Luận văn tốt nghiệp “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực.”

Chia sẻ: Ngoc Hanh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:88

1
240
lượt xem
103
download

Luận văn tốt nghiệp “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực.”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Như chúng ta đều biết, với sự phát triển của thế giới ngày nay, không một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển lại có thể sống trong sự biệt lập với thế giới bên ngoài. Ngược lại, sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng và tác động trực tiếp đến từng quốc gia, từng khu vực và toàn thế giới. Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá trên tất cả các lĩnh vực, theo các cung bậc khác nhau và trên những ngả đường khác nhau là tất yếu....

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực.”

  1. …………..o0o………….. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực.
  2. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” LỜI MỞ ĐẦU ********************* Như chúng ta đều biết, với sự phát triển của thế giới ngày nay, không một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, phát triển hay đang phát triển lại có thể sống trong sự biệt lập với thế giới bên ngoài. Ngược lại, sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng và tác động trực tiếp đến từng quốc gia, từng khu vực và toàn thế giới. Xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá trên tất cả các lĩnh vực, theo các cung bậc khác nhau và trên những ngả đường khác nhau là tất yếu. Với nước ta, trong giai đoạn đổi mới hiện nay khi mà Việt Nam đang thực hiện chính sách đối ngoại với phương châm là “bạn của tất cả các nước” và “mở cửa” nền kinh tế. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, sự giao lưu về chính trị – kinh tế – văn hoá - xã hội giữa nước ta với các nước trong khu vực nói riêng và các nước trên thế giới nói chung. Đất nước đang thực sự hoà nhập vào cộng đồng quốc tế bằng cách tham gia ngày càng sâu sắc vào quy trình phân công lao động quốc tế và quốc tế hoá đời sống xã hội. Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và kinh tế đối ngoại thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã xác định xuất khẩu sức lao động là một trong những hướng trọng tâm và được ưu tiên, tại Nghị quyết Đại hội VIII và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 của Đảng, trong đó có chủ trương “Đẩy mạnh xuất khẩu lao động”, phù hợp với sự phát triển trong nước và quốc tế. Công tác xuất khẩu lao động đã được thể chế hoá bằng Chỉ thị 41-CT/TW của Bộ Chính trị, Đề án xuất khẩu lao động trong thời kỳ 1998 – 2010 và Nghị định số 152/1999/NĐ-CP của Chính phủ. Phạm Thi Lam – A2 CN9 1
  3. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” Tăng cường xuất khẩu sức lao động không chỉ góp phần giải quyết những mục tiêu kinh tế – xã hội như giải quyết việc làm, nâng cao trình độ tay nghề và mức sống cho một bộ phận người lao động, đem lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước, mà còn góp phần quan trọng vào việc tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa Việt nam với các nước, củng cố và phát triển cộng đồng người Việt ở nước ngoài hướng về Tổ quốc. Trong điều kiện nước ta hiện nay, vấn đề việc làm đã và đang là một vấn đề nóng bỏng, tạo ra sức ép gay gắt, để lại những hậu quả kinh tế không nhỏ, từ năm 1980 đến nay, chúng ta đã tiến hành hoạt động xuất khẩu lao động, đưa người lao động Việt nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Đây là một hoạt động quan trọng trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại của nước ta. Trong giai đoạn 1980-1990, Việt Nam đã đưa khoảng 300 ngìn lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài. Số lao động này chủ yếu đến làm việc ở Liên Xô (cũ) và các nước XHCN Đông Âu trước đây. Lao động ta cung ứng hoàn toàn do phía bạn bố trí sử dụng, tổ chức và chịu chi phí đào tạo. Bước sang giai đoạn từ 1991 đến nay, việc xuất khẩu lao động đã có những thay đổi mới. Cơ chế đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở Nước ngoài theo quan hệ cung cầu và khả năng khai thác, mở rộng thị trường của các doanh nghiệp cung ứng lao động theo định hướng và quản lý của Nhà nước. Hiện nay đã có 40 nước và vùng lãnh thổ tiếp nhận lao động và chuyên gia Việt nam. Song để cạnh tranh được với thị trường xuất khẩu lao động trên thế giới hiện nay đòi hỏi chúng ta phải có nhận thức đúng đắn về thực trạng thị trường xuất khẩu lao động của nước ta hiện nay, đặc điểm của các thị trường nhập khẩu lao động cùng những giải pháp hữu hiệu và đồng bộ không Phạm Thi Lam – A2 CN9 2
  4. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” những về phía nhà nước mà còn về phía các doanh nghiệp chuyên doanh xuất khẩu lao động. Xuất phát từ những nhận thức trên, cộng với những kiến thức tôi đã học tập tại trường và là một cán bộ quản lý làm việc trong lĩnh vực xuất khẩu lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực, tôi đã lựa chọn đề tài “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực.” * Mục đích của đề tài: Nhìn nhận hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong thời gian qua nói chung và tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực nói riêng, đánh giá các kết quả đạt được cũng như những khó khăn hạn chế cần khắc phục tại Công ty, nhận định đặc điểm của công tác xuất khẩu lao động tại Công ty hiện nay, trên có sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này tại Công ty. * Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của khoá luận chỉ giới hạn ở những vấn đề cơ bản nhất có liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động của Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực hiện nay, những tồn tại và giải pháp khắc phục. * Phương pháp nghiên cứu: Khoá luận áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp liệt kê và thống kê, phương pháp kết hợp giữa lý luận với thực tiễn... * Nội dung nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài tôi không có đủ khả năng giải quyết mọi vấn đề thực tiễn đặt ra, ở đây tôi chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản trong lĩnh vực Phạm Thi Lam – A2 CN9 3
  5. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” xuất khẩu lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ở khía cạnh Quan hệ kinh tế quốc tế. Kết cấu của đề tài ngoài lời nói đầu và kết luận gồm 3 chương: Chương I: Khái quát chung về tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam trong thời gian gần đây. Chương II: Hoạt động xuất khẩu lao động của Công ty Phát triển Công nghệ, tin học và Cung ứng nhân lực. Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động xuất khẩu lao động của Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vì điều kiện và khả năng có hạn nên khoá luận sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Em mong có sự lượng thứ của các Thầy cô và mong muốn được sự đóng góp những ý kiến của Thầy cô giáo và các bạn để sửa chữa khiếm khuyết của mình. Cuối cùng cho tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những thầy cô giáo Trường ĐH Ngoại Thương đã chỉ bảo giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, đặc biệt là Thầy giáo – Thạc sĩ Nguyễn Văn Hồng, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới Bộ lao động – Thương binh và Xã hội; Phòng Chính sách – quản lý lao động, Phòng Thị trường, Trung tâm Thông tin tư vấn về XKLĐ Cục quản lý lao động với nước ngoài, Ban quản lý lao động tại Malaysia, Văn phòng KTVH tại Đài Bắc, Đại sứ quán Malaysia tại Việt Nam và Ban lãnh đạo Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực và đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp này. Phạm Thi Lam – A2 CN9 4
  6. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN GẦN ĐÂY I. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG TẠI VIỆT NAM 1. Lý luận chung về Xuất khẩu lao động 1.1 Sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt: Sức lao động: Là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình tạo ra của cải xã hội, phản ánh khả năng lao động của con người, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong qúa trình xã hội. Lao động: Là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên, để phù hợp với lợi ích của mình. Lao động là sự vận động của sức lao động, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất tạo ra của cải vật chất xã hội. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, sức lao động cũng là một loại hàng hoá và cũng được trao đổi trên thị trường trong và ngoài nước. Sức Phạm Thi Lam – A2 CN9 5
  7. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” lao động là hàng hoá đặc biệt không chỉ vì sự khác biệt với hàng hoá thông thường là khi sử dụng nó sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó, mà còn thể hiện ở chỗ chất lượng hàng hoá này phụ thuộc chặt chẽ vào một loại các nhân tố có tính đặc thù. Chất lượng của hàng hoá sức lao động được phản ánh ở khả năng dẻo dai, bền bỉ trong lao động của người lao động, khả năng thành thạo và sáng tạo trong công việc và khối lượng công việc hoặc sản phẩm được hoàn thành bởi người lao động trong một đơn vị thời gian. 1.2 Hoạt động Xuất khẩu sức lao động cũng là một hoạt động đặc biệt: Xuất khẩu sức lao động: Dưới góc độ dân số học, việc di chuyển lao động giữa các quốc gia đã được nhiều chuyên gia dân số học trên thế giới nghiên cứu và đưa ra khái niệm “di dân quốc tế”. Có thể nói trong vài thập kỷ gần đây hoạt động nàu diễn ra khá sôi nổi và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, ngày nay xuất khẩu lao động đã rất phổ biến và trở thành xu thế chung của thế giới. Từ năm 1980, ở nước ta xuất hiện thuật ngữ “hợp tác quốc tế về lao động” được hiểu là sự trao đổi lao động giữa các quốc gia trên cơ sở các hiệp định đã được thoả thuận và ký kết giữa các quốc gia đó là sự di chuyển lao động có thời hạn giữa các quốc gia một cách hợp pháp và có tổ chức. Nước đưa lao động đi được coi là nước xuất khẩu lao động còn nước tiếp nhận lao động và sử dụng lao động được coi là nước nhập khẩu lao động. Xuất khẩu sức lao động cũng có một cách hiểu khác: đó là sự hợp tác sử dụng lao động giữa nước thừa lao động và nước thiếu lao động, là sự di chuyển lao động có thời hạn và kế hoạch từ nước thừa lao động sang nước thiếu lao động. Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu hoạt động xuất khẩu lao động là hoạt động trao đổi, mua bán, hay thuê mướn hàng hoá sức lao động Phạm Thi Lam – A2 CN9 6
  8. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” được tiến hành giữa một bên là tổ chức của Chính phủ, doanh nghiệp hay cá nhân của một nước với tư cách là người cung ứng với một bên cũng là tổ chức của Chính phủ, doanh nghiệp hay cá nhân của nước khác với tư cách là người sử dụng trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng cung ứng lao đông. Ở Việt Nam, hoạt động xuất khẩu sức lao động được sử dụng với các thuật ngữ như “đưa người lao động và chuyên gia Việt nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” hoặc là “xuất khẩu lao động”. Thuật ngữ “đưa người lao động và chuyên gia Việt nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” được sử dụng chính thức trong các văn bản pháp lý, còn thuật ngữ “xuất khẩu lao động” là thuật ngữ giản lược để đề cập đến vấn đề đưa người lao động và chuyên gia Việt nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Hoạt động xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế đặc biệt, là cả một quá trình đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, do vậy các bên có liên quan đến hoạt động này có quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh trong suốt thời hạn có hiệu lực của hợp đồng. Trong trường hợp chủ thể của hợp đồng là các doanh nghiệp thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ đối với các doanh nghiệp còn dài hơn cả thời hạn hiệu lực của hợp đồng bởi họ phải thực hiện các công việc chuẩn bị trước khi đưa người lao động ra nước ngoài làm việc và giải quyết những công việc sau khi người lao động kết thúc thời hạn hợp đồng làm việc ở nước ngoài. Hoạt động xuất khẩu lao động không chỉ bị ràng buộc bởi các văn bản pháp luật mà còn bị chi phối bởi các chính sách kinh tế, văn hoá, xã hội kể cả phong tục tập quán ở trong nước cũng như ở nước ngoài. 2. Sự cần thiết phải xuất khẩu lao động: Sự gia tăng của dân số, lao động, việc làm ở nước ta trong những năm tới là yêu cầu cấp bách phải phát triển xuất khẩu lao động. Phạm Thi Lam – A2 CN9 7
  9. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” Đối với Việt Nam, sự phát triển dân số và lao động là một những vấn đề kinh tế – xã hội phức tạp và gay gắt chẳng những trong giai đoạn hiện nay mà còn trong nhiều năm tới. Dân số Việt Nam theo cuộc điều tra dân số ngày 01/4/1089 là 64,4 triệu người, năm 1993 là 70,9 triệu người, năm 1999 là 76,3 triệu người và khoảng 78,8 triệu người vào tháng 7/2001, tính ra mỗi năm dân số tăng khoảng 1,2 triệu người. Dân số và kinh tế – xã hội là những yếu tố vận động theo những quy luật khác nhau. Trong dân số có lực lượng lao động – yếu tố quyết định của sản xuất. Đồng thời dân số lại là lực lượng tiêu dùng chủ yếu mọi của cải và tinh thần của xã hội. Mối quan hệ này ngày nay đã được cụ thể hoá thành các quan hệ dân số và phát triển, là một nội dung quan trọng trong công tác hoạch định chiến lược kinh tế xã hội của nhiều nước. Nguồn lao động của nước ta tăng nhanh, trong bối cảnh nền kinh tế gặp không ít khó khăn, gay gắt do công nghệ lạc hậu, ảnh hưởng trực tiếp của cuộc khủng hoàng tài chính tiền tệ khu vực (1997) và khủng hoảng kinh tế thế giới (2000), thiên tai đã sinh ra mâu thuẫn tạo giữa khả năng tạo việc làm còn hạn chế với nhu cầu giải quyết việc làm ngày càng gia tăng, tất yếu sẽ dẫn tới tình hình một bộ phận lao động chưa có việc làm. Theo số liệu thống kê, hàng năm nước ta có khoảng 2 triệu người không có việc làm. Đó là kết quả của việc giải quyết việc làm hàng năm còn hạn chế cùng với số người bước vào độ tuổi lao động hàng năm tăng nhanh do bùng nổ dân số vào những năm 1950. Với tốc độ phát triển dân số và lao động như hiện nay, hàng năm chúng ta phải tạo ra hơn 1 triệu chỗ làm việc mới cho số lao động bước vào độ tuổi lao động, khoảng hơn 1,7 triệu người chưa có việc làm, hàng vạn người bộ đội phục viên, xuất ngũ, học sinh trung học thôi học, lao động hợp tác ở nước ngoài về nước, ....có nhu cầu làm việc để đảm bảo cuộc sống. Trước tình hình Phạm Thi Lam – A2 CN9 8
  10. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” về việc làm đó Đảng và Nhà nước đã xác định chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta đến năm 2010 theo định hướng đặt con người vào vị trí trung tâm. Trước tình hình đó, cùng với các phương châm giải quyết việc làm trong nước là chính , xuất khẩu lao động có một vai trò quan trọng trước mắt và lâu dài nhằm giải quyết một phần tình trạng thất nghiệp ở trong nước. Xuất khẩu lao động giúp cho người lao động có thu nhập cao hơn khi đi làm việc ở nước ngoài, bên cạnh đó khi đi ra nước ngoài họ còn học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm, những tiến bộ khoa học kỹ thuật ở các nước tiên tiến hơn, giúp nâng cao trình độ tay nghề, tiếp thu lối sống và tác phong công nghiệp. Xuất khẩu lao động làm tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước dưới dạng người lao động làm việc ở nước ngoài gửi tiền về cho gia đình họ ở trong nước. Xuất khẩu lao động làm tăng thu nhập ngân sách bằng cách người đi lao động nước ngoài phải trích một phần lương của mình để nộp cho Nhà nước (Việt Nam quy định là 10%). Ngoài ra, tăng thu nhập ngân sách từ phí làm hộ chiếu và thủ tục xuất cảnh, các loại thuế khác… Xuất khẩu lao động còn giúp cho nước xuất khẩu đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá qua việc người lao động Việt Nam ở nước ngoài sẽ đưa ra nước ngoài những mặt hàng cần thiết cho nhu cầu của họ và có thể người lao động sẽ là trung gian tìm được các hợp đồng mua bán hàng hoá của Việt Nam với nước sở tại hoặc nước khác. 3. Các doanh nghiệp chuyên doanh xuất khẩu lao động ở Việt Nam hiện nay: Phạm Thi Lam – A2 CN9 9
  11. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” Thực hiện Chỉ thị 41- CT/TW ngày 22/9/1998 của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 152/1999/NĐ-CP của Chính phủ thể hiện sự mở cửa và thông thoáng trong cơ chế xuất khẩu lao động và chuyên gia. Thực hiện Nghị định 152/1999/NĐ-CP, đến thời điểm hiện nay, cả nước có 159 doanh nghiệp có giấy phép chuyên doanh về xuất khẩu lao động, trong đó 151 doanh nghiệp có chức năng xuất khẩu là chính, 141 doanh nghiệp còn lại có nhiều ngành nghề khác nhau trong đó xuất khẩu lao động là 1 ngành nghề của doanh nghiệp. Trong số 151 doanh nghiệp làm xuất khẩu lao động, có 85 doanh nghiệp Nhà nước thuộc các Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, 11 doanh nghiệp thuộc các tổ chức đoàn thể ở Trung ương và 3 doanh nghiệp ngoài quốc doanh được làm thí điểm. Trong đó có khoảng 40 doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, số lượng lao động của các doanh nghiệp này đưa đi làm việc tại nước ngoài chiếm 90% tổng số lao động xuất khẩu trong 2 năm qua. Đa số các doanh nghiệp thuộc các Bộ, ngành Trung ương là những doanh nghiệp thể hiện các ưu thế và hoạt động có hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp thuộc địa phương và các đoàn thể. Các doanh nghiệp Trung ương có trụ sở đóng tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có nhiều lợi thế về quan hệ với các đối tác nước ngoài hơn so với các doanh nghiệp địa phương. Mục tiêu của nước ta đến 2005 là xuất khẩu 30.000 lao động và sau 2005 là 100.000 lao động. Hiện nay chỉ có khoảng 17 doanh nghiệp mạnh nên cần thiết phải chú trọng trước hết vào đội ngũ các doanh nghiệp mạnh, kinh doanh có hiệu quả chứ không phải dựa vào số lượng các doanh nghiệp nhiều hay ít. Hiện nay Nhà nước đang chấn chỉnh và sắp xếp lại doanh nghiệp xuất khẩu lao động cho phù hợp với tình hình thực tế. Phạm Thi Lam – A2 CN9 10
  12. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” Tính từ khi Nghị định 152/1999/NĐ-CP có hiệu lực đến nay, đã có 120 doanh nghiệp ký được hợp đồng cung ứng lao động và đã đưa được hơn 60.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Nghị định 152/1999/NĐ-CP đã và đang đi vào cuộc sống, có tác dụng hết sức thiết thực nhằm thúc đẩy phát triển xuất khẩu lao động, số lượng thị trường và số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài tăng lên lên đáng kể, chúng ta có 159 doanh nghiệp xuất khẩu lao động và bình quân mỗi năm doanh nghiệp đưa đi là 260 lao động ra nước ngoài làm việc. Bảng 1: Số lao động và Chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài theo các doanh nghiệp Xuất khẩu lao động từ 1999 đến 07/2002 TT TÊN CÔNG TY 1999 2000 2001 1-7/2002 Tổng 1. VIETTRACIMEX 647 3029 1811 1163 6650 2. TRAENCO - 1111 994 870 2975 3. LOD 147 871 225 238 1472 4. TRACIMEXCO 57 460 556 238 1472 5. VINACONEX 20 1115 123 49 1370 6. AIRSICO - - 540 742 1282 7. DLKS THAIBINH - 169 533 546 1248 8. SONGDA 5 406 216 523 1151 9. INTRACO - 38 624 401 1063 10. SONA 100 255 282 394 1001 11. TRANSINCO - 121 531 337 989 12. VINATEX - 332 389 247 968 13. VUNGTAUINVESCON - 169 403 380 843 14. SULECO 234 652 27 2 915 Phạm Thi Lam – A2 CN9 11
  13. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” 15. SOVILACO 42 660 59 108 869 16. EMICO - 294 303 163 759 17. COALIMEX 98 336 85 174 693 18. YOUTHEXCO - 191 257 225 673 19. INTERSECOR 6 536 16 71 629 20. CIENCO1 - 19 165 439 623 21. PCC2 13 303 217 51 584 22. TRACODI 152 256 45 24 477 23. VITRACIMEX - 71 224 158 453 24. MEPRODECO - 37 118 266 421 25. LATUCO - 87 161 160 408 26. TSC - 154 35 210 399 27. GERTACO - 6 16 353 375 28. HAPEXCO - 8 94 270 372 29. INCOMEX SG - 14 128 230 372 30. NINH BINH - - 202 167 369 31. QUOC DAN - - 150 210 351 32. CONSTREXIM - - 103 241 344 33. VINAGIMEX - 174 54 88 316 34. VINAFOR - 53 180 63 296 35. SEAPRODEX VN - 1 88 198 287 36. COOPIMEX - - 68 217 285 37. XNK HAI DUONG - - 9 276 285 38. DL HA TAT - - 236 27 273 39. CIENCO - 8 141 113 262 40. VINAINCON - - 12 249 261 Phạm Thi Lam – A2 CN9 12
  14. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” 41. SOWATCO - 60 109 50 219 42. CIENCO4 - 1 77 139 217 43. ESFICO - 29 88 97 214 44. CEM - - 64 145 209 45. VIC - 445 100 61 206 46. TSG - - 61 128 189 47. LEESCO - 3 32 142 177 48. COLACO - - 17 159 176 49. LILAMA - 102 41 1 144 50. FIMEXCO - - 138 4 142 51. TOMATECO - 5 59 71 135 52. QUNIMEX - - 20 112 132 53. TECHNO IMPORT - - 23 109 131 54. HCC 1 - 2 70 59 124 55. DING VSNG - 1 72 51 118 56. HMSM 11 84 14 9 117 57. VINAHANCOOP - - 3 114 115 58. PETROSETCO - 2 51 62 107 59. HAINDECO - 14 68 25 115 60. PROCIMEX - - 2 105 107 61. NOSCO - 3 43 56 107 62. HVC - 44 45 7 102 63. COECCO - 49 33 11 96 64. INEXIM DAKLAK - - 35 58 93 65. MACHINOIMPORT - - 45 45 93 66. VSC - 86 - 4 90 Phạm Thi Lam – A2 CN9 13
  15. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” 67. VIET HA - - 12 75 87 68. VAN HOA - 30 42 14 86 69. VICIMEX - 10 63 - 73 70. DETETOUR - 50 21 1 72 71. BATIMEX - 10 28 33 71 72. HOGAMEX - - 32 38 70 73. TECHSIMEX 39 29 - - 68 74. TRANSIMEX - - 20 43 63 75. TM BAC NINH - - - 60 60 76. VTC - 26 34 - 60 77. GCC4 - - 8 49 57 78. XNK SON LA - - - 65 65 79. POLIMEX - - - 53 53 80. HD MASOCO - - 22 29 51 81. XAY DUNG 8 - - 2 49 51 82. SERVICO HN - 10 29 9 48 83. LASCO - 44 - - 44 84. NOWATRANO - 5 1 37 43 85. DETESCO - - - 38 38 86. PROCIMEX - - 6 31 37 87. XD THANG LONG - - 27 10 37 88. VILEXIN HANOI - - 30 4 34 89. VITOURCO - - 5 28 33 90. TRANACO - - - 30 30 91. ENLEXCO - - 12 17 29 92. TCT THUY LOI 1 - - 29 - 29 Phạm Thi Lam – A2 CN9 14
  16. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” 93. VTBTHANG LONG - - 13 16 29 94. COSERVO - - 13 15 28 95. OSC HAI PHONG - 5 3 18 26 96. SPSC - 16 5 5 26 97. FAQUIMEX - - 9 16 25 98. COMA - - 10 13 23 99. HALASUCO - - 5 18 23 100 HALONG FISHCOR - 7 6 9 22 101 THUAN THAO - - - 21 21 102. BENTHANH TOURCO - - 20 - 20 103. VIF - - 16 6 20 104 BITIMEXCO - - - 16 16 105 OSC VIET NAM - 10 3 2 15 106 BDCC - 1 13 - 14 107 HANDICO - - - 14 14 108 BAC NINH - - 9 - 9 109 CIEPICO - 4 4 - 8 110 NACIMEX - 7 - - 7 111 VINECCO - - 4 3 7 112 MAY&XKLĐ - - - 6 6 PHU THO 113 TCL DU LICH SIGON - - - 6 6 114 NAPECO - - - 3 3 115 SHIPCHANCO - - 3 - 3 116 INLACO - - 2 - 2 117 PHU THO TOURCO - 2 - - 2 Phạm Thi Lam – A2 CN9 15
  17. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” 118 HACC - - 1 - 1 119 IMEX TRAVINH - - - 1 1 120 NGUOI LAO DONG - - - 1 1 121 QUINICOSHIP - - 1 - 1 122 TIECO - 1 - - 1 (Theo Phòng Chính sách – Cục QLLĐ Nước ngoài tháng 12/2002) 4. Các thị trường chính nhập khẩu lao động của Việt Nam hiện nay: 4.1 . Thị trường Hàn Quốc: Hàn Quốc là một quốc gia nằm ở vùng Đông Bắc Châu á, với số dân là 46.789 người trên diện tích 93.394 Km2. Kinh tế của Hàn Quốc tăng trưởng nhanh trong những thập kỷ vừa qua. Chính phủ Hàn quốc có chiến lược kinh tế hướng về xuất khẩu, coi trọng công nghệ trong chính sách công nghiệp và đội ngũ lao động lành nghề. Hàn Quốc trước đây đã từng là một trong những nước xuất khẩu lao động hàng đầu thế giới (những năm 70 và 80). Nhưng đến cuối những năm 80, đầu năm 90 do sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế, nguồn nhân lực trong nước không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng lao động của các ngành công nghiệp đang phát triển nhất là trong lĩnh vực may mặc, xây dựng ... Đầu những năm 90, Hàn quốc đã chuyển từ một nước xuất khẩu lao động thành nước nhập khẩu lao động với số lượng lớn lao động nước ngoài trong đó có Việt Nam. Đến năm 1994, khi chương trình tiếp nhận Tu nghiệp sinh nước ngoài do KFSB thực hiện, Hàn Quốc đã tiếp nhận gần 4000 Tu nghiệp sinh Việt Nam và tăng lên 5000 người vào năm 1995. Những năm tiếp theo tăng từ 3000 đến 4000 người và số lượng này giảm xuống vào năm 1997, 1998 do khủng hoảng kinh tế và những năm gần đây số lượng cũng đã giảm dần. Phạm Thi Lam – A2 CN9 16
  18. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” Mức lương cơ bản với lao động Việt Nam đi lao động tại Hàn Quốc đến nay trung bình khoảng 450 USD/1 tháng. Các điều kiện về ăn ở, làm việc và bảo hiểm cũng được cải thiện Như vậy hiện nay cũng như trong tương lai thì Hàn Quốc vẫn là thị trường tiềm nhập khẩu lao động Việt Nam, với 2,6 doanh nghiệp vừa và nhỏ, tỷ lệ thất nghiệp ở mức gần 4%. Theo báo cáo của Viện nghiên cứu lao động Hàn Quốc cho thấy sự thiếu hụt lao động sẽ ở mức 5,53% tổng số việc làm. Bảng 2: Số lao động Việt Nam tại Hàn Quốc tính đến 2001: Số hiện Số đã nhập Số DN Số trong Tỷ lệ Số bỏ Tỷ lệ có cảnh tiếp nhận hợp đồng trốn 12.957 23.248 1690 7266 15,7 5675 24,4 (Theo: Báo cáo tổng kết 2001 của Cục QLLĐ Nước ngoài tháng 12/2001) 4.2 Thị trường lao động Đài Loan: Đài Loan là một nước quần đảo với 23 triệu dân trên diện tích hơn 35.960 Km2 . Từ năm 1989 để giảm bớt tình trạng thiếu nhân lực Đài loan đã chính thức nhận lao động nước ngoài vào làm việc. Thị trường lao động Đài Loan trước mắt cũng như các năm tới nhu cầu lao động nước ngoài vẫn gia tăng trong nhiều lĩnh vực, trong 5 năm gần đây, quy mô lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan luôn dao động trong khoảng từ 240.000 – 300.000 người/năm. Hiện nay có hơn 100 Công ty cung ứng lao động của Việt Nam đã đưa lao động sang Đài Loan chủ yếu ở các ngành nghề như dệt, may, xây dựng, điện tử, khán hộ công...với thời hạn hợp đồng thường là 2 năm và có thể gia hạn thêm 01 năm, mức lương cơ bản tuỳ từng ngành nghề nhưng trung bình khoảng 300 – 400 USD/1 tháng (riêng lương khán hộ công và thuyền viên có thấp hơn). Phạm Thi Lam – A2 CN9 17
  19. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” Xu hướng chuyển dịch cơ cấu sử dụng lao động Việt Nam thay thế lao động một số nước và một số lĩnh vực đang dần được khẳng định tại thị trường lao động Đài Loan. Hiện nay có khoảng 15.000 lao động Việt Nam được đưa sang Đài Loan, riêng năm 2000, bình quân mỗi tháng có trên 500 lao động Việt Nam sang Đài Loan, trong năm 2001 số lao động đưa sang là trên 6.500 lao động vượt mức chỉ tiêu kế hoạch năm. Đây là kết quả đáng khích lệ, trong khi Thái Lan và Philipines mỗi tháng bình quân giảm từ 2000 đến 3000 lao động. Bảng 3: Số lao động nước ngoài làm việc tại Đài Loan: Năm Indonesia Malaysia Philipin Thái Việt Tổng Lan Nam cộng 1994 6202 2344 38473 105152 0 151.985 1995 5430 2071 54647 126903 0 198.051 1996 10206 1489 83630 141230 0 236.555 1997 14648 736 100295 132717 0 248.396 1998 22058 940 114255 133367 0 270.620 1999 41224 158 113928 139526 131 294.967 2000 77830 113 98161 142665 7746 326.515 7/2001 89608 73 85787 139924 10869 326.261 Tổng 27.47% 0,02% 26,30% 42,88% 3,33% 100% (Nguồn: Văn phòng Kinh tế – Văn hoá Việt Nam tại Đài Bắc tháng 12/2001) 4.3 Thị trường lao động Nhật Bản: Thị trường lao động Nhật Bản là một thị trường có nhiều triển vọng nhưng Luật Pháp Nhật Bản không cho phép nhập khẩu lao động, do đó các doanh nghiệp của Nhật Bản tìm cách “lách luật” bằng con đường du nhập “Tu nghiệp sinh”. Chính vì vậy để cho một lao động đủ tiêu chuẩn đi tu Phạm Thi Lam – A2 CN9 18
  20. “Hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sức lao động tại Công ty Phát triển Công nghệ, Tin học và Cung ứng nhân lực ” nghiệp sinh ở Nhật Bản là rất khó khăn, tính từ khoảng 8 năm trở lại đây Nhật Bản đã tiếp nhận gần 1 vạn Tu nghiệp sinh Việt Nam. Số lượng Tu nghiệp sinh Việt Nam sang Nhật Bản hàng năm có tăng dần, trung bình mỗi năm khoảng 1800 đến 1900 người và hầu hết chủ doanh nghiệp Nhật Bản tiếp nhận lao động bằng hình thức sang tuyển trực tiếp, việc tuyển rất gắt gao. Theo dự báo thì từ nay đến năm 2005, Nhật Bản cần khoảng 1.000.000 lao động, trong đó khoảng 600.000 lao động giản đơn, 300.000 chăm sóc người già, 100.000 kỹ thuật viên công nghệ thông tin. Trong thời gian qua, hàng năm Nhật Bản nhập khoảng 45.000 Tu nghiệp sinh nước ngoài vào tu nghiệp tại các Xí nghiệp vừa và nhỏ theo “chương trình phái cử và tiếp nhận Tu nghiệp sinh nước ngoài vào tu nghiệp tại Nhật Bản”, quy định của Nhật Bản về nhập cư chỉ cho phép người nước ngoài có trình độ học vấn cao hoặc có một số nghề đặc thù đến việc làm trong khuôn khổ chương trình tiếp nhận Tu nghiệp sinh nước ngoài và Tu nghiệp sinh Nhật Bản, các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhật Bản trong một số ngành sản xuất được nhận Tu nghiệp sinh lao động nước ngoài vào doanh nghiệp để vừa học và làm theo tỷ lệ nhỏ được quy định căn cứ vào tổng số nhân viên của doanh nghiệp, tham gia vào chương trình này chủ yếu là các nước Trung Quốc, Thái Lan, Philipin, Indonesia, Việt Nam và một số nước khác. Từ năm 1992 đến cuối năm 2000, các doanh nghiệp Việt Nam đã đưa khoảng 10.200 người sang tu nghiệp tại các Xí nghiệp vừa và nhỏ ở Nhật Bản và số lượng này được tăng dần hàng năm và từ 1997 – 2002 thì trung bình mỗi năm Việt Nam đưa sang Nhật Bản khoảng 2000 Tu nghiệp sinh. Phạm Thi Lam – A2 CN9 19

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản