Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược phát triển các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2005 – 2010”

Chia sẻ: Ngoc Hanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:94

0
490
lượt xem
219
download

Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược phát triển các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2005 – 2010”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngày nay, với xu thế đa phương hóa, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam, xuất khẩu chính là công cụ quan trọng để nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Cùng với xu thế toàn cầu hoá, hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nói riêng hàng năm đã đóng góp rất nhiều vào Ngân sách Nhà nước, phát triển kinh tế xã...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp “Chiến lược phát triển các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2005 – 2010”

  1. LUẬN VĂN Chiến lược phát triển các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2005 – 2010
  2. 1 LỜI NÓI ĐẦU Ngày nay, với xu thế đa phương hóa, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam, xuất khẩu chính là công cụ quan trọng để nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Cùng với xu thế toàn cầu hoá, hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nói riêng hàng năm đã đóng góp rất nhiều vào Ngân sách Nhà nước, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu ngoại tệ và chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu, phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động Ngoại thương của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là trong vài năm trở lại đây, cho thấy hoạt động xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực còn có nhiều điểm bất cập, chưa có một hệ thống tổ chức, phối hợp chặt chẽ, linh hoạt từ sản xuất đến xuất khẩu cùng với một hệ thống cơ chế, chính sách thông suốt, hợp lý. Kết quả là tuy khối lượng và kim ngạch xuất khẩu có tăng nhưng nhìn chung những tiềm năng vẫn chưa thực sự được khai thác một cách tối ưu, hiệu quả xuất khẩu mang lại còn thấp. Trong tình hình đó, việc nghiên cứu và tìm ra chiến lược phát triển thiết thực hơn nhằm đẩy mạnh một cách có hiệu quả hơn nữa sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam đang là một nhiệm vụ cấp thiết của nhiều Bộ, Ban, Ngành,... từ Trung Ương đến địa phương, và cũng đang thu hút được nhiều quan tâm của các doanh nghiệp, các nhà phân tích kinh tế, các nhà khoa học, các giảng viên, sinh viên đang giảng dạy, học tập và nghiên cứu ở các trường đại học... Trên cơ sở tập trung phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và xuất khẩu của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: gạo, cà phê, dầu thô, dệt may…khoá luận với đề tài “Chiến lược phát triển các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2005 – 2010” sẽ đưa ra chiến lược phát triển cho giai đoạn 2005 - 2010, đồng thời tìm ra một số kiến nghị nhằm củng cố và phát triển các mặt hàng chủ lực đến năm 2020. Mục tiêu là để đạt được hiệu quả, ổn định và tăng trưởng vào những năm đầu thế kỷ 21.
  3. 2 Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của khoá luận là khái quát hoá về mặt lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng xuất khẩu chủ lực để từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam trong những năm tới. Về lý luận, khoá luận có ý nghĩa tổng hợp, thống nhất, đúc kết và phát triển những vấn đề bức xúc đã, đang và sẽ tiếp tục được bàn luận, nghiên cứu. Trong khuôn khổ một bài khóa luận, do những hạn chế nhất định về thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập đến những vấn đề lý luận có liên quan đến vị trí của một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, và có được một chiến lược phát triển chung cho toàn bộ các mặt hàng chủ lực, một số giải pháp và kiến nghị nhằm hỗ trợ, đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, xây dựng định hướng phát triển trong giai đoạn 2005 – 2010. Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở kết hợp các phương pháp phân tích - tổng hợp, kết hợp lý luận với thực tiễn, đi từ cái chung đến cái riêng, từ phân tích đến đánh giá để đưa ra các định hướng phát triển cùng với các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện. Nội dung chính của khoá luận được chia làm 3 chương: Chương I: Chiến lược phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực Chương II:Thực trạng xuất khẩu và xây dựng chiến lược phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Chương III: Kiến nghị về việc xây dựng chiến lược phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực giai đoạn 2005 - 2010 Ngoài những lý do chọn đề tài trên, em còn mong muốn qua khoá luận này có thể nghiên cứu và đóng góp ý kiến của bản thân về một số vấn đề quan trọng đang được nhiều người quan tâm. Tuy nhiên, do trình độ có hạn của một sinh viên, khoá luận này không tránh khỏi còn nhiều khiếm khuyết. Em rất mong các thầy cô và mọi người đóng góp ý kiến giúp em có thể hoàn thiện
  4. 3 nghiên cứu của mình. Em xin chân thành cảm ơn TS. Bùi Ngọc Sơn và những người đã giúp đỡ em hoàn thành khoá luận này.
  5. 4 CHƯƠNG I. CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC I.1. Chiến lược kinh doanh I.1.1 Khái niệm Thuật ngữ “Chiến lược” lần đầu tiên được sử dụng trong lĩnh vực quân sự. Trong quân sự, “chiến lược” được hiểu là: nghệ thuật phối hợp các lực lượng quân sự, chính trị, tinh thần, kinh tế được huy động vào chiến tranh nhằm chiến thắng kẻ thù. Chiến lược kinh doanh trở thành khái niệm quen thuộc từ những năm 50 của thế kỷ 20 và được áp dụng khá rộng rãi trong lĩnh vực quản lý kinh tế. Qua thời gian, tư tưởng chiến lược kinh doanh thay đổi rất nhanh và được hoàn thiện dần, đặc biệt là trong 4 thập kỷ vừa qua. Lúc đầu là sự xuất hiện các mô hình, các phương pháp đánh giá thời cơ, cơ hội... nhằm tìm ra những phương án hợp lý trong sản xuất kinh doanh và tiến đến là việc xuất hiện các phương pháp dài hạn nhằm quản lý việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh từ những nỗ lực hoàn thiện quản lý sản xuất nội bộ, khai thác nguồn lực nội sinh gắn với nguồn lực bên ngoài. Sau đó, các nỗ lực hoàn thiện tư tưởng chiến lược kinh doanh lại hướng vào phát triển thị trường và chiến lược marketing. Ngày nay, việc nghiên cứu hoàn thiện tư tưởng chiến lược kinh doanh đang hướng tới việc nỗ lực kết hợp xâu chuỗi các kết quả đã đạt được để vận dụng một cách tổng hợp hơn vào môi trường hoạt động mới, đầy biến động. Do vậy, đã có rất nhiều khái niệm được đưa ra để định nghĩa thế nào là chiến lược kinh doanh: “Chiến lược kinh doanh là những phương tiện để đạt tới những mục tiêu dài hạn. Các doanh nghiệp cần phải giải quyết là làm thế nào đạt được các kết quả đã đề ra dựa trên cơ sở tình thế và triển vọng của doanh nghiệp. Các mục tiêu là đích hướng tới, còn phương tiện để đạt được mục đích này chính là
  6. 5 chiến lược."(1) "Chiến lược kinh doanh là một tập hợp mô hình các hành động mà các giám đốc sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp và các hoạt động tức thời với những thay đổi của tình thế và việc xảy ra các sự kiện bất ngờ. Như vậy, các chiến lược của doanh nghiệp bao gồm các hoạt động được kế hoạch hoá (chiến lược định trước) và các phản ứng cần thiết với các điều kiện không dự báo trước (các đáp ứng chiến lược không kế hoạch hoá)."(2) “Chiến lược kinh doanh dựa trên cơ sở một loạt các bước tiến của đối thủ cạnh tranh và các phương pháp kinh doanh mà các bậc quản trị trên cơ sở đó tạo ra các kết quả thực hiện thành công. Do đó, chiến lược kinh doanh là một kế hoạch quản lý nhằm củng cố vị thế, là sự hài lòng của khách hàng và đạt được các mục tiêu thực hiện của doanh nghiệp.”(3) Tóm lại: Chiến lược kinh doanh là tổng hợp các mục tiêu dài hạn, các chính sách và giải pháp lớn về sản xuất - kinh doanh, về tài chính và về giải quyết nhân tố con người nhằm đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển lên một trạng thái cao hơn về chất. I.1.2 Vai trò của chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh quyết định định hướng hoạt động dài hạn và là cơ sở vững chắc cho triển khai hoạt động trong tác nghiệp. Thiếu vắng chiến lược hoặc chiến lược không được thiết lập rõ ràng, không có luận cứ sẽ làm cho hoạt động mất hướng, chỉ thấy trước mắt không gắn được với dài hạn, chỉ thấy cục bộ mà không thấy vai trò của cục bộ trong cái toàn bộ. Chiến lược kinh doanh tạo cơ sở vững chắc cho các hoạt động nghiên cứu - triển khai, đầu tư phát triển, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực. Trong thực tế, phần lớn các sai lầm, trả giá về đầu tư, về nghiên cứu - triển khai... có nguồn gốc từ chỗ thiếu vắng hoặc có sự sai lệch trong xác định các mục tiêu chiến lược. Các mục tiêu chiến lược là các mục đích mà các bậc quản trị thiết (1) - Athur. A. Thompson & A.J. Strickland, Strategic Management, 1995. (2) - Philip Kotler, Marketing Management, 1995. (3) - Athur. A. Thompson & A.J. Strickland, Strategic Management, 1995.
  7. 6 lập nhằm củng cố vị trí kinh doanh chung và sức cạnh tranh sống động của doanh nghiệp. các mục tiêu này liên quan đến sức cạnh tranh và vị trí kinh doanh của nó trong dài hạn ở trên thị trường, phát triển nhanh hơn mức trung bình của ngành, vượt trội các đối thủ cạnh tranh chủ yếu về chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ khách hàng hoặc thị phần, giành được chi phí thấp hơn các đối thủ cạnh tranh, nâng cao được danh tiếng của doanh nghiệp đối với khách hàng, giành được chỗ đứng vững chắc hơn trên các thị trường quốc tế, thực hiện dẫn đạo về công nghệ, giành được lợi thế cạnh tranh bền vững, khai thác các cơ hội phát triển có sức hấp dẫn cao. Chiến lược kinh doanh tạo cơ sở cho các doanh nghiệp chủ động phát triển các hướng kinh doanh phù hợp với môi trường trên cơ sở tận dụng các cơ hội, tránh các rủi ro, phát huy các lợi thế của doanh nghiệp trong kinh doanh, cải thiện căn bản tình hình, vị thế của một công ty, một ngành, một địa phương. I.1.3 Các đặc điểm cơ bản của chiến lược kinh doanh + Tính dài hạn: Chiến lược kinh doanh xác định các mục tiêu và phương hướng phát triển của doanh nghiệp trong thời kỳ tương đối dài (3 hoặc 5 năm, thậm chí 10 hoặc 20 năm). Chính khuôn khổ của mục tiêu và phương pháp dài hạn đó bảo đảm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển liên tục và vững chắc trong môi trường kinh doanh đầy biến động của kinh tế thị trường. + Tính định hướng: Chiến lược kinh doanh chỉ phác thảo các phương hướng dài hạn, có tính định hướng còn trong thực tế kinh doanh phải thực hiện phương châm "kết hợp mục tiêu chiến lược với mục tiêu tình thế", kết hợp chiến lược với sách lược và các phương án kinh doanh tác nghiệp"... Hoạch định chiến lược là phác thảo khuôn khổ cho các hoạt động kinh doanh dài hạn của doanh nghiệp trong tương lai dựa trên cơ sở các thông tin thu thập được qua quá trình phân tích và dự báo. Do vậy, sự sai lệch giữa các mục tiêu định hướng và khuôn khổ chiến lược phác thảo ban đầu với hình ảnh kinh
  8. 7 doanh sẽ diễn ra trong thực tế là điều chắc chắn. Xem xét tính hợp lý và điều chỉnh các mục tiêu ban đầu cho phù hợp với các biến động của môi trường và điều kiện kinh doanh đã thay đổi là việc làm cần thiết của tất cả các doanh nghiệp. + Tính toàn diện: Không chỉ định hướng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh còn đưa ra một phương thức quản trị doanh nghiệp toàn diện và hiệu quả. Nó cho phép sự nhận biết, ưu tiên và tận dụng các cơ hội, thể hiện sự phân phối hiệu quả thời gian và các nguồn tài nguyên cho các cơ hội đã xác lập. Nó cho phép có các quyết định chính yếu, hỗ trợ tốt hơn cho các mục tiêu. Chiến lược góp phần tối thiểu hoá tác động của những thay đổi có hại, giảm thiểu thời gian điều chỉnh lại các quyết định sai sót, đưa ra những giải pháp kịp thời nhằm giải quyết những vấn đề phát sinh. Nó khuyến khích doanh nghiệp có thái độ tích cực đối với đổi mới, khuyến khích suy nghĩ về tương lai... + Tính tập trung: Mọi quyết định chiến lược quan trọng trong quá trình xây dựng, quyết định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh chiến lược đều phải được tập trung về người lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp. Đặc trưng này ước định bởi thang quyền lực tương ứng trong quản lý và điều hành doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm yêu cầu bí mật thông tin kinh doanh trong nền kinh tế thị trường. + Chiến lược kinh doanh luôn được xây dựng, lựa chọn và thực thi dựa trên cơ sở các lợi thế so sánh, các ngành nghề kinh doanh, các lĩnh vực kinh doanh chuyên môn hoá, truyền thống, thế mạnh của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình khi xây dựng chiến lược và thường xuyên xem xét các yếu tố nội tại trước khi thực thi chiến lược. I.1.4 Nội dung của chiến lược kinh doanh I.1.4.1 Bước chuyển từ kế hoạch dài hạn sang chiến lược kinh doanh Chiến lược là phương thức mà các doanh nghiệp sử dụng để định hướng
  9. 8 tương lai nhằm đạt được thành công. Việc chuyển đổi từ quản trị sang quản trị chiến lược, chiến lược kinh doanh là sự phản ánh đặc trưng mới của kế hoạch dài hạn. Với nhịp độ phát triển nhanh chóng của khoa học – kỹ thuật và sự biến đổi của thị trường ngày càng trở nên phức tạp. Trong điều kiện đó, kế hoạch dài hạn dựa vào phương pháp ngoại suy xu thế đã không đảm bảo được tính mềm dẻo để thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng. Do vậy, nét đặc trưng cơ bản của tầm nhìn dài hạn đòi hỏi phải hướng tới sự thích ứng mềm dẻo cần thiết, nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của môi trường và trước những thời cơ mới. Ở đây, hai yếu tố cơ bản của chiến lược là cạnh tranh và bất ngờ. Tạo ra được các yếu tố bất ngờ cho đối phương và sức mạnh trong cạnh tranh là những yếu tố cơ bản đảm bảo cho thắng lợi và thành công. Ngày nay, những yếu tố này cũng được coi là những yếu tố cơ bản để chiến thắng trong kinh doanh. Từ đó cũng có thể hiểu chiến lược kinh doanh là quá trình xác định các mục tiêu tổng thể phát triển doanh nghiệp và sử dụng tổng hợp các yếu tố kỹ thuật, tổ chức kinh tế và kinh doanh để chiến thắng trong cạnh tranh và đạt được các mục tiêu đề ra. I.1.4.2 Các cấp chiến lược Chiến lược có thể được tiến hành ở nhiều cấp khác nhau, nhưng thông thường có hai cấp cơ bản nhất là cấp công ty và cơ sở kinh doanh. Chiến lược cấp công ty xác định ngành hoặc các ngành kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoặc sẽ phải tiến hành. Do đó, nó phải đề ra được hướng phát triển cho các đơn vị kinh doanh đơn ngành giới hạn lĩnh vực hoạt động của họ trong một ngành công nghiệp hoặc dịch vụ chính. Các đơn vị kinh doanh đa ngành hoạt động trong hai ngành trở lên, vì vậy nhiệm vụ của họ sẽ phức tạp hơn, họ cần phải quyết định tiếp tục hay không các ngành hiện đang kinh doanh, đánh giá các khả năng ngành mới và đưa ra quyết định cần thiết. Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh cần được đưa ra đối với các đơn vị kinh doanh đơn ngành cũng như đối với mỗi cơ sở trong đơn vị kinh doanh đa
  10. 9 ngành. Chiến lược phải làm rõ là đơn vị tham gia cạnh tranh như thế nào. Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh có mức độ quan trọng như nhau đối với các đơn vị kinh doanh đơn ngành và từng đơn vị riêng biệt trong đơn vị kinh doanh đa ngành. Chiến lược cấp cơ sở kinh doanh dựa trên tổng hợp các chiến lược khác nhau ở cấp bộ phận chức năng. Tuỳ theo lĩnh vực kinh doanh mà chiến lược cấp cơ sở lựa chọn chiến lược trung tâm. Đối với nhiều hãng, chiến lược marketing là trung tâm, đóng vai trò liên kết cùng với các chức năng khác. Đối với một số hãng thì vấn đề sản xuất hoặc nghiên cứu phát triển có thể được chọn là chiến lược trung tâm. Mỗi chiến lược cấp cơ sở cần phù hợp với chiến lược cấp công ty, và chiến lược cấp cơ sở khác của công ty. I.1.4.3 Tổ chức xây dựng chiến lược Nhà quản trị là người đứng đầu công việc, chủ trì hoặc lãnh đạo các hoạt động của doanh nghiệp, là người biết điều khiển hoặc phối hợp các công việc của mọi người trong doanh nghiệp một cách có hiệu quả. Các nhà lãnh đạo thường là người đưa ra những tư tưởng xuất phát, xác định những mục tiệc chung của doanh nghiệp và xác định những biện pháp có tính chất chiến lược. Mặt khác việc xây dựng chiến lược đòi hỏi sự cộng tác của tất cả các bộ phận và tất cả các thành viên trong công ty. Có hai loại nhà quản trị, đó là nhà quản trị chiến lược và nhà quản trị chức năng. Nhà quản trị chiến lược là những người chịu trách nhiệm về khả năng hoạt động chung của công ty, hay đơn vị hoạt động chính. Nhà quản trị chức năng là người chịu trách nhiệm về một chức năng kinh doanh cụ thể. Các phòng, ban kế hoạch trong công ty thường được coi là bộ phận tham mưu, có nhiệm vụ giúp lãnh đạo phân tích tình hình, xác định mục tiêu chiến lược và các biện pháp cơ bản để đạt được mục tiêu đề ra. Bộ phận này cũng có nhiệm vụ tổng hợp các kế hoạch đã được soạn thảo ở các bộ phận khác và chuẩn bị các nghiên cứu cần thiết cho bước triển khai, đồng thời họ cũng cố vấn cho các bộ phận chức năng, giúp các bộ phận này xây dựng kế hoạch và cùng tiến hành nghiên cứu các lĩnh vực đặc thù.
  11. 10 I.1.5 Quy trình xây dựng chiến lược kinh doanh + Bước 1: Phân tích và dự báo về môi trường kinh doanh, trong đó cốt lõi nhất là phân tích và dự báo về thị trường. Doanh nghiệp cần nhận thức rõ các yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình và đo lường mức độ, chiều hướng ảnh hưởng của chúng.
  12. 11 + Bước 2: Tổng hợp kết quả phân tích và dự báo về môi trường kinh doanh. Các thông tin tổng hợp kết quả phân tích và dự báo cần được xác định theo 2 hướng: thứ nhất là các thời cơ, thách thức của môi trường kinh doanh, thứ hai là các rủi ro, cạm bẫy, đe dọa... có thể xảy ra trong môi trường kinh doanh. + Bước 3: Phân tích và đánh giá đúng thực trạng của doanh nghiệp. Nội dung đánh giá cần bảo đảm tính toàn diện, hệ thống, song các vấn đề cốt yếu cần được tập trung là: hệ thống tổ chức, tình hình nhân sự, tình trạng tài chính của doanh nghiệp. + Bước 4: Tổng hợp kết quả phân tích và đánh giá thực trạng doanh nghiệp, xác định các điểm mạnh, lợi thế; điểm yếu, bất lợi trong kinh doanh. Đó là các căn cứ thực tiễn quan trọng nâng cao tính khả thi của chiến lược. + Bước 5: Nghiên cứu các quan điểm, mong muốn, ý kiến... của những người lãnh đạo công ty (các quản trị viên cấp cao). + Bước 6: Xác định các mục tiêu chiến lược, các phương án chiến lược. + Bước 7: So sánh, đánh giá và lựa chọn phương án chiến lược tối ưu cho doanh nghiệp. Cần đánh giá toàn diện và lựa chọn theo mục tiêu ưu tiên. + Bước 8: Chương trình hoá phương án chiến lược đã lựa chọn với hai công tác trọng tâm: cụ thể hoá các mục tiêu kinh doanh chiến lược ra thành các chương trình, phương án, dự án, thứ hai là xác định các chính sách kinh doanh, các công việc quản trị nhằm thực hiện chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp. Ngày nay, khi quyết định chiến lược kinh doanh, trước hết phải tính đến khách hàng của mình và đối thủ cạnh tranh cận kề, đồng thời phải tính đến khả năng có thể thu hút được các hoạt động xúc tiến và tài trợ của các tổ chức với hoạt động kinh doanh quốc tế của mình. Do đó, khi lựa chọn chiến lược kinh doanh, không thể không tìm hiểu: - Đặc điểm ngành hàng kinh doanh của doanh nghiệp - Đối tác: nhà cung cấp, nhà phân phối
  13. 12 - Phân đoạn thị trường, phương thức thâm nhập thị trường Do kinh tế thế giới ngày càng phát triển và đang có xu thế hội nhập kinh tế vùng và khu vực tiến tới Toàn cầu hoá, do đó Chiến lược kinh doanh còn phải tính tới đặc điểm của các khối và các quốc gia là thị trường mục tiêu. I.2 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam I.2.1 Chính sách phát triển xuất khẩu của Việt Nam Phát triển xuất khẩu là điều kiện tiên quyết để mở rộng nhập khẩu và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác, là một tiền đề của sự tăng trưởng. Do đó, tạo một nhịp độ phát triển xuất khẩu cao và bền vững phải là mục tiêu quan trọng của hoạt động ngoại thương. Phương hướng chủ đạo để phát triển xuất khẩu là tạo dựng những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, nhưng không giới hạn vào những mặt hàng cố định mà linh hoạt đáp ứng nhu cầu thị trường và biến động giá cả, ở đây trọng tâm cần đặt vào các mặt hàng chế biến (chủ yếu là nông, lâm, thủy sản) và hàng công nghiệp nhẹ (hàng dệt may, da và giả da), công nghiệp lắp ráp, sử dụng nhiều lao động có tay nghề khá. Đồng thời cần tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao, nhiều chất xám, có công nghệ mới để tạo cho nhóm hàng này có vị trí quan trọng trong cơ cấu hàng xuất khẩu vào cuối thập kỷ này. Một phương hướng quan trọng khác để gia tăng xuất khẩu là chính sách mở rộng thị trường đúng đắn và linh hoạt. Trong những năm tới, thị trường xuất khẩu chính của ta có thể là: (1) châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có các nước Nhật Bản, NICs, ASEAN, Trung Quốc là trọng điểm, (2) Liên minh châu Âu, trong đó có Pháp, Đức là trọng điểm, (3) Bắc Mỹ, trong đó có Mỹ là trọng điểm. Các nước SNG và Đông Âu là những thị trường có tiềm năng song chắc chắn cần có một thời gian nữa, khi tình hình khu vực này trở nên ổn định mới có điều kiện phát triển buôn bán quy mô lớn. Nhân tố quyết định quy mô, nhịp độ xuất khẩu là cơ cấu hàng xuất khẩu và những mặt hàng chủ
  14. 13 lực, xác định cơ cấu hàng hóa và các mặt hàng chủ lực có hiệu quả là rất quan trọng. Trong một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, việc đổi mới chính sách cơ cấu hàng xuất khẩu phải căn cứ vào: thị trường xuất khẩu, điều kiện và khả năng sản xuất ở trong nước, hiệu quả cao (bao gồm hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội). Trong ba yếu tố này, hiệu quả là yếu tố quan trọng hàng đầu trong sự lựa chọn cơ cấu về mặt hàng xuất khẩu. Để nâng cao hiệu quả và sức cạnh trạnh của hàng xuất khẩu, cần có chính sách chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng: (1) giảm tỷ trọng thô và sơ chế đi đôi với tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến trong cơ cấu hàng xuất khẩu, (2) giảm tỷ trọng các sản phẩm xuất khẩu truyền thống đi đôi với tăng tỷ trọng các sản phẩm xuất khẩu mới, (3) tăng tỷ trọng các sản phẩm có giá trị gia tăng cao trong giá trị kim ngạch hàng xuất khẩu. Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu phải gắn liền với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu thị trường. Từ nay đến 2010, chính sách xuất khẩu là phải triệt để khai thác những lợi thế có thể xuất khẩu ngay, đặc biệt là nguồn lao động dồi dào, có óc tiếp thu tay nghề nhanh, nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú hơn so với nhiều nước đã trở thành nước công nghiệp, phát triển các ngành khai thác và sản phẩm hướng tới xuất khẩu. Đổi mới cơ cấu hàng xuất khẩu đòi hỏi phải đổi mới cơ cấu sản xuất, gắn quy hoạch xuất khẩu với quy hoạch sản xuất các sản phẩm xuất khẩu. Nhà nước cần ban hành các chính sách đầu tư vốn và công nghệ đối với các ngành, các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh xuất khẩu, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào sản xuất kinh doanh sản phẩm xuất khẩu thông qua các biện pháp tín dụng, tài chính, thuế… Việc đổi mới cơ cấu hàng xuất khẩu, danh mục các mặt hàng xuất khẩu sẽ thay đổi theo chiều hướng gia tăng các mặt hàng có sức cạnh tranh và mang lại hiệu quả cao. Một số sản phẩm hiện nay được coi là mặt hàng chủ lực, có khả năng sẽ tăng lên về mặt số lượng và kim ngạch xuất khẩu nhưng tỷ trọng của chúng
  15. 14 lại có thể giảm đi trong kim ngạch xuất khẩu trong 10 -15 năm tới. Ngược lại, một số mặt hàng hiện nay mới chiếm tỷ trọng nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu, nhưng lại có khả năng sẽ trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực, chiếm tỷ trọng lớn. I.2.2 Chiến lược phát triển xuất khẩu Ngày nay, với xu thế đa phương hóa, đa dạng hoá các mối quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam, xuất khẩu chính là công cụ để nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới, đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Song bên cạnh sự hợp tác là sự cạnh tranh hết sức khốc liệt nhằm chiếm một chỗ đứng trên thị trường, do đó đối với Việt Nam, làm thế nào để tăng trưởng xuất khẩu, giải quyết công ăn việc làm, phát triển sản xuất trong nước, đẩy nhanh công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước là điều vô cùng quan trọng. Với vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước, xuất khẩu cần được nhìn nhận dưới góc độ một chính sách dài hạn. Chiến lược xuất khẩu là một tổng thể bao gồm các mục tiêu dài hạn, sự phân tích đánh giá thực trạng và tiềm năng xuất khẩu của doanh nghiệp cùng những cơ hội và thách thức trong môi trường kinh doanh quốc tế đầy biến động, từ đó xây dựng nên hệ thống các chính sách, giải pháp và nhiệm vụ cần phải thực hiện để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu, nâng cao uy tín và ảnh hưởng của doanh nghiệp, mở rộng và củng cố thị trường, nâng cao kim ngạch xuất khẩu. Chiến lược xuất khẩu là sự cụ thể hoá của chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp, hay lớn hơn là của một ngành, một quốc gia. Do đó, việc xây dựng chiến lược xuất khẩu cũng phải tuân theo quy trình các bước xây dựng chiến lược kinh doanh như đã nêu trên. I.2.3 Sự cần thiết xây dựng chiến lược phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
  16. 15 Cuộc cách mạng Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ đã làm thay đổi sâu sắc bộ mặt của nền kinh tế thế giới. Các nước nói chung và Việt Nam nói riêng muốn tiến hành Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá thành công thì không có con đường nào khác là phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu. Thực chất của chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu là đặt nền kinh tế quốc gia trong quan hệ cạnh tranh trên thị trường quốc tế, phát huy lợi thế so sánh của sản xuất trong nước, đổi mới công nghệ để đưa năng suất lên cao, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thực hiện chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu, các nước phải không ngừng học hỏi, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào sản xuất nhằm thu được những sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, mỗi đất nước chỉ có những nguồn lực nhất định (nguồn lực luôn gắn liền với sự khan hiếm). Chính vì vậy, để khai thác và sử dụng một cánh tối ưu các nguồn lực hạn chế đó, các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng đều đứng trước một bài toán là phải quyết định phân bổ các nguồn lực đó như thế nào giữa những nhu cầu cạnh tranh nhau. Do vậy, một vấn đề được đặt ra là phải lựa chọn những ngành hàng, mặt hàng chủ lực nhằm khai thác được một cách tối đa các giới hạn nguồn lực sẵn có. Giải quyết được vấn đề này lại phát triển tiếp đến một vấn đề mới đó là phải giải quyết bài toán thị trường của các mặt hàng chủ lực đó như thế nào, tức là đi tìm thị trường xuất khẩu của các mặt hàng đó như thế nào để có thể khai thác tối đa các lợi thế so sánh của quốc gia và lợi thế cạnh tranh của mặt hàng đó trên thị trường quốc tế. Như vậy, có thể nói việc lựa chọn được một chiến lược phát triển các mặt hàng chủ lực và thị trường xuất khẩu luôn là một nhiệm vụ thực sự cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược đẩy mạnh kinh tế hướng về xuất khẩu của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng. I.2.4 Vai trò then chốt của các mặt hàng xuất khẩu chủ lực
  17. 16 Xuất khẩu là một tất yếu khách quan và có vai trò quan trọng đối với các quốc gia, đặc biệt là nước ta, một nước có nền kinh tế phát triển chậm, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, không đồng bộ, dân số phát triển nhanh. Sự tăng trưởng kinh tế đòi hỏi mỗi quốc gia phải có những điều kiện về nhân lực, tài nguyên, vốn và công nghệ để thực hiện quá trình công nghiệp hoá của mình. Song hầu hết các nước đang phát triển như Việt Nam đều nằm trong tình trạng thiếu vốn, công nghệ và thừa lao động. Thực tế kinh nghiệm một số nước NICs và ASEAN cho thấy chiến lược tăng trưởng kinh tế trong công cuộc công nghiệp hoá là phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu. Xuất khẩu đã được xác định là một trong những mũi nhọn có ý nghĩa quyết định đối với quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia. Thứ nhất: xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ cho công nghiệp hoá đất nước. Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất yếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của mỗi quốc gia. Để công nghiệp hoá đất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có một số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, nguồn vốn ngoại tệ để nhập khẩu chủ yếu được hình thành từ các nguồn như: đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ thu ngoại tệ, xuất khẩu sức lao động, hàng hoá trong nước ra nước ngoài... Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ,...tuy quan trọng nhưng vẫn phải trả theo cách này hay cách khác. Như vậy, nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất nước chỉ có thể trông chờ vào xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng trưởng của nhập khẩu. Ở những nước đang phát triển và chậm phát triển, một trong những nguyên nhân thiếu vốn trong quá trình phát triển là do ít có cơ hội xuất khẩu. Không xuất khẩu được một mặt không thu được ngoại tệ từ hoạt động này, mặt khác các nhà đầu tư cũng không ưa thích đầu tư vào quốc gia mà họ không thấy có khả năng phát triển xuất khẩu do đó lại càng thiếu vốn hơn nữa.
  18. 17 Thứ hai: xuất khẩu đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Các cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại đã làm cho cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi một cách mạnh mẽ. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá từ nông nghiệp sang công nghiệp là phù hợp với xu thế tất yếu của nền kinh tế thế giới. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. + Xuất khẩu chỉ là tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt quá nhu cầu nội địa. Theo cách hiểu này thì đối với những quốc gia lạc hậu và chậm phát triển khi mà sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ sự “thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu chỉ ở quy mô nhỏ và tăng trưởng chậm, sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp. + Coi thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất. Quan điểm này chính là xuất phát từ quan điểm coi nhu cầu của thị trường thế giới là nhu cầu cần đáp ứng để tổ chức sản xuất. Điều đó tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. - Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành công nghiệp cùng có cơ hội phát triển thuận lợi. Ví dụ, khi phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu có thể kéo theo sự phát triển của công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ nó hoặc nếu phát triển ngành giầy dép xuất khẩu thì các ngành sản xuất nguyên liệu như chăn nuôi, thuộc da, hoá chất... cũng phát triển theo. - Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định. - Xuất khẩu là phương tiện quan trọng để tạo ra vốn, thu hút kỹ thuật công nghệ mới từ các nước phát triển nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, tạo ra năng lực sản xuất mới. - Thông qua xuất khẩu, hàng hoá các quốc gia sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Do cạnh tranh sâu sắc trên thị trường quốc tế, các quốc gia buộc phải tổ chức lại sản xuất sao cho phù hợp và từ đó hình thành cơ cấu sản xuất hợp lý.
  19. 18 Thứ ba: xuất khẩu tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân. Tác động của xuất khẩu ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Sản xuất hàng xuất khẩu sẽ tạo ra hàng triệu chỗ làm, góp phần giải quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập ổn định cho người lao động. Đồng thời xuất khẩu tạo ra nguồn thu ngoại tệ để nhập khẩu những vật phẩm tiêu dùng mà trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất không có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một đầy đủ hơn, nâng cao mức sống của người dân. Bốn là: xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu là một hoạt động kinh tế đối ngoại có thể phát triển sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như dịch vụ thương mại, bảo hiểm hàng hoá, thông tin liên lạc quốc tế, dịch vụ tài chính quốc tế, kinh doanh du lịch, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên hiện có. Cuối cùng, hoạt động xuất khẩu tăng cường hợp tác và chuyên môn hoá quốc tế, là một mắt xích quan trọng trong quá trình phân công lao động, nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Như vậy, với vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, việc đẩy mạnh xuất khẩu đã trở thành vấn đề được quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng. I.2.5 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay I.2.5.1. Khái niệm về mặt hàng xuất khẩu chủ lực Hàng xuất khẩu chủ lực là các mặt hàng chiếm vị trí quyết định trong kim ngạch xuất khẩu do có thị trường ngoài nước và điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi. Ở Việt Nam, vấn đề xây dựng các mặt hàng chủ lực đã được Nhà nước đề ra từ cuối những năm 60. Tuy nhiên, chỉ mới gần đây, khi chúng ta tiếp xúc mạnh mẽ với nền kinh tế thị trường của thế giới thì chúng ta mới ý thức được một cách nghiêm túc tầm quan trọng của vấn đề này. Mặt hàng chủ lực được hình thành trước hết qua quá trình thâm nhập vào thị trường nước ngoài, qua những cuộc cọ sát, cạnh tranh mãnh liệt trên thị trường thế giới,
  20. 19 kéo theo việc tổ chức sản xuất trong nước trên qui mô lớn với chất lượng phù hợp với đòi hỏi của người tiêu dùng, đứng vững và liên tục phát triển. Một mặt hàng xuất khẩu chủ lực ra đời cần có ít nhất 3 yếu tố cơ bản: + Có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định và luôn cạnh tranh được trên thị trường đó. + Có nguồn lực để tổ chức sản xuất với chi phí thấp tương đối so với các sản phẩm cạnh tranh khác để có thể vừa đảm bảo khả năng cạnh tranh vừa mang lại hiệu quả cao hơn. + Có khối lượng kim ngạch lớn trong tổng khối lượng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia. Tuy nhiên, vị trí của mặt hàng xuất khẩu chủ lực không phải là vĩnh viễn mà trong quá trình phát triển luôn diễn ra những vận động, biến đổi của thị trường, kéo theo nó là sự vận động và biến đổi cơ cấu các sản phẩm làm thay đổi vị trí của các sản phẩm trên thị trường. Do vậy, việc xác định và xây dựng cơ cấu các sản phẩm xuất khẩu chủ lực không chỉ căn cứ vào khả năng sẵn có và nội lực trong nước, vào nhu cầu và khả năng hiện tại trên thị trường thế giới mà còn phải tính đến những xu hướng và diễn biến thị trường trong tương lai. I.2.5.2. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam hiện nay Mặt hàng xuất khẩu chủ lực là những mặt hàng có vị trí đáng kể trong tổng giá trị xuất khẩu của một đất nước và có ảnh hưởng ít nhiều trên thương trường quốc tế. Ở một chừng mực nhất, định chúng phản ánh thế lực kinh tế của một nước trong nền kinh tế thị trường. Từ năm 1992 nước ta mới chỉ có 4 mặt hàng chủ lực là: Dầu thô, Thuỷ sản, Gạo và Dệt may, 5 năm sau đến năm 1997 nước ta đã có 10 mặt hàng xuất khẩu được coi là chủ lực và hiện nay Việt Nam có khoảng 19 mặt hàng chủ lực bao gồm: Hàng dệt may; Dầu thô; Giầy dép; Gạo; Thuỷ – Hải sản; Cà phê; Chè; Cao su; Nhân hạt điều; Than đá; Rau quả; Hàng thủ công mỹ nghệ; Hạt tiêu; Hàng điện tử - Linh kiện máy

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản