Luận văn tiến sĩ: Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh Việt

Chia sẻ: nhatro75

Mục đích của luận án là sử dụng lí thuyết ẩn dụ ý niệm để phân tích văn bản thể loại tin trong tiếng Anh và tiếng Việt. Từ các bình diện nghĩa học, dụng học và tri nhận luận, luận án nghiên cứu các loại ẩn dụ ý niệm, tần suất sử dụng và vai trò của chúng trong các bản tin giải thích hay bình luận các hiện tượng kinh tế trong hai ngôn ngữ . Từ đó luận án chỉ ra các đặc điểm tương đồng và khác biệt ở văn bản tin kinh tế của...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn tiến sĩ: Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh Việt

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯ ỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




HÀ THANH HẢI




ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC ẨN DỤ NHÌN TỪ LÍ
THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN TRÊN CỨ
LIỆU BÁO CHÍ KINH TẾ ANH-VIỆT




LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN




Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯ ỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN




HÀ THANH HẢI



ĐỐI CHIẾU PHƯƠNG THỨC ẨN DỤ NHÌN TỪ LÍ
THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN TRÊN CỨ
LIỆU BÁO CHÍ KINH TẾ ANH-VIỆT



Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu

Mã số: 62. 22. 01.10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN



NGƯ ỜI HƯ ỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN CÔNG ĐỨC




Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
CÁN BỘ PHẢN BIỆN 1: PGS. TS. PHẠM HÙNG VIỆT


CÁN BỘ PHẢN BIỆN 2: PGS. TS. NGUYỄN VĂN CHÍNH


CÁN BỘ PHẢN BIỆN 3: PGS. TS. LÊ TRUNG HOA




CÁN BỘ PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:

1. GS. TS. HOÀNG VĂN VÂN

2. GS. TS. LÊ QUANG THIÊM
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các


số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai


công bố trong bất kỳ công trình nào khác.




Thành phố Hồ Chí Minh, 2011




Hà Thanh Hải
1




MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................................... 7
2. Lịch sử nghiên cứu ...................................................................................................... 8
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 10
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 11
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu ................................................................ 12
6. Đóng góp của luận án ................................................................................................. 15
7. Bố cục luận án ............................................................................................................ 16
CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Ẩn dụ trong các hướng tiếp cận truyền thống. ........................................................... 18
1.1.1. Các hướng tiếp cận theo quan điểm nghĩa học............................................ 18
1.1.1.1. Ẩn dụ theo quan đ iểm sở chỉ .......................................................... 18
1.1.1.2. Ẩn dụ theo quan điểm miêu tả........................................................ 20
1.1.2. Các hướng tiếp cận theo quan điểm dụng học ............................................. 22
1.2. Ẩn dụ ý niệm trong ngữ nghĩa học tri nhận ............................................................... 24
1.2.1. Nền tảng cơ sở của lý thuyết ẩn dụ ý niệm .................................................. 26
1.2.2. Các khái niệm và luận điểm cơ b ản của lý thuyết ẩn dụ ý niệm .................. 31
1.2.2.1. Định nghĩa ẩn dụ ý niệm ................................................................ 31
1.2.2.2. Các đặc tính của ẩn dụ ý niệm ........................................................ 35
1.2.2.3. Quan hệ qua lại giữa ẩn dụ trong ngôn ngữ và trong tư duy............ 37
1.2.2.4. Ý niệm ........................................................................................... 39
1.2.2.5. Lĩnh vực ........................................................................................ 40
1.2.2.6. Lược đồ hình ảnh ........................................................................... 42
1.2.2.7. Các động lực hiện thân nhằm tạo ẩn dụ trong tư duy và trong ngôn ngữ .. 43
1.2.2.8. Tính đơn hướng ............................................................................. 45
1.2.2.9. Tính phổ quát của ẩn dụ ý niệm ..................................................... 45
1.2.2.10. Tính biến thiên văn hoá của ẩn dụ ý niệm ..................................... 46
1.2.3. Phân loại ẩn dụ ý niệm .............................................................................. 50
1.2.3.1. Phân loại theo tính thông dụng ....................................................... 50
1.2.3.2. Phân loại theo tính khái quát .......................................................... 52
1.2.3.3. Phân loại theo chức năng tri nhận................................................... 52
2




1.2.3.3.1. Ẩn dụ cấu trúc.................................................................... 52
1.2.3.3.2. Ẩn dụ thực thể ................................................................... 52
1.2.3.3.3. Ẩn dụ định hướng ............................................................. 54
1.2.3.4. Phân loại theo lĩnh vực nguồn ........................................................ 55
1.3. Tiểu kết .................................................................................................................... 56
CHƯƠNG 2: ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG BẢN TIN TIẾNG ANH
2.1. Ẩn dụ KHÔNG GIAN .............................................................................................. 59
2.2. Ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN ........................................................................... 64
2.2.1. Ẩn dụ CHẤT LỎNG.................................................................................. 65
2.2.2. Ẩn dụ CỖ MÁY ........................................................................................ 67
2.2.3. Ẩn dụ BONG BÓNG ................................................................................. 71
2.2.4. Ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG .............................................................. 73
2.2.5. Ẩn dụ ĐỘNG THỰC VẬT ........................................................................ 75
2.2.5.1. Ẩn dụ ĐỘNG VẬT ........................................................................ 75
2.2.5.2. Ẩn dụ THỰC VẬT ........................................................................ 80
2.2.6. Ẩn dụ THỜI TIẾT NHIỆT ĐỘ .................................................................. 82
2.2.6.1. TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG THỜI TIẾT ............. 82
2.2.6.2. TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG NHIỆT ĐỘ ............. 84
2.3. Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI ......................................................................... 86
2.3.1. Ẩn dụ CHIẾN TRANH .............................................................................. 86
2.3.2. Ẩn dụ HÀNH TRÌNH ................................................................................ 89
2.3.3. Ẩn dụ SÂN KHẤU .................................................................................... 91
2.3.4. Ẩn dụ THỂ THAO SĂN BẮN ................................................................... 96
2.3.5. Ẩn dụ CỜ BẠC ......................................................................................... 98
2.3.6. Ẩn dụ ĂN UỐNG ...................................................................................... 100
2.3.7. Ẩn dụ HÔN NHÂN ................................................................................... 101
2.4. Ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG ............................................................................................. 103
2.4.1. TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE ....................... 103
2.4.2. GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN KINH TẾ LÀ CHỮA BỆNH ......................... 105
2.5. Tiểu kết .................................................................................................................... 106
CHƯƠNG 3: ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG BẢN TIN TIẾNG VIỆT
3.1. Ẩn dụ KHÔNG GIAN .............................................................................................. 109
3




3.2. Ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN ........................................................................... 112
3.2.1. Ẩn dụ CHẤT LỎNG.................................................................................. 112
3.2.2. Ẩn dụ CỖ MÁY ........................................................................................ 114
3.2.3. Ẩn dụ BONG BÓNG. ................................................................................ 116
3.2.4. Ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG .............................................................. 117
3.2.5. Ẩn dụ ĐỘNG THỰC VẬT ........................................................................ 118
3.2.5.1. Ẩn dụ ĐỘNG VẬT ........................................................................ 118
3.2.5.2. Ẩn dụ THỰC VẬT ........................................................................ 119
3.2.6. Ẩn dụ THỜI TIẾT NHIỆT ĐỘ .................................................................. 120
3.3. Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI ......................................................................... 121
3.3.1. Ẩn dụ CHIẾN TRANH .............................................................................. 121
3.3.2. Ẩn dụ HÀNH TRÌNH ................................................................................ 123
3.3.3. Ẩn dụ SÂN KHẤU .................................................................................... 124
3.3.4. Ẩn dụ THỂ THAO SĂN BẮN ................................................................... 126
3.3.5. Ẩn dụ CỜ BẠC ......................................................................................... 128
3.3.6. Ẩn dụ ĂN UỐNG ...................................................................................... 129
3.3.7. Ẩn dụ HÔN NHÂN ................................................................................... 130
3.3.8. Ẩn dụ GIẢI TOÁN .................................................................................... 131
3.4. Ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG ............................................................................................. 132
3.4.1. TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE ....................... 133
3.4.2. GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN KINH TẾ LÀ CHỮA BỆNH ......................... 134
3.5. Tiểu kết .................................................................................................................... 135
CHƯƠNG 4: SO SÁNH - ĐỐI CHIẾU CÁC ẨN DỤ Ý NIỆM TRÊN CÁC
KHỐI NGỮ LIỆU VÀ ĐỀ XUẤT ỨNG DỤNG
4.1. So sánh-đối chiếu giữa hai khối bản tin tiếng Anh và tiếng Việt ................................ 137
4.1.1. So sánh-đối chiếu định lượng ..................................................................... 137
4.1.1.1. Ẩn dụ KHÔNG GIAN ................................................................... 139
4.1.1.2. Ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN … ........................................... 140
4.1.1.3. Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI .............................................. 142
4.1.1.4. Ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG................................................................... 142
4.1.2. So sánh-đối chiếu định tính ........................................................................ 143
4.1.2.1. Cả hai ngôn ngữ chứa cùng ẩn dụ ý niệm được hiện thực hóa bằng
4




biểu thức ngôn ngữ như nhau ..................................................................... 144
4.1.2.2. Cả hai ngôn ngữ có cùng ẩn dụ ý niệm nhưng nhưng được hiện
thực hóa bằng biểu thức ngôn ngữ khác nhau ............................................. 144
4.1.2.3. Cả hai ngôn ngữ chứa các ẩn dụ ý niệm khác nhau ........................ 146
4.2. Đề xuất ứng dụng trong giảng dạy và d ịch thuật ....................................................... 147
4.2.1. Nâng cao năng lực ẩn dụ của người học ..................................................... 147
4.2.2. Gắn kết ẩn dụ ý niệm với việc giảng dạy ngoại ngữ ................................... 149
4.2.3. Nâng cao nhận thức về ẩn dụ ý niệm trong học tập & giảng d ạy
tiếng Anh kinh tế ................................................................................................. 151
4.2.4. Áp dụng đường hướ ng tri nhận trong dịch ẩn dụ ........................................ 152


PHẦN KẾT LUẬN ........................................................................................................ 154
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 157
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ .................................................... 166
BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ ANH VIỆT .......................................................... 167
PHỤ LỤC A: Một số mẫu ngữ liệu tiếng Anh ............................................................. 168
PHỤ LỤC B: Một số mẫu ngữ liệu tiếng Việt ............................................................. 186
5




DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU BẢNG
Chương 1:
Hình 1.1.: Các tầng bậc trình hiện.................................................................................... 40
Bảng 1.2. Các loại lược đồ hình ảnh thông thườ ng........................................................... 42
Chương 2:
Hình 2.1: Số lượng các nhóm ẩn dụ ý niệm chính trong tiếng Anh ................................ 58
Hình 2.2: Tỉ lệ phần trăm các nhóm ẩn dụ ý niệm chính trong tiếng Anh ........................ 58
Hình 2.3: Tỉ lệ xuất hiện của các tiểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN ................................... 60
Bảng 2.4: Các ẩn dụ ý niệm KHÔNG GIAN và các biểu thức ẩn d ụ ............................. 62
Hình 2.5: Các tiểu loại ẩn dụ thuộc nhóm ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN ........... ...... 65
Bảng 2.6: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ DÒNG CHẢY ............................... .... 66
Bảng 2.7: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CỖ MÁY ........................................... 69
Bảng 2.8. Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ BONG BÓNG ............................ ....... 72
Bảng 2.9: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG ............... 73
Bảng 2.10: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĐỘNG THỰC VẬT ............ ........... 78
Bảng 2.11: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ THỜI TIẾT ..................................... 83
Bảng 2.12: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ NHIỆT ĐỘ ........................ ............. 85
Bảng 2.13: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHIẾN TRANH............................... 87
Bảng 2.14: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÀNH TRÌNH .................. .............. 90
Bảng 2.15: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SÂN KHẤU .................................... 93
Hình 2.16: Phép đồ họa ẩn dụ của tiếp đầu ngữ “under’ ................................................... 95
Hình 2.17 : Phép đồ họa ẩn dụ của tiếp đầu ngữ “out’..................................................... 96
Bảng 2.18.: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ THỂ THAO-SĂN BẮN .................. 97
Bảng 2.19: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CỜ BẠC .......................................... 99
Bảng 2.20: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĂN UỐNG ...................................... 101
Bảng 2.21: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÔN NHÂN ................................... 103
Bảng 2.22: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SỨC KHỎE
trong bản tin tiếng Anh .................................................................................................... 104
Chương 3:
Hình 3.1: Số lượng các nhóm ẩn dụ ý niệm chính trong tiếng Việt ................................ 108
Hình 3.2: Tỉ lệ phần trăm các nhóm ẩn dụ ý niệm chính trong tiếng Việt ........................ 108
Hình 3.3: Tỉ lệ xuất hiện của các tiểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN ..................................... 109
6




Bảng 3.4: Các ẩn dụ ý niệm KHÔNG GIAN và các biểu thức ẩn d ụ ........................ ....... 110
Hình 3.5: Các tiểu loại ẩn dụ thuộc nhóm ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN .............. ... 112
Bảng 3.6: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ DÒNG CHẢY ............................... .... 113
Bảng 3.7: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CỖ MÁY .................................. ......... 115
Bảng 3.8. Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ BONG BÓNG .......................... ......... 116
Bảng 3.9: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG ................ 118
Bảng 3.10: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĐỘNG THỰC VẬT ....................... 109
Bảng 3.11: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ THỜI TIẾT-NHIỆT ĐỘ .................. 121
Bảng 3.12: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHIẾN TRANH...................... ......... 122
Bảng 3.13: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÀNH TRÌNH ................................ 124
Bảng 3.14: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SÂN KHẤU .................................... 125
Bảng 3.15.: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ THỂ THAO-SĂN BẮN ................. 126
Bảng 3.16: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĂN UỐNG ...................................... 130
Bảng 3.17: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÔN NHÂN ................................... 131
Bảng 3.18: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ GIẢI TOÁN .................................... 132
Bảng 3.19 : Ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG trong các khối ngữ liệu tiếng Việt ........................... 132
Bảng 3.20 : Ẩn dụ SỨC KHỎE trong các khối ngữ liệu tiếng Việt .................................. 133
Bảng 3.21: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SỨC KHỎE..................................... 133
Bảng 3.22: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHỮA BỆNH ................................. 134
Chương 4:
Hình 4.1. Tần suất sử dụng trên 1000 từ của các biểu thức ẩn dụ
tiếng Anh và tiếng Việt .................................................................................................... 137
Hình 4.2: Số lượng các nhóm ẩn dụ ý niệm chính trong tiếng Anh và tiếng Việt ............. 138
Hình 4.3: Tỉ lệ phần trăm các nhóm ẩn dụ ý niệm chính trong tiếng Anh và tiếng Việt .... 139
Hình 4.4 : Các tiểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN trong tiếng Anh ................................. ...... 140
Hình 4.5 : Các tiểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN trong tiếng Việt ................................ ....... 140
Hình 4.6: Các tiểu loại ẩn dụ thuộc nhóm ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN
và tỉ lệ xuất hiện trong tiếng Anh và tiếng Việt ................................................................. 141
Bảng 4.7 : Các biểu thức ngôn ngữ khác nhau thể hiện cùng nhóm
ẩn dụ ý niệm MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN ....................................................................... 146
Bảng 4.8 : Các biểu thức ngôn ngữ khác nhau thể hiện cùng nhóm
ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI ..................................................................... 146
7




PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Ẩn dụ có mặt khắp mọi nơi trong đời sống chúng ta, không chỉ trong ngôn
ngữ mà còn trong tư du y và hành động” [83:3]. Ẩn dụ được sử dụng rộng rãi và lâu
bền trong giao tiếp hàng ngày, trong khoa học, giáo dục, và cả chính trị. Những ý
niệm cơ bản và mang tính phổ quát nhất về thế giới chung quanh được chúng ta
hiểu thông qua các phép đồ họa ẩn dụ như thời gian, trạng thái hay số lượng. Các
phép đồ họa này xuất phát từ những kinh nghiệm thực tế và rất cụ thể mà hàng ngà y
chúng ta trải qua hoặc xuất phát từ những kiến thức chúng ta tích lũy được từ thế
giới chung quanh. Lakoff và Johnson đưa ra ẩn dụ ý niệm NHIỀU HƠN LÀ
HƯ ỚNG LÊN (sđd:23), ẩn dụ này phản ánh một phép đồ họa trong đó số lượng
được gắn kết với hướng chuyển động đi lên, và thể hiện bằng các ẩn dụ ngôn từ như
sau: Giá cả đang lên, nhu cầu hàng tiêu dùng đang lên .
Phần lớn các quá trình tri nhận của chúng ta bao gồm việc tư duy, cảm nhận
và đánh giá thế giới chung quanh đều dựa trên các ý niệm mang tính ẩn dụ có nhiệm
vụ cấu trúc hoá và có ảnh hưởng đến ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng. Tất nhiên là
các ý niệm cũng như các quá trình tri nhận này sẽ khác nhau ở những nền văn hoá
khác nhau, ở những xã hội khác nhau. Chúng nằm trên một dải từ phổ quát cho đến
đặc trưng văn hoá cụ thể.
Luận án của chúng tôi liên quan đến một thực tế là phép đồ họa mang tính ẩn
dụ có thể khác nhau về tính chất phổ quát, có nghĩa là một số phép đồ họa mang
tính chất phổ quát rộng đối với nhiều ngôn ngữ, một số khác thì mang đặc trưng văn
hoá- ngôn ngữ cụ thể. Như thế vấn đề chính nhất mà chúng tôi muốn trả lời là các
phép đồ họa nào mang đặc điểm chung ở nhiều ngôn ngữ và các phép đồ họa nào
mang đặc điểm văn hoá ngôn ngữ riêng, như Lakoff và Johnson [83:14] đã nhận
định: “ở một số nền văn hoá thì tương lai ở đ ằng trư ớc chúng ta, trong khi ở các
nền văn hoá khác thì nó lại nằm đ ằng sau.” Còn theo Charteris-Black [37], ẩn dụ
đóng vai trò quan trọng trong đời sống ngôn ngữ, chúng cụ thể hóa các quá trình tri
nhận phức tạp dưới hình thức các lược đồ. Trong các công trình nghiên cứu đối
8




chiếu ngôn ngữ, cấu trúc tri nhận có thể làm bộc lộ các khác biệt ý niệm giữa các
cộng đồng sử dụng ngôn ngữ thông qua việc nghiên cứu các ẩn dụ có mặt trong các
ngôn ngữ ấy. Đây cũng là một quan điểm mà Kovecses [77] nhất trí khi ông cho
rằng cần phải nghiên cứu những ảnh hưởng của văn hóa đối với việc chọn và sử
dụng ẩn dụ của người nói.
Việc nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong so sánh – đối chiếu ngôn ngữ cũng có
thể giúp phát hiện ra các điểm tương đồng cũng như các đặc trưng khác biệt ý niệm
tồn tại trong các ngôn ngữ khác nhau.
Việc xem xét và đối chiếu các hiện tượng ẩn dụ ý niệm xuyên ngôn ngữ có
thể mang lại nhiều giá trị học thuật trong lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng. Một
mặt, nó giúp tìm hiểu cách thức tư duy khác nhau ở những nền văn hoá khác nhau
thông qua ẩn dụ. Mặt khác, nó đem lại cho các nhà nghiên cứu và giảng dạy, học
tập ngoại ngữ một cách nhìn mới về ẩn dụ, giúp họ xem xét các hiện tượng ẩn dụ ý
niệm được cụ thể hoá trong các ngôn ngữ khác nhau. Nếu như một số ẩn dụ ý niệm
có tính phổ quát xuyên ngôn ngữ và tạo điều kiện thuận lợi cho người học ngoại
ngữ, thì cũng có rất nhiều cách ẩn dụ hoá ý niệm khác nhau trong các ngôn ngữ
khác nhau có thể dẫn đến những chuyển di tiêu cực trong quá trình học ngoại ngữ.
Danesi [47] cho rằng người học ngoại ngữ không sử dụng ẩn dụ khi học tiếng nên
ngôn ngữ họ đang học khác xa so với ngôn ngữ của người bản xứ. Chính vì vậy,
việc nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong tiếng Việt thông qua so sánh với hệ thống ẩn dụ
ý niệm trong các ngôn ngữ khác sẽ mang lại những giá trị thực tiễn nhất định trong
việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt cũng như tiếng nước ngoài.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Trong ngôn ngữ kinh tế chúng ta có thể nhận ra rất nhiều ẩn dụ, chẳng hạn
‘dòng vốn’, ‘đ ầu tư chất xám’ vv. Đây cũng là một lĩnh vực rất hứa hẹn đối với các
nhà nghiên cứu về ẩn dụ. Chẳng hạn, Herrera và White [64] khi xem xét các ẩn dụ
sử dụng trong báo chí kinh tế đã phát hiện một số lượng lớn các biểu thức ẩn dụ như
“Business as a Jungle” (Kinh doanh là rừng nhiệt đới), “Monopolies as Dinosaurs”
(Công ti độc quyền là khủng long), hay “Mergers as Marriages” (Sáp nhập là hôn
9




nhân) vv… Smith [106] lại nghiên cứu ẩn dụ sử dụng trong đàm phán kinh tế và
ông nhận thấy rằng qua cách dùng ẩn dụ thì người nghe có thể phát hiện ra ý định
của đối tác. Trước đó thì các tác giả Hodgson [65], McCloskey [93] và Kubon-
Gilke [79] cũng đã nghiên cứu vai trò của ẩn dụ trong kinh tế học. Oberlechner và
các cộng sự [97] nghiên cứu quá trình ý niệm hóa thị trường hối đoái theo lối ẩn dụ
và xem xét phương thức các ẩn dụ này góp phần cấu thành nên thị trường tài chính
như thế nào. Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình tri nhận về thị trường của các
đối tượng nghiên cứu xoay quanh bảy ẩn dụ, đó là THỊ TRƯ ỜNG LÀ SẠP HÀNG,
THỊ TRƯ ỜNG LÀ ĐỘNG CƠ, THỊ TRƯ ỜNG LÀ CỜ BẠC, THỊ TRƯ ỜNG LÀ
THỂ THAO, THỊ TRƯ ỜNG LÀ CHIẾN TRANH, THỊ TRƯ ỜNG LÀ CƠ THỂ
SỐNG và THỊ TRƯ ỜNG LÀ ĐẠI DƯƠNG. Mỗi loại ẩn dụ như vậy có chức năng
đề cao hoặc che mờ một số bình diện nào đó của thị trường hối đoái. Chúng cũng
kéo theo một loạt các hàm ý khác nhau về các phương diện thị trường như vai trò
của người tham gia thị trường hay khả năng đoán trước thị trường. Nghiên cứu của
Skorczynska & Deignan [103] lại tập trung tìm hiểu những nhân tố ảnh hưởng đến
việc chọn và sử dụng các ẩn dụ trong các diễn ngôn kinh tế khác nhau và nghiên
cứu này cho thấy yếu tố độc giả và mục đích bài báo là hai nhân tố quyết định, ảnh
hưởng lớn đến các dạng ẩn dụ được sử dụng, tần suất sử dụng và chức năng của
chúng trong các bài báo.
Trong việc tiếp cận và nghiên cứu phương thức ẩn dụ trong tiếng Việt từ
trước đến nay chủ yếu tồn tại quan điểm lôgíc, nhìn nhận ngôn ngữ về nguyên thu ỷ
là mang tính chất nghĩa đen, và coi phương thức ẩn dụ là cái xuất phát từ cái tính
chất nghĩa đen ấy. Chính vì vậy, đối tượng nghiên cứu là các phương thức ẩn dụ
được sử dụng chủ yếu trong thơ ca và nhằm đạt hiệu quả nhấn mạnh trên bình diện
tu từ học. Các công trình về ẩn dụ ở Việt Nam trong thời gian qua như Nguyễn
Thiện Giáp [5], Đinh Trọng Lạc [10], Đoàn Mạnh Tiến [18], Hà Quang Năng [11],
Phan Hồng Xuân [21], [22], Hoàng Kim Ngọc [12] phần lớn đều đi theo quan điểm
sở chỉ hoặc miêu tả hoặc kết hợp cả hai xu hướng trên.
10




Cho dù lý thuyết ẩn dụ ý niệm của Lakoff và Johnson [83] gợi ra rất nhiều
hướng nghiên cứu trong lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng, đặc biệt trong các lĩnh
vực nghiên cứu tiếng Việt, biên-phiên dịch và giảng dạy ngoại ngữ, ở Việt Nam các
công trình nghiên cứu ẩn dụ theo quan điểm tri nhận còn hạn chế về số lượng. Lý
Toàn Thắng [16] và Trần Văn Cơ [2], hai trong số các tác giả tiên phong trong việc
giới thiệu ngôn ngữ học tri nhận ở Việt Nam, đã gợi mở cho người đọc các vấn đề
cơ bản về ẩn dụ ý niệm trong sự so sánh với các quan điểm truyền thống về ẩn dụ.
Đào Thị Hà Ninh [13], Phạm Thị Thanh Thu ỳ [17] cũng đã tóm lược giới thiệu các
quan điểm tri nhận về ẩn dụ với người đọc tiếng Việt. Gần đây nhất, công trình
nghiên cứu về bản chất ẩn dụ của Nguyễn Đức Tồn [19], công trình đối chiếu qua
ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt của Phan Thế Hưng [8], [9] đã đóng góp vào việc
tìm hiểu lí thuyết ẩn dụ hiện đại qua việc nhìn nhận dưới góc độ tu từ và tri nhận,
củng cố cho quan điểm tri nhận về ẩn dụ, đồng thời tác giả Phan Thế Hưng [sđd] đã
bước đầu tìm hiểu nguồn gốc của mối quan hệ ngôn ngữ và văn hóa qua việc hình
thành và sử dụng ẩn dụ. Tuy nhiên, trong lĩnh vực diễn ngôn kinh tế cho đến nay
mới chỉ có tác giả Phạm Thị Thanh Thu ỳ [17] làm công việc giới thiệu khái quát ẩn
dụ ý niệm trong các bản tin kinh tế tiếng Anh. Việc đối chiếu phương thức ẩn dụ
trong diễn ngôn báo chí kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt theo quan điểm ngôn ngữ
học tri nhận vì vậy vẫn còn là một lĩnh vực mới đối với các nhà nghiên cứu Việt
ngữ học và những người làm công tác so sánh – đối chiếu ngôn ngữ.
3. ĐỐI TƯ ỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các ẩn dụ ý niệm được sử dụng trong
các bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt. Luận án sẽ nghiên cứu ẩn dụ từ ba bình
diện nghĩa học, dụng học và tri nhận luận. Lí do dẫn đến sự lựa chọn này là vì ẩn dụ
đóng vai trò tích cực trong việc phát triển cơ chế ý niệm dùng để thể hiện các ý
tưởng mới; ẩn dụ cũng là nguồn cung cấp cho những chỗ khuyết từ vựng; ẩn dụ
cũng được sử dụng vì mục đích phong cách, thể hiện sự đánh giá của tác giả bản tin,
nó phản ánh quá trình chọn lọc ngôn ngữ trong từng ngữ huống cụ thể và phù hợp
từng ý định cụ thể của người viết.
11




Ngay cả trong các nhà ngữ nghĩa học tri nhận lâu nay đa phần đều tập trung
nghiên cứu nhiều đến các loại ẩn dụ thường qui hay ẩn dụ “chết” vì cho rằng các ẩn
dụ ấy thể hiện các phép đồ họa ý niệm chúng ta sử dụng để hiểu biết về kinh
nghiệm hàng ngày của mình. Việc nghiên cứu cũng chỉ thường tập trung ở các loại
ẩn dụ mới có mặt trong các tác phẩm thơ ca hoặc văn học nói chung và thông
thường thì các nhà ngữ nghĩa học tri nhận không đặt nặng việc nghiên cứu các ẩn dụ
mới dùng trong diễn ngôn ngoài văn học. Thế nhưng từ những năm 2000 trở lại đây
đã bắt đầu xuất hiện một xu hướng nghiên cứu mới, tìm hiểu hiện tượng ẩn dụ
thông qua các phương pháp phân tích diễn ngôn và phân tích khối liệu [35]. Xu
hướng này kết hợp quan điểm tri nhận về ẩn dụ trong khi xem xét bản chất thường
qui của chúng, đồng thời cũng liên kết chặt chẽ ẩn dụ ý niệm với ẩn dụ ngôn từ trên
cả hai bình diện lý thuyết và thực nghiệm.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Luận án đề ra mục tiêu nghiên cứu việc sử dụng ẩn dụ ý niệm trong diễn
ngôn kinh tế Anh –Việt. Các câu hỏi mà luận án đặt ra là:
i. Những loại ẩn dụ ý niệm nào được sử dụng trong các bản tin kinh tế tiếng Anh và
tiếng Việt? Các ẩn dụ ý niệm này có tần suất sử dụng như thế nào?
ii. Vai trò của các ẩn dụ ý niệm là gì khi chúng được sử dụng trong các bản tin giải
thích hoặc bình luận các hiện tượng kinh tế?
iii. Các bản tin kinh tế tiếng Anh và các bản tin kinh tế tiếng Việt có những điểm
giống nhau và khác nhau như thế nào trong việc sử dụng các ẩn dụ ý niệm và các
biểu thức ẩn dụ cụ thể tương ứng?
iv. Những đặc điểm tương đồng và dị biệt nếu có sẽ được giải thích như thế nào dựa
trên mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy?
v. Liệu người học và sử dụng tiếng Anh như một ngoại ngữ có thể gặp khó khăn
hay không trong khi đọc và dịch các ẩn dụ ý niệm từ tiếng Anh sang tiếng Việt hoặc
ngược lại?
Luận án cũng đặt ra một số các giả thiết có thể cùng xảy ra xoay quanh việc sử
dụng ẩn dụ ý niệm trong hai ngôn ngữ Anh – Việt như sau:
12




a. Cùng một ẩn dụ ý niệm và có cùng biểu thức ngôn ngữ: Trong trường hợp này
việc tìm kiếm một cách dịch tương đương sẽ không gặp khó khăn. Ví dụ ẩn dụ ý
niệm QUAN HỆ LÀ CÁC TOÀ NHÀ có mặt trong cả hai ngôn ngữ. Một người
Việt có thể nói Chúng ta hy vọng sẽ xây dựng một mối quan hệ lâu bền, và một
người nói tiếng Anh bản ngữ cũng có thể nói We hope to build a permanent
relationship.
b. Cùng một ẩn dụ ý niệm nhưng khác biểu thức ngôn ngữ: Tiếng Việt và tiếng Anh
có chung một ẩn dụ ý niệm HẠNH PHÚC LÀ RỜI KHỎI MẶT ĐẤT, thế nhưng
trong khi một biểu thức ngôn ngữ trong tiếng Việt là Sau kỳ thi mấy ngày, tôi cứ
như đi/bay trên mây thì trong tiếng Anh lại có thể có cách diễn đạt khác như sau :
After the exam, I was walking on air for days (nguyên văn: đi trên không khí).
c. Khác ẩn dụ ý niệm: Trong tiếng Anh tồn tại ẩn dụ ý niệm IDEAS ARE FOOD (Ý
TƯ ỞNG LÀ THỨC ĂN), còn trong tiếng Việt đôi lúc lại dùng ý niệm Ý TƯ ỞNG
LÀ HOA QUẢ. Do vậy mà khi chuyển dịch biểu thức ngôn ngữ Cậu ấy ăn nói
chưa chín sang tiếng Anh thì người dịch không sử dụng từ unripe (chưa chín) vì từ
này không được sử dụng theo cách ẩn dụ trong tiếng Anh. Trong trường hợp này,
người Anh bản ngữ có xu hướng dùng từ half-baked (nư ớng dang dở) để chuyển tải
cùng một thông điệp:His words are half-baked.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU
Trên bình diện tổng quan, luận án kết hợp hai xu hướng tiếp cận chính:
nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính. Nghiên cứu định lượng cho phép
luận án thiết lập sự so sánh trực tiếp giữa hai khối ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt.
Còn phân tích định tính giúp chúng tôi nghiên cứu sâu hơn và chi tiết hơn các phép
đồ họa ẩn dụ có mặt trong hai khối ngữ liệu, góp phần làm sáng tỏ các nét tương
đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngôn ngữ Anh và Việt trên cùng một thể loại văn bản
tin kinh tế. Có được điều này là vì nghiên cứu định tính giúp nhà nghiên cứu xem
xét các hiện tượng xã hội trong những ngữ cảnh tự nhiên của chúng [51]. Nghiên
cứu định tính cùng với quá trình suy luận qui nạp đi kèm theo nó có thể mở ra
nhiều khả năng tập trung lý giải các hiện tượng ngôn ngữ hơn so với các phép toán
13




trong phương pháp định lượng. Nghiên cứu định tính bao gồm việc giải thích nghĩa
của từ hoặc cụm từ, cho phép chúng ta hiểu các ý nghĩ và quan niệm mà con người
muốn diễn đạt. Low [91] cũng đã thấy rằng độ giá trị và độ tin cậy của các công
trình nghiên cứu về ẩn dụ sẽ tăng lên rất nhiều khi người nghiên cứu sử dụng cả hai
xu hướng nghiên cứu định lượng và định tính.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận án là phương
pháp miêu tả và phương pháp so sánh-đối chiếu. Chúng tôi thu thập các bài báo
tiếng Anh và tiếng Việt, miêu tả và phân tích việc sử dụng ẩn dụ ý niệm trong các
bài báo này. Các ẩn dụ sau khi được chọn ra sẽ được phân loại theo lĩnh vực nguồn,
theo tần số xuất hiện của chúng, theo mức độ thông dụng và theo các đặc trưng
ngôn ngữ-văn hoá. Sau đó, các ẩn dụ ý niệm và các biểu thức ngôn ngữ cụ thể hóa
của chúng trong hai ngôn ngữ Anh và Việt sẽ được so sánh và đối chiếu trên các
tiêu chí cụ thể.
Chúng tôi thu thập 200 bài báo mang các chủ đề kinh tế xuất hiện trong hai
tờ báo kinh tế thuộc dòng báo chính thống tại Việt Nam: tờ Thời báo kinh tế Sài
Gòn và tờ Thời báo kinh tế Việt Nam; 200 bài báo tiếng Anh khác cũng xuất hiện
trên hai tờ báo chính thống tại Mĩ là tờ Thời báo Tài chính (Financial Times) và
Bưu điện Washington (Washington Post). Các bài báo này xuất hiện trong khoảng
thời gian từ tháng 3/2006 đến tháng 12/2007. Các bài báo có độ dài không quá
chênh lệch nhau; độ dài trung bình của các bài báo là 675 từ. Các bài báo có nội
dung phản ánh các hoạt động kinh tế trong nước nhằm mục đích hạn chế đến mức
thấp nhất khả năng đưa vào ngữ liệu các yếu tố bị ảnh hưởng bởi việc biên dịch từ
tiếng nước ngoài. Sau đó, chúng tôi nhận diện, liệt kê và phân tích tần suất sử dụng
các ẩn dụ ý niệm cũng như các biểu thức ngôn từ thể hiện các ý niệm ấy trong
nguồn dữ liệu vừa nêu.
Chúng tôi cố gắng chọn lựa các bài báo phù hợp và có thể so sánh được ở
trong hai ngôn ngữ. Đây là các bài báo xuất hiện tại các tờ báo điện tử có thể dễ
dàng truy cập trên mạng Internet. Đối với các bài báo tiếng Việt, chúng tôi chọn lọc
chỉ những bài báo điện tử do người Việt viết và chỉ dành cho độc giả là người Việt,
14




với mục đích là để các đặc trưng ngôn ngữ và văn hoá của người Việt được thể hiện
rõ ràng nhất. Chúng tôi áp dụng quá trình chọn lọc tương tự cho các bài báo bằng
tiếng Anh. Việc chọn lựa các tờ báo trên để đối chiếu không nằm ngoài mục đích
của chúng tôi là đảm bảo sự tương đương về chất liệu diễn ngôn, trên cả hai bình
diện là độ dài văn bản và chủ đề.
Khối ngữ liệu tiếng Anh có độ dài 120.622 từ, bao gồm 200 bài báo trên tờ
Washington Post và tờ Financial Times. Khối ngữ liệu tiếng Việt có độ dài 149.536
từ, bao gồm 200 bài báo trên tờ Thời báo kinh tế Sài Gòn và tờ Thời báo Kinh tế
Việt Nam. Những bài báo nào có cùng nội dung và xuất hiện cả trên hai khối ngữ
liệu đều bị loại ra. Mặc dù tất cả các bài báo trong cả hai khối ngữ liệu đều có tiêu
đề, nhưng chúng tôi không đưa các tiêu đề này vào việc phân tích dựa trên quan
điểm là các ẩn dụ, vốn chiếm một tỉ lệ xuất hiện cao trong các tiêu đề, thường
nghiêng về chức năng tu từ hơn là nghiêng về chức năng tri nhận. Cả hai khối ngữ
liệu tiếng Anh và tiếng Việt trong luận án đều thuộc diễn ngôn kinh tế phổ thông.
Đây là một thuật ngữ được Skorczynska và Deignan [103] dùng để chỉ các bản tin
báo chí liên quan đến các vấn đề kinh tế dành cho độc giả thuộc cả giới nghiên cứu
và bình dân, có mục đích chính là cung cấp thông tin cho người đọc.
Việc xử lý dữ liệu được tiến hành theo ba giai đoạn. Trong giai đoạn thứ
nhất, tất cả dữ liệu được thao tác thủ công để tìm ra các ẩn dụ theo định nghĩa rộng
về ẩn dụ mà chúng tôi sẽ trình bày trong chương một. Chúng tôi tiến hành phân lập
các biểu thức ẩn dụ ngôn từ cụ thể có mặt trong hai khối ngữ liệu. Các ẩn dụ vừa
tìm được sẽ được phân loại theo các ẩn dụ ý niệm cụ thể, chẳng hạn biểu thức ẩn dụ
ngôn từ ø Deutsche Bank tiếp tục bơm tiền vào thị trường (TBKTSG34)
được phân tích là hiện thực hóa của ẩn dụ ý niệm TÀI CHÍNH LÀ MỘT DÒNG
CHẢY.
Trong giai đoạn tiếp theo, các ẩn dụ ý niệm sẽ được sắp xếp vào một trong
bốn nhóm ẩn dụ ý niệm có tầng bậc cao hơn, và bốn nhóm này lần lượt có các lĩnh
vực ý niệm nguồn là KHÔNG GIAN, MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN, HOẠT ĐỘNG
CON NGƯ ỜI, và CƠ THỂ SỐNG.
15




Trong giai đoạn thứ ba, trên cơ sở số lượng và các loại ẩn dụ phân lập được,
luận án sẽ tiến hành so sánh hai khối ngữ liệu bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng
Việt. Đối với các ví dụ cụ thể xuất hiện trong khối ngữ liệu tiếng Anh, chúng tôi sẽ
chua thêm phần dịch sát nguyên văn sang tiếng Việt nhằm bộc lộ các đặc trưng văn
hóa-ngôn ngữ của khối ngữ liệu này.
Chúng tôi hy vọng ba giai đoạn xử lý dữ liệu nêu trên sẽ làm rõ những nét
tương đồng và dị biệt về đặc điểm ẩn dụ có mặt trong hai ngôn ngữ có cùng ngữ
vực, về cách thức ý niệm hóa các hoạt động và hiện tượng kinh tế trong hai ngôn
ngữ tiếng Anh và tiếng Việt.
Phương pháp luận sử dụng trong luận án này cũng được dựa trên các quan
điểm của ngữ nghĩa học tri nhận, các quan điểm này cho rằng ẩn dụ, ngoài các chức
năng làm đẹp cho ngôn ngữ, còn có chức năng tổ chức các nguyên tắc tư duy và các
bình diện kinh nghiệm. Johnson & Lakoff [67] và Lakoff & Johnson [84] xem ẩn
dụ có nguồn gốc từ trong hiện thực cuộc sống của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ và
phản ánh phương thức tư duy của cộng đồng ấy. Lấy ví dụ, nếu tư duy của chúng ta
về thị trường chứng khoán được cấu trúc bởi ẩn dụ chiến tranh, thì các biểu thức
ngôn ngữ như thế trận giằng co giữa bên bán và bên mua, lệnh mua ồ ạt tháo chạy
sẽ xuất hiện rất tự nhiên trong đời sống ngôn ngữ.
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
6.1. Về lý luận
Những kết quả tìm được trong luận án có giá trị khẳng định ưu thế của ngữ
nghĩa học tri nhận nói chung và lý thuyết ẩn dụ ý niệm nói riêng trong so sánh đối
chiếu các văn bản tin của các ngôn ngữ giống và khác nhau về loại hình.
Đây là công trình đầu tiên sử dụng lý thuyết ẩn dụ ý niệm để phân tích thể loại tin
tại Việt Nam. Nó góp phần mở rộng một xu hướng nghiên cứu diễn ngôn hoặc thể loại
được cho là đã khá phổ biến trong giới ngôn ngữ học trên thế giới nhưng lại còn mới mẻ
tại Việt Nam.
Luận án khẳng định việc nghiên cứu và phân tích các ẩn dụ không thể tách
khỏi các bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng liên quan đến các ẩn dụ đó.
16




Đây là một công trình giúp khẳng định lại quan điểm của các nhà ngữ nghĩa
học tri nhận khi cho rằng ẩn dụ mang đến cho nhà ngôn ngữ học một cánh cửa để
nhìn vào trí não của con người. Theo quan điểm này thì ngôn ngữ ẩn dụ phản ánh
sản phẩm đầu ra của quá trình tri nhận mà thông qua nó chúng ta hiểu được một lĩnh
vực với các mẫu tri nhận từ một lĩnh vực khác và hiểu rằng các lĩnh vực khác nhau
có chung nhiều từ ngữ và ý niệm, chẳng hạn như các lĩnh vực tư tưởng – thức ăn,
tình yêu – hành trình, thời gian – chuyển động.
6.2. Về ứng dụng
Những kết quả thu được từ luận án sẽ đóng góp cho các nhà giảng dạy ngoại
ngữ đặc biệt là trong lĩnh vực tiếng Anh chuyên ngành nói chung và lĩnh vực tiếng
Anh cho ngành báo chí nói riêng
Trong giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành báo chí kỹ năng viết tin bằng tiếng
Anh hoặc kỹ năng dịch từ bản tin tiếng Việt sang bản tin tiếng Anh hoặc ngược lại,
người dạy cần thấy được tầm quan trọng của lý thuyết ẩn dụ ý niệm có mặt rất thường
xuyên trong các bản tin kinh tế.
Ngoài ra luận án cũng góp phần làm sáng tỏ một số đặc điểm ngôn ngữ báo
chí của cả hai ngôn ngữ, và điều này thực sự hữu ích cho các nhà báo viết tin hay
dịch tin về kinh tế trong thời hội nhập của nước ta.
7. BỐ CỤC LUẬN ÁN
Luận án bao gồm phần mở đầu, bốn chương chính và phần kết luận.

Phần mở đầu: Trình bày lý do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm
vi nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những
đóng góp mới và bố cục của luận án.

Chương 1: Trình bày các vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho việc phân loại và
miêu tả ở các chương sau.

Chương 2: Phân tích các ẩn dụ ý niệm và các biểu thức ẩn dụ cụ thể trong các
bản tin kinh tế tiếng Anh.
17




Chương 3: Phân tích các ẩn dụ ý niệm và các biểu thức ẩn dụ cụ thể trong các
bản tin kinh tế tiếng Việt.

Chương 4: Đối chiếu các ẩn dụ ý niệm có mặt trong các văn bản tin kinh tế
tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên các lĩnh vực nguồn và đề xuất ứng dụng trong
giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành kinh tế. Chương này cố gắng lý giải các đặc
trưng ngôn ngữ và tư duy thể hiện trong việc chọn lựa và sử dụng các ẩn dụ ý niệm
ở hai ngôn ngữ.

Phần kết luận: Tổng kết lại những kết quả thu được từ luận án và đề xuất
hướng nghiên cứu.
18




CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Ẩn dụ trong các hướng tiếp cận truyền thống
1.1.1. Các hướng tiếp cận theo quan điểm nghĩa học
1.1.1.1. Ẩn dụ theo quan điểm sở chỉ
Các quan điểm này có một chỗ đứng vững chắc và lâu dài trong lịch sử
nghiên cứu ẩn dụ. Chúng miêu tả hiệu quả của một ẩn dụ dựa trên sự tương đồng
giữa các biểu vật của biểu thức ngôn ngữ chứa trong ẩn dụ đó. Theo Leezenberg
[86], các học trò của Aristotle tỏ ra rất gần với quan điểm này, họ xem ẩn dụ là một
dạng so sánh được cô đọng hay xem ẩn dụ là dạng rút gọn của tỉ dụ. Quan điểm sở
chỉ cho rằng ẩn dụ liên quan đến các dạng thức riêng lẻ của từ, chứ không liên quan
đến từ và câu trong ngữ cảnh. Ẩn dụ bắt nguồn từ nhu cầu thể hiện các khái niệm
trong khi ngôn từ biểu đạt những khái niệm ấy lại không tồn tại và dần dần ẩn dụ
trở nên phổ biến vì sức mạnh thẩm m ỹ của nó. Theo quan điểm sở chỉ, chính sự
tương đồng giữa các biểu vật có thể dùng để giải thích việc sử dụng một đơn vị từ
theo lối ẩn dụ. Do đó, ẩn dụ là việc nén một tỉ dụ thành một từ đơn lẻ và đặt nó vào
một vị trí không bình thườngï. Do đó mà các nhà nghiên cứu theo đường hướng sở
chỉ đôi lúc xem ẩn dụ là hiện tượng lệch chuẩn.
Các quan điểm sở chỉ luôn chiếm ưu thế trong lịch sử nghiên cứu cho tới
giữa thế kỷ 20 và ngày nay vẫn ảnh hưởng sâu rộng, thể hiện qua nhiều công trình
của Henle, Mooij và Fogelin (xem Leezenberg [86]). Ở Việt nam thì có các công
trình của Đỗ Hữu Châu [1], Nguyễn Thiện Giáp [5], Đinh Trọng Lạc [10], Hà
Quang Năng [11]. Các quan điểm chính của đường hướng sở chỉ được thể hiện qua
ba bình diện như sau:
Thứ nhất, các quan điểm này đều nhấn mạnh đến sự tương quan mật thiết giữa
ẩn dụ với tỉ dụ hoặc so sánh, hoặc bằng cách định nghĩa ẩn dụ là một dạng so sánh
rút gọn hay tĩnh lược, hoặc cho rằng nghĩa của ẩn dụ tương đương với nghĩa của tỉ
dụ tương ứng với nó. Ở đây cũng không nên nhầm lẫn giữa hai quan niệm này:
Quan niệm coi ẩn dụ là dạng tỉ dụ rút gọn đánh đồng nghĩa đen của ẩn dụ với nghĩa
đen của tỉ dụ, còn quan điểm thứ hai xác định nghĩa bóng của ẩn dụ nhờ nghĩa đen
19




của tỉ dụ. Như vậy, theo quan điểm này thì ẩn dụ : “Hắn là một con cáo” không
phải để khẳng định rằng hắn là cáo, mà phần lớn muốn khẳng định rằng hắn giống
như một con cáo. Thứ hai, các quan điểm này lấy biểu vật của các biểu thức ngôn
ngữ, đó là các đối tượng mà chúng biểu thị, làm yếu tố quyết định trong việc giải
nghĩa một ẩn dụ. Bà vợ ông ấy là sư tử cái được hiểu theo cách Bà vợ ông ấy và
con sư tử có chung một tính chất như sự hung tợn. Thứ ba, ẩn dụ có kiểu nghĩa đôi:
nghĩa đen có vai trò cơ bản, còn nghĩa bóng phái sinh từ đó. Các nhà nghiên cứu
theo quan điểm sở chỉ coi ẩn dụ có tính chất phái sinh ở chỗ nó là một chức năng
của việc giải thích theo nghĩa đen.
Từ đây chúng ta có thể chỉ ra một số vấn đề mà quan điểm sở chỉ chưa thể trả
lời được. Thứ nhất, khái niệm so sánh hoặc tương đồng không thể đem ra giải thích
nghĩa bóng của ẩn dụ vì các phép so sánh cũng mang nghĩa bóng giống hệt như ẩn
dụ vậy. Chẳng hạn, chúng ta không thể giải thích các câu như Gia đ ình chú rể
giống như mỏ vàng đơn thuần chỉ bằng việc tìm ra một đặc tính chung giữa gia đình
chú rể và mỏ vàng. Có vẻ như là tính tương đồng không thể luôn luôn đóng vai trò
của một khái niệm dùng để giải thích, trái lại bản thân nó cũng cần được phân tích
sâu hơn. Như vậy câu hỏi đặt ra là việc qui ẩn dụ về tính tương đồng không thôi liệu
sẽ có giá trị lý thuyết vững chắc trong việc giải thuyết ẩn dụ hay không.
Vấn đề thứ hai là trong các ẩn dụ, chúng ta phải suy ra nhiều thứ hơn chứ
không chỉ khôi phục lại các đơn vị từ chỉ so sánh trước đó đã bị lược bỏ đi. Quan
điểm sở chỉ giải thích ẩn dụ A là B bằng cách cho rằng ta có thể dễ dàng chuyển đổi
thành A giống như B, trong khi trên thực tế có nhiều ẩn dụ như
Mấy hôm nay bọn sinh viên Văn K29 cày gớm nhỉ.
thì việc đưa thêm từ “giống như” có vẻ như không đủ để tìm ra cái gì đang được so
sánh với cái gì. Hơn nữa, việc đi tìm một sự tương đương ngữ nghĩa giữa ẩn dụ và
so sánh không phải là chuyện đơn giản. Trước nhất, Bà vợ ông ấy là sư tử cái và
Bà vợ ông ấy giống như sư tử cái mặc nhiên khác nhau về điều kiện chân ngụy:
trong những hoàn cảnh như nhau, Bà vợ ông ấy là một con người có chung đặc tính
hung ác với sư tử, thì ẩn dụ sẽ sai về nghĩa đen còn tỉ dụ sẽ đúng. Vì vậy, ẩn dụ và tỉ
20




dụ dường như không có chung một hiệu lực khẳng định. Vấn đề thứ ba là việc ẩn dụ
có thể xuất hiện trong các đơn vị từ có ngoại diên rỗng, chẳng hạn như trong biểu
thức "Việt Nam đang trở thành một con rồng nhỏ châu Á" chúng ta dễ dàng thấy
rằng ngoại diên của biểu thức con rồng nhỏ không tồn tại, vì vậy khó có thể xem
các biểu vật cùng các đặc tính của chúng có thể quyết định việc giải thích ý nghĩa
của ẩn dụ. Nhà nghiên cứu theo quan điểm sở chỉ có hai lối ra: hoặc là tìm ra những
nét nghĩa nội hàm bao quát hơn, qua đó các đặc tính của một vật thể ở một thế giới
nào đó có thể giải thích ý nghĩa của ẩn dụ trong thế giới thực, hoặc nhà nghiên cứu
có thể cho rằng không phải các vật thể cùng các đặc tính của chúng, mà chính là các
trình hiện và các đặc tính liên quan mới tham gia và quá trình đánh giá các yếu tố
tương đồng. Nhưng trong trường hợp thứ nhất thì đó chính là ý nghĩa hay nội hàm,
còn trong trường hợp thứ hai thì chính là ý niệm hay trình hiện, chứ không phải biểu
vật hay ngoại diên, đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích. Như vậy, lựa chọn
thứ nhất đưa quan điểm sở chỉ đến gần quan điểm miêu tả, còn lựa chọn thứ hai thì
đưa nó đến gần quan điểm ý niệm mà chúng tôi sẽ trình bày ở phần sau.
1.1.1.2. Ẩn dụ theo quan điểm miêu tả
Đặc điểm quan trọng đầu tiên giúp phân biệt quan điểm miêu tả với quan
điểm sở chỉ là quan điểm miêu tả nhấn mạnh rằng yếu tố quyết định việc giải thích
ẩn dụ không phải là cái biểu vật hay ngoại diên của biểu thức ẩn dụ, mà chính là
một bình diện nghĩa của ẩn dụ, ý nghĩa hay nội hàm của nó, hay khái quát hơn chính
là các thông tin miêu tả gắn liền với nó [71]. Tác giả Nguyễn Thế Truyền [20] có
một hướng đi tương tự trong nghiên cứu về ẩn dụ. Ông tìm hiểu nghĩa ẩn dụ khẩu
ngữ để làm rõ thêm đặc điểm phong cách học của ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày và
tìm ra những nhân tố chi phối đặc điểm phong cách học của ẩn dụ với tư cách là
phép chuyển nghĩa từ vựng. Hoàng Kim Ngọc [12] nghiên cứu ẩn dụ cũng theo xu
hướng này, tuy ít nhiều vẫn gắn bó với quan điểm sở chỉ. Theo quan điểm miêu tả,
việc giải thích ẩn dụ không liên quan nhiều đến các đặc tính thực tế gán cho các vật
thể được đề cập đến bằng các đặc tính gắn cho bản thân đơn vị từ. Đại diện cho
những quan điểm như vậy là lý thuyết tương tác của Black [23]. Thuật ngữ “tương
21




tác” được Black [23] giải thích là sự kích thích người nghe chọn lựa một vài đặc
tính của chủ thể bậc hai, do có sự hiện diện của chủ thể chính, khuyến khích người
nghe tạo dựng một phức hợp hàm ý song song phù hợp với chủ thể chính, và tương
tác qua lại tạo ra những thay đổi trong chủ thể bậc hai.
Thứ hai, theo quan điểm miêu tả, ẩn dụ bao gồm một sự thay đổi nghĩa, và
không chỉ xảy ra trong sở chỉ, của ít nhất một biểu thức. Trong ẩn dụ, Mới sáng mà
mụ ấy đ ã sủa ong ỏng, thì nghĩa đen của sủa không thể đem ra giải thuyết cho ẩn
dụ, bởi vì điều này chỉ dẫn đến một phát ngôn sai theo nghĩa đen. Thay vào đó,
người ta cho rằng từ sủa mà Black [23] gọi là tiêu điểm đã tạo thêm một ý nghĩa
mới hay ý nghĩa ẩn dụ trong phạm vi ngữ cảnh cụ thể của nó. Các nhà miêu tả học
vì thế cho rằng việc giải thuyết ẩn dụ xảy ra tại một tầng bậc nghĩa khác với tầng
bậc của các nhà nghiên cứu theo quan điểm sở chỉ. Đối với họ, chính tầng bậc ý
nghĩa chứ không phải tầng ngoại diên mới đóng vai trò chính trong việc giải thuyết.
Đặc điểm thứ ba của các quan điểm miêu tả và sau này của các quan điểm ý
niệm, đó là việc không còn nhấn mạnh đến tinh tương đồng với vai trò là một khái
niệm giải thích; trên thực tế, chính tính khác biệt mới được coi là cơ sở quan trọng
để giải thuyết ẩn dụ. Chính tính dị biệt ấy trong cấu trúc ngôn ngữ của kết cấu chủ
vị đã dẫn đến một nội hàm mới hay ý nghĩa ẩn dụ. Theo nghĩa đen, thì con người
không thể sủa được, và điều này đem đến cho người nghe một dấu hiệu là một nét
nghĩa phi thực của từ sủa sẽ được phân tích trong ẩn dụ Mới sáng mà mụ ấy đ ã sủa
ong ỏng . Việc giải thuyết sẽ bao gồm việc chuyển di một số thành tố nghĩa từ biểu
thức ẩn dụ sủa sang biểu thức ngữ cảnh thực ngư ời. Các nhà nghiên cứu theo quan
điểm miêu tả vì thế xem việc giải thuyết ẩn dụ dưới danh nghĩa quá trình chuyển di
nghĩa, và coi việc nhận diện ẩn dụ là sự xung đột ngữ nghĩa ở tầng bậc nghĩa đen.
Mặc dù quan điểm miêu tả có nhiều điểm vượt trội hơn so với quan điểm sở
chỉ ở nửa sau thế kỷ 20, thế nhưng quan điểm miêu tả vẫn phải đối diện với những
khó khăn riêng của nó. Thứ nhất, sự bất đồng lôgic, một sai lệâch phạm trù, hay sự
bất thường ngữ nghĩa không thể là điều kiện cần cũng như điều kiện đủ để một câu
hay một phát ngôn trở thành ẩn dụ. Không phải tất cả ẩn dụ đều sai lệch hoặc vô lý,
22




và ngược lại, không phải tất cả các phát ngôn sai lệch đều được thuyết giải theo
hướng ẩn dụï. Mặt khác, nhiều ẩn dụ không thể hiện một cách rõ ràng một sự xung
đột về ngữ nghĩa. Những ví dụ sau đây có thể chứng minh cho điều này:
1. Cuộc sống không phải là hoa hồng.
2. Đà lạt là một thành phố lạnh lẽo.
Ở trong phát ngôn (1), ta thấy xuất hiện yếu tố phủ định không phải, chính yếu
tố này làm cho phát ngôn (1) không có sự xung đột nào về nghĩa đen. Phát ngôn (2)
thì có thể đúng theo nghĩa đen và cũng có thể đúng theo nghĩa ẩn dụ.
Tóm lại, các quan điểm miêu tả dường như quá nhấn mạnh đến tính chất dị
biệt của các nét nghĩa đen và đem chúng ra làm tiêu chuẩn để nhận diện ẩn dụ. Các
quan điểm này đề ra việc phân tích ẩn dụ theo 2 bước: khi nhận diện được tính dị
biệt của nghĩa đen, người nghe sẽ xây dựng ý nghĩa ẩn dụ; việc phân tích này cho
thấy nét nghĩa đen được đặt lên trước các yếu tố ngữ cảnh. Tuy nhiên, việc không
phải tất cả mọi ẩn dụ đều sai lệch về ngữ nghĩa cho thấy rằng không phải kiểu câu,
mà là câu trong ngữ cảnh hay phát ngôn mới có được giải thuyết theo lối ẩn dụ.
1.1.2. Các hướng tiếp cận theo quan điểm dụng học
Những nhà nghiên cứu theo quan điểm dụng học cho rằng một phát ngôn ẩn
dụ chưa thể dẫn đến một sự thay đổi về nghĩa của các từ liên quan [104]. Thay vào
đó, họ thích giữ lại các qui tắc ngữ nghĩa một cách đơn giản có cấu tạo ổn định, và
họ qui ẩn dụ về một cơ chế giải thuyết khác. Theo quan điểm dụng học, người nghe
sẽ thuyết giải phát ngôn của người nói theo nghĩa đen (người nghe sẽ hiểu là người
nói có ý định giao tiếp những gì người nói nói), trừ phi việc thuyết giải theo nghĩa
đen nghe khác lạ đến nỗi cần phải viện đến một sự giải thuyết lại theo lối dụng học.
Một ví dụ đơn giản như, khi một người nói Nàng là một đoá hoa đ ồng nội, người đó
nói ra một điều sai theo nghĩa đen, nhưng lại ngụ ý, hay có ý định giao tiếp một điều
gì đó có thể đúng, chẳng hạn như việc cô gái có nét đẹp đơn sơ, gần gũi.
Sự phát triển của lý thuyết dụng học như một lý thuyết chung về sử dụng
ngôn ngữ từ những năm 1960 trở về sau, đặc biệt thể hiện trong các công trình của
Searle [104] và Grice [62], đã mở ra một khả năng hình thành một quan điểm dụng
23




học như thế. Cả hai tác giả đều lấy phát ngôn (các hành động ngôn từ, phát ra trong
một tình huống cụ thể do một người nói cụ thể và với các ý định giao tiếp cụ thể),
chứ không phải là các câu hay mệnh đề, làm điểm xuất phát để phân tích. Cả hai
đều coi ngữ dụng học, trong thế đối lập với ngữ nghĩa học, là bao gồm cả người nói,
hay chính xác hơn là ý định của người nói, làm một tham số lý thuyết. Và chính
việc nhờ đến ý định của người nói đã phân biệt được các khái niệm dụng học như
‘hàm ngôn’ và ‘nghĩa của người nói’ với các khái niệm nghĩa học như ‘nghĩa của
câu’ và ‘nghĩa kéo theo’.
Nếu phân tích phát ngôn ẩn dụ dựa trên lý thuyết của Grice về hàm ngôn hội
thoại [sđd], chúng ta có thể giả định rằng người nói trong phần lớn các trường hợp
sẽ ứng xử duy lý và hợp tác, tức là chọn theo Nguyên tắc hợp tác, nên khi xảy ra
trường hợp người nói phát ngôn một câu không đúng sự thật, hoặc không liên quan
hay không phù hợp, thì người nghe sẽ suy ra rằng người nói muốn thông báo một
điều gì đó khác với điều anh ta nói. Trong trường hợp đó sẽ xuất hiện hàm ngôn hội
thoại. Như vậy, nếu tiếp cận ẩn dụ từ góc độ dụng học, thì ẩn dụ liên quan đến
nghĩa phát ngôn của người nói chứ không phải là nghĩa của từ hay câu. Grice xem
ẩn dụ như một hàm ngôn hội thoại xuất phát từ việc vi phạm phương châm Chất
lượng, chẳng hạn như trong phát ngôn You are the cream in my coffee [sđd: 34],
Grice cho rằng đã có hiện tượng sai lệch phạm trù ở đây và chính sự sai lệch này đã
giúp nhận diện ẩn dụ. Ở trong hai phát ngôn sau cũng đã có hiện tượng vi phạm
phương châm Số lượng và phương châm Cách thức, và vì thế chúng cũng chứa
đựng ẩn dụ:
1. Cuộc sống không phải là hoa hồng.
2. Đà lạt là một thành phố lạnh lẽo.
Tuy nhiên, phương thức nhận diện ẩn dụ của Grice thông qua hàm ngôn hội
thoại vẫn chưa đủ sức thuyết phục. Việc gọi ẩn dụ là hiện tượng vi phạm phương
châm Chất lượng chưa thể là điều kiện cần và đủ để nhận diện một ẩn dụ. Nó chưa
thể là điều kiện cần bởi vì có nhiều phát ngôn vi phạm phương châm hội thoại vẫn
không chứa các ẩn dụ. Nó cũng chưa thể là điều kiện đủ bởi vì nó không giúp phân
24




biệt được ẩn dụ với các hiện tượng tu từ khác chẳng hạn như biếm dụ. Các điểm yếu
trong quan điểm của Grice về ẩn dụ đã phần nào được khắc phục trong các công
trình của những nhà nghiên cứu dụng học đi sau ông.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng ngữ nghĩa học không thể giải thích hiện
tượng ẩn dụ một cách trọn vẹn bởi vì chúng ta không cần xem xét các từ có nghĩa gì
khi chúng tách rời khỏi ngữ cảnh, mà chỉ xem xét người nói muốn nói gì trên
phương diện dụng học khi họ dùng từ trong ngữ cảnh. Searle [104] cho rằng tốt nhất
là xem ẩn dụ với tư cách là nghĩa của phát ngôn (phân biệt với nghĩa của từ hoặc
nghĩa của câu) và giải thích nó một cách rõ ràng nhất là nhờ vào lý thuyết dụng học.
Những quan điểm này dựa trên việc nhận diện ẩn dụ do chúng vi phạm phương
châm Chất lượng của Grice.
Một trong những điểm hạn chế của việc phân tích ẩn dụ nếu tách quan điểm
tri nhận khỏi quan điểm dụng học là việc giải thích động lực/lý do xuất hiện ẩn dụ
chỉ là kinh nghiệm bên trong. Điều này có nghĩa là việc sử dụng ẩn dụ chỉ là phản
xạ vô thức, trong khi quan điểm dụng học cho rằng người nói sử dụng ẩn dụ nhằm
mục đích thuyết phục và anh ta dựa trên những tài nguyên (resources) sẵn có về
ngôn ngữ và tri nhận, kết nối chúng lại và sử dụng theo ý mình. Như vậy, chúng tôi
nghiêng về ủng hộ quan điểm của Charteris-Black [38] khi ông cho rằng mục đích
thuyết phục có ý thức cần phải được tích hợp trong một quan điểm tri nhận rộng lớn
hơn.
Chúng ta thấy tầm quan trọng của ẩn dụ về phương diện nghĩa biểu cảm, và
chúng ta không nên quên vai trò quan trọng của ẩn dụ trong việc giúp chúng ta hình
thành các quan điểm của mình- ẩn dụ chính là một hành động diễn ngôn mang tính
chất thuyết phục-thuyết phục vì nó mời gọi một sự cảm nhận chung vượt quá cái
cảm nhận có trong hệ thống ngữ nghĩa. Chính vì thế việc phân tích ẩn dụ có thể góp
phần làm sáng tỏ hệ thống niềm tin, thái độ hay tình cảm của một cộng đồng ngôn
ngữ nơi ẩn dụ xuất hiện.
1.2. ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG NGỮ NGHĨA HỌC TRI NHẬN
25




Một quan điểm khác có thể giải thích ẩn dụ một cách thuyết phục hơn: quan
điểm cho rằng ẩn dụ không thể liên quan đến ngôn ngữ nhiều bằng liên quan đến tư
duy: đó là quan điểm của các nhà ngôn ngữ học tri nhận hay cụ thể hơn, của các nhà
ngữ nghĩa học tri nhận mà đại diện là Lakoff và Johnson. Cả hai ông phản đối cái
gọi là ngữ nghĩa học khách quan vì đó là lý thuyết chỉ nghiên cứu nghĩa thông qua
các khái niệm như điều kiện chân ngụy và qui chiếu. Hai ông cho rằng các quan
điểm này không thể giải thích một cách thoả đáng các biểu thức ẩn dụ ngôn từ rất
phổ biến trong đời sống hàng ngày của người Anh bản ngữ như I attacked his
argument ( nguyên văn: tôi tấn công lập luận của ông ấy), I’m feeling down (
nguyên văn: tôi cảm thấy xuống), you’re wasting my time (nguyên văn: Cậu đang
làm lãng phí thời gian của tôi). Thậm chí chúng ta cũng không cảm nhận được
chúng là những ẩn dụ, vì chúng là những tấm gương phản chiếu cách thức chúng ta
ý niệm hoá thế giới xung quanh. Chúng là những thể hiện ngôn ngữ của các ý niệm
ẩn dụ. Các ý niệm này được Johnson và Lakoff [83] qui ước đặt trong các biểu thức
viết bằng chữ cái in hoa như ARGUMENT IS WAR (TRANH LUẬN LÀ CHIẾN
TRANH), HAPPINESS IS UP (HẠNH PHÚC LÀ LÊN), SADNESS IS DOWN
(BUỒN RẦU LÀ XUỐNG), TIME IS MONEY (THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC).
Theo quan điểm này thì ẩn dụ ý niệm không phải là các biểu thức ngôn ngữ cụ thể,
mà là các cấu trúc ý niệm tồn tại một cách vô thức trong trí não của người nói. Các
cấu trúc này là các bộ phận không thể thu nhỏ hơn được nữa của cách thức mà
chúng ta ý niệm hoá thế giới thực tại, vì thế chúng ta không nên nhìn nhận các thể
hiện ngôn từ của chúng là mang tính lệch chuẩn hay phi ngữ pháp. Ngược lại, các
đường hướng khách quan lại xác định nghĩa như quan hệ giữa ký hiệu ngôn ngữ và
thế giới thực tại khách quan, và vì thế không xem xét đến việc hiểu và ý niệm hoá
thế giới khách quan của con người.
Ngữ nghĩa học tri nhận có vai trò quan trọng ở chỗ nó qui ẩn dụ ngôn từ về
các quá trình ý niệm. Nó tập trung vào nghiên cứu các ẩn dụ ‘chết’ hay ẩn dụ thông
thường cũng như vai trò của chúng trong việc ý niệm hoá của con người, và nó cũng
cho rằng nhiều cấu trúc ngữ nghĩa là có nguyên do chứ không phải là võ đoán.
26




1.2.1. Nền tảng cơ sở của lý thuyết ẩn dụ ý niệm
Quan điểm cho rằng ẩn dụ là một công cụ tri nhận rõ ràng rất khác so với
quan điểm truyền thống. Theo truyền thống thì ngôn ngữ được xem như một hệ
thống tự trị ở đó các đơn vị từ có các nét nghĩa được xác định rõ ràng, các nét nghĩa
được coi như các thuộc tính sẵn có của từ, và không cần phải tiếp cận nghĩa ngoài
ngôn ngữ hoặc nghĩa bách khoa ngoại trừ những trường hợp đặc biệt như ẩn dụ.
Ngôn ngữ mang tính ẩn dụ vì thế thường được xem như một sự lệch chuẩn khỏi
cách sử dụng ngôn ngữ bình thường hàng ngày. Điều này có nghĩa là để hiểu được
ẩn dụ thì phải thông qua các quá trình đặc biệt. Việc thuyết giải ẩn dụ phải được
thực hiện thông qua ngôn ngữ sử dụng nghĩa đen, và vì thế theo quan niệm truyền
thống thì ngôn ngữ sử dụng nghĩa đen có vai trò lớn hơn so với ngôn ngữ mang tính
ẩn dụ.
Lakoff và Johnson [83],[84] lại nhìn nhận và nghiên cứu ẩn dụ thông qua các
lĩnh vực kinh nghiệm. Họ cho rằng ẩn dụ là hiện tượng tri nhận hơn là một hiện
tượng ngôn ngữ, và những biểu thức ẩn dụ ta bắt gặp trong ngôn ngữ chính là cái
phản ánh các ẩn dụ tồn tại ở các tầng bậc ý niệm. Để bảo vệ luận điểm này, Lakoff
và Johnson đã phân tích một số lượng lớn từ và cụm từ trong tiếng Anh để chứng
minh tính hệ thống của các ý niệm ẩn dụ. Họ cho thấy rằng trong tiếng Anh, lĩnh
vực ý niệm ARGUMENT (TRANH LUẬN) được cấu trúc dựa theo lĩnh vực WAR
(CHIẾN TRANH) thể hiện qua ngôn ngữ như sau:
Your claims are indefensible.(nguyên văn: Quan điểm của cậu không thể bảo vệ
được)
He attacked every weak point in my argument. (nguyên văn: Hắn tấn công mọi điểm
yếu trong lập luận của tôi)
His criticisms were right on target. (nguyên văn: Những lời ông ta phê bình trúng
phóc ngay đích)
I demolished his argument. (nguyên văn: Tôi đ ập tan lập luận của hắn)
If you use that strategy, he’ll wipe you out. (nguyên văn: Nếu cậu dùng chiến lư ợc
đó, hắn sẽ quét sạch cậu ngay) [83: 4]
27




Trong các ví dụ trên, CHIẾN TRANH được hiểu là lĩnh vực nguồn, nó được
đồ hoạ sang lĩnh vực đích TRANH LUẬN. Quá trình đồ họa ý niệm là hệ thống các
yếu tố tương ứng trong hai lĩnh vực, trong đó lĩnh vực nguồn là ý niệm cụ thể hơn,
còn lĩnh vực đích thì trừu tượng hơn. Trong trường hợp này, thì việc đồ họa kiến
thức từ lĩnh vực CHIẾN TRANH sang lĩnh vực tranh luận đã cho phép chúng ta có
thể suy luận về một lĩnh vực thông qua lĩnh vực kia [82].
Ẩn dụ ý niệm TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH trong tiếng Anh không phải là
một ví dụ duy nhất, vì trên thực tế, theo Lakoff và Johnson, hệ thống ý niệm của
con người về bản chất thì mang tính ẩn dụ, nó không chỉ ảnh hưởng đến ngôn ngữ
mà chúng ta dùng, mà còn đến các hoạt động hàng ngày cũng như trong quan hệ
tương tác với mọi người xung quanh.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng các nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học tri
nhận như Lakoff và Johnson [83] dường như lại quá nhấn mạnh đến mặt tri nhận
của ẩn dụ mà dường như coi nhẹ đặc trưng ngôn ngữ của chúng, trong đó có các
yếu tố liên quan đến việc hình thành các ẩn dụ phi thường qui hay ẩn dụ mới, chẳng
hạn như kinh nghiệm và năng lực ngôn ngữ của người sử dụng ẩn dụ. Trong luận án
này chúng tôi chọn quan điểm trung hòa hơn, vừa nhấn mạnh đến đặc trưng tri nhận
của ẩn dụ nhưng cũng không thể xem nhẹ các đặc trưng ngôn ngữ của chúng.
Khi xem xét kỹ các ẩn dụ ý niệm, chúng ta nhận thấy một điều là các ẩn dụ
đôi khi được tổ chức theo tầng bậc, có các ẩn dụ bậc cao và ẩn dụ bậc thấp, hay nói
cách khác là ẩn dụ bậc phổ quát và ẩn dụ bậc cụ thể. Ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ MỘT
HÀNH TRÌNH là ẩn dụ bậc cụ thể, giống như ẩn dụ NGHỀ NGHIỆP LÀ MỘT
HÀNH TRÌNH. Các ẩn dụ này thừa hưởng cấu trúc của ẩn dụ tầng giữa CUỘC
SỐNG CÓ MỤC ĐÍCH LÀ MỘT HÀNH TRÌNH. Ẩn dụ có tầng bậc phổ quát nhất
hay cao nhất là các ẩn dụ cấu trúc sự tình. Theo Lakoff [82], liên quan đến các tầng
bậc này là các yếu tố văn hoá: ẩn dụ ở tầng bậc càng thấp thì càng được sử dụng
giới hạn trong một môi trường văn hoá cụ thể.
Một đặc điểm nữa là việc đồ hoạ giữa hai lĩnh vực chỉ mang tính bán phần và
làm nổi bật một số bình diện nào đó của lĩnh vực đích. Chẳng hạn như trong ẩn dụ
28




LÝ THUYẾT LÀ CÁC TOÀ NHÀ, Lakoff và Johnson [83] cho thấy rằng người ta
chỉ sử dụng nền móng và cấu trúc mặt ngoài của ý niệm lĩnh vực nguồn nhằm cấu
trúc hoá ý niệm đích, trong khi lại không sử dụng các bộ phận khác của ý niệm
nguồn như phòng hay hành lang. Tính bán phần này là điều tự nhiên, vì nếu việc đồ
họa mang tính toàn phần, thì hai ý niệm sẽ hoà thành một và sẽ giống hệt nhau.
Theo quan điểm truyền thống về ẩn dụ, việc dùng đối tượng A để nói về đối
tượng B xảy ra khi trước đó trên thực tế tồn tại một sự tương đồng giữa A vàB, và
chính sự tương đồng có sẵn này có thể hạn chế số lượng các ẩn dụ, hoặc chỉ dùng
loại ẩn dụ này mà không dùng ẩn dụ kia khi miêu tả thế giới xung quanh [74], [75].
Tuy nhiên, chúng ta có thể dẫn ra nhiều trường hợp trong đó không thể dùng sự
tương đồng có sẵn giữa hai đối tượng để giải thích cách dùng một ẩn dụ, chẳng hạn
giữa ‘nuốt thức ăn’ và “nuốt một quan điểm” dường như không tồn tại một sự
tương đồng có từ trước cả. Vì lý do này mà ngữ nghĩa học tri nhận đặt ra nhiệm vụ
phải giải thích việc chọn lựa các ý niệm ẩn dụ cũng như các biểu thức ẩn dụ ngôn từ
tương ứng khi không có sự hiện diện sẵn các nét tương đồng giữa hai đối tượng.
Quan điểm ngữ nghĩa học tri nhận cho rằng, bên cạnh những sự tương đồng tồn
tại sẵn có giữa hai đối tượng, ẩn dụ ý niệm còn dựa trên các kinh nghiệm khác nhau,
trong đó bao gồm các quan hệ tương liên, nhiều tính chất tương đồng chủ quan, hay
nhiều yếu tố văn hóa hay sinh học giữa hai đối tượng. Các yếu tố này sẽ tạo động
lực cho việc chọn lựa các ý niệm nguồn khác nhau cho cùng một ý niệm đích.
Lakoff & Johnson [83] vì thế gọi các yếu tố này là cơ sở kinh nghiệm hay động lực
của ẩn dụ. Cơ sở thứ nhất là các quan hệ kinh nghiệm tương liên. Các quan hệ nà y
không phải là các thuộc tính tương đồng. Nếu sự tình 1 đi cùng với sự tình 2, chúng
sẽ là các sự tình có mối quan hệ kinh nghiệm tương liên. Nếu sự tình thêm chất lỏng
vào vật chứa đi cùng với sự tình mức chất lỏng tăng thì chúng ta không coi hai sự
tình này là tương đồng mà là tương liên. Chính quan hệ tương liên này có thể dùng
để giải thuyết cho ẩn dụ ý niệm NHIỀU HƠN LÀ HƯ ỚNG LÊN. Ẩn dụ này vận
hành xung quanh hai ý niệm: số lượng và trục thẳng đứng. Kinh nghiệm hàng ngà y
của con người cho thấy có mối quan hệ tương liên giữa số lượng và trục thẳng
29




đứng. Khi gia tăng về số lượng thì trục thẳng đứng cũng sẽ nâng cao và ngược lại.
Kết quả là chúng ta không những có ẩn dụ NHIỀU HƠN LÀ HƯ ỚNG LÊN mà
còn có ÍT HƠN LÀ HƯ ỚNG XUỐNG. Các biểu thức ẩn dụ ngôn từ tương đương
là giá cả lên cao, tỉ lệ thất nghiệp cao, vặn đài nhỏ xuống.
Bên cạnh các quan hệ kinh nghiệm tương liên tạo cơ sở hình thành ẩn dụ, còn
có các quan hệ tương đồng tạo cơ sở cho các ẩn dụ khác. Đây là các quan hệ tương
đồng chủ quan hay tương đồng qua tri giác. Xét ẩn dụ ý niệm CUỘC ĐỜI LÀ CỜ
BẠC trong tiếng Anh [74:72]:
I’take my chance.
The odds are against me.
It’s a toss-up.
If you play your cards right, you can do it.
Where is he when the chips are down?
Các biểu thức trên miêu tả cuộc đời như một ván bạc. Chúng ta cảm nhận
một số nét tương đồng nào đó giữa hai lĩnh vực, nhưng giữa chúng không tồn tại
những sự tương đồng khách quan và có từ trước. Những nét giống nhau giữa chúng
chỉ có được nhờ quá trình cảm nhận một cách ẩn dụ. Hành động của con người
trong cuộc đời là các ván bạc và hệ quả của chúng là việc thắng hay thua. Ơû đây
chúng ta thấy có nét tương đồng giữa hai quan hệ: a. quan hệ giữa hành động và hệ
quả của hành động và b. quan hệ giữa ván bạc với việc thắng hay thua. Nói cách
khác, có sự tương đồng giữa cấu trúc của lĩnh vực này với cấu trúc của lĩnh vực kia,
ta gọi đây là sự tương đồng cấu trúc qua cảm nhận. Những nét tương đồng như vậy
là một nguồn động lực quan trọng trong việc tạo ra các ẩn dụ ý niệm. Theo Lakoff
&Johnson, một kết luận thú vị có thể rút ra ở đây là việc ẩn dụ không phải dựa trên
những nét tương đồng mà là tạo ra tương đồng.
Bàn về nguồn gốc của các ý niệm nguồn, Kovecses đồng ý rằng nền tảng kinh
nghiệm làm điểm xuất phát cho ẩn dụ ý niệm mang yếu tố sinh học nhưng bên cạnh
đó cũng mang nhiều yếu tố văn hóa. Ôâng đưa ra nhiều ví dụ về các môn thể thao
điển dạng trong văn hóa Mỹ như bóng đá, bóng bầu dục, bóng chày, vật, quyền anh.
30




Với tư cách là các ý niệm đích thì chúng đếu có chung một ý niệm nguồn là chiến
tranh. Ông cho rằng các môn thể thao này đều phát triển từ chiến tranh và đánh
nhau [74:75].
Theo Charteris-Black [38], một quan điểm chính của ngữ nghĩa học tri nhận là
ngôn ngữ hình tượng có thể tạo ra các mối quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ và các
quan hệ như vậy không thể đem ra giải thích được nếu chỉ dựa vào cú pháp, ngữ
pháp hay từ vựng. Croft [45:336] cho rằng: “Một trong những quan điểm chính của
ngữ nghĩa học tri nhận là việc nghĩa của từ mang tính bách khoa: tất cả những gì
bạn biết về khái niệm đó là một phần nghĩa của nó.” Quan điểm này đối lập với
quan điểm cho rằng ngôn ngữ tồn tại một cách độc lập với ngữ cảnh mà nó được
được sử dụng. Croft cũng cho rằng: “Từ điều này mà ta thấy rằng không có sự khác
biệt lớn nào giữa biểu hiện nghĩa học (ngôn ngữ) và biểu hiện tri thức (tổng quát);
việc nghiên cứu nghĩa học ngôn ngữ là việc nghiên cứu kinh nghiệm chung của con
ngư ời.” Trong luận án này chúng tôi cũng đồng ý rằng cần phải tích hợp việc
nghiên cứu trong ngữ nghĩa học tri nhận với dụng học. Điều này có thể thực hiện
được bằng cách nghiên cứu những ngữ cảnh xuất hiện của ẩn dụ.
Đối với ngữ nghĩa học tri nhận, đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển
nghĩa là việc đồ họa từ lĩnh vực nguồn sang lĩnh vực đích. Cái cấu trúc của lĩnh vực
nguồn được đồ họa sang cấu trúc của lĩnh vực đích mang tính trừu tượng. Lakoff
[82] đặt tên cho việc đồ họa này là “LĨNH VỰC ĐÍCH LÀ LĨNH VỰC NGUỒN”.
Điểm mấu chốt nhất trong quan điểm của Lakoff về ẩn dụ là Nguyên tắc Bất
biến: ‘Sự đồ họa ẩn dụ giữ lại cấu trúc tri nhận (đây là cấu trúc lược đồ hình ảnh)
của lĩnh vực nguồn, theo cách thức giống với cấu trúc bên trong của lĩnh vực đích
[82:199]. Sự đồ họa bao gồm một loạt các quan hệ chứ không chỉ là các đặc điểm
nhằm mục đích cái được chuyển tải là tri thức về một tập hợp các đặc tính, các mối
quan hệ tương liên có trong lĩnh vực nguồn.
Trong quan điểm của ngữ nghĩa học tri nhận thì các lược đồ hình ảnh chính
là nguồn gốc của phép đồ họa ẩn dụ cho các lĩnh vực trừu tượng; bản thân các lược
đồ hình ảnh này lại có nguồn gốc từ sự tương tác của cơ thể với môi trường chung
31




quanh. Như Gibbs [56:45] đã tóm tắt: Lư ợc đ ồ hình ảnh xuất hiện từ các hoạt đ ộng
vận đ ộng cảm giác, khi con ngư ời thao tác đ ồ vật, đ ịnh hư ớng chúng theo không
gian và thời gian, hoặc đ ịnh hư ớng tiêu điểm cảm nhận chúng theo những mục đích
khác nhau. Chúng ta có thể xem các lược đồ hình ảnh như một tập hợp các ý niệm
nguyên sơ ở tầng sâu bởi vì chúng được sử dụng để cấu trúc nên các ý niệm phức
tạp hơn. Đầu vào cho cái khả năng ý niệm này bao gồm các lược đồ về vật chứa (ví
dụ trong và ngoài), định hướng không gian (trước –sau; trên-xuống; trung tâm-
ngoại vi) và chuyển động (gốc-đường đi-đích đến) [80]. Cùng với các lĩnh vực ở
cấp độ cơ bản, các lược đồ hình ảnh tạo nguyên liệu thô cho sự ý niệm hóa:
Ngay từ ban đ ầu, chúng ta đ ã trải nghiệm việc chứa đ ựng một cách thư ờng
xuyên trong môi trư ờng xung quanh.. Chúng ta ra hay vào phòng, mặc hay cởi quần
áo, bư ớc vào trong hay ra khỏi xe, và rất nhiều các loại không gian có giới hạn.
Chúng ta xử lý đ ồ vật, đ ặt chúng vào các vật chứa (tách, hộp, can, túi vv…). Trong
mỗi trư ờng hợp như vậy đ ều có những tổ chức không gian và thời gian lặp lại. Nói
một cách khác, luôn tồn tại những lư ợc đ ồ điển hình của việc chứa đ ựng [66:21].
Nguyên tắc nền tảng của đường hướng tri nhận – ban đầu do Richard (1936,
trong Ortony [98]) khởi thảo và được Black [23] phát triển tiếp trong quan điểm
tương tác về ẩn dụ – cho rằng các kinh nghiệm cơ bản sẽ quyết định cách thức
chúng ta suy nghĩ về thế giới và điều này sẽ được thể hiện thông qua ngôn ngữ.
Chẳng hạn khi ta nói về việc getting a message across hay là getting through to
someone thì việc lựa chọn ngôn ngữ của chúng ta là bằng chứng cho thấy một ý
niệm là ý nghĩa được chuyển tải trên một quãng đường: vì thế một khái niệm trừu
tượng được cảm nhận như thể nó là một thực thể vật chất. Grady [60:84] dùng thuật
ngữ “ẩn dụ nguyên khởi” khi đề cập đến các ẩn dụ trong đó cả lĩnh vực nguồn và
lĩnh vực đích đều có quan hệ gắn bó trong kinh nghiệm của chúng ta, chẳng hạn
STRONG DESIRE IS HUNGER.
1.2.2. Các khái niệm và luận điểm cơ bản của lý thuyết ẩn dụ ý niệm
1.2.2.1. Định nghĩa ẩn dụ ý niệm
32




Nguồn gốc từ nguyên học của từ ẩn dụ (metaphor) là trong tiếng Hy lạp
meta= với/sau và pherein = mang, vác; khái niệm chính của ẩn dụ là khái niệm về ý
nghĩa được chuyển tải. Aristotle (trong Glucksberg & Keysar [59]) định nghĩa ẩn dụ
là “đem cho một vật một cái tên gọi mới thuộc về một vật khác”. Đây chính là
nguồn gốc để Từ điển Oxford [111] định nghĩa ẩn dụ là “một biện pháp tu từ trong
đó một thuật ngữ miêu tả được chuyển sang một vật thể mà nó được áp dụng một
cách không phù hợp”. Tuy nhiên, định nghĩa này chỉ dựa trên những đặc điểm ngôn
ngữ, chứ không dựa trên những đặc điểm tri nhận, ngữ dụng hay tu từ của ẩn dụ.
Ẩn dụ chỉ có thể được miêu tả là “áp dụng một cách phù hợp” khi người ta
xem nó là một khía cạnh của ngôn ngữ hơn là khía cạnh thuộc tri nhận hay nghĩa
của người nói. Từ điển Oxford không nói tới khả năng người nói có thể sử dụng từ
để chuyển tải ý nghĩa phản ánh ý định và tình cảm của ho; định nghĩa này muốn nói
rằng về một phương diện nào đó thì cái nghĩa đen sẽ tự nhiên hơn hay phù hợp hơn
so với nghĩa ẩn dụ.
Từ các định nghĩa trên nảy sinh một quan niệm rằng ẩn dụ là một khái niệm
mang tính tương đối hơn là mang tính tuyệt đối. Nó mang tính tương đối bởi vì
nghĩa của từ luôn thay đổi theo thời gian vì vậy một nghĩa trước đây có thể mang
tính ẩn dụ thì bây giờ có thể mang nghĩa đen và bởi vì nhận thức về ẩn dụ có thể
phần nào tu ỳ thuộc vào cá nhân người sử dụng nó, tức là tu ỳ thuộc vào kinh nghiệm
ngôn ngữ của họ. Người nói có ý định dùng từ ngữ với mục đích ẩn dụ nhưng người
nghe có thể không hiểu đâù y là ẩn dụ.
Trong luận án này chúng tôi sẽ áp dụng các định nghĩa về ẩn dụ từ nhiều
hướng kết hợp: tri nhận, ngữ dụng học và ngữ nghĩa học.
a. Theo hướng tri nhận: Thuật ngữ ‘ẩn dụ’ mà Lakoff [82] dùng ám chỉ việc ‘đồ
họa’ (tức ám chỉ quá trình) hơn là ám chỉ các biểu thức ngôn ngữ (tức ám chỉ sản
phẩm). Theo ông (sđd: 186), “Chỗ đứng của ẩn dụ không phải trong ngôn ngữ, mà
ở cách thức chúng ta ý niệm hoá một lĩnh vực tinh thần thông qua một lĩnh vực
khác”. Đây chính là cơ sở phân biệt giữa khái niệm ẩn dụ với các biểu thức ẩn dụ
mà ông tóm lược như dưới đây: (sđd: 186)
33




‘ẩn dụ’…có nghĩa ‘là sự đ ồ họa trong hệ thống ý niệm. Thuật ngữ
‘biểu thức ẩn dụ’ đ ề cập đ ến một biểu thức ngôn ngữ (một từ, một cụm từ,
hay một câu) vốn là sự thể hiện bề mặt của sự đ ồ họa xuyên lĩnh vực như
vậy.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng thấy rằng nếu đơn thuần chỉ áp dụng quan điểm của
Lakoff và Johnson [83] và giới hạn ở việc rút gọn các biểu thức ẩn dụ về công thức
A LÀ B, tức chỉ quan tâm đến nội dung ý niệm thôi, chúng ta sẽ có thể bỏ qua vai
trò dụng học quan trọng của các yếu tố hình thức của ẩn dụ trong văn bản.
b. Theo hướng ngữ dụng học: Xét trên phương diện diễn ngôn báo chí, có lẽ cũng
nên nhìn nhận ẩn dụ từ bình diện dụng học, cụ thể là việc đạt được các mục đích
của văn bản như duy trì hứng thú của người đọc, thể hiện dấu ấn tác giả, trình bà y
quan điểm trong việc đánh giá sự kiện, hay thể hiện phong cách hành văn. Do đó
mà định nghĩa dụng học về ẩn dụ, theo (Charteris-Black & Musolff [40:158]) là:
Ẩn dụ là một đ ặc trưng ngôn ngữ thông qua nó mà ngư ời viết muốn đ ạt đư ợc các
mục đích tu từ của mình chẳng hạn như việc thiết lập mối quan hệ với ngư ời đ ọc
hay trình bày quan điểm đánh giá của mình nhờ vào việc chọn lựa từ hoặc cụm từ
đ ể ám chỉ các chủ đ ề quan trọng trong khi các từ và cụm từ này thư ờng đ ề cập đ ến
các chủ đ ề khác.
c. Theo hướng ngữ nghĩa học: Nhiều nhà ngôn ngữ học chú ý đến khía cạnh ngữ
nghĩa của ẩn dụ. Nguyễn Đức Tồn [19:8], khi nghiên cứu bản chất của ẩn dụ đã
trình bày định nghĩa thể hiện khuynh hướng nghĩa học về ẩn dụ như sau:
Ẩn dụ là phép thay thế tên gọi hoặc chuyển đ ịa điểm, thuộc tính của sự vật, hiện
tư ợng này sang sự vật, hiện tư ợng khác loại dựa trên cơ sở sự liên tư ởng đ ồng nhất
hóa chúng theo đ ặc điểm, thuộc tính nào đó cùng có ở chúng.
Từ ba khuynh hướng vừa nêu trên, chúng tôi tổng hợp thành một định nghĩa
về ẩn dụ để phục vụ việc phân tích phương thức ẩn dụ và các đặc điểm của nó trong
luận án như sau:
Ẩn dụ là sự đ ồ họa xuyên lĩnh vực các ý niệm thể hiện bằng một sự chuyển dịch
trong cách sử dụng các đ ặc điểm hoặc thuộc tính của một sự vật, hiện tư ợng sang
34




một sự vật, hiện tư ợng khác loại đ ể ngư ời sử dụng trình bày quan điểm đánh giá
của mình hay thuyết phục ngư ời khác.
Theo chúng tôi, định nghĩa này có ý nghĩa thực tiễn trong việc phân tích ẩn dụ
có mặt trong diễn ngôn kinh tế. Diễn ngôn kinh tế là một lĩnh vực chuyên ngành
mang tính chất trừu tượng, nên rất có khả năng các từ và cụm từ dùng để ám chỉ các
thực thể vật chất hoặc động vật sẽ được sử dụng thường xuyên để nói đến các thực
thể trừu tượng hoặc bất động vật. Điều này đã được nhiều tác giả chứng minh,
chẳng hạn nền kinh tế được ý niệm hóa thông qua các thực thể hữu cơ bằng ẩn dụ ý
niệm NỀN KINH TẾ LÀ MỘT CƠ THỂ SỐNG [39:156]. Đây là một ẩn dụ ý niệm
tầng bậc cao, đến lượt nó lại được dùng để giải thích cho rất nhiều các biểu thức có
mặt trong diến ngôn kinh tế . Lakoff [82:207] gọi đây là hiện tượng các “tầng bậc
kế thừa”: Các đồ họa ý niệm không xảy ra một cách riêng lẻ. Chúng được tổ chức
theo các cấu trúc tầng bậc, có nghĩa là các đồ họa cấp độ thấp được thừa hưởng các
cấu trúc của các đồ họa bậc cao hơn. Trong trường hợp vừa nêu trên, thì ẩn dụ ý
niệm NỀN KINH TẾ LÀ MỘT BỆNH NHÂN chính là ẩn dụ ở tầng thấp của ẩn dụ
NỀN KINH TẾ LÀ MỘT CƠ THỂ SỐNG. Ẩn dụ ý niệm NỀN KINH TẾ LÀ
MỘT BỆNH NHÂN có thể giải thích cho một loạt các biểu thức ngôn ngữ mà các
tác giả bản tin hay bài bình luận kinh tế trong hai ngôn ngữ rất thường sử dụng: nền
kinh tế mạnh khỏe hay nền kinh tế ốm yếu, các biện pháp vực dậy thị trư ờng.
Việc so sánh ẩn dụ trong các ngôn ngữ khác nhau cần gắn liền với việc sử
dụng định nghĩa về ẩn dụ một cách linh hoạt vì các ngôn ngữ có thể khác nhau về
ẩn dụ trên bình diện nghĩa học hay trên bình diện dụng học. Cái được xem là hình
ảnh thường qui trong ngôn ngữ này có thể là một hình ảnh ẩn dụ mới trong ngôn
ngữ kia. Để đạt được tính chính xác trong việc miêu tả các hiện tượng xuyên ngôn
ngữ, cần thiết phải nghiên cứu các loại ẩn dụ có trong các ngôn ngữ.
Việc nhận diện các biểu thức ẩn dụ và sau đó phân loại chúng thành các ẩn dụ ý
niệm không phải không gặp các khó khăn. Một vấn đề có thể tiên đoán trước được
là việc các hệ thống ẩn dụ giao cắt nhau, dẫn đến hiện tượng các ẩn dụ ý niệm khác
35




nhau có thể cùng hoạt động đồng thời. Đây là hiện tượng đa ẩn dụ mà chúng tôi sẽ
phân tích kĩ hơn ở các chương sau.
1.2.2.2. Các đặc tính của ẩn dụ ý niệm
Thứ nhất, nhiều ẩn dụ ý niệm có thể mang tính chất phụ thuộc văn hóa. Mặc
dù Lakoff và Johnson [83] giữ quan điểm nghiêng về tính phổ niệm của ẩn dụ ý
niệm, nhưng hai tác giả trên cũng thừa nhận rằng nghiên cứu của mình chỉ giới hạn
ở các ẩn dụ ý niệm và ẩn dụ ngôn từ trong tiếng Anh và để ngỏ vấn đề so sánh ẩn dụ
ý niệm trên cơ sở văn hóa. Lakoff và Johnson phát hiện người Anh bản ngữ ý niệm
hóa thời gian thông qua tiền bạc, và hai ông cho rằng không nhất thiết hiện tượng
này xảy ra đối với tất cả các nền văn hóa. Deignan và các đồng tác giả [49] cho rằng
ẩn dụ là một đặc trưng có mặt trong tất cả các ngôn ngữ tự nhiên và một số ẩn dụ ý
niệm có thể mang tính chất phổ quát ở nhiều nền văn hóa và ngôn ngữ, thế nhưng
không thể có hai nền ngôn ngữ –văn hóa có chung một hệ thống ẩn dụ ý niệm và ẩn
dụ ngôn ngữ hoàn toàn như nhau. Nhiều công trình nghiên cứu tiếp theo sau
(Charteris-Black & Ennis [39], Charteris-Black & Musolff [40], Chung và các tác
giả khác [41], Deignan & Potter [50], Neumann [95], Schmidt [102], Bratoz [32])
đã so sánh ẩn dụ trong tiếng Anh với ẩn dụ trong các ngôn ngữ khác và dẫn đến kết
luận rằng các yếu tố văn hóa đã có ảnh hưởng lớn đến việc chọn và sử dụng ẩn dụ
của người viết hoặc người nói.
Thứ hai, cấu trúc của ẩn dụ ý niệm mang tính chất bán phần. Quá trình đồ
họa một lĩnh vực nhằm làm sáng tỏ một lĩnh vực khác chỉ xảy ra đối với một số chứ
không phải toàn bộ các đặc tính của lĩnh vực nguồn. Khi chúng ta nói về ý niệm
“lập luận” như một ý niệm trừu tượng thuộc lĩnh vực đích, chúng ta sử dụng ẩn dụ
LẬP LUẬN LÀ MỘT TÒA NHÀ, và như vậy chúng ta có thể suy nghĩ về cấu trúc
của lập luận, các lập luận vững chắc hay yếu ớt, lập luận có thể đ ứng vững hay sụp
đổ, thế nhưng hiếm khi chúng ta nói về cửa sổ hay cầu thang của các lập luận. Từ
đó có thể nói ẩn dụ ý niệm LẬP LUẬN LÀ MỘT TÒA NHÀ có những bộ phận
được sử dụng và có những bộ phận không được sử dụng.
36




Đặc tính thứ ba của ẩn dụ ý niệm là tính đồ họa đa chiều. Một ý niệm đơn lẻ
có thể có nhiều ẩn dụ ý niệm miêu tả nhiều bình diện của nó.
Thứ tư, việc chọn lựa các ý niệm để đồ họa lên các ý niệm khác không xảy ra
một cách ngẫu nhiên mà có thể theo những cách thức cụ thể. Đa số các lĩnh vực ý
niệm nguồn đều cụ thể và các lĩnh vực ý niệm đích đều trừu tượng. Theo Lakoff
[82] thì chúng ta thường ý niệm hóa các đối tượng phi vật chất thông qua các đối
tượng vật chất: chúng ta đồ họa từ một lĩnh vực có thể thấy, cảm giác được, hiểu
được sang một lĩnh vực chúng ta không thấy hoặc không hiểu được dễ dàng bằng.
Đây là quan điểm rất quan trọng của lý thuyết ẩn dụ ý niệm.
Đặc tính thứ năm là khả năng làm nổi bật hoặc che dấu. Theo lý thuyết ẩn dụ
ý niệm, một ý niệm có thể được nhận hiểu bằng cách đồ họa một số bình diện nhất
định của các ý niệm khác lên bản thân nó, và rồi nó được dùng trong ngữ cảnh
giống như các ý niệm của lĩnh vực nguồn. Ẩn dụ TRÍ NÃO LÀ VẬT THỂ DỄ VỠ
nhấn mạnh đến sức mạnh tâm lý của ý niệm “trí não”, còn ẩn dụ TRÍ NÃO LÀ
MỘT BỘ MÁY thì lại làm nổi trội các mức độ hiệu năng của trí não [83]. Chức
năng che dấu một số bình diện của ý niệm thì được hiểu như sau: Trong ẩn dụ ống
dẫn thì nghĩa được xem như vật thể, biểu thức ngôn ngữ được xem như vật chứa,
còn hành động giao tiếp được xem như việc chuyển gửi: Lời ông ấy nói chứa rất ít
nghĩa” [sđd]. Ẩn dụ ý niệm này che dấu một điều là từ và câu muốn có nghĩa phải
phụ thuộc vào ngữ cảnh và phụ thuộc vào người nói nữa. Cũng như vậy, ẩn dụ
CHIẾN TRANH LÀ MÔN THỂ THAO CẠNH TRANH có thể ý niệm hóa chiến
tranh thành một ván cờ, một trận đấu quyền anh nhưng đồng thời nó cũng che dấu
hoặc làm mờ nhạt đi các bình diện khác như chết chóc, thương vong, đại bác.
Đặc tính thứ sáu là tính hệ thống trong cấu trúc ẩn dụ. Cụ thể, trong ẩn dụ
KINH TẾ LÀ PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI, có thể nhận thấy tính hệ thống của cấu
trúc ẩn dụ này được thể hiện qua các đơn vị tương đương về nhận thức và các đơn
vị tương đương bản thể:
Nguồn: CON TÀU Đích: NỀN KINH TẾ
Thuyền trưởng Giám đốc/Lãnh đạo công ty
37




Thuyền viên Nhân viên
Biển Môi trường kinh doanh
Bão, đá ngầm Tình hình kinh doanh khó khăn
Dụng cụ đi biển Biện pháp chỉ đạo
Đích đến Thành công trong kinh doanh
Đặc tính thứ bảy là tính tầng bậc trong cấu trúc ẩn dụ. Các phép đồ họa ẩn dụ
không tồn tại tách biệt với nhau mà đôi lúc chúng được tổ chức theo một cấu trúc
tầng bậc. Trong cấu trúc này thì các ẩn dụ ý niệm ở cấp độ thấp hơn sẽ thừa hưởng
cấu trúc của ẩn dụ có cấp độ cao hơn nó.
Theo Lakoff [82:209], ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ MỘT HÀNH TRÌNH và
NGHỀ NGHIỆP LÀ MỘT HÀNH TRÌNH có thể được gộp lại thành một nhóm nhỏ
và ở trên chúng là ẩn dụ CUỘC SỐNG CÓ MỤC ĐÍCH LÀ MỘT HÀNH TRÌNH.
Đến lượt ẩn dụ này lại là cụ thể hóa của ẩn dụ tầng bậc cao hơn, đó là ẩn dụ cấu trúc
sự tình HÀNH ĐỘNG LÀ CHUYỂN ĐỘNG ĐƯ ỢC ĐỊNH HƯ ỚNG. Cùng cấp
với ẩn dụ này là các đồ họa ý niệm
TRẠNG THÁI LÀ NƠI CHỐN
THAY ĐỔI LÀ CHUYỂN ĐỘNG
NGUYÊN NHÂN LÀ LỰC TÁC ĐỘNG
HÀNH ĐỘNG LÀ CHUYỂN ĐỘNG TỰ ĐẨY
PHƯƠNG TIỆN LÀ ĐƯ ỜNG ĐẾN ĐÍCH
1.2.2.3. Quan hệ qua lại giữa ẩn dụ trong ngôn ngữ và trong tư duy
Chúng ta hãy xem xét những biểu thức ngôn từ thường gặp khi bàn về chủ đề
tình yêu:
Anh đi đư ờng anh, tôi đi đư ờng tôi
Đư ờng ai nấy đi
Các nhà ngữ nghĩa học tri nhận cho rằng tính hệ thống của các biểu thức này
có thể xem là minh chứng cho quan điểm là con người suy nghĩ một cách ẩn dụ
[83]. Có nghĩa là con người ý niệm hoá một cách ẩn dụ các kinh nghiệm về tình yêu
thông qua các tri thức cụ thể mà họ có được về các cuộc hành trình.
38




Tuy nhiên cũng còn tồn tại nhiều hoài nghi về việc liệu ẩn dụ có là một bộ
phận trong quá trình tri nhận của con người chứ không phải chỉ làm đẹp cho ngôn
ngữ. Làm thế nào để biết ở mức độ nào thì ngôn ngữ con người sử dụng phản ánh
cách thức họ tư duy một cách ẩn dụ? Để trả lời câu hỏi này, Gibbs [56] đưa ra bốn
giả thuyết về quan hệ qua lại giữa tư duy ẩn dụ và ngôn ngữ ẩn dụ như sau:
GIẢ THUYẾT 1: Tư duy ẩn dụ có thể có vai trò nào đó trong việc thay đổi các nét
nghĩa của từ qua thời gian, nhưng không thể kích thích việc hiểu và sử dụng ngôn
ngữ của người nói hiện tại.
GIẢ THUYẾT 2: Tư duy ẩn dụ có thể tạo ra các nét nghĩa được sử dụng trong các
cộng đồng ngôn ngữ, hoặc có vai trò nào đó trong hiểu biết về ngôn ngữ của một
người nói/nghe lý tưởng. Nhưng tư duy ẩn dụ không đóng vai trò thật sự nào trong
khả năng nhận thức hay xử lý ngôn ngữ của những người sử dụng.
GIẢ THUYẾT 3: Tư duy ẩn dụ có thể khiến cho các cá nhân sử dụng và hiểu tại
sao các từ và nhóm từ mang ý nghĩa như chúng vốn có, nhưng không đóng vai trò
gì trong việc tức thời tạo ra và hiểu ngôn ngữ hàng ngày của người nói.
GIẢ THUYẾT 4: Tư duy ẩn dụ có thể hành chức một cách tự động trong việc tức
thời sử dụng và hiểu ý nghĩa ngôn ngữ.
Theo Gibbs [sđd], các giả thuyết trên không loại trừ lẫn nhau mà phản ánh
một tầng bậc các khả năng về quan hệ qua lại giữa các kiểu tư duy mang tính ẩn dụ
và các bình diện sử dụng và hiểu ngôn ngữ. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm trong
ngôn ngữ học tri nhận và tâm lý ngôn ngữ học đã chứng minh cho các giả thuyết
này. Chẳng hạn, công trình về vai trò của ẩn dụ trong việc thay đổi nghĩa của
Sweetser [107],[108] đã ủng hộ giả thuyết 1 nói trên.
Một trong những lý do tại sao lại cần phải phân biệt các khả năng có các
mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và tư duy ẩn dụ là bởi vì nhiều nhà nghiên cứu
còn nghiêng về một trong hai thái cực: hoặc họ cho rằng sự tri nhận ẩn dụ không có
vai trò nào trong việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ, hoặc họ có thể có quan điểm hoàn
toàn ngược lại. Một số nhà ngôn ngữ học tri nhận khi dựa trên việc phân tích một
cách hệ thống các biểu thức ngôn ngữ đã cho rằng “Hệ thống ý niệm bình thường
39




hàng ngày của chúng ta, thông qua nó mà ta tư duy và hành động, thì về bản chất là
mang tính chất ẩn dụ” [83:3], và rằng “ẩn dụ phải được xem là các đơn vị chức
năng tri nhận nguyên gốc, không thể rút gọn hơn, nhờ chúng mà chúng ta cấu tạo và
mở rộng cấu trúc trong kinh nghiệm và hiểu biết của mình [66:192]. Nhưng bản
thân việc phân tích các biểu thức ẩn dụ không mang hàm ý là tất cảc các ý niệm đều
có tính ẩn dụ, một quan điểm mà người ta lầm tưởng là của Lakoff & Johnson, và
cũng không có nghĩa là bất kỳ một ý niệm cụ thể nào cũng được hiểu thông qua ẩn
dụ ở một mức độ nào đó.
Việc nghiên cứu chi tiết một ý niệm hay một danh sách các biểu thức ngôn
ngữ có thể cho thấy rằng ẩn dụ giúp cấu trúc hoá một số bình diện biểu hiện tinh
thần của một ý niệm.
1.2.2.4. Ý niệm:
Ý niệm là một thuật ngữ lý thuyết mang tính chất cơ bản nhất trong ngữ
nghĩa học tri nhận. Để phân biệt nó với thuật ngữ “khái niệm”, Trần Văn Cơ [2] và
Trần Trương Mỹ Dung [4] đã tổng hợp các quan điểm của nhiều tác giả khác nhau
và dường như đi đến một thống nhất chung là: “ý niệm chứa đựng ba thành tố:
thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc hình tượng và thành tố văn hoá” [4:62]. Theo
Evans & Green [53] thì ý niệm là một đơn vị trình hiện tinh thần được gắn kết với
cái ý nghĩa mà ký hiệu ngôn ngữ mang lại. Bản thân ý niệm lại xuất phát từ các đơn
vị tri giác. Chẳng hạn như trong trường hợp một quả táo thì các bộ phận trong não
chúng ta sẽ tri giác hình ảnh, màu sắc hoặc mùi vị của quả táo. Các thông tin khác
nhau của quả táo từ thế giới khách quan sẽ được tích hợp thành một hình ảnh tinh
thần tạo nên ý niệm. Các ý niệm có thể tương ứng với các phạm trù như chim hay
công bằng cũng như có thể tương ứng với các cá nhân như George Bush.
40




Đơn vị tri giác Ý niệm Ý nghĩa ngôn ngữ




Thế giới thực Hình thức




Hình 1.1.: Các tầng bậc trình hi ện (Nguồn: Evans & Green, [53:7])


1.2.2.5. Lĩnh vực:
Lĩnh vực, hay còn gọi là Miền, là một loại kiến thức nền. Một nguyên lý
trọng tâm của ngữ nghĩa học tri nhận là các ý niệm không bao giờ xuất hiện với tư
cách các đơn vị nguyên tử tách biệt trong trí não, mà chúng chỉ có thể hiểu được (
bằng người nói hoặc bằng nhà phân tích) thông qua một ngữ cảnh mang cấu trúc
kiến thức nền mang tính chất tiền giả định. Thuật ngữ bao quát nhất dùng cho cái
kiến thức nền này chính là lĩnh vực (Langacker [85], Lakoff, [80]). Cả hai tác giả
này đều chịu ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu của Fillmore về khung ngữ
nghĩa (xem Croft & Cruse [46]).
Langacker [85:147] định nghĩa Lĩnh vực là “một ngữ cảnh để đặc trưng hoá
một đơn vị ngữ nghĩa”, còn Croft [45:339] thì xem Lĩnh vực là “một cấu trúc ngữ
nghĩa có chức năng làm nền tảng của ít nhất một hình bóng ý niệm”; cụ thể, có
những lĩnh vực cơ bản và có những lĩnh vực trừu tượng. Lĩnh vực cơ bản có nguồn
gốc từ kinh nghiệm của con người và không được sinh ra từ các lĩnh vực cơ bản
hơn được nữa, ví dụ, chúng bao gồm các lĩnh vực như không gian, vật chất, hay
nhiệt độ. Các lĩnh vực ở cấp độ cơ bản này có vai trò như đầu vào để tạo ra các lĩnh
vực đích trừu tượng hơn theo cái nghĩa là chúng được ý niệm hoá thông qua các
kinh nghiệm cơ bản của con người về thế giới vật chất chẳng hạn như các quan hệ
không gian và nhân quả. Các lĩnh vực trừu tượng là các lĩnh vực lấy một lĩnh vực
khác làm tiền giả định. Chúng có thể là địa điểm và hình dáng. Lĩnh vực nguồn vì
41




vậy là những lĩnh vực cơ sở của các ý niệm đen hoặc bóng thể hiện trong từ ngữ:
chúng ta có thể nói rằng các lĩnh vực nguồn cơ bản được sử dụng để phản ánh trong
ngôn ngữ cái cách chúng ta trải nghiệm các lĩnh vực đích mang tính chất trừu tượng
hơn.
Khái niệm ‘Lĩnh vực” hay “Miền” theo định nghĩa của Taylor [110:83] lại là
một cấu trúc tri nhận làm nhiệm vụ cung cấp ngữ cảnh nền tảng giúp chúng ta hiểu
được ý nghĩa của bất kỳ thuật ngữ nào. Nhưng có thể có hai ý nghĩa khác nhau của
khái niệm này. Theo nghĩa thứ nhất, thì lĩnh vực là các bình diện kinh nghiệm khác
nhau của con người như không gian, màu sắc, cảm xúc, nhiệt độ, vv. Có thể cho
rằng lĩnh vực không gian là một trong những lĩnh vực kinh nghiệm cơ bản nhất.
Cấu trúc của nó được phóng chiếu sang nhiều lĩnh vực “trừu tượng” khác như lĩnh
vực thời gian và do vậy cho phép chúng ta hiểu được ý nghĩa của những sự vật
không sờ thấy được. Theo nghĩa thứ hai, thì thuật ngữ ‘Lĩnh vực’ ám chỉ đến kiến
thức nền- đôi lúc còn có tên là kiến thức bách khoa- mà chúng ta vốn đã có sẵn về
rất nhiều lĩnh vực cụ thể qua kinh nghiệm. Chẳng hạn, lĩnh vực giáo dục có thể bao
hàm thông tin về vai trò của người thầy và người học, về chương trình đào tạo, thi
cử và đánh giá. Theo nghĩa này thì lĩnh vực có thể là một bình diện kinh nghiệm
được xác định cụ thể về văn hoá, nó tương tự như một kịch cảnh hay một khung. Ýù
nghĩa thứ nhất của lĩnh vực mang tính phổ quát trong khi ý nghĩa thứ hai nói đến
các quá trình ý niệm hoá mang những đặc điểm văn hoá cụ thể.
Nhưng cho dù có những cách hiểu khác nhau, thì khái niệm lĩnh vực vẫn
đóng vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu hiện tượng đa nghĩa. Ví dụ, thuật ngữ
“thấp” có nhiều nghĩa khác nhau trong các cụm từ một vùng đ ất thấp, nhiệt đ ộ thấp,
văn hoá thấp bởi vì nó được phóng chiếu dựa trên các lĩnh vực khác nhau như
‘không gian vật lý’ù, ‘nhiệt độ’ và ‘trình độ học vấn’. Cụm động từ đá bóng có
nhiều nghĩa khác nhau khi được phóng chiếu trên những lĩnh vực ‘trách nhiệm’ hay
‘sân bóng đá’. Nói tóm lại thì lĩnh vực đem lại một ngữ cảnh nền để dựa vào đó
chúng ta có thể hiểu được thuật ngữ.
42




1.2.2.6. Lược đồ hình ảnh:
Hiểu theo Johnson [66] thì lược đồ là một dạng mẫu hiện thân của kinh
nghiệm được tổ chức một cách có ý nghĩa. Với tư cách là một dạng mẫu, thì lược đồ
không phải là một hình ảnh phong phú, một bức tranh chi tiết trong trí não giống
như cái chúng ta có về một ngôi nhà hay về một người thân quen bởi vì nó thiếu hai
yếu tố: 1. chi tiết cụ thể, 2. việc chuyển tải ý nghĩa tình thái cụ thể cho dù có liên
quan đến các thao tác tương đồng với quá trình chuyển động hay định hướng không
gian. Theo Johnson [sđd], lược đồ là các cấu trúc có vai trò tổ chức các trình hiện
tinh thần ở cấp độ tổng quát hơn và trừu tượng hơn so với cấp độ ở đó chúng ta hình
thành nên các hình ảnh tinh thần. Bảng dưới đây sẽ cho thấy một số lược đồ thường
gặp :
Lược đồ Ví dụ
L ực Nạn nhân bị tác động của sức ép quả bom nổ gần; sức mua của người
dân còn hạn chế
Vật chứa Hồ chứa đầy nước; những tháng ngà y chứa chan hạnh phúc
Sự ngăn chận Trồng câ y chắn gió; tiêm phòng chặn dịch bệnh
Tạo Khả năng Nâng đứa bé bị ngã d ậy; nâng đỡ những học sinh yếu kém có hoàn
cảnh khó khăn
L ối đi Dẹp hai bên để lấy đường đi; Làm ăn chẳng có lối lang gì cả
Vòng tròn Đứng thành vòng tròn; trong vòng danh lợi
Bộ phận-Toàn Tháo tung các bộ phận của cỗ máy; Nó là một thành viên của đại gia
Th ể đình chúng tôi
Đầy-Rỗng Dòng sông đầy nước; cuộc đời trống rỗng
Bảng 1.2. Các loại lược đồ hình ảnh thông thường
Lược đồ hình ảnh xuất hiện từ các hoạt động vận động cảm giác, khi con người
thao tác đồ vật, định hướng chúng theo không gian và thời gian, hoặc định hướng
tiêu điểm cảm nhận chúng theo những mục đích khác nhau. Các lược đồ hình ảnh
bao trùm phạm vi rất rộng các cấu trúc kinh nghiệm, chúng có các cấu trúc nội tại,
và có thể được chi tiết hoá theo cách ẩn dụ nhằm giúp hiểu biết những lĩnh vực trừu
tượng hơn (Gibbs & Colston [58], Lakoff [80]). Lược đồ CHỨA ĐỰNG được chi
tiết hoá trong rất nhiều các lĩnh vực kinh nghiệm trừu tượng (ví dụ các ý niệm về
cảm xúc, trí não, ý nghĩa ngôn ngữ, bổn phận đạo đức, thể chế xã hội). Hơn nữa,
các lược đồ này giúp tạo ra các phương thức phức hợp để con người cấu trúc các ý
43




niệm trừu tượng đơn lẻ. Chẳng hạn, ẩn dụ ý niệm GIẬN DỮ LÀ CHẤT LỎNG
ĐUN NÓNG TRONG VẬT CHỨA [80] lấy lược đồ hình ảnh CHỨA ĐỰNG làm
một phần lĩnh vực nguồn của nó và đồ hoạ cấu trúc lược đồ hình ảnh này sang sự
giận dữ, và chính điều này đã tạo ra các bước kéo theo rất thú vị. Con người biết
rằng khi mức độ giận dữ tăng lên, thì chất lỏng trong vật chứa dâng lên (Cơn giận
dâng lên đ ến cổ), con người biết rằng sức nóng lớn sẽ tạo ra hơi nước và áp suất
trong vật chứa ( Hắn kìm nén cơn bực trong lòng), và con người biết rằng khi áp
suất trong vật chứa tăng quá cao, thì vật chứa sẽ nổ ( Bà ấy nổi giận đùng đùng).
Nếu không có các kinh nghiệm nhập thân về chất lỏng đun nóng trong vật chứa
được phóng chiếu nhằm hiểu được các kinh nghiệm giận dữ thì rất khó lý giải các
hiện tượng ngôn ngữ đa dạng như trên.
Tương tự như thế, Lakoff & Johnson [83] đã xem xét tại sao ý niệm hạnh
phúc trong tiếng Anh lại được hiểu thông qua tình trạng “đi lên theo không gian”
mà không qua tình trạng “đi xuống”, và hai tác giả cho rằng việc nghiên cứu về sự
hiện thân có thể giúp trả lời câu hỏi này. Các ẩn dụ ý niệm HẠNH PHÚC LÀ
HƯ ỚNG LÊN VÀ BUỒN RẦU LÀ HƯ ỚNG XUỐNG [sđd] được minh hoạ bằng
các biểu thức ngôn ngữ như I’m feeling up, That boosted my spirits, My spirits
rose, You’re in high spirits, Thinking about her always gives me a lift, I’m feeling
down, He’s really low these days. Các biểu thức này phản ánh các kinh nghiệm lặp
đi lặp lại của cơ thể, đó là hình dáng còng thấp luôn đi kèm với sự buồn rầu, chán
nản hay sức khoẻ kém, còn dáng đi thẳng thì gắn với các tâm trạng tình cảm tích
cực, sức khoẻ tốt hay các trạng thái tinh thần minh mẫn.
1.2.2.7. Các động lực hiện thân nhằm tạo ẩn dụ trong tư duy và trong ngôn
ngữ
Các nhà nghiên cứu theo đường hướng tri nhận cố gắng tìm ra các động lực
phức tạp tại sao a) con người lại tư duy theo lối ẩn dụ và b) tại sao họ lại sử dụng ẩn
dụ thường xuyên trong ngôn ngữ, trong ghi nhớ, giải quyết vấn đề hoặc trong sáng
tạo. Nếu quan điểm truyền thống về ẩn dụ cho rằng con người sử dụng ẩn dụ chỉ vì
mục đích giao tiếp (tạo tính ấn tượng, tạo tính sống động) thì nhiều nhà nghiên cứu
44




giờ đây nhận ra rằng ẩn dụ rất quan trọng trong việc trình bày các ý nghĩ trừu tượng,
khó diễn đạt, lẫn các bình diện kinh nghiệm bình thường. Theo cách này thì ẩn dụ
thực sự quan trọng vì chức năng tri nhận mà chúng gánh vác chứ không đơn thuần
vì chúng mang chức năng làm đẹp ngôn ngữ.
Có không ít bằng chứng cho thấy rằng nhiều cách tư duy theo kiểu ẩn dụ
của chúng ta xuất phát từ những kinh nghiệm hiện thân về thế giới (Lakoff,
[80],[81]). Như đã phân tích ở trên, Lakoff [sđd] cho rằng kinh nghiệm hiện thân về
vật chứa đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu ẩn dụ ý niệm GIẬN DỮ LÀ CHẤT
LỎNG ĐUN NÓNG TRONG VẬT CHỨA (thông qua các biểu thức ẩn dụ như tức
sôi lên, sôi máu, sôi gan, tức sôi máu). Con người có những kinh nghiệm rất thiết
thân về sự chứa đựng liên quan đến cơ thể, từ những tình huống cơ thể ở trong hay
ngoài vật chứa (như bồn tắm, giường, phòng hay nhà cửa), cho đến các kinh nghiệm
về cơ thể với tư cách là bản thân vật chứa. Một kinh nghiệm của cơ thể là bản thân
cơ thể cũng chứa đầy chất lỏng, bao gồm chất lỏng trong bao tử, máu và mồ hôi.
Theo Johnson [66], do bị áp lực mà con người trải nghiệm cái cảm giác các chất
lỏng trong cơ thể bị đun nóng. Các kinh nghiệm này lập đi lập lại đã tạo ra một diện
mạo chung hay còn có tên là lược đồ hình ảnh về SỰ CHỨA ĐỰNG.
Gibbs và Colston [58] nhận thấy rằng các kinh nghiệm hiện thân ở trẻ em
như vật chứa thường làm nền tảng để chúng hiểu được các ẩn dụ thông thường. Ví
dụ, trẻ em không cần đến các lý thuyết vật lý phức tạp mới có được ý niệm ẩn dụ về
sự giận dữ. Điều này không có nghĩa là trẻ em chỉ học các biểu thức ẩn dụ bởi từ
những kinh nghiệm hiện thân của riêng chúng. Trẻ em còn có khả năng học hỏi về
tư duy ẩn dụ từ việc tiếp cận với ngôn ngữ thông thường phần nào xuất phát từ ẩn
dụ (ví dụ ý niệm THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC trong các biểu thức tiếng Việt Chúng
ta phải tiết kiệm thời gian; đ ầu tư thời gian, lãng phí thời gian …)
Động lực hiện thân trong việc tạo ẩn dụ là lý do tự nhiên, phi võ đoán
giải thích tại sao con người thường tạo ra các đồ hoạ ẩn dụ phi đối xứng, nhằm mục
đích hiểu biết nhiều ý niệm trừu tượng. Con người không nhất thiết học cách tạo ra
các trình hiện ẩn dụ từ những kinh nghiệm hiện thân, vì bản thân kinh nghiệm ngôn
45




ngữ của họ sẽ giúp họ suy ra được các ý niệm ẩn dụ thông qua việc khái quát hoá.
Nhưng rõ ràng là có những sợi dây liên kết quan trọng giữa các kinh nghiệm lặp đi
lặp lại của cơ thể, việc phóng chiếu ẩn dụ các lược đồ hình ảnh nhằm cấu trúc hoá
các ý niệm trừu tượng và ngôn ngữ dùng để nói về những ý niệm này. Một thách
thức cho các nhà nghiên cứu ẩn dụ là đánh giá thực nghiệm quan điểm cho rằng
lược đồ hình ảnh phần nào làm động lực để con người hiểu biết các ý niệm ẩn dụ
trừu tượng. Họ cũng phải nhận thức được việc làm thế nào mà nguồn gốc của nhiều
loại ẩn dụ trong tư duy và ngôn ngữ lại nằm ở rất nhiều dạng kinh nghiệm của cơ
thể.
1.2.2.8. Tính đơn hướng
Phần lớn các ẩn dụ ý niệm mang tính chất đơn hướng (Kovecses [74]).
Chúng ta thường nói tới căn bệnh của xã hội, ngọn lửa nhiệt tình, chứ chúng ta ít
hoặc hầu như không nói đến xã hội của bệnh tật hay sự nhiệt tình của ngọn lửa.
Lakoff và Johnson [83] trước đó cũng đã chỉ ra rằng các ẩn dụ luôn luôn đồ hoạ các
lĩnh vực cụ thể lên các lĩnh vực trừu tượng hơn chứ không đồ hoạ theo chiều ngược
lại. Tình yêu được diễn đạt thông qua hành trình, chứ hành trình không được diễn
đạt thông qua tình yêu. Chúng ta nói về thời gian thông qua tiền bạc, chứ không nói
về tiền bạc thông qua thời gian. Giải thích về điều này, ngôn ngữ học tri nhận cho
rằng bởi vì các ý niệm trừu tượng khó hiểu hơn các ý niệm cụ thể, do vậy mà hướng
di chuyển từ trừu tượng đến cụ thể sẽ ngăn cản chứ không tạo điều kiện cho quá
trình tri nhận.
1.2.2.9. Tính phổ quát của ẩn dụ ý niệm
Câu hỏi mà nhiều nhà nghiên cứu ngữ nghĩa học tri nhận đặt ra là ẩn dụ ý
niệm có tính phổ quát hay không. Đây là một câu hỏi khó tìm ra câu trả lời thỏa
đáng vì trên thế giới tồn tại rất nhiều ngôn ngữ và đi kèm chúng có rất nhiều nền
văn hóa khác nhau. Tuy nhiên, Kovecses [74] cũng đã cố gắng khảo sát hàng loạt ẩn
dụ ý niệm trên nhiều ngôn ngữ bằng cách bắt đầu bằng tiếng Anh, sau đó ông thực
hiện việc kiểm chứng trên các ngôn ngữ khác để đưa ra kết luận rằng một số ẩn dụ ý
niệm mang tính phổ quát. Các ẩn dụ phổ quát này bao gồm HẠNH PHÚC LÀ
46




HƯ ỚNG LÊN, HẠNH PHÚC LÀ ÁNH SÁNG, HẠNH PHÚC LÀ CHẤT LỎNG
TRONG VẬT CHỨA (Hạnh phúc trào dâng, hạnh phúc tràn trề), TỨC GIẬN LÀ
CHẤT KHÍ HOẶC CHẤT LỎNG NÉN TRONG VẬT CHỨA. Ẩn dụ cấu trúc sự
tình cũng mang tính phổ quát.
1.2.2.10. Tính biến thiên văn hoá của ẩn dụ ý niệm
Nếu tư duy trừu tượng phần nhiều mang tính chất ẩn dụ và nếu tồn tại nhiều
cách nhìn ẩn dụ trước một lĩnh vực cụ thể, thì câu hỏi đặt ra là liệu các cộng đồng
văn hóa - ngôn ngữ khác nhau sẽ có những ý niệm khác nhau về cùng một hiện
tượng trừu tượng hay không. Boers [27], [28], [29] cho rằng các ẩn dụ liên quan
đến kinh nghiệm của cơ thể phần lớn mang tính phổ quát cho các nền văn hóa khác
nhau. Sau đó thì Kovecses [76] cũng có chung một nhận định, ông đưa ra ví dụ CƠ
THỂ LÀ VẬT CHỨA CẢM XÚC, ẩn dụ này có mặt trong nhiều ngôn ngữ khác
nhau về loại hình như tiếng Anh, tiếng Hung, tiếng Trung và tiếng Nhật. Tuy nhiên,
Kovecses (sđd) cũng cho rằng các nền văn hóa cũng khác nhau ở các loại hình ảnh
cụ thể thường gắn kèm với các lược đồ hình ảnh tổng quát, qua nghiên cứu của ông
cho thấy trong tiếng Anh cả cơ thể được lấy làm vật chứa sự giận dữ, các ngôn ngữ
khác lại có xu hướng nghiêng về việc chọn lựa các bộ phận cụ thể của cơ thể làm
vật chứa cảm xúc này, như trong tiếng Hungary là bộ phận đầu, trong tiếng Nhật là
bộ phận dạ dày.
Chúng tôi thống nhất với lập luận của Boers [29] khi ông cho rằng sự
biến thiên văn hóa có thể biểu hiện rõ ràng hơn trong số các ẩn dụ ý niệm thuộc
nhóm phạm trù thứ hai, tức là các ẩn dụ dựa trên các lĩnh vực nguồn có tính chất cụ
thể hay chi tiết hơn các lĩnh vực đích.
Trong lĩnh vực đối chiếu phong cách học do Kaplan [68] khởi xướng,
nhiều nhà nghiên cứu cũng đã cố gắng tìm hiểu cách sử dụng ẩn dụ trong các nền
văn hoá khác nhau để nhằm mục đích làm sáng tỏ hơn nữa quá trình lĩnh hội một
ngôn ngữ thứ hai (Connor [42]). Các công trình nghiên cứu xuyên văn hoá này chịu
ảnh hưởng của một trong hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng có những ẩn
47




dụ vượt qua các rào cản văn hoá và ngôn ngữ, còn quan điểm thứ hai thì khẳng định
rằng ẩn dụ mang tính chất độc đáo của từng nền văn hóa.
Công trình nghiên cứu của Lakoff và Johnson [83] nhấn mạnh đến tính chất
nhập thân của ẩn dụ và do đó có thể làm cho người đọc phỏng đoán rằng nhiều ẩn
dụ mang tính chất phổ quát vì chúng có nền tảng là những kinh nghiệm cơ bản của
cơ thể. Tuy nhiên, Kovecses [74] lại cho rằng giữa bất kỳ hai nền văn hoá nào cũng
có những sự khác biệt lớn, và như vậy không thể có hiện tượng tất cả các ẩn dụ ý
niệm đều có tính phổ quát.


Trong tiếng Anh : let off steam : xả giận
Trong tiếng Việt: xả hơi : nghỉ ngơi
Kovecses cho rằng có thể xảy ra ba khả năng biến thiên văn hóa trong quá
trình ý niệm hóa một lĩnh vực đích cụ thể nào đó. Thứ nhất là khả năng biến thiên
trong phạm vi các ẩn dụ ý niệm. Thứ hai là biến thiên theo mức độ chi tiết hóa các
ẩn dụ ý niệm, và cuối cùng là biến thiên theo mức độ nhấn mạnh ẩn dụ hoặc hoán
dụ (ví dụ người Trung Quốc dùng quá trình hoán dụ nhiều hơn trong việc tri nhận
sự giận dữ, trong khi người Anh là dùng nhiều hơn đến quá trình ẩn dụ. Ở trong
luận án này chúng tôi không xem xét chi tiết sự khác biệt thứ ba này vì hoán dụ
không phải trọng tâm của luận án)
Matsuki (trong Kovecses [74]) chứng minh rằng trong tiếng Nhật nhiều biểu
thức ẩn dụ liên quan đến sự tức giận đều xoay quanh khái niệm hara (bụng), vì vậy
ẩn dụ TỨC GIẬN Ở TRONG BỤNG chỉ giới hạn trong phạm vi tiếng Nhật mà
không có trong tiếng Anh.
Trong ngôn ngữ Zulu có ẩn dụ ý niệm liên quan đến trái tim: SỰ TỨC GIẬN
NẰM TRONG TIM, trong khi ở tiếng Anh thì trái tim gắn với tình yêu, sự âu yếm
hoặc gần như thế. Còn tiếng Trung có ẩn dụ ý niệm HẠNH PHÚC LÀ HOA
TRONG TIM, loại ẩn dụ này không xuất hiện trong tiếng Anh. Ning Yu [114] cho
rằng ẩn dụ này phản ánh tính chất hướng nội nhiều hơn của người Trung Quốc, so
với tính hướng ngoại nhiều hơn của người phương Tây.
48




Mặc dù hai ngôn ngữ có thể có chung một ẩn dụ ý niệm, thế nhưng vẫn có thể
có sự khác biệt trong việc thể hiện chi tiết ẩn dụ này qua các biểu thức ngôn ngữ.
Theo Kovecses, tiếng Hungary và tiếng Anh có cùng ẩn dụ ý niệm CƠ THỂ LÀ
VẬT CHỨA CÁC CẢM XÚC và SỰ GIẬN DỮ LÀ LỬA, thế nhưng ở tiếng
Hungary thì cơ thể và lửa bên trong nó được chi tiết hóa thành ống chứa chất đang
sôi, đây là một sự thể hiện duy nhất chỉ có trong tiếng Hungary.
Cả tiếng Anh và tiếng Zulu đều lấy lửa làm lĩnh vực nguồn cho ý niệm giận dữ, thế
nhưng sự thể hiện trong tiếng Zulu lại khác trong tiếng Anh: chúng ta có thể dập tắt
cơn tức giận của ai đó bằng cách đổ nước lên người ấy. Trong các biểu thức ẩn dụ
ngôn từ của tiếng Anh liên quan đến ý niệm này thì không có cách thể hiện ấy.
Trong tiếng Anh và tiếng Zulu, người sử dụng ngôn ngữ hiểu sự giận dữ như SỨC
MẠNH THIÊN NHIÊN, nhưng người Zulu lại đi xa hơn trong việc sử dụng ý niệm
ẩn dụ này so với người Anh. Người Zulu nói về một người đang giận dữ là “bầu
trời tối sầm với sấm chớp” hay “tại sao cậu ấy lại nổ một cơn cuồng phong?”. Các
chi tiết này không tồn tại trong tiếng Anh ở dạng thường qui, nhưng người sử dụng
tiếng Anh vẫn có thể hiểu được nhờ có chung ẩn dụ ý niệm.
Giải thích cho sự biến thiên văn hóa này, Kovecses cho rằng có thể có hai lý
do: a. xuất phát từ cảnh huống văn hóa rộng, đây là các nguyên tắc và các ý niệm
chủ đạo trong một nền văn hóa bất kỳ, và b. môi trư ờng vật chất tự nhiên.
Các nguyên tắc và ý niệm chủ đạo có thể khác nhau ở các nền văn hóa khác nhau.
Kovecses chứng minh điều này bằng cách nêu ra ẩn dụ ý niệm gần như phổ quát
VẬT CHỨA BỊ NÉN khi nói về sự giận dữ. Matsuki cho rằng dường như tồn tại
một hệ thống các ý niệm mang đặc trưng văn hóa xây dựng xung quanh ý niệm
hara (bụng) ở trong tiếng Nhật. Các yếu tố chân lý, ý định, bản thân cấu thành nội
dung ý niệm hara. Khi một người Nhật kiểm soát được sự tức giận, nghĩa là người
đó đang che giấu cái bản ngã tận cùng bên trong, cái riêng tư và chân thực nhất của
người đó và đang hành xử theo một chuẩn mực hay thông lệ của xã hội.
49




Nhà nghiên cứu Yu [114] cho rằng ý niệm nu (sự tức giận) trong tiếng Trung
gắn với khái niệm qi (khí), nguồn năng lượng chảy trong cơ thể. Khái niệm khí đã
ăn sâu vào trong đời sống ngôn ngữ thuộc các lĩnh vực tâm lý, triết
học và y tế trong văn hoá Trung Quốc. Khái niệm khí cũng như sự vận hành của nó
được xây dựng trên quan niệm là cơ thể con người là một thể cân bằng. Quan niệm
này lại xuất phát từ một quan niệm rộng hơn về vũ trụ, coi vũ trụ hoạt động dựa trên
hai thành tố bổ sung, không tách rời nhau: âm và dương (yin và yang). Tương tự
như thế, khi khí dâng lên trong cơ thể, con người sẽ tức giận, và khi cơ thể về lại
trạng thái cân bằng, thì sự bình ổn cảm xúc trở lại.
Như vậy, các ý niệm về cảm xúc trong các ngôn ngữ vừa nêu có thể được
giải thích khác nhau dựa vào các ý niệm văn hóa tương ứng như hara hay qi. Và
chính các ý niệm mang tính chất cụ thể về văn hóa này lại bị điều phối bởi cái cảnh
huống văn hóa rộng.
Trở lại với lý do thứ hai, đó là môi trường tự nhiên. Môi trường này tạo hình
dáng cho ngôn ngữ thì cũng làm công việc tạo hình dáng cho ẩn dụ. Con người sẽ
tạo dựng thói quen sử dụng các yếu tố và hiện tượng xảy ra trong môi trường sống
của mình để tri nhận và sáng tạo ra thế giới ý niệm. Kovecses [74] trích dẫn một
nghiên cứu của René Dirven muốn kiểm chứng một sự thay đổi nào đó không trong
quá trình ý niệm hóa ẩn dụ của người sử dụng ngôn ngữ khi ngôn ngữ ấy được
chuyển di sang một môi trường sống tự nhiên hoàn toàn khác. Kết quả cho thấy
trong các ẩn dụ liên quan đến thiên nhiên trong tiếng Hà Lan gốc không có sự xuất
hiện của các loài động vật, nhưng khi phân tích tiếng Hà Lan tại Nam Phi thì tác giả
thấy quá trình ý niệm hóa đã có sự tham gia của các biểu thức ngôn ngữ liên quan
đến các loài vật.
Luận án của chúng tôi được xây dựng trên quan điểm là các ẩn dụ ý niệm
vừa có tính phổ quát và vừa mang tính chất biến thiên văn hóa. Tính phổ quát của
ẩn dụ thể có thể thể hiện ở các tầng bậc cơ bản do chúng xuất phát từ các kinh
nghiệm bản thể của con người. Tuy nhiên, chúng tôi nhận định rằng không phải tất
cả mọi phép đồ họa ẩn dụ đều có tính chất phổ quát này; các biểu thức ẩn dụ có thể
50




sẽ khác nhau trong các nền văn hóa khác nhau và do đo,ù công tác nghiên cứu việc
sử dụng ẩn dụ trong văn bản có thể giúp tìm hiểu hệ thống giá trị và thái độ hoặc
các đặc trưng văn hóa đang tồn tại ở một cộng đồng ngôn ngữ cụ thể nào đó.
Maestre [92] cho rằng các ẩn dụ ý niệm sử dụng trong một cộng đồng ngôn ngữ
thường tương ứng với các dạng thức tư duy của cộng đồng ấy, hay nói cách khác,
chúng có thể phản ánh các hệ thống giá trị, niềm tin trong một cộng đồng ngôn ngữ
và văn hóa.
1.2.3. Phân loại ẩn dụ ý niệm
Có nhiều cách phân loại ẩn dụ ý niệm: theo tính thông lệ, theo bản chất, theo
mức độ khái quát, hay theo chức năng tri nhận (xem Kovecses [74]).
1.2.3.1. Phân loại theo tính thông dụng
Ẩn dụ là nguồn tài nguyên giao tiếp nhờ đó mà những người sử dụng ngôn
ngữ có thể nâng cao tính biểu cảm của thông điệp thông qua những phương tiện có
sẵn tiết kiệm nhất. Ở đây họ có sự lựa chọn giữa việc tạo ra những hình thức tu từ
của riêng mình hoặc viện đến những hình thức phổ biến trong cộng đồng sử dụng
ngôn ngữ. Dựa trên sự lựa chọn đó mà một hình thức tu từ cụ thể có thể mang tính
thông dụng ít hay nhiều. Ẩn dụ thông dụng là các cụm từ tồn tại ở một điểm nào đó
giữa cách sử dụng theo lối ẩn dụ và theo nghĩa đen – chúng phản ánh một quá trình
lịch đại qua đó sự sử dụng ban đầu mang tính chất “ẩn dụ” thì về sau mang tính chất
nghĩa đen trong ngôn ngữ. Theo Lakoff [82] thì một ẩn dụ được thông dụng hoá
tới một mức độ tự động, không phải cố gắng và thường thì cố định như một khuôn
tư duy cho các thành viên sử dụng ngôn ngữ trong cộng đồng.
Theo quan điểm của các nhà ngữ nghĩa học tri nhận như Lakoff và Johnson,
nói đến ẩn dụ là nói đến ẩn dụ ý niệm, chứ không phải ẩn dụ ngôn từ. Hiểu theo
quan điểm này có nghĩa là chúng ta phân biệt giữa hình thức A là B của ẩn dụ ý
niệm với các biểu thức ẩn dụ ngôn từ cụ thể. Lakoff và Johnson [83] và Kovecses
[74] cho rằng ẩn dụ ý niệm có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như
dựa trên tính thường qui, chức năng, bản chất hay mức độ khái quát của ẩn dụ. Ví
dụ, theo tiêu chí thứ nhất – tính thường qui – thì chúng ta thường xem xét một ẩn dụ
51




đã ăn sâu vào trong đời sống ngôn ngữ hàng ngày như thế nào, cho dù đó là ẩn dụ ý
niệm hay là ẩn dụ ngôn từ. Một ẩn dụ có tính thường qui cao khi ẩn dụ ấy được sử
dụng một cách tự nhiên, không bị gò ép để phục vụ mục đích giao tiếp hay tư duy
bình thường. Sau đây là các ví dụ về ẩn dụ ý niệm và kèm theo chúng là các ẩn dụ
ngôn từ tương ứng có tính thường qui cao:
TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH: Tôi bảo vệ quan điểm của mình.
Ý TƯ ỞNG LÀ THỨC ĂN: Suy nghĩ của cậu tệ không thể ngửi đư ợc.
Giả sử có một thang bậc thường qui thì đối lập với các ẩn dụ có tính thường
qui cao, chúng ta sẽ có các ẩn dụ bất thường qui hay ẩn dụ mới. Chúng ta hãy xem
xét các ẩn dụ ngôn từ sau – chúng đều xuất phát từ một ẩn dụ ý niệm CUỘC SỐNG
LÀ MỘT HÀNH TRÌNH:
(a) Chồng chết, bà ấy ở vậy nuôi con, không đi bư ớc nữa (Đại từ điển tiếng Việt:
625)
(b) Rõ ràng, quá rõ ràng, thấy chưa, má tôi chỉ quá giang một khúc đ ời rồi đi, ai
cũng linh tính vậy, chỉ cha tôi là không, nên bây giờ mới khóc hận, cư ời đau.
(Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận, tr. 171)
Ở trong ví dụ b, tác giả đã sử dụng ẩn dụ ý niệm thường qui theo cách phi
thường qui. Nguyễn Ngọc Tư đã sử dụng các biểu thức ngôn ngữ từ lĩnh vực
HÀNH TRÌNH, các biểu thức này không hay gặp đối với người Việt: quá giang
một khúc đ ời rồi đi. Với tư cách là ẩn dụ ngôn từ thì biểu thức này mới và phi
thường qui, nhưng ẩn dụ ý niệm mà biểu thức này thể hiện thì lại có tính thường
qui.
Tình yêu được ý niệm hóa một cách ẩn dụ rất đa dạng. Bên cạnh ẩn dụ TÌNH YÊU
LÀ MỘT HÀNH TRÌNH, chúng ta có thể hiểu tình yêu thông qua LỬA, SỰ
THỐNG NHẤT THỂ CHẤT, SỰ MẤT TRÍ, TRAO ĐỔI KINH TẾ, SỨC MẠNH
THIÊN NHIÊN : Cô ta gặp đư ợc tình yêu sét đánh khi đ ã ở tuổi 30, đ ã có chồng
con (Văn Nghệ Quân Đội, 678/9-2007, tr.54), hay CHIẾN TRANH, TRÒ CHƠI vv.
Đây là những cách ý niệm hóa tình yêu rất thường qui và ăn sâu vào trong đời sống
ngôn ngữ và tư duy của người Việt. Trong tiếng Anh cũng xảy ra tình hình tương tự
52




(Kovecses [74]). Tuy nhiên, có một thực tế dù chưa được kiểm chứng là số lượng
các ý niệm ẩn dụ ý niệm phi thường qui còn rất hạn chế. Kovecses [sđd:32] trích
một ẩn dụ trong số đó CUỘC ĐỜI LÀ MỘT TẤM GƯƠNG của chính trị gia
William Magee để chứng minh cho tính giới hạn về số lượng của các ẩn dụ ý niệm
phi thường qui.
1.2.3.2. Phân loại theo tính khái quát
Nếu nhìn từ tiêu chí khái quát, thì ẩn dụ ý niệm có thể được phân chia thành
hai nhóm: nhóm ẩn dụ cấp độ phổ quát và nhóm ẩn dụ cấp độ cụ thể. Vì cuộc sống,
hành trính, tranh luận, chiến tranh, ý tư ởng, lương thực là các ý niệm cụ thể, cho
nên chúng ta có các ẩn dụ ý niệm ở cấp độ cụ thể như CUỘC SỐNG LÀ HÀNH
TRÌNH, TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH, Ý TƯ ỞNG LÀ THỨC ĂN. Ở cấp
độ phổ quát, có những ẩn dụ như SỰ TÌNH LÀ HÀNH ĐỘNG, PHỔ QUÁT LÀ
CỤ THỂ. Ẩn dụ thứ nhất giải thích cho quá trình nhân cách hóa, còn ẩn dụ thứ hai
giúp thuyết giải các tục ngữ hoặc các cụm tù cố định.
1.2.3.3. Phân loại theo chức năng tri nhận
Nếu nhìn từ tiêu chí chức năng, tức là vai trò của ẩn dụ trong việc giúp con
người nhìn nhận và tư duy về thế giới, thì ẩn dụ ý niệm được phân thành các nhóm
khác nhau (Lakoff & Johnson [83]). Lakoff và Johnson trong tác phẩm đầu tay chưa
đưa ra các tiêu chí phân định rõ ràng về ranh giới 3 loại ẩn dụ theo cách phân loại
dựa trên chức năng tri nhận nêu trên. Thiếu sót trên đã được Kovecses [74] khắc
phục một phần bằng cách miêu tả chi tiết các tiểu loại ẩn dụ theo chức năng tri nhận
của chúng.
1.2.3.3.1. Ẩn dụ cấu trúc
Ẩn dụ cấu trúc: trong đó lĩnh vực nguồn cung cấp một cấu trúc kiến thức rất
dồi dào cho một lĩnh vực đích. Điều này có nghĩa là loại ẩn dụ này giúp chúng ta
hiểu lĩnh vực đích A thông qua cấu trúc của lĩnh vực nguồn B. Ở đây có một quá
trình đồ họa các thành tố của lĩnh vực A với các thành tố của lĩnh vực B.
1.2.3.3.2. Ẩn dụ thực thể
53




Loại ẩn dụ này cung cấp một cấu trúc kiến thức đơn giản hơn so với ẩn dụ
cấu trúc. Chức năng của chúng dường như đơn thuần là gán cho một khái niệm trừu
tượng trong lĩnh vực đích một một vị thế mang tính thực thể nào đó. Thông qua loại
ẩn dụ này mà cảm xúc và ý tưởng có thể được hiểu như các vật thể hoặc chất liệu,
và được dựa trên nền tảng là các kinh nghiệm của con người về các vật thể ở một
mức độ rất chung chung, do vậy mà chúng ta chỉ có thể hiểu một cách tương đối ít
ỏi về lĩnh vực đích. Điều này rất khác với chức năng rất cụ thể của ẩn dụ cấu trúc.
Tuy vậy, ẩn dụ thực thể có thể biến các kinh nghiệm trừu tượng hoặc không rõ ràng
của con người thành các đồ vật hay chất liệu. Một ví dụ minh hoạ của loại ẩn dụ nà y
là My mind just isn’t operating today (nguyên văn: Hôm nay đ ầu óc tôi không làm
việc đư ợc). Có thể chúng ta không thực sự biết rõ về trí não của mình, nhưng thông
qua ẩn dụ thực thể TRÍ NÃO LÀ ĐỒ VẬT, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về nó.


Lĩnh vực nguồn Lĩnh vực đích
VẬT THỂ VẬT CHẤT => THỰC THỂ TRỪU TƯ ỢNG HOẶC PHI VẬT
CHẤT (Vd, trí não)
SỰ TÌNH (đi xem xiếc)
HÀNH ĐỘNG (gọi điện thoại)
CHẤT LIỆU => HOẠT ĐỘNG (a lot of running in the game)
VẬT CHỨA => VẬT THỂ VẬT CHẤT KHÔNG GIỚI HẠN
RÕ RÀNG ( bãi quang trong rừng)
=> MẶT PHẲNG VẬT CHẤT HOẶC PHI VẬT
CHẤT ( diện tích đất, tầm nhìn)
=> TRẠNG THÁI (trong cơn phấn khích)
Nhờ có ẩn dụ thực thể mà người sử dụng ngôn ngữ có thể đề cập đến, số
lượng hóa hay nhận diện được các bình diện kinh nghiệm mà trước đó không rõ
ràng. Khi chúng ta ý niệm hóa phạm trù hạnh phúc thành một đồ vật, thì hạnh phúc
sẽ có chủ sở hữu, vì vậy mà về mặt ngôn từ, chúng ta có hạnh phúc của tôi, hạnh
phúc của anh, như ờng niềm hạnh phúc, tranh giành hạnh phúc. Nhưng có lẽ quan
54




trọng hơn, nhờ có ẩn dụ thực thể mà kinh nghiệm trừu tượng có thể được cấu trúc
sâu hơn thông qua ẩn dụ cấu trúc. Quay trở lại với ví dụ về trí não. Nếu chúng ta ý
niệm hóa nó thành vật thể, chúng ta cũng có thể cấu trúc hóa nó sâu hơn nữa nhờ ẩn
dụ cấu trúc TRÍ NÃO LÀ ĐỘNG CƠ ( mấy hôm nay đ ầu óc bị rỉ sét). Hiện tượng
nhân hóa cúng được xem là một hình thức của ẩn dụ thực thể, vì khi nhân hóa vật
thể thành con người, chúng ta dễ dàng tri nhận chúng.
1.2.3.3.3. Ẩn dụ định hướng
Chúng có nền tảng là các kinh nghiệm của con người về định hướng không
gian như lên-xuống, trung tâm-ngoại vi. Ví dụ, ẩn dụ ý niệm NHẬN THỨC LÀ
HƯ ỚNG LÊN và VÔ THỨC LÀ HƯ ỚNG XUỐNG bắt nguồn từ một thực tế là
con người và động vật nằm khi ngủ và đứng lên khi thức (Lakoff & Johnson
[83;15]).
Đây là loại ẩn dụ có chức năng tri nhận thấp nhất trong ba loại. Cấu trúc tri
nhận mà chúng tạo ra cho các ý niệm đích sơ sài hơn so với cả ẩn dụ thực thể. Chức
năng tri nhận ở đây chủ yếu là làm cho hệ thống ý niệm của chúng ta trở nên gắn bó
mạch lạc. Theo Kovecses [74], tính mạch lạc thể hiện ở chỗ các ý niệm đích có xu
hướng được ý niệm hóa một cách đồng dạng. Các ví dụ sau đây cho thấy một số ý
niệm có đặc điểm hướng lên, trong khi các ý niệm đối lập chúng lại có đặc điểm
hướng xuống:
NHIỀU HƠN LÀ HƯ ỚNG LÊN, ÍT HƠN LÀ HƯ ỚNG XUỐNG
MẠNH KHỎE LÀ HƯ ỚNG LÊN, ỐM ĐAU LÀ HƯ ỚNG XUỐNG
TỈNH TÁO LÀ HƯ ỚNG LÊN, BẤT TỈNH LÀ HƯ ỚNG XUỐNG
KIỂM SOÁT LÀ HƯ ỚNG LÊN, MẤT KIỂM SOÁT LÀ HƯ ỚNG XUỐNG
HẠNH PHÚC LÀ HƯ ỚNG LÊN , BẤT HẠNH LÀ HƯ ỚNG XUỐNG
Định hướng lên có xu hướng gắn với các đánh giá dương tính, trong khi định
hướng xuống thường đi kèm các đánh giá âm tính. Các đánh giá dương tính-âm tính
không những thể hiện qua quan hệ hướng lên –hướng xuống, mà còn gắn với các
lược đồ hình ảnh mang tính lưỡng cực như trung tâm-ngoại vi, trong-ngoài, cân đối-
bất cân đối, trước-sau, tổng thể-phi tổng thể.
55




Các quá trình ẩn dụ cho phép chúng ta hiểu được các ý niệm và các phạm trù
trừu tượng thông qua các ý niệm và phạm trù gắn bó trực tiếp và dựa trên các kinh
nghiệm cơ thể của chúng ta. Tuy nhiên, ẩn dụ là một hiện tượng có tầng bậc, cụ thể
là có những vùng mờ giữa một bên là các tiểu phạm trù và một bên là các ẩn dụ.
Lakoff và Johnson chứng minh điều này bằng ví dụ TRANH LUẬN LÀ MỘT
CUỘC CHIẾN. Ở đây không thể xác định một cách hoàn toàn rõ ràng là một cuộc
tranh luận là một dạng của cuộc chiến, tức là một tiểu phạm trù, hay nên hiểu nó
thông qua một cuộc chiến, tức là một ẩn dụ. Hai tác giả trên cho rằng giữa các tiểu
phạm trù và ẩn dụ tồn tại một dải liên tục, và nếu khi ta không xác định rõ A và B
có cùng một loại sự vật và hoạt động hay không, thì quan hệ giữa A và B có lẽ nằm
ở khoảng giữa của dải này.
Tuy đã được Kovecses [74] bổ sung và sửa chữa, nhưng việc phân loại ẩn dụ
ý niệm theo chức năng tri nhận vẫn còn bộc lộ mặt hạn chế vì không giúp các nhà
nghiên cứu có những “nhát cắt” hoàn hảo trong việc phân chia các ẩn dụ tìm được
trong khối ngữ liệu, đặc biệt là khi phân biệt giữa ẩn dụ thực thể và ẩn dụ định
hướng. Theo cách phân loại này thì biểu thức “giá vàng rớt xuống” có thể là hiện
thực hóa của ẩn dụ định hướng ÍT LÀ XUỐNG, nhưng cũng có thể coi đây là một
biểu hiện của ẩn dụ thực thể GIÁ VÀNG LÀ ĐỒ VẬT. Chính vì lí do này mà trong
luận án chúng tôi không sử dụng cách phân loại theo chức năng tri nhận đối với các
ẩn dụ tìm được. Tuy nhiên, các tiểu loại ẩn dụ ý niệm theo chức năng tri nhận nà y
vẫn được sử dụng trong luận án để miêu tả, thảo luận và đánh giá các cá thể ẩn dụ ý
niệm tìm được.
1.2.3.4. Phân loại theo lĩnh vực nguồn
Trong luận án này, chúng tôi chọn cách phân loại các ẩn dụ ý niệm dựa trên
các lĩnh vực nguồn của chúng nhằm có một bức tranh toàn diện hơn về các ẩn dụ ý
niệm và nhằm bộc lộ những điểm tương đồng và dị biệt nếu có giữa các ẩn dụ ý
niệm xuất hiện trong hai khối bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt.
Một khó khăn mà chúng tôi gặp khi nhận diện và phân loại các biểu thức ẩn
dụ theo cách này là việc các đơn vị ẩn dụ có mặt trong khối dữ liệu ít nhiều đều có
56




tính chất lưỡng cực, tuy mức độ thấp hơn so với cách phân loại theo chức năng tri
nhận. Chẳng hạn việc phân tích biểu thức “nền kinh tế đang suy sụp” có thể đưa đến
ẩn dụ ý niệm “NỀN KINH TẾ LÀ MỘT TÒA NHÀ”, nhưng cũng có thể suy luận
nền kinh tế là một vật thể được nhân hóa và do vậy biểu thức ẩn dụ trên xuất phát từ
ẩn dụ NỀN KINH TẾ LÀ MỘT CƠ THỂ SỐNG. Trong quá trình nhận diện và
phân loại, chúng tôi cố gắng xem xét ngữ cảnh xuất hiện của biểu thức và trong mối
quan hệ với các đơn vị khác trong văn bản trước khi nhóm biểu thức ẩn dụ vào một
trong các tiểu loại.
1.3. TIỂU KẾT
Trong chương này luận án đã trình bày các quan điểm triết học và ngôn ngữ
học truyền thống, vốn xem ẩn dụ là một hiện tượng ngôn ngữ. Các quan điểm nà y
có một chỗ đứng vững chắc và lâu dài trong lịch sử nghiên cứu ẩn dụ. Các nhà ngôn
ngữ học truyền thống có hai cách tiếp cận chính. Thứ nhất, họ miêu tả một ẩn dụ
dựa trên sự tương đồng giữa các biểu vật của biểu thức ngôn ngữ chứa trong ẩn dụ
đó. Theo Leezenberg [86] quan điểm này xem ẩn dụ là một dạng so sánh được cô
đọng hay xem ẩn dụ là dạng rút gọn của tỉ dụ. Thứ hai, họ có thể giải thuyết một ẩn
dụ dựa trên việc phân tích tầng ý nghĩa của bản thân ẩn dụ, chứ không dựa trên sự
tương đồng giữa các biểu vật xuất hiện trong ẩn dụ [71].
Chúng tôi cũng đã đề cập đến vai trò của quan điểm dụng học trong việc tiếp
cận ẩn dụ mà đại diện là Grice [62] và Searle [104]. Nếu tiếp cận ẩn dụ từ góc độ
dụng học, thì ẩn dụ liên quan đến nghĩa phát ngôn của người nói chứ không phải là
nghĩa của từ hay câu. Quan điểm này xem ẩn dụ như một hàm ngôn hội thoại xuất
phát từ việc vi phạm phương châm Chất lượng và từ hiện tượng sai lệch phạm trù.
Các đường hướng nghiên cứu ẩn dụ nêu trên, cho dù mang đặc điểm nghĩa
học hay dụng học, đều phải đối diện với những khó khăn giống nhau. Các đường
hướng này đều lấy tính lệch chuẩn để làm căn cứ nhận diện ẩn dụ, hoặc coi việc giải
thuyết ẩn dụ xảy ra ở tầng bậc thứ hai. Phần lớn các khó khăn trên bắt nguồn từ
quan điểm xem ẩn dụ là hiện tượng lệch chuẩn và khác biệt so với ngôn ngữ theo
nghĩa đen.
57




Trong phần còn lại của chương, luận án đã trình bày quan điểm của ngôn
ngữ học tri nhận. Theo quan điểm này thì ẩn dụ không phải là một hiện tượng ngôn
ngữ thuần tuý, mà là sự thể hiện một phép đồ họa ý niệm giữa hai lĩnh vực. Chúng
tôi cũng hệ thống hóa các đặc tính của ẩn dụ ý niệm, cách phân loại ẩn dụ ý niệm và
tổng hợp một định nghĩa về ẩn dụ từ ba góc độ tri nhận, nghĩa học và dụng học để
làm cơ sở phân tích các ngữ liệu của luận án trong các chương hai và chương ba
tiếp theo.
58




CHƯƠNG HAI:
ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG BẢN TIN KINH TẾ TIẾNG ANH
Trong các bản tin kinh tế tiếng Anh, các hiện tượng kinh tế trừu tượng
thường được ý niệm hóa thông qua nhiều loại ẩn dụ ý niệm. Chúng tôi đã tổ chức
nhận diện, đặt tên và phân loại các ẩn dụ ý niệm này theo các lĩnh vực nguồn của
chúng. Thống kê của chúng tôi cho thấy có 3709 lượt xuất hiện của các biểu thức ẩn
dụ, thuộc 21 tiểu loại ẩn dụ ý niệm trong các bản tin kinh tế tiếng Anh. Chúng tôi đã
tiến hành sắp xếp các tiểu loại ẩn dụ này thành 4 nhóm chính. Bốn nhóm ẩn dụ nà y
lần lượt là ẩn dụ KHÔNG GIAN, ẩn dụ MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN, ẩn dụ HOẠT
ĐỘNG và ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG.
Hình 2.1 sẽ cho chúng ta thấy sự phân bổ theo số lượng của bốn nhóm ẩn dụ chính
tìm thấy trong khối ngữ liệu tiếng Anh:

2000

1500

1000

500

0
AD Khoâng gian AD moâi tröôøng AD Hoaït ñoäng AD Cô theå soáng


Hình 2.1: Số lượng các nhóm ẩn dụ ý ni ệm chính trong ti ếng Anh


60

50

40

30

20

10

0
AD Khoâng gian AD moâi tröôøng AD Hoaït ñoäng AD Cô theå soáng


Hình 2.2: Tỉ lệ phần trăm các nhóm ẩn dụ ý ni ệm chính trong tiếng Anh
59




Trong khối ngữ liệu tiếng Anh, nhóm các ẩn dụ KHÔNG GIAN chiếm tỉ lệ
cao hơn cả, với 53.35%. Ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG chiếm một tỉ lệ khiêm tốn là
10.13%.
Trong 4 nhóm ẩn dụ nói trên trong các bản tin kinh tế tiếng Anh chúng tôi
thống kê được 21 tiểu loại ẩn dụ ý niệm, trong đó các nhóm có tỉ lệ sử dụng cao
nhất là ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ CHUYỂN ĐỘNG LÊN-XUỐNG.
Nhóm ẩn dụ này xuất hiện 1360 lượt trong các bản tin, chiếm 36.66% các ẩn dụ ý
niệm tiếng Anh. Tiếp theo là nhóm ẩn dụ ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ
CHUYỂN ĐỘNG CAO-THẤP (16.6%), ẩn dụ HÀNH TRÌNH (6.2%) và ẩn dụ
CHIẾN TRANH (4.9%). Chiếm tỉ lệ thấp nhất trong số các nhóm ẩn dụ ý niệm ở
các bản tin tiếng Anh là các ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG
HÔN NHÂN (0.24%)với 9 lượt xuất hiện, tiếp theo là ẩn dụ CƠ THỂ NGỦ
(0.08%) với 3 lượt xuất hiện. Điều đặc biệt là trong các bản tin tiếng Anh chúng tôi
không tìm thấy biểu thức ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG GIẢI
T O ÁN.
2.1. ẨN DỤ KHÔNG GIAN
Ẩn dụ không gian hay ẩn dụ định hướng theo cách gọi của Lakoff và
Johnson [83] có nền tảng là các kinh nghiệm của con người về quan hệ không gian;
thông qua các biểu thức ẩn dụ mà các ý niệm sẽ được tổ chức hoặc cấu trúc dựa trên
sự định hướng về không gian, ví dụ như các ẩn dụ ý niệm PHÁT TRIỂN KINH TẾ
LÀ HƯ ỚNG LÊN và SUY GIẢM KINH TẾ LÀ HƯ ỚNG XUỐNG. Các ẩn dụ này
thường có nền tảng là các hình ảnh mà con người tích lũy thành kinh nghiệm, chứ
không phải có nền tảng từ kiến thức. Lakoff [82] thống nhất đặt tên cho chúng là
ẩn dụ lược đồ hình ảnh. Đặc trưng chủ yếu nhất của loại ẩn dụ này là chúng đồ họa
rất ít từ lĩnh vực nguồn sang lĩnh vực đích. Các ẩn dụ này có các lĩnh vực nguồn là
các khung hình ảnh; chúng khác với các ẩn dụ cấu trúc ở chỗ ẩn dụ cấu trúc có lĩnh
vực nguồn dựa trên cấu trúc kiến thức phong phú nên các phép đồ họa cũng phong
phú theo.
60




Theo quan điểm này, quá trình tư duy của con người tồn tại những ý niệm
không gian rất cơ bản xuất phát từ những kinh nghiệm cơ thể của con người như
LÊN-XUỐNG, GẦN–XA, TRONG-NGOÀI, TRƯ ỚC – SAU. Levinson [87] nhận
định rằng sự tri nhận về không gian là trung tâm của quá trình tư duy ở con người.
Tri nhận về không gian tạo cho chúng ta những mối liên hệ mang tính tương đồng
và cho ta công cụ để hiểu biết về các lĩnh vực khác. Các tác giả khác như Talmy
[109] và Sweetser [107] cũng đều có chung quan điểm như thế khi cho rằng nhiều ý
niệm không mang thuộc tính không gian đã được cấu trúc hoá theo cách thức tương
tự như các ý niệm không gian.
Trong khối dữ liệu tiếng Anh đang phân tích, chúng tôi cũng đã tìm ra được
rất nhiều ý niệm ẩn dụ chứa các lĩnh vực nguồn là các ý niệm không gian, chúng
góp phần làm sáng tỏ các lĩnh vực đích là các hoạt động kinh tế mà các bản tin tiếng
Anh đang bàn đến.




AD CAO THAÁP
31%

AD CÑ LEÂN
69% XUOÁNG




Hình 2.3: Tỉ lệ xuất hi ện của các ti ểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN trong các bản tin ti ếng Anh

Ẩn dụ KHÔNG GIAN chiếm tỉ lệ chủ đạo trong các nhóm ẩn dụ ý niệm thể
hiện trong khối ngữ liệu tiếng Anh với 1979 lượt xuất hiện, bao gồm 2 tiểu loại: ẩn
dụ vị trí CAO-THẤP và ẩn dụ CHUYỂN ĐỘNG. Tuy ẩn dụ CHUYỂN ĐỘNG có
thể nói đến các chuyển động ngang và chuyển động thẳng đứng, nhưng trong các
bản tin tiếng Anh qua phân tích chúng tôi nhận thấy không có sự hiện diện của các
ẩn dụ CHUYỂN ĐỘNG theo chiều ngang; toàn bộ các ẩn dụ CHUYỂN ĐỘNG tìm
được đều nói đến chuyển động thẳng đứng hay chuyển động cao-thấp. Đề cập đến
61




các lược đồ không gian và các ẩn dụ ý niệm nguyên khởi tương ứng như NHIỀU
LÀ HƯ ỚNG LÊN hay TĂNG LÀ HƯ ỚNG LÊN, các tác giả Lakoff và Johnson
[83] cũng khẳng định rằng có sự biến thiên văn hóa trong việc sử dụng các ẩn dụ
này, thể hiện qua việc chúng có thể xuất hiện ở tất cả các nền văn hóa nhưng trong
các nền văn hóa khác thì các lược đồ không gian khác như trung tâm-ngoại biên hay
trong-ngoài có thể đóng vai trò chủ đạo hơn.
Trong ẩn dụ NHIỀU HƠN LÀ HƯ ỚNG LÊN và các ẩn dụ tầng bậc thấp của
nó như LỢI NHUẬN TĂNG LÀ HƯ ỚNG LÊN, các mức đo lợi nhuận được nhận
thức thông qua các thang bậc. Theo Johnson [66], lược đồ thang bậc gắn liền và
xuất phát từ các trải nghiệm thực tế của con người với thế giới xung quanh và giữa
hai đối tượng này có những đơn vị tương đương thực thể như sau:
Lợi nhuận càng nhiều thì tương đương với vị trí càng cao trong thang bậc.
Công ty hoạt động càng tốt tương đương với vị trí càng cao. Chi phí/giá cả
càng cao tương đương với vị trí càng cao.
Các biểu thức ngôn ngữ dùng để diễn đạt ẩn dụ ý niệm CHUYỂN ĐỘNG
LÊN XUỐNG trong các bản tin kinh tế tiếng Anh cho thấy tính đa dạng về mặt
ngôn từ. Thống kê của chúng tôi cho thấy có 25 đơn vị từ vựng khác nhau xuất
hiện trong nhóm ẩn dụ này, chẳng hạn như climb[trèo], decline[đi xuống], dip
[chìm sâu], drop [rơi], fall [ngã], hike [đi lên], jump [nhảy], lift [nhấc lên], perk
[ngẩng lên], plummet [lao thẳng xuống], plunge [lao xuống]. Trong nhóm các ẩn
dụ chu yển động LÊN-XUỐNG xuất hiện trong các bản tin kinh tế tiếng Anh, chúng
tôi nhận thấy các đơn vị từ vựng có tần suất sử dụng cao nhất là up [hư ớng lên] với
335 lượt xuất hiện, rise [lên cao] với 321 lượt, tiếp theo là down [hư ớng xuống] và
fall [ngã] lần lượt có 145 và 133 lượt xuất hiện trong các bản tin.
Nhóm các ẩn dụ ý niệm VỊ TRÍ CAO THẤP tuy hạn chế hơn về sự đa dạng
của các biểu thức ngôn ngữ so với nhóm chuyển động LÊN-XUỐNG, nhưng vẫn
chiếm một tần suất sử dụng khá cao trong toàn bộ các nhóm ẩn dụ với 619 lượt xuất
hiện, trong đó các biểu thức như high [cao] và low [thấp] cùng các biến thể phái
sinh của chúng như higher [cao hơn], highest [cao nhất], lower [thấp hơn], lowest
62




[thấp nhất] được các tác giả bản tin sử dụng thường xuyên nhất, đặc biệt là trong
các bản tin tài chính về thị trường chứng khoán.
Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất Tổng
hiện
VỊ TRÍ CAO-THẤP bottom 10 619
high 285
low 231
peak 39
54
top
CHUYỂN ĐỘNG L Ê N- climb 32 1360
XUỐNG decline 57
dip 11
down 145
drop 71
fall 133
hike 10
jump 30
lift 17
perk 2
pick up 11
plummet 3
plunge 14
raise 57
rise 321
slide 9
shot up 5
slip 17
slump 11
soar 18
spike 6
stride 2
surge 37
tumble 6
up 335
Tổng cộng 1979

Bảng 2.4: Các ẩn dụ ý ni ệm KHÔNG GIAN và các bi ểu thức ẩn dụ trong các bản tin ti ếng Anh


Chúng tôi nhận xét sự có mặt rất đa dạng của các biểu thức ẩn dụ chuyển tải ý
niệm LÊN-XUỐNG hay vị trí CAO-THẤP đã làm cho các bản tin kinh tế trong
tiếng Anh tránh được sự khô khan thường gặp của các con số và sự kiện kinh tế.
63




Người đọc bản tin cũng có thể tri nhận nền kinh tế hay thị trường tài chính một cách
rõ ràng nhờ các ẩn dụ định hướng NHIỀU HƠN LÀ HƯ ỚNG LÊN, ÍT HƠN LÀ
HƯ ỚNG XUỐNG, thể hiện qua các biểu thức như high [cao], hoặc nhờ các ẩn dụ
thực thể, thể hiện bằng biểu thức tumble [ngã] hay jump [nhảy] như trong các bản
tin FT1 và FT19 sau đây.
FT1. World financial markets largely shrugged off a sharp tumble in the red-hot
Chinese stock market on Wednesday, with the US S&P 500 index ending the day at
an all-time high. [Thị trư ờng tài chính thế giới phớt lờ cú ngã mạnh ngày thứ Tư
của thị trư ờng chứng khoán Trung Quốc đang nóng đ ỏ, với chỉ số US S&P kết thúc
ngày giao dịch ở mức cao nhất]
FT19. In after-hours trade on Thursday, shares of Dell jumped 6.2 per cent to
$28.58 after a rise of 2.6 per cent to $26.91 in regular trade.[Trong phiên giao dịch
ngoài giờ cổ phiếu Dell nhảy 6.2% lên $28.58 sau khi tăng cao 2.6% lên $26.91
trong phiên thông thư ờng]
Ẩn dụ chuyển động NHIỀU HƠN LÀ HƯ ỚNG LÊN vừa mang ý nghĩa tích
cực như trong ẩn dụ tầng thấp LỢI NHUẬN NHIỀU HƠN LÀ HƯ ỚNG LÊN,
nhưng cũng thể hiện ý nghĩa tiêu cực như ở ẩn dụ LẠM PHÁT NHIỀU HƠN LÀ
HƯ ỚNG LÊN.
FT44. European and US wheat prices surged yesterday after Romania said
prolonged drought would reduce this year's wheat harvest to a four-year low.[Giá
lúa mỳ tại châu Âu và Hoa Kỳ ngày hôm qua đ ã lên cao sau khi Rumani tuyên bố
đ ợt hạn hán kéo dài trong năm nay sẽ làm giảm sản lư ợng lúa mỳ xuống thấp nhất
trong bốn năm].
Các lược đồ LÊN-XUỐNG hay CAO-THẤP có thể làm nền tảng cho các ẩn
dụ dùng để ý niệm hóa các lĩnh vực đích trừu tượng như số lượng: SỐ LƯ ỢNG
NHIỀU LÀ HƯ ỚNG LÊN:
FT3. The Dow Jones Industrial Average rebounded from early afternoon losses and
closed up 0.1 per cent at 13,521.34.[Chỉ số Dow Jones nảy lên từ đ ầu giờ chiều sau
khi mất điểm và đóng cửa tăng cao 0.1 phần trăm ở 13,521.34 điểm].
64




Hay các lược đồ này cùng làm nền tảng để ý niệm hóa lĩnh vực đích chất
lượng như trong ẩn dụ ý niệm CHẤT LƯ ỢNG XẤU LÀ HƯ ỚNG XUỐNG:
FT4. “India is likely to under-perform its peer group due to concerns on inflation
and hence growth,” Morgan Stanley said. [Chắc chắn Ấn Độ sẽ trình diễn dư ới
mức nhóm các quốc gia bạn do những âu lo về lạm phát và tăng trư ởng].

FT13. In the previous 40 years, Britain came near the bottom of the G7 league
table. [Trong 40 năm trư ớc đó Anh Quốc đ ã xuống gần đáy bàn nhóm G7].
FT31 The Federal Reserve chairman said first-quarter growth had been held down
by factors such as an inventory adjustment, weak net exports and a slowdown in
defence spending. [Ông chủ tịch ngân hàng dự trữ liên bang cho rằng tăng trư ởng
trong quí một đ ã bị kìm xuống bởi các yếu tố như điều chỉnh hàng tồn, xuát khẩu
yếu, và việc giảm chậm chi tiêu quốc phòng].
2.2. ẨN DỤ MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN
Nhóm các ẩn dụ MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN bao gồm các loại ẩn dụ ý niệm
có lĩnh vực nguồn là các ý niệm về môi trường tự nhiên xung quanh con người như
chất lỏng, máy móc, động thực vật.
Với số lượng 660 lượt xuất hiện trong các bản tin kinh tế tiếng Anh
(17.79%), nhóm ẩn dụ MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN thể hiện vai trò đa dạng của
chúng trong quá trình nhận thức, tư duy và miêu tả các sự kiện kinh tế của các tác
giả bản tin. Chúng tôi tập hợp được 6 tiểu loại ẩn dụ thuộc nhóm này, đó là ẨN DỤ
CHẤT LỎNG, ẨN DỤ CỖ MÁY, ẨN DỤ BONG BÓNG, ẨN DỤ ĐỘNG THỰC
VẬT, ẨN DỤ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG, ẨN DỤ THỜI TIẾT-NHIỆT ĐỘ. Hình
2.5 cho thấy tỉ lệ xuất hiện của các tiểu loại ẩn dụ này trong nhóm ẩn dụ MÔI
TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN ở khối ngữ liệu tiếng Anh.
65




30
25
20
15
10
5
0
Chaát Coã maùy Bong Kieán Ñ o än g Thôøi tieát
loûng boùng truùc thöïc vaät



Hình 2.5: Các tiểu loại ẩn dụ thuộc nhóm ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN và tỉ lệ xuất hi ện
2.2.1. ẨN DỤ CHẤT LỎNG
Chiếm tỉ lệ cao nhất (29%) trong tổng số lượt xuất hiện của các biểu thức ẩn
dụ nhóm MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN và 5.1% trong tổng số lượt xuất hiện của các
biểu thức ẩn dụ trong khối ngữ liệu tiếng Anh, các ẩn dụ CHẤT LỎNG dùng các
lĩnh vực nguồn như chất lỏng, dòng chảy hay hơi nước để ý niệm hóa các lĩnh vực
đích như tiền tệ, hoạt động mua bán hàng hoá. Ví dụ trong bản tin dưới đây, ẩn dụ ý
niệm VỐN LÀ DÒNG CHẢY đã được sử dụng kết hợp với ẩn dụ THỊ TRƯ ỜNG
GIẢM LÀ HƯ ỚNG XUỐNG:
FT2. In spite of the 6.5 per cent drop in the stock market on Wednesday, many analysts
believe it could be just a temporary pause in the flow of new funds into the market [Mặc dù
thị trường chứng khoán rơi 6.5 phần trăm vào ngày thứ Tư, thế nhưng các chuyên gia
phân tích lại cho rằng đây chỉ là việc tạm ngưng dòng chảy của các quĩ đ ầu tư đ ổ vào thị
trường].




Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn Lượt xuất hiện Tổng
n gữ
DÒNG CHẢY cascade 1 186
flood 7
flow 29
inflow 14
liquidity 51
mainstream 1
outflow 2
66




pour 3
pump 4
spill over 3
stagnated 1
stream 5
surge 37
tide 3
volatile 11
water 4
wave 10
HƠI NƯ ỚC saturated 3 6
steam 3

TỔNG 192


Bảng 2.6: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ DÒNG CHẢY trong bản tin tiếng Anh
Hay trong bản tin tiếp theo, người viết đã sử dụng ẩn dụ ý niệm tầng bậc thấp
hơn ĐẦU TƯ DỪNG LẠI LÀ DÒNG CHẢY Ứ ĐỌNG khi bàn về đầu tư nước
ngoài tại Trung quốc năm 2007:
FT5. Foreign investment in western China has for the most part stagnated [Đầu tư nước
ngoài tại Trung quốc phần lớn đ ã bị ứ đ ọng].
Khảo sát các bản tin kinh tế có chứa các ẩn dụ ý niệm CHẤT LỎNG, chúng tôi có
nhận xét chung như sau: Trong các bản tin tiếng kinh tế tiếng Anh, chỉ có một số
lượng rất nhỏ các ẩn dụ CHẤT LỎNG thể hiện sự can thiệp của con người, đó là
các ẩn dụ TĂNG VỐN LÀ BƠM/ĐỔ CHẤT LỎNG, như trong ví dụ sau:
WSP173. Any doubts about the breadth and depth of the global credit crisis should
have been dispelled by yesterday's move by the European Central Bank to pump $500
billion in freshly printed euros into the banking system [Bất kỳ sự nghi ngờ nào về đ ộ rộng
và đ ộ sâu của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu lẽ ra đ ã nên bị đ ẩy lui bởi đ ộng thái
bơm 500 tỉ ơ-rô tiền mặt mới in vào hệ thống ngân hàng]
còn phần lớn các ẩn dụ ý niệm tìm được trong khối ngữ liệu đều thể hiện nền kinh
tế và các hoạt động của nó như những thực thể khách quan, không chịu tác động từ
phía con người. Khi người viết bản tin ý niệm hóa các hoạt động kinh tế thông qua
chất lỏng, dòng nước, đại dương hay hơi nước, thì nền kinh tế cùng với các hoạt
động kinh tế có thể có tính chất khó đoán trước hơn là khi được ý niệm hóa thông
67




qua các hoạt động của con người. Nguyên nhân là các ảnh hưởng và trách nhiệm cá
nhân trong các bản tin không được người viết bản tin đề cập đến, trong khi nền kinh
tế được hiểu dưới dạng một thực thể (biển, dòng chảy) và có thể có nhiều yếu tố
ngoài con người tác động vào. Ý nghĩa dụng học này của các ẩn dụ CHẤT LỎNG
còn có tác dụng đem đến cho người đọc bản tin với tư cách một nhà đầu tư một cảm
giác an toàn hơn vì các hoạt động tích cực hay tiêu cực của nền kinh tế đều không
có sự can thiệp chủ quan của con người. Bản tin FT15 có thể chứng minh cho quan
điểm này. Bình luận về việc tăng lãi suất của các ngân hàng thương mại đối với các
khoản vay mua bất động sản, tác giả bản tin FT15 xem việc giảm hay tăng lợi nhuận
chỉ là các cơn thủy triều xuống hay lên một cách bình thường trong thế giới tự
nhiên, và như thế người viết đã thể hiện vai trò của các nhà hoạt động kinh tế trong
tình huống này như những người đứng ngoài quan sát hơn là những người sẽ trực
tiếp can thiệp vào các hoạt động của ngân hàng:
FT15. Any property investor entering the market in recent years should have found it
fairly simple to make money. Rental yields have been at a premium to interest rates, and
phenomenal house price growth has meant that even unseasoned landlords have pocketed
significant profits.
But as interest rates rise and the brakes go on property price rises, it seems the tide could
be turning [Nhưng khi lãi suất tăng và việc tăng giá bất đ ộng sản phanh lại, thì dường như
cơn thủy triều sẽ đ ổi hư ớng]
2.2.2. ẨN DỤ CỖ MÁY
Ẩn dụ ý niệm CỖ MÁY với các tiểu loại ở tầng bậc thấp của nó chiếm
19.8% tổng số lượt xuất hiện của nhóm các ẩn dụ MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN có
trong các bản tin tiếng Anh. Chúng tôi đã phân loại được các tiểu loại tầng bậc thấp
của ẩn dụ này, đó là các ẩn dụ ĐỘNG CƠ, TÀU THỦY, MÁY BAY, TÀU LỬA.
Thống kê trong khối ngữ liệu tiếng Anh cho thấy các ẩn dụ ĐỘNG CƠ có
tần suất sử dụng lớn nhất trong số các ẩn dụ ý niệm cùng bậc (92 lượt), tiếp đến là
các ẩn dụ TÀU THỦY (22 lượt) và sau cùng các ẩn dụ TÀU HỎA và MÁY BAY
có tần suất sử dụng thấp nhất.
68




Khi ý niệm hóa nền kinh tế hay các tổ chức kinh tế thông qua ý niệm nguồn
CỖ MÁY, tác giả các bản tin có thể muốn làm nổi bật hay che dấu một bình diện
nào đó của ý niệm đích. Chẳng hạn trong bản tin FT20 sau đây, các hoạt động xuất
khẩu được ý niệm như một động cơ và vì thế, sau khi được nạp năng lượng, chúng
sẽ vận hành hoàn hảo và không phụ thuộc vào các yếu tố cảm xúc thường thấy
trong các ẩn dụ CƠ THỂ mà chúng tôi sẽ đề cập ở các phần sau. Chúng ta lần lượt
khảo sát các ví dụ minh họa sau đây.
FT20. Exporters were on the move, fuelled by an upbeat outlook for the US
economy.[Các nhà xuất khẩu đang chuyển đ ộng, đư ợc nạp năng lư ợng bởi cái
nhìn lạc quan với nền kinh tế Mỹ]
Ở trong ví dụ này, ẩn dụ CỖ MÁY làm nổi bật ý niệm XUẤT KHẨU như
một vật thể mang tính cơ khí, tự động hóa, có động cơ và vận hành một cách trơn
tru. Ẩn dụ CỖ MÁY này cũng có thể che dấu các bình diện nào đó của hoạt động
xuất khẩu như các trở ngại về thuế quan, các thủ tục hành chính.
Trong bản tin FT109 sau đây tác giả đã sử dụng ý niệm nguồn CON
THUYỀN để độc giả có thể tư duy và suy luận về các hoạt động đầu tư với vai trò
là ý niệm đích:
FT109. As a result, the investment boat becomes unbalanced and vulnerable to
even a very small wave sinking the ship [Kết quả là, con thuyền đ ầu tư trở nên nghiêng
ngả và dễ bị ảnh hưởng bởi thậm chí một con sóng nhỏ đánh chìm tàu]
Khi nền kinh tế được ý niệm như một con tàu, thì thuyền trưởng thường là
người đứng đầu một đơn vị kinh tế như chủ tịch một ngân hàng, thủy thủ đoàn là
các trợ lý và nhân viên, biển cả là môi trường kinh tế-xã hội, bão tố, sóng gió hay đá
ngầm là các tình huống nan giải trong kinh tế cần giải quyết, dụng cụ đi biển là các
chỉ thị hay quyết định kinh doanh.
Thường thì các hoạt động kinh tế chẳng hạn như thị trường tài chính được
gắn với những thay đổi nhanh chóng và đi kèm với chúng là tính khó tiên đoán của
thị trường. Có vẻ như điều này hơi trái ngược với ẩn dụ NỀN KINH TẾ LÀ MỘT
CON TÀU, vì chúng ta có thể hiểu rằng những thuyền trưởng là những người biết
69




rõ thuyền của họ sẽ đi về đâu. Vì vậy có thể nói rằng không phải tất cả các đặc tính
của lĩnh vực gốc đều được đồ họa sang lĩnh vực đích. Đây chính là tính chất bán
phần của phép đồ họa ẩn dụ (Lakoff & Johnson [83]).



Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn Lượt xuất hiện Tổng
n gữ
ĐỘNG CƠ accelerate 7 92
brake 4
drive 48
engine 3
freewheel 1
fuel 22
machine 2
spanner 1
turbocharge 1
speed 3
TÀU THỦY buoy 16 22
sails 2
doldrums 2
boat 1
ship 1

automatic pilot
MÁY BAY 1 1
derail
TÀU LỬA 2 17
roller-coaster ride 6
track 8
rail 1
TỔNG CỘNG 131
Bảng 2.7: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CỖ MÁY trong bản tin tiếng Anh


Ở cùng tầng bậc thấp với ẩn dụ TÀU THỦY và ĐỘNG CƠ là các ẩn dụ
MÁY BAY, TÀU HỎA trong hệ thống thang bậc của ẩn dụ CỖ MÁY/PHƯƠNG
TIỆN. Bản tin WP156 cho thấy các chương trình bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
của Hoa kỳ nếu không có các chính sách tác động vào từ phía con người thì sẽ được
tri nhận thành các máy bay không người lái bay theo một lịch trình định sẵn và như
thế rất nguy hiểm:
WP156. Almost everyone knows that the next president will have to wrestle with the
immense costs of retiring baby boomers. Comes now a small band of Democrats and
70




Republicans who want to do the new president a giant favor. They want to force the new
administration to face the problem in early 2009. Why is this a favor? Because dealing
with this issue is so politically unsavory that resolving it quickly would be a godsend.
Otherwise, it could haunt the White House for four years.
Let's review the problem (again). From 2000 to 2030, the 65-and-over population will
roughly double, from 35 million to 72 million, or from about 12 percent of the population
to nearly 20 percent. Spending on Social Security, Medicare and Medicaid -- three big
programs that serve the elderly -- already represents more than 40 percent of the federal
budget. In 2006, these three programs cost $1.1 trillion, more than twice defense spending.
Left on automatic pilot, these programs are plausibly projected to grow to about 75
percent of the present budget by 2030 [Nếu đ ể theo chế đ ộ bay tự đ ộng, các chương trình
này ước tính sẽ phát triển chiếm đ ến 75 phần trăm ngân sách hiện có vào năm 2030].
Nhận định về một phiên giao dịch giảm mạnh trên thị trường chứng khoán
Thượng Hải, tác giả bản tin FT1 lại dùng ý niệm nguồn TÀU HỎA để miêu tả nền
kinh tế Trung Quốc:
FT1. This time contagion was limited as investors took the view that a deflating of
China’s stock market was unlikely to have global repercussions or derail the booming
Chinese economy [Lần lây nhiễm này có mức độ hạn chế vì các nhà đ ầu tư cho rằng việc
xì hơi thị trường chứng khoán Trung Quốc sẽ khó gây tiếng vọng toàn cầu hay có thể làm
trật đư ờng ray nền kinh tế Trung Quốc]
Một điều thú vị trong bản tin này là sự xuất hiện cùng lúc của nhiều biểu
thức ngôn ngữ (contagion, deflating, repercussion, derail, booming) thể hiện các ẩn
dụ ý niệm khác nhau song song hoạt động trong một ngôn cảnh: ẢNH HƯ ỞNG
TIÊU CỰC CỦA NỀN KINH TẾ LÀ BỆNH LÂY NHIỄM, THỊ TRƯ ỜNG
CHỨNG KHOÁN LÀ BONG BÓNG, ẢNH HƯ ỞNG LÀ TIẾNG VANG, NỀN
KINH TẾ LÀ TÀU HỎA. Việc sử dụng đan chéo các lĩnh vực nguồn khác nhau
trong cùng một đơn vị phát ngôn được gọi là hiện tượng đa ẩn dụ hay ẩn dụ cụm mà
nhiều tác giả như Quinn [100], Corts & Meyers [44], Koller [72], [73], Cameron
[33], Kimmel [70] đã đề cập trong các công trình nghiên cứu của mình. Tuy vẫn
còn nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của hiện tượng này trong ngôn bản,
71




nhưng các công trình trên vẫn có sự thống nhất về một số chức năng mà hiện tượng
đa ẩn dụ thể hiện: Chúng đóng vai trò tạo sự chú ý cho độc giả, tăng tính hiệu quả
của văn bản và trong nhiều trường hợp, hiện tượng đa ẩn dụ xuất hiện khi trong văn
bản tác giả muốn làm rõ các chủ đề mới hoặc phức tạp.
2.2.3. ẨN DỤ BONG BÓNG
Ẩn dụ NỀN KINH TẾ LÀ BONG BÓNG đề cập đến tình hình kinh tế trong
đó giá trị của các sản phẩm và dịch vụ trở nên cao hơn nhiều so với giá trị thực của
chúng. Theo Bratoz [32], sự xuất hiện thường xuyên của ẩn dụ BONG BÓNG trong
các bài báo kinh tế thương mại tiếng Anh đã khiến nó được xem như một ẩn dụ
thường qui; trong các từ điển tiếng Anh hiện đại và đặc biệt trong các từ điển tiếng
Anh chuyên ngành kinh tế hiện nay đã có các mục từ riêng giải thích ý nghĩa ẩn dụ
của cụm từ “bong bóng”.
Xét một số ẩn dụ BONG BÓNG trong khối ngữ liệu tiếng Anh: tác giả bản
tin FT46 khi đề cập đến việc các cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Trung Quốc
đang phát triển vượt trên giá trị thực đã dùng ý niệm nguồn BONG BÓNG cho ẩn
dụ GIÁ CỔ PHIẾU TĂNG CAO LÀ BONG BÓNG như sau:
FT46. The government is encouraging more companies to sell shares domestically to
increase supply and try and slow rising prices, which have prompted warnings that a
bubble has formed in the market [Chính phủ đang khuyến khích nhiều công ty hơn nữa
trong việc bán cổ phiếu ra thị trường nội đ ịa nhằm tăng nguồn cung và hạ giá cổ phiếu,
đ ộng thái này đ ã tạo một cảnh báo cho thấy bong bóng đ ã hình thành trên thị trường].
Còn trong bản tin WP154, để giải thích cho hiện tượng giá nhà đất tăng cao
tại Hoa Kỳ năm 2007, dẫn đến cơn khủng hoảng tín dụng cho vay bất động sản
trong cùng năm, tác giả bản tin đã sử dụng biểu thức housing bubble [bong bóng
nhà đ ất], thể hiện ẩn dụ ý niệm GIÁ BẤT ĐỘNG SẢN TĂNG CAO LÀ BONG
BÓNG. Ẩn dụ này hành chức như một công cụ tri nhận, giúp người đọc suy ngẫm
về một hiện tượng kinh tế không an toàn, và qua đó thuyết phục người đọc có
những quyết định điều chỉnh đúng đắn trong kinh doanh:
Lending standards were clearly too lax and rating agencies too uncritical. Still, the rating
agencies have downgraded fewer than 5 percent of subprime mortgage-backed securities
72




issued in 2006 (by dollar volume). This suggests that many investors knowingly bought
risky mortgage bonds, thereby inflating the housing bubble.[Các điều kiện cho vay quá dễ
dãi còn các đơn vị đ ịnh giá tài sản quá không khắt khe. Không những thế, các cơ quan
đ ịnh giá đ ã hạ mức đ ịnh giá thấp hơn 5% các tài sản cầm cố ban hành năm 2006 (tính
theo đ ồng đô la). Điều này cho thấy nhiều nhà đ ầu tư biết mà vẫn mua các trái phiếu cầm
cố có tính chất rủi ro cao, do đó đ ã làm nở thêm quả bong bóng nhà đ ất].


Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
boom 45 134
bubble 44
burst 12
deflate 3
expand 4
explode 3
popping 3
prick 3
rebound 17

Bảng 2.8. Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ BONG BÓNG trong bản tin tiếng Anh


Giải thích những nguyên nhân dẫn đến tình hình lạm phát của nền kinh tế thế
giới năm 2007, tác giả bản tin WP171 cũng sử dụng ý niệm nguồn BONG BÓNG
trong ẩn dụ THỊ TRƯ ỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VÀ THỊ TRƯ ỜNG CHỨNG
KHOÁN LÀ BONG BÓNG. Trong bản tin này người đọc cũng gặp lại hiện tượng
đa ẩn dụ cùng hoạt động đồng thời nhằm tạo cho bản tin tính hấp dẫn và dễ hiểu
hơn:

WP171. Countries with undervalued currencies and good growth rates were also
magnets for foreign investment. As a result, multinational corporations and global
investors have poured hundreds of billions of dollars into these countries, financing new
companies, expanding existing ones and fueling a building boom. The effect has been to
turn fast-growing economies into overheated ones, in the process creating real estate and
stock market bubbles from Rio to Shanghai [Các quốc gia có đ ồng tiền đ ịnh giá thấp và tỉ
lệ tăng trưởng tốt cũng đ ã trở thành nam châm thu hút đ ầu tư n ước ngoài. Kết quả là, các
tập đoàn đa quốc gia và các nhà đ ầu tư toàn cầu đ ã đ ổ hàng trăm tỉ đô la vào các quốc
73




gia này, cung cấp tài chính cho các công ti mới, mở rộng các công ti cũ và tiếp nhiên liệu
cho một vụ nổ đang hình thành. Hệ quả là đ ã chuyển những nền kinh tế tăng trưởng nhanh
thành những nền kinh tế quá nóng, trong quá trình đó tạo các bong bóng của thị trường
chứng khoán và thị trường bất đ ộng sản từ Rio đ ến Thượng Hải].

2.2.4. ẨN DỤ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG
Ẩn dụ ý niệm NỀN KINH TẾ LÀ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG và các tiểu loại
của nó được dựa trên các phép đồ họa như sau:
(a) nền móng => nền tảng hỗ trợ cho hệ thống kinh tế
(b) thiết kế => cấu trúc của hệ thống kinh tế
(c) sụp đổ => thất bại của hệ thống
(d) vững => tính ổn định của hệ thống
Ẩn dụ kiến trúc xây dựng xuất hiện với mật độ khá cao (73 lượt) trong khối
ngữ liệu tiếng Anh của luận án, chiếm 11% trong tổng số các ẩn dụ thuộc nhóm
MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN. Chúng thường được thể hiện qua các biểu thức ngôn
ngữ như build[xây], collapse[sụp], construct[xây dựng], crack[nứt], design[thiết
kế], door[cửa], foundation[nền], roof[mái], ruin[đ ổ nát], shaky[rung], solid[chắc],
structure[cấu trúc], walls[tường].


Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
build 13 73
collapse 15
construct 2
crack 4
design 5
door 4
foundation 1
roof 2
ruin 1
shaky 2
solid 10
structure 13
walls 1
Bảng 2.9: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG trong
bản tin tiếng Anh
74




Biểu thức ẩn dụ trong bản tin FT11 sau đây phản ánh ẩn dụ ý niệm VIỆC
TẠO MỘT HỆ THỐNG (KINH TẾ) TRỪU TƯ ỢNG LÀ VIỆC XÂY DỰNG
MỘT CẤU TRÚC VẬT CHẤT, còn bản tin WP153 lại chứa ẩn dụ ý niệm THẤT
BẠI CỦA HỆ THỐNG (KINH TẾ) TRỪU TƯ ỢNG LÀ SỰ SỤP ĐỔ CỦA CẤU
TRÚC VẬT CHẤT:
FT11. Investors should be actively involved in building and transferring risk management
skills to their Chinese partner [Các nhà đ ầu tư nên tích cực tham gia vào việc xây dựng và
chuyển giao các kỹ năng quản lý rủi ro cho các đ ối tác Trung Quốc.]
WP 153. The world economy collapsed during World War I and could not be successfully
reconstructed in the 1920s [Nền kinh tế thế giới sụp đ ổ trong chiến tranh thế giới thứ nhất
và không thể tái xây dựng thành công trong những năm 1920].
Người viết bản tin WP163 khi miêu tả sự tăng trưởng kinh tế thế giới đã dùng biểu
thức “solid” [chắc chắn}, qua đó phản ánh ẩn dụ ý niệm tầng bậc sâu TÍNH ỔN
ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG KINH TẾ TRỪU TƯ ỢNG LÀ SỰ VỮNG CHẮC CỦA
CẤU TRÚC VẬT CHẤT :
WP163. High fuel prices and weak U.S. economic growth year over year have impacted
our business. We continue to benefit from solid international growth, which helps mitigate
softness in U.S. industrial production.[Giá nhiên liệu cao cũng như phát triển kinh tế yếu
tại Hoa Kỳ đ ã tác đ ộng đ ến kinh doanh của chúng ta. Chúng ta tiếp tục được hưởng lợi từ
sự phát triển quốc tế vững chắc, điều này giúp làm nhẹ bớt tính mềm yếu của nền sản xuất
công nghiệp Hoa Kỳ].
Việc phân tích các bản tin kinh tế có chứa các biểu thức ẩn dụ mang lĩnh vực
nguồn KIẾN TRÚC XÂY DỰNG cũng giúp phát hiện nhiều ẩn dụ thuộc nhóm ẩn
dụ lược đồ hình ảnh. Trong bản tin FT34, tác giả đã dùng biểu thức ẩn dụ “driving
the price of oil through the roof”[đ ẩy giá dầu lửa xuyên mái nhà] để miêu tả ý niệm
giá dầu tăng. Biểu thức ẩn dụ này không thể hiện ẩn dụ cấu trúc mà thể hiện ẩn dụ
hình ảnh, một loại ẩn dụ lư ợc đ ồ hình ảnh:
FT34. Opec on Tuesday warned western countries that their efforts to develop biofuels as
an alternative energy source to combat climate change risked driving the price of oil
through the roof.[Tổ chức Opec ngày thứ hai đ ã cảnh báo các nước phương tây rằng nỗ
75




lực phát triển nguồn nhiên liệu sinh học của họ như một nguồn nhiên liệu thay thế nhằm
chiến đ ấu chống lại thay đ ổi khí hậu đ ã tạo nguy cơ đ ẩy giá dầu lửa xuyên mái nhà].
Có thể nói ẩn dụ trên đã được tạo ra nhờ sự kết nối hai hình ảnh: hình ảnh giá
dầu tăng và hình ảnh chiều hướng lên từ nền nhà đến mái nhà. Ở đây người viết
cũng đã có thể sử dụng một ẩn dụ KHÔNG GIAN, trong đó có lược đồ CAO-THẤP
như chúng tôi đã phân tích ở những phần trước, tuy nhiên việc kết hợp giữa lược đồ
CAO-THẤP với ý niệm NHÀ CỬA đã tạo ra một ẩn dụ mới có giá trị tu từ cao và
làm tăng giá trị dụng học của bản tin.
Tác giả bản tin WP164 cũng sử dụng một ẩn dụ hình ảnh tương tự để tạo tính
hấp dẫn cho bản tin khi hướng người đọc nhận thức được những khó khăn đang đối
mặt nền kinh tế Hoa Kỳ thông qua ẩn dụ “hit the wall”[chạm tư ờng]:
WP164. And when the economy does begin to hit the wall, there is little the Fed will be
able to do, or should do, to prevent it: It is part of the economy's natural self-correcting
process.[Và khi nền kinh tế bắt đ ầu chạm tư ờng, sẽ có rất ít điều mà ngân hàng dự trữ
liên bang có khả năng thực hiện hay nên làm đ ể ngăn chận nó: Đây là một phần của quá
trình nền kinh tế tự điều chỉnh].
2.2.5. ẨN DỤ ĐỘNG THỰC VẬT
ĐỘNG THỰC VẬT cũng là một dạng lĩnh vực nguồn rất tiềm tàng trong
việc cấu thành các ẩn dụ ý niệm. Các nhà ngôn ngữ học tri nhận cho rằng động vật
một mặt gần gũi với con người và hiện diện thường xuyên trong đời sống, mặt khác
chia sẻ với con người rất nhiều điểm tương đồng như cách thức tổ chức xã hội, tầng
bậc vv. Chúng tôi thống kê được 62 lượt xuất hiện của các biểu thức ẩn dụ có ý
niệm nguồn là động thực vật, chiếm tỉ lệ 9.3% trong tổng số các ẩn dụ MÔI
TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN trong các bản tin tiếng Anh.
Tuy nhiên, ẩn dụ động thực vật tồn tại không nhiều như dự đoán trong khối
ngữ liệu tiếng Anh. Tuy vậy, sự có mặt của các hình ảnh động thực vật trong các
bản tin dù sao cũng giúp người đọc nhận hiểu một cách rõ ràng hơn tính chất của
các hoạt động kinh tế cũng như các hành vi của người tham gia các hoạt động kinh
tế.
2.2.5.1. ẨN DỤ ĐỘNG VẬT
76




Chúng tôi tán thành quan điểm của Kovecses [74], theo đó rất nhiều hành vi
của con người được hiểu một cách ẩn dụ thông qua loài vật. Ông đưa ra ẩn dụ ý
niệm ở tầng bậc cao CON NGƯ ỜI LÀ ĐỘNG VẬT, và dưới nó là các ẩn dụ bậc
thấp như
HÀNH VI ĐÁNG PHÊ PHÁN CỦA NGƯ ỜI LÀ HÀNH VI ĐỘNG VẬT
CON NGƯ ỜI ĐÁNG PHÊ PHÁN LÀ ĐỘNG VẬT
SỰ TÌNH KHÓ GIẢI QUYẾT LÀ CHÓ
PHỤ NỮ HẤP DẪN LÀ MÈO (sdd, tr.125)
Một số ví dụ minh họa cho quan điểm trên có thể được thấy trong các bản tin
như sau:
FT60. Interest rate concerns continued to dog equity markets yesterday, taking the
tally of losses on the benchmark FTSE Eurofirst 300 this week to 3.5 per cent.[Ngày hôm
qua những mối lo ngại về tỉ lệ lãi suất vẫn chó thị trường vốn, như vậy trong tuần đ ã làm
mất 3.5% chỉ số FTSE Eurofirst 300]
Tác giả bản tin trên đã sử dụng động từ “to dog” [chó] mang nét nghĩa tiêu
cực nhằm thể hiện một tình huống khó khăn liên quan đến thị trường vốn vẫn đeo
bám. Biểu thức ẩn dụ ngôn từ trong bản tin phản ánh ẩn dụ ý niệm SỰ TÌNH KHÓ
GIẢI QUYẾT LÀ CHÓ (Kovecses [74]). Còn trong bản tin WP172, tính từ piggy
[lợn] được dùng để chỉ hành vi tham lam của các công ti:
WSP172. Even if you didn't always agree with their positions, you had to respect the
fact that they took a practical, long-term approach, turned out credible analysis and
provided adult supervision over industries or companies that got too piggy [Thậm chí nếu
không phải lúc nào bạn cũng đ ồng ý với các quan điểm của họ, bạn vẫn phải tôn trọng một
điều là họ có những đường hướng lâu dài, thực tiễn, có những bản phân tích đáng tin cậy
và việc giám sát kỹ lưỡng các ngành nghề hay các công ti trở nên quá lợn]
Maestre [92] khi khảo sát các ẩn dụ ý niệm có mặt trong các bản tin kinh tế tiếng
Anh cũng đã tìm ra nhiều biểu thức ẩn dụ có liên quan đến động vật. Theo bà, khi
động vật được sử dụng làm lĩnh vực nguồn thì sẽ có ẩn dụ DOANH NGHIỆP LÀ
ĐỘNG VẬT ở đó mối quan hệ tương đương thực thể giứa hai lĩnh vực sẽ như sau:
77




Các công ti/nhân viên là bầy đàn. Những công ti/nhân viên giỏi là thú ăn thịt.
Các công ti yếu/không hiệu quả là con mồi của thú ăn thịt. (tr.60)
Trong bản tin FT47, ẩn dụ ý niệm DOANH NGHIỆP LÀ ĐỘNG VẬT được
thể hiện qua các biểu thức ngôn ngữ như “con sói”, “họng đ ẫm máu”; tác giả bản tin
muốn dựng lại một bức tranh về quan điểm bi quan của người dân Trung Quốc khi
đất nước này chuẩn bị gia nhập tổ chức Thương mại thế giới:
FT74. Although it might be hard for Midwest rustbelt congressmen to imagine, not
everyone in China thinks WTO membership is an unalloyed good. Fear runs deep of
foreign "wolves" snatching up hapless domestic industries in their blood-drenched
maws.[Mặc dù các vị dân biểu già nua ở phương Tây có lẽ cũng khó mà hình dung, thế
nhưng không phải mọi người dân ở Trung Quốc đ ều nghĩ rằng việc làm thành viên của tổ
chức WTO là một điều tốt hoàn hảo. Có những nỗi sợ đang lan sâu về những con sói ngoại
quốc đang giành giật các ngành công nghiệp nội đ ịa không may mắn đưa vào cái họng
đ ẫm máu của chúng].
Tương tự như vậy, tác giả bản tin FT98 đã sử dụng biểu thức “hàm”, “thú ăn
thịt” thể hiện ẩn dụ ý niệm CÁC CÔNG TY LỚN LÀ THÚ ĂN MỒI để miêu tả các
đối thủ cạnh tranh lớn của các công ti Anh Quốc. Ví dụ này cho thấy các biểu thức
ẩn dụ ngôn ngữ là những ẩn dụ sáng tạo (ẩn dụ mới), có tần suất sử dụng rất thấp
trong khối ngữ liệu tiếng Anh, nhưng ẩn dụ ý niệm tầng bậc sâu mà nó diễn đạt lại
là ẩn dụ thường qui.
FT98. Once upon a time the fortunes of ICI were seen as a proxy for the whole of British
industry. But the company's troubled transformation from a bulk chemicals business to a
speciality operation has left it a shadow of its former self, now staring into the jaws of a
Dutch predator.[Đã có thời tài sản của ICI đượcxem như hình ảnh đ ại diện cho cả ngành
công nghiệp Anh Quốc. Nhưng sự chuyển đ ổi đ ầy khó khăn của công ti này từ kinh doanh
hóa chất tổng hợp sang hoạt đ ộng chuyên sâu đ ã làm cho nó trở thành cái bóng của ngày
xưa, trố mắt nhìn hàm răng của con thú ăn thịt Hà Lan.]
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, không phải tất cả các ẩn dụ liên quan
đến động vật đều thể hiện các đặc tính tiêu cực của con người. Ở trong một số bản
78




tin tiếng Anh, các ẩn dụ liên quan đến loài chó đôi khi cũng mang sắc thái dương
tính khi nói về hành vi con người.
FT33- Until recently the law governing franchising in China was onerous and restrictive,
preventing all but the most dogged and resource-rich franchisers from entering the
market[Mãi cho đ ến gần đây các đ ạo luật về nhượng quyền thương mại ở Trung Quốc vẫn
rất hạn chế và gây phiền hà, ngăn hầu hết ngoại trừ các công ti nhượng quyền chó nhất và
giàu về tiềm năng nhất trong việc tham gia thị trường này]
Ẩn dụ ý ni ệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hi ện Tổng
bear 11 47
bite 1
bull 16
dog 3
eagle 1
fish 1
hawkish 1
herd 4
ĐỘNG VẬT hog 1
jaws 1
maws 1
piggy 2
predator 1
prey 1
tigers 1
wolves 1
branch 3 15
cultivate 1
THỰC VẬT flourish 2
fruit 1
reap 3
root 1
seed 2
sow 2

Bảng 2.10: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĐỘNG THỰC VẬT trong bản tin tiếng Anh
Trong số các ẩn dụ ĐỘNG VẬT tìm thấy trong khối ngữ liệu tiếng Anh đề
cập đến các đặc tính của thị trường tài chính, chẳng hạn như các ẩn dụ CÁC ĐẶC
TÍNH THỊ TRƯ ỜNG LÀ CÁC LOẠI ĐỘNG VẬT hay CÁC HÀNH VI CỦA
NGƯ ỜI THAM GIA THỊ TRƯ ỜNG LÀ CÁC LOẠI ĐỘNG VẬT, chúng tôi đã
thống kê được hai loại động vật xuất hiện với tần suất cao nhất là bear [gấu] (25%)
và bull [bò] (20.4%).
79




Theo Charteris-Black [36], “gấu” được sử dụng khá thông dụng để nói về
người dự đoán giá cổ phiếu hay cổ phần sẽ đi xuống trên thị trường chứng khoán. Ý
nghĩa này xuất phát từ câu tục ngữ tiếng Anh “bán da gấu trước khi bắt được gấu”.
FT76. Michael Gordon, chief investment officer at Fidelity International, fears that the
trust the London-based investment fund industry has built up over decades is at risk. As
excess has built, the risk of a bubble is greater, he says, and when that bursts, trust goes
out the window. That is an expensive loss. He cites the examples of US mutual fund groups
Janus and Putnam, which lost investors' money through aggressive growth strategies in
the late 1990s that went sour in the bear market, then added further injury through
involvement in the market timing scandal in 2003[Micheal Gordon, chuyên viên tư vấn đ ầu
tư trực thuộc công ti Fidelity International, lo ngại rằng lượng tài sản ủy thác mà ngành
đ ầu tư vốn đ ặt tại Luân Đôn xây dựng trong nhiều thập kỉ đang gặp rủi ro.Khi đ ạt đ ến
mức vượt quá giới hạn, nguy cơ bong bóng sẽ lớn hơn, ông nói, và khi bong bóng nổ, tài
sản ủy thác sẽ đi ra ngoài cửa sổ. Đó sẽ là khoản thiệt hại đ ắt đ ỏ. Ông lấy các ví dụ về hai
công ti đ ầu tư vốn của Hoa Kỳ là Janus và Putnam, hai công ti này đ ã làm mất tiền của
các nhà đ ầu tư do các chiến lược phát triển mạnh bạo vào cuối thập niên 90, các chiến
lược đ ã bị chua trong thị trường gấu, lại còn làm nặng cho vết thương khi tham gia vào vụ
bê bối dự báo thị trường năm 2003]
Một thuật ngữ phái sinh trong tiếng Anh của từ “bear” là “bearish” cũng
xuất hiện thường xuyên trong các bản tin kinh tế và tài chính:
FT27. The figures have prompted more bearish economists to re-assess their forecasts for
this year [Các số liệu đ ã khiến nhiều nhà kinh tế gấu đánh giá lại các dự báo của họ cho
năm nay].
Một ẩn dụ động vật có tần suất sử dụng cao thứ hai trong khối ngữ liệu tiếng
Anh là ẩn dụ BÒ (BULL), được dùng để đề cập đến thói quen hay hành vi kinh
doanh cổ phiếu theo xu hướng ngược lại với ẩn dụ GẤU, tức là mua cổ phiếu với sự
h y vọng giá sẽ cao hơn. Ẩn dụ này thường được diễn đạt qua các biểu thức ngôn
ngữ như “bull”, “bullish”.
Bản tin FT3 nhận định về tình hình giao dịch cổ phiếu trên thị trường tài
chính phố Wall, ở đó tâm trạng lạc quan hy vọng giá cổ phiếu sẽ tăng lên được biểu
đạt thông qua hình ảnh “tâm trạng bò”:
80




FT3. The bullish mood softened around midday.[Tâm trạng bò đ ã mềm vào giữa trưa]

Cũng tương tự như thế, tác giả bản tin FT47 đã dùng hình ảnh “bullish” [bò]
để miêu tả tính chất lạc quan của các báo cáo tài chính đánh giá thị trường cổ phiếu
sẽ tăng:
FT48. Shipping stocks have been on a roll in recent weeks, buoyed in part by a rash of
bullish analyst reports. Nippon Yusen jumped 5.2 per cent to Y1,193 while Mitsui OSK
Lines gained 4.2 per cent to Y1,768.[Các cổ phiếu ngành hàng hải đ ã thắng lợi trong
những tuần qua, một phần được nâng phao bởi một chuỗi các bản báo cáo phân tích bò.
Cổ phiếu Nippon Yusen nhảy 5.2% lên 1,193 yên, trong khi cổ phiếu Mitsui OSK tăng
4.2% lên 1,768 yên.]
Chúng tôi cho rằng, mặc dù trong một số trường hợp, các loài động vật có thể có
những hình ảnh chung nào đó trong các nền văn hóa, nhưng ẩn dụ động vật vẫn
mang tính đại diện cho các ý niệm có tính chất văn hóa riêng biệt. Deignan [48:257]
cho rằng “nếu các thành viên của một nền văn hóa cụ thể mang một thái độ cụ thể
đối với một loài động vật cụ thể, thì động vật ấy có thể được dùng để biểu thị một
cách ẩn dụ cho một tính cách nào đó trong ngôn ngữ của họ.”
2.2.5.2. ẨN DỤ THỰC VẬT
Lĩnh vực nguồn THỰC VẬT được sử dụng rất thường xuyên trong tiếng
Anh để nhận thức hay nói về nhiều lĩnh vực đích như các tổ chức xã hội, các chuyên
ngành khoa học, các hệ thống kinh tế hay chính trị, các quan hệ giữa người với
người; tuy nhiên trong các bản tin tiếng Anh mà chúng tôi phân tích, các ẩn dụ có
lĩnh vực nguồn THỰC VẬT có tần suất sử dụng không cao (15 lượt). Nhìn chung
các ẩn dụ tìm được đều là các tiểu loại tầng thấp của ẩn dụ ý niệm CÁC HỆ
THỐNG TRỪU TƯ ỢNG PHỨC HỢP LÀ CÂY CỐI và phản ánh phép đồ họa mà
Kovecses [74] đã miêu tả, trong đó bao gồm các quan hệ như sau (tr.98):
a-cây cối là hệ thống phức hợp
b-các bộ phận của cây là các bộ phận của hệ thống phức hợp
c-Sự sinh trưởng của cây là sự phát triển phi sinh học của hệ thống phức hợp.
Một ví dụ lấy từ các bản tin tiếng Anh có thể minh họa các quan hệ này.
81




FT135. That has prompted Switzerland's private banks to expand, with many opening
either full branches, or at least representative offices, in new locations.[Điều đó đ ã khuyến
khích các ngân hàng tư nhân Thụy sĩ mở rộng, với nhiều ngân hàng khai trương các
nhánh, hoặc ít ra cũng là các văn phòng đ ại diện, tại các đ ịa điểm mới].
Biểu thức ẩn dụ trên đã thể hiện các phép đồ họa (a) và (b) của ẩn dụ ý niệm CÁC
HỆ THỐNG TRỪU TƯ ỢNG PHỨC HỢP LÀ CÂY CỐI. Còn biểu thức ẩn dụ
trong bản tin dưới đây thì thể hiện các phép đồ họa (a) và (c):
WP152. Many types of credit (auto loans, business loans) have been "securitized,"
unlocking new sources of money. New financial institutions have flourished;[Nhiều dạng
tín dụng (các khoản vay mua xe, vay kinh doanh) đ ã được “an ninh hóa”, mở khóa cho
nhiều nguồn tiền mới. Các tổ chức tài chính mới đ ã nảy nở.]
Kiến thức phong phú của con người về các yếu tố có mặt trong lĩnh vực
nguồn THỰC VẬT được sử dụng để nhận thức và tư duy về các lĩnh vực đích. Ví
dụ, khi cây cối phát triển, chúng sẽ trở nên to lớn hơn; khi cây cối bị xén, chặt,
chúng trở nên nhỏ hơn. Những kiến thức như thế thường được người sử dụng ngôn
ngữ dùng để nhận thức về các yếu tố của một hệ thống trừu tượng. Nhờ vậy mà
chúng ta có thể có các ẩn dụ kéo theo ở tầng bậc thấp từ ẩn dụ CÁC HỆ THỐNG
TRỪU TƯ ỢNG PHỨC HỢP LÀ CÂY CỐI như TÌM NGUỒN CỦA HỆ THỐNG
TÀI CHÍNH LÀ NHỔ RỄ CỦA CÂY:
WP116. The Group of 20 industrialized and developing nations at an economic summit
here Thursday agreed to end "an era of banking secrecy," rooting out hundreds of billions
of dollars estimated to be hidden from tax authorities in offshore banks. [Nhóm 20 quốc
gia công nghiệp và đang phát triển tại cuộc họp thượng đ ỉnh hôm thứ Năm đ ã đ ồng ý
chấm dứt ‘kỷ nguyên bí mật ngân hàng’, làm bật rễ hàng trăm tỉ đô la ước tính đã bị dấu
các cơ quan thuế tại các ngân hàng ở nước ngoài]
Hay ẩn dụ GÂY LẠM PHÁT LÀ GIEO HẠT, như trong biểu thức ẩn dụ của bản
tin WP167:
WP167. If the Fed cuts interest rates to keep the economy out of a recession, it could sow
the seeds for higher inflation [ Nếu Ngân hàng dự trữ liên bang cắt giảm lãi suất đ ể giữ
nền kinh tế khỏi bị đ ình trệ, thì nó lại có khả năng gieo hạt cho lạm phát cao hơn]
82




Bản tin FT11 lại thể hiện một ẩn dụ khác ở tầng bậc thấp, LỢI ÍCH CỦA HOẠT
ĐỘNG ĐẦU TƯ LÀ HOA TRÁI CỦA CÂY:
FT11. However, it remains unclear whether investors will reap the longer-term strategic
benefits they are hoping for.[Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu các nhà đ ầu tư sẽ gặt các khoản
lợi nhuận chiến lược lâu dài mà họ kỳ vọng hay không]


2.2.6. ẨN DỤ THỜI TIẾT-NHIỆT ĐỘ
Ẩn dụ THỜI TIẾT- NHIỆT ĐỘ chứa các lĩnh vực nguồn có tính chất thường
qui thường được sử dụng để chuyển tải các ý niệm trừu tượng liên quan đến quá
trình thay đổi của các sự vật, hiện tượng. Trong phần này chúng tôi kết hợp hai lĩnh
vực THỜI TIẾT và NHIỆT ĐỘ trong cùng một nhóm ẩn dụ được sử dụng để ý
niệm hóa các hiện tượng kinh tế.
2.2.6.1. TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG THỜI TIẾT
Nhận xét chung đầu tiên của chúng tôi là các ẩn dụ liên quan đến sự thay đổi
của các hiện tượng kinh tế có xu hướng được sử dụng phổ biến hơn các ẩn dụ liên
quan đến sự ổn định.
Ở trong khối ngữ liệu tiếng Anh, các ẩn dụ THỜI TIẾT gợi cho người đọc
khuynh hướng đánh giá hoặc tích cực hoặc tiêu cực về các hiện tượng kinh tế như
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ LÀ ĐIỀU KIỆN THỜI TIẾT, thể hiện qua các biểu thức
ngôn ngữ như meteoric (sao băng), stellar (tinh tú), windfall, weathered,
stratospheric [tầng bình lưu], cloud [mây], climate [khí hậu], headwind [gió
ngư ợc], tailwind [gió xuôi], seismic [đ ịa chấn].
Ở xu hướng đánh giá tích cực, có các ẩn dụ ý niệm như SỰ PHÁT TRIỂN
TÍCH CỰC VỀ SỐ LƯ ỢNG HOẶC CHẤT LƯ ỢNG LÀ TẦNG BÌNH LƯU/TINH
TÚ/SAO BĂNG, trong đó các đặc điểm thời tiết hay thiên văn càng lớn thì thể hiện
sự phát triển càng mạnh, như trong các bản tin FT12 và FT135 dưới đây:
FT12. According to Chinese officials, about $8.6bn of the quotas had been used by the
end of March and, thanks to the market’s meteoric rise, total assets under management
have grown to about $18bn.[Theo các quan chức Trung Quốc, các khoản côta trị giá 8.6 tỉ
83




đôla đ ã được sử dụng hết trước cuối tháng ba, và nhờ có việc gia tăng sao băng của thị
trường, tổng tài sản quản lí đ ã phát triển lên đ ến 18 tỉ đôla].

FT135. Russia, and, to a lesser extent, eastern Europe, have also been surging thanks to
stratospheric commodity prices and broader economic growth. [Nước Nga, và ở mức đ ộ
kém hơn, các nước Đông Âu, cũng đ ã tăng nhờ giá cả hàng tiêu dùng có tính chất tầng
bình lưu và tăng trưởng kinh tế rộng lớn].
Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
cloudy 4 39
gloom 7
headwinds 1
meteoric 1
sea 1
seismic 1
stellar 1
stratospheric 1
tailwind 1
tremor 2
turbulence 3
weathered 3
wind 1
windfall 6
climate 6
Bảng 2.11: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ THỜI TIẾT trong bản tin tiếng Anh
Các ẩn dụ có tính chất đánh giá tiêu cực hiện tượng kinh tế thường được xâ y
dựng trên các lĩnh vực nguồn là các hiện tượng thời tiết hay khí hậu xấu. Các ẩn dụ
này làm nổi bật hai bình diện của lĩnh vực đích: thứ nhất là các khó khăn hay khủng
hoảng kinh tế nảy sinh không phải do con người hay các thành phần kinh tế; thứ hai
là các cá nhân, tổ chức kinh tế có thể tham gia hạn chế, khắc phục các hậu quả của
hiện tượng thời tiết.
FT60. Ahold weathered the retail gloom as the Dutch group reported stronger than
expected first-quarter net profit and said it was on target for a recovery in its US
operations [Công ti Ahold của Hà Lan đ ã vượt qua thời tiết tình trạng tối tăm trong bán lẻ
khi báo cáo lợi nhuận ròng quí một cao hơn kế hoạch và cho rằng công ti đang đ ạt mục
tiêu hồi phục trong các hoạt đ ộng kinh doanh tại Hoa Kỳ.]
FT6. That study, a detailed survey of 120 cities and 12,400 firms across the country,
ranked south-west and north-west China respectively as having the worst investment
84




climates;[Bản nghiên cứu đó, một khảo sát chi tiết 120 thành phố và 12,400 công ti trên
khắp đ ất n ước, đ ã xếp hạng vùng tây nam và tây bắc Trung Quốc có khí hậu đ ầu tư xấu
nhất].
Trong khối ngữ liệu tiếng Anh cũng tồn tại ẩn dụ ý niệm LỢI NHUẬN BẤT
NGỜ LÀ GIÓ THỔI RƠI đi cùng biểu thức ngôn ngữ rất phổ biến windfall [rơi vì
gió]. Biểu thức này thường được sử dụng trong tổ hợp từ vựng như “windfall cash,
windfall gains, windfall profits”. Việc sử dụng ẩn dụ ý niệm này thể hiện ý nghĩa
che dấu vai trò của các tác nhân: Lợi nhuận kinh tế ở đây được ý niệm hóa là một
kết quả không do nỗ lực kinh doanh mà có, nó chỉ là một thành quả bất ngờ có được
từ một hiện tượng gió thổi tự nhiên. Bản tin FT24 sẽ minh họa cho ẩn dụ này:
FT24. “The systemic underpricing of IPOs has not only led to significant losses to the
state (and windfall gains to insiders such as managers and investment banks trading on
their own account) but has led to rapid price increases shortly after the issuance,” the
bank said in its quarterly review of the Chinese economy.[Việc đ ịnh giá thấp có hệ thống
các đ ợt bán cổ phiếu lần đ ầu ra công chúng không những đ ã dẫn đ ến các khoản thiệt hại
lớn cho nhà nước (và các khoản lợi nhuận gió làm rơi cho những người bên trong chẳng
hạn như giám đ ốc và các ngân hàng đ ầu tư) mà còn dẫn đ ến việc tăng giá nhanh chóng
ngay sau khi phát hành’, đây là phát biểu của ngân hàng khi đánh giá về nền kinh tế Trung
Quốc hàng quí]
2.2.6.2. TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG NHIỆT ĐỘ
Tình trạng nhiệt độ với tư cách là một lĩnh vực nguồn cũng đã được sử dụng
phổ biến trong tiếng Anh để miêu tả hoặc làm sáng tỏ nhiều ý niệm đích khác nhau.
Theo Kovecses [74], các ý niệm lửa và nhiệt thường được gắn kết với các ý niệm
như giận dữ, tình yêu, khát vọng. Ông đã khái quát hóa thành ẩn dụ ý niệm TÌNH
CẢM LÀ SỨC NÓNG, thể hiện qua các ẩn dụ ý niệm tầng thấp như KHÁT VỌNG
LÀ SỨC NÓNG, GIẬN DỮ LÀ SỨC NÓNG cùng các biểu thức ngôn ngữ tương
ứng, chẳng hạn ví dụ dưới đây:
Dan burned to know what the reason could be. [Dan đ ốt cháy muốn biết lí do có
thể là gì]. (tr.113).
85




Trong các bản tin tiếng Anh chúng tôi đã phát hiện một số lượng khá phong phú các
biểu thức ẩn dụ có lĩnh vực nguồn là tình trạng nhiệt độ được sử dụng để miêu tả
các hoạt động kinh tế khác nhau.
Bản tin FT1 sử dụng tình trạng nhiệt độ để miêu tả thị trường chứng khoán
Trung Quốc qua ẩn dụ ý niệm CHỈ SỐ CỦA THỊ TRƯ ỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ
SỨC NÓNG:
FT1. World financial markets largely shrugged off a sharp tumble in the red-hot Chinese
stock market on Wednesday, with the US S&P 500 index ending the day at an all-time
high.[Thị trường tài chính thế giới phần lớn đ ều nhún vai bỏ qua cú ngã đ ột ngột hôm thứ
tư ở thị trường chứng khoán Trung Quốc nóng đ ỏ, với chỉ số US S&P 500 kết thúc ngày
giao dịch ở mức cao nhât]
Trong khi đó, bản tin FT21 lại sử dụng ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH BẤT ĐỘNG SẢN LÀ SỨC NÓNG, kích hoạt cùng lúc với các ẩn dụ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN LÀ DÒNG CHẢY, HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN LÀ HOẠT ĐỘNG SỐNG:
FT21. Analysts believe India’s property market is overheated and set for a period of
stagnation, while Japan’s real estate sector has only just awoken from a decade of
slumber.[Các nhà phân tích tin rằng thị trường bất đ ộng sản Ấn Độ hiện quá nóng và bắt
đ ầu giai đoạn ứ đ ọng, trong khi ngành bất đ ộng sản Nhật Bản vừa mới chỉ thức giấc sau
một thập kỉ ngủ say.]



Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
boiling 2 35
cooling 12
damp 2
freeze 5
hot 9
overheat 5


Bảng 2.12: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ NHIỆT ĐỘ trong bản tin tiếng Anh


FT57. Fears that higher global interest rates could cool demand for industrial metals
intensified this week as the European Central Bank raised its main rate on Wednesday,
86




followed later by rate increases in South Africa and New Zealand.[Những mối lo ngại rằng
tỉ lệ lãi suất cao trên toàn cầu sẽ làm lạnh nhu cầu về kim loại công nghiệp đ ã gia tăng
trong tuần khi Ngân hàng trung ương Châu Âu tăng tỉ lệ chính vào ngày thứ Tư, tiếp theo
sau là các đ ợt tăng lãi suất ở Nam Phi và Tân Tây Lan]
2.3. ẨN DỤ HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI
Các biểu thức ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI thể hiện ý niệm chung
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI, trong đó gồm các ẩn dụ
ý niệm ở tầng bậc thấp hơn, ví dụ như HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG
CHIẾN TRANH, HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG ĐI LẠI. Luận án đã
tổng hợp được 7 tiểu loại ẩn dụ ý niệm thuộc nhóm HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI
xuất hiện 694 lượt trong các bản tin tiếng Anh.
2.3.1. ẨN DỤ CHIẾN TRANH
Tổng số các biểu thức ẩn dụ CHIẾN TRANH đếm được trong 200 bài báo
kinh tế tiếng Anh 185, như vậy tỉ lệ trung bình là 09.25 biểu thức ẩn dụ/bài; tỉ lệ
xuất hiện trên 1000 từ là 1.53. Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG
CHIẾN TRANH thể hiện ở rất nhiều các biểu thức ngôn ngữ. Quá trình ý niệm hóa
việc cạnh tranh thành chiến tranh đã trở nên phổ biến đến mức ngày nay chúng ta có
chiến tranh thương mại giữa các hãng lớn, chiến tranh nhân sự giữa các công ty
vv…
Việc ý niệm hóa các kinh nghiệm mới thông qua chiến tranh và bạo lực
không chỉ xảy ra trong lĩnh vực kinh tế mà còn phản ánh trên rất nhiều bình diện
khác như tranh luận, tình yêu, chính trị (Lakoff & Johnson [83], Boers &
Demecheleer [30]). Lakoff & Johnson [83] cho rằng nền tảng kinh nghiệm của ẩn
dụ CHIẾN TRANH dường như xuất phát từ các điều kiện của sinh vật sống:
Động vật đánh nhau đ ể giành điều chúng muốn: thức ăn, lãnh thổ, bạn
tình – bởi vì có các đ ộng vật khác cũng muốn điều tương tự. Con
ngư ời cũng giống như thế, ngoại trừ việc chúng ta phát triển đư ợc
những phương thức phức tạp hơn đ ể đ ạt mục đích đó. (sđd, tr.61)
87




Con người trong quá trình lịch sử của mình cũng thường xuyên phải chiến
đấu để tồn tại, cạnh tranh với đồng loại trong việc sở hữu lương thực, nơi trú thân.
Cái thiên hướng “hiếu chiến” của con người với tư cách một động vật trong việc
phân định và bảo vệ lãnh thổ của mình cũng đã được phản ánh trong tư duy ẩn dụ
vô thức của con người, mặc dù đã chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các giá trị xã hội và
văn hóa. Xét trên bình diện này thì hiểu biết của chúng ta về các công ty, về thị
trường được xây dựng dựa trên các ẩn dụ như THƯƠNG TRƯ ỜNG LÀ CHIẾN
TRƯ ỜNG. Các ẩn dụ này cho phép con người sử dụng các ý niệm được cấu trúc
hóa rõ ràng để cấu trúc một ý niệm khác, cho phép con người hiểu được các công ty
đã phải “tấn công, chiếm giữ, bảo vệ, đưa ra các chiến thuật và chiến lược phòng
thủ” như thế nào. Đây là một nội dung quan trọng liên quan đến chức năng miêu tả
hiện thực của ẩn dụ (Lakoff & Johnson [83]). Chúng ta có thể hiểu được hiện thực
các hoạt động kinh tế nhờ có sự thiết lập sẵn các quan hệ tương đương về thực thể
giữa hai lĩnh vực này như sau:
Các doanh nhân là các chiến binh. Các công ty là các đạo quân. Các hoạt động
kinh doanh là các trận đánh. Lợi nhuận thu được là chiến thắng. Các khoản lỗ
kinh doanh là thất bại. Các quyết định hay hoạt động của doanh nhân là vũ
khí…
Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
army 1 185
arrest 1
attack 1
battle 9
bullet 4
carnage 1
combat 5
defeat 2
defence 2
evasion 1
fight 9
fire 4
front 4
guns 2
hit 3
mark 2
mortar 1
88




onslaught 1
prisoners 1
retreat 13
shoot 5
target 37
threat 29
trigger 25
tripwire 1
victory 1
victim 5
war 5
weapon 2
win 8
Bảng 2.13: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHIẾN TRANH
Chúng ta thấy trong bản tin FT36 dưới đây các công ty sản xuất xe hơi khi
bước vào thị trường xe hơi Trung Quốc tức là bước vào một chiến trường mới. Các
hình ảnh kéo theo mà người đọc có thể suy luận từ ẩn dụ này là sự cạnh tranh có
tính chất khốc liệt của một trận chiến:
FT 36- China is now the second largest car market in the world and an important
battleground for carmakers [Trung Quốc giờ đây là thị trường xe hơi lớn thứ hai trên thế
giới và là chiến trư ờng của các hãng sản xuất xe hơi].
Việc xem xét vai trò thuyết phục của ẩn dụ CHIẾN TRANH trong các bản
tin kinh tế tiếng Anh cũng dẫn chúng tôi đến một số nhận xét như sau: các ẩn dụ tìm
được đều chứa đựng các phép đồ họa thực hiện chức năng làm nổi bật hoặc che dấu
một bình diện hiện thực nào đó, và chính chức năng này có thể tập trung sự chú ý
của người đọc vào một bình diện hay phân tán sự chú ý đó ra khỏi một bình diện
khác, nhằm mục đích tạo hiệu quả đối với người đọc. Maestre (2000) cũng đồng ý
với luận điểm cho rằng ẩn dụ có khả năng đáng kể trong việc thay đổi thái độ của
người đọc về một chủ đề nào đó như chính trị hay kinh tế. Chức năng thuyết phục
này thể hiện rõ ràng trong các ẩn dụ CHIẾN TRANH ở các bản tin tiếng Anh.
Người đọc có thể dễ dàng chấp thuận với quan điểm của người viết bản tin khi
người viết đề xuất một biện pháp bảo vệ sự an toàn của thị trường chứng khoán với
việc ngăn không cho các cổ phiếu tăng quá mức:
89




FT2: The most potent weapon would be the introduction of a 15 to 20 per cent
capital gains tax on share trading [Vũ khí mạnh nhất là việc áp dụng các mức thuế
15-20% giá trị lãi cổ phiếu khi giao dịch].
Để kêu gọi sự đồng cảm của độc giả về những khó khăn trong cạnh tranh
cũng như các biện pháp kinh doanh của các công ty đa quốc gia tại Trung Quốc, tác
giả bản tin tiếng Anh sử dụng danh trừ army [quân đ ội] để ý niệm hóa một lực
lượng lớn và chuyên nghiệp các công ty của Trung Quốc:
FT10 : Despite explosive growth, they are starting to feel heavy pressure from an
army of Chinese competitors. [Cho dù có những tăng trư ởng mạnh mẽ, các công ty
này cũng đang phải cảm nhận một sức ép nặng nề từ một đ ạo quân các công ty
cạnh tranh từ Trung Quốc].

Tác giả bản tin [FT35] cũng đã thể hiện quan điểm biện minh cho những giải
pháp can thiệp mạnh về kinh tế mà Nhật Bản đã áp dụng trong thập niên 1980 qua
cách dùng cụm từ onslaught [bị tấn công dữ dội]:
FT35: Yet by some measures, Japan is just as formidable a competitor as it was in
the mid-1980s when massive intervention was considered to be the only means of
stopping the onslaught of Japanese exporters.[Tuy nhiên từ một vài biện pháp,
Nhật Bản cho thấy mình là một quốc gia cạnh tranh rất đáng gờm giống như những
năm 1980 khi việc can thiệp mạnh mẽ đư ợc xem như phương cách duy nhất nhằm
chặn đ ứng việc các nhà xuất khẩu Nhật Bản bị tấn công dữ dội].
2.3.2. ẨN DỤ HÀNH TRÌNH
Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ MỘT HÀNH TRÌNH xuất hiện 232
lượt trong khối bản tin kinh tế tiếng Anh, cho thấy đây là một ẩn dụ mang tính sản
sinh tương đối cao. Người đọc bản tin hiểu các hoạt động kinh tế thông qua các
chuyến đi hay các chuyển động không gian trực tiếp từ điểm A đến điểm B. Chúng
tôi cho rằng ẩn dụ này là ẩn dụ tầng thấp của ẩn dụ thượng danh HOẠT ĐỘNG CÓ
MỤC ĐÍCH LÀ MỘT HÀNH TRÌNH mà Lakoff [82] đã miêu tả. Ý niệm của con
người về một hành trình lại được dựa trên sự phóng chiếu của lược đồ hình ảnh
mang tính trừu tượng về đường đi, ở đó có điểm khởi đầu, điểm giữa và điểm cuối.
90




Việc liên kết các quá trình bắt đầu, quá trình trung gian và kết thúc của một hoạt
động kinh tế với các giai đoạn tương ứng của lược đồ hình ảnh một con đường tạo
ra một phép đồ họa giữa hai lĩnh vực nguồn và lĩnh vực đích, với các mối quan hệ
tương đương như sau:
Các công ti/nhân viên là những người lữ hành. Các hoạt động kinh tế
là đường đi của công ti/nhân viên. Các giao dịch là những bước di
chuyển trên đường. Lợi nhuận là điểm cuối của chuyến đi. Các khó
khăn kinh doanh là vật cản trên đường. Việc chọn lựa một giải pháp
kinh doanh tối ưu là chọn một con đường tốt để đi. Một công ti/nhân
viên thành công trong kinh doanh là người lữ hành về đến đích đầu
tiên hoặc an toàn.
Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
end 8 232
far 2
step 25
move 68
path 3
road 2
way 54
route 2
go 41
travel 1
advance 26
Bảng 2.14: Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÀNH TRÌNH trong bản tin ti ếng Anh


Bản tin WP104 đề cập đến mâu thuẫn giữa các quốc gia Tây Âu và Hoa Kì
trong việc sử dụng các giải pháp cho cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007.
Trong khi Hoa Kì muốn các nước sử dụng các nguồn tiền chính phủ để vực dậy các
hoạt động thương mại trên thế giới, chính phủ một số nước Tây Âu không đồng ý
với các giải pháp này, các giải pháp mà tác giả bản tin miêu tả bằng từ path [con
đư ờng mòn]:

WP104. Some countries, led by Germany, have strongly resisted, predicting that such a
path could lead to unsustainable debts and runaway inflation.[M ột số quốc gia, dẫn đầu là
91




Đức, đ ã mạnh mẽ phản đối, dự đoán rằng một con đư ờng mòn như thế có thể dẫn đến các
khoản nợ không thể chống đỡ đ ược và nạn lạm phát phi mã].

Các ví dụ vừa nêu cho thấy ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ MỘT
HÀNH TRÌNH cho người đọc một cách nhìn động chứ không tĩnh về các hoạt động
kinh tế. Các hoạt động liên tục chuyển động và phát triển thì mang tính tích cực,
còn các hoạt động đứng yên, tĩnh thì mang tính tiêu cực.
Bản tin FT98 lại sử dụng lĩnh vực nguồn HÀNH TRÌNH trong ẩn dụ ý niệm KẾT
THÚC HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ KẾT THÚC MỘT HÀNH TRÌNH:
FT98. ICI's recent history has left it a shadow of its former self. But any takeover would
still mark the end of a once-grand British company that in its heyday was a force to be
reckoned within the global chemicals industry. [Lịch sử gần đây của ICI đ ã đ ể lại cho nó
cái bóng của chính nó trước đây. Bất kỳ việc chuyển sở hữu nào cũng đánh dấu sự kết
thúc của một công ti Anh Quốc từng vĩ đại một thời, từng là một sức mạnh phải kể đến
trong nền công nghiệp hóa chất thế giới]
Tác giả bản tin WP171 sử dụng ẩn dụ ý niệm HÀNH TRÌNH thông qua biểu
thức “wander too far” [đi quá xa]: Việc định giá đồng tiền của một nước theo giá
trị của đồng đô la Mỹ được ý niệm hóa thành việc đi đúng đường, còn ngược lại là
đi xa khỏi con đường định trước:
WP171. But it's not just China. A number of other of Asia's export tigers also use various
mechanisms to keep their currencies roughly pegged to the dollar, as have many Middle
Eastern countries whose economies are tied to oil that is priced in dollars. There are also
countries in Central and South America that are careful not to let their currencies wander
too far from that of their largest trading partner. [Nhưng không chỉ có Trung Quốc. Nhiều
con hổ xuất khẩu khác của Châu Á cũng sử dụng nhiều cơ chế khác nhau đ ể giữ đ ồng tiền
của mình cột chặt vào đ ồng đô la Mỹ, giống như nhiều nước ở Trung Đông với nền kinh tế
cột chặt vào dầu lửa được đ ịnh giá bằng đ ồng đô la. Cũng có các quốc gia khác ở Nam và
Trung Mỹ rất cẩn thận không đ ể đ ồng tiền của mình đi dạo quá xa đ ồng tiền của đ ối tác
thương mại lớn nhất của họ].
2.3.3. ẨN DỤ SÂN KHẤU
92




Nếu ẩn dụ CHIẾN TRANH đem lại cho người đọc sự hiểu biết về tính chất
dữ dội tàn khốc của các hoạt động kinh tế thì ngược lại ẩn dụ SÂN KHẤU tạo dựng
và nhấn mạnh trong nhận thức của người đọc một bình diện hoàn toàn khác của các
hoạt động này, đó là tính chất uyển chuyển, linh hoạt, hài hòa hoặc trầm bổng có
mặt trong lĩnh vực nguồn. Mỗi nền kinh tế hay mỗi một đơn vị kinh doanh được
miêu tả thành một diễn viên, một đội biểu diễn hay một dàn nhạc theo mô hình đồ
họa như sau:
LĨNH VỰC NGUỒN: SÂN KHẤU LĨNH VỰC ĐÍCH: KINH TẾ
à
Diễn viên Thương nhân
à
Bạn diễn Thương nhân cùng cộng tác
à
Cách biểu diễn Cách kinh doanh
à
Khán giả Các bên liên quan về lợi ích kinh tế
à
Kịch bản Kế hoạch kinh doanh
Chiếm 13.8% tổng số lượt xuất hiện của các ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON
NGƯ ỜI với 96 lượt xuất hiện, ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT
ĐỘNG SÂN KHẤU trong các bản tin kinh tế tiếng Anh đem đến cho người đọc các
đơn vị từ vựng như ‘performance [trình diễn], audience [khán giả], scenario [kịch
bản], tune [giai điệu], downbeat [nhịp xuống], upbeat [nhịp lên], dances [vũ điệu]:
FT16. US economic growth slowed to 0.6 per cent last quarter in the worst performance
for the economy in four years, according to the latest government estimates.[Sự phát triển
kinh tế Hoa Kỳ chậm lại 0.6 phần trăm vào quí cuối năm thể hiện sự trình diễn dở nhất đối
với nền kinh tế trong 4 năm, theo dự toán gần đây nhất của chính phủ].
Trong bản tin WP158, để thuyết phục độc giả ủng hộ quá trình toàn cầu hóa,
không nên giới hạn phạm vi hoạt động của đồng đô la Mỹ chỉ trong thị trường nội
địa Hoa Kỳ mà nên duy trì ảnh hưởng của nó đối với các nền kinh tế khác, tác giả
bản tin đã ý niệm hóa những người phản đối toàn cầu hóa thành một ban nhạc, đang
chơi một bản nhạc mà không chú ý đến nhu cầu của khán giả:
WP158. Globalization's casual bashers should remember that. They think they're playing
only to a domestic audience, but the world is listening, and it may not like what it
hears.[Những người vô tình phá toàn cầu hóa nên nhớ điều đó. Họ nghĩ họ đang chơi
93




nhạc phục vụ cho khán giả trong nước, nhưng thế giới thì đang lắng nghe họ, và thế giới
có lẽ không thích điều đang nghe].
Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
audience 1 96
dances 2
downbeat 4
hears 1
listening 1
music 1
note 1
performs 65
play 9
scenario 5
tune 2
upbeat 4
Bảng 2.15: Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SÂN KHẤU trong bản tin tiếng Anh
Việc ý niệm hóa các hoạt động kinh tế theo các hoạt động sân khấu sẽ dẫn
đến một quan hệ suy luận kéo theo là tính đột biến, bất thường của các hoạt động
kinh tế sẽ không được làm nổi bật trong ngữ cảnh nữa. Thay vào đó, trong nhận
thức của người đọc thì các hoạt động này sẽ được diễn ra theo một kịch bản chuẩn
bị sẵn. Bản tin FT64 bình luận về các kết quả kinh doanh trong tương lai năm 2007
của các qu ỹ đầu tư bảo hiểm tại Hoa Kỳ, trong bình luận này người viết bản tin thể
hiện các dự đoán về kế hoạch kinh doanh thông qua việc sử dụng ẩn dụ KẾT QUẢ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LÀ KỊCH BẢN SÂN KHẤU:
FT64. Apparently, the dream 2007 scenario for many funds would be a "goldilocks"
season - just bad enough to prevent premium falls, but not bad enough to create serious
losses.[Rõ ràng là, kịch bản mơ ước năm 2007 cho nhiều quỹ đ ầu tư sẽ là một mùa vừa
phải- xấu vừa phải đ ể ngăn không cho phí bảo hiểm rớt giá, nhưng cũng không xấu đ ến
nỗi tạo ra các khoản lỗ nghiêm trọng].
Một số các trường hợp ẩn dụ SÂN KHẤU được sử dụng kết hợp với ẩn dụ
lược đồ LÊN-XUỐNG trong các biểu thức ngôn ngữ như ‘upbeat’ [nhịp lên],
downbeat [nhịp xuống]. Quan hệ đồ họa trong các ẩn dụ ý niệm này là HOẠT
ĐỘNG KINH TẾ TỐT LÀ NHỊP LÊN và HOẠT ĐỘNG KINH TẾ XẤU LÀ
NHỊP XUỐNG, một loại ẩn dụ với lĩnh vực nguồn ÂM NHẠC có tần suất sử dụng
tương đối khá cao trong các bản tin tiếng Anh:
94




WP176. Stocks finished higher Thursday as investors set aside some concerns about
downbeat economic reports and focused on strong profits from Oracle Corp.[Hôm thứ
năm các cổ phiếu đ ã kết thúc với mức giá cao hơn khi các nhà đ ầu tư đ ể qua một bên các
lo ngại về các bản báo cáo kinh tế nhịp xuống và nhấn mạnh đ ến các khoản lợi nhuận
mạnh mẽ từ Tổ chức Oracle].
FT20. Exporters were on the move, fuelled by an upbeat outlook for the US economy.[Các
nhà xuất khẩu đang chuyển đ ộng, được nạp nhiên liệu bởi viễn cảnh nhịp lên đ ối với nền
kinh tế Mỹ].
Một trường hợp khá đặc biệt khác trong việc ẩn dụ không gian kết hợp với
ẩn dụ SÂN KHẤU là các biểu thức ‘underperform’ [trình diễn dư ới] và
‘outperform ‘ [trình diễn ngoài].
FT60. The Dutch company was upgraded from "market perform" to "outperform". Scott
Geels, analyst, said: "ASML is a clear long-term winner heading toward a monopoly
lithography position." Infineon, the German chipmaker, was upgraded from
"underperform" to "market perform", but slipped 0.3 per cent to €11.34.[Công ty Hà Lan
này đ ã được nâng cấp từ “trình diễn thị trường” lên “trình diễn ngoài”. Nhà phân tích
Scott Geels phát biểu: “ASML là người chiến thắng về lâu dài đang hướng đ ến vị trí đ ộc
quyền trong ngành in thạch bản. Infineon, một công ty sản xuất chíp của Đức, được nâng
cấp từ “trình diễn dư ới” lên” trình diễn thị trường”, nhưng đ ã trượt mất 0.3% xuống còn
11.34 euro].
Trong bản tin trên, biểu thức ‘underperform’ [trình diễn dư ới] có nghĩa bóng
là ‘có hiệu quả thấp hơn kỳ vọng’, còn biểu thức ‘outperform ‘ [trình diễn ngoài] có
nghĩa bóng ‘có hiệu quả cao hơn’. Trong trường hợp này các tiếp đầu ngữ “under”
[dư ới] và “out” [ngoài] đã làm thay đổi nghĩa đen của thân từ “perform’.
Lý thuyết ngữ nghĩa học tri nhận cho rằng ý nghĩa trừu tượng của các tiểu từ
này không mang tính võ đoán mà chúng có lý do, cùng xuất phát từ ý nghĩa điển
dạng chỉ địa điểm (Neagu [94]. Cũng như thế, trong biểu thức thứ nhất, ý nghĩa điển
dạng của tiếp đầu ngữ “under” liên quan đến vị trí không gian nằm trong lĩnh vực
nguồn : đó là hình ảnh của vật chiếu nằm ở vị trí thấp hơn so với điểm mốc. Việc
mở rộng ý nghĩa theo hướng ẩn dụ sang lĩnh vực đích mang tính chất phi địa điểm
95




cho phép xây dựng phép đồ họa ĐÁNH GIÁ TÍCH CỰC LÀ VỊ TRÍ CAO HƠN và
ĐÁNH GIÁ TIÊU CỰC LÀ VỊ TRÍ THẤP HƠN. Phép đồ họa này hoàn toàn
không mâu thuẫn với lược đồ hình ảnh TỐT LÀ HƯ ỚNG LÊN và XẤU LÀ
HƯ ỚNG XUỐNG.



BETTER
Vật chiếu


OVER



X (MỐC)




UNDER

WORSE




Hình 2.16: Phép đồ họa ẩn dụ của tiếp đầu ngữ “under’
Theo phép đồ họa này thì từ cặp đối xứng ‘UNDER-OVER’, lẽ ra trong tiếng
Anh sẽ tồn tại biểu thức ‘overperform’. Tuy nhiên trên thực tế, biểu thức ngôn ngữ
‘outperform’ lại xuất hiện trong các bản tin và thể hiện nét nghĩa ẩn dụ đối lập với
biểu thức ‘underperform’. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát các biểu thức ngôn ngữ
tương tự, tức là đều bắt đầu bằng tiếp đầu ngữ ‘out’, để tìm ra qui luật chuyển nghĩa
của nó. Chúng tôi nhận thấy trong tiếng Anh tồn tại nhiều động từ như outdo,
outgrow, outcry, outroar, outsail, outsell, outshine, outweigh trong đó tiếp đầu ngữ
‘out’[ngoài] mang nét nghĩa ‘better’ [tốt hơn]. Điều này cho phép chúng tôi tạm kết
luận về mô hình đồ họa ẩn dụ của tiếp đầu ngữ ‘out’ trong những trường hợp nà y
như hình 2.17:
96




Vật chiếu


X (MỐC)

NORMAL[bình thườ ng]
ABNORMAL[khác thường]

Hình 2.17 : Phép đồ họa ẩn dụ của tiếp đầu ngữ “out’
Theo mô hình đồ họa trên thì việc vật chiếu thoát ra ngoài vật chứa (mốc) sẽ
là tiền đề cho ý niệm chuyển đổi trạng thái từ bình thường sang tình trạng khác
thường và được mã hóa trong ngôn ngữ như các biểu thức đã nêu.
2.3.4. ẨN DỤ THỂ THAO-SĂN BẮN
Với ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG THỂ THAO,
chúng ta sẽ hiểu rằng trong kinh tế, chúng ta sẽ có sân chơi, có trọng tài, có sự ganh
đua. Còn ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG SĂN BẮN sẽ ý niệm
hóa các lợi ích kinh tế thành những thành quả thu được từ săn bắn. Trong ngữ liệu
của chúng tôi, hai loại ẩn dụ này chỉ chiếm tỉ lệ 9.9% với 69 lượt xuất hiện.
Theo Charteris-Black [38], thể thao là một bộ phận quan trọng trong văn hóa
Anh-Mỹ, góp phần tạo bản sắc quốc gia và thường xuyên có mặt trong các diễn
ngôn kinh tế và chính trị-xã hội. Trong các bản tin kinh tế tiếng Anh, chúng tôi
nhận thấy một trong các lĩnh vực ý niệm nguồn đặc trưng nhất của ẩn dụ THỂ
THAO-SĂN BẮN có liên quan đến CHẠY ĐUA, qua đó các hoạt động kinh tế
được xem như các cuộc chạy đua:
FT24. But if the rally continues over the next few days, the government will be concerned
and might introduce further measures.[Nếu cuộc đua còn tiếp tục kéo dài trong vài ngày
tới, chính phủ sẽ lo lắng và có thể đưa ra các biện pháp tiếp theo]
FT99. “The US is passing the baton to the rest of the world in a long relay race, not a
sprint," says Mr Patelis, who still expects to see US interest rates fall by 75 basis points by
97




the end of this year, partly due to the ongoing recession in the US housing market.[“Hoa
Kỳ đang chuyền chiếc gậy cho các quốc gia khác trong cuộc chạy tiếp sức đường dài, chứ
không phải trong cuộc thi nư ớc rút 100 m”, đây là phát biểu của ông Patelis, người vẫn
kỳ vọng tỉ lệ lãi suất của Hoa Kỳ sẽ giảm thêm 75 điểm trước cuối năm nay, một phần do
thị trường bất đ ộng sản Hoa Kỳ hiện đang giảm sút].


Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
field 3 57
free-fall 1
heavyweight 2
kick off 3
THỂ THAO nose-diving 3
passing the baton 1
play 18
poked holes 1
race 4
rally 17
sprint 1
stymie 1
wrestle 1
towel 1
cut throat 2 12
hook 1
SĂN BẮN hunt 6
poached 2
throw nets 1

Bảng 2.18: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ THỂ THAO-S ĂN BẮN trong bản tin
tiếng Anh
Các ẩn dụ THỂ THAO-SĂN BẮN cho thấy bình diện tốc độ và thời gian
đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế. Muốn đạt được các mục tiêu kinh
tế thì các các nhân hay tổ chức phải đạt được tốc độ cần thiết để đến được đích
trong khoảng thời gian tối thiểu. Các ẩn dụ ý niệm THỂ THAO-SĂN BẮN cũng
cho thấy cuộc đua kinh tế đòi hỏi các kỹ năng cạnh tranh nhất định.
Một lĩnh vực nguồn đặc trưng khác có mặt trong các ẩn dụ THỂ THAO-SĂN
BẮN ở các bản tin tiếng Anh là ĐẤM BỐC và ĐẤU VẬT. Các ẩn dụ chứa các
lĩnh vực nguồn này cho thấy việc sử dụng sức mạnh và cân nặng là các đặc tính cần
98




thiết đối với các hoạt động kinh tế. Như vậy, các tổ chức và cá nhân kinh tế được
chia làm hai loại: heavyweight [hạng nặng] và lightweight [hạng nhẹ]:
WSP193. Chinese stocks rose Monday, buoyed by strong earnings expectations for
brokerages and by a rebound in market heavyweight PetroChina.[Các cổ phiếu Trung
Quốc đ ã tăng điểm vào thứ Hai, neo bởi kỳ vọng lợi nhuận mạnh mẽ đ ối với các hoạt đ ộng
môi giới và bởi sự bật lên của võ sĩ hạng nặng PetroChina trên thị trường].
Tính khốc liệt của các hoạt động kinh tế còn được thể hiện trong các ẩn dụ ý niệm
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG SĂN MỒI. Ẩn dụ này được dựa trên
quan hệ lưỡng cực: CÁC CÔNG TY LÀ KẺ ĐI SĂN và CÁC CÔNG TY LÀ CON
MỒI.
FT139. Still, the market is becoming more cut-throat and this fierce competition is forcing
down spreads.[Dù vậy, thị trường vẫn ngày một trở nên b ị cắt cổ và cuộc cạnh tranh dữ
dội này đang kìm hãm sự phát triển].
Các bản tin tiếng Anh cũng thường sử dụng ẩn dụ SĂN MỒI để đề cập đến
các hoạt động tuyển dụng:
FT25. With Indian chief executives taking home Rs10m-Rs35m ($245,000-$845,000) and
divisional heads unlikely to work for less than Rs10m, search consultants say companies
have started to throw their recruitment nets wider.[Với việc các giám đ ốc điều hành người
Aán mang về nhà khoảng 10 triệu-35 triệu Ringit và các trưởng bộ phận hiếm khi làm việc
với mức lương dưới 10 triệu Ringit, các chuyên gia tư vấn tuyển dụng nói hiện các công ty
đ ã bắt đ ầu quăng lư ới tuyển dụng lớn hơn].
2.3.5. ẨN DỤ CỜ BẠC
Ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG CỜ BẠC ý niệm
hóa hoạt động kinh doanh thông qua hoạt động cờ bạc, người tham gia kinh doanh
thông qua người chơi bạc. Trong loại ẩn dụ này, yếu tố may rủi của lĩnh vực nguồn
CỜ BẠC được sử dụng rõ nét nhất trong phép đồ họa bán phần để chuyển sang lĩnh
vực đích KINH TẾ: Hoạt động kinh tế là hoạt động có tính chất rủi ro cao, không
phải lúc nào cũng giành phần thắng.
Xuất hiện 60 lượt trong các bản tin kinh tế tiếng Anh, chiếm 8.6% tổng
số các biểu thức ẩn dụ HOẠT ĐỘNG trong các bản tin tiếng Anh, ẩn dụ CỜ BẠC
99




thể hiện khá rõ nét đặc trưng văn hóa Anh Mỹ trong ngôn ngữ chỉ các hoạt động cờ
bạc như punter [nhà con], bluechips [phỉnh xanh], routlette [bài ru lê], trump [bài
chủ], bet [cá cư ợc].
Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
bet 20 60
players 18
blue chips 15
gamble 2
punters 2
routlette 1
table 1
trumped 1
Bảng 2.19: Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CỜ BẠC trong bản tin ti ếng Anh
FT17. When the current bull run first began to gather steam at the end of last year,
it was led by a handful of quality blue chip stocks.[Vào cuối năm ngoái khi đ ợt đua bò bắt
đ ầu tích hơi nước, nó đ ã được dẫn dắt bởi một nhóm các cổ phiếu phỉnh xanh có chất
lượng].
Một ví dụ khác dưới đây cho thấy ẩn dụ ý niệm ở tầng bậc thấp LỢI
NHUẬN TỪ THỊ TRƯ ỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ LỢI NHUẬN CỜ BẠC:
FT12. But with valuations reaching an average level of 50 times earnings, foreign punters
have begun taking profits. [Nhưng với các giá trị lợi nhuận đ ạt mức trung bình 50 lần, các
nhà con ngoại quốc đ ã và đang thu lợi nhuận về].
Cũng trong bản tin FT12, ẩn dụ THOÁI VỐN KHỎI THỊ TRƯ ỜNG LÀ
RÚT TIỀN ĐÁNH BẠC cho thấy việc rút tiền không đầu tư vào cổ phiếu nữa được
ý niệm hóa thông qua việc rút tiền khỏi bàn chơi:
FT12. Jing Ulrich, JPMorgan’s chairman of China equities, said: “In the past year, the
growing feeling that we have now entered a bubble has led many foreign investors to take
their money off the table. [Jing Ulrich, chủ tịch quỹ JP Morgan tại Trung Quốc nói,
“trong năm vừa qua, cảm giác ngày càng tăng rằng chúng ta đ ã bước vào bong bóng
khiến nhiều nhà đ ầu tư nước ngoài rút tiền ra khỏi bàn].
Tác giả bản tin WSP152 khi đánh giá chung về nền kinh tế thế giới đã đề cập
đến sự thay đổi nhanh chóng của hệ thống kinh tế mang đầy màu sắc may rủi của
ván bài ru lê:
100




WSP152. The peril is that so much has changed so quickly that no one knows how the
system operates. It's often roulette. [Điều nguy hiểm là có quá nhiều thay đ ổi diễn ra
nhanh chóng đ ến nỗi không ai biết hệ thống được vận hành như thế nào. Thường thì đ ấy là
ván bài ru lê].
2.3.6. ẨN DỤ ĂN UỐNG
Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG ĂN UỐNG xuất hiện 43
lượt trong các bản tin tiếng Anh, chiếm tỉ lệ 6.1% trong tổng số các ẩn dụ HOẠT
ĐỘNG CON NGƯ ỜI. Trong số này, ẩn dụ tầng bậc thấp THÈM MUỐN THỊ
TRƯ ỜNG TỐT LÀ THÈM MUỐN THỨC ĂN chiếm tỉ lệ xuất hiện cao nhất với
17 lượt:
FT12. Many have been looking at the possibility of “sharing” quotas with more
acceptable applicants but as yet there has been no progress on this and hedge funds with
an appetite for Chinese stocks must pay the same high fees as other investors. [Nhiều tổ
chức đang nhìn ngó khả năng chia phần giấy phép với các ứng viên dễ được chấp thuận
hơn, thế nhưng hiện vẫn chưa có bất kỳ tiến bộ nào về điều này và các quỹ kinh doanh mạo
hiểm vốn thèm muốn cổ phiếu Trung Quốc vẫn phải trả phí cao bằng các nhà đ ầu tư
khác].
FT33. … reported franchising growth of more than 40 per cent a year in recent years, a
lack of domestic franchising expertise, and Chinese entrepreneurs who like the security of
a well-known brand with a tried-and-tested operating system, and it is no wonder
franchisers are salivating.[ … tốc đ ộ nhượng quyền hơn 40 phần trăm mỗi năm, việc thiếu
hụt kinh nghiệm nhượng quyền trong nước, và các nhà doanh nghiệp Trung Quốc chỉ thích
mức đ ộ an toàn của các thương hiệu nổi tiếng thông qua hệ thống vận hành thử-kiểm tra,
thì không có gì ngạc nhiên khi các công ty nhượng quyền đang chảy nư ớc miếng.]


Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
forked out 1 43
appetite 17
pie 1
salivating 1
succulent 1
cake 2
sour 2
digest 3
101




crunch 9
swallow 1
hunger 1
party 3
thirsty 1
Bảng 2.20: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĂN UỐNG trong bản tin tiếng Anh
Một ẩn dụ ý niệm khá đặc biệt được tìm thấy trong các bản tin tiếng Anh là ẩn dụ
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ THẤT BẠI LÀ THỨC ĂN BỊ CHUA:
FT76. That is an expensive loss. He cites the examples of US mutual fund groups Janus
and Putnam, which lost investors' money through aggressive growth strategies in the late
1990s that went sour in the bear market, then added further injury through involvement in
the market timing scandal in 2003.[Đấy là một khoản lỗ đ ắt đ ỏ. Ôâng đưa ra ví dụ về các
quỹ đ ầu tư Janus và Putnam đ ã làm mất tiền của các nhà đ ầu tư thông qua các chiến lược
phát triển mạnh bạo đ ã bị chua vào cuối thập niên 1990, sau đó lại bị thương lần nữa năm
2003 do tham gia vào vụ bê bối mua bán trong phiên].
Các ẩn dụ THỊ TRƯ ỜNG LÀ CHIẾC BÁNH, LỢI NHUẬN LÀ CHIẾC
BÁNH, CƠ HỘI LÀ CHIẾC BÁNH là các ẩn dụ ý niệm tầng thấp rất thường xuất
hiện trong các bản tin tiếng Anh:
FT29. While some bankers were happy about the cautious approach to hiring because they
did not want to share the pie with more mouths, many say they are struggling to cope.
[trong khi một số ngân hàng vui vẻ với việc thận trọng tuyển người vì họ không muốn chia
chiếc bánh táo với nhiều miệng hơn, nhiều ngân hàng khác nói họ đang chật vật giải quyết
vấn đ ề].
Khi đề cập đến các lợi ích của Tân Tây Lan trong việc thu hút các nhà đầu tư
tiền tệ nước ngoài bằng hình thức kinh doanh qua chênh lệch lãi suất, tác giả bản tin
FT62 đã sử dụng ẩn dụ LỢI ÍCH THỨ HAI LÀ KEM TRÊN CHIẾC BÁNH:
FT62. These developments are the icing on the cake as far as the currency's attractions
are concerned.[Những phát triển này là kem phết trên bánh trên khía cạnh thu hút ngoại
tệ].
2.3.7. ẨN DỤ HÔN NHÂN
Ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG HÔN NHÂN xuất
hiện với mật độ rất thấp trong các bản tin tiếng Anh (9 lượt xuất hiện). Kiến thức
102




của chúng ta có được về hôn nhân được đồ họa sang kiến thức về các công ty sáp
nhập hoặc liên kết với nhau. Chẳng hạn cặp câu sau sẽ cho thấy kiểu kiến thức
được đồ họa này:
Một ngư ời nam và một ngư ời nữ cảm thấy ngư ời kia có sức thu hút và họ quyết
đ ịnh lấy nhau
Hai công ty thấy có chung một lợi ích và họ quyết đ ịnh sáp nhập hay liên kết.
Theo Bratoz [32], các đơn vị tương đương nêu trên cho thấy ẩn dụ ý niệm
SÁP NHẬP HAY LIÊN KẾT LÀ QUAN HỆ HÔN NHÂN có khả năng tạo sinh rất
cao. Từ ẩn dụ ý niệm này chúng ta có thể tạo ra các ẩn dụ ngôn từ mới có mặt trong
ngôn ngữ kinh tế:
FT5. Peter Mandelson, EU trade commissioner, described the event – the first of its kind –
as a form of “speed dating” that has a chance of leading to at least a few marriages. For
the time being, cities such as Chengdu are happy to have a few second dates, so long as the
foreigners involved have deep pockets.[Ông Peter Mandelson, phụ trách thương mại khối
EU, miêu tả sự kiện này-sự kiện đ ầu tiên như thế này-là một dạng “ hẹn hò tốc đ ộ” có khả
năng dẫn tới tối thiểu một vài cuộc hôn nhân. Hiện tại, các thành phố như Chengdu rất
hạnh phúc khi có một vài cuộc hẹn hò thứ hai, miễn là các đ ối tác nước ngoài có túi sâu.]
FT36. Tim Stratford, the assistant US trade representative for China affairs, told the
Financial Times that, after a five-year honeymoon since Beijing joined the international
trade body, “the time has come to hold China accountable to WTO standards”. [Ông Tim
Stratford, trợ lý đ ại diện thương mại của Hoa Kì về các thương vụ Trung Quốc, phát biểu
với tờ Thời báo Tài chính, sau thời gian trăng mật kéo dài 5 năm kể từ khi Trung Quốc gia
nhập cơ quan thương mại thế giới, “đ ã đ ến lúc yêu cầu Trung Quốc tuân theo các tiểu
chuẩn của WTO”].
FT52. The briefest of honeymoons may already be over for the US airline industry, quite
a feat for a sector without even a marriage to celebrate.[Thời gian trăng mật ngắn ngủi
nhất có lẽ đ ã kết thúc đ ối với ngành công nghiệp máy bay của Hoa Kì, cũng là một thành
công đ ối với một khu vực thậm chí không có cuộc hôn nhân nào đ ể kỉ niệm.]


Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
marriages 2 9
103




speed dating 1
second dates 1
honeymoon 4
divorce 1
Bảng 2.21: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÔN NHÂN trong bản tin tiếng Anh
2.4. ẨN DỤ CƠ THỂ SỐNG
Nhiều công trình nghiên cứu về ẩn dụ đều có chung một nhận định là có một
số lĩnh vực nguồn đóng vai trò rất lớn trong việc cấu thành ẩn dụ ý niệm ở nhiều
nền văn hóa. Nói cách khác, một số lĩnh vực nguồn có tính phổ quát văn hóa, trong
đó phải kể đến lĩnh vực CƠ THỂ và NHÀ CỬA. Tilley [112] giải thích tính phổ
quát này có được là do con người có những trải nghiệm trực tiếp nhất và gần gũi
nhất với hai đối tượng trên. Boers [25] nhận định rằng ẩn dụ SỨC KHỎE, một tiểu
loại của ẩn dụ CƠ THỂ, xuất hiện rất phổ biến khi chúng ta bàn và tư duy về các
vấn đề kinh tế khác nhau.
Tổng số các biểu thức ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG đếm được trong các bài báo
tiếng Anh là 376 đạt tần suất thuộc là 1.88/bài và 3.13/1000 từ.
Ẩn dụ NỀN KINH TẾ LÀ MỘT CƠ THỂ SỐNG phản ánh một cấu trúc tri nhận
làm công việc ý niệm hoá nền kinh tế như một tổng thể (Charteris-Black, &
Musolff [40]) Chúng tôi đã tìm thấy các ẩn dụ ở tầng thấp hơn của nó có mặt trong
các bản tin tiếng Anh. Chiếm đa số trong các ẩn dụ ở tầng bậc thấp là ẩn dụ TÌNH
TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE với các tiểu loại tầng bậc thấp
hơn nữa là TÌNH TRẠNG KINH TẾ TỐT LÀ SỨC KHỎE TỐT và KHÓ KHĂN
KINH TẾ LÀ BỆNH TẬT/ĐAU ĐỚN.




2.4.1. TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE
Trong phần nghiên cứu này chúng tôi xem xét ẩn dụ SỨC KHỎE dựa trên
các nguyên tắc của lý thuyết ẩn dụ ý niệm. Ẩn dụ này có lĩnh vực nguồn là hoạt
động chức năng của cơ thể, còn lĩnh vực đích là các hoạt động kinh tế.
104




Ẩn dụ SỨC KHỎE là ẩn dụ ở tầng bậc thấp của ẩn dụ tầng bậc cao NỀN
KINH TẾ LÀ MỘT CƠ THỂ SỐNG. Một số nhà nghiên cứu cho rằng ẩn dụ thuộc
các tầng bậc này đều xuất hiện nhiều trong các bản tin kinh tế xã hội (xem Boers
[26], Smith [105]). Boers [26] phát hiện thấy tần số xuất hiện của các ẩn dụ SỨC
KHỎE trong diễn ngôn kinh tế xã hội phụ thuộc vào một số mùa nhất định trong
năm. Tuy nhiên, tổng số các biểu thức ẩn dụ SỨC KHỎE đếm được trong các bài
báo tiếng Anh là 326, như vậy có các tần suất là 1.63/bài và 2.7/1000 từ, một chỉ số
tương đối cao so với các con số mà Boers [sđd] đã đưa ra đối với các bản tin kinh
tế-chính trị tiếng Anh.
Trong các bản tin tiếng Anh, ẩn dụ ý niệm KHÓ KHĂN KINH TẾ LÀ BỆNH
TẬT/ĐAU ĐỚN và TÌNH TRẠNG KINH TẾ TỐT LÀ SỨC KHỎE TỐT được
hiện thực hóa thông qua các biểu thức ẩn dụ ngôn từ như
E119: Putting a heavy burden of conditions on emerging economies would add
insult to injury. [Việc đ ặt một gánh nặng các điều kiện lên các nền kinh tế mới nổi
sau làm đau thêm vết thương].
E141: After five years of robust growth, Argentina's economy has also slowed
considerably. The country's problems are compounded by rising crime rates and an
ongoing battle between farmers and the government[Sau năm năm phát triển khỏe
mạnh, nền kinh tế Argentina cũng đ ã chậm lại đáng kể. Các vấn đ ề của quốc gia
này hiện chất chồng với tỉ lệ tội phạm gia tăng và cuộc chiến không dứt giữa nông
dân với chính phủ]


contagion, anaemic performance, a broad-based recovery, recovering,
suffering growing pains, injury, ailing, weakness, hysteria, ails us,
afflicted, hurting, vigour and vitality, the sick man, the robustness, stoical,
robust, a little tired, the health, weak, too strong, sluggish, breathe new
life, muscular, unhealthy, poisoned, giants
Bảng 2.22: Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SỨC KHỎE trong bản tin tiếng Anh
Nghiên cứu của Boers [sđd] cho thấy rằng các bản tin kinh tế thường có xu
hướng rõ ràng trong việc ẩn dụ hóa các sự kiện và hiện tượng gây khó khăn, vướng
105




mắc trong lĩnh vực kinh tế. Việc ý niệm hóa các vấn đề khó khăn thuộc lĩnh vực
kinh tế thường được thực hiện thông qua các ẩn dụ SỨC KHỎE liên quan đến bệnh
tật của con người.
Quá trình đồ họa từ lĩnh vực nguồn SỨC KHỎE sang lĩnh vực đích KINH TẾ
đã giữ lại các tính chất của lĩnh vực nguồn như: mức độ hoạt động thể chất cao là
biểu hiện của một sức khỏe tốt. Đồ họa sang lĩnh vực đích, tính chất này cho thấy
rằng hoạt động kinh tế ở mức độ cao thì được đánh giá tích cực:
FT4. But equity strategists said the Indian stock market, the 14th largest, is likely to
continue to gain size in terms of market capitalization because of the country’s robust
economic growth .[Các chuyên gia đ ầu tư vốn nói rằng thị trường chứng khoán Ấn Độ, lớn
thứ 14, chắc chắn sẽ mở rộng qui mô về vốn hóa thị trường do tăng trưởng kinh tế mạnh
mẽ]

còn ngược lại thì bị đánh giá một cách tiêu cực, như tình hình nền kinh tế Hoa Kỳ
năm 2007 được đánh giá như sau:

FT16. The anaemic performance was worse than economists expected…[Sự trình diễn
thiếu máu còn tệ hơn dự đoán của các nhà kinh tế].
Ý định dụng học của tác giả bài báo trên cũng đã rõ ràng: Nếu nền kinh tế Hoa K ỳ
đang được chẩn đoán là “thiếu máu”, thì cần thiết phải có ngay sự can thiệp của
chính phủ liên bang với những liệu pháp điều trị phù hợp, nhằm tiến đến một “sự
hồi phục”:
FT16. …. but is likely to be viewed by the Federal Reserve as a prelude to a broad-based
recovery. [nhưng chắc chắn Ngân hàng dự trữ liên bang sẽ xem đây như khởi đ ầu cho sự
hồi phục trên diện rộng]
2.4.2. GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN KINH TẾ LÀ CHỮA BỆNH
Ẩn dụ GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN KINH TẾ LÀ CHỮA BỆNH là loại ẩn
dụ hạ danh thứ hai của ẩn dụ SỨC KHỎE được tìm thấy trong các bản tin kinh tế
tiếng Anh. Nếu như tình trạng nền kinh tế được ý niệm hóa như tình trạng sức khỏe
yếu, thì có thể suy ra rằng nền kinh tế giống như một bệnh nhân cần được chữa trị.
Theo lược đồ ẩn dụ mang tính hệ thống mà chúng tôi đã đề cập ở trên thi các cơ
106




quan quản lý nhà nước hay các tổ chức kinh tế thường thực hiện vai trò của các nhà
điều trị chuyên môn có nhiệm vụ chẩn đoán bệnh, đưa ra các biện pháp can thiệp
hoặc chữa trị cần thiết. Chừng nào mà các công ty còn ở trong tình trạng sức khỏe
tốt “robust”, “strong”, “giants”, chừng đó việc can thiệp của nhà nước vẫn chưa cần
thiết. Khi các công ty đã bắt đầu bị bệnh, lúc đó sẽ cần chăm sóc và sử dụng các
biện pháp điều trị.
Các tác giả bản tin tiếng Anh sử dụng các biểu thức ẩn dụ ngôn từ thể hiện tình
trạng kinh tế như một người bệnh nhẹ và như vậy, cũng cần những liệu pháp điều trị
nhẹ như vaccine [liều vắc xin], [cool] làm dịu, injected [tiêm] hay medicine [liều
thuốc], chẳng hạn như trong bản tin FT37 :
FT37: Rumours also swirled that public funds had been injected into the market and
that the regulator had put pressure on fund managers to buy shares, although
several fund managers denied this [Có các lời đ ồn đ ại rằng tiền từ các tổ chức quĩ
đ ã đư ợc tiêm và thị trư ờng, và rằng cơ quan điều phối đ ã gây áp lực buộc các nhà
quản lí các quĩ phải mua cổ phiếu, song nhiều ngư ời trong số họ đ ã chối bỏ điều
này].
2.5. TIỂU KẾT
Trong chương này chúng tôi đã tập trung miêu tả các loại ẩn dụ ý niệm được
sử dụng để bàn về các hiện tượng kinh tế trong các bản tin tiếng Anh. Các nhóm ẩn
dụ chính được phân lập là ẩn dụ KHÔNG GIAN, ẩn dụ MÔI TRƯ ỜNG TỰ
NHIÊN, ẩn dụ HOẠT ĐỘNG và ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG, trong đó nhóm ẩn dụ
KHÔNG GIAN xuất hiện nhiều nhất trong các bản tin. Điều này cho thấy diễn ngôn
kinh tế mang đặc trưng thể hiện sự phát triển hay tăng/giảm về số lượng và chất
lượng nhằm bộc lộ bản chất của các hiện tượng kinh tế. Công cụ thường xuyên
được dùng để phản ánh xu hướng phát triển tích cực hay tiêu cực của các hiện
tượng kinh tế chính là các ẩn dụ ý niệm KHÔNG GIAN hay ẩn dụ định hướng. Như
vậy, chức năng tri nhận của các ẩn dụ ý niệm trong các diễn ngôn báo chí là rõ
ràng ; các ẩn dụ được sử dụng với chức năng giúp người viết và người đọc có thể
thuyết giải và tư duy về các hiện tượng kinh tế trừu tượng.
107




Các ẩn dụ ý niệm trong các văn bản tin kinh tế tiếng Anh còn đóng góp vai
trò dụng học, xây dựng khả năng thuyết phục người đọc bản tin về quan điểm cá
nhân của người viết, như Kennedy [69] đã nhận định, chứ không chỉ đơn thuần thực
hiện chức năng làm đẹp cho văn bản. Miêu tả một hiện tượng kinh tế phát triển
vượt quá khả năng kiểm soát như “bubble” [bong bóng] có thể sẽ dẫn người đọc
đến một quyết định dừng đầu tư kịp thời.
Việc phân tích các ẩn dụ ý niệm và các biểu thức ẩn dụ ngôn từ trong các bản
tin tiếng Anh cũng cho thấy một số lượng lớn các biểu thức ngôn ngữ mang nghĩa
bóng có thể được truy xuất từ một số lượng hạn chế các ẩn dụ ý niệm. Phần lớn các
biểu thức ẩn dụ mới hay phi thường qui không phải là kết quả của các ẩn dụ ý niệm
phi thường qui ; chúng chỉ là các bước hiện thực hóa mới của các ẩn dụ ý niệm
thường qui, sẵn có trong tư duy của người sử dụng.
Các lĩnh vực nguồn của các ẩn dụ ý niệm trong các bản tin kinh tế tiếng Anh
cùng với các biểu thức ngôn ngữ hiện thực hóa chúng phản ánh rõ nét các đặc điểm
môi trường và văn hóa-xã hội của cộng đồng người Anh-Mỹ. Các đặc trưng văn
hóa-xã hội và môi trường khi được phản ánh trong ngôn ngữ của bản tin sẽ có thể
là những trở ngại cho việc nhận hiểu ẩn dụ của người sử dụng tiếng Anh như một
ngoại ngữ.
108




CHƯƠNG BA: ẨN DỤ Ý NIỆM TRONG BẢN TIN KINH TẾ
TIẾNG VIỆT
Trong các bản tin kinh tế tiếng Việt, các hiện tượng kinh tế trừu tượng cũng
thường xuyên được ý niệm hóa thông qua nhiều loại ẩn dụ ý niệm. Chúng tôi đã tổ
chức nhận diện, đặt tên và phân loại các ẩn dụ ý niệm này theo các lĩnh vực gốc của
chúng. Thống kê của chúng tôi cho thấy có 2739 biểu thức ẩn dụ thuộc 22 tiểu loại
trong các bản tin tiếng Việt, chúng được nhận diện thành bốn nhóm ẩn dụ, lần lượt
là ẩn dụ KHÔNG GIAN, ẩn dụ MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN, ẩn dụ HOẠT ĐỘNG
và ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG.
Hình 3.1 sẽ cho chúng ta thấy sự phân bổ theo số lượng của bốn nhóm ẩn dụ chính
tìm thấy trong khối ngữ liệu tiếng Việt:

1400
1200
1000
800
600
Tieáng Vieät
400
200
0
AD Khoâng AD moâi AD Hoaït ñoäng AD Cô theå
gian tröôøng soáng


Hình 3.1: Số lượng các nhóm ẩn dụ ý ni ệm chính trong tiếng Vi ệt



50

40

30

20 Tieáng Vieät
10

0
AD Khoâng AD moâi AD Hoaït ñoäng AD Cô theå
gian tröôøng soáng
109




Hình 3.2: Tỉ lệ phần trăm các nhóm ẩn dụ ý ni ệm chính trong tiếng Việt
Trong khối ngữ liệu tiếng Việt, nhóm các ẩn dụ KHÔNG GIAN chiếm tỉ lệ cao hơn
cả - 44.43%. Ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG là 7.19%.
Việc khảo sát cụ thể khối ngữ liệu tiếng Việt đã giúp nhận diện được 2739
lượt xuất hiện của các ẩn dụ ngôn từ. Các ẩn dụ này được phân bố thành 22 tiểu loại
ẩn dụ ý niệm, trong đó ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ CHUYỂN ĐỘNG CAO-
THẤP có số lượng lớn nhất (550), chiếm đến 20% trong tổng số các ẩn dụ nhận
diện được từ các bản tin kinh tế tiếng Việt, tiếp theo là ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH
TẾ LÀ CHUYỂN ĐỘNG LÊN-XUỐNG với 486 lượt xuất hiện (17.1%), ẩn dụ
CHẤT LỎNG (10%) và ẩn dụ CHIẾN TRANH (7.5%) với 208 lượt xuất hiện.
Chiếm tỉ lệ thấp nhất trong số các nhóm là các ẩn dụ NỀN KINH TẾ LÀ BONG
BÓNG với 15 lượt xuất hiện (0.54%), HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG
HÔN NHÂN (0.32%), và cuối cùng là nhóm ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ
HOẠT ĐỘNG CỜ BẠC (0.14%).
3.1. Ẩn dụ KHÔNG GIAN
Cũng giống như nhóm ẩn dụ KHÔNG GIAN trong các bản tin tiếng Anh,
nhóm ẩn dụ KHÔNG GIAN trong các bản tin kinh tế tiếng Việt cũng chiếm một tỉ
lệ xuất hiện khá lớn (44.43%) trong tổng số các ẩn dụ ý niệm. Chúng tôi đã tiến
hành phân tách 1217 lượt xuất hiện của các biểu thức ẩn dụ này thành 3 nhóm: ẩn
dụ vị trí CAO-THẤP, ẩn dụ chuyển động LÊN XUỐNG và ẩn dụ chuyển động
VÀO-RA với tỉ lệ sử dụng của chúng như minh họa ở hình 3.3.



15%
AD CAO THAÁP
45%
AD LEÂN XUOÁNG
AD VAØO RA
40%




Hình 3.3: Tỉ lệ xuất hi ện của các ti ểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN trong các bản tin tiếng Vi ệt
110




Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
VỊ TRÍ CAO-THẤP cao 320 550
đ áy 21
đỉnh 19
thấp 190
CHUYỂN ĐỘNG LÊN- đi xuống 32 486
XUỐNG xuống dốc 5
t ụt dốc 5
đi lên 27
lên cao 8
xuống thấp 7
nổi lên 7
trượt dốc 2
nhảy lên 1
xuống 143
lên 243
nâng lên 6
CHUYỂN ĐỘNG VÀO-RA vào 89 181
ra 92

Bảng 3.4 : Các ẩn dụ ý ni ệm KHÔNG GIAN và các biểu thức ẩn dụ trong các bản tin tiếng Việt


Xét từ phương diện định tính, chúng tôi nhận thấy các tiểu loại ẩn dụ
KHÔNG GIAN trong các bản tin kinh tế tiếng Việt đã thực hiện các chức năng tri
nhận đa phần giống với các tiểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN trong các bản tin tiếng
Anh, đó là chức năng đánh giá tích cực hay tiêu cực các hiện tượng kinh tế dựa trên
quan hệ tương liên với các chuyển động LÊN- XUỐNG hay các vị trí CAO-THẤP
tương ứng.
Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ CÁC CHUYỂN ĐỘNG LÊN XUỐNG,
cùng các tiểu loại của nó là CHỈ SỐ THỊ TRƯ ỜNG CHỨNG KHOÁN TĂNG LÀ
LÊN, CHỈ SỐ THỊ TRƯ ỜNG CHỨNG KHOÁN GIẢM LÀ XUỐNG, được thể
hiện cụ thể qua các biểu thức ngôn từ như đi xuống hay vư ợt lên hoặc đi xuống:
TB8: Trong hai phiên hôm kia và hôm qua, thị trư ờng đi xuống với nhiều cổ phiếu
blue chip đ ã giảm giá trở lại.
TB13: Uỷ ban chứng khoán Nhà nư ớc đ ã không lư ờng trư ớc những điểm nút thị
trư ờng vư ợt lên hoặc đi xuống, đ ột biến từng giai đoạn.
111




Bức tranh tri nhận về không gian thay đổi từ đi xuống đến rớt xuống có thể giúp
người sử dụng ngôn ngữ ý niệm hoá một sự thay đổi về chỉ số thị trường chứng
khoán như trong bản tin TB13:
TB13: Cổ phiếu của Thiên Việt trên thị trư ờng OTC đ ã rớt từ 60,000-70,000 đ ồng
xuống mức 11,000-12,000 đ ồng/cổ phiếu và không ít nhà đ ầu tư cá nhân đang lỗ
với mặt hàng này.
Có một loại ẩn dụ ý niệm khác đáng chú ý trong nhóm ẩn dụ định hướng
phát hiện trong khối ngữ liệu tiếng Việt, HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ CHUYỂN
ĐỘNG VÀO RA. Chiếm một tỉ lệ tương đối (14.87%), loại ẩn dụ này có thể cho
chúng ta thấy một sự khác biệt trong bức tranh tri nhận về không gian giữa các nền
văn hoá-ngôn ngữ khác nhau. Mặc dù ý niệm không gian cơ bản VÀO-RA mang
tính phổ quát cao và có mặt ở trong nhiều nền văn hoá, nhưng những ẩn dụ ý niệm
ở tầng bậc cụ thể lại khác nhau trong những môi trường văn hoá-ngôn ngữ khác
nhau. Để thể hiện ý niệm MUA và BÁN, văn hoá Anh-Mỹ chỉ dùng hình thức phi
ẩn dụ buy (mua) và sell (bán), trong khi đó khối ngữ liệu mà chúng tôi thu thập cho
thấy rằng người Việt lại dùng ý niệm VÀO-RA để kết hợp với ý niệm MUA-BÁN,
từ đó xuất hiện một tiểu loại ẩn dụ ý niệm MUA HÀNG HÓA LÀ HƯ ỚNG VÀO,
BÁN HÀNG HÓA LÀ HƯ ỚNG RA.
TB13c: Cùng một loại cổ phiếu, nhà đ ầu tư này thấy có lợi rồi, bán ra, nhà đ ầu tư
khác mới đ ến lại mua vào.
TB14: Nhiều nhà đ ầu tư có tổ chức, quĩ đ ầu tư đ ều tiến hành rà soát và cơ cấu lại
danh mục, bắt đ ầu giai đoạn mua vào một số cổ phiếu.
Việc giải thích sự có mặt của các ẩn dụ ý niệm trên đây có thể dựa trên đặc
điểm trong cách dùng giới từ không gian trong tiếng Việt mà Nguyễn Đức Dân [3]
đã bàn đến. Ông cho rằng ‘Ngư ời Việt lấy chủ thể phát ngôn làm yếu tố trung tâm
đ ể xác đ ịnh các mối quan hệ không gian và xã hội trong giao tiếp’ (sđd: 46). Nhìn
từ quan điểm này thì nhận thức của người Việt về hoạt động mua-bán sẽ xuất phát
từ sự phát triển nhận thức không gian. Lĩnh vực không gian nguồn của các ý niệm
vào/ra vốn được dùng để định hướng cho chuyển động sang một không gian
112




rộng/hẹp hơn thì trong các bản tin đã được đồ họa sang lĩnh vực mới, thể hiện quan
hệ hướng tâm/li tâm so với chủ thể là người thực hiện hoạt động mua/bán.
3.2. ẨN DỤ MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN
Nhóm các ẩn dụ MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN trong khối ngữ liệu tiếng Việt
cũng bao gồm các loại ẩn dụ ý niệm có lĩnh vực nguồn là các ý niệm về môi trường
tự nhiên xung quanh con người như chất lỏng, máy móc, động thực vật. Với 762
lượt xuất hiện trong các bản tin kinh tế tiếng Việt (27.82%), nhóm
ẩn dụ MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN được chúng tôi phân thành 6 tiểu loại, đó là ẨN
DỤ CHẤT LỎNG, ẨN DỤ CỖ MÁY, ẨN DỤ BONG BÓNG, ẨN DỤ ĐỘNG
THỰC VẬT, ẨN DỤ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG, ẨN DỤ THỜI TIẾT-NHIỆT
ĐỘ. Hình 3.5. cho thấy tỉ lệ xuất hiện của các tiểu loại ẩn dụ này trong nhóm ẩn dụ
MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN ở khối ngữ liệu tiếng Việt.



40

30

20

10 Tieáng Vieät

0
Chaát Coã Bong Kieán Ñoäng Thôøi
loûng maùy boùng truùc thöïc tieát
vaät



Hình 3.5: Các tiểu loại ẩn dụ thuộc nhóm ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN và tỉ lệ xuất hi ện
3.2.1. Ẩn dụ CHẤT LỎNG
Ẩn dụ CHẤT LỎNG chiếm một tỉ lệ rất cao trong nhóm các ẩn dụ MÔI
TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN (36%) với hơn 275 lượt xuất hiện, cao hơn so với các ẩn dụ
CHẤT LỎNG trong các bản tin tiếng Anh. Chúng tôi nhận xét rằng việc các ẩn dụ
CHẤT LỎNG xuất hiện với tần suất cao trong khối ngữ liệu tiếng Việt không phải
do ngẫu nhiên, mà do ảnh hưởng của môi trường vật chất và môi trường tự nhiên
đối với ngôn ngữ và tư duy của cộng đồng người sử dụng. Sống trong một môi
trường tự nhiên nhiều sông ngòi như Việt Nam, người Việt đã thích nghi với các
113




đặc điểm địa hình và khí hậu đặc trưng cho một quốc gia vùng nhiệt đới và dần dần
sử dụng các đặc điểm này trong việc sáng tạo và nhận hiểu các ý niệm ẩn dụ dùng
trong cộng đồng. Các biểu thức ẩn dụ được sử dụng thường xuyên nhất đều gắn với
các đơn vị từ vựng rất quen thuộc với người sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt như đ ổ,
bơm, chảy, sóng, dòng, kênh, luồng. Các đơn vị từ vựng này đã được các tác giả bản
tin sử dụng để xây dựng các ý niệm ẩn dụ mới, trừu tượng về các hiện tượng kinh tế
mới nảy sinh trong đời sống kinh tế xã hội như NỀN KINH TẾ LÀ MỘT DÒNG
CHẢY, ĐẦU TƯ THÊM VỐN LÀ BƠM THÊM CHẤT LỎNG, TĂNG THÊM SỐ
LƯ ỢNG CỔ PHIẾU PHÁT HÀNH LÀ PHA LOÃNG CHẤT LỎNG vv.
Một ví dụ minh hoạ của loại ẩn dụ này là NỀN KINH TẾ LÀ MỘT DÒNG CHẢY.
Ẩn dụ ý niệm này được thể hiện bằng biểu thức ngôn từ cụ thể như -TBKTSG88:
nguồn cung cổ phiếu tiếp tục dâng cao khi các ngân hàng cổ phần tăng vốn như kế hoạch
đ ã đ ịnh.
Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
CHẤT LỎNG gâ y loãng 1 22
loãng 8
nhỏ giọt 4
pha loãng 5
tan băng 4
DÒNG CHẢY bị ngăn lại 2 249
b ơm 20
cạn 5
chảy mạnh 24
con sóng 30
dâng cao 2
dòng 46
gợn lên 1
kênh 28
luồng 11
ngược dòng 4
nhấn chìm 7
65
đổ
xả 4
HƠI NƯỚC bay hơi 2 4
bốc hơi 2

275
Bảng 3.6: Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ DÒNG CHẢY trong bản tin tiếng Vi ệt
114




Ngoài ra, có không ít các biểu thức ẩn dụ ngôn từ phản ánh ẩn dụ ý niệm
VỐN KINH TẾ LÀ MỘT DÒNG CHẢY đuợc tìm thấy trong khối ngữ liệu:
TBKTSG 23: Nghịch lý thay, nguyên nhân chính của cuộc đua này lại là, theo báo
cáo của Ngân hàng Nhà nư ớc, do tình trạng dư thừa vốn ở các ngân hàng
thương mại lớn, nhưng không chảy đ ến đư ợc những ngân hàng thiếu vốn vì
thị trư ờng liên ngân hàng chưa phát triển.
TBKTSG24: Và Deutsche Bank tiếp tục “bơm” tiền vào thị trư ờng.
TBKTSG49a: Sự đ ảo chiều của nhóm cổ phiếu giá thấp rất đư ợc quan tâm
khi một lư ợng tiền không nhỏ đ ã đ ổ váo đây thời gian qua.
TBKTSG66. nhưng lại không gây áp lực lạm phát vì tiền chảy vào đ ã được đem cất trong
két.
3.2.2. Ẩn dụ CỖ MÁY
Trong khối ngữ liệu tiếng Việt, các ẩn dụ ĐỘNG CƠ cũng có tần suất sử dụng
lớn nhất trong nhóm các ẩn dụ ý niệm CỖ MÁY với 150 lượt xuất hiện, tiếp theo là
các ẩn dụ TÀU THỦY (17 lượt) và sau cùng các ẩn dụ MÁY BAY (3 lượt) và TÀU
HỎA (1 lượt).
Việc ý niệm hóa nền kinh tế như một con tàu xảy ra tương đối phổ biến trong
các bài báo tiếng Việt. Thuyền trưởng thường là chủ tịch một ngân hàng, thủy thủ
đoàn là các trợ lý và nhân viên, biển cả là môi trường kinh tế-xã hội, bão tố hay đá
ngầm là các tình huống nan giải trong kinh tế cần giải quyết, dụng cụ đi biển là các
chỉ thị hay quyết định kinh doanh.
Thường thì thị trường tài chính được gắn với những thay đổi nhanh chóng và
đi kèm với chúng là tính khó tiên đoán của thị trường. Có vẻ như điều này hơi trái
ngược với ẩn dụ NỀN KINH TẾ LÀ MỘT CON TÀU nêu trên hay ẩn dụ THỊ
TRƯ ỜNG CHỨNG KHOÁN LÀ SÂN KHẤU, vì chúng ta có thể hiểu rằng những
thuyền trưởng là những người biết rõ thuyền của họ sẽ đi về đâu, hoặc những người
diễn viên hoạt động theo những kịnh cảnh đã định sẵn và có thể tiên đoán được. Vì
vậy có thể nói rằng không phải tất cả các đặc tính của lĩnh vực nguồn đều được đồ
họa sang lĩnh vực đích.
115




Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
ĐỘNG CƠ b ộ má y 28 150
chạy hết tốc lực 1
c ỗ má y 9
cỗ xe nhỏ gọn 2
không phanh 3
ngáng trở 1
tăng tốc 5
tốc độ 101
TÀU THỦY hạ thủy 1 17
neo 5
con tàu 5
la bàn 1
thuận buồm xuôi gió 1
thuyền 3
vượt sóng 1
MÁY BAY cất cánh 2 3
hạ cánh an toàn 1
TÀU LỬA đường ray 1 1

TỔNG CỘNG 171
Bảng 3.7: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CỖ MÁY trong bản tin tiếng Việt
Boers [29] cho rằng có ba dạng điều biến xuyên văn hóa khi sử dụng ẩn dụ:
khác biệt trong việc sử dụng các cấu trúc đồ họa nguồn-đích, khác biệt trong việc
người bản ngữ đánh giá các cấu trúc đồ họa đó, và cuối cùng là khác biệt về mức độ
sử dụng rộng rãi của ẩn dụ khi so sánh với các phương tiện khác như hoán dụ.
Trên bình diện thứ nhất, trong các nền văn hóa khác nhau thì ẩn dụ sẽ có các
lĩnh vực nguồn khác nhau được đồ họa lên cùng một lĩnh vực đích. Ẩn dụ CUỘC
SỐNG LÀ MỘT HÀNH TRÌNH là một ví dụ, các ẩn dụ ý niệm ở tầng thấp của nó
có liên quan đến các phương tiện đi lại như tàu lửa, tàu thủy, xe hơi. Thế nhưng
trong các nền văn hóa khác nhau thì các phương tiện đi lại cũng giữ nhưng vai trò
khác nhau. Ở các nền văn hóa mà các phương tiện như tàu thủy, tàu lửa và xe ô tô
đóng vai trò quan trọng trong đời sống thì sẽ có khả năng chúng có mặt thường
xuyên hơn trong các biểu thức ẩn dụ. Điều này có thể lí giải tại sao các ẩn dụ MÁY
BAY và TÀU LỬA có tần suất sử dụng không cao trong các bản tin kinh tế tiếng
Việt.
116




Cũng giống như trong khối ngữ liệu tiếng Anh, việc đồ hoạ ẩn dụ theo nhiều
cấu trúc tầng bậc cũng xảy ra với ẩn dụ ý niệm NỀN KINH TẾ LÀ CỖ MÁY HAY
PHƯƠNG TIỆN VẬN CHUYỂN trong các bản tin kinh tế tiếng Việt. Ở tầng bậc
thấp chúng ta có các ẩn dụ NỀN KINH TẾ LÀ MỘT CON TÀU ĐI BIỂN:
TB21a: Trư ớc giờ phút bắt đ ầu hạ thuỷ, thực thi những cam kết WTO, ít nhất
cũng cần xác đ ịnh rõ con tàu Việt Nam đang ở đâu trong quá trình phát triển, đ ể có
thể từ đó đ ịnh hư ớng và nắm chắc la bàn đ ể bẻ bánh lái đúng hư ớng.
và thậm chí, NỀN KINH TẾ LÀ MỘT ĐOÀN TÀU HOẢ:
TB29: Cỗ máy kinh tế của Việt Nam như vậy có thể nói đ ã đư ợc đ ặt trên đư ờng ray
đúng đ ể tăng tốc phát triển.
Hay NỀN KINH TẾ LÀ MÁY BAY
TB21b: Tư duy “tự mình dấn thân làm ăn” chính là nền tảng cho sự cất cánh kinh
tế của xã hội đó.
3.2.3. Ẩn dụ BONG BÓNG
Như chúng tôi đã đề cập ở phần trên, tần suất xuất hiện của các biểu thức
ẩn dụ BONG BÓNG còn khá thấp trong các bản tin kinh tế tiếng Việt (15 lượt),
điều này cho thấy có lẽ ý niệm BONG BÓNG còn khá mới mẻ trong diễn ngôn kinh
tế tiếng Việt. Tuy vậy, các ẩn dụ BONG BÓNG trong các bản tin tiếng Việt vẫn xâ y
dựng cho người đọc một bức tranh tri nhận về tình hình một nềân kinh tế hay một
thị trường tài chính với tính chất không ổn định, có thể thay đổi bất ngờ theo chiều
hướng xấu, như trong bản tin
TBKTSG16. nhiễu thông tin, chất lượng thông tin thấp đang làm cho hiệu ứng bầy đàn
tích tụ khả năng vỡ bong bóng – nhất là một khi xảy ra tin đ ồn nhảm, một vụ lừa đ ảo, một
ngân hàng vỡ nợ, một cú sốc từ bên ngoài.
Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
bong bóng 9 15
quả bóng xì hơi 1
sốt “bong bóng” 1
tạo bong bóng 1
thổi 2
vỡ bong bóng 1
Bảng 3.8:Các d ạng biểu thức ngôn ngữ Ẩn dụ BONG BÓNG trong bản tin tiếng Việt
117




Cũng giống như trong các bản tin tiếng Anh, ẩn dụ BONG BÓNG trong
các bản tin tiếng Việt ngoài chức năng tri nhận còn đảm nhiệm chức năng dụng học
bằng việc thể hiện niềm tin, quan điểm của người viết về các hiện tượng kinh tế
không lành mạnh và góp phần thuyết phục người đọc đồng ý với quan điểm của
người viết bản tin. Trong ví dụ dưới đây, tác giả bản tin TBKTSG125 đã sử dụng ẩn
dụ THỊ TRƯ ỜNG BẤT ĐỘNG SẢN LÀ BONG BÓNG nhằm thuyết phục người
đọc tránh những sai lầm trước đây của Hoa Kỳ và Thái Lan trong việc phát triển
ngành xây dựng với tốc độ quá nhanh.
TBKTSG125. …hình ảnh hàng ngàn căn hộ đ ắt tiền bỏ trống, không ai ở bên cạnh những
khu ổ chuột mới hình thành với hàng ngàn công nhân sống chen chúc từng xảy ra ở Thái
Lan, sẽ có khả năng xảy ra ở nước ta nếu chúng ta không nhận ra nguy cơ bong bóng của
thị trường và nhanh chóng có biện pháp điều chỉnh.
Cũng tương tự như vậy, mục đích phê phán của người viết bản tin TBKTSG43 cũng
được thể hiện qua ẩn dụ CÔNG NGHIỆP NUÔI BÒ SỮA LÀ BONG BÓNG khi đề
cập đến phong trào nuôi bò sữa ở nước ta trong giai đoạn 2001-2005:
TBKTSG43. Sau khi quả bóng bò sữa xì hơi, Cục Chăn nuôi mới phát hiện ra có đ ến
20 tỉnh người dân không có kinh nghiệm chăn nuôi bò sữa.
Trong khối ngữ liệu tiếng Việt, đôi khi ẩn dụ BONG BÓNG cũng được sử
dụng kết hợp với một ẩn dụ khác để hình thành hiện tượng đa ẩn dụ mà chúng tôi đã
đề cập ở các phần trước; chẳng hạn như trong bản tin TBKTVN182 sau đây, ẩn dụ
BỆNH TẬT được kết hợp với ẩn dụ BONG BÓNG chỉ trong phạm vi một đơn vị
mệnh đề, chứ không phân bổ ở các mệnh đề khác nhau như thường gặp trong các
bản tin khác:
TBKTVN182. …những người chưa mua hoặc không có khả năng mua khi mức giá ngày
càng quá cao thì kêu trời là thị trường đ ịa ốc đang sốt “bong bóng”.
Tuy chúng tôi cho rằng hiện tượng đa ẩn dụ trong ví dụ trên có lẽ thể hiện
phần lớn dấu ấn cá nhân của người viết bản tin hơn là đặc trưng chung của một
cộng đồng ngôn ngữ, nhưng cũng phải thừa nhận cụm ẩn dụ trên không phá vỡ tính
mạch lạc của văn bản mà còn có thể ít nhiều tăng hiệu quả dụng học của phát ngôn.
3.2.4. Ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG
118




Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
cánh cửa chính 5 104
chìa khóa mở cánh cửa 2
mở cửa 23
đóng cửa 22
5
đổ vỡ
xâ y 47
B ảng 3.9:Các dạng biểu thức ngôn ngữ của Ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG trong bản tin
tiếng Việt


Các ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG chiếm tỉ lệ không cao lắm trong nhóm
ẩn dụ MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN trong tiếng Việt (13.6%) với 104 lượt xuất hiện,
trong đó chủ yếu là ẩn dụ ý niệm TẠO MỘT HỆ THỐNG (KINH TẾ) TRỪU
TƯ ỢNG LÀ XÂY DỰNG MỘT CẤU TRÚC VẬT CHẤT với các biểu thức ngôn
từ thường gặp như xây, xây dựng
TBKTSG56. Thực tế, trong thời gian đ ầu, các doanh nghiệp nước ngoài không dễ gì xây
dựng được mạng lưới riêng và phải cần đ ến các dịch vụ của doanh nghiệp trong nước
cung cấp.
Phần lớn các ẩn dụ trong nhóm này thuộc các tiểu loại như HỢP TÁC KINH
TẾ VỚI CÁC QUỐC GIA KHÁC LÀ MỞ CỬA, hay KHÔNG HỢP TÁC KINH
TẾ LÀ ĐÓNG CỬA như trong bản tin sau:
TBKTSG37. nếu tư cách thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là cánh cửa
chính đ ể Việt Nam bước ra và hội nhập hoàn toàn với nền kinh tế toàn cầu thì Việt Nam đ ã
giành được chiếc chìa khóa mở cánh cửa đó vào thứ ba (7-11) khi Nghị đ ịnh thư gia nhập
WTO của Việt nam được ký kết tại Geneva, Thụy Sỹ.
TBKTSG40. nếu chúng ta muốn nước ngoài đem tiền vào đ ầu tư, thì phải mở cửa. Còn
ngược lại, muốn kiểm soát rủi ro, thì đóng.
3.2.5. Ẩn dụ ĐỘNG THỰC VẬT
3.2.5.1. ẨN DỤ ĐỘNG VẬT
Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
b ầy đàn 5 10
ru ồ i 1
cá 3
1
ong bướm
119




rễ 1 53
nhánh 44
hoa 3
cành 2
gặt hái 2
quả 1
63
Bảng 3.10: Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĐỘNG THỰC VẬT trong bản tin tiếng Vi ệt
Trong khối ngữ liệu tiếng Việt, các nhóm ẩn dụ ĐỘNG VẬT và ẩn dụ THỰC
VẬT có sự phân bổ trái chiều so với khối ngữ liệu tiếng Anh. Trong các bản tin
tiếng Anh, các ẩn dụ ĐỘNG VẬT chiếm tỉ lệ đa số (75%), thế nhưng trong các bản
tin tiếng Việt, các ẩn dụ THỰC VẬT lại chiếm ưu thế hơn về số lượng với 53 lượt
xuất hiện, chiếm 84% trong nhóm ẩn dụ ĐỘNG-THỰC VẬT.
Bên cạnh việc xuất hiện với tỉ lệ thấp hơn, các ẩn dụ ĐỘNG VẬT trong các
bản tin tiếng Việt cũng thể hiện một bức tranh khá khác biệt so với các ẩn dụ
ĐỘNG VẬT có trong khối ngứ liệu tiếng Anh. Chúng tôi nhận thấy trong khi các
ẩn dụ tiếng Anh chứa hình ảnh các loài động vật như gấu, bò, chó, đ ại bàng, hổ,
sói, lợn, thì các loài động vật dùng trong lĩnh vực nguồn ở các bản tin tiếng Việt lại
là ruồi, cá, ong, bư ớm;
TBKTSG90. …ngay từ khi chào sàn vào cuối năm ngoái, ba cổ phiếu này đ ã tỏ ra không
phải là những cổ phiếu hạng ruồi
TBKTSG98. …thị trường đang lớn lên, cá lớn sẽ quẫy đuôi nhiều hơn. Và những cú quẫy
đuôi đó sẽ thu hút dòng vốn nước ngoài.
Giống như trong tiếng Anh, các bản tin kinh tế tiếng Việt cũng có cùng ẩn dụ
ý niệm ĐẦU TƯ KINH TẾ THEO SỐ ĐÔNG LÀ HÀNH VI BẦY ĐÀN để miêu
tả các hoạt động kinh tế nhất thời, không theo phân tích thị trường mà chủ yếu dựa
vào tâm lý chung của những người cùng tham gia:
TBKTSG16. …nhiễu thông tin, chất lượng thông tin thấp đang làm cho hiệu ứng bầy đàn
tích tụ khả năng vỡ bong bóng.
3.2.5.2. ẨN DỤ THỰC VẬT
Các ẩn dụ THỰC VẬT mặc dù chiếm tỉ lệ đa số trong nhóm ĐỘNG-THỰC
VẬT ở các bản tin tiếng Việt, nhưng phần lớn đều thể hiển dưới dạng các biểu thức
120




ẩn dụ thường qui xoay quanh ẩn dụ ý niệm CÁC ĐƠN VỊ CỦA HỆ THỐNG
TRỪU TƯ ỢNG PHỨC HỢP LÀ CÁC CHI NHÁNH CỦA CÂY CỐI:
TBKTVN176. Mặc dù khối chi nhánh ngân hàng nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tốt,
nhưng điểm nhấn của năm nay nằm ở khối các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
hay SỰ GẮN KẾT CỦA CÁC ĐƠN VỊ CỦA HỆ THỐNG TRỪU TƯ ỢNG PHỨC
HỢP LÀ SỰ BÁM RỄ CỦA CÂY CỐI:
TBKTSG63. Phải chăng do quyền lợi của các bộ và quan chức thuộc các bộ bám rễ quá
lâu ở các doanh nghiệp nên chưa thực hiện được?!
Các biểu thức ẩn dụ mới dựa trên ẩn dụ ý niệm THỰC VẬT nhìn chung không xuất
hiện nhiều trong khối ngữ liệu tiếng Việt của luận án; chúng tôi chỉ phát hiện được
một số lượng ít các biểu thức như vậy, ví dụ trong các bản tin sau:
BKTSG65. một số doanh nghiệp Việt Nam có ý đ ịnh và đang chuẩn bị niêm yết ở n ước
ngoài như SSI, FPT….thì vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể về thủ tục….Họ là những bông
hoa hương sắc, quyến rũ từng đàn ong bướm vây quanh. Nhưng mới chỉ là vây quanh thôi.
Bao giờ ong bướm và hoa thật sự đ ến với nhau, thì chưa biết.
TBKTSG123. ch ỉ từ hai năm nay thị trường mới khởi sắc. Và cây chứng khoán bây giờ
mới có đ ầy đ ủ không khí, ánh nắng mặt trời, nguồn nước tưới dồi dào đ ể đâm cành sinh
sôi. Nên chăng đ ể cây trưởng thành lên, cành lá xum xuê, thu thuế cũng chưa vội?
3.2.6. Ẩn dụ THỜI TIẾT- NHIỆT ĐỘ
Các ẩn dụ THỜI TIẾT-NHIỆT ĐỘ có tần suất sử dụng tương đối cao trong
nhóm các ẩn dụ MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN (17.5%) với hơn 134 lượt xuất hiện,
trong đó phải kể đến các ẩn dụ NHIỆT ĐỘ với tỉ lệ xuất hiện cao (99 lượt). Nhóm
các ẩn dụ THỜI TIẾT trong các bản tin kinh tế tiếng Việt thể hiện sự khác biệt
tương đối rõ ràng so với nhóm tương ứng trong các bản tin tiếng Anh: phần lớn các
ẩn dụ này đều hướng người đọc đến những phán đoán hoặc đánh giá tiêu cực các
hiện tượng kinh tế, chỉ có một tỉ lệ nhỏ kích thích những đánh giá tích cực từ phía
người đọc. Các ẩn dụ ý niệm này cho thấy sự liên hệ giữa các trạng thái tiêu cực
của thị trường với các hiện tượng thiên nhiên như hạn hán, lụt lội, thời tiết xấu,
động đất, chẳng hạn THỊ TRƯ ỜNG ĐI XUỐNG LÀ MỘT THẢM HỌA THỜI
121




TIẾT. Các ví dụ sau đây cho thấy người viết các bản tin đã đánh giá hay có những
phán đoán tiêu cực về các hiện tượng kinh tế thông qua các hiện tượng thời tiết:
TBKTVN153. trong khi đó thị trường bắt đ ầu chịu những cơn cuồng phong thép giá rẻ từ
những nhà máy đ ịa phương phía nam Trung Quốc.
TBKTVN194. một nền kinh tế đang rất phát triển luôn khát vốn, do vậy sẽ không có gì
phải lo ngại thị trường sẽ sụp như đ ồn đoán việc cơn bão tài chính cách nay 10 năm lại
xảy đ ến cho thị trường chứng khoán Việt Nam.
TBKTSG109. việc báo chí đ ồng loạt có những bài viết dự báo về cơn bão vật giá đang đ ến
cũng như sẽ mạnh lên vào cuối năm đ ã tác đ ộng đáng kể đ ến tâm lý nhà đ ầu tư .
Ẩn dụ ý niệm Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
cơn bão 7 35
cơn cuồng phong 1
cơn lốc 5
cơn địa chấn 1
chao đảo 5
thổi bùng 3
ngọn gió 3
không khí 10
nóng 81 99
siêu nóng 2
lạnh 4
đóng băng 12
134
Bảng 3.11: Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ THỜI TIẾT-NHIỆT ĐỘ trong bản tin tiếng
Việt

3.3. ẨN DỤ HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI
Chiếm 20.55% tổng số các biểu thức ẩn dụ, các ẩn dụ phản ánh hoạt động
con người hiện diện trong các bản tin kinh tế tiếng Việt tương đối đồng đều so với
trong tiếng Anh (18.71%); các biểu thức ẩn dụ thể hiện ẩn dụ ý niệm tầng bậc cao
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI được chúng tôi phân
loại thành 8 nhóm.
3.3.1. Ẩn dụ CHIẾN TRANH
Tổng số các biểu thức ẩn dụ CHIẾN TRANH đếm được trong 200 bài báo kinh
tế tiếng Việt 208, như vậy tỉ lệ trung bình là 1.04 biểu thức ẩn dụ/bài; tỉ lệ xuất hiện
trên 1000 từ là 1.39.
122




Ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG CHIẾN TRANH
trong các bản tin tiếng Việt mặc dù có tỉ lệ sử dụng gần tương đương với nhóm ẩn
dụ tương ứng trong các bản tin tiếng Anh, nhưng các biểu thức ngôn ngữ cụ thể
không có mức độ đa dạng bằng trong tiếng Anh. Chúng tôi khảo sát được 13 đơn vị
từ vựng có mặt trong nhóm ẩn dụ ý niệm này so với 31 đơn vị từ vựng được sử
dụng trong khối ngữ liệu tiếng Anh.


Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
án binh 3 208
chiến lược 119
cuộc chiến 2
cuộc lật đổ ngoạn mục 1
dội bom 1
nhảy dù tập thể 1
đổ bộ 3
ồ ạt xuất quân 1
ngắm 4
tân binh 4
tuyến phòng thủ 3
vùng lên 1
65
mục tiêu
Bảng 3.12: Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHIẾN TRANH trong bản tin ti ếng Vi ệt


TB2: Tốc đ ộ tăng thị giá của các chứng chỉ quĩ khá chậm khiến nhiều nhà đ ầu tư
muốn đánh nhanh rút nhanh tỏ ra không mặn mà.
TB15: Chỉ cần các ông lớn ấy bỏ vào Việt Nam một phần trăm số vốn đang quản lý
cũng đ ủ sức đánh bạt các quĩ lâu năm kia ra khỏi những cuộc đ ấu giá.
Đánh giá về những khó khăn trong việc tìm nguồn nhân lực cho các ngân hàng
trong nước và coi đây là một “cuộc chiến” trước sự “tấn công” của các công ty
nước ngoài, người viết bản tin sẽ tạo cho người đọc một thái độ phản ứng khác so
với khi xem các khó khăn đó như sự cạnh tranh bình thường:
TBKTSG1: cuộc chiến này chắc chắn sẽ căng thẳng hơn sau ngày 1/4.
Người đọc bản tin tiếng Việt cũng sẽ tạo cho mình một thái độ ứng phó và chuẩn bị
giống như trong chiến tranh trước sự “đ ổ bộ” của các tập đoàn nước ngoài như
trong bản tin
123




TBKTSG56: trong lĩnh vực kinh doanh lữ hành, các doanh nghiệp lớn, các tập
đoàn kinh doanh nư ớc ngoài sẽ đ ổ bộ vào và trực tiếp đưa đón khách vào Việt Nam.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận thấy rằng một số ẩn dụ CHIẾN TRANH trong các
bản tin tiếng Việt chưa thực hiện trọn vẹn chức năng thuyết phục, mà dường như
chúng chỉ thực hiện chức năng sáng tạo thẩm m ỹ, làm đẹp cho văn bản.
TBKTVN199: …khả năng biến đ ộng của VN-Index sau khi chỉ số này bị tụt dư ới
“tuyến phòng thủ 1000 điểm”.
TBKTVN173: các mã tăng mạnh là C92, KBC, tân binh MIC, PSC.
3.3.2. Ẩn dụ HÀNH TRÌNH
Việc phân tích các bản tin tiếng Việt cho thấy ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG
KINH TẾ LÀ MỘT HÀNH TRÌNH xuất hiện 138 lượt, trong đó phải kể đến sự đa
dạng của các biểu thức ngôn ngữ dùng để chuyển tải ẩn dụ ý niệm này. Chúng tôi
đếm được 22 biểu thức khác nhau phản ánh các hoạt động đi lại có liên quan đến ẩn
dụ ý niệm này. Có thể thấy mức độ đa dạng của các biểu thức ngôn ngữ trong các
bản tin kinh tế tiếng Việt cao gần gấp đôi so với các biểu thức ngôn ngữ thống kê
được trong các bản tin tiếng Anh.


Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất Tổng
hiện
12 138
b ướ c đ i
đường đi 3
đi ngược 5
đi vào 10
đi tắt đón đầu 1
đi chậm 1
đi theo hướng 5
đi chỗ khác 1
đi cùng 2
đi nửa chặng đường 1
hướ ng đi 9
đi ra 1
điểm đến 4
ra đ i 6
đi trước 4
đi sau 2
con đường 10
124




đ i t ới 1
đi nhanh 2
đi qua 2
dẫn đến 30
lộ trình 26

Bảng 3.13: Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÀNH TRÌNH trong bản tin ti ếng Vi ệt


Cũng giống như các bản tin tiếng Anh, các bản tin tiếng Việt chứa ẩn dụ ý
niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ MỘT HÀNH TRÌNH thường ý niệm hóa một
lĩnh vực đích, chẳng hạn một hoạt động đầu tư hay cổ phần hóa, thông qua lĩnh vực
gốc là một hành trình, trong đó bao gồm điểm xuất phát và điểm đích đến, các trở
ngại trên hành trình và hoạt động đi lại của người thực hiện hành trình.
TBKTSG117. Một số ý kiến cho rằng thị trường bất đ ộng sản chỉ mới ở giai đoạn đ ầu của
sự phát triển, đường đi còn dài.
Tuy nhiên, trong khi ẩn dụ ý niệm HÀNH TRÌNH trong các bản tin tiếng
Anh thường được diễn đạt bằng các biểu thức ngôn ngữ cụ thể liên quan đến các
nhân tố khách quan như điểm xuất phát, đường đi, điểm đích, thì trong các bản tin
tiếng Việt, ẩn dụ HÀNH TRÌNH thường được biểu hiện cụ thể bằng các hoạt động
đi lại của con người mang tính chất chủ quan hơn như “vận đ ộng”, “bư ớc đi”, như
trong các ví dụ sau đây:
TBKTSG36. nhưng cuối cùng, tổng công ty Bảo Việt đ ã “tự thân vận đ ộng” và đi những
bư ớc khá khẩn trương trên đường cổ phần hóa. Trong khi đó, hai ngân hàng Vietcombank
và Phát triển nhà đ ồng bằng sông Cửu Long vẫn đang “ì ạch” leo dốc cổ phần hóa.
TBKTSG88. Thị trường chứng khoán sẽ đi về đâu?
3.3.3. Ẩn dụ SÂN KHẤU
Ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG SÂN KHẤU có
mặt trong các bản tin tiếng Việt với tần suất không cao, chỉ với 23 lượt xuất hiện,
chiếm 4.08% tổng số lượt xuất hiện của các ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI.
Các biểu thức từ vựng thuộc lĩnh vực nguồn SÂN KHẤU được phân bố chủ yếu
trong lĩnh vực sân khấu, với sự xuất hiện thường xuyên của các đơn vị từ vựng như
“kịch bản” (8 lượt xuất hiện). Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ KỊCH BẢN SÂN
125




KHẤU thường được sử dụng trong các bản tin nhằm thông báo về các diễn biến
kinh tế tài chính mang tính chất lặp lại như các vở diễn, chẳng hạn như bản tin sau:
TBKTSG104. kịch bản về diễn biến thị trường tuần này gần giống như tuần trước khi
VN-Index sau khi giảm ba phiên liên tục đ ã đ ột ngột tăng vọt…
Hoặc người viết bản tin dùng ẩn dụ này để tiên đoán về các diễn biến kinh tế trong
tương lai:
TBKTVN164. với k ịch bản xấu nhất là bắt đ ầu một làn sóng rớt giá ồ ạt ở các cổ phiếu
giá thấp, hoàn toàn có khả năng làn sóng này sẽ nhấn chìm cả những cổ phiếu thật sự tốt.


Có đôi lúc người viết bản tin tài chính sử dụng ẩn dụ SÂN KHẤU để ám chỉ rõ ràng
về các hoạt động tài chính bị thao túng từ trước:
TBKTSG127. đ ằng này, kịch bản tạo khan hiếm đ ể đ ẩy giá, tạo hình thức cho sự kiện
thực sự quá lộ liễu.


Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
kịch bản 8 23
nhạc trưởng 5
nhảy múa 2
nhảy nhót 1
nhịp điệu 4
b ước nhảy 1
diễn viên chính 1
trình diễn 1
Bảng 3.14: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SÂN KHẤU trong bản tin tiếng Việt


Trong các bản tin tiếng Việt cũng xuất hiện nhiều các ẩn dụ ý niệm SỰ
PHÁT TRIỂN BÌNH THƯ ỜNG CỦA THỊ TRƯ ỜNG LÀ MỘT BẢN NHẠC CÓ
NHỊP ĐIỆU, có lẽ việc sử dụng các ẩn dụ ý niệm này xuất phát từ thực tiễn nền
kinh tế Việt Nam còn đang trong giai đoạn phát triển tự phát:
TBKTSG133. Thị trường chứng khoán Việt Nam đang cần mộït nhạc trư ởng giữ nhịp
điệu và luật chơi.
126




Một sự khác biệt nữa so với các bản tin tiếng Anh là việc các bản tin tiếng
Việt sử dụng ẩn dụ ý niệm SỰ THAY ĐỔI CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ LÀ BƯ ỚC
NHẢY:
TBKTSG113. kể từ tuần trước đ ến nay, chỉ số này cũng nhảy múa liên tục.
3.3.4. Ẩn dụ THỂ THAO-SĂN BẮN
Ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG THỂ THAO và
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG SĂN BẮN chiếm tỉ lệ 18.6% (105 lượt
xuất hiện) trong các bản tin tiếng Việt.
Một trong các lĩnh vực nguồn thường gặp trong ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG
KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG THỂ THAO th ể hiện trong các bản tin tiếng Việt là
CUỘC CHẠY ĐUA. Chúng tôi nhận thấy ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ
LÀ CHẠY ĐUA được sử dụng gần giống nhau trong cả hai khối ngữ liệu tiếng Anh
và tiếng Việt; sự khác biệt chỉ xảy ra ở cấp độ ngôn ngữ. Trong khi các bản tin tiếng
Anh sử dụng các biểu thức ngôn ngữ cụ thể hơn, chi tiết hơn xoay quanh lĩnh vực
CHẠY ĐUA, thì các bản tin tiếng Việt sử dụng các biểu thức ngôn ngữ thể hiện ý
nghĩa phổ quát hơn, chẳng hạn như “chạy đua, cuộc đua”.
Ẩn dụ Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất Tổng
hiện
b ị thổi còi 1 93
sân chơi 19
nhảy 2
chạy đua 7
chơi 21
cuộc đua 15
THỂ THAO lấn sân 4
lướt sóng 6
lu ật chơi 10
đấu thủ 2
đá quả bóng 1
sân nhà 3
thắng cuộc 2
săn 9 12
giăng lưới bắt cá 1
lùng s ục 1
SĂN BẮN
1
chim mồi
Bảng 3.15: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của Ẩn dụ THỂ THAO- SĂN BẮN trong bản tin
tiếng Việt
127




TB6: Các nhà đ ầu tư Nhật Bản đ ã có cuộc chạy đua quyết liệt với tập đoàn
Keangnam của Hàn Quốc đ ể đư ợc chọn làm chủ đ ầu tư dự án.


TBKTSG66. đ ẩy các ngân hàng vào một cuộc đua lãi suất mới gây bất lợi cho nền kinh tế.
TBKTVN180. những quan tâm của nhà đ ầu tư ngoại đang tạo sức ép lên các doanh nghiệp
trong nước, khiến cho cuộc đua càng được đ ẩy lên với tốc đ ộ cao hơn.
Một điểm khác biệt nữa so với các bản tin tiếng Anh là việc xuất hiện nhiều
biểu thức của ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ ĐÁ BÓNG, với các biểu
thức “thổi còi, sân chơi, lấn sân, sân nhà, đá bóng” được sử dụng khá thường
xuyên trong các bản tin tiếng Việt:
TB10: Do khớp lệnh liên tục nên nếu ngư ời chơi không biết đ ịnh giá sẽ bị thiệt.
TB11: Trong khi ngay trên sân nhà, một công ty nư ớc ngoài đang đ ề nghị với chính
quyền TPHCM cho thành lập công ty cổ phần phát triển khu đô thị Thủ Thiêm.
TBKTSG15. các nhà đ ầu tư kinh doanh bất đ ộng sản trong nước đ ều tỏ ra lo ngại trước
sự lấn sân của giới đ ầu tư nước ngoài đang có thế mạnh về tài chính và giàu về kinh
nghiệm.
Trong các bản tin tiếng Việt cũng tồn tại nhiều biểu thức thuộc ẩn dụ ý niệm HOẠT
ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG SĂN MỒI giống như trong các bản tin tiếng
Anh.
TBKTSG34. họ đ ã đ ổ không ít tiền vào các công ty khai thác than, cao su, kinh doanh
thủy hải sản và vẫn tiếp tục lùng sục cơ hội sở hữu cổ phiếu ngân hàng.
TBKTSG128. có thể hiểu cơ hội săn hàng tốt giá rẻ đ ối với nhà đ ầu tư nước ngoài không
còn rộng mở như trước.
Tuy nhiên, có thể thấy tính khốc liệt, tàn nhẫn của hoạt động SĂN MỒI trong các
biểu thức ẩn dụ ở tiếng Việt phần nào đã được các tác giả bản tin làm giảm nhẹ khi
trong bản tin lại xuất hiện hiện tượng đa ẩn dụ:
TBKTVN155. đ ặc biệt, một dấu hiệu cho thấy một “cơn sốt” nhẹ đang trở lại khi lượng
cá nhân “săn” nhà đ ất đang gia tăng.
128




TBKTVN161. cơn sốt săn tìm cổ phiếu Hương sơn đ ột ngột lạnh ngắt sau khi Hương sơn
chính thức công bố vào ngày 9/3/2007 là chưa có kế hoach giao dịch trên thị trường chứng
khoán.
3.3.5. Ẩn dụ CỜ BẠC
Thống kê các bản tin kinh tế tiếng Việt cho thấy ẩn dụ ý niệm HOẠT ĐỘNG
KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG CỜ BẠC có tần suất sử dụng rất thấp, chỉ với 4 lượt
xuất hiện, chiếm 0.7% tổng số các biểu thức ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI.
Các biểu thức ẩn dụ thống kê được chỉ bao gồm các đơn vị từ vựng liên quan đến
lĩnh vực ĐÁNH CỜ chứ không phải lĩnh vực ĐÁNH BẠC như được thấy trong
khối ngữ liệu tiếng Anh:
TBKTSG59. Quay trở lại với trái phiếu Vietcombank. Những nhà đ ầu tư đang nắm giữ thứ
hàng hóa này không thể không thất vọng bởi thời điểm Vietcombank dự định đấu giá cổ
phi ếu lần đầu ra công chúng là 30-3-2007. Phải đấu giá xong, mới biết tỷ lệ chuyển đổi từ
trái phiếu thành cổ phiếu. Điều đáng quan tâm là “cột mốc” 30-3 chưa chắc chắn bởi các
thời điểm trong tiến trình cổ phần hóa Vietcombank từ trước đến nay chưa bao giờ diễn ra
đúng d ự định, mà luôn luôn trễ.
Chính sự chưa chắc chắn này đ ã buộc người sở hữu trái phiếu Vietcombank phải tính toán
lại nư ớc cờ đ ầu tư. M ột ngân hàng thương mại cổ phần ở TPHCM hai tháng trước đ ã
quyết định chuyển nhượng số trái phiếu Vietcombank họ đang có khi giá lên tới 180.000
đ ồng/trái phiếu. Nhưng họ mới chỉ kịp bán ra 10 tỉ đồng mệnh giá, thì giá đ ã giảm. Một số
nhà đ ầu tư tổ chức cho biết nếu tìm được người mua, họ sẵn sàng chuyển nhượng ở mức
giá 160.000 đ ồng/trái phiếu.
Theo chúng tôi, với việc sử dụng ẩn dụ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ LÀ HOẠT ĐỘNG
ĐÁNH CỜ, người viết bản tin muốn cho độc giả thấy quá trình đầu tư cổ phiếu
Vietcombank nói trên là một quá trình chiến lược, dài hạn, đòi hỏi kỹ năng, kinh
nghiệm; quá trình đầu tư này không liên quan đến các yếu tố may mắn như trong
trường hợp người viết giả sử sử dụng ẩn dụ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ LÀ ĐÁNH
BẠC.
Việc các bản tin tiếng Việt không thể hiện các ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ
HOẠT ĐỘNG ĐÁNH BẠC có thể xuất phát từ một thực tế là cờ bạc không mang
129




tính hợp pháp tại Việt Nam, không được miêu tả như một hoạt động giải trí bình
thường. Trong khi đó, tính hợp pháp của cờ bạc tại các nước như Anh Quốc hoặc
Hoa Kì có lẽ đã khiến ý niệm CỜ BẠC đồ họa sang nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh
vực HOẠT ĐỘNG KINH TẾ.
Tuy nhiên, trong các bản tin kinh tế tiếng Việt, chúng tôi cũng đã phát hiện hiện
tượng vay mượn từ vựng từ tiếng Anh. Hiện tượng này xảy ra trong lĩnh vực chứng
khoán. Các từ blue chip [phỉnh xanh] và penny chip [phỉnh xu] đã du nhập vào trong
ngôn ngữ kinh tế tiếng Việt với số lượt xuất hiện khá nhiều (46 lượt):
TBKTSG26. Nư ớc ngoài dù đ ầu cơ ngắn hạn họ vẫn có bài bản, trong khi không ít nhà
đ ầu tư trong nước đầu cơ theo tâm lý đám đông. Có ng ười mua cổ phiếu mà không biết tên
công ty là gì. Như thế rất nguy hiểm. Còn đ ầu tư blue chips (hàng hiệu) hay penny chips
(cổ phiếu của doanh nghiệp nhỏ) chỉ là biến động cấu trúc tự nhiên của thị trường.
TBKTVN200. Hàng lo ạt cổ phiếu (CP) từ blue-chips đ ến penny-stock đ ều đ ã có mức giá
mà trước đây hầu như khó có nhà đ ầu tư (NĐT) nào dám mơ đ ến.
3.3.6. Ẩn dụ ĂN UỐNG
Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG ĂN UỐNG được sử
dụng 48 lượt trong các bản tin kinh tế, chiếm 8.5% trong tổng số các ẩn dụ HOẠT
ĐỘNG CON NGƯ ỜI. Chiếm tỉ lệ cao trong nhóm ẩn dụ ĂN UỐNG là ẩn dụ LỢI
NHUẬN KINH TẾ LÀ THỨC ĂN HOA TRÁI:
TB49b: Xu hư ớng ăn non có lẽ cũng là phổ biến với một lư ợng không nhỏ nhà đ ầu
tư khi thị trư ờng ngày 13/3 không còn ‘xanh mư ớt’ một màu với nhóm cổ phiếu giá
thấp nữa.
TB49c: Dù mua đư ợc một số cổ phiếu thực sự ‘ngon’, nhưng với tâm lý dễ dao
đ ộng, nhóm này vẫn sẽ có xu hư ớng bán ra, mà có lẽ đây lại là số đông.


Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
cơn khát 10
đói 1
chiếc bánh 10
chín muồi 1
khúc xương khó nuốt 1
đang chín 1
130




ngon 4
tiêu hóa 1
béo bở 3
ăn non 1
hấp thụ 15

48
Bảng 3.16: Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ ĂN UỐNG trong bản tin tiếng Việt


TBKTSG44. -việc Việt nam gia nhập WTO sắp tới sẽ lại càng làm cho miếng bánh của thị
trường quảng cáo to hơn, hấp dẫn hơn.
TBKTSG116. qui mô thị trường sẽ tăng mạnh cả về khối lượng niêm yết lẫn mức vốn hóa.
Cái bánh lớn tất sẽ có phần cho nhiều người.
Chúng tôi có nhận xét trong các bản tin, các tác giả rất thường xuyên sử dụng ẩn dụ
NHU CẦU NHÂN LỰC/TÀI CHÍNH/THÔNG TIN LÀ NHU CẦU ĂN UỐNG:
TBKTSG28. chưa bao giờ Việt Nam thiếu nhân sự tài chính-ngân hàng như bây giờ và
“cơn khát” nhân lực chỉ mới bắt đ ầu.
TBKTVN188. có lẽ chủ đ ề chính của Hội thảo liên quan đ ến việc phát triển thị trường bất
đ ộng sản đ ã “hút” họ đ ến đây nhằm thỏa mãn “cơn khát” thông tin về lĩnh vực kinh
doanh hấp dẫn này.
3.3.7. Ẩn dụ HÔN NHÂN
Ẩn dụ HÔN NHÂN xuất hiện 9 lượt trong các bản tin tiếng Việt, giống như trong
khối ngữ liệu tiếng Anh. Chúng tôi không phát hiện được sự khác biệt giữa hai khối
ngữ liệu Anh và Việt về tần suất sử dụng cũng như các đặc trưng đồ họa. Cả hai
khối ngữ liệu đều cho thấy một cấu trúc rõ ràng của ẩn dụ HỢP TÁC KINH TẾ LÀ
HOẠT ĐỘNG HÔN NHÂN, với các đơn vị bản thể tương đương như sau:
NGUỒN: QUAN HỆ HÔN NHÂN ĐÍCH: QUAN HỆ HỢP TÁC
Người yêu Các công ty
Tình yêu Quan hệ kinh doanh
Tìm hiểu, theo đuổi Thương lượng
Đám cưới Kí kết hợp tác
Cuộc sống hôn nhân Sự hợp tác
131




TBKTSG52. Đông Á và Citygroup thận trọng đ ặt ra một lộ trình hôn nhân, xây dựng
khung cho bản hôn thú. Cả hai đ ều nghĩ những gì mình có là thuộc chủ quyền riêng,
nhưng phải hoạch đ ịnh sự hợp tác mới cho cuộc sống chung.
TBKTSG106. th ời gian và sự kiên nhẫn chính là điều mà các quỹ đ ầu tư tư nhân cần phải
có trước khi họ có thể lựa chọn được những đ ối tác x ứng đôi vừa ý từ khu vực kinh tế tư
nhân.
Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất hiện Tổng
bản hôn thú 1 9
cuộc hôn ước 1
cuộc sống chung 1
không cưới nhiều vợ 2
hôn nhân 3
xứng đôi vừa ý 1
Bảng 3.17: Các dạng biểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ HÔN NHÂN trong bản tin tiếng Việt
TBKTSG81. cuộc hôn ư ớc giữa công ty cổ phần dịch vụ du lịch dầu khí và Nokia xuất
phát từ nhu cầu của Nokia trong việc khẳng đ ịnh vị trí số 1 và bành trướng thị phần sau 10
năm có mặt ở Việt Nam-cam kết duy nhất của Petrosetco là “không cư ới nhiều vợ” trong
cùng lĩnh vực với Nokia.
3.3.8. Ẩn dụ GIẢI TOÁN
Ẩn dụ GIẢI TOÁN thể hiện sự khác biệt một cách rõ ràng nhất giữa hai khối ngữ
liệu tiếng Anh và tiếng Việt. Trong khi chúng tôi không tìm thấy các biểu thức ẩn
dụ thể hiện ẩn dụ ý niệm GIẢI QUYẾT CÁC VẤN ĐỀ KINH TẾ LÀ GIẢI TOÁN
trong các bản tin tiếng Anh, thì trong các bản tin tiếng Việt, các biểu thức ẩn dụ
thuộc nhóm này được sử dụng 28 lượt, với các biểu thức ngôn từ rất quen thuộc với
người Việt như “ẩn số”, “bài toán”, “nan giải”:
TBKTSG15. chừng nào còn chưa có cơ chế hình thành thị trường vốn dài hạn cho bất
đ ộng sản thì bài toán vốn dành cho nhà đ ầu tư vẫn còn trong vòng nan giải.
TBKTSG56. vấn đ ề còn tùy vào sự xem xét, đánh giá của họ đ ối với thị trường du lịch
nước ta. Nói chung, theo tôi, đây còn là một ẩn số.
Biểu thức ngôn ngữ Lượt xuất Tổng
hiện
ẩn số 3 28
bài toán 7
giải 4
nan giải 2
132




đề bài 3
đề thi 1
phương trình 6
đáp số 1
đáp án 1
Bảng 3.18: Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ GIẢI TOÁN trong bản tin tiếng Việt
Trong bài viết bàn về việc Việt nam gia nhập WTO và đăng cai Hội nghị lãnh đạo
APEC 14 năm 2006, tác giả bản tin sau đây đã trình bày quan điểm về những cân
nhắc kinh tế cần thiết khi hội nhập; quan điểm của người viết được tường minh hơn
nhờ ẩn dụ ý niệm PHÂN TÍCH KINH TẾ LÀ PHÂN TÍCH BÀI TOÁN:
TBKTSG35.Trên sân chơi quốc tế, phương tr ình mới sẽ xuất hiện với tâm điểm là các cân
nhắc chi phí-lợi ích. Quyết định kinh tế đ ược đ ưa ra khi chi phí triển khai nhỏ hơn lợi ích
mang lại. Một quốc gia sẽ không d ùng 10 đơn vị nguồn lực để sản xuất một chiếc xe hơi
nếu với cùng 10 đơn vị nguồn lực này, người ta có thể tạo ra bốn chiếc thuy ền để đổi lấy
hai chiếc xe hơi từ quốc gia láng giềng. Giả thiết quan trọng trong ví dụ đ ơn giản này là
thông thương giữa hai quốc gia. Thật may mắn, với WTO và tự do hóa thương mại, giả
thiết này trở thành hiện thực. Phương tr ình ban đ ầu “10 nguồn lực = 1 xe hơi” đ ã được
thay thế bằng hai phương tr ình “10 nguồn lực = 4 chiếc thuyền” và “4 chiếc thuyền = 2
xe hơi”. Chúng ta ghi nhận sự xuất hiện của thương mại trong phương tr ình cuối.
Tác giả bản tin TBKTSG59 thì sử dụng ẩn dụ tầng bậc thấp NÊU ĐIỀU KIỆN
THƯƠNG LƯ ỢNG LÀ RA ĐỀ THI khi bình luận về những yêu cầu khó khăn mà
Vietcombank đưa ra cho các nhà tư vấn quốc tế được mời thầu trong quá trình ngân
hàng này chuẩn bị cổ phần hóa:
TBKTSG59.Vì có sự khác biệt giữa yêu cầu của Vietcombank khi ra “đ ề thi” và phương thức
đ ề xuất giải quyết vấn đ ề của các nhà tư vấn. Chẳng hạn có những điểm trong đ ề bài của
Vietcombank đưa ra không theo thông lệ quốc tế, nhà tư vấn không biết phải giải thế nào)
3.4. ẨN DỤ CƠ THỂ SỐNG
Tổng số các biểu thức ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG đếm được trong các bài báo tiếng
Việt là 197, các tần suất trên lần lượt là 0.98/bài và 1.31/1000 từ.
AD CƠ THỂ SỐNG Số lượng Số AD/bài Số AD/1000 từ
197 0.98 1.31
Bảng 3.19 : Ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG trong các khối ngữ liệu tiếng Việt
133




3.4.1. TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE
Việc khảo sát các ẩn dụ có lĩnh vực nguồn SỨC KHỎE trong khối dữ liệu cho
thấy rằng các mẫu dữ liệu tiếng Việt thể hiện mưc độ biến thiên đa dạng hơn về mặt
từ vựng nhưng lại thấp hơn về tần số xuất hiện.
Tổng số các biểu thức ẩn dụ SỨC KHỎE đếm được trong bài báo trong khối ngữ
liệu tiếng Việt là 141, các tần suất lần lượt là 0.7/bài và 0.94/1000 từ
AD SỨC KHỎE Số lượng Số AD/bài Số AD/1000 từ
141 0.70 0.94
Bảng 3.20 : Ẩn dụ SỨC KHỎE trong các khối ngữ li ệu tiếng Vi ệt


Trong các bản tin tiếng Việt các tác giả chọn lọc các biểu thức ngôn từ như

vấn đề đau đầu, khối u, có vẻ như đang sốt, căn bệnh trầm kha, đã
di căn sang các tế bào, bị bội thực, không hấp thụ hết, cơn điên, bầu
sữa cạn khô, căn bệnh trầm kha , khuyết tật, yếu đi, bắt đầu ốm vặt,
cơn sốt, hạ nhiệt, sốt nóng, cái chết, sự hồi sinh, trai thanh gái tú,
những anh to, non trẻ, một đứa trẻ chập chững bư ớc đi , vỗ béo, sức
sống năng động tiềm ẩn, lớn lên, khỏe mạnh, sự cứng cỏi, dẻo dai,
què quặt, gây tổn thương, gã khổng lồ, mệt mỏi, mắc nhiều bệnh.

Bảng 3.21: Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ SỨC KHỎE


Nét nổi bật của việc sử dụng ẩn dụ SỨC KHỎE trong các bản tin tiếng Việt là
các dạng bệnh cụ thể thường được sử dụng làm lĩnh vực nguồn, từ đó đồ họa sang
lĩnh vực đích. Chẳng hạn trong bản tin TBKTSG116, người viết đã dùng ẩn dụ GIÁ
NHÀ ĐẤT TĂNG CAO LÀ CƠ THỂ NÓNG SỐT
TBKTSG125: đây là một điểm khác biệt lớn mà nếu không có chính sách điều
chỉnh sớm, cơn sốt nhà đ ất sẽ khó lòng hạ nhiệt.
Các vấn đề hay khó khăn kinh tế cũng được ý niệm hóa bằng các biểu thức
ẩn dụ liên quan trực tiếp đến các dạng bệnh cụ thể khác như đau đ ầu, khối u, di
căn, bội thực, cơn điên, mắc nhiều bệnh, ốm vặt, bội thực, bầu sữa cạn khô. Việc
chọn lựa loại bệnh nào làm lĩnh vực nguồn có thể tù y thuộc vào các tình huống mà
các tác giả cho là rất trầm trọng hay chỉ nhất thời:
134




TBKTSG 89: …còn một quan chức ngành ngân hàng lại cho rằng với khối u dư nợ
cho vay chứng khoán, giả sử đ ã đ ến lúc cần cắt bỏ, thì vẫn còn những cách khác
Các đơn vị kinh tế không chỉ chịu đựng những căn bệnh về thể chất thường
gây ra trong một cơ thể sống mà còn có thể bị những vấn đề về mặt tâm lý hay tinh
thần mà các động vật bậc cao thường mắc phải. Vì thế các doanh nghiệp hay các
hoạt động của chúng thường được miêu tả như một sinh vật sống có ý thức, có thể
phải trải qua những cơn bạo bệnh về mặt tâm thần như được phản ánh trong bản tin
sau:
TBKTVN198: …trên thực tế, cơn điên lãi suất liên ngân hàng này đ ã bắt đ ầu hai
ngày trư ớc đó và lên tới đ ỉnh điểm vào cuối tuần.
Đứng từ quan điểm dụng học, Charteris-Black & Musolff (2003) cho rằng khi ý
niệm hóa các vấn đề kinh tế thông quan lĩnh vực sức khỏe, tác giả bản tin có thể
muốn thể hiện một thái độ cảm thông đối với sự kiện kinh tế đang được miêu tả là
một bệnh nhân cần được giúp đỡ; tuy nhiên, chúng tôi cho rằng ẩn dụ ý niệm LÃI
SUẤT NGÂN HÀNG TĂNG QUÁ MỨC KIỂM SOÁT LÀ CƠ ĐIÊN sử dụng
trong bản tin TBKTVN198 ở trên, bên cạnh chức năng tri nhận, có chức năng dụng
học là tạo ấn tượng đối với người đọc, hơn là thể hiện thái độ cảm thông của người
viết.
3.4.2. GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN KINH TẾ LÀ CHỮA BỆNH
Đặc trưng nổi trội của các ẩn dụ ý niệm GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN KINH
TẾ LÀ CHỮA BỆNH trong khối dữ liệu tiếng Việt thể hiện ở các đơn vị bản thể
thuộc lĩnh vực nguồn CHỮA BỆNH. Như đã phân tích ở phần trước, các loại bệnh
xuất hiện trong các ẩn dụ SỨC KHỎE đều rất cụ thể, từ đó mà các phương thức
điều trị bệnh cũng rất đặc thù, khác với trong khối dữ liệu tiếng Anh; người viết bản
tin thường đưa ra các liệu pháp trị bệnh như trong bảng 3.22 sau:
biện pháp giảm nhiệt, bắt mạch giá cả, chẩn bệnh, biết mà không chữa , thuốc
hạ sốt, chẩn đúng bệnh, kê đúng thuốc, cắt sốt, dùng không đúng thuốc, định
bệnh, tự chữa trị, cắt cơn nóng sốt, cuộc phẫu thuật, hạ nhiệt, có bà đỡ, cần cắt
bỏ

Bảng 3.22: Các dạng bi ểu thức ngôn ngữ của ẩn dụ CHỮA BỆNH
135




Chẳng hạn trong bản tin TBKTSG89, tác giả sử dụng ý niệm ẩn dụ tầng bậc
thấp DƯ NỢ CHO VAY CHỨNG KHOÁN LÀ KHỐI U TRONG CƠ THỂ, thì dĩ
nhiên phương thức giải quyết cho tồn tại này của các ngân hàng là phải xử lí triệt để
các khoản nợ trên, và vì vậy phải “cắt bỏ khối u”. Cách tư duy này được tác giả sử
dụng qua ẩn dụ GIẢI QUYẾT NỢ ĐỌNG NGÂN HÀNG LÀ CẮT BỎ KHỐI U,
một ẩn dụ ý niệm ở tầng bậc thấp rất đặc trưng mà chúng tôi không thấy các đơn vị
tương đương trong các bản tin tiếng Anh.
TBKTSG 89: Còn một quan chức ngành ngân hàng lại cho rằng với “khối u” dư
nợ cho vay chứng khoán, giả sử đ ã đến lúc cần cắt bỏ, thì vẫn còn những cách
khác, đó là nghiệp vụ thị trư ờng mở…
Các bản tin kinh tế tiếng Việt cũng thể hiện mục đích dụng học khác biệt hơn
khi mà phần nhiều các tác giả bản tin chọn các biểu thức ngôn từ làm lĩnh vực
nguồn dưới dạng các biện pháp trị liệu cấp thời, nhanh và quyết liệt cho các tình
trạng sức khỏe yếu của nền kinh tế:
TBKTSG110: những đ ột biến này tuy mới chỉ diễn ra ở một vài đ ịa phương và một
vài phân khúc thị trư ờng bất đ ộng sản, nhưng nhiều nhà hoạch đ ịnh chính sách và
báo chí đ ã gọi là “sốt” và hối thúc tìm “thuốc hạ sốt”.
TBKTSG117: việc cần làm lúc này là bình tĩnh đ ể phân tích kỹ nguyên nhân đ ể có
những giải pháp đúng đ ắn, tránh trư ờng hợp “cắt sốt”, nhưng dùng không đúng
thuốc.


3.5. TIỂU KẾT
Trong chương này luận án đã tập trung phân loại và miêu tả các nhóm ẩn dụ ý
niệm cùng các biểu thức ẩn dụ ngôn từ tương ứng có mặt trong các bản tin kinh tế
tiếng Việt.
Khối ngữ liệu tiếng Việt bao gồm 2739 biểu thức ẩn dụ thuộc 22 tiểu loại xâ y
dựng trên 4 nhóm lĩnh vực nguồn khác nhau : KHÔNG GIAN, MÔI TRƯ ỜNG TỰ
NHIÊN, HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI và CƠ THỂ SỐNG. Các ẩn dụ thuộc nhóm
lĩnh vực nguồn KHÔNG GIAN chiếm số lượng áp đảo trong toàn bộ các bản tin
136




tiếng Việt (44.43%), cho thấy các ẩn dụ định hướng hay ẩn dụ KHÔNG GIAN là
một phương thức rất thông thường trong việc thuyết giải các hiện tượng kinh tế
đang thay đổi (‘sự đi lên của nền kinh tế ‘,’lư ợng cung thấp’). Trong cách dùng
này, nhóm ẩn dụ KHÔNG GIAN và các nhóm ẩn dụ còn lại đã thực hiện chức năng
tri nhận của ẩn dụ trong văn bản tin.
Trên bình diện dụng học, các ẩn dụ ý niệm xuất hiện với mật độ ít hơn trong
các bản tin nhưng có các hình thức hiện thực hóa đa dạng hơn thông qua các biểu
thức ngôn ngữ. Trong vai trò này, các ẩn dụ ý niệm đã giúp người viết đạt được
mục đích thuyết phục người đọc có các thay đổi về nhận thức và hành động đối với
các sự kiện kinh tế. Chẳng hạn việc ý niệm hóa nền kinh tế như một đoàn tàu đang
được ’đ ặt trên một đư ờng ray đúng’ sẽ có ảnh hưởng tích cực đến quan điểm hay
quyết định đầu tư của người đọc.
Xét trên bình diện văn hóa, việc tác giả các bản tin chọn lựa các lĩnh vực
nguồn để tạo ẩn dụ trong diễn ngôn kinh tế tiếng Việt cho thấy các ẩn dụ ý niệm
tầng bậc thấp cùng với các biểu thức ngôn ngữ cụ thể hóa chúng mang đặc trưng
của môi trường sống, thói quen và hoạt động sống của người Việt.
137




CHƯƠNG 4: SO SÁNH - ĐỐI CHIẾU CÁC ẨN DỤ Ý NIỆM TRÊN CÁC
KHỐI NGỮ LIỆU VÀ ĐỀ XUẤT ỨNG DỤNG
4.1. So sánh - đối chiếu giữa hai khối bản tin tiếng Anh và tiếng Việt
4.1.1. So sánh-đối chiếu định lượng
Thống kê của luận án cho thấy có 3709 lượt xuất hiện của các biểu thức ẩn dụ,
thuộc 21 tiểu loại ẩn dụ ý niệm trong các bản tin kinh tế tiếng Anh và 2739 biểu
thức ẩn dụ thuộc 22 tiểu loại trong các bản tin tiếng Việt.
Như vậy có thể nhận thấy sự khác biệt định lượng tương đối rõ ràng giữa hai
khối ngữ liệu. Các bản tin tiếng Anh sử dụng các biểu thức ẩn dụ với mật độ cao
hơn nhiều so với các bản tin tiếng Việt. Tần suất sử dụng các biểu thức ẩn dụ lần
lượt là 30.7 lượt/1000 từ và 18.3 lượt/1000 từ trong các bản tin tiếng Anh và tiếng
Việt. Nếu tính trên số ẩn dụ/bản tin thì các bản tin tiếng Anh cũng nổi trội hơn với tỉ
lệ 18.5 ẩn dụ/bản tin trong khi tỉ lệ này là 13.6 ẩn dụ/bản tin trong khối ngữ liệu
tiếng Việt.


35
30
25
20
15
10
5
0
Tieáng Anh Tieáng Vieät

Hình 4.1. Tần suất sử dụng trên 1000 từ của các bi ểu thức ẩn dụ tiếng Anh và ti ếng Vi ệt


Sự khác nhau về số lượng cũng như mật độ sử dụng các ẩn dụ ý niệm giữa
hai khối bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt có thể xuất phát từ sự khác biệt về
đặc trưng thể loại tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt và thói quen sử dụng ẩn dụ của
người viết bản tin. Các công trình nghiên cứu so sánh-đối chiếu về thể loại tin chính
trị-xã hội trong hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt của các tác giả Nguyễn Hòa
[7] hay Nguyễn Thị Thu Hiền [6] đều có chung một nhận định là các bản tin chính
138




trị-xã hội tiếng Việt luôn có xu hướng thể hiện tính chất trang trọng của bản tin.
Nguyễn Hòa [7:110] cho rằng “xét tiêu chí từ ngữ sử dụng, … sự khác biệt cơ bản
là ngôn ngữ trong loại văn bản tin tiếng Anh có xu hướng sử dụng từ ngữ ‘mạnh
mẽ, đặc ngữ và mang tính chất hội thoại’, gần với ngôn ngữ hàng ngày của đại đa số
độc giả. Trong tiếng Việt về cơ bản ngôn ngữ vẫn mang tính chất trang trọng, hình
thức”. Theo chúng tôi, có thể đặc trưng trang trọng của thể loại văn bản tin tiếng
Việt có thể phần nào đã hạn chế việc sử dụng ẩn dụ của các tác giả bản tin. Bên
cạnh đó, còn có thể có ảnh hưởng của quan niệm truyền thống coi việc sử dụng ẩn
dụ chỉ như một công cụ tu từ dùng để làm đẹp ngôn ngữ, mang dấu ấn cá nhân
người viết và như vậy chỉ phù hợp với thể loại văn chương.
Tuy nhiên, trên phương diện định lượng cả hai khối ngữ liệu bản tin tiếng
Anh và tiếng Việt cũng thể hiện những nét tương đồng. Hình 4.2 và 4.3 cho thấy sự
phân bổ theo số lượng và tỉ lệ phần trăm của bốn nhóm ẩn dụ chính tìm thấy trong
khối ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt. Sự phân bổ này cho thấy đã có mối quan hệ
tương đương trong tần suất sử dụng các nhóm ẩn dụ ý niệm trong hai khối bản tin
kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt: Các ẩn dụ KHÔNG GIAN chiếm một tỉ lệ cao nhất
trong cả hai khối ngữ liệu và các ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG chiếm tỉ lệ thấp nhất.



2000

1500

1000
Tieáng Anh
Tieáng Vieät
500

0
AD Khoâng AD moâi tröôøng Hoaït ñoäng AD Cô theå
AD
gian soáng


Hình 4.2: Số lượng các nhóm ẩn dụ ý ni ệm chính trong tiếng Anh và tiếng Việt
139




60
50
40
30
Tieáng Anh
20
Tieáng Vieät
10
0
AD Khoâng AD moâi tröôøng Hoaït ñoäng AD Cô theå
AD
gian soáng


Hình 4.3: Tỉ lệ phần trăm các nhóm ẩn dụ ý ni ệm chính trong tiếng Anh và tiếng Vi ệt
4.1.1.1. Ẩn dụ KHÔNG GIAN
Mặc dù có sự tương đồng về tỉ lệ phần trăm giữa ẩn dụ KHÔNG GIAN trong
tiếng Việt và trong tiếng Anh, thế nhưng nếu xét trên tỉ lệ xuất hiện trên 1000 từ thì
chúng ta sẽ thấy có sự khác biệt lớn giữa hai khối bản tin. Ẩn dụ KHÔNG GIAN
trong tiếng Anh xuất hiện với tần suất 16.4/1000 từ, nhiều gấp hai lần so với ẩn dụ
KHÔNG GIAN trong các bản tin tiếng Việt (8.1/1000 từ). Điều này có thể cho thấy
vai trò tương đối quan trọng hơn của các lược đồ không gian trong sự tri nhận và
giải thích các hiện tượng kinh tế của người sử dụng và viết bản tin tiếng Anh so với
trong tiếng Việt.
Khi so sánh các tiểu loại trong nhóm ẩn dụ KHÔNG GIAN tiếng Việt với các
tiểu loại tương ứng trong tiếng Anh, ngoài sự tương đồng về tần suất sử dụng so với
các nhóm ẩn dụ còn lại, chúng tôi nhận thấy có ba sự khác biệt nữa từ cơ sở định
lượng. Thứ nhất là các bản tin tiếng Việt nghiêng về miêu tả các hiện tượng kinh tế
theo nhóm ẩn dụ chỉ vị trí CAO-THẤP (45%), ít sử dụng nhóm ẩn dụ chuyển động
LÊN-XUỐNG (40%), trong khi đó các bản tin tiếng Anh lại thể hiện xu hướng
ngược lại với tỉ lệ sử dụng khá cao các ẩn dụ chuyển động LÊN-XUỐNG (69.53%).
Thứ hai, các biểu thức ngôn từ thể hiện ẩn dụ ý niệm chuyển động LÊN-XUỐNG
trong các bản tin tiếng Việt có xu hướng ít đa dạng hơn so với các đơn vị từ vựng
trong tiếng Anh; chúng tôi thống kê được 12 đơn vị từ vựng trong tiếng Việt trong
khi có đến 25 đơn vị từ vựng được sử dụng trong khối ngữ liệu tiếng Anh. Điểm
khác biệt thứ ba giữa hai khối ngữ liệu là việc xuất hiện một tỉ lệ không nhỏ các ẩn
140




dụ chuyển động VÀO-RA trong các bản tin kinh tế tiếng Việt (15%), trong khi tiểu
loại ẩn dụ này không xuất hiện trong khối dữ liệu bản tin kinh tế tiếng Anh của luận
án. Hình 4.4 và 4.5 sẽ thể hiện sự khác biệt này. Chúng tôi có nhận xét là các lược
đồ không gian CAO-THẤP và VÀO-RA dường như có mặt trong cách tư duy của
người viết bản tin tiếng Việt một cách thường xuyên hơn so với trong quá trình tư
duy của người viết bản tin tiếng Anh. Nhận định này có thể chấp nhận được khi
chúng ta liên hệ với các công trình nghiên cứu của Lý Toàn Thắng [14], [15], [16];
Nguyễn Đức Dân [3] về các vị trí cao-thấp, trong-ngoài trong văn hóa và ngôn ngữ
của người Việt.


31%

CAO-THAÁP

LEÂN XUOÁNG

69%




Hình 4.4 : Các tiểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN trong tiếng Anh


15%
CAO THAÁP
45%
LEÂN XUOÁNG
VAØO-RA
40%




Hình 4.5 : Các tiểu loại ẩn dụ KHÔNG GIAN trong tiếng Việt
4.1.1.2. Ẩn dụ MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN
Ẩn dụ MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN với số lượng 660 lượt xuất hiện trong các
bản tin kinh tế tiếng Anh (17.79%) đứng vị trí thứ ba trong các nhóm ẩn dụ trong
khối dữ liệu tiếng Anh; tỉ lệ xuất hiện trên 1000 từ là 5.47. Trong khi đó, ẩn dụ này
đứng thứ hai trong các nhóm thuộc khối dữ liệu tiếng Việt với 762 lượt xuất hiện
(27.82%), có tỉ lệ xuất hiện 5.09/1000 từ .
Khi xem xét các nhóm ẩn dụ tầng bậc thấp thuộc ẩn dụ MÔI TRƯ ỜNG TỰ
NHIÊN, chúng tôi nhận thấy sự khác biệt lớn nhất xảy ra giữa ẩn dụ BONG BÓNG
141




trong tiếng Anh và tiếng Việt. Hình 4.6. sẽ cho thấy sự khác biệt rất rõ ràng về tỉ lệ
xuất hiện của tiểu loại ẩn dụ này ở hai khối ngữ liệu.



40

30

20
Tieáng Anh
Tieáng Vieät
10

0
Chaát Coã maùy Bong Kieán Ñ o än g Thôøi tieát
loûng boùng truùc thöïc vaät



Hình 4.6: Các tiểu loại ẩn dụ thuộc nhóm ẩn dụ MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN và tỉ lệ xuất hi ện
Ẩn dụ NỀN KINH TẾ LÀ BONG BÓNG xuất hiện khá phổ biến trong các bản
tin kinh tế tiếng Anh với 134 lượt xuất hiện, với tần suất 1.1/1000 từ. Tuy nhiên,
trong các bản tin kinh tế tiếng Việt, các biểu thức ẩn dụ thuộc tiểu loại này xuất hiện
với tỉ lệ khiêm tốn hơn nhiều (0.1/1000 từ), với chỉ 15 lượt sử dụng. Chúng tôi nhận
định sự khác biệt về tần suất sử dụng này có lẽ xuất phát từ hiện tượng vay mượn từ
vựng mới xuất hiện thông qua các bản dịch tin báo chí kinh tế từ tiếng Anh sang
tiếng Việt từ khoảng thời gian Việt Nam bắt đầu hội nhập kinh tế thế giới.
Ẩn dụ CHẤT LỎNG trong hai khối dữ liệu cũng khác nhau về mật độ xuất
hiện. Trong các bản tin tiếng Việt, ẩn dụ này được sử dụng với tần suất 1.83/1000
từ, cao hơn so với trong các bản tin tiếng Anh (1.5/1000 từ). Điều này có thể được lí
giải từ những đặc điểm địa lí – khí hậu của Việt Nam, đất nước có hệ thống sông
ngòi phong phú và có bờ biển chạy dọc suốt chiều dài đất nước. Sự khác biệt giữa
ẩn dụ CHẤT LỎNG trong tiếng Việt và tiếng Anh khẳng định lại quan điểm của
các nhà ngữ nghĩa học tri nhận như Gibbs [57], Boers [29] và Deignan [48] khi các
tác giả cho rằng đặc trưng nổi trội của một ẩn dụ ý niệm nào đó trong một ngôn ngữ
có thể có nguyên nhân từ những đặc điểm sinh thái của nền văn hóa chứa ngôn ngữ
đó. Boers [29] cho rằng những khác biệt về địa lí sẽ khiến cho một lĩnh vực nguồn
142




cụ thể không thể áp dụng chung một cách giống nhau trong việc đồ họa ẩn dụ cho
tất cả các nền văn hóa.
4.1.1.3. Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI
Không có sự khác biệt đáng kể về tiêu chí định lượng giữa hai khối bản tin
tiếng Anh và tiếng Việt liên quan đến tỉ lệ phần trăm của ẩn dụ này lần lượt trong
hai khối ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt. Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI xếp
thứ hai trong bốn nhóm ẩn dụ chính có mặt trong trong các bản tin tiếng Anh
(18.7%), và xếp thứ ba trong bốn nhóm ẩn dụ chính trong các bản tin tiếng Việt
(20.5%). Nhưng nếu xét đến tần suất sử dụng trên 1000 từ thì có sự khác biệt tương
đối rõ giữa hai khối bản tin. Ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI chiếm tần suất
5.7/1000 từ trong các bản tin tiếng Anh và 3.7/1000 từ trong các bản tin tiếng Việt.
Các tần suất này cho thấy tác giả các bản tin tiếng Anh có xu hướng giải thích các
hiện tượng kinh tế thông qua hoạt động của con người với mật độ thường xuyên
hơn tác giả các bản tin tiếng Việt.
Trong các nhóm tiểu loại ẩn dụ thuộc ẩn dụ HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI,
chúng tôi cũng thấy xuất hiện một số nét khác biệt giữa hai khối ngữ liệu như sau.
Thứ nhất, các bản tin tiếng Anh sử dụng tiểu loại ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ
LÀ MỘT HÀNH TRÌNH với mật độ thường xuyên hơn các bản tin tiếng Việt. Ẩn
dụ này xuất hiện 1.9 lượt/1000 từ trong tiếng Anh và 0.9 lượt/1000 từ trong tiếng
Việt. Thứ hai, tiểu loại ẩn dụ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG SÂN
KHẤU cũng xuất hiện thường xuyên hơn trong tiếng Anh (0.79 lượt/1000 từ) so với
trong tiếng Việt (0.15 lượt/1000 từ). Cũng như thể, các bản tin tiếng Anh có xu
hướng ý niệm hóa các hoạt động kinh tế thông qua các hoạt động cờ bạc với mật độ
cao hơn các bản tin tiết Việt (0.49/1000 từ so với 0.02/1000 từ). Thế nhưng, ở tiểu
loại ẩn dụ GIẢI TOÁN thì tình hình lại diễn ra ngược lại; trong khi các bản tin tiếng
Việt ý niệm hóa các biện pháp kinh tế thành các bài giải toán học với mật độ có thể
không cao (0.18 lượt/1000 từ) thì trong các bản tin tiếng Anh chúng tôi không thống
kê được tiểu loại ẩn dụ này.
4.1.1.4. Ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG
143




Ẩn dụ này cũng xuất hiện trong khối ngữ liệu tiếng Anh với mật độ 3.1
lượt/1000 từ, cao hơn so với trong các bản tin kinh tế tiếng Việt (1.3 lượt/1000 từ).
Ẩn dụ này bao gồm hai tiểu loại mà chúng tôi đã miêu tả ở chương hai và chương
ba: TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE và GIẢI QUYẾT
KHÓ KHĂN KINH TẾ LÀ CHỮA BỆNH. Việc so sánh đối chiếu tiểu loại ẩn dụ
TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE giữa hai khối ngữ liệu
Anh-Việt cho thấy điểm tương đồng cơ bản là các bản tin kinh tế thường có xu
hướng ý niệm hóa các vấn đề kinh tế thông qua các tình trạng sức khỏe con người.
Có thể kết luận rằng các ẩn dụ ý niệm SỨC KHỎE có sự hiện diện sâu rộng trong
quá trình suy luận và tri nhận ở cả hai cộng đồng ngôn ngữ-văn hóa Anh-Việt.
Đồng thời, kết quả quan sát từ các khối ngữ liệu cũng cho thấy suy luận ẩn dụ NỀN
KINH TẾ TỐT LÀ SỨC KHỎE TỐT có mặt thường xuyên hơn trong các bản tin
kinh tế tiếng Anh với 163 lượt (1.3 lượt/1000 từ) so với trong tiếng Việt (43 lượt;
0.28 lượt/1000 từ). Việc ẩn dụ NỀN KINH TẾ TỐT LÀ SỨC KHỎE TỐT có mặt
ít thường xuyên hơn trong các bản tin tiếng Việt, theo chúng tôi, có thể lí giải bằng
thực tế là trong khoảng thời gian 2006 -2007 nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng
tiêu cực từ các biến động kinh tế toàn cầu cũng như các mô hình kinh tế nội tại
trong nước đang trải qua giai đoạn bước đầu hình thành còn nhiều khó khăn. Thực
tiễn này do vậy đã được phản ánh vào nội dung các bản tin kinh tế mà chúng tôi thu
thập và xử lí.
4.1.2. So sánh-đối chiếu định tính
Hai khối bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt thể hiện những điểm tương
đồng và dị biệt khá thú vị trên cơ sở định tính. Điểm tương đồng lớn nhất giữa hai
khối ngữ liệu thể hiện ở việc nền kinh tế nói chung và các hoạt động kinh tế nói
riêng được ý niệm hóa thành các lĩnh vực giống nhau trong cả hai ngôn ngữ như
MÔI TRƯ ỜNG, HOẠT ĐỘNG CON NGƯ ỜI, CƠ THỂ SỐNG hay các lược đồ
không gian. Nói cách khác, giữa hai khối bản tin tiếng Anh và tiếng Việt tồn tại sự
tương đồng cơ bản ở tầng bậc các ý niệm ẩn dụ, phần lớn các điểm dị biệt xảy ra ở
144




tầng bậc ngôn ngữ. Các dữ liệu mà luận án xử lí có thể trả lời các giả thuyết mà
chúng tôi đã nêu ở phần Dẫn nhập như sau.
4.1.2.1. Cả hai ngôn ngữ chứa cùng ẩn dụ ý niệm đư ợc hiện thực hóa bằng biểu
thức ngôn ngữ như nhau.
Hệ thống các ẩn dụ ý niệm KHÔNG GIAN với các ẩn dụ tầng bậc thấp của
nó và các biểu thức ngôn ngữ tương ứng trong hai khối bản tin khẳng định giả
thuyết này. Trong các bản tin kinh tế thuộc cả hai ngôn ngữ Anh – Việt, các ẩn dụ
vị trí CAO-THẤP và ẩn dụ chuyển động LÊN-XUỐNG được sử dụng như các công
cụ thuyết giải các hiện tượng kinh tế trừu tượng, chẳng hạn các ẩn dụ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ LÀ HƯ ỚNG LÊN và SUY GIẢM KINH TẾ LÀ HƯ ỚNG
XUỐNG, LỢI NHUẬN TĂNG LÀ HƯ ỚNG LÊN, LẠM PHÁT NHIỀU LÀ
HƯ ỚNG LÊN, CHẤT LƯ ỢNG XẤU LÀ HƯ ỚNG XUỐNG. Các biểu thức hiện
thực hóa trên bề mặt ngôn ngữ của các ẩn dụ ý niệm này cũng giống nhau giữa hai
ngôn ngữ. Chẳng hạn các biểu thức như ‘bottom’, ‘low’, ‘high’, ‘peak’ trong tiếng
Anh cũng có các đơn vị tương đương trong tiếng Việt như ‘đáy’, ‘thấp’, ‘cao’,
‘đ ỉnh’. Có thể coi ẩn dụ định hướng KHÔNG GIAN có tính chất phổ niệm giữa hai
ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt. Tính phổ niệm này có thể lí giải từ quan điểm
cho rằng ẩn dụ KHÔNG GIAN là một trong nhiều ẩn dụ nguyên khởi (Grady [60]),
được tạo thành từ mối quan hệ tương liên giữa các kinh nghiệm nhập thân hàng
ngày của con người và như thế nó có thể có mặt ở nhiều ngôn ngữ. Sự giống nhau
về các phép đồ họa ẩn dụ trong hai khối bản tin tiếng Anh và tiếng Việt giúp khẳng
định một trong các quan điểm của các nhà ngữ nghĩa học tri nhận như Neumann
[95] và Gibbs [55] rằng các phép đồ họa ẩn dụ sẽ có tính phổ niệm nếu liên quan
đến các lĩnh vực kinh nghiệm nhập thân.
4.1.2.2. Cả hai ngôn ngữ có cùng ẩn dụ ý niệm nhưng nhưng đư ợc hiện thực hóa
bằng biểu thức ngôn ngữ khác nhau.:
Các ẩn dụ ý niệm ở tầng bậc thấp của một ẩn dụ tầng bậc cao và đặc biệt các
biểu thức ngôn ngữ hiện thực hóa nó cũng thể hiện những đặc trưng khác biệt.
Chúng ta có thể lấy ẩn dụ ý niệm NỀN KINH TẾ LÀ MỘT CƠ THỂ SỐNG như
145




một ví dụ điển hình. Ẩn dụ ý niệm này cùng với các ẩn dụ ý niệm tầng bậc dưới của
nó xuất hiện trong cả hai ngôn ngữ Anh và Việt; người đọc bản tin ở cả hai ngôn
ngữ có thể bắt gặp các ẩn dụ ý niệm tầng bậc thấp như TÌNH TRẠNG KINH TẾ
LÀ TÌNH TRẠNG SỨC KHỎE và GIẢI QUYẾT KHÓ KHĂN KINH TẾ LÀ
CHỮA BỆNH.
Việc ý niệm hóa tương đương ở tầng bậc thấp như vậy thường không xảy ra
trong các bản tin tiếng Anh và tiếng Việt. Khi ý niệm hóa các vấn đề khó khăn trong
kinh tế thông qua các vấn đề về sức khỏe, các tác giả bản tin tiếng Việt có xu hướng
sử dụng các lĩnh vực nguồn là các dạng bệnh cụ thể, trong khi các tác giả bản tin
tiếng Anh thường sử dụng các triệu chứng bệnh tổng quát, đi kèm theo là các biểu
thức như pains [đau đớn], injury [bị thương], weakness [yếu ớt], tired [mệt mỏi],
recovery [bình phục]. Khối ngữ liệu tiếng Anh không cho thấy việc sử dụng lĩnh
vực gốc là các loại bệnh hay tình trạng sức khỏe xấu như bội thực, ốm vặt, sốt nóng,
di căn. Sự khác biệt này có thể xuất phát từ các yếu tố như ngữ cảnh văn hóa-xã
hội, lịch sử hay các vấn đề con người quan tâm (Kovecses, [74], [76]). Boers [26]
cũng cho rằng khả năng sử dụng một lĩnh vực nguồn có sẵn để tham gia quá trình
đồ họa ẩn dụ sẽ lớn nếu lĩnh vực ấy có tính nổi trội trong kinh nghiệm hàng ngà y
của con người.
Ngay cả đối với ẩn dụ chuyển động LÊN-XUỐNG không phải lúc nào cũng
có sự tương đương về biểu thức ngôn ngữ dùng để hiện thực hóa nó trong hai ngôn
ngữ. Ẩn dụ NHIỀU LÀ HƯ ỚNG LÊN hoặc ÍT LÀ HƯ ỚNG XUỐNG có thể được
cụ thể hóa qua các biểu thức trong tiếng Anh như climb[trèo], dip [chìm sâu], fall
[ngã], perk [ngẩng lên], tumble [ngã]; trong khi đó các biểu thức ngôn ngữ của
các ẩn dụ này trong tiếng Việt lại rất khác, chẳng hạn như tụt dốc, trư ợt dốc.
Nhóm ẩn dụ ý niệm MÔI TRƯ ỜNG TỰ NHIÊN và HOẠT ĐỘNG CON
NGƯ ỜI cũng cho thấy một số ẩn dụ ý niệm có thể tương đương trong hai ngôn ngữ
tiếng Anh và tiếng Việt, nhưng các biểu thức ẩn dụ cụ thể về mặt ngôn ngữ lại khác
nhau.
146




Bảng 4.7 và 4.8 cho thấy cùng một ẩn dụ ý niệm xuất hiện trong hai ngôn ngữ Anh
và Việt nhưng mỗi ngôn ngữ lại có các biểu thức ẩn dụ cụ thể rất khác biệt.
AD MÔI TRƯỜNG TỰ Biểu thức trong TA Biểu thức trong TV
NHIÊN
TIỀN TỆ LÀ CHẤT LỎNG cascade kênh, luồng, cạn
KHUYẾN KHÍCH NỀN KINH TẾ fuel cất cánh, tăng tốc
HOẠT ĐỘNG LÀ LÀM CỖ MÁY
HOẠT ĐỘNG
KINH TẾ PHÁT TRIỂN VƯỢT prick, pop xì hơi, vỡ
KIỂM SOÁT LÀ BONG BÓNG
NỀN KINH TẾ LÀ KIẾN TRÚC crack, walls cửa sổ, mở, đóng
XÂY DỰNG
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ tripwire, trigger án binh, vùng lên
CHIÊN TRANH
TÌNH TRẠNG KINH TẾ LÀ headwind, tailwind cơn bão, cuồng phong,
TÌNH TRẠNG THỜI TIẾT lốc
Bảng 4.7. Các bi ểu thức ngôn ngữ khác nhau thể hi ện cùng nhóm ẩn dụ ý ni ệm MÔI TRƯỜNG T Ự
NHIÊN

AD HOẠT ĐỘNG CON NGƯỜI Biểu thức trong TA Biểu thức trong TV
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ stymie, nose-dive, poke thổi còi, nhảy, sân nhà,
HOẠT ĐỘNG THỂ THAO lấn sân
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ blue-chip, punter, đánh cờ, nước cờ
HOẠT ĐỘNG CỜ BẠC routlette
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ fork, pie, icing, sour ăn non, khúc xương
HOẠT ĐỘNG ĂN UỐNG
Bảng 4.8. Các biểu thức ngôn ngữ khác nhau thể hi ện cùng nhóm ẩn dụ ý ni ệm HOẠT ĐỘNG
CON NGƯỜI

Lấy ẩn dụ KIẾN TRÚC XÂY DỰNG trong bảng 4.1 chẳng hạn. Sự khác biệt
giữa hai khối ngữ liệu tiếng Anh và tiếng Việt thể hiện ở chỗ nếu như các tác giả
bản tin tiếng Anh thường dùng lĩnh vực nguồn KIẾN TRÚC XÂY DỰNG để ý
niệm hóa các lĩnh vực đích trừu tượng như nền tảng, cấu trúc, sự ổn định hay sự thất
bại của các hệ thống và đơn vị kinh tế, tác giả các bản tin tiếng Việt thường sử dụng
cùng các lĩnh vực nguồn để giải thích, làm rõ các hiện tượng hội nhập, hợp tác kinh
tế. Do vậy các ẩn dụ ý niệm trong tiếng Việt có xu hướng nghiêng về các ý niệm
“mở cửa”, “đóng cửa” thường xuyên hơn so với các ẩn dụ ý niệm trong bản tin
tiếng Anh.
4.1.2.3. Cả hai ngôn ngữ chứa các ẩn dụ ý niệm khác nhau:
Hai khối bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt thể hiện sự khác biệt rất rõ
ràng ở một số các ẩn dụ ý niệm tầng bậc thấp. Đây là một trong những dạng khác
147




biệt về ngôn ngữ-văn hóa mà Boers [29] đã chỉ ra: Ở trong các nền văn hóa khác
nhau, ẩn dụ có thể có các lĩnh vực nguồn khác nhau đồ họa lên cùng một lĩnh vực
đích. Các bản tin tiếng Việt có các ẩn dụ ý niệm sau đây được sử dụng để thuyết
giải các hiện tượng kinh tế nhưng chúng không xuất hiện trong các bản tin tiếng
Anh:
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ KINH TẾ LÀ GIẢI TOÁN
MUA LÀ HƯ ỚNG VÀO, BÁN LÀ HƯ ỚNG RA
TĂNG THÊM SỐ LƯ ỢNG CỔ PHIẾU PHÁT HÀNH LÀ PHA LOÃNG CHẤT
LỎNG
Trong khi đó, khối ngữ liệu tiếng Anh cũng cho thấy các tác giả bản tin đã sử
dụng các phép đồ họa khác hoàn toàn so với các phép đồ họa trong tiếng Việt; các
lĩnh vực nguồn sử dụng trong quá trình tri nhận thể hiện các đặc tính văn hóa xã hội
và môi trường đặc trưng của người Anh-Mỹ:
THỊ TRƯ ỜNG CHỨNG KHOÁN TĂNG ĐIỂM LÀ THỊ TRƯ ỜNG BÒ (‘bull
market’)
THỊ TRƯ ỜNG CHỨNG KHOÁN GIẢM ĐIỂM LÀ THỊ TRƯ ỜNG GẤU
(‘bearish market’)
CÁC DOANH NGHIỆP KIÊN TRÌ BÁM THỊ TRƯ ỜNG LÀ CHÓ (‘dogged
franchisers’)
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ LÀ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH BẠC (‘punters’, ‘routlette’)
SỰ PHÁT TRIỂN TÍCH CỰC VỀ SỐ LƯ ỢNG HOẶC CHẤT LƯ ỢNG LÀ TẦNG
BÌNH LƯU/TINH TÚ/SAO BĂNG (‘meteoric’, ‘stratopheric’)
LỢI NHUẬN KINH TẾ BẤT NGỜ LÀ GIÓ LÀM RƠI (‘windfall’)
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ TỐT LÀ NHỊP LÊN (‘upbeat outlook’)
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ XẤU LÀ NHỊP XUỐNG (‘downbeat reports’)
HOẠT ĐỘNG KINH TẾ THẤT BẠI LÀ THỨC ĂN BỊ CHUA (‘sour strategies’)
4.2. Đề xuất ứng dụng trong giảng dạy và dịch thuật
4.2.1. Nâng cao năng lực ẩn dụ của người học
148




Kể từ thập niên 90 của thế kỷ trước, nhiều nhà nghiên cứu và giảng dạy
ngoại ngữ đã bắt đầu quan tâm nhiều đến tầm quan trọng và tính chất phức tạp của
các tổ hợp từ cố định và từ ghép, có ảnh hưởng nhiều đến khả năng tiếp thu từ vựng
của người học. Nếu nhìn nhận vấn đề này từ quan điểm của Lakoff & Johnson [83]
– rằng ẩn dụ là động lực cho rất nhiều biểu thức ngôn ngữ – thì sự lồng ghép việc
giảng dạy ẩn dụ ý niệm trong giảng dạy ngoại ngữ sẽ có thể đem lại những kết quả
khả quan, đặc biệt trong lĩnh vực từ vựng. Low [90] là người đầu tiên sử dụng thuật
ngữ “năng lực ẩn dụ” để chỉ khả năng ý thức được sự hiện diện và các ảnh hưởng
của ẩn dụ, đồng thời ông cũng chú ý đến các phương pháp giảng dạy giúp người
học tiếng đạt được cái năng lực này. Nâng cao năng lực ẩn dụ là nâng cao nhận thức
và kỹ năng của người học trên bình diện văn bản và dụng học của ẩn dụ, chứ không
nói đến cách sử dụng theo nghĩa đen của nó. Theo chúng tôi, ẩn dụ có nhiều chức
năng trong quá trình sử dụng ngôn ngữ và thông qua cấu trúc phức tạp của ẩn dụ ý
niệm thì chúng ta cũng phần nào hiểu được mối quan quan hệ mang tính hệ thống
của các sự vật hiện tượng. Việc nâng cao năng lực ẩn dụ cho người học thực chất là
nâng cao kỹ năng hay chiến lược vì năng lực ẩn dụ đi liền với hành vi mang tính
chất khác biệt ở từng cá nhân, các kỹ năng mà người bản ngữ cần phải thành thạo
và người học ngoại ngữ cần nắm vững nếu muốn trở thành người sử dụng ngôn ngữ
có năng lực. Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy hai ngôn ngữ Anh và Việt có
thể có chung các ẩn dụ ý niệm ở tầng bậc cao, nhưng lại khác nhau ở tầng bậc thấp.
Theo Cameron & Low [34], người học ngôn ngữ thứ hai có thể dễ dàng nhận hiểu
tính phổ quát và tính hệ thống của các ẩn dụ ý niệm ở tầng phổ quát, thế nhưng họ
lại gặp khó khăn khi chọn lọc ngôn ngữ để sử dụng các ẩn dụ ngôn từ cho phù hợp
các ngữ cảnh dụng học. Các khó khăn này đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết cho
giáo viên và các nhà biên soạn sách và thiết kế chương trình, chẳng hạn như việc
nâng cao nhận thức cho người học về bản chất ẩn dụ và các ẩn dụ quan trọng
thường gặp. Một vấn đề nữa là việc nhận hiểu được các dạng mở rộng của ẩn dụ
thường qui. Khi nào thì người sử dụng/người học có thể sáng tạo dựa trên ẩn dụ
thường qui, tự giải quyết các vấn đề/khó khăn phát sinh khi sử dụng ẩn dụ trong các
149




ngữ cảnh giao văn hóa, mặc dù họ có thể nhận biết rất hiệu quả các ẩn dụ. Chúng tôi
đồng ý với quan điểm của Low [90] khi ông cho rằng việc nhận thức được các tầng
bậc ẩn dụ; nhiều biểu thức hoặc phát ngôn có thể kiến giải theo nhiều tầng bậc một
cách dễ dàng trong ngôn ngữ mẹ đẻ nhưng lại cần phải được giải thích trong ngôn
ngữ thứ hai. Ở một bình diện ngoại ngôn ngữ (lĩnh vực dụng học xuyên văn hóa) thì
có thể nhận thấy sự khác biệt trong mức độ tinh tế khi sử dụng ẩn dụ trong các môi
trường văn hóa xã hội khác nhau.
4.2.2. Gắn kết ẩn dụ ý niệm với việc giảng dạy ngoại ngữ
Một trong những lý do tại sao người học ngoại ngữ cần phải được nâng cao
nhận thức về ẩn dụ là vì ẩn dụ mang dấu ấn riêng biệt về văn hóa. Cho dù nhiều ẩn
dụ ý niệm có thể cùng lúc có mặt ở nhiều ngôn ngữ khác nhau, chẳng hạn như ẩn dụ
định hướng hay ẩn dụ KHÔNG GIAN miêu tả các ý niệm LÊN hoặc XUỐNG, thế
nhưng không phải tất cả các ẩn dụ đều có tính phổ quát như thế. Một lý do khác nữa
là ẩn dụ mang tính phổ biến trong các văn bản học thuật, văn báo chí, là một công
cụ đánh giá của người viết, vì vậy nếu người học không hiểu được thông điệp nằm
bên trong một ẩn dụ thì cũng dẫn đến khả năng hiểu nhầm cả văn bản, đây là kết
quả mà báo cáo của Littlemore [89] và Charteris-Black & Ennis [39] đã nêu ra.
Danesi [47] cho rằng ngôn ngữ của người học ngoại ngữ không giống với ngôn ngữ
của người bản xứ là do việc không sử dụng ẩn dụ.
Xét trên bình diện dạy học, nếu người học được hướng dẫn rõ ràng về ẩn dụ
trong tiếng Anh, bao gồm việc so sánh đối chiếu giữa ẩn dụ của tiếng Anh với ẩn dụ
có trong tiếng mẹ đẻ, thì khả năng học từ vựng, khả năng đọc hiểu và khả năng nhớ
từ của người học sẽ được cải thiện rõ rệt. Các công trình của Picken [99], Cortes
[43], Boers [27], [28], Deignan và các tác giả [49], Kovecses & Szabo [78] đã
chứng minh cho luận điểm này.
Chúng tôi thấy rằng trong việc dạy ngoại ngữ hiện đại nên gắn việc giảng
dạy từ mới theo cụm hoặc theo chuỗi từ với việc chú ý đến năng lực dụng học và
năng lực nhận thức chức năng ngôn ngữ của người học. Điều này hoàn toàn phù
hợp với các quan điểm giảng dạy ngoại ngữ theo hướng giao tiếp thể hiện qua phần
150




lớn các tài liệu giảng dạy và sách giáo khoa xuất bản gần đây. Tuy nhiên, mặt chức
năng của ngôn ngữ phần nào vẫn còn bị hạn chế khi các tài liệu này bỏ qua không
nhắc đến các bình diện văn hóa của một yếu tố ngôn ngữ nói chung và không đề cập
đến ẩn dụ nói riêng. Chính vì thế mà khi gặp khó khăn, thì người học ngoại ngữ ở
trình độ thấp thường bỏ qua, còn người học có trình độ cao thường có xu hướng
tham khảo các từ điển đồng nghĩa, nhưng thường cũng không có kết quả tích cực vì
các mục giải thích thường được trình bày không có trật tự và có tính hệ thống. Theo
Low [90], hậu quả là, người học không được hướng dẫn lúc nào có thể sử dụng một
biểu thức ngôn ngữ, không được giải thích về khả năng mở rộng hay tính chất hạn
định của biểu thức ấy, hay không nhận thức được các bình diện nào của lĩnh vực
đích được lĩnh vực nguồn làm nổi bật. Ngay cả khi người học ý thức được sự xuất
hiện của ẩn dụ trong các văn bản thì quá trình xử lý ẩn dụ cũng có thể khác nhau
giữa các cá thể khác nhau, vì theo Blasko [24], các cá nhân có thể có sự khác biệt
rất lớn về quá trình tri nhận và quá trình xử lý ngôn ngữ. Tóm lại, ẩn dụ cần có được
sự quan tâm đúng mức hơn trong lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ.
Trong địa hạt giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành (ESP) thì việc nâng cao
nhận thức về vai trò của ẩn dụ lại càng cần thiết hơn. Một số lượng lớn các ẩn dụ ý
niệm và rất nhiều các biểu thức cụ thể của chúng xuất hiện trong các bản tin tiếng
Anh cho phép chúng tôi dự đoán rằng người học ngoại ngữ chuyên ngành sẽ thường
gặp một số lượng từ vựng lạ, khó đoán nghĩa. Có thể giải quyết khó khăn này của
người học bằng cách cho họ tổ chức nhận diện và phân loại các ẩn dụ ở các tầng
bậc. Ví dụ, tính chất cạnh tranh của thị trường tự do thường được nhận hiểu theo ẩn
dụ KINH DOANH LÀ CHIẾN TRANH. Người dạy có thể yêu cầu người học tìm
và tổng hợp các ví dụ cụ thể của ẩn dụ ý niệm này, sau đó yêu cầu họ nhận xét về
các nội dung so sánh xuyên văn hóa hoặc xuyên ngôn ngữ. Chúng tôi cũng nhận
thấy rằng việc giảng dạy các ẩn dụ ý niệm
thông qua các hoạt động trên lớp cũng là một lĩnh vực cần nhiều quan tâm hơn.
Người học có thể trao đổi về các cách diễn giải ẩn dụ mà người dạy cung cấp thông
qua một văn bản. Hoặc người dạy có thể yêu cầu người học lý giải nguyên nhân mà
151




người viết lại chọn ẩn dụ đang được đề cập. Việc nâng cao nhận thức của người học
về ẩn dụ ý niệm CÁC DOANH NGHIỆP LÀ ĐỘNG VẬT trong văn hóa Anh-M ỹ
sẽ giúp họ giải quyết được các tình huống ngôn ngữ liên quan đến động vật, ví dụ
như trong bản tin FT129 như sau:
The pound was stronger across the board as UK house price growth picked up pace in
June while recent hawkishness on inflation by Mervyn King, Bank of England governor,
was echoed in the central bank's quarterly bulletin.
Theo Low [90] và Cameron & Low [34], việc liên kết quá trình dạy nghĩa với quá
trình dạy ẩn dụ có thể giúp nâng cao rõ rệt khả năng ngôn ngữ của người học tiếng
Anh.
4.2.3. Nâng cao nhận thức về ẩn dụ ý niệm trong học tập & giảng dạy tiếng
Anh kinh tế
Nhiều tác giả đồng ý với nhận định rằng ngôn ngữ tiếng Anh kinh tế mang
tính ẩn dụ cao (Lindstromberg [88], Henderson [63], White [113], Boers [27],
Charteris-Black & Ennis [39]). Khối ngữ liệu tiếng Anh của luận án cho thấy có thể
liệt kê hàng loạt ví dụ tìm thấy qua nhiều biểu thức chỉ hoạt động của con người
được dùng cho nền kinh tế hay các tổ chức kinh tế (fork out, salivate, digest,
crunch), hoặc các biểu thức miêu tả các xu hướng của thị trường qua hình ảnh động
vật (bear market, bull reports), miêu tả kinh doanh qua chiến tranh (arrest, attack,
mortar, onslaught), hay kinh doanh qua các hoạt động thể thao (sprint, stymie, rally,
pass the baton). Chúng tôi cho rằng sự hiện diện thường xuyên của các ẩn dụ trong
văn bản tin kinh tế tiếng Anh có thể gây trở ngại cho người học tiếng Anh khi phải
tiếp cận với diễn ngôn chuyên ngành. Việc nắm vững cách dùng của các ẩn dụ sẽ
tạo điều kiện cho người học đọc hiểu tốt hơn và dịch văn bản hiệu quả hơn.
Sinh viên chuyên ngành kinh tế muốn hiểu sâu kiến thức chuyên ngành cần ý
thức được bản chất ẩn dụ của các bản tin hoặc các văn bản kinh tế tài chính, cần có
khả năng luận giải được khi gặp các loại ẩn dụ ấy.
Các bài giảng tiếng Anh chuyên ngành kinh tế vì vậy nên có các hoạt động
và bài tập nâng cao khả năng nhận thức của người học về lớp từ vựng tiếng Anh
152




chuyên ngành kinh tế, nâng cao khả năng đọc hiểu các văn bản chuyên ngành và
khả năng tạo dựng các văn bản tin như người bản ngữ khi người học chuyển dịch
các văn bản tin kinh tế.
Một trong số các hoạt động trong lớp học tiếng Anh chuyên ngành kinh tế là
người học được yêu cầu thảo luận các biểu thức ẩn dụ thường quy điển hình hay
được sử dụng trong các văn bản tin kinh tế. Hoạt động này giúp người học nhận
diện được các yếu tố ẩn dụ trong ngôn ngữ và phân loại chúng theo tiêu chí cấu trúc
ý niệm, một hoạt động rất hiệu quả mà Deignan và các đồng tác giả [49] đã thực
hiện. Người học cũng nên được hướng dẫn thảo luận và tìm kiếm các biểu thức mở
rộng cũng như các dạng thức tương đương trong tiếng Việt.
Một bình diện khác có thể khai thác và đưa vào giảng dạy là hệ thống giới từ
cơ bản trong tiếng Anh. Trong các loại từ điển hiện hành thì các nét nghĩa của các
giới từ được trình bày theo thứ tự của hệ thống từ đa nghĩa, do đó mà người học
thường đối diện rất nhiều nét nghĩa khác nhau và phải tự tìm nét nghĩa mình cần.
Phương pháp học này, theo Lindstromberg [88], đã bỏ qua tính hệ thống của các nét
nghĩa giới từ. Ông áp dụng một phương pháp dạy mới mang tính qui nạp, dùng các
công cụ minh họa trong lớp học để giúp người học phát hiện các nét nghĩa điển mẫu
và tập trung tìm hiểu nguồn gốc của các biểu thức ẩn dụ. Các tác giả Boers &
Demechelmeer [31] cũng áp dụng một phương pháp tương tự như thế để giảng dạy
giới từ chỉ phương hướng, nhấn mạnh đến hiệu quả của việc phân tích giới từ theo
quan điểm ngữ nghĩa học tri nhận trong việc dự đoán các khó khăn thường xuyên
xuất hiện trong khi đọc hiểu của người học cũng như trong việc cải thiện kỹ năng
đọc hiểu của họ.
Đối với các đối tượng người học có trình độ tiếng Anh cao thì các hoạt động
nên được tổ chức theo cách yêu cầu người học chú ý đến các bình diện sử dụng ẩn
dụ, thực hiện các phép so sánh xuyên ngôn ngữ, sau đó tổ chức thảo luận theo
hướng phân tích nhằm phát triển ý thức nhận hiểu ẩn dụ của người học tiếng Anh
chuyên ngành kinh tế.
4.2.4. Áp dụng đường hướng tri nhận trong dịch ẩn dụ
153




Lý thuyết dịch hiện đại nhấn mạnh đến các yếu tố văn hóa và ngữ cảnh hơn
các yếu tố ngôn ngữ trong quá trình dịch từ ngôn ngữ gốc sang ngôn ngữ đích
(Schaffner [101]), trong đó sự xuất hiện của ẩn dụ trong các văn bản ngôn ngữ gốc
sẽ gâ y khó khăn không nhỏ cho những người làm công tác dịch thuật (Dobrzynska
[52]). Trong luận án chúng tôi đã tìm ra kết quả cho thấy hai nền văn hóa-ngôn ngữ
Anh và Việt có thể có các ẩn dụ ý niệm giống nhau và các ẩn dụ khác nhau, và do
đó chúng tôi cho rằng các phương thức và các bước dịch thuật truyền thống (xem
Newmark [96]) cần phải được thay đổi, trong đó chú ý nhiều hơn đến các giải pháp
khi xuất hiện ẩn dụ ý niệm trong các văn bản gốc.
Giải pháp đầu tiên liên quan đến năng lực ngôn ngữ, văn hóa và năng lực ẩn dụ
của bản thân người làm công tác dịch thuật. Khi dịch một ngôn ngữ nào đó sang
một ngôn ngữ thuộc nền văn hóa khác, người dịch không chỉ cần biết đến mô thức
tư duy và hành động của văn hóa có chứa ngôn ngữ gốc mà còn phải biết đến mô
thức văn hóa hiện tại của ngôn ngữ đích. Một bản dịch tốt là bản dịch có thể đem
đến cho người đọc văn bản trong ngôn ngữ đích sự cảm nhận giống như sự cảm
nhận của người đọc ở ngôn ngữ gốc. Mặc dù điều này khó nhưng vẫn có thể đạt
được phụ thuộc vào hai điều kiện sau: (1) người dịch phải hiểu được cách cảm nhận
thế giới của người đọc và cách họ cấu trúc hóa kinh nghiệm đó (2) người dịch phải
cố gắng điều tiết văn bản của mình sao cho vừa hợp với kinh nghiệm của người đọc
văn bản dịch vừa hợp với cách diễn đạt trong ngôn ngữ đích.
Giải pháp thứ hai liên quan trực tiếp đến các ẩn dụ ý niệm xuất hiện trong văn
bản gốc cần xử lý. Người dịch dựa trên năng lực ẩn dụ của mình để đánh giá các
khả năng có thể xảy ra đối với các kiểu đồ họa ẩn dụ: kiểu đồ họa tương đồng hay
dị biệt giữa hai ngôn ngữ. Trong trường hợp thứ nhất, khi người dịch phát hiện kiểu
đồ họa ẩn dụ trong ngôn ngữ đích giống với trong ngôn ngữ gốc, công việc biên
dịch sẽ hoàn toàn dễ dàng. Sự tương đương về phép đồ họa giúp việc dịch ẩn dụ từ
ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác không làm mất đi các nét nghĩa của văn bản
gốc. Trong trường hợp thứ hai, nếu có sự khác biệt về phép đồ họa, người dịch phải
tìm kiếm một phép đồ họa khác phù hợp với người đọc ngôn ngữ đích.
154




PHẦN KẾT LUẬN
Qua việc nghiên cứu các nhóm ẩn dụ ý niệm và tần suất sử dụng của chúng
trong các bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt, luận án có thể đưa ra các kết luận
dựa trên cơ sở dữ liệu hiện có như sau:
1. Ẩn dụ ý niệm và các dạng thức ngôn từ của chúng xuất hiện nhiều trong diễn
ngôn tin kinh tế, chứ không phải chỉ xuất hiện trong ngôn ngữ văn học như các nhà
ngôn ngữ học truyền thống quan niệm. Việc các bản tin kinh tế tài chính chứa rất
nhiều ngôn ngữ ẩn dụ cũng có thể nói lên tầm quan trọng của ẩn dụ đối với thể loại.
2. Ẩn dụ xuất hiện không chỉ đơn thuần mang tính chất tu từ, làm đẹp cho ngôn
ngữ. Các ẩn dụ ý niệm rõ ràng mang chức năng tri nhận rất lớn. Mặc dù một phần lý
do giải thích cho số lượng lớn các ẩn dụ có mặt trong hai khối ngữ liệu có thể do
bản chất của các bản tin kinh tế tài chính: những người viết bài phải tính đến các
yếu tố như cạnh tranh về độc giả, tăng số lượng phát hành, làm nhẹ hóa các con số
tài chính khô khan. Nhưng vai trò của ẩn dụ không nằm chỉ ở đây, mà như Lakoff &
Johnson [83] đã chỉ ra:
“ẩn dụ có mặt mọi nơi trong hệ thống ý niệm bình thư ờng của chúng ta. Vì
rất nhiều ý niệm quan trọng đ ối với chúng ta hoặc nằm ở dạng trừu tư ợng hoặc
không đư ợc phân đ ịnh rõ ràng, nên chúng ta cần phải hiểu chúng qua các ý niệm
khác mà chúng ta hiểu rõ ràng hơn…” (tr. 115). Ẩn dụ giúp cho người sử dụng
ngôn ngữ, cả người viết lẫn người đọc, hiểu được các ý niệm trừu tượng thông qua
các ý niệm cụ thể hơn. Các ý niệm cụ thể trong lĩnh vực nguồn thường xuất phát từ
những kinh nghiệm nhập thân rất gần gũi với con người như không gian, hoạt động
ăn uống vv… Ngoài chức năng tri nhận, các ẩn dụ ý niệm sử dụng còn có chức
năng thuyết phục. Phần lớn các ẩn dụ sử dụng trong các bản tin kinh tế được xuất
phát từ dụng ý của người viết với mục đích thuyết phục người đọc khi người viết
muốn thể hiện một chính kiến hay quan điểm đối với một chủ đề kinh tế.
3. Khối ngữ liệu ở trong luận án chứng minh các ẩn dụ ý niệm thể hiện tính hệ
thống và tính tầng bậc của chúng trong cả hai ngôn ngữ. Chúng cho thấy các hiện
tượng kinh tế cũng như các tổ chức hay cá nhân tham gia hoạt động kinh tế được ý
155




niệm hóa khác nhau như thế nào trong hai ngôn ngữ và hai nền văn hóa Anh và
Việt. Một số ẩn dụ tỏ ra nổi trội hơn trong tiếng Anh so với trong tiếng Việt. Một số
khác chỉ tồn tại ở một trong hai ngôn ngữ mà không tồn tại trong ngôn ngữ kia, tuy
nhiên số lượng những ẩn dụ này không lớn. Ngoài ra, khối ngữ liệu mà chúng tôi
phân tích còn thể hiện một khả năng chuyển di các ẩn dụ ý niệm từ tiếng Anh sang
tiếng Việt mà các tác giả đã dùng để giải thích các hiện tượng kinh tế mới.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài cho phép đưa ra một số nhận định chung về các
nét tương đồng và dị biệt liên quan đến sự phân bố ẩn dụ ý niệm trong hai khối dữ
liệu tiếng Anh và tiếng Việt như sau: Về tổng quan, số lượng các biểu thức ẩn dụ và
tần suất sử dụng của chúng trong các bản tin tiếng Anh lớn hơn so với trong các bản
tin tiếng Việt. Luận án không tìm ra được sự khác biệt về số lượng các ẩn dụ ý niệm
bậc thượng danh giữa hai khối bản tin; điều này có nghĩa là loại ẩn dụ ý niệm bậc
thượng danh nào có mặt trong ngôn ngữ nào thì cũng có thể cũng được sử dụng
trong ngôn ngữ kia. Sự khác biệt xảy ra thường ở các loại ẩn dụ hạ danh hay tầng
bậc thấp. Chẳng hạn ẩn dụ CHIẾN TRANH thể hiện sự khác biệt tương đối rõ về
tần suất sử dụng giữa hai khối ngữ liệu Anh và Việt. Ẩn dụ ý niệm này có mặt
thường xuyên hơn trong các bản tin kinh tế tiếng Anh. Sự khác biệt này có thể có
những ý nghĩa nhất định trong việc ứng dụng vào việc giảng dạy tiếng Anh chuyên
ngành kinh tế. Đối với ẩn dụ CƠ THỂ SỐNG, tính tương đồng giữa hai ngôn ngữ
cũng được thể hiện rõ ở tầng bậc thượng danh, mặc dù các ngữ cảnh sử dụng và các
hình thức ngôn ngữ cụ thể của ẩn dụ này có thể khác nhau.
5. Các ẩn dụ dùng trong các văn bản tin kinh tế có thể xuất phát từ nhiều lý do khác
nhau. Các ẩn dụ này có thể làm nổi bật một số bình diện của ý niệm đích trong khi
không làm nổi bật các bình diện khác. Chẳng hạn, việc miêu tả các hiện tượng kinh
tế xã hội thông qua máy móc có thể đem lại cho người đọc một ấn tượng là các hiện
tượng này có thể nằm trong tầm kiểm soát và có thể dự báo được. Việc ý niệm các
hiện tượng kinh tế xã hội thông qua chăm sóc sức khỏe có thể nhằm mục đích lý
giải cho việc cần phải bảo vệ doanh nghiệp khỏi thất bại trong kinh doanh, trong khi
156




đó các ẩn dụ chiến tranh lại được sử dụng nhằm biện minh cho các biện pháp kinh
doanh mạnh mẽ nhìn từ quan điểm của người viết bản tin.
6. Một số tiểu loại ẩn dụ ý niệm thể hiện những khác biệt mang màu sắc văn hoá và
môi trường. Những khác biệt này có thể mang lại một số khó khăn cho người làm
công tác biên-phiên dịch Anh-Việt hoặc ngược lại trong lĩnh vực kinh tế hay những
người thuần tuý làm công tác kinh tế phải đọc tài liệu chuyên môn bằng tiếng Anh.
Do đó mà công việc đối chiếu và so sánh việc sử dụng ẩn dụ ý niệm xuyên ngôn
ngữ sẽ là một công việc hữu ích.
Một số vấn đề mà luận án còn để ngỏ:
1. Luận án được xây dựng thông qua việc nghiên cứu ngữ liệu là các văn bản tin
báo chí kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt. Chúng tôi không xem xét đến các văn bản
kinh tế học thuật nên không thể kết luận liệu các ẩn dụ ý niệm mà chúng tôi nhận
diện được trong hai khối bản tin kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt có thể cũng được
các nhà kinh tế học của hai ngôn ngữ sử dụng hay không. Điều này quan trọng vì
nếu các ẩn dụ ý niệm này chỉ là đặc trưng của riêng diễn ngôn báo chí chuyên
ngành kinh tế thì có thể hiểu rằng các ẩn dụ được sử dụng chỉ vì mục đích tạo dựng
một phong cách báo chí.
2. Luận án cũng chưa có điều kiện làm rõ khả năng người viết có thể chọn lọc các
ẩn dụ trong bản tin của mình một cách có ý thức, hay việc sử dụng các ẩn dụ được
thực hiện từ tiềm thức thuần tú y. Việc làm rõ các quá trình này có thể chỉ ra một
cách rõ ràng hơn các nguyên nhân hay động lực tạo thành ẩn dụ như việc chịu ảnh
hưởng từ tiềm thức các yếu tố văn hóa, môi trường, kinh nghiệm sống hay xuất phát
từ việc chủ động kết hợp các kĩ năng ngôn ngữ và tri nhận của người viết nhằm thực
hiện yêu cầu của bản tin.
3. Luận án chỉ dừng ở việc nghiên cứu ẩn dụ ý niệm trong phạm vi mô hình hai
miền NGUỒN và ĐÍCH. Các công trình nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm tiếp theo có
thể vận dụng lí thuyết không gian tinh thần của Fauconnier và Turner [54] mà cụ
thể là lí thuyết trộn nhập ý niệm để phân tích quá trình hình thành ẩn dụ.
157




TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT
1. Đỗ Hữu Châu. 1962. Giáo trình Việt ngữ, Tập 2. Nhà xuất bản Giáo dục.
2. Trần Văn Cơ. 2006. Ngôn ngữ học Tri nhận. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
3. Nguyễn Đức Dân. 2005. Những giới từ không gian: Sự chuyển nghĩa và ẩn dụ.
Tạp chí Ngôn ngữ, số 9, tr. 42-50.
4. Trần Trương Mỹ Dung. 2005. Tìm hiểu ý niệm ‘buồn’ trong tiếng Nga và tiếng
Anh. Tạp chí Ngôn ngữ, số 8, tr.-61-67.
5. Nguyễn Thiện Giáp. 1998. Từ Vựng học Tiếng Việt. Nhà xuất bản Giáo dục.
6. Nguyễn Thị Thu Hiền. 2009. Cấu trúc đ ề-thuyết trong văn bản tin tiếng Anh và
tiếng Việt. Luận án Tiến sĩ ngữ văn, Thành phố Hồ Chí Minh: Trường ĐH
KHXH&NV TP.HCM.
7. Nguyễn Hòa. 1999. Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị- xã hội trên tư liệu báo chí
tiếng Anh và tiếng Việt hiện đ ại, Luận án Tiến sĩ ngữ văn, Hà Nội: Trường
ĐHKHXH&NV.
8. Phan Thế Hưng. 2007. Ẩn dụ ý niệm. Tạp chí Ngôn ngữ, số 7, tr. 9-18.
9. Phan Thế Hưng. 2009. Ẩn dụ dư ới góc đ ộ ngôn ngữ học tri nhận. Luận án Tiến sĩ
ngữ văn, Thành phố Hồ Chí Minh: Trường ĐHSP TP.HCM.
10. Đinh Trọng Lạc. 1999. 99 Phương tiện và Biện pháp Tu từ Tiếng Việt. Nhà Xuất
bản Giáo dục.
11. Hà Quang Năng. 2001. Đặc trưng của phép ẩn dụ trong ca dao Việt nam. Tạp
chí Ngôn ngữ, số 15, tr. 7-16.
12. Hoàng Kim Ngọc. 2003. Ẩn dụ hóa-một trong những cơ chế cấu tạo các đơn vị
định danh bậc hai. Tạp chí Ngôn ngữ, số 9, tr. 22-26.
13. Đào Thị Hà Ninh. 2005. George Lakoff và một số vấn đề về ngôn ngữ học tri
nhận. Tạp chí Ngôn ngữ, số 5, tr. 69-76.
14. Lý Toàn Thắng. 1994. Ngôn ngữ và sự nhận thức không gian, Tạp chí Ngôn
ngữ, số 4.
15. Lý Toàn Thắng. 2000. Định vị không gian “trên-dưới” trong tiếng Việt. K ỷ yếu
hội nghị ngôn ngữ quốc tế Xuyên Á.
158




16. Lý Toàn Thắng. 2005. Ngôn ngữ học Tri nhận: Từ lý thuyết đ ại cương đ ến thực
tiễn tiếng Việt. NXBKHXH Hà nội.
17. Phạm Thị Thanh Thu ỳ. 2006. Ẩn dụ trong Ngôn ngữ Kinh tế. Tạp chí khoa học-
Chuyên san ngoại ngữ. ĐHQGHN, số 2, tr. 66-72.
18. Đoàn Mạnh Tiến. 2001. Một cách dạy bài So sánh và Ẩn dụ. Tạp chí Ngôn ngữ,
số 16, tr. 37-38.
19. Nguyễn Đức Tồn. 2007. Bản chất của ẩn dụ. Tạp chí Ngôn ngữ, số 11, tr.1-9.
20. Nguyễn Thế Truyền. 1998. Nghĩa ẩn dụ khẩu ngữ dưới góc nhìn phong cách
học. Hội thảo Ngữ học Trẻ 1998. Hội ngôn ngữ học Việt nam, tr. 213-216.
21. Phan Hồng Xuân. 2001. Mấy nhận xét về cách sử dụng ẩn dụ của các nhà Thơ
Mới trong Thi nhân Việt nam. Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, tr.38-45.
22. Phan Hồng Xuân. 2001. Mấy nhận xét về cách sử dụng ẩn dụ của các nhà Thơ
Mới trong Thi nhân Việt nam. Tạp chí Ngôn ngữ, số 8, tr.22-28.


TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH
23. Black, M. 1993. More about Metaphor. In Metaphor and Thought, Ortony, A.
(ed). New York: Cambridge University Press.
24. Blasko, D. 1999. Only the Tip of the Iceberg: Who Understands What about
Metaphor? Journal of Pragmatics, 31: 1675-1683.
25. Boers, F. 1997. “No Pain, No Gain” in a free market rhetoric: A test for
Cognitive Semantics? Metaphor and Symbol, 12(4): 231-241.
26. Boers, F. 1999. When a bodily source domain becomes prominent: The joy of
counting metaphors in the socio-economic domain. In Metaphor in Cognitive
Linguistics, Gibbs, R. & Steen, G. (eds.). Philadelphia: John Benjnamins.
27. Boers, F. 2000. Enhancing metaphoric awareness in specialized reading. English
for Specific Purposes, 19: 137-147.
28. Boers, F. 2000. Metaphor Awareness and Vocabulary Retention. Applied
Linguistics, 21 (4): 553-571.
159




29. Boers, F. 2003. Applied Linguistics Perspectives on Cross-cultural Variation in
Conceptual Metaphor. Metaphor and Symbol, 18(4): 231-238.
30. Boers, F. & Demecheleer, M. 1995. Travellers, patients and warriors in English,
Dutch and French economic discourse. Revue belge de philology et
d’histoire, 73: 673-691.
31. Boers, F. & Demecheleer, M. 1998. A cognitive semantic approach to teaching
prepositions. ELT Journal, 52(3): 197-204.
32. Bratoz, S. 2004. ž A Comparative Study of Metaphor in English and Slovene
Popular Economic Discourse. Managing Global Transitions, 2(2): 179-196.
33. Cameron, L. 2003. Metaphor in Educational Discourse. London: Continuum.
34. Cameron, L. & Low, G. (eds.). 1999. Researching and Applying Metaphor.
Cambridge: Cambridge University Press.
35. Cameron, L. & Deignan, A. 2006. The Emergence of Metaphor in Discourse.
Applied Linguistics, 27(4): 671–690.
36. Charteris-Black, J. 2000. Metaphor and vocabulary teaching in ESP economics.
English for Specific Purposes, 19: 149-165.
37. Charteris-Black, J. 2003. Speaking With Forked Tongue: A Comparative Study
of Metaphor and Metonymy in English and Malay Phraseology. Metaphor
and Symbol, 18(4), 289–310.
38. Charteris-Black, J. 2004. Corpus Approaches to Critical Metaphor Analysis.
New York: Palgrave MacMillan.
39. Charteris-Black, J., & Ennis, T. 2001. A comparative study of metaphor in
Spanish and English financial reporting. English for Specific Purposes, 20:
246-266.
40. Charteris-Black, J., & Musolff, A. 2003. ‘Battered Hero’ or ‘Innocent Victim’?
A Comparative Study of Metaphors for Euro Trading in British and German
Financial Reporting. English for Specific Purposes, 22: 153-176.
41. Chung, S. & Huang, C. and Ahrens, K. 2003. Economy is a
Transportation_Device: Contrastive Representation of Source Domain
160




Knowledge in English and Chinese. In the Proceedings of the Special
Session for the International Conference on Natural Language Processing
and Knowledge Engineering. Beijing, China. pp. 790-796.
42. Connor, U. 1996. Contrastive Rhetoric: Cross-Cultural Aspects of Second
Language Writing. New York: Cambridge University Press.
43. Cortes, M. 2001. The teaching of metaphor in the advertising discourse of
business newspapers. Iberica, 3: 87-102.
44. Corts, D. P., & Meyers, K. 2002. Conceptual clusters in figurative language
production. Journal of Psycholinguistic Research 31(4): 391-408.
45. Croft, W. 1993. The Role of Domains in the Interpretation of Metaphors and
Metonymies. Cognitive Linguistics, 4 (4): 335-370.
46. Croft, W., & Cruse, D. 2004. Cognitive Linguistics. Cambridge University
Press.
47. Danesi, M. 1994. Recent research on metaphor and the teaching of Italian.
Italica, 71: 453-64.
48. Deignan, A. 2003. Metaphorical Expressions and Culture: An Indirect Link.
Metaphor and Symbol, 18(4): 255–271.
49. Deignan, A. & Gabrys, D., and Solska, A. 1997. Teaching English Metaphors
Using Cross-linguistic Awareness-raising Activities. ELT Journal, 51/4: 352-
360.
50. Deignan, A. & Potter, L. 2004. A Corpus Study of Metaphors and Metonyms in
English and Italian. Journal of Pragmatics, 36: 1231-1252.
51. Denzin, N. & Lincoln, Y. (eds). 2003. Landscape of Qualitative Research:
Theories and Issues. Thousand Oaks, CA: Sage.
52. Dobrzynska, T. 1995. Translating metaphor: Problems of Meaning. Journal of
Pragmatics, 24: 595-604
53. Evans, V. & Green, M. 2006. Cognitive Linguistics: An Introduction. London:
Lawrence Erlbaum Associates.
161




54. Fauconnier, G. & Turner, M. 2006. Conceptual Integration Networks. In
Cognitive Linguistics: Basic Readings. Geeraerts, D. (ed.). New York:
Mouton de Gruyter.
55. Gibbs, R. 1996. Why many concepts are metaphorical. Cognition, 61: 309-319.
56. Gibbs, R. 1999. Researching Metaphor. In Researching and Applying Metaphor,
Cameron, L. & Low, G. (eds.). Cambridge: Cambridge University Press, pp.
29-47.
57. Gibbs, R. 1999. Taking metaphor out of our heads and putting it into the
cultural world. In Gibbs, R. W., and Steen, G. (eds.), Metaphor in Cognitive
Linguistics. Amsterdam and Philadelphia: John Benjamins.
58. Gibbs, R. W. & Colston, H. 1995. The Cognitive Psychological Reality of
Image Schemas and their Transformation. Cognitive Linguistics, 6: 347-378.
59. Glucksberg, S., and Keysar, B. 1993. How Metaphors Work. In Metaphor and
Thought, Ortony, A. (ed.). New York: Cambridge University Press.
60. Grady, J. 1997. “THEORIES ARE BUILDINGS Revisited”. Cognitive
Linguistics 8: 267-290.
61. Grady, J. 1999. “A Typology of Motivation for Conceptual Metaphor:
Correlation vs. Resemblance”. In Gibbs, Raymond W. Jr. and Steen, G.
(eds.). Metaphor in Cognitive Linguistics. Amsterdam and Philadelphia: John
Benjamins: 79-100.
62. Grice, H. 1989. Studies in the Way of Words. Cambridge MA: Havard
University Press.
63. Henderson, W. 2000. Metaphor, economics and ESP: Some comments. English
for Specific Purposes, 19: 167-173.
64. Herrera, H. & White, M. 2003. Cognitive linguistics and the language learning
process: a case from economics. Estudios Ingleses de la Universidad
Complutense, 8: 55-78.
65. Hodgson, M. 1993. The economy as an organism – not a machine. Futures, 25:
392-403.
162




66. Johnson, M. 1987. The Body in the Mind: The Bodily Basis of Meaning,
Imagination and Reason. Chicago, IL: University of Chicago Press.
67. Johnson, M., and Lakoff, G. 1987. Why Cognitive Linguistics Requires
Embodied Realism. Cognitive Linguistics, 13 (3): 245-263.
68. Kaplan, R. 1966. Cultural Thought Patterns in Intercultural Education.
Language Learning, 16: 1-20.
69. Kennedy, V. 2000. Metaphors in the news – Introduction. Metaphor and
Symbol, 15(4): 209-211.
70. Kimmel, M. 2010. Why we mix metaphors (and mix them well): Discourse
coherence, conceptual metaphor, and beyond. Journal of Pragmatics, 42: 97-
115.
71. Kittay E.F. 1987. Metaphor: Its Cognitive Force and Linguistic Structure.
Oxford:Claredon Press.
72. Koller, V. 2002. A shotgun wedding: Co-occurrence of war and marriage
metaphors in mergers and acquisitions discourse. Metaphor and Symbol,
17(3): 179-203.
73. Koller, V. 2005. Critical discourse analysis and social cognition: evidence from
business media discourse. Discourse Society, 16(2); 199-224.
74. Kovecses, Z. 2002. Metaphor: A Practical Introduction. Oxford: Oxford
University Press.
75. Kovecses, Z. 2003. Language, Figurative Thought, and Cross-Cultural
Comparison. Metaphor and Symbol, 18(4): 311–320.
76. Kovecses, Z. 2004. Introduction: Cultural Variation In Metaphor. European
Journal of English Studies, 8(3): 263-274.
77. Kovecses, Z. 2005. A Broad View of Cognitive Linguistics. Acta Linguistica
Hungarica, 52 (2-3): 135-172.
78. Kovecses, Z., and Szabo, P. 1996. Idioms: A View from Cognitive Semantics.
Applied Linguistics, 17 (3): 326-355.
163




79. Kubon-Gilke, G. 1996. Institutional economics and the evolutionary metaphor.
Journal of Institutional and Theoretical Economics, 152: 723-738.
80. Lakoff, G. 1987. Women, Fire and Dangerous Things. Chicago. University of
Chicago Press.
81. Lakoff, G. 1990. The Invariance Hypothesis: Is Abstract Reasoning based on
Image Schemas? Cognitive Linguistics, 1 (1): 39-74.
82. Lakoff, G. 2006. The Contemporary Theory of Metaphor. In Cognitive
Linguistics: Basic Readings. Geeraerts, D. (ed.). New York: Mouton de
Gruyter.
83. Lakoff, G. & Johnson, M. 1980. Metaphor We Live By. Chicago, IL: Chicago
University Press.
84. Lakoff, G. & Johnson, M. 1999. Philosophy in the Flesh: The Embodied Mind
and Its Challenge to Western Thought. New York: Basic Books.
85. Langacker, R. 1987. Foundations Of Cognitive Grammar. (Vol. 1). Stanford,
CA: Stanford University Press.
86. Leezenberg, M. 2001. Contexts of Metaphor. Amsterdam: Elsevier.
87. Levinson, C. 2003. Space in Language and Cognition: Explorations in
Cognitive Diversity. Cambridge: Cambridge University Press.
88. Lindstromberg, S. 1991. Metaphor and ESP: A Ghost in the Machine? English
for Specific Purposes, 10: 207-225.
89. Littlemore, J. 2003. The Effect of Cultural Background on Metaphor
Interpretation Metaphor and Symbol, 18(4): 273–288.
90. Low, G. D. 1988. On Teaching Metaphor. Applied Linguistics, 9 (2): 125-147.
91. Low, G. 1999. Validating metaphor research projects. In Researching and
Applying Metaphor. Cameron, L., and Low, G. (eds.). Cambridge:
Cambridge University Press.
92. Maestre, M. 2000. The Business of Cognitive Linguistics: A Survey of
Conceptual Metaphors in Business English. Atlantis, 22(1): 47-69.
164




93. McCloskey, N.1995. Metaphors economists live by. Social Research, 62: 215-
238.
94. Neagu, M. 2007. English Verb Particles and Their Acquisition - A Cognitive
Approach. Resla , 20: 121-138.
95. Neumann, Ch. 2001. Is Metaphor Universal? Cross-Language Evidence From
German and Japanese. Metaphor and Symbol, 16(1&2): 123–142.
96. Newmark, P. 1988. Approaches to Translation. Englewood Cliffs, NJ: Prentice-
Hall.
97. Oberlechner, T., Sluneck, T. & Kronberger, N. 2004. Surfing the Money Tides:
Understanding the Foreign Exchange Market through Metaphors. British
Journal of Social Psychology, 43: 133-156.
98. Ortony, A. (ed.). 1993. Metaphor and Thought. ( 2nd and revised edition). New
York: Cambridge University Press.
99. Picken, J. 2005. Helping Foreign Learners to Make Sense of Literature with
Metaphor Awareness-Raising. Language Awareness, 14 (2/3): 142-152.
100. Quinn, N. 1991. The Cultural Basis of Metaphor. In Beyond Metaphor: The
Theory of Tropes in Anthropology, Fernandez, J. (ed.). Stanford, CA:
Stanford University Press.
101. Schaffner, C. 2004. Metaphor and Translation: Some Implications of a
Cognitive Approach. Journal of Pragmatics, 36: 1253-1269.
102. Schmidt, C. M. 2003. Metaphor and Cognition: a Cross-Cultural Study of
Indigenous and Universal Constructs in Stock Exchange Reports. [Retrieved
January 24, 2006, from: http://www.immi.se/intercultural/nr5/ schmidt.pdf].
103. Skorczynska, H. & Deignan, A. 2006. Readership and Purpose in the Choice of
Economics Metaphors. Metaphor and Symbol, 21(2): 87-104.
104. Searle, J. 1993. Metaphor. In Metaphor and Thought, Ortony, A. (ed.). New
York: Cambridge University Press.
165




105. Smith, G. 1995. How High can a Dead Cat Bounce? : Metaphor and the
Hongkong Stock Market. Hongkong Papers in Linguistics and Language
Teaching, 18: 43-58.
106. Smith, T. 2005. Metaphors for Navigating Negotiations. Negotiation Journal,
21 (3): 343-365.
107. Sweetser, E. 1990. From Etymology to Pragmatics: The Mind-Body Metaphor
in Semantic Structure and Semantic Change. Cambridge: Cambridge
University Press.
108. Sweetser, E. 1995. Metaphor, Mythology, and Everyday Language. Journal of
Pragmatics, 24: 585-593.
109. Talmy, L. 2000. Toward a Cognitive Semantics. Vol. I. Cambridge, MA: MIT
Press.
110. Taylor, J. R. 1991. Linguistic Categorization. New York. Oxford University
Press.
111. The Oxford English Dictionary. John Simpson & Edmund Weiner (eds).
Oxford: Oxford University Press.
112. Tilley, C. 1999. Metaphor and Material Culture. Cambridge: Cambridge
University Press.
113. White, M. 2003. Metaphor and Economics: The Case of Growth. English for
Specific Purposes, 22: 131-151.
114. Yu, N. 2003. Chinese Metaphors of Thinking. Cognitive Linguistics, 14-2/3:
141-165.
166




DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯ ỢC CÔNG BỐ
CỦA NGHIÊN CỨU SINH

1. Hà Thanh Hải. (2005). Vai trò của phương thức diễn đạt đối chiếu trong nghiên
cứu văn bản. T ạp chí Giáo dục, số 107, tr.33-34.
2. Hà Thanh Hải. (2005). “A Description Of Language Input, Output And
Interactional Modifications : A Discourse Perspective”. T ạp chí Khoa học
Ngoại ngữ, Trường Đại học Ngoại ngữ Hà nội, số 2, tr. 22-28.
3. Hà Thanh Hải. (2007). “Hiện tượng ẩn dụ: Nhìn từ các quan điểm truyền thống
và quan điểm tri nhận luận”. T ạp chí khoa học. Trường ĐHSP TP. HCM, số
11, tr. 20-34.
4. Hà Thanh Hải. (2007). “Ẩn dụ ý niệm nhìn từ quan điểm tri nhận: Khảo sát trên
diễn ngôn kinh tế tiếng Việt”. H ội Thảo ngữ học trẻ 2007. Hội ngôn ngữ học
Việt nam, tr. 61-66.
5. Hà Thanh Hải. (2010). “Ẩn dụ ý niệm với việc giảng dạy ngoại ngữ”. T ạp chí
khoa học. Trường ĐHSP TP. HCM, số 19, tr. 162- 168.
6. Hà Thanh Hải. (2010). “Nền kinh tế là một cơ thể sống”: Ẩn dụ ý niệm trong báo
chí kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt. T ạp chí Ngôn ngữ, số 11, tr. 67- 75.
167




BẢNG ĐỐI CHIẾU CÁC THUẬT NGỮ
VIỆT-ANH DÙNG TRONG LUẬN ÁN


Ẩn dụ ý niệm: conceptual metaphor
Ẩn dụ ngôn từ/ngữ: linguistic metaphor
Ẩn dụ nguyên khởi: primary metaphor
Ẩn dụ thường qui: conventional metaphor
Ẩn dụ cấu trúc sự tình : event structure metaphor
Bán phần: partial
Biểu thức: expression
Biểu thức ngôn ngữ: linguistic expression
Cấu trúc tri nhận: cognitive topology
Diện mạo chung : gestalt
Đa ẩn dụ: mixed metaphor
Hình bóng : profile
Khối liệu: corpus
Khung : frame
Lĩnh vực: domain
Lĩnh vực nguồn: source domain
Lĩnh vực đích: target domain
Lược đồ: schema:
Lược đồ hình ảnh: image schema
Ngôn ngữ học tri nhận: cognitive linguistics
Nguyên tắc bất biến : invariance principle
Nhập thân/nhập thân: embodied
Phép đồ họa: mapping
Trình hiện tinh thần: mental representation
Tương liên: correlation
Ý niệm: concept
Ý niệm hóa: conceptualize
168




PHỤ LỤC A:
Một số mẫu ngữ liệu tiếng Anh dùng để phân tích và
đối chiếu ẩn dụ ý niệm
FT2- Beijing’s new tack on excesses
In 1996, when the Chinese stock market was rapidly surging the authorities knew exactly
how to end the party: a sternly-worded editorial about the dangers of speculation in the
People’s Daily, the party mouthpiece, sent share prices tumbling.
More than a decade later, and with another bull market in full flow, the authorities have
tried to use the megaphone again. Three weeks ago Zhou Xiaochuan, head of the central
bank, warned of a potential bubble. The response was a 3 per cent increase in the Shanghai
market. Other similar warnings have also gone unheeded.
Facing a more complicated and self-confident society, the government has had to develop
different tools to try to prevent exuberant retail investors from creating a stock market
bubble.
The increase in share trading stamp duty announced on Wednesday is the most
important of a series of administrative measures directed at equity investors that the
authorities have been preparing in recent weeks.
Steven Sun, equity analyst at HSBC in Hong Kong, said: “The grand strategy is to
gradually deflate the bubble but not to prick the bubble.”
Economists believe the authorities have learned from their experience managing the
housing market, which two years ago was showing worrying signs of overheating,
especially in some parts of Shanghai.
The response was a series of measures, including a capital gains tax and restrictions on
foreigners buying property, which resulted in a slow-down in the Shanghai market but not
a slump.
In spite of the 6.5 per cent drop in the stock market on Wednesday, many analysts believe
it could be just a temporary pause in the flow of new funds into the market. Wu Gang,
analyst at Oriental Securities in Shanghai, said: “We believe this is only a short term
adjustment in a bullish environment and the good fundamentals of the market remain. How
long this adjustment will last depends on the interaction between investors and the
government in the next few weeks.”
If the heavy speculation by retail investors does continue, analysts expect that the
government has a series of other targeted policies it can steadily introduce to cool the
market. In the last month, the authorities have already partly loosened the rules that restrict
overseas investment by Chinese funds and individuals and further relaxation could divert
money away from mainland equities.
For the last year, the authorities have also been preparing for the launch of an equity
futures contract. Some analysts believe it would help calm the market by giving institutions
worried about retail-driven speculation a means of hedging their exposure.
Given that the authorities closely control the timetable for new share issues, they have
another important tool to absorb liquidity in the market. One option is for large companies
such as PetroChina and China Mobile, which are only listed in Hong Kong at the moment,
to be slated for a domestic share offering.
169




The other is for other state-owned companies listed in Shanghai to begin selling more
shares in the market while still maintaining state control. Given the high valuations in the
mainland market at the moment, many companies would probably be willing sellers.
The most potent weapon would be the introduction of a 15 to 20 per cent capital gains tax
on share trading, rumours of which have been circulating since February, at about the time
of the dramatic one-day fall in the Shanghai index. Officials would be reluctant to take
such an option, however, for fear that it would provoke a market collapse.
Jun Ma, chief economist for China at Deutsche Bank, warns that if the market ignores the
measures and continues to rise sharply, “the government will likely further increase the
stamp duty, and we cannot rule out the possibility of eventual implementation of a capital
gains tax.”
Aside from measures aimed directly at equity investors, the authorities could also try to use
monetary policy to limit the amount of liquidity shifting into the stock market. Earlier this
month, the government hiked interest rates and raised bank reserve requirements on the
same day, an exercise that was partly aimed at the stock market, although it had little
immediate impact.
With inflation also picking up in China, partly due to higher food prices caused by a
disease that has killed millions of pigs, some analysts see further interest rate rises as
inevitable. Hong Liang, an economist at Goldman Sachs, said: “We maintain our forecast
of two further 27 basis point interest rate hikes for the rest of the year amid rising
consumer prices and asset inflation”.
B Frank Gong, head of China research at JP Morgan in Hong Kong, said monetary policy
was the wrong way to try to cool the stock market. “We have long argued that more
targeted measures – rather than macro measures such as raising interest rates or tightening
monetary environment by hiking reserve requirements – should be used to deal with the A-
shares problem.” (812w)
FT11- Viewpoint: Rush for stakes in banks is
leaving assumptions untested
The deal-making frenzy for stakes in Chinese banks has captured the attention of global
banks. In the past two years alone, more than $20bn has been forked out for a relatively
small slice of China’s rapidly growing financial services market.
However, it remains unclear whether investors will reap the longer-term strategic benefits
they are hoping for. The paper windfalls earned by first movers from their initial
investments are founded upon a number of assumptions, such as that China’s economy will
extend its run of 8 per cent-plus annual growth for the next decade; that non-performing
loans will drop to lower levels than today; or net interest margins will fall only modestly
once the government liberalises interest rates on deposits and loans. However, an
unexpected slowdown in the economy or even a gradual regulatory shift could test these
assumptions.
On top of those risks, foreign investors have their hands tied b y the 20 per cent ownership
cap that puts the core banking businesses most in need of improvement outside their direct
control. It is no surprise that most players are hedging their bets b y investing heavily in
organic growth options, such as setting up their own branch networks.
170




If they hope to extract value from their investments in Chinese banks, foreign investors
will need to adopt innovative approaches that give them greater influence in the areas that
matter most.
First, investors should focus on a few critical areas where they can have the biggest impact
on shareholder value. Our analysis shows that upwards of 60 per cent of value creation –
and downside protection – will come from getting the basics right, for example,
implementing credit risk management systems in corporate banking, or protecting the
balance sheet by adopting appropriate asset and liability management practices.
The remaining 30 per cent of value creation will come from defending growth
opportunities in existing retail business lines. Critical will be defending the mortgage
business and holding on to the deposits of the top 2 per cent of retail banking customers
who account for more than 50 per cent of a bank’s total revenues and profits.
In spite of the popularity of new growth areas such as credit cards and unsecured personal
loans, our analysis shows these lines will account for no more than 10 per cent of value-
creation opportunities over the next 10 years for most medium-sized Chinese banks. For
many who account for profits conservatively, these businesses won’t generate substantial
profits for several years to come.
Second, even after the first investment has been made, it may be necessary to negotiate
additional joint ventures that give a foreign investor effective control over high-impact but
often neglected areas of the business, such as wholesale banking.Many joint ventures are
focused on long-term growth opportunities such as credit cards.
Third, investors must create a structure where they wield genuine influence over the risk
management organisation. It isn’t enough to appoint the chief risk officer or to write the
manual on risk management. Investors should be actively involved in building and
transferring risk management skills to their Chinese partner.
Finally, investors have to be prepared to over-invest in people. Transforming a Chinese
bank is not a job for a handful of expatriate board members. A strategic investor should be
ready to spend another $5m-$10m a year on people for up to five years (some of this could
be shared with the local partner). Ideal candidates are senior executives fluent in Mandarin
with banking experience in China and other markets. Since the supply of such people is
still limited, secondments of senior Chinese executives to foreign postings for a few years
could help banks cultivate the talent pool.
Some strategic investors are abiding by these principles; however, not all understand them
and fewer wield enough influence with their partners to implement them. For foreign
strategic investors in China, creating value will require deft deal-making and outstanding
execution. (647w)
Emmanuel Pitsilis is head of McKinsey & Co’s financial institutions practice in greater
China. Jeffrey Wong is an associate principal in McKinsey’s Shanghai office.
171




FT12- ‘Silver bullet’ waiting to be fired
Four years after Beijing announced it would allow overseas institutional investors to play
in local currency stock markets, their presence appears to be negligible amid a surge in
prices and trading volumes.
As of early May, the total exposure of foreign investors to renminbi-denominated “A
shares” on the Shanghai and Shenzhen stock exchanges was only equal to one-fifth of a
single day’s trading volume.
“Foreign investors could dispose of every Chinese share they hold in just the morning
session in Shanghai,” according to Chris Ruffle, co-chairman of MC China, a subsidiary of
Martin Currie Investment Management. “We’re certainly not a major swing factor in this
market.”
The Chinese government cracked open the door to foreign portfolio investors in 2003,
launching the qualified foreign institutional investor (QFII) programme that allows large
banks and investment funds to access the mainland stock market under strict limits.
Regulatory officials refer to the QFII programme as a “silver bullet” to be used as a
support for the market if it should tumble.
The bullet has already been used once, in mid-2005, when the market was scraping eight-
year lows. An announcement from the government that it was doubling the overall QFII
quota limit to $10bn helped produce a market bounce on the expectation of a flood of new
funds.
In early 2006, the State Council, China’s cabinet, granted the China Securities Regulatory
Commission the power to raise the overall QFII quota again if the market went into freefall
but stock prices have since soared, with the market up more than 300 per cent in less than
two years.
There are now 52 foreign institutions with a combined $9.995bn worth of quotas to buy
Chinese shares. Six of those – including Shinko Securities, HSBC Investment (HK),
Sumitomo Mitsui Asset Management and GE Asset Management – acquired quotas
totalling $950m this year.
According to Chinese officials, about $8.6bn of the quotas had been used by the end of
March and, thanks to the market’s meteoric rise, total assets under management have
grown to about $18bn.
Foreign investors hold shares in about 240 of the more than 1,300 listed A-share
companies. By the end of the first quarter, 70 per cent of the $18bn total was in equities, 15
per cent in cash and the rest in open-end funds and convertible bonds.
This is a very different picture from early 2005, when an estimated 30 per cent of all QFII
investment was in equities with the rest sitting in cash as a way of speculating on a
revaluation of the Chinese currency.
The change in composition is a result of huge interest in mainland shares from
international investors attracted by the market’s stellar gains. But with valuations reaching
an average level of 50 times earnings, foreign punters have begun taking profits.
172




Jing Ulrich, JPMorgan’s chairman of China equities, said: “In the past year, interest from
foreign investors has been at an all-time high but the growing feeling that we have now
entered a bubble has led many of them to take their money off the table. We don’t see the
same reaction from local investors and there is clearly a big difference in perceptions of
risk and return between foreign and domestic players.”
After more than a year of not being able to take any more subscriptions because their quota
was fully used, Martin Currie and other funds are once again accepting clients’ money to
put in the market, thanks to a high level of redemptions that have freed some of their
quotas up again.
“Ironically, when A shares are at record highs there is more QFII quota available than
before,” Ms Ulrich said.
There are 40 Chinese companies that are listed in both Hong Kong and the mainland and at
present their mainland-listed shares are trading at an average premium of more than 40 per
cent.
Another detraction from the perspective of foreign investors is that QFII quota holders
charge clients five or six times more per trade than they are charged to buy and sell stocks
in Hong Kong and up to10 times more than brokers charge domestic investors in China.
Many hedge funds have been lobbying for their own quotas but the Chinese government
still regards them as politically unacceptable and the main cause of the Asian financial
crisis in the late 1990s.
Many have been looking at the possibility of “sharing” quotas with more acceptable
applicants but as yet there has been no progress on this and hedge funds with an appetite
for Chinese stocks must pay the same high fees as other investors.
“Because of the scarcity of QFII quotas, the big brokers run the market like an oligopoly
and are making huge profits on these trades,” according to a hedge fund manager who
trades A shares through investment bank QFII quotas and has so far been unsuccessful in
gaining his own quota.
He estimates that a holder of a $500m QFII quota earns up to $40m a year just on
commissions on trades for clients in the current market.
With combined quotas poised at the $10bn mark, the government is now considering
another formula that would allow more foreign investors into the market in an orderly way
without further exacerbating the ongoing stock frenzy.
Earlier this year, state media reported that the government was considering revising the
QFII formula to limit foreign portfolio investment in the market at 5 to 10 per cent of total
stock market capitalisation.
The total market cap now exceeds $2,200bn, which means if the government does decide
to adopt this model, foreign access to Chinese stocks would jump as much as 22 times to
$220bn. (935w)
173




FT35- Weak yen lifts export drive
In 1985, Japan was considered so menacing an exporter that the US ganged up with West
Germany, the UK and France to force a revaluation of the yen. Two years after Tokyo was
roughed up in New York’s Plaza Hotel, the Japanese currency had doubled in value from
Y240 to the dollar to around Y120.
These days, China has replaced Japan as the world’s trade-surplus bogeyman of choice.
Yet by some measures, Japan is just as formidable a competitor as it was in the mid-1980s
when massive intervention was considered to be the only means of stopping the onslaught
of Japanese exporters.
In the first quarter of this year, exports accounted for 17 per cent of Japan’s nominal gross
domestic product, according to Nikko Citigroup, compared with 14.1 per cent in the third
quarter of 1985. And Bank of Japan statisticians say the real, inflation-adjusted value of the
yen is precisely where it was back in September 1985, on the eve of the Plaza Accord.
Almost all economists agree that exports have been the main driver of Japan’s five- year
recovery. Over that period, the trade surplus has quadrupled from 1 per cent of GDP to 4.3
per cent.
The weak yen is by no means the only reason for a d ynamic export performance buoyed b y
strong global demand and the rapid industrialisation of China. But it has not hurt. Since
2002 – and contrary to normal behaviour during a lengthy expansion – the yen has fallen
about 15 per cent in real terms.
The weakening currency has made Japanese exports more competitive still and provided a
windfall for exporters booking profits in yen. That in turn has spurred investment in plant
and equipment. This week, strong first-quarter capital spending, up 13.6 per cent from a
year earlier for the 16th straight quarterly rise, helped ease recent concerns about weak
machinery order numbers.
As recently as March, some excitable voices had been predicting the end of the ride. As
global equity markets reeled there was talk of an end to the so-called carry trade, through
which investors sell yen to invest in higher- yielding currencies. If that money suddenly
flowed back, warned some doomsayers, the yen would strengthen overnight, damaging
Japan’s strongest growth engine.
That did not happen. After a short-lived rally, in which the yen strengthened to Y115 to the
dollar, the currency continued its genteel slide. On Tuesday, it was trading at about Y122
to the dollar and a record low of Y164.30 to the euro. JPMorgan predicts that, by
midsummer, the yen is likely to have weakened further, possibly reaching Y125 or Y126 to
the dollar.
“It’s a very benign environment for Japan right now,” says Masamichi Adachi, senior
economist at JPMorgan. “The US is recovering and the weakening yen is contributing to
higher profits. It is difficult to see the Japanese corporate sector losing momentum.”
There are two main reasons for optimism. The first relates to international interest rates.
Both the European and the US economies are fairly strong, making a near-term rate cut
unlikely. Interest rates in Japan are rising, but extremely slowly. Headline prices are
falling, making it hard for the central bank to fulfil its ambition of normalising interest
rates any time soon.
The bank may well raise rates one more time in late summer to a still modest 0.75 per cent.
But that is likely to be its last hurrah for several months. As a result, interest rate
174




differentials will remain wide, encouraging investors to move money from Japan in search
of more succulent opportunities abroad.
The second reason relates to political pressure. US and European manufacturers have
complained that the weak yen gives Japanese companies an unfair advantage. The issue
could come up on the margins of the Group of Eight meeting, which starts today in
Germany. But few commentators believe that complaints will gain any traction.
Richard Jerram, economist at Macquarie Securities, says: “Politically, Japan is very safe.
China is always going to be ahead of you in the queue of countries to complain about. So
the risk of a protectionist backlash seems very low.”
Mr Adachi at JPMorgan says: “As long as the movement of the currency is very gradual it
is very difficult for politicians to complain. We have a free currency market, totally
different from China. We are also facing deflation, so it is very difficult for counterparts to
put [an interest rate rise] on the table.” It is in no one’s interest to push Japan back into
recession.
Takatoshi Ito, a member of the cabinet’s council on fiscal and economic policy, says Japan
has not intervened in the foreign currency markets for more than three years, making
criticism of currency manipulation unconvincing. More­over, he says, the weak yen is not
the prime factor behind exports of Japanese products, many of which are manufactured in
the country of sale.
“Even if the yen were to appreciate tomorrow by 10 or 15 per cent, it would not provoke a
crisis,” he says. “It might dent the profits of exporters, but it would not be the end of the
world for the Japanese economy.” (851w)


FT 52- FT REPORT - AEROSPACE: The
honeymoon may be over
The briefest of honeymoons may already be over for the US airline industry, quite a feat
for a sector without even a marriage to celebrate.
No sooner had the industry chalked up its first profitable year since 2000 than executives
started offering gloomy predictions of emerging overcapacity as, forthe first time in five
years, all of the major carriers operated outside of bankruptcy protection.
"The big surprise was that there was any surprise," says Doug Parker, chairman and chief
executive of US Airways. The majors, reinvigorated with lower cost structures won
through the courts, are no longer shrinking, while domestic low-cost carriers (LCCs)
continue their own expansion, leaving capacity broadly flat after five years of shrinkage.
Mr Parker emerged as the US industry's defining figure over the past two years, first
combining his America West with a bankrupt US Airways and then launching an
audacious bid to create the world's largest airline by acquiring Delta Air Lines.
Delta fought off the bid, but the move triggered a frenzy of talks between the network
carriers and set the scene for another push towards consolidation, either during the next
cycle or when antitrust regulators signal such moves would win approval.
"I still think seats need to come out," says Mr Parker of the domestic market. The seats
have stopped coming out, at least in the domestic market, and are being quickly added in
the international arena as network carriers flex the advantage of their newly lowered costs
against overseas rivals.
175




The majors have survived another cycle without a liquidation, and their lower cost
structures have tempered the relentless march of the LCCs, some of whom are now
suffering growing pains of their own. JetBlue's operational problems triggered a political
debate over passenger rights, forcing the industry to fight a potentially unpopular battle
against a so-called "bill of rights".
"The network carriers have found a cost structure and a revenue situation that appears to be
sustainable," says Andrew Watterson at Oliver Wyman, though the pre-tax margin of just 1
per cent forecast for the industry this year remains paltry in terms of the capital needed for
fleet replacement.
After five years of relentless focus on cost reduction - exacerbated by a rise in fuel costs
which many executives now view as structural - US carriers are switching more attention
to the revenue side in a bid to improve profitability.
Even Southwest, for so long the poster-child of US aviation with its 60 quarters of
unbroken profitability, plans its own "transformation", borrowing a few ideas from Ryanair
and Easyjet. Southwest plans to boost non-flying sales, encouraging passengers to book
hotels and hire cars through its website, and experimenting with assigned seating and
inflight entertainment.
Mr Watterson notes that while US carriers have lagged behind international rivals in
"customer-facing" issues - such as lie-flat beds on longhaul routes - they have continued to
innovate on the cost side. Measures include more efficient flight planning to save fuel and
improve utilisation and deal with chronic congestion, as well as baggage handling systems
- the rate of lost baggage is half the level seen in Europe.
The network carriers are boosting international capa-city while keeping domestic flying
flat. Routes to Europe, Latin America and, above all, Asia, are experiencing double-digit
percentage gains in traffic and yields to offset the return of weakening conditions at home.
Not that the domestic market has prevented the arrival of new entrants such as Skybus, a
Ryanair clone, and the expected arrival of Virgin America after more than a year in
regulatory limbo.
The international push has been helped by some breakthroughs in the cats-cradle of
international treaties which govern the global aviation industry, notably the open skies deal
between the US and the European Union, and a doubling of capacity on routes to China.
The arrival of longer-range aircraft is also affording the chance to tap markets such as
India and the Middle East with direct services.
With the domestic market under control, despite the doom-mongering, and financial
markets keen to underwrite international expansion, the biggest question mark for US
airline executives remains their ability to manage labour relations.
Successive boom cycles have turned to bust with labour deals the industry was unable to
afford. Labour groups have started to intensify their campaign to "share the gain" of
profitability after their wage and benefit cuts in effect kept network carriers out of
liquidation.
The head of the largest pilots' union warns that US airline passengers face a summer of
cancellations and delays.
John Prater, the new president of the Air Line Pilots' Association, says carriers had cut too
many staff and stretched working rules to the limit over the past five years, with some
flight crew working 12- to 16-hour days.
"We have pilots that are far too tired to command aircraft," says Mr Prater. (804w)
176




PHỤ LỤC B:
Một số mẫu ngữ liệu tiếng Việt dùng để phân tích và
đối chiếu ẩn dụ ý niệm
SGT1- Cuộc chiến nhân sự: Thiệt kép thuộc về khối
quốc doanh
Sự tăng trưởng quá nóng của ngành ngân hàng đã đặt các ngân hàng trước rất nhiều thách
thức và nhân sự có lẽ là vấn đề đau đầu nhất.
Câu chuyện của hơn mười năm trước
Vào đầu thập niên 1990, khi các ngân hàng nước ngoài bắt đầu được hoạt động tại Việt
Nam, các ngân hàng thươ ng mại cổ phần (TMCP) mà tiền thân là các hợp tác xã tín dụng
còn lại sau đợt khủng hoảng các hợp tác xã tín dụng bắt đầu được thành lập, và khi các
ngân hàng chuyên doanh mà nay là các ngân hàng thương mại nhà nước (TMNN) bắt đầu
chuyển sang hoạt động thương mại thì sự cạnh tranh nói chung và cạnh tranh về nhân sự
cũng bắt đầu.
Ở thời điểm đó, nhiều ngườ i đã lo lắng về sự lấn lướt của các ngân hàng nước ngoài và sự
lớn lên của các ngân hàng TMCP sẽ gâ y tổn hại đến các ngân hàng TMNN, nhất là việc
mất cán bộ giỏi và khách hàng tốt.
Tuy nhiên, trước khi Hiệp định thươ ng mại Việt - Mỹ đ ược ký kết, dường như không có
điều gì xả y ra vì hoạt động của các ngân hàng nước ngoài bị hạn chế rất nhiều, trong khi
các ngân hàng TMCP lại rơi vào khủng hoảng. Trong thời kỳ nà y, lợi thế thuộc về các
ngân hàng TMNN, nhưng dường như cơ hội đã bị bỏ lỡ.
Câu chuyện của ngà y hôm nay
Chỉ trong vòng sáu năm (2001-2006), quy mô về tổng tài sản của hệ thống ngân hàng Việt
Nam đã tăng gần sáu lần và hàng ngàn điểm giao dịch mới đã được thành lập. Chỉ riêng
năm 2006, tổng tài sản của các ngân hàng đã tăng 33% và có đến 500 đ iểm giao dịch mới
ra đời mà chủ yếu thuộc các ngân hàng TMCP.
Xét riêng con số 500 nêu trên sẽ thấ y phần nào sự căng thẳng về nguồn nhân lực của hệ
thống ngân hàng. Tính bình quân một điểm giao dịch mới cần khoảng 10 người thì riêng
năm 2006 có đến 5.000 người được tuyển dụng để làm việc cho những đơn vị mới được
thành lập mà chưa kể phần gia tăng tại các trụ sở đã có.
Một điều đáng lưu ý là trong 10 ngườ i ở trên sẽ cần ít nhất năm ngườ i thạo việc để đảm
nhận các vị trí chủ chốt. Nhưng ai cũng biết, các ngân hàng TMCP lấy đâu ra người tại
chỗ, cách duy nhất là đi chiêu dụ từ những ngân hàng khác. Lúc này, các ngân hàng
TMNN thực sự là những “mỏ vàng quý giá ”. Điều này cho thấ y sự cạnh tranh lôi kéo
nhân sự, nhất là những người có chuyên môn giữa các ngân h àng đang thực sự nóng bỏng
và cuộc chiến nà y chắc chắn sẽ căng thẳng hơn sau ngà y 1-4 khi mà các ngân hàng nước
ngoài được phép thành lập ngân hàng mang quốc tịch Việt Nam với 100% vốn của họ (Cứ
nhìn cách mà một số ngân hàng nước ngoài như HSBC chẳng hạn lựa chọn và tuyển dụng
nhân sự thì các ngân hàng trong nước sẽ cảm nhận được sự khó khăn sẽ như thế nào).
Thiệt kép thuộc về các ngân hàng TMNN
Thông thườ ng, những người dám thay đổi công việc là những người năng động, tự tin và
làm được việc. Khi họ ra đi, xét một cách tương đối, nguồn nhân lực của các ngân hàng
TMNN sẽ yếu đi hai cấp. Thứ nhất là sự gia tăng đáng kể của tỷ lệ những người không
làm được việc so vớ i những người làm được việc. Thứ hai là sự mạnh lên tươ ng đối của
177




các đối thủ cạnh tranh khác. Nhưng câu chuyện không chỉ dừng lại ở đây.
Khi một số cán bộ của một ngân hàng sang làm việc cho một ngân hàng khác thì đồng
nghĩa với việc một số khách hàng tốt sẽ ra đi. Đây chính là điểm bất lợi kép thứ hai.
Mất cán bộ giỏi, mất khách hàng tốt, nên các ngân hàng TMNN phải dành nhiều thời gian
cho việc sắp xếp lại đội ngũ nhân sự, xử lý nợ xấu và khách hàng có vấn đề, hơn là quan
tâm đến những việc có tính chiến lược. Nếu điều này vẫn tiếp diễn trong một vài năm nữa
thì khả năng cạnh tranh của các ngân hàng TMNN sẽ giảm đi một cách đáng kể.

29/03/07
SGT 2- Khi nào cần đến quỹ đầu tư?
Trong số hơn 150.000 tài khoản đang tham gia giao dịch trên thị trường chứng khoán hiện
nay, chiếm đa số là của các nhà đầu tư cá nhân. Theo Tiến sĩ Thân Thị Thu Thủ y, Đ ại học
Kinh tế TPHCM, còn quá ít những nhà đầu tư có tổ chức, những qu ỹ đầu tư tài chính,
trong khi theo kinh nghiệm ở các nước, sự tham gia của các nhà đầu tư loại nà y mới là
nhân tố chính thúc đẩy thị trường chứng khoán vận hành một cách chuyên nghiệp.
Tham gia phát biểu tại hội thảo “Định hướ ng đầu tư chứng khoán” do báo Pháp Luật
TPHCM tổ chức vào cuối tuần trước, bà Thủ y cho rằng thị trường chứng khoán Việt Nam
trong giai đoạn sắp tới cần có thêm nhiều nhà đầu tư có tổ chức tham gia. Những nhà đầu
tư nhỏ, lẻ với nhiều hạn chế về tài chính, kiến thức, kinh nghiệm, có thể đầu tư thông qua
ủ y thác cho các qu ỹ để giảm thiểu rủi ro trên thị trường.
Mặt khác, đối với nhiều nhà đầu tư cá nhân mới tham gia thị trường chứng khoán, kinh
nghiệm còn ít thì trước hết cần đặt ra tiêu chí đầu tư an toàn. Tiêu chí nà y khá phù hợp vớ i
một trong những đặc điểm của qu ỹ đầu tư là đa dạng hóa danh mục đầu tư để phân tán rủi
ro. Theo tham khảo cơ cấu thu nhập danh mục đầu tư của Qu ỹ VF1 năm 2006: tài chính -
ngân hàng chiếm 29%, dầu khí 12%, hàng tiêu dùng 16%, cơ sở hạ tầng 11%, thực phẩm -
nước giải khát 9%... Theo cơ cấu danh mục đầu tư Quỹ VEIL: tài chính - ngân hàng chiếm
21%, thực phẩm - nước giải khát 15%, tiền gửi 11%, trái phiếu Chính phủ 15%... Ngoài ra,
theo bà Thủ y, các công ty qu ản lý qu ỹ có đội ngũ chuyên nghiệp, có khả năng phân tích và
đầu tư chứng khoán để có thể mang lại hiệu quả cao hơn so với nhà đầu tư cá nhân.
Thế nhưng, thực tế diễn ra trên thị trường khiến nhiều nhà đầu tư cá nhân hiện chưa quan
tâm nhiều đến các qu ỹ. Trước hết, cho đến nay vẫn chưa có nhiều qu ỹ mà nhà đầu tư trong
nước có thể chọn lựa, tham gia. Kế đến, hiện có hai qu ỹ đã niêm yết trên thị trường chứng
khoán là Quỹ VF1 và PRUBF1 thì theo một số nhà đầu tư phát biểu tại hội thảo, tốc độ
tăng thị giá của các chứng chỉ qu ỹ khá chậm khiến nhiều nhà đầu tư muốn “đánh nhanh,
rút nhanh” tỏ ra không mặn mà. Mặt khác, cũng theo các nhà đầu tư, các quỹ muốn thu hút
vốn đầu tư cần phải công khai thông tin tài chính, tài sản, lợi nhuận, cơ cấu đầu tư... không
chỉ cho ngườ i đã tham gia quỹ mà còn cho cả người đang có ý định hoặc chưa có ý định
đầu tư vào quỹ.
Giải thích về thị giá của chứng chỉ qu ỹ tăng không nhanh so với các loại cổ phiếu, ông
Dominic Scriven, Giám đốc Công ty Quản lý qu ỹ đầu tư Dr agon Capital, cho rằng các qu ỹ
khi thực hiện việc đầu tư thường chú ý đến phân tán rủi ro thông qua đa dạng hóa danh
mục đầu tư. Và có thể thấ y rằng khi thị trường đi lên thì các chứng chỉ qu ỹ khó lên giá vớ i
tốc độ bằng với các cổ phiếu, nhưng bù lại khi thị trường đi xuống thì có thể chứng chỉ qu ỹ
xuống giá chậm hơn cổ phiếu. Ông Scriven cũng cho rằng giá trị tài sản ròng được tạo ra
từ việc tăng giá của các cổ phiếu trong danh mục đầu tư và do đó phụ thuộc vào xu hướng
thị trường và tài năng của ngườ i qu ản lý qu ỹ. Tính theo mức tăng của VN-Index từ đầu
178




năm đến nay thì giá trị tài sản ròng của chứng chỉ Qu ỹ VF1 tăng cao hơn, như vậ y danh
mục đầu tư là tương đối phù hợp.
Chia đều để giảm rủi ro
Một chiến lược đầu tư chứng khoán được trang web Investopedia giới thiệu có thể giúp
các nhà đầu tư chứng khoán nước ta một công cụ phòng tránh rủi ro dễ thực hiện.
Nói ngắn gọn, bạn có một khoản tiền dự tính đầu tư vào thị trườ ng chứng khoán, thay vì
ném nguyên khoản tiền nà y vào thị trường, Investopedia khuyên nên chia nhỏ nó ra, và
đều đặn mua cổ phiếu ở một khoảng thời gian nhất định.
Ví dụ, bạn có 100 triệu đồng để đầu tư. Thay vì mua ngay 100 triệu đồng cổ phiếu, bạn
vạch kế hoạch mua trong năm tháng, mỗi tháng chỉ mua 20 triệu thôi. Tháng nào giá thấp
thì mua nhiều, tháng nào giá cao thì mua ít. Chẳng hạn thị trường tháng nà y thấp hơn
tháng trước, tức là cổ phiếu bạn mua tháng trướ c bị lỗ nhưng bù lại, bạn sẽ mua nhiều
hơn. Sẽ có người thắc mắc, liệu mua hết một lần khi giá thấp có phải là lợ i hơ n không?
Vấn đề là không ai biết lúc nào giá thấp nhất cả. Như vậ y tính bình quân cả năm tháng, số
lượng cổ phiếu bạn mua được sẽ có khả năng có giá thấp hơn trường hợp mua nguyên một
lần. Nói đúng hơn là xác suất giá thấp sẽ cao hơn và bạn không cần phải đau đầu suy nghĩ
nên mua hay không. Dĩ nhiên, kỹ thuật nà y (tên chuyên môn là DCA) chỉ phát huy tác
dụng trong một thị trường có lên có xuống, và xu hướ ng cả năm là lên chừng 15-20% như
đa số các thị trường quốc tế, chứ thị trường lên mãi hay tụt dốc mãi thì kỹ thuật nào cũng
bó tay.

SGT 7- Sôi động thu hút FDI
Việc thu hút nguồn vốn nước ngoài trong quí 1-2007 tỏ ra khá sôi động (tính đến ngà y 22-
3, cả nước có 196 dự án FDI được cấp giấ y phép với số vốn đăng ký trên 2 tỉ đô la M ỹ).
Có một điểm đáng chú ý là các nhà đầu tư đã bắt đầu hướng đến những lĩnh vực có tầm
ảnh hưởng lớn đến việc phát triển kinh tế của Việt Nam trong tương lai.
“Khi tôi đến gặp khách hàng là các nhà đầu tư đều bắt gặp họ đang thảo luận về cơ hội
đầu tư tại Việt Nam”, ông Peter Barge, Giám đốc phụ trách khu vực châu Á- Thái Bình
Dương của tập đoàn Tư vấn bất động sản Jones Lang LaSalle, nhấn mạnh lý do khiến tập
đoàn nà y vừa khai trương văn phòng đại diện đầu tiên của mình ở Việt Nam. Theo ông,
thị trường bất động sản đang sôi động trở lại và vị thế của Việt Nam ngà y càng được nâng
cao trong khu vực là những lý do chính thúc đẩy Jones Lang LaSalle mở rộng hoạt động
tại Việt Nam. Công ty quản lý qu ỹ của tập đoàn là LaSalle Investment Management đang
quản lý một lượng tài sản trị giá 44 tỉ đô la M ỹ ở khu vực châu Á. “Với lợi thế về nguồn
vốn nà y, chúng tôi đã quyết định đầu tư quy mô lớn vào thị trường Việt Nam nhằm đón
đầu cơ hội dòng chả y đầu tư nước ngoài đang ngà y càng tăng cao”, ông Barge nói.
Không chỉ Jones Lang LaSalle mà hiện có nhiều nhà đ ầu tư lạc quan về thị trường bất
động sản Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề khó khăn hiện nay đối với nhà đầu tư là tìm được
những khu đất có vị trí tốt để phát triển dự án. Chẳng hạn, các nhà đầu tư Nhật Bản - tập
đoàn Riviera và Công ty Tài chính CSK Finance - đã có một cuộc chạy đua quyết liệt với
tập đoàn Keangnam của Hàn Quốc để được chọn làm chủ đầu tư dự án khách sạn 5 sao tại
khu công viên Văn hóa thể thao Tây Nam Mễ Trì, Hà Nội. Cuối cùng các nhà đầu tư của
Nhật đã giành được dự án với số vốn đầu tư ít nhất cũng đạt 500 triệu đô la M ỹ. Các nhà
đầu tư Nhật còn cam kết sẽ tiếp tục đầu tư thêm ba dự án bất động sản khác tại Hà Nội với
số vốn đầu tư tăng thêm đến 500 triệu đô la M ỹ. Trong khi đó, Keangnam dù không giành
được dự án nói trên nhưng cũng tạm hài lòng với giấ y phép đầu tư dự án khách sạn 5 sao,
179




trung tâm thương mại - văn phòng và căn hộ cao cấp tại khu đô thị mớ i Cầu Giấ y trị giá
500 triệu đô la.
Mặc dù những tháng đầu năm nay TPHCM không thu hút được nhiều dự án khách sạn,
cao ốc lớn như Hà Nội, nhưng những dự án xâ y dựng khu dân cư, đô thị mới, rất được các
nhà đầu tư quan tâm. Điển hình là việc tập đoàn SP Setia BHD của Malaysia đang tìm
kiếm địa điểm để phát triển khu dân cư cao cấp có quy mô lớ n. Trong khi đó, GS E&C
của Hàn Quốc thì đang trìn h dự án xâ y dựng khu đô thị mới Nhà Bè vớ i số vốn khoảng
190 triệu đô la M ỹ.
Cảng, điện cũng nóng
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong số các dự án lớn đang chờ xem xét, có một điểm đáng
chú ý là các nhà đầu tư đã đi vào những lĩnh vực mà trước đây được xem là “sân chơi”
của doanh nghiệp nhà nước.
Trong lĩnh vực cảng biển, tình hình đầu tư đang diễn ra sôi động hơ n bao giờ hết, nhất là
ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Từ cuối năm ngoái và đầu năm nay, nhiều liên
doanh xâ y dựng cảng biển đã hình thành và đư ợc cấp phép với số vốn đăng ký lên đến
hàng trăm triệu đô la M ỹ mỗi dự án. Có thể kể ra hàng loạt tên tuổi lớn như P&O Ports -
Dubai World của Anh và các Tiểu vương quốc Ảrập thống nhất, Hutchison Ports của
Hồng Kông, PSA của Singapore, APM Terminal của Đan Mạch, SSA Marine của M ỹ...
Các nhà đầu tư này cam kết sẽ đầu tư những cảng biển Việt Nam hiện đại không kém các
cảng mà họ đang khai thác trên thế giới.
Khu vực miền Trung cũng được đánh giá là có nhiều tiềm năng để phát triển hệ thống
cảng biển lớ n. Mới đây, tập đoàn Sumitomo của Nhật, hiện đã có hơn 25 dự án đầu tư ở
Việt Nam, đã đề nghị tỉnh Khánh Hòa cho xâ y dựng và khai thác cảng trung chuyển
container quốc tế tại khu kinh tế vịnh Vân Phong với số vốn từ 200-250 triệu đô la M ỹ.
SGT 11- Ngân hàng đối phó với chứng khoán và hội nhập
Sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK) trong thờ i gian qua đang dẫn đến xu
hướ ng chuyển dịch dòng tiền từ gửi tiết kiệm sang đầu tư chứng khoán. Điều nà y đang ảnh
hưở ng trực tiếp đến kênh huy động vốn đầu vào từ dân cư của các ngân hàng. Bên cạnh đó,
đối với các doanh nghiệp lâu nay chỉ quen với khái niệm đến ngân hàng để vay vốn hoạt
động thì nay có thêm một kênh huy động vốn trung và dài hạn qua thị trường chứng khoán.
Rõ ràng, sức hút của thị trường chứng khoán đối với các doanh nghiệp và nhà đầu tư cá
nhân đang gâ y một ảnh hưở ng không nhỏ đối với thị trường vốn ngắn hạn và cả trung hạn,
dài hạn tại các ngân hàng.
Song song với sự cạnh tranh từ TTCK, ngành ngân hàng cũng đang đứng trước áp lực cạnh
tranh ngà y một lớn từ các cam kết mở cửa thị trường tài chính, ngân hàng sau khi đã là
thành viên của WTO. Trước thực tế đó, các ngân hàng cần phải xác định và xâ y dựng một
định hướ ng phát triển mang tính chiến lược và lâu dài, hơ n là chạ y theo những chỉ tiêu lợ i
nhuận trước mắt.
Lợi nhuận là ngắn hạn, thị phần là vĩnh viễn
Hiện chỉ có khoảng 8% trong hơn 85 triệu dân số Việt Nam sử dụng các dịch vụ tài chính
ngân hàng và khoảng 95% giao dịch thanh toán tại Việt Nam là dùng tiền mặt. Bên cạnh
đó, Việt Nam là một quốc gia có dân số đông và trẻ. Cho nên có thể nói, tiềm năng cho
ngành ngân hàng tại Việt Nam là rất lớn.
Tuy nhiên, có một thực tế là hiện nay, gần 50% doanh thu hoạt động của đại đa số ngân
hàng tại Việt Nam đến từ các khu vực đô thị lớ n như TPHCM, Hà Nội... Thêm vào đó, các
ngân hàng nước ngoài khi đặt chân đến Việt Nam lần đầu cũng thườ ng chọn các đô thị lớ n
180




để dừng chân cho chặng đầu tiên. Việc chỉ tập trung vào các “ vùng trũng” nà y đã tạo ra áp
lực gay gắt về thị phần, nhân lực, và dẫn đến những cạnh tranh không lành mạnh, chất
lượng hoạt động và tính ổn định tăng trưở ng không cao, như đẩy lãi suất huy động lên cao,
đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng tín dụng, dẫn đến tình trạng tăng trưởng nóng...
Chính vì thế, việc mở rộng mạng lưới đến các thị tứ, các đô thị loại 2 tại các tỉnh thành để
chiếm lĩnh thị phần phải là ưu tiên số một của các ngân hàng trong thời kỳ hội nhập.
Phương châm kinh doanh “lợi nhuận là ngắn hạn, thị phần là vĩnh viễn” cần được thực
hiện triệt để.
Chuyên nghiệp hóa các hoạt động ngân hàng
Trước đây, khi thị trường vốn chưa phát triển, t ỷ lệ cho vay trên huy động vốn của các
ngân hàng là khá cao, do ngân hàng chủ yếu tập trung vào nghiệp vụ cho vay. Nhưng thời
gian gần đây, t ỷ lệ nà y có xu hướng giảm còn khoảng 50-60% bởi các ngân hàng đã nhanh
chóng chớp lấy thờ i cơ tăng trưởng nóng của thờ i kỳ sơ phát của thị trường vốn để tham
gia đầu tư rất lớn vào thị trường nà y. Mặc dù gần đây Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban
Chứng khoán Nhà nước đã kịp thờ i có những biện pháp nhằm hạn chế tình trạng nà y, một
số ngân hàng vẫn tìm cách đầu tư vào thị trường vốn đang được cho là tiếp tục tăng trưởng
trên 100% trong năm nay. Giả sử, có những biến cố xả y ra với thị trường vốn thì ngành
ngân hàng sẽ đứng trước rất nhiều rủi ro, lúc nà y “hiệu ứng domino” sẽ lập t ức phát huy
tác dụng, nền kinh tế mới trỗi dậy và vẫn còn rất non trẻ của Việt Nam sẽ khó khăn khi
chống chọi vớ i những đợt khủng hoảng như vậ y.
Vì thế, để tránh những rủi ro và nguy cơ tiềm ẩn như đã đề cập trên, các ngân hàng phả i
chuyên nghiệp hóa hoạt động đầu tư thông qua việc thành lập công ty chứng khoán và
công ty quản lý qu ỹ đầu tư. Việc làm nà y cũng tạo ra tiền đề giúp cho TTCK đi vào hoạt
động một cách chuyên nghiệp. Khi đó, các nhà đầu tư nhỏ lẻ có thể ủ y thác vốn và tham
gia vào thị trường đầu tư bằng cách mua các chứng chỉ qu ỹ. Và đến lượt công ty chứng
khoán tham gia và thể hiện vai trò của mình như là một ngân hàng đầu tư ở chỗ thực hiện
tư vấn, môi giới, lưu ký và b ảo lãnh phát hành... Điều nà y không những giúp giảm thiểu số
lượng những nhà đầu tư nhỏ lẻ mà còn tạo ra kênh huy động vốn trung và dài hạn để bù
đắp sự thiếu hụt của nguồn vốn huy động tiết kiệm đầu vào tại ngân hàng.
Ngoài ra, các ngân hàng cũng cần chuyên nghiệp hóa các hoạt động kinh doanh khác như
thuê mua tài chính, quản lý nợ, khai thác tài sản, dịch vụ thẻ, kiều hối... để hỗ trợ cho việc
đầu tư mở rộng mạng lưới một cách nhanh chóng nhưng không làm ảnh hưở ng đến việc
tăng cao tỷ lệ vốn bất khả dụng của ngân hàng. Vớ i định hướng nà y, mỗi ngân hàng sẽ phát
triển và dần tiến đ ến quy mô hoạt động của một tập đoàn tài chính.
Tuy nhiên sự phát triển của ngành ngân hàng không thể thiếu sự tham gia ủng hộ và tạo ra
những cơ chế để hỗ trợ của Chính phủ. Việc Ngân hàng Nhà nước đang có chủ trương tăng
số vốn chủ sở hữu cần thiết cho việc mở rộng mạng lưới từ 20 tỉ đồng/một chi nhánh lên
đến 70 tỉ đồng/một chi nhánh là một vấn đề rất nan giải cho cho các ngân hàng muốn
nhanh chóng mở rộng mạng lưới. Ngoài ra, Chính phủ cần tạo ra những cơ chế mà tự nó sẽ
có tác dụng hỗ trợ ngành ngân hà ng rất lớn, như việc ban hành quy định doanh nghiệp và
cá nhân giao dịch qua ngân hàng, ưu đãi trong việc quản lý thuế cho các doanh nghiệp có
tỷ lệ giao dịch qua ngân hàng cao, không chấp nhận những khoản chi phí hay những giao
dịch lớ n không thông qua ngân hàng...
181




SGT 15- Hai diểm yếu
Mặc dù hầu hết các nhà đầu tư kinh doanh bất động sản trong nước đều tỏ ra lo ngại trước
sự “ lấn sân” của giớ i đầu tư nước ngoài đang có thế mạnh về tài chính và giàu về kinh
nghiệm, nhưng cho đến nay, vẫn chưa thấ y một động thái nào cho việc liên minh hợp tác
đầu tư.
Các chuyên gia cảnh báo rằng, trước làn sóng đầu tư nước ngoài vào thị trường bất động
sản, các doanh nghiệp trong nước nếu không hợp tác vớ i nhau để nâng cao năng lực cạnh
tranh sẽ không tránh khỏi nguy cơ bị loại khỏi thị trường.
Tại hội nghị “Định hướng phát triển thị trường bất động sản TPHCM” vừa diễn ra hồi
cuối tuần qua, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường Mai Ái Trực khẳng định rõ các quy
định quản lý đất đai của Nhà nước không nhằm phục vụ cho việc mua bán đất mà nhằm
khuyến khích phát triển các loại hình tài sản trên đất. Nhà đầu tư nào có chiến lược căn
cơ, dài hạn sẽ không e ngại chuyện thị trường đóng băng. Những sản phẩm nào càng có
chất lượng tốt, phù hợp với yêu cầu phát triển sẽ càng được tr ân trọng. Ông Trực khuyên
những ai chỉ nhắm đến đầu tư ngắn hạn thì đừng nên tham gia vào thị trường bất động
sản.
Nếu nhìn ở góc độ tiềm lực tài chính, quan điểm quản lý nà y có vẻ thuận lợ i hơn cho các
nhà đầu tư nước ngoài đang sẵn nguồn tiền. Nó cũng phần nào lý giải cho việc thị trường
thời gian qua luôn “sôi động” ở dòng vốn đầu tư nước ngoài với những “dự án tốt”, “dự
án đẹp” nhưng lại khá “trầm lắng” ở phân nhánh đầu tư trong nước.
Theo ông Nguyễn Đăng Sơn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu đô thị và p hát triển hạ
tầng, trong khi các nước trong khu vực đã hình thành nhiều tập đoàn ủ y thác đầu tư bất
động sản, như con đường tất yếu phục vụ cho hoạt động kinh doanh thờ i hội nhập, thì các
doanh nghiệp trong nước gần như chưa thể hiện được tầm nhìn đối với việc cần thiết phải
liên minh, hợp tác. Trong phát biểu của mình với các doanh nghiệp, Bộ trưởng Mai Ái
Trực đã phê phán mạnh mẽ mặt yếu kém trong tinh thần hợp tác của giớ i doanh nhân
trong nước. Ông Lê Quang Trung, Phó ban Quản lý Khu công nghệ cao TPHCM trong
tham luận tại một hội thảo về thị trường bất động sản mới đây cũng đã đưa ra nhận xét về
số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh bất động sản tuy rất đông nhưng phần lớn đều có
quy mô vốn nhỏ, không phù hợp với yêu cầu của thị trường. Ông nói : “Bản thân các
doanh nghiệp cần nhanh chóng thay đổi tập quán kinh doanh đơn lẻ, phân tán để liên minh
lại với nhau mới mong có sức mạnh đối diện với sự cạnh tranh mang tầm vóc mới của thị
trường hiện nay”.
Bên cạnh đó, ông Sơn còn kiến nghị Chính phủ nhanh chóng c ó hành lang pháp lý để khai
thông thị trường tài chính cho lĩnh vực bất động sản. Ông cho rằng các chính sách hỗ trợ
tài chính hiện nay hầu như chưa có gì ngoài những khoản vay ngắn hạn từ ngân hàng.
Trong khi ngay trên “sân nhà”, một công ty nướ c ngoài đang đề nghị với chính quyền
TPHCM cho thành lập công ty cổ phần phát triển khu đô thị Thủ Thiêm (với 55% vốn nhà
nước bằng quyền sử dụng đất) và đưa công ty này lên sàn chứng khoán để thu hút một
lượng vốn dự kiến hàng tỉ đô la. Mặt khác, ông cũng nhận xét các ngân hàng chưa thực sự
nhập cuộc, các định chế tài chính trong nước vẫn còn... “án binh bất động”.
Có vẻ như cả giới đầu tư kinh doanh địa ốc lẫn giới nghiên cứu thị trường, ai cũng nóng
lòng trông chờ những giải pháp liên thông thị trường tài chính v ới thị trường bất động sản.
Ở góc độ nhà quản lý, Bộ trưởng Mai Ái Trực cũng nêu quan điểm cá nhân: “Chừng nào
còn chưa có cơ chế hình thành thị trường vốn dài hạn cho bất động sản thì bài toán vốn
dành cho nhà đầu tư vẫn còn trong vòng nan giải”.
182




SGT 16- Đi tim Gót chân Achilles 8/03/07
Tính thần thoại của “con heo vàng” nằm trong sự bất ngờ: thị phần vốn buộc phải “ngủ”
bao nhiêu năm nay trong thị trường vốn nước ta lớn hơn rất nhiều so vớ i nhận thức của
người làm chính sách vĩ mô cũng như của giới kinh doanh.
Sự bất ngờ nà y cho thấ y “cầu” về mở mang các hoạt động kinh doanh mới trong thờ i gian
qua ngà y càng lớn hơn rất nhiều so với “cung”. Nền kinh tế đã “ lớ n” lên rất nhiều mà vẫn
bị bó lại trong bộ quần áo “thiếu nhi”. Tất cả nói lên những bất cập về chính sách kinh tế vĩ
mô, về quản lý và thể chế, về kết cấu hạ tầng, về thị trường vốn, và về nhiều mặt khác. Tất
cả còn chứng minh sự lãng phí to lớn về nguồn lực đang tồn tại trong nền kinh tế nước ta,
sự lãng phí về cơ hội trong những năm qua.
Mô tả hiện tượng nói trên vớ i ngôn ngữ tích cực: tất cả nói lên những nguồn lực to lớn của
đất nước chưa được đánh thức và cơ hội đang đến cần được khai thác mạnh mẽ. Nền kinh
tế nước ta hoàn toàn có khả năng và đang có cơ hội bứt phá lên một nền kinh tế mới, nếu...
Riêng một chữ “nếu” nà y hoàn toàn xứng đáng cho sự ngẫm nghĩ lao lung!
Phải chờ đến những tháng cuối năm 2006 trở lại đây - khi những thành tựu kinh tế và
những nỗ lực cải cách nổi bật phát huy tác dụng, mà đỉnh cao là Việt Nam trở thành thành
viên của WTO, Việt Nam là thị trường có sức hấp dẫn cao nguồn vốn đầu tư trực tiếp và
các nguồn tài chính khác - thì thị trường chứng khoán nước ta mớ i bộc phát - một hiện
tượng phản ánh một sức sống năng động tiềm ẩn lâu nay trong nền kinh tế, chỉ còn chờ
đường dẫn và tìm được cơ hội là bung ra.
Khối lượng tiền tham gia thị trường chứng khoán cho thấ y nguồn vốn trong nền kinh tế
nước ta lớ n lắm. Sự tích lũ y của cải từ những thành tựu kinh tế cả nước, sự tích lũ y của cải
trong khu vực kinh tế tư nhân trong 20 năm đổi mới, sự tham gia ngà y càng nhiều của thị
trường bất động sản vào thị trường vốn, nguồn kiều hối hàng năm và những nguồn vố n
khác của ngườ i Việt ở nước ngoài về nước làm ăn, thị phần của FDI và các nguồn tài chính
nước ngoài khác tham gia với xu thế ngà y cà ng tăng vào thị trường vốn nước ta, vòng quay
của vốn ngà y càng tăng... Đồng thời cái “boom” siêu nóng cũng cho thấ y nền kinh tế nước
ta đang thiếu gay gắt cơ hội đầu tư cho những hoạt động kinh doanh mới - bởi vì theo quy
luật tự nhiên vốn không bao giờ c hịu ngủ ngoại trừ nó bị cưỡng bức phải ngủ.
Có lẽ kinh tế giống với sinh học ở chỗ: cả hai đều phải đối mặt với các bệnh lâ y lan từ
những siêu virus lạ hoặc khó chống.
Nguy cơ thụ bệnh trực tiếp nhất là môi trường “tiền thật, nhưng giá trị có thể là ảo... ” mà
TTCK nước nào cũng phải tiếp cận và sống trong nó.
Cầu quá lớn so với cung. Lượ ng cổ phiếu đem bán nhìn chung quá ít so với khả năng mua.
Tình hình nà y đẻ ra lợi nhuận ngà y càng siêu nóng, kích thích hiệu ứng bầ y đàn: trên sà n
có gì là đua nhau mua sạch, bán sạch... Nhiễu thông tin, chất lượ ng thông tin thấp đang làm
cho hiệu ứng bầ y đàn tích tụ khả năng vỡ bong bóng - nhất là một khi xả y ra tin đồn nhảm,
một vụ lừa đảo, một ngân hàng vỡ nợ, một cú sốc từ bên ngoài... Mặc dù có sự cảnh báo và
kiểm tra thườ ng xuyên, song vẫn chưa rõ nguồn tiền từ các ngân hàng thươ ng mại được
huy động tham gia TTCK đến mức nào. Hiện nay tình hình mọi mặt vẫn đang trong tầm
kiểm soát. Tuy nhiên, chất lượng của các công ty môi giớ i chứng khoán còn là vấn đề phải
được soi rọi gắt gao hơn nữa. Đặc biệt là tình hình đòi hỏi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
(UBCKNN) phải nâng cao năng lực điều hành vĩ mô và dự báo kịp thời. Tất cả nhằm tạo ra
tính công khai minh bạch cần thiết và sự hoạt động hữu hiệu của pháp luật trên TTCK, ngõ
hầu đủ sức hướng dẫn thị trường vận động theo những tín hiệu đúng.
183




SGT 31- "Cất cánh kinh tế" và "ra khơi"
Một con tàu ra khơi, có biết bao nhiêu câu hỏi: Thuyền trưởng, thủ y thủ đoàn và đội ngũ
sĩ quan chỉ huy như thế nào? Tàu nhổ neo từ đâu, dự trù đến bến nào, khi nào đến? Thờ i
tiết, má y móc, thiết bị, nhiên liệu... ra sao? Song, câu hỏi cơ bản và thườ ng xuyên là: con
tàu đang ở đâu? Không trả lời chính xác câu hỏi này sẽ là thảm họa lạc đường...
“Con tàu” Việt Nam “ra khơi” cũng thế. Mười sáu năm trước, khi các nhà đầu tư nước
ngoài rải rác bước vào, đã rộ lên từ ngữ “cất cánh kinh tế”. Nay là một làn sóng đầu tư
mới nữa. Trước giờ phút bắt đầu “hạ thủ y”, thực thi những cam kết WTO, ít nhất cũng
cần xác định rõ con tàu Việt Nam đang ở đâu trong quá trình phát triển, để có thể từ đó
định hướ ng và nắm chắc la bàn để bẻ bánh lái đúng hướng.
Câu trả lời đầu tiên là từ lý thuyết về các giai đoạn tăng trưởng. Một xã hội hiện đại thành
hình lần lượt qua năm giai đoạn:
- Xã hội truyền thống, trong đó 75% dân số sinh sống ở nông thôn; tri thức khoa học kỹ
thuật tác động không nhiều đến sản xuất và năng suất nông nghiệp; quan hệ buôn bán phát
triển kém do hệ thống sản xuất hướng đến tự cung tự cấp chứ không hướ ng đến trao đổi
thương mại. Đặc tính của loại xã hội nà y là sự trì trệ kinh tế.
- Giai đoạn tiền - cất cánh trong đó cơ sở hạ tầng xã hội-kinh tế phát triển cho phép
chuyển từ một xã hội hướ ng nông nghiệp sang một xã hội hướng công nghiệp, sản xuất
nông nghiệp phát triển dẫn đến thặng dư nông sản, cho phép cung ứng tài chính cho quá
trình công nghiệp hóa và chuẩn bị thị trường cho các sản phẩm công nghiệp. Tư duy “tự
mình dấn thân làm ăn” chính là nền tảng cho sự cất cánh kinh tế của xã hội đó.
- Giai đoạn cất cánh, trong đó tỷ lệ đầu tư cho sản xuất từ trên 5% GDP tăng lên trên 10%;
một hay nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn được thành lập, do tỷ lệ tăng trưởng cao và
tác động lôi kéo quan trọng (các ngành khác), mà đóng vai trò đầu tàu.
- Giai đoạn tiến đến trưởng thành trong đó tỷ lệ đầu tư cho sản xuất đến trên 20% GDP;
các ngành công nghiệp truyền thống như dệt may, nông lương thực nhường chỗ cho các
ngành công nghiệp mới năng động hơ n như hóa dầu... vốn cho phép đóng vai trò đầu tàu
trong việc tiếp tục tăng trưởng; phát triển và mở rộng các khu vực cô ng nghiệp và dịch vụ
thay cho khu vực đệ nhất đẳng (khai thác thô nguyên liệu).
- Xã hội trưởng thành trong đó xã hội sản xuất chuyển qua xã hội tiêu thụ và chú trọng
đến “thụ hưởng xã hội”, xã hội có khả năng thiết đặt các cơ chế xã hội dự phòng, thay đổi
thành phần nhân lực (đông người làm văn phòng và chuyên môn hơn)(*)...
Tất nhiên, có thể không đồng ý với lý thuyết nà y trong góc độ diễn biến lịch sử. Nếu chỉ
xét riêng tính chất “tuyến tính” một cách cứng ngắc của lý thuyết nà y, cũng có thể dè dặt
đôi chút do lẽ mỗi xã hội có thể vừa chứa một số yếu tố của giai đoạn nà y, vừa chứa một
số yếu tố của giai đoạn kia. Song, nếu tạm xét trên một số thông số cơ bản như t ỷ lệ dân
số nông thôn, sản xuất nông nghiệp, đầu tư, cơ cấu công nghiệp..., thì cũng có thể t ạm
thấ y cho đến năm nào xã hội Việt Nam vẫn còn là một “xã hội truyền thống”, từ năm nào
nông nghiệp thặng dư cho phép chuyển sang giai đoạn tiền - cất cánh, và nay đang ở đâu
trong quá trình phát triển. Đối chiếu với năm thang bậc phát triển của Rostow, có thể tạm
chấp nhận Việt Nam đang ở trong những năm đầu của giai đoạn cất cánh kinh tế.
Nhật báo Le Monde số ra ngà y 14-4-2006 cũng đã xác định tọa độ của con tàu Việt Nam
như sau: “Sự cất cánh kinh tế của Việt Nam, từ sáu năm qua, được thể hiện bằng một tỷ lệ
tăng trưởng là 8,4%... Song, từ một cái nhìn tương đối, tỷ lệ tăng trưởng nà y là do được
tính từ một điểm xuất phát mà, nếu căn cứ trên dân số 82 triệu người, mới chỉ tương
đương với một tỉnh vào hạng trung bình của Trung Quốc ở mức độ phát triển cách đây 15
hay 20 năm”.
184

Top Download Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao Học

Xem thêm »

Tài Liệu Thạc Sĩ - Tiến Sĩ - Cao học Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản