Luận văn tốt nghiệp " Đánh giá hiệu quả quản lý thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế huyện Tân Châu, tỉnh An Giang "

Chia sẻ: Huy Hoang | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:65

0
1.157
lượt xem
584
download

Luận văn tốt nghiệp " Đánh giá hiệu quả quản lý thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế huyện Tân Châu, tỉnh An Giang "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong bất kì một chế độ xã hội nào, thuế luôn luôn là một công cụ thể hiện quyền lực của nhà nước và là nguồn tài chính chủ yếu và tin cậy để phục vụ nhu cầu chi tiêu công cộng xã hội. Với tốc độ gia tăng và đa dạng hóa các khu vực và toàn cầu hóa nhằm khai thác tối đa lợi thế so sánh của mỗi quốc gia nói riêng và khu vực nói chung đã đặt các nhà hoạch định chính sách kinh tế, tài chính trước những thách thức lớn lao đòi hỏi...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp " Đánh giá hiệu quả quản lý thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế huyện Tân Châu, tỉnh An Giang "

  1. z  LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Đánh giá hiệu quả quản lý thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế huyện Tân Châu, tỷnh An Giang Giáo viên hướng dẫn : Ths Nguyễn Duy Nhất Sinh viên thực hiện : Lê Thị Thùy Trang
  2. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất 1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI: Trong bất kì một chế độ xã hội nào, thuế luôn luôn là một công cụ thể hiện quyền lực của Nhà nước và là nguồn tài chính chủ yếu và tin cậy để phục vụ nhu cầu chi tiêu công cộng xã hội. Với tốc độ gia tăng và đa dạng hóa nhanh chóng về phát triển kinh doanh cùng với xu thế nhất thể hóa các khu vực và toàn cầu hóa nhằm khai thác tối đa lợi thế so sánh của mỗi quốc gia nói riêng và khu vực nói chung đã đặt các nhà hoạch định chính sách kinh tế, tài chính trước những thách thức lớn lao đòi hỏi phải cải cách toàn diện. Hiện nay, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đang phát triển với tốc độ cao, đi đầu trong mọi ngành nghề. Khu vực này đã tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân và ngày càng khẳng định vị trí tiên phong. Với tốc độ phát triển nhanh chóng của trình độ sản xuất kinh doanh, hệ thống chính sách thuế và cách thức quản lý thuế có nhiều điểm tỏ ra không còn phù hợp. Điển hình đối với thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp là hai nguồn thu chủ lực trong tổng nguồn thu thuế nhưng cũng lại là lĩnh vực bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập nhất. Trước bối cảnh này, hệ thống thuế nước ta đã có sự tiến triển không ngừng và ngày càng hoàn thiện đã có đóng góp to lớn cho công cuộc xây dựng đất nước. Tuy nhiên, cải cách thuế cần được kết hợp chặt chẽ và tương thích giữa chính sách và quản lý thuế vì một hệ thống chính sách dù có tiên tiến đến đâu cũng không phát huy được tác dụng nếu không phù hợp với trình độ quản lý và ngược lại, cải cách quản lý hành chính thuế cần được dựa trên một hệ thống chính sách thuế ổn định và rõ ràng. Do vậy, công tác quản lý thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp sao cho hiệu quả là vô cùng quan trọng, không những đảm bảo nguồn thu mà còn mang lại nhiều lợi ích xã hội. Đó là lý do em chọn đề tài: “ Đánh giá hiệu quả quản lý thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế huyện Tân Châu, tỷnh An Giang”. 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: Đề tài gồm có 3 phần chính: Phần mở đầu SVTH: Lý Thị Thùy Trang 1
  3. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất Phần nội dung Chương 1: Tổng quan về thuế Chương 2: Giới thiệu sơ lược về Chi cục thuế huyện Tân Châu Chương 3: Phân tích tình hình quản lý thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế huyện Tân Châu Chương 4: Đánh giá hiệu quả quản lý thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục thuế huyện Tân Châu, tỷnh An Giiang. Phần kết luận 3. MỤC TIÊU NGHÊN CỨU: - Để có thêm nhiều hiểu biết đối với hệ thống thuế và cách thức quản lý hành chính về thuế - Đánh giá hiệu quả quản lý thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục. - Tìm ra những tồn tại và nguyên nhân trong công tác quản lý hiện nay. - Đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: - Phương pháp luận theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử để nhìn nhận sự việc theo sự vận động và phát triển của nó. - Phương pháp tổng hợp số liệu dựa trên: các báo cáo, tài liệu của cơ quan thực tập, các số liệu thống kê của Phòng Thống kê huyện. - Phương pháp so sánh: theo thời gian, theo chỉ tiêu… - Phương pháp liên hệ cân đối: dựa vào các mối liên hệ về lượng, về mức độ biến động giữa hai mặt của một yếu tố và quá trình quản lý. - Phương pháp đồ thị và biểu đồ: bằng hình ảnh, tính chất của đồ thị để phân tích mối quan hệ, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. SVTH: Lý Thị Thùy Trang 2
  4. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất 5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Chi cục thuế huyện Tân Châu thực hiện thu nhiều loại thuế, phí nhưng thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng cao nhất nhưng chứa đựng nhiều vướng mắc, bất cập. Do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan nên đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế huyện Tân Châu, tỷnh An Giang trong 3 năm từ 2001 đến 2003. SVTH: Lý Thị Thùy Trang 3
  5. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ 1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA THU NGÂN SÁCH, THUẾ: Lịch sử xã hội loài người đã trải qua những giai đoạn tiến hoá và phát triển, trong quá trình đó thì sự hình thành Nhà nước là một tất yếu khách quan. Nhà nước là một phạm trù mang tính lịch sử, Nhà nước do giai cấp thống trị hình thành nên để cai trị những giai cấp đối kháng trong xã hội. Nhà nước xét ở khía cạnh phân công lao động xã hội là một bộ máy tổ chức với nhiều hệ thống cơ quan có chức năng nhiệm vụ khác nhau để tổ chức cai quản xã hội. Để hoạt động được, bộ máy Nhà nước cần nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy từ trung ương đến địa phương, chi cho những công việc thuộc chức năng Nhà nước như: chi đầu tư phát triển, chi an ninh quốc phòng, các vấn đề phúc lợi xã hội…Ngày nay, xã hội càng phát triển thì nhu cầu chi tiêu càng lớn, cả về phát triển chiều rộng lẫn chiều sâu cho tất cả lĩnh vực. Như vậy, vấn đề được đặt ra là thu từ đâu để phục vụ cho chi tiêu? Bộ máy Nhà nước gồm những người chuyên công tác quản lý điều hành chứ không trực tiếp sản xuất trong khi thu nhập của xã hội do các tầng lớp dân cư tạo ra. Lịch sử cho thấy có 3 hình thức động viên một phần thu nhập của xã hội để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, đó là: quyên góp, vay của dân và dùng quyền lực buộc dân đóng góp. Quyên góp thì dựa trên tinh thần tự nguyện, vay thì phải trả mà trả thì lại phải tìm nguồn thu. Cho nên lịch sử cũng cho thấy hình thức thứ 3 là hữu hiệu và hiệu quả nhất. Và hình thức buộc dân đóng góp chính là thuế. Từ những nhận định trên cho thấy, thuế là một sản phẩm tất yếu của sự phân công lao động xã hội. Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước, vì Nhà nước và do Nhà nước. Nhà nước ra đời là một tất yếu khách quan vì vậy thuế cũng là một tất yếu khách quan với chức năng chủ yếu và đầu tiên là nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho Nhà nước. Nhà nước và thuế là hai phạm trù luôn gắn liền với nhau. Sử dụng thuế làm công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế là sự cần thiết khách quan đối với mọi Nhà nước. Nhưng mức độ và nội dung sử dụng ở các nước SVTH: Lý Thị Thùy Trang 4
  6. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất thì không hoàn toàn giống nhau; mà nó tuỳ thuộc vào từng Nhà nước nhất định, với tình hình kinh tế- xã hội nhất định và định hướng phát triển kinh tế cụ thể trong từng thời kỳ lịch sử. Hiện nay, tuỳ góc độ mà có các khái niệm khác nhau về thuế, đứng ở góc độ pháp luật thì: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân, được Nhà nước qui định thông qua hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước”. Đồng thời thuế là công cụ điều tiết kinh tế linh hoạt nhạy bén và hiệu quả. Tính hợp lý của các hình thức và biện pháp thuế khiến cho thuế trở thành công cụ điều tiết sắc bén, đa diện và thâm nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế. 1.2 BẢN CHẤT CỦA THUẾ: Bản chất của thuế gắn liền với bản chất của Nhà nước. Nhà nước mang bản chất nào thì thuế mang bản chất của giai cấp mà Nhà nước đó đại diện. Trong xã hội phong kiến, Nhà nước vương quyền dùng thuế là phương tiện bóc lột, vơ vét của nhân dân bị trị để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu theo ý chí riêng của giai cấp mình mà không quan tâm đến lợi ích nhân dân. Đến xã hội tư bản, cũng là xã hội có giai cấp đối kháng là tư sản- vô sản, thuế đã đóng vai trò to lớn trong nền kinh tế xã hội, thực hiện được nhiều chức năng của nó nhưng xét về bản chất vẫn phục vụ cho giai cấp tư sản- giai cấp thống trị. Nhà nước ta là Nhà nước của dân do dân và vì dân nên thuế nước ta mục tiêu cuối cùng cũng phục vụ lợi ích nhân dân. Quan điểm của Nhà nước ta về thuế là việc động viên vào ngân sách Nhà nước phải vừa hài hòa về lợi ích kinh tế và xã hội, vừa đảm bảo nguồn thu tài chính để Nhà nước thực hiện các chức năng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng. 1.2.1 Bản chất kinh tế: Thuế là một bộ phận thu nhập của xã hội được tập trung để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Kinh tế là cơ sở của thuế, thuế gắn chặt chẽ với sản xuất, kinh doanh và kiểm soát thu nhập của mọi tổ chức và cá nhân để động viên và điều hoà thu nhập, điều tiết kinh tế (điều tiết sản xuất và tiêu dùng). Nguồn thu từ thuế cho ngân sách Nhà nước chỉ có thể tăng nhiều và SVTH: Lý Thị Thùy Trang 5
  7. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất nhanh trên cơ sở kinh tế được phát triển và đạt hiệu quả cao. Ngược lại, qua thu thuế phải góp phần kích thích sản xuất kinh doanh phát triển, thúc đẩy thực hành tiết kiệm về mọi mặt trong sản xuất và tiêu dùng một cách hợp lý để tạo nguồn thu thuế ngày càng lớn hơn. Chính vì vậy nếu Nhà nước tăng mức động viên thuế quá cao chỉ nhằm mục đích đơn thuần tăng thu ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước mà bỏ qua yêu cầu đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế thì thường gặp thất bại, dễ dẫn đến hậu quả xấu về nhiều mặt. 1.2.2 Tính cưỡng chế của thuế: Đây là một phạm trù độc đáo và có nét riêng. Tính cưỡng chế được thể hiện thông qua các điều khoản pháp luật. Thuế không thể xây dựng trên và dung hòa với tư tưởng tự nguyện; khoản thuế thu được không thể trông chờ vào thiện chí hay nhiệt tình của dân chúng đối với Nhà nước. Thuế thể hiện ý chí toàn dân chứ không riêng ai cả. 1.2.3 Tính không có đối giá trực tiếp: Nộp thuế cho Nhà nước không giống chi tiền mua một sản phẩm hay dịch vụ nào đó để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng riêng tư. Nộp thuế là một nghĩa vụ không thể thoái thác và khối lượng các lợi ích mà người nộp thuế nhận được từ Nhà nước không liên quan gì đến khối lượng thuế đã chi trả. Người nộp thuế không nhận lại được lợi ích tương xứng với khoản họ đóng góp. Khoản tiền từ thuế sẽ được Nhà nước sử dụng vào những mục tiêu chiến lược và lâu dài, nó quay lại phục vụ cho người dân nhưng gián tiếp và rất khó nhận thấy. 1.2.4 Thuế được dùng vào chi tiêu công cộng: Đặc tính này giảm nhẹ ý niệm cưỡng bức của thuế. Ngày nay, quyền lực công cộng đã thuộc về toàn thể dân chúng, bộ máy Nhà nước do dân chúng điều khiển nên việc nộp thuế và sử dụng tiền thu thuế cũng do dân chúng quyết định. Ngoài một phần cung cấp cho quản lý hành chánh, đại bộ phận thuế thu được chuyển giao lại cho người dân khi Nhà nước chi ngân sách cho văn hoá, thông tin, thể dục thể thao,giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội cho các chương trình nghiên cứu khoa học, chống ô nhiễm môi trường, chống tệ nạn xã hội…Ví dụ như tổng thu trên địa bàn An Giang năm 2003 là 1.892.010 triệu đồng, trong đó SVTH: Lý Thị Thùy Trang 6
  8. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất thu từ thuế, phí và lệ phí là 444.000 triệu đồng, chiếm 23,47% tổng thu ngân sách Nhà nước của tỷnh. Số tiền phục vụ chi quản lý hành chính là 100 tỷ đồng, chi giáo dục đào tạo là 359,5 tỷ đồng, chi đầu tư phát triển 654,6 tỷ đồng, chi y tế là 78 tỷ…Tổng chi lên đến 1.642,7 tỷ đồng, chiếm 86,82% so tổng thu. Điều này cho thấy nguồn thu từ thuế chủ yếu phục vụ cho chi tiêu công cộng. 1.2.5 Tính vĩnh viễn: Nộp thuế cho Nhà nước không giống cho Nhà nước vay nên không thể đòi lợi tức và vốn đáo hạn. Thuế được dùng vào tài trợ công chi, mà phần lớn công chi là những khoản cấp phát, cho không. Trên ý nghĩa đó, đóng thuế cho chính phủ là san sẻ một phần gánh nặng công chi. Xét về bản chất, thuế là một hình thức tái phân phối thu nhập xã hội do các doanh nghiệp và dân chúng sáng tạo hình thành nên ngân sách Nhà nước, nhằm tài trợ các nhu cầu chi tiêu công cộng. Xét về hiện tượng thuế là quá trình chuyển dịch một chiều thu nhập xã hội từ khu vực tư vào khu vực công cộng. Như vậy nộp thuế thực chất là quá trình chuyển dịch chi tiêu tư thành chi tiêu vì lợi ích chung. Tái phân phối thu nhập xảy ra khi một tư nhân đóng một khoản tiền thuế cho Nhà nước và nhận lại không tương xứng phần “lợi ích” từ công chi. Nếu tư nhân đó nhận được “lợi ích” từ công chi tương xứng với số tiền thuế anh ta đã nộp thì không có sự tái phân phối. Tái phân phối thu nhập xã hội gồm: tái phân phối theo chiều dọc và tái phân phối theo chiều ngang. Tái phân phối theo chiều dọc nhằm san sẻ thu nhập của các doanh nghiệp và cá nhân giàu; tái phân phối chiều ngang nhằm điều hòa thu nhập của các doanh nghiệp và cá nhân các ngành, lĩnh vực hoặc các giới khác nhau. Trên thực tế những khác biệt giữa hai loại thuế là rất mờ nhạt. Tóm lại, thuế là một đặc quyền chỉ thuộc Nhà nước và thể hiện sức mạnh của Nhà nước trong dời sống xã hội. Nhà nước dùng thuế để tái phân phối thu nhập xã hội và điều chỉnh kinh tế vĩ mô. 1.3 VAI TRÒ CỦA THUẾ Nền kinh tế các nước trên thế giới hiện nay diễn ra đều có sự quản lý của Nhà nước, mức động viên tùy từng quốc gia nhưng không ai có thể phủ SVTH: Lý Thị Thùy Trang 7
  9. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất nhận vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế. Và tích cực hay tiêu cực thể hiện trội hơn thì tuỳ từng phương thức điều hành, quản lý. Thuế cũng vậy, bản thân thuế cũng chứa đựng những mâu thuẫn nội tại; vai trò của thuế là rất to lớn, rất quan trọng nhưng đến mức nào còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Vai trò của thuế hiện nay vẫn tồn tại nhiều quan điểm, đôi khi trái ngược nhau. Nhưng nhìn chung toàn bộ hệ thống thuế trong cơ chế thị trường có các vai trò cơ bản sau: 1.3.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu, ổn định của ngân sách Nhà nước: Thuế đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế hiện nay. Thuế là công cụ chủ yếu để tập hợp và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc đân theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thuế được thu dựa trên cơ sở thu nhập xã hội nên nền kinh tế phát triển ổn định thì nguồn thu cũng ổn định. Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế phải bao quát hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng xã hội để đảm bảo thu đầy đủ và hợp lý. Như vậy, để đảm bảo thuế là nguồn thu chủ yếu, ổn định của ngân sách Nhà nước thì cần có chính sách, hệ thống thuế phù hợp với khả năng của nền kinh tế, với sức đóng góp của nhân dân và giúp thực hiện mục tiêu kinh tế tăng trưởng cao và ổn định. Điểm giống nhau và khác nhau giữa thuế, phí và lệ phí: Thuế, phí và lệ phí giống nhau ở chỗ đều là khoản thu của ngân sách Nhà nước ; đều là một phần thu nhập của tổ chức, cá nhân đóng góp cho Nhà nước; đều chứa đựng tính quyền lực của Nhà nước… Ngoài ra, thuế và phí, lệ phí về mặt kinh tế còn khác nhau về mục đích sử dụng số tiền thu được và tính hoàn trả cho người nộp: mọi khoản thuế thu được đều tập trung vào ngân sách Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước, nguồn thu cho mọi loại thuế không gắn với một mục đích chi nhất định. Trong khi phí, lệ phí thường gắn với một mục tiêu chi cụ thể cho một hoạt động cụ thể của Nhà nước. Mặt khác thuế không mang tính hoàn trả trực tiếp và ngang giá như phí, lệ phí, chỉ khi được hưởng lợi ích hay dịch vụ công cộng mới phải nộp phí, lệ phí và khi phát sinh nhu cầu thì mới thu. SVTH: Lý Thị Thùy Trang 8
  10. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất Từ đó cho thấy, thuế là nguồn thu cơ bản của Nhà nước, các khoản thu khác như phí, lệ phí chỉ mang tính hỗ trợ và được xem là khoản thu để giảm chi. 1.3.2 Thuế góp phần điều chỉnh nền kinh tế: Ngoài việc huy động cho thu ngân sách Nhà nước, thuế còn có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh nền kinh tế. Thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả và thu nhập nên căn cứ vào từng tình huống kinh tế, Nhà nước có thể sử dụng thuế làm công cụ điều chỉnh nền kinh tế. Lúc nền kinh tế đang tăng trưởng cao thì một chính sách tăng thuế sẽ ức chế sự phát triển ngay lập tức. Ngược lại, trong hoàn cảnh kinh tế sa sút, sản xuất trì trệ thì việc hạ thấp thuế sẽ có tác dụng nâng cao nhu cầu, xúc tiến phục hưng nền kinh tế. Đấy là những ví dụ đơn giản về tác động của chính sách thuế đối với nền kinh tế. Trong thực tế thì một cơ chế thuế có rất nhiều tác động đối với mọi thành phần kinh tế. Do vậy, cần ban hành chính sách thuế trên tầm nhìn tổng quan có sự tác động qua lại giữa các mặt kinh tế- chính trị- xã hội để Nhà nước có thể chủ động phát huy vai trò điều hòa, thúc đẩy kinh tế phát triển. Các qui định về đối tượng, pham vi đánh thuế, thuế suất, điều kiện miễn, giảm thuế… Xét về hiện tượng thì mang tính cưỡng chế nhưng bản chất là nhằm điều chỉnh những quan hệ kinh tế nhất định, nhằm khuyến khích hay hạn chế đầu tư vào ngành nghề, sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Bởi đơn giản là, người nộp thuế sẽ thấy đầu tư vào đâu thì có lợi hơn. Tóm lại, thông qua thuế Nhà nước tác động tích cực đến việc thúc đẩy sản xuất phát triển trên cơ sở tận dụng và sử dụng hợp lý mọi nguồn nhân lực, vật lực của đất nước trong việc điều chỉnh quan hệ cung cầu và cơ cấu kinh tế. 1.3.3 Thuế góp phần đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội: Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư để đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân, không có những đặc quyền, đặc lợi bất hợp lý cho đối tượng nào. SVTH: Lý Thị Thùy Trang 9
  11. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất Sự bình đẳng và công bằng thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạt động giống nhau. Vì vậy, các tổ chức, cá nhân có điều hoạt động, hoàn cảnh khác nhau thì sự bình đẳng, công bằng phải được xét đoán dựa trên nhiều yếu tố chứ không chỉ dựa vào mức thuế suất hay phạm vi đánh thuế. Cần phân biệt rõ giữa công bằng xã hội và bình quân chủ nghĩa- mọi người nộp thuế như nhau mới là công bằng thì không đúng. Ví dụ như đánh thuế cao lên người có thu nhập cao nhưng đồng thời cần có những qui định khác để khuyến khích họ đầu tư chất xám, đầu tư vốn, cải tiến kĩ thuật- công nghệ để ngày càng nâng cao thu nhập thì đã là công bằng. Bình đẳng, công bằng xã hội không chỉ là đạo lý, lý thuyết mà phải được biểu hiện bằng Luật pháp, chế độ, qui định rõ ràng của Nhà nước để buộc mọi người phải tuân theo, điển hình là thuế. Công bằng còn thể hiện ở việc Nhà nước có những biện pháp chống thất thu hiệu quả; chế độ miễn, giảm thuế hợp lý; kiểm tra xử lý nghiêm minh những vụ vi phạm; khắc phục tình trạng cửa quyền, móc ngoặc, tham ô… của cán bộ thuế;... 1.4 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG, THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP: 1.4.1 Hệ thống thuế ở Việt Nam hiện nay: Từ giữa những năm 80, cùng với công cuộc mở của và đổi mới nền kinh tế, hệ thống thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm 1990- một hệ thống thuế được hình thành bao gồm chính sách thuế và hệ thống quản lý thuế. Giai đoạn này đã có được một hệ thống thuế tương đối hoàn chỉnh. Đến nay, hệ thống pháp luật về thuế đã được hoàn thiện hơn, gồm các luật thuế chủ yếu như: luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; luật thuế giá trị gia tăng; luật thuế tiêu thụ đặc biệt; luật thuế thu nhập doanh nghệp; luật thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; luật thuế tài nguyên; thuế nhà đất; thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp; một số hình thức thu phí và lệ phí. Phân theo góc độ người nộp thuế thì có thể chia thuế làm 2 loại: thuế trực thu và thuế gián thu: SVTH: Lý Thị Thùy Trang 10
  12. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất Thuế trực thu là loại thuế thu trực tiếp trên thu nhập của người nộp thuế. Thuế trực thu có bản chất kinh tế là người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế, thường là thuế thu nhập, thuế tài sản…Thuế trực thu có những ưu điểm như: động viên thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập nên đảm bảo được công bằng xã hội, người có thu nhập cao thì nộp nhiều và ngược lại. Mặt khác, thuế trực thu cũng có những tồn tại như: tính toán phức tạp; dễ bị phản ứng tiêu cực từ phía người nộp; diện quản lý thu thuế rộng nên thường tốn nhiều công sức nhưng hiệu quả thấp… Thuế gián thu là loại thuế Nhà nước thu vào người tiêu dùng nhưng không trực tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng mà thu giá tiếp qua người bán hàng hóa, dịch vụ. Bản chất kinh tế của thuế gian thu là người nộp thuế không phải là người chịu thuế mà người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ. Thuế gián thu thường là thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt…Thuế gián thu có những ưu điểm như: nghiệp vụ tính thuế và thu thuế đơn giản; người tiêu dùng khó nhận biết là mình nộp thuế nên ít phản ứng hơn. Trái lại, thuế gián thu có nhược điiểm là tính lũy thoái của nó. Vì thuế gián thu đánh như nhau trên cùng một loại hàng hóa và số lượng như nhau thì chịu thuế như nhau, nhưng thực chất tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu chịu thấp hơn người nghèo, người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ nộp thuế gián thu trên thu nhập càng thấp. Chính vì vậy, để động viên thuế từ tất cả mọi người trong xã hội, người ta sử dụng thuế gián thu cùng với thuế trực thu hợp thành hệ thống thuế thống nhất, trong đó các loại thuế vùa thực hiện nhiệm vụ chính của mình vừa hỗ trợ nhau để phát huy tác dụng đồng bộ của cả hệ thống thuế. Một số loại thuế điển hình và tác dụng của chúng: Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao có tác dụng góp phần thực hiện công bằng xã hội; điều tiết một phần thu nhập từ người có thu nhập cao sang người có thu thấp hoặc không có thu nhập thông qua các công tác an sinh xã hội. SVTH: Lý Thị Thùy Trang 11
  13. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất Thuế tiêu thụ đặc biệt có tác dụng là nguồn thu quan trọng của ngân sách; là công cụ để Nhà nước hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng của xã hội theo hướng có hiệu quả; hạn chế, tiết kiệm đối với những hàng hóa xa xỉ… Thuế tài nguyên có tác dụng góp phần bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả; góp phần bảo vệ môi trường và bảo vệ tài nguyên quốc gia; dùng nguồn thu này để thực hiện các biệp pháp bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên. 1.4.2 Thuế giá trị gia tăng: Thuế giá trị gia tăng có hiệu lực hiện nay ở Việt Nam thay cho Thuế doanh thu trước đây. Nước ta áp dụng thuế giá trị gia tăng đặt căn bản trên hóa đơn. Có ý kiến cho rằng thuế giá trị gia tăng nên được coi là một phương pháp đánh thuế mới hơn là một sắc thuế độc lập, bởi vì theo giáo sư Mel Kraus của trường đại học Amsterdam và Petet O’Brien, nhà kinh tế học tại Geneva thì:” Khái niệm thuế giá trị gia tăng có liên quan đến phương pháp hành thu chứ không liên hệ đến một thứ thuế riêng biệt thuộc một nhóm đặc biệt hay một hoạt động kinh tế đặc biệt theo như nhiều người vẫn tưởng…Về bản chất,thuế giá trị gia tăng không phải là một thứ thuế đánh trên chi phí tiêu thụ mà cũng không phải là một thứ thuế đánh trên lợi tức xuất phát từ các yếu tố sản xuất, nó vốn là một cách thức đánh thuế trên căn bản từng cái một, từng giai đoạn một nhằm tránh cách đánh thuế hai lần”. Vậy, “thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Thực chất đó là một loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất lưu thông hàng hóa kể từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến thành phẩm và cuối cùng là cho đến giai đoạn tiêu dùng. Chính vì vậy mà có người gọi đó là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước.Thuế giá trị gia tăng được phép tính cộng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng gánh chịu. SVTH: Lý Thị Thùy Trang 12
  14. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hóa chịu thuế (gọi chung là người nhập khẩu). Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng: là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất Giá tính thuế được xác định dựa trên đặc điểm, tính chất, hay phương thức bán hàng… của hàng hóa, dịch vụ. Các qui định đưa ra được dựa sát vào thực tế kinh doanh của từng ngành, nghề cụ thể nên đảm bảo công bằng, hợp lý đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể. Thuế suất hiện nay có các mức khác nhau, mức thuế suất thấp hay cao tuỳ vào mức khuyến khích của Nhà nước đối với những ngành, nghề, loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau nhiều hay ít. Diển hình như đối với hàng xuất khẩu, mức thuế suất hiện nay là 0% do Nhà nước đặc biệt khuyến khích xuất khẩu bởi nguồn thu từ xuất khẩu đóng góp rất lớn cho tổng thu nhập quốc dân, cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Phương pháp tính thuế: Thuế giá trị gia tăng mà các cơ sở kinh doanh phải nộp được tính theo 2 phương pháp: phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng. Sở dĩ cần có 2 phương pháp là vì có những cá nhân, tổ chức kinh doanh chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hóa đơn, chứng từ để làm căn cứ xác định thuế giá trị gia tăng đầu ra và thuế giá trị gia tăng đầu vào để tính theo phương pháp khấu trừ. ♦ Phương pháp khấu trừ thuế: Theo phương pháp này, số thuế giá trị gia tăng phải nộp được xác định bằng thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Thuế giá trị gia tăng đầu vào được xác định căn cứ vào hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ để kinh doanh của cơ sở kinh doanh. Còn thuế giá trị gia tăng đầu ra thì dựa trên hóa đơn bán hàng. SVTH: Lý Thị Thùy Trang 13
  15. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất Số thuế phải nộp= Thuế giá trị gia tăng đầu ra – Thuế giá trị gia tăng đầu vào Thuế giá trị gia tăng đầu ra= Giá tính thuế hàng hóa dịch vụ bán ra x Thuế suất Thuế giá trị gia tăng đầu vào = Tổng số thuế giá trị gia tăng đã thanh toán được ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu ♦ Phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng: Theo phương trực tiếp trên giá trị gia tăng thì số thuế giá trị gia tăng phải nộp được xác định bằng giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra nhân với thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ đó. Để tính được số thuế phải nộp theo phương pháp này thì phải tính được giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra. Giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra xác định dựa trên doanh thu và chi phí. Chúng được xác định như sau: Số thuế phải nộp= Giá trị gia tăng hàng hóa, dịch vụ x Thuế suất thuế giá trị gia tăng Giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ = Giá thanh toán hàng - Giá thanh toán của hóa dịch vụ, bán ra hàng hóa, dịch vụ mua vào tương ứng Các cơ sở kinh doanh phải tuân thủ các điều luật về đăng ký nộp thuế, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế như: Đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng với cơ quan thuế trực tiếp quản lý theo hướng dẫn của cơ quan thuế. Kê khai thuế giá trị gia tăng từng tháng và nộp tờ khai thuế cho cơ quan thuế trong 10 ngày đầu của tháng tiếp theo. SVTH: Lý Thị Thùy Trang 14
  16. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất Nộp thuế đầy đủ đúng quy định vào ngân sách Nhà nước. Thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 25 của tháng tiếp theo. Thực hiện quyết toán thuế hàng năm với cơ quan thuế. Năm quyết toán thuế được tính theo năm dương lịch. Ưu điểm của thuế giá trị gia tăng : Tuy còn nhiều tranh cãi nhưng không một ai có thể phủ nhận tính tích cực của thuế giá trị gia tăng đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng. Một số ưu điểm của thuế giá trị gia tăng như: tính trung lập của thuế đối với qui trình sản xuất, kinh doanh khác nhau thông qua việc xoá bỏ các vấn đề thuế đánh chồng thuế. Thuế giá trị gia tăng ít mang phản ứng nặng nề về phía người chịu thuế lẫn người nộp thuế, bởi đánh thuế theo phương pháp này, dưới hình thức một loại thuế gián thu mà người nộp thuế không phải chịu thuế được đánh giá là cách đánh thuế khôn ngoan, tiện lợi; thuế giá trị gia tăng dễ hành thu vì gánh nặng của thuế được chuyển qua từng công đoạn để cuối cùng qui vào người tiêu thụ sản phẩm; sự đơn giản trong công tác quản lý thu thuế; thuế giá trị gia tăng là loại thuế trung tính đối với độ dài ngắn của qui trình sản xuất và phân phối, nhưng lại không trung tính về mặt kinh tế do đó tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế; thuế giá trị gia tăng được chấp nhận tương đối dễ dàng và ít có trường hợp gian lận, ngoại trừ khu vực có qui mô nhỏ và khu vực cung ứng dịch vụ, khu vực có nhiều hoạt động ngầm không khai báo. Tác dụng: Thuế giá trị gia tăng có những tác dụng cơ bản như: không thu trùng như thuế doanh thu, bảo hộ hàng hóa sản xuất trong nước, kích thích xuất khẩu (thuế xuất 0%), không phải là một khoản chi phí (ngoại trừ các trường hợp nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ theo phương pháp trực tiếp) do đó khôn ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. 1.4.3 Thuế thu nhập doanh nghiệp: Thuế thu nhập doanh nghiệp được ban hành nhằm đảm bảo bao quát và điều tiết được tất cả các khoản thu nhập đã, đang và sẽ phát sinh của các cơ sở kinh doanh hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Thuế thu nhập doanh SVTH: Lý Thị Thùy Trang 15
  17. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất nghiệp còn nhằm khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào Việt Nam, khuyến khích các tổ chức, cá nhân sản xuất trong nước bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Mặt khác, thuế thu nhập doanh nghiệp tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Đối tượng chịu thuế thu nhập doanh nghiệp: thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác. Tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm: doanh nghiệp Nhà nước; công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần; doanh nghiệp có vốn dầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng, hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; doanh nghiệp tư nhân; hợp tác xã; tổ hợp tác; tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Căn cứ tính thuế là thu nhập chịu và thuế suất: Thu nhập chịu thuế bao gồm: thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác, kể cả thu nhập thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ở nước ngoài. Xác định thu nhập chịu thuế: Thu nhập chịu thuế = Doanh thu để tính thu - Chi phí hợp lý + Thu nhập chịu trong kỳ tính thuế nhập chịu thuế trong trong kỳ tính thuế khác trong kỳ tính thuế thuế kỳ tính thuế SVTH: Lý Thị Thùy Trang 16
  18. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất Trong đó: Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch vụ, kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng. Chi phí hợp lý là các chi phí là các chi phí có liên quan đến sản xuất kinh doanh và tiêu thụ hàng hóa dịch vụ được pháp luật thừa nhận. Thu nhập chịu thuế khác bao gồm: thu nhập từ chênh lệch mua, bán chứng khoán, quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất; lãi từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản, tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; kết dư cuối năm các khoản dự phòng; thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý, xoá sổ nay đòi được; thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ; các khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót mới phát hiện ra và các khoản thu nhập khác. Cơ sở kinh doanh có những trách nhiệm như: Đăng ký thuế thu nhập doanh nghiệp cùng với việc đăng ký thuế giá trị gia tăng . Kê khai thuế: Hàng năm, cơ sở kinh doanh căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của năm trước và khả năng của năm tiếp theo tự kê khai doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế, số thuế phải nộp cả năm, có chia ra từng quý theo mẫu của cơ quan thuế và nộp cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý chậm nhất là ngày 25 tháng1; nếu tình hình sản xuất, kinh doanh trong năm có sự thay đổi lớn thì cơ sở kinh doanh phải báo cáo cơ quan thuế trực tiếp quản lý để điều chỉnh số thuế tạm nộp cả năm và từng quý. Trong trường hợp cơ quan thuế kiểm tra phát hiện việc kê khai thuế của cơ sở kinh doanh chưa phù hợp thì có quyền ấn định số thuế tạm nộp cả năm và từng quý. Nộp thuế: cơ sở kinh doanh tạm nộp số thuế hàng quý theo bảng tự kê khai hoặc theo số thuế cơ quan thuế ấn định đầy đủ, đúng hạn vào ngân sách Nhà nước. Thời hạn nộp thuế hàng quý chậm nhất là ngày cuối quý. Quyết toán thuế hàng năm với cơ quan thuế. SVTH: Lý Thị Thùy Trang 17
  19. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất Tác dụng của thuế thu nhập doanh nghiệp: Thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng rộng rãi đối các cơ sở sản xuất kinh doanh. Trong sự phát triển của nền kinh tế, tích lũy của các đơn vị kinh tế ngày càng tăng lên sẽ là cơ sở tăng thu thuế thu nhập doanh nghiệp cho Nhà nước. Và góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi cho nền kinh tế. Điều này thể hiện qua việc thiết kế thuế suất chung cho các ngành nghề và thực hiện miễn, giảm thuế khuyến khích tái đầu tư vào sản xuất. Đồng thời, đảm bảo phân phối công bằng, hợp lí giữa các cơ sở kinh doanh kết hợp hài hòa các lợi ích kinh tế, từ đó tạo động lực phát triển sản xuất. Thuế thu nhập doanh nghiệp là khoản thuế trực thu liên quan trực tiếp đến lợi nhuận, nguồn vốn tích lũy của các doanh nghiệp. Một chính sách thu quá cao sẽ ảnh hưởng đến sự mở rộng đầu tư sản xuất của doanh nghiệp. Mặt khác, do yêu cầu phải xác định những chi phí hợp lý một cách chính xác để tính thu nhập chịu thuế nên về mặt nghiệp vụ quản lý đối với loại thuế này rất phức tạp nếu bộ máy quản lý không hoàn chỉnh. Vì vậy, cùng với sự phát triển kinh tế tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường đầu tư, mở rộng phát triển sản xuất và thúc đẩy hạch toán kinh doanh. Thuế thu nhập doanh nghiệp đã được hoàn thiện theo hướng đơn giản hóa bằng việc áp dụng một mức thuế suất thống nhất cho ngành, thiết lập một qui chế rõ ràng về việc xác định thu nhập chịu thuế, nhất là xác định các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ. Các trường hợp miễn, giảm thuế ngày càng được sửa đổi, hoàn thiện. SVTH: Lý Thị Thùy Trang 18
  20. Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CHI CỤC THUẾ HUYỆN TÂN CHÂU 2.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ- XÃ HỘI TỈNH AN GIANG: 2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và hành chính: An Giang là vùng đất mới và còn rất trẻ so với các vùng khác của đất nước. An Giang nằm ở vùng Tây Nam Bộ, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, là tỷnh biên giới có nhiều dân tộc và tôn giáo. Ngoài ra, An Giang còn nằm ở hạ lưu lưu vực sông Mê Kông nên bị ảnh hưởng nhiều bởi lũ lụt, sụt lở bờ sông… Tỷnh An Giang có thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc, 9 huyện và 140 đơn vị hành chính cơ sở (118 xã,11 phường, 11 thị trấn). 2.1.2 Tình hình kinh tế- xã hội những năm vừa qua: Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP tỷnh An Giang qua 3 năm ĐVT: % Năm 2001 2002 2003 Tốc độ tăng trưởng GDP (%) 4,52 10,54 9,13 Khu vực nông nghiệp (%) -0,51 10,33 2,75 Khu vực công nghiệp-xây dựng (%) 11,65 10,84 12,77 Khu vực dịch vụ (%) 7,04 10,63 13,58 Nguồn: Phòng Thống kê huyện Tân Châu Năm 2002, tỷnh An Giang đứng trước thách thức vô cùng khó khăn là GDP năm 2001 có tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong 12 năm qua, chỉ đạt 4,52%. Trong đó khu vực nông nghiệp là thế mạnh to lớn của tỷnh lại tăng trưởng âm do lũ tăng cao đột ngột và kéo dài, thêm vào đó lại gặp khó khăn cho đầu ra của con cá. Trước những thách thức này, tỷnh ủy vẫn tích cực, chủ động cùng sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của cấp ủy, chính quyền các cấp và sự nỗ lực, quyết tâm của nhân dân vượt qua thử thách đã đạt được những thành quả đáng tự hào là GDP tăng trưởng 10,54%, đạt mức cao nhất trong 6 năm qua, kể từ năm 1996, đã phục hồi một cách tuyệt vời nền kinh tế tỷnh giảm sút liên tiếp trong 4 năm qua, nhất là năm 2001. SVTH: Lý Thị Thùy Trang 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản