Luận văn: "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động sang Đài Loan của Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại"

Chia sẻ: thu_nguyet

Ngày nay, với xu hướng hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam đang trên đà đẩy mạnh các hoạt động kinh tế - chính trị nhằm tìm kiếm cho mình một chỗ đứng vững chắc trên trường quốc tế. Hoạt động xuất nhập khẩu hiện nay đang được đặc biệt chú trọng bởi nó mang lại cho nền kinh tế - xã hội nước ta những bước chuyển mới với hiệu qủa rõ rệt. Bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như: gạo, cà phê, giày dép, thuỷ sản, may...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn: "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động sang Đài Loan của Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại"

TRƯỜNG..........................
KHOA……………………



BÁO CÁO TỐT NGHIỆP


ĐỀ TÀI




Thực trạng và giải pháp thúc
đẩy xuất khẩu lao động sang
Đài Loan của Công ty cổ
phần Đầu tư và Thương mại
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, với xu hướng hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, Việt
Nam đang trên đà đẩy mạnh các hoạt động kinh tế - chính trị nhằm tìm kiếm cho
mình một chỗ đứng vững chắc trên trường quốc tế.
Hoạt động xuất nhập khẩu hiện nay đang được đặc biệt chú trọng bởi nó
mang lại cho nền kinh tế - xã hội nước ta những bước chuyển mới với hiệu qủa
rõ rệt. Bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng chủ lực như: gạo, cà
phê, giày dép, thuỷ sản, may mặc... thì hoạt động xuất khẩu lao động lại đặc biệt
được quan tâm trong thời gian gần đây. Đảng và Nhà nước ta đã coi hoạt động
xuất khẩu là một hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần phát triển nguồn nhân lực,
giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao
động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc
tế giữa nước ta với các nước.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác xuất khẩu lao động còn gặp
phải những khó khăn, thách thức mới. Nhu cầu về việc làm của người lao động
và lợi ích quốc gia đòi hỏi Nhà nước và chính bản thân người lao động phải có
những cố gắng, giải pháp riêng để không ngừng nâng cao hiệu qủa và mở rộng
chương trình làm việc với người nước ngoài để ngày càng có thêm nhihều thị
trường mới để xuất khẩu lao động đạt kết qủa cao.
Để đi sâu nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu lao động, em đã chọn đề tài
"Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động sang Đài Loan của
Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại" làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của mình. Nội dung chuyên đề được chia làm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về xuất khẩu lao động
Chương II: Thực trạng xuất khẩu lao động ở Công ty cổ phần Đầu tư
và Thương mại.
Chương III: Phương hướng và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu
lao động ở Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại trong những năm tới.



1
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Đây là một đề tài khá mới mẻ nên trong quá trình tìm hiểu, xây dựng đề
tài em đã gặp không ít khó khăn, nhưng với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo
TS. Thân Danh Phúc, cùng với các anh chị ở phòng xuất khẩu lao động và
chuyên gia của Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại, cũng như qua quá trình
tìm tòi các tài liệu phục vụ cho chuyên đề, em đã xây dựng nên một chuyên đề
hoàn chỉnh. Tuy nhiên, với thời gian, trình độ còn hạn chế và kinh nghiệm thực
tế chưa nhiều, em mong có sự góp ý của các thầy cô giáo về những thiếu sót em
mắc phải.
Em xin chân thành cảm ơn.


Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2005
Sinh viên thực hiện




Phạm Diễm Ngọc




2
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
I. NỘI DUNG CỦA XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG:
1. Một số khái niệm cơ bản:
Trong khoảng 20 năm trở lại đây việc đưa lao động của một quốc gia ra
khỏi phạm vi của nước đó để làm việc đã trở nên quen thuộc với số lượng ngày
càng tăng.Đó là do sự phát triển kinh tế trên phạm vi toàn cầu đang có những
chuyển biến về chất và không đoòng đều giữa các nước dựa trên cơ sở phát triển
mạnh của khoa học kỹ thuật.Thực tế cho thấy, sức lao động của các quốc gia có
dư thừa lao động đến giai đoạn hiện nay đã được xem như là một loại hàng hoá
có thể mang lại nguồn thu ngoại tệ rất lớn cho ngân sách quốc gia.
Do vậy để nghiên cứu về xuất khẩu lao động trước hết cần phải tìm hiểu và làm
rõ các khái niệm có liên quan:
- Nguồn lao động: Là bộ phận dân cư gồm những người trong độ tuổi lao
động (không kể những nguời mất khả năng lao động) và những ngưòi ngoài tuổi
lao động nhưng thực tế có tham gia lao động. Nguồn lao động bao gồm những
người từ độ tuổi lao động trở lên (ở nước ta là tròn 15 tuổi).
- Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay
đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. Thực chất là sự vận
động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao
động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản
xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người.Có thể nói lao động là yếu tố quyết
định cho mọi hoạt động kinh tế.
- Sức lao động: Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người
trong quá trình tạo ra của cải xã hội, nó phản ánh khả năng lao động của con
người, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội. Trong nền
kinh tế hàng hoá sức lao động là một hàng hóa đặc biệt vì nó có giá trị và giá trị
sử dụng các hàng hoá khác, ngoài ra hàng hoá sức lao động còn là một sản phẩm
có tư duy, có đời sống tinh thần. Thông qua thị trường lao động, sức lao động


3
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

được xác định giá cả. Hàng hoá sức lao động cũng tuân theo quy luật cung – cầu
của thị trường. Mức cung cao sẽ dẫn tới dư thừa lao động, giá cả sức lao động
(tiền công) thấp, ngược lại khi mức cung thấp sẽ dẫn tới tình trạng thiếu lao
động, giá cả sức lao động sữ trở nên cao hơn.
- Thị trường lao động: Trong mỗi xã hội, nơi nào xuất hiện nhu cầu sử
dụng lao động và có nguồn lao động cung cấp, ở đó sẽ hình thành nên thị trường
lao đông. Trong nền kinh tế thị trường, người lao đông muốn tìm việc phải
thông qua thị trường lao động. Về mặt thuật ngữ, "Thị trưòng lao đông" thực
chất phải được hiểu là "Thị trường sức lao động" để phù hợp với khái niệm của
tổ chức lao động quốc tế: Thị trường lao động là một lĩnh vực của nền kinh tế,
nó bao gồm toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực mua bán,
trao đổi và thuê mướn sức lao động. Trên thị trường lao động, mối quan hệ được
thiết lập giữa một bên là người lao động và một bên là người sử dụng lao động.
Qua đó, cung-cầu về lao đọng ảnh hưởng tới tiền công lao động và mức tiền
công lao động cũng ảnh hưởng tới cung- cầu lao động.
+ Cầu lao động: là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mức
giá có thể chấp nhận được. Nó mô tả toàn bộ hành vi người mua có thể mua
được hàng hoá sức lao động ở mỗi mức giá hoặc ở tất cả các mức giá có thể đặt
ra.
Cầu về sức lao động có liên quan chặt chẽ tới giá cả sức lao động, khi giá
cả tăng hoặc giảm sẽ làm cho cầu về lao động giảm hoặc tăng.
+ Cung lao động: là lượng lao động mà người làm thuê có thể chấp nhận
được ở mỗi mức giá nhất định. Giống như cầu và lượng cầu, đường cung lao
động mô tả toàn bộ hành vi của người đi làm thuê khi thoả thuận ở các mức giá
đặt ra. Cung lao động có quan hệ tỷ lệ thuận với giá cả. Khi giá cả tăng thì lượng
cung lao động tăng và ngược lại.
Xuất khẩu lao động trên thị trường lao động quốc tế được thực hiện chủ
yếu dựa vào quan hệ cung - cầu lao động. Nó chịu sự tác động, điều tiết của các
quy luật kinh tế thị trường. Bên cầu phải tính toán kỹ hiệu quả của việc nhập


4
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

khẩu lao động từ đod cần phải xác định chặt chẽ số lượng, cơ cấu, chất lượng
lao động hợp lý. Mặt khác, bên cung có mong muốn xuất khẩu càng nhiều lao
động càng tốt. Do vậy, muốn cho loại hàng hoá đặc biệt này chiếm đựơc ưu thế
trên thị trường lao động, bển cung phải có sự chuẩn bị và đầu tư để được thị
trường chấp nhận, phải đáp ứng kịp thời các yêu cầu về số lượng, cơ cấu và chất
lượng lao động cao.
Thị trường lao động nước ta hiện nay tuy đã hình thành song phạm vi còn
nhỏ hẹp. Để phù hợp với sự phát triển quá nhanh của nguồn lao động trước hết
thị trường lao động phải được mở rộng cả trong và ngoài nước, đồng thời tạo
điều kiện cho người lao động có quyền bình đẳng, tự do tìm việc làm, thuê
mướn lao động theo pháp luật.
- Di dân quốc tế: Di dân quốc tế được hiểu là quá trình di chuyển lao
động từ nước này sang nứoc khác để tìm việc làm. Nếu xét theo khía cạnh dân
số học thì xuất khẩu lao động cũng là một quá trình di dân quốc tế. Do đó,việc
đưa nguời lao động đi làm việc ở nước ngoài chính là tham gia vào quá trình di
dân quốc tế, nó không nằm ngoài những quy luật chung. Việc đưa người lao
động đi làm việc ở nước ngoài tuân theo những hiệp định giữa hai quốc gia, đa
quốc gia hoặc theo công ước quốc tế, tuỳ từng trường hợp khác nhau mà nó
được xếp nằm trong giới hạn nào.
- Xuất khẩu lao động:
Đến nay, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm chuẩn nào về xuất khẩu
lao động. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu xuất khẩu lao động thông qua khái niệm
của tổ chức lao động quốc tế ( ILO) như sau: Xuất khẩu lao động là hoạt động
kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia
trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hượp pháp quy định được
sự thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận người lao động.
Phân loại xuất khẩu lao động:
Căn cứ vào cơ cấu người lao động đưa đi:



5
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Lao động có nghề: là loại lao động trước khi ra nước ngoài làm việc đã
được đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nước
ngoài làm việc có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra thời gian
và chi phí để tiến hành đào tạo nữa.
Lao động không có nghề: là loại lao động mà khi ra nước ngoài làm việc
chưa được đào tạo một loại nghề nào cả. Loại lao động này thích hợp với những
công việc đơn giản, không cần trình độ chuyên môn hoặc phía nước ngoài cần
phải tiến hành đào tạo cho mục đích của mình trước khi đưa vào sử dụng.
Căn cứ vào nước xuất khẩu lao động:
Nhóm các nước phát triển: Có xu hướng gửi lao động kỹ thuật cao sang
các nước đang phát triển để thu ngoại tệ. Trường hợp này không phải là chảy
máu chất xám mà là đầu tư chất xám có mục đích. Việc đầu tư nhằm một phần
thu lại kinh phí đào tạo cho đội ngũ chuyên gia trong nhiều năm, một phần khác
lớn hơn là phát huy năng lực trình độ đội ngũ chuyên gia, công nhân kỹ thuật
bậc cao ở nước ngoài .v.v... để thu ngoại tệ.
Nhóm các nước đang phát triển: có xu hướng gửi lao động bậc trung hoặc
bậc thấp sang các nước có nhu cầu để lấy tiền công và tích luỹ ngoại tệ, giảm
bớt khó khăn kinh tế và sức ép việc làm trong nước.
2. Các hình thức xuất khẩu lao động:
Xuất khẩu lao động thực tế đem lại lợi ích thiết thực cho cả người lao
động và phía Nhà nước. Nhận thức rõ điều đó Đảng và Nhà nước ta đã không
ngừng đưa ra những chủ trương, chính sách tạo điều kiện cho người lao động có
cơ hội đi làm việc ở nước ngoài. Ngày 17 tháng 7 năm 2003 Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 81/2003/NĐ-CP quy định chi tiết về việc đưa người Việt
Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Tại điều 3 khoản 2 Nghị định này
quy định rõ các hình thức đưa người lao động Việt Nam đi làm viẹec có thời hạn
ở nước ngoài, trong đó bao gồm các hình thức cơ bản sau:
2.1. Thông qua doanh nghiệp Việt Nam được phép cung ứng lao động theo
hợp đồng ký kết với bên nước ngoài:


6
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Đối tác nước ngoài có nhu cầu sử dụng lao động, đưa ra những yêu cầu cụ
thể về số lượng, tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính...Các doanh nghiệp, tổ chức kinh
tế của Việt Nam sau khi nhận được đơn đặt hàng của bên nước ngoài sẽ tiến
hành sơ tuyển dựa trên những tiêu chí có sẵn. Để đảm bảo đúng yêu cầu của
mình, bên nước ngoài thực hiện kiểm tra lại một lần nữa trước khi lao động sang
làm việc.
2.2. Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận khoán công trình
hoặc đầu tư ở nước ngoài.
Bên nước ngoài đặt hành cho các công trình xây dựng, do vậy phải đưa đi
đồng bộ các đối tượng lao động gồm có kỹ thuật, quản lý, chỉ đạo thi công và
lao động trực tiếp sang nước ngoài làm việc. Sau khi công trình kết thúc thì cũng
chấm dứt hợp đồng đối với người lao động, vì thế xuất khẩu lao động theo hình
thức khoán khối lượng công việc thường không ổn định, tâm lý của người lao
động dễ bị chán nản, không tận tâm với công việc.
2.3. Theo hợp đồng lao động do cá nhân người lao động trực tiếp ký kết với
người sử dụng lao động ở nước ngoài (sau đây gọi là hợp đồng cá nhân):
Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay, hình thức này đòi hỏi đối tượng
lao động đa dạng tuỳ theo yêu cầu và mức độ phức tạp của công việc. Có những
yêu cầu của người nước ngoài đòi hỏi người có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm
sản xuất, kinh nghiệm tổ chức quản lý, cũng có những yêu cầu chỉ cần người lao
động có trình độ giản đơn.
Ngoài những hình thức đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài, hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ cũng đã trở nên phổ biến hơn ở Việt
Nam. Thông qua các tổ chức kinh tế của ta, người lao động được cung ứng cho
các tổ chức kinh tế nước ngoài dưới những hình thức:
- Các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Các khu chế xuất, khu công nghiệp.
- Các tổ chức, cơ quan ngoại giao tại Việt Nam.
3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động:


7
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Hiệu quả là chỉ tiêu so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt
được hiệu quả đó ( Hiệu quả = kết quả - chi phí ). Có hai loại hiệu quả là hiệu
quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế là hiệu quả đạt được về mặt
kinh tế, còn hiệu quả xã hội là hiệu quả đạt được về mặt xã hội. Đây là khái
niệm chung để đánh giá hiệu quả, tuy nhiên khi đi vào từng lĩnh vực cụ thể thì
việc đánh giá hiệu quả không đơn giản chút nào, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất
khẩu lao động này. Bởi vì để có thể đánh giá chính xác, đầy đủ và đúng hiệu quả
kinh tế xã hội ở từng thị trường cụ thể thì chúng ta cần phải đánh giá toàn bộ,
toàn diện một cách tổng hợp những kết quả đạt được và chi phí bỏ ra trong quá
trình hoạt động đó, đồng thời, phải xem xét hiệu quả của nó trên cơ sở lợi ích
chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân của nước ta. Qua đó một lần nữa thấy rõ
hơn việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài trong mối liên hệ chung của nền
kinh tế đất nước quan trọng như thế nào bởi lẽ kết quả cuối cùng của lĩnh vực
này được chuyển từ chu trình này sang một chu trình khác, từ ngành này sang
ngành khác, từ nước này sang nước khác...Với quan điểm như vậy, đánh giá
hiệu quả của lĩnh vực này không thể giống như việc đánh giá hiệu quả của một
quá trình kinh doanh cụ thể trong nước mà không có phần phức tạp hơn nhiều.
Một số chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của xuất khẩu lao động
3.1 Lợi ích kinh tế đạt được
a. Số lượng lao động được giải quyết việc làm trong năm:
Công thức tính:

L = Lc + Lx - Ln


Trong đó:
L : Số lao động được giải quyết việc làm trong năm
Lc : Số lao động từ năm trước vẫn còn đang tiếp tục
Lx : Số lao động được đưa sang hoạt động trong năm
Ln : Số lao động kết thúc hợp đồng trở về nước trong năm
Ý nghĩa của chỉ tiêu:

8
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Chỉ tiêu này nêu ra được chi tiết kết quả đạt được trong một năm qua của
công tác xuất khẩu lao động. Nó chỉ ra được những đóng góp của lĩnh vực này
đối với việc tạo công ăn việc làm cho xã hội mà nhà nước ta đã không phải bỏ
vốn đầu tư để tạo việc làm mới, giải quyết một phần tình trạng ứ đọng lao động
của đất nước ( mặc dù trước khi đi xuất khẩu lao động những người lao động
này không phải tất cả đều thuộc diện thất nghiệp).
b. Thu nhập quốc dân về ngoại tệ thông qua hoạt động xuất khẩu lao động:
Công thức tính:

P = ∑ Yj ( j = 1 đến n )
Yj = Xij . Kj


Trong đó:
P : Mức thu của nhà nước
Y: Mức thu của nhà nước ở mỗi thị trường
n : Số thị trường đưa lao động sang
j : Nước đưa lao động sang
K : Tỷ số hối đoái quy đổi ra ngoại tệ quy ước
X : Thuế thu nhập mỗi người phải đóng
Ý nghĩa chỉ tiêu:
Chỉ tiêu này cho biết số tiền nhà nước thu được thông qua xuất khẩu lao
động. Vấn đề ngoại tệ (nhất là ngoại tệ mạnh) đối với Việt Nam có ý nghĩa to
lớn. Tất cả các hoạt động có thể đem về ngoại tệ cho đất nước cần được khuyến
khích. “ Cùng với việc xuất khẩu hàng hoá cần hết sức coi trọng, tạo điều kiện
thuận lợi cho các hoạt động thu ngoại tệ như phát triển du lịch, cung ứng tàu
biển, dịch vụ hàng không, tổ chức gia công hàng xuất khẩu và đưa lao động đi
làm việc ở nước ngoài là những hình thức thích hợp với hàng triệu người lao
động dư thừa hiện nay. Khả năng hợp tác lao động với nước ngoài của nước ta là
rất lớn, nếu chúng ta biết tổ chức và khai thác hết những tiềm năng đó trong



9
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

quan hệ kinh tế đối ngoại thì sẽ thu đựơc nguồn ngoại tệ đáng kể thúc đẩy sản
xuất phát triển.”
c. Mức tiết kiệm đầu tư vào việc làm của chính phủ:
Công thức tính:

Mtk = mdt . L


Trong đó:
Mtk : Mức tiết kiệm vốn đầu tư tạo ra việc làm
mdt : Mức đầu tư trung bình tạo ra một chỗ làm việc mới
L : Số người có việc làm thường xuyên ở nước ngoài
Ý nghĩa chỉ tiêu:
Cho biết mức độ tiết kiệm không phải bỏ vốn đầu tư tạo ra chỗ làm việc
mới ở trong nước và đồng nghĩa với việc tăng thêm nguồn vốn đầu tư cho giải
quyết việc làm.
d. Giá trị hàng hoá do người lao động đưa về:
Công thức tính:

G = ∑ Hj ( j = 1 đến n )
Hj = ∑ hij . Nj


Trong đó:
G : Giá trị hàng hoá do người lao động đem về
H : Giá trị hàng hoá do người lao động ở mỗi thị trường đem về
h : Giá trị hàng hoá trung bình của một người lao động đem về
N : Số người gửi hàng hoá về trong năm
i : Biến số người
j : Biến số thị trường
Ý nghĩa chỉ tiêu:




10
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Cho biết lượng hàng hoá do người lao động đem về góp phần vào việc
cân đối quỹ hàng hoá trong nước và cải thiện đời sống gia đình, tăng thêm máy
móc thiết bị làm tư liệu sản xuất.
g: Thu nhập do lao động đi làm việc ở nước ngoài bổ sung vào thu nhập quốc
dân:




Công thức tính:

Q = ∑ (Pj + Vij) . kj ( j = 1 đến
n)


Trong đó:
Q : Thu nhập của người lao động làm việc ở nước ngoài tính vào thu nhập
quốc dân
P : Các khoản phải nộp của mỗi người lao động
V : Thu nhập của người lao động sau khi đã khấu trừ phần phải nộp
k : Tỷ giá hối đoái quy đổi ngoại tệ
i : Biến số người
j : Biến số nước sử dụng lao động
Ý nghĩa chỉ tiêu:
Chỉ tiêu cho biết phần thu nhập của người lao động ở nước ngoài được
tính vào thu nhập quốc dân.
Ngoài các chỉ tiêu có thể lượng hoá được để so sánh nói trên còn có một
số chỉ tiêu khác cũng có thể lượng hoá được như số lao động có nghề được đào
tạo nâng cao trình độ, mức tiết kiệm chi phí đào tạo trên một người lao động...
song nói chung còn ở mức thấp. Một số khía cạnh khác như việc du nhập kỹ
thuật công nghệ và kinh nghiệm sản xuất mới, việc du nhập nếp sống tiến bộ,
tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa hai nước, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế ...
phản ánh hiệu quả về mặt xã hội.

11
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

3.2 Chi phí bỏ ra:
Bao gồm có các chi phí cho người lao động trong lĩnh vực tham gia, chi
phí cho bộ máy quản lý, tổ chức tuyển mộ, đưa đi và quản lý ở nước ngoài, xử lý
các công việc sau khi đưa người lao động hết hạn trở về nước, tiền nộp phạt cho
nước bạn do người lao động tự ý bỏ hợp đồng...
Chi phí về mặt xã hội có ý kiến cho rằng còn có những tiêu cực do lao
động gây ra ở nước ngoài. Song những cái đó là yếu tố chủ quan có thể khắc
phục được nếu có biện pháp và chính sách thích hợp.
II. Vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế:
Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế quan trọng đối với mỗi quốc gia,
đặc biệt đối với các nước kinh tế kém phát triển. Hoạt động này đem lại lợi ích
cho tất cả các bên tham gia: bên xuất khẩu lao động, bên nhập khẩu lao động và
bản thân người lao động.
1. Xét trên góc độ vĩ mô:
1.1. Với nước xuất khẩu lao động:
Nước xuất khẩu lao động có lợi về nhiều mặt trong đó đặc biệt là các lĩnh
vực: Kinh tế, xã hội, quan hệ đối ngoại.
- Về kinh tế: Xuất khẩu lao động có vai trò đặc biệt trong hoạt động kinh
tế. Trước hết, nó góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người lao
động. Có thẻ nói, xuất khẩu lao động giữ một vị trí rất quan trọng trong chương
trình việc làm quốc gia, nếu không nói là chủ yếu trong chiến lược giải quyết
việc làm, đây là một công cụ hữu hiệu để thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà
nước ta đặt ra tới năm 2010 sẽ xoá hết đói nghèo. Kinh nghiệm từ một số nước
cho thấy, xuất khẩu lao động là một giải pháp khắc phục tình trạng thất nghiệp
có hiệu quả cao. Theo ILO, tính đến năm 1999 có 920 triệu người trên thế giới
thất nghiệp và thiếu việc lam. Trong đó, các nước thuộc khối G7 có khoảng 45
triệu lao động thất nghiệp. Điều đó đã gây nên tình trạng giảm sút tăng trưởng
kinh tế cao.Để khắc phục tình trạng này, các nước đã thành công bằng sử dụng
giải pháp xuất khẩu lao động.


12
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Bên cạnh những đóng góp trên, xuất khẩu lao động còn đem lại nguồn thu
ngoại tệ đáng kể cho đất nước, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế do
vậy rút ngắn khoảng cách giàu- nghèo giữa nước phát triển và nước đang phát
triển.
Xuất khẩu lao động cũng là một kênh đem lại một nguồn thu nhập quan
trọng cho đất nước. Theo ước tính, số lao động xuất khẩu năm 2004 đã gửi về
cho gia đình khoảng 1,5 tỷ USD, bình quân mỗi lao động khoảng 3.750 USD
hay 302,5 USD một tháng, cao gấp nhiều lần phần dôi ra sau khi trừ đi chi tiêu
cho ăn uống của lao động trong nước. Một tỷ rưỡi USD tuy chưa thấm tháp gì so
với Philippines (số tiền gửi qua kênh chuyển tiền chính thức là trên 7 tỷ USD,
còn theo ước tính của ADB tính thêm cả kênh chuyển tiền không chính thức thì
tổng số lên đến 14 – 21 tỷ USD, chiếm 32%GDP của nước này), nhưng đã
chiếm khoảng 3,3% GDP của cả nước và tương đương với nguồn vốn ODA giải
ngân trong năm.
- Về xã hội: Đối với một nước hơn 82 triệu dân, với trên một nửa là số
người trong độ tuổi lao động, nhưng số người thất nghiệp ở thành thị lên đến
5,6% và số thời gian chưa được sử dụng ở nông thôn lên đến trên 20%, thì xuất
khẩu lao động là một kênh giải quyết việc làm cho người lao động rất có ý
nghĩa. Trong mấy năm gần đây, số lao động đi xuất khẩu của nước ta mỗi năm
đã lên đến trên dưới 70 nghìn người và đến nay đã có khoảng 400 nghìn người
Việt Nam đang làm việc ở khoảng trên 40 nước và vùng lãnh thổ. Song nếu so
với Philippines có cùng số dân và số người trong tuổi lao động như Việt Nam thì
kết quả trên còn thấp hơn rất nhiều. Năm 2004, nước này đã có 1 triệu lao động
đi làm việc ở nước ngoàI, đưa Philippines vượt qua Mexico trở thành nước xuất
khẩu lao động lớn nhát thế giới. Cho đến nay, nước này có khoảng 8 triệu lao
động làm việc ở 56 nước, đông nhất là tại Mỹ, ả Rập Saudi, Malayxia, Canada,
Nhật Bản…




13
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Thực hiện tốt công tác xuất khẩu lao động sẽ giảm được tệ nạn xã hội do
thất nghiệp gây ra, tạo một hướng lao động tích cực cho người lao động, học tập
được phong cách lao động mới do tổ chức lao động ở nước ngoài trang bị...
- Về quan hệ đối ngoại: Mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác trong lĩnh
vực xuất khẩu lao động là vô cùng quan trọng, từ đó quan hệ giữa nước cung
ứng lao động và nước tiếp nhận lao động trở nên gắn bó hơn, hiểu nhau hơn, tao
ra mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước. Cung cấp cho nhau những thông tin quan
trọng về những vấn đề hai nước cùng quan tâm và thống nhất quan điểm hai bên
cùng có lợi. Sự đa dạng hoá các quan hệ hợp tác quốc tế được mở rộng thông
qua hợp tác về lao động sẽ tạo điêù kiện mở rộng hơn nữa các quan hệ hợp tác
khác.
1.2. Với nước nhập khẩu lao động:
Nước nhập khẩu lao động thu được những lợi ích đáng kể như: cung cấp
đủ số lao động bù đắp vào các ngành thiếu hụt, khai thác có hiệu qủa tiềm năng
của đất nước. Đồng thời, mở rộng quan hệ và uy tín với nước có lao động, khai
thác kinh nghiệm, kiến thức, tác phong lao động và cung ccáh quản lý của nước
khác, mở rộng nhu cầu thị trường trong nước...
Ngoài ra xuất khẩu lao động cũng góp phần giả quyết nhu cầu lao động
đặc biệt là trong các lĩnh vực mà lao động địa phương ít tham gia tại nước tiếp
nhận lao động.
2. Xét trên góc độ vi mô:
2.1. Với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu lao động:
- Xuất khẩu lao động là một bộ phận của xuất khẩu do vậy các doanh
nghiệp tham gia trong lĩnh vực này phải tìm hiểu kỹ về nền văn hoá, phong tục
tập quán của nước nhập khẩu, đây là tiền đề tốt trong quá trình hội nhập quốc tế.
- Doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động là đã tham gia hiệu quả vào
chương trình quốc gia giải quyết việc làm đồng thời thực hiện một phần thoả
thuận hợp tác giữa hai chính phủ.



14
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

- Doanh nghiệp xuất khẩu lao động làm ăn có hiệu quả sẽ thực hiện nghĩa
vụ với ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên một vấn đề bức xúc đang đặt ra trong giai đoạn hiện nay đó là
tình trạng ngày càng có nhiều lao động không thực hiện hợp đồng đã ký.Việc
này có thể gây ảnh hưởng lớn đối với uy tín của doanh nghiệp cũng như sự ổn
định trên thị trường hiện tại và tiềm năng.
2.2. Với bản thân người lao động:
- Người đi xuất khẩu lao động có điều kiện giúp gia đình thoát khỏi đói
nghèo cải thiện mức sống của bản thân và gia đình.
- Người lao động có thể tiếp thu kỹ năng làm việc, quản lý, tích luỹ trình
độ tay nghề và kinh nghiệm thực tiễn để tự tạo việc làm sau khi về nước.
III. MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA PHILIPPINE VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG:

1. Khuôn khổ pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động:
Hiện nay có rất nhiều người Philippine đi làm việc ở nước ngoài do nhiều
nước có nhu cầu về lao động. Tuy nhiên nếu không có những chính sách cụ thể
của Chính phủ thì người lao động có thể bị đưa đi không chính thống và có thể
bị bóc lột. 10 năm trước đây Philippine đã đặt tất cả các vấn đề lên bàn để xem
xét với mục đích làm sao tạo điều kiện để nguời lao động được đi làm việc ở
nước ngoài một cách thuận lợi.Trong đó làm rõ vai rò của Chính phủ và các bên
có liên quan.
Ở Philippine nhiệm vụ của Nhà nước là tối đa hoá lợi ích của người lao
động. Việc này khó được thực hiện ở khu vực tư nhân. Với chính sách hiện nay
người dân tin tưởng rằng Chính phủ luôn bảo vệ quyền lợi của người lao động ở
nước ngoài và cố gắng giảm thiểu chi phí đối với bản thân họ, cho gia đình họ
và cho đất nước.
Philippine có cơ chế là phải tạo mọi điều kiện và thủ tục một cách rõ ràng,
đầy đủ, có hệ thống đối với tất cả những người lao động có hợp đồng làm việc ở
nước ngoài. Đồng thời cần bảo vệ họ một cách đầy đủ để giảm thiểu sự lạm
dụng, khai thác cả trước, trong và sau quá trình làm việc tại nước ngoài.


15
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

2. Việc cấp giấy phép kinh doanh:
Thách thức lớn đối với Chinh phủ trong việc cấp giấp phép kinh doanh là
làm thế nào để hấp dẫn và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân tham gia
vào thị trường này.
Chính phủ Philippine thực hiện một chính sách rất nghiêm khắc trong việc
quy định số vốn ban đầu và số lượng lao động mà doanh nghiệp xuất khẩu trong
năm đầu tiên hoạt động,dựa vào đó Chính phủ có thể cấp giấy phép cho họ với
các thờ hạn khác nhau. Bên cạnh đó Chính phủ cũng quản lý khoản tiền ký quỹ
khi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh cho các mục đích: nếu doanh nghiệp
không đảm bảo đưa lao động đi hoặc đưa lao động đi nhưng không đảm bảo
điều kiện cho họ hoặc thu phí của người lao động quá cao hoặc khi Chính phủ
phát hiện doanh nghiệp đã thu lợi quá mức so với mức trung bình làm cho người
lao động không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng khi chưa hết thời hạn thì không
cần phải chờ đợi gì, Chính phủ sẽ điều tiết khoản tiền này để trả lại cho người
lao động.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy cả Chính phủ, chủ sử dụng lao động và
người lao động đều có "danh sách đen". Tức là danh sách liệt kê những doanh
nghiệp hoạt động có vấn đề, không theo đúng các quy định qua đó họ sẽ biết và
cố gắng tránh những khó khăn, phiền toái xảy ra khi thực hiện hợp đồng.
3. Hệ thống thưởng phạt:
Chính phủ rất quan tâm các hoạt động khen thưởng và đưa ra các mức
thưởng cho các doanh nghiệp làm tốt. Khi làm các thủ tục khen thưởng, các
doanh nghiệp không cần phải xuất trình hợp đồng vì họ đã được xác nhận và đã
có kết quả thanhf công của người lao động. Điều quan trọng là nếu doanh nghiệp
nào thành công sẽ được Chính phủ đưa vào danh sách khen thưởng. Điều này rất
có ích cho doanh nghiệp vì nếu như một công ty hoặc một quốc gia nào cần tìm
hiểu các doanh nghiệp tốt thì Chính phủ giới thiệu với họ danh sách các doanh
nghiệp có uy tín. Như vậy doanh nghiệp sẽ có điều kiện kinh doanh tốt hơn,
cũng như doanh nghiệp sẽ có điều kiện để gia hạn giấy phép dễ dàng hơn. Danh


16
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

sách các doanh nghiệp hoạt động tốt và có uy tín cũng được đưa lên các báo cáo
của Chính phủ.
4. Các dịch vụ cung cấp cho người lao động làm việc ở nước ngoài:
Để đảm bảo phúc lợi cho người lao động Chính phủ Philippine đã có các
dịch vụ hỗ trợ như sau:
- Ngoài các cán bộ phúc lợi làm việc tại đại sứ quán, chúng tôi xây dựng
các trung tâm cung cấp dịch vụ ngay tại khu vực có người lao động làm việc. ở
các trung tâm, hàng ngày có các bác sĩ, cán sự xã hội làm việc và hỗ trợ cho
người lao động.
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về những người lao động đang làm
việc nước ngoài tại đại sứ quán Philippine ở mỗi nước nơi có lao động đế làm
việc là rất quan trọng, vì qua đó cơ quan quản lý mới biết cụ thể người lao động
đang ở đâu và làm việc gì trên cơ sở đó mới quan tâm họ sâu sát được. Việc
đăng ký danh sách này có tác dụng giảm thiểu các rủi ro với người lao động. Để
làm được việc này, các doanh nghiệp cần phải thông báo với người lao động
rằng khi sang đến nước ngoài, họ phải đến đại sứ quán Philippine ở đó để đăng
ký và cung cấp cho họ địa chỉ và thông tin về đaị sứ quán để người lao động
biết.
- Xây dựng mạng liên kết điện tử kết nối với hiệp hội người lao động
Philippine. Thông qua mạng này các ngân hàng cũng giúp người lao động
chuyển tiền về nước cho gia đình. Như vậy việc đưa lao động sang nước ngoài
làm việc không chỉ đơn giản tạo việc làm mà còn đem laị lợi ích cho nhiều
ngành khác có liên quan.
- Để tăng cường bảo vệ người lao động không bị môi giới đưa đi bất hợp
pháp hoặc chịu nhiều khó khăn thiệt thòi chúng tôi đã lập chiến dịch thông tin
đại chúng để tuyên truyền cho tất cả người dân biết thực trạng về vấn đề đưa lao
động đi làm việc ở nước ngoài và địa chỉ các doanh nghiệp đáng tin cậy. Cũng
như chiến dịch chống việc đưa người và tuyển người bất hợp pháp. Đây là vai



17
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

trò mang tính quản lý Nhà nước, đòi hỏi các bộ có liên quan, đặc biệt là Bộ Lao
động cần tham gi avào hoạt động này.
- Để thu hút người lao động trở về đất nước, Chính phủ đã tạo điều kiện
cho họ thông qua chương trình đào tạo lại, chương trình nhà ở, chương trình học
bổng cho con em họ.
- Có chính sách ưu tiên những người lao động ra nước ngoài làm việc hơn
là những người đi du lịch như miễn thuế sân bay, thuế du lịch...cho họ.
5. Vấn đề tạo uy tín cho chất lượng giáo dục:
Kinh nghiệm 30 năm cho thấy ngày càng có nhiều khó khăn trong lĩnh
vực đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đó là vấn đề cạnh tranh. Chính vì
vậy vấn đề đặt ra là cần xây dựng và quảng bá về chất lượng người lao động của
chúng ta. Muốn vậy trước tiên phải xác định người lao động ở nước mình có thể
làm được những việc gì. Sau đó tăng cường đào tạo để nâng cao chất lượng và
tăng tính cạnh tranh. Bên cạnh đó cũng cần trang bị ngoại ngữ cho người lao
động. Cho đến nay tiếng Anh vẫn là ngoại ngữ cần đầu tư. Một số đối tác ở các
nước, họ yêu cầu phải có xác nhận về tay nghề mà người lao động cần phải đáp
ứng.
6. Hiệp hội các doanh nghiệp và phương thức hoạt động:
Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân có tiếng nói cũng như
cùng phối hợp với Chính phủ đưa người lao động ra nước ngoài làm việc, họ
thành lập các hiệp hội của các doanh nghiệp tư nhân. Hiệp hội này có hệ thống
thống nhất từ trên xuống dưới. Tất cả các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc
ở nước ngoài đều gia nhập hiệp hội lao động ngoài nước Philippine. Bên cạnh
các hiệp hội chung còn có các hiệp hội chuyên môn như Hiệp hội lao động làm
việc ngoài khơi, Hiệp hội xuất khẩu lao động vui chơi giải trí..., hoặc có những
hiệp hội theo vùng, khu vực. Ví dụ như Hiệp hội xuất khẩu lao động Nhật Bản,
Hiệp hội xuất khẩu lao động Hồng Kông...Hiện nay, ở Philippine có khoảng 30-
40 hiệp hội lớn, nhỏ.



18
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3




CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở
CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI
I. THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐÀI LOAN:
1. Giới thiệu đất nước Đài Loan:
Đài Loan là hòn đảo đẹp nằm cách bờ biển Đông Nam lục địa Trung Hoa
khoảng 160 km.Nó được ngăn cách với tỉnh Phúc Kiến của lục địa Trung Hoa
bởi eo biển Đài Loan. Phí Nam hòn đảo này cách phía Bắc Phillipine 350 km.
Phí Bắc Đài Loan cách Tây - Nam Nhật Bản 1.070 km.
Đài Loan bao gồm 64 đảo lớn nhỏ của quần đảo Bành Hồ và 21 đảo
khác. Tổng diện tích khu vực này trên 35.960 km2 (chưa kể vùng đất khai hoang
lấn biển).
Khí hậu Đài Loan là khí hậu cận nhiệt đới ở phía Bắc và nhiệt đới ở phía
Nam.Thời tiết nóng nhất là từ tháng 6 đến tháng 9 với nhiệt độ trung bình


19
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

khoảng 25-28 C. Lượng mưa rất dồi dào. Nửa phía Bắc của đảo mưa lớn kéo dài
từ đầu tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Trong khi đó khu vực phía Nam đảo lại
ấm áp về mùa đông. Tình hình thời tiết sẽ ngược lại, vào mùa hè khi gió mùa
Tây - Nam đem mưa đến phía Nam thì thời tiết lại nóng, khô đều ở phía Bắc.
Dân số Đài Loan có trên 23 triệu người. Thủ phủ là Đài Bắc, nơi có mật
độ dân số cao nhất, tiếp sau đó là thành phố Cao Hùng ở phía Nam. Gần 60%
dân số Đài Loan tập trung ở 4 thành phố lớn: Đài Bắc, Cao Hùng, Đài Trung và
Đài Nam.
Đài Loan sử dụng tiếng phổ thông (tiếng Hoa) trong ngôn ngữ hành
chính. Tuy nhiên tiếng Phúc Kiến và tiếng Hẹ được sử dụng khá phổ biến trong
giao tiếp hàng ngày.
Tôn giáo thịnh hành ở Đài Loan là Phạt giáo với khoảng 4,9 triệu phật tử.
Bên cạnh đó Thiên Chúa giáo cũng có ảnh hưởng rất lớn với gần 30 vạn tín đồ,
và hơn 40 vạn tín đồ đạo Tin lành. Đạo Hồi cũng đã xuất hiện ở Đài Loan.
Đài Loan có vị trí địa lý khá gần Việt Nam. Từ Hà Nội hoặc Thành phố
Hồ Chí Minh đi Đài Loan chỉ mất khoảng 3-4h Bay. Do đó thời tiết, khí hậu
cũng khá gần với thời tiết, khí hậu của miền Bắc Việt Nam. Về phong tục, tập
quán, sinh hoạt của người Đài Loan cũng có những nét tương đồng với nước ta,
cũng mang sắc thái của nền văn hoá Á Đông.
2. Thực trạng lao động nước ngoài tại Đài Loan:
Để giảm bớt tình trạng thiếu nhân lực, từ năm 1989, Đài Loan chính thức
nhận lao động nước ngoài vào làm việc. Nền kinh tế tăng trưởng ở mức trên 6%
và tỷ lệ thất nghiệp dao động ở mức 3% trong hàng chục năm (riêng năm 2001
tỷ lệ này trên 4%), cùng với việc phát triển mạnh cơ sở hạ tầng, Đài Loan phải
đối mặt với sự khan hiếm nhân lực đặc biệt trong ngành xây dựng.
Trong hơn 10 năm gần đây, thanh niên Đài Loan không còn thích thú với
nghề xây dựng và sản xuất, họ hướng vào các hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ.
Để đáp ứng yêu cầu về lao động cho phát triển kinh tế và trật tự hoá việc
sử dụng lao động nước ngoài, tháng 5 năm 1992, Đài Loan đã công bố Luật


20
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Dịch vụ việc làm. Theo điều 43 luật này, Đài Loan cho nhận lao động nước
ngoài với các ngành nghề như sau:
- Chuyên gia và cán bộ kỹ thuật.
- Hoa kiều hoặc người nước ngoài giữ trách nhiệm quản lý các công ty có
vốn đầu tư nước ngoài tại Đài Loan.
- Cán bộ giảng dạy tại các trường đại học hoặc các cơ sở giáo dục.
- Giáo viên dạy tiếng nước ngoài.
- Huấn luyện viên và vận động viên thể dục thể thao.
- Công việc về tôn giáo, nghệ thuật và biểu diễn.
- Người giúp việc gia đình và khán hộ công.
- Nhân lực trong các công trình xây dựng và phát triển kinh tế.
- Các công việc theo dự án riêng của cơ quan quản lý trung ương, do tính
chất công việc đặc biệt, trong nước thiếu nhân tài làm công việc đó, về nghiệp
vụ đúng là có nhu cầu thuê người nước ngoài làm.


Bảng 1: Lao động nước ngoài làm việc tại
Đài Loan phân theo quốc gia

Năm Indonesia Malaysia Philippin Thái Lan Việt Tổng
Nam cộng

1994 6.020 2.344 38.473 105.152 0 151.985
1995 5.430 2.071 54.647 126.903 0 189.051
1996 10.206 1.489 83.630 141.230 0 236.555
1997 14.648 736 100.295 132.717 0 248.396
1998 22.058 940 114.255 133.367 0 270.620
1999 41.224 158 113.928 139.526 131 294.967
2000 77.830 113 98.161 142.665 7.746 326.515
7/2001 89.608 73 85.787 139.924 10.869 326.261
27,47% 0,02% 26,30% 42,88% 3,33% 100%


21
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Nguồn: Văn phòng Kinh tế – Văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc
Bảng 2:
Cơ cấu ngành nghề ( năm 2001)

Tháng 7 Tháng 6 Tăng, giảm Tỷ lệ
Tổng cộng 326.261 100.00 329.612 100.00 -3351 -1,02 %
Sản xuất chế 173.230 53.09 176.976 53.69 -3746 -0,60%
tạo
Xây dựng 37.289 11.44 37.328 11.32 -39 +0,12%
GVGĐ & KHC 114.562 35.11 114.140 34.63 +422 +0,48%
Thuyền viên 1180 0,36 1168 0,36 +12 +0,48%

Nguồn: Văn phòng Kinh tế – Văn hóa Việt Nam tại Đài Bắc
Khởi đầu, chỉ các công ty hoạt động trong các dự án công cộng được
chính quyền cho phép ký hợp đồng nhận lao động nước ngoài. Những năm gần
đây, quy mô lao động nước ngoài được làm việc tại Đài Loan dao động trong
khoảng từ 320.000 - 350.000 lao động/năm.Trong đó: sản xuất chế tạo chiếm
53,09%; xây dựng chiếm 11,44%; giúp việc gia đình và khán hộ công chiếm
35,11%; thuyền viên chiếm 0,36%.
3. Chính sách của Đài Loan với lao động nước ngoài:
Lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan được điều chỉnh bởi một hệ
thống luật pháp tương đối đâỳ đủ và thống nhất. Một số điểm cần lưu ý bao gồm
các nội dung sau:
3.1. Thời hạn hợp đồng:
Theo điều 43, Luật Dịch Vụ việc làm, người lao động được tuyển dụng
làm công việc trong thời gian tối đa là 3 năm (người có nhu cầu tiếp tục được
tuyển dụng, chủ sử dụng phải xin phép gia hạn).
3.2. Tiền lương:
Tiền lương cơ bản cho mỗi lao động đã được điều chỉnh nhiều lần, hiện
nay là 15.840 NT$/tháng, nếu cộng thêm tiền làm thêm giờ mức lương bình


22
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

quân là 20.000 NT$/tháng. Đương nhiên lương cơ bản của người lao động nước
ngoài và người lao động bản địa là không giống nhau và cũng khác nhau khi làm
ở các lĩnh vực khác nhau. Mức lương này có thể được điều chỉnh tuỳ thuộc vào
sự phát triển của nền kinh tế.
3.3. Chi phí ăn, ở của lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan:
Chủ sử dụng lao động Đài Loan được khấu trừ từ tiền lương của lao động
Việt Nam chi phí ăn và ở với mức tối đa là 4000 NT$/tháng, mức khấu trừ này
có thể được điều chỉnh trong giới hạn tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa chủ sử
dụng lao động và người lao động.
Lao động làm việc trong lĩnh vực khán hộ công và giúp việc gia đình
không phải áp dụng quy định khấu trừ trên đây.
3.4. Bảo hiểm:
Người lao động tham gia bảo hiểm lao động và bảo hiểm y tế trong đó:
- Bảo hiểm lao động: Chủ chịu 70%, người lao động chịu 20% và chính
quyền trợ cấp 10%.
- Bảo hiểm y tế: Chủ sử dụng chiu 60%, người lao động trả 30% và chính
quyền trợ cấp 10%.
3.5. Thuế thu nhập:
Thuế thu nhập áp dụng đối với người lao động nước ngoài được xác định
theo thời gian làm việc trong năm.
Những người sống ở Đài Loan dưới 183 ngày trong quy định mức thuế
mỗi năm (thuế niên, tính từ ngày 1-1 đến ngày 31-12) thì nộp 20% thu nhập.
Những người sống ở Đài Loan đủ hoặc trên 183 ngày trong thuế iên thì
nộp 6% thu nhập như người bản địa.
3.6. Giờ làm việc:
Giờ làm việc được quyết định giữa chủ và người lao động theo quy định
cụ thể trong hợp đồng lao động.
Theo luật về tiêu chuẩn lao động quy định thì giờ làm việc trong ngành
công nghiệp là 8h/ngày và 48h/tuần. Hiện nay là 84h/2 tuần.


23
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Luật cũng quy định về chế độ làm thêm giờ, giữa buổi làm việc sau 4
tiếng được nghỉ giải lao 30 phút. Tuỳ theo tính liên tục và khẩn trương trong sản
xuất mà cống việc được bố trí theo ca, trách nhiệm của chủ là phải sắp xếp ngày
nghỉ bù cho người lao động.
3.7. Quan hệ giữa người lao động và chủ sử dụng lao động:
Lao động nước ngoài được phép tham gia công đoàn, nhưng không được
bầu là cán bộ công đoàn.
Người lao động nước ngoài làm việc ở các doanh nghiệp có thể bị huỷ bỏ
hợp đồng lao động trong những trường hợp sau:
- Khi hoạt động sản xuất của doanh nghiệp bị thua lỗ, chủ sử dụng có thể
cho lao động thôi việc, hoặc (nếu có thể) chuyển tới chủ khác. Nhưng chủ lao
động phải thông báo trước cho lao động nước ngoài về ý định đó và phải cấp
tiền bôì thường cho họ.
- Nếu lao động nước ngoài phạm lỗi hoặc phạm luật dẫn tới việc ngừng
hợp đồng lao động, người chủ có thể cho thôi việc mà không phải báo trước và
có quyền từ chối không thanh toán tiền bồi thường.
3.8. Nghỉ phép, nghỉ lễ và nghỉ việc:
Đối với các ngành công nghiệp không được luật tiêu chuẩn lao động điều
chỉnh, việc bố trí nghỉ phép và nghỉ việc được quyết định giữa người chủ với
người lao động và như đã nói ở hợp đồng với ngành công nghiệp phải tuân theo
quy định của luật tiêu chuẩn lao động thì phải tuân theo những nguyên tắc sau
đây:
- Phải có tối thiểu một ngày nghỉ trong một tuần làm việc
Nghỉ phép: Vì lý do đặc biệt, người lao động có thể xin phép không
hưởng lương và có thể được chấp thuận nếu có người thay thế công việc hoặc
khi nghỉ phép không ảnh hưởng gì tới quá trình sản xuất. Yêu cầu nghỉ phép
phải được viết thành văn bản gửi những người có trách nhiệm. Thời gian nghỉ
không quá 14 ngày 1 năm.



24
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Nghỉ ốm: Do bị ốm, tai nạn hoặc những lý do cần phải chữa chạy, người
lao động có thể yêu cầu nghỉ ốm. Nghỉ ốm không nằm viện không được quá 30
ngày mỗi năm.
- Nếu bị tai nạn lao động thì được nghỉ phép để chữa trị
3.9. Những trường hợp không được cấp giấy phép lao động và cho thôi việc:
Với những tình huống sau đây có thể không được cấp giấy phép lao động
hoặc cho về nước.
- Những người mang theo gia đình sống với nhau
- Những người tay nghề không đủ để hoàn thành nhu cầu của công việc
như giấy phép họ đã xin.
- Những người không đạt sức khỏe khi kiểm tra.
- Những người đã có gia đình, có thai hoặc sinh đẻ khi đang lao động tại
Đài Loan.
- Những người vi phạm các quy định khi làm các thủ tục cấp giấy phép.
3.10. Đổi nơi làm việc:
Không được giải quyết nếu không được phép trước của Uỷ ban Lao động.
Đổi chủ lao động không được thực hiện khi không xin phép trước của Uỷ
ban Lao động.
Làm thêm việc bên ngoài phải có giấy phép của Uỷ ban Lao động.
Lao động nước ngoài không được vi phạm hợp đồng lao động đã thỏ
thuận giữa họ và chủ sử dụng lao động, như việc nghỉ không xin phép quá 3
ngày.
Lao động nước ngoài phải tuân theo mọi pháp luật, quy chế và những quy
định công cộng của Đài Loan.
Trong trường hợp có khiếu nại về công việc đối với chủ sử dụng lao động
thì người lao động nước ngoài có thể báo cáo với Trung tâm Tư vấn lao động
nước ngoài để khiếu nại về chủ sử dụng lao động của mình.
II. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM:




25
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Trong 4 năm qua, hệ thống cơ chế, chính sách về xuất khẩu lao động và
chuyêngia tiếp tục được hoàn thiện. Đặc biệt thông qua triển khai thí điểm mô
hình liên thông xuất khẩu lao động ở Hải Dương và Phú Thọ, đến nay đã có trên
50 tỉnh, thành phố có lao động đi làm việc ở nước ngoài ( có 15 tỉnh, thành phố
đưa đi được trên 1000 lao động trong một năm). Trong 4 năm, cả nước đã được
224 ngàn người lao động đi làm việc ở nước ngoài (đạt 73% so với kế hoạch 5
năm). Cùng với chính sách của Nhà nước, nhiều địa phương đã có giải pháp hỗ
trợ người lao động về vay vốn, dạy nghề, phí làm thủ tục, hộ chiếu và khám sức
khoẻ.
1. Số lượng và cơ cấu xuất khẩu lao động:
1.1. Số lượng lao động:
Tổng kết qua 4 năm thực hiện xuất khẩu lao động, chúng ta đã đưa đi 224
ngàn lao động và chuyên gia. Riêng năm 2004 đã có 67.447 lao động Việt Nam
làm việc tại nước ngoài và lượng kiều hối chuyển về nước đạt mức 1,65 tỷ
USD.
Cục quản lý lao động ngoài nước cho biết, năm 2004 tại Đài Loan có trên
33000 người lao động Việt Nam làm việc. Tuy nhiên tình trạng lao động bỏ hợp
đồng ra ngoài làm việc bất hợp pháp ngày càng nhiều, dẫn tới việc phía Đài
Loan ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam. Để khắc phục tình trạng này Cục đã
đưa ra một số giải pháp nhằm chấn chỉnh công tác tuyển chọn, đào tạo giáo dục
định hướng, quản lý lao động ở nước ngoài của các doanh nghiệp, đồng thời
cùng với Ban quản lý lao động Việt Nam tại Đài Bắc phối hợp với phía Đài
Loan tìm kiếm, vận động để đưa số lao động bất hợp pháp này về nước.
Kể từ khi đưa lao động Việt Nam sang làm việc tại Malaixia tháng 4/2002
đến nay, đã có gần 80.000 lao động làm việc tại đất nước này. Đây là thị trường
lao động lớn thứ hai sau Đài Loan. Tuy nhiên việc đưa lao động sang Malaixia
giảm sút hơn trước, do năm ngoái một số công nhân phải về nước trước thời hạn
do mất việc và đến đầu năm nay phía Malaixia tạm ngừng tiếp nhận lao động



26
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

nước ngoài nói chung để lập lại kỷ cương rong việc tiếp nhận và sử dụng lao
động nước ngoài làm việc tại Malaixia.
Việc Malaixia ngừng tiếp nhận lao động nước ngoài trong lúc này cũng là
thời điểm tốt để các doanh nghiệp Việt Nam làm tốt công tác đào tạo, chuẩn bị
nguồn lao động để khi bạn có nhu cầu trở lại là có thể đáp ứng được ngay. Tuy
nhiên Malaixia vẫn tiếp nhận những lao động đã có lệnh cấp visa, cho nên doanh
nghiệp vẫn tiếp tục đưa số lao động có điều kiện này đi làm việc.
Đến nay đã có hơn 52.000 tu nghiệp sinh Việt Nam đang làm việc tại Hàn
Quốc. Đặc biệt có khoảng 3000 lao động đang làm việc theo Luật lao động mới
của Hàn Quốc. Bộ Lao động, thương binh và xã hội đã lập 10 trường đào tạo
tiếng Hàn và giáo dục định hướng cho người lao động trước khi sang làm việc
tại Hàn Quốc. Thời gian tới, phía Hàn Quốc sẽ giúp đỡ Việt Nam trong việc
cung cấp giáo trình và giáo viên đào tạo tiếng Hàn cũng như phong tục tập quán,
lối sống sinh hoạt của Hàn Quốc.
Nhật Bản là thị trường cao cấp tiếp nhận lao động của ta theo chế độ tu
nghiệp sinh, chi phí cao nhưng chỉ tiêu thấp. Năm 2004 cả nước chỉ đưa được
hơn 2000 lao động, thấp nhất trong số 4 thị trường chủ yếu của Việt Nam.




27
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Bảng 3: Kết quả xuất khẩu lao động Việt Nam từ năm 1996 đến nay.
Đơn vị tính: ( Người )
Số Tỷ lệ (%)
Năm lượng Nữ Tỷ lệ (%) Lao động lao động Tiền gửi về
lao động Nữ có nghề có nghề (USD)
XK
1996 12.660 2.088 16,49 7.251 57,27 249.139.800
1997 18.470 2.081 11,27 9.457 51,20 321.205.000
1998 12.240 1.447 11,82 6.178 50,47 341.874.000
1999 21.810 2.302 10,55 11.457 52,53 404.578.200
2000 31.500 4.165 13,22 16.412 52,10 505.950.400
2001 36.168 7.704 21,30 18.426 50,95 689.660.400
2002 46.122 10.556 22,89 26.875 58,27 1.400.000.000
2003 66.064 22.240 33,66 33.128 50,15 1.500.000.000
2004 67.447 23.025 31,13 35.620 52,81 1.650.000.000
Tổng 312.481 75.563 24,18 164.804 52,74 7.062.407.800


Nguồn: Cục quản lý lao động với nước ngoài- Bộ Lao động Thương binh
Xã hội
Năm 2004: Xuất khẩu gần 68.000 lao động và chuyên gia
trong đó: Thị trường Đài Loan: 37.740 lao động
Thị trường Malaixia: 14.560 lao động
Thị trường Lào: 6.660 lao động
Thị trường Hàn Quốc: 4.770 lao động
Thị trường Nhật Bản: 2.750 lao động

6 tháng đầu năm, cả nước xuất khẩu 31.000 lao động và chuyên gia, đạt
44,28% kế hoạch năm. Cụ thể:
Đài Loan: 15.759
Malaysia: 7.779


28
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Hàn Quốc: 3.275
Nhật Bản: 1.769
Anh: 66
Ảrập thống nhất: 153
Các nước khác: 2.474
1.2. Cơ cấu lao động xuất khẩu:
Hiện nay lao động Việt Nam đã có mặt ở hơn 40 nước trên thế giới, chủ
yếu làm việc trong các ngành nghề khác nhau như: Sỹ quan thuỷ thủ, thuyền
viên đánh cá, công nhân, giúp việc gia đình, chăm sóc bệnh nhân...
1.2.1. Cơ cấu lao động xuất khẩu theo giới tính:
Nguồn lao động xuất khẩu của nước ta từ trước tới nay chủ yếu là nam
giới. Nam giới chiếm 84,5% trong tổng số lao động xuất khẩu của ta từ giai
đoạn 1992-2002 vì các thi trường tiếp nhận lao động yêu cầu lao động trong các
ngành công nghiệp nặng và một số ngành nghề đòi hỏi sức khoẻ tốt. Mặt khác
các chính sách xuất khẩu lao động của ta có phần chưa rộng mở đối với lao động
nữ đi xuất khẩu như các nước trong khu vực như Phillipine một nước có tỷ lệ lao
động nữ xuất khẩu cao nhất trong khu vực ( vì họ còn cho phép lao động nữ làm
các công việc ở Việt Nam còn cấm). Lao động nữ của ta đi làm việc ở nứoc
ngoài do những đặc điểm giới tính cũng như tập quán dân tộc và chị em đều
chưa có điều kiện tiếp xúc với nước ngoài, mặt khác lại hạn chế về trình độ
ngoại ngữ nên họ thường phải chịu những thiệt thòi trong quá trình làm việc ở
nước ngoài. Trong thời gian đầu chúng ta thường xuất khẩu lao động sang các
thị trường đòi hỏi sức khoẻ như Hàn Quốc, Nhật Bản và các nước Đông Âu nên
tỷ lệ lao động là nữ thấp trong tổng số lao động xuất khẩu. Từ năm 2000 trở đi
chúng ta mở rộng thị trường mới đưa lao động đi làm giúp việc gia đình ở
Malaixia, Đài Loan thì tỷ lệ lao động nữ tăng lên rõ rệt, lao động nữ đã chiếm tỷ
lệ 24,18% trong tổng số lao động.




29
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Bảng 4: Số lượng cơ cấu lao động xuất khẩu theo giới tính


Nam Nữ
STT Năm Tổng số Số người Tỷ lệ (%) Số người Tỷ lệ (%)
( người )
1 1996 12.660 10.572 83,51 2.088 16,49
2 1997 18.470 16.389 88,73 2.081 11,27
3 1998 12.240 10.793 88,18 1.447 11,82
4 1999 21.810 19.508 89,45 2.302 10,55
5 2000 31.500 27.335 86,78 4.165 13,22
6 2001 36.168 28.464 78,7 7.704 21,3
7 2002 46.122 35.566 77,11 10.556 22,89
8 2003 66.064 43.824 66,34 22.240 33,66
9 2004 67.447 44.422 68,87 23.025 31,13
10 Tổng 312.481 236.918 75,82 75.563 24,18

Nguồn: Cục quản lý lao động với nước ngoài-Bộ Lao động Thương binh Xã
hội
1.2.2. Cơ cấu lao động xuất khẩu theo ngành nghề:
Thực hiện chủ trương của Chính phủ là hạn chế đưa lao động phổ thông
đi xuất khẩu, Bộ Lao động thương binh - xã hội đã chỉ đạo hướng dẫn các công
ty mở rộng việc ký kết các hợp đồng đưa lao động có nghề. Kết quả cho thấy, số
lao động có nghề của Việt Nam tăng lên rõ rệt. Nếu năm 1992 chủ yếu là lao
động phổ thông thì số lao động có nghề năm 1993 tăng lên 25%, năm 1995 tăng
lên 40% và hiện nay đạt gần 70% trong tổng số người đi là có nghề. Đối với một
số thị trường, chúng ta đã cung ứng 90-100% lao động có nghề như Cooet, Libi,
Angola, Nhật Bản, Cộng hoà Séc...Còn một số lao động khi đưa đi chưa có nghề
nhưng hầu hết trong các hợp đồng đã ký, bên nhận cung ứng lao động đều thực
hiện việc đào tạo nghề cho người lao động thông qua các hình thức đào tạo 3
tháng theo chương trình do Bộ Lao động thương binh - xã hội quy định rồi mới
sử dụng những lao động này vào công việc.
Năm 2004, xuất khẩu lao động và chuyên gia sang Đài Loan lên tới
37.740 người


30
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

trong đó: Giúp việc gia đình - chăm sóc người bệnh chiếm 52,51%
Điện tử chiếm 6,81%
Cơ khí sản xuất chiếm 25,86%
Xây dựng chiếm 0,25%
Thuyền viên đánh cá chiếm 8,79%.
2. Chất lượng lao động xuất khẩu:
Theo đánh giá chung, lao động xuất khẩu của Việt Nam có khả năng làm
việc, chăm chỉ, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật tiên tiến và lao động sáng tạo,
lao động có chuyên môn kỹ thuật đã tăng đáng kể.
Bên cạnh những lợi thế vốn có ấy, lao động Việt Nam còn có rất nhiều
hạn chế, biểu hiện ở các vấn đề sau:
2.1. Về sức khoẻ:
Do xuất phát điểm kinh tế, Việt Nam là một nước nông nghiệp nghèo và
đông dân nên phần lớn lực lượng lao động ở nước ta chưa đủ điều kiện về sức
khoẻ để đảm bảo cho công việc của họ ở nước ngoài được liên tục, trôi chảy với
mức lương hợp lý. Đây là khó khăn đầu tiên khi tuyển dụng lao động cho xuất
khẩu.
2.2. Về tác phong:
Cơ chế kế hoạch hoá tập trung tồn tại ở nước ta trong một thời gian dài đã
có ảnh hưởng lớn và in sâu vào tâm trí người lao động do vậy lề lối và tác phong
của người lao động là chậm chạp và tinh thần trách nhiệm chưa cao. Có thể coi
đây là yếu kém lớn nhất khi tiếp nhận lao động Việt Nam.
2.3. Về trình độ, tay nghề:
Lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài chủ yếu đã qua đào tạo tuy
nhiên vẫn chưa thể đáp ứng hoàn toàn nhu cầu của chủ sử dụng lao động do hạn
chế về năng lực chuyên môn, khả năng giao tiếp, không có khả năng ngoạingữ,
ít hiểu biết về các yếu tố như văn hoá, phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt
cũng như hệ thống pháp luật của nước sở tại. Ngoài ra người lao động Việt Nam
còn rất thiếu về kinh nghiệm làm việc.


31
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

3. Hình thức và các tổ chức tham gia xuất khẩu lao động:
3.1. Hình thức xuất khẩu lao động:
Hiện nay, xuất khẩu lao động nước ta có thể có các hình thức sau: Hơp
đồng cung ứng lao động, hợp đồng sử dụng chuyên gia, hợp đồng nhận thầu
công trình, hợp đồng lao động vừa học vừa làm, hợp đồng nhận thầu nhận khoán
khối lượng hợp tác chia sản phẩm, hợp đồng liên doanh giữa các tổ chức kinh tế
Việt Nam với tổ chức kinh tế hoặc cá nhân ở nước ngoài, hợp đồng lao động
giưã người Việt Nam với tổ chức kinh tế hoặc cá nhân nước ngoài, cung ứng lao
động trực tiếp theo yêu cầu của các công ty nước ngoài thông qua hợp đồng lao
động.
Trong đó, các doanh nghiệp được cấp giấy phép xuất khẩu lao động phải
chủ động tìm kiếm thị trường, tự mình ký kết với bên nước ngoài để tiến hành
làm thủ tục đưa lao động xuất khẩu dựa trên chính sách của Nhà nước, đồng thời
doanh nghiệp cũng có trách nhiệm nếu hợp đồng không được thực hiện như ký
kết.
Nếu doanh nghiệp nào có giấy phép xuất khẩu lao động mà trong vòng 18 tháng
không xuất khẩu được 100 lao động trở lên đi làm việc ở nước ngoài thì bị thu
hồi giấy phép.
3.2. Các tổ chức tham gia xuất khẩu lao động:
Các tổ chức được phép đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài bao
gồm:
- Doanh nghiệp có giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động.
- Doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận khoán công trình ở nước ngoài
có sử dụng lao động Việt Nam.
- Doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ở nước ngoài có sử dụng lao động Việt
Nam.
Ngoài ra còn có doanh nghiệp thuộc cơ quan trung ương, các tổ chức như:
Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội liên hiệp
phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh


32
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Liên minh hợp tác xã Việt Nam và các
doanh nghiệp thuộc phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam.
Hiện nay có 128 doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào hoạt động cung
ứng nguồn lao động sang thị trường Đài Loan song do tình trạng lao động bỏ
trốn ngày càng nhiều nên đã có một số doanh nghiệp bị tạm đình chỉ việc xuất
khẩu lao động sang thị trường này. Bộ Lao động cũng tiến hành cảnh báo 16
doanh nghiệp đưa lao động sang làm việc tại Đài Loan có tỷ lệ bỏ hợp đồng
tương đối cao và các công ty này phải báo cáo kết quả việc khắc phục tình trạng
bỏ hợp đồng của doanh nghiệp mình, nếu không có biện pháp hữu hiệu cải thiện
tình hình lao động bỏ trốn, Bộ Lao động thương binh - xã hội sẽ tiếp tục thực
hiện các biện pháp xử lý thích hợp.
III. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA CONTREXIM-TM:

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 về việc sắp xếp đổi mới và nâng cao
hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước, Công ty Đầu tư xây dựng và xuất nhập khẩu
Việt Nam - Contrexim Holdings đã tiến hành đánh giá lại thực trạng về mô hình
tổ chức kinh doanh của công ty, những thành quả đã đạt được và đề ra phương
án sắp xếp, cơ cấu lại bộ máy tổ chức của Công ty trình Chính phủ và Bộ Xây
dựng. Ngày 30/7/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 929/QĐ-TTg
phê duyệt mô hình " Công ty mẹ - Công ty con". Theo đó, tổ hợp Contrexim bao
gồm 26 đơn vị thành viên chia làm 2 khối: Khối các đơn vị hạch toán độc lập
gồm 9 đơn vị và khối các đơn vị hạch toán phụ thuộc gồm 17 đơn vị.
Contrexim Holdings hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, tư
vấn thiết kế, lập, thẩm định các dự án đầu tư, thực hiện xây lắp và kinh doanh
các công trình dân dụng, công nghiệp, công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị. Ngoài
ra, Contrexim Holdings còn sản xuất và cung cấp vật liệu xây dựng và trang trí
nội thất, xuất nhập khẩu thiết bị, vật liẹu xây dựng và các loại hàng hoá khác;
đào tạo, xuất khẩu lao động, công nhân kỹ thuật và nhận thầu công trình nước
ngoài. Ngoài việc thực hiện chức năng quản lý, điều hành các Công ty, đơn vị
trực thuộc thì Contrexim Holdings còn thực hiện trực tiếp một số hoạt động kinh


33
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

doanh thưoưng mại, xuất nhập khẩu và xuất khẩu lao động đi các nước. Những
hoạt động này đã mang lại cho Contrexim một nguồn thu đáng kể.
Ban lãnh đạo Công ty nhận thấy rằng cần phải có một hướng đi đúng đắn
nhằm đẩy mạnh và tạo điều kiện chủ động cho những hoạt động này phát triển
hơn nữa. Do đó Contrexim Holdings đã có chủ trương trình Bộ Xây dựng về
việc sáp nhập phòng xuất nhập khâủ và phòng xuất khẩu lao động cùng với
trung tâm đào tạo thành một đơn vị thành viên hạch toán độc lập. Công ty cổ
phần Đầu tư và Thương mại (Contrexim-TM) được thành lập với mục đích thực
hiện các hoạt động về thương mại và xuất nhập khẩu một cách sâu hơn, tuy
nhiên các hoạt động này đã có từ trước và đã đạt được những thành công đáng
kể. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bước đầu một cách
vững chắc.
Về hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia đã đạt được kết quả cụ
thể như sau:
1. Kết quả hoạt động xuất khẩu lao động:
Xuất khẩu lao động trong những năm gần đây là một lĩnh vực kinh doanh
mới được chú trọng nên đã gạp không ít khó khăn. Tuy vậy, qua kết quả đạt
được thì xuất khẩu lao động đã mang lại một mức lợi nhuận rất lớn, lớn hơn rất
nhiều lần so với các hoạt động khác dù doanh thu là nhỏ hơn. Có được như vậy
là do hoạt động xuất khẩu lao động không những giải quyết công ăn việc làm
cho người lao động mà còn giúp người lao động mang lại một nguồn thu nhập
lớn từ các nước phát triển hơn. Ngày càng có nhiều người lao động đi xuất khẩu
lao động ra nước ngoài, vì vậy Contrexim- TM đã có được một kết quả đáng kể.
Điều này được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 5: Kết quả hoạt động xuất khẩu lao động của công ty Contrexim- TM
Đơn vị : Triệu đồng
Số Năm Năm Năm Năm Năm
Chỉ tiêu
TT 1999 2000 2001 2002 2003



34
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

1 Doanh thu 310 865 707 2.830 3.683
2 Lợi nhuận 101 386 339 1.104 1.452
3 Chi phí 209 479 368 1.726 2.231
4 Nộp NSNN 46 138 98 424 552


Nguồn: Phòng Hành chính tổng hợp Công ty Contrexim-TM




Qua bảng số liệu trên cho thấy:
- Về doanh thu: Năm 1999 Công ty chỉ đạt 310 triệu đồng, do đây là
những năm đầu của hoạt động xuất khẩu lao động và chưa thực sự được chú
trọng. Năm 2000 tăng so với năm 1999 là 179%, tương ứng với số tiền là 555
triệu đồng. Đây là mức tăng đáng kể so với năm trước do Công ty đã nhận thấy
tầm chiến lược và đẩy mạnh hoạt động này. Năm 2001, có xu hướng giảm về
doanh thu so với năm 2000 là 18,25%, tương ứng với số tiền là 158 triệu đồng.
Có sự giảm sút này là do sự biên động về kinh tế của một số nước đã ảnh hưởng
trực tiếp đến các nước tiếp nhận lao động ở nước ngoài. Nhu cầu tiếp nhận lao
động nước ngoài ở một nsố nước giảm xuống do nhiều doanh nghiệp bị phá sản,
thu hẹp sản xuất. Còn tại các thị trường trọng điểm như Đài Loan, Nhật Bản,
Hàn Quốc, nhiều ngành nghề đã bị lao động các nước khác chiếm lĩnh.
Sau biến động kinh tế của năm 2001 thì năm 2002,2003 doanh thu lại tăng
cao. Doanh thu 2002 tăng so với 2001 là 300,28% tương ứng với số tiền là 2.113
triệu đồng, năm 2003 tăng so với năm 2002 là 30,14% tương ứng với số tiền là
853 triệu đồng. Có sự tăng trưởng đáng kể như vậy là do người lao động đã thực
sự nhận thấy lợi ích từ xuất khẩu lao động, bên cạnh đó là sự chú trọng vào phát
triển hoạt động của Công ty.
- Về lợi nhuận: Song song với sự gia tăng của doanh thu thì lợi nhuận
cũng tăng qua các năm, chỉ có năm 2001 có giảm so với năm 2000 do doanh thu
giảm. Và các năm 2002, 2003 lại có sự tăng vọt.

35
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Cụ thể: Lợi nhuận năm 2000 tăng so với năm 1999 là 96,18% tương ứng
với số tiền là 285 triệu đồng. Năm 2001 giảm so với năm 2000 là 12,18% tương
ứng với số tiền là 47 triệu đồng. Năm 2002 tăng so với năm 2001 là 225,66%
tương ứng với số tiền là 765 triệu đồng. Năm 2003 tăng so với năm 2002 là
31,52% tương ứng với số tiền là 348 triệu đồng.
- Về chi phí: Cùng với sự tăng, giảm của doanh thu và lợi nhuận qua các
năm, chi phí cũng có sự thay đổi tương ứng. Năm 1999, chi phí là 209 triệu
đồng; năm 2000 là 479 triệu đồng; đến năm 2001 giảm xuống 368 triệu đồng;
năm 2002, 2003 lại tăng cao đến 1.726 triệu đồng và 2.231 triệu đồng.
- Về nộp ngân sách Nhà nước: xuất khẩu lao động là hoạt động đã đóng
góp cho Ngân sách Nhà nước một mức khá cao trong các năm 2002, 2003. Năm
1999 chỉ đạt 46 triệu đồng, năm 2000 là 138 triệu đồng. Đến năm 2001 có giảm
xuống do doanh thu của hoạt động này giảm, còn 98 triệu đồng. Năm 2002,
2003 do doanh thu tăng cao nên mức nộp ngân sách Nhà nước cũng tăng lên tới
424 và 552 triệu đồng.
Mặc dù năm 2001 có sự biên động kinh tế làm doanh thu, lợi nhuận và
nộp ngân sách Nhà nước từ hoạt động này đều giảm đáng kể, Nhưng qua năm
2002 thì lại có sự tăng trưởng nhảy vọt. Điều đó cho thấy có sự cố gắng rất lớn
của cán bộ công nhân viên có trình độ, kinh nghiệm và việc tổ chức các khâu từ
nghiên cứu thị trường đến hoạt động xuất khẩu lao động có khoa học, hiệu quả,
không những khắc phục được điểm yếu mà còn vượt qua mọi khó khăn để đạt
được thành quả hết sức to lớn như vậy.
2. Về số lượng, cơ cấu và thị trường xuất khẩu lao động:
Từ năm 1999 đến nay, thị trường lao động quốc tế đang suy giảm mạnh,
cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu lao động ngày càng gay gắt. Tuy nhiên sau
gần 2 năm thực hiện Nghị định 81/2003/NĐ-CP ngày 17 tháng 1 năm 2003 của
Chính phủ, công tác xuất khẩu lao động đã đạt được một số kết quả quan trọng
bước đầu. Đến nay cả nước đã có 159 doanh nghiệp được Bộ Lao động Thương
binh và Xã hội cấp giấy phép xuất khẩu lao động. Thị trường xuất khẩu lao động


36
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

đã mở rộng ra với gần 50 quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau. Nhà nước đã xây
dựng được một hệ thống các cơ chế, chính sách tương đối đồng bộ, ổn định và
duy trì thị trường đã có, mở thêm một số thị trường mới và tăng cường quy mô
đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Cùng với sự phát triển chung của toàn ngành, xuất khẩu lao động ở
Contrexim- TM đã khai thác hiệu qủa bốn thị trường chính, đó là: Cộng hoà
Palau, Nhật Bản, Đài Loan và Malaixia. Kết quả cụ thể của từng thị trường được
thể hiện qua bảng số liệu sau:




37
Luận văn tốt nghiệp Sinh viên: Phạm Diễm Ngọc – K37F3

Bảng 6: Kết qủa hoạt động xuất khẩu lao động phân theo thị trường:


Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003
Số TT Thị trường Số người D.thu Số D.thu Số D.thu Số D.thu Số D.thu
đi (tr.đ) người đi (tr.đ) người đi (tr.đ) người đi (tr.đ) người đi (tr.đ)

1 CH Palau 35 310 90 580 78 468 59 354 152 929


2 Nhật Bản 23 285 9 104 5 58 30 802


3 Đài Loan 27 135 336 2.418 286 1.630


4 Malaixia 78 322


Tổng cộng 35 310 113 865 114 707 400 2.830 546 3.683


Nguồn: Phòng Hành chính tổng hợp Công ty Contrexim-TM




38
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

* Thị trường Palau: Cộng hoà Palau là quần đảo nằm ở bắc Thái Bình
Dương, vĩ tuyến 7,30 bắc, kinh tuyến 134,39 đông, đông nam Phillipin. Trước đây
Palau là lãnh thổ thuộc Mỹ quản lý, nhưng từ năm 1994 là quốc gia có liên kết tự
do với Hoa Kỳ. Palau chưa có luật lao động nhưng có nhiều lao động nước ngoài.
Chính quyền Palau tôn trọng các hợp đồng ký kết giữa chủ sử dụng lao động với
người lao động cũng như bên cung ứng lao động và lấy hợp đồng làm cơ sở để giải
quyết nếu tranh chấp xảy ra.
Từ năm 1999 đến nay, thị trường Palau đã trở thành thị trường truyền thống
của Contrexim - TM. Số người đi qua các năm có sự khác nhau, do đó doanh thu
thay đổi theo số lượng người đi. Tuy nhiên tính doanh thu trên một người đi là khá
ổn định. Riêng năm 1999, doanh thu trên một người là 8,857 triệu đồng có cao hơn
so với các năm sau: năm 2000 là 6,44 triệu đồng/người; năm 2001 và năm 2002 là
6 triệu đồng/người; năm 2003 là 6,11 triệu đồng/người.
Doanh thu từ thị trường Palau là khá cao và rất ổn định qua các năm. Vì vậy
đây là thị trường mà Contrexim - TM tiếp tục khai thác mạnh trong những năm tới.
* Thị trường Nhật Bản: Thị trường này chủ yếu tiếp nhận lao động Việt Nam
đi tu nghiệp và thực tập kỹ thuật (gọi chung là tu nghiệp sinh). Tu nghiệp sinh Việt
Nam sang tu nghiệp tại Nhật Bản theo nhiều ngành nghề khác nhau, trong đó có
lĩnh vực dệt, may, điện tử và xây dựng chiếm tỷ lệ lớn.
Số người đi qua các năm là rất nhỏ, năm 1999 không có người đi, năm 2000
chỉ có 23 người đi và ngày càng giảm mạnh. Năm 2001 là 9 người, năm 2002 là 5
người và năm 2003 có tăng lên 30 người. Doanh thu trên 1 người đi năm 2000 là
12,39 triệu đồng/người, đây là con số khá cao, nó có giảm qua các năm tiếp theo;
năm 2001 là 11,56 triệu đồng, năm 2002 là 11,6 triệu đồng và năm 2003 tăng vọt
lên tới 26,73 triệu đồng. Sở dĩ năm 2003 có sự tăng vọt như vậy là do trong đó có
số tiền đặt cọc của 14 người lao động đang trong thời gian hợp đồng đã bỏ trốn.



39
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

So với thị trường Palau thì thị trường Nhật Bản đem lại doanh thu trên một
người đi lớn hơn. Tuy nhiên một khó khăn lớn cho bên xuất khẩu lao động là tại thị
trường này số lượng lao động bỏ trốn là khá cao. Riêng năm 2003 , trong tổng số
lao động xuât đi đã có tới 14 người bỏ trốn. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động xuất khẩu lao động và uy tín của Công ty với phía đôí tác. Trong thời gian tới,
việc ổn định thị trường Nhật Bản đang là một thử thách lớn cho ngành xuất khẩu
lao động Việt Nam nói chung và xuất khẩu lao động của Contrexim - TM nói riêng.
* Thị trường Đài Loan: Bắt đầu từ năm 2001, Contrexim - TM mới xuất
khẩu lao động sang Đài Loan. Đây là thị trường có một số thuận lợi cơ bản đối với
lao động Việt Nam:
- Môi trường sống và làm việc rất tốt, phong tục tập quán có nhiều nét tương
đồng với Việt Nam, vị trí địa lý không xa.
- Cơ cấu ngành nghề đa dạng và có nhu cầu lao động ở mọi lĩnh vực.
- Thu nhập của người lao động khá cao so với khu vực khác.
Từ các lợi thế đó mà Contrexim - TM đã có được số lượng người đii đáng
kể. Năm 2001 là 27 người đi, đem lại doanh thu 135 triệu đồng. Bình quân doanh
thu trên 1 người đi là 5 triệu đồng/người. Năm 2002 là 336 người đi, với doanh thu
là 2.418 triệu đồng, bình quân là 7,2 triệu đồng/người. Năm 2003 có 286 người đi,
với doanh thu là 1.630 triệu đồng, bình quân là 5,7 triệu đồng/người.
Tuy doanh thu trên 1 người đi thấp, nhưng với số lượng người đi lớn dẫn đến
tổng doanh thu từ thị trường này là rất cao. Điều đó cho thấy, việc tiếp tục khai thác
thị trường này là tất yếu. Nhưng cũng cần phải quan tâm tới việc ổn định thị
trường, bởi tại thị trường này trong năm 2002 có 59 lao động bỏ trốn và năm 2003
là 16 người. Đây cũng là khó khăn lớn cần phải giải quyết trong thời gian tới.
* Thị trường Malaixia: Đay là thị trường mới của Contrexim - TM. Đến năm
2003 mới có 78 lao động được đưa đi làm viêc tại thị trường này, đem lại doanh thu
là 322 triệu đồng. Tính ra doanh thu bình quân trên 1 lao động đi là 4,13 triệu đồng.


40
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

Malaixia là thị trường dễ tính, tương đối phù hợp với lao động Việt Nam, đặc
biệt là lao động nông thôn, bộ đội xuất ngũ, đòi hỏi tay nghề không cao. Tuy vậy
thị trường xuất khẩu lao động sang Malaixia mới nổi lên nhưng tiền lương thấp so
với các nước khác có nhận lao động Việt Nam. Do đó, việc có tiêp tục đẩy mạnh
xuất khẩu lao động sang Malaixia hay không đang là băn khoăn lớn của Contrexim
- TM cần có lời giải đáp
Qua việc phân tích kết quả từ hoạt động xuất khẩu lao động trên chúng ta có
thể nhận thấy hoạt động xuất khẩu lao động có những ưu điểm nhất định:
Thứ nhất, xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội:
nói xuất khẩu lao động thực chất là xuất khẩu sức lao động. Trong khi đó, sức lao
động lại gắn bó chặt chẽ với người lao động, không tách rời khỏi người lao động.
Vì vậy, làm tốt công tác xuất khẩu lao động không những giải quyết vấn đề kinh tế
trước mắt mà đồng thời giải quyết vấn đề xã hội lâu dài.
Thứ hai, xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế: ở nhiều nước trên thế
giới, xuất khâủ lao động đã là một trong những giải pháp quan trọng thu hút lực
lượng lao động đang tăng lên của nước họ và thu ngoại tệ bằng hình thức chuyển
tiền về nước của người lao động và các lơị ích khác.
Việt Nam với dân số đông, đứng thứ 13 trên thế giới, số người trong độ tuổi
lao động chiếm tỷ lệ lớn, nền kinh tế phát triển thấp so với các nước khác thì xuât
khẩu lao động là con đường đúng đắn nhất, một mặt giải quyết công ăn việc làm,
mặt khác mang lại một mức thu nhập đáng kể cho người dân và tăng mức đóng góp
vào GDP/đầu người của toàn xã hội. Từ đó giải quyết được rất nhiều vướng mắc
trong nền kinh tế xã hội Việt Nam hiện nay.
Ngoài các ưu điểm nói trên thì hoạt động xuất khẩu lao động còn có nhiều
hạn chế, đó là những rủi ro mà hoạt động này gặp phải:
Một là, rủi ro từ phía đối tác: Có trường hợp đối tác khó khăn về vốn, thiếu
việc làm, chậm trả lương cho người lao động, thiếu am hiểu hoặc không tuân thủ


41
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

luật pháp, ỷ thế " ông chủ" để gây sưc sép trong việc thực hiện hợp đồng lao động,
làm khó dễ cho người lao động...Điều này đã dẫn đến việc bên cung ứng lao động
phải tốn kém rất nhiều để giải quyết các vụ việc đó.
Hai là, rủi ro từ phía người lao động: Thực tế cho thấy bên cung ứng lao
động đã từng bị thất thu nặng nề do một bộ phận không nhỏ lao ddộng ra nước
ngoài làm việc không thực hiện đúng thoả thuận và cam kết, đã tự ý bỏ hợp đồng
trước thời hạn, tìm nơi làm việc cho chủ khác. Bên cung ứng lao động vừa bị đối
tác phạt tiền, vừa mất đi khoản phái dịch vụ được thu theo quy định của Nhà nước.
3. Những thuận lợi, khó khăn trong hội nhập và cạnh tranh trên thị trường lao
động quốc tế:
3.1. Thị trường lao động thế giới và yêu cầu của các nước tiếp nhận lao động:
Hiện nay hoạt động xuất khẩu lao đông hay còn gọi là di cư lao động quốc tế
ngày càng trở nên phổ biến tại mọi quốc gia trên thế giới. Theo Tổ chức Lao động
quốc tế hiện có khoảng 60 nước có di cư và xuất khẩu lao động, làm việc ở nước
ngoài với tổng số gần 120 triệu người trong đó các nước Châu Á chiếm khoảng
50%. Tất cả các quốc gia xuất khẩu lao động đều nhận thức được vai trò của xuất
khẩu lao động trong chiến lược phát triển của mình, do đó đều có đặc điểm chung
là xây dựng một hệ thống chính sách, luật lệ, quản lý Nhà nước nhằm tăng cường
xuất khẩu lao động trên quy mô lớn.
Bên cạnh đó, để cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường lao động quốc tế, các
nước đều cố gắng phát huy lợi thế của mình, khiến cho hình thức và cách tiến hành
xuất khẩu lao động hết sức phong phú và đa dạng. Nếu như dịch vụ giúp việc gia
đình là thế mạnh của lao động Phillipine ( chiếm gần 1/2 trên tổng số lao động ở
nước ngoài) thì xuất khẩu lao động theo công trình trúng thầu là thế mạnh của
Trung Quốc. Một số nước lại cùng một lúc vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu lao động
như Thái Lan, Ấn Độ mỗi năm đưa khoảng 50.000 lao động đi làm việc ở nước
ngoài, trong đó khuyến khích xuất khẩu lao động có trí thức, tay nghề cao (30% lực


42
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

lượng lao động ở khu vực công nghệ cao - thung lũng Silicon của Mỹ là người có
quốc tịch hoặc gốc Ấn Độ), nhưng Ấn Độ cũng nhập cư hàng chục nghìn lao động
người Nepal, Bangladesh. Nhiều sinh viên thanh niên Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài
Loan sang Mỹ, Tây Âu, Australia, New Zealand để du học và tìm việc trong khi đất
nước họ lại tiếp nhận lao động từ các nước Châu Á khác đến làm việc.
Hầu hết các nước nhập khẩu lao động đều yêu cầu lao động giản đơn, tay
nghề thấp là chủ yếu ( chiếm khoảng 80% tổng số lao động). Ngoài các tiêu chuẩn
như tuổi đời phải còn trẻ ( thường không quá 35 tuổi), có sức khoẻ tốt người lao
động phải chấp nhận mức thu nhập thấp. Lương cho người lao động ở nước ngoài
được xác định theo cơ chế thở thuận trong hợp đồng, vì vậy thường thấp hơn mức
lương tối thiểu và mức lương trả cho người bản địa với cùng một công việc, nhiều
nước như Pakistan, Banladesh, Indonexia nhờ chấp nhận giá nhân công rất thấp, chỉ
khoảng 150 USD/tháng hoặc Philipine chỉ quy định mức lương tối thiểu trong nước
là 135 USD/tháng nên hành năm đưa được số lao động lớn và ổn định ra nước
ngoài làm việc. Trong các loại hình lao động giản đơn thì lao động có tay nghề cơ
khí, điện, lắp ráp điện tử, may mặc, y tá, giúp việc gia đình, thuyền viên...có nhu
cầu khá cao đòi hỏi người lao động phải có trình độ tay nghề và ngoại ngữ nhất
định. Đối với các ngành đỏi hỏi trình độ cao như tin học, vi sinh học... lao động của
các nước đang phát triển ít có điều kiện thâm nhập vào thị trường các nước phát
triển, nếu có thì thường là con đường nhập cư, du học rồi ở lại làm việc, Ấn Độ là
nước có kinh nghiệm và thành tích khá trong lĩnh vực này.
3.2. Khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam so với các nước xuất khẩu
lao động khác:
Chính phủ nhiều nước coi xuất khẩu lao động là chiến lược quốc sách lâu dài
nên đều có chương trình quốc gia về xuất khẩu lao động. Thực hiện xã hội hoá triệ
để, coi đây là công việc thường xuyên của xã hội. Thiết lập bộ máy quản lý Nhà
nước hoàn chỉnh, bao gồm các cơ quan hữu trách, đại diện các công ty xuất khẩu


43
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

lao động tại nước sở tại, một số nước cũng có tuỳ viên lao động ở các cơ quan đại
diện ở nước ngoài. Hệ thống luật lệ và quy định minh bạch, chặt chẽ, nhưng cũng
rất thông thoáng tạo chủ động cho người lao động và các doanh nghiệp. Chính phủ
khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia xuất khẩu lao động kể cả hình thức
di cư, thăm thân nhân, tự tìm kiếm việc làm ở nước ngoài.
Việc xã hội hoá xuất khẩu lao động ở Việt Nam còn hạn chế, thể hiện các
khía cạnh: ít về số lượng và địa bàn chủ lực, nghèo về loại hình lao động, chưa
triển khai mạnh mẽ và phổ cập các yêu cầu về kiến thức chuyên môn, tay nghề,
ngoại ngữ, văn hoá, lối sống ở nước sở tại cho người lao động trước khi họ đi làm
việc ở nước ngoài, chủ yếu là xuất khẩu thô, chưa khai thác, đầu tư cho xuất khẩu
lao động có tay nghề cao như chuyên gia, kỹ sư máy tính, hoặc đi theo các công
trình thầu...
So với các nước khác, bộ máy tuyển dụng đưa lao động đi của Việt Nam còn
nhiều phiền hà, chi phí để đi lao động ở nước ngoài còn quá cao, rất tón kém, đặc
biệt đối với người nghèo, bao gồm nhiều khâu chi phí khác nhau như tiền làm thủ
tục giấy tờ ( hộ chiếu, khám sức khoẻ, giấy tờ tư pháp...), tiền đặt cọc, chi phí đào
tạo, thường lên tới hàng chục triệu đồng, do đó đã tạo ra gánh nặng vật chất, sức ép
lên người đi lao động, phải tìm cách hoàn bù lại nhanh số tiền đã chi phí. Vì vậy, đã
dẫn đến nhiều tiêu cực, vượt rào, vi phạm pháp luật nước sở tại của lao động.
Trong khi đó, ngoài việc hỗ trợ đào tạo qua hệ thống các trung tâm đào tạo định
hướng về ngoại ngữ, tay nghề trước khi đi, các nước xuất khẩu lao động khác còn
có những hình thức hỗ trợ thiết thực cho người lao động như cung cấp thông tin
miễn phí, cấp giấy phép nhanh với chi phí thấp (khoảng 100 USD cho cả thời kỳ
lao động), không đánh thuế thu nhập đối với người lao động ở nước ngoài, miễn
thuế chuyển tiền về nước, quy định giới hạn số tiền người lao động phải đặt cọc ở
mức hợp lý, lập quỹ phúc lợi xã hội để hỗ trợ tư pháp, trợ giúp vật chất cho người
lao động bị tai nạn, trả tiền vé về nước, phụ cấp cho gia đình họ khi gặp khó


44
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

khăn...Việc áp dụng các chính sách khuyến khích xuất khẩu lao động rất linh hoạt
trong từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể.
Trên đây là những thuận lợi và khó khăn trong việc hội nhập và cạnh tranh
trên thị trường lao động quốc tế của hoạt động xuất khẩu lao động Việt Nam nói
chung và của Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại nói riêng.
CHƯƠNG III
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
LAO ĐỘNG Ở CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ THƯƠNG MẠI
I. ĐÁNH GIÁ CHUNG TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM:

1. Về phát triển thị trường:
Từ chủ yếu là thị trường Đông Âu, nước ta đã tập trung nghiên cứu, mở rộng
hợp tác lao động và chuyên gia với các nước khu vực, nhất là từ năm 1995 đến nay.
Với tinh thần hợp tác và hợp tác toàn diện, vì lợi ích của mỗi nước, vì ổn
định và phát triển trong khu vực, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo các Bộ, ngành phối
hợp triển khai khá đồng bộ từ mở rộng quan hệ đối ngoại về kinh tế, thương mại
đến hợp tác lao động và chuyên gia, coi hợp tác lao động và chuyên gia là một
trong những lĩnh vực kinh tế đối ngoại quan trọng. Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 08/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 2 năm 2003, trong đó xác định nhiệm vụ
của các cơ quan đại diện trong việc mở thị trường lao động và chuyên gia. Quốc
hội đã sửa đổi Bộ luật Lao động, trong đó có 6 Điều về xuất khẩu lao động và
chuyên gia. Chính phủ và các Bộ đã ban hành các văn bản hướng dẫn thể chế hoá
các Nghị quyết của Đảng về đẩy mạnh xuất khẩu lao động và chuyên gia.
Nhiều văn bản thoả thuận, thông báo chung của các đoàn cao cấp giữa nước
ta và các nước trong khu vực đều được khẳng định về hợp tác lao động và chuyên
gia.
Đến nay chúng ta đã ký các thoả thuận và Hiệp định về hợp tác lao động với
Liên bang Nga, Cộng hoà Séc, Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào, Đài Loan,


45
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

Malaysia; chuẩn bị ký Hiệp định mới về Hợp tác chuyên gia với Lào, với Liên bang
Nga, gia hạn Hiệp định hợp tác Lao động với Cộng hoà Séc; đang vận động để ký
kết thoả thuận với Hàn Quốc nhằm đưa lao động sang Hàn Quốc theo đạo luật cấp
phép cho lao động nước ngoài sẽ được nước này thực hiện từ tháng 8 năm 2004.
Chúng ta đã xây dựng và thực hiện các đề án cụ thể cho từng thị trường như
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Trung Đông, Châu Phi, lao động trên
biển...
Các Bộ ngành, địa phương và doanh nghiệp đã thường xuyên tổ chức các
đoàn doanh nghiệp đi khảo sát, tìm hiểu thị trường xuất khẩu lao động và chuyên
gia tại Châu Phi, Trung Đông và Châu Á; tổ chức các hội nghị khách hàng tại Nhật
Bản, Đài Loan và hội nghị, hội thảo để cung cấp thông tin thị trường, đặc biệt là về
các thị trường mới và thị trường trọng điểm, hỗ trợ doanh nghiệp để tăng thị phần ở
các thị trường hiện có, mở thị trường mới.
Kế thừa và phát huy kinh nghiệm trên 20 năm về hợp tác, xuất khẩu lao động
và chuyên gia; đồng thời quán triệt quan điểm của Đảng về kinh tế đối ngoại, đến
nay Nhà nước đã ban hành hàng loạt văn bản tạo hành lang pháp lý cho hoạt động
mở rộng thị trường xuất khẩu lao động và chuyên gia.
1.1 Malaysia
Sau nhiều năm trao đổi nghiên cứu, cuối tháng 2 năm 2002, Chính phủ ta và
Chính phủ Malaysia đã đạt được sự thống nhất về chủ trương tiếp nhận lao động
Việt Nam vào làm việc trong 4 lĩnh vực: xây dựng, sản xuất công nghiệp, nông
nghiệp và dịch vụ của Malaysia. Ngay sau đó, Bộ Lao động – Thương binh và xã
hội đã đàm phán và thống nhất cho phép các Doanh nghiệp thực hiện hợp đồng đưa
lao động Việt Nam sang Malaysia theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ
là tổ chức thực hiện chặt chẽ, mở rộng dần theo nhu cầu thị trường. Đồng thời,
thành lập Ban Quản lý lao động và quy định trách nhiệm của công tác cung ứng lao
động và chuyên gia.


46
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

Hiện nay, có 70 doanh nghiệp được đưa lao động sang Malaysia. Từ tháng 5
năm 2002 đến nay, đã đưa được gần 70.000 lao động. Chỉ trong vòng hơn một năm,
Malaysia đã trở thành thị trường xuất khẩu lao động lớn của ta. Với yêu cầu về
ngành nghề phù hợp với ta, tạo cơ hội cho một số lượng lớn lao động nông thôn,
người thuộc đối tượng chính sách, người nghèo đi làm việc ở nước ngoài, góp phần
tích cực vào công tác xoá đói giảm nghèo.
Ngày 1 tháng 12 năm 2003 vừa qua tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Lao động –
Thương binh và xã hội và Bộ trưởng Nguồn nhân lực Malaysia đã thay mặt hai
Chính phủ ký kết thoả thuận về hợp tác lao động giữa hai nước.
1.2 Đài Loan
Từ khi mở rộng thị trường Đài Loan cuối năm 1999 đến nay, ta đã đưa hơn
73.000 lao động. Riêng trong 3 năm 2001- 2003, đã đưa khoảng 65.000 lao động.
Đặc biệt là từ cuối năm 2002 đến nay, tốc độ đưa lao động sang Đài Loan tăng
mạnh.
Gần đây, số lượng lao động bỏ hợp đồng ra ngoài sống và làm việc bất hợp
pháp ở Đài Loan gia tăng ( khoảng 6,55%). Ngoài việc phối hợp với Văn phòng
Kinh tế và Văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc vận động phía Đài Loan, Bộ Lao động –
Thương binh và xã hội đã thực hiện các biện pháp giảm tỷ lệ lao động bỏ hợp đồng:
- Chỉ đạo các doanh nghiệp chấn chỉnh công tác tuyển chọn, đào tạo – giáo
dục định hướng cho người lao động trước khi đi;
- Đề nghị các địa phương có biện pháp tuyên truyền, vận động nhân dân thực
hiện đúng các quy định của Nhà nước, vận động con em đang bỏ hợp đồng về
nước;
- Xử lý nghiêm những doanh nghiệp có tỷ lệ lao động bỏ trốn cao. Đã đình
chỉ có thời hạn 38 doanh nghiệp, tạm dừng hoạt động cung ứng thuyền viên tàu cá
đối với 8 doanh nghiệp;



47
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

- Trước mắt yêu cầu các doanh nghiệp hạn chế tuyển lao động ở những địa
phương có số lượng lao động bỏ hợp đồng cao.
1.3 Hàn Quốc
Từ năm 1993 đến nay, có 8 doanh nghiệp xuất khẩu lao động của Việt Nam
đã đưa trên 30.000 lượt người lao động Việt Nam sang tu nghiệp tại Hàn Quốc.
Hiện nay co 18.771 lao động Việt Nam đang làm việc và tu nghiệp tại Hàn Quốc,
trong đó số lao động trong hợp đồng là 5.520 người và ngoài hợp đồng là 13.251
người. Ngoài ra, Hàn Quốc còn tiếp nhận một số lượng lớn sĩ quan, thuỷ thủ tàu
vận tải biển và thuyền viên đánh cá Việt Nam. Trong 3 năm 2001 – 2003, ta đưa
sang Hàn Quốc gần 11.000 lao động và tu nghiệp sinh.
Tháng 8 năm 2003, Quốc hội Hàn Quốc thông qua Luật cấp phép cho lao
động nước ngoài, có hiệu lực từ tháng 8 năm 2004. Để chuẩn bị thực hiện đạo luật
này, vừa qua Hàn Quốc đã có chính sách gia hạn cư trú tại Hàn Quốc cho số lao
động đã làm việc dưới 4 năm. Bộ Ngoại giao và Bộ Lao động – Thương binh và xã
hội đã phối hợp vận động, khuyến khích người lao động thực hiện đúng quy định
của Bạn, đã có 7.300 lao động Việt Nam ( chiếm 83 % số lao động bất hợp pháp)
đăng ký tiếp tục ở lại làm việc. Phía Hàn Quốc đánh giá cao các giải pháp cũng như
sự phối hợp của Việt Nam trong việc thông tin và động viên lao động Việt Nam ra
đăng ký. Các giải pháp kiên quyết trên của Nhà nước ta sẽ tạo điều kiện thuận lợi
cho việc tiếp tục tăng cường hợp tác với Hàn Quốc về tu nghiệp sinh và lao động.
1.4 Nhật Bản
Nhật Bản chỉ nhận tu nghiệp sinh. Trong 3 năm 2001 – 2003, ta đã đưa hơn
6.400 lao động sang tu nghiệp tại Nhật Bản ( bình quân mỗi năm đạt hơn 2.100
người). Ngoài ra, cũng đã đưa một số lượng lớn thuyền viên sang làm việc trên các
tàu biển Nhật Bản. Tổng số lao động và tu nghiệp sinh đưa sang Nhật Bản trong 3
năm qua là hơn 8.100 người.



48
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

Ở thị trường Nhật Bản, điều kiện làm việc và thu nhập của người lao động
thuận lợi và thu nhập tương đối cao, nên đa số lao động muốn kéo dài thời hạn hợp
đồng. Song do chính sách và pháp luật của Bạn chưa thay đổi như Hàn Quốc, nên
tỷ lệ bỏ hợp đồng, cư trú bất hợp pháp cao. Các Bộ, ngành liên quan đang nghiên
cứu để có những giải pháp thích hợp. Đồng thời chỉ đạo các doanh nghiệp tăng
cường chất lượng tuyển, chọn và quản lý tu nghiệp sinh ở nước ngoài.




49
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

2. Về chuẩn bị nguồn lao động:
2.1 Về công tác tuyển chọn lao động
Điểm mới trong hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia từ đầu năm
2002 đến nay là đã tổ chức và thực hiện thành công mô hình liên kết trách nhiệm
giữa chính quyền cơ sở với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trong việc triển
khai hoạt động xuất khẩu lao động tại địa phương. Mô hình này được thí điểm ở 2
tỉnh Hải Dương và Phú Thọ từ giữa năm 2002 đến nay đã được mở rộng ra trên 40
tỉnh, thành phố trong cả nước. Các địa phương đã tổ chức quán triệt và triển khai
các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xuất khẩu lao động và chuyên
gia; ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết, phê duyệt các đề án, thành lập Ban chỉ đạo
về xuất khẩu lao động; chỉ đạo các Ban ngành về cho lao động vay vốn từ ngân
hàng, từ quỹ tín dụng nhân dân để đi xuất khẩu lao động; về cải tiến thủ tục hành
chính, khám sức khỏe, cấp hộ chiếu, tạo thuận lợi cho người lao động. Một số địa
phương còn ban hành cơ chế, chính sách cụ thể hỗ trợ tài chính về đào tạo và về lãi
suất ưu đãi đối với người lao động nghèo, diện chính sách.
Qua công tác tuyên truyền vận động sâu rộng trong triển khai mô hình đã tạo
được sự nhất trí cao về nhận thức trong các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, đoàn thể về
xuất khẩu lao động và chuyên gia, coi việc triển khai thực hiện là trách nhiệm của
cấp uỷ, nhiệm vụ chính trị của các cấp các ngành, các đoàn thể. Mô hình liên kết đã
đạt được những kết quả rõ rệt là:
- Làm rõ và tăng cường vai trò quản lý Nhà nước tại địa phương đối với xuất
khẩu lao động, khắc phục được các hiện tượng tiêu cực như cò mồi, môi
giới, lừa đảo người lao động.
- Người lao động được tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc làm thủ tục hành
chính và vay vốn; giảm được chi phí.
- Địa bàn tham gia xuất khẩu lao động mở rộng trên 45 tỉnh, thành phố và đến
được các tỉnh miền núi phía bắc ( Yên Bái, Bắc Cạn, Hoà Bình), Tây Nguyên


50
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

( Gia Lai, Đăc Lắc) và các tỉnh miền tây Nam Bộ. Lao động thuộc diện
nghèo, đối tượng chính sách, bộ đội xuất ngũ có cơ hội tham gia xuất khẩu
lao động và chuyên gia đã tham gia trực tiếp và có hiệu quả vào công tác xoá
đói giảm nghèo.
Qua triển khai mô hình liên kết, đã xây dựng được các điển hình tốt về công
tác quản lý, chỉ đạo và tổ chức xuất khẩu lao động tại địa phương, đặc biệt là
các xã Thái Mỹ, xã Trung Lập Thượng ( huyện Củ Chi – Tp Hồ Chí Minh),
phường Nghi Hải (Thị xã Cửa Lò – Nghệ An), xã Tân Hội (huyện Đan
Phượng – Hà Tây), xã Đồng Lạc (huyện Chí Linh – Hải Dương), xã Vĩnh
Lạc (Lâm Thao – Phú Thọ), tỉnh Đồng Tháp...
2.2 Đào tạo, giáo dục định hướng cho lao động xuất khẩu
- Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã ban hành quy chế về đào tạo –
giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi; các quy định cụ thể về đào
tạo – giáo dục định hướng và giáo trình đối với từng thị trường trọng điểm; chỉ đạo
kiểm tra các doanh nghiệp thực hiện đúng quy trình đào tạo – giáo dục định hướng
theo quy định.
- Các địa phương đã quan tâm phối hợp cùng với các doanh nghiệp trong
công tác đào tạo – giáo dục định hướng, chỉ đạo các cơ sở đào tạo ở địa phương tổ
chức đào tạo tại chỗ để tạo thuận lợi cho người lao động. Một số địa phương như
Hải Dương, Phú Thọ ... đã có chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo cho người lao
động.
- Các doanh nghiệp đã thực hiện tương đối tốt việc đào tạo – giáo dục định
hướng. Hầu hết các doanh nghiệp đã có cơ sở đào tạo, bố trí ăn ở cho người lao
động trong thời gian học tập. Nhiều doanh nghiệp đã bổ sung thêm các nội dung cụ
thể vào chương trình đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của từng thị trường, góp
phần chuẩn bị tốt hành trang kiến thức cho người lao động.
2.3 Chính sách hỗ trợ người lao động


51
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

- Ngân hàng Nhà nước đã có Quyết định số 440/2001/QĐ-NHNN ngày
17/4/2001 quy định việc cho vay đối với người đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thông và Ngân hàng Chính sách
xã hội đều đã ban hành các quy định cụ thể cho người lao động vay tín dụng và đã
triển khai rộng khắp trên toàn quốc ở một số tỉnh như Hải Dương, Phú Thọ, Nghệ
An, Thái Bình..., hầu hết lao động đi làm việc ở nước ngoài có nhu cầu đều đã được
vay tín dụng.
- Sửa đổi chính sách Bảo hiểm xã hội. Khi đi làm việc ở nước ngoài, người
lao động được tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Trường hợp đã tham gia bảo
hiểm xã hội trước khi đi và không muốn tham gia bảo hiểm xã hội tiếp thì được giải
quyết trợ cấp một lần hoặc bảo lưu thời gian đã đóng.
- Đơn giản hoá các thủ tục hành chính: Bộ Công an đã quy định rõ ràng,
minh bạch về thủ tục và thời hạn cấp hộ chiếu.
2.4 Về bảo vệ quyền lợi cho người lao động
- Đã hình thành một hệ thống tổ chức quản lý lao động làm việc ở nước
ngoài từ Đại sứ quán Việt Nam tại các nước sở tại đến đại diện các doanh nghiệp.
Ở các nước sở tại có nhiều lao động như Đài Loan, Malaysia, Hàn Quốc ... đều đã
thành lập Ban Quản lý lao động; đã xúc tiến thành lập Ban Quản lý lao động tại
Nhật Bản và Lào. Phần lớn các vấn đề phát sinh với người lao động trong thời gian
làm việc ở nước ngoài đều được phát hiện và xử lý kịp thời, bảo đảm quyền lợi hợp
pháp của người lao động theo Pháp luật Việt Nam và Pháp luật nước nhận lao
động; đồng thời có cơ chế xử lý đối với người lao động vi phạm.
- Đã ký kết thoả thuận với một số nước, tạo ra khung pháp lý để bảo vệ
quyền lợi người lao động. Đối với các nước chưa có thoả thuận lao động, cũng đã
thiết lập được quan hệ với các cơ quan quản lý của bạn để giải quyết kịp thời vấn
đề phát sinh.



52
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

- Nghị định 81/2003/NĐ-CP ngày 17/7/2003 của Chính phủ đã có quy định
về thành lập Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động để giải quyết rủi ro đối với người lao
động.




53
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

3. Củng cố và đổi mới doanh nghiệp xuất khẩu lao động
Doanh nghiệp xuất khẩu lao động và chuyên gia đã được hình thành từ năm
1991 khi chuyển đổi cơ chế. Kết quả xuất khẩu lao động và chuyên gia phụ thuộc
vào hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Thực hiện kết luận của Thủ tướng
Chính phủ tại Hội nghị toàn quốc về xuất khẩu lao động và chuyên gia năm 2000
và 2001, ba năm vừa qua, đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm đổi mới và phát triển
doanh nghiệp trên các lĩnh vực:
- Xây dựng và ban hành tiêu chí nhằm tăng cường đầu tư về: vốn, cơ sở vật
chất, cơ sở đào tạo và cán bộ có trình độ.
- Các Bộ, ngành, địa phương chủ quan đã sắp xếp lại một bước và đầu tư
nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Bộ Lao động-Thương binh và xã hội thường xuyên cung cấp thông tin thị
trường và bồi dưỡng cán bộ cho doanh nghiệp như:
+ Tổ chức giao ban với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động định kỳ 6 tháng
và 1 năm để sơ kết, tổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm hoạt động xuất khẩu
lao động và chuyên gia.
+ Tổ chức các hội nghị chuyên đề về từng lĩnh vực của xuất khẩu lao động như
thị trường, công tác chuẩn bị nguồn lao động, tuyển chọn lao động, chính
sách xuất khẩu lao động.
+ Tổ chức tập huấn, nâng cao trình độ nghiệp vụ xuất khẩu lao động và chuyên
gia cho gần 300 cán bộ của các doanh nghiệp
Qua quá trình sắp xếp lại một bước các doanh nghiệp xuất khẩu lao động,
hiện nay có 154 doanh nghiệp có giấy phép xây dựng lao động, trong đó 16 doanh
nghiệp chuyên doanh xuất khẩu lao động, 134 doanh nghiệp được bổ sung chức
năng xuất khẩu lao động và 4 doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Trong 3 năm 2001- 2003 có 145/153 doanh nghiệp đã ký kết được hợp đồng
và đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Một số doanh nghiệp đã hoạt động có


54
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

hiệu quả cao, có uy tín đối với đối tác nước ngoài và với người lao động, đưa được
nhiều lao động đi làm việc ở nước ngoài:
- 1 doanh nghiệp đưa được trên 10.000 lao động;
- 4 doanh nghiệp đưa được trên 5.000 lao động;
- 37 doanh nghiệp đưa được trên 1.000 lao động;
Phần lớn các doanh nghiệp đã tích cực đầu tư mở rộng thị trường, chủ động
khảo sát, tìm kiếm và khai thác hợp đồng; tăng cường thiết lập các mối quan hệ với
các tổ chức trong và ngoài nước; áp dụng các công nghệ tiên tiến để tìm kiếm thông
tin, mở rộng quan hệ ... nhằm mở ra các thị trường lao động mới.
Các doanh nghiệp chú trọng công tác tuyển chọn, thực hiện chỉ đạo của Nhà
nước về việc phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương với các cơ sở đào tạo
trong hoạt động tuyển chọn người lao động.
Hầu hết các doanh nghiệp đã có trung tâm đào tạo – giáo dục định hướng cho
người lao động trước khi đi. Một số doanh nghiệp đã thành lập mới các trường đào
tạo hoặc đưa các trường đào tạo hiện có vào đào tạo xuất khẩu (Công ty Hợp tác
lao động nước ngoài – LOD, Công ty Dịch vụ Xuất khẩu lao động và chuyên gia –
SULECO, Công ty Xuất khẩu lao động, Thương mại và Du lịch – SOVILACO,
Tổng Công ty Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam – VINACONEX, Tổng Công ty
Xây dựng Sông Đà...)
Các doanh nghiệp đã có biện pháp hữu hiệu quản lý, bảo vệ quyền lợi người
lao động làm việc ở nước ngoài, kịp thời phát hiện và xử lý các vấn đề phát sinh. Ở
các nước có những quy định khắt khe đối với việc nhập cảnh của cán bộ doanh
nghiệp sang quản lý lao động như Malaysia, Đài Loan, ..., các doanh nghiệp đã có
nhiều biện pháp tích cực để thực hiện tốt công tác quản lý.
4. Kết quả đạt được và nguyên nhân đạt được kết quả trên
4.1. Kết quả đạt được
Trong vài năm gần đây, nhất là từ sau khi có Nghị định 81 (81/2003/NĐ-CP),


55
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

công tác xuất khẩu lao động và chuyên gia đã có nhiều tiến bộ rõ rệt, bước đầu đã
đạt những kết quả khả quan tạo được đà cho sự phát triển trong thời kỳ tới.
- Thị trường xuất khẩu lao động và chuyên gia đang dần được mở rộng ra
nhiều nước, từ 12 nước năm 1992 lên 38 nước năm 1999 và đến nay đã là
gần 50 quốc gia. Số lượng lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài
đang từng bước gia tăng, từ 1,3 vạn lao động năm 1996 tăng lên 2,2 vạn lao
động năm 1999, đến cuối năm 2004 đã đưa đi được 24,6 vạn lao động, số
ngoại tệ do người lao động chuyển về ngày càng nhiều, chỉ tính riêng năm
2004 số lao động và chuyên gia làm việc ở nước ngoài đã gửi về nước 1,65
tỷ USD.
- Công tác đào tạo nguồn lao động và chuyên gia để đi làm việc ở nước ngoài
bắt đầu được đặt ra và tổ chức thực hiện.
- Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp quy để điều chỉnh hoạt động xuất
khẩu lao động và chuyên gia, phân biệt ngày càng rõ hơn công tác quản lý
nhà nước và hoạt động dịch vụ của doanh nghiệp xuất khẩu lao động, tạo ra
cơ chế đã tương đối thông thoáng, đơn giản thủ tục hành chính, tạo điều kiện
thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu lao động.
4.2. Nguyên nhân đạt được kết quả trên
- Đã xây dựng được hệ thống chính sách, pháp luật về xuất khẩu lao động và
chuyên gia tương đối đồng bộ, phù hợp với cơ chế chung của đất nước và của các
nước nhận lao động. Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Lao động, trong đó bổ sung 6 điều quy định cụ thể về xuất khẩu lao động
và chuyên gia; Chính phủ đã ban hành Nghị định 81/2003/NĐ-CP ngày 17/7/2003
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về người lao động Việt
Nam làm việc ở nước ngoài; Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã ban hành và
cùng Bộ Tài chính ban hành theo thẩm quyền các thông tư hướng dẫn thực hiện. Bộ



56
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

Công an, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế ... đã sửa đổi cơ chế, thủ
tục tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người lao động.
- Các cơ quan thuộc Quốc hội và Chính phủ đã thường xuyên chỉ đạo, giám
sát việc hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia, đặc biệt là sự chỉ đạo cụ thể
về các giải pháp đối với những thị trường trọng điểm. Đã tạo được sự thống nhất
cao trong nhận thức và sự quan tâm quản lý, chỉ đạo và thực hiện các giải pháp đẩy
mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của các ngành, các cấp. Nhiều Bộ, ngành địa
phương chủ quản các doanh nghiệp đã quan tâm đầu tư, chỉ đạo quản lý hoạt động
của các doanh nghiệp trực thuộc. Công tác quản lý hoạt động xuất khẩu lao động
của các cấp chính quyền địa phương đã được củng cố một bước.
- Công tác thanh tra, kiểm tra đã được nâng cao chất lượng, góp phần quan
trọng trong công tác quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động và chuyên gia, hạn
chế vi phạm của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, góp phần tích cực ngăn
ngừa các hành vi lừa đảo của các tổ chức, cá nhân ngoài xã hội. Qua công tác thanh
tra, kiểm tra đã rút ra những vấn đề bất cập trong cơ chế, chính sách và tổ chức điều
hành để tiếp tục hoàn thiện; đảm bảo các quy định của Pháp luật phù hợp với thực
tiễn trong nước và thị trường lao động quốc tế, thực sự đi vào cuộc sống.
Cùng với công tác kiểm tra, thanh tra của các Bộ, ngành địa phương, Bộ Lao
động – Thương binh xã hội đã tiến hành 140 cuộc điều tra và 37 cuộc thanh tra tại
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Đã quyết định thu hồi Giấy phép hoạt động
xuất khẩu lao động của 2 doan nghiệp có vi phạm; thu hồi Giấy phép của 8 doanh
nghiệp hoạt động không hiệu quả; đình chỉ có thời hạn hoạt động xuất khẩu lao
động và hoạt động đưa lao động sang một số thị trường đối với một số doanh
nghiệp có vi phạm hoặc có tỷ lệ lao động bỏ trốn cao. Trong quá trình tổ chức hoạt
động thanh tra, kiểm tra, Bộ Lao động – Thương binh xã hội đã có sự phối hợp chặt
chẽ với các Bộ, ngành có liên quan và chính quyền các địa phương, đặc biệt đối với
những địa bàn tập trung nhiều đơn vị làm xuất khẩu lao động như Tp Hồ Chí Minh,


57
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

Hà Nội ... trong đó nâng cao trách nhiệm, vai trò của cơ quan lao động địa phương
đối với hoạt động quản lý Nhà nước về xuất khẩu lao động tại địa bàn.
Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã chủ động lập đường dây nóng, tiếp
nhận thông tin từ nhân dân, phát hiện nhiều dấu hiệu lừa đảo cung cấp cho cơ quan
công an để điều tra và xử lý. Các cơ quan thuộc ngành Công an đã tích cực phát
hiện, ngăn chặn và xử lý các tổ chức và cá nhân không có chức năng xuất khẩu lao
động, lừa đảo tuyển chọn lao động đi làm việc ở nước ngoài và thu tiền trái pháp
luật.
- Năng lực của các doanh nghiệp đã được nâng cao một bước. Đa số các
doanh nghiệp đã hoạt động theo đúng các quy định của Pháp luật và sự điều hành
của Nhà nước. Bước đầu đã xây dựng được một số doanh nghiệp hoạt động có hiệu
quả, tạo được uy tín với đối tác và với người lao động, đưa được số lượng lớn lao
động đi làm việc ở nước ngoài.
- Công tác thông tin tuyên truyền đã được đổi mới, góp phần khắc phục hiện
tượng nhận thức thông tin một chiều và tình trạng người lao động thiếu thông tin
dẫn đến bị lừa đảo. Cơ quan quản lý Nhà nước đã nghiên cứu và ban hành kịp thời
nhiều ấn phẩm thông tin về điều kiện thị trường, luật lao động và sử dụng lao động
nước ngoài, xuất nhập cảnh, phong tục tập quán và đất nước con người của các
nước nhận lao động để cung cấp cho các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và các
cơ quan thông tin đại chúng để phổ biến rộng rãi. Các phương tiện thông tin đại
chúng đã góp phần tích cực trong việc phổ biến các chủ trương chính sách về xuất
khẩu lao động và chuyên gia; phát hiện, đấu tranh góp phần ngăn chặn các hiện
tượng tiêu cực.
Nét mới của công tác thông tin tuyên truyền về xuất khẩu lao động những
năm qua là đã chú ý đưa thông tin về cơ sở bằng việc phát hành bộ tài liệu về xuất
khẩu lao động và danh sách các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đến 500 huyện,



58
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

thị và phát hành 200.000 tờ rơi cung cấp các điều cần biết cho người lao động
muốn đi làm việc ở nước ngoài về tận các phường, xã trong cả nước.
5. Một số tồn tại trong hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia
Chiến lược xuất khẩu lao động chưa được xác định thật rõ, đây là trách
nhiệm thuộc cơ quan quản lý, chất lượng lao động còn thấp, hệ thống văn bản pháp
luật vẫn chưa đầy đủ, đồng bộ, chưa có chính sách và biện pháp đầu tư chủ động
mở rộng thị trường, công tác đào tạo nguồn lao động và chuyên gia cho xuất khẩu
lao động chưa thực sự được coi trọng, công tác quản lý, tổ chức thực hiện xuất
khẩu lao động còn có những yếu kém, bất cập và tiêu cực.
Tại thị tường Đài Loan, đến cuối tháng 9/2004 có 7935 lao động bỏ trốn trên
tổng số 80890 lao động Việt Nam đang làm việc tại Đài Loan. Việt Nam đứng thứ
3 trong số những nước có lao động làm việc tại Đài Loan nhưng đứng đầu về số bỏ
trốn. Đã hơn 2 năm Uỷ ban Lao động Đài Loan (CLA) báo động cho các doanh
nghiệp Việt Nam về tình hình phá vỡ hợp đồng nhưng các giải pháp thực thi của
Việt Nam không hiệu qủa, lao động bỏ trốn ngày càng nhiều. Mấy tháng nay các
doanh nghiệp xuất khẩu lao động sang Đài Loan như ngồi trên đống lửa bởi lời đe
doạ của chính quyền Đài Bắc sẽ ngừng tiếp nhận lao động Việt Nam nếu không
đưa về nước 2000 trên tổng số gần 8000 lao động bỏ trốn. Mặc dù đã áp dụng một
số biện pháp mang tính chất tình thế nhưng vẫn không đạt hiệu quả vì cả nguyên
nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Doanh nghiệp muốn cử người sang
phối hợp Văn phòng và cảnh sát Đài Loan truy tìm lao động bỏ trốn cũng không
đơn giản vì visa chỉ được cấp trong 14 ngày, thời gian ngắn, nhân viên toàn làm
việc văn phòng, không thông thạo địa hình rất khó đuổi bắt, có khi thấy rõ ràng lao
động của mình, song đành để họ chạy mất. Bên cạnh đó chi phí tìm và đưa lao
động bỏ trốn về nước cũng là vấn đề đau đầu đối với các doanh nghiệp. Tính trung
bình công tác phí cho một cán bộ trong một ngày khoảng 45- 50 USD chưa kể vé
máy bay mà chưa chắc đã tìm được. Tổng chi phí để đưa một lao động về nước


59
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

khoảng 500-1000 USD, nếu đưa được 10 người về nước thì tổng chi phí lên tới
10.000 USD, đây là một số tiền không nhỏ. Trước lời đe doạ của Chính quyền Đài
Loan, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm tìm
kiếm và đưa nhanh số người bỏ trốn về nước như vận động gia đình kêu gọi con em
về, không tuyển dụng lao động ở những địa phương có nhiều lao động bỏ trốn, đình
chỉ doanh nghiệp có tỷ lệ bỏ trốn trên 3%, khẩn cấp cử cán bộ sang tìm kiếm...Tuy
nhiên, theo đánh giá của doanh nghiệp, các giải pháp trên không phát huy tác dụng.
Nhiều gia đình không biết con em mình ở đâu mà gọi về, địa phương có số lao
động bỏ trốn nhiều cũng không hẳn là trốn theo dây chuyền tỉnh, hay huyện, xã.
Những đối tượng trong đường dây dụ dỗ lao động Việt Nam bỏ trốn gặp ai họ cũng
dụ, không kén người. Còn giải pháp đình chỉ tạm thời 3-6 tháng, doanh nghiệp có
thể chuyển hướng thị trường.
Thị trường lao động Đài Loan là thị trường tiếp nhận chủ yếu lao động phổ
thông của Việt Nam, giúp giải quyết một bộ phận lao động nông thôn dư thừa do
vậy Cục quản lý lao động nước ngoài và các doanh nghiệp rất lo lắng trước quyết
định đóng cửa thị trường với lao động Việt Nam có thể được đưa ra bất kỳ lúc
nào.Hiện nay dù chi phí thủ tục, học nghề, vé máy bay, tiền đặt cọc đưa lao động
sang Đài Loan khá cao song đây vẫn là thị trường xuấ khẩu lao động chủ lực của
Việt Nam. Riêng năm 2004, trong 67740 nhân công xuất khẩu thì số lao động sang
Đài Loan lên tới 37740 người. Nguồn ngoại tệ từ những người này mang về không
nhỏ. Trừ chi phí ăn ở, trung bình sau 2 năm làm việc tại Đài Loan, một lao động có
thể tiết kiệm 100 triệu đồng nếu làm việc tốt. Đây là hướng xoá đói giảm nghèo
chonhiều lao động nông thôn.
Việc lao động bỏ trốn liên quan đến nhiều yếu tố như chính sách lao động
nước ngoài, các quy định về pháp luật và quản lý...Để giải quyết vấn đề có tính
chất kết cấu trên Uỷ ban Lao động Đài Loan đã tiến hành kiểm điểm toàn diện các
yếu tố, đồng thời phác thảo " Bản phân công các biện pháp liên quan cải thiện vấn


60
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

đề lao động nước ngoài bỏ trốn ", sửa đổi pháp lệnh về dịch vụ việc làm, kiện toàn
chế độ quản lý lao động nước ngoài. Uỷ ban Lao động sẽ mời các cơ quan, tổ chức
liên quan như Tổng cuc Cảnh sát, Chính quyền địa phương và các nước xuất khẩu
lao động cùng tăng cường truy bắt lao động nước ngoài và kiểm tra chủ sử dụng lao
động nước ngoài bất hợp pháp, động viên lao động nước ngoài bất hựop pháp ra
đầu thú, tăng cường tuyên truyền để giảm thiểu số lao động bỏ trốn trong thời gian
ngắn.
Ngoài thị trường Đài Loan, tại thị trường Malaixia cũng đã phát sinh một số
vụ việc phức tạp ảnh hưởng tới uy tín của lao động nước ta tại thị trường này. Giám
đốc một doanh nghiệp xuất khẩu lao động cho biết tại thị trường Malaixia đang có
nhiều vụ việc rắc rối như lao động đánh nhau, đình công...nguyên nhân chính là do
ảnh hưởng của cuộc chiến tại Iraq nên một số doanh nghiệp sử dụng lao động phải
thu hẹp sản xuất đặc biệt đối với một số ngành như điện tử, dệt may và sản xuất đồ
gỗ dẫn đến việc lao động chỉ được trả lương cơ bản àm không được làm thêm. Do
vậy lao động nước ta đình công đòi làm thêm giờ tăng thu nhập.
Trước những tồn tại nêu trên đòi hỏi cơ quan quản lý phối hợp cùng các
doanh nghiệp hải khân trương và kiên quyết khắc phục.
II. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG MỤC TIÊU XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG:

Xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội, góp
phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập và nâng
cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và
tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước.
Trong những năm 80, thực hiện hợp tác lao động và chuyên gia với các nước
Xã hội Chủ nghĩa và một số nước Trung Đông, Châu Phi, chúng ta đã giải quyết
việc làm ngoài nước cho hàng chục vạn người. Từ năm 1991 đến nay, việc xuất
khẩu lao động và chuyên gia cũng được chuyển đổi cho phù hợp với cơ chế quản lý
mới, đưa hàng van lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài, góp phần nâng


61
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

cao tay nghề, ngoại ngữ cho người lao động, nâng cao đời sống các gia đình có
người lao động đi xuất khẩu và đóng góp cho ngân sách.
Kết quả xuất khẩu lao động và chuyên gia trong thời gian qua vẫn chưa đáp
ứng được yêu cầu, còn những tồn tại và khuyết điểm. Do chưa nhận thức thống
nhất về tầm quan trọng của xuất khẩu lao động và chuyên gia trong các mục tiêu và
biện pháp giải quyết việc làm nên các ngành, các cấp từ Trung ương tới địa phương
còn thiếu sự phối hợp đồng bộ trong việc đầu tư mở rộng thị trường, đào tạo nguồn
lao động xuất khẩu, cụ thể hoá chủ trương, chính sách để đẩy mạnh xuất khẩu lao
động và chuyên gia. Sự nỗ lực tạo thêm việc làm trong nước và ngoài nước chỉ mới
giải quyết được một phần trong số lao động chưa có việc làm và thiếu việc
làm.Hàng năm có hơn một triệu người đến độ tuổi lao động, trước tình hình đó,
cùng với các giải pháp giải quyết việc làm trong nước là chính, xuất khẩu lao động
và chuyên gia còn có vai trò quan trọng trước mắt và lâu dài.
1. Về chủ trương:
- Cùng với giải quyết việc làm trong nước là chính thì xuất khẩu lao động và
chuyên gia là một chiéen lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao
động cho công cuộc xây dựng đât nước trong thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại
hoá, là một bộ phận của hợp tác quốc tế, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, hợp
tác lâu dài với các nước.
- Xuấtkhẩu lao động và chuyên gia phải được mở rộng và đa dạng hoá hình
thức, thị trường xuấtkhẩu lao động, phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước, đáp ứng nhu cầu của nước ngoài về số lượng, trình độ và ngành nghề.
Xuất khẩu lao động và chuyên gia một mặt phải đảm bảo sức cạnh tranh trên cơ sở
tăng cường đào tạo giáo dục định hướng, nâng dần tỷ trọng lao động xuấtkhẩu có
chât lượng cao rong tổng số lao động xuất khẩu và nâng cao trình độ quản lý của
các đơn vị xuất khẩu lao động, mặt khác phải chăm lo và bảo vệ quyền lợi chính



62
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

đáng của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo pháp luật của nước ta và
pháp luật của nước mà người lao động sống và làm việc.
- Phát triển và khuyến khích đào tạo nghề gắn với nhu cầu của thị trường lao
động, đào tạo ngoại ngữ, giáo dục ý thức pháp luật, làm rõ quyền lợi, nghĩa vụ của
doanh nghiệp và người lao động về thực hiện hợp đồng, tôn trọng phong tục, tập
quán, văn hoá, hoà nhập thị trường lao động quốc tế.
2. Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động và
chuyên gia:
2.1. Giải pháp vĩ mô:
Nước ta có tiềm năng lớn về lao động và chuyên gia, thị trường lao động trên
thế giới mà ta tiếp cận còn rộng mở, vì thế công tác xuất khẩu lao động và chuyên
gia trong thời gian tới cần chú trọng những vấn đề sau:


2.1.1. Phát triển thị trường
a. Trong các năm tới, tiếp tục thực hiện các giải pháp để ổn định, mở rộng các
thị trường trọng điểm, bao gồm:
- Thị trường Malaysia:
Chuẩn bị đủ nguồn lao động đáp ứng nhu cầu thị trường. Tiếp tục triển khai mô
hình liên kết giữa doanh nghiệp với địa phương để tuyển chọn lao động. Chú
trọng công tác đào tạo ngoại ngữ và giáo dục định hướng theo đúng yêu cầu đặt
ra trong thoả thuận đã được ký kết với Malaysia.
Tiếp tục triển khai chặt chẽ việc đưa lao động sang Malaysia:
+ Căn cứ nhu cầu thị trường, xem xét để mở rộng số lượng doanh nghiệp đưa
lao động sang Malaysia trên cơ sở chọn lọc các doanh nghiệp hoạt động chính
sách kinh nghiệm, chấp hành nghiêm các quy định của Nhà nước, gắn với việc
xử lý những doanh nghiệp vi phạm các quy định trong việc đưa lao động sang
Malaysia.


63
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

+ Theo dõi tình hình thị trường và tình hình lao động để hướng dẫn các
doanh nghiệp chỉ hợp tác với các đối tác có khả năng đảm bảo quyền lợi cho
người lao động, và đưa lao động sang các ngành có điều kiện đảm bảo kể cả một
số nghề trong ngành nông nghiệp và dịch vụ.
+ Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ quyền lợi của người lao động, bảo
đảm phát hiện và giải quyết kịp thời các vụ việc phát sinh với người lao động.
Tăng cường cán bộ cho Ban quản lý lao động và chuyên gia tại Malaysia, giải
quyết thủ tục pháp lý để doanh nghiệp cử cán bộ sang quản lý lao động.
- Thị trường Đài Loan:
Thị trường Đài Loan vẫn còn khả năng nhận nhiều lao động Việt Nam. Các giải
pháp cần thực hiện gồm:
+ Thúc đẩy gia hạn Thoả thuận hợp tác lao động với Đài Loan;
+ Tiếp tục thực hiện các giải pháp mạnh để giảm thiểu tỷ lệ lao động bỏ hợp
đồng, bao gồm cả việc xử lý người lao động bỏ hợp đồng và các doanh nghiệp
có tỷ lệ lao động bỏ hợp đồng cao; phối hợp với các cơ quan có liên quan của
Đài Loan để đưa nhanh số lao động bỏ trốn hiện còn ở Đài Loan về nước;
+ Hợp tác với các công ty nội và các công ty môi giới lao động Đài Loan hạn
chế đến mức thấp nhất phí môi giới;
+ Tăng tỷ lệ cung ứng lao động trực tiếp cho các chủ sử dụng lao động và tỷ
lệ lao động làm việc trong các công xưởng, nhà máy.
- Thị trường Hàn Quốc:
Hàn Quốc đã thông qua Luật cấp phép cho lao động nước ngoài và bắt đầu thực
hiện nhận lao động từ tháng 8 năm 2004 song song với hệ thống nhận tu nghiệp
sinh hiện nay. Để tăng cường thị phần lao động tại Hàn Quốc, phải đưa được lao
động đi theo cả hai hệ thống này. Các biện pháp cần thực hiện bao gồm:
+ Thúc đẩy đàm phán để tiến tới ký kết với Hàn Quốc Thoả thuận về nhận
lao động Việt Nam theo hệ thống cấp phép lao động;


64
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

+ Hỗ trợ các giải pháp mạnh của Hàn Quốc, đưa tu nghiệp sinh bất hợp pháp
về nước, để tu nghiệp sinh mới sang và tạo cơ sở để Hàn Quốc nhận lao động
Việt Nam theo chính sách mới;
+ Vận động để phía Bạn tiếp nhận thêm tu nghiệp sinh ngành xây dựng,
đóng tàu và nông nghiệp.
- Thị trường Nhật Bản:
Để mở rộng thị phần, cần có biện pháp giảm tỷ lệ tu nghiệp sinh bỏ hợp đồng,
cụ thể là:
+ Tiếp tục rà soát và kiểm tra, chỉ cho phép các doanh nghiệp có uy tín đưa
tu nghiệp sinh sang Nhật Bản; trước mắt chú trọng về chất lượng hơn mở rộng
về số lượng.
+ Tập trung xử lý các trường hợp tu nghiệp sinh bỏ hợp đồng theo quy định
tại Nghị định 81/2003/NĐ-CP và Quyết định số 68/2001/QĐ-TTg ngày 2 tháng
5 năm 2001 về biện pháp xử lý đối với tu nghiệp sinh tự ý bỏ hợp đồng, thông
tin rộng rãi để giáo dục các tu nghiệp sinh khác;
+ Tập trung tuyển chọn tu nghiệp sinh đi Nhật Bản trong các nhà máy, doanh
nghiệp, học sinh đã tốt nghiệp các trường dạy nghề và bộ đội xuất ngũ, hạn chế
tuyển lao động tự doanh nghiệp;
+ Tiếp tục tác động với phía Bạn để có biện pháp phối hợp với ta trong việc
giải quyết vấn đề lao động bỏ trốn.
- Thị trường Lào:
Lào là một thị trường nhận nhiều lao động Việt Nam với ngành nghề đa dạng,
bao gồm cả chuyên gia và lao động. Các giải pháp để tiếp tục hợp tác lao động
có hiệu quả với Lào bao gồm:
+ Tiếp tục đàm phán để ký kết Hiệp định mới về hợp tác chuyên gia với Lào;
+ Đẩy mạnh đưa lao động xây dựng sang thực hiện các công trình nhận thầu,
các công trình do nhiệm vụ và các nước khác đầu tư tại Lào;


65
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

+ Tăng cường hợp tác lao động qua địa phương và doanh nghiệp với Lào.
- Thị trường Libya, Trung Đông và Châu Phi:
Trung Đông nhận rất nhiều lao động nước ngoài. Libya là thị trường truyền
thống của lao động Việt Nam, một số nước khác ở vùng Vịnh cũng đã bắt đầu
nhận lao động ta, đặc biệt là công cuộc tái thiết Iraq tới đây sẽ có nhu cầu lao
động lớn. Châu Phi có nhu cầu về chuyên gia nông nghiệp, y tế và giáo dục. Để
mở rộng thị trường này cần:
+ Tiếp tục ổn định và mở rộng cung ứng lao động cho các Công ty nước
ngoài nhận thầu công trình tại Lybia;
+ Tìm hiểu thông tin để tiếp xúc và xây dựng quan hệ hợp tác với các tập
đoàn kinh tế quốc tế trúng thầu dự án tại Iraq để cung ứng lao động tái thiết
Iraq;
+ Tiếp tục quan hệ với tổ chức Nông Lương quốc tế (FAO) và mở rộng quan
hệ với các nước phát triển tìm nguồn tài trợ cho việc hợp tác đưa chuyên gia
nông nghiệp sang các nước Châu Phi;
+ Tăng cường tìm hiểu thông tin, tiếp xúc với các đối tác để đưa liên doanh
sang tái thiết Iraq.
- Thị trường lao động trên biển:
Nhu cầu thuỷ thủ vận tải và nhu cầu thuyền viên đánh cá vẫn rất cao, vượt khả
năng cung ứng của ta. Giải pháp chủ yếu đẩy mạnh đưa lao động trên biển là
tăng cường công tác tạo nguồn đáp ứng nhu cầu của thị trường:
+ Đầu tư cơ sở vật chất đào tạo sĩ quan, thuyền viên về chuyên môn nghiệp
vụ, ngoại ngữ để cung ứng cho nhu cầu ngày càng tăng của chủ tàu nước ngoài,
nhất là nhu cầu về sĩ quan đi biển. Thực hiện có hiệu quả các dự án hợp tác đào tạo
thuyền viên với nước ngoài;




66
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

+ Các doanh nghiệp có chính sách hợp lý để khuyến khích và thu hút các sĩ
quan và thuyền viên hàng hải gắn bó lâu dài với sự nghiệp xuất khẩu lao động và
chuyên gia khẩu lao động trên biển;
+ Tạo nguồn thuyền viên tàu cá từ ngư dân ven biển, chỉ tuyển dụng những
lao động có nguyện vọng gắn bó thực sự với nghề biển: nâng cao chất lượng đào
tạo – giáo dục định hướng.
b. Mở thêm một số thị trường mới: từng bước tiếp cận thị trường khác trong khu
vực, cũng như tại các nước thuộc thị trường Châu Phi, Trung Đông, Liên Bang
Nga, Đông Âu, EU và Bắc Mỹ.
2.1.2. Tiếp tục hoàn thịên cơ chế chính sách
- Sớm thành lập và đưa vào hoạt động Quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động;
- Ban hành Thông tư Liên tịch hướng dẫn giải quyết tranh chấp về xuất khẩu lao
động; Thông tư Liên tịch về ngăn ngừa và xử lý hoạt động lừa đảo bất hợp pháp
của các tổ chức, cá nhân không có chức năng xuất khẩu lao động;
- Nghiên cứu ban hành các chính sách hỗ trợ ban đầu để hình thành những
doanh nghiệp mạnh có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường, chính sách hỗ trợ
đồng bào dân tộc, lao động ở vùng sâu vùng xa tham gia xuất khẩu lao động.
2.1.3. Triển khai thực hiện Nghị định 81/2003/NĐ-CP
- Rà soát để sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp theo Nghị định
81/2003/NĐ-CP. Chỉ cho phép các doanh nghiệp đủ điều kiện và hoạt động có hiệu
quả tham gia xuất khẩu lao động.
- Các Bộ, ngành, địa phương chủ quản doanh nghiệp xây dựng quy hoạch các
doanh nghiệp xuất khẩu lao động trong phạm vi quản lý; sắp xếp lại các doanh
nghiệp hiện có; đầu tư xây dựng các doanh nghiệp xuất khẩu lao động mạnh; chỉ
đạo, kiểm tra, thanh tra hoạt động của các doanh nghiệp trực thuộc và quan tâm chỉ
đạo giải quyết những vấn đề phát sinh đối với doanh nghiệp.



67
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cấp chính quyền
và các cơ quan chức năng trực thuộc tăng cường giáo dục, vận động nhân dân thực
hiện đúng các quy định của Nhà nước về xuất khẩu lao động, giáo dục con em thực
hiện đúng hợp đồng; đầu tư và hỗ trợ các doanh nghiệp tạo nguồn lao động có chất
lượng; tăng cường quản lý hoạt động xuất khẩu lao động trên địa bàn, ngăn chặn
các hành vi tiêu cực ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, của doanh
nghiệp và đến hoạt động xuất khẩu lao động.
2.1.4. Tăng cường công tác thanh tra và xử lý vi phạm
- Công tác thanh tra, kiểm tra tập trung vào những địa bàn phức tạp, những
doanh nghiệp có quy mô hoạt động rộng và số lượng lao động đi nhiều.
- Có cơ chế phân cấp, phối hợp giữa Thanh tra Lao động với cơ quan thanh tra
các Bộ, ngành và các địa phương.
- Quản lý chặt chẽ các trung tâm giới thiệu việc làm theo Luật Doanh nghiệp và
Bộ luật Lao động, ngăn ngừa việc lợi dụng hoạt động này để lừa đảo người lao
động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài.
- Đề nghị các cơ quan bảo vệ pháp luật cùng chính quyền các cấp tăng cường
công tác kiểm tra, phát hiện kịp thời và kiên quyết triệt phá các đường dây đưa
người đi làm việc bất hợp pháp, xử lý nghiêm theo pháp luật các tổ chức và cá nhân
có hành vi lừa đảo. Tăng cường kiểm soát cửa khẩu để phát hiện và ngăn chặn kịp
thời việc đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc bất hợp pháp.
2.1.5. Nâng cao chất lượng doanh nghiệp
- Các doanh nghiệp chủ động đầu tư nâng cao năng lực và khả năng canh
tranh theo các tiêu chuẩn sau:
+ Đảm bảo năng lực về tài chính và cơ sở vật chất.
+ Có trường hợp trung tâm đào tạo về xuất khẩu lao động và chuyên gia;
+ Có đội ngũ cán bộ tiêu chuẩn, giỏi về công tác kinh tế đối ngoại;



68
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

+ Có khả năng cạnh tranh, có uy tín với đối tác nước ngoài và với người lao
động
- Các Bộ, ngành, địa phương quan tâm chỉ đạo quy hoạch lại, nâng cấp các
doanh nghiệp xuất khẩu lao động hiện có, trong đó dồn sức tập trung xây dựng
khoảng 20 doanh nghiệp xuất khẩu lao động mạnh, có khả năng cạnh tranh cao và
chính sách uy tín trên thị trường quốc tế.
- Triển khai thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ
quản lý của doanh nghiệp xuất khẩu lao động theo kế hoạch đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt.
2.1.6. Nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu
- Tiếp tục đẩy mạnh triển khai mô hình liên kết giữa các doanh nghiệp và địa
phương để có nguồn lao động đáp ứng thị trường;
- Ban hành các quy chế đào tạo phù hợp với yêu cầu mới;
- Thực hiện kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công tác hội nhập kinh tế
quốc tế của Chính phủ giai đoạn 2003-2005 đào tạo 150.000 lao động xuất khẩu về
các kiến thức cơ bản về hội nhập, chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ:
+ Các doanh nghiệp căn cứ vào nhu cầu thị trường lao động và khả năng ký
kết hợp đồng để lập kế hoạch đào tạo chuyên môn, ngoại ngữ phù hợp với yêu cầu
của thị trường. Song song với công tác đào tạo tại các cơ sở đào tạo riêng, các
doanh nghiệp liên kết với các trường đào tạo nghề để tạo nguồn lao động.
+ Nhà nước hỗ trợ đầu tư từ nguồn kinh phí chương trình mục tiêu, và các
chương trình, dự án khác để mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo
nguồn lao động. Các trường đào tạo nghề được danh một phần chỉ tiêu đào tạo cho
xuất khẩu lao động.
2.1.7. Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ người lao động ở nước ngoài
- Kiện toàn các Ban quản lý lao động Việt Nam ở Malaysia, Đài Loan, Nhật
Bản…


69
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

- Vận động để một số nước như Malaysia, Đài Loan tháo gỡ các thủ tục để các
doanh nghiệp cử cán bộ sang quản lý lao động.
- Triển khai thoả thuận đã ký về hợp tác lao động để bảo vệ quyền lợi cho người
lao động; thúc đẩy đàm phán và ký kết các thỏa thuận với các nước khác.
- Kiểm tra, giám sát các doanh nghiệp trong việc ký kết hợp đồng với đối tác
nước ngoài bảo đảm các điều kiện theo quy định để làm cơ sở cho việc bảo vệ
quyền lợi cho người lao động.
- Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý trong và ngoài nước, giữa
cơ quan đại diện ngoại giao với đại diện các doanh nghiệp tại nước ngoài.
2.1.8. Công tác thông tin – tuyên truyền
- Đổi mới công tác thông tin về xuất khẩu lao động đến tận người dân với nhiều
hình thức phù hợp.
- Cùng với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động quan tâm cải thiện đời sống
văn hoá, tinh thần cho người lao động ở nước ngoài thông qua việc cung cấp sách,
báo và tổ chức các đoàn nghệ thuật đi biểu diễn ở các điểm có nhiều người lao
động Việt Nam sinh sống và làm việc.
- Tăng cường hợp tác chặt chẽ với các cơ quan thông tin đại chúng trung ương,
địa phương để thông tin đầy đủ, kịp thời các nội dung sau:
+ Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, các quy định pháp luật về
xuất khẩu lao động và chuyên gia nhằm tạo ra nhận thức đúng đắn trong các cấp,
các ngành và người lao động.
+ Thông tin về nhu cầu, điều kiện thị trường và tiêu chuẩn lao động để người
lao động chủ động đầu tư học tập nâng cao trình độ nghề nghiệp và ngoại ngữ đáp
ứng yêu cầu thị trường lao động quốc tế.
+ Đưa tin, bài liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia tạo
điều kiện cho công tác ổn định và pháthị trường triển thị trường lao động ngoài
nước, tạo ra thế cạnh tranh của các doanh nghiệp và lao động ta trên thị trường


70
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

quốc tế. Tổng kết và phổ biến các mô hình, cách làm hay, có hiệu quả trong hoạt
động xuất khẩu lao động và chuyên gia, đồng thời kiên quyết đấu tranh với các hiện
tượng tiêu cực, những vi phạm xuất khẩu lao động và chuyên gia đồng thời vẫn
đảm bảo quan hệ hợp tác, đối ngoại với các nước, không làm phương hại đến phát
triển thị trường.
2.1.9. Tiếp tục triển khai mô hình liên kết xuất khẩu lao động
- Các địa phương tổ chức sơ kết , đánh giá việc triển khai, rút kinh nghiệm về
thí điểm mô hình liên kết trong thời gian qua để đua công tác xuất khẩu lao động
thành một công viêc thường xuyên ở địa phương.
- Nhân rộng mô hình ra tất cả các tỉnh, thành phố tạo sự chuyển biến đồng bộ về
nhận thức và xác định trách nhiệm của các ngành, các cấp và đoàn thể chính trị tại
địa phương trong việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động và chuyên gia.
- Cải tiến thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình
thực hiện mô hình liên kết tuyển lao động tại địa phương.
2.1.10. Những việc cần làm ngay:
- Bộ Lao động Thương binh và Xã hội:
+ Có kế hoạch và thực hiện các giải pháp cụ thể chấn chỉnh ngay công tác
quản lý xuất khẩu lao động. Xây dựng quy chế, cơ chế cho một số doanh nghiệp
ngoài quốc doanh thí điểm tham gia xuât khẩu lao động.
+ Nghiên cứu chính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động đi làm việc
ở nước ngoài.
+ Phối hợp với các Bộ, Ngành, Địa phương, Đoàn thể, các doanh nghiệp và
các cơ sở đào tạo, tổ chức công tác đào tạo nguồn lao động và chuyên gia chất
lượng cao.
+ Phối kết hợp với Bộ Ngoại giao, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước
ngoài lập kế hoạch và tổ chức triển khai kế hoạch khai thông quan hệ lao động,



71
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

nhằm mở rộng thị trường lao động ngoài nước và xử lý các vấn đề liên quan tới lợi
ích của người lao động và quốc gia.
+ Phối hợp vơi Bộ Giao thông Vận tải để có đề án đào tạo và tuyển thuyền
viên đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
+ Tổ chức kiểm tra, thanh tra thường xuyên các hoạt động xuát khẩu lao
động tại các doanh nghiệp, các tổ chức tham gia xuất khẩu lao động, nhằm phát
hiện, chấn chỉnh và xử lý kịp thời các vi phạm thuộc quan hệ lao động.
- Bộ Ngoại giao:
+ Thông qua các hoạt động ngoại giao, đưa vấn đề hợp tác lao động vào nội
dung chương trình làm việc tại các cuộc gặp gỡ, đàm phán song phương, đa
phương giữa các nước, đưa vào các Hiệp định, Văn kiện hợp tác Kinh tê - Văn hoá
và Khoa học kỹ thuật.
+ Chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài thu thập thông tin,
tìm kiếm cơ hội mở rộng thị trường lao động, tham gia quản lý nhà nước về lao
động tại địa bàn.
+ Phối kết hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức khảo sát
thị trường, xây dựng các Hiệp định hoặc các thoả thuận khung về hợp tác lao động
với các nước có nhu cầu tiếp nhận lao động, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp
xuất khẩu lao động khảo sát, thẩm định các đối tác hợp tác.
- Bộ Tài chính:
+ Cần ban hành chính sách tái đầu tư thuế doanh thu xuất khẩu lao động cho
các doanh nghiệp.
+ Phối hợp cùng các Bộ , Ngành, Địa phương xây dựng quỹ phát triển thị
trường lao động ngoài nước/
+ Phối kết hợp cùng với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định phí
môi giới trong xuất khẩu lao động phù hợp với thông lệ quốc tế, tuỳ theo tình hình
thị trường.


72
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3



- Ngân hàng:
+ Tiếp tục triển khai và phát triển các chính sách, cơ chế tín dụng cho vay ưu
đãi và tạo mọi điều kiện thuận lợi, thông thoáng cho người nghèo, các đối tượng
chính sách khi đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài.
- Bộ Công an và Bộ Tư pháp:
+Tiếp tục cải cách thủ tục trong việc xác nhận hồ sơ trong thời gian quy định
cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
. Xác nhận lý lịch tư pháp, phiếu làm hộ chiếu ở cấp cơ sở.
. Thủ tục hồ sơ xuất cảnh của thuyền viên.
. Cấp hộ chiếu với ký hiệu riêng cho lao động và chuyên gia đi làm việc ở
nước ngoài.
+ Phối hợp với các Bộ, Ngành và Địa phương có liên quan kiểm tra, xử lý
các trường hợp vi phạm pháp luật thuộc quan hệ dân sự.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo:
+ Chỉ đạo tăng cường chất lượng đào tạo ngoại ngữ ngay từ cấp học phổ
thông, tạo cơ sở tốt về ngoại ngữ cho nguồn nhân lực khi tham gia xuất khẩu lao
động
+ Chủ trì phối hợp cùng các Bộ, Ngành liên quan xây dựng đề án đào tạo và
đưa chuyên gia đi lao động ở nước ngoài.
- Bộ Quốc phòng có đề án về việc đưa bộ đội xuất ngũ tham gia xuât khẩu lao
động.
- Bộ Y tế:
+ Chỉ đạo các bệnh viện tăng cường nâng cao chất lượng khám sức khoẻ cho
người đi xuất khẩu lao động.
+ Thống nhất mức phí khám sức khoẻ và tổ chức khám chính xác, chặt chẽ,
thuận tiện, kịp thời cho người lao động.


73
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

- Các Bộ, Ngành, Đoàn thể và Địa phương có doanh nghiệp xuất khẩu lao
động:
+ Sắp xếp, tổ chức lại các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trên cơ sở hoạt
động có hiệu quả và khả năng phát triển.
+ Tăng cường quản lý, kiểm tra, thanh tra, nhằm ngăn ngừa và xử lý kịp thời
các hành vi, vi phạm trong hoạt động xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp trực
thuộc và tại địa bàn quản lý của mình.
+ Thành lập quỹ phát triển thị trường ngoài nước tại các Bộ, Ngành, Địa
phương nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp phát triển thị trường, đặc biệt là đối với
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động tham gia đấu thầu ở nước ngoài để tạo đựơc
nhiều việc làm cho người lao động.
+ Đầu tư đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ đáp
ứng mở rộng thị trường và quản lý hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia.
+ Chấn chỉnh, sắp xếp lại các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động tại
các Bộ, Ngành, Địa phương theo hướng rà soát lại hoạt động của các doanh nghiệp,
những doanh nghiệp hoạt động có hiệu qủa, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và
các quy định về xuât khẩu lao động tiếp tục được đàu tư phát triển và ngược lại.
+ Tăng cường quản lý, kiểm tra, thanh tra hoạt động của các doanh nghiệp
xuất khẩu lao động trực thuộc trong việc ký kết, tổ chức thực hiện hợp đồng và
chấp hành pháp luật, quy định về xuất khẩu lao động để kịp thời chấn chỉnh hoặc
xử lý kịp thời các hành vi, vi phạm của doanh nghiệp, nhằm bảo vệ lợi ích của
người lao động và trật tự an ninh xã hội.
- Tăng cường pháp chế và quản lý trong xuất khẩu lao động:
+ Ban hành cơ chế, chính sách khen thưởng, xử phạt nghiêm minh đối với
các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về xuất khẩu lao động, đồng thời cũng phải
xử lý nghiêm khắc, thậm chí buộc phải đưa về nước đối với các trường hợp không
thực hiện tốt các cam kết hợp đồng và bỏ trốn khỏi doanh nghiệp ra sống lưu vong


74
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

và làm việc bất hợp pháp.
+ Xử lý nghiêm đối với người lao động có hành vi vi phạm pháp luật: tự phá
vỡ hợp đồng, bỏ trốn ra ngoài lao động bất hợp pháp, coi thường kỷ luật lao
động...gây hậu quả xấu với doanh nghiệp và Nhà nước.
Các trường hợp tự phá vỡ hợp đồng bỏ trốn ra ngoài sống lưu vong và lao
động bất hợp pháp cần thét phải có biện pháp ngăn chặn sau:
. Kết hợp tổng hợp các biện pháp răn đe, tuyên truyền pháp luật đối với
người lao động trước khi đi.
. Phối kết hợp cùng chủ sử dụng lao động quản lý bản gốc hộ chiếu và các
giấy tờ liên quan của người lao động trong thời gian lao động ở nước sở tại.
. Quản lý chặt chẽ tiền lương của người lao động bằng cách không trực
tiếp trả cho người lao động mà chuyển thẳng về doanh nghiệp.
. Kết hợp cùng các cơ quan hữu quan truy tìm đối với những lao động phá
vỡ hợp đồng, bỏ trốn ra ngoài sống lưu vong và lao động bất hợp pháp. Khi bắt
được phải đưa ngay về nước để xử lý kịp thời hoặc xử lý tại nước sở tại nếu pháp
luật nước đó quy định.
. Đối với những trường hợp cố ý vi phạm gây hậu quả xấu, cần phải
cương quyết xử lý bằng pháp luật và biện pháp kinh tế, cấm vĩnh viễn không được
phép tái xuất khẩu lao động dưới bất cứ hình thức nào...
+ Ban hành cơ chế chính sách bồi thường đặc biệt với lao động bị lừa đảo
hoặc bị đưa về nước mà không phải lỗi do người lao động gây ra.
+ Đối với doanh nghiệp khi có lao động bị trả về nước cần tìm hiểu, điều tra
làm rõ lý do người lao động bị buộc phải về nước để có biện pháp xử lý cũng như
bồi thường kịp thời.
2.2. Giải pháp vi mô:
Để hoạt động xuất khẩu lao động luôn đạt hiệu quả cao và bền vững thì bên
cạnh những biện pháp mang tính chât vĩ mô định hướng của Nhà nước thì các


75
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng cần chủ động phối kết hợp với các cơ quan
có liên quan và phối hợp với nhâu để đưa ra hệ thống các giải pháp cụ thể nhằm mở
rộng thị trường và thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia.
Hệ thống các biện pháp đó bao gồm:
2.2.1. Thành lập hiệp hội các nhà xuất khẩu lao động.
Hiện nay ở Việt Nam có hàng trăm doanh nghiệp cùng tham gia vao thị
trường xuất khẩu lao động với số lượng lao động đưa đi là khác nhau. Việc thành
lập hiệp hội có ý nghĩa rất lớn đặc biệt là với các doanh nghiệp tư nhân. Vì số
lượng các doanh nhgiệp rất lớn do đó Chính phủ không thể gặp gỡ và trao đổi được
với tất cả các doanh nghiệp, vì vậy các doanh nghiệp cần có hiệp hội riêng của
mình để có thông tin cũng như tiếng nói chung đối với Chính phủ.
Khi gia nhập hiệp hội các doanh nghiệp có nhiều điểm lợi:
- Thứ nhất là cùng tham gia mở rộng thị trường. Ví dụ một doanh nghiệp nếu
không tham gia hiệp hội, để ra nước ngoài tìm thị trường mới họ sẽ gặp rât nhiều
khó khăn và tốn kém. Nhưng khi tham gi ahiệp hội thì đại diện của hiệp hội sẽ làm
chức năng mở rộng thị trường và như thế doanh nghiệp sẽ hưởng lợi từ việc tham
gia hiệp hội.
- Thứ hai khi gặp khó khăn nào đó, doanh nghiệp có thể đề xuất để hiệp hội
hỗ trợ. Hoặc nếu khi một doanh nghiệp có hợp đồng lao động mới, nếu hợp đồng
lớn, doanh nghiệp không thể cung cấp đủ số lao động thì hiệp hội có thể điều phối,
chia sẻ chỉ tiêu cho các doanh nghiệp khác. Như vậy các doanh nghiệp trong hiệp
hội có thể chia sẻ với nhau. Hoặc trong đàm phán thương thuyết với những nhà
cung cấp lao động ở những nước có nhiều tiềm năng, hiệp hội sẽ cử đại diện của
mình tham gia. Dịch vụ tư pháp cũng được chia sẻ giữa các doanh nghiệp trong
hiệp hội như thay vì mỗi doanh nghiệp phải thuê một tư vấn pháp lý thì hiệp hội có
thể thuê một tư vấn pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho tất cả các thành viên.



76
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

- Thứ ba, hiệp hội có trách nhiệm giúp các thành viên của mình hoạt động
hợp pháp, bên cạnh đó còn có hệ thống giới thiệu hay giải quyết các dịch vụ miễn
phí cho các thành viên. Ví dụ nếu một doanh nghiệp không tham gia hiệp hội, khi
tham gia hoạt động hoặc cần hiệp hội giải quyết khó khăn nào đó họ sẽ phải trả chi
phí cho hiệp hội. Nếu họ là thành viên của hiệp hội thì họ sẽ không phải mất
phỉtong khi hiệp hội sẽ có trách nhiệm đứng ra giải quyết.
Hiệp hội những doanh nghiệp xuất khẩu lao động đem lại rất nhiều lợi ích
tuy nhiên các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của ta vẫn chưa tích cực tham gia,
tham gia chủ yếu cho có hình thức mà chưa tận dụng được những gì mà hiệp hội
đem lại.
2.2.2. Tổ chức tuyển chọn người lao động cho xuất khẩu:
Đây là nguồn đầu vào rất quan trọng đối với hoạt động xuát khẩu lao động
và chuyên gia. Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động có thể chủ động tìm kiếm
nguồn lao động thông qua các trung tâm môi giới việc làm tại các địa phương hoặc
tìm từ thị trường lao động tự do. Việc tuyển chọn lao động phải dựa trên tiêu chí
ghi trên hợp đồng thoả thuận của bên cung ứng và bên nhận cung ứng lao động và
cũng cần phải phù hợp với quy định về chế độ ưu tiên của Nhà nước như: ưu tiên
cho các đối tượng thuộc diện chính sách, bộ đội xuất ngũ mà không tìm được việc
làm, đối tượng kinh tế khó khăn trong diện xoá đói giảm nghèo của địa phương...
Để đảm bảo về chất lượng cũng như nhân thân, đạo đức của bản thân người
lao động, cũng như giảm thiểu mọi rủi ro với bên cung ứng lao động, doanh nghiệp
nên phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc đơn vị có nguồn lao
động cung cấp, phối hợp với Chính quyền cấp huyện và xã, hoặc cơ sở đào tạo, cơ
sở sản xuất để tuyển chọn người lao động có đạo đức tốt, có ý thức tổ chức kỷ luật,
gia đình chấp hành tốt pháp luật của Nhà nước.
Về quyền lợi của người lao động, khi tiến hành thông báo tuyển chọn, doanh
nghiệp sẽ thông báo công khai tại trụ sở doanh nghiệp và địa bàn tuyển chọn các


77
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

yêu cầu về số lượng lao động cần tuyển, giới tính, độ tuổi, công việc mà người lao
động sẽ đảm nhận, nơi làm việc, thời hạn hợp đồng, tiền lương, tiền công, các
khoản chi phí phải nộp và thời gian làm việc ở nước ngoài...Đồng thời để giảm bớt
khó khăn về vấn đề tài chính khi đi làm việc tại nước ngoài doanh nghiệp có thể tổ
chức thu chi phí thành hai hoặc ba lần. Làm như vậy người lao động sẽ biết họ có
quyền lợi và nghĩa vụ gì khi đi xuất khẩu lao động để có các quyết định phù hợp.
Bên cạnh đó hiện nay có rất nhiều lao động Việt Nam làm việc tại nước
ngoài bỏ trốn bất hợp pháp, tình trạng này đã gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của
doanh nghiệp trong tuyển chọn lao động. Do vậy để hạn chế tiêu cự này, các doanh
nghiệp có thể sẽ không tuyển chọn lao động tại các địa phương có nhiều lao động
bỏ trốn và mang tính chất hệ thống. Có thể kể ra đây các địa phương như: Hà Tây,
Hải Dương, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thái Bình, Nam Định, Bắc Giang...Đây là các tỉnh,
thành xuất khẩu được nhiều lao động trong các năm qua nhưng do tình trạng lao
động từ các địa phương này bỏ trốn quá nhiều nên Chính phủ cũng ra quyết định
cấm một số địa phương có tỷ lệ bỏ trốn cao mà vẫn chưa tìm ra biện pháp khắc
phục ngưng xuất khẩu trong vòng từ 3 - 6 tháng. Điều nầy cũng gây khó khăn cho
quyết định lựa chọn lao động của doanh nghiệp mà họ cần khắc phục.
2.2.3. Đào tạo - giáo dục định hướng:
Công tác tổ chức đào tạo nguồn lao động và chuyên gia được coi là yếu tố
quyết định ảnh hưởng tới uy tín, chất lượng lao động và các mối quan hệ hợp tác
trước mắt và lâu dài giữa Việt Nam và thị trường lao động quốc tế. Nếu không tổ
chức thực hiện tốt công tác này, người lao động sxe không có đủ khả năng, trình độ
để đáp ứng yêu cầu của chủ sử dụng lao động và như vậy điều tất yếu xảy ra là
người lao động không hoàn thành được nhiệm vụ và hợp đồng, gây thiệt hại đến lợi
ích và quyền lựo giữa các bên, đặc biệt là ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, lợi ích
của chính doanh nghiệp mình và chiến lược xuất khẩu lao động trước mắt cũng như
lâu dài của Nhà nước.


78
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

Các doanh nghiệp sau khi đã tuyển chọn được lao động có khả năng đáp ứng
yêu cầu công việc của người sử dụng lao động, tuỳ vào nhu cầu mà họ sẽ tiến hành
đào tạo trong khoảng thời gian 3 tháng. Có thể nối ngay rằng điểm yếu cố hữu và
lớn nhất của lao động Việt Nam đó là trình độ ngoại ngữ, khả năng giao tiếp, do
vậy trước khi đi lao động ở nước ngoài, người lao động phải học tập và qua kiểm
tra phải đạt được yêu cầu về ngoại ngữ do Cục quản lý lao động ngoài nước quy
định, đối với các chuyên gia thì do nước tiếp nhận lao động quy định.
Doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng cần đào tạo bổ túc kiến thức chuyên
môn, kỹ năng nghề cho ngưòi lao động trong trường hợp cần thiết để có đủ điều
kiện thực hiện hợp đồng.
Doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng phải giáo dục cho người lao động có
hiểu biết cơ bản về pháp luật lao động, hình sự, dân sự, xuất nhập cảnh của Việt
Nam, pháp luật của nước nhận lao động, nghĩa vụ chấp hành và tuân thủ pháp luật
và các quy định hiện hành của Nhà nước về lao động Việt Nam làm việc ở nước
ngoài.
Người lao động cũng cần biết về phong tục tập quán, tôn giáo và sinh hoạt
của nước nhận lao động, kinh nghiệm giao tiếp, quan hệ ứng xử với người sử dụng
lao động và những người lao động khác tại nơi làm việc, kỷ luật và tác phong trong
lao động công nghiệp, những quy định, quy phạm về an toàn, vệ sinh lao động.
Lao động Việt Nam khi xuất khẩu sang Đài Loan chủ yếu làm nghề giúp
việc gia đình và chăm sóc người bệnh. Công việc chăm sóc ngưòi bệnh và giúp
việc gia đình là một công việc mang tính chất đặc thù, đây không phải là công việc
nặng nhọc hay độc hại nhưng lại rất phức tạp bở nó liên quan đến các mối quan hệ
xã hội, quan hệ giữa người với ngưòi, đòi hỏi người lao động ngoài đức tính cần cù
chịu khó, sạch sẽ , gọn gàng còn phải nhanh nhẹn khéo léo, kín đáo, tế nhị, biết
vâng lời và đức tính trung thực.



79
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

Tuy nhiên để có thể thực hiện tốt các yêu cầu đã đề ra doanh nghiệp xuất
khẩu lao động cũng phải đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở, trung tâm đào tạo của
mình, liên tục mời các giáo viên có chuyên môn trong đào tạo lao động xuất khẩu
và nâng cao tay nghề cuả chính đội ngũ làm công tác xuất khẩu của doanh nghiệp
mình.
2.2.4. Tổ chức quản lý lao động ngoài nước:
Tổ chức quản lý lao động ngoài nước là một công việc hết sức phức tạp, nó
có liên quan đến nhiều yếu tố thuộc các nhân tố bên ngoài, do vậy để quản lý tốt
lao động các doanh nghiệp phải phối hợp hiệu quả với cơ quan đại diện của Việt
Nam tại nước ngoài trước tiên là Cục quản lý lao động ngoài nước, Ban quản lý lao
động tại Đài Bắc và các cơ quan có liên quan của nước sở tại.
Các doanh nghiệp cần thực hiện một số biện pháp sau:
Khi xuất khẩu lao động các doanh nghiệp phải lập danh sách các lao động
đang làm việc bao gồm các nội dung cụ thể như: tên, tuổi, quê quán, công việc
đang làm, chỗ làm hiện nay, điều kiện làm việc...Đây là một công cụ quan trọng và
hữu hiệu vì qua đó cơ quan quản lý cũng như các doanh nghiệp mới có thể biết cụ
thể người lao động đang ở đâu và làm công việc gì trên cơ sở đó mới có thể quan
tâm sâu sát tới họ. Đồng thời biện pháp này cũng làm giảm rủi ro từ phía chủ sử
dụng lao động đối với người lao động.
Doanh nghiệp có thể áp dụng cách làm " Cam kết bảo lãnh với ngưòi nhà lao
động", như vậy gia đình người lao động sẽ phải liên đới chịu trách nhiệm nếu
người lao động bỏ trốn. Việc bỏ trốn của người lao động sẽ được thông bảo rộng
rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng nơi gia đình người lao động cư trú
nhằm làm mất uy tín của những người thân trong gia đình có lao động bỏ trốn. Đây
có thể là bài học hữu ích để các gia đình cẩn trọng hơn khi cho con em họ đi xuất
khẩu lao động.



80
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

Khi tổ chức cho các lao động lên đường, các doanh nghiệp cần yêu cầu lao
động mặc đồng phục ghi tên doanh nghiệp, phối hợp với phía đối tác tổ chức đón
nhận, bàn giao lao động tại sân bay để tránh tình trạng lao động bỏ trốn ngay tại sân
bay.
Các doanh nghiệp xuất khẩu lao động thường xuyên cử cán bộ quản lý có
phẩm chất, đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và thông báo địa chỉ, họ
tên số điện thoại của cán bộ quản lý cho cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước sở
tại, Cục quản lý lao động ngoài nước, các cán bộ này có trách nhiệm thường xuyên
giữ liên lạc với người lao động và thông tin kịp thời về doanh nghiệp khi có sự việc
xảy ra để có biện pháp xử lý thích hợp.
Để ngăn chặn tình trạng bỏ trốn ngày càng gia tăng ở mức báo động, các
doanh nghiệp xuất khẩu lao động tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Chính quyền địa
phương trong việc vận động các gia đình có người thân là lao động bỏ trốn để
khuyên bảo con em họ trở về nước, cung cấp thông tin, địa chỉ lao động đang bỏ
trốn để phối hợp tìm kiếm đưa lao động về nước.
Công bố mức thưởng cho những cá nhân, tổ chức phát hiện, cung cấp thông
tin dẫn tới việc bắt được lao động bỏ trốn, đồng thời chuẩn bị kinh phí mua vé máy
bay, chi phí làm thủ tục đưa lao động về nước.
Doanh nghiệp xuất khẩu lao động cùng phối hợp với Uỷ ban Lao động, Tổng
cục Cảnh sát và các cơ quan, tổ chức liên quan trong thời gian ngắn tăng cường
truy bắt lao động bỏ trốn và kiểm tra chủ sử dụng lao động nước ngoài bất hợp
pháp, động viên loa động ra đầu thú, tăng cường tuyên truyền để giảm thiểu tối đa
số lao động bỏ trốn.
2.2.5. Tổ chức đưa lao động về nước:
Tìm kiếm thị trường và đưa được lao động đi làm việc ở nước ngoài đã là
một vấn đề khó khăn, xong một khi đã xuất khẩu được lao động ra nước ngoài thì
việc giải quyết chế độ sau khi họ trở về nước đang gặp nhiều khúc mắc.


81
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

Với các lao động đã hoàn thành hợp đồng lao động đúng hạn và kông có vi
phạm gì trong quá trình lao động ở nước ngoài thì sẽ được thanh lý hợp đồng theo
đúng quy định của Nhà nước và được hoàn trả lai toàn bộ số tiền đã đặt cọc. Còn
những trường hợp lao động vi phạm ảnh hưởng đến cam kết trong hợp đồng thì tuỳ
từng trường hợp mà doanh nghiệp sẽ có biện pháp cụ thể như:
- Lập quỹ hỗ trợ tài chính nhằm hỗ trợ cho người lao động gặp khó khăn khi
về nước, bị chết trong quá trình lao động ở nước ngoài và những lao động bị đưa về
nước không rõ lý do (không phải lỗi do người lao động). Quỹ này có thể lấy từ
nguồn đóng góp của người lao động và tiền phạt do người lao động vi phạm hợp
đồng lao động...
- Hỗ trợ tìm kiêm việc làm mới ở trong nước cũng như ở những nước khác
có điều kiện làm việc và thu nhập tốt hơn.
Trong chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm, các tỉnh thành
đều đặt ra chỉ tiêu đưa lao động đi xuất khẩu lao động và coi đây là biện pháp hiệu
quả trong việc tạo công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo. Tuy nhiên giải quyết như
thế mới chỉ là phần ngọn, trước mắt còn hậu của việc xuất khẩu lao động thì vẫn
còn thiếu chính sách về việc làm cho người lao động sau khi xuất khẩu lao động trở
về nước.Lý do chủ yếu mà các lao động bỏ trốn đưa ra đó là họ sợ khi trở về nước
thì không kiếm được việc làm, mà có tìm được việc làm thì cũng với mức lương
thấp. Đây là thực trang bức xúc đòi hỏi Cơ quan quản lý nhà nước phải có biện
pháp trên góc độ vĩ mô, có thể là Chính phủ sử dụng uy tín của mình để giới thiệu
các lao động và chuyên gia giỏi đến làm việc tại các doanh nghiệp có nhu cầu hay
như việc tổ chức đào tạo lại các lao động với mức phí dịch vụ tương đối rẻ,tạo điều
kiện để họ xin việc làm dễ dàng hơn. Với vấn đề này vẫn chưa có một giải pháp
nào được coi là hiệu quả trong giai đoạn hiện nay mà chỉ có thể đưa ra giải pháp
tình thế trong thời gian ngắn.
III. CHIẾN LƯỢC, KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY:


82
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

1. Đánh giá chung tình hình xuất khẩu lao động của Contrexim - TM:
1.1. Những việc đã làm được:
Qua kết quả cụ thể của hoạt động xuất khẩu lao động nói trên chúng ta có thể
thấy được những kết quả mà Contrexim - TM đạt được là rất khả quan. Mức lợi
nhuận đem lại từ hoạt động này là rất lớn. Năm 2003, ngoài việc phát triển và mở
rộng thêm các thị trường sẵn có như: Nhật Bản, CH Palau...Công ty đã triển khai
thêm thị trường Malaixia và Đài Loan. Bên cạnh đó, các công việc xúc tiến thâm
nhập thị trường có nhiều tiềm năng cũng đang khẩn trương thực hiện như thị
trường Hàn Quốc, Iraq và các thị trường tiềm năng khác. Với những nỗ lực đó, từ
năm 1999 đến nay , công ty đã đưa được 1928 lao động Việt Nam đến các nước
trên. Những hợp đồng cung ứng nhân lực mà Contrexim - TM ký với các đối tác
nước ngoài hầu hết có thời hạn tương đối dài nên không chỉ đảm bảo thu nhập ổn
định cho người lao động mà còn tăng doanh thu của công ty, đồng thời tạo tiền đề
cho việc mở rộng thị trường trong lĩnh vực này.
Công ty luôn thực hiện nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật và chính
sách của Nhà nước về xuất khẩu lao động. Trong mấy năm qua bộ phận công tác
xuất khẩu lao động chưa để xảy ra hiện tượng tiêu cực nào. Người lao động làm
việc tại các nước được đào tạo tay nghề, ngoại ngữ, nâng cao hiểu biết và ý thức
chấp hành pháp luật, hiểu biết về phong tục tập quán, điều kiện sinh hoạt của nước
sở tại. Quan hệ với người chủ sử dụng lao động tại các thị trường có người lao
động Việt Nam cũng được công ty quan tâm.
Để chuẩn bị và phát triển nguồn nhân lực cho năm 2005 và cho những năm
tới, Contrexim - TM đã căn cứ vào nhu cầu thị trường lao động và khả năng ký kết
hợp đồng để lập kế hoạch xuất khẩu lao động hàng năm và dài hạn, đồng thời công
ty cũng đang tích cực triển khai đầu tư cơ sở vật chất, lực lượng cán bộ cho Trung
tâm đào tạo xuất khẩu lao động nhằm đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho việc
xuất khẩu lao động.


83
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

Hoạt động xuất khẩu lao động mới bắt đầu chưa lâu, nhưng đến nay
Contrexim - TM đã trở thành một trong những đơn vị có uy tín trong lĩnh vực này
của Bộ Xây dựng, đó là nhờ sự chỉ đạo đúng hướng của Đảng bộ và lãnh đạo công
ty trong công tác xuất khẩu lao động.
1.2. Những việc chưa làm được:
Bên cạnh những kết quả đạt được thì đến nay Contrexim - TM vẫn còn
những hạn chế nhất định. Cụ thể là:
- Việc mở rộng thị trường xuất khẩu lao động vẫn còn chậm và hạn chế.
- Công tác tạo nguồn và đặc biệt là công tác đào tạo nghề, đào tạo ngoại ngữ
để đáp ứng nhu cầu cung cấp lao động có tay nghề ngày càng cao của các đối tác
chưa thực sự chủ động. Dự án xây dựng trường đào tạo nghề trong đó có nhiệm vụ
phục vụ xuất khẩu lao động đang triển khai song tiến độ thực hiện không đạt yêu
cầu đề ra do gặp khó khăn trong việc tìm địa điểm thích hợp.
2. Giải pháp của công ty:
Kết quả hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động và chuyên gia của Công
ty cổ phần Đâù tư và Thương mại ( Contrexim-TM) đạt đựoc là rất khả quan tuy
nhiên do tình hình biến động ở các thị trường Nhật Bản, Đài Loan, Mailaixia đã
mang lại không ít khó khăn cho bản thân công ty nói riêng và hoạt động xuất khẩu
lao động của Việt Nam nói chung.
Đứng trước tình hình chung đó, Contrexim - TM phải có ngay những giải
pháp cụ thể nhằm khắc phục các vấn đề còn tồn tại và đẩy mạnh hơn nữa hoạt động
xuất khẩu lao động của mình như sau:
Một là, chủ động khắc phục những bất cập nảy sinh trong quá trình cung
ứng lao động tại các thị trường hiện có, đó là:
- Nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu thông qua việc chủ động
hình thành một kế hoạch đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường đòi hỏi. Ngoài những
kỹ năng, tay nghề cần thiết, người lao động xuất khẩu phải có sức khoẻ tốt, được


84
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

trang bị cơ bản về ngoại ngữ, am hiểu về luật pháp, phong tục tập quán nước tiếp
nhận và những ứng xử văn hoá. Khẩn trương xây dựng xong trường đào tạo, thực
hiện liên kết với các trường đào tạo, dạy nghề trong nước, đảm bảo chất lượng, tay
nghề của người lao động phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu lao động trong mọi lĩnh
vực.
Người Việt Nam vốn thông minh , khéo tay nên tiếp thu khá nhanh yêu cầu
của chủ sử dụng lao động. Vì vậy, trình độ chuyên môn chưa cao, am hiểu luật
pháp và ngoại ngữ kém không phải là nhược điểm cố hữu của người lao động Việt
Nam. Những điểm yếu này chúng ta có thể khắc phục được thông qua công tác
tuyển chon, đào tạo, chuẩn bị trước khi đưa lao động ra nước ngoài.
- Cương quyết không tuyển chọn lao động qua các trung gian, cò mồi lao
động.
- Nâng cao nhận thức người lao động, đảm bảo ý thức chấp hành kỷ luật, tôn
trọng các cam kết trong hợp đồng, giữ uy tín và truyền thống dân tộc, giảm thiểu ở
mức thấp nhất tình trạng lao động đơn phương phá bỏ hợp đồng.
- Tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác xuất khẩu lao động của
Công ty bằng cách đào tạo, tuyển chọn, xây dựng và củng cố cán bộ quản lý. Đổi
mới phương thức hoạt động của cán bộ quản lý tại nước tiếp nhận. Từng bước hình
thành đội ngũ tuỳ viên lao động đáp ứng vai trò hỗ trợ quản lý, bảo vệ quyền lợi
hợp pháp của người lao động ở nước ngoài.
Hai là, có kế hoạch và tận dụng mọi cơ hội để tiếp cận và khai thông các thị
trường mới:
- Chủ động nghiên cứu thị trường, khảo sát, tìm kiếm thị trường ký kết hợp
đồng với nước ngoài theo điều kiện chuẩn đối với từng thị trường và khu vực.
- Cần xác định rõ vai trò và nghĩa vụ của Bộ Ngoại giao thông qua các Đại
sứ quán, cơ quan đại diện của Việt Nam tại các nước để thu thập thông tin cần thiết
về khả năng và nhu cầu cũng như phưong thức tiếp cận thị trường mới.


85
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

- Tận dụng các cơ hội trong các chuyến thăm, ký kết các hiệp định song
phương của Chính phủ, các diến đàn trao đổi lồng ghép các vấn đề thị trường cần
quan tâm.
- Đặt đúng vai trò và vị trí của Cộng đồng Việt Nam tại nước ngoài rong việc
thu thập thông tin về thị trường sử dụng lao động.
- Sử dụng có hiệu quả công nghệ thông tin và quảng cáo nguồn lao động
cũng như chính sách xuất khâủ lao động của Việt Nam.
- Nâng cao tính năng động chủ quan trong việc tìm kiếm thị trường hoặc trực
tiếp tiến hành các đợt khảo sát tại nước ngoài, hoặc tận dụng mọi cuộc tiếp xúc cá
nhân quan chức nước ngoài để tìm sự hỗ trợ, giúp đỡ trong hoạt động tiếp cận thị
trường.
- Xác định rõ vai trò định hướng thị trường của cơ quan quản lý Nhà nước
rtong lĩnh vực xuất khẩu lao động và chuyên gia. Có kế hoạch tổng thể về thị
trường cũng như các thông tin cần thiết đã được tổng kết, xử lý phải được cung cấp
thông tin hệ thống cho mỗi đơn vị xuất khẩu lao động.
Đối với thị trường Đài Loan, Đài Loan yêu cầu cao đối với lao động nước
ngoài về sức khoẻ, trình độ tiếng Hoa và nghề nghiệp. Người lao động được tiếp
nhận phải trải qua thời kỳ thử việc trong vòng 40 ngày, nếu trình độ nghề nghiệp
không đạt yêu cầu cũng phải về nước.
Để đưa lao động sang Đài Loan với số lượng lớn hơn trong thời gian tới và
tránh tình trạng người lao động bỏ trốn, Contrexim- TM phải có những biện pháp
sau:
- Phải trực tiếp tuyển chọn lao động và phải chịu trách nhiệm về sức khoẻ,
trình độ tiếng Hoa và nghề nghiệp của người lao động.
- Đào tạo và giáo dục định hướng cho người lao động trước khi đi theo đúng
quy định. Không đưa đi Đài Loan chưa qua đào tạo hoặc đào tạo, giáo dục chưa đủ
thời gian.


86
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

- Trong quan hệ với đối tác Đài Loan phải giữ nghiêm chữ tín. Chỉ nên quan
hệ với những đối tác Đài Loan đã được Bộ phận quản lý lao động Việt Nam tại
Đài Bắc thẩm định để tránh những rủi ro không đáng có.
- Thu chi tài chính đúng quy định.
Trên đây là những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động
sang thị trường Đài Loan mà Contrexim - TM cần thực hiện trong thời gian tới.




87
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

KẾT LUẬN

Trên cơ sở phân tích các vấn đề chung về tình hình hoạt động xuất khẩu lao
động của Việt Nam cũng như thực trạng, triển vọng, và khả năng phát triển hoạt
động xuất khẩu lao động của Contrexim - TM, đề tài đã đặt ra những luận cứ để
nhìn nhận một cách khoa học và nghiêm túc những cơ hội, tiềm năng cũng như
những thách thức cần tháo gỡ trong con đường phát triển tiến tới hội nhập vào nền
kinh tế khu vực và thế giới.
Trong khuôn khổ đề tài, dựa trên các nguồn thông tin, số liệu khác nhau, đề
tài nghiên cứu " Thực trạng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động sang Đài
Loan của Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại" đã tiến hành phân tích, luận giải
các vấn đề mà đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra các kết luận, nhận định cần thiết góp
phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động của Contrexim - TM trong thời gian
tới.
Việt Nam tuy có lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào, song để khai thác có hiệu
quả đòi hỏi phải có sự chọn lọc, đào tạo một cách kỹ lưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của các nước tiếp nhận lao động. Đề tài đã tổng hợp một cách có hệ
thống và cập nhật thông tin, phân tích thị trường, kim ngạch và số lượng lao động
xuất khẩu để từ đó nêu lên các giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng thị trường xuất
khẩu lao động. Vấn đề chuyên đề đặt ra là khá mới mẻ, do đó nó đã đưa ra những
nhận định nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động diễn ra mạnh mẽ
hơn, đạt hiệu quả cao hơn.
Hy vọng trong một tương lai không xa, Công ty cổ phần Đầu tư và Thương
mại với đội ngũ cán bộ tài năng sẽ tiếp tục mở rộng quy mô và hiệu quả trong hoạt
động xuất khẩu lao động của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!




88
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Văn kiện Đại hội Đảng IX - NXB Chính trị - 2001.
2. Tài liệu giáo dục định hướng và hướng dẫn thực hành công việc cho lao động đi
giúp việc gia đình và chăm sóc bệnh nhân ở Đài Loan - NXB Lao động Xã hội -
2004
3. Văn bản và tài liệu về xuất khẩu lao động - NXB Lao động Xã hội-2001
4. Một số thị trường lao động ngoài nước - Cục quản lý lao động ngoài nước -
Trung tâm thông tin, tư vấn xuất khẩu lao động và chuyên gia – 2001
5. Kinh tế – xã hội Việt Nam hướng tới chất lượng tăng trưởng, hội nhập và phát
triển bền vững – TS Nguyễn Mạnh Hùng – Nhà xuất bản Thống kê.
6. Vấn đề xuất khẩu lao động của nước ta - Đặng Đình Đào-Trần Thị Thu Phương
– Tạp chí Cộng sản số 10 (5/2005).
7. Giáo trình Kinh tế lao động - ĐHTM - 2003
8. Nghị định 81/2003/NĐ - CP ngày 17 tháng 7 năm 2003 về việc đưa lao động
Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
9. Cẩm nang việc làm cho lao động trẻ - TW Đoàn TNCSHCM - Ban TNCN Đô
thị- NXB Thanh niên.
10. Kinh tế Việt Nam 2003 -Viện Nghiên cứu quản lý TW - NXB Chính trị Quốc
gia - 2004.
11. Chỉ thị số 41- CT/TW ngày 22 tháng 9 năm 1998 của Bộ Chính trị về xuất khẩu
lao động và chuyên gia.
12. Tư liệu của Bộ Lao động - Thương Binh và Xã hội.
13. Tư liệu của Cục quản lý lao động ngoài nước.
14. Tư liệu của Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam.
15. Thông tin từ trang web: www.laodong.com.vn


89
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

www.cpv.org.vn
www.vneconomy.com.vn




MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu.................................................................................................................1
Chương I: Lý luận chung về xuất khẩu lao động.......................................................3
I. Nội dung của xuất khẩu lao động........................................................................3
1. Một số khái niệm cơ bản..............................................................................3
2. Các hình thức xuất khẩu lao động................................................................6
2.1. Thông qua doanh nghiệp Việt Nam được phép cung
ứng lao động theo hợp đồng ký kết với bên nước
ngoài.........................6
2.2. Thông qua doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu, nhận
khoán công trình hoặc đầu tư ở nước
ngoài...........................................6
2.3. Theo hợp đồng lao động do cá nhân người lao động
ký kết với người sử dụng lao động ở nước
ngoài...................................7
3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của xuất khẩu lao động ............................. 7
3.1. Lợi ích kinh tế đạt được ............................................................... 8
3.2. Chi phí bỏ ra .............................................................................. 11
II. Vai trò của xuất khẩu lao động đối với sự phát triển kinh tế............................12



90
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

1. Xét trên góc độ vĩ mô.................................................................................12
1.1. Đối với nước xuất khẩu lao
động..................................................12
1.2. Đối với nước nhập khẩu lao động.................................................13
2. Xét trên góc độ vi mô.................................................................................14
2.1. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động....................................14
2.2. Đối với bản thân người lao
động...................................................14
III. Một số kinh nghiệm của Phillipine về xuất khẩu lao động.............................14
1. Khuôn khổ pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động...........................14
2. Việc cấp giấy phép kinh doanh..................................................................15
3. Hệ thống thưởng phạt.................................................................................16
4. Các dịch vụ cung cấp cho người lao động làm việc ở nước
ngoài.............16
5. Vấn đề tạo uy tín về chất lượng lao động..................................................17
6. Hiệp hội các doanh nghiệp và phương thức hoạt động..............................18


Chương II: Thực trạng xuất khẩu lao động ở
Công ty cổ phần Đầu tư và Thương
mại..........................19
I. Thị trường lao động Đài
Loan............................................................................19
1. Giới thiệu đất nước Đài
Loan.....................................................................19
2. Thực trạng lao động nước ngoài tại Đài
Loan............................................20



91
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

3. Chính sách của Đài Loan đối với lao động nước
ngoài..............................22
3.1. Thời hạn hợp đồng........................................................................22
3.2. Tiền lương.....................................................................................22
3.3. Chi phí ăn ở của lao động nước ngoài làm việc tại Đài
Loan.......22
3.4. Bảo hiểm.......................................................................................22
3.5. Thuế thu nhập...............................................................................23
3.6. Giờ làm
việc..................................................................................23
3.7. Quan hệ giữa người lao động và chủ sử dụng lao
động................23
3.8. Nghỉ phép, nghỉ lễ và nghỉ việc....................................................23
3.9. Những trường hợp không được cấp giấy phép lao động và
cho thôi việc.........................................................................................24
3.10. Đổi nơi làm
việc..........................................................................24
II. Thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam..................................................25
1. Số lượng và cơ cấu xuất khẩu lao
động......................................................25
1.1. Số lượng lao động xuất
khẩu.........................................................25
1.2. Cơ cấu lao động xuất
khẩu............................................................28
1.2.1. Cơ cấu lao động xuất khẩu theo giới tính........................28
1.2.2. Cơ cấu lao động xuất khẩu theo ngành nghề...................29
2. Chất lượng lao động xuất khẩu..................................................................30


92
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

2.1. Về sức
khoẻ...................................................................................30
2.2. Về tác phong.................................................................................30
2.3. Về trình độ, tay nghề....................................................................30
3. Hình thức và các tổ chức tham gia xuất khẩu lao
động..............................30
3.1. Hình thức xuất khẩu lao động.......................................................30
3.2. Các tổ chức tham gia xuất khẩu lao động.....................................31
III. Thực trạng xuất khẩu lao động của
Công ty cổ phần Đầu tư và Thương
mại...................................32
1. Kết quả hoạt động xuất khẩu lao động.......................................................33
2. Về số lượng, cơ cấu và thị trường xuất khẩu lao
động...............................35
3. Những thuận lợi và khó khăn trong hội nhập và cạnh tranh trên
thị trường lao động quốc tế............................................................................40
3.1. Thị trường lao động thế giới và yêu cầu của nước tiếp
nhận lao động.......................................................................................40
3.2. Khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam so với các
nước xuất khẩu lao động khác.............................................................41


Chương III: Phương hướng và giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu lao động ở
Công ty cổ phần Đầu tư và Thương
mại................................................43
I. Đánh giá chung tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam............................43
1. Về phát triển thị trường …………….......................................................43
1.1. Malaysia .................................................................................... 44


93
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

1.2. Đài Loan.................................................................................... 45
1.3. Hàn Quốc................................................................................... 45
1.4. Nhật Bản.................................................................................... 46
2. Về chuẩn bị nguồn lao động ................................................................. 47
2.1. Về công tác tuyển chọn nguồn lao động..................................... 47
2.2. Đào tạo giáo dục định hướng cho lao động xuất khẩu................ 48
2.3. Chính sách hỗ trợ người lao động .............................................. 48
2.4. Về bảo vệ quyền lợi cho người lao động.................................... 49
3. Củng cố và đổi mới doanh nghiệp xuất khẩu lao động.......................... 50
4. Kết quả đạt được và nguyên nhân đạt được kết quả trên ....................... 51
4.1. Kết quả đạt được........................................................................ 51
4.2. Nguyên nhân đạt được kết quả trên............................................ 52
5. Một số tồn tại trong hoạt động xuất khẩu lao động và chuyên gia......... 54
II. Quan điểm định hướng mục tiêu xuất khẩu lao động.......................................57
1. Về chủ trương...........................................................................................58
2. Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động và
chuyên gia......................................................................................................58
2.1. Giải pháp vĩ mô.............................................................................58
2.1.1. Phát triển thị trường ................................................................ 59
2.1.2. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách..................................... 62
2.1.3. Triển khai thực hiện nghị định 81/2003/NĐ-CP...................... 62
2.1.4. Tăng cường công tác thanh tra và xử lý vi phạm..................... 63
2.1.5. Nâng cao chất lượng doanh nghiệp ......................................... 63
2.1.6. Nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu...................... 64
2.1.7. Tăng cường công tác quản lý và bảo vệ người lao động ở nước
ngoài................................................................................................. 65
2.1.8. Công tác thông tin tuyên truyền .............................................. 65


94
LuËn v¨n tèt nghiÖp Sinh viªn: Ph¹m DiÔm Ngäc K37F3

2.1.9. Tiếp tục triển khai mô hình liên kết xuất khẩu lao động.......... 66
2.1.10. Những việc cần làm ngay...................................................... 66
2.2. Giải pháp vi mô.............................................................................70
2.2.1. Thành lập hiệp hội các nhà xuất khẩu lao động.........................71
2.2.2. Tổ chức tuyển chọn người lao động cho xuất khẩu...................72
2.2.3. Đào tạo giáo dục định hướng.....................................................73
2.2.4. Tổ chức quản lý lao động ngoài
nước........................................74
2.2.5. Tổ chức đưa lao động về
nước...................................................76
III. Chiến lược và kế hoạch phát triển của Công ty cổ phần Đầu tư
và Thương
mại................................................................................................77
1. Đánh giá chung tình hình xuất khẩu lao động của Công ty.......................77
1.1. Những việc đã làm được...............................................................77
1.2. Những việc chưa làm
được............................................................78
2. Giải pháp của Công ty................................................................................79
Kết luận....................................................................................................................82
Tài liệu tham khảo....................................................................................................83




95

Top Download Quản Trị Kinh Doanh

Xem thêm »

Tài Liệu Quản trị kinh doanh Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản