng nhọc, thay đổi cơ cấu lao động trong doanh nghiệp theo hướng tăng tỷ lệ lao động có chuyên môn kỹ thuật, giảm tỷ lệ lao động tay nghề thấp, không có trình độ nghiệp vụ .
  13. - Tác động đến cơ cấu tổ chức cũng như tổ chức sản xuất của doanh nghiệp theo hướng tinh gọn, năng động, và hiệu quả . - Cải thiện môi trường lao động theo hứơng giảm dần các yếu tố và khu vực độc hại, phát triển công nghệ sạch - Mở rộng thị trường theo hướng có nhiều bạn hàng mới và thị phần được mở rộng, đáp ứng được nhiều đòi hỏi khắt khe và thường xuyên thay đổi của thị trường . - Thực hiện được mục tiêu trong chiến lược chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất cũng như các ngành lĩnh vực mà doanh nghiệp đang tham gia kinh doanh 4.3) Đầu tư vào tài sản vô hình khác . Đầu tư vào tài sản vô hình có thể hiểu như sau : Đó chính là đầu tư vào nâng cao trình độ tay nghề, phương pháp quản lý, bí quyết công nghệ nghiên cứu thị trường, các phương pháp khuyến mại ... ở đây chỉ đề cập một số nội dung chủ yếu nhất : * Đầu tư cho nghiên cứu và triển khai ( R&D) Trước hết cần phải nói đến đó là đầu tư cho nghiên cứu và triển khai cho các doanh nghiệp Đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ là lĩnh vực đầu tư không thể thiếu được của các công ty kinh doanh nói chung . Nghiên cứu khoa học và công nghệ giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của các công ty trong sản xuất kinh doanh, bảo đảm sức mạnh và vị trí cạnh tranh của công ty trên thị trường hiện tại cũng như trong tương lai . Hoạt động đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ được thực hiện dưới hình thức đầu tư cho nghiên cứu triển khai thường gắn với chiến lược kinh doanh của công ty, góp phần thực hiện những mục tiêu ( Ngắn hạn hoặc dài hạn ) của công ty . Tuy nhiên nhu cầu, khả năng và quy mô đầu tư nghiên cứu và triển khai của mỗi công ty có sự khác nhau
  14. Mục đích của các chương trình và dự án R&D không chỉ dừng lại ở dạng nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu nhằm tăng chất lượng của sản phẩm , tạo nên sản phẩm có đặc điểm nổi bật hơn , mà còn tập trung nghiên cứu tìm kiếm , phát triển kỹ thuật và công nghệ mới nhất cho công ty có thể nói R&D là phần không thể thiếu được trong các hoạt động của công ty . đầu tư vào R&D là một trong những yếu tố giúp các công ty giảm được các chi phí liên quan đến sản xuất kinh doanh Nhu cầu đầu tư nghiên cứu và phát triển của các doanh nghiệp đã được xác định trên cơ sở phân tích những mặt mạnh yếu và các cơ hội của công ty và khả năng tài chính của công ty . Dựa vào phân tích những mặt mạnh yếu và các cơ hội của công ty người ta có thể xác định được liêụ công ty có nhu cầu đầu tư cho nghiên cứu và triển khai hay không và cần phải tập trung đầu tư cho các lĩnh vực, cho các hoạt động nào của công ty. Nghiên cứu khả năng tài chính của công ty sẽ cho phép xác định được khả năng và quy mô đầu tư nghiên cứu triển khai của bản thân công ty đó. Quy mô đầu tư nghiên cứu triển khai của các công ty không những phụ thuộc vào khả năng tài chính của công ty mà còn phụ thuộc vào hàng loạt các nhân tố như : - Quy mô sản xuất kinh doanh của công ty : Quy mô sản xuất kinh doanh càng lớn thì khả năng, quy mô đầu tư nghiên cứu triển khai càng lớn - Cơ hội về đổi mới kỹ thuật và các cơ hội trong ngành : những ngành có nhiều cơ hội đổi mới công nghệ và kỹ thuật đòi hỏi các công ty trong ngành đó phaỉ tích cực đầu tư cho nghiên cứu nắm bắt kịp thời các cơ hội về kỹ thuật và công nghệ của ngành . Khi đánh giá hiệu quả của nghiên cứu triển klhai các doanh nghiệp thường dựa trên một số quan điểm sau : Thứ nhất là, hiệu quả đầu tư nghiên cứu và triển khai phải được xem xét đánh giá toàn diện, về các mặt tài chính kinh tế xã hội, môi trường
  15. Thứ hai là, hiệu quả đầu tư nghiên cứu và triển khai vừa có thể lượng hoá được vừa có thể không lượng hoá được. Do đó kết quả của đầu tư cho nghiên cứu và triển khai có thể được thể hiện dưới dạng hiện hoặc dạng ẩn tuỳ theo dự án, chương trình nghiên cứu . Tóm lại, có thể nói đầu tư cho nghiên cứu triển khai đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Các chương trình và dự án R&D gắn chặt với chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp đạt được các mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn về kinh tế cũng như các ảnh hưởng khác . * Đầu tư cho việc nghiên cứu thị trường : Thứ nhất, đầu tư cho việc nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp trước hết là nghiên cứu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp . Có thể nói cạnh tranh là một đặc tính cơ bản nhất của thị trường , sẽ không có thị trường nếu không có cạnh tranh, trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo mục tiêu của doanh nghiệp, người tiêu dùng là tối đa hoá lợi nhuận và sự tiện ích của mình , khả năng cạnh tranh là nguồn năng lượng thiết yếu để doanh nghiệp tiếp tục vững bước trên con đường hội nhập kinh tế Thực tế cho thấy doanh nghiệp kinh doanh thành công thực hiện các kỹ năng cạnh tranh rất thuần thục, nó tạo thành phương pháp cạnh tranh đặc thưng doanh nghiệp. Các kỹ năng này tập trung vào : - Tạo lập và phát triển uy tín doanh nghiệp - Coi trọng chiến lược mở rộng thị trường - Xây dựng và thực hiện đổi mới sản phẩm , mẫu mã - Luôn tìm cách giảm chi phí sản xuất (tồn đọng vốn, chi phí trung gian, sáng kiến cải tiến kỹ thuật ) - Sách lược tiêu thụ sản phẩm khôn khéo . Thứ hai khi nghiên cứu thị trường trong đầu tư tài sản vô hình của doanh nghiệp ta cần phải nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng
  16. Hành vi của người tiêu dùng được thực hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng đánh giá và vứt bỏ các sản phẩm và dịch vụ mà họ dự định sẽ thoả mãn các nhu cầu của họ . Nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng là nghiên cứu các cá nhân đưa ra quyết định như thế nào đối với việc chi tiêu các nguồn tài nguyên có thể sử dụng của họ ( như tiền thơì gian và nổ lực ) trong các hạng mục liên quan đến sự tiêu dùng . hành vi người tiêu dùng bao gồm hai quyết định là tinh thần và hoạt động vật chất . Qua việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng sẽ cung cấp cho các nhà sản xuất những thông tin quan trọng để họ lên kế hoạch sản xuất thiết kế cải tiến và xây dựng được chiến lược khuyến mại . Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng đi xa hơn các vấn đề trên nó xem xét vấn đề sử dụng của ngươì tiêu dùng đối với các hàng hoá họ mua và các đánh giá tiếp theo của họ . Những hiệu quả có thể xảy ra sau đó của sự không thỏa mản sau khi mua hàng của người tiêu dùng có thể tác động quan trọng đối với các nhà Marketing , người phải xây dựng được chiến lược vận động khuyến mại của công ty . hơn nữa việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng cũng nghiên cứu cách họ sử dụng sản phẩm họ mua như thế nào và các đánh giá sau khi mua hàng của họ . Mục đích chính của nghiên cứu người tiêu dùng là phục vụ cho công tác quản lý kinh doanh sản xuất và dịch vụ . Các nhà quản lý muốn biết nguyên nhân hành vi của người tiêu dùng, họ muốn biết con người đưa ra quyết định mua hàmg sử dụng, cất kho và vứt bỏ các sản phẩm như thế nào từ đó xây dựng chiến lược Marketing lập ra những phần mảng thị trường mới cho một sản phẩm riêng hay một loại sản phẩm. Nghiên cứu hành vi người tiêu dùng được tiến hành bỡi các tổ chức Marketing khác như hiệp hội nghiên cứu thị trường và các công ty Marketing riêng biệt. Thấy được tầm quan trọng và cần thiết của việc nghiên hành vi người tiêu dùng, các công ty, xí nghiệp đang đầu tư một cách thích đáng cho việc nghiên cứu. Việc nghiên cứu thành công giúp doanh nghiệp có chiến lược
  17. sản xuất kinh doanh đúng hướng, tiêu thụ nhanh sản phẩm quay nhanh vòng vốn nhanh thúc đẩy nền kinh tế phát triển . * Đầu tư và bí quyết công nghệ Một nội dung trong đầu tư tài sản vô hình đó chính là bí quyết công nghệ. Đầu tư vào tài sản vô hình cũng có nghĩa là đầu tư vào mua bí quyết công nghệ Ngoài máy móc thiết bị thì bí quyết công nghệ (Know-how) là một phần quan trọng của công nghệ. Thật sai lầm và không đầy đủ khi đầu tư đổi mới công nghệ mà không chú ý đến bí quyết công nghệ . Các doanh nghiệp hiện nay thường chỉ nghĩ đến mua máy móc thiết bị mà quên mất đi phần bí quyết công nghệ . Bí quyết công chứa đựng trong tất cả các khâu, các công đọan của quá trình sản xuất như tổ chức hợp lý hoá, điều hành sản xuất, hệ thống tài chính kế toán, khách hàng, thị trường tiêu thụ sản phẩm, đào tạo và thông tin, lập kế hoạch cải tiến công nghệ, xử lý môi trường... Chính vì thế bí quyết công nghệ đóng vai trò rất quan trọng là nó là một nhân tố mà các doanh nghiệp cần quan tâm xem xét và tiến hành đầu tư . 4.4) Đầu tư vào hàng dự trữ . * Theo lý thuyết Mankew : đầu tư vào hàng tồn kho gồm hàng hoá mà doanh nghiệp giữ lại trong kho kể cả vật tư nguyên liệu, bán thành phẩm và thành phẩm . - Theo cách phân loại căn cứ vào đặc điểm hoạt động của các kết quả Đầu tư có đầu tư cơ bản (đầu tư cố định) Nằm tái sản xuất các tài sản . tài sản cố định, đầu tư vận hành (đầu tư vào hàng dự trữ) nhằm tạo ra các tài sản lưu động cho các doanh nghiệp mới hình thành tăng thêm tài sản lưu động cho các doanh nghiệp hiện có (đầu tư nguyên vật liệu thô, bán thành phẩm và sản phẩm hoàn thành ) Đầu tư vận hành chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu tư, đặc điểm kỹ thuật của quá trình thực hiện đầu tư không phức tạp .
  18. * Đặc điểm của đầu tư vào dự trữ . - Dự trữ được chuyển hoá thành các dạng khác nhau trong quá trình sản xuất, ví dụ : từ nguyên liệu thô - bán thành phẩm - thành phẩm . - Quy mô đầu tư vào dự trữ của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều nhân tố như dự đoán cầu trong tương lai, phụ thuộc vào quy luật tiêu dùng nhu cầu riêng biệt của mỗi mặt hàng và quy luật tiêu dùng ở thời kỳ quá khứ sẽ được phản ảnh tương tự ở kỳ dự báo - Phụ thuộc vào khách hàng, sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có tham vọng chiếm lĩnh thị trường lớn thì sẽ dự trữ nhiều - Phụ thuộc vào mức độ chậm trễ của khâu phân phối lưu thông thể hiện ở một bộ phận dự trữ là dự trữ bảo hiểm Dự trữ bảo hiểm là bộ phận dự trữ cần thiết trong những trường hợp sau : + Lượng vật tư tiêu dùng bình quân một ngày đêm phục vụ cho sản xuất lớn hơn mức tiêu dùng vật tư thường xuyên ở doanh nghiệp + Lượng vật tư nhận được từ đơn vị cung ứng trong lần giao hàng ít hơn so với kế hoạch + Khoảng cách chênh lệch giữa hai kỳ cung ứng nối tiếp nhau của đơn vị cung ứng lớn hơn so với kế hoạch - Chi phí dự trữ bao gồm : + Chi phí đặt hàng :gồm chi phí giao dịch ,chi phí điện thoại ,văn phòng phẩm ( chi phí đặt hàng tương đối cố định cho mỗi lần đặt hàng ). + chi phí tồn trữ gồm :Chi phí về lãi suất, chi phí về tiền công tiền lương cho những người bảo vệ quản lí, chi phí cho máy móc thiết bị - Các bộ phận của dự trữ gồm : + Dự trữ thường xuyên : là loại dự trữ nhằm để bảo vệ cho quá trình sản xuất doanh nghiệp diễn ra liên tục giữa hai kì cung ứng nối tiếp nhau của đơn vị cung ứng . + Dự trữ bảo hiểm .
  19. + Dự trữ chuẩn bị : ở một số doanh nghiệp sản xuất, một số loại vật tư trước khi đưa vào tiêu dùng sản xuất phải thông qua một số công đoạn như là pha trộn, ghép đồng bộ, đập nhỏ ...và thời gian giành cho công đoạn này trên cùng một ngày thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vật tư dữ trữ lượng vật tư dự trữ này được gọi là dự trữ chuẩn bị của doanh nghiệp . + Dự trữ hàng hoá bằng đơn vị hiển vật gọi là dự trữ tuyệt đối .Do sự phát triển của sản xuất, dự trữ tuyệt đối có xu hướng tăng . + Dự trữ hàng hoá tính theo đơn vị thời gian gọi là dự trữ tương đối của doanh nghiệp ,dự trữ này có xu hướng giảm . * Vai trò của dự trữ . Dự trữ luôn là vấn đề sống còn là một đòi hỏi tất yếu khách quan, nó đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của sản xuất và tiêu dùng . Trong mô hình dự trữ JIT ( Just in time ) chỉ ra : Nếu dự trữ thật nhiều dẫn đến ứng đọng vốn, hàng hoá hỏng, tăng chi phí bảo quản không hiệu quả . Nếu dự trữ ít quá không đủ nguyên vật liệu để sản xuất, không đủ hàng hoá để bán và dẫn đến gián đoạn sản xuất kinh doanh . Cần phải phân biệt dự trữ và tình trạng dư thừa ứng đọng sản phẩm trong các doanh nghiệp . 5) Vốn đầu tư của doanh nghiệp . 5.1. Khái niệm . Trong điều kiện hiện nay ,nền kinh tế sản xuất hàng hoá để tiến hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh thì các doanh nghiệp đều phải có vốn . Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh lần đầu tiên được thành lập, số vốn này được dùng để xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị ... để tạo ra các cơ sở vật chất kỹ thuật ( các tài sản cố định ) cho các cơ sở này, đồng thời số vốn trên còn được dùng để mua sắm nguyên vật liệu, trả tiền lương cho người lao động trong chu kì sản xuất kinh doanh ( tạo vốn lưu động gắn liền vơí hoạt động của các tài sản cố định vừa được tạo ra ).
  20. Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang hoạt động để mua sắm thêm các máy móc thiết bị ,xây dựng thêm nhà xưởng và tăng thêm vốn lưu động nhằm mở rộng quy mô hoạt động hiện có ,sửa chữa hoặc hiện đại hoá các tài sản cố định đã bị hư hỏng hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình . Số vốn cần thiết để tiến hành lao động đầu tư của doanh nghiệp như trên là rất lớn ,không thể lúc đó doanh nghiệp có đầy đủ .Vì vậy số vốn cần thiết cho các hoạt động đầu tư trên chỉ có thể là tích luỹ của cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ,là vốn huy động từ dân cư và vốn huy động từ nước ngoài . Từ đây ta có khái niệm về vốn đầu tư của doanh nghiệp như sau : Vốn đầu tư doanh nghiệp bao gồm nguồn lực tự tích luỹ của doanh nghiệp ,nguồn vay nguồn viện trợ và các lực huy động từ bên ngoài . 5.2.Nội dung vốn đầu tư của doanh nghiệp . Nội dung của vốn đầu tư trong doanh nghiệp bao gồm các khoản mục gắn liền với nội dung của hoatj động đầu tư trong doanh nghiệp . Hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là quá trình sử dụng vốn đầu tư nhằm tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật và thực hiện các chi phí gắn liền với sự hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa được tái sản xuất thông qua các hình thức xây dựng ,mua sắm lắp đặt ... thực hiện có chi phí gắn liền vơí sự ra đời và hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật đó . Xuất phát từ nội dung hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp trên đây ,có thể chia vốn đầu tư thành các khoản mục sau đây : - Chi phí chuẩn bị đầu tư bao gồm chi phí nghiên cứu cơ hội đàu tư ,chi phí nghiên cứu tiền khả thi,chi phí nghiên cứu khả thi và thẩm định. - Những chi phí tạo ra tài sản cố định bao gồm : + Chi phí ban đầu và đất đai . + Chi phí xây dựng sửa chữa nhà cửa ,cấu tríc hạ tầng .
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản