Luận văn tốt nghiệp “Hợp đồng mua bán hàng hoá và hợp đồng thuê tàu”

Chia sẻ: Trung Tri | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:85

1
1.526
lượt xem
454
download

Luận văn tốt nghiệp “Hợp đồng mua bán hàng hoá và hợp đồng thuê tàu”

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Liên tiếp trong những năm gần đây, những công ty đa quốc gia, tập đoàn kinh tế khổng lồ sát nhập, những khối thị trường chung như Liên minh châu Âu (EU), Khối mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và gần đây nhất là Khối mậu dịch tự do châu Á (AFTA) ra đời để có một qui mô lớn hơn, một sức mạnh bao trùm hơn, khả năng chi phối thị trường lớn hơn, một năng lực phát triển mạnh mẽ hơn, chứng tỏ một khuynh hướng ngày càng rõ nét và lan rộng trong kinh tế thế...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn tốt nghiệp “Hợp đồng mua bán hàng hoá và hợp đồng thuê tàu”

  1. …………..o0o………….. LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Hợp đồng mua bán hàng hoá và hợp đồng thuê tàu
  2. Nội dung Lời mở đầu Trang 4 Chương I: Hợp đồng mua bán hàng hoá I. Định nghĩa Trang 6 1. Định nghĩa Trang 6 2. Các điều kiện cơ bản của một hợp đồng mua bán Trang 6 hàng hoá II. Nội dung một số điều kiện cơ bản của hợp đồng Trang 7 mua bán hàng hoá 1. Điều kiện tên hàng Trang 7 2. Điều kiện số lượng Trang 8 3. Điều kiện phẩm chất Trang 9 4. Điều kiện cơ sơ giao hàng Trang 13 5. Điều kiện giá cả Trang 22 6. Điều kiện giao hàng Trang 25 7. Điều kiện thanh toán trả tiền Trang 28 8. Điều kiện khiếu nại Trang 33 9. Điều kiện bảo hành Trang 35 10. Điều kiện về trường hợp miễn trách Trang 37 11. Điều kiện trọng tài Trang38 12. Điều kiện vận tải Trang 39 Chương II: Hợp đồng thuê tàu I. Vận tải quốc tế Trang 40 1. Khái niệm chung về vận tải Trang 40 2. Vận tải đường biển Trang 40 -1-
  3. II. Hợp đồng thuê tàu Trang 41 1. Định nghĩa Trang 41 2. Nội dung của hợp đồng thuê tàu Trang 42 III. Sự khác nhau giữa phương thức thuê tàu chợ và Trang 50 thuê tàu chuyến 1. Phương thức thuê tàu chợ Trang 50 2. Phương thức thuê tàu chuyến Trang 51 IV. Vận đơn đường biển và các loại chứng từ khác Trang 52 1. Vận đơn đường biển Trang 52 2. Một số loại vận đơn, chứng từ khác Trang 61 Chương III: Mối liên hệ giữa hợp đồng mua bán hàng hoá - hợp đồng thuê tàu và một số lưu ý đối với các doanh nghiệp I. Mối liên hệ giữa hợp đồng mua bán hàng hoá và Trang 65 hợp đồng thuê tàu 1. Tên hàng Trang 65 2. Số lượng Trang 66 3. Điều kiện cơ sở giao hàng Trang 67 4. Thời gian giao hàng Trang 68 5. Địa điểm giao hàng Trang 68 6. Thông báo giao hàng / Thông báo tàu đến Trang 69 7. Thời hạn bốc dỡ và thưởng phạt bốc/dỡ Trang 69 8. Điều kiện thanh toán Trang 70 II. Một số lưu ý đối với các doanh nghiệp xuất nhập Trang 72 khẩu 1. Việc bán hàng trên đường vận chuyển Trang 72 2. Di chuyển rủi ro Trang 72 -2-
  4. 3. Những khác nhau quan trọng giữa hợp đồng nơi Trang 74 đến và hợp đồng nơi đi 4. Phân chia trách nhiệm về vận tải trong ngoại Trang 75 thương 5. Cước phí vận tải Trang 78 Kết luận Trang 80 Tài liệu tham khảo Trang 81 -3-
  5. LỜI MỞ ĐẦU Liên tiếp trong những năm gần đây, những công ty đa quốc gia, tập đoàn kinh tế khổng lồ sát nhập, những khối thị trường chung như Liên minh châu Âu (EU), Khối mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) và gần đây nhất là Khối mậu dịch tự do châu Á (AFTA) ra đời để có một qui mô lớn hơn, một sức mạnh bao trùm hơn, khả năng chi phối thị trường lớn hơn, một năng lực phát triển mạnh mẽ hơn, chứng tỏ một khuynh hướng ngày càng rõ nét và lan rộng trong kinh tế thế giới - khuynh hướng hội nhập để phát triển. Là một nước đang phát triển với GDP bình quân chỉ khoảng 500 đôla Mỹ trên đầu người, Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế chung, cũng là cơ hội phát triển rất lớn này. Tuy nhiên, cơ hội lớn cũng là thách thức lớn, là sự mạo hiểm và thậm chí là nguy cơ thất bại, thua thiệt nếu chúng ta nhập cuộc mà không được trang bị đủ kiến thức, non nớt về kinh nghiệm, vốn liếng mọi mặt không có nhiều. Các doanh nhân Việt Nam đã đi những bước đầu tiên trong hành trình hội nhập kinh tế toàn cầu với cả thành công và thất bại. Làm sao để có thể nhân lên thành công và hạn chế thất bại? Làm sao để có thể phát triển đi lên? Đâu là thế mạnh và đâu là chỗ yếu của chúng ta? Để làm ngoại thương không thể không hiểu biết những kiến thức cơ bản về hoạt động ngoại thương. Thực tế cho thấy rất nhiều doanh nhân Việt Nam còn chưa có điều kiện nghiên cứu kỹ lưỡng cả những giáo trình ngoại thương cơ bản, chưa nắm vững những khái niệm FOB, CIF, ... nên đã không tránh khỏi những thất bại không đáng có. Đề tài “Hợp đồng mua bán hàng hoá và hợp đồng thuê tàu” đề cập một trong những vấn đề cơ bản đầu tiên của hoạt động ngoại thương mà bất cứ doanh nhân nào cũng phải hiểu rõ khi tham gia hoạt động thương mại quốc tế. Bằng cách tóm lược những điều cốt yếu nhất trong đề tài đã chọn, em mong muốn bày tỏ những suy nghĩ của mình về hành trang cho các doanh nghiệp Việt nam để hội nhập và khẳng định -4-
  6. được chỗ đứng của mình trên thị trường quốc tế rộng lớn, nhiều hứa hẹn và cũng nhiều thách thức. Ngoài các phần mở đầu, kết luận, khoá luận của em được chia thành 3 chương: Chương I : Hợp đồng mua bán hàng hoá. Chương II : Hợp đồng thuê tàu Chương III : Mối quan hệ giữa hợp đồng mua bán hàng hoá - hợp đồng thuê tàu và một số lưu ý đối với các doanh nghiệp. Em xin cảm ơn TS. Vũ Sỹ Tuấn đã hướng dẫn em trong suốt thời gian làm luận văn này. Do kiến thức thực tế không nhiều, bài khoá luận của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo để hoàn thiện hơn kiến thức về kinh tế ngoại thương của mình. Em xin chân thành cảm ơn. Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2003 Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Hà Bắc -5-
  7. CHƯƠNG I HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ I. Định nghĩa: 1. Định nghĩa: Như được định nghĩa tại Điều 1 - Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989, hợp đồng kinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình. Trong giao dịch quốc tế, hợp đồng ngoại thương là hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau. Hợp đồng có thể là một văn bản thoả thuận được cả hai bên ký kết hoặc có thể là một chào hàng cố định ràng buộc người bán và chấp nhận chào hàng của người mua. Hợp đồng được coi là đã hình thành và có hiệu lực pháp lý từ thời điểm các bên đã ký vào văn bản hoặc từ khi các bên nhận được tài liệu giao dịch thể hiện sự thoả thuận về tất cả những điều khoản chủ yếu của hợp đồng. Tuy nhiên, đối với các hợp đồng ngoại thương, Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán quốc tế (Công ước Viên 1980) quy định “Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng. Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng”. 2. Các điều kiện cơ bản của một hợp đồng mua bán hàng hoá Điều 50 Luật thương mại Việt Nam quy định: “Hợp đồng mua bán hàng hoá phải có các nội dung chủ yếu sau đây: -6-
  8. 1. Tên hàng; 2. Số lượng; 3. Quy cách, chất lượng; 4. Giá cả; 5. Phương thức thanh toán; 6. Địa điểm và thời hạn giao nhận hàng.” Ngoài các nội dung chủ yếu quy định trên, các bên có thể thoả thuận các nội dung khác trong hợp đồng như điều kiện bảo hành, điều kiện khiếu nại, điều kiện trọng tài... Đối với các hợp đồng mua bán ngoại thương, các điều kiện cơ sở giao hàng, điều kiện vận tải là những cơ sở rất quan trọng để các bên thực hiện các nghĩa vụ của mình. II. Nội dung một số điều kiện cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hoá: 1. Điều kiện tên hàng “Tên hàng” là điều khoản quan trọng của mọi đơn chào hàng, thư hỏi hàng, hợp đồng hoặc nghị định thư. Nó nói lên chính xác đối tượng mua bán, trao đổi. Vì vậy, người ta luôn tìm cách diễn đạt chính xác tên hàng. Có những cách sau đây để biểu đạt tên hàng: - Người ta ghi tên thương mại của hàng hoá nhưng còn ghi kèm theo tên thông thường và tên khoa học của nó. - Người ta ghi tên hàng kèm theo tên dịa phương sản xuất ra hàng đó. Ví dụ: rượu vang Bordeaux, thuỷ tinh Bohemia... - Nguời ta ghi tên hàng kèm theo tên hãng sản xuất ra hàng đó. Ví dụ: xe máy Honda. - Người ta ghi tên hàng kèm theo nhãn hiệu của nó. Ví dụ: bia Tiger. - Người ta ghi tên hàng kèm theo quy cách chính của hàng hoá đó. Ví dụ: xe tải 10 tấn, TV màn ảnh màu 14 inches. - Người ta ghi tên hàng kèm theo công dụng của hàng hoá đó. Ví dụ: tuyn để làm màn, lưỡi cưa để cưa gỗ có dầu... -7-
  9. - Người ta ghi tên hàng kèm theo số hiệu hạng mục của hàng đó trong danh mục hàng hoá thống nhất. Ví dụ: mô tơ điện, mục 100.101. Ngoài ra, có khi người ta còn kết hợp hai hay nhiều phương pháp trên đây. Ví dụ: TV màu 14 inches của hãng Sony. 2. Điều kiện số lượng Nhằm nói lên mặt “lượng” của hàng hoá được giao dịch, điều khoản này bao gồm các vấn đề về đơn vị tính số lượng (hoặc trọng lượng) của hàng hoá, phương pháp qui định số lượng và phương pháp xác định trọng lượng. - Đơn vị tính số lượng Nếu hàng hoá mua bán được tính bằng cái, chiếc, hòm, kiện thì rất dễ dàng. Những hàng tính theo chiều dài, trọng lượng, thể tích và dung tích thì đơn vị phức tạp hơn nhiều: nếu đơn vị tính không được qui định rõ ràng, các bên giao dịch dễ có sự hiểu lầm nhau. Nguyên nhân của sự hiểu trái ý nhau là do, trong buôn bán quốc tế, nhiều đơn vị đo lường có cùng một tên gọi nhưng ở mỗi nước lại có một nội dung khác. Ví dụ, một bao bông ở Ai Cập là 330kg, ở Braxin là 180kg, một bì cà phê ở các nước thường là 60 cân Anh (27,13kg) nhưng ở Côlômbia lại là 70 cân Anh (31,7kg). Ngoài ra, một nguyên nhân đáng kể khác nữa là sự áp dụng đồng thời nhiều hệ thống đo lường trong buôn bán quốc tế. Ngoài các đơn vị thuộc mét hệ, người ta còn dùng hệ thống đo lường của Anh, của Mỹ, v.v... Trong thực tiễn buôn bán quốc tế, người ta có thể qui định số lượng hàng hoa giao dịch bằng hai cách: + Một là, bên bán và bên mua qui định cụ thể số lượng hàng hoá giao dịch. Đó là một khối lượng được khẳng định dứt khoát. Khi thực hiện hợp đồng các bên không được phép giao nhận theo số -8-
  10. lượng khác với số lượng đó. Phương pháp này thường được dùng đối với những hàng tính bằng cái, chiếc. + Hai là, bên bán và bên mua qui định một cách phỏng chừng về số lượng hàng hoá giao dịch. Khi thực hiện hợp đồng, các bên có thể giao nhận theo một số lượng cao hoặc thấp hơn số lượng qui định trong hợp đồng. Khoản chênh lệch đó gọi là dung sai về số lượng. Điều khoản của đơn chào hàng, hợp đồng hoặc hiệp định qui định dung sai về số lượng gọi là điều khoản số lượng phỏng chừng (moreless clause). Điều khoản số lượng phỏng chừng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc mua bán những mặt hàng có khối lượng lớn như ngũ cốc, than, quặng, dầu mỏ... Đó là do việc sản xuất những hàng đó có qui mô lớn, do việc cân đo hàng đó khó đảm bảo chính xác tuyệt đối, và còn là do khó khăn trong việc tìm phương tiện chuyên chở phù hợp hoàn toàn với khối lượng hàng. Cho nên, đối với những mặt hàng này, việc qui định dung sai về số lượng cho phép tránh được những khó khăn trong khi thực hiện hợp đồng. Điều khoản này có thể thực hiện được trong hợp đồng bằng cách ghi chữ “khoảng chừng” (about), “xấp xỉ” (approximately) hoặc “hơn kém” (moreless), +/- (cộng, trừ) hoặc “từ ... tấn mét đến ... tấn mét”. Trong nhiều trường hợp, người ta còn thoả thuận qui định giá hàng của khoản dung sai về số lượng sao cho một trong hai bên không thể lợi dụng sự biến động của giá cả thị trường để làm lợi cho mình. Trong những trường hợp cần thiết, người ta cũng có thể qui định một tỷ lệ miễn trừ (franchise). ý nghĩa của việc miễn trừ, trong điều kiện này, là người bán được miễn trách nhiệm (như trách nhiệm giao bổ sung, hoặc giảm giá, hoặc bồi thường bằng tiền...) nếu mức hao hụt tự nhiên thấp hơn tỷ lệ miễn trừ đã được qui định. 3. Điều kiện phẩm chất -9-
  11. “Phẩm chất” là điều khoản nói lên mặt “chất” của đối tượng - hàng hoá mua bán, nghĩa là tính năng (như lý tính, hoá tính, tính chất cơ lý...), quy cách, kích thước, tác dụng, công suất, hiệu suất... của hàng hoá đó. Để quy định chính xác mặt chất như thế của hàng hoá, người ta vận dụng các phương pháp sau: - Dựa vào mẫu hàng Theo phương pháp này, chất lượng của hàng hoá được xác định căn cứ vào chất lượng của một số ít hàng hoá, gọi là mẫu hàng, do người bán đưa ra và được người mua thoả thuận. Những hàng hoá mua bán dựa vào mẫu hàng thường là những hàng hoá khó tiêu chuẩn hoá và khó mô tả. Ví dụ: hàng mỹ nghệ, một số hàng nông sản... - Dựa vào phẩm cấp (category) hoặc tiêu chuẩn (standard) Tiêu chuẩn là những quy định về sự đánh giá chất lượng (các chỉ tiêu phẩm chất), về phương pháp sản xuất, chế biến, đóng gói, kiểm tra hàng hoá... Trong khi xác định tiêu chuẩn, người ta cũng thường quy định cả phẩm cấp, ví dụ những yêu cầu về chất lượng hàng loại 1, hàng loại 2... Vì thế phẩm cấp cũng là tiêu chuẩn. Khi ký kết hợp đồng mua bán dựa trên tiêu chuẩn hoặc phẩm cấp, người ta phải tìm hiểu nội dung của tiêu chuẩn hoặc phẩm cấp đó. Chẳng những thế, do sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, phẩm cấp của năm sau có thể có ý nghĩa khác hẳn năm trước. Ví dụ: xi măng Việt Nam mác P.500 theo TCVN 140/84 (năm 1984) bằng với mác P.400 theo TCVN 2232/77 (Báo Nhân dân ngày 20/2/1985). Do đó, khi ký hợp đồng mà chất lượng xác định theo phương pháp này, hai bên phải ghi chính xác số hiệu tiêu chuẩn và năm ban hành tiêu chuẩn hoặc phẩm cấp đó. - Dựa vào quy cách (specification) của hàng hoá. Quy cách là những chi tiết về mặt chất lượng như công suất, kích cỡ, trọng lượng... của một hàng hoá. Phương pháp xác định phẩm chất hàng - 10 -
  12. dựa vào quy cách thường được dùng trong việc mua bán các thiết bị, máymóc, công cụ vận tải... - Dựa vào các chỉ tiêu đại khái quen dùng: Khi mua bán những mặt hàng nông sản, nguyên liệu mà chất lượng của chúng khó tiêu chuẩn hoá, trên thị trường quốc tế người ta thường dùng một số chỉ tiêu phỏng chừng như FAQ (“Fair Average Quality”, có nghĩa là: phẩm chất bình quân khá), GMQ (Good Merchantable Quality) có nghĩa là: phẩm chất tiêu thụ tốt... Ngoài ra, trong từng ngành buôn bán, tập quán lại còn hình thành những chỉ tiêu đại khái phù hợp với mặt hàng của ngành đó. - Dựa vào hàm lượng của chất chủ yếu trong hàng hoá Theo phương pháp này người ta qui định tỷ lệ phần trăm của thành phần chất chủ yếu chiếm trong hàng hoá. Ví dụ: hàm lượng ta-nanh là 14% trong vỏ xú. Đồng thời, người ta còn có thể qui định thưởng (bonification) nếu hàm lượng chất đó cao hơn qui định hoặc phạt nếu hàm lượng chất đó thấp hơn qui định. Phương pháp này thường dùng trong mua bán nguyên liệu, lương thực, thực phẩm. - Dựa vào số lượng thành phẩm thu được từ hàng hoá đó Theo phương pháp này, người ta qui định số lượng thành phẩm được sản xuất ra từ hàng hoá mua bán, ví dụ số lượng dầu lấy được từ hạt có dầu(như đỗ tương, vừng, lạc, thầu dầu, ...), số lượng len lấy được từ lông cừu, số lượng đường kính lấy được từ đường thô... Phương pháp này thường dùng trong mua bán nguyên liệu hoặc bán thành phẩm. - Dựa vào hiện trạng hàng hoá (tale quale) Phương pháp này thường chỉ được dùng trong buôn bán quốc tế về hàng nông sản và khoáng sản, khi hợp đồng mua bán ký kết theo điều kiện “chỉ bán nếu hàng đến” (to arrive sale). ý nghĩa của nó là “có thế nào giao thế ấy”. Do đó, phẩm chất của hàng giao đúng như mẫu hàng đã lấy được khi bốc, còn khi hàng đến bến phẩm chất hàng như thế nào người mua phải - 11 -
  13. nhận như vậy, tức là người mua phải chịu những rủi ro, hư hại về hàng hoá trong quá trình chuyên chở. - Dựa vào sự xem hàng trước Phương pháp này còn được gọi là “đã xem và đồng ý” (inspected- approved), tức là hàng được người mua xem và đồng ý, còn người mua phải nhận hàng và trả tiền hàng. Trong trường hợp hợp đồng đã qui định về phẩm chất nhưng còn thêm rằng người mua sẽ xem hàng và đồng ý thì nếu đến khi xem hàng người mua thấy hàng hoá không phù hợp với phẩm chất qui định trong hợp đồng và không chấp nhận thì hợp đồng sẽ bị coi là không được thành lập. Trong trường hợp người mua đã xem hàng và đồng ý trước khi ký hợp đồng (ví dụ, trường hợp đấu giá hoặc mua tại kho người bán) thì sau khi ký hợp đồng, người mua phải nhận hàng và trả tiền hàng, chứ không thể viện lý do phẩm chất xấu để từ chối hàng hoá. - Dựa vào tài liệu kỹ thuật Trong việc mua bán máy móc, thiết bị, hàng công nghiệp tiêu dùng lâu bền, trên hợp đồng mua bán, người ta thường dẫn chiếu đến một tài liệu kỹ thuật như: bản vẽ kỹ thuật, sơ đồ lắp ráp, bản thuyết minh tính năng và tác dụng, bản hướng dẫn sử dụng...Trong trường hợp này, người ta còn ký và đóng dấu vào tài liệu kỹ thuật và qui định rằng tài liệu đó là bộ phận không tách rời của hợp đồng. - Dựa vào nhãn hiệu hàng hoá Thường thường đối với những mặt hàng công nghiệp hoặc hàng nông sản chế biến như đồ hộp, thuốc lá, chè, cà phê, rượu..., mỗi nhãn hiệu đại biểu cho một phẩm cấp nhất định. Ví dụ, nước mắm Phú Quốc đại biểu cho một phẩm chất khác với nước mắm Nha Trang. Vì vậy, trên hợp đồng, người ta có thể dẫn chiếu đến nhãn hiệu để nói lên phẩm chất của hàng hoá mua bán. Thông thường, để xác định chính xác hơn, trong trường hợp này, - 12 -
  14. người ta còn ghi rõ năm sản xuất (year of production) và seri sản xuất của loại hàng có nhãn hiệu đó. - Dựa vào mô tả hàng hoá Theo phương pháp này, trên hợp đồng, người ta nêu lên những đặc điểm về màu sắc, hình dáng, kích thước, tính năng... và các chỉ tiêu khác về phẩm chất hàng hoá. Phương pháp này được dùng rộng rãi và thường được dùng kết hợp với các phương pháp khác. 4. Điều kiện cơ sở giao hàng Điều khoản này qui định những cơ sở có tính nguyên tắc của việc giao nhận hàng giữa bên bán và bên mua, bao gồm: - Sự phân chia giữa bên bán và bên mua các trách nhiệm trong giao nhận hàng: thuê mướn công cụ vận tải, bốc hàng, dỡ hàng, mua bảo hiểm, làm thủ tục hải quan, nộp thuế xuất khẩu, nộp thuế nhập khẩu... - Sự phân chia giữa hai bên các chi phí về giao hàng như chi phí chuyên chở hàng, chi phí bốc hàng, chi phí dỡ hàng, chi phí lưu kho, chi phí mua bảo hiểm, tiền thuế... - Sự di chuyển từ người bán sang người mua những rủi ro và tổn thất về hàng hoá. Xuất phát từ nhu cầu có một cách qui định thống nhất về các điều kiện cơ sở giao hàng trong buôn bán quốc tế, Phòng Thương mại quốc tế đã soạn và phát hành “ Qui tắc quốc tế giải thích các điều kiện thương mại” (Incoterms). Văn bản này được áp dụng bắt buộc chỉ khi hợp đồng mua bán có dẫn chiếu đến nó, nếu không điều kiện cơ sở giao hàng nêu trong hợp đồng sẽ được hiểu theo tập quán buôn bán và tập quán vận tải của địa phương. Tóm tắt nội dung của Incoterms 2000 như sau: - 13 -
  15. 4.1. EXW - Giao tại xưởng (ex work) (hay còn gọi là “giao tại nhà máy” - ex factory/ “giao tại mỏ” - ex mine/ “giao tại đồn điền” - ex plantation/ “giao tại kho” - ex warehouse/ ... tuỳ địa điểm giao hàng). Theo điều kiện này người bán phải đặt hàng hoá dưới quyền định đoạt của người tại cơ sở của người bán hoặc tại một địa điểm qui định (ví dụ xưởng, nhà máy, kho hàng...) mà chưa thông quan xuất khẩu và chưa bốc lên phương tiện tiếp nhận. Theo điều kiện này, nghĩa vụ của người bán là tối thiểu. Người mua phải chịu mọi rủi ro và phí tổn kể từ khi nhận hàng từ cơ sở của người bán. Tuy nhiên nếu các bên muốn người bán chịu trách nhiệm bốc hàng lên phương tiện vận tải tại điểm gửi hàng và chịu mọi rủi ro cũng như chi phí của việc bốc hàng đó thì phải nêu rõ điều này trong hợp đồng mua bán hàng hoá. Trong trường hợp này nên sử dụng điều kiện FCA (Free carrier) - Giao cho người chuyên chở, miễn là người bán sẽ đồng ý bốc hàng và chịu mọi rủi ro và chi phí của việc bốc hàng đó. 4.2. FCA - Giao cho người vận tải (free carrier): Người bán phải - Lấy giấy phép xuất khẩu, nộp phí và lệ phí xuất khẩu (nếu có). - Giao hàng tại địa điểm và trong thời gian qui định cho người vận tải đã được người mua chỉ định. Việc giao hàng được coi là hoàn thành khi hàng đã được xếp lên phương tiện vận tải của người chuyên chở do người mua chỉ định nếu địa điểm quy định là tại cơ sở của người bán, hoặc khi hàng được đặt dưới quyền định đoạt của người chuyên chở khi hàng hoá vẫn còn trên phương tiện vận tải của người bán mà vẫn chưa dỡ xuống nếu địa điểm giao hàng không phải là tại cơ sở của người bán. - Cung cấp bằng chứng về việc đã giao hàng cho người vận tải. - 14 -
  16. Người mua phải: - Kịp thời chỉ định người vận tải; - Ký kết hợp đồng vận tải và chịu chi phí vận chuyến hàng hoá từ địa điểm quy định; - Chịu mọi rủi ro và tổn thất về hàng hoá kể từ khi hàng đã được giao cho người vận tải được chỉ định. 4.3. FAS - Giao dọc mạn tàu (free alongside ship): Người bán phải: - Chịu mọi chi phí và rủi ro để lấy được giấy phép xuất khẩu, hoàn thành mọi thủ tục hải quan cần thiết để xuất khẩu hàng hoá; - Giao hàng dọc mạn con tàu do người mua chỉ định tại điểm bốc hàng do người mua chỉ định tại cảng bốc quy định; - Cung cấp chứng từ hoàn hảo thường lệ để chứng minh hàng đã được thực sự đặt dọc mạn tàu. Người mua phải: - Kịp thời chỉ định tàu chuyên chở; - Ký kết, với chi phí của mình, hợp đồng vận chuyển hàng từ cảng bốc quy định; - Chịu mọi rủi ro và tổn thất về hàng hoá kể từ khi hàng đã được giao dọc mạn tàu. 4.4. FOB - Giao lên tàu (free on board): Người bán phải: - Lấy giấy phép xuất khẩu, nộp thuế và lệ phí xuất khẩu (nếu cần). - Giao hàng lên con tàu mà người mua chỉ định; - Chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hoá cho đến khi hàng qua lan can tầu tại cảng bốc quy định; - 15 -
  17. - Cung cấp chứng từ vận tải hoàn hảo chứng minh hàng đã được bốc lên tàu; - Chịu chi phí bốc hàng lên tàu theo tập quán của cảng nếu chi phí này chưa nằm trong tiền cước. Người mua phải: - Thông báo đầy đủ cho người bán về tên tàu, địa điểm bốc hàng và thời gian yêu cầu giao hàng; - Ký hợp đồng chuyên chở và trả cước (trả tiền bốc hàng lên tàu nếu chi phí này được tính vào trong tiền cước); - Chịu mọi rủi ro và tổn thất về hàng hoá kể từ khi hàng đã qua hẳn lan can tàu ở cảng bốc hàng. 4.5. CFR - Tiền hàng cộng cước (cost and freight) Người bán phải: - Ký hợp đồng chuyên chở đường biển và trả cước để chở hàng đến cảng đích; - Lấy giấy phép xuất khẩu, nộp thuế và lệ phí xuất khẩu (nếu cần); - Giao hàng lên tàu; - Cung cấp cho bên mua hoá đơn và vận đơn đường biển hoàn hảo; - Chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hoá cho đến thời điểm hàng hoá qua lan can tàu tại cảng bốc hàng; - Trả tiền dỡ hàng nếu chi phí này đã được tính vào tiền cước. Người mua phải: - Nhận hàng khi hoá đơn và vận đơn đã được giao cho mình - Trả tiền dỡ hàng nếu chi phí này chưa nằm trong tiền cước. - Chịu mọi rủi ro và tổn thất về hàng hoá kể từ khi hàng đã qua hẳn lan can tàu ở cảng bốc hàng. - 16 -
  18. 4.6. CIF - Tiền hàng, bảo hiểm và cước (cost, insurance and freight) Người bán phải: - Ký hợp đồng chuyên chở đường biển và trả cước để chở hàng đến cảng đích; - Lấy giấy phép xuất khẩu, nộp thuế và lệ phí xuất khẩu (nếu cần); - Giao hàng lên tàu; - Ký hợp đồng bảo hiểm cho hàng hoá theo điều kiện bảo hiểm tối thiểu với giá trị bằng giá CIF+10%; - Cung cấp cho người mua hoá đơn, vận đơn hoàn hảo và đơn (hoặc giấy chứng nhận) bảo hiểm; - Trả tiền bốc hàng lên tàu; - Trả tiền dỡ hàng nếu chi phí này đã nằm trong tiền cước ( nếu thuê tàu chợ); - Chịu mọi rủi ro về mất mát hoặc hư hại đối với hàng hoá cho đến thời điểm hàng hoá qua lan can tàu tại cảng bốc hàng; Người mua phải: - Nhận hàng theo từng chuyến giao hàng khi hoá đơn, đơn (hoặc giấy chứng nhận) bảo hiểm và vận đơn đã được giao cho mình; - Trả tiền dỡ hàng nếu chi phí này chưa nằm trong tiền cước; - Chịu mọi rủi ro và tổn thất về hàng hoá kể từ khi hàng đã qua hẳn lan can tàu ở cảng bốc hàng; 4.7. CPT - Cước trả tới đích (carriage paid to ...) Người bán: - Ký kết hợp đồng chuyên chở và trả cước đến địa điểm đích quy định - Lấy giấy phép xuất khẩu, nộp thuế và lệ phí xuất khẩu (nếu cần); - Giao hàng cho người vận tải đầu tiên; - 17 -
  19. - Cung cấp cho người mua hoá đơn và chứng từ vận tải thường lệ. Người mua: - Nhận hàng khi hàng đã được giao cho người vận tải đầu tiên và khi hoá đơn và chứng từ vận tải (nếu tập quán yêu cầu chứng từ vận tải) được giao cho mình; - Chịu mọi rủi ro và tổn thất về hàng hoá kể từ khi hàng đã được giao cho người vận tải đầu tiên. 4.8. CIP - Cước và bảo hiểm trả tới đích (carriage and insurance paid to...) Người bán phải: - Ký kết hợp đồng chuyên chở và trả cước đến địa điểm đích quy định; - Lấy giấy phép xuất khẩu, nộp thuế và lệ phí xuất khẩu (nếu cần); - Giao hàng cho người vận tải đầu tiên; - Cung cấp cho người mua hoá đơn và chứng từ vận tải thường lệ và đơn bảo hiểm hoặc bằng chứng khác thể hiện là hàng đã được bảo hiểm; Người mua phải: - Nhận hàng khi hàng đã được giao cho người vận tải đầu tiên và khi hoá đơn, đơn bảo hiểm và chứng từ vận tải (nếu tập quán yêu cầu chứng từ vận tải) được giao cho mình; - Chịu mọi rủi ro và tổn thất về hàng hoá kể từ khi hàng đã được giao cho người vận tải đầu tiên. 4.9. DES - Giao tại tàu (delivered ex ship) Người bán: - Đặt hàng hoá dưới quyền định đoạt của người mua trên tàu tại cảng dỡ; - 18 -
  20. - Cung cấp vận đơn hoặc lệnh giao hàng sao cho người mua có thể nhận hàng tại tàu. Người mua: - Nhận hàng trên tàu tại cảng dỡ hàng; - Trả tiền chi phí dỡ hàng; - Lấy giấy phép nhập khẩu, nộp thuế và lệ phí nhập khẩu (nếu cần); - Chịu mọi rủi ro và tổn thất về hàng hoá kể từ khi hàng đã được đặt dưới quyền định đoạt của mình trên tàu tại địa điểm dỡ hàng thường lệ tại cảng dỡ. 4.10. DEQ - Giao tại cầu cảng (delivered ex quay) Người bán: - Đặt hàng hoá dưới quyền định đoạt của người mua trên tàu tại cảng dỡ. - Cung cấp vận đơn hoặc lệnh giao hàng sao cho người mua có thể nhận hàng tại tàu. - Trả tiền chi phí dỡ hàng. - Lấy giấy phép nhập khẩu, nộp thuế và lệ phí nhập khẩu nếu hợp đồng quy định là “trên cầu cảng đã nộp thuế” (DEQ duty paid). Người mua: - Nhận hàng trên tàu tại cảng dỡ hàng. - Lấy giấy phép nhập khẩu, nộp thuế và lệ phí nhập khẩu nếu hợp đồng quy định là “người mua phải chịu thuế” (duty on buyer’s account). - Chịu mọi rủi ro và tổn thất về hàng hoá kể từ khi hàng đã được đặt dưới quyền định đoạt của mình trên tàu tại địa điểm dỡ hàng thường lệ tạicảng dỡ. - 19 -

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản