Luận văn tốt nghiệp “Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách”

Chia sẻ: Trung Tri | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:133

0
331
lượt xem
137
download

Luận văn tốt nghiệp “Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chúng ta đang sống trong thời đại mà KH - KT và công nghệ phát triển như vũ bão, xu thế hội nhập và quốc tế hoá đời sống KT -XH ngày càng trở thành một nhu cầu tất yếu nhất là từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 với chủ trương chính sách đổi mới và mở cửa nền kinh tế, chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đã tạo những bước chuyển...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp “Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách”

  1. Khoá luận tốt nghiệp oOo TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG * * * * * * KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA HÀNG KHÔNG VIỆT NAM ĐỐI VỚI HÀNH LÝ, HÀNG HOÁ VÀ TƯ TRANG CỦA HÀNH KHÁCH. SINH VIÊN THỰC HIỆN : Lê Văn Lân GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : PGS. TS. Nguyễn Như Tiến Hà Nội, năm 2003 Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 1
  2. Khoá luận tốt nghiệp oOo MỤC LỤC Lời nói đầu Lời cảm ơn Những từ viết tắt trong khoá luận Chương I: Khái quát về BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách…………...........……........................1 I. Khái niệm và đặc điểm của BHTNDS............…...............…….................1 I.1. Khái niệm và đặc điểm của BHTNDS.........................................................1 I.2. Những rủi ro thường gặp phát sinh TNDS của hãng hàng không…......…10 I.3. Vai trò và tính tất yếu của BHHK.................................................……....13 II. Các loại hình BHTNDS của hãng hàng không…..................................16 II.1. BHTNDS của hãng hàng không đối với hành khách….......................… 16 II.2.BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách……………...............................................................................…16 II.3. BHTNDS của hãng hàng không đối với người thứ 3……........................19 II.4. BHTNDS của chủ sân bay và người điều hành bay........……..................19 III. Nội dung BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách……………......................................................20 Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 2
  3. Khoá luận tốt nghiệp oOo III.1. Người được bảo hiểm và người được bồi thường……............................20 III.2. Đối tượng bảo hiểm..................................................…......................... 20 III.3. Phương thức bảo hiểm.....................................................…..............….21 III.4. Phạm vi bảo hiểm và loại trừ bảo hiểm...............................…........…....22 III.5. Số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm............…......…......25 III.6. Giám định tổn thất, xác định thiệt hại và giải quyết bồi thường…........28 Chương II: Thực trạng nghiệp vụ BHTNDS của HKVN đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách…………….....................................33 I. Sự ra đời và phát triển BHTNDS của HKVNđối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách............…………………..................................33 I.1. Khái quát về TCTHKVN..................................……………….................33 I.2. Hoạt động bảo hiểm của HKVN giai đoạn từ 1995 trở về trước…...........37 I.3. Hoạt động bảo hiểm của HKVN giai đoạn từ 1995 đến nay.....................38 II. Cơ sở pháp lý BHTNDS của HKVN..............................................…….43 II.1. Các công ước và điều ước quốc tế…........................................................45 II.2. Các văn bản pháp luật của Việt Nam ...................................…...............49 III. Thực trạng BHTNDS của HKVN đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách..……………..............................................................58 III.1. Phí bảo hiểm.................................................................……..................58 Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 3
  4. Khoá luận tốt nghiệp oOo III.1.1. Phí BHTNDS của HKVNđối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách................................................………….......................................58 III.1.2. Phí BHTNDS của HKVNđối với hành lý, hàng hoá dưới mức miễn thường ........................................................…….............................................63 III.2. Công tác giám định và đánh giá thiệt hại.............….......…...................64 III.3. Công tác bồi thường................................................…............................67 III.4. Hạn mức trách nhiệm............................…….........................................75 III.5. Công tác ĐP & HCTT................................................…........................77 Chương III: Một số vấn đề cần lưu ý về BHTNDS của HKVN đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách......…………….................83 I. Về phía Nhà nước ...............................................................................…...83 II. Về phía TCTHKVN.......................................…......................................84 III. Về phía công ty bảo hiểm............................................................……...92 IV. Về phía người thứ 3...............................................................…..............94 Lời kết Tài liệu tham khảo Phục lục I Phụ lục II Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 4
  5. Khoá luận tốt nghiệp oOo LỜI NÓI ĐẦU Chúng ta đang sống trong thời đại mà KH - KT và công nghệ phát triển như vũ bão, xu thế hội nhập và quốc tế hoá đời sống KT -XH ngày càng trở thành một nhu cầu tất yếu nhất là từ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 với chủ trương chính sách đổi mới và mở cửa nền kinh tế, chuyển từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đã tạo những bước chuyển biến tích cực cả về mặt KT – XH ở nước ta. Đóng góp vào thành công chung đó, trong những năm gần đây ngành HKDD đã tự khẳng định mình là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn đại diện cho phương thức vận tải tiên tiến và hiện đại nhất, ngày càng đóng vai trò to lớn và có ảnh hưởng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng của Đất nước. Hàng không là một ngành có khối lượng vốn đầu tư khổng lồ tới hàng chục hàng trăm tỉ đô la Mĩ. Theo thống kê thì xác suất xảy ra rủi ro là nhất nhỏ có thể tính trên một phần tỉ, nhưng khi xảy ra rủi ro thì mức độ cực kỳ nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn hậu quả là ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành. Bên cạnh việc vận tải hành khách, hành lý, hàng hoá...bằng đường hàng không là hoạt động thường xuyên và đem lại lợi nhuận cho các hãng hàng không thì những thiệt hại về hành khách, hành lý, hàng hoá...xảy ra ảnh hưởng không những đến chính đối tượng bị thiệt hại mà còn ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng của hãng hàng không. Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 5
  6. Khoá luận tốt nghiệp oOo Chính vì vậy, Luật pháp quốc tế cũng như Luật pháp của từng quốc gia đều có qui định về trách nhiệm dân sự phải bồi thường của hãng hàng không đối với những rủi ro gây thiệt hại đến hành lý, hàng hoá, và tư trang của hành khách. Vậy các hãng không phải làm thế nào để giải quyết ổn thoả vấn đề trên mà vẫn phải đảm bảo hoạt động kinh doanh được tiến hành bình thường, liên tục? Để trả lời câu hỏi trên các hãng hàng không trên thế giới nói chung và HKVN nói riêng đã và đang áp dụng rất nhiều biện pháp nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro, nhưng một trong những biện pháp được coi là hiệu quả nhất đó chính là “Bảo hiểm”. Bảo hiểm có vai trò quan trọng đối với hoạt động vận tải hàng không nói chung và đặc biệt là BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách nói riêng. Qua thời gian học tập tại Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội và công tác tại TCTHKVN nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của Bảo hiểm. Em mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách” với mục đích đi sâu tìm hiểu, phân tích, tổng hợp và đánh giá BHTNDS của hãng hàng không, từ đó rút ra một số vấn đề cần lưu ý về loại hình Bảo hiểm này tại TCTHKVN. Khoá luận này, ngoài phần Lời nói đầu, Lời cảm ơn, Những từ viết tắt trong bài, Lời kết, Tài liệu tham khảo, Phụ lục 1, Phụ lục 2, bao gồm 3 chương với những nội dung cơ bản sau: Chương I: Khái quát về BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách. Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 6
  7. Khoá luận tốt nghiệp oOo Chương II: Thực trạng BHTNDS của hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách. Chương III: Một số vấn đề cần lưu lý về BHTNDS của HKVN đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách. Do điều kiện thời gian và trình độ còn hạn chế, chắc chắn Khoá luận này không tránh khỏi những thiếu sót mặc dù đã có nhiều cố gắng, vì luận văn đề cập tới một lĩnh vực khá phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề chuyên môn. Người viết hi vọng rằng sẽ nhận được sự chỉ bảo, góp ý, bổ sung của thầy cô giáo và bạn đọc nhằm giúp cho khoá luận này được hoàn thiện hơn./. Hà Nội, ngày 16 tháng 04 năm 2003 Lê Văn Lân Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 7
  8. Khoá luận tốt nghiệp oOo LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khoá học nói chung và khoá luận tốt nghiệp nói riêng. Ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân trước hết em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Như Tiến người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện khoá luận này. Ban giám hiệu nhà trường đã tổ chức khoá học để em có cơ hội để học hỏi và mở mang tri thức của mình. Hy vọng trong tương lai gần em lại có cơ hội để tham gia những khoá học cao hơn tại trường. Các thầy cô giáo đã trực tiếp dạy dỗ chúng em qua những môn học nhằm trang bị cho chúng em hành trang kiến thức để vững bước vào đời một cách tự tin hơn. Em cũng hết sức cảm ơn: Những cán bộ, chuyên viên của Phòng bảo hiểm pháp chế - Ban tài chính kế toán - TCTHKVN đã cung cấp tài liệu bổ ích giúp em được hoàn thiện khoá luận này. Những cán bộ, chuyên viên của Phòng Hàng Hải - Hàng không thuộc Công Ty bảo hiểm TP. HCM (Bảo Minh) chi nhánh tại Hà Nội số 57 Hàng Chuối đã cung cấp số liệu liên quan tới phí bảo hiểm, công tác bồi thường giữa Bảo Minh và HKVN những năm qua cùng những thông tin về Bảo Minh và thị trường bảo hiểm hàng không thế giới. Trung tâm thông tin phản hồi - Ban kế hoạch thị trường - TCTHKVN đã cung cấp số liệu hành khách mà HKVN chuyên chở được trong thời gian từ 1993 - 2002 Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 8
  9. Khoá luận tốt nghiệp oOo Ban tiếp thị hàng hoá - TCTHKVN đã cung cấp số liệu về khối lượng hàng hoá mà HKVN chuyên chở được trong thời gian từ 1993 - 2002. Bên cạnh đó em xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên kịp thời ủng hộ nhiệt tình, đã góp phần quan trọng cho em hoàn thành được khoá luận tốt nghiệp này. Xin chân thành cảm ơn! TÁC GIẢ Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 9
  10. Khoá luận tốt nghiệp oOo NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG KHOÁ LUẬN 1.\ BHHK : Bảo Hiểm Hàng Không 2.\ HKDDVN : Hàng Không Dân Dụng Việt Nam 3.\ TCTHKVN : Tổng Công Ty Hàng Không Việt Nam 4.\ HKVN : Hàng Không Việt Nam 5.\ IATA : Hiệp Hội vận tải Hàng Không Quốc tế thuộc Chính phủ 6.\ ICAO : Tổ chức Hàng không dân dụng Quốc tế 7.\ BHTNDS : Bảo Hiểm Trách nhiệm Dân Sự 8.\ TNDS : Trách nhiệm dân sự 9.\ VNA : Việtnam Airlines 10.\ VAC : Vietnam Airlines Corporation 11.\ ĐP&HCTT : Đề phòng và hạn chế tổn thất 12.\ PCCC : Phòng cháy chữa cháy 13.\ KT - XH : Kinh tế - Xã hội 14.\ KH - KT : Khoa học - Kỹ thuật 15.\ TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh. CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ BHTNDS CỦA HÃNG HÀNG KHÔNG ĐỐI VỚI HÀNH LÝ, HÀNG HOÁ VÀ TƯ TRANG CỦA HÀNH KHÁCH I - KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA BHTNDS: I.1 - Khái niệm và đặc điểm của BHTNDS: I.1.1. Khái niệm “Bảo hiểm”: Dưới các góc độ khác nhau trong xã hội, đến nay vẫn có nhiều quan niệm về bảo hiểm như: “Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế đặc biệt nhằm phân phối thu nhập thuần tuý của các doanh nghiệp và của người lao Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 10
  11. Khoá luận tốt nghiệp oOo động” hoặc “Bảo hiểm là phương pháp tổ chức quỹ bảo hiểm bằng phí bảo hiểm để bù đắp những tổn thất do thiên tai hay tai nạn bất ngờ gây ra cho nền kinh tế”. Có quan niệm cho rằng: “Bảo hiểm là hợp đồng trong đó bên mua phải nộp cho bên bán một số tiền nhất định gọi là phí bảo hiểm, còn bên bán cam kết thanh toán cho bên mua một số tiền bằng hay tương đương với loại tổn thất xảy ra”. Tuy nhiên, một số tai biến xảy ra vượt quá khả năng của các nhà bảo hiểm và hoạt động bảo hiểm đòi hỏi phải có một số điều kiện về kinh tế và tài chính (giá bảo đảm xác định các rủi ro, khả năng tài chính của tổ chức có trách nhiệm thanh toán tổn thất). Do đó, “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm cho mình hoặc cho một người thứ 3. Trong trường hợp xảy ra rủi ro, sẽ nhận được một khoản tiền bồi thường của bên khác, đó là nhà bảo hiểm. Người này nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và bồi thường thiệt hại dựa trên các luật thống kê và tính toán xác suất rủi ro”. Nhưng quan niệm này chỉ nhấn mạnh phần bồi thường cho người được bảo hiểm, chỉ tính đến phí thuần mà không tính đến chi phí về mặt quản lý của nhà bảo hiểm và chỉ hợp với bảo hiểm tư nhân. Như vậy các quan niệm trên đây chưa phản ánh đầy đủ nội dung kinh tế bên trong của phạm trù tài chính. Trên cơ sở các quan niệm khác nhau về bảo hiểm đã nêu ở trên và thực tiễn bảo hiểm cũng như những công trình nghiên cứu khoa học, theo chúng tôi khái niệm phản ánh đầy đủ nhất phạm trù bảo hiểm chính là khái niệm trong Giáo trình Tài chính học của Trường Đại học Tài chính Hà Nội. Được phát biểu như sau: “Bảo hiểm là một biện pháp kinh tế nhằm tạo lập nguồn tài chính cho mục đích bù đắp tổn thất vật chất và trả tiền bảo hiểm cho người tham gia bảo hiểm khi gặp rủi ro bất ngờ. Nguồn tài chính để tạo lập quĩ là do người tham gia bảo hiểm đóng góp dưới hình thức Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 11
  12. Khoá luận tốt nghiệp oOo phí bảo hiểm. Mục đích sử dụng quỹ bảo hiểm trước hết là để bù đắp, bồi thường những tổn thất cho các đối tượng bảo hiểm khi xảy ra rủi ro bất ngờ đối với người tham gia bảo hiểm. Điều kiện bổi thường của bảo hiểm là phải có tổn thất thực tế xảy ra trong phạm vi bảo hiểm và do những nguyên nhân khách quan ngẫu nhiên, bất ngờ dẫn đến với đối tượng bảo hiểm”. Khái niệm này phản ánh tương đối toàn diện về phạm trù bảo hiểm nhưng không nên nhấn mạnh quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại mà có thể nói là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối là đủ. Vì thực chất của bảo hiểm là phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh cả trong quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại. I.1.2. Phân loại bảo hiểm: Trong xã hội với các chế độ chính trị khác nhau vẫn luôn luôn tồn tại hai khái niệm bảo hiểm, hai loại hoạt động bảo hiểm mà dễ bị hiểu lầm nhau, đó là Bảo hiểm xã hội (BHXH) và Bảo hiểm Thương mại (BHTM). BHXH: là một trong các chính sách thuộc lĩnh vực bảo đảm xã hội ở mức tối thiểu. Đối tượng được bảo hiểm là những người làm công ăn lương. Phạm vi BHXH chỉ có giới hạn trong phạm vi từng quốc gia. Quỹ BHXH chủ yếu huy động sự đóng góp của người lao động (có tính chất bắt buộc), người sử dụng lao động và có thể một phần do trợ cấp của Ngân sách Chính phủ. Quỹ này được sử dụng để trợ cấp cho người lao động khi họ tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động. Mục đích hoạt động của quỹ BHXH không phải vì lợi nhuận và vì phúc lợi, quyền lợi của người lao động và của cả cộng đồng. BHXH thường do Nhà nước trực tiếp tiến hành theo quy chế chung thống nhất qua các đạo luật. BHTM: là dịch vụ tài chính xuất phát từ nhu cầu được bảo vệ ngoài sự đảm bảo chung của xã hội đối với các đối tượng bảo hiểm. Đối tượng của BHTM ngoài con người còn bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm. Quỹ bảo hiểm này được lập nên từ sự đóng góp phí bảo hiểm của các cá nhân, các Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 12
  13. Khoá luận tốt nghiệp oOo tổ chức KT - XH có nhu cầu được bảo hiểm. Nguồn đóng góp đó được sử dụng để chi bồi thường cho những cá nhân, đơn vị tham gia bảo hiểm gặp rủi ro, như : tính mạng và tài sản bị thiên tai, tai nạn bất ngờ gây thiệt hại. Ngoài ra, chúng còn được dùng để chi cho quản lý của doanh nghiệp, kinh doanh bảo hiểm, lập quỹ dự trữ và thực hiện nghĩa vụ đóng góp với ngân sách Nhà nước. Như vậy, nếu so sánh giữa hai loại hình bảo hiểm, thì chúng đều nhằm mục đích là giúp ổn định kinh tế bảo đảm cho quá trình tái sản xuất tiến hành được thường xuyên, liên tục và góp phần đảm bảo ổn định cho cuộc sống của mọi thành viên trong xã hội, khắc phục khó khăn do hậu quả rủi ro xảy ra, người tham gia bảo hiểm đều có trách nhiệm đóng góp phí bảo hiểm. Nói một cách khác là hai loại hình bảo hiểm có cùng phương thức hình thành và sử dụng quỹ. Song chúng có những điểm khác nhau, như về đối tượng phục vụ, nguồn trích lập quỹ, tính chất lợi nhuận (đối với BHXH hoạt động không mang tính chất kinh doanh thu lợi nhuận như BHTM...). Phạm vi hoạt động của BHTM thường rộng hơn không chỉ dừng lại ở biên giới một quốc gia dưới hình thức tái bảo hiểm, BHTM có nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Nên để phân biệt các hình thức bảo hiểm, có thể dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại. Dựa vào đối tượng của bảo hiểm thì bảo hiểm được chia thành bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Bảo hiểm tài sản: là các nghiệp vụ bảo hiểm, mà đối tượng bảo hiểm là tài sản vật chất, ví dụ: bảo hiểm hàng hoá, bảo hiểm các phương tiện vận tải đường biển, đường sông, đường bộ, và đường không... Đặc điểm của bảo hiểm tài sản là người ta dễ dàng tính được giá trị bảo hiểm. Khi bồi thường, người bảo hiểm căn cứ vào trị giá của tài sản bồi thường một phần hay toàn bộ trị giá tài sản. Bảo hiểm này là quan hệ kinh tế Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 13
  14. Khoá luận tốt nghiệp oOo phát sinh trong quá trình phân phối, phí bảo hiểm loại này được hạch toán vào giá thành như những chi phí sản xuất. Bảo hiểm con người: còn gọi là bảo hiểm thân thể. Bảo hiểm con người là các nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là sinh mạng, sức khoẻ và khả năng lao động của con người. Căn cứ vào tính chất khác nhau của việc trả tiên bảo hiểm đối với bảo hiểm con người có thể chia thành bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm tai nạn con người. Bảo hiểm nhân thọ thì việc trả tiền cho người tham gia bảo hiểm nhất thiết diễn ra, còn đối với bảo hiểm tai nạn con người thì chỉ trả tiền cho người tham gia bảo hiểm khi bị thiệt hại. Loại bảo hiểm này là quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân. BHTNDS: là các nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm là nghĩa vụ hay trách nhiệm dân sự của người tham gia bảo hiểm như: BHTNDS của chủ phương tiện, nhà máy, công trình xây dựng, khai thác... BHTNDS mang tính trừu tượng vì người bảo hiểm chỉ bảo hiểm phần nghĩa vụ hay trách nhiệm dân sự của người tham bảo hiểm, chứ không phải bảo hiểm phần nghĩa vụ hay trách nhiệm hình sự và chính thiệt hại của người tham bảo hiểm. Dựa vào phương thức bảo hiểm thì bảo hiểm được chia làm 2 loại: bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm bắt buộc. Hai hình thức bảo hiểm này áp dụng đối với tất cả các đối tượng là tài sản và con người. Bảo hiểm tự nguyện: là hình thức bảo hiểm được tiến hành theo ý nguyện của người tham bảo hiểm được chi phối bởi hợp đồng bảo hiểm trên nguyên tắc thoả thuận. Bảo hiểm bắt buộc: là hình thức bảo hiểm được phát luật Nhà nước quy định đối với cả người bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. Đặc trưng của bảo hiểm bắt buộc là hoạt động bảo hiểm được thiết lập theo nguyên tắc trách nhiệm tự động, loại trừ khả năng lựa chọn của người tham bảo hiểm. Nó Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 14
  15. Khoá luận tốt nghiệp oOo gắn liền với việc tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với đối tượng bảo hiểm có liên quan đến lợi ích và an toàn chung của xã hội. Vì rủi ro xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm bắt buộc không chỉ là thiệt hại của cá nhân mà còn gây thiệt hại chung cho toàn xã hội. Hình thức bảo hiểm bắt buộc có nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp bảo hiểm trong công tác triển khai nghiệp vụ. Dựa vào phạm vi hoạt động và cơ sở hạch toán, bảo hiểm được chia thành bảo hiểm đối nội và bảo hiểm đối ngoại. Bảo hiểm đối nội: là nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm giới hạn trong phạm vi biên giới của một nước và đồng tiền hạch toán kết quả nghiệp vụ bảo hiểm là đồng tiền trong nước. Bảo hiểm đối ngoại: là các nghiệp vụ bảo hiểm mà đối tượng bảo hiểm đã vượt ra phạm vi biên giới một nước và đồng tiền hạch toán nghiệp vụ bảo hiểm là đồng tiền nước ngoài. Trong thực tế, nghiệp vụ bảo hiểm nào có một trong hai điều kiện trên đều thuộc nhóm bảo hiểm đối ngoại. Ví dụ như: bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm đầu tư, bảo hiểm khách du lịch, bảo hiểm thăm dò và khai thác dầu khí... Ngoài ra nếu dựa vào các chỉ tiêu khác. Có: Bảo hiểm hàng hải Bảo hiểm phi hàng hải Bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọ Trong phạm vi nghiên cứu của khoá luận này tác giả chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu nghiệp vụ BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách. Vì BHTNDS của hãng hàng không đối với hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách là một bộ phận không thể tách rời nghiệp vụ BHHK nói chung và BHTNDS tại TCTHKVN nói riêng. Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 15
  16. Khoá luận tốt nghiệp oOo I.1.3. Đặc điểm của BHTNDS: Trước hết hãy tìm hiểu về BHHK vì trong các loại hình bảo hiểm thì BHHK là loại hình bảo hiểm tương đối phức tạp. Lịch sử của BHHK hình thành cùng với sự phát triển của HKDD. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, công nghiệp hàng không và ngành vận chuyển HKDD phát triển cực kỳ nhanh chóng, từ loại máy bay hai động cơ, sức chở không qúa 20 hành khách, đã được thay thế bằng loại máy bay 4 động cơ rồi máy bay phản lực và ngày nay xuất hiện loại máy bay phản lực khổng lồ, bay với vận tốc siêu âm, khả năng chuyên chở lớn và đặc biệt là giá trị máy bay cao tới hàng trăm triệu đô la Mỹ. Tình hình giá cả máy bay tăng lên không ngừng biểu hiện số lượng vốn rất lớn mà các hãng sản xuất máy bay, các nhà điều hành bay và các tổ chức tài chính đang đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp hàng không và vận chuyển HKDD. Thực tế giá trị các máy bay thường rất lớn (nhất là đối với loại máy bay thân rộng) đã buộc thị trường BHHK thế giới nâng giới hạn trách nhiệm của mình lên một cách đáng kể. Do vậy, nhu cầu bảo hiểm trong ngành vận chuyển ngành HKDD ngày càng tăng, chỉ cần một vụ tai nạn máy bay xảy ra cũng đủ làm một hãng hàng không bên bờ vực thẳm của phá sản nếu không được bảo hiểm. Ví dụ: ngày 03/09/1997 máy bay TU-134/VNA120 của HKVN đã gặp tại nạn tại sân bay Pochentong (Campuchia). Tổn thất ước tính tại thời điểm đó cả vụ liên quan tới số tiền Bảo Minh chi trả cho HKVN lên tới 25 triệu USD trong khi tổng lượng phí bảo hiểm trong 5 năm từ 1995 - 1999 khoảng 20 triệu USD. Rõ ràng qua đây chúng ta nhận thấy lợi ích to lớn của bảo hiểm trong hoạt động vận chuyển hàng không. Ngày nay cùng với sự lớn mạnh của ngành HKDD thì lĩnh vực BHHK cũng càng trở nên cần thiết và có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động hàng không. Theo thống kê của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA) nếu ngày nào cũng đi máy bay (24/24 giờ) thì suốt trong 35 năm mới có thể Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 16
  17. Khoá luận tốt nghiệp oOo gặp một tai nạn. Tuy nhiên, giá trị của một vụ tổn thất hàng không lại khá cao có thể dẫn tới hàng trăm người chết và mức bồi thường phát sinh từ vài trăm triệu USD cho đến hàng tỉ USD. Do vậy, việc tham gia BHHK là rất cần thiết cho mọi hãng hàng không trên thế giới. Trong nền kinh tế thị trường việc tham gia bảo hiểm cho hoạt động kinh doanh là rất cần thiết, không chỉ vì sự an toàn của bản thân người kinh doanh mà còn vì sự an toàn của xã hội, nhất là kinh doanh trong lĩnh vực hàng không, bởi lẽ phí BHHK cùng các loại hình bảo hiểm được tập trung vào cơ quan bảo hiểm hình thành quỹ tập trung lớn có khả năng bồi thường kịp thời cho người được bảo hiểm - bảo đảm quyền lợi cho hành khách và hãng hàng không. Bên cạnh đó, việc tham gia bảo hiểm tạo nên cơ cấu giá cước vận chuyển ổn định, vì hãng hàng không đã tính phí bảo hiểm vào giá thành vận chuyển từ đầu năm. Khi có tổn thất xảy ra, công ty bảo hiểm thay mặt chủ phương tiện giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại, hãng vận chuyển không phải điều chỉnh giá cước tăng lên khi có tai nạn xảy ra, góp phần ổn định kinh doanh cho các hãng hàng không. Từ lý do trên có thể thấy sự tồn tại và phát triển của công tác BHHK là một tất yếu khách quan đối với ngành vận chuyển HKDD mà BHTNDS của hãng hàng không là một trong những bộ phận không thể tách rời trong nghiệp vụ BHHK.Vì hoạt động của bảo hiểm mang lại cho cá nhân, tổ chức và cả cộng đồng những tác dụng rất to lớn. Vậy, BHTNDS của hãng hàng không có những khác biệt gì so với loại hình bảo hiểm khác? Thứ nhất: đối tượng của nghiệp vụ BHTNDS của hãng hàng không mang tính trừu tượng. Giống như các loại hình BHTNDS khác, đối tượng bảo hiểm ở đây là phần trách nhiệm dân sự - trách nhiệm bồi thường của hãng vận chuyển đối với những thiệt về hành khách, hành lý, hàng hoá và tư trang của hành khách...Do vậy mà đối tượng ở đây mang tính trừu tượng tức là không cảm nhận bằng giác quan được và chưa xuất hiện khi ký kết hợp đồng Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 17
  18. Khoá luận tốt nghiệp oOo bảo hiểm. Ở trong các hợp đồng bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người chúng ta dễ dàng xác định được đối tượng bảo hiểm là các tài sản như nhà cửa, máy bay, ô tô, xe máy,...hay tính mạng sức khoẻ của người được bảo hiểm. Đối tượng bảo hiểm trong nghiệp vụ BHTNDS này chỉ biểu hiện cụ thể và có thể tính toán được thiệt hại khi sự cố xảy ra làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường. Do vậy, trách nhiệm của người bảo hiểm trong loại hình này cũng có thể là rất lớn lên tới hàng tỉ USD cho một vụ tổn thất. Thứ hai: phương thức bảo hiểm có giới hạn (Limited) và không giới hạn( Unlimited) . *Bảo hiểm có giới hạn: Chúng ta biết rằng các rủi ro về hàng không luôn gây ra giá trị tổn thất to lớn, tương ứng với trách nhiệm người vận chuyển cũng rất nhiều. Do vậy, mà việc lựa chọn phương pháp bảo hiểm như là một biện pháp chuyển giao rủi ro hữu hiệu nhất. Như vậy thì nhà bảo hiểm lại phải tìm cách giới hạn trách nhiệm của mình tức là ấn định một số tiền trước trong hợp đồng bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm này được ấn định trên cơ sở công ty bảo hiểm đề nghị và được hãng vận chuyển thoả thuận chấp nhận. Số tiền bảo hiểm này được xem là hạn mức trách nhiệm - mức bồi thường tối đa của công ty bảo hiểm cho hãng vận chuyển. Việc giới hạn trách nhiệm đem lại ưu điểm cho công ty bảo hiểm có khả năng chủ động hơn trong việc dự phòng các tình huống phát sinh trách nhiệm do họ có thể đánh giá được mức độ tổn thất tối đa của hợp đồng. Hơn nữa, việc tham gia theo loại hình này giúp hãng vận chuyển giảm được phí bảo hiểm cũng tức là giảm được chi phí và giảm được giá vé (vì phí bảo hiểm được tính trong giá vé) đặc biệt có ý nghĩa hơn trong tình hình thị trường hàng không đang ngày càng cạnh tranh gay gắt. Tuy nhiên, đối với các hợp đồng bảo hiểm có giới hạn lại gặp phải trở ngại là hãng vận chuyển không hoàn toàn bảo vệ được rủi ro của mình, trong trường hợp mà mức bồi thường lớn hơn nhiều mức trách nhiệm được bảo hiểm thì hãng vận chuyển Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 18
  19. Khoá luận tốt nghiệp oOo phải chịu tổn thất lớn. Do vậy, mà có hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm không giới hạn. * Bảo hiểm trách nhiệm không giới hạn: Khác với hợp đồng bảo hiểm trên đối với hợp đồng không giới hạn thì ở hợp đồng này, số tiền bảo hiểm không được ấn định, không giới hạn trách nhiệm bồi thường tức là nếu có tổn thất thì công ty bảo hiểm phải bồi thường hết nghĩa vụ và trách nhiệm của hãng vận chuyển. Thực tế cùng với sự phát triển của KH - KT và kinh tế, nhu cầu của khách hàng cũng đòi hỏi bồi thường sao cho tương xứng với giá trị tổn thất, mà đôi khi là khó xác định. Thông thường công ty bảo hiểm sẽ thay mặt hãng vận chuyển bồi thường về những thiệt hại cho hành khách, dựa trên việc xác định mức thu nhập hiện thời, địa vị...của hành khách. Tuy nhiên, lại vấp phải một nhược điểm đôi khi tổn thất lại là rất lớn, dẫn đến các công ty bảo hiểm có thể bị phá sản khi gặp rủi ro liên tiếp xảy ra. Do vậy mà các công ty bảo hiểm cần phải tiến hành triệt để các biện pháp phân tán rủi ro, ví dụ như tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm. Ví dụ: như một số quốc gia phát triển đã có những yêu cầu đòi hỏi cao hơn về mức giới hạn trách nhiệm chung như Mỹ, Nhật, Úc...nên vào năm 1999 đã ra đời công ước Montreal 1999 với trên 50 nước ký kết và hạn mức trách nhiệm với hành khách là không giới hạn. Nên sau một thời gian chuẩn bị, tháng 8 năm 2000 HKVN đã quyết định tham gia hạn mức trách nhiệm không giới hạn đối với hành khách (Unlimited liability) có nghĩa là đối với mỗi và mọi tổn thất về thân thể của hành khách xảy ra trong khi bay. TCTHKVN sẽ bồi thường trách nhiệm của mình theo thiệt hại thực tế của hành khách phù hợp với luật quốc tế và luật dân sự sẽ áp dụng đối với hành khách bị tai nạn mà không lệ thuộc bất cứ giới hạn trách nhiệm nào đối với hành khách. Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 19
  20. Khoá luận tốt nghiệp oOo I.2. Những rủi ro thường gặp phát sinh TNDS của hãng hàng không: Bảo hiểm trong lĩnh vực hàng không càng trở nên có ý nghĩa thiết thực hơn khi hàng không là một hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro tiềm ẩn. Rủi ro luôn luôn thường trực bên cạnh chúng ta, thiên biến vạn hoá dưới mọi hình thức, ở bất cứ thời gian, không gian nào và với qui mô không thể lường trước được. Có rất nhiều quan niệm về rủi ro, nhìn chung dù ghi nhận rủi ro dưới góc độ nào thì quan niệm về rủi ro đều đề cập tới hai khía cạnh: - Sự không chắc chắn, yếu tố bất trắc - Một khả năng xấu, một biến cố không mong đợi. Như vậy: Rủi ro được hiểu là thuật ngữ dùng để chỉ khả năng xảy ra biến cố bất thường với hậu quả thiệt hại hoặc mang lại kết quả không như dự tính. Sự nguy hại của rủi ro đòi hỏi một quy trình xử lý đồng bộ, từ việc xây dựng hệ thống tín hiệu khuyến cáo rủi ro, lựa chọn những giải pháp thích hợp. Công tác xử lý rủi ro có ý nghĩa to lớn tới sự an toàn của các cá nhân, các ngành và toàn xã hội. Ngành hàng không là một ngành rất hiện đại, luôn luôn áp dụng thành tựu và công nghệ mới nhất của con người. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển như vũ bão của KH - KT hiện nay cũng không thể loại trừ hoàn toàn mọi rủi ro. Ngành hàng không luôn phải đối mặt với nhiều loại rủi ro nghiệm trọng. Chẳng hạn như năm 1996 là năm bất thường của ngành hàng không xảy ra tới 25 vụ tổn thất toàn bộ, làm 1.597 người và đội bay tử vong, số người thứ 3 bị thiệt mạng trên mặt đất là 347 người và tổng số tổn thất lên tới gần 2 tỷ USD. Như vậy, rủi ro ngành hàng không tác động đến nhiều đối tượng khác nhau. Nhìn chung có thể xếp vào các nhóm sau: I.2.1. Rủi ro tác động đến tài sản: Đây là loại rủi ro có đối tượng tác động là tài sản. Đối với ngành hàng không loại rủi ro này rất nguy hiểm bởi lẽ để tiến hành hoạt động của mình, các hãng hàng không phải đầu tư lượng vốn không lồ. Một chiếc máy Boeing 747 với tốc độ kinh tế nhất 600 dặm/giờ với Lê Văn Lân - A1 CN 09 Trang 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản