Luận văn tốt nghiệp “Hiện trạng và giải pháp chống gian lận thương mại trong điều kiện hiện nay”

Chia sẻ: Trung Tri | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:86

1
640
lượt xem
184
download

Luận văn tốt nghiệp “Hiện trạng và giải pháp chống gian lận thương mại trong điều kiện hiện nay”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Kinh tế thị trường và những đặc trưng của nó cũng như sự tự do kinh doanh trong kinh tế thị trường đã mở ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, thúc đẩy quan hệ giao thương buôn bán giữa các quốc gia phát triển một cách mạnh mẽ. Việt Nam là một đất nước phát triển đi lên từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém không đủ điều kiện cần thiết cho nền kinh tế phát triển....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp “Hiện trạng và giải pháp chống gian lận thương mại trong điều kiện hiện nay”

  1. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Hiện trạng và giải pháp chống gian lận thương mại trong điều kiện hiện nay
  2. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU Mục lục Lời mở đầu................................................................................................... 5 Chương I: Tổng quan về gian lận thương mại......................................... 8 I. GLTM, các hinh thức GLTM:................................................................ 8 1. Gian lận thương mại:................................................................................. 8 2. Sự cần thiết phải xác định một tội danh - tội GLTM:............................. 10 3. Các hình thức GLTM: ............................................................................. 11 II. Mối quan hệ giữa buôn lậu và GLTM:.............................................. 14 III. Tác động của GLTM:......................................................................... 15 1. Tác động tới toàn bộ nền KTQD: . ......................................................... 15 2. Tác động tới trật tự an toàn xã hội: ......................................................... 17 3. Tác động đến doanh nghiệp và người tiêu dùng:.................................... 18 4. Tác động đến sự quản lý của Nhà nước ................................................. 19 Chương II: Thực trạng GLTM ở Việt Nam I. Tình hình GLTM ở Việt Nam: ............................................................. 20 1. Tình hình chung trong cả nước. .............................................................. 20 1.1. Tuyến biên giời Việt - Trung. .............................................................. 21 1.2. Tuyến biên giới Việt - Lào................................................................... 22 1.3. Tuyến biên giới Tây nam ..................................................................... 22 1.4. Trên tuyến đường Bộ ........................................................................... 23 1.5. Trên tuyến đường Biển - Đảo .............................................................. 25 1.6. Trên tuyến đường hàng không ............................................................. 27 1.7. Tuyến đường Bưu điện......................................................................... 28 1
  3. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU 1.8. GLTM trong nội địa ............................................................................. 28 1.9. Đối tượng tham gia vào hoạt động buôn lậu và GLTM....................... 30 1.10. Nhận định chung ................................................................................ 31 2. Thực trạng tại một số cửa khẩu và địa phương. Một số mặt hàng buôn lậu và GLTM phổ biến...................................................................................... 32 2.1. Thực trạng tại một số cửa khẩu địa phương......................................... 32 2.2. Một số mặt hàng buôn lậu và GLTM phổ biến.................................... 41 II. Nguyên nhân và thủ đoạn của bọn buôn lậu và GLTM................... 43 1. Thủ đoạn của bọn buôn lậu và GLTM.................................................... 43 1.1. Những thủ đoạn qua đường chính ngạch ............................................. 43 1.2. Những thủ đoạn theo đường không chính ngạch ................................. 48 2. Nguyên nhân của tệ nạn buôn lậu và GLTM .......................................... 51 2.1. Nguyên nhân khách quan ..................................................................... 51 2.2. Nguyên nhân chủ quan......................................................................... 54 III. Chống GLTM - Kết quả và hạn chế ................................................. 57 1. Kết quả đạt được ..................................................................................... 57 2. Hạn chế.................................................................................................... 57 IV. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác chống GLTM.......... 61 1. Thuận lợi ................................................................................................. 61 2. Khó khăn ................................................................................................. 62 Chương III: Một số giải pháp chống GLTM ở Việt Nam ..................... 65 I. Quan điểm về chống GLTM ................................................................. 65 1. Quan điểm pháp chế XHCN ................................................................... 65 2. Quan điểm quần chúng ........................................................................... 66 2
  4. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU 3. Quan điểm toàn diện và đồng bộ ............................................................ 67 II. Một số giải pháp chống GLTM ở Việt Nam...................................... 67 1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật ................................................................ 67 2. Về kinh tế ................................................................................................ 68 3. Cải cách thủ tục hành chính .................................................................... 68 4. Về tổ chức điều hành............................................................................... 70 5. Tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức giác ngộ nâng cao đời sống cho nhân dân ...................................................................................................... 71 6. Tăng cường phối hợp giữa cán bộ ngành trong công tác chống buôn lậu và GLTM.......................................................................................................... 72 7. Xây dựng lực lượng chống buôn lậu và GLTM trong sạch.................... 74 8. Trang bị máy móc thiết bị hiện đại cho lực lượng chống buôn lậu và GLTM ..................................................................................................................... 75 9. Kiểm tra sau thông quan ......................................................................... 76 10. Đẩy mạnh sản xuất trong nước ............................................................. 76 11. Một số giải pháp cụ thể cần được thực hiện ......................................... 77 III. Kiến nghị ............................................................................................. 80 1. Kiến nghị về xã hội hoá công tác đấu tranh chống GLTM..................... 80 2. Kiến nghị hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống GLTM....................... 81 Kết luận ...................................................................................................... 83 Tài liệu tham khảo .................................................................................... 85 -----o0o----- 3
  5. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU LỜI NÓI ĐẦU Kinh tế thị trường và những đặc trưng của nó cũng như sự tự do kinh doanh trong kinh tế thị trường đã mở ra những điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, thúc đẩy quan hệ giao thương buôn bán giữa các quốc gia phát triển một cách mạnh mẽ. Việt Nam là một đất nước phát triển đi lên từ một nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém không đủ điều kiện cần thiết cho nền kinh tế phát triển. Trước tình hình đó Nhà nước ta đã chuyển hướng phát triển kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý điều tiết Vĩ mô của Nhà nước theo định hướng XHCN. Cơ chế kinh tế mở đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong tiến trình hội nhập với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới đồng thời thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển. Việt Nam có thể nhập máy móc trang thiết bị, nguyên vật liệu... của nước ngoài kết hợp với các yếu tố năng lực sản xuất trong nước để phát triển sản xuất và đáp ứng nhu cầu trong nước. Tuy nhiên do sản xuất trong nước còn nhiều yếu kém các sản phẩm sản xuất phần nhiều có chất lượng thấp, giá thành và chi phí cao, khả năng cạnh tranh của sản phẩm với hàng hoá của nước ngoài thấp do vậy để bảo vệ sản xuất trong nước Nhà nước phải đặt ra hàng rào thuế quan. Mặt trái của chính sách này là làm cho tệ nạn buôn lậu và GLTM diễn ra một cách tràn lan ở hầu khắp các cửa khẩu, địa phương trong cả nước. Trước tình hình này ở nước ta đang đặt ra những vấn đề hết sức nóng bỏng và phức tạp. ở đây trên tuyến đường nào cũng có hàng lậu, hàng giả, điều này gây ra những khó khăn và thiệt hại nghiêm trọng cho cả sản xuất và tiêu dùng trong nước. Do vậy mỗi chúng ta phải có sự nhìn nhận đúng đắn và đầy đủ về vấn đề này để không tiếp tay cho gian thương và phối hợp cùng với 4
  6. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU cơ quan chức năng thực hiện công tác đấu tranh chống buôn lậu và GLTM một cách có hiệu quả. Đối tượng nghiên cứu đề tài: Gian lận thương mại trong hoạt động kinh doanh và quá trình phát triển kinh tế. Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong lĩnh vực ngoại thương thông qua hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này trong quá trình phát triển nền kinh tế của đất nước cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nên em đã chọn đề tài: “Hiện trạng và giải pháp chống gian lận thương mại trong điều kiện hiện nay”. Nội dung chính của đề tài này gồm 3 chương: Chương I: “Tổng quan về gian lận thương mại” nêu lên một cách khái quát các khái niệm gian lận thương mại đồng thời nêu ra những tác động của buôn lậu và gian lận thương mại đối với kinh tế của Việt Nam. Chương II: “Thực trạng tình hình gian lận thương mại ở Việt Nam” phản ánh những khó khăn, thuận lợi, những thành tựu đạt được và những hạn chế tồn tại trong quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua. Chương III: “Một số giải pháp chống gian lận thương mại” đề cập đến công tác đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại của các cấp, bộ, ngành, cơ quan chức năng của Việt Nam. Phương pháp mà em áp dụng cho việc xây dựng để tài này là sự kết hợp những kiến thức đã được tích luỹ trong quá trình học tập với việc phân tích những quan sát thu thập được trong thực tế; kết hợp giữa việc tổng hợp các tài liệu, sách báo với việc tham khảo ý kiến của một số chuyên gia trong ngành. Do trình độ và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế, nguồn tài liệu và thông tin còn hạn hẹp nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Bởi vậy, em rất mong nhận được sự đánh giá, góp ý chân thành của 5
  7. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU các thầy cô giáo, các bạn sinh viên và những người quan tâm đến những vấn đề mà em đặt ra trong bài viết này. Nhân đây, em xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới Thầy giáo PGS.TS Hoàng Ngọc Thiết, người đã trực tiếp hướng dẫn em tận tình trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện khoá luận này. Đồng thời, em cũng xin trân thành cảm ơn Cục Quản Lý Thị Trường Bộ Thương Mại đã giúp em có được những thông tin cần thiết, những tài liệu bổ ích và những ý kiến đóng góp quý báu để em có thể hoàn thành được bài viết này. 6
  8. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU Chương I: TỔNG QUAN VỀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI I. GIAN LẬN THƯƠNG MẠI, CÁC HÌNH THỨC GLTM: 1. Gian lận thương mại: (Commercial Fraud) GLTM là những hàng vi dối trá, mánh khoé, lừa lọc trong Thương mại nhằm mục đích thu được một khoản lợi bất chính nào đó, mà lẽ ra những khoản lợi thu được này họ không được hưởng. Ví dụ: Hàng xấu nói là hàng tốt để lừa người mua nhằm mục đích bán được giá cao, bán được nhiều hàng. Hàng có thuế suất cao nhưng được chủ hàng che giấu, nguỵ trang và khai với cơ quan thuế là hàng có thuế suất thấp, hàng nhiều nhưng khai báo là hàng ít để trốn một phần hoặc toàn bộ số tiền thuế phải nộp Nhà nước. Hành vi gian lận này là chủ hàng (bao gồm hoặc người mua, hoặc người bán, hoặc cả người mua và người bán) lừa dối cơ quan Nhà nước có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát hàng hoá. Hàng cấm, hàng Nhà nước quản lý và hạn chế lưu thông nhưng được chủ hàng dùng thủ đoạn qua mắt các cơ quan quản lý... Như vậy, GLTM trước hết phải là hành vi gian lận nói chung, nhưng hành vi gian lận này phải được thể hiện trong lĩnh vực Thương mại thông qua đối tượng thể hiện là hàng hoá, dịch vụ. Chủ thể của những hành vi GLTM là các chủ hàng, có thể là người mua, người bán, cũng có thể là cả người mua và người bán. Mục đích của hành vi GLTM là nhằm thu lợi bất chính do thực hiện trót lọt hành vi lừa đảo, dối trá. GLTM là một hiện tượng Xã hội mang tính lịch sử vì chỉ khi có sản xuất hàng hoá, khi các sản phẩm được mang ra trao đổi trên thị trường, có người mua, người bán nhằm thực hiện phần giá trị được kết tinh trong hàng hoá thì GLTM cũng mới xuất hiện. Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, thị 7
  9. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU trường ngày càng mở rộng, các sản phẩm đưa ra trao đổi buôn bán trên thị trường ngày càng nhiều, tính chất và chủng loại hàng hoá ngày càng đa dạng, phong phú, đa công dụng thì GLTM cũng càng tinh vi, phức tạp và mang tính toàn cầu. GLTM ở Việt nam ta không phải là vấn đề mới, từ xa xưa ông cha đã đúc kết hành vi GLTM thành câu “Buôn gian bán lận” để chỉ những mặt trái của việc buôn bán, để mọi người cảnh giác với thủ đoạn, mánh khoé, lừa dối khách hàng của các gian thương. Ngày nay thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước, trong điều kiện thực tế của nước ta, Đảng ta đã khẳng định phải phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Chấp nhận cơ chế thị trường, tất yếu phải chấp nhận cạnh tranh. Cạnh tranh là sự đấu tranh giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hoá nhằm giành cho mình điều kiện sản xuất và điều kiện tiêu thụ hàng hoá có lợi nhất. Nguyên nhân và động cơ của cạnh tranh là lợi nhuận. Trong cạnh tranh chắc chắn sẽ xuất hiện những hình thức và thủ đoạn cạnh tranh tiêu cực, phi kinh tế. Đó là hành vi lẩn tránh sự kiểm soát của Nhà nước như đầu cơ, GLTM, trốn thuế, buôn lậu, lừa đảo, hối lộ, lấy cắp bí mật sản xuất, làm giẩm uy tín của đối thủ cạnh tranh... Nói như vậy để thấy rằng chấp nhận cơ chế thị trường ngoài những mặt tích cực, năng động thu được, chúng ta phải chấp nhận những mặt trái của nó, trong đó có vấn đề GLTM và hậu quả của GLTM để tìm giải pháp quản lý, ngăn chặn thích hợp, hiệu quả. Buôn lậu về mặt lịch sử ở nước ta khái niệm này trước đây được hiểu là buôn bán những hàng hoá mà Nhà nước cấm hoặc Nhà nước quán lý (độc quyền) đến nay khái niệm này được luật hoá theo tội danh buôn lậu đó là: buôn bán trái phép qua biên giới các loại hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, các vật phẩm thuộc di tích lịch sử và văn hoá (theo Điều 8
  10. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU 153 Bộ luật Hình sự năm 2000 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam). So với khái niệm GLTM thì khái niệm buôn lậu hẹp hơn, nhưng buôn lậu bao giờ cũng có yếu tố qua biên giới trong khi không phải tất cả các trường hợp GLTM đều có yếu tố này. 2. Sự cần thiết phải xác định một tội danh - Tội GLTM: Do quan niệm về gian lận chưa đúng nên còn có sự lẫn lộn giữa GLTM với buôn lậu hoặc lẫn lộn giữa GLTM với các hành vi vi phạm hành chính. Từ đó dẫn đến việc xác định tội danh của hành vi GLTM cũng không chính xác, phù hợp. Sau đây là một ví dụ: Điều 97 - Bộ Luật hình sự nước Cộng hoà XHCN Việt Nam có qui định tội danh buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới. Trong đó bao hàm các hành vi thuộc về hành vi GLTM như: không khai báo, khai báo gian dối, giả mạo giấy tờ, giấu giếm hàng hóa. Như vậy, khi phát hiện các hành vi GLTM như trên có thể vận dụng điều 97 về tội danh buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới để xử lý, để khởi tố hình sự. Mặt khác, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 20/3/1996 qui định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hải quan. Cũng như qui định quyền xử phạt hành chính của các cơ quan Hải quan được thực hiện với các loại vi phạm hành chính sau: - Vi phạm các qui định về thủ tục Hải quan khi xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh Việt Nam. - Vi phạm các qui định về giám sát, kiểm tra, kiểm soát Hải quan. 9
  11. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU - Buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, hành lý, bưu phẩm, bưu điện, ngoại hối, tiền Việt Nam và những vật phẩm khác qua biên giới chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Những vi phạm hành chính cụ thể thuộc loại vi phạm hành chính trên đây mà Hải quan có quyền xử phạt được giải thích có thể là: không khai báo hoặc khai báo không đúng việc XNK hàng hoá, hành lý, tiền tệ, tự ý phá niêm phong Hải quan, phương tiện vận tải tự ý cập mạn tàu, thuyền và phương tiện vận tải hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu khác đang chịu sự kiểm tra, giám sát của Hải quan. Như vậy, khi xử lý các hành vi vi phạm GLTM cũng có thể áp dụng xử phạt vi phạm hành chính. ở đây một vấn đề nổi cộm là cùng một hành vi vi phạm như không khai báo hoặc khai báo không đúng... việc xử lý có thể áp dụng Điều 97 Bộ Luật hình sự và ghép vào tội danh; tội buôn lậu, nhưng cũng hành vi đó cũng có thể áp dụng Điều 12 NĐ 16/CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về Hải quan. Do đó việc xác định tội danh GLTM là một việc làm cần thiết nhằm xử lý đúng người, đúng tội, không để sót lọt hành vi GLTM. Buôn lậu cũng như GLTM nói chung là mặt trái của kinh tế thị trường để lại những hậu quả nguy hại về kinh tế xã hội như kìm hãm sản xuất kinh doanh trong nước, gây thất thu ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng môi trường đầu tư nước ngoài, kèm theo những tệ nạn xã hội: tham nhũng, hối lộ... Vì vậy, muốn phát triển lành mạnh nền kinh tế - xã hội chúng ta phải tích cực chống buôn lậu và GLTM có hiệu quả nhằm tạo môi trường sản xuất kinh doanh lành mạnh đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế. 3. Các hình thức GLTM: 10
  12. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU Các hình thức GLTM theo cách phân loại của tổ chức Hải quan thế giới (WCO). Trong nhiều năm, hiện tượng GLTM trong hoạt động thương mại quốc tế đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới và trở thành một mối đe doạ thực sự đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh chính trị của các quốc gia. Những hậu quả xấu của nó có tác động rõ rệt và nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống xã hội, đi ngược lại lợi ích của Nhà nước, làm tổn hại đến quyền lợi của nhân dân, phá hoại môi trường cạnh tranh lành mạnh của kinh tế thế giới, đồng thời gây tốn kém không nhỏ cho ngân sách của các quốc gia trong việc thực hiện các biện pháp phòng chống GLTM. Vì những tác hại nghiêm trọng của tệ nạn này, hội nghị chống GLTM do Hải quan thế giới triệu tập tại Brussel (Bỉ) với sự tham gia của đại diện Hải quan từ hơn 50 nước và tổ chức quốc tế. Hội nghị đã xác định các hình thức GLTM và đề ra các biện pháp cụ thể phòng chống tệ nạn này. Theo tài liệu số 36. 623 ngày 28/6/1995 của hội nghị nêu trên, GLTM gồm có 16 hình thức như sau: 1.1. Buôn lậu hàng hoá ( kể cả hàng bị cấm nhập khẩu và đặc biệt hàng thuộc Công ước Washington bảo vệ động thực vật quý hiếm và các quy định quốc gia về bảo vệ môi trường) qua biên giới hoặc ra khỏi kho Hải quan. 1.2. Khai báo sai. 1.3. Khai tăng, giảm trị giá. 1.4. Lợi dụng chế độ ưu đãi xuất xứ (kể cả chế độ hạn ngạch thuế). 1.5. Lợi dụng chế độ ưu đãi hàng gia công. 1.6. Lợi dụng chế độ tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập (đây là hàng hoá được miễn thuế XNK nhưng đã sử dụng sai mục đích,...). 11
  13. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU 1.7. Lợi dụng yêu cầu về giấy phép xuất nhập khẩu (như các loại giấy phép theo nhu cầu chuyên ngành như hàng cho an ninh, quốc phòng, y tế, văn hoá,...). 1.8. Lợi dụng chế độ quá cảnh (Ví dụ: hàng của Lào, Trung Quốc vận chuyển qua lãnh thổ Việt Nam). 1.9. Khai sai về số lượng, chất lượng hàng hoá. 1.10. Lợi dụng chế độ mục đích sử dụng, kể cả buôn bán trái phép hàng được ưu đãi thuế, thuế nhập khẩu dành cho những đối tượng sử dụng nhất định (Ví dụ: hàng cho đồng bào bị lũ lụt, cho các cơ quan ngoại giao, cho đồng bào các dân tộc thiểu số, miền núi để xoá đói giảm nghèo,...). 1.11. Vi phạm đạo luật về diễn giải thương mại hoặc quy định bảo vệ người tiêu dùng. 1.12. Hàng giả, hàng ăn cắp mẫu mã. 1.13. Hàng giao dịch buôn bán không có sổ sách. 1.14. Yêu cầu giả, khống việc hoàn hoặc truy hoàn thuế Hải quan kể cả các chứng từ hàng đã xuất khẩu ( Ví dụ: làm giả chứng từ về hàng đã xuất). 1.15. Kinh doanh “ma”, đăng ký kinh doanh lậu liễm nhằm hưởng tín dụng trái phép. 1.16. Thanh lý có chủ đích (công ty kinh doanh một thời gian ngắn để nợ thuế nhiều rồi tuyên bố thanh lý để tránh nộp thuế, giám đốc công ty đó thành lập công ty mới ngay sau đó với cùng ý định. Vấn đề này còn gọi là “Hội chứng Phượng hoàng”. Cách phân loại này thể hiện cách nhìn khoa học và là kết quả nghiên cứu các vấn đề thực tiễn trong nhiều năm hoạt động thương mại quốc tế ở nhiều nước trên thế giới. Nó mang những nét chung của tình hình GLTM trong thương mại thế giới, trong đó có Việt Nam. Tình hình thực tế ở nước ta thời 12
  14. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU gian qua cho thấy, các thủ đoạn GLTM trong hoạt động thương mại quốc tế cũng chính là các hình thức mà tổ chức Hải quan thế giới đã xác định như đã nêu trên. Thái độ ứng xử đối với 16 hành vi này là thống nhất với nhau ở 2 cung bậc, tuỳ thuộc vào mức độ tác hại của hành vi đó mang lại cho xã hội mà xử lý hành chính hay xử lý hình sự. Đối với một số nước như Mỹ, Nhật, Pháp,.. bên cạnh việc áp dụng các công ước quốc tế xử lý 16 hành vi này theo luật Hải quan còn quy định trong luật hình sự các tội danh cụ thể tương ứng với những hành vi đó. Đối với nước ta thái độ ứng xử này với các hành vi diễn ra theo ba trường hợp: + Hành vi có tính chất không nghiêm trọng, giá trị tài sản buôn bán sai phạm không lớn thì xử lý hành chính theo pháp lệnh Hải quan và các nghị định của Chính phủ về quản lý XNK. + Một số hành vi trong số đó chưa được quy định trong pháp luật Việt Nam nên không xảy ra hoặc có thể xảy ra nhưng không bị xử lý như hành vi vi phạm đạo luật về diễn giải thương mại,... + Tất cả các hành vi có tính chất nghiêm trọng, hậu quả lớn đều bị xử lý dưới tội danh chung của Điều 97 (Bộ Luật hình sự nước cộng hoà XHCN Việt Nam) là buôn lậu. II. MỐI QUAN HỆ GIỮA BUÔN LẬU VÀ GLTM : Theo pháp luật Việt Nam, GLTM không phải là một tội danh trong luật hình sự nhưng các biểu hiện đặc trưng của nó lại trùng hợp với tội buôn lậu, một bộ phận của GLTM là buôn lậu và buôn lậu bao gồm cả GLTM. Cả hai khái niệm này vẫn thường đi đôi và gắn liền với nhau trong tiềm thức xã hội, chúng có phần nằm trong nhau nhưng không bao hàm tất cả, đặc biệt là 13
  15. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU GLTM ngoài buôn lậu còn bao gồm nhiều hình thức khác như buôn bán hàng giả, ăn cắp mẫu mã, khai báo sai về số lượng, chất lượng hàng hoá,... Buôn lậu là một hình thức của GLTM, nhưng khác với các hình thức GLTM là nó mang tính chất phức tạp và rất nghiêm trọng. Nó là trường hợp đặc biệt của GLTM. Nó bao hàm các hành vi dấu diếm để trốn tránh hoàn toàn hoặc một phần việc kiểm tra của Hải quan bằng mọi thủ đoạn và phương tiện khác nhau để thu lợi. Trong khi GLTM là việc làm trái quy định của pháp luật, chính sách hoặc lợi dụng sự sơ hở, không rõ ràng, không chính xác khoa học và đầu đủ của Luật pháp, chính sách và việc quản lý cơ sở của các cơ quan quản lý chức năng để thực hiện hành vi gian dối, lừa gạt qua cửa khẩu một cách công khai nhằm thu lời bất chính. Như vậy phạm vi của khái niệm GLTM rộng hơn khái niệm buôn lậu. III. TÁC ĐỘNG CỦA GLTM: 1. Tác động tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân: Sự ra đời của hàng rào thuế quan nhằm mục đích bảo hộ sản xuất trong nước, bảo vệ an ninh trật tự xã hội và nền văn hoá truyền thống của dân tộc ta trong suốt thời gian qua, thế nhưng sự xuất hiện và phát triển của tệ nạn GLTM đã có ảnh hưởng không nhỏ tới toàn bộ nền kinh tế - văn hoá - xã hội. Tệ nạn GLTM ngày một gia tăng và với các thủ đoạn tinh vi xảo quyệt gây thiệt hại không nhỏ đối với nền kinh tế đất nước. Chẳng hạn, tệ buôn lậu trốn thuế qua các cửa khẩu hàng năm làm thất thu ngân sách Nhà nước, gây khó khăn trở ngại cho Nhà nước trong công tác kiểm tra, kiểm soát và quản lý hoạt động thu nộp thuế, gây thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước. Tệ nạn GLTM tràn lan như một bệnh dịch ở hầu khắp các địa phương trong cả nước, từ đồng bằng đến miền núi, từ nông thôn đến thành thị, hầu khắp các cửa khẩu từ Bắc vào Nam các khu vực biên giới với Trung Quốc, 14
  16. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU Lào, Campuchia, đều có hoạt động của bọn buôn lậu và GLTM. Từ hoạt động xuất khẩu đến nhập khẩu, thương mại tiểu ngạch hay chính ngạch, bất cứ khi nào, nơi nào, lĩnh vực nào, tuyến đường nào cũng có tệ nạn, nhức nhối và nóng bỏng. Dân cư ở khu vực biên giới tiếp tay cho buôn lậu và gian thương vì làm thuê cho họ thì có thể được nhiều tiền hơn và như vậy họ bỏ bê ruộng vườn, không chịu làm ăn phát triển kinh tế vùng biên giới, kinh tế vùng biển vốn dĩ đã khó khăn nay lại càng khó khăn hơn. Buôn lậu và GLTM có tác động xấu đến sản xuất trong nước làm cho hàng hoá trong nước khó có thể cạnh tranh với hàng lậu, hàng giả với giá hạ hơn. Nó thậm chí làm cho sản xuất trong nước phải điêu đứng và kìm hãm sự phát triển sản xuất. Ví dụ: tình hình sao in các băng đĩa lậu, xà phòng OMO thì được các gian thương đổi lại thành TOMO để lừa người tiêu dùng, các hàng điện tử của Tàu được bày bán tràn lan trên thị trường với giá thành rẻ bằng chỉ bằng 1/4 so với giá hàng hoá trong nước sản xuất hay hàng nhập khẩu, tình trạng quay vòng tem hàng nhập khẩu đối với những hàng nhập khẩu buộc phải dán tem hàng nhập khẩu khi lưu thông trên thị trường .... Hơn thế nữa, thị trường Việt Nam có nhu cầu lớn và dễ tính trong tiêu dùng. Tuy sức mua của người dân còn hạn chế (do thu nhập) nhưng thị trường Việt Nam gần 80 triệu dân là một thị trường có nhu cầu lớn về tiêu dùng và đặc điểm là dễ chấp nhập hàng hoá rẻ, sính hàng ngoại và không cần quan tâm đến nguồn gốc nhập lậu hay GLTM và không cần hoá đơn, chứng từ khi mua bán hàng hoá. Mặt khác, sản xuất hàng hoá ở nước ta những năm qua tuy có mặt phát triển nhưng nhìn chung chưa thể cạnh tranh được về mẫu mã, chủng loại, chất lượng và giá cả. Có thể coi đây là một trong những nhân tố cơ bản dẫn đến hàng lậu và GLTM lấn át, chiếm lĩnh thị trường nước ta. Nhìn chung, tệ nạn buôn lậu và GLTM kìm hãm sự phát triển kinh tế đất nước, kìm hãm sự phát triển kinh tế dựa vào nội lực trong nước. 15
  17. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU 2. Tác động tới trật tự an toàn xã hội: GLTM với các hình thức khác nhau xuất hiện ở khắp mội nơi trong cả nước, sự xuất hiện và hoạt động của chúng đã gây rối loạn và xáo trộn về trật tự an ninh, an toàn xã hội. Chúng tổ chức buôn lậu thành đường dây từ khâu mua, vận chuyển qua biên giới đến tiêu thụ với sự tham gia của nhiều đối tượng khác nhau, trong đó có cả người nước ngoài, cán bộ Hải quan,... làm cho tình hình an ninh biên giới bất ổn, khó kiểm soát và xử lý phức tạp. Bọn buôn lậu và GLTM lôi kéo một bộ phận lớn quần chúng nhân dân khu vực biên giới cửa khẩu tham gia vào hoạt động buôn lậu và chống lại sự kiểm soát của Hải quan - cơ quan quản lý Nhà nước, lợi dụng sự kém hiểu biết của quần chúng, dùng đồng tiền để lôi kéo họ tiếp tay cho buôn lậu và GLTM, khi bị bắt thì họ chống trả quyết liệt bởi họ không hiểu, không biết những việc làm mà mình làm là trái với pháp luật, hoặc họ cố tình làm trái với quy định của Nhà nước để kiếm sống,... bọn gian thương và các lực lượng diễn biến hoà bình còn lợi dụng sự kém hiểu biết này để tuyên truyền văn hoá phẩm đồi trụy, tư tưởng cực đoan chủ nghĩa, lôi kéo họ chống lại chính quyền Nhà nước,... làm trật tự xã hội bị đảo lộn, tình hình chống buôn lậu và GLTM ngày càng phức tạp hơn, an ninh chính trị ở khu vực biên giới bị đe doạ nghiêm trọng. - Bọn buôn lậu và GLTM lôi kéo một bộ phận cán bộ Nhà nước tham gia vào hoạt động buôn lậu và GLTM này làm suy đồi tư tưởng và làm mất tư cách đạo đức của những kẻ hám lợi bỏ qua tất cả để chạy theo đồng tiền, bất chấp luật pháp của Nhà nước để làm giàu cá nhân, gây mất lòng tin của quần chúng, mất ổn định về chính trị, an ninh và an toàn xã hội. - Một số mặt hàng mà pháp luật cấm như thuốc phiện, thuốc nổ, các sản phẩm văn hoá phẩm đồi trụy,... đã được bọn chúng đưa vào làm suy đồi các tư tưởng đạo đức của một số người không chỉ ở khu vực biên giới mà trong cả 16
  18. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU nước, tác động đến nhiều mặt khác của đời sống xã hội như gia tăng tội phạm, cướp của giết người để lấy tiền mua ma tuý, tuyên truyền tư tưởng cực đoan chống chính quyền, chênh lệch giữa kể giàu và người nghèo ngày càng lớn,... ảnh hưởng đến an ninh, an toàn xã hội, văn hoá truyền thống của dân tộc. 3. Tác động đến doanh nghiệp và người tiêu dùng: Trong điều kiện đất nước còn nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu, sản xuất trong nước còn gặp nhiều khó khăn, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm chưa cao, giá thành và chi phí sản xuất cao, các sản phẩm trong nước khó hoặc không thể cạnh tranh được với hàng lậu, gian lận cùng loại, nhiều doang nghiệp sản xuất phải đứng trước nguy cơ đóng cửa do không tiêu thụ được sản phẩm. Một số hàng có được do buôn lậu và gian lận thuế được bán với giá thấp (nhưng chất lượng cao hơn do được sản xuất với công nghệ hiện đại, chi phí cho sản xuất thấp,...) đã chiếm lĩnh thị trường nội địa làm cho doanh nghiệp phải điêu đứng và không bảo vệ được kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình. Một số mặt hàng buôn lậu và gian lận có chất lượng kém nhưng mẫu mã đẹp giá thấp hơn nhiều so với giá của sản phẩm trong nước, làm cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh gặp nhiều khó khăn trở ngại trong cạnh tranh, tiêu thụ và cải tiến chất lượng sản xuất, hạ giá thành, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Buôn lậu và GLTM không chỉ tác động đến sản xuất trong nước mà còn tác động rất lớn đến người tiêu dùng trong nước. Một số khách hàng thích và ưu tiên dùng hàng ngoại, hàng rẻ, dễ bị lừa gạt vì trong số đó có những mặt hàng như dược phẩm thuốc bảo vệ thực vật,... không chỉ gây thiệt hại về vật chất mà còn gây thiệt hại cả về sức khoẻ, tính mạng cho cả người và động vật, thực vật, thiệt hại cả về ngắn hạn lẫn lâu dài do hàng hoá kém, quá hạn sử dụng, hàng giả,... không đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng. Một số mặt hàng như ma tuý, chất kích thích,... không chỉ tác động đến sức khoẻ mà còn 17
  19. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU tác động đến đạo đức, lối sống của người tiêu dùng, làm suy đồi tư tưởng đạo đức và gây ra các tệ nạn khác như: trộm cắp, cướp giật, giết người,... Các mặt hàng như thuốc nổ, thuốc súng tác động đến tính mạng, an ninh chính trị quốc gia, gây rối loạn trật tự an toàn xã hội. Nhìn chung GLTM làm cho lưu thông hàng hoá bị rối loạn, trật tự thị trường bị đảo lộn, gây ra các cơn sốt về hàng hoá và giá cả, gây khó khăn cho công tác quản lý thị trường, quản lý hoạt động XNK. 4. Tác động đến sự quản lý nhà nước (đến cán bộ nhà nước): Do ý thức trách nhiệm chỉ đạo và tổ chức thực hiện cuộc đấu tranh chống GLTM ở một số nơi, một số lúc còn chưa tốt, thậm chí còn nhận thức không đúng về cuộc đấu tranh này dẫn đến buông xuôi; cơ chế chính sách về hoạt đọng thương mại và đấu tranh chống GLTM còn chưa hoàn chỉnh thậm chí còn kẽ hở bị lợi dụng; việc phối hợp giữa các lực lượng chức năng còn nhiều bất cập, hạn chế; ở một số địa bàn trọng điểm lực lượng chức năng chống GLTM còn quá mỏng, cơ sở thiếu thốn và lạc hậu; nạn tham nhũng, bảo kê, và thiếu việc làm cũng là những nhân tố nuôi dưỡng tạo điều kiện cho GLTM tồn tại và phát triển... 18
  20. KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP NGUYỄN THẾ HIẾU Chương II: THỰC TRẠNG GIAN LẬN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM I. TÌNH HÌNH GIAN LẬN THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM: 1. Tình hình chung trong cả nước: Việt Nam là một đất nước có địa hình phức tạp đồi núi chiếm phần lớn diện tích cả nước, có biên giới tiếp giáp Lào, Trung Quốc, Campuchia và các cửa khẩu trải dài từ Bắc vào Nam - nơi kiểm soát hoạt động kinh doanh XNK. Đặc điểm này của địa hình kết hợp với sự ra đời của hàng rào thuế quan và hệ thống thuế đối với hoạt động kinh doanh làm cho tình hình GLTM trong cả nước có những diễn biến phức tạp với những thủ đoạn tinh vi xảo quyệt, để trốn lậu thuế, tuồn hàng lậu qua cửa khẩu, chống lại sự kiểm soát của Hải quan, buôn bán và kinh doanh hàng giả,... Ở nước ta trong mấy năm gần đây tệ nạn GLTM phát triển tràn lan như một bệnh dịch kéo dài âm ỉ làm đau đầu các nhà chức trách trong việc tìm các giải pháp đặc trị chặn đứng căn bệnh này. Trên thực tế nạn GLTM xuất hiện khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam từ khắp các biên giơí phía Bắc đến biên giới Tây Nam, từ các cửa khẩu qua Trung Quốc, Lào, Campuchia đến các cửa khẩu quốc tế, từ nông thôn đến thành thị, từ xuất khẩu đến nhập khẩu, từ hoạt động thương mại chính ngạch đến hoạt động tiểu ngạch, từ đường bộ đến đường biển, đường hàng không và bưu điện... chỗ nào, lĩnh vực nào, tuyến đường nào GLTM cũng là những vấn đề nóng bỏng nhức nhối. Trên các tuyến biên giới phía Bắc, phía Tây và Tây Nam của nước ta tình hình GLTM diễn ra phức tạp và ngày càng tinh vi xảo quyệt. Điều đặc biệt nghiêm trọng là trong khi Việt Nam ngăn chặn thì phía nước ngoài lại khuyến khích, thực chất là họ muốn tiêu thụ hàng tồn kho ứ đọng của mình. 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản