Luận văn tốt nghiệp “Dịch vụ ngân hàng quốc tế – giải pháp hoàn thiện và phát triển trong hệ thống các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam”

Chia sẻ: trungtri

Trong thời đại toàn cầu hoá hoạt động kinh tế như hiện nay, yêu cầu cấp bách được đặt ra là mọi lĩnh vực, ngành nghề kinh tế phải được cải tổ cho phù hợp với đời sống kinh tế mới. Trong nền kinh tế phát triển, hoạt động và dịch vụ ngân hàng thương mại đi vào tận cùng những ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống con người. Ngược lại, một nền kinh tế muốn phát triển thì phải có một hệ thống ngân hàng mạnh. Chính vì vậy, ưu tiên hàng đầu là nghiên cứu...

Bạn đang xem 20 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp “Dịch vụ ngân hàng quốc tế – giải pháp hoàn thiện và phát triển trong hệ thống các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam”

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
-----------------------




KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ – GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
VÀ PHÁT TRIỂN TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI QUỐC DOANH VIỆT NAM




Sinh viên : Hà Duy Tiến
Lớp : A2-CN9
Giáo viên hướng dẫn : Phan Anh Tuấn




Hà Nội năm 2003


68
Lời mở đầu
Trong thời đại toàn cầu hoá hoạt động kinh tế như hiện nay, yêu cầu
cấp bách được đặt ra là mọi lĩnh vực, ngành nghề kinh tế phải được cải tổ cho
phù hợp với đời sống kinh tế mới. Trong nền kinh tế phát triển, hoạt động và
dịch vụ ngân hàng thương mại đi vào tận cùng những ngõ ngách của nền kinh
tế và đời sống con người. Ngược lại, một nền kinh tế muốn phát triển thì phải
có một hệ thống ngân hàng mạnh. Chính vì vậy, ưu tiên hàng đầu là nghiên
cứu và phát triển các dịch vụ ngân hàng.
Trong những năm gần đây, các nền kinh tế trên thế giới thường phải
đối mặt với nhiều biến động trên thị trường tài chính dẫn đến suy thoái kinh tế
nghiêm trọng. Các nhà kinh tế cũng như các nhà quản lý trên thế giới trên thế
giới đặc biệt quan tâm, nghiên cứu đến lĩnh vực tài chính nói chung và hệ
thống ngân hàng nói riêng.Việt Nam hiện nay đang trong quá trình chuyển đổi
nền kinh tế tiến tới công nghiệp hoá,hiện đại hoá. Đảng và nhà nước ta luôn
có chủ trương huy động mọi nguồn lực, nguồn vốn phục vụ cho sự nghiệp
phát triển kinh tế xã hội trong đó nguồn vốn trong nước là quyết định, nguồn
vốn ngoài nước là rất quan trọng, nguồn vốn hỗ trơ phát triển ODA cần được
sự quan tâm đặc biệt. Đảng và nhà nước cũng chủ trương phát triển kinh tế
hướng vào xuất khẩu. Tất cả cho thấy mối quan hệ kinh tế với nước ngoài là
đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh ở nước ta. Mà mối quan hệ này
muốn tồn tại và phát triển thì phải nhờ vào các dịch vụ ngân hàng quốc tế. Do
vậy việc nghiên cứu về dịch vụ ngân hàng quốc tế ở các ngân hàng quốc
doanh ở Việt nam là rất cần thiết.
Khoá luận tốt nghiệp này tập trung vào hệ thống hoá vấn đề lý luận,
làm rõ bản chất vai trò và lợi ích của dịch vụ ngân hàng quốc tế. Từ lý luận
dẫn đến đánh giá khách quan hoạt động ngân hàng quốc tế ở các ngân hàng
thương mại quốc doanh Việt nam. Khoá luận này không tập trung vào việc
mô tả qui trình nghiệp vụ, mà chủ yếu phân tích dữ liệu nhằm mục đích giải


69
thích được vấn đề: Tại sao một số dịch vụ có tồn tại nhưng chưa phát triển,
một số khác có phát triển nhưng chưa đạt được trình độ quốc tế, từ đó đưa ra
những giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện và phát triển hoạt động ngân hàng
quốc tế ở các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam.
Do hạn chế về khả năng và giới hạn của một khoá luận tốt nghiệp nên
không thể nghiên cứu một cách tỉ mỉ tất cả các khía cạnh khác nhau của dịch
vụ ngân hàng quốc tế mà chỉ tập trung nghiên cứu những dịch vụ ngân hàng
quốc tế chủ yếu ở các ngân hàng thương mại quốc doanh qua nhưng năm gần
đây.

Đề tài:
Dịch vụ ngân hàng quốc tế – giải pháp hoàn thiện và phát triển
trong hệ thống các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam

Bố cục của khoá luận ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có ba chương
Chương I: Những vấn đề cơ bản về dịch vụ ngân hàng quốc tế
Chương II: Thực trạng dịch vụ ngân hàng quốc tế ở các ngân hàng thương
mại quốc doanh Việt nam
Chương III: Những giải pháp hoàn thiện và phát triển dịch vụ ngân hàng quốc
tế của các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam.




70
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ


I . TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
1. Đôi nét về lịch sử ngân hàng và dịch vụ ngân hàng
Thuật ngữ "ngân hàng" đã có từ lâu. Tại thành Athène (Hylạp), các
nhà đổi tiền được gọi Trapezita - bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp "Trapeza"có
nghĩa là cái bàn. Hoạt động mua bán, trao đổi, vay tiền được tiến hành trên
các ghế dài gọi là Banca. Đây cũng là nguồn gốc tạo các từ Banque (Pháp),
Bank (Anh, Mỹ, Đức), Banco (Italia)…. có nghĩa là ngân hàng sau này.
Ngân hàng liên tục phát triển theo điều kiện kinh tế xã hội. Các nghiệp
vụ ngân hàng đơn giản đã xuất hiện từ thời thượng cổ. Dưới thời Trung cổ,
các hoạt động ngân hàng được mở rộng tại khắp các nước Châu Âu, Trung
đông, Trung Hoa. Tuy hoạt động ngân hàng xuất hiện từ lâu, nhưng mãi đến
đầu thế kỷ XV (1401), mới có một cơ quan trên thế giới được xem là một
ngân hàng thực sự, đó là Banca di Barcelone ở Tây ban nha. Và sau đó ít năm,
ngân hàng Banca di Valencia cũng đựơc thành lập ở Tây ban nha. Hai ngân
hàng này được coi là hai ngân hàng đầu tiên trên thế giới đã thực hiện phần
lớn các nghiệp vụ của ngân hàng hiện nay tuy qui mô và mức độ có khác
nhau. Trước thế kỷ 17 hoạt động ngân hàng chỉ là buôn tiền, cho vay nặng lãi
là chủ yếu và khách hàng chính là vua chúa và tầng lớp quí tộc giàu sang.
Năm 1557 vua chúa các nước Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha nhất loạt
tuyên bố không trả nợ làm cho hàng loạt ngân hàng phá sản
Do không chịu mức lãi suất cao quá mức, các nhà tư bản nông, công,
thương nghiệp hùn vốn với nhau lập ra các ngân hàng, hội tín dụng để cho
vay vốn với mức lãi suất có thể chấp nhận được. Loại ngân hàng này xuất
hiện ở Vienise (Italia) năm 1589, Milan (Italia) năm 1593, Asmterdam (Hà

71
lan) năm 1600. Cuối thế kỷ 17 xuất hiện ngân hàng lớn nhất thế giới, ngân
hàng Anh ở Luân đôn. Ngân hàng Anh là một công ty cổ phần lớn kinh doanh
tín dụng tư bản với mức lãi suất thấp 6% năm và điều này buộc các ngân hàng
cho vay nặng lãi phải hạ lãi suất theo và kinh doanh giống các ngân hàng tư
bản. Trong suốt thế kỷ 18, các ngân hàng tư bản khác ở châu Âu lục địa, Bắc
Mỹ lần lượt ra đời. Từ giữa thế kỷ 19 trở đi, các nước đế quốc mới thành lập
các ngân hàng trên các nước phong kiến, thuộc địa, nửa thuộc địa như ngân
hàng Đông Dương của Pháp thành lập năm 1875 tại Sài gòn (Việt nam).
Trong thời đại hiện nay, việc kinh doanh tiền tệ không còn là độc quyền của
các ngân hàng. Cùng với ngân hàng, các tổ chức tài chính khác như công ty
bảo hiểm, các quỹ hưu trí, quỹ tín dụng, hội tín dụng cho vay. Tuy nhiên khi
nghiên cứu lịch sử dịch vụ ngân hàng cho thấy rằng có dịch vụ ngân hàng vẫn
là của riêng ngân hàng.
Dịch vụ Ngân hàng Quốc tế đã trải qua các giai đoạn phát triển sau:
Giai đoạn sơ khai, ngân hàng nhận bảo quản, giữ hộ tiền, gửi tiền và
cho vay tiền và hoạt động này diễn ra trên chiếc bàn dài (tiếng Lating là
Bancus). Hoạt động này là nghiệp vụ ngân hàng đầu tiên, tồn tại lâu đời nhất.
Theo thời gian, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội các nghiệp vụ ngân
hàng ngày càng đa dạng, phát triển không ngừng.
Giai đoạn phát triển thứ hai Trong vòng năm thế kỷ - từ thế kỷ thứ V
đến thế kỷ thứ X, nhiều hoạt động mới được áp dụng và đạt được những bước
tiến mới về nghiệp vụ ngân hàng như:
♦ Ngân hàng bắt đầu ghi chép và theo dõi hoạt động của thân chủ qua
số hiệu tài khoản.
♦ Ngân hàng áp dụng phương pháp bù trừ. Những chủ nợ của cùng
một loại tiền hay tài sản thì được thanh toán chuyển nhượng lẫn nhau trong
mua bán giữa họ ở cùng một ngân hàng và kể cả đối tác ở ngân hàng khác, và
nợ đáo hạn được bù trừ.



72
♦ Nghiệp vụ chuyển ngân, tức là chuyển tiền từ nơi này sang nơi khác
cũng được áp dụng.
♦ Ngân hàng cũng làm nghiệp vụ bảo lãnh, là biểu hiện ban đầu của
hình thức chấp nhận các thương phiếu trong nghiệp vụ ngân hàng hiện đại
♦ Ngân hàng đã áp dụng chiết khấu thương phiếu.
Giai đoạn thứ ba: Ngân hàng đánh dấu sự phát triển vào giai đoạn thứ
ba với việc mạnh dạn cho vay tiền, tạo ra các khoản tiền mới trong lưu thông.
Ngân hàng từ lâu đã phát hành các chứng thư (như séc ngày nay) khi có người
gửi vào ngân hàng bằng tiền vàng hoặc tiền đúc - 100 tiền ngân hàng thay cho
100 tiền vàng đúc. Tuy nhiên vào cuối thế kỷ XVII khi chứng thư được chấp
nhận rộng rãi và nhu cầu tăng đột ngột, một số ngân hàng đã phát hành các
chứng thư tự do (không có tiền vàng bảo đảm) và tiền ngân hàng ra đời. Tuy
nhiên tiền ngân hàng (Bank notes) chỉ được lưu hành rộng rãi từ đầu thế kỷ
XX sau khi nhà nước độc quyền phát hành giấy bạc pháp định. Ngày nay do
sự phát triển về kinh tế, đặc biệt là khoa học công nghệ, dịch vụ ngân hàng đã
phát triển về mọi mặt và ra đời những loại sử dụng công nghệ cao như thanh
toán bằng thẻ điện tử, ứng dụng mạng SWIFT…..
Do sự đa dạng của dịch vụ ngân hàng nên không thể có định nghĩa cụ
thể, thống nhất về dịch vụ ngân hàng. Hiểu nôm na dịch vụ ngân hàng nói
chung là tất cả những việc mà ngân hàng thường làm trong khuôn khổ nghề
nghiệp của họ.
2. Lịch sử phát triển của dịch vụ ngân hàng quốc tế
Trong lịch sử phát triển lâu dài của hoạt động ngân hàng như nêu ở
phần trên, có xuất hiện mầm mống hoạt động ngân hàng quốc tế tại các nước
ở châu Âu vào thế kỷ 13. Vào thế kỷ 19, các nước thực dân đã mở rộng vùng
thuộc địa của mình, tìm kiếm thị trường ngoài lãnh thổ của mình. Các ngân
hàng thương mại của Anh và Pháp đã thiết lập nhiều chi nhánh ở nước ngoài.
Mạng lưới chi nhánh của họ bao trùm trên lãnh thổ châu Âu và các vùng lãnh



73
thổ thuộc địa. Ngân hàng Đông Phương của Anh thành lập tại Trung Quốc,
ngân hàng Đông Dương của Pháp thành lập ở Việt Nam.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, các nước châu Âu rất cần tiền để tái
thiết nền kinh tế bị huỷ hoại nặng nề bởi chiến tranh và Mỹ là nhà tài trợ
chính. Ngoài ra sự tăng trưởng chưa từng có về đầu tư và thương mại quốc tế
trên thế giới sau chiến tranh thế giới thứ II đã dẫn đến sự phát triển không
ngừng các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng thương mại. Với
các hiệp định “Land Bank”, “Marshall”, các ngân hàng Hoa kỳ đã cho nước
ngoài vay hàng chục tỷ USD. Rất nhiều ngân hàng thương mại Hoa kỳ, trong
thập niên 60, tăng lên nhanh chóng về quy mô đã đưa đến chủ trương mở rộng
nghiệp vụ ngân hàng ra nước ngoài (cả các nước công nghiệp phát triển và
các nước đang phát triển), đó là phản ứng tự nhiên của việc phát triển nghiệp
vụ ngân hàng trong nước và đáp nhu cầu tham gia vào thị trường tài chính
quốc tế và những đổi mới trong lĩnh vực này đã tạo ra rất nhiều nghiệp vụ
ngân hàng mới. Lịch sử phát triển ngân hàng gọi đây là làn sóng phát triển
dịch vụ ngân hàng quốc tế thứ nhất.
Một vài thập kỷ sau thế chiến thứ II kết thúc, bên cạnh sự phát
triển kinh tế vượt bậc của Mỹ, các quốc gia châu Âu như Anh, Pháp, Đức...
các nước tư bản khác như Canada và đặc biệt là Nhật cũng giành được những
thành tựu kinh tế quan trọng. Lẽ tất yếu khi kinh tế phát triển kéo theo việc
các ngân hàng của các quốc gia công nghiệp hoá, đặc biệt là ngân hàng các
nước Canada, Nhật bản, Đức, Anh, Pháp cũng theo gương của các Ngân hàng
Hoa kỳ ra sức mở rộng nghiệp vụ của mình ra nước ngoài trong thập kỷ 70.
Lịch sử ngân hàng gọi đây là làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế
thứ hai.
Bên cạnh làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng ồ ạt của các nước tư
bản, có một làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ ba của các nước đang
phát triển diễn ra bình lặng vào cuối thập kỷ 70.
Làn sóng phát triển dịch vụ ngân hàng thứ tư bắt đầu bằng sự kiện ra


74
đời đạo luật nhất thể hoá châu Âu ban hành vào năm 1986; trong đó Cộng
đồng Châu Âu xoá bỏ mọi rào chắn đối với luồng vốn quốc tế. Điều này tạo
điều kiện cho dịch vụ ngân hàng quốc tế phát triển mạnh mẽ về chất lượng và
số lượng và vì vậy các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mang tính toàn cầu hoá.




75
3. Bản chất dịch vụ ngân hàng quốc tế
3.1. Định nghĩa dịch vụ ngân hàng quốc tế
Phần trên đã cho thấy một bức tranh tổng quát về dịch vụ ngân hàng và
dịch vụ ngân hàng quốc tế nói chung, nhưng để xây dựng định nghĩa dịch vụ
ngân hàng quốc tế cần:
♦ Căn cứ phân biệt nghiệp vụ ngân hàng quốc tế và nghiệp vụ ngân
hàng trong nước là loại hoạt động kinh doanh mà ngân hàng cung cấp cho
khách hàng của họ có tính quốc tế hay không. Điều này được giải thích bởi ba
lý do sau
♦ Thứ nhất, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là loại hoạt động trợ giúp cho
hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng thông qua hoạt động tài trợ thương
mại quốc tế. Điều này có nghĩa là nghiệp vụ ngân hàng trong trường hợp này
gắn bó chặt chẽ với thương mại quốc tế.
♦ Thứ hai, nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là loại hoạt động đáp ứng nhu
cầu trao đổi ngoại tệ của khách hàng nhằm thực hiện các giao dịch thương
mại và đầu tư qua biên giới quốc gia.
♦ Thứ ba, vì các ngân hàng hoạt động kinh doanh quốc tế có điều kiện
thuận lợi kinh doanh ngoại tệ, họ cũng thường kinh doanh ngoại tệ cho chính
số tiền của họ.
♦ Một căn cứ nữa để phân biệt nghiệp vụ ngân hàng quốc tế và
nghiệp vụ ngân hàng trong nước của ngân hàng thương mại là nghiệp vụ ngân
hàng quốc tế diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia; còn nghiệp vụ ngân hàng
trong nước chỉ diễn ra trong nội bộ quốc gia và đối tượng khách hàng là
pháp nhân, thể nhân của quốc gia đó.
Như vậy ta có thể đưa ra định nghĩa dịch vụ ngân ngân hàng quốc tế:
Dịch vụ ngân hàng quốc tế là các giao dịch ngân hàng liên quan tới
một hoặc nhiều bên đối tác ở ngoài biên giới nước có trụ sở chính của
ngân hàng cung cấp dịch vụ



76
Trên phương diện phân loại nghiệp vụ ngân hàng quốc tế là một dạng
hoạt động kinh doanh quốc tế thì nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của ngân
hàng thương mại có thể được coi là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả
các công đoạn của quá trình hoạt động đầu tư và cung ứng dịch vụ tiền tệ và
tài chính quốc tế trên thị trường trong nước và quốc tế nhằm mục đích sinh
lời.
Việc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, các ngân hàng
thương mại tổ chức bằng hai phương thức sau:
Tiến hành các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế tại nước ngoài bằng
cách thiết lập các chi nhánh, công ty con, văn phòng đại diện. v.v ở nước
ngoài.
Tổ chức một bộ phận kinh doanh quốc tế được chuyên môn hoá
tại trụ sở chính để thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
3.2. Đặc điểm nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
Mặc dù ngày nay dịch vụ ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương mại
phát triển đa dạng về hình thức cũng như nội dung, tuy nhiên sau khi nghiên
cứu về học thuật cũng như quá trình vận động phát triển của nó, chúng ta rút
ra những đặc điểm chung như sau:
Xu thế gia tăng nhanh hơn mức tăng tiềm lực sản xuất: Như đã
trình bày trong phần lịch sử phát triển, ngày nay xu thế quốc tế hoá hoạt động
ngân hàng đang diễn ra mạnh mẽ. Trong lĩnh vực kinh doanh và sản xuất
hàng hoá cũng diễn ra xu thế toàn cầu hoá nhưng thực tế cho thấy mức độ
thấp hơn của thị trường tài chính. Hàng ngày, lượng tiền tệ lưu chuyển trên thị
trường tài chính thế giới cao gấp 30 lần khối lượng hàng hoá lưu chuyển trên
phạm vi toàn cầu. Đối với các nước đang phát triển, chỉ trong 8 năm (1990-
1997), dòng vốn đầu tư tư nhân đổ vào tăng hơn 5 lần. Trong khi mậu dịch
quốc tế của giai đoạn này chỉ tăng 5%/năm thì dòng vốn tư nhân lưu chuyển
tăng 30%/ năm.



77
Dịch vụ ngân hàng quốc tế đề cao nhân tố con người: Đặc điểm
này do đặc điểm kinh doanh quốc tế hiện nay tạo ra. Ngày nay, do sự phát
triển mạnh mẽ về khoa học công nghệ và kinh tế cũng như sự phức tạp của
bối cảnh toàn cầu hoá, kinh doanh dịch vụ ngân hàng quốc tế đòi hỏi các nhà
hoạt động ngân hàng phải:
- Hiểu biết sâu sắc về hoạt động kinh doanh, cả kinh doanh trong nước
lẫn khinh doanh đối ngoại, có kiến thức rộng và thường xuyên cập nhật về thị
trường trong nước và quốc tế, ngoài ra phải có kiến thức sâu rộng về tài chính
quốc tế.
- Hiểu biết và áp dụng thành thạo các ứng dụng của khoa học công
nghệ. Ngày nay, hầu hết các ngân hàng kinh doanh quốc tế đều sử dụng mạng
toàn cầu Swift, mạng giao dịch kinh doanh toàn cầu Reuter, và ứng dụng công
nghệ thông tin vào quản lý và kinh doanh. Do vậy việc sử dụng thành thạo
các tiện ích ngân hàng, máy tính và công nghệ thông tin là bắt buộc
- Phải hiểu biết thông thạo ít nhất một ngoại ngữ, tiếng Anh là bắt
buộc. Do là kinh doanh quốc tế nếu không thông thạo ngoại ngữ thì không
làm việc được
- Do bối cảnh hoạt động kinh doanh đòi hỏi rất nhiều về trình độ của
nguồn nhân lực, nên việc tập trung vào phát triển và bồi dưỡng nguồn nhân
lực là điều tất yếu
Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế có tính rủi ro cao: Do sự phức tạp
của kinh doanh quốc tế nên thường xảy ra việc tăng, giảm đột ngột về ngoại
tệ, lãi suất, trục trặc trong thanh toán quốc tế, biến động chính trị….Vì vậy
nghiệp vụ ngân hàng quốc tế có mức độ rủi ro cao hơn nghiệp vụ ngân hàng
ở trong nước. Tuy nhiên, rủi ro càng cao lợi nhuận càng lớn nên các ngân
hàng vẫn phát triển hoạt động kinh doanh quốc tế để có cơ hội và tiềm năng
phát triển lâu dài.
Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế chịu ảnh hưởng nhiều bởi luật
pháp quốc tế và thông lệ quốc tế: Đặc điểm này do tính quốc tế của dịch vụ


78
ngân hàng quốc tế quyết định. Do sự phức tạp trong môi trường hoạt động
kinh doanh quốc tế, do sự không thống nhất về luật pháp giữa các quốc gia,
do trình độ phát triển không đồng đều mà đòi hỏi phải có luật pháp quốc tế,
thông lệ quốc tế tạo điều kiện thuận lợi và an toàn cho các ngân hàng thực
hiện dịch vụ ngân hàng quốc tế.
3.3 Động cơ tiến hành dịch vụ ngân hàng quốc tế
Động cơ dễ hiểu nhất là mong muốn theo đuổi các khách hàng
khi các khách hàng của họ thực hiện hoạt động ra nước ngoài. Đây là một
nguyên lý Marketing truyền thống “theo chân khách hàng”. Các công ty của
Mỹ những năm 60, 70 của Nhật và châu Âu trong thập niên 70 hăng hái mở
rộng hoạt động ra nước ngoài thì các ngân hàng của họ cũng theo sau. Động
cơ này có phần mang tính phòng vệ, bởi vì các ngân hàng muốn duy trì và
củng cố các mối quan hệ với các khách hàng và muốn chứng tỏ một điều là họ
có kiến thức và chất lượng phục vụ cao hơn các ngân hàng địa phương.
Động cơ khác thúc đẩy các ngân hàng mở rộng ra quốc tế là
nhằm đa dạng hoá cơ sở kinh doanh của họ. Các ngân hàng đầu tư vào các
khoản cho vay có đặc tính khác với các khoản vay nội địa. Loại nhu cầu về
các khoản vay nước ngoài có thể bù đắp các biến động về nhu cầu khoản vay
nội địa vì vậy có tác dụng làm bình ổn thu nhập của ngân hàng. Hơn thế nữa
nhờ đa dạng hoá kinh doanh mà làm thu nhập ngân hàng tăng, khả năng cạnh
tranh mạnh, phân tán được rủi ro, thiết lập nhiều quan hệ kinh doanh tạo tiền
đề thực hiện đầu tư kinh doanh sau này.
4. Các hình thức tổ chức nghiệp vụ ngân hàng quốc tế và vai trò của các
trung tâm tài chính quốc tế
4.1. Các hình thức tổ chức nghiệp vụ ngân hàng quốc tế
Như chúng ta đã biết, nét đặc trưng để phân biệt dịch vụ ngân hàng
quốc tế với dịch vụ ngân hàng trong nước đó là tính quốc tế. Xét về mặt
không gian thì khoảng cách địa lý giữa các đối tác là lớn, vượt ngoài phạm vi



79
biên giới quốc gia. Chính vì vậy ngân hàng thương mại ngoài trụ sở chính còn
phải sử dụng nhiều hình thức khác như :
Văn phòng đại diện: là đơn vị dịch vụ nhỏ do ngân hàng mẹ thành lập
ở nước ngoài nhằm trợ giúp cho các công ty trong nước kinh doanh ở nước
ngoài, là đối tác nước ngoài của ngân hàng mẹ, trong việc quan hệ với các
ngân hàng đại lý. Các văn phòng này thường có ít nhân viên, không nhận tiền
gửi, và chủ yếu thực hiện các công việc chuẩn bị cơ bản cho các khoản vay
đối với người đi vay từ trụ sở chính, phát triển hoạt động kinh doanh…
Việc thiết lập văn phòng đại diện ở nước ngoài thường là bước đầu tiên
trong quá trình phát triển hoạt động kinh doanh ở nước ngoài.
Chi nhánh ngân vỏ bọc: là các văn phòng nước ngoài được thiết lập
nhằm tham gia vào các thị trường tiền tệ châu Âu để dành các khoản nợ đồng
đô la châu Âu hay thực hiện các khoản vay ngân hàng nước ngoài. Chúng
nằm chủ yếu ở những nơi có nền tài chính chủ yếu, như Bahamas, nơi chúng
hoạt động mà không phải chịu thuế; họ không quan tâm đến công việc kinh
doanh ở địa phương. Loại hình này xuất hiện nhiều ở Mỹ.
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện dịch vụ trọn gói: Chi
nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện trọn gói là sự mở rộng của ngân hàng
chính, hoạt động như các ngân hàng tại nước đó nhưng về mặt pháp lý chi
nhánh ngân hàng tại nước ngoài lại là một bộ phận của ngân hàng mẹ. Các
chi nhánh thực hiện kinh donh nghiệp vụ ngân hàng bán sỉ dựa chủ yếu vào
các khoản tiền gửi mua từ hệ thống ngân hàng quốc tế được biết đến như là
thị trường liên ngân hàng. Họ không thể phát triển một cơ sở tiền gửi địa
phương. Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài vừa chịu sự điều chỉnh của luật
ngân hàng trong nước vừa chịu sự điều chỉnh của luật ngân hàng nước ngoài
mà nó mở chi nhánh. Ở một số quốc gia, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị
cấm, ở một số quốc gia khác người ta không muốn lập chi nhánh vì có rủi ro
sung công. Chi nhánh ngân hàng ở nước ngoài thường được mở tại các trung
tâm tài chính và thương mại của thế giới.


80
Ngân hàng con ở nước ngoài: Ngân hàng con ở nước ngoài là một
định chế độc lập do ngân hàng mẹ sở hữu hoàn toàn hoặc gần như sở hữu
hoàn toàn để phù hợp với luật pháp của nước ngoài. Ngân hàng con ở nước
ngoài hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về kết quả
hoạt động kinh doanh của mình.
Ngoài ra còn hình thức Ngân hàng con ở nước ngoài nhưng ngân hàng
mẹ không kiểm soát chúng (ngân hàng mẹ chỉ đóng góp một phần vốn tối
thiểu, không đủ giành quyền kiểm soát). Nói chung, ngân hàng con ở nước
ngoài chịu sự điều chỉnh của luật pháp nước sở tại và hầu như không chịu
ảnh hưởng của luật pháp tại nước mà ngân hàng mẹ đặt trụ sở chính.
Trong thời gian gân đây, các ngân hàng kinh doanh quốc tế có xu
hướng mua các ngân hàng con thay vì lập chi nhánh ở nước ngoài. Việc sở
hữu một ngân hàng con, trách nhiệm của ngân hàng mẹ chỉ giới hạn trong số
vốn đầu tư vào ngân hàng con thấp hơn giới hạn trách nhiệm của ngân hàng
mẹ đối với chi nhánh mới thành lập. Ngoài ra việc lập chi nhánh cũng rất tốn
kém cả về chi phí thành lập lẫn chi phí quản lý.
Ngân hàng liên doanh: Đây là hình thức ngân hàng góp vốn để kinh
doanh giữa một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài với một hoặc nhiều ngân
hàng địa phương hoạt động theo khuôn khổ của pháp luật địa phương. Cũng
giống như ngân hàng con ở nước ngoài, ngân hàng liên doanh định chế độc
lập đối với ngân hàng mẹ, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về kết quả
kinh doanh. Nhược điểm lớn nhất của ngân hàng liên doanh là sự khó khăn
trong quản lý.
Liên minh ngân hàng: Đây là hình thức liên minh tạm thời giữa các
ngân hàng. Các ngân hàng của các quốc gia khác nhau cùng nhau tham gia
hoạt động cho vay quốc tế. Nét đặc trưng chính của liên minh là cùng nhau
thực hiện các nghiệp vụ đặc biệt và phân chia thị trường theo vùng địa lý.
Trên thực tế, liên minh thường hoạt động tại các trung tâm tài chính và hoạt
động của họ chủ yếu diễn ra trên thị trường tài chính và tiền tệ quốc tế.


81
Các câu lạc bộ ngân hàng: Đây là một hình thức hợp tác ngân hàng
lâu dài có nguồn gốc từ việc cùng tham gia vào một liên kết nào đó. Thành
viên của câu lạc bộ là các ngân hàng của các nước khác nhau cùng nhau góp
vốn kinh doanh mà không có bất cứ một thủ tục pháp lý sáp nhập nào. Các
hình thức của câu lạc bộ ngân hàng được phát triển mạnh mẽ vào đầu thập
niên 1970.
Cơ chế ngân hàng hải ngoại (International Banking Facilities -IBF):
Vào tháng 12 năm 1981, các IBF được cục dự trữ liên bang Mỹ uỷ quyền cấp
phép cho các ngân hàng và các tổ chức tiền gửi khác thực hiện hoạt động
ngân hàng quốc tế trong nước Mỹ trên cơ sở giống như các chi nhánh và các
ngân hàng trực thuộc nước ngoài của các ngân hàng Mỹ. Khi cấp phép cho
các IBF, ý đồ chính của Fed là nhằm thu họat động này trở lại Mỹ. IBF tạo ra
cho các ngân hàng môi trường tương đối tự do giống như môi trường các chi
nhánh và ngân hàng trực thuộc của họ đã gặp ở nước ngoài. Không có các quy
định dự trữ hay các hạn chế lãi suất nào đối với tiền gửi của người nước
ngoài, không phải bảo hiểm cho các khoản tiền gửi và tránh được những đánh
giá liên quan đến bảo hiểm. Phần lớn các tài sản của IBF bao gồm các khoản
cho vay đối với các doanh nghiệp, chính phủ và ngân hàng trung ương nước
ngoài với mục đích sử dụng ngoài nước Mỹ. Nguồn vốn của họ là từ các
khoản vay liên ngân hàng của các tổ chức quốc tế , các chính phủ và các cơ
quan nước ngoài
4.2. Vai trò của các trung tâm tài chính quốc tế
4.2.1. Đặc điểm và các loại hình trung tâm tài chính quốc tế
Trung tâm tài chính quốc tế là địa điểm có mật độ cao các trụ sở của
các ngân hàng hoạt động kinh doanh quốc tế, bất kể ngân hàng đó thuộc sở
hữu của quốc gia nào. Các trung tâm tài chính có 3 đặc điểm quan trọng sau :
Tại các trung tâm tài chính quốc tế, các ngân hàng quốc tế giao
dịch với nhau bằng đồng tiền nước ngoài chứ không phải bằng đồng tiền của



82
nước chủ nhà. Bởi vậy các giao dịch tài chính ở trung tâm tài chính không
liên quan trực tiếp tới hệ thống ngân hàng nội địa.
Các ngân hàng quốc tế hoạt động tại các trung tâm tài chính quốc
tế nói chung được miễn thuế và không chịu sự quản lý ngoại hối như đối với
các thị trường tài chính nội địa.
Hoạt động tài chính tại các trung tâm tài chính quốc tế chủ yếu
diễn ra giữa các khách hàng là người không cư trú (mặc dù không phải là độc
quyền).
Các trung tâm tài chính quốc tế chủ yếu khác nhau về chức năng
và cơ cấu. Sự khác nhau bắt nguồn từ các nguyên nhân chủ yếu là đặc trưng
của nền kinh tế cũng như môi trường pháp lý của nước sở tại. Nói chung,
chúng ta có thể nhận dạng bốn loại trung tâm tài chính quốc tế nhờ vào phân
loại nguồn vốn và sử dụng vốn trên thị trường.
Các trung tâm tài chính chủ chốt (các trung tâm tài chính quốc tế)
Các trung tâm tài chính chủ chốt như London, New york... phục vụ các
khách hàng toàn cầu. Nhờ chiếm ưu thế về nguồn vốn cũng như sử dụng vốn
trong các nước công nghiệp hoá phát triển mà các trung tâm tài chính chủ
chốt huy động và cho vay lại trong các nước công nghiệp phát triển. Nhờ
chiếm ưu thế vai trò trung gian, các trung tâm tài chính chủ chốt được coi
như trục bánh xe tại các khu vực thị trường tài chính và ngân hàng, cung cấp
các dịch vụ tài chính quốc tế như kinh doanh ngoại tệ, tiếp thị tài chính quốc
tế, cho vay hợp vốn, bảo lãnh ngân hàng, bảo lãnh phát hành trái phiếu. Cơ sở
hạ tầng của trung tâm tài chính chủ chốt rất hiện đại. Vì lý do này mà người
ta còn gọi chúng là các trung tâm tài chính quốc tế.
Trung tâm kế toán (ví dụ như đảo Nassau và Cayman)
Các Ngân hàng quốc tế mở các chi nhánh và công ty con tại Trung tâm
kế toán và thường sử dụng trung tâm kế toán (nhờ môi trường pháp lý và các
quy định về kế toán dễ dàng) để kế toán các khoản cho vay và tiền gửi quốc
tế. Các chi nhánh ngân hàng và công ty con này hoạt động như văn phòng lưu


83
giữ sổ sách, văn phòng kế toán cho các giao dịch tài chính được thực hiện ở
nước ngoài. Các trung tâm kế toán này chủ yếu phục vụ khách hàng quốc tế.
Trong trường hợp này, trung tâm kế toán đóng vai trò kế toán cho thị trường
tài chính quốc tế.
Trung tâm quỹ (như Singapore, Hongkong)
Trung tâm quỹ đóng vai trò như trung gian tài chính hướng nội, đóng
vai trò như kênh dẫn vốn từ bên ngoài vào trong nước hay khu vực. Ngày nay
Singapore và Hongkong đã phát triển thành trung tâm tài chính phát triển có
thể đua tranh với các trung tâm tài chính chủ chốt như London, New York, và
Tokyo.
Trung tâm tập hợp tài chính (như Bahrain)
Trung tâm tập hợp tài chính chủ yếu liên quan đến trung gian tài chính
hướng ngoại. Các quốc gia ở khu vực gần Trung tâm tập hợp tài chính huy
động được nhiều vốn nhưng năng lực sử dụng vốn kém. Nguồn tài chính
thặng dư được tích luỹ ở trung tâm tập hợp tài chính sẽ được các tổ chức tài
chính quốc tế đầu tư vào các khu vực khác trên thế giới.
Trung tâm tài chính quốc tế ở các nước đang phát triển
Từ thập niên 70, nhiều trung tâm tài chính nước ngoài đã được thiết lập
ở các quốc gia đang phát triển như Singapore, Hongkong, Philippines,
Bahrain, Egyp, Panama... Trong những năm gần đây, các trung tâm tài chính
quốc tế đã được xây dựng tại các nước công nghiệp hóa mới nổi như Malaysia
và Thái Lan.
• 4.2.2. Vai trò của các trung tâm tài chính quốc tế
Trung tâm tài chính quốc tế đóng vai trò quan trọng trong hoạt động
ngân hàng và tài chính quốc tế. Sau đây là một số vai trò của trung tâm tài
chính quốc tế:
1. Đa dạng hoá mạng lưới ngân hàng quốc tế: Hiện nay các trung tâm
tài chính quốc tế là tụ điểm các giao dịch kinh doanh của các ngân hàng quốc
tế. Trong các trung tâm này, các ngân hàng quốc tế chủ chốt hiện diện dưới

84
các hình thức khác nhau. Với các ngân hàng không có mạng lưới ở nước
ngoài thì việc chúng có mặt tại trung tâm tài chính quốc tế sẽ làm đa dạng
hoá mạng lưới ngân hàng quốc tế.
2. Tạo ra cơ sở hạ tầng tốt: Các tổ chức ngân hàng quốc tế đã phát triển
các trung tâm tài chính quốc tế để có cơ hội thu lợi nhuận do việc chiếm lợi
thế kinh doanh trong các giao dịch quốc tế. Các trung tâm tài chính quốc tế
đòi hỏi các cơ sở hạ tầng đắt tiền và tinh vi để trợ giúp chúng như viễn thông,
hàng không, kế toán, môi trường pháp lý và những dịch vụ khác. Những chi
phí này sẽ không có hiệu quả nếu được đầu tư vào các thị trường của các
nước. Nhờ đóng ở vị trí trung tâm, các Trung tâm tài chính quốc tế sẽ trang
trải các chi phí thông qua các dịch vụ phục vụ khách hàng của các nước.
3. Đóng góp cho nền kinh tế địa phương: Số lượng các tổ chức ngân
hàng và tài chính quốc tế có mặt tại trung tâm tài chính quốc tế phải ở mức
phù hợp để cung cấp hiệu quả dịch vụ cho khách hàng quốc tế. Các nghiệp vụ
ngân hàng quốc tế đòi hỏi kỹ năng tài chính phức tạp và cập nhật thông tin
thị trường. Các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế cần phải đổi mới thường xuyên
và trao đổi thông tin giữa các ngân hàng và các chuyên gia tài chính khác
nhau.
Ngoài ra, những yêu cầu của ngân hàng quốc tế hiện đại đòi hỏi các
nhóm ngân hàng thực hiện các khoản cho vay hợp vốn và các giao dịch tín
dụng. Với khối lượng tiền giao dịch lớn thì không một ngân hàng nào tự
mình thực hiện giao dịch có hiệu quả. Các giao dịch ngân hàng quốc tế đòi
hỏi mối quan hệ thân thiện giữa các ngân hàng bằng cách gắn với nhau bằng
lợi ích của mỗi ngân hàng và cùng hoạt động với nhau.
Ngoài việc cùng cho vay hợp vốn và chia sẻ rủi ro, cộng đồng tài chính
ngân hàng quốc tế cùng ở trên một vị trí sẽ có ích cho việc cung ứng tiền và
đầu tư. Sự tồn tại thị trường liên ngân hàng dẫn đến kênh tài chính hiệu quả.
Một số ngân hàng đầu tư nguồn tiền thặng dư của họ vào thị trường liên ngân
hàng, trong khi những ngân hàng khác sử dụng nguồn tiền thặng dư để tài trợ


85
hoạt động tín dụng quốc tế. Trung tâm tài chính quốc tế là môi trường thuận
lợi cho người vay và người đầu tư trong vùng gặp nhau.
4. Tạo ra môi trường pháp lý dễ chịu: Nhà cầm quyền tại các trung tâm
tài chính đã cho phép các ngân hàng quốc tế không chịu các gánh nặng về
thuế, những đòi hỏi về tỷ lệ vốn khả dụng cũng như dự trữ bắt buộc. Các
ngân hàng quốc tế cũng được phép huy động và sử dụng nguồn vốn quốc tế
tạm thời nhàn rỗi để đầu tư mà không bị kiểm soát về ngoại hối cũng như về
tiền tệ. Thị trường liên ngân hàng cung cấp cho họ cơ hội đầu tư nguồn vốn
thặng dư một cách dễ dàng và với rủi ro thấp nhất.
Trung tâm tài chính quốc tế không chỉ thuận lợi cho các hoạt động ngân
hàng mà còn thuận lợi cho các các hoạt động khác nhờ những ưu điểm hiển
nhiên của nó. Trung tâm tài chính là nơi đóng trụ sở của các công ty con của
các công ty đa quốc gia. Các công ty con này có được môi trường pháp lý
thuận lợi hơn so với môi trường pháp lý tại chính trụ sở chính của công ty
mẹ.
II. MỘT SỐ NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Ngoài việc thành lập các tổ chức ngân hàng ở nước ngoài nhằm thực
hiện các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, các ngân hàng hoạt động kinh doanh
quốc tế còn tổ chức tại trụ sở chính hoặc các chi nhánh trong nước các đơn vị
chuyên biệt tiến hành các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Các nghiệp vụ ngân
hàng quốc tế này có thể khái quát thành 3 nhóm như sau:
Cung ứng dịch vụ ngân hàng quốc tế để thu phí
Tiến hành kinh doanh nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, tức là hoạt
động bỏ vốn ra thông qua nghiệp vụ ngân hàng để thu lãi
Hợp tác kinh doanh ngân hàng quốc tế.
1. Cung ứng các dịch vụ ngân hàng quốc tế để thu phí
Đặc điểm của các dịch vụ loại này là ngân hàng tham gia với vai trò
môi giới trung gian để thu phí, do đó chịu rủi ro ít nhất
1.1. Dịch vụ tài khoản Nostro và tài khoản Vostro


86
Nét đặc trưng của nghiệp vụ ngân hàng hiện đại là giữa các ngân
hàng với nhau có mối quan hệ mật thiết trong việc tiến hành các giao dịch. Để
tiền gửi ngân hàng được dùng làm phương tiện thanh toán, thì cần phải có sự
hợp tác giữa các ngân hàng trong việc thiết lập hệ thống thanh toán bù trừ và
quyết toán nhằm giảm tối đa chi phí thanh toán và tăng khả năng chấp nhận
thanh toán. Muốn vậy, ngân hàng cần phải duy trì mối quan hệ tài khoản với
ngân hàng đại lý.
Tài khoản Nostro (tiếng Latinh có nghĩa là tài khoản của chúng tôi) là
tài khoản tiền tệ được mở dưới tên một ngân hàng trong sổ sách các ngân
hàng ở nước ngoài. Ví dụ ngân hàng Vietcombank của Việt nam có tài khoản
bằng đô la ở ngân hàng Mỹ Bank of America thì đây là tài khoản Nostro của
Vietcombank.
Tài khoản Vostro (tiếng Latinh có nghĩa là tài khoản của các bạn) là tài
khoản của một ngân hàng nước ngoài gửi ở ngân hàng địa phương bằng tiền
nước ngân hàng địa phương. Ví dụ ngân hàng Bank of America có tài khoản
VND tại ngân hàng Vietcombank thì đó là tài khoản Vostro.
Mục đích của hai loại tài khoản này là thực hiện thanh toán bù trừ và
chuyển tiền quốc tế.


1.2. Ngân hàng đại lý
Hai ngân hàng được coi là ngân hàng đại lý của nhau nếu hai ngân hàng
cùng duy trì tài khoản ngân hàng đại lý với nhau.
Các ngân hàng trở thành các ngân hàng đại lý của nhau khi phát sinh
nhu cầu thanh toán cho khách hàng của ngân hàng tại nơi mà ngân hàng của
họ không có chi nhánh. Các khách hàng của ngân hàng thường yêu cầu ngân
hàng cung cấp các dịch vụ tài chính tại bất cứ nơi nào trên thế giới. Trên lý
thuyết thì điều này có thể thực hiện được qua ngân hàng chi nhánh. Tuy
nhiên, trên thực tế là không thể vì rất tốn kém và gặp khó khăn về chính trị
văn hoá …ở nhiều nước. Mối quan hệ ngân hàng đại lý đem lại lợi ích rất lớn


87
cho ngân hàng bởi vì ngân hàng có thể phục vụ các công ty với chi phí rất
thấp và không cần đội ngũ nhân sự cũng như cơ sở vật chất ở nước ngoài, do
vậy có thể phục vụ khách hàng ở rất nhiều nơi trên thế giới. Điều bất lợi đối
với các khách hàng, các công ty, là họ không nhận được chất lượng dịch vụ
thông qua các ngân hàng đại lý như họ đã nhận được từ chính ngân hàng của
họ.
Tuy nhiên, không phải tất cả các loại giao dịch liên ngân hàng nào
cũng là dịch vụ ngân hàng đại lý. Nhiều nghiệp vụ giữa các ngân hàng không
được coi là dịch vụ ngân hàng đại lý bởi vì nó không đòi hỏi mối quan hệ liên
tục giữa các ngân hàng. Ví dụ như các nghiệp vụ giao dịch ngoại tệ giữa các
ngân hàng và nghiệp vụ cho vay hợp vốn trong đó một nhóm ngân hàng hợp
tác với nhau để cho vay một khách hàng. Dịch vụ ngân hàng đại lý thường có
đặc trưng nổi bật là mối quan hệ giao dịch liên tục và nhân tố chủ chốt để
biết hai ngân hàng có quan hệ đại lý với nhau hay không là tồn tại mối quan
hệ tài khoản nhằm cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng để thu phí.
1.3 . Dịch vụ bảo quản và lưu ký
1.3.1 Dịch vụ bảo quản
Bảo quản an toàn vật có giá là một trong những dịch vụ lâu đời nhất
được các ngân hàng thương mại thực hiện, và nay được thực hiện với cả
người nước ngoài. Những ngân hàng thương mại thực hiện dịch vụ bảo quản
an toàn vật có giá là những ngân hàng có những hầm kho kiên cố, có các
phương tiện hiện đại để bảo vệ tuyệt đối an toàn vật có giá. Công việc bảo
quản vật có giá được phân chia thành hai bộ phận khác nhau trong một ngân
hàng:
Bảo quản ký thác: Khách hàng có thể thuê két sắt để bảo quản những
tài sản có giá như: chứng khoán, các chứng thư, các hợp đồng bảo hiểm,
những tài liệu cá nhân, hoặc có khi chỉ là những tài sản tinh thần như bản thảo
của một tác phẩm văn học, một chiếc nhẫn cưới



88
Bảo quản an toàn các giấy tờ có giá: có nhiệm vụ trông nom quản lý
giấy tờ có giá và các chứng từ khác liên quan như là một đại lý đối với khách
hàng.
1.3.2 Dịch vụ lưu ký
Dịch vụ lưu ký của ngân hàng là dịch vụ giữ chứng khoán theo hợp
đồng cho các khách hàng và thực hiện mua hoặc bán chứng khoán khi được
ký thác. Dịch vụ lưu ký bao gồm việc xuất, nhập chứng khoán, chuyển giao
chứng khoán, bảo quản chứng khoán trong kho, kế toán chứng khoán, giúp
khách hàng nhận cổ tức và thực hiện quyền cổ đông. Các ngân hàng thực hiện
nghiệp vụ lưu ký tại các quốc gia khác nhau gọi là ngân hàng siêu lưu ký, các
ngân hàng này cũng mua, bán, phân phối chứng khoán khi được khách hàng
tín thác.
Vai trò cơ bản của dịch vụ lưu ký là giảm thiểu rủi ro thanh toán và rủi
ro hoạt động mà các nhà đầu tư phải đối mặt trong tất cả các loại chứng
khoán. Dịch vụ lưu ký có thể đạt được bằng cách thực hiện thanh toán giao
dịch chứng khoán nhanh chóng, chính xác và vì vậy giảm thiểu khả năng rủi
ro trong giao dịch. Ngoài ra các ngân hàng làm dịch vụ lưu ký còn thu nhận
cổ tức nhân danh nhà đầu tư, thực hiện các yêu cầu hoàn lại tiền thuế cũng
như các hoạt động khác. Dịch vụ lưu ký còn phục vụ các nhu cầu thông tin
thị trường cho các khách hàng.
Các dịch vụ lưu ký đã là một trong những sản phẩm ngân hàng quốc tế
phát triển trong thời gian gần đây. Dịch vụ này đã phát triển cùng với việc
mở rộng hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong thập kỷ vừa qua, người ta đã
ước tính rằng vào những năm đầu thập niên 90, giá trị chứng khoán nằm trong
tay các tổ chức thực hiện dịch vụ lưu ký toàn cầu xấp xỉ khoảng 600 tỷ USD
đến 800 tỷ USD. Dịch vụ lưu ký là một nghiệp vụ phổ biến của ngân hàng
bởi vì đó là dịch vụ thu phí, khách hàng ổn định và cần ít vốn. Tuy nhiên dịch
vụ lưu ký hiện nay là một lĩnh vực cạnh tranh hết sức gay gắt.
1.4. Dịch vụ séc du lịch

89
Với sự phát triển mạnh mẽ của du lịch quốc tế, các ngân hàng thương
mại theo chân khách hàng qua việc phát hành séc du lịch. Séc du lịch là loại
séc đích danh. Nhờ loại séc này mà người du lịch có thể không thể không cần
tiền mặt mang đi vì séc du lịch có thể được thanh toán một cách chắc chắn ở
khắp mọi nơi. Séc du lịch được phát hành bằng loại giấy đặc biệt (tương tự
như giấy bạc), khó giả mạo và bôi sửa. Việc phát hành séc tạo mối liên quan
pháp lý giữa ba bên: ngân hàng phát hành séc, người thụ hưởng và ngân hàng
thanh toán.
Có hai đặc điểm phân biệt giữa séc du lịch và séc thông thường
khác của ngân hàng:
1. Séc có mệnh giá được in trên mặt séc.
2. Séc du lịch chỉ được đưa vào lưu thông khi ngân hàng thanh
toán đã nhận được số tiền tương ứng của séc. Nhờ đó séc du lịch được coi như
một phương tiện thanh toán thuận tiện và chắc chắn như tiền mặt.
Séc du lịch chỉ có thể thanh toán bởi người hưởng séc. Người
hưởng séc ký trên mỗi tờ séc vào chỗ qui định khi được phát hành và ký lại
(countersign) khi xuất trình để nhận tiền trước mặt nhân viên ngân hàng.
Việc xuất trình chứng thư là không cần thiết, tuy nhiên ngân hàng có quyền
yêu cầu như là một bảo đảm khi thanh toán. Khi người hưởng xuất trình séc
tại khách sạn hoặc bất cứ nơi nào để thanh toán thì người nhận séc phải có
trách nhiệm kiểm tra chữ ký. Người nhận séc gửi séc đến ngân hàng đại lý
tiếp theo ngân hàng đại lý sẽ chuyển tiếp séc tới ngân hàng thanh toán qua
hình thức nhờ thu.
1.5. Dịch vụ thẻ tín dụng
1.5.1 Bản chất của thẻ thanh toán quốc tế
Thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán hiện đại cho phép chủ thẻ
sử dụng thẻ để thanh toán cho các hàng hoá dịch vụ với hạn mức chi tiêu
nhất định, trả tiền sau mà ngân hàng cho phép căn cứ vào khả năng tài chính,



90
số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của chủ thẻ. Như vậy, về bản chất kinh tế,
thẻ tín dụng chính là sự vay mượn tiền của chủ thẻ đối với ngân hàng với một
số điều kiện đảm bảo của ngân hàng như: tài khoản của chủ thẻ (nếu có), hợp
đồng sử dụng thẻ, tài sản thế chấp...Tuy nhiên chủ thẻ chỉ sử dụng được thẻ
tại những nơi nhất định (đại lý chấp nhận thẻ, ngân hàng đại lý).
Việc cung cấp các dịch vụ thẻ tín dụng cho khách hàng, ngân hàng có
hai cách lựa chọn như sau:
- Ngân hàng có thể trở thành một thành viên với một nhóm các ngân
hàng cung cấp dịch vụ thẻ tín dụng hoặc đóng vai trò như một đại lý;
- Ngân hàng cũng có thể phát hành thẻ của riêng ngân hàng nhưng họ
phải thu hút được đủ những người cung cấp hàng hoá và dịch vụ, và phải có
nhóm người giữ thẻ đủ lớn để những người cung cấp hàng hoá và dịch vụ
quen thuộc với phương thức đó. Dịch vụ thẻ tín dụng đòi hỏi phải có khối
lượng khách hàng đủ lớn, nếu ngân hàng muốn thu được lợi nhuận.
1.5.2. Các loại thẻ thanh toán quốc tế tiêu biểu hiện nay
Thẻ Diners Club là loại thẻ du lịch và giải trí do tổ chức thẻ tự phát
hành năm 1949 tại Mỹ. Vào năm 1960 nó là loại thẻ trước tiên có ở Nhật
Thẻ American Express (thẻ Amex) do Tổ chức thẻ American Express
phát hành lần đầu dưới tên Green Amex, không hạn mức tín dụng, chủ thẻ
được chi xài và có trách nhiệm trả một lần vào cuối tháng. Năm 1987 Amex
cho ra đời thêm 3 loại thẻ mới Amex Gold, Platium và Optima có hạn mức tín
dụng tuần hoàn. Hiện nay đây là tổ chức thẻ du lịch và giải trí lớn nhất thế
giới, tổ chức này tự phát hành và quản lý chủ thẻ, không cấp giấy phép thành
viên cho các ngân hàng.
Thẻ VISA. Năm 1960, ngân hàng Mỹ Bank of American phát hành thẻ
Bank Americard. Năm 1977 thẻ Bank Americard trở thành thẻ VISA. Tổ
chức VISA quốc tế cũng chính thức hình thành và phát triển cho đến nay có
thể nói rằng thẻ VISA là loại thẻ có qui mô phát triển nhất thế giới. Tổ chức
Visa không phát hành trực tiếp mà giao cho các thành viên


91
Thẻ JCB xuất phát từ Nhật vào năm 1961 bởi ngân hàng Sanwa. Năm
1981 bắt đầu phát triển thành tổ chức thẻ quốc tế, mục tiêu chủ yếu hướng
vào thị trường giải trí và du lịch.
Thẻ MasterCard. Năm 1967, bốn ngân hàng California đổi tên thành
Western States Bank Card Association chính thức phát hành thẻ Master
Charge. Năm 1979 MasterCharge đổi tên thành MasterCard và trở thành tổ
chức thẻ thanh toán quốc tế lớn thứ hai sau Tổ chức Visa.
1.5.3. Các chủ thể chính tham gia thị trường
Tổ chức thẻ thanh toán quốc tế là tổ chức đứng ra liên kết các thành
viên, đặt ra các quy định bắt buộc các thành viên phải áp dụng và tuân theo
thống nhất toàn cầu.
Ngân hàng phát hành thẻ là thành viên chính thức của Tổ chức thẻ
thanh toán quốc tế. Ngân hàng phát hành thẻ có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ
xin cấp thẻ, xử lý và phát hành thẻ, mở và quản lý tài khoản thẻ, chịu trách
nhiệm thanh toán thẻ đó.
Ngân hàng thanh toán thẻ hay còn gọi là ngân hàng đại lý là thanh viên
tổ chức thẻ thực hiện dịch vụ thanh toán thẻ theo hợp đồng. Ngân hàng thanh
toán thẻ trực tiếp ký hợp đồng với các cơ sở chấp nhận thẻ để tiếp nhận và xử
lý các giao dịch về thẻ tại cơ sở chấp nhận thẻ
Chủ thẻ Là người có tên trên thẻ do Ngân hàng phát hành thẻ cấp và
được quyền sử dụng thẻ. Chỉ có chủ thẻ mới sử dụng thẻ của mình mà thôi.
Chủ thẻ có thể yêu cầu cấp thêm cho người thân thẻ phụ.
Cơ sở chấp nhận thẻ là các đơn vị bán hàng hoá, dịch vụ như cửa
hàng, khách sạn, nhà hàng…. Có kí hợp đồng với ngân hàng thanh toán thẻ để
chấp nhận thanh toán.
1.6. Dịch vụ thanh toán quốc tế
1.6.1. Dịch vụ chuyển tiền (Remittance)
Chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó một khách hàng của
ngân hàng yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho


92
người khác ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do khách
hàng yêu cầu.
Các hình thức chuyển tiền
- Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer), gọi tắt là M/T (phải gửi địa
chỉ tên những người có quyền ký ở ngân hàng);
- Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer), gọi tắt là T/T (phải quy
định khoá mật mã điện tử);
- Chuyển tiền bằng Fax (trong phạm vi giới hạn Fax được sử dụng như
là một phương tiện chuyển tiếp trong thanh toán quốc tế);
- Chuyển tiền bằng điện thoại (thường có nhiều sai sót nên ít được sử
dụng);
- Chuyển tiền qua hệ thống SWIFT: SWIFT (Society for Worldwide
Interbank Financial Telecommunication). Đây là một tổ chức hoạt động theo
đạo luật của Bỉ, có trụ sở tại Brucxen. Mục đích hoạt động của SWIFT là
chuyển những thông tin thanh toán, giá thành hạ, an toàn, nhanh chóng,
không dùng chứng từ giữa ngân hàng với ngân hàng. Mọi thông tin của
SWIFT đều được mật mã hoá mà chỉ những người có phận sự mới được tiếp
nhận.
Dùng nghiệp vụ chuyển tiền trong thanh toán xuất nhập khẩu thường
không an toàn nên ít khi sử dụng. Người ta thường sử dụng phương thức
chuyển tiền trong các trường hợp sau:
- Thanh toán các khoản chi tiêu phi thương mại và các chi phí liên quan
đến xuất nhập khẩu hàng hoá, trị giá hợp đồng nhỏ, đối tác quen biết, tín
nhiệm;
- Chuyển vốn ra bên ngoài để đầu tư;
- Chuyển kiều hối;
- Thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu(khi hai bên mua bán có quan hệ
lâu đời và tín nhiệm lẫn nhau hoặc khi trị giá hợp đồng không lớn).



93
Trong phương thức thanh toán chuyển tiền ngân hàng đóng vai trò
trung gian thực hiện dịch vụ chuyển tiền và thu phí chuyển tiền.
1.6.2. Dịch vụ nhờ thu (Collection)
Nhờ thu là phương thức thanh toán quốc tế trong đó các ngân hàng xử
lý các chứng từ phù hợp với chỉ dẫn đã nhận để thực hiện thanh toán và/hoặc
chấp nhận thanh toán, hoặc cung cấp các chứng từ dựa trên số tiền chi trả và
/hoặc dựa trên số tiền chấp nhận, hoặc cung cấp các chứng từ dựa trên các
nghĩa vụ hoặc điều kiện khác . Các chứng từ trong nhờ thu có thể là các
chứng từ tài chính hoặc các chứng từ thương mại. Các chứng từ tài chính có
thể là hối phiếu, giấy hứa trả tiền, séc hoặc các công cụ thanh toán tương tự
như vậy. Các chứng từ thương mại có thể là hoá đơn, vận đơn, chứng từ sở
hữu hoặc các chứng từ khác giống như vậy.
Căn cứ vào nội dung chứng từ được gửi đến ngân hàng nhờ thu mà
người ta chia phương thức thanh toán này thành hai loại:
Nhờ thu hối phiếu trơn: là phương thức thanh toán nhờ thu dựa trên các
chứng từ tài chính không kèm theo các chứng từ thương mại
Nhờ thu kèm chứng từ: là phương thức thanh toán nhờ thu dựa trên các
chứng từ thương mại mà không kèm theo các chứng từ tài chính.
Phương thức thanh toán quốc tế qua nhờ thu, nhất là nhờ thu hối phiếu
trơn thường gặp rất nhiều rủi ro trong thanh toán. Người ta thường sử dụng
phương thức nhờ thu trong các trường hợp sau:
- Người bán và người mua tin cậy lẫn nhau;
- Trị giá hợp đồng không lớn.
1.6.3. Thanh toán qua L/C
Thanh toán quốc tế qua L/C là một phương thức thanh toán trong đó
một ngân hàng (gọi là ngân hàng mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền
nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc
chấp nhận hối phiếu do người này ký phát hoặc uỷ thác cho một ngân hàng
khác tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận hối phiếu đó trong phạm vi số tiền


94
đó khi người này giao cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với
những quy định đề ra trong thư tín dụng.
Đây là phương thức thanh toán phức tạp nhất nhưng lại có độ an toàn
cao và phổ biến nhất hiện nay. Chính vì sự phức tạp trong quá trình thực hiện
mà phí dịch vụ của loại hình này cao, thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
thu nhập về thanh toán quốc tế của ngân hàng. Loại hình này, ngân hàng vừa
có thể cung cấp dịch vụ thu phí, vừa có thể kinh doanh thu lãi.
1.7- Dịch vụ tư vấn
Nhờ hệ thống ngân hàng đại lý, chi nhánh….và đội ngũ chuyên gia
hùng hậu, các ngân hàng có thể cung cấp thông tin ngay lập tức cho khách
hàng các thông tin về giá cả, luật pháp, rủi ro tài chính, đối tác kinh doanh...
trên phạm vi toàn cầu.
Dịch vụ tư vấn một mặt đem lại khoản thu nhập cho ngân hàng nhưng
mặt quan trọng hơn là củng cố các mối quan hệ giữa ngân hàng và khách
hàng hoặc đem lại cho ngân hàng mối tiếp xúc ban đầu với khách hàng, từ đó
ngân hàng sẽ phát triển các dịch vụ ngân hàng khác. Các dịch vụ ngân hàng
trong hoạt động kinh doanh quốc tế rất đa dạng và ngày càng phát triển, ví dụ
như: tìm kiếm cơ hội xuất khẩu cho nhà xuất khẩu, làm các thủ tục để xuất
khẩu ra nước ngoài, kiểm tra tín nhiệm đối tác, tìm nguồn nhập khẩu cho nhà
nhập khẩu, thực hiện các thủ tục nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài, tìm kiếm
cơ hội đầu tư, tư vấn đầu tư, tìm kiếm đối tác ở nước ngoài.
1.8. Một số dịch vụ ngân hàng điện tử
- PDAs (Personal Data Assistant)
PDAs là loại máy cung cấp các dữ liệu thông tin về ngân hàng, về tỷ
giá hối đoái, về giá các loại cổ phiếu.... Hiện nay nhiều ngân hàng kinh doanh
quốc tế cung cấp dịch vụ môi giới mua bán cổ phiếu và các dịch vụ ngân hàng
thông qua PDAs. Mỗi khách hàng sử dụng sản phẩm này có một máy PDAs
với màn hình rộng hơn màn hình máy điện thoại di động. Máy PDAs hoạt
động thông qua việc kết nối với máy điện thoại di động (điện thoại di động


95
được kết nối với trung tâm xử lý dữ liệu của ngân hàng thông qua một trung
tâm xử lý dữ liệu của một công ty viễn thông). Trong tương lai máy PDAs có
thể kết nối trực tiếp với trung tâm xử lý dữ liệu của ngân hàng không cần qua
điện thoại di động.
- Mobile banking
Hiện nay, nhiều ngân hàng kinh doanh quốc tế cung cấp các thông tin
như báo cáo tín dụng , thông tin về số dư tài khoản tiền gửi tại ngân hàng ,
chuyển tiền, mua bán cổ phiếu.... qua màn hình máy điện thoại di động. Dịch
vụ Mobile banking được thực hiện với sự kết hợp giữa công ty viễn thông với
ngân hàng.
- Internet Banking
Hiện nay nhiều ngân hàng kinh doanh quốc tế cung cấp các dịch vụ
ngân hàng thông qua mạng Internet. Ngoài ra ngân hàng còn có mạng
intranet, với mã số riêng biệt cho từng khách hàng, cung cấp tổng hợp tất cả
các dịch vụ ngân hàng, kể cả dịch vụ chuyển tiền đảm bảo an toàn và tiện lợi.
2 .Tiến hành kinh doanh nghiệp vụ ngân hàng quốc tế - Tín dụng quốc tế
Các ngân hàng thực hiện tín dụng quốc tế tại các chi nhánh ngân hàng
của mình đặt trụ sở tại nước ngoài.
Các thủ tục tín dụng quốc tế nói chung giống như tín dụng trong nước
tuy nhiên do gặp phải nhiều rủi ro hơn như rủi ro về tiền tệ (như tỷ giá hối
đoái, tính thanh khoản quốc tế của đồng tiền...), rủi ro chính trị, rủi ro pháp
lý…nên tín dụng quốc tế cần sự bảo đảm cao
Đối tượng khách hàng của tín dụng quốc tế rất đa dạng, ví dụ như: cung
cấp phương tiện tín dụng cho các khách hàng nước ngoài; cung cấp phương
tiện tín dụng cho các khách hàng nước ngoài liên quan đến khách hàng trong
nước; tham gia cho vay hợp vốn đối với khách hàng nước ngoài; cho vay các
ngân hàng nước ngoài...




96
Tín dụng quốc tế bao gồm rất nhiều sản phẩm như: tài trợ dự án; cho
vay hợp vốn; bảo lãnh ngân hàng v.v. Sau đây là một số sản phẩm chủ yếu
được các ngân hàng hoạt động kinh doanh quốc tế sử dụng:
2.1. Tín dụng tài trợ xuất, nhập khẩu
Khi hai bên thanh toán quốc tế bằng L/C qua ngân hàng thương mại,
ngoài việc ngân hàng cung cấp dịch vụ thanh toán qua L/C để thu phí, ngân
hàng còn có thể kinh doanh thông qua hình thức tín dụng tài trợ xuất, nhập
khẩu.
Ngân hàng thương mại có thể tài trợ tín dụng cho người xuất khẩu:
- Cho phép người xuất khẩu được hưởng một hạn mức thấu chi
để sử dụng cho mọi khoản chi phí phục vụ xuất khẩu.
- Cho người xuất khẩu vay trước khi giao hàng để mua nguyên
liệu, chế biến, sản xuất hàng hoá xuất khẩu theo đúng L/C qui định, theo đúng
hợp đồng ngoại thương đã ký kết. Nhà xuất khẩu có thể dựa vào L/C để nhờ
ngân hàng cấp cho một khoản tín dụng để thực hiện xuất hàng theo đúng L/C
qui định.
- Cho vay tạm ứng bộ chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu sau
khi người xuất khẩu giao hàng nhưng trước khi người nhập khẩu thanh toán.
Điều này có nghĩa là trong khi chờ đợi người nhập khẩu thanh toán, ngân
hàng thương mại sẽ ứng trước tiền cho người xuất khẩu với bảo đảm là bộ
chứng từ thể hiện hàng hoá đã được giao.




Các ngân hàng thương mại có thể tài trợ cho người nhập khẩu:
- Tài trợ nhập khẩu có thể được ngân hàng thương mại cung cấp thông
qua việc cho vay ký quỹ mở L/C. Điều này có thể được thực hiện là do các
ngân hàng thương mại dựa vào bảo đảm của hàng hoá liên quan và dựa vào
việc ngân hàng kiểm soát chứng từ sở hữu hàng hóa. Tuỳ theo tình hình tài



97
chính, khả năng thanh toán, quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng mà ngân
hàng quyết định mức ký quỹ cao hay thấp, cho vay hay không cho vay
- Khoản cho vay dựa trên hàng nhập khẩu (Cho vay thanh toán
hàng nhập khẩu): nếu người nhập khẩu không có khả năng thanh toán cho hối
phiếu phải thu của anh ta từ tài khoản thanh toán thì ngân hàng thương mại
có thể cấp một khoản tín dụng cho người nhập khẩu khi ngân hàng thương
mại có thể kiểm soát được hàng hoá thực sự ví dụ như trong một kho hàng.
Trong trường hợp này giấy biên nhận kho hàng (làm theo lệnh của ngân hàng)
có thể giao cho ngân hàng sở hữu sau khi hàng hoá tới nơi nhưng người nhập
khẩu chưa cần. Hàng hoá được giữ trong kho và xuất kho theo lệnh của ngân
hàng, nhưng khách hàng có thể nhận hàng từng phần trên cơ sở thanh toán.
Hoá đơn tín thác (Trust receipt - T/R): người nhập khẩu có thể nhận tài
trợ từ ngân hàng thương mại để nhập khẩu hàng hoá theo cách sau: khi nhận
được vận đơn, nhà nhập khẩu ký trên một chứng từ pháp lý được gọi là hoá
đơn tín thác. Theo các điều kiện và điều khoản của hoá đơn tín thác, nhà nhập
khẩu phải cam kết:
- Uỷ thác cho ngân hàng nắm giữ hàng hoá;
- Thay mặt ngân hàng bán hàng hoá;
- Mua bảo hiểm loại A cho hàng hoá;
- Thanh toán cho ngân hàng trên cơ sở việc bán hàng cộng với lãi suất;
- Đáp ứng những yêu cầu khác theo yêu cầu và quy định trong hoá đơn
tín thác;
- Nhà nhập khẩu sẽ phải thanh toán trong thời hạn đã quy định trong
hoá đơn tín thác, việc thanh toán thực hiện vào ngày đến hạn hoặc sớm hơn.




98
2.2 Tín dụng chiết khấu giấy tờ có giá
Tín dụng chiết khấu giấy tờ có giá có thể bao gồm: chiết khấu hối phiếu
trơn, chiết khấu bộ chứng từ quy định trong L/C, chiết khấu hối phiếu của bộ
chứng từ nhờ thu.
1. Tín dụng chiết khấu hối phiếu
Nhà xuất khẩu có thể đem hối phiếu (cam kết không huỷ ngang, không
sửa đổi, thanh toán hối phiếu khi đến hạn) đến ngân hàng của mình để chiết
khấu. Như vậy, dưới hình thức mua lại hối phiếu chưa đến hạn trả tiền, ngân
hàng đã thực hiện cấp tín dụng cho người xuất khẩu. Đây là loại tín dụng rất
phổ biến ở các nước.
2. Tín dụng chiết khấu bộ chứng từ thanh toán (trong phương thức
thanh toán L/C).
Nhà xuất khẩu có thể đem chiết khấu bộ chứng từ thanh toán mà vì một
lý do nào đó chưa nhận được tiền trong khi rất cần tiền tại một ngân hàng có
thể là tuỳ ý có thể là được chỉ định trong L\C.
3. Tín dụng chiết khấu bộ chứng từ nhờ thu
Ngân hàng cấp tín dụng chiết khấu bộ chứng từ nhờ thu cho người xuất
khẩu bằng cách mua bộ chứng từ nhờ thu do người xuất khẩu ký phát đòi nợ
nhà nhập khẩu nước ngoài trước khi bộ chứng từ chuyển ra nước ngoài. Ngân
hàng sau khi mua bộ chứng từ nhờ thu sẽ đòi nợ nhà nhập khẩu nước ngoài
khi đến hạn thanh toán. Nếu nhà nhập khẩu không thanh toán hoặc thanh toán
chậm thì ngân hàng chiết khấu sẽ thực hiện quyền truy đòi của mình đối với
người xuất khẩu, là người ký phát hối phiếu.
2.3 Thuê mua tài chính quốc tế (International Leasing)
Thuê mua tài chính quốc tế là một thoả thuận hợp đồng cho phép một
bên (bên đi thuê) được sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty cho
thuê (bên cho thuê) và thực hiện các khoản chi trả định kỳ được quy định cụ
thể, khi hết hạn hợp đồng thì bán lại cho người thuê. Bên đi thuê có thể thuê
từ công ty cho thuê nội địa thông qua việc công ty này nhập khẩu đối tượng


99
thuê từ nhà xuất khẩu nước ngoài, hoặc có thể thuê trực tiếp từ công ty cho
thuê nước ngoài. Hoạt động thuê mua “qua đường biên giới” này được áp
dụng nhiều trong ngành hàng không là ngành mà chi phí mua mới máy bay rất
tốn kém
Nét đặc trưng của hợp đồng thuê mua tài chính quốc tế là quyền
sở hữu về mặt pháp lý đối với tài sản (của công ty cho thuê) được tách khỏi
việc sử dụng về mặt kinh tế của tài sản đó (do bên đi thuê nắm giữ) nhưng
không giống với việc cho thuê là còn kèm theo cam kết đơn phương sẽ bán lại
khi kết thúc hợp đồng
Lợi ích của tín dụng thuê mua:
- Không đòi hỏi nỗ lực tự cấp vốn ban đầu vì công ty cho thuê tập trung
xem xét khả năng của bên đi thuê trong việc tạo ra số thu đủ để chi trả tiền
thuê, tài sản thế chấp đảm bảo cho giao dịch này chính là tài sản cho thuê.
Thực chất hoạt động thuê mua tài chính là một hoạt động tài trợ trung,
dài hạn rất linh hoạt thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị và các động
sản khác. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu,
mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện đã thoả thuận trong
hợp đồng thuê. Vì vậy doanh nghiệp thiếu vốn có thể nhanh chóng chớp được
thời cơ thị trường trong khi việc vay vốn có khi bị từ chối
Có hai loại thuê mua tài chính:
Thuê mua tài chính: Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế đưa ra bốn tiêu
chuẩn của thuê mua tài chính là :
1) Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao khi hết thời hạn hợp
đồng;
2) Hợp đồng qui định quyền chọn mua;
3) Thời hạn hợp đồng bằng phần lớn thời hạn hoạt động của tài sản;
4) Hiệu giá các tài khoản tiền thuê lớn hơn hoặc gần bằng giá trị tài
sản, bởi vậy trên bản tổng kết tài sản của người đi thuê thể hiện cả tài sản đi
thuê và khoản nợ tương ứng.


100
Có hai loại hình thuê mua tài chính là thuê mua tiêu dùng( consumer
hire purrchase) và thuê mua doanh nghiệp (industrial hire purchase)
Thuê mua vận hành: là một "hợp đồng thuê hoặc sử dụng". Vì vậy, trên
bản tổng kết tài sản của người đi thuê không thể hiện trên cả phần tài sản đi
thuê và khoản nợ tương ứng. Việc đi thuê chỉ được chú thích trong báo cáo tài
chính.
Thuê mua hoạt động khác với thuê mua tài chính ở: thời gian cho thuê
ngắn; mức vốn thu hồi nhỏ hơn nhiều so với tài sản; người đi thuê có thể được
phép huỷ ngang hợp đồng; không có thoả thuận bán lại tài sản
2.4 Tín dụng chấp nhận (Bank acceptance- BA)
Chấp nhận của ngân hàng là một dạng cam kết của ngân hàng khẳng
định sẽ thanh toán cho người nắm giữ BA một lượng tiền nhất định vào một
ngày nhất định. Hối phiếu được chuyển thành Giấy chấp nhận ngân hàng
bằng cách đóng dấu chấp nhận (ACCEPTED) trên mặt hối phiếu và được
một viên chức ngân hàng có thẩm quyền ký nhận, với lời tuyên bố ngắn gọn
về giao dịch dẫn đến việc chấp nhận của ngân hàng. Chấp nhận hối phiếu có
nghĩa là ngân hàng đồng ý chi trả theo mệnh giá của hối phiếu nếu người ký
phát hối phiếu không thể chi trả. Bằng cách cho mượn tên để giao dịch,
ngân hàng chấp nhận giúp cho nhà nhập khẩu hay nhà xuất khẩu dễ dàng tìm
được sự tài trợ mua bán. Khi đã chấp nhận một hối phiếu thì ngân hàng chấp
nhận có thể giữ Giấy chấp nhận cho đến khi đáo hạn hoặc bán ra thị trường.
Giấy chấp nhận ngân hàng được bán theo phương pháp chiết khấu và chênh
lệch giữa giá bán và mệnh giá là lợi tức của người mua.
- Thời gian đáo hạn của hối phiếu được chấp nhận (Giấy chấp nhận
ngân hàng) thường được đóng khung từ 30 ngày đến 180 ngày, việc chi trả
đúng vào ngày đáo hạn hối phiếu;
- Giấy chấp nhận ngân hàng được sử dụng dụng rộng rãi trong thương
mại quốc tế mặc dù sự chấp nhận trong nước không phải là không thông
dụng; Giấy chấp nhận ngân hàng được sử dụng nhiều trong việc tài trợ dự trữ


101
hàng hoá để sẵn sàng tung ra thị trường quốc tế. Giấy chấp nhận ngân hàng
còn được dùng để giảm bớt sự khan hiếm tiền tệ theo thời vụ, đồng thời các
ngân hàng thương mại có thể mua lại chính Giấy chấp nhận ngân hàng của
mình khi nhu cầu tín dụng tương đối thấp. Giấy chấp nhận ngân hàng là một
trong những công cụ chủ yếu trên thị trường tiền tệ;
- Giấy chấp nhận ngân hàng lưu thông trên thị trường có đủ điều kiện
để tái chiết khấu tại Ngân hàng trung ương và không lệ thuộc vào các quy
định về dự trữ bắt buộc;
- Giấy chấp nhận ngân hàng có tính thanh khoản cao hơn hối phiếu do
các công ty tài chính phát hành, thậm chí một số ngân hàng cũng mua giấy
chấp nhận của ngân hàng gần đến ngày đáo hạn để tăng khả năng thanh toán;
- Giấy chấp nhận ngân hàng được phát hành dưới thể thức vô danh và
có thể mua bán hoàn toàn tự do. Mức độ rủi ro của giấy chấp nhận ngân hàng
tương đối thấp, vì vậy chúng thuộc loại công cụ đầu tư hấp dẫn đối với những
người đầu tư quan tâm tới sự an toàn.


2.5 Bao thanh toán (Factoring)
Nghiệp vụ này phát sinh đầu tiên ở Mỹ vào khoảng năm 1890 dưới tên
gọi Factoring là một hình thức tài chính “tài khoản thu- tài khoản mở để hạch
toán số tiền nhận được do bán hàng hoá, dịch vụ”. Nhà xuất khẩu có thể gia
hạn nợ cho nhà nhập khẩu và vì vậy họ thiếu vốn lưu động. Để bổ sung vốn
lưu động này, nhà xuất khẩu có thể bán “ tài khoản thu” cho ngân hàng thực
hiện nghiệp vụ Factoring. Vai trò cơ bản của ngân hàng (Factor) là mua “tài
khoản thu” để nhận một tỷ lệ phần trăm giá trị của nó.
Để thực hiện được nghiệp vụ Factoring, ngân hàng phải quản lý
việc thu nợ, quản lý sổ cái bán hàng của nhà xuất khẩu ở nước ngoài, thực
hiện các thủ tục thanh toán, chịu rủi ro...
Rủi ro chủ yếu trong nghiệp vụ Factoring rủi ro thương mại, vì vậy
ngân hàng phải tiến hành đánh giá khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu.


102
Trong nghiệp vụ Factoring quốc tế, ngân hàng thực hiện nghiệp vụ này thông
qua rất nhiều ngân hàng quốc tế.
Giá cả dịch vụ Factoring có khuynh hướng cao vì phí của nó tuỳ thuộc
vào các dịch vụ được cung cấp. Phí dịch vụ Factoring vào khoảng 3% đến 4%
giá trị nợ cộng thêm các chi phí tài chính.
Nghiệp vụ bao thanh toán gần giống nghiệp vu chiết khấu
thương phiếu, nhưng có điểm khác sau:
- Các khoản nợ được mua là các khoản nợ có hoá đơn (mua hoá đơn)
- Hợp đồng uỷ nhiệm thu là hợp đồng không được truy đòi
- Ngân hàng thường giữ lại nhiều đề phòng hàng hoá bị trả lại
- Phí cao hơn vì nghiệp vụ bao thanh toán có rủi ro cao hơn
2.6. Forfaiting
Forfaiting là nghiệp vụ tài chính xuất khẩu, ngân hàng mua bán những
khoản thanh toán chưa đến hạn nhưng là những khoản thanh toán trung dài
hạn (từ 2 đến 8 năm) đã được ngân hàng của nhà nhập khẩu đảm bảo.
Từ forfaiting, bắt nguồn từ từ tiếng Pháp là forfait, có nghĩa là từ bỏ.
Nghĩa cơ bản của từ forfaiting là ngân hàng thực hiện nghiệp vụ forfaiting từ
bỏ quyền trông cậy người xuất khẩu khi cung cấp tài chính.
Đặc điểm cơ bản của nghiệp vụ này là:
- Ngân hàng thực hiện nghiệp vụ forfaiting (forfaitor) cấp tín dụng cho
nhà xuất khẩu bằng một lãi suất cố định nhằm tài trợ cho các công trình hoặc
xuất khẩu hàng tư liệu sản xuất;
- Forfaitor cấp tín dụng theo nguyên tắc không hoàn lại, có nghĩa là
nhà xuất khẩu bán lại các lệnh thanh toán cho forfaitor theo mức chiết khấu
và sau đó không chịu trách nhiệm gì cả, ngay cả khi người nhập khẩu không
trả được tiền cho nhà Forfaitor;
- Người nhập khẩu dùng hối phiếu trả cho người xuất khẩu, hối phiếu
này được ngân hàng bảo lãnh thanh toán (phí bảo lãnh lớn). Nhà xuất khẩu
bán hối phiếu cho nhà forfaitor theo mức chiết khấu thoả thuận giữa nhà xuất


103
khẩu và nhà Forfaitor (mức chiết khấu thường rất lớn tới 7-8%/năm). Khi hối
phiếu đến hạn, nhà Forfaitor xuất trình hối phiếu đòi tiền ngân hàng bảo lãnh
cho nhà nhập khẩu.
2.7. Bảo lãnh ngân hàng (Bank’s guarantee)
Bảo lãnh ngân hàng là trách nhiệm trả tiền không huỷ ngang của một
ngân hàng trong trường hợp người thứ ba không thực hiện đầy đủ một dịch vụ
nào đó. Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập và tách biệt trong quan hệ vay
nợ hoặc hợp đồng mua bán.
Đặc điểm cơ bản của bảo lãnh ngân hàng
Tính độc lập là một đặc điểm quan trọng của nghiệp vụ bảo lãnh ngân
hàng. Điều đó có nghĩa là bảo lãnh ngân hàng tồn tại độc lập với hợp đồng cơ
sở phát sinh nhu cầu bảo lãnh. Mặc dụ mục đích của việc bảo lãnh là bồi hoàn
cho người thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện các nghĩa vụ của
hợp đồng của người được bảo lãnh nhưng việc thanh toán một bảo lãnh chỉ
hoàn toàn căn cứ vào hợp đồng bảo lãnh mà không được viện dẫn đến những
tranh chấp trong hợp đồng cơ sở.
Trách nhiệm của ngân hàng chỉ là trách nhiệm tài chính Ngân hàng
không có trách nhiệm cung cấp hàng hoá hay thực hiện một hành động cụ thể
nào thay cho nghĩa vụ không được thực hiện. Ngân hàng chỉ có trách nhiệm
trả cho người nhận bảo lãnh trong trường hợp người uỷ nhiệm vi phạm hợp
đồng
Các loại bảo lãnh ngân hàng (Phân theo mục đích)
Bảo lãnh dự thầu (tender guarantee): Là cam kết của ngân hàng với
chủ thầu về tổn thất do sự vi phạm của người dự thầu. Mục đích của bảo lãnh
dự thầu là khẳng định với người mua rằng việc tham gia đấu thầu là nghiêm
túc, không rút lui, không ký hợp đồng hay thay đổi ý định khi đã được trúng
thầu và khả năng tài chính của người dự thầu là đáng tin Chủ công trình sẽ
yêu cầu những người đăng ký tham gia đấu thầu phải cung cấp một bảo lãnh
ngân hàng gọi là bảo lãnh dự thầu, thông thường là có giá trị từ 1-5% giá trị



104
đấu thầu. Mẫu thư bảo lãnh thường được đính kèm trong bộ hồ sơ của người
chủ thầu cung cấp cho người dự thầu khi đăng ký dự thầu
Bảo lãnh thanh toán (Payment guarantee): Đối với loại bảo lãnh
này, về mục đích giống như một tín dụng thư thương mại thông thường là bảo
đảm cho nghĩa vụ thanh toán, nhưng nó hoàn toàn khác nhau về bản chất và
nghĩa vụ trách nhiệm của ngân hàng phát hành.
Bảo lãnh tiền đặt cọc (advance payment guarantee): Khi ký kết
những hợp đồng có giá trị lớn, thông thường người bán thường yêu cầu người
mua ứng trước một phần tiền nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng. Việc ứng
trước này phải có một bảo lãnh có giá trị tương đương tiền đặt cọc làm đảm
bảo. Người thụ hưởng (người mua) sẽ được hoàn trả lại tiền đặt cọc nếu người
bán không giao hàng hay giao hàng không đủ, không đúng.. Bảo lãnh tiền đặt
cọc chỉ có hiệu lực khi bên được bảo lãnh (bên bán) đã nhận được tiền ứng
trước.
Bảo lãnh nhận hàng (Shipping guarantee): Thông thường người
mua luôn mong muốn nhận được B/L để nhận hàng khi tàu vận chuyển hàng
hoá đến cảng. Tuy nhiên trên thực tế thì điều này thường không xảy ra, tàu
chở hàng thường đến trước khi ngân hàng nhận được bộ chứng từ. Điều đó có
nghĩa rằng người mua không có vận đơn để nhận hàng. Trong trường hợp
này, để sớm nhận được hàng nhằm tránh các rủi ro (có thể có) như phí phạt
lưu kho, chi phí cơ hội..., người mua sẽ phải yêu cầu ngân hàng của mình phát
hành một cam kết (thay thế cho vận đơn), cam kết này được gọi là bảo lãnh
nhận hàng. Bảo lãnh nhận hàng được người mua ký và người ký đối ứng để
bảo lãnh là ngân hàng. Người mua sẽ xuất trình bảo lãnh nhận hàng này cho
công ty vận tải để nhận hàng.
Bảo lãnh hoàn trả (reimbursement guarantee): Bảo lãnh hoàn trả khi
ngân hàng phát hành từ chối thanh toán bộ chứng từ bất hợp lệ. Khi người thụ
hưởng của một thư tín dụng xuất trình bộ chứng từ đến ngân hàng thanh toán,
bộ chứng từ có những điểm khác biệt so với thư tín dụng, ngân hàng thanh
toán yêu cầu người thụ hưởng phải có thư bảo lãnh (từ một ngân hàng khác

105
chẳng hạn) bảo đảm bồi hoàn cho ngân hàng thanh toán khi ngân hàng phát
hành từ chối thanh toán vì những điểm khác biệt đã nêu.
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng (performance guarantee): Loại bảo
lãnh này được sử dụng rộng rãi . Bảo lãnh thực hiện hợp đồng cung cấp một
bảo đảm cho người thụ hưởng về việc thực hiện hợp đồng của người được bảo
lãnh. Trong trường hợp người được bảo lãnh không thực hiện đúng, đầy đủ
những nghĩa vụ đã được ghi trong hợp đồng thì người thụ hưởng có quyền
yêu cầu thanh toán bảo lãnh. Thông thường bảo lãnh này được dùng kèm với
bảo lãnh thanh toán khác. Giá trị bảo lãnh tuỳ theo giá trị hợp đồng và tuỳ
tính chất của mỗi thương vụ. Tuy nhiên gía trị bảo lãnh thực hiện hợp đồng
thông thường là từ 5-10% trị giá hợp đồng.
Ngoài ra trong việc tiến hành kinh doanh nghiệp vụ ngân hàng
quốc tế các ngân hàng còn tham gia vào các dịch vụ như :
- Cho vay hợp vốn đồng tài trợ
- Tài trợ dự án
- Tín dụng cho người đặt hàng
- Kinh doanh ngoại tệ
- Kinh doanh chứng khoán
- Hợp tác kinh doanh ngân hàng quốc tế.




106
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI QUỐC DOANH VIỆT NAM

I. THỰC TRẠNG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI QUỐC DOANH VIỆT NAM
1.Kinh tế Việt Nam những năm gần đây
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có những thay đổi vô cùng to
lớn, nền kinh tế đã chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng XHCN có
sự điều khiển vĩ mô của nhà nước. Chính công cuộc đổi mới này đã thực sự
đem lại những thay đổi cơ bản và sâu sắc trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh
tế
Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững: Nhịp độ tăng trưởng GDP
tính từ năm 1992 đều vào loại cao (thấp nhất năm 1999 là 4,8%) được dư luận
trong nước và quốc tế đánh giá cao, góp phần vào giảm tỉ lệ thất nghiệp, đói
nghèo.

T¨ng tr−ëng GDP ViÖt Nam

10
8
6
4
2
0
1997 1998 1999 2000 2001 2002



Nguồn : Niên giám thống kê 2002
Tuy sản xuất nông lâm nghiệp và thuỷ sản đã đạt được sự chuyển dịch
cơ cấu tích cực theo hướng giảm diện tích trồng trọt có năng suất và hiệu quả
thấp, chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả có
hiệu suất cao hơn. Ngược lại với xu thế tăng trưởng chậm lại ở khu vực nông
nghiệp, sản xuất công nghiệp có xu thế tăng nhanh, phần lớn tăng với hai
con số, qui mô công nghiệp năm 2002 tăng gấp 4 lần năm 1990. Nhiều mặt



107
hàng gia dụng đã có chỗ đứng trên thị trường nhiều nước, vùng lãnh thổ. Xếp
sau công nghiệp là lĩnh vực dịch vụ (trong đó có hoạt động ngân hàng). Tăng
trưởng năm sau so với năm trước thường ở mức gần 10%, chỉ có năm 1999 là
thấp nhất 2,25%.

Trong bối cảnh đầy thách thức của kinh tế và thương mại thế giới, Việt
nam vẫn giành được những thành tựu quan trọng trong công tác xuất nhập
khẩu. Kim ngạch xuất khẩu năm 2002 tăng 4,5%, đạt giá trị 15,1 tỷ USD.
Trong 5 năm qua, tỷ lệ nhập siêu được thu hẹp đáng kể. Năm 2002 nhập siêu
khoảng 900 triệu USD, gần bằng 65 kim ngạch xuất khẩu chủ yếu rơi vào khu
vực công nghiệp.


16
14
12 N«ng l©m nghiÖp vμ thuû
s¶n
10
8 C«ng nghiÖp vμ x©y dùng Kim ngạch xuất nhập
6
4
DÞch vô khẩu
2
0
1999 2000 2001 2002

Năm 1997 1998 1999 2000 2001
XK ( tỷ USD) 9,18 9,36 11,54 14,3 15,1
Tăng ( % ) 26,6 1,9 23,3 23,9 4,5
NK ( tỷ USD ) 11,59 11,52 11,62 15,2 16
Tăng ( % ) 4,0 - 0,6 0,8 30,8 5,3
Nhập siêu ( % ) 26,2 23,1 0,7 6,3 6


Nguồn : Niên giám thống kê 2002; Kinh tế Việt nam 2001-2002
2. Thực trạng các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam
2.1 Vai trò của các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam trong
nền kinh tế
Hiện nay, Việt Nam có 4 ngân hàng thương mại quốc doanh lớn, bao
gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Công
thương Việt Nam (Incombank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam


108
(Vietindebank), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
(VBARD). Trên thị trường tín dụng Việt Nam, thị phần của các NHTM quốc
doanh là rất lớn. Với chức năng của mình, với phạm vi, qui mô rộng lớn trong
nước, trong những năm qua, các NHTM nhà nước đóng một vai trò quan
trọng trong việc hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển.


Cơ cấu tín dụng ngân hàng
1997 1998 1999 2000 2001
Tổng dư nợ cho vay (%) 100 100 100 100 100
Cho vay từ NHTMQD 75,5 77,2 81,4 67,9 73,3
Cho vay từ NH khác 24,5 22,8 18,6 32,1 26,7
Nguồn: Tạp chí ngân hàng số 8 năm 2002
2.2. Cơ cấu của các NHTM quốc doanh
Trước đây trong nền kinh tế tập trung, chúng ta chỉ có một ngân hàng là
Ngân hàng Nhà nước, sau này chuyển sang nền kinh tế thị trường, các NHTM
quốc doanh tách ra từ Ngân hàng Nhà nước. Trên thực tế hiện nay có sự xung
đột giữa các chức năng của Ngân hàng Nhà nước, một mặt Ngân hàng Nhà
nước đóng vai trò Ngân hàng Trung ương: ban hành và thực thi chính sách
tiền tệ, giám sát hệ thống ngân hàng hoạt động lành mạnh và an toàn, mặt
khác Ngân hàng Nhà nước lại đóng vai trò cơ quan chủ quản của các ngân
hàng thương mại quốc doanh Việt nam. Sự xung đột lợi ích giữa các chức
năng làm cho Ngân hàng Nhà nước sẽ khó làm tốt đồng thời cả hai chức năng
này. Những vụ án lớn về ngân hàng vừa qua cho thấy hệ thống thanh tra
Ngân hàng Nhà nước kém hiệu quả, không đủ mạnh để đảm bảo cho hoạt
động lành mạnh của hệ thống ngân hàng.
Cơ cấu tổ chức của các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt
Nam được tổ chức theo ngành dọc, ngân hàng có Trụ sở chính tại Thủ đô và
các chi nhánh tại các tỉnh, thành phố trong cả nước. Về mặt luật pháp, Hội
đồng quản trị, Tổng giám đốc ngân hàng thương mại quốc doanh có toàn


109
quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng , kỷ luật các giám đốc, phó giám
đốc chi nhánh ngân hàng. Tuy nhiên trên thực tế lại không phải hoàn toàn như
vậy, việc bổ nhiệm cán bộ chủ chốt các chi nhánh của ngân hàng cần phải có
sự chấp thuận của cấp uỷ Đảng và Chính quyền địa phương. Điều này dẫn
đến việc thiếu rõ ràng trong việc quy trách nhiệm công tác cán bộ của ngân
hàng thương mại quốc doanh cũng như làm suy yếu tính hiệu quả công tác
quản trị của ngân hàng.
2.3. Qui mô của các NHTM quốc doanh
Xét trên góc độ doanh nghiệp nhà nước thì qui mô của “tứ đại ngân
hàng” là lớn.
Đơn vị: triệu VND
Tài sản và vốn của NHTMQD ngày 01/01/2001
Tổng Tài sản Tài sản Nguồn Nguồn Nguồn vốn
tài sản lưu động cố định vốn vốn quỹ kinh doanh
Chủ sở
hữu
NHNTVN 45.619.002 43.954.225 1.664.778 2.249.666 2.249.666 1.263.258
NHCTVN 43.034.159 39.391.708 3.642.452 1.700.297 1.700.285 1.169.707
NHDTPT 39.070.919 37.746.796 1.324.123 1.903.151 1.903.107 1.121.042
NHNN&PTNT 39.655.876 38.601.237 1.054.639 2.958.274 2.953.428 2.271.708

Nguồn: Số liệu về tài sản và vốn của DNNN (Bộ tài chính)
Cho đến nay, với quy mô tăng trưởng tài sản có của các ngân hàng
thương mại quốc doanh Việt nam bình quân mỗi năm khoảng 20 %. So với
các ngân hàng thương mại quốc tế, vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương
mại quốc doanh Việt nam hiện nay quá nhỏ bé. Hiện nay Ngân hàng Công
thương Việt nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt nam, Ngân hàng đầu tư và
phát triển có vốn chủ sở hữu trung bình của mỗi ngân hàng tương đương 78,5
triệu đô la, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt nam có vốn
chủ sở hữu lớn hơn là 157 triệu đô la. Nếu so với Ngân hàng đứng thứ 10 trên
thế giới là Credit Suisse, Thuỵ Sỹ có vốn chủ sở hữu là 16.860 triệu đô la
hoặc so sánh với số vốn chủ sở hữu bình quân của các ngân hàng thương mại




110
trong khu vực Châu Á là một tỷ đô la, thì khả năng tài chính của các Ngân
hàng thương mại quốc doanh Việt nam còn quá nhỏ bé để có thể cạnh tranh
2.4 Những khó khăn, tồn tại
Tỷ lệ nợ quá hạn và các khoản nợ đọng chờ xử lý không sinh lời của
các ngân hàng thương mại quốc doanh nếu theo các con số mà IMF, WB cung
cấp thì có xu hướng tăng tuy không quá cao so với khu vực. Tuy nhiên theo
các chuyên gia thì đây là do chế độ hạch toán kế toán của ta không theo tiêu
chuẩn quốc tế và một số khoản nợ khó đòi liên quan đến các vụ án không
được hạch toán vào khoản mục nợ khó đòi mà thường để vào “ khoản mục
chờ xử lý”. Nếu theo tiêu chuẩn quốc tế thì con số này có thể tăng lên gấp ba
lần. Điều này có nghĩa là vấn đề nợ xấu quả đáng lo ngại.
Đơn vị: Triệu VNĐ
Nợ quá hạn của hệ thống ngân hàng Việt nam
1998 1999 2000 2001 (tháng 3)
Hệ thống ngân hàng 12,4 12,0 13,2 13,1
NHTMQD 12,0 11,0 11,1 11,0
Ngân hàng ngoài QD 13,5 16,4 23,0 24,4
Nguồn: Tạp chí ngân hàng số 8 năm 2002


Cơ cấu tổ chức của các ngân hàng không thích hợp với môi trường
kinh doanh hiện đại có nhiều thay đổi Các ngân hàng vẫn duy trì cơ cấu tổ
chức đã có từ lâu trong khi đó môi trường kinh doanh thay đổi đặt ra yêu cầu
đổi mới. Chỉ có số ít ngân hàng tỏ ra bạo dạn thay đổi cơ cấu tổ chức nhưng
cũng chưa hoàn thiện
Công nghệ của ngân hàng lạc hậu so với các ngân hàng thương mại
quốc tế. Vì vậy sức cạnh tranh của các ngân hàng thương mại quốc doanh
Việt nam rất kém không chỉ trên thị trường quốc tế mà ngay cả trên thị trường
Việt nam
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ ngân hàng còn non yếu, chưa đáp ứng
được yêu cầu cho một ngân hàng thương mại hoạt động có hiệu quả và an


111
toàn trong một thị trường phát triển khá nhanh và rủi ro lớn như ở Việt nam.
Cơ chế quản lý chậm được đổi mới đã làm cho các Ngân hàng thương mại
quốc doanh chảy máu chất xám, không thu hút và không giữ được cán bộ có
chuyên môn cao.
Phần lớn các ngân hàng thương mại quốc doanh đều thiếu một chiến
lược kinh doanh hiệu quả và bền vững. Vì vậy, nhiều quyết định kinh doanh
chỉ dựa vào lợi ích ngắn hạn và khi môi trường kinh doanh thay đổi kéo theo
những khoản nợ lớn đối với ngân hàng. Vấn đề Marketing và các chiến lược
Marketing vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Các ngân hàng thương mại
quốc doanh chưa hình thanh cho mình được văn hoá doanh nghiệp
Các dịch vụ ngân hàng đưa ra chưa đa dạng cả về hình thức và qui mô.
Các ngân hàng thương mại quốc doanh mới chỉ chú trọng tới các nghiệp vụ
ngân hàng bán buôn mà chưa phát triển các nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ như:
tín dụng tiêu dùng, thẻ tín dụng, dịch vụ thanh toán, tư vấn đầu tư v.v .
Từ những tồn tại trên dẫn đến hệ quả tất yếu là hiệu quả kinh doanh
thấp và đang có xu hướng giảm dần. Trong những năm qua, hoạt động kinh
doanh của các ngân hàng thương mại quốc doanh nhìn chung đều có lãi, đóng
ghóp đấy đủ cho ngân sách nhà nước và đảm bảo đời sống của cán bộ công
nhân viên. Nhưng từ năm 1998 trở lại đây, số lãi giảm nhiều, tài sản có và số
lao động tăng nhanh.


CHỈ TIÊU HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NHTMQD
Chỉ tiêu 1998 1999 2000 2001
Chi phí hoạt động/ Tổng tài sản có %
NH Ngoại thương 5,5 5,5 4,4 4
NH Công thương 9,6 9,3 7,6 4,5
NH Nông nghiệp 12,6 9,5 9,3 6,4
NHĐT&PT 8,3 8,0 7,5 4,6
Lợi nhuận ròng/ Tổng tài sản có của các 0,75 0,42 0,31 0,36
NHTM quốc doanh


112
Nguồn: Tạp chí ngân hàng số 6 năm 2002

II. THỰC TRẠNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG QUỐC TẾ Ở CÁC NGÂN HÀNG
TMQD VIỆT NAM
1. Cung ứng các dịch vụ ngân hàng quốc tế
1.1. Dịch vụ ngân hàng đại lý
Những năm gần đây các dịch vụ ngân hàng đại lý của các ngân hàng
thương mại quốc doanh Việt nam phát triển nhanh chóng: tính đến cuối năm
2001, Ngân hàng Công thương Việt Nam có quan hệ ngân hàng đại lý hơn
435 ngân hàng ở 43 nước; Ngân hàng ngoại thương Việt nam có quan hệ với
1300 ngân hàng đại lý tại 85 nước trên thế giới ; Ngân hàng đầu tư và phát
triển Việt nam đã thiết lập quan hệ đại lý hơn 500 ngân hàng trên thế giới,
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thiết lập quan hệ
đại lý hơn 400 ngân hàng trên thế giới.
Các Ngân hàng thương mại quốc doanh ít nhiều đã có chính sách Ngân
hàng đại lý; đã biết lựa chọn một số ngân hàng chủ chốt để phân phối các
giao dịch qua các ngân hàng này, đảm bảo các hoạt động kinh doanh quốc tế
của Ngân hàng được an toàn, hiệu quả; đồng thời tận dụng được các ưu đãi
mà các ngân hàng đại lý dành cho Ngân hàng như: chia phí, lãi suất cho vay
thấp, lãi tiền gửi cao, đào tạo cán bộ. Cho đến nay, nhiều ngân hàng quốc tế
đã cung cấp cho Ngân hàng thương mại quốc doanh hạn ngạch giao dịch
ngoại tệ, hạn ngạch xác nhận L/C, trong đó nhiều ngân hàng cam kết tài trợ
với hạn ngạch không hạn chế. Nhiều ngân hàng đại lý cho phép các Ngân
hàng thương mại quốc doanh được thấu chi đến một hạn mức tiền nhất định.
Ngoài ra, các Ngân hàng thương mại quốc doanh còn khai thác được nguồn
tài trợ không cam kết của nhiều ngân hàng, giúp cho các Ngân hàng thương
mại quốc doanh luôn đảm bảo khả năng thanh toán, đồng thời có nguồn ngoại
tệ bổ xung cho nguồn vốn ngoại tệ huy động nhằm đáp ứng nhu cầu vay ngoại
tệ của các doanh nghiệp.




113
Các Ngân hàng thương mại quốc doanh thường xuyên gặp mặt, trao đổi
thông tin với các ngân hàng đại lý trong nước và ngoài nước; nhờ đó đã phát
triển được các nghiệp vụ như:
Tài khoản tiền gửi; Ký các hiệp định tài trợ tín dụng khung; Uỷ thác
đầu tư; Quan hệ tín dụng; Ký kết, thực hiện mua bán giấy bạc ngoại tệ; Triển
khai nghiệp vụ séc du lịch, thanh toán thẻ; Ký kết thoả thuận chi trả kiều hối;
Ngoài ra còn được các ngân hàng đại lý đào tạo và mời tham gia các
nghiệp vụ như: Nghiệp vụ ngân hàng điện tử, thanh toán bù trừ bằng USD,
nghiệp vụ cho thuê tài chính.. .
Tuy nhiên dịch vụ ngân hàng đại lý của các Ngân hàng quốc doanh
Việt nam còn nhiều hạn chế so với yêu cầu của thực tiễn như:
♦ Quan hệ với các ngân hàng đại lý còn một chiều, mới trên bình diện
rộng, chưa phát triển theo chiều sâu. Điều này là do mức độ phát triển dịch vụ
ngân hàng quốc tế ở Việt nam còn ở mức trung bình, thấp
♦ Về mô hình tổ chức của bộ phận quan hệ đại lý còn chưa hợp lý,
chưa phối hợp chặt chẽ với các bộ phận kinh doanh khác trong ngân hàng;
♦ Việc lập hồ sơ theo dõi hoạt động của các ngân hàng đại lý chưa đầy
đủ và kịp thời; chưa tổ chức đánh giá tín nhiệm các ngân hàng đại lý một cách
thường xuyên, đặc biệt là đánh giá tín nhiệm các ngân hàng đại lý bậc trung
và nhỏ của các nước trong khối Asean để thực hiện giao dịch với các ngân
hàng này nhằm tiết giảm phí giao dịch; mặc dù đã có lựa chọn các ngân hàng
chủ chốt để ưu tiên hợp tác nhưng chưa xây dựng thành một chiến lược cụ
thể và quán triệt trong mọi bộ phận của Ngân hàng;
♦ Công tác thông tin, tuyên truyền về Ngân hàng đối với cộng đồng
ngân hàng quốc tế còn yếu và chưa kịp thời, báo cáo thường niên gửi cho các
ngân hàng đại lý tuy đã được cải tiến nhưng còn chậm và còn nhiều lỗi;
♦ Các buổi làm việc giữa Ngân hàng với đại diện của các ngân hàng
đại lý để thảo luận về các dịch vụ cung ứng của các ngân hàng này chưa được
chuẩn bị thích ứng để đạt hiệu quả cao;

114
♦ Trình độ cán bộ làm công tác trực tiếp giao dịch với các ngân hàng
đại lý còn nhiều bất cập;
♦ Quan hệ cá nhân trong mối quan hệ ngân hàng đại lý chưa được đánh
giá đúng mức.

1.2 . Dịch vụ thẻ tín dụng của các NHTMQD Việt nam
Trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh, Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam là ngân hàng đầu tiên ở Việt nam thực hiện nghiệp vụ thanh
toán thẻ tín dụng quốc tế vào đầu năm 1990. Trong giai đoạn đầu, Ngân hàng
ngoại thương Việt Nam chỉ đóng vai trò là ngân hàng đại lý thanh toán cho
các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài. Năm 1993, Ngân hàng ngoại
thương Việt Nam đã phát hành thẻ VietcombankCard, thẻ này được dùng để
thanh toán trong nước. Đến tháng 4 năm 1995, Ngân hàng ngoại thương Việt
nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thẻ MasterCard. Đến tháng 8
năm 1996, Ngân hàng ngoại thương Việt Nam đã trở thành thành viên chính
thức của tổ chức thẻ quốc tế VISA. Ngày 26/4/1996, Ngân hàng ngoại thương
Việt Nam làm lễ ra mắt Thẻ tín dụng quốc tế (Vietcombank Master Card) tại
Thủ đô Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh. Ngày 2/4/2002 Ngân hàng Ngoại thương
Việt nam đã ký kết hợp đồng đại lý chấp nhận thanh toán thẻ Diners Club
International và trở thành ngân hàng duy nhất ở Việt nam thanh toán cả 5 loại
thẻ tín dụng quốc tế thông dụng nhất trên thế giới là Visa, Mastercard, Amex,
JBC, Diner Club. Ngày 15/7/2002 Vietcombank ký hợp đồng với Amex trở
thành ngân hàng độc quyền kinh doanh phát hành và thanh toán thẻ Amex ở
Việt nam, không có một ngân hàng nội địa, nước ngoài nào được quyền kinh
doanh loại thẻ này ở Việt nam. Trước đó Vietcombank đã phát hành thẻ
VISA/Mastercard theo hai hạng
Thẻ vàng : hạn mức từ 50 triệu VND tới 90 triệu VND
Thẻ bạc : hạn mức từ 10 triệu VND tới 50 triệu VND
Tính đến cuối năm 2000, Ngân hàng ngoại thương đã phát hành được
hơn 8500 thẻ VISA và Mastercard. Thẻ được phát hành chủ yếu là thẻ vàng,
chiếm trên 70 %. Trong năm 2000, doanh số sử dụng thẻ tín dụng của Ngân


115
hàng ngoại thương đạt khoảng 75 triệu USD chiếm khoảng 40% thị phần thị
trường thẻ tín dụng Việt nam, năm 2001 doanh số thanh toán thẻ tăng 21%,
đạt 86,5 triệu USD. Trong đó, doanh số sử dụng thẻ ở nước ngoài chiếm
70%, chủ yếu là để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ.
Tuy thanh toán thẻ tín dụng quốc tế mới phát triển mấy năm gần đây và
tỏ ra ngày càng phát triển mạnh nhưng đã xuất hiện nhiều rủi ro, đặc biệt là
nạn sử dụng thẻ gian lận, giả mạo gây thiệt hại cho các NHTM.
Tình hình thanh toán thẻ tín dụng Visa và Mastercard giả mạo, gian lận tại Việt nam
Đơn vị: USD
Năm 1997 1998 1999 2000
Thẻ Mastercard 36.204 45.249 98.490 199.530
Thẻ Visa 50.150 81.611 214.463 254.387
Tổng cộng: 86.354 126.860 312.953 453.917
( Nguồn: Tạp chí ngân hàng số 10 năm 2001 )
Tính đến năm 2002 Ngân hàng Ngoại thương là ngân hàng đầu tư mạnh
nhất và thành công nhất với dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng quốc tế, trong khi
đó các ngân hàng thương mại quốc doanh khác mới nghiên cứu, phát triển và
phần lớn là đầu tư vào ATM phục vụ trong nước là chủ yếu.
Nguyên nhân khách quan hạn chế sự phát triển hoạt động thanh toán
và phát hành thẻ tín dụng:
Tập quán quen sử dụng tiền mặt, chưa quen sử dụng tài khoản, chưa
quen sử dụng các phương tiện thanh toán qua ngân hàng đã có tư lâu đời.
Đây là một trở ngại lớn mà các ngân hàng cần đầu tư nhiều vào Marketing để
thuyết phục người dân.
Nguồn thu nhập cá nhân không ổn định, có quá ít tài khoản cá nhân ở
ngân hàng nên ngân hàng thiếu căn cứ phát hành thẻ.
Mạng lưới máy đọc thẻ, máy rút tiền còn quá ít, tính phức tạp trong cơ
chế quản lý ngoại hối của nước ta là trở ngại đối với người sử dụng thẻ.
Theo một số chuyên gia ngân hàng nhận xét, các ngân hàng thương mại
quốc doanh chưa quan tâm đến việc phát triển dịch vụ thẻ tín dụng là vì một
số nguyên nhân sau:

116
Hiệu quả hoạt động kinh doanh phát hành thẻ tín dụng của các ngân
hàng đã triển khai trước đạt hiệu quả không cao.
Rủi ro đối với hoạt động phát hành thẻ là rất cao, trong khi cơ sở pháp
lý đối với hoạt động này vẫn chưa đầy đủ và hoàn thiện.
Dịch vụ thẻ tín dụng chủ yếu vẫn dựa vào lượng doanh nhân và du
khách quốc tế vào Việt nam.

1.3 . Dịch vụ thanh toán quốc tế tại các NHTMQD Việt nam
1.3.1. Mạng SWIFT (Society for Worldwide Interbank Telecommunication)
Việt Nam tham gia thanh toán qua mạng SWIFT năm 1995, ban đầu
chỉ có 15 ngân hàng là thành viên. Đến tháng 10/2001 số thành viên đã tăng
lên tới 50, trong đó, có Ngân hàng Nhà nước, 4 NHTMQD, 24 chi nhánh
ngân hàng nước ngoài, 17 ngân hàng thương mại cổ phần và 4 ngân hàng liên
doanh. Trong 2 năm 2000 2001 lượng điện giao dịch qua mạng SWIFT tăng
đáng kể, trong đó loại Rem.MT’s chiếm 40%, MT100 chiếm 20%, MT202
chiếm 125% còn lại là các loại điện dạng khác. Vừa qua tại hội nghị hàng
năm của SWIFT tại Hà nội vào ngày 23/11/2001, SWIFT đã yều cầu các
thành viên chuẩn bị để chuyển sang sử dụng loại MT103, tiến tới năm 2003
buộc các thành viên phải sử dụng loại MT103 và huỷ loại MT100.
1.3.2 Các hình thức và kết quả của hoạt động thanh toán quốc tế của các
NHTMQD Việt nam
Hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại quốc
doanh Việt nam tiến hành dưới các hình thức sau:

♦ Phương thức chuyển tiền: bao gồm dịch vụ chuyển tiền đi và chuyển
tiền đến. Hiện nay các ngân hàng thương mại quốc doanh thực hiện dịch vụ
chuyển tiền bằng SWIFT theo mẫu MT 100 hoặc 202.

♦ Phương thức nhờ thu: nghiệp vụ nhờ thu của các ngân hàng thương
mại quốc doanh tuân thủ theo “ Quy tắc thống nhất về nhờ thu của Phòng
thương mại quốc tế số xuất bản 522” (URC 522). Trong nghiệp vụ nhờ thu


117
các ngân hàng thương mại quốc doanh có thể đóng vai trò ngân hàng chuyển
tiền hoặc ngân hàng thu hộ tiền.

♦ Phương thức tín dụng chứng từ: thanh toán bằng hình thức thư tín
dụng là nghiệp vụ phức tạp nhất nhưng cũng được sử dụng nhiều nhất ở các
ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam. Nghiệp vụ này được chia thành
hai loại: thanh toán hàng xuất khẩu bằng thư tín dụng và thanh toán hàng
nhập khẩu bằng thư tín dụng. Phần này sẽ tập trung nhiều vào phương thức
quan trọng này.
Hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân hàng thương mại quốc
doanh đã phát triển nhanh chóng. Cả 4 Ngân hàng thương mại quốc doanh
đều thực hiện thanh toán quốc tế với nước ngoài, đáp ứng yêu cầu của khách
hàng trong việc thu và chuyển tiền ra nước ngoài.
Doanh số Thanh toán xuất nhập khẩu của các NHTMQD
Đơnvị:Triệu USD
Ngân hàng 1997 1998 1999 2000 2001
NHCTVN 982 644 667 1.066 1.215
NHNTVN 6.006 9.492 9.149 9.863 9.975
NHNN&PTNT 983 1.252 1.798 1.998 2.198
NHĐT&PT 567 621 650 690 861
Nguồn: Báo cáo thường niên các NHTMQD
Tạp chí ngân hàng các năm 2001 - 2002.

1.3.3. Các mô hình tổ chức quy trình thanh toán thư tín dụng
Một trong những phương thức thanh toán quan trọng, phổ biến và
chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng
thương mại quốc doanh là hình thức thanh toán tín dụng chứng từ (L/C), ví dụ
như tại Ngân hàng Công thương Việt nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt
nam hình thức thanh toán thư tín dụng chiếm khoảng 90 % doanh số thanh
toán quốc tế của ngân hàng.
Việc áp dụng, phát triển quy trình thanh toán thư tín dụng vừa đáp ứng
nhu cầu quản lý của Ngân hàng vừa phải tuân thủ các quy định theo thông lệ

118
quốc tế đòi hỏi phải lựa chọn một mô hình tổ chức tối ưu phù hợp với từng
ngân hàng. Sau đây là một số mô hình tổ chức quy trình thanh toán L/C mà
các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam đã và đang áp dụng:

Mô hình 1
Trụ sở chính của ngân hàng uỷ quyền cho các chi nhánh trực tiếp mở
và đặt quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài; được quyền mở, sử dụng
tài khoản nostro.
- Đối với L/C nhập khẩu:
Chi nhánh phát hành trực tiếp L/C nhập khẩu cho người thụ hưởng
thông qua ngân hàng đại lý, nhận chứng từ thanh toán từ ngân hàng đại lý và
thanh toán thông qua tài khoản nostro do chi nhánh mở tại ngân hàng đại lý.




119
- Đối với L/C xuất khẩu:
Chi nhánh nhận L/C từ ngân hàng đại lý và thông báo trực tiếp cho
người thụ hưởng, đồng thời nhận chứng từ thanh toán từ người thụ hưởng,
thương lượng chuyển tiếp chứng từ liên quan đến L/C và yêu cầu chuyển tiền
về tài khoản nostro của ngân hàng.
Mô hình này tạo sự chủ động cho các chi nhánh, thời gian luân chuyển
thông tin và xử lý chứng từ nhanh chóng. Tuy nhiên mô hình này có nhược
điểm là việc xử lý nghiệp vụ và áp dụng quy trình thanh toán không thống
nhất giữa các chi nhánh; công tác kiểm soát thiếu chặt chẽ; quỹ đảm bảo
thanh toán bị phân tán, không hiệu quả.
Mô hình 2
Cho phép các chi nhánh thiết lập quan hệ đại lý trực tiếp nhưng tập
trung tài khoản nostro về Trụ sở chính. Các chi nhánh quan hệ với Trụ sở
chính thông qua tài khoản điều chuyển vốn nội bộ.
- Đối với L/C nhập khẩu:
Các chi nhánh căn cứ theo yêu cầu của khách hàng, tiến hành mở L/C
trực tiếp cho người thụ hưởng thông qua hệ thống ngân hàng đại lý do chi
nhánh tự thiết lập, trực tiếp nhận chứng từ, xử lý kiểm tra chứng từ do các
ngân hàng thông báo gửi đến, trao đổi tra soát và xác nhận các thông tin với
các ngân hàng nước ngoài thông qua hệ thống thông tin riêng của chi nhánh.
Việc thanh toán tiền cho các ngân hàng có liên quan đến L/C do chi nhánh
phát hành được thực hiện thông qua tài khoản điều chuyển vốn nội bộ tại Trụ
sở chính. Căn cứ theo yêu cầu của chi nhánh, Trụ sở chính sẽ trích tài khoản
nostro của mình để thanh toán cho ngân hàng liên quan.
- Đối với L/C xuất khẩu:
Chi nhánh nhận trực tiếp L/C từ các ngân hàng đại lý thông báo và
chuyển L/C cho người xuất khẩu, nhận chứng từ thanh toán từ người thụ
hưởng, thương lượng chuyển tiếp chứng từ liên quan đến L/C, chỉ thị cho




120
ngân hàng liên quan trả tiền về tài khoản nostro của Trụ sở chính, khi nhận
được tiền thanh toán Trụ sở chính sẽ ghi có vào tài khoản của chi nhánh.
Mô hình 2 có ưu điểm vừa bảo đảm tính chủ động của chi nhánh, xử lý
thông tin nhanh, vừa tập trung được quỹ thanh toán. Mô hình này phù hợp với
yêu cầu quản lý trong giai đoạn chưa thiết lập được mạng thanh toán nội bộ.
Tuy nhiên, mô hình này có nhược điểm là: chi phí cao, thông tin phân tán,
công tác kiểm soát và tính hệ thống kém.
Mô hình 3
Mô hình 3 là mô hình chỉ duy nhất Trụ sở chính có quan hệ tài khoản
nostro với ngân hàng nước ngoài và tập trung đầu mối quan hệ ngân hàng đại
lý tại Trụ sở chính.
- Đối với L/C nhập khẩu:
Các chi nhánh được phép phát hành L/C nhập khẩu, xử lý kiểm tra
chứng từ do Ngân hàng thông báo chuyển đến, trao đổi tra soát và xác thực
thông tin với các ngân hàng đại lý nước ngoài thông qua Trụ sở chính, Trụ sở
chính đồng thời thực hiện thanh toán theo yêu cầu của chi nhánh đồng thời
giám sát và kiểm tra khối lượng, giá trị thanh toán thông qua mạng thanh toán
điện tử và hệ thống swift.
- Đối với L/C xuất khẩu:
Các chi nhánh nhận thông báo L/C, và các sửa đổi liên quan cho khách
hàng xuất khẩu từ ngân hàng phát hành thông qua Trụ sở chính. Chi nhánh
nhận chứng từ và thương lượng trực tiếp với người thụ hưởng, chuyển thẳng
chứng từ liên quan và thư đòi tiền cho ngân hàng chỉ định trong L/C, yêu cầu
ngân hàng thanh toán thanh toán số tiền liên quan về tài khoản nostro của Trụ
sở chính.
Mô hình 3 có ưu điểm là đảm bảo cho Trụ sở chính vừa quản lý vốn tập
trung vừa kiểm soát rủi ro trong thanh toán quốc tế trong toàn hệ thống Ngân
hàng, đồng thời đảm bảo chủ động của chi nhánh trong hoạt động thanh toán
quốc tế. Tuy nhiên mô hình này đòi hỏi trình độ quản lý phải cao; hệ thống


121
chuyển tải thông tin, chứng từ phải hiện đại đảm bảo chuyển thông tin, chứng
từ giữa Trụ sở chính và chi nhánh thông suốt, nhanh chóng.
1.3.4 Những vấn đề tồn tại trong hoạt động thanh toán quốc tế của các
ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam
- Công nghệ thanh toán quốc tế chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn;
hệ thống thanh toán quốc tế trong nội bộ hệ thống của từng Ngân hàng tuy đã
được thực hiện trên máy vi tính nhưng chương trình phần mềm chưa hoàn
thiện, thiếu đồng bộ, mức tự động chưa cao ;
- Mô hình tổ chức thực hiện nghiệp vụ còn sơ khai, chưa khoa học, thủ
tục còn khá rườm rà phức tạp, khách hàng phải đi lại nhiều lần. Việc giải
quyết các yêu cầu của khách hàng chưa được nhanh chóng;
- Bộ phận thanh toán quốc tế tại trụ sở chính chưa đủ mạnh để trở thành
một trung tâm thanh toán quốc tế của ngân hàng, công tác kiểm soát rủi ro
thanh toán quốc tế chưa được coi trọng, các bộ phận trong khối kinh doanh
quốc tế thiếu sự phối hợp;
- Một số chi nhánh của một số ngân hàng thương mại quốc doanh Việt
nam phát hành L/C trả chậm tràn lan, không tuân thủ quy trình phát hành L/C
trả chậm và mức phán quyết được giao đã dẫn tới tổn thất cho ngân hàng.
- Trình độ cán bộ thanh toán quốc tế còn nhiều bất cập, đặc biệt là ở các
chi nhánh loại 2 tại các ngân hàng: Ngân hàng Công thương Việt nam, Ngân
hàng Đầu tư và phát triển Việt nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển
Nông thôn Việt nam. Tại các chi nhánh này, cán bộ chưa độc lập giải quyết
được những vấn đề phát sinh
- Mặc dù các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam đã áp dụng
các luật mang tính thông lệ quốc tế như : UCP 500, URC 522, URR 525,
URDG458, ULB 1930, ISP 590... nhưng Việt nam vẫn còn thiếu nhiều luật
nhằm tạo hành lang pháp lý cho hoạt động thanh toán quốc tế ví dụ như luật
séc , hối phiếu. Các văn bản hiện hành thì quy định chồng chéo, qua nhiều
lần bổ xung, sửa đổi nên khó áp dụng, hiệu lực pháp lý chưa cao.


122
- Cán cân thanh toán quốc tế và cán cân thương mại của Việt nam luôn
trong tình trạng bội chi, điều đó ảnh hưởng đến khả năng mua bán ngoại tệ
của các ngân hàng thương mại quốc doanh nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ
cho hoạt động thanh toán quốc tế. Ngoài ra, việc thị trường ngoại tệ của Việt
nam còn trong tình trạng sơ khai đã làm cho một số ngân hàng thương mại
quốc doanh rất khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn ngoại tệ phục vụ cho
nghiệp vụ thanh toán quốc tế..
1.4. Đánh giá tổng quát các hình thức cung cấp dịch vụ ngân hàng quốc tế
Để thấy được vai trò của từng loại hình dịch vụ đã nêu trên, ta phân tích
số liệu của ngân hàng tốt nhất Việt nam năm 2002 (Vietcombank).
Thu dịch vụ Đơn vị: Triệu VND
2000 2001 Tăng/giảm
GT TT% GT TT% GT%
Thu phí thanh toán 144.740 90,15 155.193 88,43 7,22
Thu phí dịch vụ thẻ 15.660 9,75 20.135 11,47 28,57
Thu dv uỷ thác và đại lý 157 0,1 167 0,1 6,4
Tổng 160557 100 175495 100 9,3

Nguồn: Vietcombank Annual Report 2002
Qua phân tích thấy rằng, hoạt động thanh toán vẫn là hoạt động chủ lực
với lượng phí thu được vào khoảng 90%, trong khi đó hoạt động ngân hàng
đại lý đem lại nguồn thu vô cùng nhỏ nhoi, chỉ chiếm khoảng 0,1%. Hoạt
động thanh toán qua thẻ đạt mức độ tăng trưởng rất cao (gần 29%) và chiếm
một tỷ trọng xứng đáng. Điều này cho thấy triển vọng sáng sủa của loại hình
dịch vụ còn tương đối mới mẻ này. Hoạt động ngân hàng đại lý của
Vietcombank là lớn nhất trong “tứ đại ngân hàng” mà kết quả cũng rất khiêm
tốn cho thấy dịch vụ này ở các ngân hàng khác cũng không sáng sủa gì. Tuy
tỷ trọng nhỏ (một phần là do bản chất của dịch vụ) nhưng số liệu cho thấy vẫn
có sự tăng trưởng tốt (6,4%).
2. Tiến hành kinh doanh các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế nhằm thu lợi
nhuận ở các ngân hàng quốc doanh Việt Nam
2.1. Thực trạng cho vay xuất, nhập khẩu tạIn reply to: các ngân hàng
thương mại quốc doanh Việt nam trong những năm gần đây.

123
Tình hình cho vay xuất nhập khẩu của một số ngân hàng thương mại
quốc doanh Việt nam trong năm 2000 như sau:
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt nam cho vay 19 dự án tài trợ nhập
khẩu với số tiền là 42 triệu USD và tài trợ xuất gạo với doanh số cho vay là
525 tỷ đồng;
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt nam: cho vay
nhập khẩu thiết bị các dự án lớn như: dự án khí đốt Nam Côn Sơn, xi măng
Nghi Sơn, mở rộng dây chuyền bia Hà Nội, cho vay nhập khẩu xăng dầu,
phân bón, thiết bị bưu chính viễn thông, tính đến 31/12/2000, tổng dư nợ cho
vay xuất nhập khẩu của Ngân hàng là 175,5 triệu USD;
Ngân hàng Công thương Việt nam: tính đến 31/12/2000, dư nợ của
Ngân hàng Công thương Việt nam cho vay xuất khẩu là 1400 tỷ đồng, tổng
dư nợ cho vay xuất nhập khẩu là 2878 tỷ đồng.
Một số tồn tại :
- Đối tượng khách hàng cho vay xuất nhập khẩu: tỷ trọng dư nợ của
khách hàng là doanh nghiệp Nhà nước chiếm rất cao ( từ 70 % đến 80 % dư
nợ cho vay);
- Tỷ lệ nợ quá hạn trong cho vay xuất nhập khẩu vẫn còn cao, ví dụ
như: tỷ lệ dư nợ quá hạn trong cho vay xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Công
thương Việt nam tính đến tháng 31/12/1999 là 6,7% và 31/12/2000 là 7,95%;
tỷ lệ dư nợ quá hạn trong cho vay xuất nhập khẩu tại Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển Nông thôn Việt nam tính đến tháng 31/12/1999 là 12,6% và
31/12/2000 là 5,91%;
- Về cơ cấu trong cho vay xuất nhập khẩu: các ngân hàng thương mại
quốc doanh vẫn chú trọng cho vay nhập khẩu hơn là cho vay xuất khẩu, tỷ
trọng dư nợ cho vay nhập khẩu trong tổng dư nợ cho vay xuất nhập khẩu
chiếm khoảng 70 % dư nợ.
- Tài trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa phát triển,
do các ngân hàng đều nhận thấy khả năng rủi ro cao, khoản tài trợ nhỏ, kém


124
hiệu quả. Các NH thường chỉ nhận tài trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
trên cơ sở doanh nghiệp này có hợp đồng xuất khẩu, có bạn hàng, có thị
trường. Còn trong giai đoạn ban đầu: đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua máy
móc thiết bị, đào tạo công nhân thường không được các ngân hàng cho vay

2.2. Tín dụng chiết khấu
2.2.1 Chiết khấu ngay bộ chứng từ thanh toán hàng xuất
Cho đến nay nghiệp vụ chiết khấu ngay bộ chứng từ thanh toán hàng
xuất của các ngân hàng thương mại quốc doanh nói chung chưa phát triển
mạnh. Tuy nhiên trước đòi hỏi nhu cầu của thị trường, một số ngân hàng
thương mại quốc doanh đã triển khai nghiệp vụ này.
Điều kiện chiết khấu: điều kiện chính để các ngân hàng thương mại
quốc doanh chiết khấu ngay bộ chứng từ hàng xuất là:
- Bộ chứng từ phải hoàn hảo và xuất trình đúng thời gian quy định
trong L/C;
- L/C phải có điều khoản “ Được thương lượng/ Chiết khấu tại bất kỳ
ngân hàng nào”;
- Ngân hàng phát hành L/C phải là ngân hàng đại lý có uy tín trên thị
trường quốc tế;
- Tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh
nghiệp ổn định và đảm bảo khả năng thanh toán;
- Ngân hàng phải chắc chắn về khả năng thu được tiền từ bộ chứng từ
đó trong khoảng thời gian ngắn (thường các ngân hàng quy định trong khoảng
10 ngày); các ngân hàng thường đòi hỏi điều kiện chiết khấu có truy đòi. Với
hình thức chiết khấu này, trách nhiệm của nhà xuất khẩu vẫn còn cho đến khi
ngân hàng đòi được tiền từ nhà nhập khẩu;
- Hàng hoá xuất khẩu phải là hàng hoá đang được thị trường quốc tế ưa
chuộng hoặc dễ tiêu thụ.

Thực trạng nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất tại các ngân hàng
quốc doanh Việt nam:

125
Cho đến hiện nay nghiệp vụ chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất tại các
ngân hàng quốc doanh Việt nam vẫn chưa phát triển bởi một số nguyên nhân
sau:
Thứ nhất: phí chiết khấu cao hơn so với lãi suất vay ngân hàng. Do tỷ
lệ chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất mà các ngân hàng quốc doanh quy định
từ 2-10% giá trị bộ chứng từ hàng xuất nên các doanh nghiệp xuất khẩu hầu
như không sử dụng hình thức chiết khấu mà thường xin vay ngân hàng trên cơ
sở đảm bảo bằng bộ chứng từ giao hàng, hay cho vay ứng trước bộ chứng từ.
Thứ hai: hầu hết các ngân hàng quốc doanh đều chưa dám đương đầu
với rủi ro, họ thường sử dụng hình thức chiết khấu có truy đòi. Trong trường
hợp ngân hàng chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất không đòi tiền được của
ngân hàng phát hành L/C thì ngân hàng chiết khấu vẫn truy đòi khách hàng và
ngân hàng vẫn tính lãi khách hàng đã sử dụng vốn của ngân hàng .

2.2.2 Chiết khấu hối phiếu trả chậm có chấp nhận của người nhập khẩu
Ngoài việc chiết khấu ngay bộ chứng từ thanh toán hàng xuất, một số
ngân hàng thương mại quốc doanh còn chiết khấu hối phiếu trả chậm có chấp
nhận của người nhập khẩu. Các ngân hàng thương mại quốc doanh với tư
cách ngân hàng thông báo sẽ kiểm tra tính hợp lệ của bộ chứng từ, sau đó
thông báo cho ngân hàng mở L/C để họ yêu cầu nhà nhập khẩu ký chấp nhận
thanh toán (sau 90, 120, 180 ngày...). Thông thường hối phiếu trả chậm có
chấp nhận của người nhập khẩu sẽ được gửi cho nhà xuất khẩu thông qua các
ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam với tư cách ngân hàng thông báo.
Nếu nhà xuất khẩu có nhu cầu chiết khấu thì hối phiếu sẽ được giữ lại ngân
hàng. Muốn được ngân hàng chiết khấu, nhà xuất khẩu phải làm một đơn yêu
cầu xin chiết khấu. Trên thực tế hiện nay tại các ngân hàng thương mại quốc
doanh Việt nam, việc chấp nhận cho nhà nhập khẩu nước ngoài thanh toán trả
chậm là rất ít khi xảy ra, tuy nhiên trong tương lai với chính sách kinh tế
hướng về xuất khẩu nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu trả chậm có chấp nhận



126
của người nhập khẩu của các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam sẽ
ngày càng phát triển.




127
2.3. Nghiệp vụ đồng tài trợ (cho vay hợp vốn)
Ngày 29/4/1998 Ngân hàng nhà nước ban hành quy chế đồng tài trợ đã
tạo ra một bước ngoặt đối với các ngân hàng thương mại quốc doanh trong
việc thực hiện nghiệp vụ này.


Dư nợ đồng tài trợ của các Ngân hàng thương mại Quốc doanh 1999-2001
Đơn vị tính: Tỷ VNĐ
Năm Tổng số NHCT NHNT Các NH còn lại
31/12/1999 1740 351 850 538
31/12/2000 2317 575 1018 724
31/12/2001 1663 336 802 525

Nguồn: Báo cáo tổng kết, Báo cáo thường niên của các Ngân hàng
Thương mại quốc doanh Việt Nam từ năm 1999 - 2001.
Các Tổ chức tín dụng nói chung và các Ngân hàng thương mại quốc
doanh nói riêng đã chú trọng, hợp lực với nhau phát triển mạnh đầu tư vốn
bằng hình thức đồng tài trợ. Từ khi Ngân hàng Nhà nước ban hành quy chế
đồng tài trợ đến nay, số dự án đồng tài trợ đã tăng vọt, không chỉ về số lượng
dự án đồng tài trợ được đề nghị và xem xét ký kết giữa các ngân hàng thương
mại mà quy mô từng dự án đồng tài trợ cũng tăng lên. Có dự án đạt số vốn đề
nghị ngân hàng đầu tư lên tới 100 triệu USD như dự án Đuôi hơi Phú Mỹ, Khí
Nam Côn Sơn...

2.4. Bảo lãnh ngân hàng
Điều kiện bảo lãnh
Các doanh nghiệp muốn được bảo lãnh phải có các điều kiện sau:
♦ Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo
qui định của pháp luật.
♦ Có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng
♦ Có bảo đảm hợp pháp cho nghĩa vụ được bảo lãnh
♦ Có dự án, phương án sản xuất kinh doanh khả thi

128
Do là bảo lãnh quốc tế nên phải:
♦ Khoản vay xin bảo lãnh nằm trong tổng hạn mức vay nước ngoài
được chính phử phê duyệt
♦ Có hợp đồng vay vốn nước ngoài
♦ Có khả năng trả nợ, đề án khả thi có khả năng sinh lời
♦Có văn bản của doanh nghiệp đề nghị ngân hàng Nhà nước Việt nam
cấp hạn mức vay vốn nước ngoài và đã được phê duyệt
♦ Thực hiện thanh toán quốc tế qua Ngân hàng cần xin bảo lãnh

Thực trạng bảo lãnh ngân hàng tại các ngân hàng thương mại quốc doanh
Việt nam những năm gần đây
Trước những năm 1990, chỉ có Ngân hàng Ngoại thương Việt nam
được Chính phủ chỉ định làm nhiệm vụ bảo lãnh vay vốn nước ngoài.
Sau năm 1990, các ngân hàng thương mại quốc doanh đều triển khai
nghiệp vụ bảo lãnh và cho đến ngày nay nghiệp vụ bảo lãnh đã trở thành một
trong những nghiệp vụ kinh doanh lớn của các ngân hàng thương mại quốc
doanh. Đến ngày 30 tháng 9 năm 2001, số dư bảo lãnh của 4 ngân hàng
thương mại quốc doanh trên 10.000 tỷ đồng. Các hình thức bảo lãnh ngân
hàng được các ngân hàng thương mại quốc doanh quan tâm như bảo lãnh vay
vốn, bảo lãnh phục vụ đầu tư xây dựng, bảo lãnh mở thư tín dụng trả chậm.
Bảo lãnh vay vốn nước ngoài: trong điều kiện nhu cầu vốn của nền kinh tế
nước ta rất lớn, nhu cầu đối với bảo lãnh vay vốn, đặc biệt là bảo lãnh vay
vốn nước ngoài có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng thương
mại quốc doanh. Tính đến cuối năm 1999, các Ngân hàng thương mại quốc
doanh đã có dư nợ bảo lãnh vay vốn xấp xỉ 4000 tỷ VND, đến 30/9/2001 các
Ngân hàng thương mại quốc doanh đã có dư nợ bảo lãnh vay vốn trên 2000 tỷ
VND.
Bảo lãnh phục vụ đầu tư xây dựng: bảo lãnh ngân hàng trong đấu thầu thi
công, xây lắp như bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh thực



129
hiện hợp đồng đã ngày càng phát triển để đáp ứng yêu cầu xây dựng các cơ
sở hạ tầng của nền kinh tế. Tính đến 30 tháng 9 năm 2001, số dư bảo lãnh
của các ngân hàng thương mại quốc doanh trong đầu tư xây dựng khoảng
6000 tỷ đồng, riêng Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt nam là trên 4000 tỷ
đồng.
Bảo lãnh mở thư tín dụng trả chậm: Vào những năm 1996-1997- 1998, các
Ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam mở rộng hình thức bảo lãnh mở
thư tín dụng trả chậm dẫn đến tình trạng nợ quá hạn bảo lãnh thư tín dụng quá
lớn, ví dụ như tại Ngân hàng Công thương Việt nam số dư bảo lãnh quá hạn
dẫn đến hậu quả ngân hàng trả thay cho khách hàng là 232,7 triệu USD . Sau
đó nhờ sự chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, các Ngân hàng
thương mại quốc doanh đã chấn chỉnh hình thức bảo lãnh mở thư tín dụng trả
chậm. Tuy nhiên cho đấn nay số dư bảo lãnh mở thư tín dụng trả chậm vẫn
còn rất lớn. Tính đến 30 /4/2001, số dư bảo lãnh mở L/C trả chậm của các
Ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam trên 4000 tỷ VND .
Mặc dù nhìn chung các dự án được các ngân hàng quốc doanh bảo lãnh
đã phát huy được hiệu quả, trả được nợ vay, tăng thêm năng lực tài chính cho
các doanh nghiệp. Nhưng cũng cần phải nhận thấy một số dự án bảo lãnh
ngân hàng không hiệu quả và ngân hàng thương mại quốc doanh phải thực
hiện nghĩa vụ bảo lãnh thay cho khách hàng. Số dự án không có hiệu quả mà
ngân hàng đã bảo lãnh chiếm khoảng 20 – 30% trên tổng số dự án đã bảo
lãnh. Những dự án được ngân hàng thương mại quốc doanh bảo lãnh không
có hiệu quả kinh tế và việc chậm thanh toán nợ nước ngoài đã làm ảnh hưởng
đến uy tín của các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam. Trong thời
gian gần đây có khá nhiều những dự án mà các ngân hàng thương mại quốc
doanh bảo lãnh để vay vốn nước ngoài kém hiệu quả kinh tế, ví dụ như: dự
án của Công ty Thuỷ tinh Miền Trung, một số dự án nhà máy đường, dự án
mua tàu của Tổng công ty đường thuỷ, dự án nhập dây chuyền nhuộm của



130
Công ty dệt 8/3, dự án của Công ty rượu bia Vĩnh phú. Những nguyên nhân
của tình hình trên có thể khái quát như sau:
- Môi trường kinh doanh trong nước và quốc tế không ổn định như sự
biến động của thị trường, biến động của tỷ giá, khủng hoảng tài chính tiền tệ
khu vực.
- Việc kiểm tra, kiểm soát các món bảo lãnh chưa chặt chẽ, chưa ngăn
chặn kịp thời trường hợp sử dụng vốn sai mục đích. Các ngân hàng đều thoả
thuận với khách hàng về phương án quản lý tiền hàng: hàng do ngân hàng
quản lý, ngân hàng giữ chìa khoá kho và chỉ được xuất kho khi có lệnh của
ngân hàng, ngân hàng chỉ cho xuất kho khi có tiền nộp vào tài khoản ngân
hàng. Nhưng trên thực tế, khi hàng nhập về, ngân hàng không quản lý, kiểm
soát được như trong cam kết;
- Ngân hàng bảo lãnh cho các doanh nghiệp nhập hàng trả chậm, các
doanh nghiệp này lại bán hàng trả chậm cho doanh nghiệp trong nước. Đến
hạn thanh toán, các doanh nghiệp trong nước không có tiền nộp vào ngân
hàng dẫn đến ngân hàng phải cho vay bắt buộc. Một số khách hàng đã lợi
dụng thời gian bảo lãnh với nước ngoài dài hơn chu kỳ kinh doanh của đối
tượng được bảo lãnh đã quay vòng ngoài quỹ đạo kiểm soát của ngân hàng
hoặc bán hàng với giá cả thấp hơn giá mua chịu lỗ để quay vòng, sử dụng vốn
sai mục đích. Mặt khác các doanh nghiệp mua hàng trả chậm về tiêu thụ theo
phương thức bán buôn bán trả góp, bán đại lý, quản lý tiền hàng không chặt
chẽ tạo điều kiện cho người mua chiếm dụng vốn, sử dụng vốn sai mục đích,
thậm chí có trường hợp bị lừa đảo dẫn đến ngân hàng bảo lãnh phải chịu trách
nhiệm trả tiền thay cho khách hàng;
- Một số cán bộ ngân hàng suy thoái đạo đức đã thông đồng với khách
hàng sử dụng phương thức bảo lãnh vay vốn nước ngoài trả chậm để chiếm
đoạt tiền của ngân hàng;
- Công tác thẩm định dự án bảo lãnh làm sơ sài, thiếu cơ sở nghiên
cứu, phân tích kinh tế cơ bản; ngoài ra ngân hàng thương mại quốc doanh


131
chịu sự can thiệp, sức ép rất lớn của nhiều cấp cơ quan Nhà nước đến nghiệp
vụ bảo lãnh ngân hàng dẫn đến kết cục cuối cùng là ngân hàng đã phải thanh
toán hộ cho khách hàng khi món bảo lãnh đến hạn và sau đó là bắt khách
hàng nhận nợ.




132
2.5. Nghiệp vụ tiền gửi ngoại tệ.
Trong thời gian gần đây, khi các ngân hàng thương mại quốc doanh
không còn hoạt động chuyên doanh nữa, các ngân hàng thương mại quốc
doanh đều tiến hành các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế và trong cơ cấu nguồn
vốn của các ngân hàng thương mại quốc doanh, nguồn vốn ngoại tệ trong đó
nguồn tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ của dân cư tăng lên mạnh mẽ.

TỐC ĐỘ TĂNG TIỀN GỬI NGOẠI TỆ
Đơn vị : Triệu USD
Năm 1996 1997 1998 1999 2000
Tốc độ tăng so với năm
trước ( % ) 12,5 13,2 18,7 22,1 24,8



Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt nam ( 1995 –2000)
Trong khi nguồn vốn ngoại tệ của các ngân hàng thương mại quốc
doanh tăng lên mạnh (năm 2000 tăng 24,8 % so với năm 1999), nhưng tốc độ
gia tăng tín dụng ngoại tệ chỉ tăng ở mức khiêm tốn (năm 2000 tăng 5% so
với năm 1999). Các ngân hàng thương mại rất khó khăn khi cho vay ngoại tệ
các khách hàng trong nước là bởi khách hàng nhập khẩu không dám vay
ngoại tệ vì sợ rủi ro tỷ giá, còn các đối tượng vay trong nước khác thì vướng
cơ chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước. Huy động được nhiều ngoại tệ mà
không cho vay trong nước được nhiều thì điều tất yếu dẫn đến các ngân hàng
thương mại quốc doanh phải đầu tư ngoại tệ ra nước ngoài.
Hình thức đầu tư ngoại tệ ra nước ngoài chủ yếu của các ngân hàng
thương mại quốc doanh Việt nam là gửi tiền tại các ngân hàng đại lý quốc tế.
Hiện nay, do các doanh nghiệp Việt nam quan hệ thương mại chủ yếu bằng
đồng USD nên hầu như các ngân hàng thương mại quốc doanh gửi tiền tại các
Ngân hàng Hoa kỳ. Do nguồn lợi từ việc huy động tiền gửi, các ngân hàng
đại lý của các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam đã thực hiện chính
sách quản lý tài khoản linh hoạt, đưa ra nhiều thủ pháp tiếp thị, ví dụ như:

133
miễn phí duy trì tài khoản, sẵn sàng xác nhận thư tín dụng, cung cấp hạn mức
thấu chi, chia lại phí dịch vụ, mời đoàn tham quan, khảo sát v.v trong nhiều
trường hợp theo yêu cầu của ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam họ
sẵn sàng ghi ngày giá trị của các khoản thanh toán trước ngày thực hiện thanh
toán (Back value) cho các khoản thanh toán với lãi suất ưu đãi.
Trên thực tế từ năm 1997 đến hết năm 2000, do tình hình lãi suất ngoại
tệ trên thị trường quốc tế tăng mạnh, lãi suất cho vay liên ngân hàng LIBOR,
SIBOR tăng khoảng 0,4 % - 0,7% trong năm 1999, các ngân hàng thương
mại quốc doanh cũng từng bước nâng lãi suất huy động USD. Trong khi đó
huy đồng tiền gửi bằng tiền đồng vẫn với lãi suất thấp, công chúng đã chuyển
các khoản tiết kiệm từ VND sang USD. Trong thời gian này nhiều ngân hàng
thương mại quốc doanh (đặc biệt là Ngân hàng ngoại thương Việt nam) đã có
nguồn thu lớn từ khoản chênh lệch lãi suất (chênh lệch lãi suất USD giữa lãi
suất huy động tiền gửi và lãi suất gửi tiền tại các ngân hàng đại lý khoảng 1,4
- 1,8 %). Tuy nhiên, đến năm 2001, FED (Cục dự trữ liên bang Hoa kỳ) 7 lần
giảm lãi suất với mức giảm tổng cộng là 3% thì nhiều ngân hàng thương mại
quốc doanh đã gặp khó khăn khi kỳ hạn huy động tiền gửi dài hơn kỳ hạn gửi
tiền ở nước ngoài, trong khi lãi suất tiền gửi ở nước ngoài điều chỉnh giảm
xuống thì các ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn phải trả lãi suất cao cho
người gửi ngoại tệ.
2.6. Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ
2.6.1. Thực trạng nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng
thương mại quốc doanh Việt nam
Trước năm 1991, ngân hàng Ngoại thương Việt nam được nhà nước
giao cho là ngân hàng duy nhất tại Việt nam được thực hiện các hoạt động
kinh doanh tiền tệ đối ngoại và hoạt động này được thực hiện ở phòng kế
hoạch kinh doanh của ngân hàng. Mục đích trong giai đoạn này chỉ để giúp
khách hàng XNK Việt nam thanh toán đối ngoại và thực hiện nhiệm vụ quản
lý nhà nước giao. Trong giai đoạn khó khăn do bị Mỹ cấm vận,Vietcombank


134
còn có các tên khác do phòng kế hoạch kinh doanh đề xuất như HALIBANK,
HUASHIN CORP để thực hiện quản lý vốn ngoại tệ trong thời kỳ bị Mỹ cấm
vận. Với nhiều lý do khác nhau, nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ trong giai
đoạn này không thể phát triển. Cuối năm 1991, giao dịch trực tiếp đầu tiên
mua/bán ngoại tệ với một ngân hàng ở Singapore qua Telex được thực hiện,
đánh dấu một mốc phát triển đáng nhớ trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
Tháng 09/1992 Vietcombank quyết định mua tin của hãng Reuters hãng tin
nổi tiếng về cung cấp giá cả thị trường tiền tệ toàn cầu và tiếp tục trang bị các
máy Telex chuyên dụng thể hiện quyết tâm kinh doanh ngoại tệ của
Vietcombank. Tháng 11/1993 lần đầu tiên ở nước ta đã thành lập hai phòng
kinh doanh ngoại tệ (Dealing room) của Vietcombank ở Hà nội và thành phố
Hồ Chí Minh. Hai phòng này thực hiện KDNT với trên 50 ngân hàng nước
ngoài tại các thị trường Singapore, Hongkong, Tokyo, Frankfurt, Zurich,
Paris, London,Newyork…..Năm 1995 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
nam cấp giấy phép kinh doanh ngoại hối cho các ngân hàng khác đánh dấu
một bước ngoặt đối với nhiều ngân hàng. Cũng trong năm này, Vietcombank
trang bị thêm cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng một hệ thống giao
dịch toàn cầu - Reuters dealing service với tốc độ giao dịch gấp khỏang 60 lần
Telex. Kể từ năm 1998, Ngân hàng ĐT&PTVN đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh ngoại hối đến 34 chi nhánh trong hệ thống được phép kinh doanh ngoại
tệ. Bộ phận mua bán trực tiếp với nước ngoài thực hiện thông qua hệ thống
Dealing room 3000, fax, telex và được trang bị màn hình tin Reuters, Telerate
24/24 để theo sát tình hình biến động trên thế giới. Do đòi hỏi của tình hình
thực tế, năm 1999 NHNN đưa ra Quyết định số 64/1999/QĐ-NHNN7 và
Quyết định số 65/1999/QD-NHNN7 ngày 25/2/1999, kể từ ngày 26/2/1999,
thay bằng việc công bố tỷ giá chính thức, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá
giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng. Trên cơ sở tỷ giá giao dịch
bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của ngày giao dịch gần nhất
trước đó, các tổ chức tín dụng được quy định tỷ giá giao dịch không vượt


135
quá 0,1 % so với tỷ giá này. Việc thay đổi cơ chế quản lý, điều hành tỷ giá đã
tạo quyển chủ động cho các Ngân hàng thương mại trong việc tự quy định tỷ
giá giữa đồng Việt nam với các ngoại tệ khác. Ngày 20.12.2001 Vietcombank
thành lập một sàn kinh doanh ngoại tệ hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế với hệ
thống giao dịch và thông tin hiện đại nhất của hãng Reuters và Telerate được
thiết lập tại tầng 6 toà nhà Vietcombank Tower, hoạt động kinh doanh ngoại
tệ của Việt nam đã chuẩn bị cho một thời kỳ phát triển.

DOANH SỐ MUA BÁN NGOẠI TỆ CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Đơn vị: Triệu USD
1996 1997 1998 1999 2000 2001

Doanh số mua vào 3.541 3.938 10.117 6.800 9.423 6.946
Doanh số bán ra 3.834 3.974 10.125 6.885 9.460 6.293


Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt nam (1996 - 2001), Báo cáo tổng
kết, Báo cáo thường niên
2.6.2. Thị trường kinh doanh ngoại tệ Việt nam
Hiện nay, thành phần tham gia thị trường ngoại tệ của Việt nam có 3
thành phần sau:
Các ngân hàng thương mại chủ yếu là các ngân hàng thương mại quốc
doanh).
Các ngân hàng thương mại tham gia vào thị trường với hai tư cách: một
là tư cách kinh doanh bằng nguồn vốn của mình để kiếm lợi nhuận kinh
doanh và hai là phục vụ theo yêu cầu của khách hàng để thu hoa hồng.
Các ngân hàng thương mại quốc doanh đóng vai trò kiến tạo chủ yếu
trên thị trường ngoại tệ, còn các ngân hàng khác hoặc các chi nhánh thường
chủ yếu làm dịch vụ cho khách hàng.
Trong giai đoạn hiện nay khi mà cung cầu ngoại tệ đang mất cân đối
nghiêm trọng thì hầu như các ngân hàng thương mại Việt nam trong nước ít
có giao dịch mua bán với nhau mà chủ yếu là giao dịch với khách hàng. Các

136
giải pháp của các ngân hàng thương mại Việt nam hiện nay là mua bán ngoại
tệ sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế để khai thác mọi nguồn ngoại tệ đáp
ứng cho khách hàng. Do vậy hoạt động kinh doanh ngoại tệ hiện nay chủ yếu
là các ngân hàng thương mại và khách hàng kinh doanh xuất- nhập khẩu.
Các doanh nghiệp
Các doanh nghiệp ở Việt nam thường chỉ có quan hệ giao dịch ngoại tệ
liên quan đến các nghĩa vụ về thương mại (thanh toán xuất nhập khẩu)
Ngân hàng trung ương (Ngân hàng nhà nước).
Ngân hàng trung ương tham gia vào thị trường ngoại tệ cũng với hai tư
cách : một là, mua và bán ngoại tệ phục vụ cho nhu cầu của các cơ quan chính
phủ và hai là, tham gia thị trường ngoại tệ để góp phần quản lý thị trường.
Hiện tại, các Ngân hàng thương mại quốc doanh thực hiện tất cả các
nghiệp vụ giao dịch hối đoái đã được Ngân hàng Nhà nước cho phép như:
mua bán giao ngay (Spot), mua bán có kỳ hạn (Forward) và hoán đổi (Swap),
song nghiệp vụ mua bán giao ngay là chủ yếu.
Huy động vốn ngoại tệ
Vốn ngoại tệ của các ngân hàng thương mại chủ yếu huy động từ khách
hàng thông qua hoạt động liên quan đến tài khoản và giao dịch tài khoản hoặc
thông qua uỷ thác đầu tư. Một cách khác để huy động vốn ngoại tệ là đi vay.
Nói chung ở Việt nam có các nguồn huy động vốn ngoại tệ sau
♦ Vay NHNN và các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước
♦ Vay các tổ chức kinh tế , tài chính tín dụng quốc tế
♦ Vay các NHTM nước ngoài
♦ Vay thông qua các hình thức chứng chỉ đảm bảo như L/C trả chậm,
bảo lãnh
♦Nguồn kiều hối




137
Chúng ta hãy nghiên cứu tình hình huy động vốn ngoại tệ của ngân
hàng ĐT&PT Việt nam làm ví dụ :

Cơ cấu huy động vốn ngoại tệ của NHĐT&PT
Đơn vị: GT( Tỷ VND ), TT %

Năm 1998 1999 2000 2001

GT TT GT TT GT TT GT TT

Tổng nguồn vốn ngoại tệ 5.053 100 5.215 100 6.701 100 6.956 100

Trong nước 1.760 34,8 2.234 42,8 3.584 53,5 3.729 53,6

+ TK và giao dịch tài khoản 1.677 33,2 2.149 41,2 3.497 52,2 3.646 52,4

+ Vay 83 1,6 85 1,6 87 1,3 83 1,2

Ngoài nước 3.653 65,2 2.981 57,2 3.117 46,5 3.227 46,4

+ Vay 715 14,15 82 1,6 176 2,6 184 2,6

+ Nhận vốn uỷ thác đầu tư 2.938 50,05 2.899 55,6 2.941 43,9 3.043 43,8


Nguồn: Tạp chí ngân hàng số 7 năm 2002

2.6.3 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên thị trường quốc tế
Song song với mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ ở thị trường
trong nước, các Ngân hàng thương mại quốc doanh cũng đã nhanh chóng tiếp
cận với thị trường ngoại tệ quốc tế, đảm bảo đáp ứng được đầy đủ nhu cầu
thanh toán đa dạng các loại ngoại tệ cho khách hàng như USD, DEM, JPY,
GBP, AUD, CAD, FRF, CHF, SGD, EUR...thực hiện chuyển đổi từ loại
ngoại tệ này sang loại ngoại tệ khác với giá cả phù hợp với sự biến động tức
thời của tỷ giá trên thị trường.
Ngoài việc kinh doanh ngoại tệ phục vụ khách hàng, tại Trụ sở chính
của một số ngân hàng thương mại quốc doanh ( phòng Dealing Room ) cũng
đã tiến hành nghiệp vụ đầu cơ trên thị trường ngoại tệ quốc tế thông qua các
ngân hàng nước ngoài trên hai thị trường lớn là Singapore và London, điều




138
đó, tuy chưa phát triển mạnh nhưng đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong
hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các Ngân hàng thương mại quốc doanh.

2.6.4 Một số tồn tại trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân
hàng thương mại quốc doanh Việt nam.
Hình thức và chủ thể kinh doanh còn chưa đa dạng Hiện nay do cung
cầu ngoại tệ mất cân đối, nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ tại các ngân hàng
thương mại quốc doanh hầu như chỉ phục vụ khách hàng thanh toán nhập
khẩu, trả nợ nước ngoài mà chưa trú trọng nhiều đến chức năng tự doanh. Từ
những hạn chế như vậy nên hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng
thương mại quốc doanh Việt nam chưa thu hút được nhiều chủ thể tham gia
vào các giao dịch kinh doanh ngoại tệ, doanh số kinh doanh ngoại tệ chưa
tương xứng với tiềm năng của ngân hàng cũng như nhu cầu thị trường.
Sự điều tiết thị trường ngoại hối của NHNN chưa rõ ràng Với vai trò
ngân hàng trung ương, hiện nay Ngân hàng Nhà nước quản lý thị trường
ngoại tệ chủ yếu bằng cách mua và bán ngoại tệ trên thị trường; trong giai
đoạn trước mắt biện pháp quản lý này là cần thiết song về lâu dài cách thức
này không phải lúc nào cũng có hiệu quả . Về lâu dài, thiết nghĩ, Ngân hàng
Nhà nước nên sử dụng mạnh công cụ lãi suất để điều chỉnh thị trường ngoại
tệ.
Huy động vốn ngoại tệ không lớn Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt
nam trong những năm qua và doanh số giao dịch ngoại tệ của các ngân hàng
thương mại quốc doanh Việt nam cho thấy rằng doanh số giao dịch ngoại tệ
của các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam hầu như chỉ đáp ứng cho
nhu cầu thanh toán xuất nhập khẩu của doanh nghiệp mà chưa thể hiện rõ
ràng mục đích kinh doanh nhằm mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Công nghệ phục vụ cho kinh doanh ngoại tệ còn thiếu thốn Gần đây
các ngân hàng đặc biệt ngân hàng Ngoại thương Việt nam đã tích cực mua
sắm thiết bị chuyên dụng phục vụ cho kinh doanh ngoại tệ nhưng so với nhu
cầu đòi hỏi thì còn rất nhiều điều phải làm

139
2.7 . Hợp tác kinh doanh ngân hàng quốc tế và hoạt động ở nước ngoài
2.7.1. Các liên doanh hoạt động tài chính trong nước
Trong những năm vừa qua, hầu hết các ngân hàng thương mại quốc
doanh đều tham gia liên doanh với các định chế tài chính nước ngoài để
thành lập các ngân hàng, công ty thuê mua tài chính, công ty bảo hiểm. Sau
đây là một số tình hình về các Ngân hàng, công ty cho thuê tài chính, công ty
bảo hiểm liên doanh với các định chế tài chính nước ngoài mà các Ngân hàng
thương mại quốc doanh Việt nam tham gia góp vốn:

Danh mục góp vốn liên doanh của các NHTMQD Việt nam năm 2001
Đơn vị: Triệu VNĐ
Mục Giá trị góp vốn % Ghi chú
Ngân hàng ngoại thương Việt nam * Năm
Chohungvina Bank 145.010 50 2001 đã
Vietcombank Tower 198 151.393 70 trở thành
Vietcombank- Bonday 40.603 16 công ty
Liên doanh đá quý Việt-Nga 4.350 10 100%
Vinalease * 58.063 50 vốn VN
Ngân hàng công thương Việt nam
Indovina Bank 58.063 50
Công ty cho thuê tài chính VILC 14.103 19

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn
VinaSiam Bank 58.075 50


Ngân hàng đầu tư và phát triển
VID Public Bank 63.175 50
Lao Viet Bank 64.256 50
Liên doanh bảo hiểm BIDV-QBE 28.573 50




140
Nguồn: Báo cáo thường niên các NHTMQDVN năm 2001

Nhìn chung hoạt động liên doanh vẫn chưa phát triển mạnh. Số vốn
tham gia liên doanh cao nhất chỉ khoảng 10 triệu USD, đối tác thường đến từ
các nước châu Á là chủ yếu.
2.7.2. Hoạt động kinh doanh ở nước ngoài:
Trong các Ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam thì chỉ có Ngân
hàng Ngoại thương Việt nam là đã mở các văn phòng đại diện tại Moscow,
Paris, Singapore và là cổ đông chính của công ty tài chính Vinafico tại
Hongkong và nhìn chung vẫn chưa phát triển.


Bảng tổng kết tài sản công ty tài chính VINAFICO Hồng Kông
Mục 2001 2000 Đơn vị: nghìn VND
Tổng tài sản có 693.054.230 513.970.743 Tỷ giá (VND/HKD)
Lợi nhuận trước thuế 1.777.510 4.911.478 Năm 2000: 1.932
Nguồn: Vietcombank Annual report 2001 Năm 2001: 1.859


2.8 Đánh giá chung về hoạt động dịch vụ ngân hàng quốc tế của các ngân
hàng thương mại quốc doanh Việt nam
Trong những năm gần đây, các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt
nam đã phát triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Tuy nhiên, so với đòi hỏi
của sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước cũng như so với các ngân hàng
thương mại quốc tế thì các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế của các ngân hàng
quốc doanh Việt nam mới ở giai đoạn đầu phát triển và còn nhiều vấn đề tồn
tại. Những tồn tại chính này có thể khái quát như sau:
Các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam hoàn thiện và phát
triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế trong điều kiện mô hình tổ chức, kinh
doanh của các ngân hàng thương mại quốc doanh còn nhiều bất cập; về nhiều
mặt, các ngân hàng thương mại quốc doanh vẫn nằm trong “ ô bao cấp” của
Nhà nước, điều đó làm cho các ngân hàng thương mại quốc doanh rất khó chủ



141
động phát triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Cho đến hiện nay, hầu hết
các ngân hàng thương mại quốc doanh thiếu chiến lược kinh doanh rõ ràng
được quán triệt mọi cán bộ và mọi bộ phận trong ngân hàng . Các ngân hàng
cũng thiếu động cơ để vươn lên trở thành các ngân hàng thương mại quốc tế.
Các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam hoàn thiện và phát
triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế dựa trên một nền tảng công nghệ còn
lạc hậu so với thế giới. Sự lạc hậu này thể hiện cả trên phương diện quốc gia
như cơ sở hạ tâng viễn thông, giao thông v.v mà còn thể hiên cả trên cơ sở vật
chất của từng ngân hàng.
Trình độ cán bộ ngân hàng còn bất cập về nhiều mặt: về chuyên môn,
về ngoại ngữ, về công nghệ ngân hàng, đặc biệt là công nghệ thông tin.
Các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế còn đơn điệu, chưa đa dạng. Mặc dù
trong một vài năm trở lại đây, một số ngân hàng thương mại quốc doanh đã
đưa ra các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế mới nhưng vẫn còn nhiều hạn chế
trong việc áp dụng hoặc chưa đa dạng nên được ít khách hàng đón nhận sử
dụng.
Các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam hoàn thiện và phát
triển các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế trong điều kiện nền kinh tế Việt nam
đang chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có nhiều vấn đề cũ, mới đan xen vào nhau,
nhiều bước phát triển phải dò dẫm, thử nghiểm, trong khi đó nhiều luật vừa
thiếu vừa hay thay đổi v.v.




142
CHƯƠNG III
NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG QUỐC TẾ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
QUỐC DOANH VIỆT NAM


I.NHỮNG GIẢI PHÁP CHUNG
1. Hoàn thiện môi trường pháp lý
1.1. Đòi hỏi của hội nhập kinh tế với môi trường pháp lý
Trong điều kiện hội nhập kinh tế như như hiện nay, xét tình hình kinh
tế xã hội của Việt Nam và nếu đặt các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt
Nam trong một điều kiện cạnh tranh tự do thì ta có thể thấy rằng môi trường
vĩ mô của Việt Nam còn rất nhiều điều phải làm. Việc đầu tiên là chúng ta
phải quan tâm thích đáng đến việc hoàn thiện môi trường pháp lý. Đơn giản
chúng ta xem xét hiệp định thương mại Việt-Mỹ phần về lĩnh vực tài chính
ngân hàng thì thấy hàng loạt khái niệm, nội dung mới đòi hỏi phải tiếp cận,
hiểu thấu đáo và xây dựng cơ sở pháp lý khi triển khai. Các dịch vụ ngân
hàng sẽ được cung cấp qua các hình thức như: cung cấp qua biên giới, sử
dụng ở nước ngoài, hiện diện thương mại, hiện diện thể nhân. Những cam kết
về cấp giấy phép hoạt động, các nghiệp vụ về tài chính ngân hàng; việc phân
biệt, hiểu biết về phạm vi hoạt động của các tổ chức tài chính, tín dụng là
ngân hàng hay phi ngân hàng ở các nước cũng là không hoàn toàn giống
nhau. Hoặc việc mở tài khoản, cho vay, các thể thức thanh toán, việc lắp đặt
máy ATM cũng phải được xác định rõ. Chẳng hạn quan niệm về máy rút tiền
tự động và máy ATM ở Việt Nam không ít người còn nhầm lẫn cho rằng đều
giống nhau. Trên thực tế máy ATM hoạt động như một ngân hàng: vừa cho
gửi tiền, rút tiền, vừa hoạt động cho vay, thu nợ…..Nói chung, có rất nhiều
vấn đề mới trong hoạt động ngân hàng nhưng cái khó đối với chúng ta là
chúng ta chưa có, chưa hoạt động, chưa được kiểm nghiệm trong thực tế. Tuy
nhiên, không được phép chần chừ, chờ đợi, cầu toàn mà phải chủ động hội
nhập qua đó tự tìm hiểu, học hỏi bằng nhiều con đường nhưng kiên quyết rà

143
soát loại bỏ những cái gì không còn phù hợp, có lịch trình cụ thể chặt chẽ để
xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý. Hiện nay, văn bản pháp qui cao
nhất điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng là luật ngân
hàng nhà nước và luật các tổ chức tín dụng. Hai văn bản này ra đời không lâu
nhưng đã gây nhiều tranh cãi về tính hoàn thiện của chúng.
1.2. Một số kiến nghị hoàn thiện môi trường pháp lý
Hoàn thiện những bất cập còn tồn tại trong hệ thống pháp lý
Khi nói đến hệ thống luật pháp Việt Nam hiện nay thì còn nhiều điều
bất cập. Để minh chứng điều này, chúng ta hãy xem xét một số luật mà theo
các chuyên gia thì còn nhiều vướng mắc.
Tại điều 50 luật NHNN qui định “Thanh tra ngân hàng là thanh tra
chuyên ngành ngân hàng” tuy nhiên tại điều 1 Nghị định số 91/1999/ND-CP
lại qui định “Thanh tra ngân hàng là thanh tra Nhà nước chuyên ngành về
ngân hàng” do vậy không có sự thống nhất giữa hai luật
Giữa luật các TCTD, luật NHNN và luật doanh nghiệp cũng có nhiều
mâu thuẫn. Ví dụ như về khái niệm “vốn pháp định” theo qui định tại điều 3,
Luật Doanh nghiệp là mức vốn tối thiểu phải có theo qui định của pháp luật
để thành lập doanh nghiệp. Trong khi đó tại khoản 4, điều 1 và điều 43 luật
NHNN có đề cập tới vốn pháp định của NHNN được thủ tướng chính phủ qui
định. Như vậy, rất dễ hiểu sai về chức năng quản lý nhà nước với chức năng
kinh doanh ( đã được tách ra khỏi NHNN ) như đối với một doanh nghiệp
kinh doanh thuần tuý
Trong pháp lệnh về thương phiếu nước ta còn thiếu tính hội nhập. Theo
qui định trong pháp lệnh, việc chuyển nhượng thương phiếu chỉ được thực
hiện dưới hình thức đầy đủ, không cho phép chuyển nhượng dưới hình thức
ký hậu. Trong đó, việc ký hậu chuyển nhượng là hình thức phổ biến trong
hoạt động thanh toán quốc tế có sử dụng thương phiếu. Sự khác biệt này tỏ ra
không thích hợp trong điều kiện nước ta đang từng bước hội nhập vào nền
kinh tế khu vực và thế giới


144
Hệ thống pháp luật Việt nam còn nhiều bất cập, nhưng do hạn chế về
khả năng cũng như yêu cầu của đề tài, khoá luận này chỉ nêu ra một ít để
minh chứng cho nhận định của mình. Việc làm cần thiết là song song với việc
áp dụng luật trong cuộc sống, chúng ta cần tìm hiểu, phát hiện ra những thiếu
sót, chồng chéo của các luật để từ đó sửa đổi kịp thời tạo nên một môi trường
pháp lý vững mạnh.
Tích cực rà soát, chỉnh sửa và xây dựng mới cơ chế
- Chỉnh sửa Luật NHNN, Luật các TCTD và các văn bản dưới luật có
liên quan đến nội dung, phạm vi, cấp phép hoạt động, quyền hạn và trách
nhiệm của các ngân hàng nước ngoài; biểu hiện trên các mặt như vốn tự có
ban đầu khi cấp phép hoạt động; mức độ được huy động vốn bằng tiền Việt
nam; trách nhiệm cung cấp thông tin, báo cáo; việc chấp hành kiểm tra giám
sát của các cơ quan chức năng, trong đó có NHNN; Việc tham gia bảo mật,
chia sẻ rủi ro….trong hoạt động ngân hàng nói chung.
- Xây dựng, hoàn thiện các cơ chế về thương mại điện tử, thanh toán
điện tử trong phạm vi nền kinh tế nói chung và ngân hàng nói riêng.
- Xây dựng và sớm đưa các công cụ giấy tờ có giá vào thương trường
hoạt động, cơ chế tổ chức thanh toán bù trừ các tài sản chính ( giấy tờ có giá )
trong phạm vi toàn quốc cũng như giữa các tổ chức tài chính tiền tệ để các
ngân hàng có điều kiện thực nghiệm cơ chế mới, chuẩn bị tốt cho hội nhập
quốc tế
- Mạnh dạn và kiên quyết xây dựng cơ chế mở rộng quyền và tự chịu
trách nhiệm của các NHTM quốc doanh và triển khai thực tế để có điều kiện
cọ sát trưởng thành
- Ngoài ra, các văn bản, luật pháp có liên quan khác như Luật đầu tư,
Luật phá sản, Luật đất đai, ….cũng cần được hoàn thiện cho phù hợp với yêu
cầu mới.




145
Tổ chức triển khai, thực hiện công tác pháp luật hiệu quả
Cần tổ chức thành các bộ phận chuyên trách trong từng lĩnh vực, từng
loại hình công việc theo trương trình thực hiện để rà soát, soạn thảo cơ chế, tổ
chức hội thảo lấy ý kiến, nghiệm thu đưa vào thực nghiệm; từ triển khai điểm
đến mở rộng dần, nhất là đối với những vấn đề còn mới mẻ với Việt nam
2. Nhà nước và ngân hàng cùng đề ra những kế hoạch khả thi đưa lĩnh
vực tài chính ngân hàng tiến ra thế giới
Nhân dân ta có câu “Một người hay lo bằng cả kho người hay làm”.
Thực tế cho thấy, ta có đức tính tốt là chăm chỉ, cần cù nhưng lại chưa chứng
minh được là người nhìn xa trông rộng. Rất nhiều những tồn tại về kinh tế, xã
hội hiện nay là do khi xưa không tính đến sự phát triển của ngày hôm nay.
Chính vì vậy chúng ta cần có một kế hoạch phát triển lâu dài.
Xây dựng trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam
Điều này xem chừng có vẻ viển vông đối với một nước đang phát triển
như Việt Nam, tuy nhiên có không ít học giả trong và ngoài nước cho rằng
điều này có thể. Hiện nay với số dân gần 80 triệu người, Việt Nam đứng thứ
12 trong số các nước đông dân nhất thế giới; Việt Nam có nguồn nhân lực
cần cù và được đào tạo tốt; Việt Nam có nền chính trị vững mạnh và ổn định;
Việt Nam lại nằm trung tâm của vùng kinh tế năng động nhất thế giới và rất
gần các trung tâm kinh tế và tài chính quốc tế như Tokyo, Hongkong,
Singapore.... Với tiềm năng đã có Việt Nam xứng đáng có vị trí lớn hơn trong
bản đồ kinh tế và tài chính quốc tế. Thành phố Hồ Chí Minh, mà xưa kia vốn
là “Hòn ngọc Viễn Đông” đang có những dấu hiệu lấy lại vị trí đã mất. Tính
đến năm 2000 thành phố Hồ Chí Minh có 30 đơn vị và chi nhánh của các
ngân hàng thương mại quốc doanh, 23 đơn vị và chi nhánh của các ngân hàng
thương mại cổ phần, 4 ngân hàng liên doanh với nước ngoài, 30 chi nhánh
ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 2 công ty tài chính liên doanh với nước
ngoài, 3 công ty tài chính cổ phần và nhiều công ty bảo hiểm trong ngoài
nước. Tháng 7 năm 2000, tại thành phố Hồ Chí Minh đã khai trương trung


146
tâm giao dịch chứng khoán với sự ra đời hàng loạt công ty chứng khoán. Tuy
nhiên để thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính quốc tế khu
vực chúng ta cần phải từng bước thực hiện một số chính sách sau:
- Về mặt luật pháp từng bước xoá bỏ sự phân cách giữa thị trường tài
chính quốc tế và thị trường tài chính trong nước;
- Phát triển thị trường ngoại tệ;
- Tiếp tục phát triển mạnh mẽ thị trường tài chính phi ngân hàng;
- Thi hành chính sách giảm, miễn thuế đối với các ngân hàng trong
nước và quốc tế ;
- Phát triển cơ sở hạ tầng tại thành phố Hồ Chí Minh.
Khi thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm tài chính quốc tế của
khu vực, nơi đây sẽ trở thành môi trường lý tưởng để các ngân hàng thương
mại quốc doanh tiếp cận, giao dịch với khách hàng quốc tế và dần dần vươn
lên trở thành các ngân hàng thương mại quốc tế.
Kế hoạch phát triển ra ngoài biên giới quốc gia
Các ngân hàng thương mại quốc doanh cần có kế hoạch phát triển ra
ngoài biên giới quốc gia. Đây là điều tất yếu trong quá trình phát triển một
ngân hàng hiện đại. Tuy nhiên trong bối cảnh kinh tế của ta hiện nay đặt ra
cho các ngân hàng nhiều mối quan tâm: liệu con đường đi, mô hình kinh tế
như thế nào, thì phù hợp.
Điều đầu tiên, nhà nước cần đề ra cơ sở pháp lý cho các hoạt động đầu
tư hoặc cung cấp dịch vụ của ngân hàng ra nước ngoài. Mục đích là làm cho
các ngân hàng nói riêng và các định chế tài chính nói chung có thể tiếp cận
tới các thị trường khu vực và thế giới có hiệu quả.
Thứ hai là các ngân hàng cần quan tâm đến các mô hình kinh tế. Nước
ta với chủ trương mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế giới, việc xây dựng các
ngân hàng thương mại quốc doanh thành các ngân hàng mạnh có khả năng
hoạt động trên phạm vi khu vực và toàn cầu đã trở thành yêu cầu thực tiễn,
tuy nhiên xây dựng các ngân hàng thương mại quốc doanh thành các ngân


147
hàng quốc tế theo mô hình nào, bước đi như thế nào là vấn đề chúng ta cần
nghiên cứu thử nghiệm, rút kinh nghiệm và hoàn thiện dần. Khác với các
ngân hàng quốc tế của các nước phát triển mục tiêu tìm kiếm thị trường ở bên
ngoài lãnh thổ quốc gia là nhằm chuyển vốn dư thừa tại chính quốc sang các
nước kém phát triển hơn để nhằm mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận.
Mục tiêu trước hết của các ngân hàng quốc doanh Việt nam phát triển ra
ngoài phạm vi quốc gia phải đóng vai trò trung gian chuyển vốn từ các trung
tâm tài chính về trong nước nhằm góp phần công nghiệp hoá và hiện đại hoá
đất nước. Khi chúng ta phát triển ra ngoài một cách quá vội vàng, với trình độ
của một người có thể nói là “học nghề” như chúng ta, thất bại nặng nề là cái
có thể thấy được. Chính vì vậy, chiến lược đề ra là chắc chắn, vừa làm vừa
học hỏi, đúc rút kinh nghiệm của những nước đi trước từ đó đề ra sách lược
đúng đắn cho mình
Thứ ba là các ngân hàng đưa ra kế hoạch phát triển trở thành Ngân
hàng quốc tế của riêng mình. Trong dự thảo chiến lược đến năm 2010 của một
số Ngân hàng thương mại quốc doanh có ghi phấn đấu đến năm 2010 ngân
hàng sẽ trở thành một ngân hàng quốc tế trong khu vực. Mục tiêu là như vậy,
nhưng điều quan trọng là các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam
phải có những bước đi thích hợp, chuẩn bị các tiền đề cần thiết để đạt được
mục tiêu đã đề ra. Thời gian để các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt
Nam chuẩn bị các điều kiện để hội nhập với cộng đồng tài chính trong khu
vực và toàn cầu không còn nhiều nữa. Phù hợp theo những mốc thời gian mà
chúng ta cam kết với các tổ chức như: AFTA, APEX và WTO, các Ngân
hàng thương mại quốc doanh cần đặt ra các lịch trình phát triển ra bên ngoài
như sau:
- Ngân sách hàng năm để trả cho ngân hàng
- Sử dụng nguồn vốn của quỹ dự phòng rủi ro để tiến hành xử lý bớt nợ
xấu, làm trong sạch bảng tổng kết tài sản



148
- Đưa ra các kế hoach tốt để tổ chức việc khai thác tài sản thế chấp, tài
sản cầm cố…..như tổ chức cho thuê, bán, khoán sử dụng…
- Tăng cường làm tốt qui trình thẩm định, xét duyệt cho vay một cách
cẩn trọng dựa trên cơ sở tính khả thi của dự án, của phương án kinh doanh
Bên cạnh việc tích cực xử lý nợ xấu, các ngân hàng cũng phải đề ra
những chiến lược tăng cường sức mạnh tài chính. Chỉ khi qui mô vốn của
ngân hàng lớn mới có thể phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế. Nguồn vốn có
thể tăng thêm từ việc trình xin Chính phủ (Một khoản khá lớn và rất quan
trọng nếu xin được). Trong khi chờ đợi, ngân hàng cần tích cực mở rộng
nguồn thu, tăng lợi nhuận thậm chí có thể đi vay nếu cảm thấy cần thiết.
Cơ cấu lại tổ chức hệ thống – mở rộng mạng lưới
Cùng với các giải pháp cải thiện tình hình tài chính, các ngân hàng cần
xây dựng và mở rộng mạng lưới hoạt động cả ở trong nước cũng như ngoài
nước, tạo điều kiện đưa dịch vụ ngân hàng đến gần với khách hàng. Về cơ
bản, ở trong nước các ngân hàng thương mại quốc doanh đã có mạng lưới
rộng khắp cả nước nhưng so với yêu cầu ngày càng cao của đời sống kinh tế
đã phát triển như vũ bão cũng như yêu cầu của hội nhập kinh tế thì chưa đáp
ứng được, đặc biệt là mạng lưới ở nước ngoài.
Tái cơ cấu tổ chức theo đối tượng khách hàng kết hợp với sản phẩm.
Điều quan trọng là các ngân hàng thương mại cần có một mô hình tổ chức
khoa học, hoạt động có hiệu quả, hướng tới chiến lược phát triển thành ngân
hàng đa năng. Cơ cấu tổ chức phòng ban hiện nay tỏ ra lỗi thời không đáp
ứng được đòi hỏi này. Mô hình đối tượng khách hàng kết hợp với sản phẩm
(mà đang được Vietcombank thử nghiệm) tỏ ra đáp ứng được đòi hỏi của môi
trường kinh tế mới. Theo mô hình này, cấu trúc phòng ban được phân theo 4
khối cơ bản : Khối bán lẻ (retail banking - Từ nay đến năm 2005, các ngân
hàng thương mại quốc doanh cải tổ mạnh mẽ về cơ cấu , tổ chức và hoạt động
để trở thành các doanh nghiệp vững mạnh tại thị trường trong nước đồng thời



149
cử cán bộ nghiên cứu, khảo sát thị trường nước ngoài đặc biệt là khảo sát cơ
hội kinh doanh tại Singapore và Hongkong ;
- Sau năm 2005 sẽ mở chi nhánh hoặc công ty con ở Singapore hoặc
Hongkong và các nước trong khu vực và trở thành ngân hàng quốc tế khu
vực;
- Sau năm 2010 sẽ mở chi nhánh hoặc công ty con tại thị trường
London hoặc New York và trở thành Ngân hàng quốc tế toàn cầu.
3.Từng ngân hàng phải đưa ra và thực hiện tốt đề án tái cơ cấu của mình
Xét về mặt cơ chế hoạt động thì các ngân hàng TMQD Việt nam đều
không hiệu quả. Muốn nâng cao được chất lượng dịch vụ nói chung và dịch
vụ ngân hàng quốc tế nói riêng, thì mỗi ngân hàng phải tiến hành tái cơ cấu
lại. Muốn vậy thì đề án tái cơ cấu phải khoa học, có tính khả thi và đạt hiệu
quả cao khi thực hiện và hơn nữa phải được chinh phủ phê duyệt.
Mục tiêu quan trọng hàng đầu là cơ cấu lại tình hình tài chính.
Một trong những vấn đề nhức nhối nhất đối với các ngân hàng TMQD
Việt nam hiện nay là vấn đề nợ xấu. Để xử lý nợ xấu, mỗi ngân hàng cần xây
dựng đề án xử lý nợ tồn đọng
Nợ của Ngân sách nhà nước có thể yêu cầu Bộ Tài chính đưa vào kế
hoạch chi Ngân hàng); Khối phục vụ doanh nghiệp (corperate banking); Khối
định chế tài chính (financial institution) và Khối quản lý vốn (treasury).
Khách hàng thuộc đối tượng phục vụ của khối nào sẽ được cung cấp các dịch
vụ ngân hàng đặc thù phù hợp với họ thông qua một đầu mối duy nhất, Hỗ trợ
cho hoạt động của các bộ phận trên là Khối hỗ trợ bao gồm các phòng, bộ
phận hậu cần/hành chính/tham mưu với nhiệm vụ đảm bảo cho các khối kinh
doanh vận động thông suốt. Với việc thực hiện tốt tổ chức hoạt động của ngân
hàng, tiến tới hình thanh văn hoá kinh doanh/quản lý rõ ràng.
Nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường kỹ năng quản trị rủi ro.
Cách tốt nhất để nâng cao hiệu lực quản trị của Ban lãnh đạo đó là tiếp
cận và vận dụng tốt mô hình quản lý ngân hàng hiện đại. Để làm được như


150
vậy, các ngân hàng cần lập ra Uỷ ban quản lý rủi ro và hội đồng quản lý tài
sản nợ, tài sản có. Để có được lý luận tốt nhất về quản trị ngân hàng, các ngân
hàng nên nhờ các nhà tư vấn quốc tế, Ngân hàng Thế giới trợ giúp hoàn thành
cuốn Cẩm nang quản trị rủi ro ngân hàng của riêng mình
Tăng cường tính minh bạch, nâng cao năng lực kiểm tra/kiểm toán nội bộ,
đảm bảo an toàn và hiệu quả trong hoạt động kinh doanh
Muốn có được sự phát triển mọi mặt của ngân hàng , Bộ phận kiểm
tra/kiểm toán nội bộ phải được kiện toàn và chú trọng phát triển một cách
tương ứng nhằm đảm bảo tính tuân thủ đối với yêu cầu của Ngân hàng Nhà
nước và các điều kiện pháp lý khác. Hoạt động kiểm toán nội bộ của
NHTMQD hiện nay bộc lộ nhiều điểm bất hợp lý, dẫn đến làm giảm hiệu quả
kiểm toán nội bộ. Muốn vậy các NHTMQD cần:
- Nghiên cứu để áp dụng các chuẩn mực và phương pháp kế toán hiện
đại theo tiêu chuẩn quốc tế vào hoạt động kiểm toán của ngân hàng mình.
Muốn vậy các ngân hàng nên nhờ sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế, tích
cực mở các cuộc hội thảo để cuối cùng có thể xây dựng được một Cẩm nang
về kiểm tra/kiểm toán nội bộ hoàn thiện nhất có thể
- Đầu tư đúng mức vào việc phát triển đội ngũ nhân viên kiểm toán nội
bộ, có thể gửi đi đào tạo ở nước ngoài những nhân viên cũ có năng lực, tuyển
nhân viên mới là các sinh viên xuất sắc, sa thải những nhân viên đã vi phạm,
biển thủ hoặc có năng lực kém. Ngoài ra các ngân hàng cần chú trọng tới đầu
tư vào phương tiện hiện đại phục vụ tốt cho công tác kiểm toán. Một điều rất
quan trọng đó là các lãnh đạo ngân hàng cần phải đưa ra các mục tiêu, định
hướng chiến lược cho công tác kiểm toán nội bộ của ngân hàng mình; nên chú
trọng vào việc xem xét đánh giá, phát hiện và đề xuất các phương án để
phòng ngừa các rủi ro tiềm ẩn
Tiếp tục đổi mới công nghệ, đưa nhiều tiện ích ngân hàng mới vào phục vụ
khách hàng




151
Nền kinh tế đất nước nói chung và ngân hàng nói riêng đang trong quá
trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới do đó vấn đề phát triển công nghệ
mang tính sống còn. Với tình hình công nghệ ngân hàng hiện nay, chúng ta
còn quá lạc hậu so với khu vực, chưa đáp ứng được đòi hỏi của hội nhập. Để
chủ động hội nhập, các ngân hàng cần mở rộng đầu tư nâng cấp hệ thống tin
học, tổ chức nối mạng trực tuyến giữa các chi nhánh với Hội Sở chính. Tăng
cường đầu tư, ứng dụng các công nghệ tiên tiến như ngân hàng điện tử, máy
ATM, hệ thống quản lý thông tin MIS, máy móc chuyên dụng phục vụ cho
kinh doanh tiền tệ, chứng khoán…
Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ
Nhân tố quyết định cho thành công luôn là nhân tố con người. Việc đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ phải được coi là nền tảng của sự phát triển. Các ngân
hàng nên thường xuyên:
- Tổ chức nhiều lớp đào tạo, đào tạo lại cán bộ thông qua các hội nghị
chuyên đề, lớp tập huấn trong nước và các khoá học ngắn, dài ngày ở nước
ngoài. Đặc biệt các ngân hàng nên phối hợp với các ngân hàng nổi tiếng nước
ngoài như Citibank hay tổ chức quốc tế như World bank tổ chức nhiều hội
thảo chuyên đề
- Tổ chức kiểm tra, sát hạch đánh giá trình độ của cán bộ tre để có kế
hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho nhu cầu trước mắt cũng như dài lâu. Chú trọng
nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học của cán bộ.
- Tổ chức thi tuyển nhân viên một cách nghiêm minh để có thể tuyển
chọn những người xứng đáng, đủ năng lực phẩm chất.
4. Các ngân hàng thương mại quốc doanh cần biết cách lựa chọn thị
trưụứng mục tiêu và xây dựng chiến lược marketing
Trong kinh doanh hiện đại, việc thành công hay thất bại phụ thuộc rất
nhiều vào công tác marketing. Nhìn chung ở Việt nam, các doanh nghiệp
chưa hiểu rõ hết được vai trò to lớn của marketing. Vấn đề đặt ra ở đây là khi
phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế, các ngân hàng thương mại phải lựa chọn


152
cho mình được thị trường mục tiêu tốt nhất để ngân hàng tập trung nguồn lực
của mình đúng thị trường, qua đó khai thác hiệu quả nguồn lực hiện có. Sau
đây là ứng dụng của marketing trong ngân hàng.
Bước 1: Đánh giá các đoạn thị trường
Mục đích của đánh giá là xác định mức độ hấp dẫn của từng đoạn thị
trường trong việc thực hiện các mục tiêu của ngân hàng. Khi đánh giá các
đoạn thị trường các ngân hàng thường phải
Đánh giá qui mô và sự tăng trưởng của đoạn thị trường ( được coi là
hiệu quả khi qui mô của nó phaỉ đủ lớn để thực hiện bù đắp chi phí không chỉ
ở hiện tại mà cả trong tương lai ). Để thực hiện công việc này các ngân hàng
thường thu thập thông tin về doanh số cho vay, doanh số huy động vốn, các
yếu tố tác động đến nhu cầu dịch vụ ngân hàng.
Phân tích tính hấp dẫn của từng đoạn thị trường. Một đoạn thị trường
được coi là không hấp dẫn nếu ở đó có sự cạnh tranh gay gắt và ngân hàng
phaỉ đối mặt với nhiều thách thức như: thách thức từ sự gia nhập hay rút lui
của các NHTM, TCTD khác; Thách thức do việc xuất hiện nhiều dịch vụ
ngân hàng mới; thách thức từ phía khách hàng ( khách hàng có quyền đòi hỏi
về giá, chất lượng dịch vụ, ngân hàng cung cấp… )
Phù hợp với các mục tiêu và khả năng của ngân hàng. Một đoạn thị
trường hấp dẫn nhưng vẫn có thể bị loại bỏ nếu chúng không phù hợp với
mục tiêu và khả năng của ngân hàng.
Bước 2: Lựa chọn thị trường mục tiêu
Tức là lựa chọn đoạn thị trường bao gồm những khách hàng có nhu
dịch vụ ngân hàng lớn nhất mà ngân hàng có khả năng đáp ứng tốt hơn đối
thủ cạnh tranh và đạt được mục tiêu đề ra.. Mô hình thường dùng là mô hình
SWOT

Các yếu tố nội lực Điểm mạnh Điểm yếu
ngân hàng Chuyển đổi
Sự
phù
hợp

153
Chuyển đổi

Các yếu tố bên ngoài Cơ hội Thách thức
ngân hàng

Nội dung của SWOT là phân tích đánh giá từng đoạn thị trường theo
bốn nhóm: điểm yếu; cơ hội; thách thức
- Điểm mạnh: của ngân hàng được xem như bất cứ kỹ năng đặc biệt
nào đó hay khả năng cạnh tranh của một ngân hàng có tác dụng giúp ngân
hàng đạt được mục tiêu đề ra một cách nhanh chóng. Những điểm mạnh
thường là kỹ năng đặc biệt trong phát triển dịch vụ ngân hàng, kinh nghiệm tổ
chức quản lý, trình độ cán bộ nhân viên, hình ảnh văn hoá kinh doanh…
- Điểm yếu: được hiểu một cách đơn giản là những hạn chế trong tổ
chức hoạt động, thiếu kinh nghiệm….
- Cơ hội: những yếu tố của môi trường bên ngoài tạo ra các điều kiện
mang lại lợi thế cho ngân hàng
- Thách thức: là bất cứ thay đổi nào đó của môi trường kinh doanh gây
cản trở trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trên thực tế, có những thay đổi vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với
hoạt động ngân hàng hoặc là cơ hội với ngân hàng này lại là thách thức với
ngân hàng khác, do đó các ngân hàng cần phải thường xuyên phân tích, đánh
giá toàn diện kỹ lưỡng chủ động đưa ra các biện pháp phù hợp.
Bước 3: Đưa ra phương án lựa chọn thị trường mục tiêu thích hợp
Dựa trên mô hình phân tích SWOT, lãnh đạo ngân hàng đưa ra quyết
định lựa chọn thị trường mục tiêu theo các phương án:
Tập trung vào một đoạn thị trường duy nhất
Chuyên môn hoá theo tuyển chọn
Chuyên môn hóa theo khách hàng
Bao phủ toàn bộ thị trường
Chuyên môn hoá theo sản phẩm dịch vụ
Bước 4: Lựa chọn chiến lược Marketing phù hợp


154
Căn cứ vào tính hấp dẫn của đoạn thị trường, khả năng tăng trưởng, lợi
nhuận kỳ vọng, nguồn lực của ngân hàng, đặc điểm nguồn lực của ngân hàng
nói chung, chiến lược Marketing của đối thủ, lãnh đạo ngân hàng đưa ra chiến
lược Marketing phù hợp với từng đoạn thị trường vào từng thời điểm nhất
định.
Dựa trên phân tích mô hình SWOT, ta có thể thấy các NHTMQD trước
mắt cần tập trung vào thị trường ASEAN, với những lý do sau:
- Tại hôi nghị thượng đỉnh ASEAN 6 diễn ra tại Hà Nội cuối năm 1998,
các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua văn kiện hành động Hà Nội gồm 10
chủ đề hợp tác được thực hiện trong 6 năm từ 1999-2004. Liên quan đến lĩnh
vực ngân hàng, chương trình hành động đề ra các nhiệm vụ, đề án nghiên cứu
cụ thể bao gồm : Nghiên cứu về sử dụng đồng tiền ASEAN, thiết lập có trình
tự quá trình tự do hoá tài khoản vốn, hệ thống tiền tệ và tỉ giá hối đoái
ASEAN, nghiên cứu giảm thiểu tác động của nguồn vốn ngắn hạn, tiêu chuẩn
về công khai tài chính….Điều này đem lại cơ hội to lớn hơn bao giờ hết đối
với các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam trong quá trình hướng
hoạt động kinh doanh ra ngoài biên giới
- Cùng với các cam kết trong lĩnh vực tài chính, các nước trong
ASEAN đang cùng nhau nỗ lực hướng tới hình thành Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN, theo nguyên lý “theo chân khách hàng” các NHTMQD cần nhanh
chóng ngay từ bây giờ đẩy xúc tiến việc kinh doanh tại thị trường ASEAN
- Việc hợp tác ngân hàng trong ASEAN đang được thực hiện mạnh mẽ
hơn bao giờ hết, một diễn đàn độc lập cho các NHTW ở cấp phó thống đốc ,
một cơ chế giám sát ASEAN với mục tiêu đưa ra một hệ thống cảnh báo sớm
nhằm tăng cường sự ổn định về kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính đã được
thiết lập. Ngoài ra còn rất nhiều chương trình hợp tác khác trong lĩnh vực tài
chính nhằm tiến tới hội nhập về tiền tệ và cuối cùng là một đồng tiền chung.
- Hiệp định khung về dịch vụ trong ASEAN sẽ làm giảm bớt các hạn
chế đối với dịch vụ tài chính, mở rộng mức độ tự do hoá cả về chiều rộng lẫn



155
chiều sâu vượt ra ngoài những cam kết đã được đưa ra trong WTO, tiến tới tự
do hoá hoàn toàn vào năm 2020. Hiện tại, NHNN Việt nam đã đưa ra cam kết
về dịch vụ ngân hàng trên cơ sở pháp lý hiện hành với 5 nghiệp vụ ngân hàng:
nhận tiền gửi, cho vay, cho thuê tài chính và thanh toán chuyển tiền, bảo lãnh
ngân hàng.
- ASEAN cũng là một trung tâm tài chính của thế giới, cho nên những
thách thức do các đối thủ cạnh tranh từ khắp trên thế giới hoạt động ở đây
đem lại là không nhỏ. Tuy nhiên, chính đây lại đem lại cơ hội cho các
NHTMQD Việt nam lấy làm bàn đạp tiến ra các thị trường khác. Mặt khác,
vấn đề không phải là thách thức mà là tương quan giữa thách thức và cơ hội
- Xét về mặt sức mạnh và điểm yếu, thì rõ ràng các NHTMQD Việt
nam điểm yếu nhiều hơn điểm mạnh, chính vì vậy phải lựa chọn thị trường
không quá sức mình nhiều mà lại có tiềm năng tăng trưởng trong tương lai.
Thị trường ASEAN tỏ ra là phù hợp nhất.
5. Đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng thương mại quốc tế.
Đối với ngân hàng thương mại, đa dạng hoá nghiệp vụ là việc ngân
hàng thực hiện kinh doanh nhiều nghiệp vụ khác nhau, tạo ra sự phong phú,
đa dạng trong toàn bộ các dịch vụ tài chính, mà ngân hàng có thể cung cấp
cho tất cả các khách hàng. Đồng thời, đa dạng hoá nghiệp vụ không chỉ hạn
chế ở việc mở rộng các loại hình nghiệp vụ; mà còn bao hàm cả mở rộng,
phát triển nghiệp vụ về phạm vi, qui mô, hình thức thực hiện.
Sở dĩ ngân hàng cần phải đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng quốc tế vì:
- Đa dạng hoá giúp NHTM phân tán và giảm rủi ro. Nếu chỉ chú trọng
đầu tư vào một số ít nghiệp vụ thì khi rủi ro xảy ra, ngân hàng chịu thiệt hại
nặng nề. Khi tiến hành kinh doanh nhiều dịch vụ, rủi ro có thể được phân tán,
giữ được sự ổn định của ngân hàng. Lợi nhuận thu được từ các nghiệp vụ
khác nhau, bổ sung cho nhau khi thị trường biến động. Châm ngôn của các
ngân hàng ngày nay là: “Đừng bỏ tất cả trứng vào cùng một giỏ”.



156
- Đa dạng hoá nghiệp vụ sẽ làm tăng lợi nhuận của NHTM. Khi thực
hiện đa dạng hoá nghiệp vụ, NHTM sẽ mở rộng thị trường và khách hàng, tạo
khả năng tăng doanh thu và lợi nhuận. Với nhiều loại hình nghiệp vụ khác
nhau, NHTM có thể khai thác những khoảng trống trên thị trường, dẫn tới
tăng thị phần. Mặt khác đa dạng hoá sẽ giúp ngân hàng sử dụng được triệt để,
có hiệu quả nguồn vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật và đội ngũ cán bộ; do vậy,
giảm chi phí quản lý, chi phí hoạt động, tăng lợi nhuận
- Đa dạng hoá dịch vụ sẽ thúc đẩy các dịch vụ khác cùng phát triển. Ví
dụ khi tiền gửi ngoại tệ phát triển, ngân hàng có nhiều ngoại tệ để thực hiện
các nghiệp vụ khác như kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế….
- Đa dạng hoá nghiệp vụ làm tăng khả năng canh tranh của ngân hàng.
Ví dụ có hai ngân hàng cùng kinh doanh thanh toán quốc tế, nhưng một ngân
hàng có thêm nghiệp vụ tư vấn thì rõ ràng có tính cạnh tranh cao hơn
Rõ ràng dịch vụ ngân hàng quốc tế ở các ngân hàng thương mai quốc
doanh Việt nam còn chưa đa dạng và yêu cầu đa dạng hoá nghiệp vụ là rất
bức xúc, tuy nhiên vấn đề dặt ra ở đây là đa dạng như thế nào? Bởi vì, đa
dạng không có nghĩa là dàn trải đều nguồn nhân lực của ngân hàng vào tất cả
các nghiệp vụ, mà phải xác định ưu tiên các nghiệp vụ chiến lược




157
Hướng đa dạng hoá :
Trước hết là hoàn thiện và phát triển các hình thức nghiệp vụ hiện có,
của từng chi nhánh; đồng thời triển khai thực hiện các nghiệp vụ, dịch vụ mà
xã hội cần và ngân hàng có điều kiện thực hiện ngay. Tiếp đến là mở rộng
những nghiệp vụ, dịch vụ mang tính định hướng thị trường, sau khi đã đổi
mới, cải tiến kỹ thuật công nghệ
Chú trọng nguồn lực phát triển các dịch vụ bán lẻ, bởi vì chính những
dịch vụ này làm tăng tính cạnh tranh của các ngân hàng, khiến cho ngân hàng
thực sự vươn tới từng ngõ ngách của đời sống kinh tế, khi thực hiện không
đòi hỏi nhiều nguồn lực
Các dịch vụ mới có thể mở ra như là: Thu thập các kiến thức, thông tin
về thị trường; Tư vấn cho doanh nghiệp cách thức mở L/C xuất khẩu; Đặt
hàng nghiên cứu; Phát triển dịch vụ thẻ thanh toán quốc tế.

II. NHỮNG GIẢI PHÁP RIÊNG
1. Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ ngân hàng đại lý

Nghiệp vụ ngân hàng đại lý là nghiệp vụ cơ sở của các hoạt động kinh
doanh quốc tế của các ngân hàng thương mại quốc doanh. Việc phát triển các
mối quan hệ đại lý ở các khu vực trọng điểm trên thế giới phải được coi là bộ
phận nằm trong chiến lược tổng thể của ngân hàng. Chính vì tầm quan trọng
của ngân hàng đại lý trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng quốc tế mà các
ngân hàng thương mại cần phải đầu tư thích đáng để phát triển nghiệp vụ này.
Sau đây là một số công việc mà các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt
nam phải làm để phát triển dịch vụ nòng cốt này
Đề ra mục tiêu chiến lược phát triển ngân hàng đại lý.
Để phát triển nghiệp vụ ngân hàng đại lý có hiệu quả , mỗi ngân hàng
thương mại quốc doanh phải dựa vào điều kiện của mình để đề ra mục tiêu
chiến lược phát triển mạng lưới các ngân hàng đại lý.
Muốn vậy đầu tiên là dựa trên chính sách đối ngoại của Đảng và Chính
phủ để lựa chọn các nước và khu vực trọng điểm để phát triển mối quan hệ

158
ngân hàng đại lý. Theo điều kiện hiện nay, như phân tích ở trên, các ngân
hàng có thể ưu tiên phát triển màng lưới các ngân hàng đại lý với các nước
ASEAN, Mỹ.
Trên cơ sở đã chọn được thị trường mục tiêu chiến lược, các ngân hàng
phải chọn lọc một số ngân hàng đại lý chủ chốt có tầm quan trọng và mang lại
hiệu quả thiết thực cho ngân hàng. Muốn chọn được một ngân hàng đại lý chủ
chốt tốt cần phải quan tâm đến những vấn đề sau
Chất lượng quản lý ngân hàng: Tức là đánh giá
+ Năng lực điều hành của Hội đồng quản trị và Ban điều hành;
+ Uy tín và kết quả hoạt động (vị trí xếp hạng khu vực và trên thế giới);
+ Mức độ ổn định trong hoạt động Ngân hàng;
+ Chiến lược phát triển hoạt động của Ngân hàng;
+ Sự hỗ trợ đối với ngân hàng bạn.
Khả năng tài chính của ngân hàng:
Khả năng tài chính của ngân hàng là một trong những tiêu thức quan
trọng, tuy nhiên không nên chú ý thái quá đến tầm cỡ tài sản có mà điều quan
trọng phải chú ý đến chất lượng tài sản có của Ngân hàng;
Sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng đại lý:
Thông thường các ngân hàng không đòi hỏi các ngân hàng đại lý cung
ứng toàn bộ các loại sản phẩm và dịch vụ bởi vì nhu cầu về ngân hàng đại lý
còn tuỳ thuộc vào sản phẩm chính mà ngân hàng đại lý đang cung ứng cũng
như chiến lược kinh doanh của mỗi ngân hàng.
Ngoài ra còn phải để ý đến:
+ Các sai sót của Ngân hàng đại lý trong nghiệp vụ giao dịch ở mức tối
thiểu;
+ Nhanh chóng giải quyết có hiệu quả và hữu nghị các vấn đề khó khăn
phát sinh;
+ Linh hoạt và nhanh chóng đáp ứng các thay đổi theo yêu cầu của các
ngân hàng đối tác;


159
+ Các nhân viên phụ trách theo dõi tài khoản hoặc quan hệ giao dịch
cần phải có đủ kiến thức về dịch vụ ngân hàng; có khả năng cung ứng, duy trì
các giao dịch với các ngân hàng đại lý một cách có hiệu quả;
+ Chính sách giao dịch kinh doanh phải nhất quán nhằm đảm bảo tính
liên tục của các dịch vụ cung ứng và quan hệ hợp tác lâu dài;
+ Mối quan hệ giao dịch đại lý đặt cơ sở trên sự bảo đảm lợi ích lâu dài
cho cả hai bên. Điều này đòi hỏi tinh thần hợp tác và hiểu biết của mọi cấp
trong ngân hàng;
+ Có mạng lưới rộng ở trong nước và trên thế giới;
+ Ngân hàng đại lý có khả năng hỗ trợ trong các lĩnh vực: Cải tiến công
nghệ ngân hàng; cung ứng các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng mới; đào tạo
cán bộ.
Để mối quan hệ ngân hàng đại lý phát triển trên cơ sở bền lâu và cùng
có lợi cho hai bên, các ngân hàng thương mại quốc doanh phải đáp ứng những
đòi hỏi của các ngân hàng đại lý đối tác, phải cung cấp các thông tin về ngân
hàng cho đối tác kịp thời, đáp ứng các dịch vụ cho các ngân hàng đối tác một
cách chu đáo nhất.
Lập hồ sơ theo dõi các ngân hàng đại lý
- Mục đích lậphồ sơ theo dõi hoạt động của các ngân hàng đại lý :
+ Nhằm hiểu rõ hơn về Ngân hàng đại lý;
+ Cập nhật được hiện trạng và triển vọng quan hệ giao dịch giữa hai
bên;
+ Cung cấp thông tin cho lãnh đạo và các phòng chức năng của Ngân
hàng khi làm việc, thảo luận với các ngân hàng đại lý về việc hợp tác hai bên;
+ Kiểm soát rủi ro trong hoạt động kinh doanh quốc tế.
- Nội dung hồ sơ theo dõi Ngân hàng đại lý:
+ Các số liệu cơ bản về kinh tế - xã hội của nước nơi ngân hàng đại lý
đặt trụ sở chính trong đó có thông tin về mối quan hệ chính trị, kinh tế ;
+ Các số liệu cơ bản về ngân hàng đại lý:


160
+ Lịch sử thành lập ngân hàng;
+ Cơ cấu sở hữu, cơ cấu tổ chức;
+ Thành tích hoạt động;
+ Tình hình tài chính;
+ Các quan hệ giao dịch với ngân hàng.
+ Nguồn tài liệu về tình hình các ngân hàng đại lý có thể từ các nơi
sau:Từ chính các ngân hàng đại lý; mạng tin Reuter, Internet; tạp chí hoặc
báo chí ví dụ như tờ: Financial Times, The Asian Wall Street Journall... ; từ
các cơ quan đánh giá tín nhiệm ngân hàng như: Standard and Poor,
Moody’s...
Phối hợp tổ chức tốt công tác thực hiện nghiệp vụ ngân hàng đại lý
+ Phối hợp tốt giữa bộ phận phòng ban quản lý công tác ngân hàng đại
lý với các bộ phận khác, bất kỳ biểu hiện bất thường nào của ngân hàng đại lý
đều phải được báo cáo nên bộ phận chuyên trách.
+ Tăng cường hiệu quả những buổi làm việc với ngân hàng đại lý. Các
đại biểu tham dự phải có sự chuẩn bị đầy đủ về tư liệu.
+ Tăng cường công tác tuyên truyền, thông tin đầy đủ chính xác, kịp
thời cho ngân hàng đại lý, thể hiện một thái độ hợp tác thiện chí đôi bên cùng
có lợi
Xếp hạng ngân hàng đại lý: hầu hết các ngân hàng lớn hàng năm đều tổ chức
xếp hạng tín nhiệm các ngân hàng; mỗi ngân hàng xếp hạng các ngân hàng
đại lý theo một tiêu thức tùy theo quan điểm đánh giá của mỗi ngân hàng. Đối
với các Ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam, việc xếp hạng tín nhiệm
các ngân hàng đại lý trước mắt có thể chưa cấp thiết, nhưng sau này khi hoạt
động kinh doanh quốc tế phát triển thì cũng phải tiến hành công việc này.
2. Hoàn thiện và phát triển dịch vụ thanh toán thẻ quốc tế
Dịch vụ thanh toán thẻ quốc tế mới phát triển ở Việt nam trong những
năm gần đây tuy nhiên tỏ ra có tiềm năng to lớn trong tương lai, đóng một vai



161
trò quan trọng trong quá trình đa dạng hoá dịch vụ ngân hàng của các ngân
hàng thương mại. Sau đây là một số đề xuất.
+ Nhà nước cần nhanh chóng nghiên cứu, đưa ra các văn bản pháp lý
đầy đủ điều chỉnh hoạt động thanh toán bằng thẻ tạo ra môi trường an toàn
trong hoạt động thẻ. Ngân hàng Nhà nước cần theo dõi, đưa ra các chính sách
kịp thời ghóp phần tạo điều kiện đưa phương thức thanh toán thẻ ngày một
phát triển trong thời gian tới.
+ Các ngân hàng cần nhanh chóng phát triển mạng lưới đại lý thanh
toán thẻ, tăng số lượng máy rút tiền, tăng cường số địa điểm chấp nhận thanh
toán thẻ.
+ Tăng cường các biện pháp ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong thanh toán
thẻ.
Để hạn chế rủi ro đặc biệt việc sử dụng thẻ gian lận, giả mạo các ngân hàng cần:
Trước hết, các ngân hàng kinh doanh thẻ quốc tế cần tuân thủ chặt chẽ
các qui định của các tổ chức thẻ quốc tế về việc chấp nhận thanh toán thẻ và
các quy định liên quan đến việc quản lý và kiểm soát rủi ro.
Thứ hai, các ngân hàng phải đưa ra những dự đoán về xu hướng sử
dụng thẻ giả mạo trong thời gian tới và đưa ra phương án tích cực phòng
ngừa.
Thứ ba, cần sử dụng có hiệu quả các công cụ để kiểm soát rủi ro do các
tổ chức thẻ quốc tế cung cấp và hỗ trợ.
Thứ tư, các ngân hàng cần chú trọng việc hướng dẫn nghiệp vụ chấp
nhận thanh toán thẻ đối với các đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ, đặc biệt
nhận dạng các trường hợp sử dụng thẻ giả.
Thứ năm, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngân hàng để kịp thời
thông báo cho nhau các trường hợp sử dụng thẻ giả để có biện pháp xử lý
thích hợp.
3. Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán quốc tế



162
Hoàn thiện quy trình thanh toán thư tín dụng, thực hiện qui trình thanh
toán theo ISO 9000
Mô hình quy trình thanh toán thư tín dụng tốt nhất là mô hình chỉ duy
nhất Trụ sở chính có quan hệ tài khoản nostro với ngân hàng nước ngoài và
tập trung đầu mối quan hệ ngân hàng đại lý tại Trụ sở chính. Mô hình này có
ưu điểm là đảm bảo cho Trụ sở chính vừa quản lý vốn tập trung vừa kiểm soát
rủi ro trong thanh toán quốc tế trong toàn hệ thống Ngân hàng, đồng thời đảm
bảo chủ động của chi nhánh trong hoạt động thanh toán quốc tế. Tuy nhiên
mô hình này đòi hỏi trình độ quản lý phải cao; hệ thống chuyển tải thông tin,
chứng từ phải hiện đại đảm bảo chuyển thông tin, chứng từ giữa Trụ sở chính
và chi nhánh thông suốt, nhanh chóng.
Nâng cao chất lượng dịch vụ thanh toán là đòi hòi bắt buộc đối với các
NHTMQD Việt nam. Có rất nhiều chính sách được đề ra trong đó có qui trình
thanh toán quốc tế theo ISO 9000. Mục đích là để:
+ Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ thanh toán quốc tế thoả mãn các yêu
cầu của khách hàng, phù hợp với yêu cầu của pháp luật.
+ Đảm bảo chất lượng thanh toán nhanh và chính xác.
+ Nhằm chuẩn hoá các thao tác nghiệp vụ thanh toán quốc tế.
Trong đó điều quan trọng là đảm bảo an toàn, chính xác, kịp thời trong
hoạt động thanh toán quốc tế. Muốn vậy, ngân hàng có thể áp dụng các biện
pháp sau:
+ Thường xuyên theo dõi diễn biến tình hình kinh tế, chính trị của các
quốc gia có quan hệ thương mại với Việt nam, nghiên cứu nắm vững các tập
quán của các nước đó.
+ Điều tra thông qua hệ thống đại lý của ngân hàng để khai thác thông
tin mọi mặt về đối tác trong hợp đồng ngoại thương.
+ Tư vấn cho khách hàng khi ký kết hợp đồng, lựa chọn phương thức
và các điều kiện thanh toán có lợi nhất. Trong quá trinh thực hiện hợp đồng



163
yêu cầu khách hàng phải thường xuyên theo dõi việc giao nhận hàng, thông
tin về con tàu.
+ Đào tạo cán bộ thanh toán quốc tế năng nổ, nhiệt tình, giỏi cả về
chuyên môn lẫn ngoại ngữ, am hiểu về các lĩnh vực kinh tế, thông hiểu các
luật lệ và tập quán quốc tế về ngoại thương và thanh toán quốc tế. Yêu cầu đặt
ra đối với cán bộ thanh toán quốc tế là phải có đủ trình độ, ngoài việc hoàn
thành nhiệm vụ chuyên môn của mình còn phải có khả năng tư vấn giúp
khách hàng ký kết các hợp đồng xuất nhập khẩu, áp dụng phương thức và
những điều kiện thanh toán có lợi nhất nhằm tránh được những rủi ro trong
quá trình thực hiện hợp đồng kinh tế quốc tế, đồng thời có thể xử lý được
những tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng và thanh toán,
đảm bảo quyền lợi của khách hàng nhưng vẫn giữ được uy tín của Ngân hàng.
Phát triển thanh toán điện tử, hiện đại hoá công nghệ thanh toán quốc tế
trong các Ngân hàng thương mại quốc doanh.
Hiểu theo nghĩa hẹp thì khái niệm thanh toán điện tử được dùng để chỉ
việc chuyển tiền dựa trên những mạng bỏ ngỏ mà chủ yếu là mạng Internet.
Hiểu theo nghĩa rộng thì thanh toán điện tử bao gồm những thanh toán liên
quan đến “mạng cục bộ”, “mạng nội bộ-Intranet”, và “ mạng Internet”.
Hiện nay các ngân hàng thương mại quốc doanh mới chỉ dùng các mạng điện
tử nội bộ để chuyển tiền trong từng ngân hàng chứ chưa dùng để thanh toán
giữa các ngân hàng với nhau. Trong tương lai cùng với sự phát triển của kỹ
thuật tin học, việc chuyển tiền qua mạng điện tủ sẽ được an toàn, nghiệp vụ
thanh toán điện tử sẽ là một bước đột phá trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế.
Thời gian qua, các Ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam đã có
nhiều cố gắng nhằm hiện đại hoá công nghệ thanh toán quốc tế của mình
nhưng khi so sánh với ngân hàng của các nước phát triển thì công nghệ thanh
toán quốc tế của các ngân hàng thương mại quốc doanh nước ta còn lạc hậu.
Để rút ngắn khoảng cách so về công nghệ thanh toán quốc tế so với ngân



164
hàng các nước, các ngân hàng thương mại quốc doanh cần chú ý đầu tư những
mặt sau:
- Đầu tư trang bị và nâng cấp kỹ thuật, từng bước tự động hoá các công
nghệ ngân hàng, nhất là trong lĩnh vực thanh toán trong hệ thống ngân hàng (
thanh toán liên hàng và thanh toán quốc tế);
- Nâng cao hiệu xuất sử dụng mạng Swift;
- Hoàn thiện phần mềm thanh toán điện tử nhằm nâng cao chất lượng
công tác thanh toán trong nội bộ ngân hàng, triển khai nối mạng giữa ngân
hàng và khách hàng;
- Hoàn thiện phần mềm thanh toán ngoại tệ và thanh toán quốc tế trong
nội bộ ngân hàng nhằm tránh thất lạc thông tin chứng từ qua đường truyền
Modem, rút ngắn thời gian luân chuyển chứng từ thanh toán quốc tế trong nội
bộ ngân hàng, đảm bảo mức độ tự động hoá, bảo mật cao và tính cập nhật tức
thời;
- Các ngân hàng kết hợp với Ngân hàng Nhà nước xây dựng mạng
thanh toán bù trừ quốc gia;
- Hoàn thiện phần mềm tin học trong hạch toán kế toán nhằm hạch toán
cập nhật tức thời;
- Đảm bảo về lâu dài xây dựng thành công hệ thống thanh toán điện tử
tự động trên mạng vi tính cao cấp và thông tin viễn thông;
- Làm tốt công tác qui chuẩn hoá chứng từ trong ngân hàng và thanh
toán qua ngân hàng theo yêu cầu tự động hóa kế toán, thanh toán.
4. Hoàn thiện và phát triển các hoạt động tài trợ thương mại quốc tế
Nâng cao chất lượng công tác phân tích hoạt động kinh doanh của các
NHTMQD. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tổn thất của ngân hàng
trong các hoạt động tài trợ thương mại quốc tế trong thời gian vừa qua là các
ngân hàng chưa tổ chức tốt công tác nghiên cứu và phân tích kinh tế cơ bản
cũng như thẩm định từng dự án. Xét về mặt lý luận, hoạt động kinh doanh
chứa đựng nhiều rủi ro và có sự cạnh tranh quyết liệt, trong khi đó hoạt động


165
tín dụng tài trợ thương mại quốc tế lại chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Trong khi
đó, hiện nay các ngân hàng Việt nam chưa tiến hành một cách thường xuyên
công việc phân tích kinh doanh. Bên cạnh đó mỗi ngân hàng thương mại của
ta đều có phương pháp phân tích cùng với một hệ thống chỉ số riêng, tuỳ theo
từng quan điểm, tình hình kinh doanh đặc thù Vì coi nhẹ công tác thẩm định
dự án, các ngân hàng thương mại quốc doanh đã chịu tổn thất nặng nề trong
việc cho vay nhập các thiết bị xi măng lò đứng, mía đường, bia... Để nâng
cao chất lượng tài trợ thương mại quốc tế, các ngân hàng thương mại quốc
doanh cần phải nâng cao khả năng phân tích kinh doanh của mình nên. Giải
pháp đề nghị là:
Về mặt tổ chức: Từng ngân hàng thương mại quốc doanh Việt nam nên
thành lập phòng chuyên trách thực hiện công tác phân tich, nghiên cứu, thẩm
định với đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao. Phòng chức năng này
phải có vị trí cao trong ngân hàng, nên đặt dưới sự quản lý trực tiếp của hội
đồng quản trị để có thể đưa ra những quyết định tài chính đúng đắn.
Về mặt kỹ thuật: Các chỉ số phân tích thường rất phức tạp, có ý nghĩa
sâu xa không dễ gì nhận ra bản chất vấn đề qua các con số. Bên cạnh đó, việc
tính toán không đơn giản, các số liệu đòi hỏi phải được cập nhật thường
xuyên, phải được xử lý một cách khoa học. Chính vì vậy ngoài việc đòi hỏi
phải có đội ngũ cán bộ có trình độ cao, hiểu biết căn kẽ về các chỉ số, việc
ứng dụng tin học trong công tác phân tích là bắt buộc.
Xét về quá trình thực hiện: Khi thực hiện thẩm định, nghiên cứu, đánh
giá hiệu quả một dự án, cần phải thường xuyên có sự phối hợp với các cơ
quan chuyên môn, các chuyên gia từng ngành nghề chuyên sâu để nâng cao
chất lượng thẩm định dự án. Đảm bảo tính pháp lý trong quá trình thẩm định
dự án; xác định trách nhiệm của cán bộ thẩm định dự án. Để thẩm định dự án
có hiệu quả, cán bộ thẩm định cần thiết phải xuống thực địa, phân tích kỹ tình
hình tài chính của doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà ngân hàng tài trợ. Trong
những trường hợp cần thiết, cán bộ thẩm định dự án phải tư vấn cho các


166
doanh nghiệp xuất nhập khẩu về phương án sản xuất kinh doanh, đặt mình
vào vị trí của doanh nghiệp xuất nhập khẩu với tư cách là người đi vay để
cùng họ phân tích, thẩm định tính khả thi của những dự án đầu tư.
Trong việc thẩm định dự án, đặc biệt làm tốt các chỉ tiêu phân tích tài
chính của dự án như: mức sinh lời dự án, khả năng hoàn vốn vay, độ an toàn
của dự án.
Đa dạng hoá các hoạt động tài trợ thương mại quốc tế:
Các loại hình tài trợ thương mại quốc tế có những mặt lợi hại khác
nhau đối với người nhập khẩu và xuất khẩu. Để chiếm lĩnh thị trường các
ngân hàng thương mại quốc doanh phải mở rộng các hình thức tài trợ thương
mại quốc tế; giúp cho khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn những loại hình
tài trợ phù hợp với đặc thù kinh doanh của mình. Các ngân hàng thương mại
quốc doanh có thể áp dụng một số hình thức tài trợ dưới đây :
-Phát triển nghiệp vụ chiết khấu, thế chấp bộ chứng từ hàng xuất khẩu;
- Cấp tín dụng thương mại ngắn hạn thông qua các ngân hàng nhập
khẩu: Ngân hàng thương mại quốc doanh sẽ chọn một số ngân hàng thương
mại có uy tín của nước nhập khẩu hàng Việt Nam để ký bản thoả ước ngân
hàng, trong đó Ngân hàng thương mại quốc doanh cam kết cấp cho họ một
hạn mức tín dụng thương mại ngắn hạn. Dựa trên hạn mức này, các ngân hàng
thương mại quốc doanh Việt Nam sẽ tài trợ cho các nhà nhập khẩu từ Việt
Nam và các ngân hàng của các Nhà nhập khẩu này nhận nợ trực tiếp với Ngân
hàng thương mại quốc doanh Việt Nam;
- Tài trợ trực tiếp cho các công ty nhập khẩu hàng hoá của Việt nam
thông qua việc chấp nhận chiết khấu hối phiếu cuả nhà xuất khẩu Việt nam
trên cơ sở của một L/C trả chậm do ngân hàng của nước nhập khẩu phát hành.
Tăng cường tài trợ xuất khẩu – một biện pháp đa dạng hoá quan trọng
Như đã trình bày trong chương 2, lĩnh vực doanh nghiệp vừa và nhỏ rất
quan trọng trong nền kinh tế, tuy nhiều rủi ro nhưng hứa hẹn đem lại nhiều lợi



167
nhuận. Sau đây là các đề xuất đối với ngân hàng trong việc phát triển hình
thức tài trợ này:
Đối tượng tài trợ: bao gồm cả bốn lĩnh vực:
- Đầu tư nhà xưởng, máy móc thiết bị, đào tạo công nhân, kỹ năng quản
lý.
- Tài trợ thu mua, chế biến hàng xuất khẩu.
- Hỗ trợ phát triển thị trường.
- Hỗ trợ khác như đăng ký nhãn hiệu, tư vấn kinh doanh.
Phương thức tài trợ
+ Tín dụng thông thường: Cho vay vốn đầu tư xây dựng mới ban đầu,
thu mua ….
+ Tín dụng thuê mua: giúp các doanh nghiệp khó khăn về tài chính, tài
sản thế chấp.


Huy động nhiều nguồn vốn:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ rất được sự quan tâm của nhà nước, do vậy
vốn huy động có thể từ : Vốn của các ngân hàng thương mại quốc doanh; Vốn
của chính phủ thực hiện qua các ngân hàng thương mại; Vốn tài trợ quốc tế
thực hiện qua các ngân hàng thương mại quốc doanh.
5. Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các ngân hàng thương mại quốc
doanh Việt nam còn chưa phát triển nên còn rất nhiều việc phải làm. Chính vì
tầm vóc kinh doanh, nhất là việc phát triển kinh doanh trên thị trương quốc tế
chưa lớn, nên ngay từ bây giờ các ngân hàng cần phải.
Cải tổ bộ phận kinh doanh ngoại tệ sao cho hợp lý. Vấn đề đặt ra đối với
việc cải tổ phòng kinh doanh ngoại tệ là phải có tầm nhìn xa trông rộng.
Trong một tương lai không xa, mỗi ngân hàng có thể có một trung tâm kinh
doanh ngoại tệ riêng có qui mô lớn. Chính vì vậy việc đề ra đường lối hoạt
động, chức năng của từng bộ phận, máy móc hoạt động phải có tính nhìn vào


168
tương lai. Nếu không, khi mở rộng hoạt động trong tương lai sẽ mất nhiều
thời gian và tiền bạc.
Đưa ra được các chính sách phát triển nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ
thích hợp.
- Chính sách thu nhập đối với cán bộ kinh doanh ngoại tệ: so với các bộ
phận khác trong ngân hàng, cán bộ kinh doanh ngoại tệ trên thị trường quốc tế
và trong nước đòi hỏi phải được đào tạo cẩn thận, có kỹ năng nghề nghiệp
cao, đồng thời có cường độ làm việc lớn. Nếu chính sách tiền lương, thu nhập
của cán bộ trong bộ phận này cũng áp dụng chính sách chung như các bộ
phận cán bộ khác thì không bao giờ tạo được động lực cho cán bộ kinh doanh
ngoại tệ có tâm huyết kinh doanh mang lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng.
Bởi vậy chính sách thu nhập đối với bộ phận cán bộ này cần có chính sách thu
nhập đặc thù, tiền lương và tiền thưởng của họ phải gắn với kết quả lợi nhuận
mà họ thu được trên thị trường .
- Hoạt động kinh doanh ngoại tệ chỉ có thể phát triển được nếu bộ phận
kinh doanh ngoại tệ có những cán bộ giỏi thường xuyên theo dõi, phân tích
các chỉ số kinh tế, tiền tệ trong và ngoài nước.
- Hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên thị trường quốc tế chỉ có thể phát
triển được nếu Ngân hàng có đại diện của mình trên các thị trường tài chính
chủ chốt trên thế giới và trong khu vực.
Có mục tiêu kinh doanh rõ ràng cho bộ phận kinh doanh quốc tế.
Một trong những nhược điểm mà các Ngân hàng thương mại quốc
doanh thường mắc phải trong thời gian qua là hoạt động của bộ phận kinh
doanh quốc tế. Do định hướng mục tiêu kinh doanh không rõ ràng và do phát
triển thiếu quy hoạch đã dẫn tới các phòng trong khối kinh doanh quốc tế một
mặt chồng chéo chức năng một mặt lại thiếu chuyên sâu, hỗ trợ, bổ sung lẫn
nhau. Phòng quan hệ đại lý hoạt động như văn phòng đối ngoại, chủ yếu phục
vụ cho lãnh đạo tiếp khách nước ngoài chứ chưa tập trung phân tích, đánh giá
các ngân hàng đại lý, tìm kiếm khách hàng, sản phẩm mới để phục vụ cho các


169
bộ phận kinh doanh quốc tế khác. Phòng Kinh doanh ngoại tệ chưa gắn chặt
với phòng quan hệ đại lý để tiếp nhận thông tin, phân tích thị trường, nhận
hạn mức kinh doanh từ các ngân hàng đại lý...Để nâng cao tính chuyên sâu và
hiệu quả của phòng kinh doanh ngoại tệ, các ngân hàng phải định rõ chức
năng, mục tiêu, nhiệm vụ của phòng kinh doanh ngoại tệ.




170

Tài Liệu Kinh tế - Thương mại Mới Xem thêm » Tài Liệu mới cập nhật Xem thêm »

Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản